mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1210
mod_vvisit_counterHôm Qua3757
mod_vvisit_counterTuần Này6065
mod_vvisit_counterTuần Trước2
mod_vvisit_counterTháng Này118097
mod_vvisit_counterTháng Trước353437
mod_vvisit_counterTất cả16607889

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)

Login Form





Bài Mới
CẢM NGHIỆM SỐNG LC -CN4PS-A PDF Print E-mail

qua1955 .
Chia sẻ Lời Chúa - Chúa Nhật 3-5-2020

Phúc Âm thánh Gioan. (10: 1-10): CHÚA LÀ ĐẤNG BAN SỰ SỐNG

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Thật, Ta bảo thật cùng các ngươi, ai không qua cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào lối khác, thì người ấy là kẻ trộm cướp. Còn ai qua cửa mà vào, thì là kẻ chăn chiên. Kẻ ấy sẽ được người giữ cửa mở cho, và chiên nghe theo tiếng kẻ ấy. Kẻ ấy sẽ gọi đích danh từng con chiên mình và dẫn ra. Khi đã lùa chiên mình ra ngoài, kẻ ấy đi trước, và chiên theo sau, vì chúng quen tiếng kẻ ấy. Chúng sẽ không theo người lạ, trái lại, còn trốn tránh, vì chúng không quen tiếng người lạ". Chúa Giêsu phán dụ ngôn này, nhưng họ không hiểu Người muốn nói gì. Bấy giờ Chúa Giêsu nói thêm: "Thật, Ta bảo thật các ngươi: Ta là cửa chuồng chiên. Tất cả những kẻ đã đến trước đều là trộm cướp, và chiên đã không nghe chúng. Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm thấy của nuôi thân. Kẻ trộm có đến thì chỉ đến để ăn trộm, để sát hại và phá huỷ. Còn Ta, Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào."

SỐNG VÀ CHIA SẺ

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng cứu độ trần gian. Ngài đã cống bố mục đích của ngài đến trong thế giới này để mang đến cho con người sự sống đời đời. "Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào"Tôi đến để họ có thể có sự sống và có được nó nhiều hơn."(Ga. 10, 10) Ngược lại, quỷ dữ và những kẻ bất lương là những tên trộm đến để tiêu diệt con người.

Những ai thuộc về Thiên Chúa sẽ lắng nghe Chúa Giêsu chứ không phải là lời của thế gian. Họ yêu thương và phục vụ lẫn nhau. Họ giữ tất cả các điều răn của Thiên Chúa một cách trung thành. Họ sẽ chỉ bước theo Chúa Giêsu chứ không phải là những tiên tri giả trên thế gian.

Chúa Giêsu đã phán: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy."(Ga. 14, 6) Nếu tôi chối bỏ Chúa Giêsu, tôi sẽ mất ơn cứu rỗi của Thiên Chúa là sự sống đời đời ban cho bất cứ ai chấp nhận Ngài là mục tử tốt lành của họ.

Thánh Phêrô đã nói: "Anh em hãy tự cứu mình khỏi dòng dõi gian tà này."(TĐCV. 2, 40) Làm thế nào mỗi người có thể có được sự sống đời đời? Họ phải tin vào Chúa Giêsu, sám hối tội lỗi và chịu phép Rửa vì Chúa Giêsu là cổng vào Nước trời, người duy nhất đã chết vì tội lỗi của nhân loại. "Chính Người đã gánh vác tội lỗi chúng ta nơi thân xác Người trên cây khổ giá."(Pt. 2, 24)

Lời của thế gian chỉ là những lừa dối để đánh cắp và giết chóc. Thật không may, nhiều người vẫn lắng nghe và đi theo họ ngày hôm nay. Con cái Thiên Chúa thì chỉ nghe theo lời của Chúa Giêsu và Giáo hội của Ngài. Đó là một cách chắc chắn để gìn giữ bất cứ ai không đi lạc khỏi Chúa Giêsu chính là vị mục tử tốt lành của mình.

Sự bình an của Chúa Kitô.

Đa Minh Quang Hoàng, người Kitô hữu.

--

Bible sharing - Sunday 5-3-20

Gospel JN 10: 1-10

Jesus said: "Amen, amen, I say to you, whoever does not enter a sheepfold through the gate but climbs over elsewhere is a thief and a robber. But whoever enters through the gate is the shepherd of the sheep. The gatekeeper opens it for him, and the sheep hear his voice, as the shepherd calls his own sheep by name and leads them out. When he has driven out all his own, he walks ahead of them, and the sheep follow him, because they recognize his voice. But they will not follow a stranger; they will run away from him, because they do not recognize the voice of strangers." Although Jesus used this figure of speech, the Pharisees did not realize what he was trying to tell them. So Jesus said again, "Amen, amen, I say to you, I am the gate for the sheep. All who came before me are thieves and robbers, but the sheep did not listen to them. I am the gate. Whoever enters through me will be saved, and will come in and go out and find pasture. A thief comes only to steal and slaughter and destroy; I came so that they might have life and have it more abundantly."

