mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4847
mod_vvisit_counterHôm Qua6418
mod_vvisit_counterTuần Này40811
mod_vvisit_counterTuần Trước57635
mod_vvisit_counterTháng Này209516
mod_vvisit_counterTháng Trước256467
mod_vvisit_counterTất cả13579693

We have: 78 guests online
Your IP: 54.227.76.35
 , 
Today: May 23, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)

Login Form





Bài Mới
SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA - THỨ NĂM CN4PS-C PDF Print E-mail

16/05/19 THỨ NĂM TUẦN 4 PS
SỐNG VÀ CHIA SẺ: Ga 13,16-20

MỐI QUAN HỆ DÂY CHUYỀN

“Ai đón tiếp người Thầy sai đến là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy, là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.” (Ga 13,20)

Suy niệm/SỐNG: Muốn gặp được Thiên Chúa, thì hãy tìm gặp Đức Giê-su Ki-tô, Đấng mà Chúa Cha sai đến. Cũng thế, muốn gặp được Đức Ki-tô, phải tìm gặp Người nơi những người Đức Ki-tô sai đến, đó là các tông đồ, các môn đệ, những người tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Có một mối hiệp thông duy nhất giữa Chúa với những người tin Chúa, nhờ cùng chung một sức sống thần linh chuyển thông qua các Bí tích. Hệ quả là các tín hữu kết hiệp với Chúa và với nhau trở nên một thân thể mầu nhiệm là Hội Thánh.

Vì thế, đón tiếp người môn đệ Chúa chính là đón tiếp Chúa. Bằng mối liên hệ dây chuyền này, Chúa Giê-su đã chứng minh cho thánh Phao-lô hiểu rằng “bắt bớ” các tín hữu cũng là “bắt bớ” chính Đức Ki-tô. Và cũng nhờ đó thánh nhân cảm nghiệm được Hội Thánh chính là Thân thể mầu nhiệm của Chúa Ki-tô.

Mời Bạn CHIA SẺ: Tiếp nối mối quan hệ giây chuyền ấy, người ki-tô hữu phải tiếp tục làm chứng cho Chúa bằng chính sự hiện diện qua cuộc sống đời thường của mình. Từ đó phát sinh một vấn nạn luôn luôn chất vấn chúng ta:

Cuộc sống của tôi đã thực sự trở thành một lời chứng cho Đức Ki-tô hay chưa?

Sống Lời Chúa: Bạn hãy biến “công thức” sau đây thành cụ thể: đời sống ki-tô hữu = kết nối với Đức Ki-tô trong cầu nguyện và Bí tích + kết nối với tha nhân bằng phục vụ và chia sẻ.

Cầu nguyện VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Ki-tô phục sinh, Chúa đã sống lại để ban cho chúng con sự sống mới. NHỜ THÁNH THẦN THÚC ĐẨY chúng con biết nhận ra Chúa đang sống và đồng hành. Và QUYẾT TÂM đón tiếp Chúa khi chúng con yêu thương phục vụ người anh em bên cạnh chúng con.

gpcantho

-----------------------------------

 
SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA - THỨ TƯ CN4PS-C PDF Print E-mail

-Thứ ba  TUẦN 4 PS-C -Th. Mát-thi-a, tông đồ


SỐNG VÀ CHIA SẺ TIN MỪNG: Ga 15,9-17

VỊ TÔNG ĐỒ ĐIỀN VÀO CHỖ TRỐNG

“Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái anh em tồn tại.” (Ga 15,16)

Suy niệm/SỐNG: Thoạt nhìn, dường như sự có mặt của Mát-thi-a trong số các tông đồ chỉ để điền vào chỗ trống cho tròn con số 12 chẵn chòi đẹp đẽ. Sẽ là quá nông cạn nếu nghĩ số 12 chỉ như một con số để “lấy hên”. Mát-thi-a được chọn vào nhóm Mười Hai sau khi các tông đồ hiệp thông cầu nguyện. Mát-thi-a còn là người đã từng cùng các tông đồ theo Chúa ngay từ những ngày đầu và do đó đủ tư cách làm chứng nhân cho Chúa Ki-tô phục sinh.

