mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1979
mod_vvisit_counterHôm Qua11016
mod_vvisit_counterTuần Này12995
mod_vvisit_counterTuần Trước62493
mod_vvisit_counterTháng Này192590
mod_vvisit_counterTháng Trước256467
mod_vvisit_counterTất cả13562767

We have: 350 guests online
Your IP: 54.234.227.202
 , 
Today: May 21, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO - LÊ CHUA KITO VUA PDF Print E-mail

ĐTC PHANXICÔ

HUẤN TỪ TRUYỀN TIN CHÚA NHẬT XXXIV THƯỜNG NIÊN NĂM B 25/11/2018

Pope Francis blesses a baby Nov. 21, 2018. Credit: MarinaTestino/CNA.

"Lễ trọng kính Chúa Giêsu Kitô là Vua Vũ Trụ chúng ta cử hành hôm nay được xếp vào cuối phụng niên,

nhắc nhở rằng sự sống của tạo vật này không tiến triển theo ngẫu nhiên tình cờ mà là tiến đến một đích điểm cuối cùng,

đó là việc tỏ hiện tối hậu của Chúa Kitô là Chúa của lịch sử và của toàn thể tạo vật".

Pope Francis prays the Angelus

"Chúa Giêsu muốn cho thấy rằng bên trên quyền lực chính trị còn có một quyền lực vĩ đại hơn nữa,

một quyền lực không chiếm được bằng phương tiện trần gian.

Người đã đến trên thế gian này là để thực hiện quyền lực ấy, đó là tình yêu, 'làm chứng cho chân lý' (câu 37)".

Xin chào anh chị em thân mến!

Lễ trọng kính Chúa Giêsu Kitô là Vua Vũ Trụ chúng ta cử hành hôm nay được xếp vào cuối phụng niên, nhắc nhở rằng sự sống của tạo vật này không tiến triển theo ngẫu nhiên tình cờ mà là tiến đến một đích điểm cuối cùng, đó là việc tỏ hiện tối hậu của Chúa Kitô là Chúa của lịch sử và của toàn thể tạo vật. Kết cục của lịch sử sẽ là vương quốc muôn đời của Người.

Đoạn phúc âm hôm nay (xem Gioan 18:33b-37) cho chúng ta biết về Vương Quốc này, về vương quốc của Chúa Kitô, khi thuật lại tình trạng tủi nhục của Chúa Giêsu bị bắt giữ ở Vườn Nhiệt: bị trói buộc, bị xỉ nhục, bị tố cáo và bị dẫn đến trước các thẩm quyền ở Giêrusalem bấy giờ. Thế rồi Người đã đứng trước vị Tổng Trấn Roma, như một tên muốn chống lại quyền lực chính trị, muốn trở thành Vua của Người Do Thái. Vậy Philatô đã thực hiện cuộc điều tra, và bằng một thứ chất vấn bi thảm, ông hai lần hỏi Người rằng "Ngươi là vua phải không?" (xem các câu 33b và 37). Đầu tiên Chúa Giêsu trả lời rằng Nước của Người "không thuộc về thế gian này" (câu 36). Sau đó Người khẳng định rằng: "Chính ông là người nói Tôi là vua" (câu 37). Hiển nhiên là tất cả cuộc đời của Người chẳng có tham vọng chính trị gì hết.

Chúng ta hãy nhớ rằng sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân chúng, vì hào hứng trước phép lạ ấy, đã muốn tuyên bố Người là vua, để lật đổ quyền bính Roma cũng như để tái thiết vương quốc của Israel. Tuy nhiên, đối với Chúa Giêsu, Vương Quốc này là một cái gì khác, hoàn toàn không được thiết lập bằng việc nổi loạn, bằng bạo lực và bằng võ lực. Do đó Người đã ẩn mình lên núi để cầu nguyện (xem Gioan 6:5-15). Vậy, để trả lời cho Philato, Người nhắc cho ông ta biết rằng các môn đệ của Người đã không chiến đấu để bênh vực Người. Người nói: Nếu nước Tôi thuộc về thế gian này, thì thuộc hạ của Tôi sẽ chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do Thái" (câu 36).

Chúa Giêsu muốn cho thấy rằng bên trên quyền lực chính trị còn có một quyền lực vĩ đại hơn nữa, một quyền lực không chiếm được bằng phương tiện trần gian. Người đã đến trên thế gian này là để thực hiện quyền lực ấy, đó là tình yêu, "làm chứng cho chân lý" (câu 37). Chính về sự thật thần linh này mà cuối cùng mới có sứ điệp chính yếu của Phúc Âm: "Thiên Chúa là tình yêu" (1Gioan 4:8), và Người muốn thiết lập trên thế giới này Vương Quốc yêu thương, công lý và hòa bình của Người. Đó là Vương quốc có Chúa Giêsu là Vua, và là vương quốc kéo dài cho tới ngày cùng tháng tận. Lịch sử dạy chúng ta rằng các vương quốc dựa vào quyền lực vũ khí và gian trá đều mong manh mỏng dòn, và không sớm thì muộn sẽ bị sụp đổ; thế nhưng, Vương Quốc của Thiên Chúa được thiết lập trên tình yêu và ở trong các cõi lòng - Vương quốc của Thiên Chúa ở trong các cõi lòng - ban cho những ai chấp nhận vương quốc này bình an, tự do và sự sống viên mãn. Tất cả chúng ta đều muốn hòa bình, tất cả chúng ta đều muốn được tự do và chúng ta đều muốn nên viên trọn. Mà nó xẩy ra làm sao đây? Hãy để cho tình yêu của Thiên Chúa, Vương Quốc của Thiên Chúa, tình yêu của Chúa Giêsu ăn sâu vào cõi lòng của anh chị em, thì anh chị em sẽ có bình an, anh chị em sẽ được tự do và anh chị em sẽ nên viên trọn.

Hôm nay Chúa Giêsu xin chúng ta hãy để Người trở thành Vua của chúng ta. Một Đức Vua mà lời của Người, gương của Người và sự sống bị sát tế trên thập giá của Người, đã cứu chúng ta khỏi sự chết, và Đức Vua này mở đường đến với con người hư hoại; Người ban ánh sáng mới cho sự hiện hữu của chúng ta, một hiện hữu hằn vết ngờ vực, sợ hãi, và các thứ thử thách hằng ngày. Tuy nhiên, chúng ta không được quên rằng Vương Quốc của Chúa Kitô không thuộc về thế gian này. Người có thể cống hiến cho đời sống của chúng ta ý nghĩa mới, một đời sống đôi khi bị thử thách dữ dội bởi các thứ lầm lỗi và tội lỗi của chúng ta, mà chỉ với thân phận này chúng ta mới khỏi chạy theo cái lý lẽ của thế gian và của những "thứ vua chúa" của thế gian.

