mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3833
mod_vvisit_counterHôm Qua9553
mod_vvisit_counterTuần Này29035
mod_vvisit_counterTuần Trước55886
mod_vvisit_counterTháng Này154325
mod_vvisit_counterTháng Trước262420
mod_vvisit_counterTất cả14509493

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)

Login Form





Bài Mới
CẢM NGHIỆM SỐNG LC- THỨ HAI CN24TN-C PDF Print E-mail


Niềm tin vững mạnh.

16/09 – Thứ hai tuần 24 thường niên – Thánh Cornêliô, giáo hoàng, và thánh Cyprianô, giám mục, tử đạo. Lễ nhớ.

"Cả trong dân Israel, Ta cũng chẳng thấy lòng tin mạnh mẽ như vậy".

* Thánh Cornêliô làm giám mục giáo phận Rôma năm 251. Người đã chống lại giáo phái Novaxianô. Chưa được bao lâu, người bị hoàng đế Ganlô bắt đi đầy ở Xivitavéckia và đã qua đời ở đây (253). Người đã được thánh Síprianô kính trọng và quý mến. Chính vì thế, ngay từ thế kỷ IV, Hội Thánh Rôma đã mừng lễ thánh Conêliô trong chính hang mộ của người vào ngày lễ thánh Síprianô.

Thánh Xíprianô sinh tại Cácthagô quãng năm 210, trong một gia đình ngoại giáo. Người lãnh nhận đức tin, làm linh mục, rồi làm giám mục năm 249. Trong cuộc bách hại dưới thời hoàng đế Valêrianô, người bị lưu đày, rồi ngày 14 tháng 9 năm 258, người chịu chết để làm chứng cho Chúa Kitô. Các thư từ và các tác phẩm của người viết ra cho thấy người có tâm hồn của một vị mục tử đích thực, luôn đứng ở chỗ nguy hiểm nhất để nâng đỡ các anh em đang phải chịu bách hại và để duy trì sự hiệp nhất trong Hội Thánh. Trong mọi việc, người lo nêu gương sáng về lòng trung thành với Chúa Giêsu Kitô.

Lời Chúa: Lc 7, 1-10

Khi ấy, lúc Chúa Giêsu đã nói với dân chúng xong, Người vào Capharnaum.

Bấy giờ một viên sĩ quan có tên đầy tớ thân tín bị bệnh gần chết. Nghe nói về Chúa Giêsu, ông sai vài người kỳ lão Do-thái đi xin Người đến cứu chữa đầy tớ ông. Họ đến gần Chúa Giêsu và van xin Người rằng: "Ông ta đáng được Thầy ban cho ơn đó, vì thật ông yêu mến dân ta, và chính ông đã xây cất hội đường cho chúng ta".

Chúa Giêsu đi với họ, và khi Người còn cách nhà viên sĩ quan không bao xa, thì ông này sai mấy người bạn đến thưa Người rằng: "Lạy Thầy, không dám phiền Thầy hơn nữa, vì tôi không xứng đáng được Thầy vào nhà tôi, cũng như tôi nghĩ tôi không xứng đáng đi mời Thầy, nhưng xin Thầy phán một lời, thì đầy tớ tôi được lành mạnh. Vì tôi cũng chỉ là một sĩ quan cấp dưới, (tuy nhiên) tôi có những lính dưới quyền tôi, tôi bảo người này đi, thì nó đi; bảo người khác lại, thì nó lại; và bảo đầy tớ tôi làm cái này, thì nó làm".

Nghe nói thế, Chúa Giêsu ngạc nhiên và quay lại nói với đám đông theo Người rằng: "Ta nói thật với các ngươi, cả trong dân Israel, Ta cũng chẳng thấy lòng tin mạnh mẽ như vậy". Và những người được sai đi, khi về tới nhà, thấy tên đầy tớ lành mạnh.

SUY NIỆM/SỐNG : Cứ nói một lời

Viên đại đội trưởng ở đây là người coi một trăm quân.

Ông đã nghe đồn về khả năng chữa bệnh của Đức Giêsu.

Nhưng ông chẳng hề dám gặp mặt Ngài,

vì ông biết mình là dân ngoại, bị người Do Thái coi là nhơ uế.

Bởi tình thương đối với anh nô lệ mà ông yêu quý,

ông đã mạnh dạn nhờ các kỳ mục Do Thái xin Đức Giêsu đến nhà ông

để cứu sống anh nô lệ đang bệnh nặng gần chết (cc. 2-3).

Sau khi nghe kể lại những điều tốt đẹp viên sĩ quan Rôma này đã làm,

Đức Giêsu liền lên đường đến nhà ông ấy để chữa bệnh (cc. 4-6).

Khi Đức Giêsu còn trên đường, vị sĩ quan này đã suy nghĩ và đổi ý.