Như thế, sự hiện diện của Mát-thi-a trong hàng ngũ Mười Hai tông đồ làm cho lời chứng của các tông đồ được toàn vẹn. Lời tuyên xưng của một Phê-rô hay một cá nhân tông đồ nào khác được cả cộng đoàn các tông đồ chứng thực, bảo đảm cho lời chứng các ngài là xác thực. Ngay từ đầu, Giáo Hội đã mang đặc tính duy nhất và tông truyền.

Mời Bạn CHIA SẺ: Dù bạn là người vô danh tiểu tốt trong cộng đoàn, lời chứng của Hội Thánh vẫn còn thiếu nếu không có sự góp phần của bạn. Dù bạn chỉ hiện diện trong sự hiệp thông với mọi chi thể khác của Hội Thánh khi bạn trung thành sống cuộc sống chứng tá cho một niềm tin công giáo và tông truyền, bạn đang làm công việc không khác gì một tông đồ chính hiệu.

Chia sẻ về một kinh nghiệm cho thấy việc làm chứng tập thể mang lại rất nhiều hiệu quả trong việc loan báo Tin Mừng (vd. Cả nhóm/giáo xứ bạn cùng làm chung một công việc bác ái nào đó).

Sống Lời Chúa: Chọn một việc tông đồ cho cả nhóm làm chung.

Cầu nguyện: Hiệp thông với Giáo Hội, bạn sốt sắng đọc kinh Tin Kính.

gpcantho

------------------------------------

 
CẢM NGHIỆM SỐNG LỜI CHÚA - THỨ SÁU CN3PS-C PDF Print E-mail

Suy Niệm Lời Chúa - Thứ Sáu 10-5-19 - MÁY ĐANG CHỈNH

Tin Mừng Chúa Giêsu theo Thánh Gioan (6: 52-59)

Người Dothái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?" Ðức Giêsu nói với họ: "Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy.

Suy Niệm:

Ngay từ đầu, Thiên Chúa đã tạo nên con người. Ngài cũng tạo ra thức ăn để nuôi sống họ. Trong sa mạc, Thiên Chúa đã ban cho dân Ít-ra-en manna để nuôi họ khỏi đói để đi về miền đất hứa. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa từ trời đến trong thế gian và Người cũng ban cho con người thức ăn để họ cũng được nuôi dưỡng trên đường đến Nước Thiên Chúa.

Trong Tin Mừng theo thánh Gioan, chương 6 là về thức ăn từ trời được Chúa Giêsu mang đến trong thế gian.

Lúc đầu, sau khi nhìn thấy nhiều việc làm kỳ diệu, đám đông đã đi theo Chúa Giêsu. Khi họ đói, Chúa Giêsu đã hoá bánh ra nhiều để cho tất cả họ ăn no nê.

Sau khi làm phép hoá bánh ra nuôi dân chúng, Chúa Giêsu đã dạy cho đám đông về bánh trường sinh. Chúa Giêsu nói với họ về nguồn gốc của ngài từ trên trời. Chúa Cha đã sai ngài đến trong thế gian. Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, ConThiên Chúa đã mang lấy xác phàm nhân và đã làm người. Vì vậy, Đức Giêsu là một vị Thiên Chúa - Người. Đức Giêsu đã tự xưng mình là Con Người nhiều lần trong Tin Mừng.

Khi Đức Giêsu nói với đám đông về việc ăn thịt và uống máu của ngài, điều đó có nghĩa là đón nhận một Đức Giêsu toàn thể với cả Con Người và Con Thiên Chúa trong một con người. Đức Giêsu đã nói: "Thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống. Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy."(Ga. 6, 55-56)

Chúa Giêsu đã nói với đám đông về thiên tính của mình. Ngài tỏ lộ Thiên Chúa là Cha trên trời. Đức Giêsu đã nói về những thực phẩm do Thiên Chúa ban cho cuộc sống trần thế như manna cho dân Ít-ra-en và thức ăn bởi trời ban sự sống đời đời chính là ngài.

Người Do Thái không tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, do đó họ không thể chấp nhận lời dạy của Người. Tin Đức Giêsu là Con Thiên Chúa rất khó đối với người Do Thái trước đây và ngay cả ngày nay nhưng đó là sự thật. Tin Đức Giêsu là bánh bởi trời còn khó hơn cho loài người trong mọi thế hệ.

