mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5400
mod_vvisit_counterHôm Qua11016
mod_vvisit_counterTuần Này27306
mod_vvisit_counterTuần Trước57635
mod_vvisit_counterTháng Này196011
mod_vvisit_counterTháng Trước256467
mod_vvisit_counterTất cả13566188

We have: 71 guests online
Your IP: 54.227.76.35
 , 
Today: May 21, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - TẠI SAO NGƯỜI CG ĂN CHAY? PDF Print E-mail

TẠI SAO NGƯỜI CÔNG GIÁO PHẢI ĂN CHAY?

Chúng tôi đã trải qua một cuối tuần ướt át lê thê ở giữa rừng. Và bây giờ, buổi sáng Chúa nhật, người lớn báo cho biết bữa sáng sẽ được hoãn lại để những người Công giáo có thể giữ chay rước Lễ. Cậu ấy là một trong các trại viên với nét mặt không được vui lắm.

Thắc mắc của cậu ta hiện lên trong trí khi Mùa Chay lại bắt đầu, vì ăn chay là việc thực hành đặc trưng nhất của mùa này. Trong hai ngày Mùa Chay, Thứ Tư Lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh, người Công giáo hạn chế việc ăn uống để không ăn no và kiêng thịt. Vào tất cả các ngày Thứ Sáu trong Mùa Chay họ kiêng thịt.

Tại sao người Công giáo ăn chay? Các lý do có nền tảng chắc chắn trong Kinh Thánh không?

Khi ăn chay, ta noi theo tấm gương thánh thiện. Môsê và Êlia đã ăn chay bốn mươi ngày trước khi đến trước nhan Thánh Chúa (Xh 34:28, 1 V 19: 8). Bà tiên tri Anna đã ăn chay để dọn mình đón Đấng Mêsi đến (Lc 2:37). Tất cả họ đều muốn nhìn thấy Thiên Chúa và xem việc ăn chay là một điều kiện tiên quyết cơ bản. Chúng ta cũng muốn Chúa hiện diện, vì vậy chúng ta ăn chay.

Chúa Giêsu đã ăn chay (Mt 4: 2). Vì Ngài không cần phải thanh tịnh, nên chắc chắn Ngài đã làm điều này cốt để làm gương cho chúng ta. Thật vậy, Ngài cho rằng tất cả các Kitô hữu sẽ theo gương mình. Ngài nói: "Còn khi ăn chay, anh em chớ làm bộ rầu rĩ như bọn đạo đức giả: chúng làm cho ra vẻ thiểu não, để thiên hạ thấy là chúng ăn chay." (Mt 6:16). Lưu ý Ngài đã không nói “NẾU anh em ăn chay", nhưng "khi ".

Và KHI bây giờ, vào Mùa Chay, Giáo Hội mở rộng ý tưởng của việc ăn chay, ngoài việc nhỏ bỏ qua các bữa ăn đến một chương trình vươn xa hơn là tự bỏ chính mình. Chúa Giêsu nói: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. " (Lc 9:23). Vì vậy, ta "bỏ" điều gì đó mà ta thường ưa thích: kẹo, nước ngọt, một chương trình truyền hình yêu thích hoặc ngủ nướng thêm.

Ăn chay có lợi cho sức khỏe, nhưng không giống như ăn kiêng. Ăn chay là điều gì đó thiêng liêng và tích cực hơn nhiều. Ăn chay là một bữa tiệc thiêng liêng. Chay tịnh cần cho linh hồn giống như thể xác cần có của ăn.

Kinh Thánh giải thích rõ ràng những lợi ích tinh thần cụ thể của việc ăn chay. Chay tịnh mang lại sự khiêm nhường (Tv 69:10). Chay tịnh tỏ lộ sự đau buồn vì tội lỗi của ta (1 Sm 7: 6). Chay tịnh dọn đường đến với Chúa (Đn 9: 3). Chay tịnh là phương thế để nhận biết ý Chúa (Er 8:21) và là một phương pháp cầu nguyện rất hữu hiệu (08:23). Đó là dấu chỉ sự hoán cải đích thực (Ge 2:12).

Ăn chay giúp ta dứt bỏ những gì thuộc trần gian này. Chúng ta ăn chay không phải vì những thứ trần tục xấu xa, nhưng chính vì chúng tốt đẹp. Chúng là quà tặng của Thiên Chúa ban cho chúng ta. Nhưng chúng tốt đẹp đến độ đôi khi ta thích những món quà này hơn cả Đấng đã ban cho. Ta hóa ra đam mê lạc thú hơn là từ bỏ chính mình. Ta thường hay ăn uống đến độ quên cả Chúa. Những đam mê như vậy thực ra là một hình thức sung bái ngẫu tượng. Điều mà Thánh Phaolô có ý khi ngài nói, "Chúa họ thờ là cái bụng ... những người chỉ nghĩ đến những sự thế gian. " (Pl 3:19).

Làm sao chúng ta có thể hưởng những ân ban của Thiên Chúa mà không quên Đấng ban cho? Ăn chay là cách bắt đầu thích hợp. Thân xác muốn nhiều hơn nó cần, vì vậy chúng ta nên cho nó ít hơn nó muốn.

Thánh Gioan Thánh Giá nói rằng chúng ta không thể nâng tâm hồn lên với Chúa, nếu ta bị ràng buộc vào những thứ thuộc trần gian này. Vì vậy, chúng ta bỏ những thứ thoải mái, dễ chịu và dần dần chúng ta không còn bị phụ thuộc nhiều vào chúng, không còn thấy quá cần thiết nữa.

Tất cả điều này là một phần chuẩn bị của chúng ta cho Nước Trời. Vì dù sao ta cũng phải đi đến chỗ mất những thứ tốt đẹp ở trần gian. Thời gian, tuổi tác, bệnh tật và "các chỉ định của bác sĩ" có thể không cho thưởng thức mùi vị của kẹo sôcôla, ly bia lạnh và thậm chí cả những vòng tay thân mật từ người thân yêu của mình nữa. Nếu ta không kiêng bớt các ước muốn của mình thì những mất mát này sẽ để cho ta những cay đắng và xa cách Thiên Chúa. Nhưng nếu chúng ta theo Chúa Giêsu từ bỏ chính mình, chúng ta sẽ tìm được sự yên ủi thường xuyên hơn trong sự tốt lành tối hậu – là chính Thiên Chúa.

Làm sao mà một số người vẫn có thể thanh thản và tươi vui trong bối cảnh hết sức đau khổ và cả khi phải đối mặt với cái chết sắp xảy ra? Điều ấy không phải chỉ là vấn đề của tính tình. Họ đã chuẩn bị bản thân cho lúc phải bỏ những thứ của trần gian này, mỗi lần một chút. Họ đã quen dần với sự hy sinh nhỏ bé để rồi sự hy sinh lớn không còn quá sức nữa.

Không ai nói ăn chay là dễ. Thực vậy, Cha Thomas Acklin dòng Biển Đức, tác giả quyển The Passion of the Lamb: God’s Love Poured Out in Jesus, nói: “Ăn chay dường như là rất khó, và có vẻ như nếu không ăn tôi sẽ thành suy nhược, sẽ không làm việc được nữa, hoặc không thể cầu nguyện hay làm bất cứ điều gì khác.”

Ngài nói thêm: "Tuy nhiên, có khoảnh khắc tuyệt diệu, khi sau một ít giờ trôi qua, dạ dày của tôi không còn cồn cào và thậm chí tôi quên đi những gì mình đã bỏ qua, khi ấy có cảm giác nhẹ nhàng, tự do, sáng tỏ, thái độ và cảm nhận minh mẫn, một sự gần gũi với Chúa không thể so sánh được. "

Mùa Chay là một dịp đặc biệt, nhưng Chúa muốn bốn mươi ngày ấy có một ảnh hưởng lâu dài trong cuộc sống chúng ta. Vì vậy, trong một nghĩa nào đó, ăn chay cần được giữ mãi. Cha Rene Schatteman, một tuyên úy của Opus Dei ở Pittsburgh, nói rằng ngài đã tiếp thu được bài học này trực tiếp từ một vị thánh. "Tôi đã học được từ Thánh Josemaria Escriva, người mà đích thân tôi có vinh dự được biết, một người đã thực hiện các hy sinh nhỏ bé ở mỗi bữa ăn, luôn luôn như vậy, không chỉ trong Mùa Chay."

