mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3923
mod_vvisit_counterHôm Qua9215
mod_vvisit_counterTuần Này22104
mod_vvisit_counterTuần Trước58477
mod_vvisit_counterTháng Này243220
mod_vvisit_counterTháng Trước297597
mod_vvisit_counterTất cả13920823

We have: 119 guests online
Your IP: 100.25.214.89
 , 
Today: Jun 25, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Bức Thư Tình - Tâm Thư Chúa Gửi


KINH THÁNH LÀ BỨC THƯ TÌNH - THỨ SÁU 21-6-2019 PDF Print E-mail

Thứ Sáu Tuần 11 TN1, Năm lẻ

THƯ TÌNH CHÚA GỞI Bài đọc: 2 Cor 11:18, 21-30;  Mt 6:19-23.

Reading I: 2 Cor 11:18, 21-30

18since many boast of worldly things, I too will boast.) 21To my shame, I must say, we were too weak for that! But whatever any one dares to boast of -- I am speaking as a fool -- I also dare to boast of that. 22Are they Hebrews? So am I. Are they Israelites? So am I. Are they descendants of Abraham? So am I. 23Are they servants of Christ? I am a better one -- I am talking like a madman -- with far greater labors, far more imprisonments, with countless beatings, and often near death. 24Five times I have received at the hands of the Jews the forty lashes less one. 25Three times I have been beaten with rods; once I was stoned. Three times I have been shipwrecked; a night and a day I have been adrift at sea; 26on frequent journeys, in danger from rivers, danger from robbers, danger from my own people, danger from Gentiles, danger in the city, danger in the wilderness, danger at sea, danger from false brethren; 27in toil and hardship, through many a sleepless night, in hunger and thirst, often without food, in cold and exposure. 28And, apart from other things, there is the daily pressure upon me of my anxiety for all the churches. 29Who is weak, and I am not weak? Who is made to fall, and I am not indignant? 30If I must boast, I will boast of the things that show my weakness.

1/ Bài đọc I: 18 Vì có lắm kẻ tự hào theo tính xác thịt, thì tôi đây, tôi cũng tự hào.

21 Tôi nói thế, thật là nhục nhã, như thể chúng tôi đã tỏ ra nhu nhược. ..

22 Họ là người Híp-ri ư? Tôi cũng vậy! Họ là người Ít-ra-en ư? Tôi cũng vậy! Họ là dòng giống Áp-ra-ham ư? Tôi cũng vậy!

23 Họ là người phục vụ Đức Ki-tô ư? Tôi nói như người điên: tôi còn hơn họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết.

24 Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một;

25 ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi!

26 Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em.

27 Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng.

28 Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh!

29 Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên?
30 Nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi.

Gospel: Mt 6:19-23.

19"Do not lay up for yourselves treasures on earth, where moth and rust consume and where thieves break in and steal, 20but lay up for yourselves treasures in heaven, where neither moth nor rust consumes and where thieves do not break in and steal. 21For where your treasure is, there will your heart be also. 22"The eye is the lamp of the body. So, if your eye is sound, your whole body will be full of light; 23but if your eye is not sound, your whole body will be full of darkness. If then the light in you is darkness, how great is the darkness!

2/ Phúc Âm: 19 "Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi.

20 Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi.

21 Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.

22 "Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng, thì toàn thân anh sẽ sáng.

23 Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào!

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Phải có mắt sáng và trí tuệ khôn ngoan để nhận ra sự thật.

Mắt dùng để nhìn hay để quan sát người hay các sự việc xảy ra chung quanh; nhưng nếu chỉ dùng mắt để quan sát rồi đưa đến kết luận ngay, con người sẽ lầm to, vì có những điều ẩn giấu bên trong con người hay sự vật mà một người không thể nhìn thấy.

Để có kết luận khôn ngoan, con người cần dùng trí tuệ để suy xét cẩn thận về những điều đã nhìn thấy. Không phải ai có mắt cũng nhìn thấy; không phải ai có trí khôn cũng biết lựa chọn cách khôn ngoan. Nhiều người rất tự hào là họ khôn ngoan và sáng suốt, nhưng lại bị người khác đánh lừa để lấy đi tất cả những gì họ có. Nhiều cha mẹ tự hào là khôn ngoan, nhưng khi phải chọn vợ chồng cho con lại chọn những người chẳng mang lại hạnh phúc cho cuộc đời con của họ.

