mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7056
mod_vvisit_counterHôm Qua8212
mod_vvisit_counterTuần Này36445
mod_vvisit_counterTuần Trước84740
mod_vvisit_counterTháng Này236544
mod_vvisit_counterTháng Trước339361
mod_vvisit_counterTất cả17795697

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)

Login Form





Bài Mới
BÁNH SỰ SỐNG- LỄ MẸ ĐAU THƯƠNG PDF Print E-mail

TĨNH CAO

Thứ Ba CN24TN-A

BÁNH SỰ SỐNG Lời Chúa

Bài Ðọc I: (Năm II) 1 Cr 12, 12-14. 27-31a

"Anh em là thân xác Chúa Kitô, và là chi thể của chỉ thể".

Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, như thân xác là một, mà có nhiều chi thể, và tất cả các chi thể tuy nhiều, nhưng chỉ là một thân xác, thì Chúa Kitô cũng vậy. Vì chưng, trong một Thánh Thần, tất cả chúng ta chịu phép rửa để làm thành một thân xác, cho dầu Do-thái hay Hy-lạp, tự do hay nô lệ, và tất cả chúng ta cùng uống trong một Thánh Thần. Vì thân xác không chỉ gồm một chi thể, mà là nhiều chi thể.

Phần anh em, anh em là thân xác Chúa Kitô và là chi thể Người, mỗi người theo phận sự mình. Có những người Thiên Chúa đã thiết lập trong Hội thánh, trước hết là các Tông đồ, thứ đến là các tiên tri, thứ ba là các tiến sĩ. Kế đến là quyền làm phép lạ, các ơn chữa bệnh, các việc từ thiện, quản trị, nói nhiều thứ tiếng. Vậy tất cả mọi người là Tông đồ ư? Tất cả là tiên tri ư? Tất cả là tiến sĩ ư? Tất cả được ơn làm phép lạ ư? Tất cả được ơn chữa bệnh ư? Tất cả nói nhiều thứ tiếng ư? Tất cả được ơn diễn giải ư? Anh em hãy cần mẫn sao cho được những ân điển cao trọng hơn.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 99, 2. 3. 4. 5

Ðáp: Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi (c. 3c).

Xướng: 1) Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy phụng sự Thiên Chúa với niềm vui vẻ! Hãy vào trước thiên nhan vơi lòng hân hoan khoái trá. - Ðáp.

2) Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa, chính Người đã tạo tác thân ta và ta thuộc quyền sở hữu của Người. Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi. - Ðáp.

3) Hãy vào trụ quan nhà Người với lời khen ngợi, vào hành lang với khúc ca vui; hãy tán dương, hãy chúc tụng danh Người. - Ðáp.

4) Vì Thiên Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín Người còn tới muôn thế hệ. - Ðáp.

Alleluia: Mt 11, 25

Alleluia, alleluia! - Lạy Cha là Chúa trời đất, con xưng tụng Cha, vì Cha đã mạc khải những mầu nhiệm nước trời cho những kẻ bé mọn. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 7, 11-17

"Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu đến một thành gọi là Naim. Các môn đệ và đám đông dân chúng cùng đi với Người. Khi Người đến gần cửa thành, thì gặp người ta đang khiêng đi chôn người con trai duy nhất của một bà goá kia và có đám đông dân thành đi đưa xác với mẹ nó. Trông thấy bà, Chúa động lòng thương và bảo bà rằng: "Ðừng khóc nữa". Ðoạn tiến lại gần, Người chạm đến quan tài và những người khiêng đứng lại. Bấy giờ Người phán: "Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy". Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Rồi Người trao lại cho mẹ nó.

Mọi người đều sợ hãi và ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Một tiên tri cao cả đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã thăm viếng dân Người". Và việc này đã loan truyền danh tiếng Người trong toàn cõi Giuđêa và khắp vùng lân cận.

Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm /Cảm Nghiệm SỐNG VÀ CHIA SẺ

Bà mẹ góa đi chôn đứa con trai duy nhất trong tâm trí Chúa Giêsu bấy giờ là ai?

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XXIV Thường Niên hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu tỏ mình ra qua phép lạ Người hồi sinh đứa con trai duy nhất của bà góa thành Nain nhờ đó Người được dân chúng nhận biết:

"Sau đó, Đức Giêsu đi đến thành kia gọi là Naim, có các môn đệ và một đám rất đông cùng đi với Người. Khi Đức Giêsu đến gần cửa thành, thì đang lúc người ta khiêng một người chết đi chôn, người này là con trai duy nhất, và mẹ anh ta lại là một bà goá. Có một đám đông trong thành cùng đi với bà. Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương và nói: 'Bà đừng khóc nữa!' Rồi Người lại gần, sờ vào quan tài. Các người khiêng dừng lại. Đức Giêsu nói: 'Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy!' Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Đức Giêsu trao anh ta cho bà mẹ. Mọi người đều kinh sợ và tôn vinh Thiên Chúa rằng: 'Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người'. Lời này về Đức Giê-su được loan truyền khắp cả miền Giu-đê và vùng lân cận".

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là, bình thường, nhất là theo chiều hưóng của Phúc Âm Nhất Lãm, Chúa Giêsu làm phép lạ khi thấy có đức tin nơi con người ta nói chung và nơi thỉnh nguyện nhân nói riêng. Nhưng ở trong trường hợp của bài Phúc Âm hôm nay, phép lạ hồi sinh Người làm cho cậu con trai của bà mẹ góa hoàn toàn do Người tự ý, chứ bà mẹ của người chết không hề ngỏ ý xin hay tỏ đức tin gì hết.

Xét cho cùng thì dù Chúa Giêsu làm phép lạ khi thấy đức tin nơi con người hay tự làm phép lạ cả hai đều để tỏ mình ra. Theo Phúc Âm của Thánh ký Gioan thì thường Người tỏ mình ra để cho con người nói chung và môn đệ của Người nói riêng tin vào Người. Bởi vì, Người "là ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12). Mà ánh sáng không chiếu soi không còn là ánh sáng nữa. Bởi thế, Người luôn phải đi bước trước, ở chỗ tự động tỏ mình ra bằng những "dấu lạ / sign" (từ ngữ được Thánh ký Gioan sử dụng thay từ ngữ "phép lạ - micracle" được Phúc Âm Nhất Lãm sử dụng).

