mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay226
mod_vvisit_counterHôm Qua4387
mod_vvisit_counterTuần Này4613
mod_vvisit_counterTuần Trước0
mod_vvisit_counterTháng Này36062
mod_vvisit_counterTháng Trước274176
mod_vvisit_counterTất cả14003441

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 144 = HANH DONG THONG HOI PDF Print E-mail

Hành động thống hối?
May 25 at 9:35 PM
Hành động thống hối?

§ Lm Stêphanô Huỳnh Trụ

1. Trong Nghi thức đầu lễ của Sách lễ Rôma, có phần chuẩn bị tâm hồn. Bản dịch Nghi thức thánh lễ xuất bản năm 2005 của Uỷ Ban Phụng Tự trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam dịch là "Hành động thống hối", nguyên bản tiếng Latin là "Actus pænitentialis", trước nay vẫn không thay đổi, nhưng các bản dịch tiếng Anh trước đây dịch là "Penitential Rite" (1975), nay đổi lại là "Penitential Act"[1] (2002); còn trong tiếng Việt, trước đây dịch là "Nghi thức thống hối", nay dịch là "Hành động thống hối". Cách dịch của tiếng Việt có chính xác không? Thuật từ thống hối đã được bàn đến trong bài "Thống hối"[2], nên trong bài này, chúng tôi chỉ bàn về từ actus dịch là hành động chính xác chưa?

2. Phần đầu lễ.

Nghi thức thánh lễ hiện nay gồm 4 phần: Nghi thức đầu lễ, Phụng vụ Lời Chúa, Phụng vụ Thánh Thể và Nghi thức kết lễ. Phần Nghi thức đầu lễ gồm: (1) Ca Nhập lễ, (2) Lời chào (bái chào Bàn thờ, Thánh giá, chào cộng đoàn), (3) Phần thống hối, (4) Kinh Thương Xót, (5) Kinh Vinh Danh, (6) Lời nguyện Nhập lễ.

Trong phần thống hối (Actus pænitentialis), Sách lễ Rôma đưa ra 3 công thức thống hối khác nhau như những kiểu mẫu chứ không mang tính cách bắt buộc (Kinh Cáo Mình, Xướng đáp, Kinh Thương Xót và có thể thay bằng nghi thức thánh hoá và rảy nước thánh). Chủ tế có thể lựa chọn một trong những công thức này hoặc có thể tự soạn theo những quy luật nhất định.[3]

Phần thống hối này khác với Nghi thức thống hối (Penitential Rite) trong cử hành sám hối chung trước khi lãnh nhận bí tích Giải Tội. Vì trong cử hành bí tích Giải Tội, việc xưng tội với linh mục là một yếu tố thiết yếu của bí tích này (x. GLHTCG, số 1424 và 1456), còn ở đây, chúng ta không chú trọng vào việc xét mình hay liệt kê các tội đã phạm như khi đi xưng tội, mà chú trọng đến lòng thương xót và sứ mạng giao hoà của Chúa Kitô[4].

Trọng tâm của phần thống hối trong thánh lễ không phải là thú nhận tội lỗi, nhưng là nhìn nhận ơn tha thứ và lòng Thiên Chúa từ bi thương xót, nhận rằng chúng ta cần đến ân sủng của Thiên Chúa qua người con của Ngài là Đức Kitô Giêsu trong hy lễ Tạ Ơn được cử hành. Theo A.G Martimort và J. Gelineau: "Nghi thức thống hối đầu lễ không nhất thiết có bản chất sám hối, nhưng là kinh thờ lạy, ngợi khen, giống như một hơi thở mà cuộc đời dao động của ta rất cần đến khi bắt đầu cử hành thánh lễ"[5]. Có thể nói từ khoá của phần này là xưng thú (Latin: confessio; Anh, Pháp: confession) vì các tín hữu nhìn nhận tình trạng tội lỗi và bất xứng của mình trước Thiên Chúa, nhất là qua cụm từ "tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm..." như được đọc trong Kinh Cáo Mình (Confiteor). Ngay từ thời kỳ đầu của Giáo Hội, xưng thú (confess) còn có nghĩa là tuyên xưng niềm tin cách công khai và rõ ràng. Các tín hữu khi nhìn nhận tội lỗi của mình thì đồng thời cũng có nghĩa là tuyên xưng đức tin của mình vào tình thương của Chúa và nói lên lời cảm tạ tri ân vì ơn tha thứ của Ngài chứ không phải quy về những lầm lỗi và thiếu sót của mình.

Phần thống hối kết thúc bằng công thức xá giải: "Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời". Khác với Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma ấn bản năm 1975, ấn bản 2002 nói rõ: "Lời xá giải này không có hiệu quả của bí tích thống hối"[6]. Theo Eliot L. Kapitan, đây chính là lý do mà tại sao (trong bản dịch tiếng Anh) tiêu đề "Penitential Rite" (Nghi thức[7] Thống hối) Sách lễ Rôma 1975 lại đổi thành "Penitential Act" (Phần Thống hối) trong Sách lễ hiện nay[8].

3. Actus, hành động, kinh

3.1 Nghĩa của chữ actus.

Actus trong tiếng Latin có thể là động từ hay danh từ, trong trường hợp này đương nhiên là danh từ, nghĩa là (1) Hành động, hành vi, tác động, việc làm (act) (2) Thúc đẩy, tiến hành, xúc tiến (progress). (3) Biểu diễn (một vở kịch), cử hành (một nghi thức), hay phát biểu (một ý kiến) (performance). (4) Màn của vở kịch, phần của nghi lễ (series/sequence). (5) Kinh, lời cầu nguyện có tính khuôn mẫu, lâu dài không thay đổi. (6) (Luật) Chứng thư, án từ, pháp án, pháp lệnh. (7) (Triết) Hiển thể, hiện thể (dùng đối lập với tiềm thể potencia).

Như vậy, actus (pænitentialis) có thể dịch là cử hành / phần / kinh (thống hối)?

3.2 Nghĩa của hành động.

Hành: có bảy chữ Hán: 行, 衡, 珩, 蘅, 桁, 莖, 茎, trong thuật từ hành động là chữ行. Nghĩa là (dt.) (1) Đường sá: Hành hữu tử nhân (trên đường có người chết). (2) Lối chữ hành, lối chữ hơi đá thảo gọi là hành. (3) Bài kể truyện bằng thơ cổ phong: Trường ca hành (bài hát dài). (4) Họ Hành. (5) Một trong 214 bộ chữ: Bộ hành. (6) Tạm bợ: Hành thự (dinh quan đóng tạm). (7) Một trong ngũ hành: Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ vi ngũ hành (vàng, gỗ, nước, lửa, đất là ngũ hành). (8) Quay quanh một thiên cầu: Hành tinh. (đt.) (9) Bước đi: Trực hành (đi thẳng). (10) Đi: Tống hành (đưa đi) (11) Di động: Vận hành (vận chuyển). (12) Lưu thông: Lưu hành. (13) Làm, nghề: Hành y (làm nghề y). (14) Ban bố: Phát hành. (15) Có thể: Hành bất hành (có thể được không). (16) Lúc này được ưa: Thịnh hành. (17) Đem ra làm: Thực hành; Hành động. (18) Cai trị: Hành chính. (19) Giết: Hành thích. (20) Thực thi án: Hành hình (thi hành án tử). (21) Ăn xin: Hành khất. (tt.) (22) Tài giỏi: Nễ chân hành (anh giỏi quá). (Pht.) (23) Tương lai: Hành tương tụ mộc (sắp chết). Nghĩa Nôm: (1) Từ đệm: Học hành; Họp hành. (2) Làm khổ: Mẹ chồng hành hạ nàng dâu.

