mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay861
mod_vvisit_counterHôm Qua8689
mod_vvisit_counterTuần Này9550
mod_vvisit_counterTuần Trước66679
mod_vvisit_counterTháng Này205737
mod_vvisit_counterTháng Trước227630
mod_vvisit_counterTất cả9705303

We have: 112 guests, 1 members online
Your IP: 54.80.227.189
 , 
Today: Nov 21, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO - THU HAI-CN33TN-A PDF Print E-mail

HỌC HỎI-Suy Nghiệm VÀ SỐNG Lời Chúa

THỨ HAI TUẦN 33TN-A

Một con người đui mù mà vẫn thấy được ánh sáng chiếu soi

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Hai Tuần XXXIII Thường Niên, cũng là bài Phúc Âm theo Thánh Marco (10:46-52) được Giáo Hội chọn đọc cho Chúa Nhật XXX Thường Niên Năm B, về phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu "cho một người mù ngồi ăn xin bên vệ đường".

Tuy nội dung của 2 bài Phúc Âm này được cả hai Thánh Ký Marco và Luca thuật lại giống nhau, nhưng về chi tiết hơi khác nhau một chút. Chẳng hạn ở những chi tiết rõ ràng sau đây:

Trước hết, về nơi xẩy ra phép lạ Chúa, trong khi Thánh ký Marco thuật lại rằng "Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô", thì Thánh ký Luca trong bài Phúc Âm hôm nay lại viết rằng "Chúa đến gần thành Giêricô".

Sau nữa, về bản thân của nạn nhân mù lòa ngồi ăn xin bên vệ đường ở thành Giêricô này, trong khi Thánh ký Marco (một vị thánh ký viết Phúc Âm ngắn nhất trong bộ 3 Phúc Âm Nhất Lãm, nhưng lại khá chi tiết về các biến cố xẩy ra) cho biết rõ lý lịch của nạn nhân là "con ông Timê tên là Bartimê", thì Thánh ký Luca lại chẳng nói gì hết.

Còn nữa, về thái độ của người mù ngồi ăn xin bên vệ đường này, trong khi Thánh ký Marco cho biết rõ chi tiết về phản ứng của nạn nhân khi nghe thấy mình được Chúa Giêsu gọi đến là "anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu", thì Thánh ký Luca lại chỉ vắn tắt viết: "anh đến gần bên Người".

Sau hết, về lời truyền chữa lành của Chúa Giêsu phán cùng nạn nhân, trong khi Thánh ký Marco ghi lại rằng: "Ðược, đức tin của anh đã chữa anh", thì Thánh ký Luca ở đây lại chi tiết hơn Thánh ký Marco một chút như thế này: "Hãy nhìn xem, lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi".

Ngoài ra, cả hai vị Thánh ký đều giống nhau ở thái độ của nạn nhân là khi nghe biết có Chúa Giêsu ở đấy thì van xin, và càng bị trấn át thì càng la to hơn, cho đến khi được Người gọi đến, và cũng giống nhau ở câu đối đáp giữa Chúa Giêsu và nạn nhân trước khi phép lạ xẩy ra, đó là Chúa Giêsu hỏi nạn nhân muốn Người làm gì cho nạn nhân và nạn nhân đã xin Người phục quang cho mình.

Ở đây, để thêm vào các suy niệm và suy diễn đã được chia sẻ cho Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần XXX Thường Niên Chu Kỳ B, có hai chi tiết khiến chúng ta suy nghĩ không ít:

Chi tiết thứ nhất liên quan đến đấng chữa lành, đó là "Chúa Giêsu dừng lại, truyền dẫn anh đến cùng Người", và chi tiết thứ hai liên quan đến nạn nhân được chữa lành: "anh thấy được và anh đi theo Người, và ca tụng Thiên Chúa".

Thật vậy, đây là quả là một vũ điệu thần linh tuyệt vời. Ở chỗ, tác động thần linh từ Đấng Chữa Lành đã được phản hồi hết sức tương xứng bằng một đáp ứng thần linh từ nạn nhân được chữa lành.

Nạn nhân trước khi được chữa lành không hề dám tự động quẳng áo choàng đứng lên tiến đến gần Chúa Giêsu khi thoạt tiên vừa nghe thấy Người đến gần chỗ nạn nhân đang ngồi ăn xin, mà chờ đợi cho tới khi được Người gọi tới. Thái độ cứ ngồi yên một chỗ đợi chờ không phải là thái độ không nhiệt tình, mà là một thái độ tin tưởng hơn hết, ở chỗ, một đàng thì kêu la van xin cho bằng được, trong khi lại ngồi yên tại chỗ như thể nạn nhân cảm thấy mình hoàn toàn bất xứng không đáng đến gần Chúa Giêsu, cũng như bất lực không thể nào làm gì được nếu không có Người.

Đúng thế, tác động thần linh bao giờ cũng đến trước đáp ứng thần linh của thụ tạo, như yếu tố thiết yếu và điều kiện bất khả thiếu để thụ tạo nhờ đó và do đó mới có thể bị động, mới có thể cảm động và mới có thể di động theo tác động thần linh. Bởi thế, chỉ khi nghe thấy Chúa Giêsu truyền gọi, nạn nhân mù lòa ngồi ăn xin bên vệ đường ở thành Giêricô này mới đến được và được đến với Người.

Thực tế sống đạo cũng cho thấy thực tại này, ở chỗ, những ước muốn tốt lành của chúng ta cũng cần phải được Thiên Chúa tác động trước, hơn là tự chúng ta có được, vì chúng ta theo bản tính tự nhiên đã bị hư đi theo nguyên tội, luôn hướng hạ hơn là hướng thượng. Một khi chấp nhận ước muốn tốt lành bởi tác động thần linh khởi động ấy, chúng ta mới bày tỏ lòng khát vọng của chúng ta bằng lời cầu nguyện, nhờ đó Thiên Chúa được dịp ban cho chúng ta chính những gì Ngài đã muốn ban nên đã soi động chúng ta ước muốn trước khi van xin.

Cuộc hội ngộ thần linh trong bài Phúc Âm hôm nay đã xẩy ra một cách hết sức ngoạn mục. Ở chỗ, nạn nhân kháo khát được chữa lành, trong khi Thiên Chúa vô cùng nhân hậu đã sẵn muốn chữa lành cho nạn nhân rồi, và chỉ chờ đến giờ của mình là ra tay lập tức, tức là cho đến khi nghe thấy nạn nhân kêu xin mình thì đáp ứng ngay, như thể Đấng Chữa Lành thụ động còn nạn nhân chủ động, như xẩy ra trong trường hợp được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại.

Nạn nhân mù ngồi ăn xin hằng ngày ở thành Giêricô tên Bartimê này, chắc đã lâu lắm rồi, với một thân phận nghèo khổ và tương lai mịt mù như bóng tối hằng che phủ đôi mắt của nạn nhân, có ngờ đâu lại bất ngờ được gặp và gặp được Đấng chữa lành cho mình, và như thế, quả thực cuộc đời của nạn nhân đã được Thiên Chúa sử dụng để tỏ mình Ngài ra, giống hệt như trường hợp của người mù từ lúc mới sinh trong Phúc Âm Thánh ký Gioan (9:3).

