mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay529
mod_vvisit_counterHôm Qua4387
mod_vvisit_counterTuần Này4916
mod_vvisit_counterTuần Trước0
mod_vvisit_counterTháng Này36365
mod_vvisit_counterTháng Trước274176
mod_vvisit_counterTất cả14003744

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)

Login Form





Bài Mới
CAM NGHIEM SONG LOI CHUA # 33 = HAY NGOI LAI VOI NHAU PDF Print E-mail

 

                     Cảm nghiệm Sống Lời Chúa # 33

                    HÃY NGỒI LẠI VỚI NHAU

 

   Trước năm 1975, tôi đươc đọc tập sách nhỏ : Gặp gỡ anh em Phật giáo của Đức Giám mục Nguyễn văn Bình rất hay, nhưng rất tiếc đã bị thất lạc. Đến sau năm 1975, khi được Giám mục cho phép các Giáo xứ, tôi được cha xứ cấp giấy phép lên Sàigon mua sách Tân ước của Anh Em Tin Lành về cho Tín hữu đọc.

1- Trong thời gian khó khăn này, dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần tôi đã mạnh dạn đến thăm viếng, đọc Lời Chúa cho những người đau ốm, khổ cực, chết choc để yên uỉ họ và xây dựng các nhóm nhỏ để cầu nguyện và chia sẻ Phúc âm tại gia.

2- Đến nay, tôi thấy Giáo hội còn mở rộng tầm nhìn thêm qua Đức Giáo Hoàng G. Phalô II, ngài không bác bỏ những gì là chân thực nơi các tôn giáo, dù những luật lệ và giáo thuyết tuy có khác biệt; nhưng cũng thường phản ánh lại Chân lý chiếu soi cho hết mọi người. Vì Chúa là Đường, Sự Thật và là Sự Sống. (Ga 14. 6)

 

3- Vì thế, Giáo hội khích lệ mọi Tín hữu hãy nhìn nhận và cổ võ cho những thiện chí, luân lý và tinh thần trong các tôn giáo bằng cách gặp gỡ, trao đổi một cách khôn ngoan, chân tình với các tín đồ của họ mà vẫn làm chứng cho đời sống và đức tin của Đạo Chúa. (Vat. II)

4- Một Hội nghị các Giáo hội và các Tôn giáo gồm 230 đại diện các tôn giáo lớn đã họp mặt tậi Vatican dưới sự chủ tọa của Đức G.Ph II. Trong đó có: 27 đại biểu của Tin lành, Chính thống, 42 của Hồi giáo, 23 của Phật giáo, 9 của Ân giáo, 14 của Ấn giáo và 72 của Công giáo vào ngày 28-10-1999 vừa qua.

5- Mục đích của Đại hội là cầu nguyện và suy tư về đề tài: “Trước thềm năm mới của Ngàn Năm Thứ Ba, với sự cộng tác của các tôn giáo, gồm 2 điểm chính sau đây:

a/ Đề nghị các vị lãnh đạo tôn giáo lên án việc dùng tôn giáo kích động thù ghét và bạo hành để biện minh cho các kỳ thị tôn giáo. Hãy cùng nhau hoạt động để loại trừ hết cảnh nghèo khổ.

b/ Đề nghị các vị lãnh đạo tôn giáo cổ võ tinh thần đối thọai trong chính nội bộ của họ, và sẵn sàng dấn thân đối thoại với chính quyền trong mọi lãnh vực.

Đức Thánh Cha tuyên bố trong Tông huấn vế Giáo hôị Á châu như sau:

6- Giáo gội cung kính và ngưỡng mộ tất cả các truyền thống tinh thần của các tôn giáo Á châu và và muốn dấn thân trong cuộc đối thoại chân thành với các tín hữu của họ: Những giá trị tôn giáo mà các đạo giáo giảng dạy sẽ chờ đón sự viên mãn trong Đức Giêsu Kitô. Vì họ có tinh thần yêu Thinh lặng, Chiêm niêm, Đơn sơ và Hoà hợp.

   Mới đây nhất, có hơn 20 đại diện Công giáo và Phật giáo đã gặp gỡ và đối thoại với nhau tại California 4 ngày từ ngày 4 đến 7-3-2004 tại thành phố Burlingame, bang California, hoa Kỳ.

Ptế: Định Nguyễn Sưu Tầm

 
HOC HOI DE SONG DAO # 38 = 10 CACH DE SONG NAM DUC TIN PDF Print E-mail

 

 10 CACH SONG NĂM ĐƯC TIN

 

Để làm nổi bật kỷ niệm 50 năm Công đồng Vatican II và 20 năm phát hành Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, Đức Bênêđictô XVI đã công bố Năm Đức Tin, bắt đầu vào ngày 11 tháng 10 và kết thúc vào ngày 24 tháng 11 năm 2013. Năm Đức Tin nhằm củng cố đức tin cho người Công giáo và qua gương mẫu của họ đưa thế giới đến với đức tin.

Đức Cha David Ricken của Giáo phận Green Bay, chủ tịch Uỷ ban Truyền giáo và Giáo lý trực thuộc Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, đề nghị "10 cách để sống Năm Đức Tin". Các đề nghị này được lấy từ những hướng dẫn của Bộ Giáo lý Đức tin, vài đề nghị trong số này đã là những đòi hỏi dành cho người Công giáo; những điểm khác có thể được người công giáo thực hiện vào mọi lúc và đặc biệt trong Năm Đức Tin:

1. Tham dự Thánh Lễ. Năm Đức Tin có ý thăng tiến việc mỗi người gặp gỡ Chúa Giêsu. Điều này xảy ra hầu như ngay lập tức nơi Bí tích Thánh Thể. Tham dự Thánh Lễ thường xuyên làm đức tin tăng trưởng qua Kinh Thánh, Kinh Tin Kính, các lời nguyện, Thánh nhạc, bài giảng, việc rước lễ và thông phần với cộng đoàn đức tin.