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Luca cũng cho thấy trường hợp Chúa Giêsu tự động tỏ mình ra, qua sự kiện Người làm cho đứa con trai duy nhất của người mẹ góa hồi sinh. Thế nhưng, tại sao Người lại tự động làm phép lạ hồi sinh đứa con bà mẹ góa này, nếu không phải, như bài Phúc Âm cho biết: "Trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương".

Ở đây, qua câu Phúc Âm này, Thánh ký Luca, một người ngoại trở lại và viết Phúc Âm cho dân ngoại theo chiều hướng của Lòng Thương Xót Chúa, đã ghi nhận được cả tấm lòng đầy cảm thương của Chúa Giêsu như thế, như thể chính ngài đang có mặt vào lúc bấy giờ. Nhưng tại sao khi làm các phép lạ khác vào những lần khác không thấy vị Thánh ký này thêm một câu tương tự như thế: "Trông thấy ... Chúa chạnh lòng thương".

Trông thấy ai? - "Trông thấy bà", chứ không phải trông thấy quan tài của đứa con trai duy nhất của bà, thì Chúa Giêsu cảm thấy thế nào? - "chạnh lòng thương". Tại sao vậy? Thánh ký Luca đã gián tiếp trả lời ở ngay câu trước đó: "mẹ anh ta lại là một bà goá" cũng như câu sau đó Chúa Giêsu trấn an thông cảm với bà, một cử chỉ hiếm quí hầu như Người chưa làm với ai bao giờ: "Bà đừng khóc nữa!"

Phải chăng Chúa Giêsu "trông thấy bà, Chúa chạnh lòng thương", kèm theo cử chỉ hết sức đặc biệt với người mẹ góa này bằng lời an ủi trấn an: "Bà đừng khóc nữa!", là vì bấy giờ cảnh tượng người mẹ góa đưa xác đứa con trai duy nhất của bà đã gợi lên nơi Người hình ảnh về Mẹ của Người, người mẹ góa có một người con trai duy nhất là Người, trong tương lai, cũng trải qua hoàn cảnh y như của bà goá thành Nain này, khi Người là con trai duy nhất của Mẹ qua đời ở Sọ Trường trên Đồi Canvê? Nếu đúng như thế thì phép lạ Người hồi sinh cho đứa con trai của bà mẹ góa thành Naim này là dấu tiên báo về Người Mẹ Đồng Công của Người trong cuộc Vượt Qua với Người vậy.

(Không ngờ bài Phúc Âm hôm nay, trong chu kỳ phụng vụ Năm A, lại trùng ngày và rất thích hợp với Lễ Mẹ Đau Thương 15/9 năm 2015 và 2020, nếu đọc bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan 19:25-27, về sự kiện Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá của Chúa Giêsu Con Mẹ).

Sự kiện Chúa Kitô là Vị Mục Tử Nhân Lành "chạnh lòng thương", thương từng con chiên của mình, nhất là những con chiên bị thương tích trong tâm hồn, như thương người mẹ góa trước cái chết của người con trai duy nhất trong bài Phúc Âm hôm nay, cần phải trở thành mô phạm trọn lành và tối cao cho thành phần mục tử được Người tuyển chọn làm môn đệ tông đồ của Người cũng như thành phần thừa kế các vị.

Bởi thế nên trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thánh Phaolô đã nói đến các vai trò khác nhau trong Giáo Hội, cả về phẩm trật lẫn đặc sủng như sau: "Có những người Thiên Chúa đã thiết lập trong Hội thánh, trước hết là các Tông đồ, thứ đến là các tiên tri, thứ ba là các tiến sĩ. Kế đến là quyền làm phép lạ, các ơn chữa bệnh, các việc từ thiện, quản trị, nói nhiều thứ tiếng. Vậy tất cả mọi người là Tông đồ ư? Tất cả là tiên tri ư? Tất cả là tiến sĩ ư? Tất cả được ơn làm phép lạ ư? Tất cả được ơn chữa bệnh ư? Tất cả nói nhiều thứ tiếng ư? Tất cả được ơn diễn giải ư?"

Tuy nhiên, hình như bằng ấy vai trò, cả về phẩm trật lẫn đặc sủng đưoơc ngài liệt kê ấy vẫn chưa đủ, do đó vị tông đồ dân ngoại này vẫn khuyên những ai được ban cho các vai trò ấy rằng: "anh em hãy cần mẫn sao cho được những ân điển cao trọng hơn" - đó là ẩn điển nào? Phải chăng đó là ơn được biết phục vụ hơn là hưởng thụ, nhắm đến mối hiệp thông trong Giáo Hội trước hết và trên hết, theo tác động của Chúa Thánh Thần, hơn là chia rẽ theo bè phái và cạnh tranh nhau, như đã từng xẩy ra ở giáo đoàn này. Ngài đã khuyên ở đoạn đầu của Bài Đọc 1 hôm nay rằng:

"Anh em thân mến, như thân xác là một, mà có nhiều chi thể, và tất cả các chi thể tuy nhiều, nhưng chỉ là một thân xác, thì Chúa Kitô cũng vậy. Vì chưng, trong một Thánh Thần, tất cả chúng ta chịu phép rửa để làm thành một thân xác, cho dầu Do-thái hay Hy-lạp, tự do hay nô lệ, và tất cả chúng ta cùng uống trong một Thánh Thần. Vì thân xác không chỉ gồm một chi thể, mà là nhiều chi thể".

Nếu chỉ sống vì Chúa và cho Chúa, trong Cộng đồng Dân Chúa là Giáo Hội như thế, thì từng phần tử trong Nhiệm Thể Giáo Hội mới có thể chung tiếng rằng: "Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi", như trong Thánh Vịnh 99 ở Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy phụng sự Thiên Chúa với niềm vui vẻ! Hãy vào trước thiên nhan vơi lòng hân hoan khoái trá.

2) Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa, chính Người đã tạo tác thân ta và ta thuộc quyền sở hữu của Người. Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi.

3) Hãy vào trụ quan nhà Người với lời khen ngợi, vào hành lang với khúc ca vui; hãy tán dương, hãy chúc tụng danh Người.

