buy dapoxetine online dapoxetine dapoxetine online cheap dapoxetine buy cheap dapoxetine dapoxetine priligy priligy tablets dapoxetine at cvs dapoxetine effectiveness dapoxetine reviews side effects for dapoxetine dapoxetine for sale dapoxetine 100 mg priligy in the united states viagra with dapoxetine reviews dapoxetine without a doctors prescription dapoxetine without prescription Bài Mới
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2468
mod_vvisit_counterHôm Qua9864
mod_vvisit_counterTuần Này2468
mod_vvisit_counterTuần Trước47681
mod_vvisit_counterTháng Này133614
mod_vvisit_counterTháng Trước214058
mod_vvisit_counterTất cả11807499

We have: 123 guests online
Your IP: 54.198.52.82
 , 
Today: Sep 24, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)

Login Form





Bài Mới
CAM NGHIEM SONG # 71 = BAC AI XA HOI PDF Print E-mail

Cảm nghiệm Sống # 71
THỰC HÀNH BÁC ÁI - XÃ HỘI

Mỗi năm dịp lễ Giáng sinh về là ai cũng nghĩ tới đi thăm hỏi, ủy lạo, tặng quà lẫn nhau nhiều hơn. Đây là lúc tôi thực hành Lời Đức Giêsu nói trên thập giá: "Ta khát"(Ga 19,28), và thánh Phaolô nhắc nhở: "Anh em đừng nợ ai điều gì ngoài nợ Đức Yêu Thương." (Rom 13,8). Mẹ Têrêsa nói: Khi chúng ta yêu tha nhân với lòng mến Chúa, thì chúng ta được tràn đầy tình yêu, bình an và vui mừng bây giờ và mãi mãi. Đức Kitô nói: "Mỗi lần anh làm như thế cho người bé mọn nhất của Ta đây, là anh làm cho chính Ta vậy." (Mt 25,40)

A- Sau đây là ý nghĩa những việc tôi làm cho bệnh nhân, người nghèo khổ luôn có hai chiều là thể xác và tâm linh:
1- Không phải chỉ thăm nom, ủi an, cho của ăn; nhưng cũng phải đưa Lời Chúa đến nuôi sống tâm hồn cho họ nữa.

2- Không phải chỉ cho kẻ khát uống nước; nhưng còn cho họ kiến thức, sự thật, lẻ phải, công bình và tình thương.

3- Không phải chỉ cho người mình trần không áo quần mặc, nhưng còn cho họ phẩm giá, danh dự, quyền làm người nữa.

4- Không phải bạn chỉ lo cho họ nhà ở, nhưng còn cho họ một trái tim hiểu biết, sự săn sóc và lòng đùm bọc yêu thương.

5- Không phải chỉ săn sóc, thăm hỏi người ốm đau, người chết, kẻ yếu đuối về thể xác, mà còn cho họ sự sống tâm linh nữa.

B- Tôi nhận nhưng không, thì sẽ cho nhưng không:
1- Tất cả sức khỏe, thì giờ, gia đình, tài năng, tiền của là do Chúa ban (làm bởi bay, cho bởi Tao), nên tôi hãy chia sẻ cho người khác, mà không cần đòi một lời khuyến khích, cám ơn, hay trả công nào.

2- Tôi khiêm tốn làm những việc bác ái nhỏ cho anh chị em ốm đau, nghèo đói, đau khổ là đem bình an đến cho mọi người. Mẹ Têrêsa nói: "Công việc của yêu thương là công việc của nền hoà bình."
3- Tôi giúp đỡ, chia sẻ với những người đau yếu, khổ cực để họ cùng tôi hợp với sự đau khổ của Đức Kitô trên thập giá, đem lại cho ân sủng, bình an, hạnh phúc cho họ và toàn thể nhân loại .

C- Tôi phải thực hành yêu thương hôm nay:
1- Trong sứ mệnh phục vụ người bệnh tật và nghèo khổ, tôi gọi là cho họ những gì họ cần thiết hôm nay. Hôm nay có những người đau yếu, đói khát, trần truồng, không nhà và sắp chết.!

2- Hôm nay có những người cần đến bàn tay sưởi ấm, cần một lời nói, cần một nụ cười. Họ cần được cho bây giờ. Nên tôi phải cho họ ngay hôm nay. Vì để đến ngày mai là qúa trễ ! !

3- Tôi cần cho đi đến khi thấy mình bị thiếu thốn, thiệt thòi, khinh chê, lên án, bỏ rơi bởi người chung quanh. Như thế tôi mới nên giống Chúa Kitô trên Thập giá, Ngài nói "Thế là đã hoàn tất !" Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí." (Ga 19, 30)

Ưóc mong mỗi cá nhân, Ban Xã hội, Nhóm, Cộng đoàn, GX cùng nhắc nhau, thực hành sau mỗi Thánh Lễ, khi nghe lời chúc của Giám mục, Linh mục hay Phó tế: "Lễ xong, chúc anh chị em đi Bình an" hay Lễ đã xong, chúc anh chị em đi bình an để yêu thương và phục vụ Chúa ! (Mass is ended, go in peace love and serve the Lord !)
Thiết tưởng, mỗi Kitô hữu giữ đạo không phải chỉ thực hành dâng lễ trong nhà thờ là đủ, mà còn "lên đường" đem Lời Chúa ra thực hành bác ái cho tha nhân ngoài xã hội, đê làm chứng cho Chúa nữa.
Thật đúng như lời Đức Vua nói: "Mỗi lần các ngươi không làm như thế cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy." (Mt 25,45)