Xin Đức Trinh Nữ Maria giúp chúng ta biết đón nhận Chúa Giêsu là Vua của cuộc đời chúng ta và biết làm cho Vương Quốc của Người lan rộng, bằng việc làm chứng cho chân lý là tình yêu.

https://zenit.org/articles/angelus-address-on-the-solemnity-of-christ-the-king/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

Cảm nhận của người dịch:

Trong bài huấn từ truyền tin hôm nay, ĐTC Phanxicô có nhắc đến sự kiện được ngài suy diễn đáng chú ý và cần tìm hiểu thêm như thế này:

"Người đã đứng trước vị Tổng Trấn Roma, như một tên muốn chống lại quyền lực chính trị, muốn trở thành Vua của Người Do Thái. Vậy Philatô đã thực hiện cuộc điều tra, và bằng một thứ chất vấn bi thảm, ông hai lần hỏi Người rằng 'Ngươi là vua phải không?'"

Trong bài Chia sẻ PVLC Chúa Nhật XXXIV Thường Niên Năm B, người dịch cũng đã suy diễn theo cùng chiều hướng như vậy:

"Sự kiện vấn đáp giữa tổng trấn Philatô với Chúa Kitô không phải chỉ đơn giản bề ngoài như là một cuộc đối thoại giữa hai người ngang nhau, mà là một cuộc tra vấn của nhân vật có thẩm quyết xét xử trước khi lên án và xử tội, với một tội phạm bất ngờ được trao nộp cho ông. Bởi thế, ngay câu tra vấn đầu tiên được vị tổng trấn này đặt ra là một câu tra vấn mà tội phạm lên tiếng công nhận một cái là bị lên án liền lập tức: 'Ngươi có phải là vua không?'.

"Tuy nhiên, vì quá thấu biết cả tấm lòng đầy thiện chí lẫn vai trò cần phải thẩm xét một nhân vật bị dân Người coi là phạm nhân, Chúa Kitô đã khôn khéo trả lời, vừa để tránh cái bẫy điều tra của vị tổng trấn dân ngoại vừa để dẫn chính con người ấy về với chân lý là bản thân mình: 'Ông tự ý hỏi như thế hay đã có ai nói về Tôi với ông?' Viên tổng trấn Philatô này cũng không vừa, chẳng những không để cho Chúa Kitô đánh lạc hướng, mà còn trở đòn một cách ngoạn mục, bằng cách bồi thêm một câu tra vấn thứ hai, hết sức mật thiết với câu tra vấn thứ nhất: 'Nhân dân của ngươi đã trao nộp ngươi cho ta. Ngươi đã làm gì?'

"Căn cứ vào hai câu tra vấn: 'Người có phải là vua không?' và 'Người đã làm gì?' của vị tống trấn hạch hỏi Chúa Kitô, thì hình như ông ta đang muốn điều tra xem nhân vật bị coi là tội phạm được trao nộp cho ông ta bấy giờ có làm chính trị hay chăng? - Chẳng hạn có âm mưu hay hành động làm loạn chống lại thẩm quyền đương nhiệm bấy giờ là quận vương Hêrôđê đang ở Giêrusalem (xem Luca 23:7), ngay lúc Chúa Giêsu tiến vào thành Giêrusalem một cách vinh quang chưa từng thấy, huy hoàng như một quân vương.

"Nếu quả thực Chúa Kitô làm chính trị thì mới thuộc lãnh vực thực sự liên quan đến thẩm quyền xét xử của ông, bằng không, sau khi đã cẩn thận tra vấn, chính ông đã thấy rõ, thậm chí đã dựa vào thẩm quyền của cả quận vương Hêrôđê cũng chẳng lên án Người, mà tuyên bố Người vô tội không đáng chết (xem Luca 23:14-15), một quyết định đã khiến cho 'toàn thể đám đông' (Luca 23:18), bao gồm cả thành phần đầu mục Do Thái lẫn dân chúng bị thành phần đầu mục này xui xiểm (xem Mathêu 27:20), bấy giờ tự ý quay ra muốn vị tổng trấn thả tên trộm cướp Baraba thay vì thả Chúa Kitô, dựa vào thông lệ được vị tổng trấn ân xá vào ngày lễ trọng của dân Do Thái (xem Mathêu 27:15). Nhưng ông lại chỉ muốn thả Chúa Giêsu, vì theo lương tâm và thẩm quyền của mình, ông vẫn thấy Người vô tội, đáng thả hơn là tên ma đầu Barbara, nhưng dân chúng lại làm mạnh hơn, đòi 'đóng đanh nó vào thập giá' (Luca 23:21).

"Người quả thực là 'một người quí tộc kia đi phương xa để được phong vương', như Người đã tiên báo cho các môn đệ và đám đông đi theo Người trong cuộc hành trình Giêrusalem của Người, trong bài Phúc Âm của Thánh ký Luca Thứ Tư Tuần XXXIII Thường Niên tuần trước (19:12). Theo bài Phúc Âm này, cho dù dân Do Thái của Người không chấp nhận Người là vua của họ (xem Luca 19:14, Gioan 19:15,20-22), nhưng họ chẳng những vẫn không làm gì được Người mà còn bất ngờ làm cho Người trở thành vua của toàn thể nhân loại nữa: 'Người đã được phong vương trở về' (Luca 19:15), theo chiều hướng của Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật cuối cùng của Phụng Niên trọng kính Chúa Kitô Vua hôm nay".

--------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU SAU CN33TN-B PDF Print E-mail

HỌC HỎI -CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

   Thứ Sáu CN33TN-B

Bài Ðọc I: (Năm II) Kh 10, 8-11

"Tôi cầm lấy cuốn sách mà nuốt".

Tôi là Gioan, tôi đã nghe có tiếng từ trời phán cùng tôi rằng: "Ngươi hãy đi lấy cuốn sách mở sẵn trên tay thiên thần đứng trên biển và trên đất". Tôi liền đến xin thiên thần trao cho tôi cuốn sách ấy và người nói với tôi: "Ngươi hãy cầm lấy sách mà nuốt đi; nó sẽ làm cho ruột gan ngươi đầy cay đắng, nhưng miệng ngươi lại cảm thấy ngọt ngào như mật". Tôi cầm lấy cuốn sách từ tay thiên thần mà nuốt; miệng tôi cảm thấy ngọt ngào như mật, nhưng khi tôi đã nuốt rồi thì nó làm cho ruột gan tôi đầy cay đắng. Bấy giờ tiếng lại phán cùng tôi rằng: "Ngươi còn phải nói tiên tri cho nhiều dân, nhiều nước, nhiều ngôn ngữ và nhiều vua chúa nữa".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 118, 14. 24. 72. 103. 111. 131

Ðáp: Những lời sấm của Chúa ngon ngọt thay cho cổ họng con (c. 103a).