Đức Giêsu nói với đám đông: "Các ông hãy ra công làm việc không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực thường tồn đem lại phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận."(Ga, 6, 27)

Công việc đầu tiên là tin vào Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Thứ hai, Đức Giêsu là bánh trường sinh được ban xuống bởi trời, vì vậy tôi phải tiếp nhận Người vào linh hồn tôi. Với công việc Chúa Giêsu đã dạy, Chúa Giêsu sẽ ở lại trong tôi và tôi sẽ ở lại trong Người qua Bí tích Thánh Thể.

Trong bữa tiệc ly của Đức Giêsu: "Cũng đang bữa ăn, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho các ông và nói: "Anh em hãy cầm lấy, đây là mình Thầy." Và Người cầm chén rượu, dâng lời tạ ơn, rồi trao cho các ông, và tất cả đều uống chén này. Người bảo các ông: "Đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra vì muôn người."(Mk. 14, 22-24)

Người Ki-tô hữu là người có Chúa Ki-tô ở trong mình. Nếu bạn chưa hiểu thấu thì hãy tìm đến với Hội thánh của Ngài để học hỏi và đón rước Chúa Ki-tô vào linh hồn mình.

Tôi cầu nguyện với Thiên Chúa cho tất cả những người ngoài Công giáo rằng ân sủng của Thiên Chúa và sự phù giúp của Mẹ Maria sẽ soi sáng và mở rộng tâm trí của bạn để nhận được sự thật của Chúa Ki-tô.

Kính chúc bình an của Chúa Ki-tô!

Đa-Minh Quang Hoàng, người Ki-tô hữu.

--

Bible sharing - Friday 5-10-19

Gospel JN 6: 52-59

The Jews quarreled among themselves, saying, “How can this man give us his Flesh to eat?” Jesus said to them, “Amen, amen, I say to you, unless you eat the Flesh of the Son of Man and drink his Blood, you do not have life within you. Whoever eats my Flesh and drinks my Blood has eternal life, and I will raise him on the last day. For my Flesh is true food, and my Blood is true drink. Whoever eats my Flesh and drinks my Blood remains in me and I in him.

Reflection!

From the beginning, God created the human. He also created food to be fed for life. In the desert, God gave the Israelites manna to feed them from hungry to travel to the promised land. Jesus is the Son of God coming from heaven and he also gives the human the food to be fed for life on the way the kingdom of God.

In the Gospel according to John, chapter 6 is about the food from heaven brought into the world by Jesus.

At first, after seeing many wondrous deeds, the crowds followed Jesus. When they were hungry, Jesus multiplied the bread to feed them all for their satisfaction.

After multiplying the bread, Jesus taught the crowds about the bread of life for eternity. Jesus told them about his origin from heaven. God the father sent him into the world. By the power of the Holy Spirit, God the Son took flesh and became a man. So, Jesus is God made Man. Jesus addressed himself a Son of Man quite a few times in the Gospel.

When Jesus said to the crowds about eating his flesh and drink his blood, it means that to receive the complete Jesus with both the Son of Man and the son of God into a human being. Jesus said, "For my Flesh is true food, and my Blood is true drink. Whoever eats my Flesh and drinks my Blood remains in me and I in him."(Jn. 6, 55-56)

Jesus told the crowds about his divinity. He revealed God the heavenly Father. Jesus talked about the food given by God for earthly life like manna for the Israelites and the heavenly food for eternal life by himself.

The Jews did not believe Jesus as the Son of God, therefore they could not accept his teaching. To believe Jesus as the Son of God is so hard for the Jews before and even today but it is the truth. To believe Jesus as the bread from heaven is also harder for human beings in all generation.

Jesus said to the crowds, "Do not work for food that perishes but for the food that endures for eternal life, which the Son of Man will give you. For on him the Father, God, has set his seal.”(Jn. 6, 27)

The first work is to believe in Jesus as the Son of God. Second, Jesus is the bread of life from heaven, so I have to receive him into my soul. With the work Jesus taught, Jesus will remain in me and I will remain in him through Eucharist.

