mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3685
mod_vvisit_counterHôm Qua7975
mod_vvisit_counterTuần Này43315
mod_vvisit_counterTuần Trước32590
mod_vvisit_counterTháng Này101266
mod_vvisit_counterTháng Trước182520
mod_vvisit_counterTất cả11963907

We have: 56 guests online
Your IP: 54.92.160.119
 , 
Today: Oct 19, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)

Login Form





Bài Mới
GAP GO DUC KITO TRONG THANH THAN # TU BO DE GAP GO PDF Print E-mail

 

This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

Số 116. CN Thường Niên 11 - năm C. = TIN MỪNG LUCA 7, 36-50 VÀ 8,1-3

Ngày 16 . 06 . 2013

Từ bỏ... để gặp gỡ

Hay gặp gỡ... rồi từ bỏ???

Lung Linh

Tôi là một cô gái điếm nổi tiếng trong vùng với nhan sắc trời cho duyên dáng mặn mà.

Khách hàng của tôi khá đa dạng trong đó có cả những ngài biệt phái đạo mạo, nhà luật sĩ nghiêm trang, thậm chí một vài tư tế có vẻ cao siêu thánh thiện nữa đấy...

Ban ngày, họ lên mặt đạo đức xa lánh, khinh rẻ những người hè hạ như tôi...Nhưng ban đêm, với bóng tối đồng lõa, họ tìm tới tôi như con hổ đói mồi... ngấu nghiến ăn một món fast food cho thỏa 'con lợn lòng'...rồi mau chóng lẻn đi vào ngõ hẻm tối hù... nơm nớp lo sợ bị người khác bắt gặp...

Thỉnh thoảng, lúc nửa đêm về sáng, tôi trằn trọc.. không tài nào ngủ được. Những câu hỏi liên tục tra tấn tâm trí tôi:

- Tại sao cũng là con người mà tôi lại phải mang thân phận nhơ nhớp như thế này?

- Tại sao cũng là con người mà tôi lại bị coi như một món đồ chơi cho những kẻ thừa tiền rửng mỡ??

- Tại sao cũng là con người mà tôi không thể ngẩng mặt lên với đời. mọi người khinh bỉ tôi, tìm cách xa lánh tôi???

Và tôi không thể nào tìm ra câu giải đáp cho cuộc đời khốn khổ của mình.

Bất ngờ một hôm, tôi nghe người ta kháo láo với nhau về một chàng Giêsu nào đó. Kẻ khen, người chê...khiến cho tôi càng thêm tò mò. Tôi ăn mặc thật kín đáo, trộn lẫn vào đám đông để tìm hiểu xem chàng Giêsu này thế nào.

Quả thực, tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chàng rất khác người.

Những lời chàng nói thực mãnh liệt và tràn đầy tình thương:

"Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa.

Ngày đó, anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

Thực thế sao??? bấy lâu nay tôi cứ tưởng đã làm thân gái điếm bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xoá tên như đồ xấu xa.. thì chỉ có một con đường duy nhất đó là ngưỡng cữa hỏa ngục đang mở rộng để một ngày nào đó lũ quỷ dữ hè nhau lôi tôi vào đó.

Nay lại nghe chàng nói như thế lòng tôi bừng lên một niềm hy vọng sáng ngời.

Cụ thể hơn, một hôm tôi nghe chàng tuyên bố:

"Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.

Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn."

Tôi có cảm tưởng không phải chàng nói cho các môn đệ của chàng...mà dường như chàng nói với chính tôi đây. Chàng đang kêu gọi tôi sám hối ăn năn.

Khi chữa bệnh cho người bị bệnh phong, chàng giơ tay đụng vào anh ta và bảo:

"Tôi muốn, anh sạch đi."

Thế là tôi bắt đầu xây mộng... hy vọng một ngày nào đó chàng cũng chạm vào tôi và nói: Tôi muốn, cô sạch đi."

Mới tuần trước đây, tôi âm thầm theo chàng và chứng kiến một cảnh tượng đầy cảm động trong đám con con trai bà góa thành Naim. Chàng lại gần, sờ vào quan tài và nói:

Này người thanh niên, tôi bảo anh : hãy trỗi dậy !

Lại một lần nữa ước mộng của tôi rực sáng hơn.

Đúng rồi. tôi cũng phải chỗi dậy thôi.

Và thời cơ đã đến. tôi nghe nói chàng sẽ dự tiệc tại nhà ông Simon, một người Pha ri sêu. Thế là tôi chuẩn bị một bình bạch ngọc đựng dầu thơm.

Thấy tôi vừa bước vào, nhà mấy tay Pharisêu tính ra chận lại..không ngờ trong đó có hai 'khách hàng' của tôi, tôi khẽ kín đáo liếc mắt. Họ dội lại, nhường lối cho tôi bước vào.

Thấy chàng, nước mắt tôi trào ra...người ta cứ tướng đó là những giọt lệ ăn năn. Không phải vậy.. mà đó là niềm vui gặp gỡ người mà tôi âm thầm quý mến từ lâu.

Rồi tôi lấy dầu thơm mà đổ lên chân chàng.

Tay Giuđa, một môn đệ của Thầy, có vẻ tiếc cho bình bạch ngọc dầu thơm. Nhưng tôi, lúc đó được ở bên Thầy, tôi sung sướng quá, chẳng còn thiết bất cứ sự gì nữa.

Tuy Phúc âm không không nói rõ, nhưng từ đó tôi bỏ hẳn nghề ăn sương tệ hại này và quyết tâm âm thầm làm môn đệ Thầy....

Những lời Thầy nói quả thực là khó hiểu... thậm chí khó có thể chấp nhận nổi.

- Có ngươi báo tin rằng có Mẹ thầy và anh em thầy ở ngoài kia. Thầy liền chỉ ngay những người ngồi chung quanh

Ai là mẹ tôi ai là anh em tôi?

Trời!!! nghe có vẻ bất hiếu thế không biết?

- Khi nói về Áp-ra-ham, Thầy dám tuyên bố:

"Thật, tôi bảo thật các ông: trước khi có ông Áp-ra-ham,

thì tôi, Tôi Hằng Hữu!"

Họ liền lượm đá để ném Người. Nhưng Đức Giê-su lánh đi và ra khỏi Đền Thờ

Xin lỗi... không biết Thầy có Nổ quá không?? Bị ném đá cũng phải thôi!!!

- Kinh khủng hơn nữa thầy dám sánh mình ngang bằng Thiên Chúa

"Tôi và Chúa Cha là một."

Người Do-thái lại lấy đá để ném Đức Giê-su.

Bị ném đá cũng phải thôi!!!

Bởi vì ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa.

Nhưng trước khi chịu khổ hình, Thầy đã để lại cho các môn đệ những lời thật tuyệt vời, êm ái và ngọt ngào...

Ngày đó, anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em.

Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.

Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con,

Sau khi Thầy về trời, tôi thường lui vào góc vườn khuất kín để vừa nhớ Thầy vừa nghiền ngẫm những lời cuối cùng cực kỳ thân thương này.

Thật kỳ diệu thay!!! sau nhiều năm tháng, tôi dần dần nhận ra rằng: quả thực mình đang ở lại trong tình thương của Thầy. Tôi ở trong Thầy và Thầy ở trong tôi.

Thì ra... nhờ được gặp gỡ Thầy rồi...tôi mới từ bỏ.

Trước hết là từ bỏ nghề ăn sương..

Rồi từ bỏ những tư tưởng tiêu cực: tự ti mặc cảm tội lỗi, hỏa ngục, hình phạt,

Bắt đầu đón nhận tư tưởng tích cực: tập vui sống với Chúa trong lòng mình....

 
TAM SU VOI CHUA NHU NGUOI BAN # 36 = BAO DAN VOI THIEN CHUA PDF Print E-mail

 

> BẠO DẠN VỚI THIÊN CHÚA

Hồng Nguyễn chuyển

> Vài năm trước đây, một cô đã chia sẻ câu chuyện này tại một buổi họp. Cô có một đứa con trai sáu tuổi được cô chỉ dẫn để cháu biết cầu nguyện. Một trong những thói quen cô dạy là mỗi tối quỳ gối bên giường và nói to lên lời cầu nguyện, sau đó kết thúc lời cầu nguyện bằng lời cầu "chúc lành cho cha mẹ, ông bà." Một hôm, không lâu sau khi bắt đầu dạy như thế, cô đưa cậu bé vào phòng để nghe nó cầu nguyện và để ru nó ngủ.

> Nhưng lúc đáng ra cậu bé quỳ gối cạnh giường và đọc lời cầu nguyện thì cậu từ chối và chui thẳng lên giường. Mẹ hỏi: "Có chuyện gì vậy? Con không cầu nguyện nữa à?" Cậu bé thưa với vẻ điềm tĩnh đáng kinh ngạc: "Không, con không cầu nguyện nữa. Sơ ở trường dạy chúng con rằng chúng con không cần phải cầu nguyện, bà nói là chúng con nên nói chuyện với Chúa... mà tối nay con mệt và không có gì để nói cả!"

>

> 1Chuyện này làm tôi nhớ lại câu chuyện về vua Đavid trong Kinh Thánh. Một sáng nọ, vua cùng vài người lính trở về từ chiến trận, ông đến đền thờ, mệt lử và đói, nhưng thức ăn duy nhất ở đó là bánh thánh, mà theo luật đạo Do Thái, chỉ có các tư tế mới được ăn trong nghi lễ. Vua hỏi vị thượng tế về số bánh này và bị cự tuyệt rằng không được ăn bánh này như thức ăn thường. Đavid trả lời rằng vua biết thế, nhưng do hoàn cảnh và do Đức Vua được trao quyền quyết định thay Thiên Chúa trên mặt đất, nên vua ra lệnh vị thượng tế đem bánh lại cho mình.