Xướng: 1) Con vui vì đường lối lời Ngài nghiêm huấn, dường như được mọi thứ giàu sang. - Ðáp.

2) Vì lời nghiêm huấn của Ngài là điều con ưa thích, các thánh chỉ Ngài là những bậc cố vấn của con. - Ðáp.

3) Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn. - Ðáp.

4) Những lời sấm của Ngài ngon ngọt thay cho cổ họng con, ngọt hơn cả mật ong đổ miệng con. - Ðáp.

5) Lời Ngài nghiêm huấn là sản nghiệp của con muôn đời, vì những điều đó khiến cho lòng con hoan hỉ. - Ðáp.

6) Con há miệng để hút nguồn sinh khí, vì con ham muốn những chỉ thị của Ngài. - Ðáp.

Alleluia: Tv 118, 34

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin giáo huấn con, để con tuân cứ luật pháp của Chúa, và để con hết lòng vâng theo luật đó. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 19, 45-48

"Các ngươi đã biến đền thờ Thiên Chúa thành sào huyệt trộm cướp".

Khi ấy, Chúa Giêsu vào đền thờ, Người liền xua đuổi các người buôn bán tại đó và phán bảo họ rằng: "Có lời chép rằng: Nhà Ta là nhà cầu nguyện, các ngươi đã biến thành sào huyệt trộm cướp". Và hằng ngày Người giảng dạy trong Ðền thờ. Các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão trong dân tìm cách hại Người, nhưng họ không biết phải làm cách nào, vì dân chúng hết thảy đều chăm chú nghe Người.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Sáu Tuần XXXIII Thường Niên, tiếp tục với cuộc hành trình lên Giêrusalem của Chúa Kitô, ở chỗ, sau khi "Người đã gần đến Giêrusalem" trong Bài Phúc Âm hôm kia, sau đó "Chúa Giêsu đến gần Giêrusalem" trong bài Phúc Âm hôm qua, và hôm nay "Chúa Giêsu vào đền thờ".

Phải, nếu đền thờ Giêrusalem là nơi Thiên Chúa ngự, là biểu hiệu cho sự hiện diện thần linh của Thiên Chúa, thì sự kiện Chúa Giêsu có mặt ở đền thờ này cho thấy Người đã đến được đích điểm cuộc hành trình Giêrusalem của Người.

Bởi Người đến "là để tỏ Cha ra" (Gioan 1:18), tức để làm cho dân của Người biết Cha của Người thực sự là Đấng nào, Vị Thiên Chúa đã từng tỏ mình ra cho họ trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ như là một Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, ngoài Ngài ra không còn một vị Thiên Chúa nào khác, và vì thế họ phải hết mình kính mến Ngài, chỉ một mình Ngài thôi, "hết lòng, hết linh hồn và hết sức" của họ (xem Đệ Nhị Luật 6:4-5), nghĩa là trên hết mọi sự.

Bởi thế, không lạ gì, khi thấy cảnh tượng dân chúng buôn bán trong đền thờ "là nhà cầu nguyện", như chính Người nói trong Bài Phúc Âm hôm nay, đã bị "biến thành sào huyệt trộm cướp", thì làm sao Người là Đấng kính mến Cha Người hết mình và trên hết mọi sự, khi thấy nơi biểu hiệu cho sự hiện diện thần linh của Cha bị chính dân của Ngài tục hóa, có thể nào chịu đựng được, đến độ dù Người vốn "hiền lành và khiêm nhượng trong lòng" (Mathêu 11:29) cũng không thể nào không ra tay "xua đuổi các người buôn bán tại đó".

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao cảnh tượng dân chúng buôn bán trong Đền Thờ bị Người đánh đuổi như thế sao Người không nói rằng: "Nhà Ta là nhà cầu nguyện, các ngươi đã biến thành khu chợ búa buôn bán trần tục" có phải thích hợp hơn không, mà là Nhà Ta là nhà cầu nguyện, các ngươi đã biến thành sào huyệt trộm cướp". Đúng thế, cảnh tượng dân chúng buôn bán đúng là cảnh tượng chẳng khác nào là một khu chợ. Tuy nhiên, đó chỉ là hình thức của việc buôn bán, còn nội dung của việc họ buôn bán ngay trong Đền Thờ linh thánh mới đáng trách, đáng bị đánh đuổi, bởi cảnh tượng buôn bán như chợ búa của họ trong Đền Thờ đúng là việc họ đã biến Đền Thờ thánh hang trộm cướp. Ở chỗ, họ đã "cướp" mất tính chất linh thiêng thánh hảo về phụng vụ của Đền Thờ, bằng việc buôn bán sinh lợi theo trần tục trần gian của họ.

Phải chăng đó là một trong những lý do chính yếu khiến Người vừa thấy thành thánh Giêrusalem, Người đã thổn thức khóc, như bài Phúc Âm hôm qua thuật lại? Người đã không khóc khi thấy Cha của Người bị xúc phạm cho bằng khóc thương dân của Người, vì họ không ngừng liên tục xúc phạm đến Cha của Người mà nguy hiểm đến phần rỗi đời đời của chính họ. Bởi thế mà trên đường vác thập giá lên Núi Sọ, Người đã khuyên đám phụ nữ thương khóc Người bấy giờ rằng: "Chớ khóc thương Tôi, một khóc thương các ngươi cùng con cháu của các ngươi" (Luca 23:27-28).

Đúng vậy, nếu con người ta nói chung và những ai tin vào Người nói riêng thật sự biết khóc thương bản thân mình, ở chỗ tỏ ra ăn năn thồng hối tội lỗi của mình, thì đó là tác động họ khóc thương Người rồi vậy, vì họ sẽ không dám xúc phạm đến Người nữa, họ sẽ không làm cho Người phải khổ sở vác thập giá của họ và cho họ nữa, thập giá do chính họ chất lên vai của Người. Tội lỗi của họ chính là thập giá mà Người phải vác vậy. Và thập giá cũng là biểu hiệu cho từng con chiên lạc Người cần phải tìm kiếm và vác trên vai mang về nhà Cha của Người vậy (xem Luca 15:5).

Đó là lý do Người quả thật không hề ghét bỏ dân của Người qua hành động đánh đuổi họ như thế, trái lại, chỉ vì Người thương họ hơn bao giờ hết, khi thấy họ lầm lạc đến độ chính họ là dân được Thiên Chúa là Cha của Người tuyển chọn đã tục hóa một nơi thánh nhất của họ, chứ không phải bị tục hóa bởi dân ngoại không biết gì đến Vị Thiên Chúa của họ, như đã phũ phàng và trắng trợn xẩy ra vào thời kỳ hậu lưu đầy của họ, khi họ bị ngoại bang xâm chiếm và đô hộ, đến độ quyền lực ngoại bang bấy giờ đã ra tay tàn phá và tục hóa đền thờ ấy, một biến cố lịch sử đầy nhơ nhớp được Sách Macabê quyển thứ nhất diễn thuật trong Bài Đọc 1 Thứ Hai đầu tuần này.