Ông chẳng những thấy mình không đáng đến gặp mặt Ngài

mà còn không đáng đón Ngài vào nhà mình nữa,

căn nhà vẫn bị coi là ô uế của một người dân ngoại (c. 6).

Ông muốn ngăn Ngài lại trước khi Ngài đến nhà ông,

nên đã sai một số bạn hữu ra gặp Ngài trên đường (c. 6).

Nơi ông bùng cháy một niềm tin mạnh mẽ.

Ông tin rằng chẳng cần Ngài vào nhà ông và gặp anh nô lệ sắp chết.

Chỉ cần Ngài nói một lời cũng đủ làm cho anh ta lành mạnh (c. 7).

Viên đại đội trưởng tin vào sức mạnh của lời Đức Giêsu.

Đối với ông, lời ấy có uy lực như một mệnh lệnh.

Là một sĩ quan trong quân đội Rôma

ông hiểu thế nào là sự phục tùng của lính tráng dưới quyền.

"Tôi bảo người này: "Đi !" là nó đi; bảo người kia: "Đến !" là nó đến;

và bảo người nô lệ của tôi: "Làm cái này !" là nó làm." (c. 8).

Lệnh được ban ra là phải thi hành.

Viên đại đội trưởng tin rằng lời của Đức Giêsu cũng thế.

Chỉ cần một lời cũng đủ làm cơn bệnh nguy tử phải thoái lui.

Đức Giêsu ngỡ ngàng trước một lòng tin mạnh mẽ như vậy.

Khó lòng tìm thấy lòng tin đó nơi cộng đoàn dân Ítraen (c. 9).

Ngài đã không đến nhà viên sĩ quan,

chẳng gặp mặt ông, cũng chẳng nói lời nào.

Chỉ biết là sau đó anh nô lệ đã được khỏi (c. 10).

Ở đâu ta cũng gặp những người như viên sĩ quan Rôma.

Họ có thể là mẫu mực cho các Kitô hữu về sự khiêm hạ và tín thác.

Nhiều con người hôm nay, có tấm lòng thật tốt như viên sĩ quan,

nhưng vẫn ngại chưa dám mời Chúa vào nhà,

chưa dám trực tiếp gặp mặt Chúa,

chỉ dám nói chuyện với Ngài qua trung gian.

Nhưng họ có thể đã mang trong mình một niềm tin kiên vững

và đã có kinh nghiệm về sự chữa lành kỳ diệu của Ngài.

"Tôi không đáng được Ngài vào nhà tôi, chỉ xin Ngài nói một lời..."

Có khi chúng ta đã đánh mất ý thức về sự linh thánh khi rước Chúa.

Có khi chúng ta chẳng tin mấy vào quyền năng của Lời Ngài.

Xin có được lòng tin đơn sơ như một người dân ngoại.

Cầu nguyện :

Lạy Chúa,

xin ban cho con đức tin lớn hơn hạt cải,

để con làm bật rễ khỏi lòng con

những ích kỷ và khép kín.

NHỜ THÁNH THẦN  cho con đức tin can đảm

để con chẳng sợ thiệt thòi khi trao hiến,

chẳng sợ từ bỏ những gì con cậy dựa xưa nay.

-------------------------------

 
THIÊN CHÚA LÀ CHA CỦA TÔI - CN24TN-C PDF Print E-mail

Thiên Chúa – người Cha nhân từ bao dung.

15/09 – Chúa Nhật 24 Thường Niên năm C.

"Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".

Lời Chúa: Lc 15, 1-10 {hoặc 1-32}

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng".

Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: "Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: "Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!" Cũng vậy, Tôi bảo các ông: "Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải.

"Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: 'Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất'. Cũng vậy, Tôi bảo các ông: Các Thiên Thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".

{Người lại phán rằng: "Người kia có hai con trai. Ðứa em đến thưa cha rằng: 'Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con'. Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả tiền của mình, trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ, phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của, thì vừa gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó muốn hồi tâm lại và tự nhủ: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: 'Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha'. Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy lại ôm choàng lấy cổ nó hồi lâu. Người con trai lúc đó thưa rằng: 'Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa'. Nhưng người cha bảo các đầy tớ: 'Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy'. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình.

"Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: 'Ðó là em cậu đã trở về và cha cậu đã giết con bê béo, vì thấy cậu ấy trở về mạnh khoẻ'. Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào. Nhưng anh trả lời: 'Cha coi, đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn, còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại sai làm thịt con bê béo ăn mừng nó'.

