Bài Mới
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5436
mod_vvisit_counterHôm Qua8347
mod_vvisit_counterTuần Này37787
mod_vvisit_counterTuần Trước52624
mod_vvisit_counterTháng Này140594
mod_vvisit_counterTháng Trước239272
mod_vvisit_counterTất cả11355283

We have: 77 guests online
Your IP: 54.196.31.117
 , 
Today: Jul 19, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)

Login Form





Bài Mới
BANH SU SONG- ONE BREAD, ONE BODY 16-7-2018 PDF Print E-mail

One Bread, One Body

Our Lady of Mount Carmel

Isaiah 1:10-17
View Readings Psalm 50:8-9, 16-17, 21, 23 Matthew 10:34—11:1
Similar Reflections

NOTHING BUT THE CROSS

"He who will not take up his cross and come after Me is not worthy of Me." —Matthew 10:38

We are Christians, disciples of Christ. We follow Jesus, Who saved us not so much through His power or wisdom, but through His ministry of suffering. Jesus came to earth to die on the cross to atone for our sins, pay the price for our salvation (1 Cor 6:20), and reconcile us to God (Col 1:20).

We must never over-spiritualize our faith and forget that Jesus suffered horribly in the flesh (Heb 5:8). Jesus died a disgraceful death. He was publicly humiliated, scorned as a condemned criminal. He Who was holy and innocent bore a cross meant for a murderer (Lk 23:25).

We Christians imitate Jesus. We take up our cross each day, deny our very selves, and follow in His footsteps (Lk 9:23). This is impossible in our human nature. Through our baptism into Jesus' cross and death, however, we become sharers in the divine nature (Rm 6:4; 2 Pt 1:4). Now we can embrace the cross as Jesus embraced His cross. In the mystery of the cross, by taking up our cross, we discover who we are (Mt 10:39).

If you falter carrying your cross, remember that Jesus understands. He fell several times carrying His cross. He knows the cross is heavy but He also wants you to know the joy in sharing in His sufferings (1 Pt 4:13). So cross off your list anything that leads you away from Jesus' cross. Take up your cross.

Prayer: Jesus, may I know nothing but Your cross (1 Cor 2:2). May I be crucified to the world and the world to me (Gal 6:14).
Promise: "He that offers praise as a sacrifice glorifies Me; and to him that goes the right way I will show the salvation of God." —Ps 50:23
Praise: A group of lay Carmelite families spread the Word of God by composing music, giving concerts at Catholic churches, and sharing God's Word as they travel.

--------------------------------------

 
KY NIEM NGAY NHAN PHO TE - ĐEO GIÂY STOLA CHEO PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Jul 16 at 11:17 AM

Tại sao Phó tế đeo dây stola chéo ?

Trong thánh lễ đồng tế, các linh mục đeo dây stola buông thõng xuống, còn các phó tế thì đeo dây stola bắt chéo từ vai bên trái sang hông bên phải. Tại sao vậy? Dây stola có ý nghĩa gì?

Thiết tưởng nên phân biệt hai vấn đề. Thứ nhất là ý nghĩa của dây stola. Thứ hai cách thức đeo dây stola.
Trong thánh lễ đồng tế, chúng ta thấy có các linh mục và các phó tế, mỗi đẳng cấp đeo dây stola một cách. Tuy nhiên, không chỉ có các linh mục và phó tế mới đeo dây stola mà thôi: các giám mục cũng đeo dây stola, và các giáo hoàng cũng thường chụp hình với dây stola màu đỏ. Đó là chưa kể một trường hợp mà rất ít người có dịp chứng kiến, đó là các nữ tu dòng Chartreux cũng đeo dây stola nữa.

Chúng ta bắt đầu với vấn đề thứ nhất: dây stola có ý nghĩa gì?