>

> Truyền thống Thánh Kinh bình luận về chuyện này như sau. Vua được ca ngợi vì đã làm một việc tốt, vua biết Đức Chúa đủ nhiều để hiểu Chúa muốn bánh đó được dùng cho những mục đích ngoại lệ trong hoàn cảnh như thế. Vua được ca ngợi bởi có một đức tin trưởng thành, không câu nệ lề luật quá đáng, không từ bỏ phán định đúng đắn của mình do sợ hãi hay do lòng mộ đạo, và vua biết Thiên Chúa đủ nhiều để biết rằng Ngài không phải là một luật để tuân theo nhưng là một sự hiện diện đầy yêu thương chỉ bảo và đổ tràn đầy sinh khí và sinh lực cho chúng ta. Chúa Giêsu cũng ca ngợi vua Đavid vì hành động này khi dân chúng phàn nàn các môn đệ của Ngài bứt bông lúa trong ngày Sabbath. Ngài nhắc tới hành động vua Đavid đã cho lính đói lả ăn bánh đã được làm phép và cho đó là một hành động của một hiểu biết sâu sắc, nghĩa là khi làm một việc tưởng như phạm thượng, nhưng thực sự thì vua David lại đang biểu lộ tấm lòng mật thiết với Thiên Chúa, cho nên những lời chỉ trích xuất phát từ nỗi sợ sệt nhắm vào vua lại phản tác dụng và tự chỉ ra chúng chỉ là những lời xuẩn ngốc.

>

> Một trong những điều xác định một tình bạn trưởng thành chính là sự gần gũi và thân thiết, những việc tạo nên một mối liên hệ thẳng thắn hơn là một mối liên hệ sợ sệt. Trong mối liên hệ trưởng thành, không có chỗ cho lòng sùng mộ hèn nhát hay tôn kính sai lầm. Thay vào đó, chúng ta phải táo bạo với người bạn thân vì chúng ta biết ý nhau, hoàn toàn tin tưởng nhau, và ở một mức độ quan hệ nào đó, chúng ta không e ngại khi hỏi xin điều gì, không thấy xấu hổ khi bày tỏ hết về bản thân, sẵn sàng chọc ghẹo nghịch ngợm, và (như vua David) chúng ta có thể suy diễn một cách có trách nhiệm suy nghĩ của người kia. Khi ở trong một mối liên hệ trưởng thành với ai đó, chúng ta thoải mái và dễ chịu với người đó.

>

> Đó cũng là những đặc tính của một đức tin trưởng thành và một một mối liên hệ trưởng thành với Thiên Chúa. Theo thánh Gioan Thánh Giá, càng tiến sâu trong mối quan hệ với Thiên Chúa, đức tin của chúng ta càng trưởng thành, càng bạo dạn, càng gần hơn với Ngài. Như vua David và như cậu bé nhỏ tôi vừa kể trên, lòng sùng mộ một cách sợ sệt đã được thay thế bằng một tình gần gũi lành mạnh. Và đây sẽ chẳng phải là kiểu gần gũi sinh khinh dễ, thứ chỉ nhằm lợi dụng người kia. Đây là kiểu gần gũi với nền tảng là thân thiết, nghĩa là vừa giữ lòng tôn trọng, không bao giờ lợi dụng người kia, vừa dễ dàng vui vẻ dễ chịu hơn là sợ sệt và sốt sắng quá với người kia.

>

> Nhưng, nếu thật như thế, thì quí vị phải làm thế nào với một sự thật rằng Kinh Thánh đã dạy  "lòng kính sợ Đức Chúa là khởi đầu của khôn ngoan" và thêm một điều nữa là các truyền thống tôn giáo luôn luôn xem lòng mộ đạo là một đức tính tốt? Sợ hãi và mộ đạo có ngăn trở "bạo dạn" với Thiên Chúa hay không? Liệu vua Đavid có sai lầm khi bạo gan diễn giải ý định của Thiên Chúa.

>

> Có một nỗi sợ và một lòng sùng mến lành mạnh trong tôn giáo, nhưng sẽ không được lành mạnh như thế trong một mối liên hệ đầy sợ sệt, chiếu luật, ngại ngùng, quá sốt sắng, hay quá nghiêm trọng. Nỗi sợ và sùng mến lành mạnh trong tôn giáo biểu lộ chính chúng trong một mối liên hệ thẳng thắn.

>

> Quí vị đừng để mình bị phờ phỉnh bởi nỗi sợ và sùng mộ. Nỗi sợ thường ngụy trang bằng sự tôn kính trong tôn giáo. Sùng mộ có thể dễ dàng biến mình thành lắng sâu trong tôn giáo. Nhưng tình mật thiết chân thật vạch mặt cả hai. Một mối liên hệ lành mạnh phải thẳng thắn, bạo dạn, không sợ sệt, thanh thản, vui thú, và hóm hỉnh. Và đặc biệt càng phải như thế trong mối liên hệ giữa chúng ta với Thiên Chúa.

>

> Fr. Ron Rolheiser, OMI

 
SONG VA CHIA SE LOI CHUA = CHUA O QUANH TA PDF Print E-mail

 

SỐNG LỜI CHÚA: CHÚA Ở QUANH TA

SUY NIỆN TIN MỪNG CHÚA NHẬT X THƯỜNG NIÊN C

Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay nói về chuyện Chết, cảnh Đau Buồn và Phép Lạ Chúa làm. Chuyện có vẻ đơn giản nhưng rất ý nghĩa.

Một bà ở thành Nain đang đau khổ vì chồng chết thì nay người con trai độc nhất của bà cũng lại chết. Hỏi rằng có nỗi buồn nào lớn hơn nỗi buồn này? Chúa Giêsu cùng với đám đông đi vào thành phố thì thấy đám tang đang diễn ra. Động lòng thương cho người đàn bà đã góa bụa lại mất hết tất cả những gì là thân thiết và yêu quí nhất: chồng chết nay con cũng lại chết. Chúa không chỉ động lòng trắc ẩn trước cảnh sầu buồn này của người đàn bà góa nhưng Người cũng có đủ quyền lực để làm cho bà ta có lại tất cả những gì bà đã mất. Và Chúa đã làm.

Chúa nói với người đàn bà "Đừng khóc nữa" rồi Người đến gần người con trai đã chết đang nằm trong quan tài và nói "Hãy dậy", tức thì anh ta ngồi dậy. Chúa Giêsu đã làm cho người con trai sống lại và bế nó đặt vào lòng người mẹ nó. Đám đông theo Chúa thấy vậy lấy làm kinh hãi vì việc lạ lùng Chúa làm bèn quì gối khấn vái ca tụng cầu xin Thiên Chúa. Họ là những nguời Do Thái có lòng tin nên liền nhớ lại chuyện tiên tri Elijah cũng làm cho con trai một bà góa sống lại (1Kings 17:17-24). Khi đứa trẻ sống lại, bà mẹ đã nói với Elijah: "Bây giờ thực sự tôi mới biết ngài là người của Thiên Chúa. Lời Chúa thực sự đã từ miệng ngài mà ra" (17:24). Trong câu chuyện này, Chúa Giêsu không chỉ biểu lộ Chúa là người làm phép lạ -một nhân vật đặc biệt lạ lùng- mà còn là dấu chỉ Thiên Chúa đến viếng thăm dân Người, giống như Elijah.

Thiên Chúa ở quanh ta, đi bộ quanh quẩn đâu đó bên ta bây giờ và mọi lúc nhưng ta không nhận biết ra Chúa, vì Chúng ta bối rối, ngộp lặn trong những nguồn tin Vui Buồn hỉ nộ ái ố triền miên vô tận trong truyền thông báo chí....hàng ngày. Nếu chúng ta lo âu bận rộn đi tìm "những phép lạ to lớn vĩ đại" để giải quyết ngay lập tức những bất ổn của chúng ta, để đáp ứng mọi lời nguyện cầu của chúng ta, có được những ân huệ đặc biệt thì có lẽ chúng ta đã bỏ qua những phép lạ rất bình thường Chúa làm cho chúng ta ngay trước mặt và hàng ngày.....

SỐNG LỜI CHÚA: Tất cả đều là phép lạ.

Hãy quyết định ngay ngày hôm nay, ngay bây giờ và ý thức rõ ràng là Chúa luôn luôn hiện diện bên cạnh quí vị, che chở giúp đỡ chúng ta tất cả những việc ta tưởng là do ta tự làm được, nhưng là do Chúa hướng dẫn và giúp đỡ... hầu đáp ứng lại tình Chúa thương yêu bạn và tôi đến như vậy.

Fleming Island, Florida

June 9, 2013

NTC

 
SONG VA CHIA SE LOI CHUA = BAI GIANG TRONG THANH LE PDF Print E-mail

 

Bài Giảng Thánh Lễ

Tâm Linh Vào Đời


Một thách đố lớn lao

Làm Linh mục quả thật cũng sướng

nhưng cũng lắm gian nan

Có những bài toán cực kỳ khó giải quyết

- Từ việc nhỏ: chuyện bà bếp

- Tới việc lớn: chuyên Hội đồng Giáo xứ

- Và khó khăn nhất có lẽ là Soạn Bài giảng.