Phải chăng cảm nhận được như vậy, nạn nhân diễm phúc này đã không còn thiết gì thế gian này nữa, vì nạn nhân được sáng mắt không phải chỉ thấy được ánh sáng tự nhiên mà nhất là thấy được chính "ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12), một thứ ánh sáng thần linh ban sự sống đã chữa lành cho nạn nhân, và vì thế nạn nhân đã "đi theo Người, và ca tụng Thiên Chúa"?

Bản thân của nạn nhân đã trở thành một cuộc thần hiển cho Thiên Chúa tỏ mình ra, chẳng những cho chính nạn nhân, mà còn cho cả cộng đồng gần xa của nạn nhân nữa. Mục đích của Thiên Chúa ban ơn cho bất cứ một ai không phải chỉ cho riêng người đó mà còn qua người đó cho các người khác nữa. Bao giờ cũng thế. Đó là nguyên tắc và đường lối tỏ mình ra của Ngài. Bởi thế, bài Phúc Âm hôm nay đã kết luận như sau: "Thấy vậy toàn dân liền ca ngợi Thiên Chúa".

Trong khi người mù ăn xin bên vệ đường trong Bài Phúc Âm hôm nay, có thể qua chính bóng đêm bịt bùng con mắt của mình nhận ra Đấng Chữa Lành cho mình, thì có những con người sáng mắt mà lại hoàn toàn mù quáng về tâm linh, như thành phần được thuật lại trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay.

Phải, Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay được Giáo Hội chọn đọc cho Phụng Vụ Lời Chúa trong suốt cả Tuần XXXIII Thường Niên áp cuối tuần lễ cuối cùng của Mùa Thường Niên 34 tuần lễ hằng năm, đó là Sách Maccabê, một trong những cuốn thuộc loại sách sử trong bộ Thánh Kinh Cựu Ước 45 cuốn.

Vì Sách Maccabê 2 cuốn này thuật lại giai đoạn lịch sử của dân Do Thái sau thời lưu đầy Babylon đã tiến sang giai đoạn bị đô hộ ngay trong đất nước của mình, nhất là bị bách hại lần đầu tiên trong lịch sử, một cuộc bách hại như để thử thách đức tin của dân tộc này trước quyền lực sự dữ tấn công lề luật thánh của họ, một cuộc thử thành đã làm cho nhiều tín hữu Do Thái giáo bỏ đạo, trong khi đó vẫn còn có những tín hữu can trường bất khuất trung kiên với lề luật và chiến đấu chống lại quyền lực đàn áp đạo giáo của họ, nổi nhất là gia đình anh em Maccabê.

Trước hết, quyền lực sự dữ đô hộ dân tộc và đất nước Do Thái nhỏ bé bấy giờ được Sách Maccabê quyển 1 trong Bài Đọc 1 hôm nay cho biết thế này:

"Vua Antiôcô ra chiếu chỉ khắp nước truyền cho mọi dân hợp thành một dân và mỗi dân phải bỏ tục lệ riêng mình; tất cả các dân ngoại đều tuân lệnh nhà vua. Nhiều người Israel cũng sẵn sàng theo việc phượng tự của nhà vua, họ liền hiến tế cho ngẫu tượng và phế bỏ ngày sabbat".

Thành phần tín hữu Do Thái giáo bất trung đã tỏ thái độ chạy theo kẻ thù như được Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy như sau:

"Thời đó từ Israel cũng xuất hiện một số người bất lương mê hoặc được nhiều người, chúng nói rằng: 'Này, ta hãy giao ước với các dân ở chung quanh chúng ta, vì từ ngày chúng ta đoạn giao với các dân ấy, chúng ta đã gặp nhiều tai hoạ'. Họ cho lời nói ấy là đúng. Một số trong dân chúng hối hả đi yết kiến nhà vua và được nhà vua cho phép tuân giữ các luật lệ của dân ngoại. Họ liền xây cất một thao trường ở Giêrusalem theo tập quán của dân ngoại; họ tìm cách hủy bỏ vết tích của phép cắt bì, chối bỏ Giao Ước thánh để rồi giao ước với kẻ ngoại. Họ tự bán mình để làm sự dữ".

Thành phần tín hữu Do Thái giáo can trường bất khuất trung kiên với lề luật với bất cứ giá nào, kể cả mạng sống cao quí nhất của họ, như đoạn kết của Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy:

"Ngày rằm tháng Kislêu, năm một trăm bốn mươi lăm, vua Antiôcô đặt một ngẫu tượng ghê tởm ngay trên bàn thờ dâng của lễ toàn thiêu. Người ta cũng lập nhiều bàn thờ khác trong các thành lân cận của Giuđa: người ta đốt hương cúng tế trước cửa nhà và ở các công trường. Hễ gặp thấy sách luật nào, họ xé nát và đem đốt đi. Nếu người ta bắt gặp sách giao ước trong nhà người nào hoặc bắt gặp kẻ nào giữ Luật Chúa, thì kẻ ấy sẽ bị xử tử theo đúng chiếu chỉ của nhà vua. Nhưng cũng có nhiều người Israel tỏ ra kiên quyết, và nhất định không ăn của gì dơ nhớp; họ thà chết chẳng thà làm cho mình ra ô uế bởi của ăn dơ và phạm đến Giao Ước thánh, và quả thực họ đã chết. Dân Israel phải chịu một cơn thịnh nộ khủng khiếp".

Tâm tình của thành phần tín hữu trung kiên trong Bài Đọc 1 hôm nay, đối với cả những người đồng hương đồng đạo bội giáo của họ cũng như với quyền lực sự dữ đang tấn công đạo giáo của họ, được phản ảnh rất trung thực trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Con nổi cơn uất hận vì những người tội lỗi, bọn chúng bỏ rơi luật pháp của Ngài.

2) Thừng chão bọn ác nhân đã trói buộc con, nhưng con chẳng lãng quên luật pháp của Ngài.

3) Xin Chúa cứu con khỏi người ta áp bức, để con tuân giữ các huấn lệnh của Ngài.

4) Những kẻ bách hại con cách độc ác đang tiến lại gần, bọn chúng sống xa pháp luật của Chúa.

5) Ơn cứu độ của Chúa xa bọn ác nhân, vì chúng chẳng lo giữ những thánh chỉ của Ngài.

6) Nhìn thấy những kẻ phản bội mà con chán nản, vì chúng không tuân giữ lời sấm của Ngài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CN33TN-A -ONG CHU DI VANG PDF Print E-mail

MUỐN SINH LỢI PHẢI DÁM LIỀU

"Ông chủ đi vắng..." TIN MỪNG MT 25, 14-30

KRISTIE PHAN CHUYỂN
Dụ ngôn những nén vàng là dụ ngôn cuối cùng trong ba dụ ngôn được thánh Mátthêu gom lại để nói lên chủ đề "Thời cuối cùng." Trong câu chuyện này, ai là ông chủ sắp đi xa, nếu không phải là chính Đức Giêsu? Trước đây một khoảng thời gian ngắn, chính Người đã tuyên bố: "Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ thấy Thầy." (Ga 16,16). Người sẽ ra đi để được Chúa Cha tôn vinh cách công khai và long trọng, Người cũng sẽ trở lại để tính sổ. Vì vậy, Tin Mừng Mát-thêu đã nối kết câu chuyện xét xử tên gia nhân bất tài với cuộc phán xét chung (Mt 25,31-46).