2. Đi xưng tội. Giống như đi dự lễ, người Công giáo tìm thấy sức mạnh và đào sâu đức tin của mình qua việc tham dự Bí tích Sám Hối và Hoà Giải. Việc xưng tội thúc đẩy con người quay về với Thiên Chúa, diễn tả lòng đau xót vì đã sa ngã và mở đời sống mình cho quyền năng chữa lành của Thiên Chúa. Việc xưng tội tha thứ những tổn thương của quá khứ và ban sức mạnh cho tương lai.

3. Học hỏi đời sống của các thánh. Các thánh là những gương mẫu vượt thời gian về cách sống đời Kitô hữu, và các ngài giúp cho niềm hy vọng được tiếp diễn không ngừng. Các ngài không chỉ là những tội nhân đã liên tục cố gắng gần gũi với Thiên Chúa, mà còn là ví dụ điển hình những cách thức mà một người có thể phụng sự Thiên Chúa: qua việc giảng dạy, truyền giáo, bác ái, cầu nguyện và đơn sơ cố gắng làm đẹp lòng Thiên Chúa trong các hoạt động và quyết định bình thường của đời sống hằng ngày.

4. Đọc Kinh Thánh mỗi ngày. Kinh Thánh cung cấp con đường trực tiếp đến với Lời Thiên Chúa và kể về lịch sử ơn cứu độ con người. Người Công giáo có thể cầu nguyện bằng Kinh Thánh (bằng phương pháp lectio divina hoặc các phương pháp khác) để trở nên hòa hợp hơn với Lời Thiên Chúa. Nói cách khác, Kinh Thánh là một điều đòi buộc để trưởng thành trong Năm Đức Tin.

5. Đọc các văn kiện của Công đồng Vatican II. Công đồng Vatican II (1962-65) mở ra một cuộc canh tân vĩ đại cho Giáo Hội. Công đồng định hình cách cử hành Thánh Lễ, vai trò của giáo dân, cách Giáo Hội hiểu về chính mình, tương quan của mình với những Kitô hữu khác và những người không phải Kitô hữu. Để tiếp tục cuộc canh tân này, người công giáo phải hiểu những điều Công đồng dạy và cách thức làm cho đời tín hữu nên phong phú.

6. Học Giáo lý. Được xuất bản đúng 30 năm sau khi Công đồng khai mạc, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo bao trùm những điều phải tin, các giáo huấn luân lý, việc cầu nguyện và các bí tích của Hội Thánh Công Giáo trong một quyển duy nhất. Đó là nguồn giúp gia tăng sự hiểu biết đức tin. Một nguồn hữu ích khác là Sách Giáo lý Công giáo của Hoa Kỳ dành cho người trưởng thành (USCCA).

7. Tham gia các sinh hoạt của giáo xứ. Năm Đức Tin không thể chỉ có việc học hỏi và suy niệm. Sự hiểu biết vững chắc về Kinh Thánh, Công đồng và Giáo lý phải chuyển thành hành động. Giáo xứ là một nơi tuyệt vời để bắt đầu, và ơn riêng của mỗi người giúp xây dựng cộng đoàn. Mọi người được mời gọi tham gia các việc như tiếp tân, ca hát trong phụng vụ, đọc sách, giáo lý viên, và các vai trò khác trong đời sống giáo xứ.

8. Giúp những người khốn khó. Toà Thánh khích lệ người Công giáo đóng góp cho việc bác ái và tình nguyện giúp đỡ người nghèo trong Năm Đức Tin. Điều này có ý làm cho mỗi cá nhân gặp được Chúa Kitô nơi người nghèo, người sống bên lề xã hội và những người dễ bị tổn thương. Giúp đỡ người khác khiến cho người Công giáo diện đối diện với Chúa Kitô và tạo nên một gương mẫu cho những người khác trong thế gian này.

9. Mời một người bạn đến dự Thánh Lễ. Năm Đức Tin có tính toàn cầu, tập trung vào việc canh tân đức tin và việc truyền giáo của toàn thể Hội Thánh, tuy nhiên sự thay đổi thật sự xảy ra ở bình diện địa phương. Một lời mời cá nhân có thể làm thay đổi hoàn toàn một người nào đó đang xa rời đức tin hoặc cảm thấy xa lạ với Hội Thánh. Ai cũng quen biết những người như thế, do đó ai cũng có thể gởi đi một lời mời gọi yêu thương.

10. Làm cho các mối phúc thấu nhập vào đời sống hằng ngày. Các mối phúc (Matthêu 5,3-12) vạch nên một kế hoạch chi tiết phong phú cho việc sống đời Kitô hữu. Các mối phúc chứa đựng sự khôn ngoan giúp cho mọi người khiêm tốn hơn, kiên nhẫn hơn, công bằng hơn, trong sáng hơn, yêu thương hơn, tha thứ nhiều hơn và tự do hơn. Đó chính là mẫu đức tin sống động, cần có để lôi kéo người ta đến với Hội Thánh trong năm sắp tới.