At the Lord’s Supper, "While they were eating,f he took bread, said the blessing, broke it, and gave it to them, and said, “Take it; this is my body.” Then he took a cup, gave thanks, and gave it to them, and they all drank from it. He said to them, “This is my blood of the covenant, which will be shed for many."(Mk/ 14, 22-24)

Christians are people with Christ in them. If you have not yet understood, go to His church to learn and welcome Christ into your soul.

I pray to God for all non-Catholics that the grace of God and Mary's help will enlighten and open your heart and mind to receive the true truth of Christ.

Peace of Christ!

Bro. Dominic Quang Hoang

--------------------------------------

 
BÁNH SỰ SỐNG - THỨ SÁU CN3PS-C PDF Print E-mail

Thứ Sáu sau Chúa Nhật III Phục Sinh    - MÁY ĐANG CHỈNH

Bài Ðọc I: Cv 9, 1-20

"Người này là lợi khí Ta chọn, để mang danh Ta đến trước mặt các dân tộc".

Trích sách Tông đồ Công vụ.

Trong những ngày ấy, Saolô còn mải say mê hăm doạ giết các môn đồ Chúa, ông đến thượng tế, xin chứng minh thư gởi đến hội đường ở Ðamas, để nếu gặp ai theo đạo ấy bất luận nam nữ, ông trói đem về Giêrusalem. Ðang khi đi đường lúc đến gần Ðamas, bỗng nhiên một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông, ông ngã xuống đất và nghe tiếng phán rằng: "Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?" Ông thưa: "Lạy Ngài, Ngài là ai?" Chúa đáp: "Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ; giơ chân đạp mũi nhọn thì khổ cho ngươi". Saolô run sợ và kinh hoàng hỏi rằng: "Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?" Chúa phán: "Hãy chỗi dậy, vào thành, và ở đó người ta sẽ nói cho ngươi phải làm gì". Những kẻ đồng hành với ông đứng lại, hoảng hốt; họ nghe rõ tiếng mà không thấy ai. Saolô chỗi dậy khỏi đất, mắt ông vẫn mở, mà không trông thấy gì. Người ta cầm tay dẫn ông vào thành Ðamas; ông ở lại đấy ba ngày mà không thấy, không ăn, cũng không uống.

Bấy giờ ở Ðamas, có một môn đồ tên là Anania; trong một thị kiến, Chúa gọi ông rằng: "Anania". Ông thưa: "Lạy Chúa, này con đây". Chúa phán: "Hãy chỗi dậy và đến phố kia gọi là phố "Thẳng", và tìm tại nhà Giuđa một người tên là Saolô, quê ở Tarsê; ông ta đang cầu nguyện". (Saolô cũng thấy một người tên Anania bước vào, và đặt tay trên ông để ông được sáng mắt). Anania thưa: "Lạy Chúa, con đã nghe nhiều người nói về người này rằng: ông đã gây nhiều tai ác cho các thánh của Chúa tại Giêrusalem; tại đây, ông đã được các vị thượng tế cho phép bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa". Nhưng Chúa phán: "Cứ đi, vì người này là lợi khí Ta đã chọn, để mang danh Ta đến trước dân ngoại, vua quan và con cái Israel. Ta sẽ tỏ cho nó biết phải chịu nhiều đau khổ vì danh Ta". Anania ra đi, bước vào nhà, và đặt tay trên Saolô mà nói: "Anh Saolô, Chúa Giêsu, Ðấng hiện ra với anh trên đường đi đến đây, sai tôi đến cùng anh, để anh được thấy và được tràn đầy Thánh Thần". Tức thì có thứ gì như những cái vảy rơi khỏi mắt ông, và ông được sáng mắt; ông chỗi dậy chịu phép rửa, và sau khi ăn uống, ông được lại sức. Ông ở lại ít ngày cùng với các môn đồ thành Ðamas. Và lập tức ông rao giảng trong các hội đường rằng: Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 116, 1. 2

Ðáp: Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian (Mc 16, 15).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Toàn thể chư dân, hãy khen ngợi Chúa! Hết thảy các nước, hãy chúc tụng Người. - Ðáp.

2) Vì tình thương Chúa dành cho chúng tôi thực là mãnh liệt, và lòng trung thành của Chúa tồn tại muôn đời. - Ðáp.