4) Vì Thiên Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín Người còn tới muôn thế hệ.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

TN.XXIVL-3.mp3

Ngày 15 tháng 9

Lễ Ðức Mẹ Sầu Bi

Lễ Nhớ

Đức Mẹ đứng gần bên thánh giá

(Phụng Vụ Giờ Kinh Sách 15/9)

Trích bài giảng của thánh Bê-na-đô, viện phụ.

Cuộc tử đạo của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, chúng ta biết được là nhờ lời tiên báo của ông già Si-mê-ôn, cũng như chính bài tường thuật cuộc Thương Khó của Chúa. Về Hài Nhi Giê-su, ông già nói rằng : Cháu sẽ là dấu hiệu bị người đời chống báng, còn bà -ông nói với Đức Ma-ri-a- bà sẽ bị nát ruột nát gan như bị lưỡi gươm đâm thâu.

Vậy lạy Mẹ diễm phúc, một lưỡi gươm đã đâm thâu lòng Mẹ. Lưỡi gươm ấy không thể đâm vào thân con của Mẹ mà một trật không đâm thâu lòng Mẹ. Thật đúng, Chúa Giê-su, Con của Mẹ tuy là của tất cả mọi người, nhưng đặc biệt là riêng của Mẹ ; sau khi trút hơi thở cuối cùng, Người đã không bị lưỡi gươm tàn bạo đâm thấu lòng. Lưỡi gươm đó không tha cho một người đã chết mà nó không còn làm hại được nữa, nó đã mở sườn Người ra ; nhưng chính lúc đó, nó lại đâm thâu lòng Mẹ. Linh hồn của Người, chắc chắn không còn đó nữa, nhưng tâm hồn của Mẹ không tránh đâu được. Lòng Mẹ đã bị đau khổ đâm thâu, vì vậy, chúng con thật có lý mà tuyên bố rằng Mẹ còn hơn cả vị tử đạo, bởi vì nỗi đau do việc Mẹ cùng chịu khổ chắc chắn đã vượt quá sự đau khổ trong thân xác. Câu : Thưa Bà, đây là con Bà, đối với Mẹ, chẳng còn hơn một lưỡi gươm và đã chẳng đâm thâu lòng Mẹ cùng đạt tới chỗ phân cách tâm với linh sao ? Ôi cuộc trao đổi kỳ lạ ! Thánh Gio-an đã được trao cho Mẹ để thế chỗ Chúa Giê-su. Người tôi tớ thế chỗ chủ, người môn đệ thế chỗ thầy, con ông Dê-bê-đê thế chỗ Con Thiên Chúa, một người phàm thay vì Thiên Chúa thật. Làm sao nghe lời này, lòng Mẹ đầy âu yếm không bị đâm thâu, trong lúc chúng con, dù lòng chai dạ đá mà chỉ nhớ tới lời đó thôi, cũng cảm thấy lòng mình tan nát ?

Thưa anh em, anh em đừng ngạc nhiên khi Đức Ma-ri-a được gọi là vị tử đạo trong tâm hồn. Có ngạc nhiên chăng là kẻ quên lời thánh Phao-lô nói rằng một trong những tội tày trời của dân ngoại là vô tâm bạc tình. Một tội như thế thật xa lạ đối với lòng dạ Đức Ma-ri-a. Ước gì tội đó cũng xa lạ đối với lòng dạ các tôi tớ mọn hèn của Mẹ.

Biết đâu có kẻ chẳng nói : Nào Mẹ lại không biết trước Chúa Giê-su phải chết sao ? - Dĩ nhiên là biết. Nào Mẹ chẳng hy vọng Người sẽ sống lại ngay sao ? - Dĩ nhiên, với tất cả lòng tin. Và dù vậy, Người cũng đau khổ khi thấy Con mình bị đóng đinh, phải thế không ? - Phải, và đau khổ ghê gớm. Này người anh em, bạn là ai ? Khôn ngoan của bạn ở đâu mà bạn lại ngạc nhiên vì Đức Ma-ri-a cùng chịu thương khó hơn là vì Đức Giê-su, Con của Người chịu thương khó ? Về phần xác, Con của Mẹ đã chết, còn Mẹ, Mẹ đã chẳng chết trong tâm hồn với Con sao ? Chính tình thương đã khiến Chúa Ki-tô chịu thương khó, và không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của Người. Và kể từ đây, không có tình thương nào sánh nổi với tình thương đã khiến Đức Ma-ri-a cùng chịu thương khó với Con của Người.

--

 
MỖI NGÀY MỘT DÂU KINH THÁNH PDF Print E-mail

MỘT NGÀY MỘT CÂU KINH THÁNH - NGÀY 14-9-2020

-CHÚA GIÊ-SU NÓI VỚI ĐÁM đông: "TÔI NÓI CHO CAC ÔNG HAY: NGAY CẢ TRONG DÂN IT-RA-EN, TÔI CŨNG CHƯA THẤY MỘT NGƯỜI NÀO CÓ LÒNG TIN MẠNH NHƯ THẾ!" (Luca 7, 9)

-Bạn và tôi cần có đức tin bằng hành động khi mình và người thân gặp tại nạn. Vì Chúa sẵn sàng chữa lành bệnh cho ta.

--------------------------

 
THÂN TAM MẠNH KHỎE - TUỔI GIÀ THAN KHÔ PDF Print E-mail

Nhon Nguyen
Sun, Sep 13 at 8:43 PM
Tuổi già than khổ!