Phó tế: JB Nguyễn Văn Định * Mời thăm : www.ChiaseLoiChua.com

 
SONG VA CHIA SE LOI CHUA # = DTC VE NGAY SAU HET PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] Ngày tận thế
Anthony Quang Dinh

SẼ GÂY RA SỰ BÁCH HẠI RỘNG LỚN HƠN CHO NHỮNG KITÔ HỮU

ĐỨC THÁNH CHA BẦY TỎ
By Elise Harris - Vatican City, 11282013/12:34 pm (EWTN News/CN A)

Trong bài giảng theo ngày của Người, Đức Thánh Cha đã suy nịêm về ngày sau hết (tận thế) rằng đức tin sẽ bị gia tăng đẩy ra ngòai khỏi quảng trường công cộng và vì vậy sự bách hại những người có đạo Kitô là 'một lời đóan trước' về một đìêu phải xẩy ra.

Những lời bình lụân của Đức Thánh Cha nhằm vào những người đã tập trung trong nhà nguỵên của nhá khách thánh Martha của Vatican trong Thánh Lễ ngày 28 tháng 11.

Suy nịêm theo bài Phúc Âm của thánh Luca, trong đó Đức Giêsu nói về những thử thách và những lo âu sẽ nói trước vào ngày tận thế, Đức Thánh Cha giải nghĩa rằng khi Chúa ám chỉ đìêu này trong một đọan khác, "Người nói với chúng ta rằng nó sẽ xẩy ra sự xúc phạm thần thánh, (vật thiêng liêng) ở trong đền thờ."

Đìêu ấy sẽ xẩy ra "sự bất kính đối với những vật thiêng liêng, đến mọi người," người nói tíêp, và "nó sẽ xẩy ra sự ghê tởm, đìêu ấy sẽ xẩy ra sự tàn phá và các vật khíên người ta ghê tởm."

"Đìêu này nghĩa là gì ? Đức Thánh Cha hỏi những người tham dự Thánh Lẽ, trả lời, "Dìêu ấy sẽ xẩy ra tương tự nhự sự chíên thắng của hòang tử thế giới này: đáng bại Thiên Chúa."

"Dìêu ấy coi như vào khỏanh khắc sau cùng của tai họa, đìêu ấy coi như thể nó sẽ nắm quỳên thế gian này, nó sẽ chế ngự thế giới," DTC. đã nhận xét, nói thêm rằng vào lúc ấy chúng ta sẽ trở nên ý thức sự xúât hịên này, sự chế ngự Thiên Chúa sẽ bị tàn phá nhìêu hơn một đại thiên tai.

Những quỳên lực thế gian này tìm cách để trịêt hạ Thiên Chúa, DTC đã ghi nhận. cũng bỉêu hịên trong ước múôn đồng thời để giữ gìn tôn giáo như "một vấn đề riêng tư," nói ám chỉ về một sự thật mà ngày nay nhỉêu bỉêu tượng tôn giáo đã trở nên đìêu cấm kỵ.

Anh em phải tuân phục những mệnh lệnh của những quỳên lực thế gian, anh em có thể làm nhìêu vấn đề, những vấn đề xinh đẹp, nhưng không tôn thờ Thiên Chúa. Vịêc thờ phượng bị cấm, bị ngăn chặn. Dìêu này ở trung tâm của ngày tận thế."

Mồi lần chúng ta "vươn tới sự đầy đủ của thái độ ngọai đạo này," DTC tíêp tục "rồi thi sao nữa, người sẽ đến.... thực vậy CON Người sẽ đến ở trên đám mây với quỳên lực trọng đại và vinh quang."'

Những Kitô hữu chịu đau khổ trong những thời gian bách hại, thời gian ngăn cấm thờ phượng" vì nìêm tin của họ, xẩy ra một lời tiên báo về đìêu sẽ xẩy ra cho tất cả chúng ta," người đã làm cho người ta chú ý.

Tiên tri Đa-niên tường thụât trong bài đọc thứ nhất là người bị ném vào trong hang sư tử bởi vì ông không chịu từ bỏ đức tin. DTC Phanxicô khuýên khích những người hịên dịên đừng có sợ, kể rằng Thiên Chúa chỉ yêu cầu chúng ta trung thành và kiên nhẫn."

Trung tín như Đa-niên, người đã trung thành với Thiên Chúa của ông và tôn kính Người cho đến tận cùng. Và kiên nhẫn., bởi vì những sợi tóc ở trên đầu chúng ta sẽ không rụng xúông. Đức Chúa đã hứa nhự vậy.

Khuýên khích những người có mặt trong Thánh Lễ tíêp tục suy nịêm súôt cả tùân lễ về "bỏ đạo thông thường" này, đìêu ấy "được gọi là ngăn cấm vịêc thờ phụng," Đức Thánh Cha thử thách họ hãy tự hỏi bản thân họ "Tôi có làm vịêc thờ phượng Chúa không?" "Tôi có tôn kính Đức Giêsu Kitô, là Chúa không? Hay là một chút 50/50, Trong một cách nào đó đóng vai trò chơi hòang tử thế gian này không?"

"Hãy Thờ phượng cho đến cúôi cùng," Đức Thánh Cha kết lụân, " Bằng sự quả quýêt và trung tín: đây là ân hụê chúng ta cần phải cầu xin trong tùân này."