Biên dịch: Lm. Phêrô Lê Tấn Bảo

 

GC chuyển

 
SONG VA CHIA SE LOI CHUA = CN 30 TN - B PDF Print E-mail

                        Sống và Chia sẻ Lời Chúa CN 30 TN –B

            “XIN CHO TÔI NHÌN THẤY ĐƯỢC” (Mc 10, 51)

                                                  CatholicStudies

A-Mời các Gia đình-Nhóm-Quý chức-Hội Đoàn-Phong trào dành thì giờ ngồi lại chia sẻ Kinh nghiệm Sống Lời Chúa CN30TN-B.

Bài đọc 1 : Giê-rê-mi-a 31, 7-9= “Này Ta sẽ đưa chúng từ đất Bắc trở về…trong chúng có kẻ đui, người què, kẻ mang thai…” (c. 8)

1/ Chia sẻ tôi có phải là người mù về tâm hồn không ? Tại sao ?         2/ Bạn khi phục vụ trong Giáo xứ, bạn có con mắt tâm hồn thế nào ?

Bài đọc 2: Do thái 5, 1-6= “Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội…bởi vì chính mình cũng đầy yếu đuối.” (c. 2)

1/ Chia sẻ cách phục vụ của tôi với những người yếu kém, lầm lạc. ?

2/ Kể những tật xấu của mình để dễ thông cảm,… cho người khác?

Bài Tin Mừng : Mc 10, 46-52= “Anh muốn tôi làm gì cho anh ? Anh mù đáp: “Thưa Thầy, xin cho tôi được nhìn thấy.” (c. 51)

1/ Chia sẻ là Tín hữu tôi đã học được điều gì ở người mù Giê-ri-khô?

2/Những gì đã làm bạn bị mù, trong khi thi hành chức vụ hiện nay ?

3/Chia sẻ những cộng tác tích cực thay đổi của tôi với ơn Chúa giúp?

 

B- Ý Chúa muốn nói gì với tôi : (Chia sẻ kinh nghiệm Sống)

1/“Lạy ông Giê-su , xin dủ lòng thương tôi ! Đây là thái độ quyết tâm gặp Chúa chữa lành sự mù lòa của mình, một cách hết sức tích cực, tin tưởng và khát khao. Anh mù được Chúa chữa ngay lập tức! Còn tôi thì sao ? Nhờ lòng tin bằng hành động, anh mù đã nhìn thấy và bước đi trên con đường của Chúa, bất chấp sự dọa nạt của người khác.

2/ Sự mù lòa về tâm linh của con: Còn tệ hại hơn anh mù này : chỉ muốn nâng lên, lấy điểm, xu ninh cấp trên, xoi mói, bới lông tìm vết, kiếm cách nói xấu, hạ bệ nhau mà quên sự đui mù, què quặt, dốt nát của mình, nên không biết thông cảm với anh em. Đáng thương quá !!!

3/ Quyết dứt bỏ áo choàng : Nhờ ơn Chúa, con quyết vứt bỏ áo choàng vật chất, tính kiêu ngạo, để đứng dậy, chạy đến, để sống lại với Chúa, như anh mù xin Người chữa lành tâm hồn, để con được giải phóng khỏi tật xấu và đam mê, hoàn toàn tự do theo Chúa.

 

*Lời Chúa tôi ghi nhớ: "Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được." (c. 51)

------------------------------------------

Ptế : GB Maria Định Nguyễn/ Huyền Đồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 37= PDF Print E-mail

 

NĂM ĐỨC TIN: Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA SỰ ĐAU KHỔ

Đau khổ là một thực tế hiển nhiên trong đời sống của con người, dù có niềm tin hay không .

Đây là một thực trạng mà không ai có thể phủ nhận hay tránh được trong cuộc sống trên trần gian này. Nào đau khổ vì bệnh tật, vì nghèo đói, vì bất công xã hội, vì thiên tai, động đất, bão lụt. Nào đau khổ vì bị tù đầy, tra tấn, bị kỳ thị, khinh chê và cô lập (dân Untouchable bên Ấn Độ). Sau hết, đau khổ lớn lao nhất là chết chóc đau thương.

Vì đâu có đau khổ ?

Thực khó tìm được câu trả lời thỏa đáng theo suy nghĩ của con người cho câu hỏi này..

Tuy nhiên, có điều nghịch lý đáng nói ở đây là ở khắp nơi, và ở mọi thời đại, luôn có những kẻ gian ác, làm những sự dữ, sự tội, như giết người, trộm cắp, hiếp dâm, đặc biệt là cai trị độc ác và gây ra chiến tranh khiến hàng triệu người vô tội bị giết ... nhưng những kẻ đó vẫn sống phây phây với địa vị và tiền bạc dư thừa của chúng, trong khi biết bao người lành, lương thiện, đạo đức lại nghèo khó, bệnh tật nan y hay gặp tai nạn xe cộ, tầu bè. Cụ thể, năm 2008, một xe buýt chở giáo dân ở Houston, Texas đị dự Đại Hội Thánh Mẫu ở Carthage , Missouri đã gặp tai nạn khiến hàng chục người chết hoặc bị thương nặng ! trong khi những xe và phi cơ chở người đi đánh bạc ở Las Vegas, lake charles (Louisiana).. hoặc du hí ở các nơi tội lỗi như Cancun (Mexico) Thai lan, Kampuchia... thì chưa hề gặp tai nạn tương tự !! Lại nữa, những người nghiện rượu và thuốc lá thường dễ bị ung thư phổi, nhưng biết bao người không uống rượu và hút thuốc lá mà vẫn bị ung thư phổi , thi sao ? Lại nữa, phụ nữ sinh con thì dễ bị ung thư ngực, nhưng có nữ tu không hề sinh đẻ mà vẫn bị ung thư ngực !