Các bài đọc hôm nay nhấn mạnh đến hai việc phải quan sát kỹ để nhìn thấy tất cả, và phải có sự khôn ngoan để lựa chọn những giá trị vĩnh cửu thay vì những giá trị hào nhoáng bên ngoài. Trong bài đọc I, thánh Phaolô phải dùng đến cách ngài không muốn, đó là tự hào kể công, để giúp các tín hữu Corintô nhận ra ai là người thương yêu và lo lắng cho họ thật lòng; chứ đừng vội theo những “tông đồ giả hiệu.” Họ có thể dùng cách ăn nói khôn ngoan và ngọt ngào của họ như của con cáo già, để mê hoặc các tín hữu non nớt ra khỏi tay của Phaolô và nhất là của Đức Kitô.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu cũng khuyên các môn đệ phải dùng mắt sáng và trí khôn ngoan để nhận ra đâu là những giá trị vĩnh cửu nên theo đuổi, và đâu là những giá trị hào nhoáng cần phải gạt đi.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi.

1.1/ Có lắm kẻ tự hào theo tính xác thịt, thì tôi đây, tôi cũng tự hào: Sở dĩ có trình thuật hôm nay là vì có một số những người Do-thái, ngay cả các tín hữu Do-thái, luôn theo sau để phá đổ những công trình của Phaolô. Mỗi khi Phaolô đến một thành phố nào để rao giảng Tin Mừng, để thiết lập giáo hội địa phương, và rời bỏ nơi đó qua thành khác, là những người này theo sau để phá hoại công việc của Phaolô, bằng cách dèm pha, nói xấu đủ điều, và lạm dụng lòng tin của các tín hữu để tìm lợi nhuận cho riêng họ.

Các tín hữu Corintô còn non nớt trong đức tin, nên đã không nhận ra những thủ đoạn của hạng người này, và một số người đã rơi vào bẫy của họ. Phaolô không muốn tự hào hay kể công, nhưng vì để kéo các tín hữu Corintô về với sự thật mà ông buộc lòng phải biện minh. Ông cảm thấy khó chịu và nhục nhã khi phải làm những điều này. Chúng ta có thể tóm tắt những gì Phaolô cắt nghĩa vào 3 lãnh vực chính:

(1) Nguồn gốc dân tộc Israel: “Họ là người Do-thái ư? Tôi cũng vậy! Họ là người Israel ư? Tôi cũng vậy! Họ là dòng giống Abraham ư? Tôi cũng vậy!” Có lẽ địch thù của Phaolô cho ông sinh ra và lớn lên tại Tarsus, Asia Minor, nên không phải là người Do-thái chính hiệu ở Israel.

(2) Gian khổ phải chịu trên đường rao giảng Tin Mừng: “Họ là người phục vụ Đức Kitô ư? Tôi nói như người điên: tôi còn hơn họ nữa! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do-thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng.”

(3) Mối lo lắng cho Hội Thánh mỗi ngày thêm tăng trưởng: “Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh!” Không chỉ việc giúp niềm tin cho các giáo hội địa phương, Phaolô còn lo cho Hội Thánh được bành trướng khắp nơi, đến tận Rôma và Âu-châu. Điều này đối phương của Phaolô không thể so sánh.

1.2/ Nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi: Phaolô muốn cho các tín hữu biết lý do tại sao ông phải nói lên những điều này: thứ nhất là để họ nhận ra tình thương thật của ông dành cho họ; thứ hai là ông có thể vượt qua tất cả gian khổ không bằng sức mạnh của ông, nhưng bằng sức mạnh của Đức Kitô và của Thánh Thần đang hoạt động trong ông; sau cùng như một lời khích lệ tinh thần, nếu họ để cho Đức Kitô làm việc, họ cũng có sức mạnh để vượt qua những yếu đuối và giới hạn của con người.

2/ Phúc Âm: Kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó.

2.1/ Hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời: Con người có thói quen tích trữ; nhưng phải biết khôn ngoan để tích trữ những gì không hư hoại và vào nơi tích trữ an toàn không ai có thể động tới được. Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ so sánh về kho tàng dưới đất với kho tàng trên trời.

(1) Kho tàng dưới đất: Nhiều người nghĩ tiền là tiện nhất và nhẹ nhàng, nên họ cẩn thận bao bọc tiền có được đem chôn dưới đất. Ít lâu sau cần tiền họ đào đất mang lên, tiền đã mục nát và trở thành vô giá trị. Người khác lại cho chẳng gì bằng của ăn như: gạo, bột mì, khoai sắn; nên họ xây những vựa to để chứa thực phẩm. Vài năm sau ra thăm, họ thấy vựa đã bị chuột cắn phá, gạo và lúa mì bị tràn đầy mối mọt. Người khác rút kinh nghiệm và kết luận: chẳng gì bằng vàng bạc, vừa không mất giá, vừa không bị mối mọt, và họ yên trí cất giấu. Nhưng cất đâu cũng chẳng khỏi “tai vách, mặt rừng.” Họ bị kẻ trộm đến khoét vách lấy đi vàng bạc, và những đồ quí giá.