Alleluia: Ga 14, 16

Alleluia, alleluia! - Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho các con một Ðấng Phù Trợ khác, để ở cùng các con luôn mãi. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 6, 53-60

"Thịt Ta thật là của ăn, Máu Ta thật là của uống".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, những người Do-thái tranh luận với nhau rằng: "Làm sao ông này có thể lấy thịt mình mà cho chúng ta ăn được?"

Bấy giờ Chúa Giêsu nói với họ: "Thật, Ta bảo thật các ngươi: Nếu các ngươi không ăn thịt Con Người và uống máu Ngài, các ngươi sẽ không có sự sống trong các ngươi. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta. Ðây là bánh bởi trời xuống, không phải như cha ông các ngươi đã ăn manna và đã chết. Ai ăn bánh này sẽ sống đời đời".

Người giảng dạy những điều này tại Hội đường Caphar-naum.

Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm

Chủ đề "Thày là sự sống" của ngày Thứ Sáu trong Tuần III Phục Sinh về khía cạnh "Sự Sống - Tái Sinh Thần Linh" được tỏ hiện trong bài Phúc Âm liên quan đến lời Chúa Giêsu khẳng định về máu thịt ban sự sống của Người, vì máu thịt của Người đã Vượt Qua, đã tử giá để tiêu diệt tội lỗi cùng sự chết và phục sinh để thông ban Thánh Linh và sự sống, đặc biệt cho những ai "ăn thịt" và "uống máu" của Người, nghĩa là cho những ai tin vào Người là Đấng Tử Giá và Phục Sinh, tức cho những ai nhờ Người mà được tái sinh thần linh:

"Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì có sự sống đời đời, và Ta, Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại ngày sau hết. Vì thịt Ta thật là của ăn, và máu Ta thật là của uống. Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta, thì ở trong Ta, và Ta ở trong kẻ ấy. Cũng như Cha là Ðấng hằng sống đã sai Ta, nên Ta sống nhờ Cha, thì kẻ ăn Ta, chính người ấy cũng sẽ sống nhờ Ta".

Bài Đọc (Tông Vụ 9:1-20)

Điển hình của thành phần được tái sinh thần linh là trường hợp của một nhân vật biệt phái hết sức nhiệt tình với Do Thái giáo trong bài đọc 1 hôm nay, một nhân vật được tái sinh thần linh bởi một người môn đệ tên là Anania ở Damasco, và ngay sau khi được chữa lành cái mù lòa về cả thể xác lẫn tâm linh của mình, nhân vật tên Saolê ấy liền công khai rao giảng về Đấng vừa mới bị chàng bách hại trước đó:

"Anania ra đi, bước vào nhà, và đặt tay trên Saolô mà nói: 'Anh Saolô, Chúa Giêsu, Ðấng hiện ra với anh trên đường đi đến đây, sai tôi đến cùng anh, để anh được thấy và được tràn đầy Thánh Thần'. Tức thì có thứ gì như những cái vảy rơi khỏi mắt ông, và ông được sáng mắt; ông chỗi dậy chịu phép rửa, và sau khi ăn uống, ông được lại sức. Ông ở lại ít ngày cùng với các môn đồ thành Ðamas. Và lập tức ông rao giảng trong các hội đường rằng: Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa".

PS.III-6.mp3

---------------------------------------

 
HẠNH PHÚC HÔN NHÂN -YÊU -SỢ VỢ- HAY NỂ VỢ PDF Print E-mail

YÊU VỢ NỂ VỢ HAY SỢ VỢ

Trần Mỹ Duyệt

Có bao nhiêu người chồng dám nhận mình “sợ vợ”? Và có bao nhiêu được cho là sợ vợ? Nếu “sợ vợ” là một hành động chỉ sự yếu đuối, hèn nhát, nhu nhược trong mối tương quan vợ chồng, thì liệu có bao nhiêu đàn ông tự tin rằng họ có thể đồng hành với vợ mình trong cuộc sống hôn nhân mà không mang tiếng sợ vợ? Thật ra, chẳng ai biết rõ những gì đang xảy ra bên trong căn nhà và cuộc sống của người khác, tuy nhiên, theo cái nhìn chung, hôn nhân vẫn là cuộc sống đem lại hạnh phúc cho con người. Bởi vì hôn nhân được xây dựng trên tình yêu.

