mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2137
mod_vvisit_counterHôm Qua11016
mod_vvisit_counterTuần Này13153
mod_vvisit_counterTuần Trước62493
mod_vvisit_counterTháng Này192748
mod_vvisit_counterTháng Trước256467
mod_vvisit_counterTất cả13562925

We have: 310 guests online
Your IP: 54.234.227.202
 , 
Today: May 21, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOI DE SONG DAO -THU HAI SAU CN CHÚA CHIU PHEP RUA PDF Print E-mail

Thứ Hai 14-1-2019

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: (năm I) Dt 1, 1-6

"Chúa đã phán dạy chúng ta qua Người Con".

Khởi đầu thư gửi tín hữu Do-thái.

Thuở xưa, nhiều lần và dưới nhiều hình thức, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các tiên tri. Trong những ngày sau hết đây, Ngài đã phán dạy chúng ta qua Người Con mà Ngài đã đặt làm vị thừa kế vạn vật, và cũng do bởi Người Con mà Ngài đã tác thành vũ trụ.

Nguyên vốn là phản ảnh sự vinh quang và là hình tượng bản thể Ngài, Người Con đó nâng giữ vạn vật bằng lời quyền năng của mình, quét sạch tội lỗi chúng ta, và ngự bên hữu Ðấng Oai Nghiêm, trên cõi trời cao thẳm. Tên Người cao trọng hơn các thiên thần bao nhiêu, thì Người cũng vượt trên các thiên thần bấy nhiêu.

Phải, vì có bao giờ Thiên Chúa đã phán bảo với một vị nào trong các thiên thần rằng: "Con là thái tử của Cha, hôm nay Cha đã sinh hạ Con"? Rồi Chúa lại phán: "Ta sẽ là Cha Người, và Người sẽ là Con Ta". Và khi ban Con Một mình cho thế gian, Chúa lại phán rằng: "Tất cả các thiên thần Chúa hãy thờ lạy Người!"

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 96, 1 và 2b. 6 và 7c. 9

Ðáp: Bao nhiêu chúa tể hãy cúc cung bái lạy Người (c. 7c).

Hoặc đọc: Chúa hiển trị, Chúa là Ðấng tối cao trên toàn cõi đất (c. 1a và 9a).

Xướng: 1) Chúa hiển trị, địa cầu hãy hân hoan, hải đảo muôn ngàn, hãy mừng vui. Công minh chính trực là nền kê ngai báu. - Ðáp.

2) Trời xanh loan truyền sự công minh Chúa, và chư dân được thấy vinh hiển của Người. Bao nhiêu chúa tể hãy cúc cung bái lạy Người. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, vì Ngài là Ðấng tối cao trên toàn cõi đất, Ngài rất đỗi siêu phàm giữa muôn chúa tể. - Ðáp.

Alleluia: 1 Sm 3, 9

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 1, 14-20

"Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng của nước Thiên Chúa, Người nói: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng".

Ðang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: "Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người". Lập tức bỏ lưới, các ông theo Người. Ði xa hơn một chút nữa, Người thấy Gia-côbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền, Người liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Bài Phúc Âm của Thánh Marco cho Thứ Hai sau Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa được Giáo Hội chọn đọc không liên tục ngay sau bài Phúc Âm Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, mà là cách 2 câu về sự kiện Chúa Kitô chay tịnh trong hoang địa 40 ngày, một sự kiện gắn liền với sự kiện Người lãnh nhận Phép Rửa bởi Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ở Sông Dược Đăng (Jordan), ở chỗ, một sự kiện liên quan đến phần hồn (đó là việc thống hối qua việc lãnh nhận phép rửa), và một sự kiện liên quan đến phần xác (đó là việc khổ chế các mầm mống nguyên tội nơi bản thân của con người).

Cả hai sự kiện mở đầu cho công cuộc cứu chuộc trần gian của Vị Thiên Sai của dân Do Thái này không phải chỉ có tính cách tiêu cực là tội lỗi cần ăn năn thống hối về phần hồn và khổ chế đền bù về phần xác, mà nhất là có tính cách tích cực, ở chỗ Thần Tính của Lời Nhập Thể nhờ những việc làm này có thể tỏ hiện ra một cách công khai và càng tỏ tường hơn nơi nhân tính của Chúa Giêsu, cho đến khi đạt đến tột đỉnh của mạc khải thần linh là Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, một cuộc vượt qua chẳng những cứu con người khỏi tội lỗi và sự chết, một tội lỗi liên quan đến phần hồn và sự chết đặc biệt liên quan đến phần xác, mà còn thông ban cho con người Thánh Linh cùng với sự sống thần linh vô cùng viên mãn của Người.

Và đó là lý do ngay câu mở đầu bài Phúc Âm có hai phần hôm nay mới có chi tiết hết sức quan trọng và đầy ý nghĩa mở đầu, một chí tiết cho thấy Thần Tính bắt đầu công khai tỏ mình ra qua nhân tính, đó là chi tiết: "Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng của nước Thiên Chúa, Người nói: 'Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng'". Và sau chi tiết mở đầu có tính cách chuyển tiếp một cách khéo léo như thế là sự kiện Chúa Giêsu tuyển chọn 2 cặp môn đệ anh em với nhau là Simon-Anre và Giacobe-Gioan, thành phần làm nên tông đồ đoàn để trở thành chứng nhân tiên khởi của Người và là nền tảng cho Giáo Hội Người sẽ thiết lập.

Sở dĩ phần đầu của bài Phúc Âm hôm nay có tính cách chuyển tiếp khéo léo là vì chi tiết "sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng của nước Thiên Chúa". Đúng thế, một khi Mặt Trời Công Chính là Chúa Giêsu lên, một khi "ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12) là Chúa Kitô bắt đầu tỏ hiện thì làm lu mờ đi ngọn đèn Tiền Hô Gioan Tẩy Giả là nhân vật được tuyển chọn sai đến trước Người để dọn đường cho Người nơi dân Do Thái, hay nói ngược lại, khi thời điểm dọn đường của Vị Tiền Hô Tẩy Giả vừa hoàn thành, nơi việc làm phép rửa cho chính Đấng Đến Sau, Đấng sẽ "làm phép rửa trong Thánh Thần và bằng lửa" (Phúc Âm Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa theo Thánh Luca Năm C), thì "Gioan bị bắt", bị tống ngục, nghĩa là đi vào tăm tối, để "Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại" (Phúc Âm Thánh Gioan ngày 12/1, áp Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa).

Lời rao giảng tiên khởi của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay là tổng hợp tất cả mạc khải thần linh sẽ được Con Thiên Chúa làm người tỏ hiện trong suốt 3 năm thi hành sứ vụ thiên sai của mình nơi dân Do Thái của Người: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng". Bởi thế chúng ta thấy ngay trong lời rao giảng tiên khởi này có hai phần rõ ràng: phần đầu liên quan đến Thiên Chúa: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến", và phần sau liên quan đến nhân loại: "hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng".

Phần liên quan đến Thiên Chúa: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến". "Thời giờ đã mãn" đây chính là thời điểm cánh chung: "Khi đã đến thời điểm viên trọn, Thiên Chúa đã sai Con Mình đến, được hạ sinh bởi một người nữ, được sinh theo lề luật, để giải cứu khỏi lề luật những ai bị lụy thuộc lề luật, nhờ đó chúng ta được hưởng vị thế làm dưỡng tử" (Galata 4:4). "Và Nước Thiên Chúa đã gần đến" đây ám chỉ Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô nói chung và chính bản thân Người nói riêng, nghĩa là Người đã bắt đầu xuất hiện rồi, và từ từ tỏ mình ra cho nhân loại nơi dân Do Thái của Người vào thời điểm lịch sử nhân loại ấy, cho đến khi Người tỏ hết mình ra trên Thánh Giá và từ Ngôi Mộ Trống.

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thánh Phaolô đã khẳng định về thời điểm cánh chung này với giáo đoàn Do Thái rằng: "Thuở xưa, nhiều lần và dưới nhiều hình thức, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các tiên tri. Trong những ngày sau hết đây, Ngài đã phán dạy chúng ta qua Người Con mà Ngài đã đặt làm vị thừa kế vạn vật, và cũng do bởi Người Con mà Ngài đã tác thành vũ trụ". Nghĩa là vào thời điểm cánh chung, thời điểm cuối cùng khi Con Thiên Chúa xuất hiện nơi Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế, Thiên Chúa tỏ hết mình ra cho nhân loại nói chung và dân Ngài nói riêng, đến độ Chúa Giêsu Kitô là tột đỉnh của mạc khải thần linh và là tất cả mạc khải thần linh: "Ai thấy Thày là thấy Cha" (Gioan 14:9).