Sanh, lão, bệnh, tử khổ

Tuổi già làm sao không khổ

Biết dzậy nên...đừng than

Cứ sống hồn nhiên như mình là thế

Đừng săm soi da nhăn

Răng rụng hay còn

Thấy thích ăn gì thì cứ ăn

Khi buồn rưng rưng nước mắt

Khi con cháu tỏ lòng hiếu thuận thì vui

Chúng hỗn hào thì...chửi

Có thân thì tự lo

Như ngày còn trai trẻ

Xông pha trường danh lợi

Ngày nay, tuổi già cũng như dzậy

Tự mình tìm nguồn vui sống

Ngồi than già chẳng ích gì

Khi liệt nhược vô nhà dưỡng lão

Đó là nơi đến tự nhiên

Như nhà quàn khi chết

Đâu phải tui nói ngang

Đó là sự thật trần thế

Như kinh Phật dạy

Trông mong tuổi già vẫn khương kiện

Trông mong con cháu phụng dưỡng

Không được sanh phiền muộn

Đó là tự mình trói buộc

Kinh Phật nói:

Còn cầu, còn khổ. Không cầu mới an vui

Tuổi già sống như tuổi già

Đó là " Tùy thuận Duyên giác "

Có một bửa nói về bệnh tật

Con gái tôi nhìn ba với ánh mắt thương cảm

Tôi thấy lòng vui sướng lâng lâng

Tình thương và lòng hiếu thuận là đây!

Chạy tìm cầu nơi đâu nữa?

Nguyễn Nhơn

( Cho con gái Chi Mỹ )
Tuổi già: Đối thoại Đông - Tây

toithichdoc.blogspot.com

Ông lão châu Á nói: "Con của tôi thật sự là không có lương tâm!"

Ông lão châu Âu: "Có chuyện gì vậy ông?"
Ông lão châu Á nói: "Con tôi hỏi tôi có nguyện ý đến ở viện dưỡng lão không?"
Ông lão châu Âu: "Viện dưỡng lão rất tốt mà, tôi cũng đang ở đó".

Ông lão châu Á: "Thật vậy sao? Nơi đó mà ông cũng đến được sao?"
Ông lão châu Âu: "Tại sao lại không đi chứ?".
Ông lão châu Á: "Nơi đó chỉ dành cho những người không có con cái thôi. Nếu tôi tới đó, nhất định sẽ bị bạn bè chê cười, tổn thọ mất".

Ông lão châu Âu: "Không đúng đâu. Khi đã có tuổi, ở trong nhà dưỡng lão là thuận tiện nhất, sao lại có thể bị chê cười được chứ?"
Ông lão châu Á: "Đến một độ tuổi nhất định, thường thích ở cùng với con cháu, cảm nhận tình cảm gia đình. Sống trong viện dưỡng lão, cô đơn tịch mịch, thật đáng thương lắm".

Ông lão châu Âu xua tay: "Ở cùng con cái sao? Vậy không được đâu, tôi mà ở cùng con cháu quá 2 tuần sẽ không thoải mái, chịu không được".
Ông lão châu Á: "Ở cùng con cháu mình chẳng phải rất vui vẻ sao, sao lại không thoải mái chứ?"

Ông lão châu Âu: "Con của tôi 18 tuổi đã ra ngoài sống độc lập rồi, nó trở về nhà ở mấy ngày tôi rất hoan nghênh. Nếu nó ở trong nhà lâu, còn mang theo vợ con, sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của tôi".

Ông lão châu Á: "Tôi thật không hiểu, tại sao các ông lại thiếu tình cảm đến thế, chưa gì đã đuổi con cái ra khỏi nhà, lại cho bọn chúng vay tiền đóng học phí. Khó trách con cái các ông đều đưa cha mẹ vào viện dưỡng lão".

Ông lão châu Âu: "Con cái 18 tuổi là đã trưởng thành rồi, nên tự lập. Cho vay tiền đóng học phí, là tự chúng lựa chọn. Nếu như chúng muốn ở trong nhà, chúng tôi cũng không có ý kiến gì".

Ông lão châu Á: "Không có ý kiến? Vừa rồi ông chẳng nói con cái ở trong nhà lâu thì cảm thấy khó chịu đấy thôi?".
Ông lão châu Âu: "Tôi nói là, nếu chúng mang theo vợ con đến ở thời gian lâu, cuộc sống của tôi sẽ bị ảnh hưởng".

Ông lão châu Á: "Vậy ông ở lâu trong nhà chúng, chẳng phải không cần đến viện dưỡng lão rồi?".
Ông lão châu Âu nói dứt khoát: "Vậy không được, đến đó vài ngày thì còn được, nhưng vượt quá 2 tuần tuyệt đối không thể được".

Ông lão châu Á: "Ông thật là kỳ quái, cái này cũng không được, cái kia cũng không xong. Chẳng lẽ cứ phải ở viện dưỡng lão mới chịu sao?".

Ông lão châu Âu: "Chúng ta có cuộc sống riêng, con cái cũng có cuộc sống của chúng. Nếu chúng ta ở viện dưỡng lão, có thể kết bạn được với rất nhiều người, nếu sinh hoạt có gì phiền toái, đều có nhân viên chuyên nghiệp hỗ trợ. Chúng ta ở riêng ra rất tự do, không phải sao?"

Ông lão châu Á: "Lời của ông nghe thật sảng khoái. Nhưng ông nuôi con tới năm 18 tuổi, chúng đã báo đáp được cho ông cái gì chưa?"
Ông lão châu Âu: "Báo đáp ư? Báo đáp cái gì?"

Ông lão châu Á: "Đương nhiên là đưa ông về ở cùng một nhà, cho ông an hưởng lúc tuổi già rồi. Dù sao ông vào nhà dưỡng lão, thì chẳng được hưởng phúc gì. Con ông có cho ông tiền không?"
Ông lão châu Âu: "Cho tôi tiền ư? Tại sao?"

Ông lão châu Á: "Thì để biểu thị lòng hiếu thảo"
Ông lão châu Âu: "Không, không, không! Tôi không cần con cái cho tiền. Chúng có thể trả nợ hết các khoản đã vay, còn tiền dư thì nghỉ ngơi an dưỡng, tôi vậy là đã vui lắm rồi, tôi không cần chúng cho tiền".

Ông lão châu Á: "Tôi thấy con của ông thật vô tâm quá, một chút trách nhiệm cũng không có".
Ông lão châu Âu: "Trách nhiệm sao? Con của tôi đối với tôi không có trách nhiệm gì cả".

Ông lão châu Á: "Không có trách nhiệm ư? Nếu như ông không có tiền, liệu ông có cần con cái trông nom không?"
Ông lão châu Âu: "Tôi có lương hưu, hơn nữa nhà của tôi cũng đã cho thuê, tôi có đủ tiền dưỡng lão".

