mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3654
mod_vvisit_counterHôm Qua1098
mod_vvisit_counterTuần Này4752
mod_vvisit_counterTuần Trước2
mod_vvisit_counterTháng Này116784
mod_vvisit_counterTháng Trước353437
mod_vvisit_counterTất cả16606576

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 171 = NAM CHUA GIANG SINH PDF Print E-mail

Dec 14 at 9:58 PM

Chúa Giêsu giáng sinh năm nào ?

JIMMY AKIN

Có thể người ta vẫn nghĩ là Chúa Giêsu giáng sinh năm 0 (năm Không, năm Zero) – khoảng giao niên giữa năm 1 trước công nguyên (TCN) và năm 1 sau công nguyên (SCN), nói chung là khoảng năm 6-7 TCN. Chứng cớ từ Kinh Thánh và các Giáo phụ cũng khác nhau.

Chắc chắn không phải là năm 0 (zero). Chứng cớ cho thấy Chúa Giêsu cũng không sinh năm 1. Đó là điều khá ngạc nhiên, vì chúng ta thường dùng những con số có số 0, nhưng số 0 không là khái niệm để tính năm.

Có thể nghĩ thế này: Cứ thử nghĩ mình có một đứa con và muốn dự định các sự kiện liên quan ngày sinh của đứa con đó. Năm thứ nhất trước khi đứa con sinh ra hẳn là năm 1 SCN, còn năm thứ nhất sau khi đứa con sinh ra hẳn là năm 1 (sinh nhật thứ nhất) là năm đầu tiên của đứa con. Nếu người con là Chúa, hẳn là năm thứ nhất của Chúa, nghĩa là SCN. Như vậy, không có năm 0 giữa năm 1 TCN và năm 1 SCN. Vậy Chúa Giêsu sinh năm nào?

Năm 1 TCN? (Trước Công Nguyên)

Người tính năm Chúa Giêsu sinh ra là tu sĩ Dionysius Exiguus (gọi tắt là Dennis), sống vào thế kỷ VI. Ông nghĩ rằng Chúa Giêsu sinh năm 1 TCN. Thực sự là hơi phức tạp, nhưng chúng ta cứ coi là đơn giản. Ngày nay, đa số đều nghĩ rằng thời gian đó là quá trễ, còn chứng cớ cho thấy sớm hơn vài năm.

Năm 6-7 TCN?

Nếu ít hơn một thế kỷ, đa số cho rằng Chúa Giêsu sinh khoảng năm 6-7 TCN. Lý do: Chúa Giêsu sinh vào cuối triều vua Hêrôđê Cả, băng hà năm 4 TCN.

Hơn nữa, các nhà thông thái đã thấy ngôi sao lạ xuất hiện ở Đông phương từ hai năm trước khi họ đến Giêrusalem, nơi họ gặp vua Hêrôđê. Trở lại hai năm từ năm 4 TCN, chúng ta có năm 6 TCN. Trở lại một năm nữa nếu vua Hêrôđê không mất ngay sau khi họ tới Giêrusalem, chúng ta có năm 7 TCN. Như vậy là năm 6 hoặc 7 TCN. Như chúng ta biết, vấn đề là việc cho rằng vua Hê-rô-đê mất năm 4 TCN. Như vậy có hai cách hiểu "có vấn đề".

Năm 3-4 TCN?

Chứng cớ cho thấy vua Hêrôđê mất năm 1 TCN. Như vậy, trở lại hai năm thì chúng ta có năm 3 TCN. Trở lại một năm thì chúng ta có năm 4 TCN. Như vậy là năm 3-4 TCN. Vậy là có lý, nhưng lại vẫn có vấn đề.

Chứng cớ khác, bao gồm chứng cớ khác trong Kinh Thánh, cho thấy sớm hơn một chút. Cách hiểu "có vấn đề" là ngôi sao lạ lần đầu được thấy ở Đông phương vào thời điểm Chúa Giêsu giáng sinh và thấy hai năm trước khi các nhà thông thái tới Belem.

Vấn đề thứ nhất của cách hiểu "có vấn đề" (trong số các vấn nạn khác) là vì sự xuất hiện của ngôi sao có thể liên kết với điểm khác trong cuộc đời Chúa Giêsu, chẳng hạn như quan niệm của Ngài. Nếu có trường hợp này, người ta cần trừ bớt chín tháng để tìm ra thời điểm Chúa giáng sinh.

Đó cũng là vấn đề vì Thánh Matthêu không nói rằng ngôi sao xuất hiện từ hai năm trước. Điều ngài nói là vua Hêrôđê đã giết hết các trẻ nam từ 2 tuổi trở xuống ở vùng Belem, hợp với thời gian ông ta gặp các đạo sĩ. Nghĩa là có mức xấp xỉ ở đây. Vua Hêrôđê chắc chắn muốn Hài Nhi Giêsu bị giết chết, nhưng ông ta đã lầm to!

Nghĩa là Chúa Giêsu ít nhất gần 2 tuổi, nhưng cũng có thể còn ít tuổi hơn. Điều có thể xảy ra là vua Hêrôđê có thể đã nghe nói rằng ngôi sao xuất hiện một năm trước và ông ta quyết định giết chết các trẻ em nam từ hơn 1 tuổi cho chắc ăn. Sự thật là người xưa thường tính gọn cho trọn một năm, do đó "hai năm" có thể nghĩa là "một năm cộng với nửa năm thứ hai". Vì thế, có thể là hai năm trước hoặc ít hơn.

Năm 2-3 TCN?

Thời gian được xác định nếu chúng ta bắt đầu từ năm vua Hêrôđê chết là năm 1 TCN. Tính vào các yếu tố ở trên, trở lại một năm, chúng ta có năm 2 TCN. Nếu chúng ta trở lại một năm nữa để hợp với sự kiện vua Hêrôđê không chết ngay, chúng ta có năm 3 TCN. Như vậy, khoảng thời gian nào đó giữa các năm 2-3 TCN sẽ hợp lý, dựa vào những gì chúng ta đọc trong Phúc Âm theo Thánh Matthêu.

Chúng ta có chứng cớ khác? Có. Cả trong và ngoài Kinh Thánh. Mặc dù Thánh Luca đưa ra một số gợi ý hữu ích về thời gian Chúa Giêsu giáng sinh, chúng ta vẫn không biết đầy đủ. Ngày tháng đăng ký theo lệnh của Augustus còn gây tranh luận, chẳng hạn là quá phức tạp. Tuy nhiên, lại có những điều thú vị. Chẳng hạn, Thánh Luca nói rằng Thánh Gioan Tẩy Giả bắt đầu sứ vụ vào "năm thứ 15 của triều đại Tiberius Caesar" (Lc 3:1).

