mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5701
mod_vvisit_counterHôm Qua8518
mod_vvisit_counterTuần Này48006
mod_vvisit_counterTuần Trước66241
mod_vvisit_counterTháng Này169739
mod_vvisit_counterTháng Trước342558
mod_vvisit_counterTất cả21338619

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)

Login Form





Bài Mới
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # GIA DINH VA TUONG LAI NHAN LOAI PDF Print E-mail

 

GIA ĐÌNH VÀ TƯƠNG LAI NHÂN LOẠI

Lễ Thánh Gia

________________

Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Sau những huy hoàng chói lọi của Lễ Giáng Sinh, chúng ta lại cùng Giáo Hội ăn mừng Lễ Thánh Gia. Lễ Thánh Gia mời gọi người tín hữu suy niệm về mầu nhiệm đời sống, đặc biệt là ân sủng gia đình, một tặng phẩm mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại.

Bài phúc âm hôm nay (Lc 2: 41-52) kể lại câu chuyện chúa Giêsu lúc còn niên thiếu. Đây là mẩu chuyện duy nhất và đặc thù của Tân Ước. Tuy nhiên thánh Luca cũng làm cho độc giả hồi hộp lo sợ mà ngạc nhiên về những lời Đức Giêsu nói ở giai đoạn sơ khởi của cuộc đời chúa Giêsu. Chuyện kể rằng "cha mẹ Người hàng năm vẫn đi về Jerusalem vào ngày Lễ Vượt Qua" (Lc 2:41) theo truyền thống đạo đức, tinh thần luật của Israel .

Lúc ấy chúa Giêsu đã lên 12 tuổi, theo phong tuc thì Người cũng theo cha mẹ đi Jerusalem (2:42). "Khi trở về thì cậu bé Giêsu ở lại Jerusalem mà cha mẹ không biết"(2:43).Mệt mỏi tìm kiếm suốt 3 ngày trời không thấy, cuối cùng thì " kiếm ra được Chúa ở trong đền thờ, đang ngồi giữa những thầy dạy, lắng nghe họ và đặt những câu hỏi với họ" (2:46).

Những lời lạ lùng của chúa Giêsu nói với cha mẹ lúc kiếm được Người xem ra đã làm khựng lại nỗi vui mừng của mẹ Maria và ông Giuse. "Bố mẹ đi tìm con làm chi vậy? Bố mẹ không biết rằng con phải ở nhà của Cha con hay sao?" (2:49). Câu này cũng có thể diễn nghĩa thế này: "Con còn có nhiều việc phải làm của Cha con ." Cả hai cách diễn nghĩa, chúng ta đều hiểu rằng Chúa Giêsu ám chỉ Thiên Chúa là Cha Người. Tình Cha Con Thiên Chúa và sự vâng lời ý nguyện của người Cha trên trời phải ưu tiên hơn những ràng buộc của gia đình nơi trần thế.

Bỏ qua biến cố này, toàn thể thời kỳ thơ ấu và thiếu niên của chúa Giêsu theo như Tin Mừng, đều qua đi trong âm thầm lặng lẽ. Đó là thời kỳ"ẩn dật", được thánh Luca tóm tắt bằng hai mẩu văn như sau: "Đức Giêsu đi xuống với bố mẹ và trở về Nazareth , và vâng phục các ngài (Lc 2:51); và Người lớn lên từ từ cùng với sự khôn ngoan và ân phúc trước mặt Thiên Chúa và người đời"(Lc 2:52). Trong thời gian này, câu chuyện thời thơ ấu lúc kết thúc cũng như lúc khởi đầu, đều nằm trong khung cảnh đền thờ Jerusalem .

Qua Tin Mừng, chúng ta biết được là Chúa Giêsu đã sống trong chính gia đình của Ngưòi, trong nhà ông Giuse là cha và mẹ là bà Maria, những người có bổn phận giúp đỡ và che chở Người, huấn luyện từ từ cho Người theo nghề thợ mộc. Dân chúng trong thành Nazareth thì vẫn coi Người là "con ông thợ mộc"(Mt 13:55).

Khi Chúa Giêsu bắt đầu giảng dạy, dân chúng theo Người đã rất ngạc nhiên:"Ông này há không phải là con ông thợ mộc và bà Maria hay sao?"(Mc 6:3). Ngoài mẹ Người ra thì thiên hạ nói những người sống ở Nazaretth chunh quanh đó là anh chị em bà con Người. Thánh sử Mac cô đã nói: Có những người bà con tìm cách ngăn cản Đức Giêsu hoạt động giảng thuyết (Mc 3:21) vì hiển nhiên họ không thấy nơi Người có gì khả dĩ có thể chứng minh bước khởi đầu cuộc đời hoạt động mới của Người. Họ nghĩ rằng Đức Giêsu cũng giống như bất cứ một người Do Thái nào khác và do đó phải sống cuộc sống bình thường thôi.

TRƯỜNG HỌC NAZARETH

Những lời Đức Thánh Cha Phaolo VI tuyên bố ở Nazareth ngày 5-1-1964 về ý nghĩa mầu nhiệm Nazareth và Thánh Gia rất đáng cho chúng ta suy niệm. Những giá trị tuyệt vời của gia đình Nazareth như sự yên lặng, cuộc sống và việc làm trong gia đình là những yếu tố đặc biệt chúng ta phải để ý và noi theo. Ngài nói:

" Nazareth là một trường học, ở đó chúng ta có thể khám phá ra được vẻ tươi đẹp của cuộc sống của Chúa và hiểu được Tin Mừng của Người. Ở đây, chúng ta có thể quan sát và suy niệm về cách thức Con Thiên Chúa xuống thế làm người nó sâu xa và ý nghĩa biết mấy, cho dù vẫn đầy dẫy những ẩn ý ở bên trong.

" Và từ từ chúng ta có thể học hỏi để bắt chước Người. Ở đây chúng ta có thể học cách thể hiện xem Chúa Kito thực sự là ai. Và ở đây, chúng ta có thể cảm nghiệm và để ý đến những điều kiện và hoàn cảnh xung quanh đã ảnh hưởng đến cuộc sống của Người ở trần thế này như: không gian, thời gian, văn hóa, ngôn ngữ, tôn giáo, ......Tóm lại, tất cả những gì mà chúa Giêsu đã dùng để cho cả thế giới biết đến Người. (....)

" Trước tiên, chúng ta học hỏi về sự yên tĩnh của gia đình Nazareth . Chúng ta phải ở trong một khung cảnh nhiều người đang cãi lộn nhau rất ồn ào náo nhiệt thì mới cảm nghiệm được sự yên tĩnh nó êm đềm lắng đọng như thế nào! Sự yên tĩnh của Nazareth sẽ chỉ cho chúng ta cách thức chiêm nghiệm trong thinh lặng và an bình, suy tư trong tình trạng thần trí lắng đọng, và mở rộng tâm hồn lắng nghe tiếng nói khôn ngoan của Chúa và lời khuyên của những thầy dạy đích thực. Nazareth có thể dạy cho chúng ta biết giá trị của sự học hỏi và sửa soạn, của chiêm nghiệm, của đời sống tinh thần có tổ chức, của sự yên lặng cầu nguyện mà chỉ có Thiên Chúa biết mà thôi.