Reflection:

Jesus is the Son of God, a Savior of the world. Jesus is the Son of God, the Savior of the world. He declared his purpose to come to this world to give people eternal life. "I came so that they might have life and have it more abundantly."(Jn. 10, 10) On the contrary, the devils and the evildoers are the thieves coming to destroy the human.

Those who belong to God will listen to Jesus, not the world. They love and serve each other. They faithfully keep all the commandments of God. They will only follow Jesus, not false prophets on earth.

Jesus said, "I am the way and the truth and the life. No one comes to the Father except through me."(Jn. 14, 6) If I deny Jesus, I will lose God's salvation is eternal life to anyone who accepts Him as their good shepherd.

Peter said, "Save yourselves from this corrupt generation."(Acts 2, 40) How can each person have everlasting life? They must believe in Jesus, repent of their sins, and are baptized because Jesus is the gate of the Kingdom, the only one who has died for the sins of humankind. "He himself bore our sins in his body upon the cross, so that, free from sin, we might live for righteousness."(Pt. 2, 24)

The word of the world is only a lie to steal and kill. Unfortunately, many people still listen to them today. God's children only hear the words of Jesus and His Church. It is a sure way to keep anyone from straying from Jesus, the good shepherd, Jesus. However, the choice belongs to each individual.

Peace of Christ.

Dominic Quang Hoang, a Christian.

--------------------------

 
SỐNG VÀ CHIA SẺ LC - THÁNH CA TIN MỪNG PDF Print E-mail

ly hoang

THÁNH CA TIN MỪNG - CN4PS-A

Sat, May 2 at 11:19 AM
Kinh chuc Quy Cha, Quy Thay, Quy Soeurs, Quy AnhChi va GiaDinh cuoi tuan VuiVe - BinhAn. HXLy.

"Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa chọn để loan báo Tin Mừng và thông truyền Ơn Cứu Độ", đó là tựa đề Sứ Điệp của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gởi đến cộng đoàn chúng ta trong ngày Lễ Chúa Nhật Chúa Chiên Lành cũng là Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ.


"Tất cả chúng ta đều được Thiên Chúa chọn để loan báo Tin Mừng và thông truyền Ơn Cứu Độ". Vậy là chúng ta đều có một ơn gọi chung. Dù sống đời sống vợ chồng hay chịu chức thánh, linh mục hay tu sĩ, tất cả đều được Thiên Chúa chọn để công bố Tin Mừng và chuyển thông ơn Cứu Độ. Đây không phải là một trách vụ đơn độc, riêng lẻ mà là trách vụ chung của Giáo Hội (x. LBTM. 60). Đó là ơn gọi chung của Giáo Hội. Cùng với ơn gọi chung ấy, còn có ơn gọi đặc biệt với những trách nhiệm riêng biệt trong Giáo Hội. Đó là những ơn gọi tiến đến tác vụ linh mục, ơn gọi đời sống thánh hiến của các tu sĩ nam nữ hoạt động thừa sai và đời sống chiêm niệm.
Trong sứ điệp này, Đức Thánh Cha đặt trọng tâm của ơn gọi linh mục, tu sĩ, vào đời sống của cộng đoàn Kitô hữu. Vì "cũng như hạt giống trổ sinh dồi dào hoa trái nơi mảnh đất tốt thế nào thì ơn gọi cũng tăng triển và trưởng thành trong cộng đoàn Kitô hữu như vậy". Chúng ta phải khởi đi từ các cộng đoàn để chuẩn bị cho một mảnh đất phì nhiêu, cho hạt giống ơn gọi nẩy mầm, trổ sinh hoa trái. Vì chỉ có các cộng đoàn Kitô hữu sống động mới có thể làm nẩy sinh các ơn gọi, vun trồng, chăm sóc các ơn gọi và làm cho các ơn gọi phát triển, như một người mẹ hằng lưu tâm đến hạnh phúc, đến sự tăng trưởng của các con cái mình. Vì thế, tác nhân chủ động và tiên phong trong việc cổ võ ơn gọi chính là cộng đoàn Giáo Hội: từ Giáo Hội toàn cầu cho tới Giáo Hội địa phương, cũng như từ Giáo Hội địa phương cho tới từng giáo xứ và từng thành phần Dân Chúa (x. Tông huấn Các Mục Tử, số 41).