Tiberius trở thành hoàng đế sau khi Augustus băng hà vào tháng 8 năm 14 SCN. Tuy nhiên, các sử gia Rôma (Tacitus, Suetonius,...) có xu hướng bắt đầu tính triều đại của một hoàng đế từ ngày 1 tháng Một sau khi họ đăng quang.

Theo cách tính đó, năm thứ 15 của hoàng đế Tiberius Caesar phù hợp với những gì chúng ta gọi là năm 29 SCN. Hãy nhớ rằng, năm thứ 15 là thời gian giữa "khoảng trọn vẹn" của năm thứ 14 và năm thứ 15. Cũng vậy, năm đầu của một trẻ sơ sinh là thời gian giữa thời điểm sinh ra và sinh nhật lần thứ nhất. Sứ vụ của Chúa Giêsu bắt đầu vào lúc nào đó sau khi Thánh Gioan Tẩy Giả bắt đầu sứ vụ, nhưng không quá lâu. Có thể chỉ vài tuần hoặc vài tháng.

Nếu vậy, sứ vụ của Chúa Giêsu có thể cũng bắt đầu từ năm 29 SCN. Điều này quan trọng, vì Thánh Luca cho chúng ta một gợi ý khác: Ngài nói rằng Chúa Giêsu "khoảng 30 tuổi" khi Ngài bắt đầu sứ vụ (Lc 3:23). Như vậy, nếu là năm 29 SCN và trở lại 30 năm, như vậy là đúng? Có thể nghĩ đó là năm 1 TCN, nhưng hãy nhớ rằng không có năm 0, vậy là năm 2 TCN, hoặc là cuối năm 3 TCN. Nếu Thánh Luca tính triều đại hoàng đế Tiberius từ lúc ông ta trở thành hoàng đế chứ không là ngày 1 tháng Một. Như vậy, năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN là ước tính hợp lý.

Đó chỉ là ước tính, vì Chúa Giêsu có thể còn nhỏ hơn hoặc lớn hơn 30 tuổi. Về mục đích so sánh, lưu ý rằng khi Thánh Luca cho biết tuổi của con gái của ông Giai-rô, ngài nói nó "khoảng 12 tuổi" (Lc 8:42). Như vậy, Thánh Luca muốn nói chính xác hơn như vậy. Khi Thánh Luca nói rằng Chúa Giêsu "khoảng 30 tuổi", có thể ngài không hình dung ra khoảng 25 tới 35 tuổi, mà là "khoảng" nhỏ hơn như vậy.

Các giáo phụ

Có sự tập trung bất ngờ trong các nguồn của Kitô giáo thời sơ khai về năm sinh Chúa Giêsu. Đây là bảng liệt kê của Jack Finegan trong cuốn Handbook of Biblical Chronology (Sổ tay Biên niên sử Kinh Thánh, trang 291) với niên đại được đề nghị từ các nguồn khác:

Alogoi

Năm 4 TCN hoặc năm 9 SCN

Cassiodorus Senator

Năm 3 TCN

Thánh Irênê thành Lyon

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Thánh Clement thành Alexandria

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Tertullian thành Carthage

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Julius Africanus

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Thánh Hippolytus thành Rôma

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Hippolytus thành Thebes

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Origen thành Alexandria

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Eusebius thành Caesarea

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Epiphanius thành Salamis

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Orosius

Năm 2 TCN

Dionysius Exiguus

Năm 1 TCN

Thời gian năm 354

Năm 1 SCN

Theo đó, rất có thể Chúa Giêsu giáng sinh vào năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN. Thánh Irênê thành Lyon, Clement thành Alexandria, Tertullian, Julius Africanus, và Hippolytus thành Rôma đều viết vào cuối những năm 100 hoặc đầu những năm 200. Cẩn thận đọc Phúc Âm theo Thánh Matthêu, Thánh Luca, và các Giáo phụ, chúng ta có thể xác định rằng Chúa Giêsu giáng sinh vào năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

KÍnh chuyển:

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 170 = CHI NGHE LOI CHUA PDF Print E-mail