(2) Kho tàng trên trời: Những gì con người có thể làm và tích trữ trong kho tàng trên trời. Trước tiên là những việc lành phúc đức được thu tóm trong 7 mối thương phần xác và 7 mối thương phần linh hồn. Thứ đến, là những hiểu biết về Thiên Chúa và tình yêu dành cho Ngài. Hai điều này không thể tách rời vì chúng ta không thể yêu người ta không biết. Kiến thức về Thiên Chúa sẽ giúp chúng ta yêu Ngài mỗi ngày một hơn. Sau cùng, Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh của Ngài, và Ngài mời gọi chúng ta trở nên hoàn thiện giống như Ngài. Tiến trình nên hoàn thiện không phải chỉ dứt bỏ tội lỗi mà thôi; nhưng còn phải tập luyện các nhân đức nữa.

2.2/ Nếu mắt anh sáng, thì toàn thân anh sẽ sáng: Chúa Giêsu dạy: "Đèn của thân thể là con mắt. Vậy nếu mắt anh sáng, thì toàn thân anh sẽ sáng. Còn nếu mắt anh xấu, thì toàn thân anh sẽ tối. Vậy nếu ánh sáng nơi anh lại thành bóng tối, thì tối biết chừng nào!” Mắt sáng mới thấy đường. Mắt mù, loạn thị và loạn sắc sẽ ảnh hưởng trên tầm nhìn của con người. Người mù lòa sẽ khổ vô cùng vì cả vũ trụ đối với anh là một màu đen. Đi đâu anh cũng phải có người hướng dẫn, nếu không anh sẽ bị té ngã vì những đồ vật trước mặt.

Như mắt sáng cần cho thân thể thế nào, sự khôn ngoan cũng cần cho đời sống tinh thần như vậy. Ít người chịu để ý đến sự mù lòa của trí khôn và tâm hồn; nhưng ảnh hưởng của nó trên con người còn lớn hơn là sự mù lòa trên cơ thể. Trình thuật Chúa chữa người mù trong chương 9 của Gioan giúp chúng ta nhận ra có những người mù mà mắt vẫn sáng.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- QUÝ BẠN phải biết dùng con mắt để quan sát cẩn thận những việc xảy ra trong trời đất. Một sự quan sát cẩu thả sẽ dẫn tới việc không đủ chất liệu để làm một kết luận khôn ngoan.
- CAC BẠN dùng trí tuệ, nhất là việc học hỏi Kinh Thánh, để biết phân biệt sự thật từ những sự gian tà, giá trị vĩnh cửu từ những giá trị tạm thời, người yêu mình thật từ những người chỉ biết lợi dụng để tìm kiếm lông chiên hay thịt chiên.
LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Kính chuyển:
Hồng

------------------------------------

 
KINH THÁNH LÀ THƯ TÌNH - THỨ TƯ 19-6-2019 PDF Print E-mail

Thứ Tư Tuần 11 TN1, Năm lẻ

THƯ TÌNH CHÚA GỞI: Bài đọc: 2 Cor 9:6-11; Mt 6:1-6, 16-18.

Reading I :2 Cor 9:6-11

6The point is this: he who sows sparingly will also reap sparingly, and he who sows bountifully will also reap bountifully. 7Each one must do as he has made up his mind, not reluctantly or under compulsion, for God loves a cheerful giver. 8And God is able to provide you with every blessing in abundance, so that you may always have enough of everything and may provide in abundance for every good work. 9As it is written, "He scatters abroad, he gives to the poor; his righteousness endures for ever." 10He who supplies seed to the sower and bread for food will supply and multiply your resources and increase the harvest of your righteousness. 11You will be enriched in every way for great generosity, which through us will produce thanksgiving to God;

1/ Bài đọc I: 6 Tôi xin nói điều này: gieo ít thì gặt ít; gieo nhiều thì gặt nhiều.

7 Mỗi người hãy cho tuỳ theo quyết định của lòng mình, không buồn phiền, cũng không miễn cưỡng, vì ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương.

8 Vả lại, Thiên Chúa có đủ quyền tuôn đổ xuống trên anh em mọi thứ ân huệ, để anh em vừa được luôn đầy đủ mọi mặt, vừa được dư thừa mà làm mọi việc thiện,

9 theo như lời đã chép: Kẻ túng nghèo, Người rộng tay làm phúc; đức công chính của Người tồn tại muôn đời.

10 Đấng cung cấp hạt giống cho kẻ gieo, và bánh làm của ăn nuôi dưỡng, tất sẽ cung cấp dư dật hạt giống cho anh em gieo, và sẽ làm cho đức công chính của anh em sinh hoa kết quả dồi dào.
11 Anh em sẽ được sung túc mọi bề để làm mọi việc thiện cách rộng rãi. Những việc chúng ta làm sẽ khiến người ta dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.