Trước những thách đố của thế giới hiện đại, cần phải có nhiều lòng dũng cảm sống Tin Mừng hơn nữa, để dám dấn thân cổ võ ơn gọi; như Đức Kitô đã kêu mời hãy cầu xin không ngừng để có những thợ làm vườn nho, cho Nước Chúa được lan rộng khắp nơi (x. Mt 9,37-38). Hơn lúc nào hết, ngày nay cần phải làm cho mọi thành phần Dân Chúa nhận biết và xác tín rằng: tất cả mọi thành phần trong Giáo Hội, không trừ một ai, đều có ân sủng và trách nhiệm chăm sóc các ơn gọi (x. Tông huấn Các Mục Tử, số 41). Đức Thánh Cha kêu gọi các cộng đoàn giáo phận và giáo xứ phải dấn thân chăm sóc cho ơn gọi linh mục và đời sống thánh hiến, đặc biệt bằng việc lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện và phục vụ người nghèo.
Cộng đoàn phải biết lắng nghe Lời Chúa để nhận ra ánh sáng hướng dẫn tâm hồn con người. Khi Kinh Thánh trở thành sách của cộng đoàn, chúng ta sẽ dễ dàng nghe và hiểu được tiếng nói của Chúa. Đấng kêu gọi chúng ta. Hơn nữa, cộng đoàn phải biết khẩn khoản cầu nguyện để có thể thực hiện được ý định của Thiên Chúa. việc cầu nguyện mang lại sức mạnh giúp ta đón nhận cách tích cực lời mời gọi của Chúa, để dấn thân phục vụ đời sống tinh thần và vật chất của anh em. Cộng đoàn cũng phải nhạy cảm trước sứ mạng truyền giáo để đem ơn Cứu Độ đến cho những người chưa nhận biết Chúa Kitô, Đấng Cứu Chuộc nhân loại.

Nếu cộng đoàn hết lòng sống mệnh lệnh của Đức Kitô: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa cho họ nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28,19) chắc chắn cộng đoàn đó sẽ không thiếu những người trẻ quảng đại muốn dâng hiến đời mình để đảm nhận trách vụ loan báo Tin Mừng cho con người thời đại. Cuối cùng, cộng đoàn phải biết mở ra cho việc phục vụ người nghèo. Một mẫu sống khiêm tốn và từ bỏ, thẳng thắn chọn lựa đứng về phía những người nghèo, dấn thân trợ giúp những anh chị em túng thiếu và đau khổ. Những điều đó góp phần tạo nên một môi trường thuận lợi cho ơn gọi nảy sinh, vì phục vụ Tình Yêu là ý nghĩa nền tảng của mọi ơn gọi.

Trong phần cuối sứ điệp, một lần nữa, Đức Thánh Cha lại kêu gọi các giám mục, các linh mục Dòng cũng như Triều, các giáo lý viên và các bạn trẻ phải ý thức trách nhiệm chăm sóc mục vụ ơn gọi trong cộng đoàn Giáo Hội: Khi làm cho cộng đoàn Giáo Hội sinh động, các linh mục có thể khơi dậy các ơn gọi, cổ võ các thiếu niên nam cũng như nữ được Thiên Chúa kêu gọi, hướng dẫn các em qua những hướng dẫn tinh thần và cuộc sống vui tươi phục vụ anh em.
"Cha muốn nói với các con, các con thân mến, cha trìu mến lập lại những lời này với các con: Hãy quảng đại hiến cuộc đời mình cho Đức Kitô. Đừng sợ hãi! Các con không có gì phải sợ, vì Thiên Chúa là Chúa của lịch sử và của vũ trụ. Hãy để những khát vọng về những kế hoạch vĩ đại và cao thượng lớn lên trong các con. Hãy nuôi dưỡng cảm thức về tình liên đới: đó là dấu chỉ Thiên Chúa hành động nơi tâm hồn của các con. Hãy sẵn sàng sử dụng các tài năng mà Đấng Quan Phòng đã trao ban cho các con, vì cộng đoàn của các con. Các con càng sẵn sàng dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa và tha nhân, các con sẽ càng khám phá ra ý nghĩa đích thực của đời sống. Thiên Chúa mong đợi nhiều nơi các con!".