"Thứ hai, chúng ta học hỏi về đời sống gia đình. Nazareth là mẫu mực phải có của mọi gia đình. Nazareth thể hiện cho chúng ta rõ ràng tính thánh đức và vững bền của gia đình, đồng thời nêu gương sáng về những nhiệm vụ căn bản của gia đình trong xã hội như là một cộng đồng tình yêu và chia sẻ, nó tuyệt mỹ ở chỗ có những vấn đề đặt ra và được giải quyết thỏa đáng. Tóm lại nó là một cấu trúc toàn hảo để nuôi dưỡng con trẻ- và như vậy, nó là bất khả thay thế.

"Sau cùng, ở Nazareth , nơi nhà con ông thợ mộc, chúng ta có thể học hỏi đuợc nhiều điều ở công việc làm và những kỷ luật cần có của nó. Cha muốn đặc biệt nói đến những chân giá trị của những việc làm đó –có đòi hỏi thì cũng có phần thưởng- để trân trọng nó một cách thích đáng. Cha muốn nhắc nhở mọi người là chuyện đi làm nó cũng có cái giá trị phẩm giá của riêng nó. Ngoài ra, không đi làm không có nghĩa là đuờng cùng rồi. Tuy nhiên vì cái giá trị và tính tự do của việc làm, đi làm không phải chỉ vì vị trí của việc làm trong hệ thống kinh tế, như người ta nói, mà đúng ra còn vì cái mục đích phục vụ của công việc làm."

NHỮNG THÁCH ĐỐ CỦA NGÀY NAY

Ngày nay, chúng ta ai cũng thấy là thiếu môi trường giáo dục, không phải chỉ ở ngoài Giáo Hội mà cả ngay trong Giáo Hội. Gia đình Kito giáo không còn khả năng tự mình truyền đạt niềm tin của mình cho những thế hệ kế tiếp, và ngay cả chính xứ đạo cũng vậy, mặc dù nó vẫn còn là một cấu trúc cần thiết cho sứ mệnh truyền giáo của Giáo Hội ở bất cứ một địa hạt nào

Là một cộng đồng Kito giáo nói riêng, xã hội nói chung, chúng tôi cần phải hoạt động tích cực hơn nữa để khuyến khích mọi người giữ cho tình liên đới giữa người nam và người nữ thật bền chặt làm căn bản cho tất cả mọi nền văn minh, cũng như yểm trợ tối đa cho quyền lợi và nhu cầu của con trẻ. Chúng tôi cũng cần suy xét cẩn thận về những hậu quả xã hội liên hệ đến định nghĩa cũa hôn nhân, của vợ chồng; xem xét cẩn thận tất cả những điều mà người ta thêm vào một khi xã hội không còn cho chúng tôi một vị thế đặc quyền và giá trị làm nền tảng cho cuộc nối kết lâu dài giữa hai người nam và nữ trong hôn nhân.

Là cột trụ của xã hội, gia đình chính là môi trường thuận lợi nhất để đón chào con trẻ. Đồng thời tự do lương tâm và tự do tôn giáo cần phải được bảo đảm, cũng như phải kính trọng nhân phẩm của tất cả mọi người bất kể khuynh hướng sắc dục của họ thế nào.

Chúng tôi đã có nhhiều dịp tham dự những cuộc hội thảo về hôn nhân ở xứ đạo và giáo phận chúng tôi, xin được chia sẻ với quí vị. Hai thách đố đặc biệt thường được nêu ra trong những cuộc tranh luận khá sôi nổi về hôn nhân và đời sống gia đình trong thời đại của chúng ta. Hôm nay Lễ Thánh Gia, một vấn đề khá khẩn cấp đối với chúng ta, nhất là những giáo dân, phải làm sao duy trì giá trị của những định chế quan trọng và bí tích hôn nhân. Hãy yểm trợ những chương trình chuẩn bị hôn nhân trong các cộng đồng xứ đạo của mình. Cũng cần đề ý, trong các xứ đạo và giáo phận thường có những chương trình ơn gọi đặc biệt cho thanh niên và giới trẻ nên cũng nên cổ động và tham gia. Những xứ đạo và giáo phận và những phong trào giáo dân không có những kế hoạch mục vụ có tính sáng tạo và chương trình ơn gọi hôn nhân cho giới trẻ vẫn đầy dẫy những nghi hoặc rất đáng sợ về luân lý, những hiểu lầm, trống rỗng và thiếu thông tin chính xác và đầy đủ.

Chúng ta cũng đừng quên rằng trong xã hội cũng có những ràng buộc khác giữa tình yêu và tình liên đới, giữa sự cam kết và tương quan trách nhiệm. Những điều đó có thể tốt, và có thể được pháp luật công nhận. Trong hôn nhân cũng có những tương tự như vậy. Nhưng không thể thay đổi định nghĩa hôn nhân theo luật pháp qui định mà có thể thay đổi được thực tế đã có trước mắt từ ngàn xưa là chỉ có sự cam kết phối hơp giữa hai người nam và nữ mới có giá trị hôn nhân. Không phải chỉ cần có những ràng buộc về tương quang giữa hai người lớn với nhau thôi, mà còn phải dựa vào khả năng sản xuất tự nhiên để sinh con đẻ cái.

Trong dịp lễ Thánh Gia này, chúng tôi hãy cam kết tạo dựng mái ấm gia đình nhân loại, tôn vinh hôn nhân, làm cho nó trở nên vững mạnh, chúc phúc và dưỡng dục con cái, biến mái ấm gia đình chúng tôi, xứ đạo chúng tôi trở nên thánh đức, hân hoan đón chào những cuộc hôn nhân giữa người nam và người nữ giữa mọi quốc gia, mọi sắc dân, ngôn ngữ, khuynh hướng phong tục cũng như cách sống.

ĐÔI LỜI KẾT:

NỀN MÓNG CỦA XÃ HỘI

Chân phước Giáo Hoàng Gioan Phaolo II vẫn thường nói: "Tương lai nhân loại tùy thuộc vào gia đình". Bài đọc ngày lễ hôm nay nhắc nhở chúng ta là gia đình có một liên đới sống động với xã hội.

Nền móng xã hội chính là gia đình. Nền móng gia đình chính là hôn nhân. Ơn gọi lập gia đình / hôn nhân đã được ghi khắc trong chính bản tính của người Nam và người Nữ. Như là cột trụ của xã hội, gia đình là môi trường thích hợp nhất để đón chào con trẻ.

Chúng ta cần những thanh niên trẻ, vui vẻ, mạnh dạn xác tín, hy vọng với tất cả niềm tin sắt đá khi nói: "I Do / Tôi Đồng Ý". Họ là Tương Lai và Hy Vọng của chúng ta. Không có những cặp vợ chồng kết hôn với nhau, chúng ta không thể xây đắp được tương lai cho xã hội và Giáo Hội. Không có những cặp vợ chồng kết hôn với nhau và cam kết thề hứa trung thành, thương yêu nhau, chúng ta không thể có những gia đình thánh đức như ngày nay được.

Fleming Island, Florida

Dec. 28, 2012

NTC

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # DUC TIN PDF Print E-mail

TÔI TIN

(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)

Chúng ta đang sống trong một xã hội mà khoa học đã tiến được những bước dài. Người ta đã có thể lên thăm "Mặt Trăng" và nhờ ống viễn kính, người ta có thể dò thám các hành tinh khác và quan sát vũ trụ bao la. Phi thuyền không gian đã đưa được nhiều phi hành gia lên làm việc trên vũ trụ, sinh sống ở trên đó cả nhiều tháng trời, có khi cả năm, rồi lại trở về trái đất.