Gospel: Mt 6:1-6, 16-18.

1"Beware of practicing your piety before men in order to be seen by them; for then you will have no reward from your Father who is in heaven. 2"Thus, when you give alms, sound no trumpet before you, as the hypocrites do in the synagogues and in the streets, that they may be praised by men. Truly, I say to you, they have received their reward. 3But when you give alms, do not let your left hand know what your right hand is doing, 4so that your alms may be in secret; and your Father who sees in secret will reward you. 5"And when you pray, you must not be like the hypocrites; for they love to stand and pray in the synagogues and at the street corners, that they may be seen by men. Truly, I say to you, they have received their reward. 6But when you pray, go into your room and shut the door and pray to your Father who is in secret; and your Father who sees in secret will reward you. 16"And when you fast, do not look dismal, like the hypocrites, for they disfigure their faces that their fasting may be seen by men. Truly, I say to you, they have received their reward. 17But when you fast, anoint your head and wash your face, 18that your fasting may not be seen by men but by your Father who is in secret; and your Father who sees in secret will reward you.

2/ Phúc Âm: 1 "Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng.

2 Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi.

3 Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm,

4 để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

5 "Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi.

6 Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

16 "Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi.

17 Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm,

18 để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Bổn phận làm việc lành phúc đức

Đã vay, phải trả; đã nhận lãnh, phải cho đi. Vì con người đã nhận lãnh quá nhiều từ Thiên Chúa (mọi sự đều là của Ngài) và tha nhân (tổ tiên, ông bà, cha mẹ, quốc gia, thầy cô ...), nên họ có bổn phận phải cho đi. Vì con người không thể cho lại Thiên Chúa, nên họ cho đi bằng các giúp đỡ các anh chị em cần thiếu. Đó là lý do tại sao đôi khi chúng ta thấy có những người dám hiến cả tài sản họ đã vất vả tạo được cho những dòng tu hay các cơ quan từ thiện, mà không để lại cho con cháu hay người thân.

Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong bổn phận con người phải làm các việc lành phúc đức. Trong Bài Đọc I, thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu Corintô bổn phận phải đóng góp và cách đóng góp cho Giáo Hội Mẹ tại Jerusalem: Vì họ đã lãnh nhận nhiều từ Thiên Chúa và Giáo Hội, nên giờ họ cũng phải rộng lượng trả lại và cho đi. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu cảnh cáo những người làm phúc, cầu nguyện, và ăn chay để được tiếng khen. Họ đã được con người trả ơn rồi, và sẽ không được phần thưởng từ Thiên Chúa.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Biết cho đi là biết cách đầu tư cho mình và cho gia đình. Chúng ta chú trọng rất nhiều đến cách đầu tư để lo tương lai vật chất cho con cái; mà rất ít khi để ý đến đầu tư để sinh lợi ích tinh thần cho mình và cho những người trong gia đình của mình.
- Cùng một việc thiện chúng ta làm có thể sẽ không sinh lợi ích thiêng liêng gì cho chúng ta cả nếu chúng ta chú trọng đến tiếng khen của người đời. Chúng ta hãy làm tất cả vì lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, để chính Thiên Chúa ban tặng phần thưởng cho chúng ta.
LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Kính chuyển:
Hồng

---------------------------------

 
KINH THÁNH LÀ BỨC THƯ TÌNH - THỨ TƯ 19-6-2019 PDF Print E-mail

Thứ Tư Tuần 11 TN1, Năm lẻ

THƯ TÌNH CHÚA GỞI: Bài đọc: 2 Cor 9:6-11; Mt 6:1-6, 16-18.

Reading I :2 Cor 9:6-11

6The point is this: he who sows sparingly will also reap sparingly, and he who sows bountifully will also reap bountifully. 7Each one must do as he has made up his mind, not reluctantly or under compulsion, for God loves a cheerful giver. 8And God is able to provide you with every blessing in abundance, so that you may always have enough of everything and may provide in abundance for every good work. 9As it is written, "He scatters abroad, he gives to the poor; his righteousness endures for ever." 10He who supplies seed to the sower and bread for food will supply and multiply your resources and increase the harvest of your righteousness. 11You will be enriched in every way for great generosity, which through us will produce thanksgiving to God;

1/ Bài đọc I: 6 Tôi xin nói điều này: gieo ít thì gặt ít; gieo nhiều thì gặt nhiều.

7 Mỗi người hãy cho tuỳ theo quyết định của lòng mình, không buồn phiền, cũng không miễn cưỡng, vì ai vui vẻ dâng hiến, thì được Thiên Chúa yêu thương.