Ý nghĩa của dây stola đã thay đổi rất nhiều trải qua dòng lịch sử. Ý nghĩa của nó trong nguồn gốc văn hoá Hy- lạp và Rôma thì khác. Ý nghĩa của dây stola khi được du nhập vào phụng vụ Kitô giáo thì khác. Từ thời Trung cổ, người ta lại thêm ý nghĩa ám dụ nữa. Xét về nguồn gốc, các nhà sử học không đồng ý với nhau. Danh từ stola mới xuất hiện từ cuối thế kỷ VI, và dần dần thay thế danh từ orarium. Mỗi danh từ mang một nguồn gốc khác nhau. Danh từ stola có lẽ lúc đầu ám chỉ áo thụng của các bà quý tộc (tương đương với toga của các ông). Vì thế stola không phải là một sợi dây đeo ở cổ nhưng là một cái áo; có lẽ đó cũng là ý nghĩa của stola được nói trong sách Khải huyền (stolae albae 6,11; 7,9.14). Bên các Giáo hội Đông phương dây stola được gọi là Orarion, cũng tựa như bên Tây phương được gọi là Orarium cho đến thế kỷ IX. Thực ra Orarium cũng không phải là một cái dây, nhưng là một cái khăn đai, hay nói đúng hơn, một khăn quàng cổ. Xét về nguồn gốc trong xã hội Hy- lạp và Rôma, khăn orarium không phải là chiếc khăn quàng để che cổ cho khỏi cảm lạnh, nhưng là chiếc khăn để lau mặt hay để lau miệng (orarium bởi os, oris).

Như vậy, nguồn gốc dây stola là khăn chùi miệng khi ăn hay sao?

Không phải thế. Khi nói đến lau miệng, ta đừng vội nghĩ đến thực khách ngồi bàn ăn nhưng hãy nghĩ đến các nhà hùng biện. Họ phải diễn thuyết đến sùi bọt mép, vì thế thỉnh thoảng phải lau miệng. Dù sao, đó chỉ là một giả thuyết về nguồn gốc lịch sử mà thôi. Xét về việc sử dụng trong phụng vụ, thì bên Đông phương đã thấy nói tới trong một bản văn của công đồng Laodicea (năm 372), dành riêng orarium cho các phó tế, chứ các tác viên thấp hơn không được đeo. Thánh Gioan Kim khẩu cũng cho biết là các phó tế đeo orarium trên vai trái. Bên Tây phương thì ta thấy quy định về orarium của các phó tế trong một bản văn của công đồng Braga ở Tây ban nha (năm 563); và một bản văn công đồng Toledo IV (năm 633) nói đến cách thức đeo orarium khác nhau giữa các phó tế và các linh mục. Các phó tế thì đeo orarium màu trắng trên vai trái, bắt chéo, và ở trên áo dalmatica. Các linh mục và giám mục thì đeo orarium quanh cổ, buông thõng xuống, nhưng mà ở dưới áo lễ.

Đàng sau những quy định phức tạp như vậy, người ta có giải thích ý nghĩa của việc đeo dây stola như thế nào không?

Tiếc rằng các bản văn pháp lý không nói. Chính vì vậy mà các sử gia mới đưa ra nhiều giả thuyết về nguồn gốc và ý nghĩa của nó. Có lẽ lúc đầu, dây orarium chỉ có ý nghĩa thực dụng, đó là lau mặt, lau mồ hôi, hoặc che cổ cho ấm. Nhưng cách riêng, vào thời Trung cổ, người ta gán cho nó nhiều ý nghĩa ám dụ cho dây stola, được hiểu không chỉ như một dây mà còn là một tấm áo nữa.

1/ Hiểu như sợi dây, người ta ví dây stola như sợi dây mà quân dữ đã trói buộc Chúa Giêsu trong vườn cây dầu, hoặc dây trói vào cột đá khi chịu đánh đòn. Vì thế khi đeo dây stola, linh mục hãy nhớ đến sợi dây của đức vâng lời, ràng buộc mình với Chúa Kitô, hy sinh bản thân để cứu chuộc thế giới. Dây stola đeo lên vai cũng nhắc nhở rằng linh mục hãy mang lấy ách êm ái của Chúa Giêsu, học hỏi nơi Người sự hiền lành và khiêm tốn (Mt 11,29). Những điều này được đọc thấy nơi giám mục Sicardo của giáo phận Cremona. Dần dần theo hướng đó, các nhà thần học vạch ra đủ hết các thứ nhân đức cần thiết cho linh mục và phó tế; chẳng hạn như: đức khiêm nhường (Amalariô), đức vâng lời (Rupert de Deutz), khiết tịnh (Honorius), nhẫn nại (Innocente III), can đảm (Yves de Chartres). Rabanus Maurus thì hiểu stola như là biểu hiệu của lời giảng (có lẽ ý nghĩa này lấy từ khăn orarium lau miệng): trước khi giảng thì phải chuẩn bị chu đáo. Các nhà luân lý không quên lưu ý rằng dây stola được buộc vào dây thắt lưng (tượng trưng cho sự khổ hạnh), bởi vì đừng mong tập luyện nhân đức nếu thiếu sự khổ chế. Cách riêng, khi giải thích stola cho các phó tế (nguyên ngữ diaconos trong tiếng Hy-lạp là kẻ phục vụ) thánh Isidorus de Pelusio (+440) nhắc đến tấm khăn mà Chúa Giêsu dùng để lau chân cho các môn đệ sau khi đã khiêm tốn rửa chân cho họ.