Việc Chúa Giêsu "xua đuổi các người buôn bán tại đó" còn mang một ngậm ý trách móc cả thành phần lãnh đạo dân Chúa bấy giờ nữa, thành phần có thẩm quyền để hướng dẫn dân Chúa theo đường lối của Thiên Chúa, theo lề luật thánh lại để xẩy ra tình trạng tục hóa công khai này, một là vì chính họ cho phép hai là vì họ cứ để cho dân chúng tha hồ tục hóa đền thờ linh thánh này, không hề ngăn cản tí nào, như thể vừa tán thành vừa đồng lõa với tội lỗi của dân.

Người biết rằng việc Người tự động "xua đuổi các người buôn bán tại đó" chắc chắn sẽ đụng chạm đến quyền bính của thành phần lãnh đạo này. Thế nhưng, vì Người đến cứu cả thành phần lãnh đạo mù quáng ấy nữa, nên Người vẫn bất chấp, họ có tỏ ra hận thù Người hơn bao giờ hết, như được Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: "Các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão trong dân tìm cách hại Người, nhưng họ không biết phải làm cách nào, vì dân chúng hết thảy đều chăm chú nghe Người".

Họ càng hận thù và tìm cách hại Người bao nhiêu thì chính họ là thành phần "không muốn" xẩy ra chuyện "phong vương" của Người càng được thành tựu, như ý nghĩa trọng dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm kia cho biết vào thời điểm Người "gần đến Giêrusalem" là nơi Người sẽ bị rơi vào tay họ như Người đã báo trước cho các môn đệ của Người về biến cố bất khả tránh này 3 lần, đúng như ý định vô cùng nhiệm mầu của Cha Người về cuộc hành trình Giêrusalem của Người là để Người được "phong vương" trên ngai tòa thập tự giá một cách danh chính ngôn thuận: "Giêsu Vua Dân Do Thái" (Luca 23:38).

Tuy nhiên, ngay lúc bấy giờ, lúc Người "xua đuổi các người buôn bán tại đó" thì họ còn sợ dân chúng, tức chưa đến giờ của người, nhờ đó, như Phúc Âm cho biết: "hằng ngày Người giảng dạy trong Ðền thờ". Và vì thế, từ ngày mai Thứ Bảy Tuần XXXIII Thường Niên cho tới hết tuần 34 Thường Niên là tuần cuối cùng của phụng niên hằng năm, chúng ta sẽ đọc thấy các bài Phúc Âm cho ngày thường trong tuần liên quan đến giáo huấn Giêrusalem của Người, những giáo huấn cuối cùng của hành trình Giêrusalem được Người công khai truyền dạy ở chính thành thánh Giêrusalem, giáo đô của Do Thái giáo, cũng là khởi điểm truyền giáo (xem Tông Vụ 1:8) ngay sau biến cố Thánh Linh Hiện Xuống của Giáo Hội được Người thiết lập.

Sự kiện Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ Giêrusalem trong Bài Phúc Âm hôm nay, với tâm tình gắn bó với Cha của mình, ở chỗ tỏ ra bảo vệ tính chất linh thánh của nơi Cha mình ngự, chẳng khác gì cảm giác được Thánh Gioan trong Bài Đọc 1 hôm nay: “miệng tôi cảm thấy ngọt ngào như mật, nhưng khi tôi đã nuốt rồi thì nó làm cho ruột gan tôi đầy cay đắng".

Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã đau lòng trước tội lỗi của dân Người mà Người phải vì yêu thương thẳng thắn lên tiếng cảnh báo dân Người, nhờ đó họ có thể trở về với Vị Thiên nChúa chân thật duy nhất của mình mà được cứu độ. Đó là lý do mới có những lời của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Con vui vì đường lối lời Ngài nghiêm huấn, dường như được mọi thứ giàu sang.

2) Vì lời nghiêm huấn của Ngài là điều con ưa thích, các thánh chỉ Ngài là những bậc cố vấn của con.

3) Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn.

4) Những lời sấm của Ngài ngon ngọt thay cho cổ họng con, ngọt hơn cả mật ong đổ miệng con.

5) Lời Ngài nghiêm huấn là sản nghiệp của con muôn đời, vì những điều đó khiến cho lòng con hoan hỉ.

6) Con há miệng để hút nguồn sinh khí, vì con ham muốn những chỉ thị của Ngài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY CN32TN-B PDF Print E-mail

HOC HÕI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺL LỜI CHÚA

Phúc Âm: Lc 18, 1-8

"Thiên Chúa sẽ minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ một dụ ngôn, dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng mà rằng:

"Trong thành kia, có một vị thẩm phán không kính sợ Thiên Chúa, cũng không kiêng nể người ta. Trong thành đó lại có một bà goá đến thưa ông ấy rằng: "Xin ông minh oan cho tôi khỏi tay kẻ thù". Trong một thời gian lâu dài, ông không chịu, nhưng sau đó ông nghĩ rằng: "Mặc dầu ta không kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng kính nể người ta, nhưng vì bà goá này cứ quấy rầy ta mãi, nên ta sẽ xử cho bà ấy, kẻo bà ấy đến mãi làm ta nhức óc".

Rồi Chúa phán: "Các con hãy nghe lời vị thẩm phán bất lương nói đó. Vậy Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người đêm ngày, mà khoan giãn với họ mãi sao? Thầy bảo các con, Chúa sẽ kíp giải oan cho họ. Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?"

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Bài Phúc Âm cho Thứ Bảy Tuần XXXII Thường Niên hôm nay liên quan đến những lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ về "một dụ ngôn dạy các ông phải cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng".

Nguyên văn dụ ngôn này như sau: "Trong thành kia, có một vị thẩm phán không kính sợ Thiên Chúa, cũng không kiêng nể người ta. Trong thành đó lại có một bà goá đến thưa ông ấy rằng: 'Xin ông minh oan cho tôi khỏi tay kẻ thù'. Trong một thời gian lâu dài, ông không chịu, nhưng sau đó ông nghĩ rằng: 'Mặc dầu ta không kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng kính nể người ta, nhưng vì bà goá này cứ quấy rầy ta mãi, nên ta sẽ xử cho bà ấy, kẻo bà ấy đến mãi làm ta nhức óc'".