8 Vả lại, Thiên Chúa có đủ quyền tuôn đổ xuống trên anh em mọi thứ ân huệ, để anh em vừa được luôn đầy đủ mọi mặt, vừa được dư thừa mà làm mọi việc thiện,

9 theo như lời đã chép: Kẻ túng nghèo, Người rộng tay làm phúc; đức công chính của Người tồn tại muôn đời.

10 Đấng cung cấp hạt giống cho kẻ gieo, và bánh làm của ăn nuôi dưỡng, tất sẽ cung cấp dư dật hạt giống cho anh em gieo, và sẽ làm cho đức công chính của anh em sinh hoa kết quả dồi dào.
11 Anh em sẽ được sung túc mọi bề để làm mọi việc thiện cách rộng rãi. Những việc chúng ta làm sẽ khiến người ta dâng lời cảm tạ Thiên Chúa.

Gospel: Mt 6:1-6, 16-18.

1"Beware of practicing your piety before men in order to be seen by them; for then you will have no reward from your Father who is in heaven. 2"Thus, when you give alms, sound no trumpet before you, as the hypocrites do in the synagogues and in the streets, that they may be praised by men. Truly, I say to you, they have received their reward. 3But when you give alms, do not let your left hand know what your right hand is doing, 4so that your alms may be in secret; and your Father who sees in secret will reward you. 5"And when you pray, you must not be like the hypocrites; for they love to stand and pray in the synagogues and at the street corners, that they may be seen by men. Truly, I say to you, they have received their reward. 6But when you pray, go into your room and shut the door and pray to your Father who is in secret; and your Father who sees in secret will reward you. 16"And when you fast, do not look dismal, like the hypocrites, for they disfigure their faces that their fasting may be seen by men. Truly, I say to you, they have received their reward. 17But when you fast, anoint your head and wash your face, 18that your fasting may not be seen by men but by your Father who is in secret; and your Father who sees in secret will reward you.

2/ Phúc Âm: 1 "Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng.

2 Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi.

3 Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm,

4 để việc anh bố thí được kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

5 "Và khi cầu nguyện, anh em đừng làm như bọn đạo đức giả: chúng thích đứng cầu nguyện trong các hội đường, hoặc ngoài các ngã ba ngã tư, cho người ta thấy. Thầy bảo thật anh em: chúng đã được phần thưởng rồi.

6 Còn anh, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

16 "Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay. Thầy bảo thật anh em, chúng đã được phần thưởng rồi.

17 Còn anh, khi ăn chay, nên rửa mặt cho sạch, chải đầu cho thơm,

18 để không ai thấy là anh ăn chay ngoại trừ Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Bổn phận làm việc lành phúc đức

Đã vay, phải trả; đã nhận lãnh, phải cho đi. Vì con người đã nhận lãnh quá nhiều từ Thiên Chúa (mọi sự đều là của Ngài) và tha nhân (tổ tiên, ông bà, cha mẹ, quốc gia, thầy cô ...), nên họ có bổn phận phải cho đi. Vì con người không thể cho lại Thiên Chúa, nên họ cho đi bằng các giúp đỡ các anh chị em cần thiếu. Đó là lý do tại sao đôi khi chúng ta thấy có những người dám hiến cả tài sản họ đã vất vả tạo được cho những dòng tu hay các cơ quan từ thiện, mà không để lại cho con cháu hay người thân.

Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong bổn phận con người phải làm các việc lành phúc đức. Trong Bài Đọc I, thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu Corintô bổn phận phải đóng góp và cách đóng góp cho Giáo Hội Mẹ tại Jerusalem: Vì họ đã lãnh nhận nhiều từ Thiên Chúa và Giáo Hội, nên giờ họ cũng phải rộng lượng trả lại và cho đi. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu cảnh cáo những người làm phúc, cầu nguyện, và ăn chay để được tiếng khen. Họ đã được con người trả ơn rồi, và sẽ không được phần thưởng từ Thiên Chúa.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Biết cho đi là biết cách đầu tư cho mình và cho gia đình. Chúng ta chú trọng rất nhiều đến cách đầu tư để lo tương lai vật chất cho con cái; mà rất ít khi để ý đến đầu tư để sinh lợi ích tinh thần cho mình và cho những người trong gia đình của mình.
- Cùng một việc thiện chúng ta làm có thể sẽ không sinh lợi ích thiêng liêng gì cho chúng ta cả nếu chúng ta chú trọng đến tiếng khen của người đời. Chúng ta hãy làm tất cả vì lòng yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, để chính Thiên Chúa ban tặng phần thưởng cho chúng ta.
LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Kính chuyển:
Hồng