2/ Nếu hiểu như tấm áo dựa theo sách Khải huyền, thì stola là biểu hiệu cho sự thanh sạch mà các tín hữu phải khoác vào để dự tiệc cưới trên trời. Con người được dựng nên trong tình trạng nguyên tuyền; nhưng do tội nguyên tổ, chiếc áo đã trở thành nhơ bẩn. Vì thế con người cần phải tìm cách rửa sạch nó, bằng nước mắt thống hối và nhất là nhờ quyền năng Thập giá Chúa Kitô, trong máu thánh của ngài. Ý nghĩa biểu tượng này còn được nhắc đến trong Sách lễ Rôma trước công đồng Vaticanô II. Khi đeo dây stola, linh mục thầm thĩ cầu xin: "Lạy Chúa, xin hoàn lại cho con stola của bất tử mà nguyên tổ đã làm mất; và tuy con không xứng đáng đến gần nhiệm tích thánh, xin Chúa cũng ban cho con sự hoan lạc đời đời".

Trong Sách lễ Rôma hiện nay không còn kinh đó nữa hay sao?

Vào thời Trung cổ, người ta thích chú giải Kinh thánh và các bản văn phụng vụ theo nghĩa ám dụ. Cách riêng, khi bàn về Thánh lễ, người ta giải thích như cuộc diễn tuồng Thương khó, gồm các chặng giống như đi đàng Thánh giá vậy. Việc giải thích ý nghĩa ám dụ cũng áp dụng cho phẩm phục linh mục, chẳng hạn như áo alba ám chỉ linh hồn trong trắng; dây lưng ám chỉ đức khiết tịnh, áo lễ tượng trưng cho việc vác thánh giá. Từ công đồng Vaticanô II, thần học muốn tìm hiểu ý nghĩa văn bản của Kinh thánh cũng như biểu tượng tự nhiên của các bí tích, chứ không ưa lối giải thích ám dụ, nhiều khi dựa theo óc tưởng tượng hơn là theo bản chất của sự vật. Theo tôi nghĩ, đó là lý do vì sao Sách lễ sau công đồng Vaticanô II bỏ các kinh mà linh mục đọc khi mặc phẩm phục.

Sách lễ hiện nay quy định thế nào về việc đeo dây stola?

Quy tắc Sách Lễ Rôma ấn bản năm 2000 số 340 (tương đương với số 302 ấn bản cũ) quy định như sau: "Các tư tế đeo dây stola quanh cổ và buông thõng xuống đàng trước. Các phó tế đeo dây stola trên vai trái, bắt chéo ngang ngực, và thắt lại ở hông bên phải". So với quy tắc trước công đồng, ta thấy có sự thay đổi không nhỏ đối với các linh mục. Trước đây (nghĩa từ sách lễ năm 1570), các linh mục đeo stola trên cổ và bắt chéo ra trước ngực như hình thánh giá; chỉ có giám mục mới buông thõng xuống, bởi vì ngài còn đeo thêm thánh giá nữa. Chúng ta cũng cần quy chiếu với các điều khoản khác có liên quan đến phẩm phục các tác viên. Đối với các phó tế, thì số 338 nói rằng phẩm phục gồm có áo alba, stola và dalmatica; nhưng vì nhu cầu hoặc lễ thường thì có thể miễn mặc dalmatica. Còn trong thánh lễ đồng tế, thì các linh mục có thể chỉ mặc áo alba và đeo stola.

Các linh mục không chỉ đeo dây stola lúc dâng thánh lễ mà thôi, nhưng còn lúc cử hành các lễ nghi phụng vụ khác nữa, phải không?