Động: Có những chữ Hán: 洞, 動 (动), 働, 峒, 峝, ở đây là chữ動 (动). Nghĩa là (dt.) (1) Di chuyển: Tịnh cực tư động (yên quá muốn di chuyển). (đt.) (2) Bất cứ vật gì, tự sức mình, hay tự sức khác mà chuyển sang chỗ khác: Vi phong xuý động thụ diệp (gió nhẹ rung lá cây). (3) Sử dụng: Động bút (dùng viết). (4) Bắt tay vào việc: Động công (bắt đầu khởi công). (5) Gây cảm xúc mạnh: Động nộ (nổi giận). (6) Ăn (tiếng bình dân): Bất động huân tinh (không ăn mặn). (pht.) (7) Nhiều lần (cổ văn). Nghĩa Nôm: (1) Di dịch: Động đậy. (2) Cảm xúc mạnh: Động lòng bốn phương. (3) Đòi tình: Động cỡn; Động đực. (4) Bệnh giựt chân tay: Động kinh.

Trong tiếng Việt [9], "hành động" có nghĩa là: (1) (đt.) "Làm, ra tay" hoặc: "Làm việc gì để đạt được mục đích, ý nguyện: Ra tay hành động, hành động cho phải lẽ" (2) (dt.) "Việc làm" hoặc "việc làm có mục đích: Có hành động quả cảm, một hành động cao cả"; và "cử hành" có nghĩa là: (đt.) "Làm cách trịnh trọng, có quy củ" hay "Tiến hành một cách trọng thể, nghiêm trang: Cử hành tang lễ, buổi lễ được cử hành trọng thể". Nói "hành động thống hối" thì có thể hiểu là "việc làm thống hối", nhưng trong phụng vụ, chúng ta không bao giờ nói đến "việc làm" hay "hành động" (làm việc cách đơn giản, thô thiển) mà chỉ có các việc "cử hành" (làm việc cách trọng thể, nghiêm trang, trịnh trọng, có quy củ). Do đó, nếu hiểu actus ở đây theo nghĩa là hành động hay việc làm, thì phải dịch là "cử hành" mới thích hợp.

3.3 Nghĩa của kinh.

Kinh: Có 7 chữ Hán: 驚, (惊), 荊, (荆), 經, (经), 坕, 京, (亰), 痙, (痉), 仱. Ở đây là chữ經 kinh, nghĩa là (dt.) (1) Ðường dọc, sợi thẳng. (2) Về đường sá thì phía Nam Bắc gọi là kinh 經, phía Đông Tây gọi là vĩ 緯. (3) Về khoảng trời không và quả đất thì lấy con đường nam bắc cực chính giao với xích đạo là kinh: kinh tuyến (經線 theo hướng nam bắc, vĩ tuyến 緯線 theo hướng đông tây). (4) Kinh mạch của đông y, sách thuốc chia 12 kinh phân phối với các tạng phủ. (5) Đạo thường của con người, đạo đức pháp luật đã định không thể đổi được: Thiên kinh địa nghĩa 天經地義 (cái đạo thường như trời đất không thể di dịch được). (6) Sách có giá trị đặc biệt mà người ta phải tuân theo: Ngũ Kinh. (7) Lời dạy đời, sửa thân của thánh hiền hay bậc giáo chủ. (8) Lời cầu nguyện: Kinh Lạy Cha. (9) Đàn bà mỗi tháng máu tràn ra một kỳ: Kinh nguyệt. (10) Bài văn về việc chuyên môn: Trà kinh, mã kinh. (11) Số đếm cổ xưa, mười tỷ là một kinh. (12) Họ Kinh. (đt.) (13) Quản lý: Kinh thế tế dân. (14) Hoạch định việc làm: Kinh thương. (15) Trải qua: Kinh lịch. (16) Chia vạch địa giới. (17) Tự thắt cổ chết: Tự kinh. (tt.) (18) Luôn luôn: Kinh thường. (19) Lâu dài không thay đổi: Bất kinh chi luận (Lý luận để lại lâu dài). Thường kinh: Cách đối xử luôn phải theo: "Tưởng rằng trong đạo thường kinh" (Truyện Hoa Tiên).

Trong Kinh cầu Đức Chúa Thánh Thần, Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Ăn Năn Tội vv... Từ "kinh" được hiểu theo nghĩa là lời cầu nguyện có tính khuôn mẫu, lâu dài không thay đổi.

Actus có thể dịch là kinh, như Kinh Tin (Actus Fidei, Act of Faith), Kinh Cậy (Actus Spei, Act of Hope), Kinh Mến (Actus Caritatis, Act of Charity), Kinh Ăn Năn Tội (Actus Contritionis, Act of Contrition), Kinh Dọn Mình (Actus reparationis, Act of Reparation)... Trong tài liệu "Chú thích bản dịch Nghi thức thánh lễ 1992" của Ủy Ban Phụng Tự, khi nói về phần thống hối (trang 14), Ủy Ban đã dùng tiêu đề "Các mẫu kinh sám hối" (vì nội dung của phần này gồm 3 mẫu công thức thống hối (số nhiều). Chúng tôi nghĩ rằng tiêu đề Actus paenitentialis (số ít) không thể dịch là Các mẫu kinh... (số nhiều) được, hơn nữa, mẫu thống hối thứ hai (Xướng đáp) có thể thay đổi, không cố định như một bản kinh.

Góp ý về cách dịch Actus paenitentialis là "Hành động thống hối", Cha Marie Bảo Tịnh Trần Văn Bảo (O.Cist.) viết: "Đọc một lời kinh, đấm ngực ba cái mà đã gọi là 'hành động' thì con thấy quá lố. 'Actus' của bản Latinh dùng không chỉ có nghĩa là 'hành động'. Bản tiếng Pháp dùng 'Préparation pénitentielle' rất hay và đúng nghĩa: chuẩn bị đi vào cử hành. Con nghĩ nếu không biết dịch từ 'actus' là gì, chúng ta chỉ cần để 'phần thống hối', hoặc 'lời kinh thống hối' có vẻ rất nhẹ nhõm và ai cũng hiểu. Còn 'hành động'? Con nghĩ phải bỏ của lễ đấy đi về tìm người anh chị em có vấn đề với mình rồi chào hỏi, bắt tay, quỳ gối van xin tha lỗi hoặc vác thập giá đến Giêrusalem làm việc đền tội thì mới gọi là 'hành động' được. Đọc những từ 'hành động thống hối', con cảm thấy gai gai người thế nào ấy!"[10].....