Cha Schatteman nhấn mạnh tầm quan trọng của những điều nhỏ nhặt, và ảnh hưởng lớn mà chúng có thể mang lại: "Tất cả chúng ta nên cảm thấy cần phải giúp Chúa Kitô cứu chuộc thế giới bằng việc thực hành từ bỏ chính mình mỗi ngày, việc ăn uống bình thường ... để bỏ đi một chút, hoặc một chút ít thứ chúng ta thích nhất, tránh ăn giữa các bữa, bỏ qua bữa ăn nhẹ hoặc món tráng miệng, vân vân ... mà không làm cho nó lớn chuyện. "

Một doanh nhân ở Pittsburgh (yêu cầu giấu tên) nói với tôi về việc thực hành ăn chay của ông vào các ngày thứ Sáu trong thời gian dài, "nhịn ăn 12 - 15 giờ, chỉ uống nước." Ông nói, tuy nhiên, điều này có thể khó thực hiện, không phải vì đói, nhưng vì nó có thể gây trở ngại cho cuộc sống gia đình. "Thật khó để ngồi vào bàn ăn ở gia đình mà không ăn. Chuyện cưỡng lại sự cám dỗ của món ăn không thành vấn đề lắm. Tôi luôn cảm thấy như mình đang bị mất đi những giây phút gần gũi thân tình. Việc ăn chay của tôi thực sự làm mình cảm thấy ích kỷ, như tôi đang lấy đi cái gì đó khỏi thời gian gia đình mình giữa những bữa ăn gần gũi với nhau.”

Từ khi ấy ông đã sửa đổi việc ăn chay của mình, "không thực hiện vào bữa tối của gia đình."

Tại sao người Công giáo ăn chay? Doanh nhân giấu tên ấy diễn tả điều này thật hay: "Nó là phương thuốc cho vấn đề lớn nhất của tôi là ích kỷ và thiếu tự chủ. Để buộc bản thân mình kiềm chế thèm ăn, chứ không phải để thỏa mãn mong muốn của mình ngay cả chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, đấy là cách giữ chay tốt lành. Để dâng một chút hy sinh cho Chúa, cho gia đình mình, cho những người đang đói mà không có sự lựa chọn nào cho riêng họ, điều này tôi nghĩ cũng có ích. "

Ba dấu chỉ đặc trưng của Mùa Chay: Cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái.

Tác giả : Jos. Lê Công Thượng (chuyển ngữ từ catholiceducation.org)

------------------------------------

 
HOC HỎI ĐÊ SỐNG ĐẠO - THỨ HAI -CN4MC-C PDF Print E-mail
 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - CN4MC-C PDF Print E-mail

Chúa Nhật 4 MC -C

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: Gs 5, 9a. 10-12

"Dân Chúa tiến vào đất Chúa hứa và mừng Lễ Vượt Qua".

Trích sách Giosuê.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Giosuê rằng: "Hôm nay, Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!" Con cái Israel tạm trú tại Galgali và mừng Lễ Vượt Qua vào ban chiều ngày mười bốn trong tháng, trên cánh đồng Giêricô. Ngày hôm sau Lễ Vượt Qua, họ ăn các thức ăn địa phương, bánh không men và lúa mạch gặt năm ấy. Từ khi họ ăn các thức ăn địa phương, thì không có manna nữa. Và con cái Israel không còn ăn manna nữa, nhưng họ ăn thổ sản năm đó của xứ Canaan.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 33, 2-3. 4-5. 6-7

Ðáp: Các bạn hãy nếm thử và hãy nhìn coi, cho biết Chúa thiện hảo nhường bao (c. 9a).

Xướng: 1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui. - Ðáp.

2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ. - Ðáp.

3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn. - Ðáp.

Bài Ðọc II: 2 Cr 5, 17-21

"Thiên Chúa đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, nếu ai ở trong Ðức Kitô, thì người đó sẽ là một thụ tạo mới, những gì là cũ đã qua đi: này đây tất cả mọi sự đã trở thành mới. Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà. Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Lc 15, 18

Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha.

Phúc Âm: Lc 15, 1-3. 11-32

"Em con đã chết nay sống lại".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, những người thu thuế và những kẻ tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng; thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này: "Người kia có hai con trai. Ðứa em thưa với cha rằng: "Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con". Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả của mình, trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của thì vừa gặp nạn đói lớn trong miền đó, và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ cặn bã heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó hồi tâm lại và tự nhủ: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói. Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi và thưa người rằng: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha". Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu... Người con trai lúc đó thưa rằng: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa". Nhưng người cha bảo đầy tớ: "Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu, hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng: vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất, nay lại tìm thấy". Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình.

"Người con cả đang ở ngoài đồng. Khi về gần đến nhà, nghe tiếng đàn hát và nhảy múa, anh gọi một tên đầy tớ để hỏi xem có chuyện gì. Tên đầy tớ nói: "Ðó là em cậu đã trở về, và cha cậu đã giết bê béo, vì thấy cậu ấy về mạnh khoẻ". Anh liền nổi giận và quyết định không vào nhà. Cha anh ra xin anh vào. Nhưng anh trả lời: "Cha coi, đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn. Còn thằng con của cha kia, sau khi phung phí hết tài sản của cha với bọn đàng điếm, nay trở về thì cha lại sai làm thịt bê béo ăn mừng nó". Nhưng người cha bảo: "Hỡi con, con luôn ở với cha, và mọi sự của cha đều là của con. Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy".

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm/ SỐNG VÀ CHIA SẺ

Hành trình Mùa Chay 40 ngày bắt đầu tiến tới tuần lễ Thứ Tư, với Chúa Nhật hôm nay đây. Và phụng vụ lời Chúa cho Chúa Nhật Thứ Tư Mùa Chay hôm nay dường như có tính cách hân hoan vui vẻ hẳn lên, không còn những gì là âu sầu buồn bã theo chiều hướng của Mùa Chay nữa.

Thật vậy, ngay trong Bài Đọc 1, luồng gió tươi mát và nắng hồng của mùa xuân như thổi vào mùa đông và làm ấm áp mùa đông hẳn lên. Ở chỗ, cuộc hành trình 40 năm vô cùng cực khổ và quá dài trong sa mạc khô cằn đầy những gian nan thử thách khôn lường cho một dân tộc đông cả trên 2 triệu con người (xem Xuất Hành 12:37), sau khi ra khỏi Ai Cập và vượt qua Biển Đỏ cùng Sông Jordan, dân Do Thái cuối cùng đã tiến tới đích điểm của mình là chính mảnh Đất Hứa.

Mảnh đất tiền định này đã được Thiên Chúa hứa với tổ phụ Abraham của dân Do Thái (xem Khởi Nguyên 15:18-21). Ngài còn lập lại lời hứa này với con ông là Isaac (xem Khởi Nguyên 26:3) cũng như với cháu ông là Giacóp (xem Khởi Nguyên 28:13). Đất Hứa này là nơi chính Thiên Chúa cũng đã dẫn vị tổ phụ đầu tiên này của dân Do Thái đến đó ở trước (xem Khởi Nguyên 12:7 và 15:7), cho tới khi nạn đói xẩy ra khắp vùng, khiến tổ phụ Giacóp cùng con cháu tất cả là 70 người kéo nhau sang Ai Cập (xem Khởi Nguyên đoạn 46), ở đó suốt một thời gian 430 năm (xem Xuất Hành 12:40).

Khi vào được Đất Hứa, đối với dân Do Thái, trước hết, là như vào được miền đất hoàn toàn tự do, miền đầt thuộc về họ, miền đất do chính họ làm chủ, khác hẳn với miền đất Ai Cập mà họ đã từng sống như nô lệ và thật sự là làm nô lệ trong thời điểm trước khi ra đi 40 năm trước, bởi thế, ngay đầu Bài Đọc 1: "Chúa phán cùng Giosuê rằng: 'Hôm nay, Ta đã cất sự dơ nhớp của Ai-cập khỏi các ngươi!'"