Nhờ tiến bộ kỹ thuật 'Tin Học' mà ngày nay chúng ta có thể thông tin cho nhau thật nhanh chóng qua hệ thống điện thư (Email) và vừa nói chuyện vừa thấy mặt nhau. Nhờ đó, thế giới thu nhỏ lại như một ngôi làng.

Tuy nhiên, do những tiến bộ vượt bậc này, con người dễ trở nên kiêu căng, tự phụ, coi mình là "Ông Trời" và chối bỏ đức tin vào Thiên Chúa. Giới trẻ bước vào đại học cũng dễ bị nhiễm những lý thuyết và tư tưởng vô thần. Từ vô thần con người cũng dễ đi đến vô luân (theo một nghĩa nào đó).

Thí dụ, ngày nay có những chính quyền chối bỏ luật tự nhiên, chủ trương "nam lấy nam nữ lấy nữ" cũng là hôn phối (same sex marriage). Ở bên Hoa kỳ, chẳng hạn, đã có những vị chánh án phát biểu: "Thật là bất công, nếu 'hôn phối' (marriage) chỉ là giữa một người nam và một người nữ." Họ quên rằng hôn phối tự nhiên "giữa một người nam và một người nữ" là để sinh con cái, và phát triển nhân loại; cũng như mọi vật trên trái đất đều phát triển qua các thế hệ nhờ sự kết hợp giữa "nam" và "nữ" hay "đực" và "cái". Đã có những tiểu bang ở Hoa Kỳ cấp giấy phép để nam lấy nam, nữ lấy nữ thành 'vợ chồng' (same sex marriage) một cách phợp pháp và hưởng các quyền lợi như những đôi cưới nhau theo hôn phối tự nhiên. Lại có những nhà lãnh đạo các giáo phái chấp nhận như vậy và "làm phép hôn phối' cho các đôi 'nam lấy nam, nữ lấy nữ'. Ngoài ra chúng ta còn phải kể đến những phong trào luyến ái tự do, tự do ly dị, tự do phá thai (cha mẹ tự giết con của mình!)

Đứng trước những trào lưu 'vô thần' và 'vô luân' như vậy trong thế giới chúng ta ngày nay, Giáo Hội Công Giáo cố gắng củng cố Đức Tin cho các tín hữu các nơi và Đức Giáo Hoàng đã lập 'NĂM ĐỨC TIN' để chúng ta cầu nguyện, học hỏi, xây dựng một nền tảng Đức Tin vững chắc cho chúng ta, cho con cháu chúng ta và phát triển Đức Tin chân thật cho mọi người chung quanh chúng ta, nơi sở làm, trường học, khu xóm (Xin xem Thơ Philípphê 2:15).

Chúng ta phải cầu nguyện, vì Đức Tin là một ơn huệ Chúa thương ban và cần ơn Chúa giúp để tồn tại và phát triển, nhất là giữa thế giới đầy những phong trào vô thần và vô luân ngày nay. Ngay cả các môn đệ theo Chúa Giêsu ngày xưa cũng thấy yếu Đức Tin và cần cầu xin Chúa thêm Đức Tin: "Lạy Thầy, xin Thầy thêm Đức Tin cho chúng con." (Luca 17:5).

Trong Phúc Âm chúng ta thấy, sau khi Chúa Giêsu làm phép lạ chữa lành các bịnh nhân, Chúa Giêsu thường nói "Đức Tin của con đã chữa con!" để nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của Đức Tin trong đời sống của những người theo Chúa. Vì Đức Tin là nền tảng: Có tin Chúa, chúng ta mới trông cậy nơi quyền năng của Chúa và mới cầu xin Chúa. Chẳng hạn như câu chuyện hai người mù khi biết Chúa Giêsu đi ngang qua, đã khẩn thiết xin Chúa cho các anh được nhìn thấy, và dù mù loà các anh vẫn kiên nhẫn lần mò đi theo Chúa. Để thử thách niềm tin của các anh, Chúa Giêsu cứ đi như không để ý đến các anh, cho đến khi về tới nhà mà các anh vẫn theo tới. Bây giờ Chúa Giêsu mới hỏi: "Các anh có tin rằng tôi có thể chữa lành các anh được không?" Các anh liền thưa: "Chúng tôi tin!" Bấy giờ Chúa Giêsu sờ vào mặt các anh và nói: "Các anh tin thế nào thì được như vậy!" Mắt các anh liền mở ra và các anh đã thấy. (Xin xem Phúc Âm Matthêu 9:27-30; có thể xem thêm câu chuyện Chúa Giêsu chữa người đầy tớ của viên Đại Đội Trưởng (Mathêu 8:5-13).

Chúng ta nhớ lại, khi chúng ta chịu phép Rửa Tội, vị chủ sự hỏi chúng ta "Anh chị em xin gì với Hội Thánh Chúa?" Chúng ta thưa "Thưa xin Đức Tin." "Đức Tin đem lại điều gì cho anh chị em?" Chúng ta thưa " Thưa Sự Sống Đời Đời." Tin Thiên Chúa hằng hữu và tin ở cuộc đời sau; đó là niềm tin của chúng ta, và điều quan trọng nhất là "Sự Sống Đời Đời." Vì đó là cùng đích của cuộc hành trình Đức Tin của chúng ta.

Chúng ta tin những gì? Thưa chúng ta tin tất cả những điều Chúa dạy chúng ta ở trong Kinh Thánh, mà đã được Giáo Hội tóm lại trong sách Giáo Lý (ngày xưa gọi là Sách Bổn), và ngắn gọn hơn trong "Kinh Tin Kính" mà chúng ta cùng nhau đọc trong mỗi Thánh Lễ Chúa Nhật, Lễ Trọng, và khi chúng ta đọc kinh trong gia đình hàng ngày.

Chúng ta cũng phải luôn luôn cảnh giác trước những cám dỗ của các trào lưu vô thần, và vô luân, những cám dỗ (mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên) làm xa lạc Đức Tin chân chính, như Thánh Phêrô nói: " Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức; vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong Đức Tin mà chống cự lại; vì biết rằng toàn thể anh em trên thế giới đều trải qua những thử thách như thế. Thiên Chúa, nguồn mọi ân sủng, là Đấng đã kêu gọi anh em vào vinh quang đời đời của người trong Đức Kitô, sẽ cho anh em là những kẻ phải chịu khổ ít lâu, được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường" (1 Phêrô 5:8-10). Ở một đoạn khác, thánh Phêrô nói: " Anh em sẽ được hân hoan vui mừng, mặc dầu ngày nay anh em còn phải ưu phiền ít lâu giữa trăm chiều thử thách. Những thử thách do nhằm tinh luyện Đức Tin của anh em là thứ quý hơn vàng gấp bội (mà vàng là của phù vân, cũng vẫn phải chịu thử lửa!) Nhờ thế mà khi Đức Giêsu Kitô tỏ hiện, Đức Tin đã được thanh luyện đó sẽ trở thành lời ngợi khen, và đem lại vinh quang, danh dự... Tuy không thấy Người, anh em vẫn yêu mến; tuy chưa được giáp mặt mà lòng vẫn kính tin. Vì vậy, anh em được chan chứa một niềm vui khôn tả, rực rỡ vinh quang; bởi đã nhận được thành quả của Đức Tin là ơn cứu độ con người." (1Phêrô 1:6-9) (Chúng ta có thể xem thêm Mathêu 17:20; Mathêu 21:21; Mátcô 11:23; Luca 7:4-10).