Ngoài ra, trình thuật hôm nay được đặt trong bối cảnh Đức Giêsu sắp tiến vào Giêrusalem và chịu khổ nạn. Con Người sắp ra đi và trao phó vương quốc lại cho những người được tín nhiệm. Các ông có nhiệm vụ làm cho vương quốc ấy được tiến triển.

"Một người kia sắp đi xa, liền gọi gia nhân đến mà giao phó của cải mình cho họ."
Trước hết, tất cả các gia nhân đều được trao một số nào đó, không ai trắng tay, không có vốn ban đầu. Tuy vậy, mỗi người nhận được số vàng không như nhau. Sau này, khi trở về, ông chủ tính sổ với mỗi người theo tình trạng không đồng đều này: ông không đòi người nhận hai nén phải trả lại năm nén. Ông đòi mỗi người theo mức độ ông đã giao, và chỉ chừng đó thôi.

Thời gian của lịch sử nhân loại, đó là thời gian "ông chủ đi vắng": mỗi người bị đặt trước thử thách, như gia nhân được ông chủ trao phó những trách nhiệm lớn lao. Quả thế, đời sống của con người qua đi trong lúc dường như Thiên Chúa vắng mặt hay rút lui để cho các thụ tạo có thể phát huy sáng kiến của mình. Điều này cho thấy Thiên Chúa rất tin tưởng và tôn trọng con người.

Với các môn đệ của Đức Giêsu, nén vàng chính là "Anh em hãy đi đến với muôn dân, làm phép rửa cho họ..., dạy họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em..." (Mt 28,19.20). Ngay từ lúc ấy, các môn đệ của Đức Giêsu, đặc biệt là ông Phêrô, được tung vào một thử thách ghê gớm: cuộc đối đầu với các vị lãnh đạo cao nhất về tôn giáo của đất nước. Ông sẽ mạnh mẽ lên tiếng làm chứng: "Anh em đã giết chết Đấng khơi nguổn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã làm cho Người chỗi dậy từ cõi chết." (Cv 3,15). Chẳng có ai ban sức mạnh cho ông, ngoại trừ Thánh Thần của Thiên Chúa. Tất cả đã được trao cho các môn đệ, cho ông Phêrô.

Ít lâu sau, một cuộc khủng hoảng xảy ra: Có nên từ bỏ Giu-đa giáo không? Câu trả lời không dễ dàng và cũng không có ngay được. Dường như chính Đức Giêsu đã không giới hạn sứ vụ của Người nơi đoàn chiên Israel. Cuối cùng, Hội Thánh đã can đảm tiến lên phía trước: "Thánh Thần và chúng tôi đã quyết định..." (Cv 15,28).

Tiếp đó là cuộc đụng đầu với bộ máy cầm quyền ở Rô-ma, rồi với cuộc xâm lăng của dân man-di, việc tiếp xúc với những nền văn minh xa lạ. Mỗi lần lại là những vấn đề mới.

Nhìn chung chỉ khi nào vượt lên khỏi sự sợ hãi, lúc ấy Hội Thánh mới ý thức được rằng Tin Mừng không phải là một kho tàng để cất giữ, nhưng là một hạt giống cần được gieo xuống, một vườn nho phải sinh hoa trái, một nắm men phải dậy lên, một cuộc phiêu lưu cần mạo hiểm, một số vốn phải sinh lời, và cuối cùng, một trách nhiệm phải chu toàn cho đến ngày ông chủ trở về.

Như thế, ông chủ đi vắng, nhưng ông đã tin tưởng vào các gia nhân. Ông đã trao toàn bộ tài sản của ông cho họ. Bổn phận của họ là làm lợi thêm để khi ông trở về, ông sẽ tính sổ và ban thưởng.

"... nhưng ông sẽ trở về"
Ông chủ ra đi khá lâu và cuộc thử thách vẫn kéo dài. Người ta có cảm tưởng rằng ông không trở về, hay là ông đã chết rồi. Nhưng không, ông sẽ trở về, vào giờ phút không ngờ. Không ai biết được lúc nào ông chủ trở về. Chính vì vậy, Đức Giêsu khuyên các môn đệ luôn phải sẵn sàng, phải tỉnh thức trong khi chờ đợi.

Rồi đến lúc ông chủ trở về và đòi các gia nhân tính sổ. Những người đã sử dụng vốn liếng ông đã trao để sinh lợi, ông ban tặng phần thưởng xứng đáng. Riêng với người đem cất kỹ nén vàng ông đã trao, ông xử phạt. Tại sao thế? Anh đã không sinh lợi thêm, nhưng ít ra vẫn bảo toàn nén vàng, không suy suyển, mất mát.

Thật ra, anh ta không phải là người bất lương; không sinh lợi thêm không có nghĩa là ăn cắp. Vậy, anh kh��ng làm điều bất công, không lỗi đức công bằng, tại sao anh lại bị quở trách và bị xử phạt?

Ông chủ quở trách anh, không phải vì anh đã phạm tội làm trái lẽ công bằng, nhưng tại vì anh đã cư xử trái ngược với sự tín nhiệm ông đặt nơi anh. Thái độ đáng bị khiển trách của anh, không phải là không làm lợi thêm cho ông chủ, nhưng chính là không dám làm. Lý do anh đưa ra để bào chữa cho thái độ của mình: anh sợ ông chủ "là một người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi." Anh đã tính toán và nghĩ rằng tốt hơn cả là không nên liều. Anh đã nghĩ sai về ông chủ, anh đã hồ nghi. Tội của anh là ở chỗ đó.

Và ông chủ đối xử với anh như anh đã nghĩ về ông. Anh sợ ông, anh nghi ngờ ông, anh nghĩ ông là người hà khắc; vậy ông xử với anh như anh nghĩ. Ông đã quở trách anh là bất tài, là vô dụng, thu lại nén vàng đã giao và hơn nữa, còn giam anh vào nơi tối tăm.

Như thế, khi ông chủ tính sổ, thái độ tin tưởng hay hồ nghi sẽ là mức độ để ban thưởng hay xử phạt. Anh gia nhân được giao một nén chỉ nghĩ đến sự hà khắc của ông chủ, nên anh bị phạt, còn những người khác lại nghĩ đến lòng đại lượng của ông chủ, và họ đã sống theo đó, nên được ban thưởng. Càng tính toán kỹ, người ta lại trở về tay trắng, còn khi tin tưởng, người ta được tràn trề, vượt quá lòng mong ước.