Chúng tôi đã từng nghe các linh mục nửa đùa nửa thật chia sẻ với chúng tôi rằng:

Các cậu thử làm linh mục 10 năm thôi... với 3650 Bài giảng ngắn dài!!

Thế mà tớ đã phải soạn Bài giảng gần 30 năm rồi..hơn 10 nghìn Bài giảng, nhìn lại mà phát sợ

Thử hỏi xem còn mạnh miệng mà phê phán chúng tớ nữa không???

Nhưng khổ nỗi vẫn còn một số khá đông linh mục ngày càng lơ là soạn Bài giảng

Thành thử ra vẫn còn những tiếng thở dài nuối tiếc từ một số giáo dân...

Kính mới quý vị đặc biệt là quý Linh mục suy tư thêm 3 bài chia sẻ dưới đây

Bài tương đối dài, xin quý vị kiên nhẫn...

Làm Thế Nào

Để Bài Giảng Sống Động Hơn?

Lm. Christopher Chatteris, S.J.

LTS: Giám Mục Kenneth Edward Untener - VỊ MỤC TỬ KHÔNG NHÀ đã được giới thiệu trong Maranatha_40. Tuần này, xin gửi đến quý độc giả bài viết của Linh Mục Christopher Chatteris, đề cập đến việc GIẢNG THUYẾT, dựa trên kinh nghiệm và các tác phẩm của vị Giám Mục độc đáo này. Xin trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả Maranatha.

Giám mục Kenneth Untener qua đời năm ngoái vì bệnh ung thư sau gần 25 năm là giám mục cai quản giáo phận Saginaw , bang Michigan , Hoa Kỳ. Ngài là một mục tử hết lòng với việc nghệ thuật rao giảng Lời Chúa. Trong tác phẩm "Giảng Tốt Hơn", (do nhà xuất bản Paulist ấn hành) ngài viết, "khi chúng ta soạn bài giảng có nghĩa là chúng ta tham dự vào cùng một công việc của Chúa Thánh Thần, Đấng đã hình thành chính bản văn Kinh Thánh." Ngài cũng nhắc nhở cho người đọc rằng, soạn bài giảng là một phần thiết yếu không thể thiếu trong cử hành phụng vụ, và khi một linh mục rao giảng tức là vị ấy đang "ở cùng vị trí với Thiên Chúa."

Đức cha Untener luôn quan tâm tìm cách giúp cho bài giảng của mình cũng như của các linh mục trong giáo phận được tốt hơn. Ngài thường hỏi ý kiến các giáo dân nhận xét về chất lượng các bài giảng họ nghe; ngài có thói quen giữ một sổ tay để có thể ghi chú những nhận xét, ấn tượng. Ngài tin rằng vox populi, vox Dei: tiếng dân là tiếng Chúa.

Điều đáng tiếc là ít có Giám mục nào theo gương của Đức cha Untener. Hiếm khi các giáo dân được hỏi ý kiến hoặc phê bình về các bài giảng, tuy thế, theo kinh nghiệm cho biết, họ lại thường thích bàn tán về việc giảng dạy của các cha. Lý thuyết về truyền thông hiện đại cho biết rằng, điều ta nghe thì cũng quan trọng như điều đang nói.

Những bài giảng yếu kém thường ảnh hưởng nặng nề trong việc đi nhà thờ của người Công giáo. Tôi thường gặp những người bỏ giáo xứ chỉ vì chất lượng các bài giảng. Khuynh hướng này càng ngày càng gia tăng trong xã hội có phương tiện đi lại dễ dàng. Người ta bỏ phiếu bằng bánh xe. Thật là lầm lẫn nếu ta coi thường hiện tượng này, và cho đó chẳng qua chỉ là sản phẩm của kinh tế thị trường hay não trạng của người thời nay, thích lên mạng internet hơn là đi nhà thờ. Nếu giáo dân ngày nay có khuynh hướng shop around, đi vòng vòng tìm nhà thờ, thì nguyên nhân chính là do vấn đề giảng thuyết, không phải là vì chiếc xe của họ. Điều đáng mừng là vẫn còn nhiều người khao khát nghe giảng Lời Chúa.

Trong tác phẩm Giảng Tốt Hơn, Đức cha Untener đưa ra vài gợi ý được lấy ra từ những buổi phỏng vấn một số tín hữu trong giáo phận. Ngài viết rằng, người Mỹ chú trọng đến hiệu quả công việc, nên thường không thích những bài giảng nặng nề, dài dòng.

Đừng nhập đề vòng vo, đặc biệt khi nó chẳng liên quan gì đến sứ điệp chính mà ta muốn trình bày. Ngài khuyên, "Đi ngay vào vấn đề." Điều này cũng hợp lý thuận tình thôi, vì bài giảng cần phải lấy từ Thánh Kinh. Người nghe thường dị ứng, khó chịu nếu bài giảng bắt đầu với một câu chuyện chẳng ăn nhập gì, hoặc với một truyện cười không thích hợp, hay mở đầu bài giảng bằng một thông báo.

Một cách giảng khác cũng làm cho người Công giáo bực mình là việc vị giảng thuyết lập lại bài Thánh Kinh vừa đọc bằng chính lời lẽ của mình. Điều này, theo Đức cha Untener, hàm ý rằng cộng đoàn hoặc không nghe, hoặc vị giảng thuyết cho rằng họ đần độn quá chẳng hiểu gì những bài đọc ấy cả. Một điều cấm kỵ nữa là đừng mất công giải thích tại sao phải chọn giảng điều này mà không chọn điều khác. Người nghe không thích biết những khó khăn đó. Họ cũng có đủ những vất vả và phải chiến đấu với những khó khăn trong nghề nghiệp và cuộc sống của họ rồi.

Vì thế, "cần đi ngay vào trọng tâm của vấn đề." Câu mở đầu một bài thơ hay một ca khúc nhằm để giới thiệu chủ đề tác phẩm cần phải mạnh mẽ và rõ ràng. Bài giảng cũng nên như thế. Có lẽ ai cũng biết việc mở đầu khó khăn như thế nào. Kinh nghiệm cho biết nên tránh bắt đầu một cách vòng vo - thường chỉ làm rối trí người nghe. Đức cha khuyên nên soạn trọng tâm bài giảng trước, rồi nhập đề và kết thúc tự nó sẽ đến một cách dễ dàng hơn.

Tuy vậy kết thúc bài giảng cũng không phải là việc dễ dàng. Những người mà Đức cha Untener gặp đã cho biết việc kết thúc bài giảng vụng về cũng làm người nghe chia trí lắm. Lúc đó cử toạ không đặt tâm vào nội dung sứ điệp truyền đạt, mà chỉ chú ý vào cách thức vị giảng thuyết đang "hạ cánh, đáp tầu bay." Đức cha viết rằng, người giảng thuyết luôn luôn phải thuộc nằm lòng đoạn kết, "không bao giờ được để cho nó bay lơ lửng." Kết thúc không cần cầu kỳ phức tạp; thường thì đơn giản lại mang đến kết quả tốt hơn nhiều. Chẳng hạn, khi giảng cho các tu sĩ về lý tưởng của đời tu, thì kết luận chỉ cần ngắn gọn, mạnh mẽ như sau, "Quý tu sĩ đã sống và làm chứng bằng cả cuộc đời mình, và chúng tôi rất cảm kích vì sự hy sinh này." Giảng như thế cũng giúp nâng cao tâm hồn người nghe lắm chứ.

Cũng không phải là điều đáng ngạc nhiên khi những người được phỏng vấn đánh giá cao những bài giảng ngắn gọn và có tư tưởng rõ ràng. Để bài giảng được ngắn gọn, Đức cha khuyên chỉ nên khai triển một ý chủ đạo hay một "điểm son nào đó - một viên ngọc quý" - Sự sống của bài. thay vì theo đuổi nhiều ý tưởng phụ thuộc. Thật là vô lý nếu biết rằng càng nói nhiều người ta càng không nghe mà lại cứ nói thêm. Điều quan trọng là trình bày một điểm chính thật kỹ càng, một điểm thôi nhưng có chiều sâu. Giảng thuyết là công việc lao động thực sự - một lao động của tình yêu, của học hỏi, của cầu nguyện, của thảo luận, và của suy tư.

Có "chiều sâu" cũng là một điểm mà người nghe rất quan tâm. Đức cha có ghi lại được nhận định của một vài tín hữu như thế này: "Ông cha ấy ăn nói được lắm, chỉ tiếc là không có gì để nói cả." Bài giảng không thể sâu sắc nếu chính vị giảng thuyết không sâu về mặt tâm linh, trí tuệ, và văn hoá. "Khi tôi nghe giảng, thiết nghĩ, tôi có thể nói cho bạn biết thế giới của vị giảng thuyết như thế nào, phong phú hay nhỏ hẹp. Tôi có thể đoán vị đó có đọc nhiều hay không." Một người đã nhận xét như thế. Tín hữu nghe giảng cần người giảng thuyết đọc nhiều, có suy tư và có đời sống cầu nguyện. Cùng một thể, các tín hữu cũng mong bài giảng nối kết được với những vấn đề liên hệ đến cuộc sống của họ.

Đức cha Untener cũng nhắc nhở các vị giảng thuyết nên soạn bài bằng cách viết ra để vấn đề được rõ ràng, sáng sủa. Ngài không khuyên cầm giấy để đọc bài giảng của mình – ít ai có thể làm điều này mà vẫn lôi cuốn và thuyết phục được cử tọa. Nhưng ngài cũng đồng ý với câu của La Rochefoucauld, thế kỷ thứ 17, trong tập Maximes (Châm Ngôn) của ông: "Hùng biện đích thực là nói tất cả mọi điều cần nói và chỉ nói những điều cần nói mà thôi." (Maxime 250: La véritable éloquence consiste à dire tout ce qu'il faut, et à ne dire que ce qu'il faut).