Vậy không lẽ Chúa phạt những người bị tai nạn hay bệnh tật kia???

Chắc chắn là không. Nhưng phải giải thích thế nào cho hợp lý và tìm ra ý nghĩa của sự đau khổ với con mắt đức tin của người tín hữu Chúa Kitô trong năm Đức Tin này.

Thật vậy, đau khổ là một thực trạng không thể tránh được trong trần gian này như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa :'

" Trong thế gian

Anh em sẽ phải gian nan khốn khó

Nhưng hãy can đảm lên

Thầy đã thắng thế gian. (Ga 16: 33)

Nhưng trước khi Chúa đến trần gian để chia sẻ thân phận con người với nhân loại, sự đau khổ , sự dữ đã đầy rẫy trong trần gian như Kinh Thánh Cựu Ước đã ghi lại. Cụ thể ông Gióp (Job) là người " vẹn toàn, ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và tránh xa điều ác."( G 1: 1). Vậy mà ông đã gặp hoạn nạn, đau khổ lớn lao bất ngờ, không thể tưởng tượng được : nào con cái (bảy con trai ba con gái) bỗng chốc lăn ra chết hết trong một trận cuồng phong từ sa mạc thổi đến. Nào đàn gia xúc của ông gồm bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái và một số đông tôi tớ cũng bỗng chốc bị giết và cướp mất khỏi tay ông ! Nhưng trước tai ương khủng khiếp này , ông Gióp chỉ biết quỳ xuống than thở với Chúa như sau :

" Thân trần truồng

Sinh ra từ lòng mẹ

Tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng

ĐỨC CHÚA đã ban cho

ĐỨC CHÚA lại lấy đi

Xin chức tụng danh ĐỨC CHÚA ! (G1 : 21)

Chính vì lòng trung kiên yêu mến, kính sợ Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, như khi được mọi điều sung sướng và nhất là khi phải đau khổ vì tai ương bất ngờ, ông Gióp đã được Thiên Chúa khen lao và ban lại cho ông gấp đôi những gì ông đã mất: ông lại sinh được bảy con trai và ba con gái xinh đẹp nhất trong xứ sở và sống thọ thêm một trăm bốn mươi năm nữa . (cf.G 42: 12-17)

Như thế , sự đau khổ, tai ương là phương tiện hữu hiệu Thiên Chúa đã dùng để thử thách các tôi tớ trung kiên của Người như các ông Mô- sê, Ap-bra-ham Gióp và Tô-bia.

Ngươc lai, đôi khi Thiên Chúa cũng dùng tai ương, đau khổ để trừng phạt con người vì tội lỗi và ngoan cố không muốn ăn năn sám hối để được tha thứ. Đó là hinh phạt Đại hồng thủy trong thời Cựu Ước, đã cuốn đi vào lòng đai dương tất cả mọi người, mọi sinh vật trên mặt đất, trừ gia đình ông Nô-e và các sinh vật được ông đem vào tàu trước khi mưa tuôn đổ xuống địa cầu. ( St 6: & 7)

Lại nữa, Thiên Chúa đã dùng lửa và mưa sinh diêm từ trời xuống để hủy diệt thành Xô-đôm , vì ông Ap-bra-ham không tìm được người ngay lành nào trong thành tội lỗi đó, để xin Chúa tha chết cho thành ấy. ( Sđd : 19)

Nhưng khi dân thành Ni-ni-vê nghe theo lời kêu gọi của ngôn sứ Giô-na ăn chay , cầu nguyện và xám hối thì Thiên Chúa đã tha không đánh phạt họ như Người đã ngăm đe. (. Gn 3: 1-10)

Như vậy , trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã dùng đau khổ , gian nan khốn khó để thử thách các tôi tớ trung thành và cũng để đánh phạt những kẻ làm những sự dữ , tội lỗi mà không chiu xám hối và từ bỏ con đường gian ác.

Dân Do Thái, cho đến thời Chúa Giêsu xuống trần và đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, vẫn quen nghĩ rằng sự khó, sự đau khổ và tai ương xảy ra cho ai thì tại tội lỗi của người đó hay của cha mẹ nạn nhân. Cho nên khi thấy một người mù từ bé, các môn đệ của Chúa Giêsu đã hỏi Người như sau :

" Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?( Ga 9 : 2). Chúa Giêsu đã trả lời họ như sau : "không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh." ( Sđd 9; 3)

Việc của Thiên Chúa được tỏ hiện là Chúa Giêsu đã chữa cho anh mù được xem thấy để minh chứng Người là quả thực là Đấng Thiên Sai ( Mê-si-a ) đã đến trong trần gian để " cho người mù được thấy. kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.." ( Lc 7 : 22 ) .

Nhưng cũng trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu cũng nói với một người đã đau ốm lâu năm và Chúa đã chữa lành cho anh ta. Nhưng khi gặp lại anh này trong Đền Thờ sau đó, Chúa đã nói với anh điều đáng chú ý như sau :

" Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước." ( Ga 5: 14)

Như thế có nghĩa là tội lỗi cũng có thể là nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người như Chúa đã nói trên đây. Kinh nghiệm thực tế ngày nay cũng chứng minh điều này. Kẻ trộm cắp cứ quen sống bất lương như vậy, sẽ có ngày gặp tai họa khi vào nhà ai để ăn trộm và có thể bị chủ nhà bắn chết. (ở Mỹ rất nhiều người dân có súng trong nhà để tự vệ). Người ngoai tình cũng có thể bị tình địch giết chết vì đã gian díu với vợ hay chồng của người khác. Lái xe ẩu, vượt đèn đỏ có thể gây ra án mạng cho người khác và cho chính người lái xe ẩu. Đúng là tội đâu vạ đấy như người Việt Nam chúng ta thường nói.