Đây là một thử thách lớn với con người, kể từ thời A-đam. Người ta vẫn có thói quen coi Thiên Chúa như một vị bạo chúa hơn là một người cha đầy tình yêu thương, Đấng đã thiết lập "giao ước" với con người, sau khi họ phạm tội. Đây cũng là ý nghĩ của những người biệt phái và kinh sư: họ nghĩ rằng chỉ có họ là người công chính, còn người khác thì không. Họ chẳng yêu mến gì Thiên Chúa, nhưng chỉ vì muốn an toàn và thu lợi về cho mình. Vì vậy, đương nhiên họ cũng hi��u Đức Giêsu muốn ám chỉ họ khi kể dụ ngôn này.

Như vậy, chắc chắn ông chủ sẽ trở về. Ông sẽ ban thưởng cho người yêu mến ông, sống xứng đáng với lòng tín nhiệm của ông, ai sống ngược lại, sẽ bị xử phạt.

Mỗi người có vị trí riêng

Một cách gián tiếp, dụ ngôn này đặt nền cho sự tự do của chúng ta. Nhờ bí tích thanh tẩy, mỗi người đã đón nhận những nén vàng, và phải sinh lợi thêm. Mỗi người đều có trách nhiệm phát huy sáng kiến để làm tăng thêm những nén vàng. Tự do cũng đồng nghĩa với dám liều. Thiên Chúa không muốn chúng ta sống như những người nô lệ, nhưng là như những người tự do, tức là biết quyết định về đời sống hiện tại cũng như tương lai của mình.

Trong thời gian chờ đợi ngày Chúa trở lại, mỗi người chúng ta sẽ sử dụng, điều hành mọi sự không phải như là tài sản của riêng mình, nhưng là của Đấng Sáng Tạo. Việc sử dụng tốt nhất chính là cộng tác tích cực vào việc xây dựng Nước Thiên Chúa. Chúng ta sẽ không phân bì, tính toán mình nhận được nhiều hay ít, nhưng hiểu rằng mỗi người có những nén vàng, có vai trò và trách nhiệm riêng của mình. Thiên Chúa tín nhiệm mỗi cá nhân và giao cho mỗi cá nhân một vị trí đặc biệt, có thể nói mạnh rằng, không ai giống ai. Điều cần thiết là mỗi người phải hoàn thành "vai trò lịch sử" của mình; bởi vì, vào ngày Chúa trở lại, Người đòi mỗi người phải tính sổ, phải trả lời về những nén vàng mình đã nhận.

Để được như thế, chắc chắn chúng ta phải vượt ra khỏi ý nghĩ cho rằng Thiên Chúa là người hà khắc, trái lại phải sống với Người như với một người cha đầy tình âu yếm. Thái độ này sẽ khơi dậy lòng tin để dám thoát ra khỏi sự an toàn cá nhân, kể cả việc tỉ mỉ tuân giữ Lề Luật, và vươn tới tinh thần tự do, tinh thần của những người dám đưa ra sáng kiến và đảm nhận trách nhiệm của mình.

Thiên Chúa vắng mặt, nhưng Người đã tín nhiệm chúng ta, Người mong muốn chúng ta tỉnh thức và đảm nhận tương lai của mình.
Chúng ta không có quyền coi thường hay hồ nghi sự tín nhiệm đó, không có quyền ngủ yên trong hiện tại,
nhưng nhận ra đó là một vinh dự để nỗ lực hướng tới tương lai, đợi ngày Người trở lại và tính sổ.

Lm. G Nguyễn Cao Luật, OP

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO- DUC MẸ VA CAC THANH BAN ON PDF Print E-mail

ĐỨC MẸ VÀ CÁC THÁNH CÓ BAN ƠN CHO AI KHÔNG ?

Hỏi: xin cha giải thích hai câu hỏi sau đây:

1- Tại sao cần cầu nguyện và cầu nguyện cách nào cho được Chúa dễ nhậm lời?
2- Lời cầu nguyện thường nghe sau đây có đúng tín lý, giáo lý hay không:
" Xin Chúa, Đức Mẹ, Thánh Giuse (hay Thánh Phêrô, Phaolô...) ban nhiều ơn lành cho ông bà, anh chị em v.v"

Trả lời:

1- Tại sao cần cầu nguyện?

Cầu nguyện (pray) nói chung và và cầu xin nói riêng (cầu xin =petition) là một phần của cầu nguyện là việc đạo đức rất đáng khuyến khích và thực hành vì nó nói lên niềm tin của người tín hữu nơi Thiên Chúa là Đấng không ai trông thấy bằng mắt nhưng tin chắc có Ngài hiện diện và luôn lắng nghe lời cầu nguyện của chúng ta.

Nói một cách thông thường, thì cầu nguyện là trò chuyện thân mật với Chúa trong tình Cha-con khi vui khi buồn, khi thành công cũng như lúc thất bại, gặp lắm gian nan, đau khổ...trên đường đời. Chúa Giêsu đã nêu gương cầu nguyện cho các Tồng Đồ xưa và mọi người tín hữu chúng ta ngày nay khi Chúa luôn cầu nguyện cùng Chúa Cha trong suốt hành trình ba năm đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và cho đến phút trước khi tắt hơi thở trên thập giá.

Trước hết, Chúa đã vào hoang địa để ăn chay, cầu nguyện suốt 40 đêm ngày, trước khi ra rao giảng Tin Mừng Cứu Độ.. (cf Mt 4:1-11; Mc 1: 12-13; Lc 4 : 1-13). Chúa đã dạy các Tông Đồ cầu nguyện với Kinh Lậy Cha mà chúng ta đang đọc mỗi ngày (Mt 6: 9-13; Lc 11: 2-4). Chúa cũng đặc biệt tha thiết cầu xin cùng Chúa Cha trong chương 17 Phúc Âm Thánh Gioan, trước khi Người chịu khổ hình Thập giá. Và khi bị treo trên thập giá, Chúa Giêsu cũng đã cầu xin cho những kẻ đóng đinh Người như sau:
"Lậy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm." (Lc 23: 34)

Sau hết, trước khi tắt hơi thở cuối cùng trên thập giá, Chúa cũng đã than thở lần chót cùng Chúa Cha với những lời thống thiết như sau:
"Ê-li, Ê-li lê-ma xa-bác tha-ni" nghĩa là "Lậy Thiên Chúa, lậy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con." (Mt 27: 46)

Nhưng Chúa đã vui lòng chịu mọi sự khó và chết sau khi Người phó linh hồn cho Chúa Cha: "Lậy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha." (Lc 23:46)

Như thế đủ cho thấy là Chúa Giêsu đã coi việc cầu nguyện cần thiết và quan trọng đến mức nào trong khi thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng cứu độ và cứu chuộc nhân loại mà Chúa Cha đã trao phó cho Người.

Hơn thế nữa, Chúa đã làm gương sáng ngời cho chúng ta về sự cần thiết phải cầu nguyện, vì qua cầu nguyện, chúng ta được xích lại gần Thiên Chúa là Cha luôn lắng nghe lời cầu xin tha thiết của mọi con cái loài người.

Cầu nguyện cũng để nói lên lòng tin và hy vọng vào Chúa là Đấng duy nhất ban phát mọi ơn lành và giúp ta đứng vững trong mọi thử thách, khó khăn, gian truân trong hành trình đức tin.