Khi dân Do Thái ra khỏi đất Ai Cập vào thời điểm làm nên chính Lễ Vượt Qua đầu tiên của họ thế nào, ngày 14 Tháng Giêng theo niên lịch của dân tộc này, thì khi vào tới Đất Hứa họ cũng ở vào thời điểm Lễ Vượt Qua ban đầu như vậy, một biến cố quan trọng nhất trong lịch sử cứu độ của họ mà họ lần đầu tiên cử hành tại chính Đất Hứa, như Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại: "Con cái Israel tạm trú tại Galgali và mừng Lễ Vượt Qua vào ban chiều ngày mười bốn trong tháng, trên cánh đồng Giêricô".

Tuy đã vào được Đất Hứa, nhưng dân Do Thái chỉ bắt đầu sinh sống tự lập như một dân tộc ở địa phương mới này sau Lễ Vượt Qua đầu tiên của họ mà thôi, ở chỗ họ không còn lệ thuộc vào manna từ trời xuống là lương thực hằng ngày đã nuôi dưỡng họ suốt 40 năm trường trong sa mạc, mà là nhờ các thổ sản của chính Đất Hứa, như các chi tiết cuối cùng của Bài Đọc 1 cho biết:

"Ngày hôm sau Lễ Vượt Qua, họ ăn các thức ăn địa phương, bánh không men và lúa mạch gặt năm ấy. Từ khi họ ăn các thức ăn địa phương, thì không có manna nữa. Và con cái Israel không còn ăn manna nữa, nhưng họ ăn thổ sản năm đó của xứ Canaan".

Đó là lý do tâm tình tri ân cảm tạ và ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa của Bài Đáp Ca hôm nay cũng chính là của dân Do Thái lúc bấy giờ, ở vào thời điểm lịch sử cứu độ tiến sang một kỷ nguyên mới, hoàn toàn mới, một kỷ nguyên cho thấy họ thật sự chẳng những là một dân tộc mà còn là một quốc gia nữa, có một quê hương xứ sở đất nước đàng hoàng làm nơi cư trú về địa dư như tất cả mọi dân tộc khác trên trái đất này:

1) Tôi chúc tụng Chúa trong mọi lúc, miệng tôi hằng liên lỉ ngợi khen Người. Trong Chúa linh hồn tôi hãnh diện, bạn nghèo hãy nghe và hãy mừng vui.

2) Các bạn hãy cùng tôi ca ngợi Chúa, cùng nhau ta hãy tán tạ danh Người. Tôi cầu khẩn Chúa, Chúa đã nhậm lời, và Người đã cứu tôi khỏi mọi điều lo sợ.

3) Hãy nhìn về Chúa để các bạn vui tươi, và các bạn khỏi hổ ngươi bẽ mặt. Kìa người đau khổ cầu cứu và Chúa đã nghe, và Người đã cứu họ khỏi mọi điều tai nạn.

Nếu ngay sau nguyên tội Thiên Chúa đã tự động hứa cứu chuộc loài người (xem Khởi Nguyên 3:15) thì phải chăng Đức Kitô Thiên Sai Cứu Thế, nơi nhân tính của Người cũng như nơi Giáo Hội Nhiệm Thể Người, là chính Đất Hứa của / cho một dân tộc mới, mảnh "đất chảy sữa và mật" (Khởi Nguyên 33:3; Xuất Hành 3:8), ám chỉ "đầy ân sủng ("sữa") và chân lý ("mật")", xuất phát từ "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta, người Con duy nhất đến từ Cha..." (Gioan 1:14).

Thật vậy, nhờ cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô nơi Phép Rửa (xem Roma 6:1-7), Kitô hữu đã cùng với Chúa Kitô "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24), nghĩa là, đã được vào Đất Hứa của Chúa Kitô, tức đã hiệp thông nên một với Chúa Kitô, qua Nhiệm Thể Giáo Hội của Người, như Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại đã diễn tả như thế trong Bài Đọc 2 hôm nay: "Nếu ai ở trong Ðức Kitô, thì người đó sẽ là một thụ tạo mới, những gì là cũ đã qua đi: này đây tất cả mọi sự đã trở thành mới".

Nhờ Phép Rửa con người được biến đổi trong Đất Hứa của Chúa Kitô là Giáo Hội Nhiệm Thể Người thành "một thụ tạo mới" và "tất cả mọi sự đã trở thành mới" đây có thể nói đã được báo trước và ám chỉ nơi trường hợp của dân Do Thái, một dân tộc đã sống một cuộc sống hoàn toàn mới mẻ trong Đất Hứa, bằng những con người mới, được sinh ra sau khi ra khỏi Ai Cập, không còn một con người cũ nào từ Ai Cập, bao gồm cả Moisen, ngoại trừ 2 con người duy nhất là Calep và Giodue thay Moisen (xem Dân Số 14:21-24,30; 20:12).

Hãy tưởng tượng mà xem đoạn đường 40 năm sa mạc mà dân Do Thái hành trình từ Ai Cập, nhất là từ sau khi vượt qua Biển Đỏ về Đất Hứa đã trở thành một nghĩa trang vĩ đạo nhất thế giới, nơi đã chôn xác của cả 3 triệu người Do Thái, một vùng sa mạc có thể nói là quê hương của thế hệ Do Thái vượt qua.

Như dân Do Thái, nếu không nhờ Thiên Chúa, qua Moisen, giải thoát họ khỏi Ai Cập, họ sẽ không bao giờ có thể vượt qua tình trạng nô lệ mà vào sự sống tự do trong Đất Hứa thế nào, thì Kitô hữu cũng không thể nào được trở thành chi thể của Giáo Hội, thuộc về Giáo Hội, sống trong Đất Hứa Giáo Hội, nếu không được Thiên Chúa cứu chuộc nơi Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế Con Ngài, đúng như Thánh Phaolô đã xác tín trong Bài Đọc 2 hôm nay liên quan đến thừa tác vụ của Giáo Hội nơi thành phần thừa tác viên như ngài:

"Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà. Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Đúng thế, trong việc cứu chuộc con người, Thiên Chúa đóng vai chủ động chứ không phải là con người. Điển hình là trường hợp của dân Cựu Ước Do Thái giáo trong việc giải thoát họ khỏi thân phận làm tôi ở nước Ai Cập mà đưa họ vào miền Đất Hứa tự do. Hay trường hợp dân Tân Ước Kitô giáo, hầu hết làm nên bởi các dân ngoại, trong việc giải thoát họ khỏi tội lỗi và sự chết bằng chính Chúa Giêsu Kitô là Đấng Thiên Sai Con Ngài.

Đó là lý do trong Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô đã nhận thức rất chính xác là "Thiên Chúa là Ðấng giao hòa thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô". Tại sao con người tội lỗi đã xúc phạm đến Thiên Chúa đáng lẽ phải tự động đến làm hòa, đến xin lỗi Thiên Chúa mới phải, mới hợp lẽ công bằng, hợp hợp tình hợp lý theo trần gian, đằng này chính Ngài lại đến làm hòa với loài người tội nhân? Ôi, lòng thương xót Chúa... Chúng con không thể nào hiểu được ở tầm mức loài người chúng con!