-------------------------------

 
KINH THÁNH LÀ BỨC THƯ TÌNH - LỄ CHÚA HIỆN XUỐNG PDF Print E-mail

THƯ TÌNH CHÚA GỞI: Chủ Nhật Lễ Hiện Xuống, Năm ABC

Reading I: Acts 2:1-11

1When the day of Pentecost had come, they were all together in one place. 2And suddenly a sound came from heaven like the rush of a mighty wind, and it filled all the house where they were sitting. 3And there appeared to them tongues as of fire, distributed and resting on each one of them. 4And they were all filled with the Holy Spirit and began to speak in other tongues, as the Spirit gave them utterance. 5Now there were dwelling in Jerusalem Jews, devout men from every nation under heaven. 6And at this sound the multitude came together, and they were bewildered, because each one heard them speaking in his own language. 7And they were amazed and wondered, saying, "Are not all these who are speaking Galileans? 8And how is it that we hear, each of us in his own native language? 9Par'thians and Medes and E'lamites and residents of Mesopota'mia, Judea and Cappado'cia, Pontus and Asia, 10Phryg'ia and Pamphyl'ia, Egypt and the parts of Libya belonging to Cyre'ne, and visitors from Rome, both Jews and proselytes, 11Cretans and Arabians, we hear them telling in our own tongues the mighty works of God."

Bài đọc: Acts 2:1-11; I Cor 12:3-7, 12-13; Jn 20:19-23.

1/ Bài đọc I: 1 Khi đến ngày lễ Ngũ Tuần, mọi người đang tề tựu ở một nơi, 2 bỗng từ trời phát ra một tiếng động, như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà, nơi họ đang tụ họp.

3 Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một.

4 Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho.

5 Lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem, có những người Do-thái sùng đạo, từ các dân thiên hạ trở về.

6 Nghe tiếng ấy, có nhiều người kéo đến. Họ kinh ngạc vì ai nấy đều nghe các ông nói tiếng bản xứ của mình.

7 Họ sửng sốt, thán phục và nói: "Những người đang nói đó không phải là người Ga-li-lê cả ư?

8 Thế sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiếng mẹ đẻ của chúng ta?

9 Chúng ta đây, có người là dân Pác-thi-a, Mê-đi, Ê-lam, Mê-xô-pô-ta-mi-a, Giu-đê, Cáp-pa-đô-ki-a, Pon-tô, và A-xi-a, 10 có người là dân Phy-ghi-a, Pam-phy-li-a, Ai-cập, và những vùng Li-by-a giáp giới Ky-rê-nê; nào là những người từ Rô-ma đến đây;
11 nào là người Do-thái cũng như người đạo theo; nào là người đảo Cơ-rê-ta hay người Ả-rập, vậy mà chúng ta đều nghe họ dùng tiếng nói của chúng ta mà loan báo những kỳ công của Thiên Chúa!"

Reading II: I Cor 12:3-7,

3Therefore I want you to understand that no one speaking by the Spirit of God ever says "Jesus be cursed!" and no one can say "Jesus is Lord" except by the Holy Spirit. 4Now there are varieties of gifts, but the same Spirit; 5and there are varieties of service, but the same Lord; 6and there are varieties of working, but it is the same God who inspires them all in every one. 7To each is given the manifestation of the Spirit for the common good. 12For just as the body is one and has many members, and all the members of the body, though many, are one body, so it is with Christ. 13For by one Spirit we were all baptized into one body -- Jews or Greeks, slaves or free -- and all were made to drink of one Spirit.

2/ Bài đọc II: 3 Vì thế, tôi nói cho anh em biết: chẳng có ai ở trong Thần Khí Thiên Chúa mà lại nói: "Giê-su là đồ khốn kiếp!" cũng không ai có thể nói rằng: "Đức Giê-su là Chúa", nếu người ấy không ở trong Thần Khí. 4 Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí.

5 Có nhiều việc phục vụ khác nhau, nhưng chỉ có một Chúa.

6 Có nhiều hoạt động khác nhau, nhưng vẫn chỉ có một Thiên Chúa làm mọi sự trong mọi người.

7 Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung.

12 Thật vậy, ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều, nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Ki-tô cũng vậy.
13 Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do, chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất.

Gospel: Jn 20:19-23.

9On the evening of that day, the first day of the week, the doors being shut where the disciples were, for fear of the Jews, Jesus came and stood among them and said to them, "Peace be with you." 20When he had said this, he showed them his hands and his side. Then the disciples were glad when they saw the Lord. 21Jesus said to them again, "Peace be with you. As the Father has sent me, even so I send you." 22And when he had said this, he breathed on them, and said to them, "Receive the Holy Spirit. 23If you forgive the sins of any, they are forgiven; if you retain the sins of any, they are retained."

3/ Phúc Âm: Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần."

19 Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em!"20 Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa.21 Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em."22 Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.23 Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ."