Lại nữa, cầu xin cũng để thú nhận rằng chúng ta rất yếu đuối, dễ nghiêng chiều về sự xấu, và tội lỗi , nên rất cần ơn Chúa để chiến thắng ma quỉ, xác thịt và gương xấu của thế gian, luôn đe dọa lôi kéo chúng ta ra khỏi tình thương của Chúa và mất hy vọng được cứu rỗi.

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ:
"Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người." (Lc 21: 36)

Nhưng để cho lời cầu xin của chúng ta được hữu hiệu chấp nhận, chúng ta phải nhờ cậy Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse và các Thánh Nam nữ khác, kể các các linh hồn thánh trong Luyện ngục, nguyện giúp cầu thay cho chúng ta. Phải nhờ cậy các Thánh vì các Ngài đang được vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Quốc và có thể nguyện giúp cầu thay đắc lực cho chúng ta và cho các linh hồn thánh trong Luyện Tội. Chỉ nhờ cậy thôi chứ không cầu xin Đức Mẹ và các Thánh vì chỉ có Chúa là Đấng ban phát mọi ơn lành cho chúng ta qua lời cầu bầu của Đức Mẹ, của Thánh Cả Giuse, các Thánh Nam Nữ và cả các linh hồn thánh trong Luyên Ngục.

Các linh hồn này không thể tự giúp mình được nữa vì thời giờ đã mãn cho họ lập công đền tội hay phạm thêm tội nào nữa. Vì thế các linh hồn cần sự trợ giúp của các Thánh trên Thiên Đàng và các tín hữu còn sống trên trần thế để mau được tha mọi hình phạt hữu hạn và sớm được gia nhập hàng ngũ các Thánh trên Thiên Đàng. Tuy nhiên, các linh hồn trong Luyện Tội cũng có thể cầu xin cho chúng ta đang lữ hành trên trần thế., cách hữu hiệu.

Chỉ có các Thánh là không cần sự trợ giúp của ai nữa vì các ngài đã đủ điều kiện để hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng rồi, và có thể cứu giúp các linh hồn nơi Luyên tội và các tín hữu còn sống trên trần thế này qua lời cầu xin Chúa thay cho chúng ta và các linh hồn nơi Luyện tội. Đó là tín điều các Thánh thông công ( comm of Saints) mà Giáo Hội dạy các tín hữu tin và thực hành để mưu ích cho mình và cho các linh hồn thánh nơi Luyện Tội.

2- ĐỨC MẸ và CÁC THÁNH CÓ BAN ƠN CHO TA KHÔNG?

Như đã nói ở trên, vì chỉ có Chúa là Đấng ban phát mọi ơn lành, nên nếu cầu xin như câu hỏi đặt ra là, "xin Chúa, Đức Mẹ, Thánh... ban ơn cho ai". thì lời cầu xin này không phù hợp với niềm tin chỉ có Chúa là Nguồn duy nhất ban phát mọi ơn thánh cho con người.
Đức Mẹ và các Thánh không ban ơn cho ai, mà chỉ cầu thay nguyện giúp đắc lực cho ta trước Tòa Chúa mà thôi.

Thật vậy, Thiên Chúa là Nguồn ơn sủng (grace=gratia) và giầu lòng thương xót như Người đã nói với ông MôSê trên núi Sinai xưa kia như sau: "Thiên Chúa nhân hậu và ân sủng, chậm bất bình, giầu lòng thương xót và thành tín" (Xh 34:6). Vì thế, chúng ta phải cầu xin Chúa và chỉ một mình Người ban phát mọi ơn phúc cần thiết cho ta như lòng mong ước.

Tuy nhiên, để cho lời cầu xin của chúng ta được đắc lực nhậm lời thì Giáo Hội dạy chúng ta phải cậy nhờ các Thánh nam nữ, nhất là Mẹ Maria là Nữ Vương Thiên Đàng, là người "đầy ơn phúc", nguyện giúp cầu thay cho. Nhưng, dù với địa vị là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos) vì là Mẹ thật của Chúa Kitô cũng là Thiên Chúa, Đức Mẹ cũng không cao hơn Thiên Chúa trong uy quyền và ân sủng.

Bằng cớ là khi còn tại thế, nhân đến dự tiệc cưới tại Cana với Chúa Giêsu, Đức Mẹ là người trước tiên đã nhìn thấy việc gia chủ hết rượu nên đã nói với Chúa rằng "họ hết rượu rồi" (Ga 2:3). Mẹ nói thế vì Mẹ để tùy quyền Chúa quyết định chứ Mẹ không tự ý làm điều gì theo ý mình. Nhưng cũng vì lời Mẹ chuyển cầu thay cho gia chủ mà Chúa Giêsu đã làm phép lạ công khai đầu biến nước lã thành rượu ngon, mặc dù "giờ của tôi chưa đến" ( Ga 2 :4).
Sự kiện này cho thấy rõ uy tín và hiệu lực của lời cầu bầu của Đức Mẹ cho ta trước Chúa.

Với tất cả các Thánh nam nữ khác, Giáo Hội cũng dạy rằng: :...
" Những nhân chứng đức tin đã đi trước chúng ta vào Nước Trời, nhất là những vị đã được Giáo Hội công nhận là "thánh" và đang dự phần vào truyền thống sống động của cầu nguyện bằng gương mẫu đời sống của các ngài và bằng việc để lại cho chúng ta sách vở của các ngài về việc cầu nguyện hôm nay. Các ngài đang chiêm ngưỡng và ca tụng Thiên Chúa và không ngừng lo cho những anh em mà các ngài đã để lại trên trần thế. Khi các ngài được vào hưởng niềm vui với Chúa của mình, các ngài được Chúa trao phó cho nhiều công việc, trong đó việc chuyển cầu thay cho kẻ khác là việc phục vụ hết mình cho ý định của Thiên Chúa. Chúng ta có thể và phải xin các ngài nguyện giúp cầu thay cho chúng ta và cho toàn thế giới." (SGLGHCG, # 2683; LG. #50)

Mặt khác Công Đồng Tridentinô (Trent 1563) cũng dạy rằng: "Thật tốt lành và hữu ích khi khiêm tốn cầu khẩn cùng các Thánh để xin ơn sủng của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta."

Như thế, trên hết chúng ta phải cậy nhờ Chúa Kitô khi xin mọi ơn phúc của Chúa Cha. Các Thánh là những người đã thánh thiện đủ và đang được ở gần Chúa Giêsu hơn các tín hữu còn lữ hành trên trần thế hay đang được tinh luyện trong Luyên tội (purgatory), nên có thể nguyện giúp cầu thay (intercede) đắc lực cho ta và cho các linh hồn trong nơi thanh luyện đó.

Chính vì thế mà Giáo Hội đã đặc biệt kêu cầu sự trợ giúp thiêng liêng của Đức Mẹ và các Thánh Nam Nữ qua Kinh cầu các Thánh được đọc trong những dịp đặc biệt như Lễ Truyền Chức thánh, Khấn Dòng, và đêm vọng Phục Sinh.