Thiên Chúa giao hòa với loài người phạm nhân của Ngài, thậm chí, còn ở chỗ nếu con người mà hiểu được và cảm thấu được tất cả mầu nhiệm lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa chắc không thể nào không điên lên, không mất trí, một lòng thương xót, như Thánh Phaolô, cũng trong Bài Đọc 2, đã dám nói mà không sợ bị rối đạo và lạc đạo, đó là "Ðức Kitô... Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa đã biến thành tội - who has no sin to become sin / who did not know sin to be sin - vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Bởi thế, trước tình yêu vô cùng nhân hậu của Vị Thiên Chúa nạn nhân đã bị loài người xúc phạm song đã tự động tìm cách làm hòa với phạm nhân của mình, bằng cách biến Người Con vô cùng thánh hảo yêu quí của mình trở thành tội lỗi, một sự dữ không thể nào có nơi Thiên Chúa và không thể nào chấp nhận đối với Thiên Chúa, nhưng Vị Thiên Chúa nạn nhân lại muốn chồng chất tất cả lên nhân tính được Người Con mặc lấy và vượt qua, như thể nhuộm đen cả nhân tính vô tội và thánh hảo của Người, để nhờ Người biến hình sự dữ tội lỗi của con người thành ân sủng của lòng thương xót Chúa, mà Thánh Phaolô đã tha thiết kêu gọi Kitô hữu Giáo đoàn Corinto thời ấy, cũng như mọi thời đại sau này, là "chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa".

Bài Phúc Âm hôm nay, một bài Phúc Âm đã được Giáo Hội chọn đọc cho ngày Thứ Bảy Tuần 2 Mùa Chay, Chia sẻ Phụng Vụ Lời Chúa Mùa Chay Tuần 2 (21-27/2/2016), vì nội dung của bài Phúc Âm hôm nay là một dụ ngôn cho thấy 2 điều chính yếu: 1- Thiên Chúa quả thực là Đấng đã hòa giải với tội nhân trước, và 2- chỉ bao giờ ở trong nhà với Ngài mới được hạnh phúc như ở trong Đất Hứa vậy.

Trước hết, dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy Thiên Chúa là Đấng đã giao hòa trước. Không phải hay sao, người cha có hai người con trai trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy rõ điều ấy.

Người cha trong dụ ngôn đã không làm hòa trước là gì với người con hoang đàng phung phá, ở chỗ, "Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu", trước khi chính nó lên tiếng xin lỗi ông và xin ông tha thứ cho nó: "Người con trai lúc đó thưa rằng: 'Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa'".

Bởi ông đã tha cho nó ngay khi nó có ý định xin ông chia gia tài cho nó và ngay cả trước khi nó bỏ ông mà đi, vì ông không bao giờ chấp nhất nó, thậm chí còn tìm dịp để tha cho nó, và thật là hớn hở khi vớ được dịp tha thứ cho nó, chỉ muốn chứng tỏ cho nó càng ngày càng thấy được ông yêu thương nó là chừng nào, một tình yêu thương vô cùng nhân hậu nó không thể nào hiểu được. Việc người con hoang đàng phung phá chỉ có thể làm hòa với cha của nó, như Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, chỉ xẩy ra sau khi Người cha đã bày tỏ cử chỉ hân hoan hớn hở được làm hòa với nó trước.

Sau nữa, trong cùng dụ ngôn làm hòa hay hòa giải tuyệt vời này, người cha chẳng những tự động hòa giải với người con hoang đàng phung phá mà còn với cả người con không bỏ ông mà đi như đứa con hoang đàng phung phá kia nữa, người con cho rằng "đã bao năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào", thế mà cuối cùng những gì đã xẩy ra?

Vào chính lúc mọi người đang xum vầy trong nhà cha, ăn mừng người con hoang đàng phung phá như "đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy", thì người con tự cho mình là ngoan ngoan trung thành của cha lại bỏ cha mà đi, bằng cách, nhất định không chịu vào trong nhà với cha và em của mình, trái lại, muốn tách mình ra khỏi mối hiệp thông yêu thương, hiệp thông sự sống, đến độ, "Cha anh ra xin anh vào" hiệp thông với chung gia đình.

Cử chỉ và hành vi "Cha anh ra xin anh ta vào", không phải hay sao, là chính tác động Thiên Chúa tự đến làm hòa với loài người, tức là việc "Thiên Chúa muốn cho tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Timotheu 2:4), muốn mời gọi nhất là những con người lầm lạc như người con bề ngoài ở nhà với cha mà lại chẳng hiểu cha gì hết, chẳng biết rằng "tất cả mọi sự của cha đều là của con", bởi thế nên làm gì cho cha cũng làm như một người đầy tớ "hầu hạ cha", đòi được trả công xứng đáng: "không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ", hơn là một người con chỉ làm vì cha muốn và cho cha được như ý, coi việc của cha và của cải của cha là của mình.

Trong cả hai trường hợp, của cả hai người con, một khi ở ngoài nhà của cha, sẽ không bao giờ được hạnh phúc. Trường hợp của người con hoang đàng phung phá cuối cùng phải trở về nhà cha, trở về hiệp thông với cha, mới tìm được sự sống chân thực và viên mãn. Còn người con không bỏ cha mà đi, tức còn ở nhà với cha về thể lý theo bề ngoài, một khi không vào nhà của cha mình nữa cũng thế, nghĩa là muốn hoàn toàn tách mình ra khỏi cuộc hiệp thông với cha, đã trở thành một con chiên lạc, lẻ loi cô độc một mình, rất dễ bị sói dữ ăn thịt mất xác.

Nhà Cha đây, mà Đất Hứa của dân Do Thái là hình bóng tiên báo, trước hết và trên hết ám chỉ mối hiệp thông thần linh với Thiên Chúa, sau nữa ám chỉ nhân tính Chúa Kitô nói chung và thân xác của Người nói riêng, và sau hết ám chỉ Giáo Hội Nhiệm Thể Chúa Kitô là bí tích và là dấu chỉ hiệp thông với Thiên Chúa và hiệp nhất với loài người (xem Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium Ánh Sáng Muôn Dân - 1).

Chính vì Nhà Cha là đích điểm của cuộc sống trần gian của con người nói chung và của cuộc hành trình đức tin Kitô hữu nói riêng, là khát vọng build-in - bẩm sinh sẵn có trong lòng con người, mà người con hoang đàng phung phá trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, khi đã tới tận cùng khốn nạn của cuộc đời, đã thấy được tất cả sự thật không thể chối cãi và không thể rời xa: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói". Bởi thế và từ đó, người con đã dứt khoát tiến đến chỗ: "Tôi muốn ra đi trở về với cha tôi".

Chẳng những quyết định trong lòng, người con hoang đàng phung phá này còn thực sự tỏ ra bằng hành động cụ thể bên ngoài nữa: "Vậy nó ra đi và trở về với cha nó". Nghĩa là, nó muốn làm hòa cùng cha của nó, một hành động cho thấy nó chẳng những nhận lỗi trong lòng sau khi nó cảm thấy hối hận vì đã bỏ cha mà đi: "con đã lỗi phạm đến trời và đến cha...", mà còn xin lỗi ngoài miệng nữa sau khi nó được lại gặp mặt người cha vô cùng nhân hậu của nó: "Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa".

Thế nhưng, việc người con hoang đàng phung phá hòa giải với cha của nó chỉ xẩy ra sau khi cha của nó hòa giải với nó, không bao giờ chấp nhất nó, hằng tha thứ cho nó ngay cả trước khi nó xúc phạm đến ông, thậm chí còn vui vẻ tìm dịp để tha thứ cho nó, như được tỏ ra trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay: "Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy ra ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu".

Cảnh cha con trọng dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay hòa giải với nhau đã xẩy ra đúng như những gì được Thánh Phaolô đã trải qua, cảm nhận và vì thế đã được ngài sử dụng để khuyên Kitô hữu Giáo đoàn Corinto trong Bài Đọc 1 hôm nay:

1- Thiên Chúa nạn nhân hòa giải với con người phạm nhận tội lỗi trước: "Vì mọi sự bởi Thiên Chúa, Ðấng đã nhờ Ðức Kitô giao hoà chúng ta với mình, và trao phó cho chúng tôi chức vụ giao hoà. Thật vậy, Thiên Chúa là Ðấng giao hoà thế gian với chính mình Người trong Ðức Kitô, nên không kể chi đến tội lỗi của loài người, và đặt lên môi miệng chúng tôi lời giao hoà".