Vậy chúng ta hãy cầu nguyện chung cho nhau (nhất là trong Năm Đức Tin này), xin Chúa cho chúng ta quý trọng Đức Tin Chúa ban cho chúng ta, bảo vệ và phát triển Đức Tin nơi chúng ta, nơi con cháu chúng ta, và loan truyền Đức Tin chân thật cho mọi người chung quanh chúng ta.

Xin Chúa nhân từ, nhờ lời Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse, và các Thánh Tử Đạo Việt Nam, và các Thánh chuyển cầu, ban muôn ân sủng và bình an cho chúng ta trong Năm Đức Tin này.

__._,_.___

 
NHUNG BAI VE DUC ME # 12 = LE DUC MARIA, MẸ THIEN CHUA PDF Print E-mail

CHÚA GIÊSU, CON MẸ MARIA,

MẠC KHẢI TÌNH YÊU THIÊN CHÚA CHO MỌI NGƯỜI

SUY NIỆM PHÚC ÂM ( IV C 8 ); ( 01.01.2013); ( Lc 2, 16-21)

LỄ ĐỨC MẸ MARIA, MẸ THIÊN CHÚA

NGUYỄN HỌC TẬP

1 - Trong bài Suy Niệm Phúc Âm đêm Giáng Sinh, chúng ta đã có dịp đề cập sơ qua các câu 15-20, chương 2 Phúc Âm Thánh Luca, là những câu kết thúc biến cố Giáng Sinh của Chúa Giêsu với câu cuối cùng diễn tả cử chỉ hân hoan, mà các mục đồng ra về sau khi được gặp một " Trẻ Sơ Sinh nằm trong máng cỏ":

- " Rồi các mục đồng ra về, vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, cũng như đã được nói với họ " ( Lc 2, 20).

Câu 21 là câu chuyển tiếp, một đàng để kết thúc những gì đã được kể lại trong biến cố Giáng Sinh, đàng khác dẫn nhập đến sự việc Mẹ Maria và Thánh Giuse dâng hiến Chúa Giêsu trong Đền Thờ:

- " Khi Hài Nhi được tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ" ( Lc 2, 21).

Cấu trúc của câu 21 vừa được trích dẫn cho thấy Thánh Luca đặt trọng tâm của câu Phúc Âm vào

" tên " của Hài Nhi Giêsu, bởi vì " tên " đó đã được chính thiên thần, theo lệnh Chúa Cha, bảo đặt cho Chúa Giêsu trước khi Người được cưu mang:

- " Nầy đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và bà sẽ đặt tên là Giêsu " ( Lc 1, 31).

Và theo tục lệ Do Thái, lúc đặt tên chính thức cho đứa trẻ được thực hiện trong nghi lễ cắt bì, tám ngày sau khi được sinh ra, theo những gì Thiên Chúa truyền dạy cho tổ phụ Abraham:

- " Sinh được tám ngày, mỗi con trai của các ngươi phải chịu cắt bì, từ thế hệ nầy qua thế hệ khác, kể cả nô lệ sinh trong nhà, hay nô lệ các ngươi dùng bạc mà mua của bất cứ người ngoại bang nào không thuộc dòng dõi của ngươi " ( Gen 17, 12).

2 – Các yếu tố của câu 21 chúng ta đọc ở trên, đáng được đặc biệt chú ý, bởi vì là những yếu tố được cả hai bài đọc thứ nhứt và thứ hai trong Thánh Lễ hôm nay đề cập đến.

Đó là những lời chúc lành của các tư tế, trong đó " tên " hay " thánh danh " Thiên Chúa được nêu lên và giữ một vai trò hệ trọng tối thượng đối với cuộc sống còn của dân tộc Israel:

- " Nguyện Thiên Chúa ( YHWH, Yahvé) chúc lành và gìn giữ anh em!

Nguyện Thiên Chúa ( YHWH, Yahvé) tươi nét mặt nhìn đến anh em và dũ lòng thương anh em!

Nguyện Thiên Chúa ( YHWH, Yahvé) ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!

Chúc như thế là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng " ( Nm 7, 24-27).

Và Thánh Phaolồ trong Thư gởi các tín hữu Galati đã cho chúng ta biết rằng Chúa Ki Tô "đã được sinh ra dưới Lề Luật ", nói cho mọi người biết rằng Người thuộc dân tộc Israel, trong đó cắt bì là dấu chứng rõ rệt và bắt buộc, như những gì chúng ta đã đọc trong sách Sáng Thế Ký Chúa đã truyền cho Abraham ( Gn 17, 12).

Bỏi đó Thánh Phaolồ viết cho các tín hữu Galati:

- " Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử " Gal 4, 4-5).

Bài Phúc Âm hôm nay, được trích cho chúng ta đọc chung với đoạn chúc phúc của sách Dân Số và đoạn thư cho các tin hữu Galati nói về việc Chúa Giêsu " sinh ra dưới Lề Luật ", Phụng Vụ có ý mời gọi chúng ta chú tâm đến biến cố cắt bì của Chúa Giêsu, tám ngày sau Lễ Giáng Sinh.

Trong sách Dân Số, công thức chúc phúc được lập lại ba lần và mỗi lần đều nhấn mạnh đến "thánh danh Thiên Chúa, YHWH ". Bởi vì chúc phúc như vậy, các tư tế "đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của danh Ta " ( Nm 7, 27).

Thành ngữ "đặt dưới danh, đặt dưới quyền bảo trợ của danh tánh " khi nói về Thiên Chúa, Cựu Ước dùng liên tưởng đến Đền Thánh Giêrusalem, để nói lên là nơi Chúa chọn lựa một cách đặc biệt:

- " Ta đã thánh hoá ngôi đền nầy, mà ngươi đã xây để cho danh Ta ngự ở đó muôn đời; Ta sẽ nhìn xem và ưa thích ở đó mỗi ngày" ( 1 Re 9, 3).

Câu văn vừa kể của Sách I Các Vua,

- một mặt nói lên cho chúng ta mối liên hệ giữa Đền Thánh Giêrusalem và Thiên Chúa, " Ta đã thánh hoá ngôi đền nầy, là ngươi đã xây, để danh Ta ngự ở đó muôn đời ",

- mặt khác nói lên Thiên Chúa tối thượng và trổi vượt, không ai nghĩ rằng có thể xây được một đền đài nào nguy nga tráng lệ và rộng lớn đến đâu để có thể chứa đựng được Thiên Chúa, " Ta sẽ nhìn xem và ưa thích ở đó mỗi ngày ".

Trong sách Dân Số, các vị tư tế đã phó thác dân Israel trong thánh danh Thiên Chúa, nói lên Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài, Ngài chăm sóc dân Ngài, đại lượng tha thứ lỗi lầm, chúc phúc, ban bình an, bảo vệ cuộc sống và an toàn:

- " Chúc như vậy là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng" ( Nm 7, 27)

Quyền năng siêu việt và tự do của Thiên Chúa được làm sáng tỏ trong lời chúc phúc của các tư tế, bởi vì thể thức chúc phúc như vừa kể cho thấy không phải là do các vị đó chế biến ra, mà là chính lời của Thiên Chúa truyền cho, chính Chúa đã nói với các vị:

- " Chúc như vậy là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của danh Ta...".

