mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2234
mod_vvisit_counterHôm Qua4203
mod_vvisit_counterTuần Này35852
mod_vvisit_counterTuần Trước33548
mod_vvisit_counterTháng Này100118
mod_vvisit_counterTháng Trước173870
mod_vvisit_counterTất cả10060489

We have: 102 guests online
Your IP: 23.22.240.119
 , 
Today: Jan 20, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO - LM CU HANH THANH LE PDF Print E-mail

LINH MỤC ĐƯỢC CỬ HÀNH HAY ĐỒNG TẾ BAO NHIÊU THÁNH LỄ TRONG NGÀY ?
Hỏi :
Xin cha giải thich rõ lại những câu hỏi sau đây:
1- Luật phụng vụ về cử hành Thánh Lễ và đồng tế của linh mục
2- có nhiều linh mục đồng tế thì được ích lợi thiêng liêng ra sao ?
3- có được phép gom nhiều ý lễ trong một Thánh Lễ hay không?
4- có cần cầu cho các thai nhi và cho các linh hồn "mồ côi không?
5- có được phép đi dự tiệc cưới của các cặp hôn nhân đồng tính không?
Trả lời:
1- Người Công Giáo Việt Nam sống ở Mỹ đều nhận thấy rõ điều này là : chỉ có ở các giáo xứ hay công đoàn Viêt nam ( Cali, Houston, Dallas, New Ỏrleans...) mới có hiện tương nhiều linh mục đến đồng tế trong các lễ tang hay lễ cưới. Đây là điều bên Việt Nam cấm, và ngay cả các giáo xứ Mỹ, Hispanic, Phi, Đại Hần Tàu ...cũng không có , mà chỉ ở các giáo xứ hay Cộng Đoàn dành riêng cho giáo dân Viêt Nam mới có mà thôi.
Tại sao lại có hiện tượng các linh mục đồng tế nhiều như vậy ở các giáo xứ Viêt Nam ở Mỹ ?
Trước khi trả lời cho câu hỏi trên, tưởng cũng cần nói rõ thêm một lần nữa là theo giáo luật , linh mục chỉ được phép cử hành MỘT Thánh Lễ mỗi ngày mà thôi, trừ trường hợp có nhu cầu mục vụ chính đáng, như có đông giáo dân dự lễ trong các ngày Chúa Nhật và lễ buộc, khiến không thể làm một lễ cho quá nhiều người tham dự được. Trong trường hợp này, Đấng bản quyền địa phương- cụ thể là Giám mục địa phận, có thể cho phép các linh mục trực thuộc làm 2 hay 3 lễ trong ngày để thỏa mãn nhu cầu mục vụ của giáo Xứ. ( x. Giáo luật số 905).
Linh mục cử hành Thánh Lễ mà không được phép làm 2, hay 3 Lễ trong ngày , trừ trường hợp ngoại lệ nói trên, thì linh mục đến đồng tế cũng phải theo luật này để không được đồng tế 2, hay 3 lễ trong ngày mà hoàn toàn vì lý do riêng, chứ không phải là vì nhu cầu mục vụ đòi buộc.Nghiã là không có luật ngoại lệ nào cho phép đồng tế nhiều lần như vậy trong một ngày.Chỉ có luật cấm linh mục Công Giáo dồng tế với các thừa tác viên của các giáo đoàn chưa hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo mà thôi, ( x. giáo luật số 908)
Liên can đến câu hỏi 1, Thực tế mà nói thì sở dĩ có nhiều linh mục đồng tế trong các dịp lễ tang hay lễ cưới ở Mỹ là vì hai lý do sau đây:
a- Linh mục có thân nhân hay hay bạn bè quen biết có người qua đời hay lễ cưới của con em họ, nên vì tình gia đình hay quen biết mà phải đi đồng tế.
b- Ngoài lý do nêu trên, có nhiều linh mục đi đồng tế vì được người ta mời cho có đông linh mục trong các dịp lễ tang hay lễ cưới, vì thân nhân muốn được hãnh diện hay khoe khoang với giáo xứ hay công đoàn.Tôi đã có lần chứng kiến trong một lễ có đông linh mục đồng tế, thân nhân của gia đình có lễ tang, đã cầm phong bì đến hỏi tôi xem cha đó là ai để trao phong bì ! Như vậy rõ ràng linh mục kia được ai mời đến cho đông, chứ không phải vì là thân nhân hay quen biết của gia đình có tang lễ .
Một điều đáng nói thêm là ở địa phương kia nơi có nhiều linh mục bên Viêt Nam qua Mỹ du học và cư ngụ trong lãnh thổ giáo xứ. Nên mỗi dịp có lễ tang hay lễ cưới thì đa số các linh mục này đều đến đồng tế , mặc dù không có liên hệ họ hàng hay bạn bè với gia đình có lễ tang hay lễ cưới ! Họ đến vì được mời, chứ không phải vì liên hệ gia đình hay quen biết. Lại nữa cũng ở địa phương khác, các linh mục đã thi nhau đi đồng tế cuối tuần với 2, 3 lễ tang hay lễ cưới ở các giáo xứ quanh vùng.Vì các linh mục phải chạy từ xứ này sang xứ kia cho kịp giờ lễ, nên người ta đã nói " các cha đi sô ( show) cưối tuần như các ca sĩ đi show trình diễn hết chỗ này đến chỗ khác !
Một điều thông thường khó coi là thân nhân các lễ tang hay lễ cưới thường tặng phong bì cho các cha trước hay sau Thánh lễ. Nếu thật sự vì thân quen thì không cần thiết phải tặng phong bì, một tệ trạng mà linh mục cần tránh để khỏi mang tiếng là " đi Sô" để kiếm thêm thù lao không cần thiết cho đời sống linh mục ở Mỹ nói riêng. Không cần thết vì đời sống vật chất của linh mục ở Mỹ đã được cung cấp đầy đủ hơn các linh mục ở Âu Châu hay ở Viêt Nam rất nhiều, nên kiếm thêm tiền nhờ đi đồng tế để làm gì ?
Linh mục mà có nhiều tiền thì làm sao sống tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô, " Người vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tư ý trở nên khó nghèo vì anh em , để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." ( 2 Cor 8: 9)
Có sống đích thực tinh thần khó nghèo này của Chúa Kitô thì linh mục mới có sức thuyết phục khi giảng dạy cho giáo dân về tinh thần nghèo khó của Phúc Âm, mà hơn ai hết linh mục phải là nhân chứng sống động bằng chính đời sống của mình trước mặt người đời. Linh mục mà ham tiền, ham của cải và phương tiện vật chất sa hoa, thì không thể sống gương khó nghèo của Chúa Kitô , " Đấng không có chỗ tựa đầu, trong khi con chồn có hang, chim trời có tổ"(Mt 8: 20 ).
Chúa nói : " ai có tai nghe, thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 7: 16; Lc 8: 8)
2- Có nhiều linh mục đồng tế thì được ích lợi thiêng liêng ra sao ?
Tôi đã có dịp nói đôi lần về vấn đề này. Nay xin được nhắc lại một lần nữa là ơn thánh Chúa ban cho ai còn sống hay đã qua đời hoàn toàn là nhưng không ( gratis=gratuitous) nghĩa là không thể mua được bằng tiền bạc, hay của cải vật chất nào. Cũng không lệ thưộc vào việc có nhiều hay ít linh mục đồng tế .
Sự thật phải tin là. nếu một người, khi còn sống, đã hoàn toàn qui hướng đời mình về với Chúa, đã thực tâm yêu mến Chúa và cố gắng sống theo đường lối của Người, thì khi chết dẫu không có ai dâng lễ và đồng tế cầu nguyện cho, thì cũng không hề thiệt thòi gì, vì đời sống của mình đã đủ để Chúa đoái thương ban phúc trường sinh sau khi chết.
Ngược lại, một người, khi còn sống, đã hoàn toàn quay lưng lại với Chúa và khước từ lời Chúa mời gọi vào dự Bàn Tiệc Nước Trời,( Mt 22: 1-14), thì sau khi chết, dẫu có cả trăm linh mục, giám mục, Hồng Y và ngay cả Đức Thánh Cha dâng lễ cầu cho, thì cũng vô ích mà thôi. Ơn thánh Chúa ban không hề lệ thuộc vào có đông người làm lễ và cầu nguyện, mà căn cứ vào chính đời sống của một người cho đến ngày lìa đời.
Có thêm linh mục đồng tế và đông người cầu nguyện cho thì chỉ có ích cho các linh hồn đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa, nhưng chưa được hoàn hảo đủ để vào ngay Thiên Đàng , mà còn cần được thanh luyện ít nhiều thời gian nơi Luyên Tội.( Purgatory). Chỉ các linh hồn thánh đang còn ở nơi đây mới cần các Thánh trên Trời và người thân còn sống cầu nguyện và làm việc lành để đền thay cho họ được sớm vào hưởng Thánh Nhan Chúa cùng các Thánh các Thiên Thần trên Thiên Đàng. Sở dĩ các linh hồn cần sự trợ giúp này , vì họ đã hết giờ làm việc lành để tự cứu mình rồi..( x SGLGHCG số 1030-1032)