2- Loài người phạm nhân nhờ đó và từ đó mới có thể hòa giải với Vị Thiên Chúa nạn nhân của mình: "Nên chúng tôi là sứ giả thay mặt Ðức Kitô, như chính Chúa dùng chúng tôi mà khuyên bảo. Vì Ðức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hoà với Thiên Chúa. Ðấng không hề biết tội, thì Thiên Chúa làm nên thân tội vì chúng ta, để trong Ngài, chúng ta trở nên sự công chính của Thiên Chúa".

Thánh thi Kinh Phụng Vụ Ban Mai các Chúa Nhật Mùa Chay (bản dịch của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ)

Nào phủ phục trước nhan thánh Chúa

Cho tấc lòng than thở nài van:

Chúa thương xét xử khoan nhân

Dừng cơn thịnh nộ, ân cần lắng tai.

Muôn lạy Chúa, này đây bao tội,

Lũ con hư phản bội ân tình

Ngửa trông lượng cả cao xanh

Thiên ân tràn xuống cho thanh thoát lòng.

Xin Ngài nhớ: dẫu mỏng manh phận

Ðoàn con đây cũng vẫn là con,

Nhậm lời chúng tử nỉ non

Danh Ngài nhân hậu tiếng đồn muôn năm.

Xin tha thứ lỗi lầm trót phạm

Giúp chúng con can đảm vững bền,

Vâng theo thánh ý ngày đêm

Bây giờ mãi mãi trọn niềm hiếu trung.

Muôn lạy Chúa vô song tuyệt mỹ

Là Ba Ngôi hiển trị thiên tòa,

Phúc lành tuôn đổ sớm trưa

Cho mùa trai tịnh thành mùa hồng ân.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

MC.CNIV-C.mp3

----------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THỨ BẢY CN3MC-C PDF Print E-mail

Thứ Bảy CN3MC-C

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: Hs 6, 1b-6

"Ta muốn tình yêu, chớ không muốn hy lễ".

Trích sách Tiên tri Hôsê.

Ðây Chúa phán: Trong cảnh khốn khổ, từ ban mai, họ chỗi dậy chạy tìm kiếm Ta. "Hãy đến, và chúng ta quay trở về với Chúa, vì Chúa bắt chúng ta, rồi sẽ tha chúng ta; Chúa đánh chúng ta, rồi sẽ lại chữa chúng ta. Sau hai ngày Người cho chúng ta sống lại, đến ngày thứ ba, Người đỡ chúng ta đứng lên, và chúng ta sẽ sống trước mặt Người. Chúng ta hãy nhận biết Chúa và hãy ra sức nhận biết Chúa. Người sẵn sàng xuất hiện như vừng đông, và sẽ đến cùng chúng ta như mưa thuận và như mưa xuân trên mặt đất".

Hỡi Ephraim, Ta sẽ làm gì cho ngươi? Hỡi Giuđa, Ta sẽ làm gì cho ngươi? Tình thương các ngươi như đám mây ban sáng, như sương sớm tan đi. Vì thế, Ta dùng các tiên tri nghiêm trị chúng, và Ta dùng lời từ miệng Ta phán ra mà giết chúng. Án phạt các ngươi bừng lên như ánh sáng. Vì chưng, Ta muốn tình yêu, chớ không muốn hy lễ. Ta muốn sự hiểu biết Thiên Chúa hơn là của lễ toàn thiêu.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 50, 3-4. 18-19. 20-21ab

Ðáp: Ta muốn tình yêu, chớ không muốn hy lễ (Hs 6, 6).

Xướng: 1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác. - Ðáp.

2) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát, lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, xin thịnh tình với Sion theo lòng nhân hậu, hầu xây lại thành trì của Giêrusalem. Bấy giờ Chúa con sẽ nhận những lễ vật chính đáng, những hy sinh với lễ toàn thiêu. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 8, 12b

Chúa phán: "Ta là sự sáng thế gian, ai theo Ta, sẽ được ánh sáng ban sự sống".

Phúc Âm: Lc 18, 9-14

"Người thu thuế ra về được khỏi tội".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu nói dụ ngôn sau đây với những người hay tự hào mình là người công chính và hay khinh bỉ kẻ khác: "Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người biệt phái, một người thu thuế. Người biệt phái đứng thẳng, cầu nguyện rằng: "Lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như các người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia; tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi". Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà nguyện rằng: "Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội". Ta bảo các ngươi: người này ra về được khỏi tội, còn người kia thì không. Vì tất cả những ai tự nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống; và ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên".

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm/SỐNG VÀ CHIA SẺ:

Ngày Thứ Bảy, ngày cuối cùng trong Tuần Thứ Ba Mùa Chay hôm nay, Giáo Hội chọn đọc các bài phụng vụ lời Chúa cho ngày này có nội dung đề cao giá trị của đức bác ái yêu thương cao cả và bất khả thiếu trong đời sống đạo của Kitô hữu môn đệ Chúa Kitô, hơn là hy tế hay lễ vật của con người dâng lên Thiên Chúa, dù tự bản chất, các thứ hy tế hay lễ vật ấy vốn cao quí, tốt lành và cần thiết, liên quan đến phận vụ tôn thờ của con người đối với Thiên Chúa.

Trước hết là dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện ở Bài Phúc Âm hôm nay, một dụ ngôn được Chúa Giêsu sử dụng để vừa cảnh giác vừa nhắc nhủ "những người hay tự hào mình là người công chính và hay khinh bỉ kẻ khác". Nội dung của dụ ngôn như Chúa dạy như sau:

"Có hai người lên đền thờ cầu nguyện, một người biệt phái, một người thu thuế. Người biệt phái đứng thẳng, cầu nguyện rằng: 'Lạy Chúa, tôi cảm tạ Chúa vì tôi không như các người khác: tham lam, bất công, ngoại tình, hay là như tên thu thuế kia; tôi ăn chay mỗi tuần hai lần, và dâng một phần mười tất cả các hoa lợi của tôi'. Người thu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà nguyện rằng: 'Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội'. Ta bảo các ngươi: người này ra về được khỏi tội, còn người kia thì không. Vì tất cả những ai tự nâng mình lên, sẽ bị hạ xuống; và ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên".

Trong dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện này chúng ta thấy một cảnh tượng hoàn toàn trái ngược nhau, 1- về nhân vật cầu nguyện: một người biệt phái là thành phần vốn tự nhận mình là công chính ở chỗ tuân giữ lề luật Chúa, còn người kia là một viên thu thuế vốn bị coi là gian tham tội lỗi; 2- về thái độ cầu nguyện: người biệt phái thì kiêu căng tự phụ tự mãn đến độ khinh người, còn người thu thuế thì biết mình, hạ mình và xin thương xót bản thân tội lỗi của mình; 3- về công hiệu cầu nguyện: người biệt phái tiếp tục sa lầy trong tội, còn người thu thuế được công chính hóa.

Thật vậy, nếu tự bản chất, con người là loài bất toàn và tội lỗi, thì họ chỉ nên thánh chỉ khi nào được tham phần vào chính sự thánh thiện của Thiên Chúa hay được Thiên Chúa toàn thiện thánh hảo thông sự thánh thiện của Ngài ra cho. Mà làm thế nào để được tham phần vào sự thánh thiện của Thiên Chúa hay được Ngài thông sự thánh thiện của Ngài ra cho, nhờ đó con người có thể "nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành" (Mathêu 5:48)? Nếu không phải được hiệp thông thần linh với Ngài!

Đúng thế, trước hết, con người được hiệp thông thần linh với Thiên Chúa chính thức ở chỗ lãnh nhận Phép Rửa, nhờ đó họ chẳng những, về phần tiêu cực, được tha tội (nguyên tội và tư tội nếu là người lớn), mà còn, về phần tích cực, được trở nên con cái của Thiên Chúa, nghĩa là được thông phần vào bản tính thần linh của Thiên Chúa, sống sự sống thần linh với Thiên Chúa, nghĩa là họ hoàn toàn được thánh hóa, được gọi là thánh nhân, như chúng ta vẫn thấy Thánh Phaolô gọi Kitô hữu các giáo đoàn được ngài gửi thư cho.