Phần liên quan đến nhân loại: "hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng". Tuy nhiên, công ơn cứu độ vô cùng quí giá của Con Thiên Chúa làm người dù đã có thể cứu được toàn thể nhân loại, từ nguyên tổ cho đến tận thế, thậm chí cứu được cả muôn ngàn ức triệu thế giới tội lỗi nào khác nếu có, vẫn không thể tác dụng nơi những ai không sẵn sàng chấp nhận ơn cứu độ của Người hay chấp nhận Người là Đấng cứu độ của mình: "Redemptor hominis - Đấng cứu độ nhân trần" (Bức Thông Điệp đầu tay của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ngày 4/3/1979).

Trong Bài Đọc thứ 1 hôm nay, Thánh Phaolô cũng cho thấy chẳng những bản thể của Đấng Thiên Sai Cứu Thế mà còn cả sứ vụ cùng quyền năng thế giá vô cùng siêu việt của Người, Đấng chung con người và riêng dân Do Thái cần phải nhận biết và tin tưởng, qua lời xác tín của ngài như sau: "Nguyên vốn là phản ảnh sự vinh quang và là hình tượng bản thể Ngài, Người Con đó nâng giữ vạn vật bằng lời quyền năng của mình, quét sạch tội lỗi chúng ta, và ngự bên hữu Ðấng Oai Nghiêm, trên cõi trời cao thẳm. Tên Người cao trọng hơn các thiên thần bao nhiêu, thì Người cũng vượt trên các thiên thần bấy nhiêu".

Và "bất cứ ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con cái của Thiên Chúa" (Gioan 1:12) cần phải hội đủ 2 yếu tố bất khả thiếu và bất khả phân ly, đó là "ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng": "ăn năn sám hối" ở chỗ chân nhận mình là tội nhân vô cùng khốn nạn, tuyệt đối bất toàn và bất lực, nên chỉ còn biết tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa (LTXC) mà thôi: "tin vào Tin Mừng", vì "Tin Mừng" đây chính là Tin Mừng Phục Sinh, Tin Mừng Cứu Độ, Tin Mừng được Chúa Kitô Phục Sinh truyền cho thành phần môn đệ tông đồ của Người rao giảng cho "tất cả mọi tạo vật" (Marco 16:15), cho "tất cả mọi dân nước" (Mathêu 28:19), Tin Mừng là Chúa Giêsu Kitô, Lời Nhập Thể, đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, nên "Đừng sợ, hãy mở rộng các cánh cửa cho Chúa Kitô - Don't be afraid, open wide the doors for Christ" (Lời hiệu triệu của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong bài giảng khai triều 22/10/1979), một lời hiệu triệu hoàn toàn phản ảnh sứ điệp chính yếu của LTXC được Chúa Kitô nhắn nhủ chung loài người và riêng Kitô hữu trong Thời Điểm Thương Xót: "Giêsu ơi, con tin nơi Chúa", một sứ điệp được ghi ngay bên dưới tấm Ảnh LTXC, và là sứ điệp phản ảnh ý Chúa Giêsu muốn thiết lập Lễ LTXC vào Chúa Nhật thứ nhất sau Chúa Nhật Phục Sinh.

Vì ý nghĩa và hiều hướng của chung Bài Phúc Âm cũng như Bài Đọc 1 về Đấng Thiên Sai Cứu Thế và của riêng lời rao giảng tiên khởi của Chúa Giêsu Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay như thế mới có những câu Đáp Ca rất thích đáng và ý nghĩa chúng ta cần phải hợp xướng như sau:

1) Chúa hiển trị, địa cầu hãy hân hoan, hải đảo muôn ngàn, hãy mừng vui. Công minh chính trực là nền kê ngai báu.

2) Trời xanh loan truyền sự công minh Chúa, và chư dân được thấy vinh hiển của Người. Bao nhiêu chúa tể hãy cúc cung bái lạy Người.

3) Lạy Chúa, vì Ngài là Ðấng tối cao trên toàn cõi đất, Ngài rất đỗi siêu phàm giữa muôn chúa tể.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

----------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THU BAY SAU HIEN LINH 12/1 PDF Print E-mail

Thứ Bảy sau Hiển Linh 12/1

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: 1 Ga 5, 14-21

"Chúa nhậm lời chúng ta kêu cầu".

Các con thân mến, này là sự chúng ta tin tưởng nơi Chúa: là hễ chúng ta xin sự gì hợp ý Người, thì Người nhậm lời chúng ta. Và chúng ta biết Người nghe nhận mọi điều chúng ta xin, vì chúng ta biết rằng chúng ta có kêu cầu Người. Ai biết anh em mình phạm thứ tội không đưa tới sự chết, thì hãy cầu xin và Người sẽ ban sự sống cho kẻ phạm thứ tội đó. Có thứ tội đưa đến sự chết, tôi không bảo ai cầu xin cho người phạm tội ấy đâu. Mọi sự gian tà đều là tội, và có thứ tội đưa đến sự chết.

Chúng ta biết rằng ai sinh ra bởi Thiên Chúa, thì không phạm tội, chính sự sinh ra bởi Thiên Chúa gìn giữ họ, và ma quỷ không làm gì được họ. Chúng ta biết rằng chúng ta bởi Thiên Chúa mà ra, và toàn thể thế gian đều phục luỵ ma quỷ. Và chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến và đã ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Người. Chính Ngài là Thiên Chúa chân thật và là sự sống đời đời. Các con thân mến, hãy giữ mình xa các tà thần.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 149, 1-2. 3-4. 5 và 6a và 9b

Ðáp: Chúa yêu thương dân Người (c. 4a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, hãy vang lên lời khen ngợi trong công hội các tín đồ. Israel hãy vui mừng vì Ðấng tạo tác bản thân, con cái Sion hãy hân hoan vì vua của họ. - Ðáp.

2) Họ hãy hoà nhạc để ngợi khen Người, hãy hát mừng Người với cây đàn cầm, với trống con: bởi vì Chúa yêu thương dân Người, và ban cho kẻ khiêm nhường chiến thắng vẻ vang. - Ðáp.

3) Các tín đồ hãy mừng rỡ trong vinh quang, hãy hoan hỉ trong những nơi khu phố. Miệng họ hãy reo lên lời hoan hô Thiên Chúa. Ðó là vinh quang cho mọi tín đồ của Chúa. - Ðáp.

Alleluia: Dt 1, 1-2

Alleluia, alleluia. - Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy chúng ta nơi người Con. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 3, 22-30

"Bạn hữu của tân lang vui mừng vì tiếng nói của tân lang".

Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ Người đến đất Giuđêa. Người ở lại đó với họ và làm phép rửa. Cũng có Gioan làm phép rửa tại Ainon, gần Salim, vì ở đó có nhiều nước, và người ta đến để chịu rửa. Vì chưng, khi ấy Gioan chưa bị tống ngục. Xảy ra có cuộc tranh luận giữa các môn đệ của Gioan và người Do-thái về việc thanh tẩy. Họ đến cùng Gioan và nói với ông: "Thưa Thầy, người đã ở với Thầy bên kia sông Giođan, mà Thầy đã làm chứng cho, nay cũng làm phép rửa và ai nấy đều đến cùng người!" Gioan trả lời rằng: "Người ta không tiếp nhận gì mà không phải bởi trời ban cho. Chính các ngươi đã làm chứng cho tôi là tôi đã nói: Tôi không phải là Ðấng Kitô, nhưng tôi được sai đến trước Người. Ai cưới vợ, thì là người chồng, còn bạn hữu của tân lang đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Vậy niềm vui của tôi như thế là đầy đủ. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại".

Ðó là lời Chúa.