Như thế, cần thiết phải sống ngay lành, mến Chúa và yêu người thực sự, cùng quyết tâm xa tránh tội lỗi trong suốt cuộc đời của mình trên trần thế, thì đó mới chính là bảo hiểm chắc chắn cho hy vọng được cứu độ và sống đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau.Cho mục đích đó, không ai có thể làm thay cho mình, kể cả việc bỏ nhiều tiền ra xin lễ đời đời trước ở các nơi buôn thần bán thánh, trong khi chính mình lại không tự cứu mình bằng đời sống hoàn toàn qui hướng về Chúa và bước đi theo Chúa Kitô là "con Đường, là sự Thật và là sự sống." ( Ga 14: 6), thì cũng vô ích mà thôi.
Thiên Chúa là tình thương và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kito là vô giá và đủ cho con người được cứu độ. Nhưng tình thương và công nghiệp ấy không tự động áp dụng cho hết mọi người mà không đòi hỏi ai phải làm gì nữa để xứng đáng được hưởng nhờ công nghiệp ấy.
Nói rõ hơn, cần phải cộng tác với ơn cứu độ đó bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và xa tránh mọi tội lỗi và sự dữ thì mới xứng đáng để hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, " Đấng đã hy sinh mạng sống của mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20:28).
Cộng tác với ơn cứu độ bằng đời sống tin, cậy, mến có chiều xâu thực sự thí đó là cách thiết thực lo cho phần rỗi của mình .Còn nhờ người khác cầu nguyện thêm cho chỉ là phần phụ mà thôi. Nói khác đi, nếu nhờ người khác làm thay cho , như bỏ nhiều tiền ra xin lễ đời đời trước ở các nơi buôn thần bán thánh, và nhờ các nhà Dòng cầu nguyện cho sau này , mà được bảo đảm cho phần rỗi của mình, thì những người giầu có sẽ vào Thiên Đàng hết, và chỉ người nghèo không có tiền xin lễ hay nhờ người khác cầu nguyện cho thì bị thua thiệt hay sao ?
Chắc chắn không phải vậy, vì Thiên Chúa công bằng, ban ơn thánh của Người cho những ai có thiện chí cộng tác với ơn thánh đó để sống theo đường lối của Chúa và cậy nhờ công nghiệp cửu chuộc của Chúa Kitô để được cứu rỗi mà vào Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình con người trên trần thế này.
Như thế, ai cũng có thể được cứu rỗi, nếu có thiện chí muốn yêu mến Chúa và quyết tâm chống lại mọi cảm dỗ của ma quỉ, của bản năng yếu đuối và mời mọc quyến rũ của thế gian vô luân vô đạo. Không có quyết tâm này thì Chúa không thể cứu ai được.
Chắc chắn như vậy.
3= Có được gom nhiều ý lễ để hưởng trọn bổng lễ trong một Thánh Lễ hay không ?
Ở các giáo xứ hay Công đoàn Việt Nam, người ta thường nghe rao trước lễ các ý lễ ( mass intentions) của người xin. Các ý lễ này có khi nhiều đến hai ba chục người xin được rao trong Thánh Lễ .
Nói đến ý lễ - về một phương diện- là nói đến bổng lễ ( mass stipends) mà linh mục được hưởng khi dâng Thánh Lễ. Linh mục chủ tế hay đồng tế chỉ được hưởng một bổng lễ mà thôi, còn các bổng lễ khác phải nhường cho các mục đích của Giáo quyền sở tại.( x, giáo luật số 951). Nghĩa là dủ có nhiều ý lễ được rao trong Thánh lễ, linh mục cử hành không được phép hưởng tất cả bổng lễ của các ý lễ đó trong môt Thánh Lễ , vì mỗi Thánh Lễ, chỉ được hưởng một bổng lễ mà thôi, dù bổng lễ là ít hay nhiều. ( giáo luật số 948).
Nếu linh mục muốn hưởng hết các bổng lễ thì phải dâng lễ cho đủ số bổng lễ muốn hưởng,. Điều này linh mục phải giải thích rõ cho giáo dân biết để người ta khỏi hiểu lầm là linh mục đã gom các ý lễ trong một Thánh Lễ để hưởng hết mọi bổng lễ trong các ý lễ của người xin. Đây là vấn đề lương tâm công bằng mà mọi linh mục không thể bỏ qua để hưởng lợi theo ý riêng của mình.
Sau hết,cũng cần nó thêm là khi có người xin lễ đưa một số tiền to ( 100 hay 200 đô) mà chỉ nói là để xin lễ chứ không nói rõ là xin bao nhiêu lễ, thì linh mục cũng buộc phải làm lễ và hưởng bổng lễ theo qui định của giáo quyền sở tại ( tử 5 đến 10 đô cho mỗi ý lề tùy mỗi Địa phận qui đinh, ( x. Giáo luật số 950).
Nhưng nếu người xin đưa số tiền to và nói rõ nói là chỉ xin một lễ thôi, thì linh mục được hưởng số bổng lễ đó cách hợp lý
4- Có cần cầu nguyện cho các thai nhi và các linh hồn mồ côi không ?
Ở các giáo xứ Việt Nam, người ta thường nghe có người xin lễ cầu cho các thai nhi và cho các linh hồn mồ côi.
Điều này có hợp lý không ?
Trước hết phải nói ngay là các thai nhi hoàn toàn vô tội trước mặt Chúa, vì chúng chưa được sinh ra và có thể phạm tội cá nhân được, nên không cần ai phải cầu nguyện cho chúng. Chúng bị giết ( phá thai) thì tội thuộc về kẻ đã phá thai hay giúp cho việc phá thai có kết quả. Do đó không cần phải xin lễ cầu cho các thai nhi như thực hành hiện nay ở các giáo xứ hay cộng đoàn Viet Nam ở Mỹ. Có chăng, các thai nhi chỉ chịu hậu quả của tội Nguyên Tổ ( Original Sin) mà thôi.
Nhưng nếu chúng không được rửa tội để tẩy sạch tội này, thì lỗi đó vẫn thuộc về cha mẹ thai nhi và kẻ đã giúp đỡ cho việc phá thai có kết quả. Thiên Chúa nhân từ không thể bắt lỗi các thai nhi vì chúng không được rửa tội. Tóm lại, không cần xin lễ cầu cho các thai nhi , và linh mục cần giải thich rõ cho giáo dân biết, và không nên nhận tiền xin lễ của ai cầu cho mục đích này, vì không hợp lý.
Lại nữa , cũng không nên nhận tiền xin lễ cầu cho "các linh hồn mồ côi", như giáo dân Việt Nam thường làm ở các giáo xứ. Lý do là không có linh hồn nào bị coi là mồ côi, hiểu theo nghĩa là không có ai cầu nguyện cho cả. Sự thật thì Giáo Hội luôn cầu cho "các tín hữn đã ly trần" trong mọi Thánh Lễ, dù không có ai xin lễ. Như thế, có chăng chỉ nên xin lễ cầu chung hay cho riêng một số linh hồn đã ly trần, để nếu họ còn đang được thanh luyện nơi luyện tội , thì được sớm vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Chúa mà thôi. Tóm lại, xin lễ cầu cho các linh hồn ở Luyện Tội là việc bác ái, đạo đức đáng khen, nhưng đừng nói là cầu cho các linh hồn mồ côi vì lý do nói trên.
5-Có được dự tiệc cưới của các cặp hôn nhân đồng tính không ?.
Hôn nhân đồng tính ( same sex marriage) là điều trái tự nhiên, và vô luân ( immoral) nên Giáo Hội không bao giờ nhìn nhận loại hôn nhân này giữa hai người nam hay hai người nữ.Đây là điều trái nghịch với mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập và truyền cho con người (trước tiên là Adam và Eva) phải thi hành để " sinh sôi nẩy nở cho thật nhiều , cho đầy mặt đất,và thống trị mặt đất," (x.St 1:28)
Trung thành với ý muốn đó của Thiên Chúa, Giáo Hội không bao giờ chấp nhân hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ, vì nó trái tự nhiên và trái với mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu; và sau này, Chúa Giêsu đã nâng lên hàng bí tích.
Vì Giáo Hội không công nhận, nên người Công giáo cũng không được phép dự nghi thức thành hôn( ở nơi nào cử hành nghi thức này) và tiệc cưới của những cặp hôn nhân đồng tính vì bất cứ lý do nào. Tham dự như vậy là vô tình tán thành việc kết hôn của họ, một gương xấu, một điều trái tự nhiên và vô luân mà người Công giáo phải xa tránh để bảo vệ truyền thống hốn nhân được Thiên Chúa thiết lập cho mục đích di truyền nòi giống, tức là cộng tác với Chúa trong việc sinh sản con người cho đầy mặt đất cho đến ngày mãn thời gian.
Ước mong các giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.Amen.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO - O LAI VOI NGUOI-CN2TN-B PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Lạy Cha là Chúa trời đất, Chúa đáng chúc tụng, vì đã mạc khải cho các trẻ nhỏ biết những mầu nhiệm nước trời. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 1, 35-42