QQ. gõ xong 11282013/ 1:00pm

__._,_.___

 
DAO TAO MON DE # 75 = NGUOI MUC TU LY TUONG PDF Print E-mail

Chân dung người mục tử lý tưởng theo ĐTC Phanxicô
Nguyễn Minh Triệu. SJ11/25/2013
Chân Dung Người Mục Tử Lý Tưởng Theo ĐTC Phanxicô

Sau hơn 8 tháng trong cương vị Giáo Hoàng, qua các bài giảng, bài giáo lý, các buổi nói chuyện, và đặc biệt là qua lối sống và tinh thần phục vụ đầy yêu mến của mình, Đức Thánh Cha Phanxicô đã phác họa khá rõ nét chân dung của một vị mục tử lý tưởng.

Trước hết, người mục tử lý tưởng theo ĐTC Phanxicô phải là người gần gũi với đàn chiên của mình. Các ngài không sống tách biệt với người khác, không được xem mình là người "quản trị" quà tặng ân sủng Thiên Chúa. Tinh thần gần gũi và sẻ chia luôn đồng hành với sự thanh bần như Đức Thánh Cha đã giải thích cho các chủng sinh và tập sinh vào ngày 6 tháng 7: "Cha nói cho các con biết, cha thực sự buồn khi thấy một linh mục hay một nữ tu sở hữu một chiếc xe hơi hiệu mới nhất...Cha nghĩ rằng xe hơi cũng cần thiết vì nó giúp công việc được tiến triển nhanh hơn nhiều, và cũng để đến nơi cần đến...nhưng nên chọn một chiếc xe khiêm nhường thôi. Và nếu các con thích một chiếc xe đẹp, thì hãy nghĩ đến những trẻ em đang phải chết đói."

Trong lời khuyến dụ dành cho các giáo sĩ giáo phận Assisi trong cuộc thăm viếng ngày 4 tháng 10 vừa qua, ĐTC Phanxicô đã xin các linh mục hãy nhớ rõ không những tên của những người giáo dân trong giáo xứ, mà còn cả các con thú cưng của họ nữa. Đây chính là con đường giúp người mục tử gần gũi với đàn chiên của mình. Sự gần gũi này là hết sức cần thiết, vì chỉ khi gần gũi với người tín hữu, người mục tử mới có thể trao ban cho họ hương thơm của Đức Giê-su. Hơn nữa, để có thể trao ban thứ hương thơm ấy, các ngài phải để hương thơm của Đức Ki-tô thấm đượm nơi chính bản thân mình.

"Chính đây là điều tôi xin anh em: anh em hãy làm những mục tử với "hương thơm của đoàn chiên", hương thơm này phải được người ta cảm nhận; và thay vì làm những mục tử ở giữa đoàn chiên của mình, thì hãy làm những người thả lưới gom người. Đức Thánh Cha đã nói điều này trong bài giảng vào ngày 28 tháng 3 trong Thánh Lễ Dầu, ngài thêm rằng: "Dân chúng cám ơn chúng ta vì họ cảm thấy rằng chúng ta đã đưa vào lời cầu nguyện của mình những thực tại đời sống thường ngày của họ, những đau khổ và niềm vui, những lo âu và hy vọng. Và khi họ cảm thấy hương thơm của Đức Kitô, Đấng-Được-Xức-Dầu, đến với họ qua chúng ta, họ được khích lệ để ký thác cho chúng ta tất cả những gì họ ước muốn dâng lên Thiên Chúa: "Xin Cha cầu nguyện cho con, vì con có vấn đề này...", "Xin chúc lành cho con", "Xin cầu nguyện cho con", đó là dấu hiệu cho thấy dầu xức đã đạt tới gấu chiếc áo choàng, bởi lẽ nó đã biến thành lời cầu khẩn, lời khẩn cầu của Dân Thiên Chúa."

Kế đến, một vị linh mục là một người ở trong tình yêu, và các ngài phải luôn nhắc nhớ các tín hữu về tình yêu đầu tiên ấy, tình yêu của Đức Giê-su. Đặc tính chính yếu của một vị linh mục trong tình yêu chính khả năng quay về mối tình đầu ngang qua những kỷ niệm. Một Giáo Hội đánh mất ký ức là một Giáo Hội mang tính máy móc, Giáo Hội ấy không còn sức sống. Các linh mục phải là người công bố về lòng thương xót và sự tốt lành của Thiên Chúa luôn chờ đợi chúng ta.

Là một khí cụ của lòng thương xót của Thiên Chúa, các linh mục trao ban ơn tha thứ của Thiên Chúa thông qua Bí tích Hòa Giải. Trong bài giáo lý thứ 4 ngày 20 tháng 11 vừa qua, ĐTC cho chúng ta thấy chân dung của một cha giải tội. "Linh mục chính là khí cụ để tha thứ tội lỗi. Sự tha thứ của Thiên Chúa được trao ban cho chúng ta nơi Giáo Hội, và được thông chuyển cho chúng ta thông qua thừa tác vụ của một người anh em chúng ta. Các linh mục, cũng là một con người như chúng ta, các ngài cũng cần sự thương xót, để trở nên một khí cụ đích thực của lòng thương xót, trao ban cho chúng ta tình yêu vô hạn của Chúa Cha. Các linh mục cũng phải xưng tội, các giám mục cũng vậy: Tất cả chúng ta là tội nhân. Đức Thánh Cha cũng xưng tội 15 ngày một lần, bởi vì Đức Thánh Cha cũng là một tội nhân!"