Ngày Thứ Bảy cuối Tuần Lễ Hiển Linh ngay trước Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay, Bài Phúc Âm theo chủ đề "Lời ở cùng chúng ta" (Gioan 1;14) của chung Mùa Giáng Sinh, có liên hệ với Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, Vị sẽ làm phép rửa cho Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm ngày mai, như Thánh ký Gioan Tông Đồ thuật lại như sau:

"Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ Người đến đất Giuđêa. Người ở lại đó với họ và làm phép rửa. Cũng có Gioan làm phép rửa tại Ainon, gần Salim, vì ở đó có nhiều nước, và người ta đến để chịu rửa. Vì chưng, khi ấy Gioan chưa bị tống ngục. Xảy ra có cuộc tranh luận giữa các môn đệ của Gioan và người Do-thái về việc thanh tẩy. Họ đến cùng Gioan và nói với ông: 'Thưa Thầy, người đã ở với Thầy bên kia sông Giođan, mà Thầy đã làm chứng cho, nay cũng làm phép rửa và ai nấy đều đến cùng người!' Gioan trả lời rằng: 'Người ta không tiếp nhận gì mà không phải bởi trời ban cho. Chính các ngươi đã làm chứng cho tôi là tôi đã nói: Tôi không phải là Ðấng Kitô, nhưng tôi được sai đến trước Người. Ai cưới vợ, thì là người chồng, còn bạn hữu của tân lang đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Vậy niềm vui của tôi như thế là đầy đủ. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại'".

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu không đóng vai chính như các bài phúc âm của những ngày trước, ngoài một chi tiết ở đầu bài Phúc Âm: "Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ Người đến đất Giuđêa. Người ở lại đó với họ và làm phép rửa". Tuy nhiên, qua chứng từ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả trong cùng bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy "Lời ở cùng chúng ta" như "là người chồng" mà Tiền Hô Gioan Tẩy Giả được đóng vai "bạn hữu của tân lang" đã cảm thấy hân hạnh và mãn nguyện lắm rồi: "niềm vui của tôi như thế là đầy đủ".

Với chứng từ của mình, Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này đã: 1- tái xác nhận một lần nữa rằng ngài không phải là Đức Kitô Thiên Sai như Chúa Giêsu; 2- nên ngài chỉ đóng vai phụ, với tư cách là "bạn hữu của tân lang", chứ không thể át được vai chính tân lang; 3- và chính vì Người là Đấng Thiên Sai nên Người được dân chúng mộ mến tuốn đến với Người là phải: "Thưa Thầy, người đã ở với Thầy bên kia sông Giođan, mà Thầy đã làm chứng cho, nay cũng làm phép rửa và ai nấy đều đến cùng người!"; 4- ngài chẳng những không ghen tương theo tinh thần cạnh tranh mà còn phải hết sức vui mừng nữa: "đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại".

Ở chứng từ đặc biệt lần này, Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã thêm một hình ảnh rất tuyệt vời về "Lời đã hóa thành nhục thể và ở cùng chúng ta", liên quan đến mầu nhiệm nhập thể và giáng sinh của Người, đó là hình ảnh Người là một "tân lang", "là người chồng", một hình ảnh ám chỉ đến hai thực tại, thực tại thiên tính của Người nên một với nhân tính của Người, và thực tại Người là vị hôn phu của Giáo Hội nhiệm thể của Người.

Không phải "Lời ở cùng chúng ta" chỉ ở nơi Con Người Giêsu sống động trong xã hội Do Thái thời của Người, ở nơi việc Người giao tiếp với đủ mọi hạng người thời bấy giờ, ở nơi việc Người gắn bó với người nghèo và thành phần tội nhân vào lúc ấy v.v., mà còn ở chỗ chung nhân loại ở với Người nơi nhân tính của Người, một nhân tính đã chia sẻ với những nỗi yếu hèn của họ, một nhân tính đã gánh vác tội lỗi của họ, một nhân tính đã hy hiến mạng sống của mình làm giá chuộc họ và cho những ai tin vào Người thành nhiệm thể Giáo Hội của Người.

Chính vì "Lời ở cùng chúng ta" và nhờ đó chung nhân loại chúng ta và riêng nhiệm thể Giáo Hội của Người được dự phần với Người, được kiến thức thần linh như Người và với Người, tức là được sự sống đời đời là chính bản thân Người, đúng như những gì Thánh Gioan Tông Đồ đã viết trong Bài Đọc 1 hôm nay: "chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến và đã ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Người. Chính Ngài là Thiên Chúa chân thật và là sự sống đời đời".

Vì "Lời ở cùng chúng ta", nhờ đó chúng ta được ở với Người, tức được sự sống đời đời, và những ai được lãnh nhận sự sống đời đời vô cùng quan trọng và cao trọng không thể nào không cất tiếng ngợi khen cảm tạ Thiên Chúa cùng với Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, hãy vang lên lời khen ngợi trong công hội các tín đồ. Israel hãy vui mừng vì Ðấng tạo tác bản thân, con cái Sion hãy hân hoan vì vua của họ.

2) Họ hãy hoà nhạc để ngợi khen Người, hãy hát mừng Người với cây đàn cầm, với trống con: bởi vì Chúa yêu thương dân Người, và ban cho kẻ khiêm nhường chiến thắng vẻ vang.

3) Các tín đồ hãy mừng rỡ trong vinh quang, hãy hoan hỉ trong những nơi khu phố. Miệng họ hãy reo lên lời hoan hô Thiên Chúa. Ðó là vinh quang cho mọi tín đồ của Chúa.

Nhìn lại toàn bộ Phụng Vụ Lời Chúa của tuần lễ từ Lễ Hiển Linh đến Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, chúng ta thấy 2 ý tưởng chính yếu bất khả thiếu và bất khả phân lý như sau: "Vua dân Do Thái mới sinh" được Ba Vua đến triều bái chính là Đức Kitô của dân Do Thái và đồng thời cũng chính là Đấng Cứu Thế của nhân loại (1), một Đức Kitô Cứu Thế chỉ bắt đầu tỏ hiện đúng như những gì được vị Gioan Tẩy Giả của Người đóng vai Tiền Hô loan báo và làm chứng (2).

1- "Vua dân Do Thái mới sinh" được Ba Vua đến triều bái chính là Đức Kitô của dân Do Thái và đồng thời cũng chính là Đấng Cứu Thế của nhân loại: đó là lý do chúng ta thấy Bài Đáp Ca của 4 ngày đầu liên quan đến Chúa Kitô là một đức vua và chư dân của Người, thứ tự như sau:

- Ngày mùng 7/1: Câu Xướng thứ 1 - "Con là thái tử của Cha, hôm nay Cha đã sinh thành ra Con. Hãy xin Cha và Cha sẽ cho Con được chư dân làm phần sản nghiệp, và cùng kiệt cõi đất làm gia tài", và câu xướng thứ 2 - "Giờ đây, hỡi các vua, hãy nên hiểu biết; quân vương mặt đất nên giác ngộ. Hãy kính sợ làm tôi Chúa và hân hoan mừng Ngài; hãy khiếp run tỏ bày sự vâng phục Chúa", và Câu Đáp chung là - "Cha sẽ cho Con được chư dân làm phần sản nghiệp".

- Ngày 8, 9 và 10 cũng tiếp tục về vai trò làm vua liên quan đến muôn dân của Chúa Kitô, và cả 3 ngày đều giống nhau cả ở câu Xướng 1: "Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người đoán xét dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực", lẫn ở câu Đáp chung: "Lạy Chúa, muôn dân khắp mặt đất sẽ thờ lạy Chúa".

Và Bài Phúc Âm cũng theo chiều hướng như thế, cả 4 ngày đầu (mùng 7, 8, 9 và 10) đều liên quan đến chung nhân loại, một nhân loại đã có bản tính băng hoại bởi nguyên tội lại được Chúa Kitô mặc lấy để nhờ đó soi chiếu vào nơi tối tăm ở vùng đất tiêu biểu trước tiên ngay tại Đất Hứa của dân Do Thái đó là một "Galilêa của dân ngoại" (Phúc Âm ngày 7/1), qua những hành động tỏ mình ra của Người: như việc Người làm phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi dân lần thứ 1, ám chỉ như Người đã cho biết trong Phúc Âm Thánh Gioan (6:51) Người là "bánh bởi trời xuống cho thế gian được sự sống" (Phúc Âm ngày 8/1), và việc Người cứu các môn đệ bị bão tố trong đêm (Phúc Âm ngày 9/1), ám chỉ vai trò làm Vua Vũ Trụ của Người, tức làm chủ thiên nhiên tạo vật, làm chủ sự dữ là những gì đang hành hạ con người vướng mắc nguyên tội, cần được giải cứu khỏi tội lỗi và sự chết bởi Đức Kitô của dân Do Thái, một Đức Kitô được Thiên Chúa xức dầu Thánh Linh và được sai đi chữa lành và giải cứu dân của Ngài, nhất là những ai tin vào Người, như một người mang giòng máu Do Thái với Người và như Người bị "đầy phong cùi" (Phúc Âm ngày 10/1), ám chỉ con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa đã bị biến dạng và trở thành dị dạng bởi nguyên tội, cần được tẩy sạch.