"Họ xem chỗ Người ở, và ở lại với Người".

Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: "Ðây là Chiên Thiên Chúa". Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo Mình, thì nói với họ: "Các ngươi tìm gì?" Họ thưa với Người: "Rabbi, nghĩa là: thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Người đáp: "Hãy đến mà xem". Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười.

Anrê, em ông Simon Phêrô, (là) một trong hai người đã nghe Gioan nói và đã đi theo Chúa Giêsu. Ông gặp Simon anh mình trước hết và nói với anh: "Chúng tôi đã gặp Ðấng Messia, nghĩa là Ðấng Kitô". Và ông dẫn anh mình tới Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nhìn Simon và nói: "Ngươi là Simon, con ông Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Ðá".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy nghiệm -SỐNG Lời Chúa

Bao giờ Chúa Nhật Thứ Hai Mùa Thường Niên, dù là Chu Kỳ Phụng Vụ Năm A, B hay C, cũng đều theo Phúc Âm của Thánh Ký Gioan, như một chuyển tiếp giữa biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa đến việc Người chính thức công khai tỏ mình ra. Và ý nghĩa chuyển tiếp này về Chúa Giêsu Kitô, qua 3 bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan được Giáo Hội cố ý chọn đọc, lại liên quan đến vai trò môi giới của hai nhân vật bất khả thiếu: trước hết là vai trò môi giới của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả - giữa Chúa Giêsu với chung dân chúng (Phúc Âm Năm A) cũng như với riêng môn đệ của ngài (Phúc Âm Năm B), và sau nữa là vai trò môi giới của Mẹ Maria ở tiệc cưới Cana, giữa Chúa Giêsu với các tập sinh môn đệ của Người (Phúc Âm Năm C).

Thật vậy, theo Thánh Ký Gioan, thì sau biến cố chịu phép rửa của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ở Sông Dược Đăng (Jordan), Chúa Giêsu không vào hoang địa chay tịnh 40 ngày và chịu ma quỉ cám dỗ ngay, mà còn ở đâu đó gần chỗ Tiền Hô Gioan Tẩy Giả thi hành thừa tác vụ của ngài. Cũng theo Thánh ký Gioan, không phải Tiền Hô Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Chúa Giêsu rồi, (như được 3 Thánh ký của Phúc Âm Nhất Lãm thuật lại), là hoàn tất sứ vụ của ngài. Trái lại, vị tiền hô này, theo Thánh ký Gioan, (người viết Phúc Âm không thuật lại biến cố phép rửa như 3 vị viết Phúc Âm Nhất Lãm), vẫn còn tiếp tục sứ vụ làm chứng cho Đấng đến sau ngài nhưng cao trọng hơn ngài mà lại được ngài làm phép rửa cho (xem Gioan 1:33).

Những chứng từ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, cho dù chỉ là "những chứng từ của loài người" (Gioan 5:34), cũng vẫn bất khả thiếu trước mắt trần gian như là một thủ tục giới thiệu về "Đấng đến sau" cho những ai quen biết và là thành phần sẽ được chính "Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần" (Gioan 1:33) ấy tỏ mình ra, trong đó có chung dân Do Thái và riêng các môn đệ của vị tiền hô. Nếu trong bài Phúc Âm Năm A cho Chúa Nhật 2 Năm A cho thấy vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu với chung dân chúng về "Đấng đến sau" cũng là "Đấng đang tiến về phía ngài" bấy giờ (Gioan 1:29) rằng Người là "Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian" (Gioan 1:29), thì trong bài Phúc Âm Năm B hôm nay, ngài giới thiệu với "hai trong số các môn đệ của ngài" về "Đấng đến sau" cũng là vị bấy giờ đang "đi ngang qua" (Gioan 1:36) chỗ của ngài, (chứ không "tiến đến về phía ngài" như hôm trước), rằng Người là "Chiên Thiên Chúa" (Gioan 1:36).

Sau biến cố chịu phép rửa của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, cả hai ngày liền Chúa Giêsu chưa rời bỏ nơi thi hành thừa tác vụ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, "ngày hôm sau... Chúa Giêsu tiến về phía ngài", và "ngày kế tiếp... Chúa Giêsu đi ngang qua", và cũng cả hai ngày liền này, theo Thánh ký Gioan thuật lại, Chúa Giêsu đều không nói năng gì với vị tiền hô của Người. Thậm chí cả trước khi lãnh nhận Phép Rửa, Người cũng không tự động mở miệng ta nói năng bất cứ một sự gì với ai, kể cả với vị tiền hô của Người, bởi chưa tới giờ của Người, chưa tới lúc Người chính thức tỏ mình ra, thi hành thừa tác vị Thiên Sai Cứu Thế của Người, cho tới khi Người không thể nào không lên tiếng, hoàn toàn bất đắc dĩ, để trấn an vị tiền hô của Người (x. Mt. 3:15), nhờ đó Người đã giúp cho vị này có thể an tâm chu toàn sứ vụ tiền hô của mình đối với Người là Đấng đến sau ngài nhưng cao trọng hơn ngài như ngài đã chân nhận.

Tuy nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét hoàn toàn xa lạ với toàn dân Do Thái này không nói năng gì, nhưng Người đã được một nhân vật thế giá khác trong chung dân chúng cũng như với riêng thành phần lãnh đạo của dân Do Thái (xem Gioan 1:19-28) lên tiếng thay, đó là Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, với vai trò trung gian giới thiệu "Đấng đến sau". Và bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy tác dụng của lời ngài giới thiệu, đó là: "Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Chúa Giêsu". Hai vị môn đệ này "đi theo Chúa Giêsu" khi "nghe ông nói" về Người ngay bấy giờ "Ðây là Chiên Thiên Chúa", phải chăng các vị bị thúc đẩy bởi động lực muốn biết "tất cả sự thật" (Gioan 16:13) về "Đấng đến sau" sư phụ của các vị, nhưng lại cao trọng hơn sư phụ của các vị, ở chỗ Người là "Chiên Thiên Chúa", đúng như lời tiên báo xưa (xem Isaia 53:7-8).