Kết thúc nội dung tóm lược sứ điệp Ngày Thế Giới Cầu Nguyện Cho Ơn Gọi bằng một lời nguyện của Đức Thánh Cha: "Lạy Chúa, xin gởi cho chúng con những người hướng dẫn tinh thần mà cộng đoàn chúng con đang cần: những linh mục thực sự của một Thiên Chúa sống động, những người được ánh sáng Lời Ngài soi chiếu, để có thể nói về Ngài và dạy người khác nói với Ngài. Xin hãy làm cho Giáo Hội của Ngài lớn mạnh nhờ sự phát triển của những con người thánh hiến, những người dâng hiến tất cả cho Ngài để Ngài cứu độ tất cả mọi người". Amen.

" Hail, star of the sea,
Nurturing Mother of God,
And ever Virgin
Happy gate of Heaven."

----------------------------------------------

 
ĐÀ0 TẠO MÔN ĐỆ - THÁNH GIUSE - 01-5-2020 PDF Print E-mail

Hong Nguyen

Suy niệm Lời Chúa ngày 1.5.2020
Lễ Thánh Giuse Lao Công

TIN MỪNG : Ga 6, 60-69

THÁNH GIUSE MẪU GƯƠNG LAO ĐỘNG

Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta tôn trọng giá trị của lao động, đặc biệt là lao động tay chân. Lao động cũng là để diễn tả niềm tin vào Chúa khi cộng tác trong công trình của Thiên Chúa để làm ra những của cải vật chất phục vụ cho cuộc sống con người.

Chính trong lao động, con người cũng xây dựng nên gia đình, xã hội ấm êm hạnh phúc bằng những hy sinh vất vả, mồ hôi nước mắt, công sức của mình. Và lao động cũng góp phần làm cho mọi người đến gần với Thiên Chúa, đến gần nhau hơn qua việc yêu thương, chia sẻ bác ái với người khác.

Thánh Giuse là gương mẫu của người lao động. Ngài còn là vị Giám hộ của những người làm việc chân tay. Và Ngài là vị Giám hộ đắc lực nhất, như lời Đức Thánh Cha Pi-ô XII nói: "Không có vị Giám hộ nào có đủ khả năng linh nghiệm truyền thông Tin Mừng cho đời sống thợ thuyền bằng thánh Giuse thợ."

Trong bài giảng vào lễ Thánh Giuse năm 1969, Đức Thánh Cha Phaolô VI nói rằng: khi suy niệm về Thánh Giuse, ta tưởng chừng như thiếu chất liệu khai thác. Tin Mừng Phúc Âm không ghi lại lời nào của Ngài, ngoại trừ vài ghi nhận: Ngài hoàn toàn yên lặng và lắng nghe tiếng Chúa qua những giấc mơ. Ngài mau mắn thi hành ý Chúa. Ngài chuyên chăm làm việc tay chân cách cần mẫn, khiến người đời chỉ biết về Chúa Kitô là con bác phó mộc. Tất cả chỉ vỏn vẹn có thế, và có thể nói: cuộc đời Thánh Giuse là một cuộc đời ẩn dật, lao công lam lũ, một đời bình thường không chút danh giá.

Và ta thấy Đức Thánh Cha Phaolô VI nhấn mạnh, nếu chúng ta tìm hiểu sâu xa hơn cuộc đời ẩn dật của Thánh Giuse, chúng ta sẽ thấy một cuộc đời đầy nhân đức và công nghiệp, đầy hạnh phúc và đau khổ, đầy hy sinh và ơn thánh. Thánh Giuse đã dấn thân và đón nhận mọi gánh nặng gia đình. Ngài chỉ nghĩ đến phục vụ, chỉ biết làm việc và hy sinh trong khung cảnh thầm kín mà Phúc Âm đã diễn tả: mái ấm Nazareth với trẻ Giêsu và Đức Maria. Ngài thực đáng được ca ngợi là người diễm phúc và cực tốt lành.

Như chúng ta biết, thánh Giuse được Chúa chọn làm cha nuôi Chúa Giêsu, khi Người sinh ra làm người để cứu độ nhân loại. Thánh nhân là người công chính, luôn tuân hành thánh ý Chúa, sẵn sàng vâng nghe và làm theo lời Chúa dạy. Ngài tận tâm bảo vệ Đức Mẹ, nhiệt thành cộng tác với Mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc Chúa Giêsu. Để chu toàn sứ mệnh đó, Ngài làm nghề thợ mộc vất vả hằng ngày, Ngài lấy sức lao động của mình bảo đảm cuộc sống hằng ngày của Thánh gia.