CHỈ NGHE LỜI CHÚA KHÔNG THÔI CÓ ĐỦ ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI KHÔNG ?
Hỏi : các mục sư Tin Lành chỉ nhấn mạnh cần đọc Kinh Thánh và tin Chúa Kitô là đủ cho con người được cứu độ. Xin cha cho biết ý kiến về vấn đề này .
Trả lời:
Tôi đã nhiều lần nó rõ là các nhánh Tin Lành đều chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) và chủ trương rằng con người được cứu độ vì tin Chúa Kitô chứ không phải nhờ việc lành nào có thể làm được. Sở dĩ thế, vì họ cho rằng con người – do hậu quả của tội Nguyên Tổ ( Original Sin) - đã mất hết khả năng hành thiện , tức làm việc lành rồi, nên chỉ còn tin vào Chúa Kitô và đọc lời Chúa trong Kinh Thánh là đủ để được cứu độ.
Quan niệm thần học trên chỉ đúng một phần, đó là tin Chúa Kitô là Đấng Cứu độ nhân loại (human Savior) và tin lời Chúa trong Kinh Thánh, nhưng sai và thiếu ở những phạm trù sau đây:
Trước hết, con người - tuy vẫn còn rất yếu đuối trong bản tính vì hậu quả của tội nguyên Tổ, nhưng vẫn không hoàn toàn bất lực trong cố gắng vươn lên nhờ ơn Chúa nâng đỡ để đạt đích trọn lành hay được cứu rỗi. Nghĩa là con người vẫn còn ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và tôn trọng cho con người sử dụng, để hoặc cộng tác với ơn cứu độ của Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô để được cứu độ như lòng Chúa mong muốn, vì : "Thiên Chúa Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)
Nhưng con người vẫn còn có tự do để khước từ Chúa và ơn cứu độ của Người để sống theo ý riêng mình và làm những sự dữ như, vì ham mê của cải, vật chất, danh vọng trần thế, nên đã cướp đoạt tài sản của người khác, gian manh, lừa dối, oán thù, chia rẽ, bóc lột, giết người, giết thai nhi và dâm ô thác loạn như thực trạng sống của con người ở khắp nơi trên thế giới vô luân vô đạo ngày nay.
Vì thế, tin Chúa Kitô và đọc Kinh Thánh chỉ có giá trị trong phạm trù cộng tác với ơn cứu độ của Chúa, và trong ánh sáng của Lời Chúa, để xa tránh mọi sự dữ và tội lỗi để được cứu độ . Ngược lại, nếu chỉ tin và nghe lới Chúa mà không hành động gì để áp dụng cụ thể niềm tin và lời Chúa vào đời sống của mình thì cũng không ích gì, như Thánh Gia-cô-bê Tông đồ đã dạy sau đây:
" Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì ? ...đức tin không có hành động là đức tin chết." ( Gc 2: 14,17)
Có hành động như Thánh Gia-cô-bê nói trên đây có nghĩa là phải có thiện chí cộng tác với ơn Chúa để thực tâm yêu mến Chúa và làm những việc thiện hảo như bác ái đối với người nghèo khó, công bình trong việc đối sử với mọi người để không bóc lột ai, không làm giầu trên mồ hôi nước mắt của người khác, không trộm cắp, gian dâm và giết hại ai về thể lý cũng như tính thần, không gia nhập các băng đảng của xã hội đen để tống tiền và sát hại người khác theo lệnh của kẻ bao che dung dưỡng, không lui tới những nơi tội lỗi như sòng bạc, nhà điếm,...vì nếu đi vào những con đường tội lỗi trên đây, thì dù miệng có ca ngượi danh thánh Chúa , và hát Alleluia, Alleluia cả trằm ngàn lần, thì cũng vô ích mà thôi.
Đó là lý do tại sao Chúa Giê su đã nói với các môn đệ những lời sau đây:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa ! Lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ ai thì hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên Trời, mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)
Thi hành ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa là phải thực thi hai Điều răn quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người thể hiện qua quyết tâm khước từ mọi cám dỗ của ma quỉ, chống lại mọi khuynh hướng xấu của bản năng và quyến rũ tội lỗi của thế gian để bước đi theo Chúa Kitô là " Con Đường , là sự Thật và là sự Sống." (Ga 14:6)
Nói khác đi, nếu chỉ tin và đọc lời Chúa không thôi, thì sẽ thiếu hẳn việc rất quan trọng là sống lời Chuá, sống đức tin vào Chúa qua nỗ lực cải thiện đời sống theo Tin Mừng Cứu Độ mà Chúa Kitô đã rao giảng và trả giá bằng chính mạng sống của mình trên thập giá năm xưa.
Bằng thuyết phục cụ thể là lời Chúa Giêsu nói trên đây, và còn ở nhiều hoàn cảnh khác như ta đọc thấy sau đây:
Một ngày kia, Chúa Giê su đã chữa lành cho một người bị đau ốm đã hơn ba mươi năm , đang nằm bên hồ nước tại Bét-da-tha để chờ được xuống tắm mình cho khỏi bệnh.Chúa đã chữa cho anh. Nhưng sau đó Chúa lại gặp anh này trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, và Người đã nói với anh như sau:
" Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước." ( Ga 5: 14)
Như vậy, rõ ràng cho thấy nếu chỉ tin Chúa, nghe lời Chúa mà không có hành động đi kèm là xa tránh tội lỗi thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa vẫn vô ích cho ai chỉ nói mà không cộng tác với ơn cứu độ của Người để được cứu rỗi. Phải cộng tác vì con người vẫn có tự do để sống theo đường lối của Chúa hay theo ý riêng của mình, theo thế gian và đầu hàng ma quỉ để làm những sự dữ như giết người , buôn bán phụ nữ và trẻ em để cung cấp cho bọn người không tin có Chúa- hay tin mà không sống đức tin ấy- nên đã và đang đi tìm những thú vui rất khốn nạn và tội lỗi là thú dâm ô và ấu dâm, khiến gây thương tật thể xác và tinh thần cho biết bao trẻ thơ bị bán vào đường dây nô lệ tình dục đang ngày một bành trướng ở trong và ngoài Viêt Nam hiện nay..
Lại nữa, nhân nghe chuyện có mấy người Ga-li-lê bị Tổng trấn Phi-la tô giết lấy máu hòa với máu tế vật , Chúa Giê su đã nói với những người biệt phái như sau:
" Các ông tưởng mấy người Ga-li –lê đó tội lỗi hơn hết mọi người Ga-li-lê khác bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao ? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy..." ( Lc 13: 1-3)
Sở dĩ Chúa nói như trên là vì bọn Biệt phái và luật sĩ Do Thái thường tự cho mình là những người hoàn hảo trong việc giữ luật Chúa và đọc lời Chúa trong Kinh Thánh Cựu Ước , nhưng họ không sống lời Chúa. Họ chỉ nói mà không làm. Vì thế Thánh Gioan Tẩy Giả cũng đã nghiêm khắc cảnh cáo họ như sau :
" Các anh hãy sinh hoa quả xứng đáng với lòng sám hối, Và đừng tưởng có thể nghĩ bụng rằng : chúng ta đã có Tổ phụ Áp-ra-ham ....Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh hoa sinh quả tốt đều bị chăt đi và quăng vào lửa." ( Mt 3: 8-10)
Như thế đủ cho thấy là đức tin phải đi đôi với việc làm phù hợp . Lời Chúa phải đổi mới phong cách sống của mình giữa bao người chưa biết Chúa " để giữa một thế hệ gian tà , sa đọa, ...anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời." ( PL 2: 15) như Thánh Phaolô đã dạy.
Mặt khác,Chúa Giê su cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết phải lãnh nhận các bí tích, cách riêng Bí Tích Thánh Thể, để được cứu rỗi và sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Thiên Đàng mai sau:
" Ai ăn thịt và uống máu Ta
Thì được sống muôn đời
Và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết." ( Ga 6 : 54)
Như vậy, tin và nghe lời Chúa không thôi thì chưa đủ, mà cần thiết không kém là phải " ăn thịt và uống máu Chúa" ban qua bí tích Thánh Thể, được cử hành trong khuôn khổ của Thánh Lễ Tạ Ơn mà Giáo Hội dâng trên bàn thờ hàng ngày ở khắp mọi nơi để diễn lại cách bí tích Bữa ăn sau hết của Chúa Giêsu với Nhóm Mười Hai Tông Đồ, và Hy Tế thập giá Chúa dâng mọi khốn khó đau khổ của Người một lần lên Chúa Cha để xin ơn tha tội cho toàn thể nhân loại đáng phải phạt vì tội.
Đọc lời Chúa không thôi thì mới chỉ đáp ứng được một phần quan trọng cho đời sống thiêng liêng, vì " người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miếng ĐỨC CHÚA phán ra." ( Đnl 8: 3; Lc 4: 4)
Nhưng muốn đầy đủ hơn thì, ngoài việc nghe lời Chúa qua Kinh Thánh, còn phải tham dự Thánh Lễ Tạ Ơn để được ăn và uống Mình, Máu Chúa Kitô thực sụ hiện diện trong hình bánh và rượu nho, một điều mà anh em Tin Lành không tin và cũng không thể có được, vì mục sư của họ không có chức linh mục hữu hiệu nên không thể cử hành hữu hiệu Bí Tích Thánh Thể được như các linh mục Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông phương.
Một số nhánh Tin Lành cũng có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho, nhưng đó chỉ là bánh và rượu chứ không thể là Mình Máu Chúa Kitô được, vì mục sư của họ không có chức linh mục hữu hiệu ( valid priesthood).
Tóm lại, tin Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc duy nhất cho nhân loại là điều cần thiết, nhưng quan trọng hơn là phải chứng minh niềm tin ấy qua đời sống của mình trước mặt người đời để họ " thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời." ( Mt 5 : 16)
Đó là tất cả ý nghĩa đức tin phải có việc lành đi đôi. Nếu không thì đức tin sẽ không có giá trị cứu rỗi.Nghe lời Chúa cũng vậy. Nếu chỉ đọc hay nghe mà không sống lời Chúa , nghĩa là để cho lời Chúa biến đồi đời sống của mình thì cũng như đọc sách báo rồi lại quên mau chóng sau đó điều mình đã đọc .
Anh em Tin Lành thiếu phần rất quan trọng là bỏ quên đời sống bí tích – đặc biệt là không biết đến hai bí tích Thánh Thể và Hòa giải là suối nguồn thông ban ơn cứu độ của Chúa cho con người. Họ bỏ quên vì không hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo, nên không có chức linh mục hữu hiệu để cử hành hai bí tích rất quan trọng trên đây.
Người tín hữu Công Giáo chúng ta thật có diễm phúc vì được hiệp thông với Giáo Hội là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô trong trần gian, nên đời sống thiêng liêng không những được nuôi dưỡng bằng lời Chúa mà – quan trọng hơn nữa- là được bổ sức bằng chính Mình và Máu Chúa Kitô ban qua Bí Tích Thánh Thể, là đỉnh cao và là suối nguồn của đời sống Giáo Hội và của mọi tín hữu. Vì thế, những ai không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội thì không được thông ban suối nguồn ơn cứu độ này.
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 169= CHUA THANH THAN PDF Print E-mail