Dầu vậy,

- dầu dùng chính lời của Thiên Chúa để chúc phúc cho Israel, vai trò của các vị tư tế cũng chiếm một địa vị quan trọng trong dân chúng Israel,

- bởi vì chỉ có con cái chi tộc Aronne mới có quyền được trở thành tư tế và dùng lời Chúa chúc phúc cho dân chúng.

3 - Trở lại Phúc Âm Thánh Luca, về " tên của Hài Nhi ", chúng ta có thể để ý đến sự khác biệt giữa hai lần đề cập đến.

Ở lần truyền tin cho Mẹ Maria, thiên thần truyền cho Mẹ:

- " Và đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và bà sẽ đặt tên là Giêsu " ( Lc 1, 31).

(Đúng hơn mệnh đề ...bà sẽ đặt tên là Giêsu ( et tu lui donneras le nom de Jésus, Bible de Jérusalem, Cerf, Paris 1961, 13539) nên dịch là « bà hãy đặt tên là Giêsu », là một động từ ở thì tương lai, được dùng dưới hình thức thể mệnh lệnh tính lịch sự ( impératif de politesse).

Trong khi đó thì trong câu biến cố cắt bì hôm nay, động từ được Thánh Luca dùng ở thể thụ động, mà các nhà thần học cho là " thể thụ động thần học " ( passif théologique).

Do đó thay vì dịch như dịch giả Việt Ngữ:

3 " Khi Hài Nhi được tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hai Nhi là Giêsu" ( Lc 2, 21) ( Thánh Kinh Trọn Bộ, NXB TPHCM 1998, 1941).

Dịch động từ dưới thể " không xác định chủ thể " ( impersonnel ) như vừa kể : " người ta đặt tên" như dịch giả Việt Ngữ, người đọc không thấy được ai là chủ thể của động tác.

Chủ thể đó là ai cũng được, không cứ gì tên Giêsu là tên được Chúa Cha đặt cho Con mình và được thiên thần Gabriel truyền cho Mẹ Maria trong ngày Truyền Tin.

Trái lại chúng ta nên dịch theo " thể thụ động thần học " mà các bản văn dịch Ý Ngữ chúng tôi có đều dùng:

- " Khi Hài Nhi được tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, tên Giêsu được đặt cho Hài Nhi "

( ..., gli fu messo nome Gesù, ..., La Bibbia di Gierusalemme, EDB, Bologna 1986, 2199).

Dịch như vậy, chúng ta thấy rỏ ý nghĩa của " thể thụ động thần học", nói lên động tác của chính Thiên Chúa can thiệp vào biến cố.

Nói cách khác chính Thiên Chúa, Chúa Cha đã đặt tên cho Chúa Giêsu.

Và như vậy với cách dùng "thể thụ động thần học " trong câu văn, " ...tên Giêsu được đặt cho Hài Nhi ", Thánh Luca muốn cho chúng ta nhận ra chính Chúa Cha đã đặt tên Giêsu cho Con Ngài, Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa.

Dùng lối dịch "không xác định chủ thể " ( impersonnel): " người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giêsu ", vô tình hay hữu ý, dịch giả Việt Ngữ " vô thần hoá " bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu chăng?

" Thể thụ động thần học " như vừa kể, chúng ta cũng đã có dịp gặp ơ những lần khác,

- khi Chúa Giêsu "được biến dạng " (được Đức Chúa Cha biến dạng) trong biến cố Chúa Giêsu tỏ mình ra sáng láng : " Et il fut transfiguré devanti eux...( Và Người được biến dạng trước mặt họ..., Mt 17, 2 ) ( La Sainte Bible, École Biblique de Jérusalem Cerf, Paris 1961, 1312).

- Và trong biến cố « Chúa Giêsu sống lại » ( Chúa Giêsu được Chúa Cha làm cho sống lại) : - " Các bà đừng sợ ! Tôi biết các bà tìm Chúa Giêsu, Đấng bị đóng đinh. Người không còn ở đây, vì Người « đã được cho trổi dậy », như Người đã nói ( Mt 28, 6) ( Ne craignez point, vous ; je sais bien que vous cherchez Jésus, le Crucifié. Il n'est plus ici, car il est ressuscité, come il l'avait dit » ( La Sainte Bible, id., 1329).

Dịch như vậy, chúng ta thấy được sáng kiến và tự do của Thiên Chúa trong các biến cố khác thường của cuộc đời Chúa Giêsu.

Chúa Cha tác động trong chương trình cứu rỗi của Chúa Giêsu, Chúa Cha can thiệp vào lịch sử cứu rỗi và vào đời sống con người chúng ta.

Việc chọn các bài đọc đặt bên cạnh bài Phúc Âm hôm nay cũng rất có ý nghĩa, đặt các lời chúc phúc nhân danh Thiên Chúa bên cạnh việc « Chúa Cha đặt tên cho Chúa Giêsu » qua « thể thụ động thần học » nói lên cho chúng ta một nhãn quang mới, Thiên Chúa hiện diện giữa con người trong tên Hài Nhi Giêsu.

Hài Nhi Giêsu của Mẹ Maria và Thánh Giuse làm cho Thiên Chúa hiện diện giữa chúng ta và chúc phúc cho chúng ta như đã hiện diện và chúc phúc cho dân Israel trong Cựu Ước.

Trong Hài Nhi Giêsu, tình thương của Thiên Chúa hiện diện,

- không những cho Israel như trong Cựu Ước, được sách Dân Số kể lại cho chúng ta ở trên,

- mà là cho tất cả mọi người, như lời loan báo của thiên thần cho các mục đồng :

- « Vinh danh Thiên Chúa trên trời,

Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương » ( Lc 2, 14).

4 – Trong Thư Thánh Phaolồ gởi các tin hữu Galati, trước tiên Ngài nhấn mạnh đến bản tính nhân loại của Chúa Giêsu, với thành ngữ « sinh làm con một người phụ nữ », nói lên sự mỏng dòn yếu đuối của bản tính nhân loại, liên tưởng đến biến cố Nhập Thể của Ngôi Lời Con Thiên Chúa :

- « Nhưng khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người phụ nữ,...» ( Gal 4, 4-5).

Kế đến Thánh Phaolồ cho chúng ta biết Chúa Giêsu,

-« và sống dưới Lề Luật, để cứu chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử » ( id.)

Viết như vậy, chắc chắn khi viết, Thánh Phaolồ liên tưởng đến biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu bằng động từ " cứu chuộc", bởi vì qua sự chết và sống lại của Chúa Giêsu, Ngài đã giải thoát mọi con người khỏi tội lỗi và cái chết.

Nhưng với việc cắt bì được Phúc Âm Luca kể lại hôm nay, là dấu chỉ " sống dưới Lề Luật " , và sống trong giao ước:

- " Sinh đươc tám ngày,mọi con trai các ngươi sẽ phải chịu cắt bì, từ thế hệ nầy, qua thế hệ khác...Giao ước Ta ghi dấu trong thân xác các ngươi, sẽ thành giao ước vĩnh cữu" ( Gn 17, 12.13),

chúng ta có thể hiểu được trong ngụ ý của Thánh Phaolồ là biến cố khổ hình thánh giá đã được bắt đầu ngay từ lúc tám ngày sau khi Chúa Giêsu được sinh ra.