"Nhưng người cha bảo: 'Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy'".}

Bài suy niệm CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN - C

Lời Chúa: Xh 32,7-11.13-14; 1Tm 1,12-17; Lc 15,1-32

Suy niệm của ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

THIÊN CHÚA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

Bài Phúc Âm vừa nghe là một trong những trang đẹp nhất của Tin Mừng. Có thể gọi đó là Tin Mừng của Tin Mừng. Vì chương 15 Phúc Âm Luca này được coi như bản tóm tắt tất cả Phúc Âm. Tin Mừng đó là Thiên Chúa Cha giàu lòng thương xót. Lòng thương xót của Thiên Chúa thực vô biên, dài, rộng, cao, sâu khôn lường, ta không thể nào hiểu thấu. Những bài sách thánh hôm nay hé mở cho ta mấy nét của lòng thương xót vô biên đó.

1. Nét thứ nhất của lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa là: sự tha thứ

Tình yêu đích thực không được đo bằng đam mê nồng cháy. Bởi những đam mê nồng cháy mau qua như một cơn bão lốc. Bão lốc qua đi chỉ để lại đổ vỡ điêu tàn.

Tình yêu đích thực không được đo bằng hy sinh tận cùng. Người ta có thể hy sinh mạng sống vì của cải, danh vọng. Hy sinh như thế có thể chỉ vì bản thân mình chứ không phải vì người khác.

Tình yêu đích thực được đo bằng sự tha thứ. Chỉ có yêu thực lòng, yêu tha thiết mới có thể tha thứ. Khi yêu người ta dám cho đi tất cả. Nhưng ít có ai cho đi sự tha thứ. Chính tha thứ mở cho ta cánh cửa dẫn vào thâm cung nhiệm mầu của tình yêu.

Tha thứ là đặc tính của tình yêu Thiên Chúa. ta hãy đọc lại lịch sử dân Israel. Biết bao lần dân chúng phản bội, chống lại Thiên Chúa. Nhưng Chúa vẫn nhân từ tha thứ. Khi Môsê cầu nguyện trên núi, dân Do Thái đã phản bội, gom góp vàng bạc đúc tượng bò mà thờ. Chúa nổi giận muốn phạt họ. Nhưng khi Môsê nài xin Chúa, Chúa đã nguôi giận mà tha thứ cho dân.

Phaolô ghét đạo Chúa, đi tìm bắt những người theo Chúa. Nhưng Chúa đã thương hoán cải ông. Hơn nữa, Chúa còn chọn ông làm Tông đồ cho Chúa.

Người con bỏ nhà ra đi, phung phí hết tiền của cha, nhưng người cha già vẫn yêu thương chờ đời, tha thứ hết khi nó trở về.

Sự tha thứ của Thiên Chúa đối với con người, nhất là người tội lỗi thực là vô biên. Sự tha thứ ây minh chứng tình yêu của Thiên Chúa đối với con người lớn lao biết chừng nào.

2. Nét thứ hai của lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Đó là: sự đi tìm.

Thiên Chúa sẵn sàng tha thứ, nhưng Người không chỉ ngồi đó chờ kẻ có tội trở về xin lỗi rồi mới thứ tha. Không, chính Thiên Chúa chủ động, có sáng kiến đi tìm con người. Đó là nét độc đáo trong tình yêu thương tha thứ của Thiên Chúa.

Chính Chúa đi tìm Phaolô khi ông đang trên đường lầm lạc, có sáng kiến làm ông té ngựa để đưa ông trở lại với Chúa. Chính Chúa là người chăn chiên đi tìm con chiên bị lạc. Là người ra ngõ tìm đứa con bỏ nhà đi hoang. Cuộc đi tìm không phải dễ dàng. Người chăn chiên phải băng đồi vượt sông, luồn lách qua gai góc, dẫm đạp sỏi đá, chịu đựng nắng mưa, bất chấp thú dữ rình rập. Người phụ nữ phải thắp đèn soi vào mọi ngóc ngách trong nhà, lùa chổi vào những khe nứt nhỏ bé, kiên nhẫn moi móc tìm kiếm niềm hy vọng mong manh. Người cha phải vượt qua những thành kiến xã hội, lòng tự ái bị thương tổn, trái tim đau đớn vì yêu thương.

Đi tìm là yêu thương. Còn hơn thế, đi tìm là đã tha thứ. Quả thật Chúa đã yêu thương ta trước. Người yêu thương ta trước khi ta biết Người. Người tha thứ cho ta trước khi ta xin lỗi. Người đi tìm ta trước khi ta trở về.

3. Nét thứ ba của lòn thương xót vô biên của Thiên Chúa. Đó là: Thiên Chúa yêu thương từng người, dù rất bé nhỏ.

Trong đời sống xã hội, những người bé nhỏ nghèo hèn thường bị bỏ quên: sống cô đơn, chết cô độc, chìm vào quên lãng. Nhưng trong trái tim Thiên Chúa, mỗi người đều chiếm một vị trí quan trọng. Mỗi người đều là duy nhất độc đáo, không thể thay thế được đối với Thiên Chúa. Càng bé nhỏ nghèo hèn lại càng chiếm vị trí quan trọng trong tình yêu Thiên Chúa.