2- Một Đức Kitô Cứu Thế chỉ bắt đầu tỏ hiện đúng như những gì được vị Gioan Tẩy Giả của Người đóng vai Tiền Hô loan báo và làm chứng.

Đúng thế, ngay trong câu đầu tiên của bài Phúc Âm ngày 2/1, đã thấy xuất hiện chi tiết: "Nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa", một chi tiết cho thấy vị tiên tri tiền hô này chỉ là "đèn" soi (Gioan 5:35), chứ "không phải là ánh sáng" (Gioan 1:8), như chính Đức Kitô Cứu Thế là Đấng đến sau ngài nhưng cao trọng hơn ngài;

Và trong bài Phúc Âm ngày 12/1, ngày cuối cùng của tuần lễ giữa Lễ Hiển Linh và Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, chính vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này đã xác nhận một lần nữa ngài không phải là Đức Kitô, Đấng được dân chúng báo cho ngài biết rằng "Người đã ở với thày bên kia Sông Dược Đăng, mà thày đã làm chứng cho, nay cũng làm phép rửa và ai nấy đều đến cùng người", vị tiền hô này, chẳng những không thấy mình bị cạnh tranh về việc làm phép rửa và Đức Kitô đã lôi kéo dân chúng đến cùng Người hơn là ngài nữa, trái lại, còn mừng cho Đức Kitô vì thấy được những gì mình loan báo về Người đã được nên trọn như dân chúng chứng thực: "Người ta không tiếp nhận gì mà không phải bởi trời ban cho. Chính các ngươi đã làm chứng cho tôi là tôi đã nói: Tôi không phải là Ðấng Kitô, nhưng tôi được sai đến trước Người. Ai cưới vợ, thì là người chồng, còn bạn hữu của tân lang đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Vậy niềm vui của tôi như thế là đầy đủ. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại".

Phải công nhận rằng Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả quả thực là một điển hình nhất cho những gì Thánh ký Gioan Tông Đồ đã viết ở Thứ Thứ Nhất của ngài trong Bài Đọc 1 cho ngày 12/1: "Chúng ta biết rằng ai sinh ra bởi Thiên Chúa, thì không phạm tội, chính sự sinh ra bởi Thiên Chúa gìn giữ họ, và ma quỷ không làm gì được họ. Chúng ta biết rằng chúng ta bởi Thiên Chúa mà ra, và toàn thể thế gian đều phục luỵ ma quỷ. Và chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến và đã ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Người. Chính Ngài là Thiên Chúa chân thật và là sự sống đời đời".

Nếu Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này không được sinh bởi Thiên Chúa, thì chắc chắn ngài đã có những ohản ứng theo tính tự nhiên của loài người vướng mắc nguyên tội là ghen tức và tìm cách hạ bệ những ai hơn mình xuống, nhưng đằng này ngài chẳng những đã "không phạm tội" mà còn tỏ ra có được một "ơn thông hiểu" về chính bản thân mình: "Tôi không phải là Ðấng Kitô, nhưng tôi được sai đến trước Người", cũng như về Đấng mình làm chứng: "Ai cưới vợ, thì là người chồng, còn bạn hữu của tân lang đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Vậy niềm vui của tôi như thế là đầy đủ. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại".

Và đó là lý do Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả quả thực đã xứng đáng làm phép rửa cho Đức Kitô Cứu Thế, một phép rửa có tính cách thống hối, nhưng được Chúa Kitô lãnh nhận như dấu hiệu cho phép rửa tha tội của Chúa Kitô (xem Luca 12:50), Đấng sẽ phải chịu một phép rửa bằng máu của mình trên thập tự giá sau này, một phép rửa tái sinh nhân loại vào sự sống thần linh viên mãn.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