Chính thái độ đầy hiếu kỳ lại có vẻ hết sức rụt rè của hai vị trước một nhân vật hoàn toàn xa lạ với các vị, dù được sư phụ của các vị chứng nhận và giới thiệu, cho thấy Chúa Giêsu Kitô thật sự cần phải được Tiền Hô Gioan Tẩy Giả làm trung gian giới thiệu, như Bài Phúc Âm Năm A và B cho Chúa Nhật II Thường Niên Hậu Giáng Sinh cho thấy, cũng như được Mẹ Maria trung gian giới thiệu ở tiệc cưới Cana trong thành phần thân bằng quyến thuộc của Mẹ, như Bài Phúc Âm Năm C Tuần II Thường Niên Hậu Giáng Sinh chứng thực (xem Gioan 2:1-12). Chính vì thế, để phấn khích những ai muốn tìm hiểu về mình, như 2 môn đệ này, Chúa Giêsu đã tự mở lời trước: "Các ngươi đang tìm kiếm gì đấy?". Như thế, trước khi Chúa Giêsu chính thức tỏ mình ra qua Phép Rửa, nhân vật đầu tiên được nghe lời Người nói là vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, và sau khi Người lãnh nhận Phép Rửa là hai môn đệ của vị tiền hô này.

Được phấn khích bởi lời của nhân vật cao trọng hơn thày mình như thế, hai môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ấy bấy giờ mới dàm bảy tỏ tâm tư của mình, ở chỗ: "Họ thưa với Người: 'Rabbi, nghĩa là: thưa Thầy, Thầy ở đâu?'". Ý nghĩa sâu xa của vấn nạn được hai vị đặt ra hỏi Người bấy giờ, theo chiều hướng Do Thái giáo, tức "Thưa Thày, Thày là ai vậy?" Bởi vì, một khi biết được "Thày ở đâu?" là biết được nguồn gốc từ đâu đến của Người, từ đó họ mới có thể nhận ra Người và làm chứng về Người, như một trong hai người môn đệ này là Anrê đã tuyên xưng và làm chứng với người anh Simon của mình sau đó, khi chàng tỏ ra hết sức hào hứng rủ anh mình đến với Người cho bằng được: "Chúng tôi đã gặp Ðấng Messia".

Câu Chúa Giêsu trả lời cho vấn nạn "Thày ở đâu?" được 2 người môn đệ của Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đặt ra liên quan đến nơi chốn về không gian của Người này, đã được Người đáp ứng theo tầm mức và chiều hướng thích hợp của câu vấn nạn, cũng có tính cách về không gian: "Hãy đến mà xem". Được mời gọi một cách hoàn toàn khách quan, chứ không bị áp đặt, theo đúng ước vọng của mình như thế: "Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười", tức khoảng 4-5 giờ chiều. Nếu hai vị "đã ở lại với Người ngày hôm ấy", thì tất nhiên hai vị đã không ở qua đêm, nghĩa là chỉ khoảng mấy tiếng đồng hồ. Trong thời gian "ở lại với Người ngày hôm ấy", chắc các vị đã cẩn thận quan sát từng hành vi cử chỉ của Người. Không biết các vị có hỏi thêm Người điều gì hay chăng. Có thể chính Người âm thầm sửa soạn một bữa ăn và đã đích thân tiếp họ bữa tối hôm đó trước khi họ về, như Người đã làm bữa tiếp 7 môn đệ của Người ở bở biển hồ Tibêria sau khi Người sống lại từ trong kẻ chết và hiện ra với các vị lần thứ ba (xem Gioan 21:12-13).

Chúng ta không biết người môn đệ thứ hai cùng chàng Anrê đến với Chúa Giêsu chiều hôm ấy là ai, nhưng, căn cứ vào một số chi tiết được Thánh ký Gioan trình thuật lại ngay sau đó thì có thể người môn đệ kia là chàng Philiphê, "ở Betsaiđa, cùng quê với Anrê và Phêrô" (Gioan 1:44), và hành động rủ rê bạn bè đến với Chúa Giêsu cũng chứng tỏ chàng đã gặp Chúa Giêsu, nên lời của chàng thanh niên này rủ rê bạn của mình là Nathanael đến với Chúa Giêsu cũng chất chứa một nội dung giống như chàng Anrê như chi tiết hơn: "Chúng tôi đã gặp Đấng được Mose nói đến trong lề luật, cả các vị tiên tri cũng nói nữa, đó là Giêsu, con ông Giuse, ở Nazarét".

Cả hai chàng thanh niên môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ấy, sau khi ở với Chúa Giêsu, đều tự mình thấy được Người từ đâu tới, để rồi nhờ cảm nghiệm thần linh này thúc đẩy đã trở về làm chứng cho Người và kéo thêm bạn bè đến với Người như mình. Thái độ cởi mở lắng nghe của các vị đã phản ảnh thái độ của thiếu nhi Samuel trong Bài Đọc I hôm nay, một thiếu nhi có tâm hồn cởi mở lắng nghe "này con đây". Chúng ta hãy lưu ý một chi tiết rất quan trọng ở đây, đó là vị trí "Samuel ngủ trong đền thờ Chúa, nơi đặt Hòm Bia Thiên Chúa". Nghĩa là thiếu nhi Samuel ở gần Thiên Chúa, ở nơi Thiên Chúa hiện diện, nơi Ngài tỏ mình ra, thế nhưng nếu Samuel không biết cởi mở lắng nghe thì cũng chẳng thể nào nhận ra tiếng của Ngài mà đáp ứng một cách mau mắn và hết lòng: "Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe".

Hai môn đệ của vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả nếu không có tâm hồn cởi mở và lắng nghe, thì trước hết họ đã chẳng lưu ý gì đến lời của vị sư phụ giới thiệu về "Con Chiên Thiên Chúa" cho họ, mà vì thế họ cũng chẳng lẽo đẽo theo sau nhân vật được gọi là "Con Chiên Thiên Chúa" này, để "ở với Người" làm chi cho mất công, mất giờ, và không nhận biết Người thì họ cũng chẳng thể nào làm chứng về Người sau khi đã cảm nhận được Người, như bài Phúc Âm hôm nay trình thuật.

Tuy nhiên, cái cảm nhận thần linh ban đầu này, trước hết và trên hết, xuất phát từ thể lý, từ thân xác của họ, tức là từ con mắt và lỗ tai của họ: con mắt họ đã chứng kiến thấy hành vi cử chỉ của "Con Chiên Thiên Chúa" và lỗ tai của họ đã lắng nghe tất cả mọi lời và mỗi lời Người nói. Đó là lý do Thánh ký Gioan ở ngay đầu Thư Thứ Nhất (trong 3 thư) của ngài đã khẳng định: "Ðiều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Ðức Giêsu Kitô, Con của Người" (1:3).

Chính vì thân xác của con người nói chung và của Kitô hữu nói riêng là phương tiện để cảm nhận thần linh rất quan trọng và khẩn thiết bất khả thiếu như thế mà trong Thư Nhất gửi giáo đoàn Corintô ở Bài Đọc II hôm nay, Thánh Phaolô đã khuyên Kitô hữu của giáo đoàn này nói riêng và Kitô hữu mọi đời nói chung hãy nhận thức rằng "thân xác anh em là chi thể của Chúa Kitô sao? Nhưng ai kết hợp với Chúa thì nên một thần trí.... Anh em không biết thân xác anh em là đền thờ Chúa Thánh Thần, Ðấng ngự trong anh em mà anh em đã nhận lãnh nơi Thiên Chúa, vì anh em không còn thuộc về chính mình nữa sao?"