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 143 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA VIỆC NGHE LỜI CHÚA VÀ LÃNH NHẬN CÁC BÍ TÍCH THÁNH THỂ, HÒA GIẢI VÀ SỨC DẦU.
Tôi đã có đôi lần giải thích sự khác biệt về mặt bí tích giữa Công Giáo, Chính Thông Giáo và Tin lành. Nay xin được nói rõ hơn về những khác biệt này.
Trước hết, phải nói ngay là chỉ có các Giáo Hội Công Giáo và Chính Thông Giáo Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mới có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nên mới có đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mang các lợi ích thiêng liêng lớn lao cho các tín hữu trực thuộc.
Ngoài hai Giáo Hội trên ra, các giáo phải Tin Lành nói chung, và Anh giáo ( Anglican Communion) nói riêng đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( vì họ đã ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo ( Reformations) vào thể kỷ 16) nên họ đều không có các bí tích hữu hiệu – trừ bí tích Rửa tội .
Sứ vụ quan trọng đối với họ là giảng Kinh Thánh, vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi. Nhưng cách hiểu và cắt nghĩa Kinh Thánh của họ có nhiều điểm khác với cách hiểu và cắt nghĩa Kinh Thánh của Công Giáo.
Thí dụ, họ cũng đọc lời Chúa trong Gioan 20: 23 trong đó Chía Giê su đã
truyền cho các Tông Đồ mệnh lệnh như sau:
"Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" ( Ga 20: 23)
Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo coi đây là nền tảng của bí tích Hòa giải
Và các thừa tác viên có chức thánh của Giáo Hội như linh mục và giám mục có quyền tha tội cho mọi hối nhân nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi).
Ngược lại, anh em Tin lành không công nhận vai trò trung gian của các thừa tác viên ( Ordained Ministers) con người nên họ chủ trương chỉ xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.
Lại nữa, lời Chúa trong các Tin Mừng của Matthêu, Mac-cô và Lu ca
nói về Bữa Ăn sau hết của Chúa Giê su với 12 Tông Đồ, trong đó Chúa Giesu đã lập Bi Tích Thánh Thể và Chức Linh mục thừa tác ( ministerial priesthood ) để các Tông Đồ và những người kế vị tiếp tục diễn lại Bữa tiệc ly và dâng Hy tế đền tội của Chúa cách bí tích trên bàn thờ ngày nay, cùng thể thức và mục đích của Hy Tế thập giá mà Chúa đã một lần dâng lên Chúa Cha xưa trên thập giá. Đây là niềm tin và thực hành của Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo.
Nhưng anh em Tin Lành không chia sẻ niềm tin này, và không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện ( real presence) trong hình bánh và rượu. Vì thế khi hội họp để giảng Kinh Thánh, có một số nhóm Tin Lành cũng có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho, nhưng vì họ không có chức linh mục hữu hiệu và nhất là vì không tin có sự biến đổi bản thể ( transubstantiation) của bánh và rượu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể ( Eucharist) được, dù thừa tác viên của họ có đọc lại lời Chúa khi bẻ bánh và uống rượu.Anh em Anh Giáo cũng vậy. Họ không có chức linh mục hữu hiệu ( valid priesthood) nên bánh họ bẻ và rượu họ uống chỉ thuần túy là bánh và rượu mà thôi, chứ không phải là Mình Máu Chúa Kitô hiện diện thực sự trong hình bánh và rượu nho như Giáo Hội Công Gáo và Chính Thông Giáo tin mỗi khi cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn.
Như thế Chức Linh mục thừa tác ( Ministerial Priesthood ) là vô cùng quan trọng, vì không có Chức thánh này thì không thể có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải và Sức dầu bệnh nhân.Các giáo phái Tin Lành và Anh giáo không có các bí tích trên vì họ không có chức linh mục thừa tác hữu hiệu, do không có nguồn gốc Tông Đồ như Công Giáo và Chính Thống.Vì thế, khi họ trở lại với Giáo Hội Công Giáo. Thừa tác viên hay linh mục ( Anh Giáo) của họ đều phải được huấn luyện lại để chịu chức linh mục của Giáo Hội, nếu họ muốn.
Các Bí Tích là những phương tiện hữu hiệu thông ban ơn cứu độ của Chúa Kitô qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô được thiết lậptrên nền tảng Tông Đồ để tiếp tục Sứ mệnh cứu chuộc của Chúa Giê su-Kitô cho đến ngày mãn thời gian. Do đó, muốn được nhận lãnh ơn cứu chuộc vô giá đó, nhất thiết chúng ta phải gia nhập Giáo Hội qua Phép Rửa, lớn lên trong đức tin nhờ bí tích Thêm sức, được bổ sức thiêng liêng cho hành trình tiến về quê trời nhờ bí tich Thánh Thể và được làm hòa với Chúa qua bí tích Hòa giải,
Nghe lời Chúa trong Kinh Thánh rất quan trọng và cần thiết , vì " người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng ĐỨC CHÚA phán ra" ( Đnl: 7 : 3; Mt 4 :4; Lc 4: 4)
Do đó, có siêng năng đọc và nghe lời Chúa trong Kinh Thánh, chúng ta mới được
soi sáng và biết được ý muốn của Chúa cho mỗi người chúng ta để từ đó biết sống theo đường lối của Chúa, và nhiên hậu được cứu rỗi, vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta " Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1Tm 2:4)
Nhưng nghe lời Chúa không thôi thì không đủ, mặc dù là rất cần thiết. Nghe lời Chúa như anh em Tin Lành rao giảng mà không lãnh nhận các ơn ích lớn lao
Chúa Kitô ban dồi dào qua các bí tích Thêm Sức, Thánh Thể và Hòa giải , thì thật là một thiếu sót rất đáng tiếc.
Thật vậy, Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) là " nguồn mạch và đỉnh cao của tất cả đời sống Kitô giáo." ( Lumen Gentium, số 11) vì mỗi khi cử hành Mầu nhiệm này, Giáo Hội diễn lại bữa Tiệc Ly sau hết của Chúa Kitô và Hy Tế đền tội của Người một lần dâng lên Chúa Cha trên thập giá để xin ơn tha thứ cho toàn thể nhân loại đáng phải phạt vì tội lỗi. Vì thế, mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó " Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chiu hiến tế (1 Cor 10:17) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( LG ,số 3)