Tuy nhiên, là người tín hữu, chúng ta được dạy dỗ để tin rằng sự đau khổ về thể lý hay tâm hồn cũng là phương tiện mà Thiên Chúa dùng để cho chúng ta được thông phần sự thương khó đau khổ với Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi sự khốn khó cho đến chết đau thương trên thập giá để cho chúng ta được cứu độ và có hy vọng được hưởng hạnh phúc Nước Trời với Chúa sau hành trình đức tin trên trần thế này.

Thật vậy, Chúa Giê-su Kitô là Đấng Thiên Sai (Messaih) đã đến trần gian làm Con Người, đã chiu khốn khó ngay từ khi sinh ra trong cảnh cực kỳ khó nghèo nơi hang lừa máng cỏ, bị đe dọa giết chết bởi Hêrôđê khiến Đức Mẹ và Thánh Giuse phải mang chậy trốn sang Ai Cập lúc đêm khuya.. Lớn lên, Người đi rao giảng Tin Mừng trong điều kiện rất khó nghèo, lang thang đó đây như kẻ vô gia cư đúng như Chúa đã nói với các môn đệ :" con chồn có hang, chim trời có tổ , nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." ( Mt 8 : 20)

Là Đấng Thiên Sai, Chúa Kitô sẽ "phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục , các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại." ( Sđd 16: 21)

Phêrô, môn đệ được Chúa khen ngợi vì đã tuyên xưng đúng Người là " Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống.". Nhưng khi nghe Chúa nói đến những đau khổ mà Người sắp phải chịu trước khi chết, sống lại và lên trời vinh hiển, Phêrô đã tìm cách can ngăn Chúa như sau : " Xin Thiên Chúa thương đừng để cho Thầy gặp chuyên đó.".( Sđd 16: 22)

Để trả lời cho Phêrô và cũng để dạy cho chúng ta biết giá trị của đau khổ, Chúa đã quở trách ông như sau: "Xa tan , hãy lui lại đàng sau Thầy ! anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." .( Sđd 16: 23)

Phêrô can ngăn Chúa vì đã hành động đúng với suy tư của mọi người trần thế là không ai muốn chiu sự gì khốn khó, đau khổ. Ai cũng muốn được luôn khỏe mạnh, sung sướng , an nhàn, có nhiều tiền của và danh vọng ở đời. Không ai muốn bệnh tật, nghèo đói và bị khinh chê, tù đầy hay bắt bớ . Ước vọng được khỏe mạnh cũng rất chính đáng và đẹp lòng Chúa, như tác giả Sách Huấn Ca đã viết:

" Người đã chết thì hết xưng tụng vì nó không còn nữa

Chỉ người đang sống và khỏe mạnh mới ca ngợi Đức Chúa." ( Hc 17 : 28)

Vì thế, người đau ốm cầu xin Chúa cho được lành bệnh tật của thân xác:

"Lậy Chúa, xin đoái thương, này con đang kiệt sức

Chữa lành cho vì gân cốt rã rời

Toàn thân con rã rời quá đỗi

Mà lậy Chúa, Chúa còn trì hoãn đến bao giờ ? ". ( Tv 6 : 3-4)

Cầu xin cho được khỏe mạnh và bình an trong cuộc sống là điều tốt phải xin Chúa và không có gì đáng chê trách. Nhưng bệnh tật và rủi ro thì không ai tránh được trong cuộc sống ở đời này. Người đạo đức, lương thiện và kẻ bất lương gian ác đều không ít thì nhiều phải đau khổ như bệnh tật, tai nạn bất ngờ, tang chế trong gia đình vì người thân mất đi.... Tuy nhiên, cứ xem gương Chúa Giêsu , Đức Mẹ và các Thánh thì người có đức tin phải hiểu rằng đau khổ có giá trị cứu rỗi và là phương thế hiệu nghiệm mà Thiên Chúa dùng để thánh hóa và cải hóa con người, cũng như để thử thách lòng tin yêu của các tôi tớ trung kiên như trường hợp các ngôn sứ Mô-Sê, Abraham, Gióp và Tôbia đã nói ở trên.

Vì đau khổ có giá trị xin tha tội, nên ông Mô-sê đã xin hiến mạng sống mình làm của lễ để xin Thiên Chúa tha tội cho dân Do Thái xưa:

" Ông Mô-sê trở lại với ĐỨC CHÚA và thưa : "than ôi dân này đã phạm một tội lớn. Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng. Nhưng giờ đây ước gì Ngài miễn chấp tội họ. Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn Sách Ngài đã viết." ( Xh 32 : 31-32)

Chính vì giá trị cứu chuộc của đau khổ mà Chúa Kitô, Đấng Thiên Sai, Người Tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa, đã vui lòng "uống chén đắng" là vác thập giá, chịu mọi cực hình cho đến khi chết đau thương trên thập giá để đền tội cho nhân loại và cho chúng ta hy vọng được sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau. Phải nói là có hy vọng thôi chứ không phải là bảo đảm chắc chắn ngay từ bây giờ, không phải vì sự đau khổ của Chúa Kitô chưa đủ cho con người được cứu rỗi, mà vì con người còn có tự do để cộng tác với ơn Chúa để được cứu chuộc hay bị loại vì đã tự ý khước từ ơn cứu rỗi đó để sống buông thả theo tính hư nết xấu của xác thịt và chậy theo những quyến rũ của thế gian đang tràn ngập với "văn hóa của sự chết" mà những kẻ không có niềm tin đang ngụp lặn trong đó.