Phải chăng đây là dụ ngôn liên quan đến ngày tận thế nói chung và cuộc chung thẩm nói riêng? Bởi vì, nếu tất cả mọi sự xẩy ra trên trần gian này, mà thực tế phũ phàng cho thấy, sự dữ dường như lấn át sự lành, kẻ lành bị thua kẻ mạnh. Kẻ dữ lại được may lành hơn người công chính. Người lành thường gian nan khốn khó lận đận. Kẻ cô đơn yếu thế (mà bà góa trong Bài Phúc Âm hôm nay tiêu biểu) bị đàn áp bất công. Bởi thế, nếu không có đời sau, không có vấn đề thưởng phạt công minh thì sống đức tin và tin vào Chúa thật là vô lý và vô cùng dại dột. Mất cả 2 đời.

Đó là lý do, sau khi đã nói với các môn đệ về dụ ngôn bà góa kêu oan, hay cũng có thể nói là dụ ngôn quan tòa nể xử, Chúa Giêsu đã kết thúc bằng một câu vừa để trấn an và phấn khích các môn đệ của Người vừa có tính cách cảnh báo liên quan đến ngày tận thế như sau:

"Các con hãy nghe lời vị thẩm phán bất lương nói đó. Vậy Thiên Chúa lại không minh xử cho những kẻ Người tuyển chọn hằng kêu cứu với Người đêm ngày, mà khoan giãn với họ mãi sao? Thầy bảo các con, Chúa sẽ kíp giải oan cho họ. Nhưng khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?"

Qua câu này, Chúa Giêsu chỉ có ý khuyên các môn đệ của Người, không phải chỉ cho thành phần môn đệ đang ở bên Người bấy giờ, mà cho mọi thế hệ môn đệ của Người, phải "bền đỗ đến cùng mới được cứu độ" (Mathêu 24:13). Nhất là thế hệ môn đệ cuối cùng ở vào thời tận thế, thời Người đến lần thứ hai, đến lần cuối cùng, thời điểm mà như Người cảnh báo: "không biết có còn đức tin trên thế gian này nữa hay chăng?"

Đúng thế, thời tận thế là thời kinh hoàng khủng khiếp đến độ đối với loài người về cả thể xác lẫn linh hồn của họ, như Chúa Giêsu còn thẳng thắn tiết lộ không giấu diếm như sau: "vì những ngày ấy tràn đầy những gì là thống khổ hơn bất cứ thời nào từ khi hiện hữu thế giới này... Thật vậy, nếu giai đoạn này không được rút ngắn lại thì không một ai được cứu độ..." (Mathêu 24:21-22).

Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo ở khoản 675 cũng đã phải công nhận cuộc thử thách cuối cùng Giáo Hội phải trải qua đầy nguy hiểm đến đức tin của Kitô hữu là phần tử của mình vào thời điểm trước khi Chúa Kitô đến lần thứ hai cũng là lần cuối như sau:

"Trước khi Ðức Kitô quang lâm, Hội Thánh phải trải qua một cuộc thử thách cuối cùng khiến nhiều tín hữu bị lung lạc đức tin (x. Lc 18, 8; Mt 14, 12). Những cuộc bách hại mà Hội Thánh phải chịu trong suốt cuộc lữ hành trên trần thế (x. Lc 21, 12; Ga 15, 19-20) sẽ vạch trần 'mầu nhiệm sự dữ' dưới hình thức bịp bợm tôn giáo; hình thức này chỉ đem lại cho con người một giải đáp giả tạo cho các vấn đề của họ để rồi họ phải xa rời chân lý. Sự bịp bợm tôn giáo nham hiểm nhất là sự bịp bợm của tên Phản Kitô, nghĩa là của một thuyết Mêsia giả hiệu: trong đó, con người tự tôn vinh chính mình thay vì tôn vinh Thiên Chúa và Ðấng Mêsia của Người đã đến trong xác phàm (x. 2Th 2, 4-12; 1Th 5, 2-3; 2Ga 7; 1Ga 2, 18. 22)".

Chính vì Chúa Kitô cảnh giác và tiên báo trong bài Phúc Âm hôm nay về ngày cùng tháng tận, thời điểm Người tái giáng là: “khi Con Người đến, liệu sẽ còn gặp được lòng tin trên mặt đất nữa chăng?", mà Thánh Gioan, trong Bài Đọc 1 hôm qua, chẳng những đã khuyên hãy “sống trong chân lý”, mà còn, trong Bài Đọc hôm nay, thục giục “cộng tác với những người hoạt động cho chân lý” nữa.

Thành phần “những người hoạt động cho chân lý” là ai và như thế nào, Bài Đáp Ca hôm nay đã chúc tụng họ và cho biết như sau:

1) Phúc đức thay người tôn sợ Chúa, người hết lòng ham mộ luật pháp của Ngài. Con cháu người sẽ hùng cường trong đất nước: thiên hạ sẽ chúc phúc cho dòng dõi hiền nhân.

2) Trong nhà người có tài sản phú quỳ, và lòng quảng đại người còn mãi muôn đời. Trong u tối người xuất hiện như sự sáng soi kẻ lòng ngay, người nhân hậu, từ bi và công minh.

3) Phúc đức cho người biết xót thương và cho vay, biết quản lý tài sản mình theo đức công bình. Cho tới đời đời người sẽ không nao núng: người hiền đức sẽ được ghi nhớ muôn đời.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU NAM CN32TN-B PDF Print E-mail

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Thứ Năm - CN 32TN-B

Bài Ðọc I: (Năm II) Plm 7-20

"Xin anh tiếp nhận nó không phải như một người nô lệ, nhưng như một người anh em rất thân mến".

Anh thân mến, tôi rất đỗi vui mừng và an ủi, vì lòng bác ái của anh, vì hỡi anh, nhờ anh mà tâm hồn các thánh được hài lòng.

Bởi đó, dầu trong Ðức Giêsu Kitô, tôi có đủ quyền để truyền cho anh điều phải lẽ, nhưng tôi thà nại vào đức bác ái mà nài xin anh thì hơn, vì anh cũng như tôi. Phaolô già nua, và hiện đang bị cầm tù vì Ðức Giêsu Kitô, tôi nài xin anh cho Ônêsimô, đứa con tôi đã sinh ra trong xiềng xích. Xưa kia nó là người vô ích cho anh, nhưng hiện nay, nó lại hữu ích cho cả anh và tôi nữa, tôi trao lại cho anh. Phần anh, anh hãy đón nhận nó như ruột thịt của tôi.

Tôi cũng muốn giữ nó lại để thay anh mà giúp đỡ tôi trong lúc tôi bị xiềng xích vì Tin Mừng. Nhưng vì chưa biết ý anh, nên tôi không muốn làm gì, để việc nghĩa anh làm là một việc tự ý, chứ không vì ép buộc. Vì biết đâu nó xa anh một thời gian để rồi anh sẽ tiếp nhận nó muôn đời, không phải như một người nô lệ, nhưng thay vì nô lệ, thì như một người anh em rất thân mến, đặc biệt đối với tôi, huống chi là đối với anh, về phần xác cũng như trong Chúa.