Đức cha nhận xét rằng, khoảng cách giữa những bài giảng xoàng xĩnh và tuyệt tác là do biết trau chuốt kỹ lưỡng bài giảng của mình.

Sự buồn tẻ là kẻ thù lớn nhất của việc rao giảng. Điều đáng tiếc là thường chính các vị giảng thuyết tạo ra kẻ thù cho chính họ. Trách nhiệm của người giảng thuyết là làm thế nào để duy trì được sự chú ý của cử tọa, không thể biện minh đâu phải lỗi của tôi. Ngài phê bình nghiêm khắc: "Giảng mà người ta không chịu nghe nữa có nghĩa là bài giảng đã quá dài". Cũng cần để ý xem cử toạ có cựa quậy hay không. Đó là thước đo mức độ tập trung của cộng đoàn. Người ta càng cựa quậy bao nhiêu, chứng tỏ họ càng ít nghe điều anh em nói. Chỉ khi nào cả nhà thờ thật yên lặng, thậm chí anh em có thể nghe được tiếng ruồi bay hay một chiếc kim rơi (rất hiếm có), thì lúc ấy anh em có thể nói rằng bài giảng thật sự lôi cuốn.

David Buttrick, chuyên viên giảng dạy về môn hùng biện, đã từng phát biểu rằng: "Chính người giảng thuyết, chứ không ai khác, có trách nhiệm phải tìm phương cách tạo ra sự chú ý và giúp cho cử toạ tập trung. Còn ai vào đây? Đổ lỗi cho cộng đoàn không biết chú ý là vạch tội chính mình đấy!" Đức cha Unterner có một trắc nghiệm thú vị để xem bài giảng của mình có thắng được sự buồn chán hay không bằng cách đặt câu hỏi: "Sau 6 tháng còn ai nhớ đến bài giảng ấy?" Thật không thể biện minh cho mình. Chính chúng ta, những nhà thuyết giảng là người đã làm cho cộng đoàn chán ngấy những gì chúng ta vẫn trình bày.

Một lời khuyên khác của Đức cha Untener là phải thuộc câu châm ngôn này: "Lễ càng trọng thể lâu giờ thì bài giảng càng phải ngắn gọn. Vì các bài giảng trong những dịp trọng đại như thế, chẳng mấy ai nhớ đến điều họ đã nghe." Thường chúng ta dễ đồng ý với những nhận định trên, nhưng trong tâm mình, khi chuẩn bị những bài giảng cho các lễ lớn, chúng ta lại phải cố gắng giảng giải sao cho xứng với tinh thần buổi lễ. Không nên giảng ngắn quá, làm như thế là hạ thấp tầm quan trọng của cuộc lễ. Hẳn nhiên, như trong thánh lễ Vọng Phục Sinh, nhà thờ thì đông nghịt người và trang trí lại quá rực rỡ, thì việc làm cho cộng đoàn quan tâm và nhớ đến bài giảng của mình thật là một điều hãn hữu.

Tác giả Walter Brueggemann trong tác phẩm Cuối Cùng Nhà Thơ Đã Đến cho rằng văn hoá của người Mỹ tin vào sự thật của Tin Mừng, nhưng là một sự thật đã bị thu nhỏ, đã bị bóp méo, bị tầm thường hoá, một sự thật không còn phẩm chất nữa. Nhưng điều này không có nghĩa là người ta không còn khao khát tìm một sứ điệp tiên tri, đầy lôi cuốn chuyển tải bằng ngôn ngữ của thi ca, tươi mát. Giống như Đức cha Untener, tôi thấy đề tài giảng thuyết không bao giờ nhàm chán. Trái lại, nó làm cho người ta hăng hái muốn tham gia thảo luận nhiều hơn. Hơn nữa, hầu như ai trong chúng ta cũng ít nhiều có kinh nghiệm về giảng thuyết, nên việc đóng góp cho nhau lại càng giá trị. Nếu các bài giảng của chúng ta làm người nghe thích thú tham gia giống như họ thích thảo luận về việc giảng thuyết, thì chắc là chúng ta đang đi đúng đường. Các tín hữu khao khát Tin Mừng, nhưng không thích nghe những bài giảng giải luân lý khô khan. Họ mong muốn có được viên ngọc quý đã được chuẩn bị chu đáo, đã suy tư kỹ càng, đượm thấm đời cầu nguyện. Viên ngọc giảng thuyết này kết thúc gãy gọn, và giúp nâng tâm hồn con người hướng thượng hơn. Chúng ta cần phải rao giảng tốt hơn. Đó cũng có nghĩa là phải chuẩn bị kỹ càng hơn và cũng cần đón nhận những góp ý chân thành●

DIỄN NGHĨA MỘT BÀI PHÚC ÂM

DAY DỨT - TIẾC NUỐI – SUY TƯ - ƯỚC AO.

Suốt ngày hôm nay, theo dõi ba thánh lễ và các giờ "Catholic Hour" trên mấy kênh truyền hình tiếng Việt ở Mỹ và thánh lễ cho cộng đồng người Việt nơi tôi sinh hoạt, tôi lắng nghe bài giảng của các linh mục về bài Tin Mừng "Bà Goá Thành Naim" và nhận thấy một điều : các ngài đều khai thác khía cạnh phục sinh, sự sống, quyền năng của Chúa Giêsu. Tôi thấy các ngài không có sai sót nào trong diễn nghĩa: bố cục chặt chẽ, lý luận vững chắc. Nhưng sao tôi thấy buồn, buồn lắm! Bốn năm bài giảng đều giống nhau, có thể gọi được là "rập khuôn" (tiếng Anh dịch là : imitate servilely). Bỗng nhiên hiện ra trong tâm trí tôi hai thái độ của các linh mục, mà tôi nghe được qua các kênh truyền hình hoặc trực tiếp tại thánh đường Giáo Xứ:

1. THẤY BÀI TIN MỪNG QUÁ...DỄ, nghe,đọc quá nhiều lần, không cần tốn thời giờ dọn trước. Đây là thái độ coi thường Lời Chúa và Cộng Đoàn. Trong Thánh Lễ, hai Bàn Tiệc đều quan trọng. Và bổn phận Linh Mục Chủ Tế phải là một "đầu bếp" chế biến thức ăn,sao cho hợp khẩu vị chung của cộng đoàn và nhất là bổ dưỡng. Linh mục có trong tay những thực phẩm hảo hạng nhất (Lời Chúa), nhưng nếu không muốn chế biến thành món ngon, mà cứ để nguyên vậy, cho tất cả rau ria,thịt cá,....vào một nồi,đun nấu sơ sài và dọn lên, thì ai sẽ ăn những thứ ấy? Là giáo dân, chúng tôi cho rằng mình có quyền được các linh mục tôn trọng hơn, nghiêm túc hơn trong phục vụ,mà đỉnh cao là bài giảng lễ (homily), vốn là "địa hạt" chỉ dành cho các vị có chức thánh (linh mục,phó tế). Để dọn một bửa ăn ngày thường, một bà nội trợ tài giỏi đến mấy, cũng phải mất ít là nửa giờ. Nếu muốn dọn một bửa tiệc(nho nhỏ thôi), cũng phải bỏ ra ít là một tới hai giờ. VỚI BÀI GIẢNG LỄ "THƯỜNG", linh mục phải dành ra ít là nửa giờ,đọc và suy gẫm, và tìm ra thực đơn,nấu nướng chuẩn bị cho Cộng Đoàn. VỚI BÀI GIẢNG LỄ CHÚA NHẬT VÀ LỄ TRỌNG, ngài phải dành gấp đôi,gấp ba thời gian,để có thể dọn một Bàn Tiệc tương đối tươm tất. Vì một lý do nào đó, vị linh mục không thể dành thời giờ TỐI THIỂU như thế,để dọn bài giảng,thì tốt nhất là ĐỪNG GIẢNG LỄ, để khỏi MANG TỘI coi thường Lời Chúa và CÓ LỖI với giáo dân. Tôi đã chứng kiến một linh mục trẻ, sau khi đọc Phúc Âm (ngày lễ thường),đã nói với cộng đoàn: "Tôi thành thật xin lỗi Quý Ông Bà,Anh Chị Em. Hôm nay tôi xin đọc lại một lần nữa bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe. Tôi sẽ không giảng, vì tôi đã không dọn bài giảng kỹ càng. Lần nữa,thành thật xin lỗi". Và ngài chậm rãi đọc lại đoạn Tin Mừng. Hôm đó, giáo dân chúng tôi thấy thấm thía Lời Chúa như chưa từng có và thấy mình được tôn trọng.

2. QUÁ DỄ DÃI VỚI BẢN THÂN, nôm na là lười biếng. Tôi đã nhận được nhiều phản hồi tích cực, khi viết bài "linh mục đạo văn", nhưng cũng nhận vài ba thư phản đối. Nhưng hiện tượng "sao y bản chính" các bài giảng trên Internet là có thật. Thời đại công nghệ thông tin thay đổi đến chóng mặt nầy, một thời mà dưới hàng ghế giáo dân không còn bao nhiêu ông già bà lão lầm rầm đọc kinh,lần chuỗi suốt Thánh Lễ, nhịp nhàng đứng lên,quỳ xuống,mà hầu như không nghe,không biết những gì Chủ tế đọc,giảng. Thay vào đó là lớp trung niên và lớp trẻ trí thức, trong đó không thiếu những người vẫn truy cập các trang đạo, đọc rất nhiều và qua đó cũng nắm bắt được nhiều điều về Thánh Kinh, thần học, Giáo Hội. (Không ít trường hợp,họ bị các linh mục liệt vào số mgười "bất đồng quan điểm" với các ngài!). Nhưng dù khó chịu, dù muốn hay không, thì linh mục ngày nay phải chú trọng hơn nhiều về cư xử,về phát ngôn và nhất là về giảng dạy (đặc biệt là "giảng lễ").