Nếu con người không có thiện chí muốn cộng tác với ơn Chúa để sông theo đường lối của Chúa, thì Chúa không thể cứu ai được , mặc dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con người được cứu rỗi.

Tóm lại, không ai có thể tránh được đau khổ trong cuộc sống trên trần gian này. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, với người có niềm tin nơi Chúa thì đau khổ là phương thế tốt nhất cho ta được trở nên giống Chúa Kitô , Người đã đi vào vinh quang phục sinh qua khổ hình thập giá để dẫn đưa chúng ta vào hưởng hạnh phúc Nước Trời, nếu chúng ta cũng vui lòng vác thập giá theo Người. Nghĩa là chúng ta phải vui lòng chấp nhận những sự khó, sự đau khổ mà chúng ta không kiêu căng đi tìm kiếm nhưng không hậm hực kêu trách Chúa khi gặp phải trong cuộc sống trên trần gian này. Đó là cách chấp nhận đau khổ đẹp lòng Chúa, đúng theo lời dạy của chính Chúa Kitô, là " ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo." (Mt 16: 24).

Vác thập giá theo Chúa có nghĩa là vui lòng chịu mọi sự khó Chúa gửi đến trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Vậy chúng ta hãy can đảm và bằng lòng chịu những sự khó, sự đau khổ mà chúng ta không ai muốn kiếm tìm nhưng không tránh được, vì Chúa đã tha phép cho xảy ra để cho ta được thông phần sự thương khó của Chúa Kitô để đền tội mình và tội của người khác, cũng như để cầu xin cho nhiều người chưa biết Chúa được nhân biết và tin yêu Chúa để cùng hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Đó là điều quan trọng chúng ta cần suy tư và sống trong Năm Đức Tin này.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 36= BAI GIAO LY 8A 35 -DUC TIN LÀ GI? PDF Print E-mail

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 35)

Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 24.10.2012.

NĂM ĐỨC TIN. ĐỨC TIN LÀ GÌ ?

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

thứ tư vừa qua, với cuộc khởi đầu Năm Đức Tin , tôi đã khởi sự bằng một chuổi mới các bài giáo lý về đức tin.

Hôm nay tôi muốn được cùng Anh Chị Em suy nghĩ về một vấn đề then chốt: đức tin là gì ?

Đức tìn còn có ý nghĩa trong một thế giới mà khoa học và kỷ thuật đã mở ra các chân trời mà cho đến ít lâu trước đây không ai có thể nghĩ đến được?

Ngày nay tin là gì?

Thật vậy, trong thời đại chúng ta cần có một nền đào tạo mới về đức tin,

- dĩ nhiên để hiểu được các chân lý và các biến cố của sự cứu rổi,

- nhưng nhứt là đức tin được nảy sinh ra bởi cuộc gặp gỡ đích thực với Chúa trong Chúa Giêsu Kitô, bởi tình yêu thương đối với Người, bởi phó thác tin cậy vào Người, như vậy lôi cuốn liên hệ đến cả cuộc sống.

1 - Ngày nay, cùng với bao nhiêu dấu chỉ tốt đẹp, cũng đang lớn lên chung quanh chúng ta một loại sa mạc thiêng liêng.

Đôi khi người ta có cảm tưởng rằng, từ những biến cố mà chúng ta biết được tin mỗi ngày, thế giới không đang đi về hướng xây dựng một cộng đồng huynh đệ và hoà bình; chính nhũng tư tưởng về tiến bộ và đời sống sung mãn cũng tỏ ra cho thấy các bóng tối của chúng.

Mặc cho sự cao cả huy hoàng về các khám phá của khoa học và các thành công của kỷ thuật, ngày nay con người dường như không có vẽ gì thực sự trở nên tự do hơn, nhân đạo hơn; vẫn còn bao nhiêu hình thức lợi dụng, các động tác gian mưu, bạo lực, đàn áp, bất công...

Kế đến một loại văn hoá đã đào tạo con người hướng về chân trời

- các vật thể vật chất,

- những gì có thể làm được,

- chỉ tin vào những gì có thể thấy được và chạm đến được bằng chính đôi tay của mình.

Nhưng đàng khác cũng tăng trưởng lên số người cảm thấy minh mất định hướng và, trong việc tìm kiếm vượt qua phía bên kia nhãn quang chỉ giới hạn vào chiều ngang của thực thể, sẵn lòng tin vào tất cả những gì trái ngược lại.

Trong bối cảnh vừa kể thoát hiện ra một vài câu hỏi nền tảng, thiết thực hơn nhiều đối với những gì xuất hiện ra lúc ban đầu: sống có ý nghĩa gì?

Có một tương lai cho con người, cho chúng ta và các thế hệ tương lai không?

Tự do của chúng ta phải được hướng về các sự lựa chọn nào để có được một cuộc kết thúc tốt đẹp và hạnh phúc cho đời sống?

Cái gì đang chờ đợi chúng ta bên kia ngưỡng cửa của cái chết?