"Công việc phục vụ của các linh mục trong sứ vụ này, phát xuất từ Thiên Chúa, để tha thứ tội lỗi, là một việc rất tế nhị, là một việc phục vụ rất tế nhị, và nó hệ tại ở việc trái tim của họ có bình an hay không; khi trái tim của vị linh mục bình an, họ không đối xử tệ với các tín hữu, nhưng với lòng nhân từ, yêu thương và thương xót; họ biết gieo vào trái tim của các tín hữu niềm hi vọng, và trên hết, họ hiểu rằng, anh chị em của mình đến tòa giải tội là để tìm kiếm sự tha thứ và họ làm điều đó như biết bao nhiêu người đã đến với Chúa Giê-su để được chữa lành. Vị Linh mục không có tinh thần ấy thì tốt hơn không nên ban bí tích Hòa giải, cho đến khi vị linh mục ấy biết sửa mình. Mọi tín hữu đều có quyền tìm các vị linh mục, những người phục vụ ơn tha thứ của Thiên Chúa."

Mặc dầu linh mục là người sống độc thân, nhưng các ngài phải là những người cha. Khao khát làm cha của một người nam là một khao khát sâu thẳm nơi mỗi người, Đức Thánh Cha giải thích về điều này trong thánh lễ tại nhà nguyện Marta vào ngày 26 tháng 6: "Khi một người đàn ông không có khao khát này, có gì đó thiếu nơi người đàn ông này". Linh mục cần cảm nghiệm được niềm vui của tình phụ tử để cảm nhận được sự viên mãn và trưởng thành, kể cả trong đời sống độc thân. Tình phụ tử hệ tại ở việc trao ban sự sống cho người khác. Đối với người mục tử, điều đó có nghĩa là trở thành một người cha thiêng liêng, người trao ban sự sống thiêng liêng. Ngoài ra, người cha là người biết bảo vệ con cái mình khỏi những nguy hiểm và trao cho con cái mình những điều tốt đẹp nhất. Như vậy, mọi linh mục cần phải xin ân sủng này: đó là trở thành người cha đích thực.

Trong cương vị Giám mục, người mục tử của Chúa cần thể hiện rõ nét hơn những đặc tính trên. Trong sứ điệp gửi cho các tham dự viên tại hội nghị Tân Phúc âm hóa ở châu Mỹ được tổ chức ở Mê-xi-cô, ĐTC mô tả vị Giám mục là một người mục tử biết tất cả con chiên của mình, từng người một. Với tình yêu và sự kiên nhẫn, ngài hướng dẫn họ và ở bên cạnh họ, điều này sẽ minh chứng cho tình mẫu tử của Giáo Hội và lòng thương xót của Thiên Chúa. Thái độ của người mục tử đích thực thì không phải là thái độ của viên chức hay công nhân, chủ yếu tập trung vào kỷ luật, quy tắc hay các bộ máy tổ chức. Thái độ ấy sẽ khiến vị Giám mục rời xa đàn chiên, không có khả năng giúp đỡ anh chị em mình gặp gỡ Chúa Ki-tô.

"Dân Thiên Chúa muốn vị Giám mục thay mặt Thiên Chúa trông nom mình, đặc biệt quan tâm đến việc giúp họ hiệp nhất và thăng tiến niềm hy vọng trong trái tim họ. Do đó, Giám mục cũng cần biết huấn luyện người linh mục có khả năng gần gũi và gặp gỡ. Họ phải là những người biết thắp lên ngọn lửa trong trái tim con người, cùng đồng hành với họ và đi vào cuộc đối thoại trong niềm hy vọng cũng như trong nỗi sợ."

Để trở thành một người mục tử nhân lành, các linh mục và giám mục phải tránh xa bệnh tìm địa vị cao và bệnh duy giáo sĩ. Thật vậy, trong lời nhắn nhủ với các Giám mục tại Mỹ Châu, ĐTC Phanxicô cảnh giác các Giám mục về chứng bệnh tìm địa vị cao: "Chúng ta là những người mục tử chứ không phải là những người có tâm lý ông hoàng, những người tham vọng, những người kết hôn với Giáo Hội này trong khi chờ đợi một Giáo Hội khác xinh đẹp hơn, giàu có hơn. Đừng rơi vào cái bẫy của bệnh tìm địa vị cao! Nó là một chứng ung thư!... Tôi nài xin anh em, xin hãy ở lại giữa những người con của anh em. Hãy tránh xa tiếng xấu khi trở thành "những vị Giám mục phi trường" (airport bishops)! Một tai hại khác của Giáo Hội đi kèm với bệnh tìm địa vị cao chính là bệnh duy giáo sĩ. Cũng trong sứ điệp trên, ĐTC Phanxicô nói: "Cám dỗ duy giáo sĩ thực sự làm hại Giáo Hội rất nhiều. Chứng bệnh đặc thù của một Giáo Hội khép kín là tự tham chiếu vào chính mình; là nhìn vào mình, tự hài lòng với chính mình."

Tóm lại, người mục tử lý tưởng theo Đức Thánh Cha Phanxicô là "người gần gũi với dân chúng, là người cha, người anh em, với sự hiền dịu, kiên nhẫn và thương xót. Là những người yêu sự khó nghèo, sự khó nghèo nội tâm như sự tự do trước mặt Chúa, cũng như sự khó nghèo bên ngoài như sự đơn sơ và khắc khổ của cuộc sống. Là những người không có "tâm lý của các ông hoàng". Là những người không tham vọng và là các phu quân của một Giáo Hội, chứ không đợi chờ một Giáo Hội khác. Là những người có khả năng thức tỉnh trên đoàn chiên đã được giao phó, và săn sóc tất cả những gì duy trì đoàn chiên hiệp nhất: canh giữ đoàn chiên, chú ý tới các hiểm nguy có thể đe dọa nó, nhưng nhất là, làm cho niềm hy vọng lớn lên: ước gì các Mục Tử ấy có mặt trời và ánh sáng trong tim. Là những người có khả năng nâng đỡ các bước đi của Thiên Chúa nơi dân Người với tình yêu thương và lòng kiên nhẫn. Và có ba chỗ của Giám Mục ở với dân mình: hoặc là ở đàng trước để chỉ đường, hay ở giữa để duy trì đoàn chiên hiệp nhất và trung lập hóa các tán loạn, hoặc ở đàng sau để tránh cho ai đó ở lại đàng sau, nhưng cũng một cách nền tảng, để cho chính đoàn chiên đánh hơi, hầu tìm ra các con đường mới."