Ông lão châu Á: "Nếu như ông có bệnh, chẳng lẽ không cần con cái chăm sóc sao?".
Ông lão châu Âu: "Nếu như tôi có bệnh, viện dưỡng lão sẽ đưa tôi đi gặp bác sĩ".
Ông lão châu Á: "Nếu ông vào bệnh viện, cần người ở cạnh giường chăm sóc, chẳng lẽ không phải con cái ông sao?"

Ông lão châu Âu: "Người châu Âu chúng tôi không có kiểu con cái trực bên giường. Chúng tôi chỉ cần con cái tới thăm, là đã thấy vui rồi".
Ông lão châu Á: "Nếu ông nằm viện không trả nổi tiền thuốc men, chẳng lẽ không phải con cái ông phải trả sao?".

Ông lão châu Âu: "Chúng tôi nằm viện miễn phí, không tốn tiền".
Ông lão châu Á: "Trời ơi! Nuôi con dưỡng già đối với người châu Âu các ông xem ra hoàn toàn không thích hợp".

Ông lão châu Âu: "Nuôi con dưỡng già là sao? Chúng tôi sinh con, là vì yêu chúng, chưa bao giờ trông cậy con cái phải báo đáp gì lúc tuổi già. Con cái còn có rất nhiều việc phải hoàn thành, phải cố gắng làm việc để trang trải cuộc sống cho gia đình nhỏ, cũng cần hưởng thụ cuộc sống".

Ông lão châu Á: "Tôi cũng yêu con mình, tôi cũng biết chúng đang ở giai đoạn rất vất vả. Cho nên tôi mới tình nguyện chăm sóc con cho chúng. Nhưng tôi đâu ngờ, chúng thậm chí còn muốn đưa tôi vào viện dưỡng lão".

Ông lão châu Âu: "Ông còn giúp trông con cho chúng sao? Than ôi, thật không thể hiểu được".
Ông lão châu Á: "Tại sao trông con giúp chúng lại không thể hiểu được?".

Ông lão châu Âu: "Trông con là chuyện của cha mẹ, đâu có quan hệ gì tới ông chứ?"
Ông lão châu Á: "Con cái phải đi làm kiếm tiền, tôi dù sao cũng đã về hưu, không có việc gì làm, giúp chúng một chút có sao đâu".

Ông lão châu Âu: "Tại sao không đi bộ, thư giãn, uống coffee, chơi bóng, đọc sách, làm những việc mình yêu thích?".
Ông lão châu Á: "Chăm sóc cháu trai, chúng tôi thấy rất thuận ý".

Ông lão châu Âu: "Điều này chẳng khác nào đánh mất cuộc sống của mình. Chúng ta đã chăm sóc con cái, còn những đứa cháu là không phải trách nhiệm của chúng ta".
Ông lão châu Á: "Tôi biết mà, các ông từ sớm đã đuổi con cái ra khỏi nhà, đến cháu trai cũng khôn muốn bế. Ông không nói đến tình thân, ông quá ích kỷ, khó trách ông chỉ có thể vào viện dưỡng lão".

Ông lão châu Âu: "Nếu tôi làm ngược lại thế thì chính là đã hồ đồ rồi. Ông vì con trai mà đi trông cháu, giống như không còn cuộc sống của mình, đây là dưỡng già sao? Quan niệm mỗi nước có khác nhau, đối với viện dưỡng lão cách nghĩ cũng bất đồng. Cha mẹ cũng có cuộc sống của mình, khi về già, con cái nên để cha mẹ được tự do".

Virus-free. www.avast.com

--

 

 
NHỮNG BÀI VỀ ĐỨC MẸ - LỄ MẸ SẦU BI 15-9 PDF Print E-mail

DM Tran
Sun, Sep 13 at 7:20 PM

MẸ SẦU BI DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ

Trần Mỹ Duyệt

Nếu có tấm hình nào diễn tả được sự đau khổ của một người mẹ, thì đó là tấm hình chụp hoặc vẽ khi bà đang ngồi bất lực nhìn con hấp hối và chết trên tay của bà! Trong Phúc Âm, Thánh Gioan cũng đã chụp được những khoảnh khắc về một bà mẹ. Bà rất đau khổ theo con trên đường tới pháp trường, chứng kiến con bị đóng đinh, và đứng dưới chân thập giá để nhìn người ta dùng đòng đâm thấu trái tim của con bà, rồi đau đớn ôm lấy xác con trong vòng tay của mình (x. Gioan 19: 17-42). Người đàn bà đau khổ đó không ai khác hơn là Đức Trinh Nữ Maria, người Mẹ của chúng ta.

Linh mục Kim Long với cảm xúc phong phú của một nhạc sỹ cũng đã ghi lại hình ảnh bà mẹ ấy qua những nốt nhạc của ngài:

Mẹ đứng đó khi hoàng hôn tím màu. Nhạc thương trầm buông hắt hiu đồi cao u hoài loang máu đào. Con Chúa đau thương treo trên thập giá, hiến thân vì nhân loại tội tình. Mẹ đứng đó tâm hồn tê tái sầu, đồng công cùng Con dấu yêu, vì thương nhân loại bao khốn cùng. Xin dẫn đưa bao tâm hồn lạc hướng về bên Mẹ, Mẹ ơi.

1. Hỡi ai qua đường ngừng bước đây mà chiêm ngắm: Chúa chí tôn cam chịu muôn nỗi khổ đau. Vì thương toàn nhân loại muôn chốn muôn đời. Ngày đêm khóc than mong chờ vinh phúc quê trời.

2. Ngước trông Mẹ lành thành kính dâng lời kêu khấn. Giữa thế gian khổ sầu xin hãy ủi an, để con hằng trung thành theo Chúa trọn đời. Ngày mai sáng tươi bên Mẹ ca khúc khải hoàn.

(Mẹ Đứng Đó. Lm. Kim Long)

Để tưởng nhớ đến người Mẹ này, và để ghi lại những biến cố đau thương trong cuộc đời của Người, Giáo Hội đã xưng tụng Mẹ bằng nhiều tước hiệu khác nhau: Mẹ Sầu Bi, Mẹ Đau Thương, Mẹ Bẩy Sự, Mẹ Bị Đâm Thâu. Lễ kính ngày 15 tháng 9. Và cũng được tôn kính vào Thứ Sáu trước Thứ Sáu Tuần Thánh.