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Các hoạt động của Thánh Thần.

Thánh Thần là Thiên Chúa bị bỏ quên. Để trắc nghiệm, chúng ta thử coi mình có nói về Thánh Thần được hơn 5 phút không! Thời đại của chúng ta, thời đại từ khi Chúa Giêsu về trời cho đến Ngày Tận Thế là thời đại của Thánh Thần; thế mà chúng ta lại biết rất ít về Ngài. May mắn cho chúng ta, Giáo Hội dùng ngày hôm nay để giúp chúng ta ôn lại giáo lý về Chúa Thánh Thần.

Các Bài Đọc hôm nay cho chúng ta nhìn thấy các khía cạnh khác nhau của Ngôi Ba Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, Sách CVTĐ tường thuật Thánh Thần hiện xuống và đậu lại trên mỗi Tông-đồ qua hình ảnh của cơn gió mạnh, hình lưỡi lửa, và sự kiện nói tiếng lạ. Trong Bài Đọc II, Thánh Phaolô đề cập đến những công việc của Thánh Thần làm nơi mỗi cá nhân và toàn thể Giáo Hội. Ngài nhấn mạnh đến sự hiệp nhất trong cùng một đức tin, một Phép Rửa, và một tình yêu; vì tất cả đều hoạt động trong cùng một Thánh Thần. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nhấn mạnh đến vai trò của Thánh Thần trong việc sở hữu bình an và quyền tha thứ cho con người.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- BẠN VÀ TÔI phải luôn ý thức sự hiện diện của Ngài trong tâm hồn, như thánh Phaolô nói: "Thân thể anh em là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần;" và chúng ta phải cầu nguyện thường xuyên với Ngài, nhất là những giờ phút nghi ngờ, do dự, và không biết quyết định làm sao.

- Chúng ta không thể hiểu biết và nhận ra sự thật của Thiên Chúa nếu không nhận được sự hướng dẫn của Thánh Thần. Vì thế, chúng ta phải cầu nguyện với Ngài trên đường đi tìm sự thật.
- Thánh Thần thánh hóa con người bằng cách quét sạch những xấu xa, tội lỗi; và làm đầy tâm hồn bằng sự thật và ân sủng. Ngài cũng giúp chúng ta có sức mạnh và can đảm làm chứng cho Thiên Chúa.
LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Kính chuyển:
Hồng

---------------------------

 
KINH THÁNH LÀ BỨC THƯ TÌNH - THỨ SÁU CN7PS-C PDF Print E-mail

THƯ TÌNH CHÚA GỞI: Thứ Sáu Tuần VII PS
Reading I: Acts 25:13-21

13Now when some days had passed, Agrippa the king and Berni'ce arrived at Caesare'a to welcome Festus. 14And as they stayed there many days, Festus laid Paul's case before the king, saying, "There is a man left prisoner by Felix; 15and when I was at Jerusalem, the chief priests and the elders of the Jews gave information about him, asking for sentence against him. 16I answered them that it was not the custom of the Romans to give up any one before the accused met the accusers face to face, and had opportunity to make his defense concerning the charge laid against him. 17When therefore they came together here, I made no delay, but on the next day took my seat on the tribunal and ordered the man to be brought in. 18When the accusers stood up, they brought no charge in his case of such evils as I supposed; 19but they had certain points of dispute with him about their own superstition and about one Jesus, who was dead, but whom Paul asserted to be alive. 20Being at a loss how to investigate these questions, I asked whether he wished to go to Jerusalem and be tried there regarding them. 21But when Paul had appealed to be kept in custody for the decision of the emperor, I commanded him to be held until I could send him to Caesar."

Bài đọc: Acts 25:13-21: Jn 21:15-19.

1/ Bài đọc I: 13 Ít ngày sau, vua Ác-ríp-pa và bà Béc-ni-kê đến Xê-da-rê chào mừng ông Phét-tô.

14 Vì hai người ở lại đó nhiều ngày, ông Phét-tô mới đem vụ ông Phao-lô ra trình bày với nhà vua. Ông nói: "Ở đây có một người tù ông Phê-lích để lại.

15 Khi tôi tới Giê-ru-sa-lem, các thượng tế và các kỳ mục Do-thái đến kiện và xin tôi kết án người ấy.

16 Tôi đã trả lời họ rằng người Rô-ma không có lệ nộp bị cáo nào, trước khi đương sự ra đối chất với nguyên cáo, và được cơ hội biện hộ về lời tố cáo.

17 Vậy họ cùng đến đây với tôi, và không chút trì hoãn, ngày hôm sau tôi ra ngồi toà và truyền điệu đương sự đến.

18 Đứng quanh đương sự, các nguyên cáo đã không đưa ra một tội trạng nào như tôi tưởng.