Thông thường, có ba loại đàn ông hạnh phúc với hôn nhân. 1) Những đàn ông yêu mù quáng vợ, và để nàng toàn quyền quyết định mọi chuyện: “Nhất vợ nhì trời”. 2) Những đàn ông nhu nhược, ba phải. Sao cũng được miễn là vợ con đừng làm gì phiền toái, gây rắc rối, “Vợ ta không sợ, sợ ai?” 3) Những đàn ông uyển chuyển, biết tôn trọng và lắng nghe ý kiến của vợ.

Trong ba mẫu đàn ông trên, ngoại trừ những người uyển chuyển, biết tôn trọng và lắng nghe vợ, thì dù thuộc loại yêu mù quáng hay ba phải, ta vẫn thấy hình bóng “sợ vợ” đâu đó. Vậy thế nào là những dấu hiệu của hành vi sợ vợ?

-Tỏ ra hết sức thận trọng về mọi chuyện trước mặt vợ.

-Một số đề tài không bao giờ dám thảo luận trước mặt vợ. Thí dụ, đề tài về sinh lý, tài chánh của gia đình, hoặc việc nuôi dạy con cái.

-Thấy vợ kính trọng cha mẹ vợ nhưng ghét cha mẹ chồng. Cấm không cho chồng mời cha mẹ, người thân đến thăm trong những dịp lễ lạt đặc biệt mà vẫn nghe theo.

-Trước những sai trái, khuyết điểm của vợ, không hề dám góp ý hoặc sửa sai.

-Mỗi lần định nói “không” với vợ là tim đập loạn nhịp, tay chân lạnh, toát mồ hôi.

-Mỗi lần định đưa ra một vấn đề để thảo luận với vợ là ngập ngừng và rồi bỏ dở.

-Bị vợ kiểm soát mọi chuyện: Đi đâu, làm gì... cũng đều phải hỏi ý kiến vợ trước.

Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu tuy là một thi nhân nổi tiếng của xã hội nho giáo Việt Nam, nhưng ông đã sớm nhận ra điều bất ổn trong quan hệ hôn nhân khi người chồng tỏ ra dấu hiệu sợ vợ. Ông đã làm một bài thơ nổi tiếng với tựa đề “Cứu Cấp Sự Sợ Vợ”. Theo ông, vợ chồng đến với nhau trước là vì tình, từ tình sinh ái, từ ái sinh úy. Và úy là “sợ”. Trong tình có yêu, và trong yêu có sợ. Vẫn theo Tản Đà thì vợ là một nhân vật đáng sợ, nhưng sợ đây là phát xuất từ tình yêu chân chính, không muốn phiền lòng người mình yêu. Nó khác với cái sợ do tâm lý như nhược, yếm thế và tự ty.

Tóm lại, Tản Đà gọi người sợ vợ một cách chính đáng là “ông” chồng. Thỉnh thoảng sợ một lần, một cái gì đó là “anh” chồng. Cái gì cũng sợ gọi là “thằng” chồng. Sợ như vậy, theo ông là có vấn đề. Cũng theo cái nhìn tâm lý hôn nhân ngày nay là cần phải được trị liệu, cần được cố vấn, và hướng dẫn. Để đọc toàn văn bài “Cứu Cấp Sự Sợ Vợ” của tác giả Nguyễn Khắc Hiếu, mời tham khảo Khối Tình Con. Quyển II (1918), Thơ Tản Đà. Những Tác Phẩm Thơ Tiêu Biểu Và Nổi Tiếng.

Tuy nhiên, sợ vợ không chỉ là căn bệnh của những “thằng chồng”, người xưa cũng có câu “Sợ vợ mới anh hùng”. Trong thực tế có những anh hùng sợ vợ, ngược lại, chính vì họ sợ vợ mới là anh hùng. Khổng Tử đã nói: “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Họ là những vỹ nhân, những con người tượng trưng như:

-Tổng Thống Abraham Lincoln nước Mỹ.

Là vĩ nhân nắm trong tay quyền lực tối cao, nhưng lại sống khổ sở dưới sự đay nghiến của vợ mình. Abraham Lincoln vị tổng thống thứ 16 và được xem là một trong những tổng thống vĩ đại nhất nước Mỹ nhưng về đời tư, Linlcon lại rất khổ sở: ông bị vợ hành hạ suốt cả cuộc đời. Ông cưới bà Mary Told năm 1842 khi ông 33 tuổi, và bà Mary mới 23 tuổi, con nhà danh giá, con gái của thống đốc ngân hàng. Vì biết gia đình mình không “môn đăng hộ đối”, nên Abraham đã phải cân nhắc quyết định hôn nhân của mình trong 3 năm.