7 Niềm Đau Của Mẹ

Cuộc đời Đức Mẹ đã được tiên tri Simêon nói trước khi Thánh Giuse và Mẹ dâng Hài Nhi Giêsu trong Đền Thánh Giêrusalem: "Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà" (Lc 2:25). Lời tiên tri ấy cũng đã được diễn tả qua ngòi bút của cả 4 thánh sử:

1.Lưỡi gươm tiên tri của Simêon (Lc 2:34-35).

2.Đưa con trốn qua Ai cập (Mt 2:13-15).

3.Lạc mất Con trong Đền Thờ Giêrusalam (Lc 2:41-51).

4.Gặp Con trên đường Thánh Giá (Đàng Thánh Giá nơi thứ 4).

5.Nhìn Con chịu đóng đinh trên đồi Calvary (Mt 27, Mr 15, Lc 23, Gn 19).

6.Nhìn Con chịu đâu thâu và ẵm xác con sau khi hạ khỏi Thánh Giá (Gn 19:31-37).

7.Nhìn Con bị táng trong huyệt mộ (Mt 27, Mr 15, Lc 23, Gn 19).

Nguồn Gốc Lòng Sùng Kính

Để bày tỏ lòng tôn kính và chiêm niệm những nỗi đau của Đức Mẹ, các tín hữu từ xa xưa đã có những thực hành mà vẫn còn kéo dài tới hôm nay.

-Các tín hữu Tây Phương

Từ sớm, năm 1232, có bẩy thanh niên ở Tuscany đã thành lập Dòng Servite cũng được gọi là Servite Friars hoặc Dòng Tôi Tới Đức Mẹ. Năm năm sau, Dòng đã lấy việc tôn sùng Mẹ Maria Sầu Bi đứng dưới chân Thánh Giá, như việc sùng kính chính của dòng. 1 Lòng sùng kính này từ từ được phát triển qua những cách thức thực hành như: Lần Hạt 7 Sự Thương Khó Đức Mẹ, Hội Áo Đức Bà, Tuần Cửu Nhật Kính Mẹ Sầu Bi.

Trải qua hàng thế kỷ, nhiều hình thức tôn sùng, và ngay cả các dòng tu cũng được thành lập để tỏ lòng yêu mến Đức Mẹ. Tại Việt Nam, một dòng nam đã được Cha Đaminh Maria Trần Đình Thủ sáng lập vào ngày 2 tháng 2 năm 1953 tại Liên Thủy, Bùi Chu mang tên Dòng Đồng Công. Ngày nay dòng được đổi tên thành Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc. Ngoài dòng mẹ tại Việt Nam, dòng có một tỉnh dòng ở Hoa Kỳ, trụ sở tại Carthage, MO. Tại đây hàng năm có tổ chức Đại Hội Thánh Mẫu quy tụ hàng chục ngàn tín hữu khắp nước Mỹ và năm châu về tôn sùng và đền tạ Trái Tim Đức Mẹ.

-Tín Hữu Đông Phương

Một tấm hình vẽ về Đức Mẹ được cả các tín hữu Công Giáo Tây Phương và Chính Thống Giáo sùng kính, gọi là "the Softening of Evil Hearts" hay "Simeon's Prophecy" (Lời Tiên Tri của Simêon). Tấm ảnh vẽ Đức Nữ Trinh Maria trong giây phút nghe Simêon nói: "Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà...(Luke 2:35) với đôi tay dâng cao trong tư thế cầu nguyện và 7 lưỡi đòng đâm thâu trái tim. 2

Đây là một trong những bức vẽ có nguồn gốc về lòng sùng kính Mẹ Sầu Bi, cùng với điệp khúc "Rejoice, much-sorrowing Mother of God, turn our sorrows into joy and soften the hearts of evil men!" 3 được dùng để ca tụng sự hiệp thông của Đức Mẹ với những đau khổ của Chúa Giêsu Con Mẹ phải chịu vì tội lỗi thế gian.

Phụng Vụ Đức Mẹ Sầu Bi

Lễ Đức Mẹ Sầu Bi được phổ biến vào thế kỷ XII, với nhiều tước hiệu khác nhau. Một số tài liệu cho rằng lễ này có nguồn gốc từ thế kỷ XI, đặc biệt trong các Dòng Bênêđíctô. 4

Một bàn thờ đầu tiên dâng kính Đức Mẹ Đau Thương (the Mater Dolorosa) được thiết lập vào năm 1221 tại đan viện Cistercian ở Schönau, nước Đức. Thánh lễ kính Đức Mẹ Sầu Bi chính thức được thiết lập do Công Đồng Cologne năm 1423. Nó được cử hành vào Thứ Sáu sau Chúa Nhật III sau Phục Sinh và có tên là Commemoratio angustiae et doloris B. Mariae V. Mục đích là để kính nhớ sự đau thương của Đức Maria trong khi Chúa Giêsu bị đóng đinh và chết trên thập giá. Trước thế kỷ XVI, lễ này chỉ giới hạn trong các giáo phận của Bắc nước Đức, Scandinavia, và Scotland. 1

Theo cha William Saunders, năm 1482, lễ Mẹ Sầu Bi được ghi trong sách Thánh Nhạc Roma với tước hiệu Our Lady of Compassion, nhấn mạnh tình yêu cao cả Mẹ Rất Thánh của chúng ta đã phải chịu trong cuộc thương khó của Con. Chữ "compassion" - từ bi, thương xót - nguyên gốc từ tiếng Latin có nghĩa là "to suffer with" - đau khổ với. 4

Sau năm 1600, lễ Mẹ Sầu Bi được cử hành rộng rãi ở Pháp và được mừng vào Thứ Sáu trước Chúa Nhật Lễ Lá. Năm 1668, một thánh lễ Đức Mẹ Bảy Sự được thành lập vào Chúa Nhật thứ ba trong tháng 9, riêng cho dòng Tôi Tớ Đức Mẹ. 1

Do sắc lệnh ban vào ngày 22 tháng Tư, 1727 của Đức Thánh Cha Bênêđíctô XIII, thánh lễ được đưa vào Giáo Hội Latinh dưới tước hiệu "Septem dolorum B.M.V."