Đúng thế. Có lẽ vì vậy mà ở Việt Nam trước đây, người ta dịch stola là "dây các phép", nghĩa là dây đeo lúc cử hành các phép bí tích. Tuy nhiên trong trường hợp này, ta thấy stola thường là màu trắng, trừ khi giải tội và nghi thức an táng thì đổi thành màu tím. Nên biết là vào thời cổ, dây stola (cũng như orarium và pallium) luôn luôn là màu trắng; mãi đến thế kỷ XVI, mới có tục thay đổi màu dây stola cho hợp với màu áo lễ trong ngày. Ngoài ra, cũng nên ghi nhận là trong những trường hợp linh mục đeo stola mà không có áo lễ thì kích thước của nó cũng rộng hơn.
[Trong giáo luật, từ stola còn mang một ý nghĩa chuyên môn, hiểu về vài công tác dành riêng cho các cha sở (ius stolae), mà vết tích còn thấy ở số 530 của bộ giáo luật. Cần phải có sự thỏa thuận của cha sở thì các linh mục khác mới được thi hành các nghi thức đó, thí dụ rửa tội, chứng hôn. Trong khung cảnh này, Stola tượng trưng cho quyền hành của cha sở].

Các giáo dân có được phép đeo stola không?

Tuỳ chúng ta hiểu stola theo nghĩa nào. Nếu hiểu theo nghĩa chuyên môn của phụng vụ thì duy chỉ có các giám mục, linh mục, phó tế mới đeo dây stola lúc cử hành phụng vụ. Còn nếu hiểu theo nghĩa rộng, là bất cứ đai nào cũng gọi là stola, thì chúng ta có thể nhận thấy tại vài nơi, các chức sắc trong giáo xứ cũng đeo đai trắng bắt chéo trước ngực, có lẽ bắt chước các phó tế. Dù sao, giữa hai hình thức (nghĩa rộng và nghĩa hẹp), ta nên thêm nghĩa thứ ba nữa, đó là các nữ tu dòng Chartreux. Vào ngày thánh hiến các chị nhận lãnh một dây stola, và chiếc stola này sẽ được đặt trong hòm lúc an táng. Do một đặc ân của Toà thánh, trong phụng vụ Giờ kinh Sách, chị nào đọc Phúc âm thì cũng đeo stola.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, op.

------------------------------------

 
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA - THU HAI 16-7-2018 PDF Print E-mail

CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SE: Tin Mừng MT 10: 34-11-1 - THỨ HAI CN15TN-B

Anh Chị Em yêu quý,

Khi ấy, Chúa Giê-su phán cùng các Tông đồ rằng: "Các con chớ tưởng rằng Thầy đến để mang hoà bình cho thế gian: Thầy không đến để đem hoà bình, nhưng đem gươm giáo."(Mt. 10, 34)

Điều đó có nghĩa là gì? Tiên tri I-sa-ia nói: "Vì một hài nhi đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Hoàng tử hoà bình."(Is. 9, 5) Đây là nói ám chỉ đến Chúa Giê-su là một hoàng tử hòa bình. Có phải những gì Chúa Giê-su đã nói tương phản với chính ngài?

Không, điều Giê-su nói là đúng nếu tôi đi sâu hơn vào câu kinh thánh khác. Khi một hài nhi Giê-su được sinh ra ở Bê-lem, bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương."(Lc. 2, 13 -14)

Chúa Giê-su nói: "Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy."(Mt. 10, 37-38) Tình yêu được biểu lộ qua sự vâng phục. Nếu một đứa con trai yêu cha mẹ của mình, anh ta sẽ tuân theo họ và làm những gì họ muốn. Một đứa con trai cũng phải yêu mến Chúa và hoàn thành ý muốn của Chúa.

Trong một vài tình huống đặc biệt, nếu cha mẹ có thể có ý muốn của họ là không phù hợp với ý muốn của Thiên Chúa, và nếu một đứa con chối bỏ ý muốn của ngài, thì nó không xứng với ngài. Thiên Chúa thì hoàn hảo và cha mẹ thì không. Đó là lý do tại sao tôi phải đặt Thiên Chúa lên trước nhất và lên trên hết. Không có chiến tranh trong một gia đình nếu tất cả các thành phần đều tuân theo ý muốn của Chúa, thế thì Chúa Giê-su sẽ là hoàng tử hòa bình của họ.

"Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được."(Mt. 10, 39) Làm thế nào tôi có thể hiểu những gì Chúa Giêsu đã nói? "Bấy giờ ông Phê-rô và các Tông Đồ khác đáp lại rằng: "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người phàm. Đức Giê-su đã bị các ông treo lên cây gỗ mà giết đi; nhưng Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã làm cho Người trỗi dậy."(Cv. 5, 29-30)

Phán xét cuối cùng sẽ đến sau này và mọi người sẽ nhận được phần thưởng hoặc hình phạt tùy thuộc vào cuộc đời lữ hành trần gian của họ, và không ai có thể chạy trốn khỏi phán xét cuối cùng này. Công lý của Thiên Chúa sẽ được thực hiện cách chắc chắn.

Những người thiện tâm biết kính sợ Thiên Chúa sẽ không còn phải lo sợ bất cứ điều gì khác, ngay cả khi những kẻ ác làm hại họ.

Kính chúc bình an của Chúa Ki-tô!

Đom. Quang

--

Gospel MT 10:34-11:1

Beloved Brothers and Sisters,

"Do not think that I have come to bring peace upon the earth. I have come to bring not peace but the sword."(Mt. 10, 34) What does it mean? Prophet Isaiah said, "For a child is born to us, a son is given to us; upon his shoulder dominion rests. They name him Wonder-Counselor, God-Hero, Father-Forever, Prince of Peace."(Is. 9, 5) This is an allusion to Jesus who is a prince of peace. Does what Jesus said contrast to himself?

No, what Jesus said is true if I go deeper into the other bible verse. When a child Jesus was born in Bethlehem, a multitude of the heavenly host with the angel, praising God and saying: "Glory to God in the highest and on earth peace to those on whom his favor rests."(Lk. 2, 13-14) W

Jesus said, "Whoever loves father or mother more than me is not worthy of me, and whoever loves son or daughter more than me is not worthy of me, and whoever does not take up his cross and follow after me is not worthy of me. Whoever finds his life will lose it, and whoever loses his life for my sake will find it."(Mt. 10, 37-38) The love is revealed by the obedience. If a son loves his parents, he will obey them and does what they want.

Whoever finds his life will lose it, and whoever loses his life for my sake will find it."(Mt. 10, 39) How can I understand what Jesus said? Peter and the apostles said in a reply in the trial before the Sanhedrin. "We must obey God rather than men. The God of our ancestors raised Jesus, though you had him killed by hanging him on a tree."(Acts 5, 29-30)

The final judgment will come later and everyone will receive its reward or punishment depending on their pilgrim life, and no one can flee from this final judgment. The justice of God will be fulfilled certainly.

The people of good should fear God would not fear anything else, even the evil-doers do harm to them.

Peace of Christ!

Bro. Dominic Quang

----------------------------

 
SONG VA CHIA SE LOI CHUA -THU HAI-CN15TN-B PDF Print E-mail


16/07/18 THỨ HAI TUẦN 15 TN

Đức Mẹ Núi Cát-minh
SỐNG VÀ CHIA SẺ TIN MỪNG : Mt 10,34-11,1

CAN ĐẢM TRONG MỌI THỬ THÁCH
"Này, Thầy sai các con đi như chiên vào giữa bầy sói." (Mt 10,16)


Suy niệm: Chúa Giê-su đã có lần báo trước con đường thập giá Ngài phải trải qua. Và nay đã đến lúc Chúa thẳng thắn nói đến những đau khổ thử thách sẽ xảy đến với các môn đệ. Vâng, bách hại là số phận không thể tránh được của các môn đệ. Các ông phải đối diện nhiều thử thách khi đi theo Chúa Giê-su. Chẳng hạn: thánh Tê-pha-nô bị bách hại và ném đá chết tại Giê-ru-sa-lem, hoặc thánh Phao-lô bị cầm tù, rồi tử vì đạo.

Tuy nhiên, dù thử thách đến đâu và bị bách hại thế nào, các môn đệ vẫn luôn trung thành với Chúa cho đến cùng, như thánh Phao-lô đã nói: "Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Chúa Giê-su, để sự sống của Chúa Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi" (2Cr 4,10).