Nguyễn Minh Triệu sj từ Radio Vaticano

 
CAC BAI DOC GIA GOI TOI # 63 = TA ON TROI-TA ON NGUOI PDF Print E-mail

LE TA ON (2)
This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
To This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Today at 10:59 AM

Tạ Ơn Trời, Tạ Ơn Người

Mỗi khi giao tiếp với người khác, một trong những tâm tình cao quý mà bất cứ ai trong chúng ta cũng quý mến trân trọng: Đó là tâm tình biết ơn. Biết ơn là bộc lộ tâm tình tri ân với vị ân nhân về những điều tốt lành mà mình đã lãnh nhận. Những điều tốt lành ấy gồm nhiều hình thức: Một cử chỉ thân ái, một lời khích lệ, một món quà tặng, một hành động nâng đỡ tinh thần hay vật chất, một hồng ân của Thượng Đế. Mỗi tặng vật luôn gói ghém một giá trị tinh thần. Nó là biểu tượng của Tình Thương. Nó mang ý nghĩa của sự cho đi phần nào chính bản thân ngời tặng. Thông thường những tâm tình biết ơn được thể hiện qua ngôn ngữ, cử chỉ và hành động.

Biết ơn là một hành động văn minh cao quý chứng tỏ con người có giáo dục. Biết ơn là một cử chỉ lịch thiệp thể hiện sự kính trọng người khác, đặc biệt người ấy lại là vị ân nhân của mình. Vị ân nhân có khi không cần người thụ ân cám ơn. Nhưng bổn phận người mang ơn luôn luôn phải bày tỏ lòng biết ơn. Đó là quy luật và nguyên tắc xử thế trong cuộc sống. Trái lại, không gì xấu hổ, đáng chê trách bằng thái độ vô ơn của những người vô giáo dục, chỉ biết nhìn cái lợi trước mặt mà quên nhiệm vụ biết ơn của mình.

Hàng năm cứ vào cuối tháng 11 dương lịch, mọi người khắp nơi trên đất Mỹ đều hân hoan chào đón ngày Đại Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving Day). Đây là một Đại Lễ quan trọng mang nhiều ý nghĩa, được nhân dân Hoa Kỳ mừng trọng thể nhất mỗi năm. Đây là một Đại Lễ Đặc Biệt nói lên nét văn hóa của một dân tộc văn minh tiến bộ. Đây cũng là một Đại Lễ mang tính Truyền Thống Lịch Sử của nhân dân Hoa Kỳ, kỷ niệm ngày tổ tiên họ dâng lên Thượng Đế những tâm tình biết ơn sâu xa, khi bắt đầu đến định cư tại miền Đất Hứa này.

Vài Nét Lịch Sử Nguồn Gốc Đại Lễ Tạ Ơn

Nói về nguồn gốc lịch sử Đại Lễ Tạ Ơn, sử gia Robert J. Myers viết trong tác phẩm Celebrations: Cách đây trên ba thế kỷ, năm 1620, một nhóm người Anh thuộc Giáo phái ly khai Pilgrim đã quyết định dời bỏ quê hương, đi tìm định cư trên một vung đất mới để được tự do tôn giáo. Đoàn người lữ hành này gồm 101 người và 48 thủy thủ đã khởi hành ngày 16 tháng 9, 1620 trong một đêm mùa đông giá lạnh. Nhóm người viễn du hải hành mạo hiểm này đã kéo buồm dời hải cung Plymouth, Anh quốc, trên một con tàu nhỏ mang tên Mayflower, nay đã trở thành danh xưng gắn liền với lịch sử dân tộc Mỹ. Sau gần hai tháng lênh đênh trên biển cả, họ đã đặt chân đến bờ biển hoang vắng thuộc Vùng Cod (Cap Cod National Seashore), tiểu bang Massachusetts ngày 9 tháng 11, 1620. Thời gian ấy, miền đất mới này chỉ là một vùng hoang sơ, màu mỡ phì nhiêu nhưng chưa khai thác, do những bộ tộc người Da Đỏ chiếm lãnh.

Thời gian đầu, họ đã phải trải qua một mùa đông lạnh lẽo tại nơi đây. Lương thực cạn dần. Mùa trồng tỉa chưa bắt đầu. Đói rét, bệnh tật đã làm nhiều người ngã bệnh và qua đời! Đời sống cơ cực nhọc nhằn kéo dài, nhưng trong thâm tâm họ vẫn tin tưởng rằng chính Thượng Đế là Người đã hướng dẫn họ đến vùng Đất Hứa này. Sau đó nhóm di dân mới được những người bộ tộc Da Đỏ dạy cách sinh sống nơi miền đất lạ như trồng tỉa các loại hoa màu đậu bắp, khoai tây, chăn nuôi gia cầm hoặc vào rừng săn bắn thú ...