Tóm lại, khi cầu nguyện để xin bất cứ điều gì, ta cần nhớ rõ là chỉ một mình Thiên Chúa tức Chúa Cha là Nguồn ban phát mọi ơn lành mà thôi.

Nhưng cho được xin bất cứ ân sủng nào của Chúa Cha cách xứng hợp và hữu hiệu, chúng ta trước hết phải cậy nhờ hay nhân danh Chúa Giêsu-Kitô như Chúa đã dạy các tông đồ xưa: "...tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người sẽ ban cho anh em." (Ga 15:16).

Đó là lý do tại sao Giáo Hội luôn kết thúc mọi lời cầu nguyện bằng câu: Nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con, cũng như luôn nhắc đến Đức Mẹ và các thánh khi cử hành phụng vụ. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể cầu xin Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần vì các Ngài cũng là Thiên Chúa đồng bản tính ( bản thể=substance) với Chúa Cha.

Như vậy, kiểu nói: cầu xin Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse hay bất cứ Thánh nào khác phải được hiểu là nhờ Mẹ và các Thánh nguyện giúp cầu thay cho chúng ta mà thôi. Nghĩa là Đức Mẹ và các Thánh không thể ban phát ơn sủng nào cho ai, mà chỉ nhận lãnh từ Chúa Giêsu những ơn mà Chúa Cha đã ban qua Chúa Giêsu nhở lời cầu thay nguyện giúp của Đức Mẹ và các Thánh. .

Tóm lại, cho được chính xác, chúng ta phải cầu xin như sau :
Nguyện xin Thiên Chúa, nhờ Chúa Giêsu Kitô và qua lời cầu bầu của Mẹ Maria, và Thánh..... ban nhiều ơn lành cho chúng ta (hay cho ai).
Nghĩa là, mỗi khi xin gì cùng Đức Mẹ và các Thánh, chúng ta phải xin trong tinh thần nhờ cậy Đức Mẹ và các thánh chuyển cầu thay cho ta trước Tòa Chúa, là Nguồn mạch duy nhất của mọi ơn phúc được ban cho con người nhờ công nhiệp Chúa Kitô , và qua lời cầu bầu của Đức Mẹ và các Thánh nam nữ đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng..
Đó là cách cầu nguyện xứng hợp đẹp lòng Chúa và vui lòng Đức Mẹ và các thánh nhất.

Sau hết, cũng vì mục đích tôn thờ Thiên Chúa cách đúng đắn, phù hợp với đức tin, thì mỗi khi bước vào một nhà thờ hay nhà nguyện nào nơi có đặt Mình Thánh Chúa trong Nhà tạm (Tabernacle) chúng ta phải bái quỳ (genuflect) hay cúi đầu bái lậy Thánh Thể trước khi bái kính ảnh tượng Đức Mẹ hay bất cứ thánh nam nữ nào có ảnh tượng trong nhà thờ. Nghĩa là không nên chậy thẳng vào nơi có ảnh tượng Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse hay Thánh nào khác để cầu xin mà quên Chúa Giêsu đang hiên diện trong Nhà Tạm; và ở đâu có Chúa Giêsu thì ở đó cũng có Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Ước mong những giải đáp trên giúp quí tin hữu biết cầu nguyện cách xứng hợp đẹp lòng Thiên Chúa là Nguồn ban phát mọi ơn lành cho ta qua Chúa Kitô và nhờ lời chuyển cầu hữu hiệu của Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse và các Thánh Nam Nữ đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.Amen
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU SAU-CN32TN-A PDF Print E-mail

HỌC HỎI-Suy nghiệm- SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Tin Mừng Luca 17, 26-37- Về Ngày Cùng Tháng Tận

Hôm nay, Thứ Sáu Tuần XXXII Thường Niên, Bài Phúc Âm vẫn tiếp tục với lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người, từ dấu chỉ Nước Trời ở bài Phúc Âm hôm qua đến sự kiện Nước Trời trong bài Phúc Âm hôm nay theo chiều hướng của câu những người biệt phái hỏi Chúa Giêsu về thời điểm Nước Trời đến trong bài Phúc Âm hôm qua.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, những lời của Chúa Giêsu nói về ngày tận thế, một thời điểm cho ngày cùng tháng tận của thế giới này, đã xẩy ra như thế nào, được Thánh ký Luca ghi lại những lời Chúa Giêsu cho biết một cách tổng quan liên quan đến dấu hiệu của nó, đến việc cần phải đối phó với nó, và đến hiện tượng của nó thứ tự như sau:

Ngày tận thế - Dấu hiệu: "Như sự kiện đã xảy ra thời Noe thế nào, thì trong ngày Con Người cũng xảy đến như vậy. Thiên hạ cứ ăn uống, cưới vợ gả chồng, mãi cho tới ngày Noe vào tầu, rồi nước lụt đến tiêu diệt mọi người. Lại cũng như đã xảy ra thời ông Lót: người ta ăn uống, mua bán, trồng tỉa, xây cất, nhưng ngày ông Lót ra khỏi thành Sôđôma, thì trời liền mưa lửa và sinh diêm, tiêu diệt mọi người. Cũng sẽ xảy ra như thế trong ngày Con Người xuất hiện".

Ngày tận thế - Đối phó: "Trong ngày đó, ai ở trên mái nhà có đồ vật trong nhà, thì chớ xuống lấy đi; và ai ở ngoài đồng cũng đừng trở về. Các con hãy nhớ trường hợp vợ ông Lót. Ai lo cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đành mất sự sống mình thì giữ được nó".

Ngày tận thế - Hiện tượng: "Thầy bảo các con: Trong đêm ấy sẽ có hai người đàn ông nằm trên một giường, thì một người bị đem đi, và người kia sẽ được để lại. Có hai người phụ nữ xay cùng một cối, thì một người sẽ bị đem đi, còn người kia sẽ được để lại".

Trước hết, về dấu hiệu của mình thì ngày tận thế "xẩy ra như thời Noe" và như "thời ông Lót". Nghĩa là bấy giờ, vào những thời được Chúa Giêsu nêu lên đây, "thiên hạ cứ ăn uống, cưới vợ gả chồng", "người ta ăn uống, mua bán, trồng tỉa, xây cất". Tức trong khi con người ta chẳng để ý gì hết, cứ vui vẻ hưởng thụ và làm ăn sinh sống, thì "cũng sẽ xảy ra như thế trong ngày Con Người xuất hiện".

Như thế thì quả thực "ngày Con Người xuất hiện" xẩy ra đùng một cái, chứ không từ từ hay được báo trước về ngày giờ chính xác của nó: "Như chớp lóe ra từ đông sang tây thế nào thì Con Người đến cũng như vậy" (Mathêu 24:27), hoàn toàn ngoài dự tưởng của con người, vào chính lúc con người không ngờ và chẳng kịp sửa soạn gì hết, ngoại trừ việc duy nhất là họ cần phải liên lỉ tỉnh thức: "Hãy tỉnh thức vì các con không biết được ngày giờ nào" (Mathêu 25:13).