CHÚA THÁNH THẦN LÀ AI ?
Để giải đáp, ông Benny nói : Cái gì làm cho ai đó thành một con người ? Có phải là một thể xác không ? Tôi không nghĩ ...thế. Tôi chắc các bạn đã từng dự đám tang và đã thấy một thi thể nằm trong quan tài. Có phải bạn đang nhìn một con người đó không ? Thưa không ! Bạn đang nhìn một xác chết đấy. Cái làm thành một con người không phải là cái xác. Đành rằng : con người là những gì biểu lộ ra nhờ thân xác : cảm xúc, ý muốn, trí tuệ, tâm tình, hành động... Đấy chỉ là một số đặc tính làm nên cá tính của bạn.
Thánh Thần là một ngôi vị, cũng giống như bạn vậy. Ngài có thể cảm thấy, nghe thấy và đáp trả. Ngài có thể bị tổn thương. Thánh Phaolô bảo : "Đừng làm buồn lòng Thánh Thần Thiên Chúa !". Ngài có khả năng yêu thương và khả năng ghét bỏ. Ngài nói và có ý muốn riêng của Ngài.
- Nhưng thực sự, xét tới cùng, Ngài là ai vậy ? Đáp : Thánh Thần là Thần Khí của Chúa Cha và là Thần Khí của Chúa Con. Ngài là quyền năng của Thiên Chúa.
Công việc Ngài là gì ? Thưa : Việc của Thần Khí là thực hiện mệnh lệnh của Chúa Cha và hoàn thành sứ vụ của Chúa Con.
Để hiểu được vai trò của Thánh Thần, chúng ta cần hiểu công việc của Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Cha là Đấng ban lệnh. Người luôn là Đấng phán : "Hãy có !". Đến lượt Chúa Con, hoàn thành mệnh lệnh ấy. Khi Chúa Cha phán : "Hãy có ánh sáng !". Chúa Con đến và thi hành điều đó. Còn Chúa Thánh Thần đem lại ánh sáng !
Cho tôi mạn phép dùng một ví dụ : Nếu tôi xin bạn : "Hãy bật đèn sáng lên !", thì ba động tác sẽ xảy ra. Trước hết, tôi là người ra lệnh. Kế đó, bạn là người đi đến cầu dao hay công tắc và bấm nhẹ. Vậy, bạn là người thi hành mệnh lệnh. Nhưng cuối cùng, ai đem ánh sáng đến ? Chẳng phải tôi, cũng chẳng phải bạn ; nhưng chính là điện năng phát ra ánh sáng.
Thánh Thần là quyền năng của Chúa Cha và Chúa Con. Ngài là Đấng hoàn thành sứ vụ của Chúa Con ; song vì Ngài là một ngôi vị, Ngài có những tâm tình, cách thức được diễn tả theo lối riêng độc đáo của Ngài.
Có lần tôi tự hỏi : "Benny, có phải mày đã quên vai trò quan trọng của Chúa Kitô không ?". Không, không bao giờ. Làm sao tôi có thể quên được Đấng đã yêu mến tôi và đã phó nộp mình chịu chết vì tôi ? Tôi không quên được Cha hoặc Con. Nhưng tôi không thể đến với Cha hoặc Con nếu không nhờ Thánh Thần (Ep 2.18).
CÒN PHẦN CÁC BẠN ,CÓ NHẬN RA TIẾNG NÓI CỦA THÁNH THẦN KHÔNG?
Khi Chúa Giêsu còn sống ở trần gian, và hễ các môn đệ có vấn đề gì thì họ hỏi ai ? Thưa : họ đến cùng Chúa Con và Ngài dạy dỗ họ. Nhưng khi Chúa Kitô về cùng Cha, Ngài không để họ mồ côi, Ngài phán : "Thánh Thần sẽ đến trợ giúp các con, Ngài sẽ dạy dỗ các con và nhắc lại cho các con những điều Thày đã nói với các con. Ngài sẽ lấy của Thày mà nói cho các con".
Sau lễ Ngũ Tuần (lễ 50), Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, các môn đệ được kết hiệp với Thánh Thần đến nỗi Ngài đã trở nên thành phần của mọi hoạt động trong đời họ. Họ liên kết với nhau thật sự, cùng nhau hoạt động cho Chúa Con. Khi Phêrô thấy thị kiến trên sân gác ở Yô-phê, thì Thánh Thần phán cùng ông : "Kìa, có 3 người ngoại đến tìm ngươi. Hãy xuống mà đi với họ, đừng ngần ngại gì, vì chính Ta đã sai họ đến !" (Cv 10.19-20). Phêrô đã nhận ra tiếng nói của Thánh Thần. Do đó, việc đến cùng dân ngoại để rao giảng Tin Mừng cho họ đã được bắt đầu.
Chuyện viên quan thái giám trong bài Kinh Thánh trên đầu cũng vậy. Thánh Thần cũng nói cùng Philíp. Ông đã nhận ra tiếng nói của Chúa Thánh Thần. Đó không phải là Chúa Cha phán bảo, cũng không phải là Chúa Con. Đó là tiếng nói của Thánh Thần.
BẠN CÓ NGHE THẤY TIẾNG CHÚA THÁNH THẦN DẠY BẢO TRONG THÂM TÂM KHÔNG ?
Tôi tin rằng tội lớn nhất, chống lại Thánh Thần, xúc phạm đến Ngài, chủ yếu là phủ nhận quyền năng và sự hiện hữu của Ngài, khắp trong Kinh Thánh, bạn tìm thấy câu : "Chớ xúc phạm đến Thánh Thần".
Chúa Cha phán cùng dân Israen trong sa mạc : "Các ngươi đã xúc phạm đến Thánh Khí của Ta" (Ysaia, 63.10). Người không phán : "Các ngươi đã xúc phạm đến Ta !". Chúa Con nhìn các Biệt phái và phán : "Bất cứ ai nói một điều chống lại Con Người (tức Chúa Giêsu), điều đó sẽ tha được. Nhưng kẻ phạm thượng lộng ngôn đến Thánh Thần, thì sẽ không tha được" (Lc 12.10).
Chúa Thánh Thần rất dịu dàng, dễ mến. Ngài rất nhạy cảm, rất lịch sự : Ngài không bước vào đời bạn cho đến lúc bạn mời Ngài vào. Ngài không nói gì cho tới khi bạn nói với Ngài. Bạn ạ, bạn không tài nào biết được quyền uy và sự hiện hữu của Ngài, cho tới khi bạn đến với Ngài và thưa : "Hỡi Thánh Thần tuyệt diệu, xin hãy nói cho con về Chúa Giêsu !"
Bạn có biết không ? Từ khi đó, cách cầu nguyện của tôi được hoàn toàn thay đổi. Trước kia, cũng như bạn, tôi đọc kinh chiếu lệ, lòng chán ngán, chẳng biết mình đọc gì, chỉ nghĩ là làm một việc bổn phận luật dạy, Hội Thánh bắt buộc, để khỏi phạm tội.... Nhưng nay thì khác rồi ! Trước khi tôi cầu nguyện, tôi chờ đợi Chúa Thánh Thần. Tôi nói rằng : "Lạy Chúa Thánh Thần rất quí mến ! Ngài có thể đến ngay đây và giúp con cầu nguyện chăng ?"
Thánh Kinh có viết : "Thánh Thần đỡ đần cảnh yến hèn của ta. Vì cầu xin thế nào cho phải, ta nào có biết. Song chính Thánh Thần chuyển cầu cho ta bằng những tiếng rên khôn tả" (Rm 8.26).
Thường ta không biết nói gì khi cầu nguyện. Ngài đến giúp ta. Và tôi biết thêm một điều nữa : Thánh Thần là Thày dạy Kinh Thánh rất tuyệt. Đã từ lâu, tôi hết sức chật vật mà chẳng hiểu gì (giống như quan thái giám lúc nãy, đọc Kinh Thánh mà chẳng hiểu gì). Từ ngày tôi cầu nguyện : "Ôi Thánh Thần kỳ diệu ! Xin Ngài vui lòng chỉ bảo cho con điều Ngài muốn nói đây là gì ?". Và Ngài đã bày tỏ rõ ràng cho tôi về Lời Chúa.
Và đây là bài học cuối cùng và cũng là quan trọng nhất : một người, khi đã nhận thức được sự hiện diện của Thánh Thần, thì kẻ ấy luôn ca tụng và tôn vinh Chúa Giêsu. Khi bạn thực sự được biết Chúa Thánh Thần, bạn sẽ ngợi khen Chúa Giêsu Kitô, vì chính Thánh Thần ở trong bạn sẽ tôn vinh Chúa Con. Đó là điều hầu như tự nhiên. Chúa Giêsu chỉ được tôn vinh nơi một cuộc sống tràn đầy Thần Khí.
Mỗi một hành vi của cuộc sống bạn phản chiếu lại những gì đang chất chứa trong đời bạn. Nếu cuộc sống chứa đầy báo chí, tin tức, bạn sẽ nói về tin tức. Nếu bạn ưa xem kịch, bạn sẽ nói về kịch. Nhưng nếu chứa đầy Thần Khí và được thấm nhuần bởi sự hiện diện của Ngài, bạn sẽ tìm kiếm Chúa Giêsu và không tôn vinh ai khác ngoài Chúa Giêsu.
Chúa Kitô phán : "Khi Đấng Bầu Chữa đến, Đấng Ta sẽ gửi đến từ nơi Cha, Thần Khí sự thật, từ Cha xuất ra, Ngài sẽ làm chứng về Ta" (Ga 15.26). Vì vậy, nếu tôi muốn biết về Chúa Giêsu, tôi phải chạy đến Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu nói như vậy. Ngài biết Ngài đang nói về sự gì.
Trong thời Cựu Ước, Môsê có thể đến với Thiên Chúa Cha ; thời Tân Ước, các môn đồ có thể đàm đạo với Chúa Con. Nhưng còn bạn và tôi thời nay, khi ta cần điều gì, hỏi chúng ta sẽ quay đi đâu ? Thưa: chạy đến Thánh Thần ! Ngài là một Đấng, và ngay bây giờ, Ngài đang chờ bạn mời đón Ngài vào trong cuộc đời bạn.
Đã đến giờ bạn bắt đầu !
Bạn hỏi : "Tôi sẽ bắt đầu như thế nào ?". Đơn giản thôi. Bạn có thể bắt đầu nói : "Lạy Thánh Thần, xin hãy giúp con cầu nguyện !". Đó thật là điều Ngài muốn bạn làm. Và khi bạn bắt đầu, bạn sẽ có một người cùng cầu nguyện với bạn và sẽ dẫn bạn thẳng đến Ngai Thiên Chúa !
Thánh Thần là Đấng đáng yêu mến như thế đấy ! Ngài trở nên bạn thân nhất của bạn, và Ngài đang chờ đưa bạn đến gần Đức Giêsu hơn. Đức Giêsu đã phán : "Thánh Thần sẽ dẫn dắt chúng con vào tất cả sự thật, và Ngài sẽ tôn vinh Thày, vì Ngài sẽ lấy của Thày mà thông ban cho các con" (Ga 16.13t).
Thánh Thần đang chờ đợi bạn ! Ngài muốn khởi sự một mối giao hảo mới với bạn, đích thân bạn với Ngài.