Không bao lâu với ruộng đồng màu mỡ phì nhiêu cộng sức lao động cần cù, họ đã thu hoạch được những vụ mùa bội thu, nhất là vào năm 1621, chỉ sau một năm đến định cư tại nơi đây. Với họ, vùng đất mới Bắc Mỹ này đã thực sự trở thành "Đất Hứa" khác nào Thượng Đế đã dẫn dắt dân tộc Do Thái xưa kia đến miền đất phì nhiêu của "sữa và mật ong" trong Kinh Thánh. Họ quyết định tổ chức những Ngày Lễ Hội Lớn để Tạ Ơn Thượng Đế. Họ mời nhau dự tiệc với những trái cây, những chú gà tây truyền thống và những buổi liên hoan khiêu vũ. Để thể hiện những tâm tình biết ơn, họ lựa chọn những trái cây tốt tươi, những súc vật béo tốt dâng lên Thượng Đế.

Theo sử gia Robert J. Myers, Đại Lễ Tạ Ơn đầu tiên được tổ chức năm 1621 tại Thành phố Plymouth, tiểu bang Massachusetts, kéo dài trong ba ngày, với duyệt binh, pháo bông và thao diễn quân sự. Tiếp theo là những bữa tiệc liên hoan, khiêu vũ, ca hát của những người di dân mới với những bộ tộc Da Đỏ. Những Đại Lễ Tạ Ơn Truyền Thống chỉ được chính thức thành lập sau đó 168 năm (1789 - 1621) dưới thời cố Tổng Thống George Washington (1732 - 1799). Ông được nhân dân Hoa Kỳ kính trọng và mến mộ như vị Cha Già của Dân Tộc, vì đã có công sáng lập Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Có thể nói, tất cả ý nghĩa trọng đại của Ngày Đại Lễ Tạ Ơn mà nhân dân Hoa Kỳ long trọng tổ chức bao đời nay, đã được công khai biểu lộ qua những lời tuyên bố lịch sử của Cố Tổng Thống George Washington vào năm 1789 sau đây: "Kể từ nay, tôi đã quyết định và lựa chọn ngày thứ Năm trong tuần lễ thứ Tư tháng 11 dương lịch hàng năm, để toàn thể nhân dân Hoa Kỳ, thuộc các tiểu bang: Dâng hiến, Phụng thờ và Tạ Ơn Thượng Đế Tối Cao. Chính Ngài là vị Đại ân Nhân của dân tộc ta. Chính Ngài là Đấng đã ban muôn điều tốt lành mà chúng ta đã có, đang có và sẽ có. Vì thế chúng ta hãy đồng tâm nhất trí dâng lên Thượng Đế tất cả tấm lòng tri ân chân thành của nhân dân ta. Nhờ sự bảo trợ và quan phòng của Ngài mà tổ tiên chúng ta đã đến được miền đất mới này, từ ngày khởi đầu cho đến ngày lập quốc. Chúng ta hãy cảm tạ Thượng Đế vì đất nước đã được thanh bình sau những ngày chinh chiến. Và hiện nay nhân dân đang được sống an bình trong một chế độ có hiến pháp và chính phủ, để duy trì hạnh phúc cho mọi người dân. Chúng ta hãy cảm tạ Thượng Đế vì sự tự do tôn giáo và nhân quyền đã được Ngài chúc phúc và bảo vệ. Sau cùng chúng ta hãy Tạ Ơn Thợng Đế vì muôn vàn ơn lành Ngài đã ban cho dân tộc chúng ta." (Xem Celebrations của Robert J. Myers, trg 2Ạ78).

Nghĩ Về Đại Lễ Tạ Ơn Và Tâm Tình Biết Ơn

Hàng năm mỗi lần nhân dân Hoa Kỳ hân hoan mừng Đại Lễ Tạ Ơn, thiết tưởng là một dịp thuận tiện để mọi người Việt Nam định cư tại đây, nhận định lại nhiệm vụ đối với đất nước mà chúng ta đang sinh sống cũng như cuộc sống chính mình. Từ Đại Lễ Tạ Ơn đầu tiên được chính thức thành lập đến nay, hàng năm nhân dân Hoa kỳ không bao giờ quên nhiệm vụ cảm tạ Thượng Đế đã hướng dẫn tổ tiên họ đến lập nghiệp tại Miền Đất Hứa trù phú phì nhiêu này. Tâm tình biết ơn Thượng Đế được công khai xác nhận trong một ngày Đại Lễ Quốc Gia phải chăng đó là một nét văn hóa đặc biệt, một truyền thống cao quý của nhân dân Hoa Kỳ. Vì có biết ơn Thượng Đế, con người mới biết ơn và làm ơn cho nhau. Có biết Tạ Ơn Trời, con người mới biết Tạ Ơn Người.

Ngày nay đọc lại những lời tuyên bố lịch sử của Cố Tổng Thống George Washington trong ngày Đại lễ Tạ Ơn đầu tiên năm 1789, cách đây 209 năm, có lẽ không ai trong chúng ta không cảm phục và ngưỡng mộ sự cao cả trong tư tưởng của ông. Chính những tư tưởng xuất chúng ấy đã trở thành nền tảng căn bản cho đời sống tự do dân chủ và lòng hào hiệp của họ. Chính những nhận định xác đáng về vị trí của họ với Thượng Đế, với tổ tiên, với mọi người, đã làm cho đất nước Hoa Kỳ trở thành một quốc gia hiếu khách đón tiếp mọi sắc dân, mọi chủng tộc đến lập nghiệp tại đây. Thượng Đế đã hướng dẫn tổ tiên họ đến đây, thì ngày nay đến lượt họ cũng mở rộng vòng tay đón tiếp các dân tộc khác. Do đó ngày nay không có một quốc gia nào, mà người dân trên khắp thế giới mong muốn được đến định cư bằng đất nước Hoa Kỳ. Không có quốc gia nào mà nền Dân Chủ Tự Do đã trở thành khuôn mẫu cho các nơi khác noi theo bằng chính thể Dân Chủ Hoa Kỳ. Phải chăng chính tâm tình biết ơn đã trở thành nền tảng xử thế cho đời sống của người dân trong khi giao tiếp với người khác.