Nghĩa là , Thánh Lễ ngày nay, về một phương diện, cũng là Hy Tế thập giá Chúa Kitô lại dâng lên Chúa Cha cách bí tích để xin ơn tha thứ cho chúng ta cùng thể thức và mục đích của Hy Tế lần đầu Người dâng trên thập giá năm xưa.Do đó, tham dự Thánh Lễ cách xứng hợp và trọn vẹn ( sốt sắng, sạch tội trọng và rước Mình Thánh Chúa) là được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, bảo đảm cho phần rỗi mai sau, khi đã chấm dứt hành trình đức tin trên trần gian này.
Mặt khác , được ăn thịt và uống máu Chúa Kitô qua bí tích Thánh Thể cử hành trong khuôn khổ Thánh Lễ Tạ ơn, là bảo đảm nữa cho sự sống đời đời của mỗi người chúng ta như Chúa Giêsu đã hứa:
" Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta
Thì được sống muôn đời
Và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết." ( Ga 6 :54)
Chắc chắn Chúa không hứa suông, mà Người sẽ giữ lời hứa cho những ai yêu mến Người cách cụ thể là ăn thịt và uống máu Người, tức là rước Mình Thánh Chúa cách xứng đáng ( sạch tội trọng) khi tham dự Thánh lễ Tạ Ơn.
Mặt khác, là con người ai cũng yếu đuối trong bản tính do hậu quả của Tội Nguyên Tổ ( original sin), lại thêm cám dỗ mạnh mẽ của ma quỉ và gương xấu, dịp tội đầy rẫy trong môi trường sống, nên cũng không ai tránh được khuyết điểm, lầm lỗi và tội lỗi nặng nhẹ.Vì thế Chúa Kitô đã ban bí tích hòa giải để giúp con người làm hòa lại với Thiên Chúa, và lấy lại tình thương của Người, sau khi lỡ sa phạm tội.
Kinh nghiệm cá nhân cho chúng ta biết rằng mỗi khi thật lòng sám hối và đi xưng tội cách ngay lành ( không dấu tội nào) với một linh mục, và được ơn tha tội ( absolution) thì chúng ta cảm thấy sung sướng và an vui trong tâm hồn, một thứ an vui mà không một tâm lý gia hay bác sĩ tâm thần nào có thể mang lại cho bệnh nhân đến xin trị liệu.
Nếu chỉ sám hối và không đi xưng tội, như anh em Tin Lành rao giảng, thì không bao giờ chúng ta có thể cảm nghiệm được niềm an vui nội tâm như sau khi xưng tội cách xứng hợp ( không dấu tội nào, đặc biệt là tội trọng) và được ơn tha thứ. Chúa Kitô thực sự hiện diện trong bí tích Hòa giải để chính Người ban cho chúng ta ơn bình an, vui thỏa nội tâm đó qua tay một linh mục , dù bất xứng đến đâu theo con mắt người đời.
Các anh em ngoài Công Giáo không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, nếu họ chỉ đọc và nghe lời Chúa trong Kinh Thánh mà không biết đến các bí tích tối quan trọng là Thánh Thể và Hòa giải, là các phương tiện hữu hiệu thông ban ơn cứu độ của Chúa Kitô cho những ai thành tâm và tin tưởng tìm đến.Và chỉ trong Giáo hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương mới có các nguồn suối tuôn đổ ơn sủng này của Chúa cho con người mà thôi.
Lại nữa, với bí tích sức dầu bệnh nhân, người tín hữu , khi đau ốm, sẽ nhận được ơn an ủi để vui lòng chịu khó , chống lại những lo buồn thối chí. Bí tích này cũng đôi khi chữa lành cả bệnh tật thể xác nữa. Kinh nghiệm mục vụ cho tôi biết điều này vì có nhiều bệnh nhân lâm vào tình trạng hôn mê ( coma), nhưng sau khi được sức dầu, đã tỉnh lại và qua được cơn bệnh nguy kịch, khiến thân nhân thêm lòng trông cậy Chúa và tin tưởng hiệu năng của bí tích sức dầu.
Các giáo phái Tin Lành và Anh giáo kể cả Do Thái giáo ( Judaism) đều không có các bí tích trên, nên tín đồ của họ không thể lãnh nhận được những lợi ích thiêng liêng đến từ các bí tích quan trọng đó.
Tóm lại, nghe và đọc lời Chúa trong Kinh Thánh không thôi, thì không đủ cho ta lãnh nhận các ơn ích ơn lao qua các bí tích Thánh Thể và hòa giải và sức dầu bệnh nhân, như kinh nghiệm thực tế của mỗi người tín hữu chúng ta đã cảm nghiệm được , phù hợp với lời dạy không sai lầm của Giáo Hội về tầm quan trọng và lợi ích thiêng liêng của các bí tích trên.
Chúng ta vô cùng cám ơn Chúa đã ban các phương tiện thánh hóa và chữa lành đó để giúp chúng ta được thăng tiến trong đời sống thiêng liêng nhờ năng rước Minh Thánh Chúa, năng xưng tội và được sức dầu thánh mỗi khi đau yếu.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 142 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Hỏi: xin cha giải đáp thắc mắc sau :
1- Có được phép đem tro người chết thả ngoài sông, hồ hay biển được không?
2- Khi rước Lễ, có thể chỉ rước Mình Thánh hay Máu Thánh được không?
3- Các tu sĩ nam hay nữ có được phép rửa tội và chứng hôn không?
Trả lời:
1-Có được phép bỏ tro người chết xuống hồ, sông hay biển ?
Trước hết, phải nói lại một lần nữa là việc chôn xác kẻ chết là một việc đạo đức được khuyến khích và tôn trọng từ xưa đến nay trong Giáo Hội và trong mọi nền văn hóa nhân loại. Riêng trong Giáo Hội Công Giáo, việc đạo đức này được đặc biệt tôn trọng vì niềm tin " xác loài người ngày sau sống lại" (Kinh Tin Kính), cho nên phải được chôn cất cho xứng đáng với niềm tin này.Vì thế, ở khắp nơi trong Giáo Hội đều có các nghĩa trang được làm phép để chôn người chết cho con cháu, thân nhân đến viếng thăm quanh năm , và đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11 dương lịch). Ai viếng thăm nghĩa trang và cầu cho các linh hồn mà xác đang còn nằm ở đây thì được ân đại xá nhưng phải nhường lại ân huệ này cho các linh hồn thân nhân hay các linh hồn khác có xác đang nằm trong nghĩa trang. Đây là việc đạo đức mà các tín hữu được khuyến khích siêng năng làm để cầu cho các linh hồn còn đang được thanh tẩy trong nơi Luyện tội ( Purgatory)