-----------------------------------------------

 
HOC HỎI DE SONG DAO - NGUY CO CUA TIEN BAC PDF Print E-mail

NGUY CƠ CỦA TIỀN BẠC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN và ƠN CƯU ĐỘ
Hỏi :
Trong Tin Mừng Thánh Marcô, Chúa Giêsu nói : “con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào Thiên Đàng”.Như vậy có phải Chúa lên án những người giầu không ?
Trả lời :
Sống đức tin Công Giáo cách sâu sắc và trưởng thành không những đòi hỏi phải có can đảm để tuyên xưng đức tin ấy bằng hành động cụ thể bên ngoài qua việc chu toàn những bổn phận thiêng liêng của người tín hữu sống trong Giáo Hội, như siêng năng việc thờ phượng Chúa, học hỏi lời Chúa, năng lãnh nhận các bí tích ban ơn cứu độ như Thánh Thể và hòa giải, và làm nhân chứng cho Chúa Kitô trước mặt người đời -mà hơn nữa- còn phải ý thức sâu xa về những nguy cơ đe dọa đức tin và hy vọng được cứu rỗi nữa.
Đe dọa không phải chỉ đến từ phía các chế độ chính trị thù ghét mọi niềm tin của con người, mà đặc biệt nguy hiểm không kém sự bách hại niềm tin đó là những nguy cơ như tội lỗi, các chủ nghĩa vô thần ( atheism) tục hóa ( vulgarism) tương đối ( relativism) tôn thờ vật chất và khoái lạc ( materialism and hedonism) và làm nô lệ cho tiền của là trọng tâm của bài viết này.
Thật vậy, tiền của là một trở ngại lớn lao cho con người muốn sống công bình, lương thiện, bác ái, và là nguyên nhân chính gây ra những sự dữ, sự gian ác bất công, bóc lột người như ta thấy đầy rẫy ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Do đó, không thể sống đức tin cách đich thực mà không quyết tâm xa tránh nguy cơ này, vì nó là cạm bẫy xô đẩy người tín hữu vào con đường làm nô lệ cho tiền của đến chỗ chối bỏ hay sống mâu thuẫn với niềm tin có Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, công minh, chính trực giữa bao người vô tín ngưỡng ở thời đại tục hóa ( vulgarism) vô luân vô đạo ngày nay.
Ngoài tội lỗi, là nguy cơ thường xuyên đe dọa do ma quỷ, ví như “ sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” mà Thánh Phêrô đã cảnh giác,( 1 Pr 5: 6) còn có gương xấu dịp tội đẫy rẫy trong trần gian cộng với bản chất yếu đuối của con người, là hậu quả của tội nguyên tổ còn để lại trong mỗi người chúng ta cho chúng ta phải chiến đấu để sống niềm tin có Chúa, có hạnh phúc vinh cửu và cũng có hỏa ngục là nơi dành cho những kẻ hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ tiền của và mọi thú vui của “văn hóa sự chết” đang lộng hành trong trần gian ngày nay.
Trên bình diện quốc tế, chính lòng ham mê tiền của và mọi của cải vật chất như dầu hỏa, khí đốt, quặng mỏ, hải sản,lâm sản... đã và đang là nguyên nhân gây ra chiến tranh giữa những quốc gia có tài nguyên thiên nhiên và những quốc gia muốn chiếm đoạt những nguồn tài nguyên đó. Hậu quả là hàng triệu người dân vô tội đã bị giết vì những kẻ tham mê của cải trần gian cách bất lương đã tìm mọi cách để chiếm hữu, dù phải gây ra chiến tranh - khéo che đậy, nguy tạo với những chiêu bài giả dối, phỉnh gạt dư luận như giải phóng, bảo vệ tự do, dân chủ và quyền sống của con người. Nhưng thực chất chỉ là muốn vơ vét của cải của người khác để làm giầu cho quốc gia hay tập đoàn đế quốc của mình mà thôi.
Lại nữa, cũng chính vì lòng ham mê tiền của và quyền lực chính trị nên có biết bao kẻ độc tài, độc đảng đã cố bám lấy địa vị cai trị sắt máu của mình để vơ vét tiền của, núp bóng dưới chiêu bài giải phóng cho giai cấp vô sản bị bóc lột, nhưng thực tế chính họ lại trở thành những đại gia, đại tư bản xanh đỏ đang bóc lột dân nghèo, ăn cắp của công để làm giầu cho cá nhân và tập thể cai trị, gửi tiền ra nước ngoài để kinh doanh và phòng thân, trong khi nhắm mắt, bịt tai trước sự nghèo đói cùng cực của người dân, nạn nhân của mọi bất công xã hội, hậu quả hiển nhiên của chế độ cai trị phi nhân vô đạo như mọi người đã nhìn rõ mà chưa biết phải làm gì để thay đổi bộ mặt của lừa dối phỉnh gạt đó..
Về mặt luân lý, đạo đức, có biết bao kẻ đã vì ham mê tiền của mà dã tâm làm những việc vô cùng xấu xa, tội lỗi như mở sòng bạc casino, nhà điếm, buôn bán phụ nữ, nhất là trẻ em, cho kỹ nghệ mãi dâm để kiếm tiền cách vô luân và đầy tội ác. Còn gì ghê tởm và gian ác hơn khi bắt cóc hay mua bán trẻ em cho bọn người đã trở thành thú vật đi tìm thú ấu dâm rất khốn nạn này ( child prostitution) vì đã gây đau khổ, thương tật cho biết bao trẻ em bị bán cho bọn thú vật này hành hạ thân xác. Đây chính là bộ mặt, là hình ảnh rõ nét nhất của hỏa ngục trên trần gian này hiện nay.
Chưa hết, cũng vì tham tiền mà có những kẻ đã bán rẻ lương tâm để làm tay sai cho ngoại bang, giết hại đồng bào ruột thịt của mình, phản bội chính nghĩa của dân tộc khi ra tay sát hại cách giã man người khác để giúp cho quan thầy ngoại bang thi hành mục đích thống trị theo sách lược thâm độc của chúng..Cụ thể, đó là những tướng tá đã nhận tiền thuê mướn của CIA Mỹ để lật đổ và giết hại rất dã man anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 02 tháng 11 năm 1963 ở Saigon, và một số nạn nhân khác với danh nghĩa “cách mạng”.Nhưng thực chất đó chỉ vì lòng tham mê tiền bạc đã đưa họ mù quáng đi vào con đường gian ác, phản bội, tàn nhẫn không hơn không kém.Những kẻ gian ác, phản bội này chắc chắn sẽ không thể ăn ngon, ngủ yên, và vui sống được vì tội ác nung đốt lương tâm, dù đã bị băng hoại của chúng.Nếu ta tin có một Thiên Chúa yêu thương nhưng rất công minh và chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ , thì những kẻ gian ác đó sẽ phải chịu phán xét đích đáng về những việc làm độc ác, dã man của chúng.
Như thế, tiền bạc , mặc dù cần thiết cho con người sống ở trần gian này, nhưng lại là một nguy cơ to lớn cho con người muốn sống lương thiện nói chung và cách riêng cho người tín hữu muốn sống đức tin thực sự vào Chúa Kitô, Đấng đã “chúc phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” ( Mt 5: 3)
Thật vậy, Tin Mừng của Chúa Kitô đã cho ta biết bao lời khuyên phải tránh cạm bẫy của tiền bạc để được cứu rỗi và vui hưởng hạnh phúc giầu sang, phú quý với Chúa trên Nước Trời.
Trước hết, là câu truyện người thanh niên giầu có trong Phúc Âm Thánh Mac cô. Anh ta đến hỏi Chúa Giêsu xem anh phải làm gì “để được sự sống đời đời làm gia nghiệp”.Anh ta tự khoe đã tuân giữ mọi giới răn của Chúa cách hoàn hảo từ bé.Nhưng có một điều anh còn thiếu và không thể làm được, đó là về bán hết tài sản, lấy tiền cho người nghèo, rồi đi theo Chúa như Chúa Giêsu đã đòi hỏi anh ta.
Trước đòi hỏi này, anh đã buồn rầu bỏ đi, không thể thực hành được vì anh có quá nhiều của cải !( Mc 10 : 17-22)
Như vậy, rõ rệt cho thấy là lòng ham mê tiền của trần thế đã là trở ngại lớn lao nhất cho anh thanh niên kia vào Nước Trời. Vì thế, Chúa Giêsu đã kết luận với các môn đệ như sau :
“ Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn cho người giầu vào Nước Thiên Chúa.” ( Mc 10:17-23; Lc 18: 18-24)
Con lạc đà to lớn như vậy làm sao chui qua được lỗ kím quá nhỏ như thế ? Thật là điều không tưởng, nhưng lại giúp nói lên điều không tưởng lớn lao hơn nữa đó là người giầu có khó có thể vào được Nước Trời. Khó vào được vì có những người giầu đã làm nô lệ cho tiền của đến mức không thể hy sinh được của cải phù vân ở đời này cho hạnh phúc Nước Trời mai sau như trường hợp chàng thanh niên giầu có trên đây.
Chính vì muốn cho các môn dệ xưa và mọi người tín hữu chúng ta ngày nay phải ý thức sâu xa về nguy hại của tiền bạc, của cải vật chất trong khi sống đức tin ở giuwaxntraafngan này mà Chúa Giêsu “ Người vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có.” ( 2 Cr 8: 9),
Chúa đã nên gương nghèo khó cùng cực khi chọn sinh ra trong hang bò, lừa giữa mùa đông lạnh lẽo, khiến phải nhờ hơi ấm của chiên, bò, lừa ngựa, sưởi cho đỡ lạnh trong đêm Người giáng trần.Lớn lên, đi rao giảng Tin Mừng cứu độ, Chúa đã sống lang thang như kẻ vô gia cư, đúng với ý nghĩa câu trả lời của Chúa cho một kinh sư kia ngỏ ý muốn đi theo Người.nói :
“ Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Mt 8:20)
Như vậy, Chúa đã thực sự sống khó nghèo từ khi sinh ra cho đến ngày chết trần trụi trên thập giá. Suốt đời sống nghèo khó đến nỗi khi chết cũng không có chỗ để chôn, khiến môn đệ phải mượn ngôi mộ trống của ông Giô-xép cho Chúa nằm tạm 3 ngày chờ sống lại.( Mt 27: 57-60; Ga 19: 41-42)
Như thế ai có thể ngờ vực được gương khó nghèo của Chúa Kitô ???
Người sống và chết khó nghèo để dạy cho tất cả chúng ta, những người muốn đi theo Chúa vào Nước Trời , một điều rất quan trọng là không được tôn thờ hay yêu mến tiền của đến mức làm nô lệ cho nó mà quên mất hay coi nhẹ việc tối quan trọng hơn là phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, phải tìm kiếm sự sang giầu của Nước Trời trên mọi phú quý sang giầu ở đời này. Trên trần gian này, không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ được, cho nên “ anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được.” ( Lc 16: 13) như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa.
Vì nếu làm tôi tiền của thì sẽ dễ trở thành bất lương, độc dữ, gian ác và lãnh cảm trước sự nghèo đói của người khác. những người mà Chúa Kitô đang hiện diện nơi họ để thách đố chúng ta biết cảm thông và chia sẻ cơm áo với những anh chị em kém may mắn đó.
Nói thế không có nghĩa là cứ phải nghèo đói, rách rưới và ốm đau bệnh tật mới được vào Nước Trời. Ngược lại, lo cho mình và cho người thân của mình được có của ăn, áo mặc, có tiền mua thuốc chữa bệnh , có phương tiện di chuyển cần thiết thì lại là điều tốt đẹp phải làm và không có gì nguy hại cho mục đích sống đức tin có Chúa. Chỉ khi nào ham mê tiền của đến mức làm nô lệ cho nó khiến có thể mù quáng làm những việc bất lương, bất công và vô luân để có tiền thì mới là điều đáng chê trách và phải xa tránh mà thôi.
Chính vì giá trị chính đáng của những nhu cầu cần thiết cho con người như của ăn nuôi sác, được khỏe mạnh để làm việc và sống vui ở trần gian này, mà xưa Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi hàng ngàn người đi theo Chúa nghe Người giảng dạy và không có của ăn trong ngày. ( Mc 6 : 35-44) . Chúa cũng chữa lành biết bao người bệnh tật, câm điếc, đui mù què, phong cùi và bị quỷ ám để minh chứng Người là Thiên Chúa giầu lòng xót thương và cảm thông nỗi đau khổ của con người và dạy chúng ta phải biết yêu thương, chia sẻ với người khác nghèo khó vật chất hơn mình.
Chúa không lên án những người giầu có chỉ vì họ có nhiều tiền của mà vì họ mê tiền của hơn yêu mến Chúa và hạnh phúc Nước trời. Có tiền của mà biết dùng vào việc bác ái đích thực để chía sẻ với người khác kém may mắn hơn mình những gì mình có thì đó lại là việc tốt đẹp phải làm. Nghĩa là nếu người giầu có biết dùng tiền của để xoa dịu nỗi thống khổ của người nghèo đói, bệnh tật không có tiền chữa trị, hay giúp cho các cô nhi viện, trẻ em khuyết tật , và các nhà truyền giáo có phương tiện vật chất để đi mở mang Nước Chúa thì đã “ mua sắm những túi tiền không bao giờ cũ rách , một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời , nơi trộm cắp không bén bảng , mối mọt cũng không đục phá..” ( Lc 12 : 33).
Đó là sự khôn ngoan biết dùng tiền của chóng qua ở đời này để mua sự sang giầu, phú quí vĩnh viễn trên Nước Trời, như Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa và cho tất cả chúng ta ngày nay.
Đó cũng là thái độ khinh chê, không làm nô lệ cho tiền của mà chúng ta đọc thấy trong Thánh Vịnh 62 :
“ Tiền tài dẫu sinh sôi nảy nở
Lòng chẳng nên gắn bó làm chi.”( Tv 62 : 11)
Chính vì hiểu rõ giá trị của sự sang giầu trên Nước Trời và niềm vui sướng được biết Chúa Kitô hơn mọi lợi lãi vinh quang ở đời này mà Thánh Phaolô đã thốt lên những lời đáng ca ngợi sau đây:
“ Những gì xưa kia tôi coi là có lợi, thì nay , vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Ki Tô-Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết , và tôi coi tất cả như rơm rác để được Đức KiTô.” ( Pl 3: 7-8)
Lời Thánh Phaolô trên đây quả là khuôn vàng thước ngọc cho mọi người tín hữu chúng ta suy nghĩ và noi theo, vì được biết Chúa Kitô nhờ đức tin quả thực là mối lợi lớn lao mà không có bất cứ cái gì, của gì trên trần gian này như tiền bạc, kim cương đá quí hay danh vọng có thể sánh hay đổi chác được. .
Do đó, nếu nhờ Đức Tin, ta nhận biết có Thiên Chúa là chính sự sang giầu và hạnh phúc tuyệt vời nhất thì nhiên hậu, lời mời gọi sẽ là phải yêu mến Chúa và Vương Quốc của Người trên hết mọi sự , nhất là trên tiền bạc và của cải ở trần gian này để không làm nô lệ cho tiền của, hay say mê đi tìm tiền của hơn tha thiết tìm Chúa và hạnh phúc được chiêm ngắm Thánh Nhan Người trên cõi vinh hằng mai sau.
Lời mời gọi này không những chỉ dành cho các tín hữu sống ơn gọi gia đình hay độc thân giữa đời mà còn dành riêng cho các giáo sĩ và tu sĩ là những người được mong đợi sống “cái nghèo của Chúa Kitô” để làm nhân chứng cho Chúa và nêu gương sáng cho người khác. Do đó, người tông đồ của Chúa không nên để lòng dính bén của cải ,tiền bạc ở trần gian này.Cụ thể, . không nên thích tiền để chỉ nhận dâng lễ với bổng lễ cao, đi đồng tế cho đông để nhận phong bì và coi trọng người giầu có, khinh thường người nghèo, chê hay không nhận dâng lễ cho người không có tiền xin lễ hậu hĩ như các người giầu có ! Đó là thực trạng vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi và gây tai tiếng không ít cho ơn gọi và tinh thần phục vụ của người tông đồ ngày nay.Dĩ nhiên, đây không phải là cách sống của đa số người tông đồ của Chúa nhưng dù chỉ là thiểu số nhỏ thì cũng mang tiếng chung cho đa số vì” con xâu làm rầu nồi canh” như tục ngữ Viêt Nam đã nói.
Tóm lại, là Tông đồ lớn nhỏ của Chúa ,tất cả đều được mong đợi sống tinh thần khó nghèo của Phúc Âm để làm chứng cho Chúa Kitô, Người “ vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được trở nên giầu có” như Thánh Phaolô đã dạy ( 2 Cor 8:9)
Nếu giảng sự khó nghèo của Chúa cho người khác mà chính mình lại ham thích tiền của, chậy theo tiền của, thì lời giảng dạy của mình có thuyết phục được ai tin và thực hành không ?
Sự thật thì dễ mất lòng nhưng vẵn cần thiết phải nói ra để “ Ai có tai nghe thì nghe.” Đó là lời Chúa. Giêsu đã nói với các môn đệ xưa. ( Mt 13: 43; Mc 4: 23; Lc 8: 8)
Tóm lại, là người may mắn có đức tin, chúng ta phải quyết tâm sống đức tin cách sâu đậm không những bằng đời sống thiêng liêng mật thiết với Chúa mà còn phải lưu tâm đến những nguy cơ đe dọa đức tin như tội lỗi, gương xấu và cám dỗ của tiền bạc của cải vật chất, là những trở ngại rất lớn cho chúng ta sống đạo đức, lương thiện, công bằng và bác ái như đức tin đòi hỏi.
Đó chính là điều chúng ta cần suy nghĩ và thực hành trong đời sống đức tin của mối người tín hữu chúng ta mỗi ngày trước mặt người đời..Amen.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm. Phanxicô xaviê Ngô Tôn Huấn