Một con chiên lạc có gì so với 99 con chiên còn lại. Giữ 99 con còn lại vừ nhàn nhã lại vừa có lợi. Đi tìm một con đi lạc vừa mệt nhọc lại vừa thiệt thòi. Nhưng trong tình yêu làm gì có tình toán thiệt hơn. Một con chiên nhỏ bé lạc loài đã chiếm hết trái tim của người mục tử nhân từ. Bao lâu chưa tìm được con chiên nhỏ bé gầy gò, lạc bầy ấy, lòng người mục tử ấy vẫn còn khắc khoải lo âu.

Đứa con bỏ nhà ra đi, xài phí hết gia sản cha mẹ làm sao sánh được với đứa con trai ngoan ngoãn ở nhà, biết chăm lo công việc, luôn hiếu thảo phụng dưỡng mẹ cha. Ấy vậy mà người cha ăn không ngon, ngủ không yên, tắt tiếng cười, mắt mờ lệ, bao lâu đứa con hư hỏng chưa trở về.

Thật kỳ diệu tình thương của Thiên Chúa. chính vì những tâm hồn bé nhỏ, tội lỗi, yếu đuối ấy mà Thiên Chúa đã sai Con Một Người xuống trần gian như lời Chúa Giêsu nói: "Những người bệnh mới cần đến thầy thuốc".

Thực là vô biên lòng thương xót của Thiên Chúa. lòng thương xót ấy lớn hơn cả trái tim của ta. Ơn lành của Thiên Chúa lớn hơn cả tội lỗi của ta. Sự tha thứ của Thiên Chúa lớn hơn cả trí tưởng tượng của ta. Tất cả chúng ta hãy đến với Người. Hãy mang theo những yếu đuối lầm lỡ của ta. Hãy cho Người xem vết thương từ lâu gặm nhấm trái tim ta. Hãy tâm sự nỗi buồn vô vọng của ta. Thiên Chúa Cha chúng ta Đấng giaù lòng thương xót. Không có tội lỗi nào Người không tha thứ,không có vết thương nào Người không chữa lành. Không có nỗi buồn nào Người không an ủi.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Kể ra vài nét của lòng thương xót của Chúa.

2. Tại sao tha thứ là dấu chỉ rõ nhất của tình yêu?

3. Cảm nhận được tình yêu và đáp lại tình yêu của Thiên Chúa. bạn có coi điều này là hệ trọng nhất trong đời không?

gplongxuyen

---------------------------------

 

 
TÌM GẶP CHÚA THẬT NHANH - CN24TN-C PDF Print E-mail

CN 24C - Cả con lẫn "cha" đều "hoang đàng"

Linh mục Jude Siciliano OP, viết suy niệm trong bài "Cuộc trở về an toàn" như sau : "Nếu từ 'hoang đàng' có nghĩa là phung phí thái quá, thì chúng ta có thể gọi cả hai cha con trong dụ ngôn hôm nay là hoang đàng, tuy mỗi người một kiểu. Người cha thì hoang phí về tình thương, và người con thì hoang phí về tiền bạc vật chất."

1/ Người con hoang phí

Người con thứ hoang phí, hoang đàng như thế nào thì dụ ngôn đã nói rõ. Nó đòi cha chia gia tài. Với tiền bạc, nó bỏ đi và ăn chơi trác táng. Hết tiền, nó đi chăn heo và muốn ăn thức ăn của heo. Khi trở về, nó chẳng còn gì cả. Tiền bạc, sức khoẻ, danh dự, lòng tự trọng... mọi thứ đã bị nó tiêu xài cực kỳ hoang phí.

2/ Người cha hoang phí

Người cha mòn mỏi đợi chờ con trở về. Kể từ ngày con cất bước ra đi, cha ngong ngóng mong con về. Đứa con đã trở về thật rồi. Nó về vì chẳng có chỗ nào đón nhận, chẳng còn chỗ nào nuôi dưỡng, chẳng còn người bạn nào tiếp đón. Không sao cả, con trở về là cha mừng vui.

Nếu chúng ta là người cha, người cha không hoang phí, thì người cha sẽ xử theo 1 trong 3 cách này :

1. Ông có thể đuổi ngay đứa con vừa mới trở về và nói với nó: "Hãy cút đi, hãy xéo cho khỏi mặt tao. Mày đã chẳng đem lại gì ngoài sự nhục nhã đến cho gia đình. Đồ khốn nạn, đồ mất dạy.. Mày coi cả xứ này đang bàn tán về gia đình tao (và cũng là gia đình mày); vì mày mà tao chẳng dám vác mặt đi tới đâu."

2) Ông có thể làm thinh, không thèm để ý đến nó. Cách này là một hình phạt nặng nề đối với đứa con trở về.

3) Ông có thể thử thách đứa con một thời gian, và đây là điều mà bất cứ người con nào đã bỏ nhà ra đi, khi trở về đều mong được hưởng: "Xin hãy xử với con như một người làm thuê trong gia đình."