Cùng với cắt bì hôm nay và cuộc tử nạn thập giá trong tương lai, Chúa Giêsu đã giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết, để ban cho chúng ta địa vị con Thiên Chúa:

- " Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thánh Thần của Con minh đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: Abba, Cha ơi! Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con, thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa " ( Gl 4, 6-7).

Và chúng ta có được những điều vừa kể, nhờ công sức đóng góp của Mẹ Maria vào chương trình cứu rổi của Mẹ. Mẹ đã cưu mang, sinh ra và nuôi dưỡng Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ và làm cho chúng ta trở thành nghĩa tử đầy ân phúc của Chúa.

 
THAN TAM MANH KHOE # CAI GIA CUA SU TUC GIAN PDF Print E-mail

 

MỜI ĐỌC VÀ SUY TƯ

Cái giá của sự tức giận

Một bà cụ có tính tình cau có, thường xuyên nổi giận vì những sự việc nhỏ nhặt, hơn nữa, mỗi khi tức giận hay dùng lời lẽ ác độc, vô tình đã làm tổn thương nhiều người, vì thế bà ta giao tiếp với hàng xóm bạn bè đều không được hài hòa.

Bà ta cũng biết khuyết điểm của mình, mong muốn sửa lại lỗi lầm thành tật này. Nhưng mỗi khi tức lên thì chính bà ta cũng không thể khống chế được tâm mình.

Một hôm, một người đã nói với bà : "Chùa gần đây có một vị thiền sư, cũng là vị cao tăng, tại sao bà không đến xin lời chỉ dạy, biết đâu thiền sư có thể giúp được cho bà."

Bà ta cũng cảm thấy có lý, đã đến tham vấn với thiền sư.

Khi bà ta thổ lộ tâm trạng của mình, bà ta có thái độ rất thành khẩn, rất mong muốn có được một vài lời khai thị từ vị thiền sư đó. Vị thiền sư im lặng nghe bà kể lể, chờ cho bà ấy nói hết, mới dẫn bà ta vào một thiền phòng, sau đó khóa cửa thiền phòng và rời khỏi đó.

Bà ta một lòng muốn có được lời chỉ dạy của thiền sư, nhưng không ngờ thiền sư đã nhốt bà ta vào trong một thiền phòng vừa lạnh vừa u tối. Bà ta tức tối hét lên, cũng như ngày thường, bà ta buông những lời nhục mạ quái ác. Nhưng cho dù bà ta có la hét cách nào, nhưng ở ngoài vẫn im lặng, thiền sư hình như không nghe thấy lời nào.

Khi không còn chịu đựng được nữa, thì bà ta thay đổi thái độ cầu xin thiền sư thả mình ra, nhưng thiền sư vẫn không động lòng thay đổi cách hành xử của mình, vẫn mặc kệ bà ta tiếp tục nói gì thì nói.

Qua một hồi rất lâu, cuối cùng trong thiền phòng cũng không còn tiếng la hét hay nói năng của bà ta nữa, thì lúc này, phía ngoài thiền phòng mới có tiếng nói của thiền sư hỏi : "Bà còn giận không ?"

Thế là bà ta giận dữ trả lời : "Tôi chỉ giận tôi, tôi hối hận sao phải nghe lời người khác, tìm đến cái nơi quỷ quái này để xin ý kiến của ngươi."

Thiền sư ôn tồn nói : "Kể cả chính mình bà cũng không chịu buông tha, thì bà làm sao có thể tha lỗi cho người khác chứ ?" Nói xong thiền sư lại im lặng.

Sau một thời gian im lặng, thiền sư lại hỏi : "Bà còn giận không ?"

Bà ta trả lời : "Hết giận rồi !"

"Tại sao hết giận !"

"Tôi giận thì có ích gì ? không phải vẫn bị ông nhốt tôi trong cái phòng vừa u tối vừa lạnh lẽo này hay sao ?"

Thiền sư nói với vẻ lo lắng : "Bà xử sự kiểu này càng đáng sợ hơn đấy, bà đã đè nén cơn tức giận của mình vào một chỗ, một khi nó bộc phát ra thì càng mãnh liệt hơn." Nói xong, thiền sư lại quay đi.

Lần thứ 3 thiền sư quay lại hỏi bà ta, bà ta trả lời : "Tôi không giận nữa, ông không xứng đáng để tôi giận !"

Thiền sư nói : "Cái gốc tức giận của bà vẫn còn, bà cần phải thoáng ra khỏi vòng xoáy của tức giận trước đã."

Sau một hồi lâu, bà ta đã chủ động hỏi thiền sư : "Bạch thiền sư, ngài có thể nói cho con biết tức giận là cái gì không ?"

Thiền sư bước vào, vẫn không nói chuyện, chỉ có động tác như vô tình đổ đi ly nước trong cái ly trên tay.

Lúc này thì bà ta hình như đã hiểu.

Thì ra mình không bực tức, thì làm gì có tức tối giận hờn ? Tâm địa trống không, không có một vật gì, thì làm gì có tức tối ?

a miệng, buông lời quái ác, một số lời lẽ trong đó có thể làm đau lòng người nghe, thậm chí có cả những người yêu thương quan tâm mình.

" Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai ", chỉ một niệm khởi sân mà kết quả là muôn ngàn chướng ngại nẩy sanh.

Cho nên đừng nên vì sự việc nhỏ nhặt mà gây ra chuyện hại người hại mình, tức tối la hét là hành vi của kẻ ngu muội.

Tuy chúng ta chưa thể là một người thông minh, nhưng tối thiểu chúng ta cũng đủ trí tuệ ngăn cản mình làm một con người ngu dại. Xem nhẹ hơn mọi sự việc không như ý, đồng thời tìm thấy ich lợi trong im lặng, giác ngộ ý thiền trong cuộc sống. Từ đó chúng ta sẽ cảm nhận cuộc sống không cần phải mệt mỏi như ta tưởng, cũng không phài khốn khó như ta đã gặp.

Những sự việc nhỏ nhặt cũng giống như những hạt cát trong đôi giày đã làm cho bạn khó chịu.

Thế thì bạn lựa chọn cách giũ bỏ hạt cát hay vứt bỏ đôi giày ? Chúng ta không thể không mang giày, vì còn con đường dài phía trước, thế thì tại sao chúng ta không chịu giũ bỏ hạt cát !

 

Nguyễn Thanh chuyễn

--

 
HOC HOI DE SONG DAO # Y NGHIA SU DAU KHO PDF Print E-mail

NĂM ĐỨC TIN : Ý NGHĨA và GIÁ TRỊ CỦA SỰ ĐAU KHỔ

Đau khổ là một thực tế hiển nhiên trong đời sống của con người, dù có niềm tin hay không .

Đây là một thực trạng mà không ai có thể phủ nhận hay tránh được trong cuộc sống trên trần gian này.Nào đau khổ vì bệnh tật, vì nghèo đói, vì bất công xã hội, vì thiên tai, động đất, bão lụt. Nào đau khổ vì bị tù đầy, tra tấn, bị kỳ thị, khinh chê và cô lập ( dân Untouchable bên Ấn Độ).Sau hết, đau khổ lớn lao nhất là chết chóc đau thương.

Vì đâu có đau khổ ?

Thực khó tìm được câu trả lời thỏa đáng theo suy nghĩ của con người cho câu hỏi này..