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THỨ BAY TRUOC LE HIEN LINH PDF Print E-mail

Ngày 5/1

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA: Ga 1, 43-51

    HÃY THEO TA !

Bài Ðọc I: 1 Ga 3, 11-21

"Chúng ta đã được chuyển từ cõi chết đến cõi sống, vì chúng ta thương yêu anh em".

Bài trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Các con thân mến, đây sứ điệp các con đã nghe từ ban đầu là chúng ta phải thương yêu nhau.

Không như Cain, người thuộc về ma qủy, nên đã giết em mình.

Nhưng tại sao nó đã giết em? Vì công việc nó làm là gian ác, còn công việc của em nó thì chính trực.

Các con đừng ngạc nhiên, nếu thế gian ghét các con.

Chúng ta biết rằng chúng ta đã được chuyển từ cõi chết đến cõi sống, vì chúng ta thương yêu anh em.

Ai không yêu thương, thì ở trong cõi chết.

Hễ ai ghét anh em mình đều là kẻ sát nhân, và các con biết rằng mọi kẻ sát nhân không có sự sống đời đời ở trong mình.

Do điều này mà chúng ta đã biết tình yêu của Thiên Chúa là chính Người đã thí mạng sống mình vì chúng ta, nên chúng ta cũng phải thí mạng sống mình cho anh em.

Nếu ai có của cải đời này mà thấy anh em mình túng thiếu, lại đóng cửa lòng mình đối với họ, thì làm sao tình yêu của Thiên Chúa ở trong người ấy được?

Các con thân mến, chúng ta đừng yêu bằng lời nói và miệng lưỡi, nhưng bằng việc làm và chân thật.

Do đó chúng ta biết mình thuộc về sự thật, và sẽ được vững lòng trước mặt Chúa.

Vì nếu lòng chúng ta có khiển trách chúng ta, thì Thiên Chúa còn lớn hơn lòng chúng ta và Người thông biết mọi sự.

Các con thân mến, nếu lòng chúng ta không khiển trách, thì chúng ta tin tưởng nơi Thiên Chúa, và bất cứ điều gì chúng ta xin, thì chúng ta cũng được Người ban cho, vì chúng ta giữ giới răn Người và làm điều đẹp lòng Người.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv. 99,2,3, 4,5

Ðáp: Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa. (2a)

Xướng 1) Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy phụng sự Thiên Chúa với niềm vui vẻ! Hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá. - Ðáp.

2) Hãy biết rằng Thiên Chúa là Thượng Ðế, chính Ngài đã tạo tác thân ta và ta thuộc quyền sở hữu của Ngài. - Ðáp.

3) Ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi, hãy vào trụ quan nhà Ngài với lời khen ngợi, vào hành lang với khúc ca vui, hãy tán dương, hãy chúc tụng danh Ngài. - Ðáp.