Trở lại Bài Tin Mừng Chúa Nhật X Thường Niên hôm nay, thuật lại câu chuyện Chúa Giêsu cho anh thanh niên con một bà goá ở Naim sống lai (x. Lc 7,11 – 17).

Người ta gọi Phúc Âm của Thánh Sử Luca là "Phúc Âm Thời Thơ Ấu". Thời thơ ấu, thời niên thiếu và thời trưởng thành của Chúa Giêsu gắn liền với những biến cố mà suốt đời Người không thể quên. Cho nên, khi đi vào thành Naim, gặp một đám tang và được biết người chết là một chàng thanh niên, con trai một của một bà goá. Đoàn người đông đảo đi theo, cũng đủ cho thấy họ yêu mến chàng thanh niên nầy, không phải vì tiền tài, mà hẳn là vì lòng hiếu thảo và sự đối xử đối với xóm giềng của anh ta. Phụ nữ Do Thái nói riêng và phụ nữ vùng Trung Đông nói chung,không làm việc kiếm tiền bên ngoài. Họ chỉ lo việc nội trơ và canh cửi. Chắc chắn bà goá đã rất vất vả,mặc cảm khi chồng qua đời. Nay "cây gậy" tuổi già goá bụa,là cậu con trai một,cũng bỏ bà ra đi. Ngoài đau khổ khôn xiết vì tình thương người mẹ, bà còn nhìn thấy một tương lai mù mịt, khi chỗ dựa duy nhất bị mất đi. Nếu là người Việt, hẳn không chỉ bà,mà ngay cả đám đông đi theo chia sẻ,cũng sẽ không ngần ngại nói to : "Ông Trời không có mắt!".

Nhưng "Ông Trời" có mắt!

Chúa Giêsu không dừng được thương cảm trước cảnh chia ly đứt ruột xé gan nầy. Và Người đã can thiệp : Người chạm vào quan tài. Các đô tuỳ đứng lại, dù chưa hiểu Vị Khách Lạ nầy định làm gì. Và chúng ta đã nghe phần tiếp của trình thuật biến nước mắt thành nụ cười và lời tôn vinh Thiên Chúa.

Một phép lạ cho người chết sống lại không phải xa lạ gì với Chúa Giêsu! Nhưng ở lần nầy, phép lạ không mang ý nghĩa "siêu nhiên" (quyền năng Chúa, sự sống lại,vv...), mà nói lên khía cạnh NHÂN BẢN, NHÂN TÍNH, nói đúng hơn, khía cạnh TÌNH CẢM nơi con người Chúa Giêsu : Nhìn thấy Bà Goá Naim, Chúa Giêsu liên tưởng ngay đến Bà Goá Maria ở Nazaret, cô đơn,lủi thủi một mình. Đứa Con Trai Duy Nhất đã bỏ Bà "để ra đi,thi hành Thánh Ý Cha" (x. Lc 2). Cũng coi như đã ...chết! Chắc chắn trong những tháng ngày rong ruổi giảng dạy, không ít lần dừng chân,mệt mỏi, trong những nơi vắng vẻ, Chúa Giêsu đã không ít lần "chiều chiều ra đứng ngõ sau, trông về quê Mẹ ruột đau chín chiều". Vì thế, trước cảnh đau lòng và gợi nhớ nhung và khơi vết đau của chính Người, Chúa Giêsu đã tự nguyện làm phép lạ, không cần ai cầu xin, như để chuộc lại phần nào mặc cảm đã dứt áo,bỏ lại Mẹ Goá của Người. "Hỡi anh chàng trai trẻ, ta truyền cho anh hãy đứng dậy" (Lc 7,14). Ta với anh cũng giống nhau : con trai một của một bà goá. Ta đã lỗi bổn phận phụng dưỡng Mẹ Ta. Ta không muốn mẹ anh mất đi một người con hiếu thảo và là chỗ dựa cho mẹ già của anh. Mẹ Ta sẽ hiểu Ta, khi Mẹ Ta nghe biết chuyện nầy. Anh hãy ghi nhớ và sống cho xứng LÒNG MẸ BAO LA.

Đây chỉ là một trong nhiều khía cạnh có thể "khai thác" từ đoạn Tin Mừng nầy. Ở Mỹ, bài Tin Mừng nằm giữa Ngày Hiền Mẫu (Mother's Day) và Ngày Hiền Phụ (Father's Day) : sẽ thích hợp biết bao, khi đem hình ảnh Chúa Giêsu là NGƯỜI THẬT (thương cảm,đồng cảm) và là THIÊN CHÚA THẬT (quyền năng, phép lạ). Không cần phải lập đi lập lại những ý tưởng quá quen thuộc, TRỪ PHI hoặc quá dễ dãi với bản thân,hoặc quá coi thường Lời Chúa và Cộng Đoàn. ƯỚC MƠ NHƯ VẬY CỦA MỘT GIÁO DÂN, CÓ LÀ QUÁ CAO XA CHĂNG?

Giuse Nguyễn-Thế-Bài

Giáo dân

BÀI GIẢNG TRONG THÁNH LỄ

Dưới cái nhìn của một giáo dân

---------------

Phê-rô Nguyễn Tuấn Hoan

Bài giảng trong thánh lễ là nhiệm vụ của riêng linh mục, có thể ví như công việc của một chủ tiệc dọn bữa ăn cho thực khách; thực khách có thể không làm được các món ăn, nhưng biết thưởng thức và hưởng được những ích lợi từ những bữa tiệc ấy. Nếu người chủ tiệc thực lòng hiếu khách, biết trân trọng thực khách, hẳn ông sẽ dùng tất cả tài năng khéo léo của mình để làm cho bữa tiệc phong phú, hấp dẫn, không phải chỉ về mặt số lượng mà còn về chất lượng của các món ăn. Ông sẽ luôn tìm cách nâng cao nghệ thuật, tìm tòi để khám phá ra những phương thức mới trong việc chế biến thực phẩm. Có như thế, những bữa tiệc sẽ luôn là niềm vui nhờ những món ăn vừa hợp khẩu vị vừa đem lại bổ ích cho mọi thực khách.

Sau đây, dưới góc độ của một "người tiêu dùng", một "thực khách" trong những bữa tiệc, tôi muốn chia sẻ những suy nghĩ của mình về những "BÀI GIẢNG TRONG THÁNH LỄ" của các linh mục. Thiết tưởng mọi người giáo dân đều có quyền góp ý về vấn đề này, còn nghe hay không là quyền của các đấng. Nói về vấn đề này thật là khó khăn và tế nhị, bởi lẽ quan điểm hay khẩu vị của mỗi thực khách thì khác nhau : người thích món gà, người lại thích món cá, người ăn nhạt, người ăn mặn; lại có người bị dị ứng với một món ăn nào đó. Về phía các linh mục cũng có những khác biệt về kiến thức và khả năng diễn đạt, ấy là chưa nói đến những quan niệm và những thói quen mà những môi trường giáo dục (gia đình, chủng viện, tu viện) đã ít nhiều ảnh hưởng đến những linh mục. Ngoài ra, còn một điều rất thực tế là khi một giáo dân mà lại bàn đến chuyện giảng của linh mục thì quả là múa rìu qua mắt thợ, đa số các ngài sẽ nổi sùng mà phán rằng: giáo dân có tư cách gì mà xen vào việc này, vì chỉ có linh mục mới được quyền và có khả năng giảng trong thánh lễ.

Xin thưa rằng quyền thì có nhưng khả năng thì chưa chắc, vì có rất nhiều bài giảng đầu voi đuôi chuột, nhạt nhẽo vô duyên, sử dụng văn hoá đường phố, bịa đặt những câu chuyện nhảm nhí...

Để viết bài này, ngoài những ghi nhận thực tế đã nghe hàng trăm bài giảng trong những thánh lễ, tôi dựa trên những giáo huấn chính thức của Hội Thánh trong 3 bản văn quan trọng:

- Thánh Công Đồng Chung Va-ti-ca-nô II : Hiến Chế Phụng Vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium) và Hiến Chế Mạc Khải ( Dei Verbum).

- Quy Chế Tổng Quát của Sách Lễ Rô-ma (ấn bản 2005).

- Bộ Giáo Luật 1983.

Sau đây là nguyên văn của những văn kiện trên:

1- Công Đồng Va-ti-ca-nô II:

a) Hiến Chế Phụng Vụ (SC) số 35, 2 ghi: "...Tiên vàn bài giảng phải được múc lấy từ nguồn Thánh Kinh và Phụng Vụ vì là rao truyền các việc kỳ diệu của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ hay mầu nhiệm Chúa Kitô. Mầu nhiệm này hằng hiện diện và tác động trong chúng ta..."