Nếu vào "thời ông Noe" người ta cùng mọi sinh vật trên mặt đất bị đại hồng thủy hủy diệt (xem Khởi Nguyên 7:4), và vào "thời ông Lót" người ta bị mưa lửa từ trời đổ xuống thiêu hủy (xem Khởi Nguyên 19:24), chỉ vì con người bấy giờ quá ư là hư hỏng tội lỗi, toàn là nhục dục vào "thời ông Noe" (xem Khởi Nguyên 6:3,5), thậm chí còn nhục dục đồng tính nữa vào "thời ông Lót" (xem Khởi Nguyên 19:4-14), thì hiện nay, con người càng văn minh về vật chất lại càng phá sản về luân lý, chắc chẳng cần bị Thiên Chúa ra tay, chính họ sẽ tự hủy diệt mình bằng quyền tự do được phép phá thai thoải mái và đồng tình hôn nhân vô sản lăng loàn của họ, chưa kể đến tình trạng con người bị tiêu diệt bởi chiến tranh và khủng bố cùng tai nạn nhân tạo liên tục xẩy ra chưa từng có trong lịch sử loài người.

Sau nữa, về cách đối phó với ngày tận thế, đối phó với những gì "xảy ra trong ngày Con Người xuất hiện" thì dù bất chợt xẩy ra vẫn còn có thể thoát nạn, vẫn còn có thể cứu vãn. Ở chỗ, đừng tiếc xót gì hết, như "trường hợp vợ ông Lót" trong lúc chạy trốn mà vẫn ngoảnh lại như còn tiếc xót những gì bị mất mát nên đã bị trở thành tượng muối (xem Khởi Nguyên 19:26). Lúc bấy giờ chỉ còn một cách duy nhất là "bỏ của mà chạy lấy người", đúng như lời Chúa căn dặn trong Bài Phúc Âm hôm nay: "Trong ngày đó, ai ở trên mái nhà có đồ vật trong nhà, thì chớ xuống lấy đi; và ai ở ngoài đồng cũng đừng trở về".

Không biết ở đây có phải Chúa Giêsu muốn nói đến những thành phần Kitô hữu chứng nhân vào thời bấy giờ hay chăng, thành phần "ở trên mái nhà", tức là những con người loan truyền những gì được nói cho biết một cách riêng tư (xem Mathêu 10:27; Luca 12:3), và thành phần "ở ngoài đồng", tức là những người đang gieo rắc hạt giống đức tin hay đang gặt hái mùa màng (xem Gioan 4:35-38). Vì chính lúc "sự dữ gia tăng mà lòng con người hầu hết ra nguội lạnh" (Mathêu 24:12) thì "Tin Mừng về Nước Trời được rao giảng khắp thế giới như một chứng từ cho tất cả mọi dân nước. Chỉ sau đó mới tới ngày cùng tận" (Mathêu 24:14).

Sau hết, về hiện tượng của ngày tận thế, một thời điểm liên quan đến chết chóc, một thời điểm được biểu hiệu bằng chết chóc, một thời điểm con người đã đi đến chỗ tột cùng băng hoại, như chính Chúa Giêsu đã ám chỉ trong lời cuối cùng của Bài Phúc Âm hôm nay: "Xác chết ở đâu thì diều hâu bâu lại đó".

Như thế thì phải chăng thế giới ngày nay cũng sắp sửa tận thế hay thậm chí đang ở ngày vào thời tận thế, vì họ đang "sống" trong sự chết: trong trận lụt "văn hóa sự chết - culture of death" (thành ngữ của ĐTC Gioan Phaolô II), thậm chí càng ngày nó càng trở thành một "văn hóa tận số - terminal culture" (ĐTC Phanxicô).

Chính lúc con người tự hủy diệt và không thể nào cứu được mình như thế, như một "xác chết" mới lại là lúc xuất hiện của "diều hâu" là loài chim vốn nhậy cảm với mùi chết chóc và thích rúc rỉa những gì là thối rữa. Và vì thế những ai không bị "diều hâu" rúc rỉa là thành phần được cứu rỗi, như được Chúa Giêsu ám chỉ về số phận của kẻ "được" mang đi, tức "được" giải thoát, "được" cứu độ, cũng như của người "bị" để lại cho "diều hâu" xâu xé làm thịt trong bài Phúc Âm hôm nay như sau:

"Trong đêm ấy (đêm ám chỉ chết chóc và quyền lực hoành hành kinh khủng của sự dữ) sẽ có hai người đàn ông nằm trên một giường (hình như ở đây là hình ảnh ám chỉ đến tội đồng tính hôn nhân), thì một người được đem đi, và người kia sẽ bị để lại. Có hai người phụ nữ xay cùng một cối (phải chăng đây là hình ảnh ám chỉ tội tạo sinh ngoại nhiên xẩy ra cho trường hợp của một người vợ son sẻ không con và một người nữ mang thai mướn thụ thai nhờ tinh trùng của người chồng có vợ không con?), thì một người sẽ được đem đi, còn người kia sẽ bị để lại".

Theo chiều hướng ấy và ý nghĩa được suy diễn như vậy, ở đây người chia sẻ phụng vụ lời Chúa xin phép được tạm chuyển đổi chữ "bị" thành chữ "được" và chữ "được" thành chữ "bị" ở bản dịch của bài Phúc Âm hôm nay (xin so với nguyên văn câu này ở trong bài Phúc Âm của phần Lời Chúa trên đây).

Tình trạng con người ngày càng băng hoại đến tự diệt, nhất là vào thời điểm tận thế, theo Sách Khôn Ngoan ở Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, trong 2 câu cuối cùng, là do họ không nhận biết Đấng Tạo Hóa, chối bỏ Thiên Chúa, dù có thấy được các kỳ công của Ngài, nên họ đáng bị trừng phạt:

"Dầu sao họ cũng không đáng trách mấy, vì chưng, có lẽ họ lầm trong khi tìm kiếm Chúa, và muốn gặp Người. Họ tìm kiếm, khi sống giữa các kỳ công của Chúa, nhưng họ ngộ nhận khi thấy các vật kia tốt đẹp. Tuy vậy, chính họ cũng không đáng được tha thứ, vì nếu họ có khả năng nhận thức để truy tầm càn khôn, sao họ lại không nhận thấy cách dễ dàng hơn chính Chúa tể càn khôn?"

Bài Đáp Ca hôm nay âm vang nội dung của Bài Đọc 1 hôm nay về việc Thiên Chúa tỏ mình ra qua các công việc Ngài làm, những gì tỏ tường trước mắt loài người, để cho họ nhận biết Ngài mà được sống, vì Ngài dựng nên họ để cho họ được hưởng phúc trường sinh chứ không phải để họ bị tiêu diệt vào ngày cùng tháng tận của cuộc đời họ nói riêng và ngày cùng tháng tận của thế giới này nói chung:

1) Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, thanh không kể ra sự nghiệp tay Người. Ngày này nhắc nhủ cho ngày khác, đêm này truyền tụng cho đêm kia.