Ngài là gương mẫu cho mọi người sống nghề lao động chân tay và cách riêng cho các Kitô hữu: lương thiện, cần mẫn, siêng năng làm việc lo cho gia đình. Chẳng những lo cho gia đình mà còn phát triển xã hội và tôn vinh Chúa, vì theo thánh công đồng Vaticanô II: "Đối với các tín hữu, chỉ có một điều chắc chắn là: hoạt động cá nhân cũng như tập thể của nhân loại, các nỗ lực vĩ đại của con người vất vả qua các thế kỷ là nhằm cải thiện hoàn cảnh sinh sống. Việc này tự nó phù hợp với ý định của Thiên Chúa.

Hôm nay Chúa Giêsu trở về quê hương Nazareth và vào giảng dạy trong hội đường. "Sự khôn ngoan và quyền làm phép lạ" của Ngài đã khiến cho những người đồng hương phải ngạc nhiên. Nhưng sự ngạc nhiên này không dẫn họ đến đức tin, bởi còn một chướng ngại ngăn cản, đó là xuất thân của Người: "Ông không phải là con bác thợ sao?..." cho nên người ta không tin Ngài là Đấng Mêsia. Tuy vậy, chính trong môi trường gia đình lao động nơi làng quê nghèo là nơi mà Thiên Chúa đã chọn để tỏ mình ra và thực hiện việc cứu độ.

Tưởng chừng như biết quá rõ xuất thân của Chúa Giêsu và cho rằng Ngài chỉ là một ông thợ thủ công con bác thợ mộc Giuse quê mùa nên dân làng Nadarét đã không tin vào Chúa. Đến như các môn đệ là những người đã theo sát Chúa Giêsu, sống với Người, nghe Người giảng dạy và chứng kiến những phép lạ Chúa làm nhưng vẫn không tin vào Chúa bởi vì họ thấy Chúa Giêsu chịu treo trên cây thập tự. Ngày hôm nay, giữa bao khó khăn, nghi ngại của cuộc sống, có nhiều người cũng dần xa rời đức tin vào Chúa, thậm chí là mất đức tin. Vậy chúng ta phải suy nghĩ sao đây về niềm tin của mỗi người vào Chúa?

Thái độ của những người đồng hương với Chúa cho con nhận ra được con người khiêm nhu, cần cù lao động của Chúa khi còn ở quê nhà. Thánh Giuse, một bác thợ mộc chẳng lấy gì là khấm khá, chắc chỉ là đủ ăn. Ngài đã cùng với Chúa Giêsu lao động bằng chính đôi bàn tay và sức lực của mình để sinh sống và giúp đỡ người khác. Chúa Giêsu hẳn cũng đã thường xuyên góp sức với người cha nuôi của mình để chia sẻ cõi người trong cuộc sống. Chúa hẳn đã nhận ra Thánh ý của Thiên Chúa Cha, Đấng tạo thành vũ trụ khi tạo dựng nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa và chúc phúc cho con người tiếp tục công trình sáng tạo, là "Hãy làm chủ trái đất này cùng với mọi lòai chim muông, cầm thú và mọi sinh vật".

Thánh Giuse đã được soi lòng mở trí, đã được sự khôn ngoan, để biết cách bảo vệ Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria đúng cách mà Chúa muốn. Cuộc đời thánh Giuse, cho thấy ơn gọi của Ngài là một hành trình dài. Ơn gọi đó đã phát xuất từ chính Thiên Chúa. Thánh Giuse không bao giờ đã vận động cho mình ơn gọi đó. Ngài cũng chẳng bao giờ ham muốn được ơn gọi đó. Chúa gọi, và Ngài đã xin vâng.

Hôm nay thánh Giuse vẫn sống động trong Hội Thánh. Đối với Giáo Hội Việt Nam, không những Ngài là Quan thầy phù trợ, mà còn là vị hiền phụ thân thương gần gũi đang chia sẻ cuộc đời chúng ta. Một cuộc đời với nhiều lo toan, với nhiều trắc trở, với nhiều ước mơ và phấn đấu. Chúng con đây, những người chọn lựa con đường của Thánh Giuse đã đi, là muốn sống âm thầm, góp phần mình vào việc xây dựng một Giáo hội tại gia, trong đó mỗi thành phần vợ, chồng, con cái noi gương Thánh gia Thất mong muốn sống chan hòa trong khu xóm, xứ đạo; mong muốn giúp đỡ lẫn nhau, nhận ra nhau trong cuộc sống. Không ngại mình là dòng dõi của bác thợ mộc Giuse, là anh chị em với con một người thợ là Giêsu, chỉ với một niềm tin Chúa sẽ thực hiện nơi chúng con điều Người muốn.

Thánh Giuse chính là tiêu chuẩn Phúc Âm, mà Chúa Giêsu - sau khi rời bỏ xưởng thợ Nazareth - đã rao giảng. Thánh Giuse là gương mẫu của lớp người khiêm hạ mà Kitô giáo đã phát hiện ra như những sự cả thể lớn lao.