Số 52 cũng nói rõ: "Bài giảng dựa vào Thánh Kinh để trình bày trong suốt năm phụng vụ các mầu nhiệm đức tin và những quy tắc của đời sống Kitô giáo rất đáng được coi như một phần chính của Phụng Vụ. Hơn nữa, nếu không có lý do hệ trọng thì không được bỏ giảng trong những Thánh lễ được cử hành vào ngày Chúa Nhật và lễ buộc có giáo dân tham dự".

b) Hiến Chế Mặc Khải (DV) số 24 và 25 cho thấy tầm quan trọng của Thánh Kinh trong bài giảng, "...Bài giảng mục vụ chiếm chỗ quan trọng trong thừa tác vụ Lời Chúa, phải được nuôi dưỡng lành mạnh và gia tăng sinh lực cách thánh thiện nhờ lời Thánh Kinh" . Vì vậy Thánh Công Đồng kêu gọi các linh mục, cũng như phó tế phải gắn bó với Thánh Kinh mà chăm chỉ đọc và ân cần học hỏi, đừng huênh hoang tưởng mình đã biết đầy đủ (x.DV25).

2- Quy Chế Tổng Quát SLRM số 65 :"Bài diễn giảng là thành phần của phụng vụ và rất được khuyến khích, vì cần thiết để nuôi dưỡng đời sống Ki-tô hữu. Bài này phải diễn giải hoặc một khía cạnh nào của các bài đọc Thánh Kinh hoặc một bản văn khác thuộc phần chung hay phần riêng của thánh lễ ngày đó...". Số 66 nhấn mạnh đến quyền giảng trong thánh lễ chỉ "dành riêng cho linh mục hoặc đôi khi cho phó tế, nhưng không bao giờ giao cho một giáo dân". Quy chế cũng nhắc lại tính cách bắt buộc phải giảng trong thánh lễ Chúa Nhật và lễ buộc khi có giáo dân tham dự. Một chi tiết đáng chú ý là lời khuyên "nên giữ thinh lặng một khoảng thời gian ngắn sau bài giảng".

Sự thinh lặng này rất cần thiết, đó là sự thinh lặng thánh (x. QCTQ 45). Trong thánh lễ có một số khoảng thinh lặng thánh, nhưng ít nhà thờ tôn trọng quy luật này, thậm chí có nơi giáo dân còn đang lên rước lễ, thì đã tranh thủ rao lịch, rao hôn phối, đọc tên những ân nhân và nêu số tiền đã đóng góp, thì quả là sai lầm, làm sao cộng đoàn có thể cầm trí để cám ơn sau rước lễ!

3- Giáo Luật: Bộ Giáo Luật 1983, Quyển III, điều 767,1 quy định về việc giảng trong thánh lễ như sau: "Trong những hình thức giảng thuyết, nổi bật nhất là bài giảng trong thánh lễ vì là phần chính của phụng vụ và dành riêng cho linh mục hay phó tế. Trong bài giảng ấy, phải làm sao để suốt một năm phụng vụ có thể trình bày các mầu nhiệm đức tin và khuôn khổ đời sống Ki-tô hữu dựa vào bản văn Thánh Kinh". Điều 768,1 cho thấy việc giảng phải nhắm đến mục đích làm vinh danh Chúa và cứu rỗi nhân loại.

Những điều trên đây cho thấy tầm quan trọng và cần thiết của bài giảng trong thánh lễ đối với đời sống đức tin của dân Chúa, đồng thời cũng cho thấy Hội Thánh đã trao cho các linh mục một đặc quyền bất khả chuyển nhượng. Liệu các linh mục có làm trọn vẹn được chức năng đó không, có ý thức được rằng mình mang nợ với dân Chúa, một món nợ đáng giá và vinh dự. Thế mà trong thực tế đã không hiếm những linh mục chỉ giảng cho có lệ, đồng thời cũng có linh mục dùng khả năng ăn nói khéo léo của mình, khai thác lòng đạo đức bình dân để trục lợi như để bán băng, bán đĩa hoặc để quyên góp v.v..

Trước khi nhận xét những bài giảng của một số linh mục, tôi cũng muốn nói đến những quan niệm bất cập nơi người giáo dân, nhận xét này cũng chỉ tương đối thôi, nhưng khá phổ biến:

1- Sợ giảng dài.

Đây là nỗi sợ phổ biến nhất và cũng là tâm lý bình thường. Người nói 60 phút thì thấy ít, nhưng người nghe chừng 10 phút đã thấy dài. Nhất là khi không nắm bắt được tư tưởng, ngôn ngữ mà người giảng cứ nghĩ đơn giản là thính giả đều hiểu như mình. Ấy là chưa nói đến những linh mục có giọng nói thều thào, lí nhí hoặc khó nghe mà lại thích nói dai làm người ta phát khiếp.

2- Không quan tâm đến bài giảng.

Một số người không hề quan tâm đến chuyện giảng trong thánh lễ, khi cha bắt đầu giảng thì họ hoặc ra ngoài hoặc ngồi nói chuyện riêng. Một lần, chính tôi chứng kiến 2 cô gái ngồi bấm điện thoại chơi game trong suốt bài giảng (trên lầu nhà thờ Vườn Xoài). Một số các ông bà lớn tuổi ngồi lần chuỗi, chính tai tôi đã nghe vài ba bà nói với nhau sau một buổi nghe giảng tĩnh tâm Mùa Chay rằng:

"Hôm nay cha giảng lâu quá, tôi lần được hai chuỗi mà vẫn chưa giảng xong!" Dĩ nhiên trường hợp này ít thôi. Một số bài giảng lại mang tính cách gây mê khiến cho thích giả gật gù, mơ màng.

3- Đi lễ cho xong để khỏi áy náy.

Một số rất đông có thói quen đứng bên ngoài nhà thờ, hoặc đứng bên kia đường, thậm chí còn xa khuất nhà thờ như một xứ ở đường CMTT thuộc hạt Chí Hoà, vào khoảng 19 giờ Chúa Nhật, người đi lễ đứng tận ngoài đường, hai người ngồi trên một xe máy, từ chỗ này đến nhà thờ xa khoảng 100mét và có tới 2 khúc quanh. Với cách "đi lễ" như thế thì làm sao nghe được Lời Chúa và bài giảng. Vào khoảng chiều tối mỗi Chúa Nhật (16 – 20giờ) cứ đi một vòng các nhà thờ chúng ta sẽ chứng kiến những cảnh "đi lễ" của dân chúng, người ta cứ thản nhiên chọn một chỗ đứng, cho dù chẳng nhìn thấy nhà thờ, nhưng chắc họ nghĩ rằng mình vẫn ở "trong vùng phủ sóng". Còn các chủ chiên vẫn luôn tự ru ngủ mình và bằng lòng vì nhà thờ mình thu hút được nhiều bổn đạo "đi lễ".

Những hiện tượng trên có phải hoàn toàn do lỗi ở người giáo dân không? Câu trả lời tuỳ vào lương tâm của các đấng chủ chiên. Dụ ngôn "Con chiên lạc" trong Tin Mừng Luca 15,4-7 thật xa lạ với các chủ chiên của thế kỷ 21 này, thời nay chẳng ai dại gì để lại 99 con để mất công đi tìm một "con chiên lạc", mà cho dù có lạc mất 50 con thì 50 con còn lại vẫn đủ xài, thậm chí một giáo xứ chỉ cần 5,10 con béo tốt cũng quá đủ, bởi vì con chiên không quan trọng bằng sữa chiên. Xin đừng vội cho là tôi nói quá đáng, tôi chỉ lấy lại tư tưởng của Thánh Âu-tinh Giám Mục trong bài giảng về các mục tử, ngài nói đến những mục tử chỉ lo nuôi mình: "...Các ngươi uống sữa, mặc đồ len, giết chiên béo tốt, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không bồi dưỡng, chiên bệnh tật không lo chữa lành....chiên mất các ngươi không đi tìm...các ngươi thống trị chúng cách tàn bạo và hà khắc.." Giờ Kinh Sách trong suốt 2 tuần 24 và 25 TN, bài đọc 2 được trích từ bài giảng của Thánh Âu-tinh Giám Mục về các mục tử thiếu trách nhiệm, chỉ biết bóc lột chiên để hưởng thụ, lại còn gây gương mù gương xấu bằng lối sống tự do quá trớn, lem nhem tình tiền, mà thời nào cũng đầy dẫy những mục tử như thế.

I. Các linh mục đã thi hành nhiệm vụ giảng dạy như thế nào?

Những bản văn trên đây rất quan trọng, đó là những giáo huấn chính thức của Hội Thánh. Nó phải là kim chỉ nam cho mọi linh mục trong công việc giảng dạy, cách riêng là bài giảng trong thánh lễ. Các linh mục học quá nhiều, hiểu biết nhiều, kiến thức uyên bác, nhưng lại chẳng quan tâm đến những lời dạy trên đây của Hội Thánh.

Nếu nắm vững và thực hiện đúng những gì các Hiến Chế, Quy Chế và Giáo Luật đưa ra thì đã không có những bài giảng lạc đề, nhàm chán, rỗng tuếch.

Như vậy chẳng phải là "biết luật phạm luật" hay sao?

Dĩ nhiên không phải là tất cả, vì tôi đã từng gặp nhiều vị linh mục rất nghiêm túc, luôn chuẩn bị những bài giảng thật chu đáo, từ việc soạn bài cho đến việc giữ sự yên tĩnh trước giờ giảng, để tập trung tư tưởng và cầu nguyện. Cha Giacôbê Đào Hữu Thọ,dcct là một ví dụ điển hình: ngài đã qua đời hơn 20 năm nay, nhưng ấn tượng về ngài vẫn rất rõ trong trí óc tôi, suốt mấy năm gần gũi ngài, tôi có cảm tưởng lúc nào ngài cũng chuẩn bị bài giảng, chỉ có một khoảng chừng nửa giờ sau bữa ăn trưa, thư giãn một chút bằng vài ván bida. Ngài không bao giờ tiếp khách hay chuyện trò trước giờ lễ ít là nửa giờ. Nhờ vậy những bài giảng luôn mang một sức cảm hoá thuyết phục người nghe, dù tư tưởng không uyên bác, từ ngữ không chải chuốt.