Tích truyện
Hằng ngày, bưu điện trên thiên đàng nhận được không biết cơ man nào là thứ, từ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu... Các thiên thần xếp loại ra thì thấy người nhận được nhiều thư nhất là Đức Mẹ, thứ nhì là thánh An-Tôn, thứ ba là thánh Giuse. Các thư của hai thánh này, các thiên thần đều bóc ra xem cả. Chỉ trừ thư gửi Đức Mẹ thì không dám. Nhưng một ngày kia, không cầm được tính tò mò, các vị cũng mở thư của Đức Mẹ. Nhưng các thiên thần thất vọng, tưởng người thế gian viết những tâm tình gì tha thiết yêu thương, hóa ra đại khái cũng chỉ toàn xin ơn. Nhàm chán quá, các vị phải thốt lên :
- Dường như Thiên Chúa tạo dựng con người chỉ có một cái miệng và một cái bụng..., họ không có linh hồn, cũng chẳng có quả tim thương yêu... Tất cả các lời cầu xin họ viết lên đều qui về hai bộ phận nói trên.
Các thiên thần mới rủ nhau rình xem thái độ Đức Mẹ khi đọc muôn vạn lá thư ấy. Tình cờ, một hôm các thiên thần thấy mặt Đức Mẹ tươi vui hẳn lên, các vị mới tới gần hỏi :
- Tại sao mọi hôm mặt Mẹ rầu rầu, hôm nay lại tươi vui thế ?
Đức Mẹ mới trao cho các thiên thần một lá thư, trong đó viết như sau :
- Mẹ ơi, con chỉ xin Mẹ một điều : Mẹ là bạn Chúa Thánh Thần, xin Mẹ cầu Ngài đến thăm linh hồn con !
See More
WHO IS THE HOLY SPIRIT?
To answer, Mr. Benny says: what makes someone into a human? There must be a body does? I don't think so. I'm sure you have each funeral and saw a body lying in a coffin. Are you looking for a man that doesn't? Dear no! You are looking at a dead man. What makes a man is not dead. I suppose that is what displays thanks to the body: emotion, desire, intellect, mind, action ... the Guy is just some of the characteristics that make up your personality.