Chính nơi Thánh Giuse, ta nhìn thấy những giá trị đích thực của đời sống con người, khác hẳn cách người đời thường thẩm định. Ở đây, cái nhỏ bé trở nên lớn lao. Ở đây, cái hèn hạ lại có địa vị xứng đáng trong xã hội. Ở đây, những kết quả lao công tầm thường và khó nhọc, lại trở nên hữu dụng cho công việc giảng dạy của Đấng Tạo Thành. Ở đây, những gì bị mất vì yêu Chúa thì lại tìm thấy, những gì hy sinh cho Chúa thì lại được nên dồi dào.

Và rồi ngày mỗi ngày ta cố gắng và siêng năng làm việc, để giúp ích cho gia đình, xã hội, theo gương thánh Giuse, và chuyên cần kêu xin thánh nhân cầu thay nguyện giúp cho những người lao động nghèo khổ, bất hạnh.

Lm. Huệ Minh
Kính chuyển:
Hồng

 
CẢM NGHIỆM SỐNG LC - THỨ BẢY CN3PS-A PDF Print E-mail

qua1955 .
Chia sẻ Lời Chúa - Thứ Bảy 2-5-20

TIN MỪNG GIOAN: 6: 60-69:  LỜI CHÚA LÀ THẦN KHÍ VÀ LÀ SỰ SỐNG

Khi ấy, có nhiều môn đệ của Đức Giêsu nói rằng: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?" Nhưng Ðức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông: "Ðiều đó, anh em lấy làm chướng , không chấp nhận được ư? Thế thì anh em thấy Con Người lên nơi đã ở trước kia thì sao? Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. Nhưng trong anh em có những kẻ không tin". Quả thật, ngay từ đầu, Ðức Giêsu đã biết những kẻ nào không tin, và kẻ nào sẽ nộp Người. Người nói tiếp: "Vì thế, Thầy bảo anh em: không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho". Từ lúc đó, nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa. Vậy Ðức Giêsu hỏi Nhóm Mười Hai: "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?" Ông Simon Phêrô liền đáp: "Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời. Phần chúng con, chúng con đã tin và nhận biết rằng chính Thầy là Ðấng Thánh của Thiên Chúa."

TÔI ĂN-NHAI VÀ NUỐT LỜI CHÚA

Khi Chúa Giêsu nói: "Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Và bánh tôi sẽ ban tặng, chính là thịt tôi đây, để cho thế gian được sống." Người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau. Họ nói: "Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được?"(Ga. 6, 51-52) Có nhiều môn đệ của Chúa Giêsu nói rằng: "Lời này chướng tai quá! Ai mà nghe nổi?" Nhưng Ðức Giêsu tự mình biết được là các môn đệ đang xầm xì về vấn đề ấy, Người bảo các ông: "Ðiều đó, anh em lấy làm chướng , không chấp nhận được ư?"(Ga. 6, 60-61)

Nếu Chúa Giêsu hỏi tôi lúc đó thì tôi cũng có thể trả lời là: "Vâng! Thưa có." Trước nhất là người Do Thái hiểu rằng Chúa Giêsu tự xưng là Con Thiên Chúa nhưng họ chỉ biết Chúa Giêsu là Con của ông Giuse thợ mộc và bà Maria. Họ không tin nhận lời tuyên bố của Chúa Giêsu. Thứ hai là họ bị sốc vì chưa từng có ai nói theo nghĩa đen là lương thực ban cho họ là máu thịt của ngài.

Chúa Giêsu có ý gì khi nói về máu thịt của ngài chính là lương thực thực sự từ trời ban xuống cho nhân loại? Những gì Chúa Giêsu nói thực sự có nghĩa là đúng như ngài nói. Những lời Chúa Giêsu đã công bố thì ngài đã không rút lại hoặc thay đổi vì sợ mọi người rời bỏ ngài. Đó là lý do tại sao Chúa Giê-su thậm chí đã hỏi nhóm Mười Hai: "Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay không?"(Ga. 6, 67)

Chúa Giêsu đã thiết lập bí tích Thánh Thể trong bữa tiệc ly. Ngày nay, có rất nhiều người Công giáo trên khắp thế giới vẫn đang ăn Chúa Giêsu ban cho họ từ nơi bàn thờ trong Nhà thờ dưới dạng tấm bánh. Chúa Giêsu là sự sống, là sự thật và là con đường đến với Chúa Cha trên trời. Làm theo những gì Chúa Giêsu đã nói, tôi sẽ không ngạc nhiên khi tôi sẽ được gặp Ngài đối mặt với mặt trong Nước Thiên Chúa vì tôi tin vào Ngài.