Vậy nếu anh nhận tôi là bạn hữu, thì xin anh hãy đón nhận nó như chính mình tôi vậy. Nếu nó đã làm thiệt hại cho anh điều gì, hay mắc nợ anh, xin anh hãy tính vào sổ của tôi. Chính tôi là Phaolô đây, tôi tự tay viết là tôi sẽ thanh toán, trừ phi tôi kể ra cho anh hay rằng chính anh mắc món nợ với tôi. Hỡi anh, thật thế. Nhờ anh tôi sẽ được hân hoan trong Chúa: anh hãy làm cho tôi được thoả lòng trong Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 145, 7. 8-9a. 9bc-10

Ðáp: Phúc thay con người được Thiên Chúa nhà Giacóp phù trợ (c. 5a).

Xướng: 1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội. - Ðáp.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù, Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân, Thiên Chúa che chở những khách kiều cư. - Ðáp.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Ðức Thiên Chúa của người sẽ làm vua tự đời này sang đời khác. - Ðáp.

Alleluia: 2 Tx 2, 14

Alleluia, alleluia! - Thiên Chúa đã dùng Tin Mừng mà kêu gọi chúng ta, để chúng ta được chiếm lấy vinh quang của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 17, 20-25

"Nước Thiên Chúa ở giữa các ông".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, những người biệt phái hỏi Chúa Giêsu "Khi nào nước Thiên Chúa đến", thì Người đáp lại rằng: "Nước Thiên Chúa không đến để cho người ta quan sát, và người ta sẽ không nói được: "Này nước trời ở đây hay ở kia". Vì nước Thiên Chúa ở giữa các ông". Chúa lại phán cùng các môn đệ rằng: "Sẽ có ngày các con ước ao thấy được một ngày của Con Người mà không được thấy. Người ta sẽ bảo các con: "Này Người ở đây và này Người ở kia", các con chớ đi đến và đừng tìm kiếm. Vì như chớp sáng loè từ chân trời này đến phương trời kia thế nào, thì Con Người cũng sẽ đến trong ngày của Người như vậy. Nhưng tiên vàn Người phải chịu đau khổ nhiều, và bị dòng dõi này xua đuổi".

Ðó là lời Chúa.

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Năm Tuần XXXII Thường Niên, thuật lại cho chúng ta lời Chúa Giêsu trả lời cho "những người biệt phái hỏi Chúa Giêsu 'Khi nào nước Thiên Chúa đến'".

Trong khi câu hỏi liên quan đến thời điểm "khi nào Nước Thiên Chúa đến", câu trả lời của Chúa Giêsu lại nói đến địa điểm hay nơi chốn "Nước Chúa đến" như thế này: "Nước Thiên Chúa không đến để cho người ta quan sát, và người ta sẽ không nói được: 'Này nước trời ở đây hay ở kia'. Vì nước Thiên Chúa ở giữa các ông".

Ở đây, qua câu trả lời này, Chúa Giêsu dường như muốn xác định bản chất của Nước Thiên Chúa, để rồi, nếu biết được thực chất của Nước Thiên Chúa là gì và như thế nào thì sẽ biết Nước Thiên Chúa này địa điểm ở đâu và thời điểm bao giờ đến. Đó là lý do ngay khi bắt đầu trả lời Người đã minh định: "Nước Thiên Chúa không đến để cho người ta quan sát".

Lời đầu tiên trong câu trả lời này của Chúa Giêsu như thể Người muốn nói rằng Nước Thiên Chúa là một thực tại vô hình, chứ không phải hữu hình, là một thực tại thần linh chứ không phải trần thế. Và chính vì thế, vì bản chất thiêng liêng và thần linh của một thực tại như thế mới có thể xẩy ra chuyện "nước Thiên Chúa ở giữa các ông".

Chúa Giêsu như muốn nói với hay muốn nhắn nhủ những người biệt phái hỏi người bấy giờ rằng: quí vị khỏi tìm đâu xa mất công, chỉ cần có được một nhận thức đức tin siêu nhiên là sẽ thấy Nước Trời ở ngay giữa quí vị, không cần phải tìm ở đâu xa xôi, và vì thế, Nước Trời lúc nào cũng hiện hữu ở giữa quí vị, không cần phải chờ đợi làm chi.

Đúng thế, nếu "ở đâu có hai ba người hợp lại vì danh Thày thì Thày ở giữa họ" (Mathêu 18:20), thì Nước Trời đây không phải là chính Chúa Kitô hay sao? Bởi thế, khi trả lời cho những người biệt phái hỏi Người về thời điểm khi nào Nước Trời đến thì thay vì Người trả lời là Nước Trời đã đến rồi (xem Marcô 1:15) Người lại trả lời về địa điểm của Nước Trời, vì ngay lúc bấy giờ Người chính là Nước Trời đang ở trước mặt họ và đang ở giữa họ, một Nước Trời đã đến với họ và ở cùng họ mà họ không nhận ra, chưa nhận thấy, dù Người luôn tỏ mình ra cho họ.

Vì Nước Trời chính là Chúa Kitô mà ngay sau khi trả lời cho những người biệt phái hỏi Người về Nước Trời bấy giờ, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ về chính bản thân Người như sau:

"Sẽ có ngày các con ước ao thấy được một ngày của Con Người mà không được thấy. Người ta sẽ bảo các con: 'Này Người ở đây và này Người ở kia', các con chớ đi đến và đừng tìm kiếm. Vì như chớp sáng loè từ chân trời này đến phương trời kia thế nào, thì Con Người cũng sẽ đến trong ngày của Người như vậy. Nhưng tiên vàn Người phải chịu đau khổ nhiều, và bị dòng dõi này xua đuổi".

Qua câu căn dặn có tính cách cảnh báo này, Chúa Giêsu như muốn nói với các môn đệ của Người rằng: các con không thể nào hiểu được Thày đâu, chính vì thế mà "các con ước ao thấy được một ngày của Con Người mà không được thấy", vì "nơi Thày đi các con không thể đến được" (Gioan 13:33).

Thày là Đấng không phải như những gì người ta tưởng đâu các con à, đừng có mà nghe theo óc tưởng tượng giả tạo của họ: "Người ta sẽ bảo các con: 'Này Người ở đây và này Người ở kia', các con chớ đi đến và đừng tìm kiếm". Các con chỉ có thể nhận biết Thày thực sự là ai khi Thày "bị treo lên" (Gioan 8:28), nghĩa là chỉ sau khi "Thày đi để dọn chỗ cho các con" trên thập tự giá "để Thày ở đâu các con cũng được ở đó với Thày" (xem Gioan 14:3): "Người phải chịu đau khổ nhiều, và bị dòng dõi này xua đuổi".