Nhưng người cha đã chẳng chọn một cách nào trong ba cách nói trên, thay vào đó, ông sung sướng như một đứa trẻ khi thấy cha mẹ đi xa trở về. Ông còn trút như mưa trên đứa con những dấu chỉ mạnh mẽ để chứng tỏ tình yêu khoan dung ông dành cho con. Trong một thoáng, khi đứa con chưa có một động tác nào thì người cha đã có 4 động tác: nhìn thấy, chạnh lòng thương, chạy đến, ôm hôn.

Trong một thoáng ngắn ngủi, khi chàng trai tuổi trẻ còn bất động thì ông lão già nua đã thực hiện 4 động tác rất nhanh nhẹn. Ông thật là người cha phung phí.

Ông đã phung phí sức lực trong cuộc gặp gỡ với đứa con trở về. Ông đã phung phí tiền bạc khi chia gia tài một cách dễ dãi. Ông đã phung phí khi đem áo mới, giày mới, nhẫn vàng, lại còn tổ chức một bữa tiệc mừng có bê béo, có cả đàn hát múa nhảy để đón đứa con đi hoang trở về. Làm thế chẳng sợ hàng xóm cười cho sao! Tắt một lời, ông đã phung phí tình yêu thương. Yêu thương quá độ. Yêu thương đến vô lý. Tin Mừng Gioan 3,16 ghi : "Thiên Chúa yêu thế gian quá sức đến nỗi đã tặng ban luôn người Con Một..." Yêu gì mà đến nỗi đem con, mà là con một, tặng cho người khác ? Giải thích nổi không? Mà có lý lẽ nào giải nghĩa được yêu thương ? Chỉ có tình yêu thương mới giải nghĩa được những điều vô lý đó.

Nhiều người không chấp nhận lối hành xử phung phí (*) lòng tốt của Thiên Chúa theo dụ ngôn "Người Cha nhân hậu". Kiểu cách suy tư và thái độ của người anh cả là một biểu trưng. Người anh cả tưởng rằng, Thiên Chúa chỉ có nhiệm vụ thưởng người có công, phạt kẻ có tội. Người anh cả không hiểu rằng, Thiên Chúa không thể đứng yên nhìn cảnh con người bị hư mất, chịu thất bại trong ơn gọi làm người do chính Ngài tạo dựng nên; Ngài không có quyền gìn giữ, yêu thương quí mến, nâng niu trong bàn tay nhân hiền của Ngài hay sao? Ðể cứu rỗi loài người khỏi hư mất, khỏi thất bại trong ơn gọi cao cả ấy, Thiên Chúa đã nhập thể làm người, làm anh, làm cha, làm mẹ để đem người con trở về trong vòng tay yêu thương của Ngài.

Một hội từ thiện kia xây dựng một trung tâm nhằm giúp cho những thiếu niên hư hỏng hoán cải. Khi bàn đến những chi tiết trong việc điều hành trung tâm, như mua sắm phương tiện, thuê mướn giáo viên v.v. một hội viên phát biểu : "Chúng ta đừng ngại tốn kém. Chỉ cần hoán cải được một thiếu niên thôi thì tốn bao nhiêu cũng đáng". Một người khác hỏi tại sao thì ông này đáp : "Bởi vì một trong các thiếu niên hư hỏng ấy là con của tôi".

Người Con hoang phí

Anh Piere Marie người sáng lập Huynh Đoàn Giêrusalem, một cộng đoàn các tu sĩ sống trong thành phố, đã suy niệm về Chúa Giêsu như người con phung phí hoang đàng theo Phúc Âm một cách thú vị :

"Sau khi đã hạ mình xuống ở giữa những con cái hư mất của nhà Israel, Ngôi Con đã phung phí thời giờ của Ngài với những người đau ốm tật nguyền, với những người tội lỗi. Ngay cả với những gái điếm, Ngài cũng hứa cho họ vào Nước của Cha Ngài. Sau khi đã bị đối xử như một tên tham ăn, như một bợm nhậu, như một người bạn của bọn thu thuế và tội lỗi, như một người Samaria, một người bị quỷ ám, một kẻ phạm thượng; sau khi đã phung phí tất cả mọi sự, ngay cả thân xác và máu Ngài; và khi linh hồn Ngài cảm thấy một nỗi buồn sâu xa, hấp hối, phiền sầu; sau khi đã đi tới đáy của sự tuyệt vọng, Ngôi Con muốn mặc lấy nơi mình sự bị bỏ rơi bởi Ngôi Cha, khi đã phung phí hết đến cạn kiệt để phải thốt lên trên thập giá : 'Ta khát'. Ngôi Con đã yên nghỉ trong bụi đất và bóng đêm sự chết. Ba ngày sau Ngài Phục Sinh, trỗi dậy từ chiều sâu ngục tối nơi Ngài đã xuống, Ngài đã mang lấy tội lỗi của chúng ta, Ngài đã gánh hết những đau thương của chúng ta. Đứng thẳng, Ngài kêu lên: 'Phải, Ta lên Trời với Cha Ta cũng là Cha của các con, là Thiên Chúa Ta cũng là Thiên Chúa các con'. Và Ngài đã trở lại Thiên Đàng (như người con hoang đàng trở về nhà cha trong dụ ngôn).

