/home/content/51/8374851/html/chiaseloichua/administrator/components/com_vvisit_counter/helpersPlease reinstall [Vinaora Visitors Counter] component53

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 134 = LOI TRE Y GIA PDF Print E-mail

Lời Trẻ Ý Già - JANA DUCKETT - TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)
Apr 13 at 9:00 PM

Lời Trẻ Ý Già

JANA DUCKETT

Đôi khi trẻ em có nhưng câu hỏi khiến người lớn lúng túng, nhất là về Kinh Thánh và Đức tin Kitô giáo. Lời trẻ nhưng không ngây ngô đâu. Đôi khi những câu hỏi của chúng lại khiến chúng ta thấy thú vị và hiểu rõ vấn đề hơn. Đây là 20 câu hỏi của trẻ em và cách trả lời dành cho phụ huynh.

1. Tại sao Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ?

KINH THÁNH: Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất... Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! (St 1:1-31).

TRẢ LỜI: Thiên Chúa tạo dựng thế giới và mọi vật trong đó vì Ngài thích làm nên mọi vật và Ngài muốn ở với chúng ta. Ngài muốn làm cho chúng ta trở nên các thành viên trong đại gia đình của Ngài. Ngài sáng tạo thế giới để chúng ta sinh sống và tận hưởng. Chúng ta như tấm gương phản chiếu vinh quang của Ngài qua thế giới.

CHA MẸ LƯU Ý: Đây là lúc thuận tiện để nói cho con cái biết rằng kế hoạch của Thiên Chúa có liên quan chúng. Hãy cho chúng biết rằng Thiên Chúa dựng nên chúng với mục đích đặc biệt mà chỉ có chúng mới có thể làm được.

2. Trên tàu của ông Nôe có khủng long không?

KINH THÁNH: Kìa xem con thú Bơ-hê-mốt, Ta dựng nên nó như đã dựng nên ngươi, nó ăn cỏ như bò. Hãy nhìn nó đi: lưng mạnh mẽ, bụng rắn chắc, đuôi vươn dài tựa cây bá hương, gân đùi quấn chằng chịt, xương cốt tựa ống đồng, tứ chi như thanh sắt. Nó quả là tác phẩm tuyệt vời trong các công trình Thiên Chúa dựng nên; nhưng Đấng Sáng Tạo lại trao gươm cho nó, vì núi non cung cấp cho nó cỏ ăn và mọi dã thú nô đùa ở đó (G 40:15-20).

TRẢ LỜI: Đa số các chuyên gia Kinh Thánh đều cho rằng khủng long đã tuyệt chủng từ trước Đại Hồng Thủy, nghĩa là chúng không có trên tàu ông Nôe. Một lý do khác chúng ta biết về khủng long là vì Kinh Thánh không hề nói tới. Kinh Thánh không là sách khoa học nên chỉ nói về nhân loại và kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.

CHA MẸ LƯU Ý: Kinh Thánh không nói riêng về khủng long, nhưng nói rõ tổng quát: "Nhờ Ngôi Lời, vạn vật được tạo thành, và không có Người, thì chẳng có gì được tạo thành" (Ga 1:3). Hãy nhắc nhở con cái rằng Thiên Chúa trung thành và đáng tin cậy ngay cả khi Ngài không giải thích đầy đủ.

3. Tại sao Thiên Chúa tạo dựng con người?

KINH THÁNH: Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất". Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ (St 1:26-27).

TRẢ LỜI: Người ta khác loài vật vì Thiên Chúa tạo nên chúng ta giống hình ảnh Ngài (St 1:27). Chúng ta có thể nói chuyện với Thiên Chúa bằng lời cầu nguyện, có tính sáng tạo và yêu thương người khác. Loài người là một phần trong công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa nên chúng ta có mối quan hệ mật thiết với Ngài.

4. Thiên Chúa nhìn như thế nào?

KINH THÁNH: Thiên Chúa là thần khí, những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật (Ga 4:24). Ông Mô-sê đi lên cùng với ông A-ha-ron, Na-đáp, A-vi-hu và bảy mươi người trong hàng kỳ mục Ít-ra-en. Họ nhìn thấy Thiên Chúa của Ít-ra-en; dưới chân Người như có nền lát bằng lam ngọc, trong vắt như chính bầu trời (Xh 24:9-10).

TRẢ LỜI: Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Thiên Chúa ở trong loại ánh sáng không ai có thể tới gần và Ngài là Thần Khí, nghĩa là Ngài không bị giới hạn vào hình thể như chúng ta. Ngài có dạng thể lý qua Đức Kitô và thể hiện cho chúng ta biết cách sống trên thế gian, cách "tỏa sáng" của chúng ta. Kinh Thánh nói Thiên Chúa là "Đấng dựng nên muôn tinh tú" (Gc 1:17), Ngài có thể tạo hình dáng đẹp nhất, Thiên Chúa Cha đầy sự tốt lành mà chúng ta luôn phải học theo: "Hãy hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5:48).

5. Thiên Chúa có bạn bè hay chỉ một mình?

KINH THÁNH: Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Đức Giêsu Kitô, Con của Người (1 Ga 1:3).