* SUY TƯ VÀ HÀNH ĐỘNG: Học hỏi từ mẹ Maria, tôi CẦN giữ LỜI Chúa Giêsu trong lòng và cầu nguyện NHƯ HƠI THỞ khi tôi gặp khó khăn để hiểu Lời của Ngài. Với ân sủng của Chúa Thánh Thần, tôi sẽ củng cố niềm tin VÀO LỜI Chúa Giêsu.

Giống như Thánh Peter, tôi cũng thưa với Chúa Giêsu: "Chúa là Ðấng Thánh của Thiên Chúa."(Ga. 6, 69) Con tin tưởng vào Chúa!

Bình an của Chúa Kitô!

Đa Minh Quang Hoàng, người Kitô hữu.

--

Bible sharing - Saturday 5-2-20

Gospel JN 6: 60-69

Many of the disciples of Jesus who were listening said, "This saying is hard; who can accept it?" Since Jesus knew that his disciples were murmuring about this, he said to them, "Does this shock you? What if you were to see the Son of Man ascending to where he was before? It is the Spirit that gives life, while the flesh is of no avail. The words I have spoken to you are Spirit and life. But there are some of you who do not believe." Jesus knew from the beginning the ones who would not believe and the one who would betray him. And he said, "For this reason, I have told you that no one can come to me unless it is granted him by my Father." As a result of this, many of his disciples returned to their former way of life and no longer walked with him. Jesus then said to the Twelve, "Do you also want to leave?" Simon Peter answered him, "Master, to whom shall we go? You have the words of eternal life. We have come to believe and are convinced that you are the Holy One of God."

Reflection:

When Jesus said, "I am the living bread that came down from heaven; whoever eats this bread will live forever, and the bread that I will give is my flesh for the life of the world."The Jews quarreled among themselves, saying, "How can this man give us [his] flesh to eat?"(Jn. 6, 51-52) Many of the disciples of Jesus who were listening said, "This saying is hard; who can accept it?" Since Jesus knew that his disciples were murmuring about this, he said to them, "Does this shock you?"(Jn. 6, 60-61)

If Jesus asked me at that time, I might say to him, "Yes! I do." First, the Jews understood that Jesus claimed to be the Son of God but that they only knew Jesus was the Son of Joseph the carpenter, and Mary. They did not accept the word of Jesus. Second, they were shocked because no one had ever literally said that the food given to them was his flesh and blood.

What did Jesus mean when he spoke of his flesh and blood as the true food that came from heaven to mankind? What Jesus said really means exactly as he said. The words Jesus proclaimed, he did not retract or change them for fear that people would leave him. That is why Jesus even asked the Twelve, "Do you also want to leave?"(Jn. 6, 67)

Jesus instituted the Eucharist at the Last Supper. Today, many Catholics around the world are still eating Jesus bestowed upon them from the altar in the Church in the form of bread. Jesus is the life, the truth, and the way to the heavenly Father. Doing what Jesus said, I will not be surprised when I will see Him face to face in the Kingdom of God because I believe in Jesus.

Learning from Mary, I should keep Jesus' words in my heart and pray instead of rejecting Him when I have difficulty understanding His words. With the grace of the Holy Spirit, I will strengthen my faith in Jesus.

Like Peter, I also say to Jesus: "You are the Son of the living God."(Jn. 6, 69) I trust in You!

Peace of Christ!

Dominic Quang Hoang, a Christian.

-----------------------------------

 
CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI - KIỆT TAC CỦA THIÊN CHÚA PDF Print E-mail

P. Nguyen

Fri, May 1 at 2:44 PM

Kính thưa quý Cha, quý Thầy, quý Sơ và tất cả anh chị em!

Hôm nay lễ Kính Thánh Giuse Thợ, trong bài đọc một nói về sự sáng tạo của Thiên Chúa. Con suy niệm bài Kinh Thánh này thấy một chi tiết mà từ lâu con thường hay bỏ qua.

Trước hết mỗi lần con suy niệm về sự sáng tạo của Thiên Chúa, thì con thường nhìn vào những kỳ công của Ngài qua những hòn núi cao, qua những chiều hoàng hôn, qua những hàng cây xanh rì, qua những bông hoa tuyệt đẹp, qua những ngọn đồi đầy tuyết trắng. Con thường thơ thẩn nhìn trời, nhìn mây mà lòng thầm tạ ơn Chúa vì chỉ có Thiên Chúa mới có thể dựng nên vũ trụ trời đất đẹp như thế. Điều này làm cho con xác quyết là có Thiên Chúa và Thiên Chúa dựng nên trời đất như trong Kính Tin Kính mà con thường đọc mỗi Chúa Nhật.