Đúng thế, nếu chung nhân tính của Chúa Kitô và riêng thân xác của Người "đầy ân sủng và chân lý", thì nhân tính của Người và Thánh Thể của Người là dấu chỉ thần linh để chính bản thân Người hay Thần Tính của Người tỏ mình ra ("chân lý") và là Bí Tích để Người thông ban ("ân sủng") nơi Người và của Người, cho những ai đến với Người bằng một tâm hồn khát khao và cởi mở, thành phần nhờ sống trong một thân xác như là chi thể của Chúa Kitô, là đền thờ Thánh Thần, để như thiếu nhi "Samuel ngủ trong đền thờ Chúa, nơi đặt Hòm Bia Thiên Chúa" mà nghe thấy tiếng Chúa gọi hầu đáp ứng tương xứng, hay như 2 môn đệ của Thánh Gioan Tiền Hô trong bài Phúc Âm hôm nay, cũng đến gần với Chúa Kitô là "Người Con đầy ân sủng và chân lý", nhờ đó đã nhận ra Người, và làm theo ý của Người theo tâm tình "Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa" của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Con đã cậy trông, con đã cậy trông ở Chúa, Ngài đã nghiêng mình về bên con, Ngài đã đặt trong miệng con một bài ca mới, bài ca mừng Thiên Chúa chúng ta.

2) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở rộng tai con. Chúa không đòi hỏi lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến".

3) Như trong quyển vàng đã chép về con: lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật của Chúa ghi tận đáy lòng con.

4) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong Ðại Hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DA0 - XUNG TOI VOI LINH MUC PDF Print E-mail

TẠI SAO PHẢI XƯNG TỘI VỚI MỘT LINH MỤC ?

Hỏi :
xin cha giải thích rõ những câu hỏi sau đây:
1- Các mục sư Tin Lành đều dạy phải xin Chúa tha tội, chứ không qua trung gian của ai cả. Như vậy có được không ?
2- Có được xưng tội qua điện thoại hay email không?
3- Khi nào được phép xưng tội tập thể ?
Trả lời :
Như tôi đã có đôi lần nói rõ là : chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mới có đầy đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu độ của Chúa cho những ai muốn lãnh nhận để được cứu rỗi.
Liên quan đến Bí Tích hòa giải ( penance= reconciliation) Chúa Kitô đã ban quyền tha tội trước hết cho các Tông Đồ, và sau này cho Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh Tông Đồ như sau :
" anh em tha cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." ( Ga 20: 23)
Như thế rõ ràng cho thấy là Chúa muốn cho con người phải chạy đến với những người trung gian thay mặt Chúa là các Tông Đồ xưa kia và các vị thừa kế các Tông Đồ ngày nay là các Giám Mục trong Giáo hội để nhận lãnh ơn tha thứ qua bí tích Hòa giải. Các giám mục lại chia sẻ quyền tha tội này cho các linh mục là những cộng sự viên thân cận trực thuộc, cũng được chia sẻ Chức linh Mục đời đời của Chúa Kitô. ( Linh mục chia sẻ một phần, Giám Mục chia sẻ trọn vẹn Chức Linh Mục đó).
Nếu chỉ cần xưng tội trưc tiếp với Chúa mà không qua trung gian ai thì Chúa Giêsu đã không nói với các Tông Đồ những lời trên đây, sau khi Người từ cõi chết sống lại và hiện ra với các ông; cũng như trước đó đã không phán bảo Phêrô những lời sau đây :
" Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên Trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều gì , trên trời cũng sẽ tháo gỡ như vậy." ( Mt 16: 19)
Với quyền to lớn trên đây, Giáo Hội- cụ thể là Đức Thánh Cha- có quyền ra hình phạt nặng nhất là vạ tuyệt thông ( ex-communication) và tháo gỡ vạ này.
Như vậy, muốn được ơn tha thứ của Chúa, thì buộc phải xưng tội cá nhân với một linh mục đã được chịu chức thành sự ( validly) và đang có năng quyền ( priestly Faculties) được tha tội nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi). Sở dĩ thế, vì nếu một linh mục đang bị Giám mục của mình rút hết năng quyền - hay gọi nôm na là bị treo chén ( suspension. x. giáo luật số 1333)- thì tạm thời không được phép cử hành bí tích này và các bí tích khác cho đến khi được trao lại năng quyền đầy đủ .( trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục – dù đang bị "treo chén" vẫn được phép tha tội cho hối nhân đang lâm nguy mà không tìm được linh mục khác để xưng tội và lãnh phép lành sau hết. (x. giáo luật số 976).
Giáo lý và giáo luật của Giáo Hội cũng dạy phải xưng tội cá nhân với một linh mục như sau:
" Thú nhận tội lỗi của mình với vị linh mục là một điều chủ yếu của bí tích Giải tội.Khi xưng tội, các hối nhân phải kể ra tất cả các tội trọng mà mình biết đã phạm, sau khi xét mình cách nghiêm chỉnh, dù các tội này rất kín đáo và chỉ phạm đến hai giới răn sau cùng của bản thập giới; bởi vì các tội này làm cho linh hồn bị trọng thương hơn hết , và nguy hiểm hơn các tội ta phạm mà người khác biết rõ."( x, SGLGHCG số:1456; giáo luật số 960).
Như thế chắc chắn không thể nói như anh em Tin Lành là chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà không cần qua trung gian của ai. Dĩ nhiên Chúa tha tội khi ta thực tâm sám hối và xin Chúa thứ tha. Nhưng vẫn cần phải xưng tội với một linh mục thay mặt Chúa để tha tội, vì Chúa đã ban quyền ấy cho các Tông Đồ trước tiên và sau này cho Giáo Hội ngày nay.
Nghĩa là khi Giáo Hội thi hành lời Chúa để cử hành các bí tích- cách riêng bí tích Hòa giải để tha tội cho con người nhân danh Chúa Kitô( in persona Christi), thì chúng ta phải nghe và tuân theo ý muốn của Giáo Hội, cũng là ý muốn của Chúa; nghĩa là xưng tội với một linh mục để nhận lãnh ơn tha thứ của Chúa qua trung gian của các thừa tác viên con người là Giám mục và linh mục. Đây là điều các anh em Tin Lành không đồng ý với chúng ta nên họ dạy các tín đồ của họ chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.
Dĩ nhiên khi ta xưng tội với một linh mục, thì cũng xưng tội với Chúa để xin Người tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Và đây là ý muốn của Chúa Giêsu khi Người trao quyền tha tội cho các Tông Đồ xưa và cho Giáo hội ngày nay. Và đó cũng là tất cả ý nghĩa lời Chúa dạy sau đây:
" ai nghe anh em là nghe Thầy.
Ai khước từ anh em là khước từ Thầy
Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)
Kinh nghiệm thiêng liêng của mỗi người chúng ta cho ta biết rằng mỗi khi xưng tội – đặc biệt là tội trọng- cách thành thật và với tinh thần sám hối , thì ta cảm thấy nhẹ nhõm và an vui trong tâm hồn, một giác mới lạ của an vui sung sướng nội tâm, khác hẳn với tâm tình sẵn có trước khi xưng tội. Điều này chứng minh cụ thể là Chúa đã tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Ngược lại, khi có tội trọng hay nhẹ mà chỉ xin Chúa tha thứ nhưng không đi xưng tội, thì không bao giờ cảm nghiệm được sự an vui nội tâm như khi xưng tội với một linh mục và nhận lãnh ơn tha thứ ( absolution).
Các anh em tin Lành không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, dù cho họ có ca tụng lòng thương xót của Chúa đến đâu, có sám hối nội tâm và xin Chúa tha thứ mà không đi xưng tội như người Công giáo. Họ không đi xưng tội vì trước hết họ không công nhận vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc ban phát các ơn sủng của Chúa cho con người, cho nên họ chủ trương đi thẳng tới Chúa là vì vậy.
Vả lại, tất cả các nhánh Tin Lành( Protestantism) và Anh Giáo ( Anglican Comm) đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nên không có chức linh mục và giám mục để cử hành hữu hiệu các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức dầu nệnh nhân và truyền Chức Thánh. Chính vì họ không có chức linh mục hữu hiệu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể và tha tội cho ai được. Đó là lý do tại sao họ chủ trương chỉ cần xưng tội trực tiếp với Chúa, vì họ cho rằng các thừa tác viên con người như linh mục và giám mục không có năng quyền tha tội cho ai như Giáo Hội Công Giáo tin và dạy..
Một điều quan trọng nữa liên quan đến việc xưng tội cá nhân với một linh mục là đừng ai lo sợ những tội mình xưng với linh mục có thể bị tiết lộ ra ngoài.
Mọi linh mục đều buộc phải giữ kín những gì hối nhân nói với mình trong tòa giải tôi. Đây là Ấn tòa giải tội ( Seal of confessons) mà mọi linh mục buộc phải giữ kín. Linh mục nào vi phạm sẽ tức khắc bị vạ truyệt thông tiền kết (đương nhiên mắc vạ và chỉ có Tòa Thánh tháo gỡ mà thôi) ( x giáo luật số1388)
Tóm lại, là người Công giáo, chúng ta phải nghe và thi hành những gì Giáo Hội là Mẹ dạy bảo thay mặt Chúa Kitô để bỏ ra ngoài tai những gì không phù hợp với giáo lý, tín lý, luân lý và phụng vụ của Giáo Hội.
2- Có được xưng tội qua email hay điện thoại không ?
Chắc chắn là không được, và Giáo Hội không bao giờ cho phép thực hành này.Lý do là nó trái với giáo lý về cách xưng tội đòi hỏi hối nhân phải trực tiếp thú nhận các tội mình phạm với một linh mục, là người nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) để nghe và tha tội cho mình. (đọc giáo lý trích ở phần trên).
Lại nữa, tiện đây cũng xin nói thêm là ngay cả việc xem lễ trên truyền hình, củng chỉ có ích cho các bệnh nhân ở tư gia hay ở nhà thương, không thể đến nhà thờ để dự lễ cùng với cộng đoàn. Xem lễ cách này chỉ giúp thông công với các tin hữu đến nhà thờ dự lễ thực sự, nhưng vẫn thiếu phần hiệp lễ là không được rước Mình Mấu Chúa Kitô, như mọi tín hữu đến dự lễ ở nhà thờ. Như thế, người khỏe mạnh không thể xem lễ trên Truyền hình như phương tiện chu toàn luật buộc tham dự lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng.
Tóm lại, muốn hiêp thông Thánh Lễ trọn vẹn thì phải đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh Lễ cùng với cộng đoàn đức tin. Thánh Lễ trên truyền hình chỉ dành riêng cho các bệnh nhân ở nhà thương , hay người già yếu ở tư gia, không thể đến nhà thờ để dự Lễ được mà thôi.Vả lại, những bệnh nhân hay người già yếu ở tư gia thì không buộc phải đi đến nhà thờ dự lễ như người mạnh khỏe.
3-Khi nào được phép xưng tội tập thể ( communal confessions) ?
Thông thường thì phải đi xưng tội cá nhân, nghĩa là xưng tội riêng với một linh mục sau khi đã xét mình nghiêm chỉnh và sám hối nội tâm, như đã nói ở trên.
Tuy nhiên, trong thực tế, có những hoàn cảnh mà linh mục không thể giải tội cá nhân cho nhiều người trong một thời lượng hạn chế. Thí dụ, khi có thiên tai, bão lụt, đắm tầu, sóng thần hay động đất gây nguy tử cho nhiều người ở một địa phương nào, khiến linh mục không thể có đủ giờ để nghe từng hối nhân muốn xưng tội trong những hoàn cảnh ấy,.
Lại nữa, trong những dịp trọng đại như Lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh là những dịp có rất nhiều người muốn xưng tội. Nhưng chỉ có một mình cha xứ phải làm mục vụ cho một giáo xứ lớn hay nhiều xứ nhỏ họp lại,thì không thể nào giải tội cá nhân cho một số lớn hối nhân trong một thời gian ngắn được. Do đó, vì nhu cầu mục vụ và vì lợi ích thiêng liêng của giáo dân, linh mục được phép cử hành bí tích hòa giải tập thể. Nghĩa là cho gom giáo dân lại và giúp họ xét mình, thống hối ăn năn, rồi ban phép tha tội tập thể cho họ. Nhưng việc này phải được phép trước của giám mục giáo phận. Vì thế, ở mỗi giáo phận, giám mục địa phận sẽ cho phép trường hợp nào có thể giải tội tập thể.Nghĩa là, linh mục không thể tự ý giải tội tập thể mà không có phép của giám mục giáo phận; trừ trường hợp nguy tử như đắm tầu, động đất, chiến tranh, khiến nhiều người- trong đó có người công giáo- có thể chết mà không kịp xưng tội cá nhân.