Trước đây, có thời Giáo Hội đã cấm thiêu xác người chết ( cremation) vì có bè rối ( heretics) chủ trương đốt xác kẻ chết để thách đố Giáo Hội xem còn lấy gì để tin xác kẻ chết sẽ sống lại như Giáo Hội dạy. Sau này bè rối đó tan và từ sau Công Đông Vaticanô II ( 1962-65) đến nay, Giáo Hội lại cho phép đốt xác nhưng phải tin rằng dù xác chết tan trong lòng đất hay tan thành tro bụi khi đem thiêu, thì vẫn được quyền năng của Thiên Chúa cho sống lại hiệp cùng linh hồn để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc Thiên Đàng hay bị phạt trong nơi gọi là hỏa ngục.( hell) trong ngày cánh chung.( . Mt 25 : 31-46)
Giáo Lý và giáo luật của Giáo Hội đều dạy phải tôn kính thi hài của người quá cố được an táng trong nghĩa trang Công giáo để chờ ngày sống lại.
Nếu chọn hỏa táng ( cremation) thì việc này không được làm trái với niềm tin của Giáo Hội về sự sống lại của kẻ chết. ( giáo luật số 1176; SGLGHCG số 1684- 1690). Nghĩa là phải tin rằng dù xác kẻ chết đã ra tro bụi, thì vẫn được sống lại cùng với linh hồn trong ngay sau hết như đã nói ở trên. Vì thế, tro của người hỏa táng cũng phải được tôn kính như xác chôn ngoài nghĩa địa. Nghĩa là phải cất giữ tro này ở nơi xứng đáng, hoặc ở tư gia hay trong nhà thờ nào có nhận cất giữ tro của người hỏa táng. Nghĩa là không được phép mang tro này ra trải ngoài sông, ao hồ hay biển cả, như những người không có niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết đang làm. Vì không tin, nên họ đã trải tro của thân nhân họ ra sông , hồ hay biển cả , vì cho rằng con người là hư không, chết là hết, nên thả tro ra sông, biển để nói lên sự hư không này của thân phận con người.
Ngược lại, vì người Công Giáo tin xác loài người sẽ sống lại, nên xác chết phải được giữ gìn trong nghĩa trang hay trong các hộp tro để cho con cháu, thân nhân viếng thăm và cầu nguyện. Vậy nếu đem tro của người chết trải ra ngoài sông, biển thì lấy đâu ra nơi cụ thể để viếng thăm đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn. Nghiêm trọng hơn nữa là nếu đem trải tro người chết ra sông, hay biển thì vô tình chia sẻ niềm tin của những người không tin có sự sống lại của thân xác hay sao ?
2- Có được phép chỉ rước Máu Thánh Chúa Kitô trong Thánh lễ ?
Từ xa xưa, việc rước Lễ của giáo dân chỉ trong giới hạn rước Mình Thánh Chúa mà thôi, vì Giáo Hội dạy rằng Chúa Kitô hiện diện trọn vẹn trong hình bánh,và chỉ có linh mục cử hành Thánh lễ được rước cả hai Mình và Máu Thánh Chúa.
Nay vì muốn diễn tả cách trọn vẹn ý nghĩa Thánh Lễ, về một phương diện, là bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với 12 Tông Đồ. Trong Bữa Ăn lịch sử này, Chúa đã lập Bi tích Thánh Thể khi biến bánh và rượu thành Mình Máu Người cho các Tông Đồ ăn và uống lần đầu tiên.Vì thế , ngày nay Giáo Hội cho phép giáo dân được rước cả hai hình thức Thánh Thể là bánh và rượu đã được truyền phép ( consecrated) trong Thánh Lễ. Nhưng ở các Giáo Hội địa phương ( Giáo phận) các Giám mục vẫn có toàn quyền để cho phép rước Thánh thể cả hai hình thức hay một hình thức như cũ..
Tuy nhiên, ở nơi nào cho rước cả hai hình thức Thánh Thể, thì giáo dân, hoặc chọn rước cả hai hay chỉ một Mình Thánh mà thôi. Nghĩa là không được chọn rước một hình thức là Máu Thánh mà không rước Mình Thánh. Nói rõ hơn , rước một Mình Thánh thì được , nhưng không được phép chỉ rước Máu Thánh không thôi.
Tuy nhiên, trong trường hợp một bệnh nhân không thể rước Mình Thánh vì không nuốt được chất đặc nào qua miệng, thì có thể chỉ cần rước Máu Thánh là đủ.
Riêng hàng tư tế , tức linh mục và Giám mục, thì buộc phải rước cả hai hình thức Thánh Thể khi chủ tế hay đồng tế Thánh Lễ.
3- Tu Sĩ có được phép rửa tội, sức dầu và chứng hôn không ?
Trước khi trả lời câu hỏi này, cần phân biệt như sau:
Tu sĩ ( religious) là những người có ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh ( chastity) và vâng phục trong một Tu Hội hay Nhà Dòng được thành lập đúng theo giáo luật.
Giáo sĩ ( clerics) là những người có chức thánh như Phó tế, Linh mục và Giám mục. Giáo sĩ chỉ có hai lời khấn là khiết tịnh ( độc thân) và vâng phục mà thôi. Giáo sĩ không phải là Tu sĩ. Nhưng nam tu sĩ có thể trở thành giáo sĩ nếu có các chức thánh nói trên, mặc dù vẫn thuộc hàng tu sĩ, vì có ba lời khấn trong Tu Hội hay Nhà Dòng liên hệ. Giáo sĩ thì thuộc về một địa phận dưới quyền của một Giáo mục, và được gọi là các linh mục triều ( diocesan priests), trong khi các tu sĩ linh mục thì được gọi là các linh mục Dòng ( religious priests),
Liên quan đến câu hỏi đặt ra, nếu chỉ là Tu sĩ ( religious ) )có lời khấn Dòng mà không có chức Phó tế, Linh mục hay giám mục, thì không ai được phép cử hành bất cứ bí tích nào. Phải nói rõ điều này vì ở một địa phương kia, có cha xứ đã cho một nữ tu rửa tội cho trẻ em ở nhà thờ trước sự chứng kiến của cha xứ ! và cả hai đã bị bề trên liên hệ khiển trách nặng, vì đã làm việc hoàn toàn sai trái về kỷ luật bí tích của Giáo Hội.
Nhưng nếu Tu sĩ cũng là giáo sĩ ( nam tu sĩ), nghĩa là có chức linh mục hay giám mục thì vẫn có năng quyền để cử hành các bí tích như mọi giáo sĩ. Dĩ nhiên, linh mục Triều hay Dòng, muốn làm mục vụ trong giáo hội địa phương ( giáo phận), thì phải có phép của Đấng bản quyền địa phương, nghĩa là phải xin năng quyền ( faculties) của Tòa Giám mục.
Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử, thì tu sĩ ( nam nữ) hay giáo dân đều có thể được phép rửa tội ở bất cứ nơi nào, nhưng phải theo đúng công thức của Giáo Hội, nghĩa là phải có nước và đọc công thức Chúa Ba Ngôi.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 141 = BI AN NUOC TROI PDF Print E-mail