19 Họ chỉ tranh luận với ông ta về một số vấn đề liên quan đến tôn giáo riêng của họ, và liên quan đến một ông Giê-su nào đó đã chết, mà Phao-lô quả quyết là vẫn sống.

20 Phần tôi, phân vân trước cuộc tranh luận về những chuyện ấy, tôi hỏi xem ông ta có muốn đi Giê-ru-sa-lem để được xử tại đó về vụ này không.
21 Nhưng Phao-lô đã kháng cáo, xin dành vụ này cho Thánh Thượng xét xử, nên tôi đã ra lệnh giữ ông ta lại cho đến khi giải lên hoàng đế."

Gospel: Jn 21:15-19.

15When they had finished breakfast, Jesus said to Simon Peter, "Simon, son of John, do you love me more than these?" He said to him, "Yes, Lord; you know that I love you." He said to him, "Feed my lambs." 16A second time he said to him, "Simon, son of John, do you love me?" He said to him, "Yes, Lord; you know that I love you." He said to him, "Tend my sheep." 17He said to him the third time, "Simon, son of John, do you love me?" Peter was grieved because he said to him the third time, "Do you love me?" And he said to him, "Lord, you know everything; you know that I love you." Jesus said to him, "Feed my sheep. 18Truly, truly, I say to you, when you were young, you girded yourself and walked where you would; but when you are old, you will stretch out your hands, and another will gird you and carry you where you do not wish to go." 19(This he said to show by what death he was to glorify God.) And after this he said to him, "Follow me."

2/ Phúc Âm: 15 Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không? " Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su nói với ông: "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy."

16 Người lại hỏi: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không? " Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Người nói: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy."

17 Người hỏi lần thứ ba: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không? " Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không? " Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su bảo: "Hãy chăm sóc chiên của Thầy.

18 Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn."

19 Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy."

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Người môn đệ phải lãnh trách nhiệm coi sóc và hy sinh cho đoàn chiên.

Trong cuộc đời, chúng ta rất dễ tìm người lãnh đạo ngoài xã hội, vì ai cũng mong có địa vị, uy quyền, và các lợi lộc vật chất; nhưng không dễ tìm người lãnh đạo trong Giáo Hội, vì chẳng những không có lợi lộc vật chất, mà còn đòi phải chịu phê bình, bắt bớ, tù đày, và ngay cả phải hy sinh đến tính mạng. Vì thế, chẳng lạ gì mà càng ngày càng thiếu những người tình nguyện hy sinh cuộc đời làm mục tử để lãnh đạo Dân Chúa, nhất là trong những quốc gia phát triển, nơi mà sự thành công được đo lường trên địa vị và lương bổng. Điều gì đã thúc đẩy các mục tử trong Giáo Hội sẵn sàng hy sinh quên mình, để chăm sóc cho đoàn chiên của Thiên Chúa?

Các Bài Đọc hôm nay cho chúng ta thấy những mẫu gương và lý do của việc hy sinh phục vụ. Trong Bài Đọc I, Phaolô bị các người Do-thái trong Thượng Hội Đồng bắt nộp cho Thống-đốc Rôma, vì niềm tin vào Đức Kitô và sự loan truyền đạo lý của Ngài. Những nhà cầm quyền Rôma không dám tha cho Phaolô, dù không tìm thấy nơi ông tội gì đáng chết, vì họ sợ người Do-thái. Phaolô kháng cáo lên hoàng đế Caesar vì ông có quốc tịch Rôma. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu hỏi Phêrô ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không?" trước khi trao cho ông nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên của Ngài. Nếu không có tình yêu dành cho Chúa Giêsu, Phêrô không bao giờ có thể hy sinh nghề nghiệp để chăm sóc đoàn chiên, nhất là phải chịu tù đày và hy sinh mạng sống.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Lãnh đạo các tín hữu trong Giáo Hội rất khác với lề lối lãnh đạo dân chúng ngoài xã hội. Chúa Giêsu đòi hỏi người mục tử phải thấm nhuần tình yêu Thiên Chúa, và lãnh đạo bằng tình yêu và phục vụ; chứ không bằng quyền hành và ra lệnh.

- Vì yêu Thiên Chúa, người mục tử được trao phó đoàn chiên để săn sóc, bảo vệ, và yêu thương. Để hoàn tất sứ vụ, người mục tử nhiều khi phải hy sinh đến tính mạng của mình.
- Người mục tử sẽ không được đền bù theo kiểu của thế gian: địa vị, quyền hành, và lợi nhuận vật chất; nhưng ông sẽ tìm được niềm vui và yêu thương nơi Thiên Chúa, vì đã được đáp trả tình yêu của Ngài dành cho ông.
LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

----------------------------------

Kính chuyển:
Hồng

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 130