2) Ðây không phải lời cũng không phải tiếng, mà âm thanh chúng không thể lọt tai. Nhưng tiếng chúng đã vang cùng trái đất, và lời chúng truyền ra khắp cõi địa cầu.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LUYEN NGUC-HOA NGUC PDF Print E-mail

LUYỆN NGỤC và HỎA NGỤC LÀ GÌ và Ở ĐÂU ?
Hỏi :
nhân tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11) xin cha giải thích rõ về hai nơi gọi là Luyện ngục và hỏa ngục.
Trả lời:
Trong niềm tin Kitô Giáo, căn cứ vào Kinh Thánh và Giáo lý của Giáo Hội thì chắc chắn phải có ba nơi gọi là Thiên Đàng, Luyện ngục và hỏa ngục ( hell) mà những người chết đi trong thân xác sẽ phải bị phán xét để đến một trong ba nơi này.
Thật vây. trước hết là Luyên ngục hay Luyện tội ( purgatory) là nơi mà các linh hồn thánh ( holy souls) đã lìa đời trong ơn nghĩa Chúa nhưng chưa được hoàn hảo đủ để vào ngay Thiên đàng. Các linh hồn này phải "tạm trú" trong nơi gọi là Luyện tội này để được thanh tẩy một thời gian dài ngắn tùy theo mức hoàn hảo đòi hỏi trước khi được vào Thiên Đàng vui hưởng Thánh Nhan Chúa cùng các Thánh các Thiên Thần.
Dù chưa được vào Thiên Đàng, nhưng các linh hồn thánh ở Luyện tội có thể cầu xin đắc lực cho các tín hữu còn sống, và ngược lạ, các tín hữu có thể cứu giúp các linh hồn nơi Luyện Tội bằng các việc lành như : cầu nguyện, lần chuỗi , làm việc bác ái, như cứu giúp người nghèo khó, bệnh hoạn, nhất là xin lễ cầu cho các linh hồn đặc biệt làm trong tháng cầu cho các linh hồn (tháng 11 dương lịch ).
Khác với luyện ngục và hỏa ngục, Thiên Đàng là nơi dành cho những ai , khi còn sống trên trần gian này, đã quyết tâm đi tìm Chúa và sống theo đường lối của Người, để xa lánh mọi sự dữ, sự tội và bước đi theo Chúa Kitô, là : "Con đường là Sự thật và sự Sống" ( Ga 14: 6).
Ngược lại, hỏa ngục là nơi dành cho những kẻ -khi còn sống- đã hoàn toàn khước từ Thiên Chúa và tình thương của Người để sống theo ý muốn riêng mình , và buông theo những quyến rũ của ma quỉ và thế gian để làm những sự dữ như : giết người, giết thai nhi, thù hận, cướp của , cờ bạc, bất công, bóc lột, hiếp dâm, ngoại tình, khủng bố, gây ra chiến tranh, giết hại dân lành, trẻ em.. buôn bán phụ nữ và trẻ nữ để bán cho bọn bất lương hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi, như thực trạng của thế giới vô luân , vô đạo ngày nay...
Nếu bọn này không sám hối và từ bỏ những con đường tội lỗi kia để xin tha thứ, thì chúng sẽ kết thúc đời mình trong nơi gọi là hỏa ngục.Và đây là sự lựa chọn của con người, chứ không phải là sự trừng phạt của Thiên Chúa là Cha đầy lòng yêu thương và mong " muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý." 1Tm2:4), như Thánh Phaolô đã quả quyết.
Sau đây là bằng chứng có nơi gọi là hỏa ngục :
I-Thánh Kinh đã cho ta biết về nơi gọi là hỏa ngục như sau :
" Khi ra vê, mọi người sẽ thấy xác những kẻ phản loạn chống lại Ta,vi giòi bọ rúc tỉa, chúng sẽ không chết, lửa thiêu đốt chúng sẽ không tàn lụi. Chúng sẽ là đồ ghê tởm cho mọi người phàm." ( Ís 60:24)
Khi đến trần gian rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã đôi lần nói đến hỏa ngục và hình phạt ở nơi này như sau:
" Nếu mắt ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã, thì móc nó đi; thà chột một mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hỏa ngục, nơi giòi bọ không hề chết, lửa không hề tắt." ( Mc 9: 47-48)
Nơi khác, Chúa còn nói rõ hơn nữa :
" anh em đừng sợ những kẻ giết chết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn , anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục . ( Mt 10: 28; Lc 11: 4-5)
II- Giáo lý của Giáo Hội về Hỏa ngục
Giáo lý của Giáo Hội nói rõ hỏa ngục là " nơi này dành cho những ai- cho đến lúc chết- vẫn từ chối tin và trở lại. Đó là nơi cả hồn lẫn xác sẽ bị hư mất . Và danh từ " hỏa ngục " được dùng để chỉ tình trạng ly khai chung cuộc khỏi mọi hiệp thông với Thiên Chúa và các Thánh ở trên Trời", ( x. SGLGHCG số 633, 1033).
Vì thế, Giáo Hội luôn cảnh giác các tin hữu về thảm họa đáng sợ này để mong mọi người ý thức rõ và quyết tâm sống đẹp lòng Chúa ở trần gian này hầu tránh hậu quả phải hư mất đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục. Cụ thể , giáo lý của Giáo Hội nói rõ thêm như sau:
" linh hồn của những người chết trong tình trạng đang có tội trọng, sẽ lập tức xuống hỏa ngục, lửa vĩnh viễn." ( x. SGLGHCG số 1035)
Nghĩa là những ai sa xuống hỏa ngục thì vĩnh viễn phải xa lìa Chúa và không ai có thể làm gì để cứu họ được nữa, vì không có sự hiệp thông nào giữa hỏa ngục và Thiên Đàng, các tín hữu còn sống trên trần gian hay đang còn được tinh luyện trong Luyện tội.
Các Thánh trên trời không cần a gúp gì nữa, nhưng có thể nguyện giúp cầu thay cách hữu hiệu cho các linh hồn trong Luyện tội và cho các tín hữu còn sống trên trần thế và ở trong Giáo Hội. Các linh hồn có thể cầu xin đắc lực cho các tín hữu còn sống, và ngược lại, các tín hữu có thể cứu giúp các linh hồn bằng việc lành như cầu nguyện, làm việc bác ái, xin lễ cầu cho các linh hồn được mau chóng tiếp nhận vào Thiên đàng. Đây là nội dung tín điều các Thánh thông công mà Giáo Hội dạy cho con cái mình sống và thực hành để mưu ích cho mình và cho các linh hồn trong luyện tội.
Thiên Chúa không muốn phạt ai trong hỏa ngục,vì Người là tinh thương và hay tha thứ.
Nhưng vì con người có tự do để sống theo lương tâm, theo đường lối của Chúa, hay khước từ Chúa để làm những sự dữ, sự tội mà không biết sám hối ăn năn cho đến lúc phải lìa đời, nên đã tự ý chọn hỏa ngục cho mình, chứ không phải vì Chúâ muốn phạt ai ở chốn đau khổ vĩnh viễn này. Chắc chắn như vậy.  (còn tiếp)

Chúa nói : " Ai có tai nghe thì nghe." ( Mt 13:43; Mc 4:23;Lc 8:8 )
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 100