Bí ẩn Nước Trời - TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
Today MAY 13-14 at 9:28 AM

Bí ẩn Nước Trời

Alex Tresniowski viết: "Đối với một nơi chúng ta mơ ước tới, thật đặc biệt biết bao khi chúng ta biết rõ về Nước Trời. Không có sách nào cho biết vẻ đẹp của Nước Trời, chẳng có video nào trên Youtube hoặc hình ảnh nào đưa lên Facebook. Tất cả chúng ta phải xem cách mô tả của Kinh Thánh về nơi rộng rãi và lung linh đó: 'Thành phố đó sẽ không còn đêm tối nữa, sẽ không cần ánh sáng của đèn, cũng chẳng cần ánh sáng mặt trời, vì Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ chiếu sáng trên họ, và họ sẽ hiển trị đến muôn thuở muôn đời' (Kh 22:5). Chúng ta có ký ức của những người như Crystal McVea, một người mẹ và một giáo viên ở Oklahoma đã tỉnh lại sau khi chết tại bệnh viện và nay mô tả kinh nghiệm đó trong cuốn "Waking Up In Heaven" (Bước Vào Thiên Đàng).

Tresniowski cho biết: "Tôi đủ may mắn để là đồng tác giả với Crystal, và trong thời đại chúng ta, tôi cũng biết về lòng can đảm về Đức Tin, vâng, một nơi đẹp đẽ được gọi là Nước Trời. Mới đây, tôi cùng Crystal lại nói về những điều kỳ lạ mà bà phát hiện trong hành trình của bà".

Trên Nước Trời, không có những điều tương tự như thời gian. Crystal cho biết: "Đó là điều đầu tiên tôi biết về Nước Trời — mọi thứ xảy ra ngay lập tức. Không có sự nối tiếp cảu các sự kiện, không có phút hoặc giờ, hoặc bất kỳ thứ gì như vậy. Khi tôi nhắm mắt trong bệnh viện và mở mắt ở trên trời, tôi có cảm giác là mọi thứ biến mất trước mắt tôi ngay, nhưng không có cảm giác về sự vội vàng hoặc khẩn cấp. Thậm chí bây giờ tôi còn khó giao tiếp vì cuộc sống trên thế gian bị chi phối bởi đồng hồ và thời khóa biểu, nhưng trên trời không có thời khóa biểu. Chỉ có cảm giác kỳ lạ và nhận biết tức thời, cảm thấy bình an và yêu thương".

Trên Nước Trời, người ta biết chính mình: "Bạn biết đó, chúng ta nghĩ chúng ta biết chính mình ở trên thế gian, điều tôi biết được là chúng ta chỉ biết một phần nhỏ thông tin về chính mình mà thôi. Còn trên trời, chúng ta biết rõ thông tin về chính mình, biết mình là ai trước thời gian ở trên thế gian, và mình sẽ là ai đời đời. Như tôi nói trong cuốn sách này, trên trời chúng ta nhận thức sâu xa hơn mọi niềm hy vọng, mọi nỗi sợ, mọi ước mơ, và mọi vết nhơ xác định chúng ta trên thế gian. Thật là thú vị!".

Trên Nước Trời, người ta cảm thấy ánh sáng: "Tôi biết điều này lạ lắm, nhưng đó là cách tốt nhất tôi có thể mô tả kinh nghiệm như thế nào về mọi thứ trên trời — thay vì có 5 giác quan, tôi như có 500 giác quan. Do đó tôi trải nghiệm mọi thứ theo cách đầy đủ và mới lạ hơn như tôi từng cảm nhận trên thế gian. Ánh sáng chói lọi bao quanh chúng ta, còn hơn là ánh sáng nữa, đó là cái gì đó tuôn đổ vào chúng ta, và chúng ta cảm nghiệm đầy đủ. Ánh sáng của Thiên Chúa là cái gì đó mà bạn không chỉ nhìn thấy mà còn nghe được, nếm được, và sờ được, cảm nghiệm với mọi thớ thịt của chính mình".

Trên Nước Trời, người ta không bao giờ lầm lẫn: "Đây là một trong các sự thật kỳ lạ nhất về Nước Trời, vì khi nhìn lại, mọi thứ tôi cảm nghiệm đều khiến tôi ngạc nhiên. Nhưng ở trên trời, mọi thứ đều cảm nhận được. Không có gì làm tôi lầm lẫn hoặc làm tôi ngạc nhiên. Tôi có ý nói là nó hoàn toàn vượt ngoài tầm hiểu của con người và tôi vượt qua nhờ lòng yêu mến Thiên Chúa, nhưng không như tôi bị trở ngại bởi những thứ khó tin đã xảy ra. Tôi không bao giờ cảm thấy cần hỏi Chúa điều gì. Mọi thứ tôi cảm nghiệm là cần chúc tụng Ngài".

Trên Nước Trời, người ta không thể cúi đầu: "Ở trên trời, chúng ta không có các dạng cảm giác của thế gian. Chúng ta ở trong dạng tinh thần. Do đó chúng ta không có chân tay như trên thế gian. Tôi cảm thấy khó cúi đầu vì không có thân thể thật như trên thế gian. Nhưng lại vẫn có thân thể, vì tôi biết rằng tôi ở trước mặt Thiên Chúa, tôi thực sự cảm thấy bị thúc giục cúi đầu và phục lạy dưới chân Ngài để thờ lạy Ngài, đó là dạng tôi cảm thấy như thế. Người ta không thể cúi đầu nhưng cảm thấy chỉ muốn hướng về Thiên Chúa theo cách người ta có thể".

Người ta không tới Nước Trời, mà người ta trở về Nước Trời. Crystal nói: "Trên Nước Trời, tôi không gặp Chúa nhiều khi tôi nhận biết Ngài. Cũng vậy, trên trời không có cảm giác là nơi mới lạ, mà cảm thấy như ở nhà mình. Đó là một trong các sự thật tốt đẹp nhất về Nước Trời — tới đó mà thấy rất quen thuộc. Giống như bạn nhớ về kinh nghiệm lần đầu. Bằng cách có thể, Nước Trời y như nhà mình vậy".

Trên Nước Trời, không có hỏi và đáp. Crystal nói: "Bạn nghĩ mình sẽ có những câu hỏi để hỏi Chúa, nhưng không phải vậy. Bạn nghĩ bạn sẽ hỏi những câu như: Tại sao có đau khổ và bạo lực? Nhưng rồi bạn liền choáng ngợp cảm giác biết chắc Thiên Chúa là Đấng hoàn toàn hoàn hảo. Không có điều gì bạn cần biết về Chúa hoặc Nước Trời như bạn từng muốn biết khi còn ở thế gian, bạn không cảm thấy gì khác ngoài cảm giác được yêu thương".

Nước Trời không thể mô tả. Crystal nói: "Tôi luôn dùng từ sáng chói, tốt đẹp và kỳ lạ, nhưng đó chỉ là những chữ chúng ta có thể dùng để mô tả một cái gì đó đẹp. Nước Trời còn hơn cả thực tế minh bạch và rực rỡ hơn bất cứ thứ gì khác mà chúng ta có thể cảm nhận trên thế gian, không thể hiểu hết và không có từ ngữ nào đủ mô tả về Nước Trời".

Tresniowski viết: "Vẻ đẹp câu chuyện của Crystal McVea là chúng ta có thể giao tiếp với bà — một người mẹ, một giáo viên, một người phạm tội, một người tự nghi ngờ mình, một người cố gắng chiến đấu trong những lúc khó khăn, một người luôn tự hỏi Thiên Chúa có thật hay không. Nhưng lúc tôi gặp Crystal, bà biết Thiên Chúa có thật, Nước Trời có thật, và Nước Trời tuyệt đẹp. Bà có Đức Tin sâu sắc và tình yêu mãnh liệt dành cho Thiên Chúa".