Từ những câu hỏi không thể xoá bỏ đi được đó cho thấy thế nào là thế giới

- của thiết lập đồ án,

- của tính toán chính xác

- và của thí nghiêm,

nói ngắn gọn thế giới của khoa học, mặc dầu quan trọng cho đời sống con người, một mình thôi không đủ.

Chúng ta cần có

- không chỉ bánh vật chất,

- chúng ta còn cần có cả tình yêu thương,

- ý nghĩa và hy vọng,

- cần có một nền tảng chắc chắn, một đất đai cứng chắc để giúp chúng ta có được cuộc sống với ý nghĩa chính đáng ngay cả trong cơn khủng hoảng, trong các lúc tăm tối, trong các khó khăn và các vấn đề hằng ngày.

Đức tin ban tặng cho chúng ta điều đó: là một phó thác tin tưởng vào một " Cha ! ", tức là Thiên Chúa, Đấng ban tặng cho tôi một niềm vững chắc khác biệt, nhưng không có gì ít cứng chắc hơn sự vững chắc mà tôi có được từ thế giới chiết tính chính xác hay khoa học.

Đức tin

- không phải chỉ đơn sơ là một sự đồng thuận trí thức của con người đối với các chân lý cá biệt về Thiên Chúa,

- mà là một động tác, qua đó tôi tư do phó thác vào một Thiên Chúa, là Cha yêu thuơng tôi; là động tác gia nhập liên kết với " Cha ", Đấng ban tặng cho tôi hy vọng và tin tưởng.

Dĩ nhiên động tác gia nhập liên kết đó không phải thiếu nội dung: với động tác gia nhập kết hợp đó chúng ta ý thức rằng

- chính Thiên Chúa đã tỏ hiện Người cho chúng ta nơi Chúa Kitô,

- đã làm cho chúng ta thấy được diện mạo Người và đã làm cho Người thực sự trở nên gần gũi với mỗi người chúng ta.

2 - Nói đúng hơn, Thiên Chúa đã mạc khải tình yêu của Người đối với con người, đối với mỗi người chúng ta, là tình yêu không thể đo lường được: trên thập giá, Chúa Giêsu Nazareth, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, tỏ cho chúng ta thấy một cách sáng tỏ hơn đến độ nào tình yêu thương đó được thể hiện, đến độ hy sinh chính mình, đến hy sinh trọn vẹn tất cả.

Với mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô,

- Thiên Chúa xuống đến tận cùng trong nhân tính chúng ta,

- để đem nhân tính đó về lại với Người,

- để đưa nhân tính đó lên đến cao độ của Người.

Đức tin là tin vào tình yêu thương nầy của Thiên Chúa, không bị mất đi trước thái độ man rợ của con người, trước điều ác và cái chết, mà là tình yêu có khả năng biến đổi mọi hình thức nô lệ , bằng cách ban cho khả năng được cứu rổi.

Như vậy tin là gặp gỡ với " Cha " , " Chúa ", Đấng nâng đỡ tôi và ban cho tôi lời hứa một tình yêu thương bất khả tiêu diệt, không những hướng về vô tận, mà còn ban cho tôi vô tận đó; tin là phó thác tôi cho Chúa với thái độ của một đứa bé, biết rõ rằng tất cả các khó khăn của mình, tất cả các vấn đề của mình đều nằm ở nơi vững chắc trong " má à ! ".

Và điều có thể được cứu rổi nầy, nhờ đức tin, là một quà tặng được Chúa ban cho tất cả mọi người.

Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ phải suy niệm thường xuyên hơn - trong đời sống hằng ngày của chúng ta, được đánh dấu bằng những vấn đề và những tình trạng nhiều khi thật thảm đạm - về sự kiện tin một cách Kitô giáo có nghĩa là sự giao phó nầy của tôi với lòng tin cậy vào ý nghĩa sâu xa nâng đỡ tôi và thế giới,

- ý nghĩa đó là chúng ta không thể tự mình cho chúng ta được,

- mà chỉ có thể lãnh nhận như là quà tặng đươc ban cho, và đó là nền tảng mà trên đó chúng ta có thể sống không phải sợ sệt.

Lòng vững chắc giải thoát và trấn an nầy của đức tin, chúng ta phải có khả năng loan báo bằng lời nói và cho thấy bằng đời sống Kitô hũu của chúng ta.

Nhưng chung quanh chúng ta, hằng ngày chúng ta thấy còn có nhiều người dững dưng hay khước từ đón nhận lời loan báo nầy.

Vào cuối Phúc Âm Thánh Marco hôm nay, chúng ta có những lời cứng rắn của Chúa Phục Sinh cho biết:

- " Ai tin và chịu phép rửa sẽ đươc cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án " ( Mc 16, 16), sẽ bị mất chính mình.

Tôi muốn được mời gọi Anh Chị Em hãy suy tư điều vừa kể.

Lòng tin và động tác của Chúa Thánh Thần phải thúc đẩy chúng ta luôn luôn đi và rao giảng Phúc Âm, can đảm nhân chứng đức tin; nhưng bên kia điều đáp ứng tích cực lại ơn ban có được đức tin, cũng có thể có nguy hiểm của việc khước từ Phúc Âm, việc không đón nhận cuộc gặp gỡ sống với Chúa Kitô.