Tuy nhiên, không phải sau khi được Rửa Tội, được thánh hóa, con người Kitô hữu sẽ không bao giờ phạm tội lỗi nữa, không thể nào trở thành tội nhân nữa. Trái lại, chính vì nơi bản tính bị vướng mắc nguyên tội của họ, cho dù đã được thanh tẩy bởi Phép Rửa, hậu quả của nguyên tội là đau khổ và chết chóc vẫn xẩy ra cho cuộc đời họ, và mầm mống tội lỗi cùng dấu tích của nguyên tội là đam mê nhục dục và tính mê nết xấu vẫn còn nơi bản tính của họ.

Bởi thế, Kitô hữu môn đệ của Chúa Kitô là phần tử của Nhiệm Thể Giáo Hội vẫn ở trong tình trạng lưỡng diện, lưỡng thể hay "lưỡng đảng": vừa làm con Thiên Chúa (bởi Ấn Tín Rửa Tội và nhờ Thánh Sủng) vừa làm nô lệ cho ma quỉ (khi sống theo xác thịt, chiều theo cám dỗ, sa ngã phạm tội).

Chính vì con người Kitô hữu ở trong tình trạng ác liệt "nội chiến từng ngày", đúng hơn từng giây từng phút như thế, giữa lúa tốt ân sủng sự sống và cỏ lùng tội lỗi chết chóc, mà Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan và toàn năng đã ban cho Kitô hữu là con cái của Ngài có đủ phương tiện thần linh để có thể tiếp tục "ở lại với tình yêu của Thày" (Gioan 15:9), "sống trong Thày như Thày sống trong các con" (Gioan 15:4) nhờ đó mà "sinh nhiều hóa trái" (Gioan 15:5).

Các phương tiện thần linh ấy là các Bí Tích Thánh, đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Hòa Giải, hai Bí Tích thường xuyên liên quan đến mối hiệp thông thần linh của Kitô hữu với Thiên Chúa, nhờ đó, dù con người Kitô hữu có trở thành đứa con hoang đàng phung phá đến đâu chăng nữa họ vẫn có thể trở về (Hòa Giải) với Người Cha yêu thương vô cùng nhân hậu của mình, tiếp tục tham dự vào bàn tiệc với Cha (Thánh Thể).

Một trong những trường hợp điển hình nhất cho người con hoang đàng phung phí đó là người tử tội trộm cắp được đóng đanh ở bên phải Chúa Giêsu, một con người đã quả thực có một thiên tài bẩm sinh trộm cắp, ăn trộm được cả nước thiên đàng một cách hết sức tài tình, ngoạn mục, chỉ trong tích tắc, và vào chính giây phút cuối cùng sau cuộc đời đầy những tội ác của mình.

Cả người trộm lành và người thu thuế trong dụ ngôn hai người lên đền thờ cầu nguyện hôm nay đều được công chính hóa, được thánh hóa một cách đốt giai đoạn - short cut. Không phải đốt giai đoạn ở chỗ thời gian xẩy ra quá ngắn ngủi, thật mau chóng, mà ở chính tác động khôn lanh chộp bắt của họ, chộp bắt một cách chính xác, chộp bắt một cách đúng lúc, những gì cần thiết nhất và quan trọng nhất, đó là chính lòng thương xót Chúa. Ở chỗ, họ đã thật lòng tỏ ra nhận biết mình, hạ mình và xin thương xót mình. Thế là đủ. Thế là họ được tràn đầy lòng thương xót Chúa.

Đó là lý do, Chúa Giêsu đã nói với Chị Thánh Faustina rằng: "Giữa Cha và con có một vực thẳm vô đáy, một vực thẳm phân chia Tạo Hoá với tạo vật. Thế nhưng, vực thẳm này đã được tình thương của Cha lấp đầy" (Nhật ký 1576). Không phải hay sao, vực thẳm giữa họ là tạo vật với Ngài là Thiên Chúa, như từ đất tới trời, được lấp đầy khi "Lời hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), và giữa họ là tội nhân với Ngài là Tình Yêu, như từ hỏa ngục lên tới thiên đàng, đã được lấp đầy bằng chiều cao của cây Thánh Giá Người tử nạn.

Thế nên, hình như càng tội lỗi càng gần Nước Trời, càng gần với Lòng Thương Xót Chúa, càng nên thánh nhanh, một cách đốt giai đoạn như người thu thuế trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, đúng như lời Chúa Giêsu đã khẳng định với Chị Thánh Faustina: "Các đệ nhất đại tội nhân cũng đạt được tầm mức thánh thiện cao cả, chỉ cần họ tin tưởng vào tình thương của Cha" (Nhật ký 1784). Tôi vẫn hằng xin Chúa cho con luôn là một tội nhân mà luôn cảm thấy mình đáng thương, hơn là một thánh nhân mà lại cứ tưởng người khác đáng thương hơn mình.

Vì nếu bản chất của Thiên Chúa là tình yêu cô cùng nhân hậu, lúc nào cũng muốn tỏ ra hết cỡ bản chất thần linh này của mình để chứng thực mình là ai và như thế nào, thì ở đâu hay con người nào càng trở thành trống rỗng, bằng tất cả tấm lòng tan nát khiêm cung và tin tưởng của họ, thì họ càng được Ngài thông bản tính vô cùng trọn lành của Ngài là lòng thương xót cho họ, để lấp đầy tất cả mọi yếu hèn, khiếm khuyết, sai lầm và tội lỗi của họ, nhờ đó, bản thân họ hóa thánh, tức trở thành như là một cuộc thần hiển của Ngài, như một bụi gai (bản tính tội lỗi) bốc lửa (được thương xót) mà không bị thiêu rụi (không kiêu hãnh vì được thương) - (xem Xuất Hành 3:2).

Thiên Chúa là tình yêu vô cùng nhân hậu lúc nào cũng muốn tỏ tình với con người tội lỗi yếu hèn và sẵn sàng thông mình ra cho họ khi họ nhận biết tình yêu của Ngài, đáp ứng tình yêu của Ngài, một tình yêu vô cùng nhân hậu bao giờ cũng như một ngọn lửa thần linh bùng lên bất cứ lúc nào ở những bụi gai nhân tính tội lỗi của con người. Bài Đọc 1 hôm nay còn cho thấy "bụi gai" đây còn thể thể hiểu là các thứ khốn khổ xẩy ra cho con người để đánh động và thức tỉnh họ, nhờ đó tâm linh của họ có thể nhận biết ("bốc lửa") lòng thương xót Chúa mà trở về cùng Thiên Chúa, Đấng qua miệng Tiên Tri Hôsea đã nhận định về dân của Ngài như sau:

"Trong cảnh khốn khổ, từ ban mai, họ chỗi dậy chạy tìm kiếm Ta. 'Hãy đến, và chúng ta quay trở về với Chúa, vì Chúa bắt chúng ta, rồi sẽ tha chúng ta; Chúa đánh chúng ta, rồi sẽ lại chữa chúng ta. Sau hai ngày Người cho chúng ta sống lại, đến ngày thứ ba, Người đỡ chúng ta đứng lên, và chúng ta sẽ sống trước mặt Người. Chúng ta hãy nhận biết Chúa và hãy ra sức nhận biết Chúa. Người sẵn sàng xuất hiện như vừng đông, và sẽ đến cùng chúng ta như mưa thuận và như mưa xuân trên mặt đất".

Cho dù Thiên Chúa biết cái khốn khổ khiến dân Ngài trở về với Ngài đấy, như đã từng xẩy ra nhiều lần, xẩy ra liên tục trong giòng lịch sử của họ, đến độ Ngài không thể nào rời xa họ, luôn lợi dụng cái yếu hèn và những lần hèn yếu của họ để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó mới có thể liên lỉ giữ họ ở gần Ngài, bằng không họ cứ theo khuynh hướng tự nhiên rời xa Ngài, từ đời nọ đến đời kia.