Một số vị tuy khả năng truyền đạt có giới hạn, lời giảng không lưu loát, nhưng bài giảng vẫn mang một tinh thần đạo đức, sốt sắng.

Tôi đã gặp một vài linh mục trẻ cũng có được tinh thần nghiêm túc này qua những bài giảng rất sâu sắc, nhưng số này rất ít.

Trong thực tế, một số đông các linh mục thường mắc phải tính chủ quan và coi thường thính giả, giảng theo hứng, giảng cho có, hoặc khoe kiến thức, tôi có thể nói đến một vài trường hợp đã gặp. Đây là những dẫn chứng người thật việc thật, tuy tôi không muốn nêu tên những vị ấy ở đây.

1. Lạc đề:

Trong một thánh lễ vọng Phục sinh, dành cho thiếu nhi, sau bài Tin Mừng, cha chủ tế mở đầu rất long trọng:" Hôm nay Chúa Ki-tô đã sống lại, Người làm chủ sự sống, như vậy sự sống có một giá trị vô cùng, vì thế chúng ta phải quý trọng sự sống, ngày nay có nhiều người đã coi thường sự sống của mình và của người khác, cha muốn nói đến tội phá thai..." thế là vị linh mục này nói về vấn đề phá thai trong suốt bài giảng, quên mất thính giả là các em thiếu nhi!

2. Những kiểu nhập đề vô duyên, nhàm chán.

Một linh mục nọ, luôn mở đầu bài giảng bằng một câu của ns Trịnh Công Sơn: "một cõi đi về..." nội dung bài giảng thì mông lung, không có điểm dừng, chẳng biết đi về cõi nào, lại còn nói một cách tự phụ rằng "tôi chẳng bao giờ soạn bài, chỉ nói theo cảm hứng, nói bao giờ hết ý thì mới ngưng"! thật đáng sợ khi gặp linh mục này.

Chúa Nhật X Thường Niên vừa qua (8-6-2008), người nhà tôi đi lễ về kể lại một kiểu nhập đề bài giảng thật vô duyên và nhảm nhí, sau khi nghe bài Tin Mừng, cộng đoàn vừa ngồi xuống thì linh mục này nhe răng ra cười và hỏi :"Hôm qua đội nào thắng? ". Dĩ nhiên là không ai trả lời, sau đó ông suy diễn rằng mỗi lần đến mùa bóng đá là có rất nhiều người bệnh, nhất là nhức đầu do thức đêm để xem truyền hình. Nói đã một hồi ông mới đi được đến kết luận là: người đau ốm phải cần đến thấy thuốc, chả là vì bài Tin Mừng hôm ấy là Mt 9,9-13, đồng thời trong thời điểm đó đang có những trận bóng đá . Có cần phải nói vòng vo nhảm nhí như thế không? Hẳn điều đó sẽ làm cho cộng đoàn mất tập trung. Chỉ cần nói cách đơn sơ rằng:"ai trong chúng ta đã chẳng có ít là một lần phải đi bác sĩ, đi bệnh viện..." là có thể dễ dàng đi vào bài giảng, nhưng chỉ vì cha muốn tỏ ra mình là người biết hội nhập với sinh hoạt nhân gian, tỏ ra chịu chơi, biết quan tâm đến văn hoá thể thao.

3. Những bài giảng ra ngoài Lời Chúa.

Giáo huấn của Hội Thánh là bài giảng phải dựa vào Thánh Kinh, đặc biệt là bài Tin Mừng của chính ngày lễ, thế mà một thời gian khá dài, tôi và đứa con trai dự lễ tại một nhà thờ X mỗi chiều Chúa Nhật, do một cha đã từng du học và đang là giáo sư ..., từ đầu đến cuối chỉ là những câu chuyện bên tây bên tàu, những khám phá của khoa học, về sinh vật cũng như vũ trụ. Hoạ hiếm lắm thì nhắc qua một chút về bài Tin Mừng vào cuối bài giảng. Đây cũng là bệnh chung của nhiều linh mục, muốn tỏ ra mình thông thái, biết nhiều chuyện. Trong bài giảng nếu cần kể chuyện để minh hoạ thì phải biết nên kể lúc nào, điều quan trọng là phải biết tìm ra điểm móc nối giữa câu chuyện và bài giảng. Đây là một nghệ thuật, không phải ai cũng làm được.

Tôi còn nhớ mãi trong thánh lễ rửa tội cho một số anh chị em dự tòng tại một giáo xứ gần xứ đạo tôi, một linh mục trẻ mở đầu bài giảng là câu chuyện lịch sử nói về cuộc chiến thắng của vua Quang Trung Nguyễn Huệ với mọi tình tiết từ thời gian đến không gian, rồi những pha tấn công làm sao, chia làm mấy ngả, chiếm được những thành nào v.v..chi tiết cuối cùng là trong đêm ấy, vua không ngủ được nên đi dạo quanh trại và thấy một anh lính ngủ gật bèn gọi anh ta đến hỏi tên là gì, không ngờ tên anh ta lại trùng với tên nhà vua: "Nguyễn Huệ". Nhà vua mới nói với anh lính ấy rằng: "Ta tha cho ngươi, nhưng với điều kiện ngươi hoặc phải đổi tên khác hoặc phải đổi cách sống". Và cha ấy kết thúc bài giảng với một câu: "Hôm nay anh chị em được rửa tội để trở nên Ki-tô hữu, nghĩa là người có Chúa Ki-tô, anh chị em phải thay đổi cách sống". Thật đáng buồn cho một bài giảng khoảng 20 phút thì câu chuyện minh hoạ lại mất tới 15 phút với những chi tiết không cần thiết, cũng chẳng đem lại một bài học nào cụ thể. Ngay cả chữ "hữu" trong danh từ Ki-tô hữu cha cũng giải thích sai, "hữu" ở đây là bạn hữu, là thuộc về, ...chứ đâu phải là có. Còn lời khuyên thay đổi cách sống thì lại càng mơ hồ.

Nếu kể hết những bài giảng quái gở mà tôi từng nghe thì phải cả trăm trang giấy. Viết bài này tôi chỉ muốn cho thấy tình trạng giảng bừa bãi của các linh mục cần phải chấn chỉnh lại, phải nghĩ đến ích lợi của dân Chúa, linh mục phải biết giảng, nghĩa là bài giảng phải đem lại ích lợi, giúp dân hiểu Lời Chúa và sống bác ái với nhau. Thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giáo hoàng, nói rằng: "Linh mục mà không biết giảng thì có khác gì người loan tin mà lại câm".(KS, tuần XXVII,CN, bài đọc 2).

II. Bài giảng và đời sống của các linh mục.

Những bài giảng có sức thuyết phục, có sức cảm hoá con người là những bài giảng phản ảnh cuộc sống của chính người giảng, xuất phát từ tâm hồn đầy tràn ơn Chúa. Thánh Kinh cho ta nhiều gương mẫu: Gio-an Tẩy giả với giọng đanh thép, không mỵ dân, nhưng khiêm tốn nên đã đem lại kết quả (x.Lc 3,3-18), Th. Phê-rô với bài giảng đã cảm hoá bao nhiêu người tại Giê-ru-sa-lem (x. Cv 2,14-41). Suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội, biết bao nhiêu vị Thánh đã để lại những bài giảng đầy sức sống, đã được phụng vụ chọn làm bài đọc 2 trong giờ Kinh Sách, các linh mục đọc hằng ngày, nhưng được mấy người thấm nhuần những tư tưởng này, có chăng chỉ đọc cho xong để khỏi lỗi luật. Nếu các ngài để cho ngôn ngữ của Thánh Vịnh cũng như của các bài đọc Giờ Kinh Sách thấm vào tư tưởng, tâm trí thì chắc chắn bài giảng trong thánh lễ sẽ có hiệu quả rất nhiều. Thế nhưng, các linh mục, nhất là những người trẻ thường tìm đến những loại sách soạn sẵn, hoặc lấy từ trên mạng, rồi cứ theo đó giảng như một cái máy. Những sách bài giảng soạn sẵn theo kiểu "mì ăn liền" bày bán khắp nơi. Chính vì vậy 2 người đi lễ ở 2 nhà thờ khác nhau có thể nghe cùng một bài giảng không sai một chữ. Tệ hơn nữa là cứ thích trưng dẫn tác phẩm này, tác phẩm kia, phim này phim kia, như thể Thánh Kinh không đủ sức thuyết phục. Đối với các linh mục này bài giảng được múc từ nguồn sách báo phim ảnh, là điểm tựa của bài giảng.