Nên nếu linh mục có mặt trong trường hợp này, thì được phép giải tội tập thể cho các tin hữu công giáo trong cơn nguy tử đó. Nhưng dù được tha tội tập thể trong những trường hợp trên, nếu ai xét mình có tội trọng, thì- sau khi qua cơn nguy biến đó- vẫn buộc phải đi xưng tội cá nhân với linh mục.( giáo luật số 961-62).
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.Amen
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO- CN2TN-B PDF Print E-mail

Chúa Nhật Thường Niên 2 năm B

HỌC HỎI-SUY NIỆM-SỐNG Lời Chúa : Ga 1,35-42

Chúa Giêsu bắt đầu bước ra thi hành sứ vụ của Ngài. Ngài chưa làm gì, chỉ đi ngang nơi Gioan Tẩy Giả đang đứng với hai môn đệ của ông, và có thể Ngài đã biết những gì sẽ xảy ra. Gioan nhìn thấy Ngài và chỉ cho hai môn đệ : " Đây là Chiên Thiên Chúa". Đối với người Do thái, từ Chiên Thiên Chúa có nghĩa là Đấng Cứu Thế, vì họ nghe đọc Kinh Thánh hằng tuần trong Hội Đường.

Chiên Thiên Chúa nhắc cho họ nhớ đến con chiên Vượt Qua khi dân Do thái làm nô lệ ở Ai Cập. Chúa đã bảo ông Môsê truyền cho mỗi gia đình phải chuẩn bị một con chiên đực, một tuổi, không tì vết và khi có lệnh là giết con chiên đó, lấy máu bôi lên thành cửa, và nhờ vết máu đó mà Thần Tiêu Diệt không làm hại đến những người trong nhà. Nhờ đó họ đã thoát khỏi ách nô lệ người Ai Cập.

Con Chiên Thiên Chúa cũng được nhắc đến trong sách tiên tri Giêrêmia khi nói đến Người Tôi Trung của Thiên Chúa, được ví như "con chiên hiền lành bị đem đến lò sát sinh mà không hở môi". Người Tôi Trung của Thiên Chúa đó được xem như Đấng sẽ đến cứu dân, sẽ chịu nhiều đau khổ và sẽ mang lấy tội của toàn dân.

Khi nghe thầy mình là Gioan giới thiệu, hai môn đệ của Gioan liền đi theo Chúa Giêsu. Thấy hai người đi theo Ngài, Chúa Giêsu quay lại và hỏi : " Các anh tìm gì?"Họ đáp: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu ?" Người bảo họ : " Hãy đến mà xem". Họ đã đến và ở lại với Ngài ngày hôm ấy. Lúc đó độ bốn giờ chiều.

Câu chuyện xem ra không có gì lạ, nhưng ở đây hàm chứa nhiều bài học cho chúng ta. Chúa Giêsu được giới thiệu cho chúng ta qua Giáo Hội, chúng ta đã biết Chúa như thế nào ? Chúng ta có bước theo Ngài không ? Có tìm hiểu Ngài là ai không ? Có muốn biết Ngài ở đâu không ? Đức tin không chỉ là một vài kiến thức về Chúa theo như những gì chúng ta biết qua những bài giáo lý, mà là một cuộc tìm kiếm không thôi, vì không bao giờ chúng ta biết Chúa đủ. Biết mà thôi cũng chưa đủ, phải ở lại với Thầy, nghĩa là phải đi sâu vào thân mật với Thầy, sống với Thầy. Nhờ đó, chúng ta nhận ra Thầy là Đấng Mêsia, là Đấng đã đến và cứu vớt chúng ta, đưa chúng ta vào sự sống đời đời, làm con của Chúa Cha, và được vui hưởng tình thương của Ngài, hạnh phúc với Ngài.