Tuy vậy, hôn nhân của ông đã trở thành một cuộc thử thách lớn lao cho ông. Là một phụ nữ duyên dáng, trí thức, thời trang, thông minh, nhưng cũng là một người vợ có tính kỳ quái, ưa bẳn gắt, gây sự với chồng và rất dễ nổi giận. Bà thường xuyên ghen tỵ với mọi người quanh chồng, nhiếc mắng chồng một cách rất thậm tệ dù cả khi ông đã là tổng thống. Chê bai ngoại hình của chồng, la hét, bù lu bù loa và chửi bới chồng không chút nể trọng. Có lần bà đã lên cơn điên cầm tách cà phê nóng ném vào mặt ông trước mặt nhiều người trong một quán trọ.

Đau đầu vì chuyện chính trị, khi về nhà, Abraham Lincoln lại gặp phải một người vợ với những hội chứng “tâm thần” thường xuyên gây nhiều bão tố và thách đố hơn cả chính trường. Vậy mà vị tổng thống vẫn nhẫn nhục và trung thành với đời sống hôn nhân mà không hề có ý định ly dị. Ông xứng đáng danh hiệu cao quí của một vỹ nhân ngoài xã hội, một người chồng cao cả trong gia đình.

-Triết gia socrate, Hy Lạp.

Triết gia Hy Lạp Socrate được nhiều người quỳ gối ngưỡng mộ. Ông là bậc thầy của ngành triết học, là một triết gia siêu việt, nhưng với bà vợ Xanthippe thì ông chỉ là “con tép”.

Socrate lấy vợ khi đã 50 tuổi, vợ ông trẻ hơn ông rất nhiều. Nhưng vợ ông lại là người phụ nữ mà cả thành Nhã Điển (Athen) ai cũng đều biết tiếng. Bà dữ dằn, hung ác, và đanh đá. Suốt ngày bà la hét, chửi bới và hành hung chồng, đến nỗi tên của bà đã biến thành danh từ chung chỉ những ác phụ, những người đàn bà đanh đá, lăng loàn. Ngược lại với vợ, Socrate được tiếng là người chồng “ngoan”, chẳng bao giờ cãi nửa lời.

Chuyện kể về sự ghen tương bệnh hoạn của vợ nhà triết học thì nhiều, đáng nhớ nhất là một lần thầy trò Socrate đang trao đổi về triết học, Xanthippe bỗng xuất hiện la mắng um xùm. Không thấy ai phản ứng gì, tức giận bà đem cả vò nước xối lên đầu chồng. Socrate đã chữa thẹn cho vợ: “Sau sấm sét bao giờ trời cũng đổ mưa”. Lần khác, Socrate đang ăn cơm với bạn thì bà ném cả mâm cơm ra sân. Bình tĩnh, ông nói với bạn bè: “Chắc bà ấy muốn chúng ta ra sân ăn cho mát”. Có lẽ tính khí của vợ ông đã giúp ông sống với những suy nghĩ của mình. Ông đã khuyên các thế hệ trẻ đang muốn bước vào đường hôn nhân như sau: “Các bạn cứ lấy vợ đi, nếu may mắn các bạn sẽ hạnh phúc, còn nếu không ít nhất cũng trở thành một triết gia”.

- Văn hào Lev Tolstoi, Nga.

Đại văn hào Nga Lev Tolstoi đã bỏ nhà đi giữa trời tuyết giá, rồi chết ở một nhà ga. Ông không muốn phải thấy mặt vợ.

Là bá tước, là văn hào được cả thế giới ca tụng. Cuộc hôn nhân của ông và người yêu Sofya bắt đầu từ một tình yêu tuyệt đẹp. 48 năm trong hôn nhân, họ đã có với nhau nhiều mặt con. Sofya không chỉ là vợ mà còn là người phụ tá, thư ký cho chồng, tận tụy hỗ trợ ông trong công việc, nhưng cuối đời, hôn nhân của họ đã trở thành một bất hạnh, bế tắc. Sofya thường cằn nhằn, trách móc, đay nghiến, mạt sát chồng với những lời độc địa, chua cay. Có những lúc Sofya như phát điên, nằm lăn ra đất lăn lộn, vật vã, dọa tự tử, dọa đâm đầu xuống giếng...