The Holy Spirit is a throne, just as you do. He could feel, hear and respond. You can get hurt. Saint Paul said: "Let's not upset the spirit God!". You have the ability to love and hate. He says and intends his own.

-But really, look to the end, he is who? Answer: the Holy Spirit is the spirit of the father and the spirit of the son. He is the power of God.

What is His job? Ladies: the work of the spirit is to implement the orders of the father and the son's mission accomplishment.

To understand the role of the Holy Spirit, we need to understand the work of the father and the son. God the father is the giver of orders. Who is Lord Justices: "take that!". In turn the son, completing his orders. When the father said: "be there light!". The son come and enforce it. Also the Holy Spirit brings to light!

Let me take an example saying: If I ask you: "Let's turn the lights light up!", the three movements will occur. First of all, I was the person who ordered. Next, you are going to the breaker or switch, and press lightly. So, you are the enforcement of the order. But in the end, who brought to light? Not me, not you; but the light of electricity.

The Holy Spirit is the power of the father and the son he is the Messiah fulfilled the Lord's Ministry Her; but because he is a throne, He has the mentality, the way described in his own unique way.

There were times I wondered: "Benny, are you forgot an important role of Christ doesn't?". No, never. How can I forget him who loved me and gave his submission died because of me? I cannot forget the father or Son. But I couldn't come up with his or Her if not for the spirit (Ep 2.18).

ALSO PART OF YOU RECOGNIZE THE VOICE OF THE HOLY SPIRIT DOES NOT?

When Jesus was alive in the world, and even the disciples what they ask who? Ladies: they come together with the son and he taught them. But when Christ about life, he does not leave them orphaned, He said: "the Holy Spirit will come to help you, he will teach you and to reiterate to you the Superb told the children. He will take of that tell you ".

After Pentecost (24-50) Germany, the Holy Spirit is currently down, his disciples were committed with the spirit that he has become part of every activity in life they. They linked together, truly work for the son. When Peter saw the comments course hang up in the Café, the Spirit Yô justices along says: "Behold, three foreign men to find you. Take down that goes with them, do not hesitate, because I was wrong they come! " (10.19 Cv-20). Peter got out the voice of the spirit. Therefore, the coming together of the Gentiles to preach the Gospel to them has been started.