Tuy nhiên, có điều nghịch lý đáng nói ở đây là ở khắp nơi, và ở mọi thời đại, luôn có những kẻ gian ác, làm những sự dữ, sự tội, như giết người, trộm cắp, hiếp dâm, đặc biệt là cai trị độc ác và gây ra chiến tranh khiến hàng triệu người vô tội bị giết ... nhưng những kẻ đó vẫn sống phây phây với địa vị và tiền bạc dư thừa của chúng, trong khi biết bao người lành, lương thiện, đạo đức lại nghèo khó, bệnh tật nan y hay gặp tai nạn xe cộ, tầu bè. Cụ thể, năm 2008, một xe buýt chở giáo dân ở Houston, Texas đị dự Đại Hội Thánh Mẫu ở Carthage , Missouri đã gặp tai nạn khiến hàng chục người chết hoặc bị thương nặng.! trong khi những xe và phi cơ chở người đi đánh bạc ở Las Vegas, lake charles ( Louisiana).. hoặc du hí ở các nơi tội lỗi như Cancun ( Mexico) Thai lan, Kampuchia... thì chưa hề gặp tai nạn tương tự !! Lại nữa, những người nghiện rượu và thuốc lá thường dễ bị ung thư phổi, nhưng biết bao người không uống rượu và hút thuốc lá mà vẫn bị ung thư phổi , thi sao ?.Lại nữa, phụ nữ sinh con thì dễ bị ung thư ngực, nhưng có nữ tu không hề sinh đẻ mà vẫn bị ung thư ngực !

Vậy không lẽ Chúa phạt những người bị tai nạn hay bệnh tật kia???

Chắc chắn là không. Nhưng phải giải thích thế nào cho hợp lý và tìm ra ý nghĩa của sự đau khổ với con mắt đức tin của người tín hữu Chúa Kitô trong năm Đức Tin này.

Thật vậy, đau khổ là một thực trạng không thể tránh được trong trần gian này như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa :'

" Trong thế gian

Anh em sẽ phải gian nan khốn khó

Nhưng hãy can đảm lên

Thầy đã thắng thế gian. ( Ga 16: 33)

Nhưng trước khi Chúa đến trần gian để chia sẻ thân phận con người với nhân loại, sự đau khổ , sự dữ đã đầy rẫy trong trần gian như Kinh Thánh Cựu Ước đã ghi lại. Cụ thể ông Gióp (Job) là người " vẹn toàn, ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và tránh xa điều ác."( G 1: 1). Vậy mà ông đã gặp hoạn nạn, đau khổ lớn lao bất ngờ, không thể tưởng tượng được : nào con cái ( bảy con trai ba con gái) bỗng chốc lăn ra chết hết trong một trận cuồng phong từ sa mạc thổi đến. Nào đàn gia xúc của ông gồm bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái và một số đông tôi tớ cũng bỗng chốc bị giết và cướp mất khỏi tay ông ! Nhưng..trước tai ương khủng khiếp này , ông Gióp chỉ biết quỳ xuống than thở với Chúa như sau :

" Thân trần truồng

Sinh ra từ lòng mẹ

Tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng

ĐỨC CHÚA đã ban cho

ĐỨC CHÚA lại lấy đi

Xin chức tụng danh ĐỨC CHÚA ! ( G 1 : 21)

Chính vì lòng trung kiên yêu mến, kính sợ Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, như khi được mọi điều sung sướng và nhất là khi phải đau khổ vì tai ương bất ngờ, ông Gióp đã được Thiên Chúa khen lao và ban lại cho ông gấp đôi những gì ông đã mất: ông lại sinh được bảy con trai và ba con gái xinh đẹp nhất trong xứ sở và sống thọ thêm một trăm bốn mươi năm nữa . (cf.G 42: 12-17)

Như thế , sự đau khổ, tai ương là phương tiện hữu hiệu Thiên Chúa đã dùng để thử thách các tôi tớ trung kiên của Người như các ông Mô- sê, Ap-bra-ham Gióp và Tô-bia.

Ngươc lai, đôi khi Thiên Chúa cũng dùng tai ương, đau khổ để trừng phạt con người vì tội lỗi và ngoan cố không muốn ăn năn sám hối để được tha thứ. Đó là hinh phạt Đại hồng thủy trong thời Cựu Ước, đã cuốn đi vào lòng đai dương tất cả mọi người, mọi sinh vật trên mặt đất, trừ gia đình ông Nô-e và các sinh vật được ông đem vào tàu trước khi mưa tuôn đổ xuống địa cầu. ( .St 6: & 7)

Lại nữa, Thiên Chúa đã dùng lửa và mưa sinh diêm từ trời xuống để hủy diệt thành Xô-đôm , vì ông Ap-bra-ham không tìm được người ngay lành nào trong thành tội lỗi đó, để xin Chúa tha chết cho thành ấy. ( Sđd : 19)

Nhưng khi dân thành Ni-ni-vê nghe theo lời kêu gọi của ngôn sứ Giô-na ăn chay , cầu nguyện và xám hối thì Thiên Chúa đã tha không đánh phạt họ như Người đã ngăm đe.(. Gn 3: 1-10)

Như vậy , trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã dùng đau khổ , gian nan khốn khó để thử thách các tôi tớ trung thành và cũng để đánh phạt những kẻ làm những sự dữ , tội lỗi mà không chiu xám hối và từ bỏ con đường gian ác.

Dân Do Thái, cho đến thời Chúa Giêsu xuống trần và đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, vẫn quen nghĩ rằng sự khó, sự đau khổ và tai ương xảy ra cho ai thì tại tội lỗi của người đó hay của cha mẹ nạn nhân. Cho nên khi thấy một người mù từ bé, các môn đệ của Chúa Giêsu đã hỏi Người như sau :

" Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?( Ga 9 : 2). Chúa Giêsu đã trả lời họ như sau : " không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh." ( Sđd 9; 3)

Việc của Thiên Chúa được tỏ hiện là Chúa Giêsu đã chữa cho anh mù được xem thấy để minh chứng Người là quả thực là Đấng Thiên Sai ( Mê-si-a ) đã đến trong trần gian để " cho người mù được thấy. kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết chỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.." ( Lc 7 : 22 ) .

Nhưng cũng trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu cũng nói với một người đã đau ốm lâu năm và Chúa đã chữa lành cho anh ta.Nhưng khi gặp lại anh này trong Đền Thờ sau đó, Chúa đã nói với anh điều đáng chú ý như sau :

" Này, anh đã được khỏi bệnh . Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước." ( Ga 5: 14)

Như thế có nghĩa là tội lỗi cũng có thể là nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người như Chúa đã nói trên đây. Kinh nghiệm thực tế ngày nay cũng chứng minh điều này. Kẻ trộm cắp cứ quen sống bất lương như vậy, sẽ có ngày gặp tai họa khi vào nhà ai để ăn trộm và có thể bị chủ nhà bắn chết. ( ở Mỹ rất nhiều người dân có súng trong nhà để tự vệ). Người ngoai tình cũng có thể bị tình địch giết chết vì đã gian díu với vợ hay chồng của người khác.Lái xe ẩu, vượt đèn đỏ có thể gây ra án mạng cho người khác và cho chính người lái xe ẩu.Đúng là tội đâu vạ đấy như người Việt Nam chúng ta thường nói.