Năm 1814 Đức Giáo Hoàng Piô VII ghi lễ này vào lịch Roma. Thánh Giáo Hoàng Piô X đã rời lễ vào ngày 15 tháng 9 một ngày sau lễ Suy Tôn Thánh Giá 5 cho đến ngày nay.

Năm 1960, Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII đã đặt lễ này vào bậc lễ nhớ (commemoration).

Stabat Mater

Mỗi lần tham dự lễ Mẹ Sầu Bi, là mỗi lần cảm thấy bồi hồi, xúc động và thương cho người Mẹ rất thánh khi đứng dưới chân thập giá với muôn vàn khổ đau, cay đắng. Mẹ đứng đó vì thương Con Mẹ và cũng vì thương cho nhân loại tội tình. Vì tội lỗi mà họ đã đóng đinh Con của Mẹ. Và cũng vì để cứu loài người khỏi tội mà Ngài đã cam chịu đóng đinh.

Hỡi muôn thần trời. Hỡi muôn tinh tú. Hỡi muôn loài tạo vật. Có hay chăng những giọt nước mắt đang tuôn chảy trên khuôn mặt đau khổ, và tấm lòng bị đâm thâu của Mẹ. Bài ca Tiếp Liên sau đây như đang nhắc nhở nhân loại về điều này:

1) Mẹ sầu bi tầm tã giọt châu, đang đứng bên cây Thập giá, nơi Con Người đã bị treo lên.

2) Một lưỡi gươm nhọn đã đâm qua tâm hồn Bà đang rên siết, đang sầu khổ và đau đớn.

3) Ôi đau buồn sầu khổ biết bao cho bà Mẹ đáng suy tôn / của một Người Con duy nhất!

4) Bà Mẹ hiền nhìn xem nỗi khổ hình của Người Con chí thánh, mà đau lòng thổn thức tâm can.

5) Ai là người không tuôn châu lệ khi nhìn thấy Mẹ Chúa Kitô trong cảnh cực hình như thế?

6) Ai có thể không buồn bã nhìn xem Mẹ Chúa Kitô đang đau khổ cùng với Con Người?

7) Mẹ nhìn thấy Chúa Giêsu vì tội dân mình mà khổ cực, và bị vùi giập dưới làn roi.

8) Mẹ nhìn Con mình dịu hiền như thế bị thống khổ lúc lâm chung, khi Người trút hơi thở cuối cùng.

9) Ôi lạy Mẹ là niềm yêu mến, xin cho con cảm thấy mãnh lực của đau thương, để cho con được khóc than cùng Mẹ.

10) Xin cho lòng con cháy lửa mến yêu, mến yêu Ðức Kitô là Thiên Chúa, để cho con có thể làm đẹp ý Người.

11) Ôi Thánh Mẫu, xin Mẹ làm ơn đóng vào lòng con cho thực mạnh / những vết thương của Ðấng bị treo thập giá.

12) Xin Mẹ cho con được chia phần thống khổ của Con Mẹ đã thương vong, đã khứng chịu cực hình vì con như thế.

13) Xin cho con được cùng Mẹ thảo hiếu khóc than, cùng Ðấng bị đóng đinh tỏ niềm thông cảm, bao lâu con còn sinh sống ở đời.

14) Con ước ao được cùng với Mẹ đứng bên cây Thập giá, và hợp nhất cùng Mẹ trong tiếng khóc than.

15) Ôi Ðức Trinh Nữ thời danh trong hàng trinh nữ, xin đừng tỏ ra cay đắng với con, xin cho con được cùng Mẹ chan hoà dòng lệ.

16) Xin cho con được mang sự chết của Ðức Kitô, được cùng Người thông phần đau khổ, và tôn thờ những thương tích của Người.

17) Xin cho con được mang thương tích của Người, cho con được say sưa cây thập giá và máu đào Con Mẹ đã đổ ra.

18) Ôi, Ðức Trinh Nữ, xin đừng để cho con bị lửa hồng thiêu đốt, nhưng được Mẹ chở che trong ngày thẩm phán!

19) Lạy Chúa Kitô, khi phải lìa bỏ cõi đời này, nhờ Ðức Mẹ, xin Chúa cho con được tới lãnh ngành dương liễu khải hoàn.

20) Khi mà xác thịt con sẽ chết, xin cho linh hồn con được Chúa tặng ban vinh quang của cõi thiên đường.

Lễ Mẹ Sầu Bi

15 tháng 9 năm 2020

_________

Wikipedia, the free encyclopedia

1. One or more of the preceding sentences incorporates text from a publication now in the public domain: Holweck, Frederick (1912). "Feasts of the Seven Sorrows of the Blessed Virgin Mary". In Herbermann, Charles (ed.). Catholic Encyclopedia. 14. New York: Robert Appleton Company. Retrieved 15 September 2016.

2. Churchly joy: Orthodox devotions for the church year by Sergeĭ Nikolaevich Bulgakov, Boris Jakim 2008 ISBN 0-8028-4834-6 pages 10-11.

3. Orthodox life, Volumes 54-55, Holy Trinity Monastery (Jordanville, N.Y.) page 7.

4. Saunders, William. "The Feast of Our Lady of Sorrows", Arlington Catholic Herald, 2000).

5. "Calendarium Romanum", Libreria Editrice Vaticana, 1969, p. 103.