What bureaucrat eunuch in the Bible on the head too. The spirit also speaks Philíp. He had recognized the voice of the Holy Spirit. That is not the father judge said, nor is the son ... that's the voice of the Holy Spirit.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 168 = CAY NEN MUA VONG PDF Print E-mail

Nov 30 at 9:29 PM
NHỮNG CÂY NẾN MÙA VỌNG
[Bùi Hữu Thư]

MUA VONG

Ý nghĩa Mùa Vọng – Biểu tượng của các cây nến và vòng hoa
Vòng hoa kết bằng nhánh thông được nhiều nhà thờ và gia đình dùng để nhắc nhớ đến Mùa Vọng, là mùa chuẩn bị cho Chúa Giáng Sinh. Vòng hoa cùng với 5 cây nến: có 4 cây nến cho mỗi Chúa Nhật dẫn tới ngày Lễ Giáng Sinh, và cây nến thứ 5 dùng cho chính ngày Lễ Giáng Sinh mầu trắng. Bốn cây kia có 3 cây mầu tím và một cây mầu hồng.
Việc thống hối được biểu tượng bởi các cây nến mầu tím, trong khi cây nến mầu hồng biểu hiệu cho niềm vui. Cây nến chính giữa được hiểu là cây nến của Chúa Kitô và chỉ được thắp lên vào ngày Lễ Giáng Sinh. Có truyền thống là khi thắp nến, cũng có thể đọc theo một vài đoạn Thánh Kinh liên quan đến ý nghĩa của cây nến, để giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của mỗi cây nến.
Vòng hoa Mùa Vọng được kết bằng các nhánh cây thông biểu hiệu cho đời sống vĩnh cửu. Vòng tròn biểu hiệu cho tình yêu muôn đời của Thiên Chúa, không có lúc khởi đầu và không có lúc chấm dứt, cũng như cho sự bất tử của linh hồn.
Vòng hoa Mùa Vọng hay Vương Miện Mùa Vọng là một truyền thống Kitô biểu hiệu cho việc sống qua 4 tuần Mùa Vọng trong Niên Lịch Phụng Vụ của Giáo Hội. Thường thì là một vòng hoa trưng bầy theo chiều ngang với 5 cây nến. Khởi đầu với Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng, việc thắp cây nến đầu tiên được cử hành với một đoạn Phúc Âm và kinh nguyện. Mỗi Chúa Nhật sau đó, lại có thêm một cây nến được thắp lên, cho tới Chúa Nhật cuối cùng trước Lễ Giáng Sinh, khi cả 4 cây nến đã được thắp sáng. Và cây nến thứ 5, "cây nến của Chúa Kitô" sẽ được thắp lên vào ngày Giáng Sinh. Phong tục phổ thông này được áp dụng trong gia đình cũng như tại nhà thờ trước cộng đoàn.
CÁC CÂY NẾN MÙA VỌNG:
Cây nến thứ nhất (Cây nến của sự tiên tri và hy vọng)
Cây nến này thường được gọi là cây nến tiên tri. Cây nến này được gọi như vậy vì biểu tượng cho những lời hứa các tiên tri đã rao truyền như những sứ điệp của Thiên Chúa; các lời hứa báo trước việc Chúa Giêsu Kitô giáng sinh. Có người lại coi cây nến này là biểu tượng của niềm hy vọng rằng chúng ta sẽ được Chúa Kitô xuống thế, cho nên cũng được gọi là cây nến hy vọng.
Cây nến thứ hai (Cây nến của con đường)
Cây nến thứ hai biểu hiệu rằng Chúa Giêsu Kitô là Con Đường – là ánh sáng soi đường. Các Kitô hữu lạc lối trong tội lỗi và Chúa Giêsu Kitô là ánh sáng đến với thế gian để chỉ đường cho họ biết lối ra khỏi nơi tối tăm này.
Cây nến thứ ba (Cây nến của niềm vui)
Cây nến thứ ba bầy tỏ rằng niềm vui vĩnh cửu chỉ có thể tìm thấy trong đời sống tại trần gian này là niềm vui trong Chúa Giêsu Kitô, tất cả các niềm vui khác đều phù du và chóng qua.
Cây nến thứ tư (Cây nến của hòa bình)
Cây nến thứ tư bầy tỏ rằng Chúa Giêsu Kitô đến để đem hòa bình cho thế gian và cho tất cả các trái tim con người. Không có Chúa Giêsu Kitô thì thực ra không thể có hòa bình trên thế gian này.
Cây nến thứ năm (Cây nến của Chúa Kitô hay cây nến Giáng Sinh)
Cây nến thứ năm biểu hiệu cho chính Chúa Giêsu Kitô đã sanh ra để cứu nhân loại khỏi tội lỗi. Đây là niềm hân hoan vì các lời tiên tri đã thể hiện trong việc Chúa Giêsu Kitô giáng trần, và con người có niềm hy vọng nơi ngày cánh chung, khi Chúa Giêsu Kitô lại đến và mọi Kitô hữu sẽ được sống lại với Người.
Với các cây nến Mùa Vọng, thực ra không phải là mầu của nến mới có ý nghĩa duy nhất, mà là tuần lễ trong đó cây nến được thắp lên mới có ý nghĩa. Mùa Vọng bắt đầu từ tuần lễ thứ tư trước Lễ Giáng Sinh và cao điểm là Ngày Lễ Giáng Sinh. Mỗi tuần một cây nến được thắp lên, với một ý nghĩa đăc biệt dành cho tuần lễ ấy:
• Tuần Một: Hy vọng (nến tím)
• Tuần Hai: Yêu thương (nến tím)
• Tuần Ba: Hân Hoan (nến tím)
• Tuần Bốn: Bình An (nến hồng)
• Ngày Lễ Giáng Sinh: Chúa Giêsu Giáng Sinh (nến Giáng Sinh mầu trắng)

Kính chuyển:

Hồng

------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 167 = GIAO LY VE GIAO HOI PDF Print E-mail

"Giáo Hội không bao giờ chỉ là một thực tại bất di bất dịch, đứng im tại chỗ, tự mình là cùng đích, mà là một cuộc hành trình liên tục trong giòng lịch sử hướng đến cùng đích tối hậu và tuyệt vời là Vương Quốc Thiên Đình, một thực tại cùng đích mà Giáo Hội trần thế chỉ là mầm mống và là khởi điểm"

ĐTC Phanxicô - Giáo Lý về Giáo Hội Cộng Đồng - Bài 15 - Thứ Tư ngày 26/11/2014

Xin chào buổi sáng Anh Chị Em thân mến.

Ngày hôm nay không đẹp lắm, nhưng anh chị em đã tỏ ra can đảm, xin chúc mừng anh chị em nhé! Hôm nay chúng ta hy vọng được cùng nhau cầu nguyện.