"Trong sự thinh lặng chiêm ngắm tất cả con cái trong Người Con (Ngôi Con) từ khi Người Con trở thành tất cả cho mọi người, Người Cha nói với các tôi tớ: 'Nhanh lên, hãy mang áo đẹp nhất mặc cho cậu, hãy xỏ nhẫn vào tay cậu, giày vào chân cậu. Chúng ta hãy mở tiệc ăn mừng, vì con Ta đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy.... Người 'Con Hoang Đàng' của Ta đã mang tất cả mọi ngươì trở về...

"Và tất cả họ bắt đầu dự tiệc, mang trên mình chiếc áo trắng dài đã được giặt sạch trong máu của Con Chiên..."

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Chúng ta nhắc lại câu nói của hội viên : "đừng ngại phí tổn gì hết, bởi một trong những thiếu niên hư hỏng đó là con tôi"

Chúa Cha rất hoang phí lòng thương xót miễn là cứu được đứa con hoang đàng là chúng ta trở về. Hãy trở về với Cha đấng hoang phí lòng thương xót, và nhất là hãy bắt chước Cha, hoang phí lòng thương xót đối với anh chị em khác, nhất là đó lại là những người thân yêu trong gia đình đang gặp khó khăn.

Anphong Nguyễn Công Minh, ofm
(lấy ý từ Lm Nguyễn Hữu An)

_________________________________

Phung phí, chỉ ít hạt mới rơi vào đất. Ta mà (*) Ta nhớ lại dụ ngôn người gieo giống, cũng phung phí quá sức. Ông tung gieo hạt giống, hạt xuống vệ đường, hạt kẹt bụi gai, hạt rải trên sỏi đá, rất phóng khoáng, pgieo giống thì không phung phí như vậy !

Anphong Nguyễn Công Minh
Phanxicô.ofm

------------------------------

 

 
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI -CN24TN-C PDF Print E-mail

SỐNG&Chia sẻ Lời Chúa - Chủ nhật 15-9-19

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. (15, 1-32)

Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng".

Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này:

CẢM NGHIỆM SỐNG

Chúa Giêsu đã nói với những người biệt phái và luật sĩ ba dụ ngôn nhưng đều rất giống nhau về giáo huấn về tình yêu của Thiên Chúa với tội nhân.

1. Dụ ngôn con chiên lạc.
2. Dụ ngôn đồng tiền bị mất.
3. Dụ ngôn người con lạc mất.

Cả ba dụ ngôn đều nói về cùng một vấn đề là "đã mất và tìm thấy". Tuy nhiên, câu chuyện ngụ ngôn cuối cùng về đứa con trai đã mất, Giêsu ngụ ý trực tiếp đến con người như một tội nhân biết hối cải như là "đã mất và lại tìm thấy". Tình yêu của Thiên Chúa là một tình yêu đích thực được trao ban cho con người. Người cha đã trao phần gia sản của mình cho một đứa con thứ như anh ta muốn. Người cha cũng cho con mình một sự lựa chọn tự do muốn ở lại hoặc rời bỏ ông.

Ngưới con thứ đã lấy phần của mình và rời bỏ cha để sống theo ý riêng của mình. Sau một cuộc đời tội lỗi, cuối cùng đứa con trai đã phát hiện ra mình sẽ chết nếu không trở về với cha. Nếu không sám hối - không có ơn cứu rỗi.

Người cha yêu con trai thứ nhưng ông chỉ đợi anh ta trở về chứ không sai đầy tớ đi bắt anh ta về nhà. Người cha vẫn cho anh ta sự lựa chọn hoàn toàn tự do để đáp lại tình yêu của ông như anh ta muốn. Người cha đã chào đón đứa con trai khi con trai đang trên đường về nhà. Ngay cả đứa con trai vẫn ở khoảng cách nhà gần, người cha đã đưa tay ra đón nó với sự tiếp đón nồng hậu. Mất và tìm thấy ngụ ý cái chết và sự sống.

Người con trai cả không chịu vào nhà nhưng người cha cũng không muốn mất anh. Người cha đi ra ngoài và giải thích cho anh ta đi vào trong nhà.