Mời Bạn: Có cuộc sống nào mà không có thách đố? "Nếu có ai cho tôi một cuộc sống không gặp trở ngại nào thì hấp dẫn thật đấy, nhưng tôi sẽ khước từ vì khi ấy tôi sẽ không còn học được điều gì từ cuộc sống nữa" (Allyson Jones). Còn bạn, bạn có cảm thấy sợ hãi trước những đau khổ đang diễn ra trong cuộc sống mình không? Bạn có chắc là bạn đang đi theo Chúa Giê-su và cố gắng "vác" lấy những gánh nặng ấy với niềm xác tín: "Ơn Thầy đủ cho con"?


Chia sẻ: Phản ứng của bạn khi gặp đau khổ, thử thách: né tránh, oán trách Chúa, hay đón nhận như cái giá của người môn đệ của Đấng chịu đóng đinh?


Sống Lời Chúa: Đón nhận đau khổ của ngày hôm nay, như một cách sống tư thế môn đệ trung thành của Chúa.


Cầu nguyện: Lạy Chúa Giê-su, Chúa báo trước ai theo Chúa sẽ gặp những đau khổ bách hại. NHỜ THÁNH THẦN giúp chúng con ghi nhớ để luôn trung thành với Chúa.

----------------------------------

 
BANH SU SONG - THU HAI CN15TN-B PDF Print E-mail

THỨ HAI TUẦN XV THƯỜNG NIÊN B - NGÀY 16/07/2018

BÁNH SỰ SỐNG: Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Mátthêu (Mt 10: 34-11.1)

34 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: "Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo.35 Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng.36 Kẻ thù của mình chính là người nhà.
37 Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.38 Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy.39 Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.
40 Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.
41 Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.
42 Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu".
1 Ra chỉ thị cho mười hai môn đệ xong, Đức Giê-su rời chỗ đó, đi dạy dỗ và rao giảng trong các thành thị trong miền.

SUY NIỆM/ TÔI ĂN-NHAI VÀ NUỐT LỜI CHÚA:

Qua đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta nghe Chúa Giêsu tuyên bố, Chúa đến trần gian này không phải để đem đến sự bình an mà là đem gươm giáo.

Quả thật, điều đó không sai, bởi vì Chúa đến, Chúa đã thổi vào trong tâm hồn của con người một luồng gió mới, luồng gió của yêu thương chân thành. Chúa cũng rỉ vào tai của con người một lời mời gọi dấn thân cho tình thương. Và khi đón nhận luồng gió đó, cũng như đáp trả lại lời mời gọi đó, con người phải trải qua một cuộc chiến đấu cam go, cuộc chiến đó không chỉ với những ngoại cảnh, mà còn chiến đấu cả trong nội tâm của chính bản thân.

Mà cuộc chiến đó không chỉ diễn ra trong một thời gian hay một giai đoạn nào đó trong cuộc đời của kiếp người, mà nó diễn ra trong suốt cuộc đời của chúng ta. Có thể nói đó là cuộc chiến giằng giai. Và nó chỉ chấm dứt, theo như lời của thánh Augustinô: khi chúng ta đã an nghỉ trong Chúa.
Như thế, quả là Chúa đến là để đem gươm giáo!

*SUY TƯ-CẦU NGUYỆN VÀ QUYẾT TÂM THỰC HÀNH: Nhưng có một điều làm cho chúng ta không nản chí, không sợ sệt, vì luôn luôn chiến đấu dưới cờ của Chúa. Chúa gửi đến cho ta một đạo binh hùng hậu, đạo binh đó chính là các thánh, các thiên thần và những người sống lành thánh bên chúng ta; đồng thời, Chúa cũng hứa ban cho TÍN HỮU một thứ khí giới luôn hiện đại và vô cùng hữu hiệu, đó là "Ơn Chúa đủ cho con" để MỌI NGƯỜI xử dụng trong cuộc chiến này. 

Xin Chúa cho chúng con luôn biết kiên trì trong cuộc chiến này, và nhất là biết tận dụng thứ vũ khí mà Chúa gửi đến cho mỗi người chúng con, đó là ơn của Chúa. Được như thế, chắc chắn phần thắng sẽ về phía chúng con. Amen.

GKGĐ Giáo Phận Phú Cường

-----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 4 of 1554