------------------------------------

 
CAC BAI ĐỘC GIẢ GỞI TỚI - BỎ NỖI SỢ SAI LẦM PDF Print E-mail

Kim Vu
>
>
> BUÔNG BỎ NỖI SỢ SAI LẦM
>
>
>
> Gần đây trong một cuộc phỏng vấn trên đài phát thanh, phóng viên hỏi tôi câu hỏi sau: "Nếu cha ở trên giường chết, cha muốn để lại gì khi chia tay?" Câu hỏi làm tôi chưng hửng lúc đó? Tôi muốn để lại gì trong các lời nói cuối cùng của mình? Không có thì giờ để suy nghĩ, tôi khựng lại. Tôi muốn nói: "Đừng sợ. Sống nhưng không sợ. Đừng sợ chết. Nhưng nhất là đừng sợ Chúa!"
>
>
>
> Tôi là người công giáo từ trong nôi, cha mẹ tôi rất tuyệt vời, tôi được các cô thầy tận tâm dạy giáo lý, và tôi được ưu tiên học thần học trong các lớp học tốt nhất thế giới. Tuy nhiên, tôi đã phải mất năm mươi năm để thoát ra khỏi một số nỗi sợ trong đạo làm tôi bị tê liệt và để nhận ra Chúa là người duy nhất mà mình không được sợ. Tôi đã phải để một phần lớn đời mình để tin những lời Chúa nói hơn ba trăm lần trong Thánh Kinh và đó là những lời đầu tiên Chúa Giêsu nói với người Ngài gặp lần đầu tiên sau khi Ngài sống lại: Đừng sợ!
>
>
>
> Đó là cuộc hành trình năm mươi năm để tôi tin điều đó, để tin tưởng nó. Trong phần lớn cuộc đời, tôi đã sống trong nỗi sợ hãi sai lầm về Chúa và nhiều thứ khác. Khi còn nhỏ, tôi đặc biệt sợ sấm sét, mà trong đầu óc thơ bé của tôi, sấm sét cho thấy Chúa có thể dữ dội và đe dọa đến mức như thế nào. Về mặt tôn giáo, sấm sét là điềm báo cho chúng ta biết, chúng ta phải sợ. Cùng các nỗi sợ này, tôi còn nuôi dưỡng nỗi sợ cái chết, tự hỏi linh hồn đi đâu sau khi chết, đôi khi tôi nhìn về chân trời u tối sau khi mặt trời lặn và tự hỏi liệu những người đã chết có ở đâu đó ngoài kia không, tôi bị ám ảnh trong bóng tối vô tận này, vẫn đau khổ cho hoàn cảnh của họ. Tôi đã không có lý trong cuộc sống. Tôi biết Thiên Chúa là tình yêu, nhưng tình yêu này cũng là một công lý quyết liệt, đáng sợ và đòi hỏi.
>
>
>
> Các nỗi sợ hãi này vẫn âm thầm ở trong lòng tôi suốt tuổi vị thành niên. Năm 17 tuổi tôi quyết định đi tu, đôi khi tôi tự hỏi liệu tôi có tự do trong quyết định này không, hay do một nỗi sợ sai lầm. Tuy nhiên, bây giờ khi nhìn lại, với năm mươi năm sau, tôi biết đó không do nỗi sợ bắt buộc tôi, mà do một cảm nhận chân thực khi được gọi, ảnh hưởng của cha mẹ tôi và các nữ tu dòng Ursuline đã dạy tôi, rằng cuộc sống của mỗi người không phải là của họ, cuộc sống được kêu gọi phục vụ. Nhưng nỗi sợ tôn giáo vẫn mạnh mẽ trong tôi.
>
>
>
> Vậy, điều gì đã giúp tôi buông bỏ điều đó? Điều này không xảy ra trong một ngày hoặc một năm; Đó là kết quả tích tụ trong năm mươi năm với các mảnh ghép gom lại với nhau. Nó bắt đầu với cái chết của cha mẹ tôi khi tôi hai mươi hai tuổi. Sau khi chứng kiến mẹ và cha tôi qua đời, tôi không còn sợ chết. Đó là lần đầu tiên tôi không sợ một xác chết vì các thi thể này là của cha mẹ tôi. Nỗi sợ hãi của tôi về Chúa cũng giảm dần mỗi khi tôi cố gắng gặp Chúa với tâm hồn trần trụi trong lúc cầu nguyện và nhận ra tóc của mình sẽ không trắng bạc khi mình đứng trước mặt Chúa; vì vậy tôi không còn sợ. Nỗi sợ hãi của tôi cũng giảm khi tôi phục vụ người khác và hiểu Lòng Thương Xót Chúa khi tôi học và dạy thần học, hai lần chẩn đoán ung thư buộc tôi phải suy ngẫm về cái chết thực sự của chính mình, và như một số đồng nghiệp, gia đình và bạn bè đã hình thành cho tôi làm sao có thể sống tự do hơn.
>
>
>
> Về mặt đầu óc, một số người đặc biệt giúp đỡ tôi: John Shea đã giúp tôi nhận ra Chúa không phải là luật phải tuân theo, mà là năng lực đồng cảm vô tận, Ngài muốn chúng ta hạnh phúc; Robert Moore đã giúp tôi tin rằng Chúa đang thích thú nhìn chúng ta; Charles Taylor giúp tôi hiểu Chúa muốn chúng ta phát triển; các lời chỉ trích bài tôn giáo cay đắng của những người vô thần như triết gia Frederick Nietzsche đã giúp tôi thấy, nơi mà khái niệm riêng về Thiên Chúa và tôn giáo của tôi cần thanh tẩy nhiều; và người anh cả, một linh mục truyền giáo, đã làm xáo trộn thần học của tôi với những câu hỏi thiếu tôn kính như, loại Thiên Chúa nào muốn chúng ta sợ hãi Ngài? Các mảnh này mảnh kia đã ráp lại với nhau.
>
>
>
> Những lời nói cuối cùng nào là quan trọng? Chúng có thể có nhiều ý nghĩa hay không có bao nhiêu ý nghĩa? Những lời cuối cùng cha tôi nói với các con là "hãy cẩn thận, cẩn thận", cha tôi muốn nói đường từ bệnh viện về nhà trơn trợt trong tuyết và đá. Lời nói cuối cùng không phải lúc nào cũng để lại một thông điệp; nó có thể chỉ là lời tạm biệt hay tiếng thở dài đau đớn, kiệt sức không nghe được; nhưng đôi khi những lời này cũng là di sản của chúng ta.
>
>
>
> Có cơ hội để lại một vài lời cuối cùng cho gia đình, bạn bè, tôi nghĩ sau khi nói lời tạm biệt lần đầu tiên, tôi sẽ nói: đừng sợ. Đừng sợ sống, đừng sợ chết. Nhất là đừng sợ Chúa.
>
>
>
> Rev. Ron Rolheiser, OMI
>
>
>
> __._,_.___

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 2127