Thiên Chúa yêu thương tất cả những đứa con của mình và không muốn bất cứ ai trong số chúng bị mất và chết. Đó có thể là lý do tại sao Chúa Giêsu nói: "Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải."(Lc. 15, 7; 10)

Thiên Chúa là Chúa cha trên trời yêu thương tất cả những đứa con của mình bằng cách sai Con Một để cứu tội nhân bằng cuộc khổ nạn và cái chết của Người Con. Thiên Chúa đã làm phần của mình cho con người. Tất cả những người tội lỗi đều có hy vọng vào tình yêu hoàn hảo của Chúa Cha trên trời. Để được cứu rỗi và được sống, phần khác của con người là sự lựa chọn của họ. "Nếu hôm nay bạn nghe thấy tiếng Ta xin đừng cứng lòngnữa"(Ps. 95, 8)

"Nhưng bây giờ chúng ta phải ăn mừng và vui mừng vì anh trai của bạn đã chết và đã sống lại; anh ta đã mất và đã được tìm thấy."(Lc. 15, 32) Tình yêu mang lại hạnh phúc và niềm vui. Nếu bất cứ ai có thể trải nghiệm tình yêu ngọt ngào của Thiên Chúa, họ sẽ không bao giờ rời xa Ngài.

Tình yêu Của Thiên Chúa là niềm hy vọng và niềm vui cho các tội nhân. Từ bỏ tội lỗi và quay về với Thiên Chúa luôn là sự chọn lựa rất khôn ngoan. Hãy đứng lên và trở về nhà cha để được sống hạnh phúc mãi mãi.

Bình an của Chúa Kitô!

Đa-Minh Quang Hoàng, nguời Kitô hữu.

--

Bible sharing - Sunday 9-15-19

Gospel LK 15, 1-32

The tax collectors and sinners were all drawing near to listen to him, but the Pharisees and scribes began to complain, saying, "This man welcomes sinners and eats with them." So to them, he addressed this parable."

Reflection!

Jesus told the Pharisees and scribes three parables but they are very much the same teaching about the love of God and a sinner.
1. The Parable of the Lost Sheep.
2. The Parable of the Lost Coin.
3. The Parable of the Lost Son.

All three parables talked about the same matter as "lost and found." However, the last parable of the lost son, Jesus implied directly to the human, a sinner who lost and found. The love of God is a true love given to the human. The father gave his inheritance to a younger son as he wished. The father also gave him a free choice to stay in with him or leave him.

The younger son took his part and left his father to be in his own way. After a sinful life spent, the younger son finally found out he would die if he would not come back to his father. If no repent -no salvation.

The father loves the son but he just waits for him to come back rather than sending servants to catch him home. The father still gives him complete free choice to respond to his love as he wills. The father did welcome the younger son when his son was his way home. Even the son was still at a near distance from the house, the father reached out to him with a warm welcome. Lost and found matter implied death and life.

The older son refused to enter the house but the father did not want to lose him either. The father went out and explained to him to go inside his house.

God loves all his children and does not want anyone of them lost and dead. That is why Jesus said, "There will be rejoicing among the angels of God over one sinner who repents."(LK. 15, 7; 10)

God, the heavenly father loves all his children by sending his only Son to save sinners by his passion and death. God did his part for the human. All sinners have their hope in the perfect love of the heavenly father. In order to be saved and live, the other part of the human is their choice. "If today you hear his voice, harden not your heart.:"(Ps. 95, 8)

"But now we must celebrate and rejoice because your brother was dead and has come to life again; he was lost and has been found."(Lk. 15, 32) Love brings happiness and joyfulness. If anyone can experience the sweet love of God, they would never leave him.

God's love is hope and joy for sinners. Giving up sin and turning to God is always a wise choice. Stand up and return to your father's house to live happily forever.

Peace of Christ!

Bro. Dominic Quang Hoang, a Christian.

-------------------------------

 
CẢM NGHIỆM SỐNG LC - THỨ BẢY CN23TN-C PDF Print E-mail

CẢM NGHIỆM SỐNG&Chia sẻ Lời Chúa- Thứ Bảy 14-9-19

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan. (3: 13-17)

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng Nicôđêmô rằng: "Không ai lên trời được, ngoài người đã từ trời xuống, tức là Con Người vốn ở trên trời. Cũng như Môsê treo con rắn nơi hoang địa thế nào, thì Con Người cũng phải bị treo lên như vậy, để những ai tin vào Người, thì không bị tiêu diệt muôn đời."Quả thật, Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người, để tất cả những ai tin vào Con của Người, thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời, vì Thiên Chúa không sai Con của Người giáng trần để luận phạt thế gian, nhưng để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ."

Suy niệm/SỐNG:

Chúa Giêsu đã tỏ bày cho ông Ni-cô-đi-mô về nguồn gốc của mình. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa từ trời xuống. Chúa Giêsu cũng nói với ông về mục đích của ngài xuống thế gian. Đó là ơn cứu rỗi của Thiên Chúa do bởi cuộc khổ nạn và cái chết của Ngài trên thập giá.