Thế nhưng hình như họ đã nhờn với mạc khải thần linh, đến độ lòng thương xót của Ngài như không còn tác dụng gì nơi họ nữa, đến độ họ như đã coi thường Ngài, có trở về với Ngài cũng chỉ tạm thời, rồi lại tiếp tục sống cuộc đời hoang đường như bản chất bất di bất dịch của họ, như bản chất bẩm sinh của họ, thế mà Ngài vẫn không bỏ họ và làm hết cách để cứu họ, chỉ cần họ tin vào Ngài, thế thôi, đó là điều kiện tối yếu, quan thiết hơn tất cả thứ tình yêu hời hợt nông cạn của họ và hy lễ bề ngoài họ dâng cho Ngài:

"Hỡi Ephraim, Ta sẽ làm gì cho ngươi? Hỡi Giuđa, Ta sẽ làm gì cho ngươi? Tình thương các ngươi như đám mây ban sáng, như sương sớm tan đi. Vì thế, Ta dùng các tiên tri nghiêm trị chúng, và Ta dùng lời từ miệng Ta phán ra mà giết chúng. Án phạt các ngươi bừng lên như ánh sáng. Vì chưng, Ta muốn tình yêu, chớ không muốn hy lễ. Ta muốn sự hiểu biết Thiên Chúa hơn là của lễ toàn thiêu".

Bài Đáp Ca hôm nay quả thực chất chứa tất cả những tâm tình và ý thức thần linh mà Thiên Chúa yêu thương vô cùng nhân hậu mong muốn nơi dân của Ngài cũng như nơi những ai khao khát ơn cứu độ của Ngài:

1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác.

2) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát, lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung.

3) Lạy Chúa, xin thịnh tình với Sion theo lòng nhân hậu, hầu xây lại thành trì của Giêrusalem. Bấy giờ Chúa con sẽ nhận những lễ vật chính đáng, những hy sinh với lễ toàn thiêu.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

MC-TuanIII.7.mp3

-----------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THƯ BA CN3MC-C PDF Print E-mail

Thứ Ba CN3MC - C

HỌC HỎI- CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: Ðn 3, 25. 34-43

"Với tâm thần sám hối và tinh thần khiêm tốn, chúng tôi được chấp nhận".

Trích sách Tiên tri Ðaniel.

Trong những ngày ấy, Adaria đứng giữa lửa mở miệng cầu nguyện rằng: "Vì danh Chúa, xin đừng bỏ con mãi mãi cho quân thù, và xin đừng huỷ bỏ lời giao ước của Chúa. Xin chớ cất lòng từ bi Chúa khỏi chúng con. Vì Abraham kẻ Chúa yêu, Isaac tôi tớ Chúa, và Israel người lành thánh của Chúa, những kẻ Chúa đã hứa cho sinh con cháu ra nhiều như sao trên trời và như cát bãi biển. Vì lạy Chúa, chúng con đã trở nên yếu hèn hơn mọi dân tộc và hôm nay, vì tội lỗi chúng con, chúng con bị nhục nhã ở mọi nơi. Hiện giờ không còn vua chúa, thủ lãnh, tiên tri, không còn của lễ toàn thiêu, lễ hiến tế, lễ vật, nhũ hương và nơi để dâng lên Chúa của đầu mùa để được Chúa thương. Nhưng với tâm hồn sám hối và với tinh thần khiêm tốn, chúng con xin Chúa chấp nhận; chúng con như những con dê, bò rừng và những chiên béo được dâng lên Chúa làm của lễ toàn thiêu, xin cho của hiến tế chúng con dâng trước tôn nhan Chúa hôm nay, được đẹp lòng Chúa, vì những ai tin tưởng nơi Chúa không phải hổ thẹn. Và bây giờ chúng con hết lòng theo Chúa, kính sợ Chúa và tìm kiếm tôn nhan Chúa. Xin đừng để chúng con phải hổ thẹn, nhưng xin hãy đối xử với chúng con theo lòng nhân hậu và lòng từ bi sung mãn của Chúa. Lạy Chúa, xin làm những việc lạ lùng mà cứu thoát chúng con, và xin cho thánh danh Chúa được vinh quang".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 24, 4bc-5ab. 6-7bc. 8-9

Ðáp: Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài (c. 6a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con. - Ðáp.

2) Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa. - Ðáp.

3) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế Ngài sẽ dạy cho tội nhân hay đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4, 4b

Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

Phúc Âm: Mt 18, 21-35

"Nếu mỗi người trong chúng con không tha thứ cho anh em, thì Chúa Cha cũng không tha thứ cho chúng con".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Matthêu.

Khi ấy, Phêrô đến thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần không?" Chúa Giêsu đáp: "Ta không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy. Về vấn đề này, thì Nước Trời cũng giống như ông vua kia muốn tính sổ với các đầy tớ. Trước hết, người ta dẫn đến vua một người mắc nợ mười ngàn nén bạc. Người này không có gì trả, nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ. Người đầy tớ liền sấp mình dưới chân chủ và van lơn rằng: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn và tôi sẽ trả cho ngài tất cả". Người chủ động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y. Khi ra về, tên đầy tớ gặp một người bạn mắc nợ y một trăm bạc. Y tóm lấy, bóp cổ mà nói rằng: "Hãy trả nợ cho ta". Bấy giờ người bạn sấp mình dưới chân và van lơn rằng: "Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh". Y không nghe, bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong. Các bạn y chứng kiến cảnh tượng đó, rất khổ tâm, họ liền đi thuật với chủ tất cả câu truyện. Bấy giờ chủ đòi y đến và bảo rằng: "Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?" Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ. Vậy Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình".

Ðó là lời Chúa.

CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ/Suy niệm

Sự Sống bao dung

Mùa Chay hôm nay ở vào ngày Thứ Ba của Tuần Thứ Ba, ngày được bao trùm bởi bầu khí của lòng thương xót Chúa như được cảm nghiệm thấy ở phụng vụ lời Chúa trong ngày, một lòng thương xót Chúa được tỏ hiện rõ ràng nhất và tối hậu nhất nơi việc khoan dung độ lượng tha thứ của Thiên Chúa đối với loài người tội lỗi.

Đúng thế, Bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thường cho rằng "tên đầy tớ độc ác" trong dụ ngôn Chúa dạy về sự tha thứ đóng vai chính, một dụ ngôn Chúa muốn dùng để trả lời cho vấn nạn được tông đồ Phêrô đặt ra hỏi Người: "Lạy Thầy, khi anh em xúc phạm đến con, con phải tha thứ cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần không?"

Nhưng thật ra, căn cứ vào chung phụng vụ lời Chúa hôm nay, và riêng Bài Phúc Âm, chúng ta mới khám phá thấy rằng lòng thương xót Chúa là điểm then chốt được Giáo Hội muốn nhấn mạnh đến hôm nay khi Giáo Hội chọn đọc Bài Phúc Âm này cùng với Bài Đọc 1 cho cùng ngày.

Trước hết, chúng ta thấy dụ ngôn Chúa Giêsu sử dụng để trả lời cho câu hỏi phải tha thứ cho anh chị em mình bao nhiêu lần trong Bài Phúc Âm hôm nay, về bố cục, có hai phần rõ ràng: phần đầu về "người đầy tớ độc ác" bày tôi được vị vương chủ của hắn rộng lượng tha thứ, và phần sau về "người đầy tớ độc ác" này không chịu tha thứ cho con nợ của mình như chính bản thân đã được vị vương chủ tha nợ cho.

Thế nhưng, về nội dung, ý nghĩa chính yếu của dụ ngôn về tha thứ trong bài Phúc Âm này là ở chỗ "các con hãy thương xót như Cha là Đấng thương xót" (Luca 6:36), đúng như lời Chúa Giêsu khuyên các môn đệ của Người để kết luận bài Phúc Âm hôm nay: "Cha Ta trên trời cũng xử với các con đúng như thế, nếu mỗi người trong các con không hết lòng tha thứ cho anh em mình".