Quan niệm về xã hội, triết lý sống giữa hai người khác nhau, và vì những căng thẳng ngày càng trở nên tồi tệ, một ngày trời đầy tuyết, Tolstoi bỏ nhà ra đi rồi 11 ngày sau, ông được tìm thấy đã chết ở một nhà ga với ước nguyện cuối cùng là không muốn nhìn thấy vợ nữa. Cái chết của ông đã để lại nhiều cuộc tranh cãi, kẻ khen, người chê ông là sống ảo tưởng, con người mang những hoài bão “đập đá vá trời”, thiếu thực tế. Âu cũng là tâm thức và lối sống của những thi văn xưa nay. Phần Sofya cũng có người khen, kẻ chê. Người ta bênh bà vì suốt đời phải sống với một người chồng “ăn cơm nhà, vác ngà voi”, chỉ lo chuyện thiên hạ. Tóm lại, bá tước, đại văn hào Tolstoi đáng khen ở chỗ ông đã nhẫn nại trước những sóng gió, bão táp gây ra do người vợ. Nhưng mặt khác, chính ông cũng là người đã gây nên những bão tố đó.

Trong ba người đàn ông trên, Tổng Thống Lincoln hành xử chuyện gia đình với phán đoán và cái nhìn của một chính trị gia. Socrate nhìn và giải quyết qua cung cách của một triết gia. Tolstoi nhìn những khó khăn của đời sống vợ chồng với suy nghĩ một văn sỹ, một lý thuyết gia. Tuy nhiên, ở phần cuối ông đã tỏ ra thua cuộc vì hành động tự ý bỏ nhà và chọn cho mình một cái chết mà trong lòng còn mang sự hận thù với vợ.

Ngày nay, trong thế giới hiện tại qua phong trào phụ nữ bình quyền, nữ giới đang làm chủ tình hình trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Văn hóa trọng nam khinh nữ không còn nữa, thay vào đó là văn hóa “lady first”. Nó đang xâm chiếm vào mọi lãnh vực từ gia đình, xã hội, chính trị, kể cả một số sinh hoạt tôn giáo. Tuy nhiên, nếu thái quá không tốt, thì bất cập cũng không phải là điều tốt. Vậy làm sao để quân bình hóa quan niệm sống và tình cảm trong tương quan vợ chồng.

Nghiên cứu về đời sống gia đình cho thấy rằng trong đời sống hôn nhân nếu muốn có hạnh phúc đòi hỏi vợ chồng phải lắng nghe, tôn trọng lẫn nhau. Ở một mặt khác, đàn ông biết lắng nghe, chiều ý kiến vợ một tí, nôm na là biết “nể vợ”, hay “sợ vợ” thì đời sống hôn nhân sẽ hạnh phúc, ít bị ly dị hơn nhưng người chồng ương ương, dở dở, dùng quyền thì không xong, mà theo ý kiến vợ thì mặt mũi, danh dự... Đây là kết quả khảo cứu dài hạn 130 cặp vợ chồng do tiến sỹ tâm lý John Gottman thực hiện. Theo ông trong tác phẩm “7 nguyên tắc để hôn nhân thành công”, thì 65% người chồng thường làm tăng sự tiêu cực trong những cuộc cãi vã. Nghiên cứu cũng cho thấy 81% khả năng một cuộc hôn nhân sẽ tan vỡ khi người đàn ông không chịu nghe ý kiến của vợ.

Để tránh những ảnh hưởng tiêu cực của hôn nhân, ông đã đưa ra 4 điều mà phía người chồng phải lưu ý: Chỉ trích, đề phòng, khinh thường và câm lặng. Đây không phải là tác phong và lối hành xử của một người đàn ông trưởng thành, người chồng có tư cách và hiểu biết. Thật ra, sợ vợ hay sợ chồng chỉ là mặt trái của đồng tiền tình yêu. Cha ông xưa đã dạy: “Tương kính như tân”.

-----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 1800