Tuy nhiên, là người tín hữu, chúng ta được dạy dỗ để tin rằng sự đau khổ về thể lý hay tâm hồn cũng là phương tiện mà Thiên Chúa dùng để cho chúng ta được thông phần sự thương khó đau khổ với Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi sự khốn khó cho đến chết đau thương trên thập giá để cho chúng ta được cứu độ và có hy vọng được hưởng hạnh phúc Nước Trời với Chúa sau hành trình đức tin trên trần thế này.

Thật vậy, Chúa Giê-su Kitô là Đấng Thiên Sai ( Messaih) đã đến trần gian làm Con Người, đã chiu khốn khó ngay từ khi sinh ra trong cảnh cực kỳ khó nghèo nơi hang lừa máng cỏ, bị đe dọa giết chết bởi Hêrôđê khiến Đức Mẹ và Thánh Giuse phải mang chậy trốn sang Ai Cập lúc đêm khuya.. Lớn lên, Người đi rao giảng Tin Mừng trong điều kiện rất khó nghèo, lang thang đó đây như kẻ vô gia cư đúng như Chúa đã nói với các môn đệ :" con chồn có hang, chim trời có tổ , nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." ( Mt 8 : 20)

Là Đấng Thiên Sai, Chúa Kitô sẽ " phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục , các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại." ( Sđd 16: 21)

Phêrô, môn đệ được Chúa khen ngợi vì đã tuyên xưng đúng Người là " Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống.". Nhưng khi nghe Chúa nói đến những đau khổ mà Người sắp phải chịu trước khi chết, sống lại và lên trời vinh hiển, Phêrô đã tìm cách can ngăn Chúa như sau : " Xin Thiên Chúa thương đừng để cho Thầy gặp chuyên đó.".( Sđd 16: 22)

Để trả lời cho Phêrô và cũng để dạy cho chúng ta biết giá trị của đau khổ, Chúa đã quở trách ông như sau: " Xa tan , hãy lui lại đàng sau Thầy ! anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." .( Sđd 16: 23)

Phêrô can ngăn Chúa vì đã hành động đúng với suy tư của mọi người trần thế là không ai muốn chiu sự gì khốn khó, đau khổ.Ai cũng muốn được luôn khỏe mạnh, sung sướng , an nhàn, có nhiều tiền của và danh vọng ở đời.Không ai muốn bệnh tật, nghèo đói và bị khinh chê, tù đầy hay bắt bớ . Ước vọng được khỏe mạnh cũng rất chính đáng và đẹp lòng Chúa, như tác giả Sách Huấn Ca đã viết:

" Người đã chết thì hết xưng tụng vì nó không còn nữa

Chỉ người đang sống và khỏe mạnh mới ca ngợi Đức Chúa." ( Hc 17 : 28)

Vì thế, người đau ốm cầu xin Chúa cho được lành bệnh tật của thân xác:

"Lậy Chúa, xin đoái thương, này con đang kiệt sức

Chữa lành cho vì gân cốt rã rời

Toàn thân con rã rời quá đỗi

Mà lậy Chúa, Chúa còn trì hoãn đến bao giờ ? ". ( Tv 6 : 3-4)

Cầu xin cho được khỏe mạnh và bình an trong cuộc sống là điều tốt phải xin Chúa và không có gì đáng chê trách. Nhưng bệnh tật và rủi ro thì không ai tránh được trong cuộc sống ở đời này.Người đạo đức ,lương thiện và kẻ bất lương gian ác đều không ít thì nhiều phải đau khổ như bệnh tật, tai nạn bất ngờ, tang chế trong gia đình vì người thân mất đi.... Tuy nhiên, cứ xem gương Chúa Giêsu , Đức Mẹ và các Thánh thì người có đức tin phải hiểu rằng đau khổ có giá trị cứu rỗi và là phương thế hiệu nghiệm mà Thiên Chúa dùng để thánh hóa và cải hóa con người. cũng như để thử thách lòng tin yêu của các tôi tớ trung kiên như trường hợp các ngôn sứ Mô-Sê, Abraham, Gióp và Tôbia đã nói ở trên.

Vì đau khổ có giá trị xin tha tội, nên ông Mô-sê đã xin hiến mạng sống mình làm của lễ để xin Thiên Chúa tha tội cho dân Do Thái xưa:

" Ông Mô-sê trở lại với ĐỨC CHÚA và thưa : "than ôi dân này đã phạm một tội

lớn.Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng.Nhưng giờ đây ước gì Ngài miễn chấp tội họ. Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn Sách Ngài đã viết." ( Xh 32 : 31-32)

Chính vì giá trị cứu chuộc của đau khổ mà Chúa Kitô, Đấng Thiên Sai, Người Tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa, đã vui lòng " uống chén đắng" là vác thập giá, chịu mọi cực hình cho đến khi chết đau thương trên thập giá để đền tội cho nhân loại và cho chúng ta hy vọng được sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau.. Phải nói là có hy vọng thôi chứ không phải là bảo đảm chắc chắn ngay từ bây giờ, không phải vì sự đau khổ của Chúa Kitô chưa đủ cho con người được cứu rỗi, mà vì con người còn có tự do để cộng tác với ơn Chúa để được cứu chuộc hay bị loại vì đã tự ý khước từ ơn cứu rỗi đó để sống buông thả theo tính hư nết xấu của xác thịt và chậy theo những quyến rũ của thế gian đang tràn ngập với "văn hóa của sự chết" mà những kẻ không có niềm tin đang ngụp lặn trong đó.

Nếu con người không có thiện chí muốn cộng tác với ơn Chúa để sông theo đường lối của Chúa, thì Chúa không thể cứu ai được , mặc dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con người được cứu rỗi.

Tóm lại, không ai có thể tránh được đau khổ trong cuộc sống trên trần gian này.Tuy nhiên, như đã nói ở trên, với người có niềm tin nơi Chúa thì đau khổ là phương thế tốt nhất cho ta được trở nên giống Chúa Kitô , Người đã đi vào vinh quang phục sinh qua khổ hình thập giá để dẫn đưa chúng ta vào hưởng hạnh phúc Nước Trời, nếu chúng ta cũng vui lòng vác thập giá theo Người. Nghĩa là chúng ta phải vui lòng chấp nhận những sự khó, sự đau khổ mà chúng ta không kiêu căng đi tìm kiếm nhưng không hậm hực kêu trách Chúa khi gặp phải trong cuộc sống trên trần gian này. Đó là cách chấp nhận đau khổ đẹp lòng Chúa, đúng theo lời dạy của chính Chúa Kitô, là " ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo." ( Mt 16: 24).

Vác thập giá theo Chúa có nghĩa là vui lòng chịu mọi sự khó Chúa gửi đến trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Vậy chúng ta hãy can đảm và bằng lòng chịu những sự khó, sự đau khổ mà chúng ta không ai muốn kiếm tìm nhưng không tránh được, vì Chúa đã tha phép cho xảy ra để cho ta được thông phần sự thương khó của Chúa Kitô để đền tội mình và tội của người khác, cũng như để cầu xin cho nhiều người chưa biết Chúa được nhân biết và tin yêu Chúa để cùng hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

. Đó là điều quan trọng chúng ta cần suy tư và sống trong Năm Đức Tin này.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 2381 2382 2383 2384 2385 2386 2387 2388 2389 2390 Next > End >>

Page 2381 of 2438