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Nhớ ngày Đức Mẹ hiện ra tại Fátima, 13-5-1917

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 140 = NHAN BIET ON THIEN TRIEU PDF Print E-mail

May 11 at 9:57 PM
Nhận biết Ơn Thiên Triệu
(Theo Thánh Thomas Aquinô, Thánh Inhaxiô, và Thánh Gioan Phaolô II)
JOSEPH BOLIN

Đối với người Công giáo, có 2 cách chọn đường đi trong cuộc sống. Người ta có thể bắt đầu bằng suy nghĩ về mục đích sống, và suy nghĩ về điều gì sẽ hữu ích nhất trong việc đạt mục đích đó, hoặc người ta có thể tự vấn về điều Thiên Chúa muốn mình làm trong cuộc sống. Các phương pháp này khác nhau và bổ túc lẫn nhau, nhưng chỉ khi nào sách về ơn gọi áp dụng 2 phương pháp khác nhau cơ bản này. Cuốn sách này nhằm kiểm tra 2 phương pháp cơ bản này đối với vấn đề ơn gọi, những thuận lợi và những nguy hiểm tiềm ẩn của mỗi phương pháp, và đề nghị cách nhìn đơn giản về những ơn gọi tìm cách duy trì những lợi ích của mỗi phương pháp.

Không như đa số những sách khác về ơn gọi, sách này không là một luận thuyết thần học hướng dẫn những người trí thức, cũng không là sách hướng dẫn ơn gọi, mà gồm những lời khuyên chi tiết về cách chọn ơn gọi. Hơn nữa, sách này tìm cách đưa ra viễn cảnh sâu xa mà đơn giản và khả dĩ tiếp cận về ơn gọi, cho cả những người tìm kiếm ơn gọi và các vị linh hướng về ơn gọi để có nền tảng vững chắc, có thể hình thành phán đoán tốt về những tình huống đặc biệt mà họ đang xử lý.

Bất kỳ phương pháp nào chúng ta áp dụng cho ơn gọi thì sự tập trung chú ý vẫn phải là tình yêu. Mỗi ơn gọi phải được tập trung xoay quanh tình yêu, vì chính nhờ tình yêu mà chúng ta được kết hiệp với Thiên Chúa, Đấng là Tình yêu, và mọi người tìm thấy sự viên mãn nơi Ngài. Do đó, đời sống chúng ta sẽ hoàn thiện hơn, tới mức mà tình yêu của chúng ta vĩ đại hơn. Yêu cầu cơ bản để sống trong tình yêu là chúng ta tuân giữ các giới răn. Thánh Gioan nói: "Yêu mến Thiên Chúa là tuân giữ các điều răn của Ngài" (1 Ga 5:3). Thêm vào các giới răn, chúng ta được trao những lời khuyên hữu ích để phát triển trong tình yêu. Nhưng chính tình yêu phải luôn luôn duy trì tiêu chuẩn mà cách chọn lựa của chúng ta được đo lường. Yếu tố quyết định trong ơn gọi là sự hiến dâng để theo đuổi sự phát triển không ngừng trong tình yêu. Cường độ của tính kiên định của sự quyết tâm theo đuổi sự thánh thiện bằng cách dùng phương tiện chúng ta sử dụng, đó là điều rất quan trọng hơn cả phương tiện chúng ta chọn. Chẳng hạn, nên tìm kiếm sự thánh thiện trong hôn nhân toàn tâm toàn ý hơn là tìm kiếm sự thánh thiện trong đời sống tu trì toàn tâm toàn ý. Nhưng khi hiến dâng, chúng ta sẽ phát triển trong tình yêu chắc chắn hơn và mau chóng hơn nếu chúng ta sống theo cách thích hợp với việc phát triển trong tình yêu, chẳng hạn bằng cách sống theo lời khuyên Phúc âm (evangelical counsels).

Khi chọn con đường riêng để sống sẽ dẫn đến tình yêu, phương pháp của Thánh Thomas là suy nghĩ về sự tốt lành khách thể và tính khả dĩ của cách sống. Chẳng hạn, ngài nói rằng không cần phải suy nghĩ lâu dài trước khi quyết định đi tù, vì "như thế chắc chắn tốt hơn" và "vì những người đi tu không dựa vào sức mạnh riêng mình"1 nhưng tin cậy Thiên Chúa ban sức mạnh cần thiết để mình sống ơn gọi đó. Nhưng người ta phải tìm kiếm ý muốn đi tu từ Thiên Chúa, Thánh Thomas nói rằng nếu ước muốn đó chân thật, vì ý hướng tốt, đó là từ Thiên Chúa. Không thành vấn đề nếu Thiên Chúa có là nguồn trực tiếp của động thái đó hoặc tìm cách lôi kéo ai đó đi tu hay không. Thậm chí nếu chính ma quỷ là nguồn trực tiếp của ý muốn này thì chính ý muốn đó vẫn tốt, và cuối cùng vẫn từ Thiên Chúa.

Thánh Teresa Avila đã sống và hành động theo các quy luật này của Thánh Thomas. Bà thấy điều gì tốt thì nhất quyết làm. "Mặc dù tôi không tiếp tiếp tục có ý muốn làm nữ tu, tôi vẫn thấy đó là cách tốt nhất và an toàn nhất, và cứ dần dần, tôi quyết định bắt mình ấp ủ điều đó" (1). Bà tiếp tục nói về cách mà Thiên Chúa thưởng cho "sự mãnh liệt" như vậy (x. Mt 11:12) với chính điều đó (2). "Khi tôi đã quen, Thiên Chúa liền cho tôi hiểu và cách Ngài ủng hộ những người ép buộc chính mình trong việc phụng sự Ngài" (3).

Tương phản với Thánh Thomas, Thánh Inhaxiô Loyola mới đầu coi đó là "tìm kiếm Ý Chúa". Thánh Inhaxiô đưa ra "3 cách" để người ta có thể chọn cách sống hợp với Ý Chúa: (a) Khi người ta có kinh nghiệm trực tiếp về điều chắc chắn là Ý Chúa, và điều đó hướng dẫn người ta về cách sống; (b) Khi mà nhờ nhiều kinh nghiệm và sự tìm kiếm sự tác động của Chúa Thánh Thần, người ta hiểu rằng Chúa Thánh Thần đang mời gọi hoặc lôi kéo người ta vào cách sống nào đó, hoặc ý muốn đó phát xuất từ Chúa Thánh Thần; (c) Khi bắt đầu bằng một thái độ tách biệt đối với các tạo vật, và nếu có thể, bằng sự yêu thích những gì phù hợp hơn với Ý Chúa, người ta cẩn trọng chọn cách sống đó là cách pụng sự Chúa và cứu rỗi các linh hồn.