Là những người Việt Nam, chúng ta hãy nhớ lại biến cố đau thương tháng Tư đen 1975 của dân tộc. Sau khi cộng sản xâm chiếm Miền Nam, mọi người đều hốt hoảng sợ hãi, vì những gì đen tối nhất đang đổ ập trên cuộc đời chúng ta. Không gia đình nào mà không có người phải đi vào ngục tù cải tạo hoặc bị cưỡng bách đến định cư tại vùng kinh tế mới! Chính trong những năm tháng đen tối ấy, hàng đoàn người đã bỏ lại tất cả để vượt biên với hy vọng lập nghiệp tại vùng đất mới. Hàng trăm ngàn người đã mất tích trong rừng sâu hoặc làm mồi cho cá mập. Những lúc lênh đênh trên Biển Đông hoặc băng rừng vượt suối, đối với mọi người được đến định cư tại Hoa Kỳ là một may mắn đặc biệt như đến Miền Đất Hứa trong Kinh Thánh Cựu Ước.

Giờ đây nhìn lại cuộc sống hiện tại, nhiều người không thể ngờ rằng, họ đã có tất cả những gì mà trước đây không bao giờ dám mơ ước. Đa số người Việt tại Hoa Kỳ đã có công ăn việc làm, nhà cửa, xe cộ, con cái khôn lớn thành đạt, hơn gấp nhiều lần trước đây tại quê nhà. Nhưng có bao giờ chúng ta biết cảm tạ Thượng Đế như nhân dân Hoa Kỳ hàng năm mừng Đại Lễ Tạ Ơn không? Có bao giờ chúng ta nhớ đến ngày đầu tiên đặt chân trên đất Mỹ để Tạ Ơn Thượng Đế, đồng thời cám ơn những vị ân nhân đã giúp đỡ mình trong những ngày đầu tiên bỡ ngỡ tại miền đất lạ này? Nếu có người nào nghĩ rằng họ không mang ơn ai, đặc biệt với Thượng Đế, thì đó là một lỗi lầm lớn, vì đời sống mỗi người đều có những liên đới chập chùng. Trong cuộc sống mỗi người, chúng ta thường chẳng cho đi bao nhiêu nhưng đã nhận lãnh quá nhiều. Nếu một ngày nào đó, đời ta không còn nhận được những sự cộng tác, những yêu thương, những giúp đỡ, những cung cấp phương tiện của bao người khác, lập tức ta sẽ trở thành bơ vơ, nghèo nàn, khốn khổ biết bao!

Từ vật chất đến tinh thần, cuộc đời mỗi người đều được xây dựng bằng biết bao công ơn đóng góp của bao người, nhất là sự quan phòng và bao hồng ân của Thượng Đế. Tiền bạc, quà tặng, ta có thể trả. Nhưng những ân tình thương mến làm sao có thể đáp đền?

Thượng Đế yêu thương chúng ta. Phải chăng đó là điệp khúc mà mỗi chúng ta hãy lập lại trong từng giây phút của cuộc sống, nhất là khi nhìn lại bao hồng ân Ngài đã ban. Mỗi chúng ta đều có một chương trình đặc biệt trong sự Quan Phòng của Ngài. Tất cả đều mang Dấu Ấn Tình Yêu của Thượng Đế. Tất cả đều là Hồng Ân của Ngài, nếu ta so sánh cuộc sống chúng ta với đồng bào ruột thịt trong nước đang sống trong thiếu thốn tất cả! Vậy còn gì thiết thực và xác đáng bằng tâm tình biết ơn mà mỗi người chúng ta dâng lên Thượng Đế trong Ngày Đại Lễ Tạ Ơn này.

Linh Mục Trần Quý Thiện

* * * * * * * * * * * *
__._,_.___

 
CAM NGHIEM TINH CHUA YEU TOI # 71 = THIEN CHUA GIONG BAN VA TOI PDF Print E-mail

"Thiên Chúa đã trở nên giống như bạn và tôi"

Lm.Jos Tạ duy Tuyền

Có một câu chuyện cổ tích kể rằng: ở một vương quốc nọ. Có một vị vua cao sang quyền qúy, thế mà lại yêu say đắm một cô thôn nữ miền sơn cước. Nhà vua định cưới nàng làm hoàng hậu nhưng có quá nhiều trở ngại, khiến nhà vua phải nhiều đêm đắn đo suy nghĩ. Vì tục lệ chỉ cho phép nhà vua cưới các công nương vương triều. Tuy rằng ngài có đầy quyền lực để xem thường truyền thống nhưng ngài vẫn không dám quyết định. Hơn nữa, một ý nghĩ khác nảy sinh khiến nhà vua càng khó quyết định, vì nhà vua sợ sự khác biệt về địa vị khiến tương quan giữa hai người sẽ khó mà tự nhiên với nhau, cô gái có thể thán phục đức vua nhưng không thực sự yêu ngài. Vua vẫn là vua, nàng vẫn là thôn nữ chốn hồng hoang. Vua liền nảy sinh một sáng kiến, ngài từ bỏ ngôi vua để sống như một nông dân, để gần gũi và hoà đồng với nàng, nhưng nhà vua lại sợ, với cương vị một chàng nông dân liệu rằng cô thôn nữ còn yêu mình nữa hay không? Cuối cùng, vì quá yêu nàng, nhà vua vẫn đánh liều bỏ mọi sự để ngỏ lời yêu thương với nàng.