4) Vì Thiên Chúa, Ngài thiện hảo, lòng từ bi Ngài tồn tại muôn đời, và lòng trung tín còn tới muôn muôn thế hệ. - Ðáp.

Alleluia:

Alleluia, Alleluia. - Ngày thánh đã dọi ánh sáng trên chúng ta, hỡi các dân, hãy tới thờ lạy Chúa, vì hôm nay ánh sáng chan hòa đã tỏa xuống trên địa cầu. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 1,43-51

"Thầy là Con Thiên Chúa, là Vua Israel"

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu định đi Galilêa.

Người gặp Philipphê và nói với ông: "Hãy theo Ta".

Philipphê là người thành Bétsaiđa, quê quán của Anrê và Phêrô.

Philipphê gặp Nathanaen và nói với ông: "Ðấng đã được Moisen ghi trong Luật và các tiên tri nói đến, chúng tôi đã gặp rồi: đó là Giêsu con ông Giuse, người thành Nazarét".

Nathanaen đáp: "Bởi Nazarét nào có cái chi hay?".

Philipphê nói: "Hãy đến mà xem".

Chúa Giêsu thấy Nathanaen đi tới mình, thì nói về ông: "Ðây thật là người Israel, nơi ông không có gì gian dối".

Nathanaen đáp: "Sao Ngài biết tôi?"

Chúa Giêsu trả lời rằng: "Trước khi Philipphê gọi ngươi, lúc ngươi còn ở dưới cây vả, thì Ta đã thấy ngươi".

Nathanaen thưa lại rằng: "Lạy Thầy, Thầy là Con Thiên Chúa, là Vua Israel".

Chúa Giêsu trả lời: "Vì Ta đã nói với ngươi rằng: ta đã thấy ngươi dưới gốc cây vả, nên ngươi tin, ngươi sẽ thấy việc cao trọng hơn thế nữa".

Và Người nói với ông: "Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và các Thiên Thần Chúa lên xuống trên Con Người".

Ðó là Lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa

Theo chiều hướng "chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người" của những ngày trước Lễ Hiển Linh cũng như cho chính lễ Hiển Linh, hôm nay, ngày 5/1, Chúa Giêsu đã cho chàng Philiphê "được thấy vinh hiển của Người" bằng cách lên tiếng gọi chàng: "Hãy theo Tôi".

Chắc Philiphê này là một trong hai người môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã đến gặp Chúa Kitô, bởi thế khi chàng đến rủ bạn mình là Nathanael đến với Người thì đã khẳng định như môn đệ Anrê khẳng định với Simon anh của mình: "Ðấng đã được Moisen ghi trong Luật và các tiên tri nói đến, chúng tôi đã gặp rồi: đó là Giêsu con ông Giuse, người thành Nazarét".

Cho dù không hào hứng cho lắm khi nghe thấy nơi xuất xứ "Nazarét" của Chúa Giêsu là nơi "nào có gì hay đâu", chàng Nathanael cũng nghe lời bạn "hãy đến mà xem", để rồi, sau khi được chính Chúa Giêsu tỏ mình ra cho chàng bằng cách cho chàng biết rằng Người đã biết chàng "Ðây thật là người Israel, nơi ông không có gì gian dối" ngay trước khi chàng đến với Người: "Trước khi Philipphê gọi ngươi, lúc ngươi còn ở dưới cây vả, thì Ta đã thấy ngươi". Chính vì thế, chàng Nathanael cũng đã "được thấy vinh hiển của Người", khi tuyên xưng cùng Người rằng: "Lạy Thầy, Thầy là Con Thiên Chúa, là Vua Israel".

Chính vì "Thầy là Con Thiên Chúa, là Vua Israel" như thế mà Người chẳng những vinh hiển nơi chính bản thân của Người với danh phận bẩm sinh là "Con Thiên Chúa", là "Vua Israel", mà còn được vinh hiển cả bề ngoài xứng với danh phận vô cùng cao cả của Người nữa, ở chỗ Người sẽ được các thần trời là loài có bản tính cao trọng hơn loài người, hầu cận và phụng sự, như chính Người đã hứa hẹn cho chàng Nathanael thấy trong tương lai: "Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và các Thiên Thần Chúa lên xuống trên Con Người".

Thế nhưng, "Con Người" sẽ bất xứng với việc phụng sự của các thần trời nếu Người không tỏ vinh quang của Người ra đúng với bản chất là tình yêu vô cùng nhân hậu của Người, Đấng được Thiên Chúa sai đến để cứu chuộc nhân loại, như "Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian". Chính vì thế, vinh hiểm của Người không phải chỉ ở danh xưng, ở việc được phụng sự mà còn ở chính mạc khải thần linh của Người đúng như bản tính vô cùng trọn lành và thương xót của Người.

Đó là lý do trong Bài Đọc 1 Thánh ký Gioan đã chẳng những cho thấy vinh hiển của Thiên Chúa là thương yêu: "tình yêu của Thiên Chúa là ở chỗ chính Người đã thí mạng sống mình vì chúng ta" theo bản tính thần linh của Người, mà còn nhắc nhở thành phần "được thấy vinh hiển của Người", tức được thông phần vào sự sống thần linh của Người và với Người, tức "đã được chuyển từ cõi chết đến cõi sống, vì chúng ta thương yêu anh em", cũng phải sống động và tác hành như Người nữa: "Nên chúng ta cũng phải thí mạng sống mình cho anh em".

Yêu thương chẳng những là vinh hiển của Thiên Chúa theo bản tính thần linh của Người mà còn là chính sự sống thần linh của Người. Bởi thế, cho dù Kitô hữu có được lãnh nhận Phép Rửa, nghĩa là được thông phần vào bản tính thần linh của Người, sống sự sống thần linh của Người, với Người và như Người, mà nếu không yêu thương thì kể như vẫn ở trong sự chết, vẫn "như Cain, người thuộc về ma qủy, nên đã giết em mình.... Vì công việc nó làm là gian ác".

Thánh ký Gioan đã khẳng định về thành phần "như Cain" thế này: "Ai không yêu thương, thì ở trong cõi chết". Thậm chí, "ai ghét anh em mình (nghĩa là cho dù không sát hại thân xác của nhau nhưng chính lòng thù hằn giận ghét ấy tự nó đã phản lại với bản tính yêu thương là sự sống hiệp thông nên họ) đều là kẻ sát nhân, và các con biết rằng mọi kẻ sát nhân không có sự sống đời đời ở trong mình".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

---------------------------------------

 
HOC HOI ĐE SONG DAO - NGÀY 31-12-2018 PDF Print E-mail

31/12 - NGÀY CUỐI CÙNG NĂM 2018 - CÙNG TẠ ƠN CHÚA !

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: 1 Ga 2, 18-21

"Các con được Ðấng Thánh xức dầu, và các con biết mọi sự".

Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Hỡi các con, đây là giờ sau hết. Các con đã nghe biết là sẽ có Phản-Kitô đến, thì nay đã có nhiều Phản-Kitô xuất hiện, do đó chúng ta biết rằng đây là giờ sau hết. Họ ở giữa chúng ta mà ra, nhưng không thuộc về chúng ta, vì nếu họ thuộc về chúng ta, thì họ vẫn còn ở với chúng ta. Như vậy để chứng tỏ rằng không phải tất cả mọi người đều thuộc về chúng ta.

Còn các con, các con được Ðấng Thánh xức dầu, và các con biết mọi sự. Ta viết cho các con, không phải vì các con không biết sự thật, nhưng vì các con biết sự thật, và phàm là dối trá thì không (thể) do sự thật mà có.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 95, 1-2. 11-12. 13

Ðáp: Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan (c. 11a).

Xướng: 1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy chúc tụng danh Người, ngày ngày hãy loan truyền ơn Người cứu độ. - Ðáp.

2) Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan. Biển khơi và muôn vật trong đó hãy reo lên. Ðồng nội và muôn loài trong đó hãy mừng vui, các rừng cây hãy vui tươi hớn hở. - Ðáp.

3) Trước nhan Thiên Chúa, vì Người ngự tới, vì Người ngự tới cai quản địa cầu. Người sẽ cai quản địa cầu cách công minh, và chư dân cách chân thành. - Ðáp.