Chúa Giêsu đã đến với chúng ta trong trần gian, chia xẻ kiếp người của chúng ta. Ngài không phải là một vị thần xa xôi hay do trí tưởng tượng của chúng ta bày ra. Ngài là Thiên Chúa nhập thể, cụ thể, thân mật và là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài là Tình Yêu. Từ khi Ađam phạm tội, chúng ta mất đi tất cả, trần trụi, Ngài đến với chúng ta, mang lại cho chúng ta tình yêu. Chúng ta được yêu và người yêu của chúng ta là Thiên Chúa. Vì yêu, Ngài đã từ bỏ mọi vinh quang và đã làm người, sống như chúng ta và hơn nữa đã chết cho chúng ta, sống lại để cho chúng ta sự sống thần linh của Ngài. Chúng ta không thể hiểu được tình yêu của Ngài, vì thế, chúng ta phải tìm kiếm không thôi. Và nếu chúng ta cố công tìm kiếm, chúng ta sẽ được Ngài dẫn vào tình yêu, vì ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.

Hơn thế nữa, tình yêu của Ngài đã đưa Ngài đến sự điên rồ của thập giá. Cũng chưa đủ, Ngài trở thành tấm bánh, cho chúng ta ăn lấy Ngài, nhờ đó Ngài trở thành một với chúng ta. Tình yêu đã nên trọn vẹn khi chúng ta ăn lấy Ngài. Ngài đã nài xin chúng ta : " Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy". Có ai yêu chúng ta như Ngài ? Chúng ta đáp trả như thế nào ? Chúng ta có muốn yêu Ngài không ? Ngài là Thiên Chúa Tình Yêu. Là Tình Yêu tức là khiêm tốn, là trở thành nhỏ bé để nài xin, để cho đi tất cả. Ngài đã cho đi tất cả, nhưng người ta vẫn không tiếp nhận Ngài. Đó là một điều đau xót không cùng. Chính chúng ta cũng không đón nhận ngài, và nếu có, cũng chỉ lơ là thôi.

Các thánh đã hiểu được tình yêu và đã đáp trả. Thánh Phaolo đã hiểu và đã đáp trả với tất cả nhiệt tình của một con người. Ngài đã từng nói : " Ngài đã yêu tôi và đã chết cho tôi !" Ngài trở nên một với Đấng đã chọn Ngài : " Sống đối với tôi là Giêsu Kitô, và chết là một mối lợi". " Tôi sống, nhưng không phải là tôi mà là Chúa Kitô sống trong tôi". Chúng ta cũng được kêu gọi sống với Chúa như thế. Nhìn nhận Ngài là Đấng Mêsia, đi tìm Ngài, ở lại với Ngài và trở thành môn đệ.

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Những người mà Giáo Hội gọi là các thánh cũng là những người đã yêu mến Chúa hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự. Sao TÔI không thể yêu mến Chúa như thế ? Chỉ vì TÔI còn quá nặng nề. CÒN yêu mình hơn yêu Chúa, chưa biết Chúa, chưa hiểu tình yêu Chúa. Hãy tìm Chúa, hãy tìm mãi không thôi, Ngài sẽ không để TÔI thất vọng. Ngài sẽ tỏ mình cho TÔI KHI mệt mõi tìm kiếm Ngài. Ngày đó TÔI sẽ gọi Ngài là Tình Yêu của con, như tiên tri Hôsê đã nói.

Lm Trầm Phúc

Kính chuyển:

Hồng

-----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - NGAY 12-1-2018 PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 2, 1-12

"Con Người có quyền tha tội dưới đất".

Sau ít ngày, Chúa Giêsu lại trở về Capharnaum; nghe tin Người đang ở trong nhà, nhiều người tuôn đến đông đảo, đến nỗi ngoài cửa cũng không còn chỗ đứng, và Người giảng dạy họ. Người ta mang đến cho Người một kẻ bất toại do bốn người khiêng. Vì dân chúng quá đông, không thể khiêng đến gần Người được, nên họ dỡ mái nhà trên chỗ Người ngồi một lỗ to, rồi thòng chiếc chõng với người bất toại xuống. Thấy lòng tin của họ, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: "Hỡi con, tội lỗi con được tha". Lúc ấy, có một ít luật sĩ ngồi đó, họ thầm nghĩ rằng: "Sao ông này lại nói thế? Ông nói phạm thượng. Ai có quyền tha tội, nếu không phải là một mình Thiên Chúa". Chúa Giêsu biết tâm trí họ nghĩ như vậy, liền nói với họ: "Tại sao các ông nghĩ như thế? Nói với người bất toại này: "Tội lỗi con được tha" hay nói: "Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi", đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất". - Người nói với kẻ bất toại: "Ta truyền cho con hãy chỗi dậy, vác chõng mà về nhà". Lập tức người ấy đứng dậy, vác chõng ra đi trước mặt mọi người, khiến ai nấy sửng sốt và ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Chúng tôi chưa từng thấy như thế bao giờ".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy nghiệm SỐNG Lời Chúa

Đức Kitô Quyền Linh

Hôm nay, Thứ Sáu trong Tuần 1 Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" vẫn tiếp tục phản ảnh nơi một phép lạ đặc biệt khác nữa được Chúa Giêsu thực hiện, chẳng những liên quan đến phần xác của nạn nhân mà còn đến cả phần hồn của đương sự nữa.

Đó là trường hợp, như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại, bấy giờ "Chúa Giêsu lại trở về Capharnaum", sau khi Người từ nhà của hai tông đồ Simon và Anrê ra đi (ở bài Phúc Âm hôm kia), cũng như sau khi Người chữa lành cho một người phong cùi (ở bài Phúc Âm hôm qua), một nơi đã được Người chọn làm như tổng hành dinh của Người để thường xuyên tỏ mình ra, và vì thế nó đã trở thành một nơi "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" trở nên nổi tiếng, đến độ "nghe tin Người đang ở trong nhà, nhiều người tuôn đến đông đảo, đến nỗi ngoài cửa cũng không còn chỗ đứng, và Người giảng dạy họ".

Phúc Âm không cho chúng ta biết bấy giờ Người đang ở trong ngôi nhà của ai ở Capharnaum, cũng có thể lại là nhà của anh em Simon và Anrê như bài Phúc Âm Thứ Tư vừa rồi, và nếu quả thực như vậy thì lần này ngôi nhà ấy đã trở thành một ngôi nhà chưa từng thấy xẩy ra trong lịch sử chữa lành của Chúa Giêsu. Ở chỗ, như bài Phúc Âm cho biết:

"Người ta mang đến cho Người một kẻ bất toại do bốn người khiêng. Vì dân chúng quá đông, không thể khiêng đến gần Người được, nên họ dỡ mái nhà trên chỗ Người ngồi một lỗ to, rồi thòng chiếc chõng với người bất toại xuống".

Trước một sự kiện chưa từng bao giờ xẩy ra như thế, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" không thể nào không đáp ứng lòng tin tưởng mãnh liệt của họ, lòng tin không phải chỉ của nạn nhân bất toại mà còn của chính những người thân nhân bạn hữu của đương sự, thành phần chẳng những khiêng nạn đến đến với Chúa Giêsu mà còn tìm hết cách để đưa nạn nhân đến tận nơi Người hiện diện nữa, như Phúc Âm hôm nay trình thuật: "Thấy lòng tin của họ, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: 'Hỡi con, tội lỗi con được tha'".

Hình như lần chữa lành này, sau mấy lần chữa lành lần trước từ khi xuất thân công khai thực hiện thừa tác vụ Thiên Sai Cứu Thế của mình, Chúa Giêsu đã từ từ có ý muốn tỏ mình ra cho chung dân chúng và cho riêng thành phần môn đệ của Người biết thêm về bản thân và sứ vụ của Người, Đấng được Cha sai đến không phải chỉ để chữa lành những hậu quả nguyên tội liên quan đến thân xác của con người là bệnh nạn tật nguyền hay đến tâm thần của con người là bị quỉ ám, mà chính là để cứu con người khỏi tội lỗi của họ là căn nguyên gây ra tình trạng đau khổ trong ngoài như thế.

Đó là lý do câu nói bật ra từ môi miệng của Người lần đầu tiên liên quan đền việc tha tội này, một câu nói hình như Người có ý chờ đến lần này mới chính thức công khai thốt lên, có thể là vì bởi Người biết rằng trong đám đông "lúc ấy, có một ít luật sĩ ngồi đó", (mà mấy lần trước hình như không có, vì tiếng tăm của Người chưa lừng lẫy cho lắm, không đáng họ chú ý và theo dõi), nên Người đã lợi dụng để tỏ mình ra là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" một cách chính xác hơn nữa.