Hôm nay con đọc lại bài đọc Sách Sáng Thế 1:26b-2:3 nhân ngày lễ Kính Thánh Giu-se thợ. Trong những ngày này con không ra ngoài được thì làm sao con có thể nhìn trời, nhìn mây mà suy niệm bài kinh thánh này. Con liền quay qua nhìn vợ, nhìn con. Một tia sáng trong con chợt nổi lên "đây mới thực sự là một kỳ công mà Thiên Chúa đã tạo dựng cho con và vì con." Nhà vật lý học cả đời không tin vào Thiên Chúa đã khẳng định rằng "'women are the most intriguing mystery." Ông ta làm sao hiểu được vì người đàn bà mà Thiên Chúa dựng nên thì phải dùng nhãn quan của Thiên Chúa mới hiểu được.

Trong một cuộc phỏng vấn Jada Pinkett Smith đã trả lời rằng trong lúc quarantine (cấm không cho ra ngoài) bà ta khám phá ra rằng mình không biết gì về chồng mình cả mặc dù hai người đã lấy nhau 23 năm. Con suy niệm bài Kinh Thánh Chúa tạo dựng trời đất trong thời buổi "quarantine" cũng cảm thấy mình cần phải tìm hiểu vợ của mình nhiều hơn vì đây chính là kiệt tác mà Chúa dựng nên để cho con trở nên thánh vì mục đích chính của Bí Tích Hôn Phối là cho hai người giúp nhau trở nên thánh như thánh Phao-lô đã nói trong thư I Cô-rinh-tô 7: 16: "Chị là vợ, biết đâu chị chẳng cứu được chồng ? Hay anh là chồng, biết đâu anh chẳng cứu được vợ?"

Con hy vọng rằng trong thời gian này chúng ta sẽ có nhiều thời giờ để tìm hiểu và chiêm ngưỡng người phối ngẫu của mình hơn để cùng giúp nhau trở nên thánh. Cũng như cùng giúp nhau để đền đáp ơn Trời khi:

Đức Giê-su Ki-tô

vốn dĩ là Thiên Chúa

mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì

địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,

nhưng đã hoàn toàn

trút bỏ vinh quang,

omặc lấy thân nô lệ,

trở nên giống phàm nhân,

sống như người trần thế

Người lại còn hạ mình,

vâng lời cho đến nỗi

bằng lòng chịu chết,

chết trên cây thập tự.

(Trích Phi-lip-phê 2: 6-8)

Thiên Chúa đã chết để cho con được sống, và cho con nói rằng "người đàn bà Ngài ban cho con đã giúp con được sống và sống sung mãn. Đồng thời giúp con trở nên thánh để con có thể trở về quê Trời" chớ không phải nói rằng ""người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn" (Sách Sáng Thế 3: 12).

Hy vọng rằng trong những ngày này chúng ta có cơ hội chiêm ngắm kiệt tác của Thiên Chúa qua vẻ đẹp của người phối ngẫu của mình, người cùng chung chăn gối, cùng chia cơm xẻ áo, cùng chia ngọt xẻ bùi, cùng vui cùng khóc, cùng trải qua những thăng trầm trong cuộc đời với chúng ta.

Cho nên từ nay nếu ai đi tỉnh tâm thích ngắm thiên nhiên để cầu nguyện thì nên ngắm vợ/chồng của mình để cầu nguyện là tốt nhất vì đó chính là hình ảnh của Thiên Chúa (Sách Sáng Thế 1: 27). Mỗi lần vợ con hỏi con là em có đẹp không? Con trả lời rằng "em rất đẹp vì em có Chúa." Con cũng rất thường khen vợ con là "em rất đẹp vì em có Chúa" Sao không đẹp nếu đây là một kỳ công mà Thiên Chúa đã tạo dựng cho chính từng người của chúng ta.

Con khẳng định rằng không có một vẻ đẹp nào có thể sánh được với vẻ đẹp của người phối ngẫu của mình vì đây chính là hình ảnh của Thiên Chúa và điều quan trọng nhất đây chính là người mà qua Bí Tích Hôn Phối, Thiên Chúa đã giao trọng trách cho ta để đưa cả hai cùng về quê Trời.

Tạ ơn Chúa cho con có những ngày quarantine (cũng có thể gọi là cấm phòng) để chiêm ngưỡng vẻ đẹp của một kỳ công mà bấy lâu nay con không nghĩ tới.

Mến,

Phó tế Quý + Dung

----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 8 of 2015