Thánh Augustino đã đặt lên vấn đề nầy trong một bài bình luận của ngài về dụ ngôn người gieo giống:

- " Chúng ta nói - ngài nói - chúng ta gieo hạt giống, chúng ta rải hạt giống. Có những người khinh bỉ, có những kẻ trách cứ, có những kẻ nhạo cười. Nếu chúng ta sợ sệt đối với họ, chúng ta không có gì khác để gieo và đến ngày gặt, chúng ta sẽ không có gì để thu góp. Bởi đó ước gì có hạt giống trên đất tốt " ( Discorso sulla disciplina cristiana, 13, 14: PL 40, 677-678).

Như vậy, thái độ từ chối không thể làm cho chúng ta nãn chí.

Với tư cách là người tín hữu Chúa Kitô, chúng ta là nhân chứng cho khoản đất màu mỡ nầy: đức tin của chúng ta, mặc dầu trong tầm các giới hạn của chúng ta, cho thấy rằng có khoản đất tốt, nơi mà hạt giống Lời Chúa sinh dồi dào hoa trái công chính, hoà bình và tình yêu thương, nhân loại mới, sự cứu độ.

Và cả lịch sử Giáo Hội, với tất cả những vấn đề, cho thấy có đất tốt, có hạt giống tốt và đem lại hoa trái.

3 - Nhưng chúng ta tự hỏi từ đâu con người múc lấy được độ cởi mở con tim và lý trí để tin vào Chúa, Đấng đã làm cho mình có thể được thấy nơi Chúa Giêsu Kitô chết và sống lại, để chúng ta đón nhận được ơn cứu rổi, như vậy Người và Phúc Âm của Người trở thành định hướng và ánh sáng cho cuộc sống?

Câu trả lời: chúng ta có thể tin vào Chúa, bởi vì Người đến gần chúng ta và đụng chạm đến chúng ta, bởi vì Chúa Thánh Thần, ơn ban của Chúa Phục Sinh, làm cho chúng ta có khả năng đón nhận Thiên Chúa hằng sống.

Như vậy, đức tin trước tiên là một ơn ban siêu nhiên, một quà tặng của Chúa.

Công Đồng Vatican II xác nhận:

- " Để có thể sử dụng được đức tin nầy, cần có ơn Chúa tiên liệu và trợ lực, và cần có các sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần, Đấng lay chuyển con tim và làm cho con tim quy hướng về Chúa, mở rộng đôi mắt của lý trí " và ban cho tất cả sự dịu dàng trong đồng thuận và tin vào chân lý " ( Hiến Chế Tín Lý Dei Verbum, 5).

Ở gốc rễ cuộc hành trình đức tin của chúng ta, có Phép Rửa,

- phép Bí Tích ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần,

- làm cho chúng ta trở thành con cái Chúa trong Chúa Kitô,

- và tỏ dấu cho bước hội nhập của chúng ta vào cộng đồng đức tin, vào Giáo Hội: không ai tự mình có thể tin, mà không có ơn Chúa Thánh Thần báo trước và không ai tin một mình, nhưng cùng với anh em.

Từ Phép Rửa trở đi, mỗi tín hữu được kêu gọi hãy sống và hành động chính lời tuyên xưng đức tin nầy, cùng với anh em mình.

Đức tin là ơn Chúa ban cho, nhưng cũng là một động tác tự do sâu thẩm của con người.

Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo nói lên điều đó một cách rõ ràng:

- " Không có thể tin, nếu không có ơn Chúa và các trợ lực kế tiếp của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên không đúng cho rằng tin là một động tác tự động của con người. Tin không có gì nghịch lại tự do cũng như trí óc con người " ( n. 154).

Đúng hơn, tin có liên hệ và nâng cao trí tuệ con người. Trong một cuộc thử thách đời sống tin như là một chuyến xuất hành, tức là một động tác thoát xuất ra khỏi mình , ra khỏi những gì mình cho là vững chắc, ra khỏi các lược đồ trí óc của chính mình, để phó thác cho động tác của Chúa , Đấng chỉ đường của Người cho chúng ta để đạt được tự do đích thực, căn tính nhân loại của chúng ta, nỗi tươi vui đích thực của con tim, nền hoà bình với tất cả.

Tin là ủy thác minh với tất cả tự do và với niềm vui tươi vào đồ án quan phòng của Chúa trên lịch sử, như tổ phụ Abraham, như đã hành xử Mẹ Maria ở Nazareth.

Như vậy đức tin là một sự đồng thuận mà qua đó trí tuệ và con tim của chúng ta nói tiếng " xin vâng " lên Chúa, bằng cách tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa.

Và tiếng " xin vâng " đó thay đổi đời sống, mở đường cho đời sống hướng về một ý nghĩa hoàn hảo, làm cho đời sống trở nên mới, đầy vui tươi và hy vọng đáng được tin cậy.

Các bạn thân mến, thời đại chúng ta đòi buộc người tín hữu Chúa Kitô

- hãy để cho Chúa Kitô nắm lấy mình,

- hãy lớn lên trong đức tin nhờ vào việc quen thuộc với Thánh Kinh và các Phép Bí Tích.

Người tín hữu Chúa Kitô hãy là những người như một cuốn sách mở ra, kể lại kinh nghiệm đời sống mới trong Chúa Thánh Thần, sự hiện diện của Chúa là Đấng nâng đở chúng ta trong cuộc hành trình và mở ra chơ chúng ta đời sống sẽ không bao giờ hết.

Cám ơn các bạn.

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Thông tấn www.vatican.va, 24.10.2012).

 
<< Start < Prev 1781 1782 1783 1784 1785 1786 1787 1788 1789 1790 Next > End >>

Page 1782 of 1818