Bởi thế, sau khi chờ phản ứng của thành phần luật sĩ ấy, cho dù họ không dám công khai lên tiếng kẻo bị đụng đến chung dân chúng, mà đối với họ, như đang có vẻ "mù quáng" hay "cuồng tín" chạy theo Người, một phản ứng tự nhiên nổi lên trong óc của từng vị luật sĩ bấy giờ, như Phúc Âm thuật lại: "họ thầm nghĩ rằng: 'Sao ông này lại nói thế? Ông nói phạm thượng. Ai có quyền tha tội, nếu không phải là một mình Thiên Chúa'", Chúa Giêsu mới tỏ cho riêng họ và chung dân chúng lần đầu tiên biết vai trò Thiên Sai Cứu Thế cả hồn lẫn xác của loài người qua bài Phúc Âm hôm nay:

"Chúa Giêsu biết tâm trí họ nghĩ như vậy, liền nói với họ: 'Tại sao các ông nghĩ như thế? Nói với người bất toại này: 'Tội lỗi con được tha' hay nói: 'Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi', đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất'. - Người nói với kẻ bất toại: 'Ta truyền cho con hãy chỗi dậy, vác chõng mà về nhà'. Lập tức người ấy đứng dậy, vác chõng ra đi trước mặt mọi người, khiến ai nấy sửng sốt và ngợi khen Thiên Chúa rằng: 'Chúng tôi chưa từng thấy như thế bao giờ'".

Câu hỏi Chúa Giêsu đặt ra cho riêng mấy vị luật sĩ đang ngồi đó bấy giờ là "'Tội lỗi con được tha" hay nói: 'Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi', đàng nào dễ hơn?" hoặc "đằng nào đúng hơn" cũng thế. Bởi vì, về phía Thiên Chúa, Ngài chỉ cần cứu linh hồn con người, bằng cách tha tội cho con người, thì con người được cứu độ, được cứu độ cả hậu quả tội lỗi của họ là những gì họ phải gánh chịu nơi thể xác lẫn tâm thần của họ. Thế nhưng, về phía loài người, sự kiện họ được chữa lành cho khỏi các hậu quả của tội lỗi mới là dấu chứng thực họ thật sự được cứu độ.

Bởi thế, để chiều theo cùng đáp ứng thị hiếu và xu hướng thực nghiệm không phải là hoàn toàn vô lý của loài người, nhờ đó chính họ mới có thể thấy được phần nào "tất cả sự thật" (Gioan 13:16) về "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", Chúa Giêsu đã chữa lành cho cả thân xác bất toại của nạn nhân đương sự, một tật nguyền chẳng những là hậu quả của nguyên tội, mà còn là biểu hiệu cho tác dụng của tội lỗi là những gì đã khiến con người vốn được dựng nên để sống tự do đã trở thành bại liệt, bất lực và bất động, một tình trạng về linh hồn vô cùng trầm trọng liên quan đến phần rỗi đời đời của con người mới là những gì trên hết và trước hết cần phải được cứu độ và được giải thoát.

Nếu trong bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã lợi dụng cái thắc mắc chính đáng của mấy vị luật sĩ về thẩm quyền tha tội của Người, thì trong Bài Đọc 1 cho năm chẵn hôm nay cũng thế, Thiên Chúa cũng đã có ý lợi dụng đòi hỏi chính đáng của dân Do Thái bấy giờ đã trưởng thành hơn về ý thức hệ tự lập của họ để tiếp tục tỏ mình ra cho họ.

Đúng thế, sau khi được Thiên Chúa sai Moisen giải cứu họ ra khỏi Ai Cập, nơi họ đã sống 430 năm (xem Xuất Hành 12:40), cũng như sau khi vào Đất Hứa qua 40 năm hành trình băng qua sa mạc, họ đã được chính Thiên Chúa hướng dẫn khoảng thời gian 365 năm dưới quyền lãnh đạo của 15 vị được gọi là Quan Án (Judges) trong giai đoạn này, giờ đây, với ảnh hưởng văn hóa của các dân tộc chung quanh, họ ngỏ ý muốn lập quốc theo chế độ quân chủ (hoàn toàn tự lập bằng các vị vua của họ, dù vua cũng được Thiên Chúa chọn lựa và xức dầu phong vương, nghĩa là cũng từ Chúa mà đến và phải được Ngài công nhận), thay vì chế độ thần chủ (do chính Chúa hướng dẫn họ qua các trung gian loài người được Ngài tuyển chọn).

Đó là lý do, bài Đọc 1 hôm nay đã trình thuật về sự kiện cũng là biến cố lịch sử đổi đời chưa từng thấy trong dân Do Thái bấy giờ, dưới thời của vị tư tế kiêm tiên tri Samuel như sau: "Trong những ngày ấy, tất cả các kỳ lão Israel tập họp lại và đến cùng Samuel ở Ramtha, và nói với người rằng: 'Nay ông đã già rồi và con cái ông không đi trong đường lối của ông; vậy ông hãy đặt lên cho chúng tôi một nhà vua, để xét xử chúng tôi, như tất cả các dân tộc khác'".

Tất nhiên, bất cứ một biến đổi đột ngột nào cũng gây ra tình trạng hay hiện tượng chao đảo nơi con người, nhất là một con người truyền thống và trung thành với Thiên Chúa như Samuel, một con người đạo hạnh nhưng con cái lại hư thân, (giống như trường hợp của những cha mẹ đạo đức ngày nay có những đứa con chẳng ra làm sao vậy). Bởi thế, Bài Đọc 1 hôm nay mới có câu: "Lời ấy làm cho Samuel phật lòng, vì họ đã nói: 'Ông hãy cho chúng tôi một nhà vua, để xét xử chúng tôi'".

Thế rồi, cho dù "Chúa phán cùng ông rằng: 'Ngươi cứ nghe theo dân trong những gì họ sẽ nói với ngươi, vì không phải họ khinh bỉ ngươi, mà là khinh bỉ Ta, để Ta không còn cai trị họ nữa'", Samuel cũng hết sức cố gắng thuyết phục đám dân chúng đáng thương để họ từ bỏ ý nghĩ có vẻ phản loạn của họ đi, trong đó ông còn kèm theo lời đe dọa về hậu quả tai hại khôn lường có thể gây ra bởi chọn lựa ngang trái này của họ, mà ông vẫn không thành công, như đoạn kết của Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy:

"Nhưng dân không muốn nghe lời Samuel, và nói với người rằng: 'Không, chúng tôi phải có vua, chúng tôi phải giống như mọi dân tộc khác; nhà vua sẽ xét xử chúng tôi, sẽ đi trước chúng tôi, và sẽ đánh giặc cho chúng tôi'. Samuel nghe tất cả những lời dân nói, và thưa lại cùng Chúa. Nhưng Chúa nói cùng Samuel rằng: 'Ngươi cứ nghe họ và thiết lập cho họ một nhà vua'".

Chiều hướng và đòi hỏi của dân Do Thái trong Bài Đọc 1 hôm nay tỏ ra như thể không muốn an phận, trái lại, có ý muốn tự lập hơn là theo chế độ thần chủ, hoàn toàn ngược lại với ý thức hệ và tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay, một Bài Đáp Ca tuy thế đã phản ảnh tâm tình của Tiên Tri Samuel, vị đã cố gắng thuyết phục họ sống trung thành với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ:

1) Phúc thay dân tộc biết hân hoan, lạy Chúa, họ tiến thân trong ánh sáng nhan Ngài. Họ luôn luôn mừng rỡ vì danh Chúa, và tự hào vì đức công minh Ngài.

2) Vì Chúa là vinh quang, quyền năng của họ, nhờ ân huệ Chúa, uy quyền của chúng tôi được suy tôn. Bởi chưng khiên thuẫn chúng tôi là của Chúa, và vua chúng tôi thuộc về Ðấng Thánh của Israel.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 108