Khi trình bày Giáo Hội cho con người trong thời đại của chúng ta, Công Đồng Chung Vaticanô II đã tỏ ra rất ý thức về một chân lý cốt yếu không bao giờ được quên lãng: Giáo Hội không bao giờ chỉ là một thực tại bất di bất dịch, đứng im tại chỗ, tự mình là cùng đích, mà là một cuộc hành trình liên tục trong giòng lịch sử hướng đến cùng đích tối hậu và tuyệt vời là Vương Quốc Thiên Đình, một thực tại cùng đích mà Giáo Hội trần thế chỉ là mầm mống và là khởi điểm (xem Công Đồng Chung Vaticanô II, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Ánh Sáng Muôn Dân, 5). Khi chúng ta hướng tới chân trời này chúng ta thấy rằng óc tưởng tượng của chúng ta bị giới hạn, tự mình nó chỉ có thể trực giác thấy được ánh quang của mầu nhiệm này là những gì vượt quá các cảm quan của chúng ta. Thế rồi trong chúng ta tự nhiên nẩy lên một số vấn đề: Khi nào thì cuộc vượt qua cuối cùng này xẩy ra? Chiều kích mới mà Giáo Hội tiến vào sẽ ra sao? Bấy giờ những gì sẽ xẩy ra cho nhân loại cũng như cho thiên nhiên tạo vật ở chung quanh nhân loại? Những vấn nạn này chẳng phải là những gì mới mẻ; chúng đã được các môn đệ của Chúa Kitô đặt ra từ thời ấy: 'Thế nhưng bao giờ điều ấy xẩy ra? Khi nào thì Thần Linh sẽ chiến thắng trên thiên nhiên, trên tạo vật, trên tất cả mọi sự...' Đó là những câu hỏi cũ kỹ của con người. Chúng ta cũng đặt ra những vấn nạn này nữa.

Trước những câu hỏi này, những vấn nạn luôn vang vọng trong tâm can của con người, Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng của Công Đồng đã viết: 'Chúng ta không biết được thời gian tận cùng của trái đất và nhân loại, chúng ta cũng chẳng biết được tất cả mọi sự sẽ được biến đổi ra sao. Vì bị tội lỗi làm biến dạng, hình thể của thế giới này sẽ qua đi; thế nhưng chúng ta được dạy cho biết rằng Thiên Chúa đang sửa soạn một chỗ cư ngụ mới và một trái đất mới là nơi công lý sẽ ngự trị, nơi hạnh phúc sẽ đáp ứng và vượt trội hơn tất cả mọi niềm mong ước an bình bừng lên trong cõi lòng của con người' (số 39). Đó, đích điểm Giáo Hội hướng về, như Thánh Kinh nói, là 'tân Giêrusalem', là 'Thiên Đàng'. Nó không phải là một nơi chốn, mà là 'một trạng thái' của tâm trí làm cho những niềm mong đợi sâu xa nhất của chúng ta được viên trọn một cách dồi dào, và hữu thể của chúng ta là tạo vật và là con Thiên Chúa sẽ đạt tới tầm vóc thành toàn của nó. Cuối cùng chúng ta sẽ được bao bọc trọn vẹn bởi niềm vui, bởi an bình và bởi tình yêu thương của Thiên Chúa, không còn bị bất cứ một giới hạn nào, và chúng ta sẽ được diện kiến dung nhan của Ngài (xem 1Corinto 13:12). Thật là tuyệt vời khi nghĩ đến điều này, nghĩ đến Thiên Đàng. Tất cả chúng ta là những người đang ở trần thế này, tất cả mọi người chúng ta. Thật là đẹp đẽ vì ý nghĩ ấy cống hiến sức mạnh cho linh hồn của chúng ta.

Theo chiều hướng ấy thì đẹp đẽ thay khi thấy được có một sự liên tục và mối hiệp thông chặt chẽ giữa Giáo Hội đang ở trên Thiên Quốc và Giáo Hội đang hành trình trên trần thế. Thật vậy, những ai đang sống trước nhan Thiên Chúa có thể trợ giúp và chuyển cầu cho chúng ta, các vị có thể cầu cho chúng ta. Trái lại, chúng ta cũng luôn cống hiến các việc lành phúc đức, các lời nguyện cầu và chính Thánh Thể để giảm bớt khổ hình cho các linh hồn đang đợi chờ vinh phúc vô cùng bất tận. Phải, vì theo quan điểm Kitô giáo thì không còn tình trạng phân biệt giữa một người đã chết và một người chưa chết, mà là giữa người ở trong Chúa Kitô và người chưa ở trong Chúa Kitô! Đó là yếu tố định đoạt, yêu tố thực sự quyết liệt cho phần rỗi của chúng ta cũng như cho hạnh phúc của chúng ta.

Đồng thời Thánh Kinh cũng dạy chúng ta rằng việc hoàn trọn dự án tuyệt vời này không thể nào không có lợi cho tất cả mọi sự ở chung quanh chúng ta và là dự án xuất phát từ tâm tưởng của Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã minh nhiên khẳng định khi viết rằng 'chính tạo vật sẽ được giải thoát khỏi cảnh nô lệ hư hoại của chúng và chiếm được niềm tự do hiển vinh của con cái Thiên Chúa' (Roma 8:21). Các đoạn Thánh Kinh khác sử dụng hình ảnh 'trời mới' và 'đất mới' (xem 2Phêrô 3:13; Khải Huyền 21:1), ở chỗ toàn thể vũ trụ này sẽ được canh tân đổi mới và sẽ được giải thoát một lần vĩnh viễn khỏi hết mọi vết tích của sự dữ cũng như khỏi chính sự chết. Bởi thế, những gì được trông đợi, như là sự viên trọn cho một thứ biến thể thực sự đã xẩy ra nhờ Cái Chết và Phục Sinh của Chúa Kitô, là một cuộc tạo dựng mới; vì thế mà nó không phải là một thứ hư không hóa vũ trụ này cũng như tất cả những gì ở chung quanh chúng ta, mà là làm cho hết mọi sự được trọn vẹn về hữu thể, về sự thật và về sự mỹ. Đó là dự án mà Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần bao giờ cũng muốn hiện thực và đang hiện thực.

Các bạn thân mến, khi chúng ta nghĩ về thực tại tuyệt vời mà chúng ta đang đợi chờ ấy, chúng ta mới nhận thức được việc chúng ta thuộc về Giáo Hội là một tặng ân tuyệt vời biết chừng nào, một tặng ân cho thấy một ơn gọi rất là cao cả. Vậy chúng ta hãy xin Trinh Nữ Maria, Mẹ Giáo Hội, luôn canh chừng đường đi nước bước của chúng ta và giúp chúng ta như Mẹ trở thành một dấu hiệu của niềm vui, của niềm tin tưởng và hy vọng giữa anh chị em của chúng ta.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

---------------------------

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 121 of 165