Mỗi phương pháp này đều có thuận lợi riêng và nguy cơ riêng. Phương pháp của Thánh Thomas có thuận lợi về khách quan hơn, do đó ít có khả năng lừa dối, nhưng cũng có nguy cơ là quá trừu tượng, và do đó quá xa rời thực tế và sống kết hiệp với Thiên Chúa. Phương pháp của Thánh Inhaxiô có thuận lợi là riêng tư hơn, nhưng cũng có nguy cơ là ơn gọi sẽ được coi là gánh nặng bắt buộc (obligatory burden) bị Thiên Chúa áp đặt, không là lời mời gọi tự do sống tình yêu lớn lao hơn. Thánh Anphong Ligouri và Von Balthasar có vẻ có sự sai lầm này, vì quá nhấn mạnh vào đặc tính riêng của ơn gọi.

Nhưng dù 2 phương pháp này có những điểm khác biệt cơ bản, cuối cùng chúng vẫn tương thích. Một mặt nó khách quan tốt hơn để theo Ý Chúa hơn theo ý mình. Một mặt cho thấy khi chúng ta tìm kiếm Ý Chúa, chúng ta sẽ nhận thấy có những cái để xác định Ý Chúa không chỉ đặc biệt mà còn tổng quát và khách quan. Như vậy Thánh Anphong, theo phương pháp tổng quát của Thánh Inhaxiô, không cói các dấu hiệu của Ý Chúa là điều phải có để người ta nuôi dưỡng ý hướng tu trì; người ta chỉ cần 2 dấu hiệu như Thánh Thomas yêu cầu: Ý hướng vừa tốt lành vừa kiên định, và không trở ngại.

Nếu chúng ta áp dụng trường hợp người ta không trở ngại, và dịnh hướng tích cực – phải thích hợp cách sống – rồi chúng tacó những điều kiện chính mà Giáo hội đòi hỏi về ơn gọi. Về yếu tố đầu tiên, ý muốn kiên định và muốn có cách sống đặc biệt (giả sử cách chọn đó hợp pháp và tốt lành), là cần thiết cho ơn gọi, mà Thánh Phanxicô Salê nói rằng ước muốn kiên định như thế chính là ơn gọi. Tuy nhiên, đối với sự kiên định của ơn gọi, chúng ta vẫn cần điều kiện thứ ba, nghĩa là sự chấp thuận của Giáo hội. Thiên Chúa không kêu gọi chúng ta tới sự thánh thiện đơn giản là những cá nhân, mà là các thành viên của Giáo hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô. Vì thế, nhiệm vụ của Giáo hội là trắc nghiệm và phê chuẩn ơn gọi, nhất là ơn gọi tu trì và linh mục.

Các phương pháp của Thánh Thomas và của thánh Inhaxiô không chỉ tương thích về lý thuyết, mà còn liên kết tới một mức nào đó theo phác thảo về ơn gọi của Thánh Gioan Phaolô II. Theo mô tả của ngài, ơn gọi luôn bắt đầu với Chúa Kitô, Đấng đến với mỗi cá nhân trong tình yêu, hướng dẫn người đó tìm ra cách sống thích hợp với tình yêu đó. Khi cầu nguyện đối thoại với Chúa Kitô, ngài đã kiểm tra những trường hợp riêng của ngài để tìm ra con đường sống mà ngài có thể biến nó thành tặng phẩm của mình trong tình yêu.

Phương pháp kết hợp này có thể là cách tốt nhất để suy nghĩ về ơn gọi. Mục đích cuối cùng của sự suy nghĩ cân nhắc nên đáp lại tình yêu vĩnh hằng của Thiên Chúa dành cho chúng ta. Vì thế, ưu tiên việc "tìm kiếm" ơn gọi, hoặc "quyết định" cách sống, chúng ta phải cố gắng ưu tiên thanh luyện tâm hồn mình, để yêu thật và tìm kiếm Chúa trên hết mọi sự, và đưa tình yêu vào việc chọn cách sống. Chỉ khi đó chúng ta mới sử dụng tặng phẩm Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta – khối óc và con tim – để quyết định về cách sống.

Khi tìm kiếm ơn gọi, yếu tố này hay yếu tố khác – khối óc hoặc con tim – có thể giữ vai trò chủ đạo. Mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng ý chí: sau khi suy nghĩ và cân nhắc các yếu tố thích hợp, chúng ta có thể biết cái gì là phương tiện tốt nhất để thực hiện tình yêu và phát triển trong tình yêu, và hãy chọn phương tiện đó. Hoặc mới đầu chúng ta có thể quyết định bằng con tim: trong vài cách có thể cái nào cũng tốt để thực hiện tình yêu và phát triển nó trong tình yêu, chúng ta có thể chọn cách mà chúng ta có khuynh hướng nhiều – không theo xu hướng thoáng qua, nhưng là khuynh hướng bền vững, nghĩa là theo tình yêu đích thực.

Khi suy nghĩ và chọn cách sống, chúng ta nên luôn nghĩ rằng con đường chúng ta chọn không là ý muốn riêng mình, mà là thiết kế của Thiên Chúa. Mỗi người trong chúng ta ở một vị trí riêng trong thế giới, cho nên chúng ta có thể chọn con đường riêng để đến với Chúa. Và như vậy, sau khi đã chọn con đường để sống, chúng ta nên tạ ơn Chúa về tình yêu của Ngài, cơ hội và lời mời gọi yêu thương mà Ngài dành cho chúng ta.

Ý muốn kiên định nên theo cách chọn lựa của chúng ta. Ý muốn kiên định này sẽ làm cho chúng ta có thể tận hiến để thực hiện việc yêu mến Chúa và tha nhân theo cách chúng ta đã chọn, và kiên trì trong mọi khó khăn. Ý muốn kiên định này là muốn phụng sự Thiên Chúa theo cách sống mà thường tạo ra sự bình an tâm hồn. Sự bình an tâm hồn liên quan cách chọn riêng là dấu hiệu kiên định của ơn gọi, và có thể được gọi là dấu hiệu của ơn gọi.

Phương pháp trực tiếp này là cách tiếp cận ơn gọi. Giữa cách của Thánh Thomas và của Thánh Inhaxiô, thực sự có nhiều cách khác mà chúng ta có thể dùng để chọn cách sống. Vấn đề là thanh tẩy tâm hồn chúng ta, chân thành sống vì tình yêu lớn lao hơn, luôn tuân phục các giáo huấn của Giáo hội và tuân theo sự cẩn trọng Kitô giáo, đồng thời cởi mở theo sự tác động của Chúa Thánh Thần, dù Ngài đưa dẫn chúng ta đi đâu. Việc tìm kiếm và theo đuổi ơn gọi không nên là máy móc hoặc xử lý lo âu, mà là sống và vui mừng với Thiên Chúa, vì "Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta, và Người biết hết mọi sự" (1 Ga 3:20).
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ PathsOfLove.com)

Kính chuyển

Hồng

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 121 of 159