Giữa bài giảng và đời sống của người linh mục có một khoảng cách quá lớn, chính điều này đã làm cho nhiều người không muốn nghe giảng hoặc không tin vào những bài giảng, dù người ta vẫn biết đến câu Chúa Giê-su dạy: "Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên tòa ông Mô-sê mà giảng dạy. Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm" (Mt 23,3). Người giáo dân không đòi hỏi linh mục phải là những siêu nhân, những ông thánh, hoặc tài cao học rộng hơn ngưởi. Nhưng luôn coi linh mục là điểm tựa tinh thần, là nơi chứa đựng ơn thánh (x.2Cr 4,7). Trong thực tế nhiều linh mục giảng thì hay ( "hay" ở đây không phải do nội dung bài giảng mà là nhờ ăn nói lưu loát, tạo bầu khí vui nhộn, kể chuyện tiếu lâm gây cười), nhưng sống giả tạo, thiếu nhân bản, coi rẻ người khác...Một giáo dân đang hoạt động rất tốt trong giáo phận kể lại với tôi rẳng, trong bữa tiệc tất niên cuối năm vừa qua tại một trung tâm nọ, anh ngồi chung bàn với một số linh mục, trong bữa ăn có người đề cập đến lá thư tôi góp ý với cha xứ An Lạc (xin xem trong http://prhoanal.co.cc

), một linh mục đã nói một câu làm anh nghĩ ngợi, anh bảo không ngờ một linh mục lại thốt lên câu nói này, với những từ ngữ khó nghe: "ôi! cái thằng H. cà chớn, nó muốn làm linh mục mà không được nên vỡ mộng rồi nói bậy bạ, phê bình các linh mục, nó học được một tý rồi tưởng mình ...." cách nói này đúng là của hạng người thiếu văn hoá và hồ đồ. Tôi chẳng ngạc nhiên, cũng chẳng tức giận, một phần vì tôi chẳng là gì cả, ai muốn gọi là thằng là nó cũng chẳng sao, một phần tôi biết nhiều về linh mục này, chỉ có cái vỏ bọc thôi, cũng giống như những kinh sư và biệt phái đã bị Chúa Giê-su khiển trách:

"Khốn cho các ngươi những kẻ giả hình, các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế..bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác!" ( Mt 23,27-28). Tôi cũng kể cho anh ấy nghe là tôi đã được một chị giáo lý viên nói rằng có mấy em sinh viên nữ thường xuyên đi nghe cha này giảng, cách giảng rất thu hút giới trẻ, nhờ khéo đẩy đưa ba tấc lưỡi phỉnh phờ, nên các em rất thích cha này và coi như thần tượng. Thế rồi,

nhân ngày sinh nhật của một em, cha được mời dự, nhưng bận đi giảng nên đến trễ, lại phải tìm mãi mới tới nơi, cha không kềm hãm được nên đã bộc lộ bản chất thật khi xổ ra một tràng những tiếng lạ (đm) làm các em vô cùng ngạc nhiên, đây mới thực sự là vỡ mộng, thần tượng sụp đổ. Từ đó các em "bái bai" cha luôn. Linh mục này hiện nay rất đắt hàng nhờ lối giảng mỵ dân, biết khai thác những cái khác thường trong cuộc sống, nên được nhiều nơi mướn về giảng cho giới trẻ. Một số người nói rằng bất đắc dĩ mới đi lễ này vì có nhiều cảnh giống như nhà sinh hoạt văn hoá, rất chia trí. Nghe nói cha thường khoe đã từng du học bên Phi...châu!

Một trường hợp khác do chị Tr, một nhạc sĩ công giáo kể rằng: Trong một dịp đi dự thánh lễ... tại một giáo xứ...ở vùng Gia Kiệm, sau thánh lễ có bữa tiệc mừng. Cha xứ uống rất nhiều và nói năng lung tung, lại còn cố ép một thanh niên cùng bàn phải uống, anh này cương quyết khước từ, chị Tr. nói với cha xứ đừng ép anh ấy, vì anh ấy là tài xế, nhưng cha vẫn cứ ép lại còn văng tục và đánh vào đầu anh ta khiến anh này phải bỏ ra ngoài. Điều đáng nói là anh tài xế này là người ngoại, chị Tr. phải đích thân ra nói với anh tài xế này: " anh ơi, tôi xin thay mặt cho những người công giáo xin lỗi anh, xin anh thông cảm vì cha của chúng tôi uống hơi nhiều nên làm phiền anh, mong anh cũng đừng buồn." ....Những lối sống và cách hành xử như thế thì dù bài giảng có hay đến mấy đi nữa cũng chỉ là những tiếng thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng (x. 1Cr 13,1) hoặc như những con vẹt.

Đời sống của các linh mục ảnh hưởng rất nhiều đến bài giảng bởi vì "phận sự của các ngài không phải là giảng dạy sự thông biết của mình, nhưng là giảng dạy lời Chúa (PO 4) . Nhưng làm sao giảng dạy lời Chúa nếu chính các linh mục đã không sống lời Chúa! Các ngài giảng dạy người ta sống khiêm tốn, nhưng chính các ngài sống hách dịch, học thói quan liêu. Các ngài dạy người ta sống khó nghèo mà bản thân lại hưởng thụ những tiện nghi vật chất như những đại gia, dĩ nhiên các ngài luôn có hàng trăm lý do để lý giải cho cách sống của mình.

Nếu như được phép có ý kiến thì tôi đề nghị bắt buộc những chủng sinh trước khi lãnh sứ vụ linh mục phải học thuộc lòng "Sắc lệnh về chức vụ và đời sống linh mục", để ít ra trong đầu óc của các linh mục còn đọng lại một chút những lời dạy dỗ của Hội Thánh mà sống cho xứng với phẩm chức cao quý của mình.

Một điều đáng tiếc nữa là các đấng có thẩm quyền lại giữ thái độ im lặng như thể đồng loã với những sai lạc của các linh mục, dù đích thân biết rõ hay được người khác lên tiếng góp ý, thái độ bao che hay làm ngơ quả là đáng trách.

 
SONG VA CHIA SE LOI CHUA - CN 10 TN-C= HAY CHOI DAY PDF Print E-mail

 

This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it

 

HẰNG NGÀY CHÚA VẪN TRUYỀN CHO TÔI HÃY CHỖI DẬY

Phúc Âm: Lc 7, 11-17

"Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu đến một thành gọi là Naim. Các môn đệ và đám đông dân chúng cùng đi với Người. Khi Người đến gần cửa thành, thì gặp người ta đang khiêng đi chôn người con trai duy nhất của một bà goá kia, và có đám đông dân thành đi đưa xác với mẹ nó. Trông thấy bà, Chúa động lòng thương và bảo bà rằng: "Ðừng khóc nữa". Ðoạn tiến lại gần, Người chạm đến quan tài và những người khiêng đứng lại. Bấy giờ Người phán: "Hỡi thanh niên, Ta truyền cho ngươi hãy chỗi dậy". Người chết liền ngồi lên và bắt đầu nói. Rồi Người trao lại cho mẹ nó. Mọi người đều sợ hãi và ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Một tiên tri cao cả đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã thăm viếng dân Người". Và việc này đã loan truyền danh tiếng Người trong toàn cõi Giuđêa và khắp vùng lân cận.

Ðó là lời Chúa.

Chia sẻ : Bài trích Phúc âm theo Thánh Luca ngày Chúa nhật hôm nay 9-6-2013, Đinh Quang tôi có lời chia sẻ : "Chúa dộng lòng thương"(ngày nay nói là động lòng trắc ẩn) trước cảnh của bà, chồng đã qua đời, còn có đứa con trai, xem như một chỗ dựa cho bà, khi con trẻ, cũng nhu tương lai sau này. Bà khóc thảm thiết là phải, vì mọi hy vọng của bà nay đã tan biến.

Chúa đến bên quan tài, Chúa gọi:"Hỡi thanh niên, Ta truyền cho người hãy chỗi dậy." Người thanh niên này đã chết thật sự mà Chúa đã truyền cho chỗi dậy, anh ta chết phần thể lý.

Trong sách Tân Ước có tường thuật nhiều vụ sống lại từ cõi chết : Thứ nhất :Chúa Giêsu phục sinh vinh quang, - Ông Lazarô, (Gioan 11:43), con gái ông Giai-tô (Lc 8:54) và ngừơi thanh niên hôm nay, - Thánh Phêrô và Thánh Phaô lô chữa 2 người là Ta-bi-tha va Eu-ty- và những người sống lại khi Chúa còn trên Thánh gia.

Sau hai ngàn năm, hôm nay Chúa Giê-su vẫn còn động lòng trắc ẩn với mọi người, những người này, họ không chết phần thể xác mà là chết phần thiêng liêng, chết bởi tội lỗi đã phạm. Chúa ra lệnh cho tôi là kẻ đang chết : "Hãy chỗi dậy" Vậy sống lại phần thiêng liêng tôi phải chỗi dậy bằng : Lời Chúa

-Khi tôi không thành thật thì Chúa dậy : "Có thì nói có, không có thì nói không có"

-Khi tôi nhìn người khác phái mà ước ao: Chúa dậy : "Nhìn mà ước thì đã phạm tội..."

-Khi tôi thiếu quan tâm đến tha nhân, Chúa dậy : giúp đỡ ngườc khác là giúp chính Chúa...

Sách Kinh thánh tường thuật rất nhiều mệnh lệnh của Chúa mà mỗi người tùy theo tình trạng của mình để tìm ta tiếng Chúa dạy...

Đức Thánh Cha Phanxicô dậy : Ấp ủ Lời Chúa trong tâm hồn

"Tường thuật lại những việc Chúa làm là ca ngợi Chúa" Sau khi Anh thanh niên được Chúa trao lại cho bà góa thì mọi người ngợi khen Thiên Chúa :"Một Tiên tri cao cả đã xuất hiện giữa chúng ta....."

Dinh Quang

__._,_.___

 
<< Start < Prev 1541 1542 1543 1544 1545 1546 1547 1548 1549 1550 Next > End >>

Page 1549 of 1655