Thế nhưng, con đường tử nạn tràn đầy sự dữ và tận cùng sự dữ này của Chúa Kitô mới thật sự chứng tỏ sự khôn ngoan vô cùng và bất diệt của Thiên Chúa trong việc Ngài nhờ đó mới được dịp và có thể tỏ hết bản tính toàn thiện vô cùng từ bi thương xót của Ngài ra như Ngài là cho nhân loại nhận biết mà được cứu độ, mà được hiệp thông thần linh với Ngài.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Kitô đã chỉ cho “những người biệt phái hỏi Chúa Giêsu ‘Khi nào nước Thiên Chúa đến’” rằng "Nước Thiên Chúa không đến để cho người ta quan sát, và người ta sẽ không nói được: ‘Này nước trời ở đây hay ở kia’. Vì nước Thiên Chúa ở giữa các ông". Trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thánh Phaolô cũng chỉ cho Philêmon nước trời ở giữa ông ấy và người nô lệ được ngài đề cập đến với ông ấy, đó là lòng bác ái yêu thương, một việc làm tỏ ra Thiên Chúa là tình yêu ở nơi ông ấy:

“Tôi rất đỗi vui mừng và an ủi, vì lòng bác ái của anh... Bởi thế, dầu trong Ðức Giêsu Kitô, tôi có đủ quyền để truyền cho anh điều phải lẽ, nhưng tôi thà nại vào đức bác ái mà nài xin anh thì hơn, vì anh cũng như tôi. Phaolô già nua, và hiện đang bị cầm tù vì Ðức Giêsu Kitô, tôi nài xin anh cho Ônêsimô, đứa con tôi đã sinh ra trong xiềng xích. Xưa kia nó là người vô ích cho anh, nhưng hiện nay, nó lại hữu ích cho cả anh và tôi nữa, tôi trao lại cho anh. Phần anh, anh hãy đón nhận nó như ruột thịt của tôi... Vì biết đâu nó xa anh một thời gian để rồi anh sẽ tiếp nhận nó muôn đời, không phải như một người nô lệ, nhưng thay vì nô lệ, thì như một người anh em rất thân mến, đặc biệt đối với tôi, huống chi là đối với anh, về phần xác cũng như trong Chúa”.

Nếu việc bác ái yêu thương là việc của Chúa, hay nói cách khác, việc Chúa tỏ mình ra nơi những con người sống bác ái yêu thương, như Nước Trời ở giữa loài người, thì quả thực, qua việc Thánh Phaolô can thiệp cho một người nô lệ chứng tỏ những gì được Bài Đáp Ca hôm nay nhận định, xác tín và tuyên xưng:

1) Thiên Chúa trả lại quyền lợi cho người bị áp bức, và ban cho những kẻ đói được cơm ăn. Thiên Chúa cứu gỡ những người tù tội.

2) Thiên Chúa mở mắt những kẻ đui mù, Thiên Chúa giải thoát những kẻ bị khòm lưng khuất phục, Thiên Chúa yêu quý các bậc hiền nhân, Thiên Chúa che chở những khách kiều cư.

3) Thiên Chúa nâng đỡ những người mồ côi quả phụ, và làm rối loạn đường nẻo đứa ác nhân. Thiên Chúa sẽ làm vua tới muôn đời. Sion hỡi, Ðức Thiên Chúa của người sẽ làm vua tự đời này sang đời khác.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU NAM CN31TN-B PDF Print E-mail

Tinh Cao

Thứ Năm 07/11/2018

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: (Năm II) Pl 3, 3-8

"Những điều xưa kia được kể là lợi ích cho tôi, thì nay tôi coi là bất lợi vì Ðức Kitô".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.

Anh em thân mến, chính chúng ta là những người chịu cắt bì, chúng ta phụng thờ Thiên Chúa theo thần trí, và khoe mình trong Ðức Giêsu Kitô, chứ không tin tưởng vào xác thịt, mặc dầu chính tôi cũng có thể ỷ lại vào xác thịt. Nếu có ai khác nghĩ mình có lý để ỷ lại vào xác thịt, thì tôi còn có lý hơn: tôi đã chịu cắt bì từ ngày thứ tám, là người chủng tộc Israel, thuộc chi họ Bengiamin, là người Do-thái sinh bởi người Do-thái, là người biệt phái chiếu theo lề luật. Bởi lòng đạo đức nhiệt thành, tôi đã bách hại Hội Thánh Thiên Chúa, chiếu theo đức công chính do lề luật công bố, tôi được coi là người không có gì đáng trách.

Nhưng những điều xưa kia được kể là ích lợi cho tôi, thì nay vì Ðức Kitô tôi coi là bất lợi. Vả lại tôi coi tất cả mọi sự như thua thiệt trước cái lợi tuyệt vời là được biết Ðức Giêsu Kitô, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự, và coi là phân bón cả, để lợi được Ðức Kitô.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 104, 2-3. 4-5. 6-7

Ðáp: Tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui (c. 3b).

Xướng: 1) Hãy ca tụng Chúa, hãy hoan hô danh Người, hãy kể ra sự nghiệp Chúa ở giữa chư dân. Hãy xướng ca, đàn hát mừng Người, hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa. - Ðáp.

2) Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. Hãy nhớ lại những điều kỳ diệu Chúa đã làm, những phép lạ và những điều Ngài phán quyết. - Ðáp.

3) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Người, hỡi con cháu Giacóp, những kẻ được Người kén chọn, chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Người bao trùm khắp cả địa cầu. - Ðáp.

Alleluia: 2 Cr 5, 19

Alleluia, alleluia! - Thiên Chúa ở trong Ðức Kitô đã giải hoà thế gian, để chúng ta nghe lời của Con Chúa. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 15, 1-10

"Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người Biệt phái và Luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: "Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: "Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!" Cũng vậy tôi bảo các ông: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải.

"Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: "Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất". Cũng vậy, tôi bảo các ông: Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".

Ðó là lời Chúa.

Chia sẻ Lời Chúa:

Thứ Năm Tuần XXXI Thường Niên hôm nay Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca bắt đầu 10 câu đầu của đoạn 15, một đoạn từ đầu đến cuối hoàn toàn về Lòng Thương Xót Chúa, bao gồm 3 dụ ngôn, 2 ngắn đầu và 1 dài cuối.

Sở dĩ Chúa Giêsu phải nói đến 3 dụ ngôn về Lòng Thương Xót Chúa ấy, là vì, như đầu Bài Phúc Âm hôm nay cho biết: "Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người Biệt phái và Luật sĩ lẩm bẩm rằng: 'Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng'".