Câu chuyện bỏ ngỏ ở đây. Câu chuyện không dẫn độc giả đến lời đáp trả của nàng thôn nữ, có đón nhận tình yêu của nhà vua hay từ chối tình yêu. Nhà vua đã rời bỏ ngai vàng, đã chấp nhận trắng tay vì nàng, nhưng liệu rằng nàng có dám yêu anh "khố rách áo ôn", khi địa vị, danh vọng, tiền bạc của nhà vua đã không còn? Câu chuyện cũng không dẫn độc giả tới tuyệt đỉnh của một tình yêu là "một túp lều tranh, hai trái tim vàng".Câu chuyện không có đoạn kết, vì đoạn kết tùy thuộc vào tâm trạng của mỗi người đều có quyền điền vào cho hợp với ý của mình. Câu chuyện chỉ muốn gợi lên cho độc giả về một tình yêu cao cả mà nhà vua đã dành cho cô thôn nữ hèn kém này. Một tình yêu thật lớn lao đến độ dám từ bỏ ngai vàng vì một cô thôn nữ xa lạ chỉ một lần thấy thoáng qua trong đời.

Vâng, câu chuyện chưa kết thúc, nó vẫn tiếp diễn. Đây là một câu chuyện có thực về tình yêu của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta. Thiên Chúa hằng yêu thương bạn, yêu thương tôi. Ngài là một vị vua đã tự bỏ ngai vàng, cung điện và cả cung cách của một vì Thiên Chúa để mặc lấy thân phận tôi đòi như chúng ta. Ngài quá yêu chúng ta đến nỗi đã trở nên "đồng hình đồng dạng vì chúng ta". Ngài đã trở thành một "Emmanuel vì chúng ta". Nhưng tiếc thay nhân loại hôm qua cũng như hôm nay đã không nhận ra Ngài. Họ cần một vì Thiên Chúa đánh đông dẹp tây, quyền uy sang trọng. Họ cần một vì Thiên Chúa để họ điều khiển theo ý của họ. Họ đòi Thiên Chúa đáp ứng những nhu cầu, nguyện vọng của họ hơn là chính họ phải hành động theo ý của Thiên Chúa. Năm xưa dân Do Thái đã không nhận ra Chúa khi Ngài mang thân phận của một con người như họ. Họ còn xem thường về nguồn gốc của Ngài. Cho dù họ đã chứng kiến biết bao phép lạ phi thường mà chỉ có bàn tay Thiên Chúa mới có thể thực hiện được. Thế mà, họ lại xuyên tạc là nhờ tướng quỷ mà làm được những việc này việc nọ. Từ việc xem thường gốc gác về Ngài, họ đã đẩy Ngài đến án tử trên đồi Golgotha. Chúa vẫn một lòng yêu thương tha thứ, ngài vẫn tiếp tục yêu thương và yêu thương cho đến cùng, vì Ngài là tình yêu.

Vâng, câu chuyện chưa kết thúc, nó vẫn tiếp diễn. Thiên Chúa vẫn đang gõ cửa từng cuộc đời chúng ta. Ngài hằng mong chúng ta đón nhận Ngài qua những con người túng thiếu cơ hàn, qua những mảnh đời tha phương cầu thực, qua những bất hạnh của những anh em đang ở bên cạnh chúng ta. Thiên Chúa đã trở nên đồng hình đồng dạng vì chúng ta, Ngài vẫn cần chúng ta trao ban cho Ngài những nghĩa cử yêu thương. Ngài vẫn đang cần chúng ta săn sóc Ngài trong tôn trọng và vị tha. Ngài vẫn cần chúng ta dâng hiến cuộc đời để phục vụ Ngài một cách quảng đại và bao dung. Ngài là một vì Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận con người, nhưng liệu rằng, bạn còn yêu Ngài hay không? Chúng ta yêu một vì Thiên Chúa quyền uy thì dễ nhưng liệu rằng chúng ta có dễ dàng yêu một vì Thiên Chúa đã hoá thân làm người trong thân phận hài nhi yếu đuối, bị truy đuổi, bị loại trừ hay không? Chúng ta sẵn lòng cúi mình làm tôi cho những ai mang lại cho ta tiền bạc, danh vọng, niềm vui, nhưng liệu rằng chúng ta có muốn cùng Chúa đi trên con đường thập giá, đường hy sinh bản thân để trở nên nguồn hạnh phúc cho anh chị em mình không?

Hôm nay, là ngày lễ Chúa Giêsu là Vua, Giáo hội mời gọi mọi người hãy sống đáp lại tình yêu mà Thiên Chúa dành cho chúng ta. Vì yêu thương ta Ngài đã tạo dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài,  hãy phục vụ Ngài qua anh em của chúng ta. Vì yêu thương ta, Ngài đã chấp nhận chết để cứu độ chúng ta,  hãy biết chết đi bản tính ích kỷ của mình, chết đi những toan tính tội lỗi của mình để sống xứng đáng với tình yêu mà Thiên Chúa dành cho bạn và tôi. Nguyện xin Chúa Giêsu là Vua cai trị và dẫn dắt quý vị đi trong đường chính nẻo ngay, và xin Ngài ngự trị thánh hoá cuộc đời chúng ta trong hồng ân và tình thương của Ngài. Amen

Lm.Jos Tạ duy Tuyền

Kính chuyển

Hồng

 
<< Start < Prev 1481 1482 1483 1484 1485 1486 1487 1488 1489 1490 Next > End >>

Page 1486 of 1638