Nghĩa là, chúng ta được Thiên Chúa là Cha tha thứ thế nào chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau như vậy, tha một cách bao dung, quảng đại, liên lỉ, không bao giờ cùng, đúng như Chúa Giêsu đã khẳng định và muốn các tông đồ môn đệ của người thi hành: "Ta không bảo con phải tha đến bảy lần, nhưng đến bảy mươi lần bảy".

Việc tha thứ cho nhau một cách quảng đại bao dung và liên tục bất tận như Cha trên trời như thế đã được Chúa Giêsu diễn tả trong dụ ngôn về sự tha thứ của vị vương chủ "động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y", một con nợ bầy tôi đã "mắc nợ" vua "mười ngàn nén bạc", nhưng "không có gì trả", có nghĩa là không thể nào trả nổi, bởi thế cho "nên chủ ra lệnh bán y, vợ con và tất cả tài sản của y để trả hết nợ", nghĩa là tất cả những gì quí báu nhất con nợ có được, liên quan đến chính bản thân hắn cùng gia đình hắn và gia tài của hắn, để bù đắp phần nào món nợ hắn không thể trả thôi.

Chúng ta nên chú ý một chi tiết về lòng bao dung quảng đại đến vô lý của lòng thương xót Chúa trong dụ ngôn này, đó là trong khi người bầy tôi "sấp mình dưới chân chủ và van lơn rằng: 'Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn và tôi sẽ trả cho ngài tất cả'", thì cho dù người con nợ bầy tôi này không xin tha nợ, mà chỉ xin khất nợ và hứa sẽ trả sau, không biết cho tới bao giờ mới trả hết, ấy vậy mà vị vương chủ lại "động lòng thương, trả tự do và tha nợ cho y" mới là chuyện kỳ cục chứ, mới hay chứ.

Ấy thế mà, khi đã được hoàn toàn "trả tự do", không còn nợ nần gì với vị vương chủ của mình nữa, không còn sợ bị đòi nợ nữa, không còn phải lo lắng làm sao để trả nợ đầy đủ và đúng hẹn nữa, thì "người đầy tớ độc ác" này lại đối xử với một con nợ của hắn hoàn toàn ngược lại với những gì hắn đã được đối xử. Ở chỗ, hắn là bầy tôi được vương chủ cao cả tha hết nợ, trong khi người bạn của hắn, ngang hàng với hắn, hắn lại muốn làm vua của người bạn hắn.

Thật vậy, theo dụ ngôn của Chúa, "một người bạn" của hắn chỉ nợ hắn một chút xíu thôi, "một trăm bạc", vì vai vế bạn bè ngang hàng với nhau, chỉ là tạo vật như nhau, không nhiều như món nợ khổng lồ hắn không thể trả, vì hắn đóng vai bầy tôi với chủ nợ là vương đế cao cả, nhưng đã được chủ nợ cao cả này hoàn toàn tha bổng, "mười ngàn nén bạc", thế mà, dù con nợ của hắn đã van xin hắn khất nợ như hắn đã làm: "Bấy giờ người bạn sấp mình dưới chân và van lơn rằng: 'Xin vui lòng cho tôi khất một kỳ hạn, tôi sẽ trả hết nợ cho anh'", nhưng hắn đã đối xử với con nợ của hắn hoàn toàn trái ngược lại với vị vương chủ của hắn đã đối xử với hắn: "Y không nghe, bắt người bạn tống giam vào ngục, cho đến khi trả nợ xong".

Dụ ngôn trong Bài Phúc Âm hôm nay về lòng "thương xót như Cha là Đấng thương xót" ở chỗ chúng ta đã được Thiên Chúa tha thứ thế nào, chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau như vậy. Nghĩa là Lòng Thương Xót Chúa không phải chỉ là một đặc ân cho riêng một ai xứng đáng, mà là cho tất cả mọi người, cần phải truyền đạt và loan truyền qua những ai đã nhận lãnh đặc ân này, qua những ai đã được thương xót.

Những ai không biết tha thứ cho anh chị em mình: "xin Cha tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con", sống hẹp hòi, luôn có những thái độ chấp nhất với những người anh chị em ngang hàng với họ xúc phạm đến họ, là những người chưa cảm nghiệm được lòng thương xót Chúa là Đấng vô cùng cao cả bị họ xúc phạm đến, chưa hiểu được lòng thương xót Chúa là gì, hay thậm chí lợi dụng lòng thương xót Chúa, bóp méo lòng thương xót Chúa, giam nhốt lòng thương xót Chúa và hủy hoại lòng thương xót Chúa nơi bản thân mình, và vì thế, họ đã bị tẩu hỏa nhập ma, vì chính lòng thương xót Chúa từ một hồng ân đã biến thành tai họa cho họ, biến thành một "tên lý hình" như phần kết luận của dụ ngôn cho thấy:

"Các bạn y chứng kiến cảnh tượng đó, rất khổ tâm, họ liền đi thuật với chủ tất cả câu truyện. Bấy giờ chủ đòi y đến và bảo rằng: 'Tên đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi đã van xin ta; còn ngươi, sao ngươi không chịu thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?' Chủ nổi giận, trao y cho lý hình hành hạ, cho đến khi trả hết nợ".

Phải, mang thân phận là tội nhân, không một con người tạo vật nào không cần đến lòng thương xót Chúa, nhất là thành phần được hưởng lòng thương xót Chúa mà không sống lòng thương xót Chúa, đến độ bị chính lòng thương xót Chúa hành hạ cho đến khi họ biết sống lòng thương xót Chúa: "cho đến khi trả hết nợ".

Lòng thương xót Chúa quả thực là một hồng ân đối với loài người tội nhân, ở chỗ, Thiên Chúa tha thứ tội lỗi cho tội nhân không phải vì họ mà là vì chính Ngài - nếu vì họ thì họ chỉ đáng phạt, xứng với tội lỗi của họ. Nhưng cho dù họ tội lỗi bất xứng với Ngài và đáng bị phạt như thế chăng nữa, Ngài vẫn thương xót họ và tha thứ cho họ bởi Ngài chính là tình yêu vô cùng nhân hậu.

Đó là lý do, trong Bài Đọc 1 hôm nay, khi cầu xin cho dân tộc của mình đang trải qua hoạn nạn khốn khổ: "chúng con đã trở nên yếu hèn hơn mọi dân tộc và hôm nay, vì tội lỗi chúng con, chúng con bị nhục nhã ở mọi nơi...", Adaria đã nại đến chính Thiên Chúa cho thân phận dân tộc của mình: "Vì danh Chúa, xin đừng bỏ con mãi mãi cho quân thù, và xin đừng hủy bỏ lời giao ước của Chúa. Xin chớ cất lòng từ bi Chúa khỏi chúng con".

Chẳng những thế, Adaria còn xin lòng thương xót Chúa tỏ mình ra nơi thân phận đáng phạt của họ để cho lòng thương xót Chúa được sáng tỏ hơn nữa, đúng như dự án và đường lối tỏ mình ta tối đa hết cỡ của lòng thương xót Chúa: "Bây giờ chúng con hết lòng theo Chúa, kính sợ Chúa và tìm kiếm tôn nhan Chúa. Xin đừng để chúng con phải hổ thẹn, nhưng xin hãy đối xử với chúng con theo lòng nhân hậu và lòng từ bi sung mãn của Chúa. Lạy Chúa, xin làm những việc lạ lùng mà cứu thoát chúng con, và xin cho thánh danh Chúa được vinh quang".

Bài Đáp Ca hôm nay hoàn toàn phản ảnh ý nghĩa và chiều hướng của chung phụng vụ Lời Chúa trong ngày, cách riêng với Bài Đọc 1 cùng ngày về lòng thương xót Chúa, vị "Thiên Chúa cứu độ", vị Thiên Chúa thương xót nhân loại tội lỗi khốn khổ bởi chính mình Ngài là Đấng "nhân hậu và công minh", chỉ biết đối xử với loài người tạo vật thấp hèn đầy những yếu đuối của họ bằng "lòng thương xót tự muôn đời vẫn có":

1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con.

2) Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa.

3) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế Ngài sẽ dạy cho tội nhân hay đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

MC.TuanIII-3.mp3

----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 158