Alleluia: Dt 1, 2

Alleluia, alleluia! - Ngày thánh đã dọi ánh sáng trên chúng ta. Hỡi các dân, hãy tới thờ lạy Chúa, vì hôm nay ánh sáng chan hoà đã toả xuống trên địa cầu. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 1, 1-18

"Ngôi Lời đã làm người".

Bắt đầu Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thuỷ. Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận sự sáng.

Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan. Ông đã đến nhằm việc chứng minh, để ông chứng minh về sự sáng, hầu cho mọi người nhờ ông mà tin. Chính ông không phải là sự sáng, nhưng đến để chứng minh về sự sáng. Vẫn có sự sáng thực, sự sáng soi tỏ cho hết mọi người sinh vào thế gian này. Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra.

Và Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý.

Gioan làm chứng về Người khi tuyên xưng rằng: "Ðây là Ðấng tôi tiên báo. Người đến sau tôi, nhưng xuất hiện trước tôi, vì Người có trước tôi". Chính do sự sung mãn Người mà chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác.

Bởi vì Chúa ban Lề luật qua Môsê, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Ðức Giêsu Kitô. Không ai nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Ðấng ngự trong Chúa Cha, sẽ mạc khải cho chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Emmanuel nguyên thủy

Hôm nay là ngày 31/12, ngày cuối cùng trong một năm về dân sự, cũng là ngày thứ 7 trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh. Trong khi Bài Đọc 1 tiếp theo những gì của Bài Đọc 1 hôm qua thì Bài Phúc Âm hoàn toàn khác hắn, bài Phúc Âm trích lại tất cả đoạn nhập đề Phúc Âm của Thánh ký Gioan về "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14).

Vấn đề đầu tiên được đặt ra ở đây là tại sao vào chính ngày cuối năm dân sự mà Giáo Hội lại chọn đọc một bài Phúc Âm có câu mở đầu hoàn toàn có ý nghĩa ngược lại, đó là câu: "Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa"? Một đàng thì cuối năm theo dân sự nhưng lại "từ nguyên thủy" theo phụng vụ vào ngày 31/12 nghĩa là gì?

Ý nghĩa của vấn đề này có thể hiểu như sau: 1- thời gian một khi đi đến tận cùng thì trở về nguồn cội, về lại với nguyên thủy; 2- một ngày đối với Thiên Chúa được bắt đầu từ "một buổi tối và một buổi sáng" (Khởi Nguyên 1:5,8,13,19,23), chứ không phải từ sáng đến tối theo thể lý - phải chăng đó là lý do Lễ Chúa Nhật hằng tuần được bắt đầu từ chiều tối hôm trước, và Đại Lễ Giáng Sinh và Đại Lễ Phục Sinh được bắt đầu từ nửa đêm, hay Lễ Mẹ Thiên Chúa là ngày cuối cùng của Tuần Bát Nhật Giáng Sinh lại là ngày đầu năm dương lịch; 3- dù thời gian có qua đi những Thiên Chúa vẫn muôn đời tồn tại vô cùng vô tận.

Đúng thế, bài Phúc Âm cho ngày cuối cùng của một năm dân sự này về Ngôi Lời, một Ngôi Lời hằng hữu, một Ngôi Lời nhập thể và một Ngôi Lời thông ban.

Một Ngôi Lời hằng hữu: "Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thủy. Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không át được sự sáng".

Đoạn đầu tiên trong 3 đoạn mở đầu của bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: trước hết là bản tính thần linh của Lời - ở chỗ Lời có trước thời gian (chứ không phải Lời được tạo dựng trong thời gian), Lời hiện hữu nơi Thiên Chúa (vì Lời là chính ý nghĩ về mình của Thiên Chúa và nơi Thiên Chúa) và Lời là chính Thiên Chúa (Đấng tự hữu, hiện hữu và hằng hữu); sau nữa, chính vì bản tính thần linh của mình như thế mà Lời chính là nguyên lý tạo dựng nên mọi sự và là nguyên lý cho sự hiện hữu của tất cả mọi sự không phải là Thiên Chúa hay ngoại tại với Thiên Chúa; và sau hết cũng chính vì bản tính thần linh của mình mà Lời có sự sống thần linh để có thể tỏ mình ra và thông ban.

Một Ngôi Lời tỏ mình: "Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra".

Vì Lời, đối ngoại, là "sự sáng chiếu soi trong u tối" mà "Người vẫn ở trong thế gian", qua các nguyên tắc bất biến về luân lý hay qua các mầm mống thần linh nơi các đạo giáo, và cho dù "thế gian đã do Người tác tạo", nhưng "thế gian đã không nhận biết Người". Đối với dân riêng Do Thái của mình, "Người đã đến nhà các gia nhân Người", ở chỗ Người đã tỏ mình ra cho họ trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, nhưng tiếc thay "các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người", thậm chí còn sát hại Người nữa. Trái lại, "kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa", nghĩa là được tái sinh bởi trời: "do Thiên Chúa mà sinh ra".

Một Ngôi Lời thông ban: "Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý.... Chính do sự sung mãn Người mà chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác. Bởi vì Chúa ban Lề luật qua Môsê, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Ðức Giêsu Kitô. Không ai nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Ðấng ngự trong Chúa Cha, sẽ mạc khải cho chúng ta"

"Khi đến thời gian viên trọn" (Galata 4:4) thì "Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể" là Đức Giêsu Kitô, "và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi" như một Hài Nhi Giêsu ở Belem, một Thiếu Nhi ở Giêrusalem, một Thanh Niên ở Nazarét, một Đấng Thiên Sai đến không phải để được phục vụ mà là phục vụ, không phải để luận tội mà là để cứu độ, nhờ đó "chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý", Đấng "tỏ Cha ra" bằng việc tuân phục ý Cha là Đấng đã sai Người, "để khi hoàn tất Người đã trở nên căn nguyên cứu độ cho những ai tín phục Người" (Do Thái 5:9).

Bài Đọc 1 hôm nay, 31/12, khác hẳn với Bài Phúc Âm cùng ngày hôm nay, ngày cuối cùng của năm dương lịch, ở chỗ, ngay câu mở đầu của Bài Đọc 1 hôm nay, trích từ Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan, là thế này: "Hỡi các con, đây là giờ sau hết", mà ngày 31/12, ngày cuối cùng của một năm là tiêu biểu.

Thế nhưng, làm sao biết được "đây là giờ sau hết", nếu không phải, như Bài Đọc 1 hôm nay tiết lộ và khẳng định, có thể căn cứ vào hiện tượng "đã có nhiều Phản-Kitô xuất hiện, do đó chúng ta biết rằng đây là giờ sau hết". Thành phần "phản kitô" này là ai, nếu không phải là những người "xuất phát từ hàng ngũ của chúng ta nhưng không thuộc về chúng ta", bởi họ "chối bỏ Chúa Kitô đến trong xác thịt" (2Gioan 7), tức chối bỏ "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14).

Hiện tượng xuất hiện "kitô giả" hay "phản kitô" là thành phần chối bỏ Chúa Kitô, chối bỏ sự thật, là hiện tượng chẳng những cho thấy ngày cùng tháng tận mà còn cho thấy càng tiến đến ngày cùng tháng tận con người càng sống trong tăm tối, và vì thế họ càng phải được soi sáng bởi "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9) là "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14), Đấng "đã có từ nguyên thủy", Đấng bất biến cho dù thế gian có qua đi, và là Đấng sẽ canh tân tất cả mọi sự thành một trời mới đất mới là nơi Thiên Chúa muôn đời ngự trị (xem Khải Huyền 21:1-5), nơi không còn đêm và cửa không bao giờ đóng (xem Khải Huyền 21:25).

Vì Thiên Chúa là Đấng hiện hữu, không bao giờ qua đi, luôn mới mẻ, nhất là cho những ai cởi mở đón nhận Ngài và đáp ứng tác động thần linh của Ngài, mà Ngài phải được vũ trụ và địa cầu cùng nhau ngợi khen chúc tụng, như trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy chúc tụng danh Người, ngày ngày hãy loan truyền ơn Người cứu độ.

2) Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan. Biển khơi và muôn vật trong đó hãy reo lên. Ðồng nội và muôn loài trong đó hãy mừng vui, các rừng cây hãy vui tươi hớn hở.

3) Trước nhan Thiên Chúa, vì Người ngự tới, vì Người ngự tới cai quản địa cầu. Người sẽ cai quản địa cầu cách công minh, và chư dân cách chân thành.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 158