Thiên Chúa là tình yêu. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa đã sai Con Một đến trong thế gian để cứu con người khỏi phải chết trong tội lỗi. Thập tự giá đã được dùng để trừng phạt những người có tội phạm nặng nề nhưng Chúa Giêsu đã mang tội lỗi của thế gian trên thập tự giá để chết đền thay cho tội lỗi của họ.

Đối với người Kitô hữu, thập giá của Chúa Giêsu là bằng chứng cho tình yêu đích thực của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã nói: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình."(Ga. 15, 13) Tuy nhiên, có nhiều người không biết thập tự giá là biểu tượng của tình yêu khi họ nhìn vào cây thánh giá.

Giáo hội cử hành thánh lễ tôn vinh Thánh giá để nhắc nhở tất cả nhân loại rằng Thiên Chúa đã tỏ bày tình yêu của Ngài nơi Con Một là Chúa Giêsu. Tại sao tôi gọi thập giá của Chúa Giêsu là Thánh giá? Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa là Đấng Thánh.

Thập giá của Chúa Giêsu ảnh hưởng đến cuộc sống của tôi như thế nào? Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian. Chúa Giêsu chết để bất cứ ai tin vào Người có thể có sự sống đời đời. Một khi tôi biết Chúa Giê-su chết vì tội lỗi của mình, tôi có niềm tin vào ngài và lắng nghe tiếng gọi của ngài: "Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng."(Mc. 1, 15) Nếu tôi tin vào Chúa Giê-su và ăn năn sám hồi tội lỗi của mình, tôi sẽ nhận được ơn cứu rỗi của ngài. Đó là lý do tại sao Thiên Chúa đã không gửi Người Con đến để lên án thế gian.

Nhìn vào cây thánh giá, nó giúp tôi biết Chúa yêu tôi đến như thế nào và tôi có thể đáp lại tình yêu của ngài như thế nào. Thánh Phao-lô nói: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi."(Gal. 2, 20)

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con trở thành chứng nhân cho tình yêu của Chúa và là nguồn suối tình yêu của Chúa cho tha nhân.

"Trong khi người Do-thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Ki-tô bị đóng đinh, điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do-thái hay Hy-lạp, Đấng ấy chính là Đức Ki-tô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa."(1 Cô. 1, 22-24)

Bình an của Chúa Kitô!

Đa-Minh Quang Hoàng, người Kitô hữu.

--

Bible sharing - Saturday 9-14-19

Gospel JN 3: 13-17

Jesus said to Nicodemus: "No one has gone up to heaven
except the one who has come down from heaven, the Son of Man. And just as Moses lifted up the serpent in the desert,
so must the Son of Man be lifted up, so that everyone who believes in him may have eternal life." For God so loved the world that he gave his only Son, so that everyone who believes in him might not perish but might have eternal life. For God did not send his Son into the world to condemn the world, but that the world might be saved through him.

Reflection!

Jesus revealed to Nicodemus his origin. Jesus is the Son of Man coming down from heaven. Jesus also said to him his purpose to come into the world. It is the salvation of God by his passion and death on the cross.

God is love. That is why God sent his only begotten Son to the world to save the human from the dead in sin. The cross is used to punish men with heavy criminals but Jesus took the sins of the world on the cross to die for their sins.

For Christian, the cross of Jesus is the proof of the true love of God. Jesus said, "No one has greater love than this, to lay down one's life for one's friends."(Jn. 15, 13) However, there are many people do not know the cross as a symbol of love when they look at the crucifix.

The Church holds a feast the exaltation of the Holy Cross to remind all humankind that God revealed his love in the Son, Jesus. Why do I call the cross of Jesus is a Holy Cross? Jesus is the Son of God who is the Holy One.

How does the cross of Jesus affect my life? Jesus is the Son of God, a Savior of the world. Jesus died so that anyone believes in him might have eternal life. Once I know Jesus died for my sins, I have my faith in him and listen to his call: "Repent, and believe in the gospel."(Mk. 1, 15) If I believe in Jesus and repent from my sins, I would be saved. That is why God did not send his Son to condemn the world.

Looking at the crucifix, it helps me to know how much God loves me and how can I respond to his love. Paul said, "I live, no longer I, but Christ lives in me; insofar as I now live in the flesh, I live by faith in the Son of God who has loved me and given himself up for me."(Gal. 2, 20)

Jesus, help me to be a witness to your love and a channel of your love.

"For Jews demand signs and Greeks look for wisdom, but we proclaim Christ crucified, a stumbling block to Jews and foolishness to Gentiles, but to those who are called, Jews and Greeks alike, Christ the power of God and the wisdom of God."(1 Cor 1, 22-24)

Peace of Christ!

Bro. Dominic Quang Hoang, a Christian.

---------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 3 of 1855