Để đáp lại thái độ có vẻ kỳ thị và khinh người của nhóm biệt phái tự cho mình là công chính bấy giờ, Chúa Giêsu đã cho họ biết đâu là tinh thần họ phải có đối với tội nhân, đối với thành phần bị họ cho là "những kẻ tội lỗi", bằng 3 dụ ngôn về Lòng Thương Xót Chúa liền. Và Hai dụ ngôn ngắn về Lòng Thương Xót Chúa trong Bài Phúc Âm hôm nay ấy như sau:

"Ai trong các ông có một trăm con chiên, và nếu mất một con, lại không để chín mươi chín con khác trong hoang địa mà đi tìm con chiên lạc, cho đến khi tìm được sao? Và khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: 'Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!' Cũng vậy tôi bảo các ông: Trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải".

"Hay là người đàn bà nào có mười đồng bạc, nếu mất một đồng, mà lại không đốt đèn, quét nhà và tìm kỹ lưỡng cho đến khi tìm thấy sao? Và khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: 'Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất'. Cũng vậy, tôi bảo các ông: Các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải".

Hai dụ ngôn trên đây, một dụ ngôn về con chiên lạc, đúng hơn về việc tìm kiếm con chiên lạc, và dụ ngôn về đồng bạc bị thất lạc, đúng hơn về việc tìm kiếm đồng bạc bị thất lạc, đều cho thấy Lòng Thương Xót Chúa yêu thương và lưu ý đền từng người, yêu thương cho tới cùng, hoàn toàn không bỏ mất một ai, không bỏ mất một sự gì, dù nhỏ mọn mấy chăng nữa.

Hơn thế nữa, cả hai dụ ngôn này thậm chí còn cho thấy thái độ của các vị chủ nhân sau khi tìm thấy con chiên lạc hay đồng bạc bị mất nữa, ở chỗ các vị chẳng những không trút cơn giận dữ xuống trên đầu trên cổ con chiên lạc hay đồng bạc bị mất là những gì làm cho các vị chủ nhân của chúng đã mất giờ tìm kiếm và hết sức vất vả kiếm tìm, trái lại, cả hai còn tỏ ra hết sức hân hoan vui sướng nữa:

"Khi đã tìm thấy, người đó vui mừng vác chiên trên vai, trở về nhà, kêu bạn hữu và những người lân cận mà nói rằng: 'Anh em hãy chia vui với tôi, vì tôi đã tìm thấy con chiên lạc!'... khi đã tìm thấy, bà mời các chị em bạn và những người láng giềng đến mà rằng: 'Chị em hãy vui mừng với tôi, vì tôi đã tìm được đồng bạc tôi đã mất'".

Nếu "trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi hối cải hơn là vì chín mươi chín người công chính không cần hối cải", thì dụ ngôn về nhân vật tìm kiếm con chiên lạc đây ám chỉ chính Vị Thiên Chúa đã hóa thân làm người nơi Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã "đến để tìm kiếm và cứu vớt những gì hư hoại" (Luca 19:10) bằng mầu nhiệm nhập thể và vượt qua của Người.

Và con chiên lạc và đồng bạc thất lạc đây ám chỉ chẳng những chung loài người sa ngã phạm tội (99 con chiên không lạc được bỏ lại một nơi để đi tìm con chiên lạc có thể hiểu là ám chỉ các thiên thần vì liên quan đến hình ảnh "trên trời sẽ vui mừng... " sau khi con chiên lạc được tìm thấy, hay "các thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng..." sau khi kiếm được đồng bạc thất lạc), mà còn ám chỉ đến từng cá nhân ("một người tội lỗi hối cải" được lập lại 2 lần như nhau ở cuối 2 dụ ngôn) vướng mắc nguyên tội luôn chiều theo xác thịt, thế gian và ma quỉ.

Thật ra, lời Chúa Giêsu nói trong 2 dụ ngôn về Lòng Thương Xót Chúa này ám chỉ thành phần "những người Biệt phái và Luật sĩ lẩm bẩm rằng: 'Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi, cùng ngồi ăn uống với chúng'", thành phần tự cho mình là công chính và tỏ ra khinh bỉ người khác, nhất là "những kẻ tội lỗi" (điển hình nhất là những nam nhân thu thuế và những nữ nhân đĩ điếm trong dân chúng), nhưng lại là thành phần bị Chúa Giêsu nghiêm trách hơn ai hết về tính chất giả hình của họ. Họ mới là những con chiên lạc, như người con cả ở gần cha, tưởng mình không làm mất lòng cha, tức là đã sống "công chính không cần hối cải", mà lại xa cha hơn đứa em hoang đàng của mình, người con xa cha mà lại thấu hiểu cha hơn anh, đến độ đã tin tưởng mà trở về với cha (xem Phúc Âm Thánh Luca ngày mai Thứ Sáu Tuần XXXI).

Phải chăng ngầm ý của Chúa Giêsu ám chỉ thành phần "những người Biệt phái và Luật sĩ" này mà một trong những trường hợp điển hình nhất về con chiên lạc và đồng tiền thất lạc đó là vị tông đồ dân ngoại ở Bài Đọc 1 hôm nay, một con người lầm lạc hoàn toàn vì ngay lành hơn là ác ý, như ngài tự thú trong cùng bài đọc rằng: “Bởi lòng đạo đức nhiệt thành, tôi đã bách hại Hội Thánh Thiên Chúa, chiếu theo đức công chính do lề luật công bố, tôi được coi là người không có gì đáng trách”.

Để rồi, một khi đã được lòng thương xót Chúa tìm về, và chính vì cảm nghiệm thấy được lòng thương xót Chúa như thế, mà tất cả những con chiên lạc một thời ấy, mới có thể có được một tâm tình tuyệt vời như Thánh Phaolô trong Bài Đọc 1 hôm nay:

“Nhưng những điều xưa kia được kể là ích lợi cho tôi, thì nay vì Ðức Kitô tôi coi là bất lợi. Vả lại tôi coi tất cả mọi sự như thua thiệt trước cái lợi tuyệt vời là được biết Ðức Giêsu Kitô, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự, và coi là phân bón cả, để lợi được Ðức Kitô”.

Tâm tình của Thánh Phaolô đã một thời lầm lạc một cách ngay lành ấy rất thích hợp với những lời Đáp Ca hôm nay:

1) Hãy ca tụng Chúa, hãy hoan hô danh Người, hãy kể ra sự nghiệp Chúa ở giữa chư dân. Hãy xướng ca, đàn hát mừng Người, hãy tường thuật mọi điều kỳ diệu của Chúa.

2) Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. Hãy nhớ lại những điều kỳ diệu Chúa đã làm, những phép lạ và những điều Ngài phán quyết.

3) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Người, hỡi con cháu Giacóp, những kẻ được Người kén chọn, chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Người bao trùm khắp cả địa cầu.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 158