TRẢ LỜI: Thiên Chúa muốn cho chúng ta biết và Ngài cũng muốn chúng ta biết Ngài. Thiên Chúa là Một Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Vì vậy, Ngài không bao giờ một mình, và nhờ Chúa Giêsu mà chúng ta không tách khỏi Gia đình của Thiên Chúa. Chúng ta thuộc Gia đình của Ngài.

CHA MẸ LƯU Ý: Nếu con cái không hiểu về Chúa Ba Ngôi, hãy dùng quả trứng để biểu thị cho chúng biết rằng quả trứng có ba lớp (vỏ, tròng rắng và tròng đỏ) nhưng vẫn chỉ là một quả trứng.

6. Thiên Chúa sống ở đâu?

KINH THÁNH: Chúa Giêsu nói: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy" (Ga 14:23-24).

TRẢ LỜI: Nhà của Thiên Chúa là Trời, nhưng Ngài cũng muốn sống với những ai yêu mến Ngài. Kinh Thánh nói rằng Thiên Chúa sống trong lời ca tụng của dân Ngài, cũng có nghĩa là ở đâu có vài người cầu nguyện nhân danh Ngài thì Ngài hiện diện ở đó (Mt 18:20). Khi chúng ta cho phép sự sống của Thiên Chúa sống trong chúng ta, sự sống đó sẽ vươn xa tới người khác.

7. Thiên Chúa có ngủ hoặc nghỉ ngơi?

KINH THÁNH: Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. Đấng gìn giữ Ít-ra-en, lẽ nào chợp mắt ngủ quên cho đành! (Tv 121:3-4).

TRẢ LỜI: Thiên Chúa không bị giới hạn vào thể lý như chúng ta, do đó Ngài không cần ăn uống hoặc ngủ nghỉ. Khi Kinh Thánh nói Thiên Chúa "nghỉ ngơi", có ý nói là Ngài ngưng những gì Ngài làm. Chúa Giêsu nói rằng Ngài phải làm việc vì Chúa Cha luôn làm việc.

CHA MẸ LƯU Ý: Có thể đây là thời điểm tốt để nói thật rằng Thiên Chúa không hẳn giống như con người. Các của Ngài không như cách của chúng ta, và tư tưởng của Ngài cũng khác hẳn tư tưởng của chúng ta.

8. Ai tạo nên Thiên Chúa?

KINH THÁNH: Lạy Chúa, trải qua bao thế hệ, Ngài vẫn là nơi chúng con trú ẩn. Ngay cả khi đồi núi chưa được dựng nên, địa cầu và vũ trụ chưa được tạo thành, Ngài vẫn là Thiên Chúa, từ muôn thuở cho đến muôn đời (Tv 90:1-2).

TRẢ LỜI: Không ai tạo nên Thiên Chúa. Ngài luôn luôn hiện hữu và không lệ thuộc vào bất cứ thứ gì. Chúng ta cần sự hiện hữu của Ngài để sống khỏe và sống mạnh. Thiên Chúa không có khởi đầu, ở giữa hoặc kết thúc. Đó là lý do Ngài nói Ngài là "Đấng Hằng Hữu" (Xh 3:14), cũng là Đấng Hiện Hữu hoặc Đấng Tự Hữu.

9. Tại sao chúng ta thấy Thiên Chúa?

KINH THÁNH: Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi (1 Cr 13:12).

TRẢ LỜI: Chúng ta không thể thấy Thiên Chúa vì Ngài vô hình, nhưng chúng ta có thể nhận ra Ngài qua những việc Ngài làm trong cuộc đời của chúng ta và của người khác. Như trái bóng đầy hơi mà chúng ta có thể nhìn thấy, chúng ta thấy trái bóng càng lúc càng lớn hơn khi chúng ta thổi hơi vào. Thiên Chúa vô hình vì Thiên Chúa là Thần Khí, nhưng chúng ta có thể nhận thấy Ngài qua cách sống của các Kitô hữu khi họ biết yêu thương nhau hơn.

10. Các Kitô hữu có nghe thấy Thiên Chúa nói?

KINH THÁNH: Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài (Dt 1:1-2).

TRẢ LỜI: Có. Thiên Chúa nói với chúng ta qua Kinh Thánh, qua các vị lãnh đạo tinh thần và Ngài cũng nói trực tiếp trong linh hồn chúng ta. Có một số người trong Kinh Thánh đã nghe được tiếng Chúa, chẳng hạn là cậu bé Samuel (1 Sm 3:10). Thiên Chúa luôn ở với chúng ta và không bao giờ bảo chúng ta làm điều gì ngược với những điều Ngài nói trong Kinh Thánh.

11. Bố ơi, tại sao con cần hai người cha là Thiên Chúa và cả bố nữa?

KINH THÁNH: Chúa Giêsu nói: "Nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình những của tốt lành, phương chi Cha anh em, Đấng ngự trên trời, lại không ban những của tốt lành cho những kẻ kêu xin Người sao?" (Mt 7:11).

TRẢ LỜI: Thiên Chúa là Cha của mọi người, vì Ngài tạo dựng nên chúng ta, bảo vệ chúng ta và là nguồn sống của chúng ta. Ngài ban cho chúng ta có ông bà, cha mẹ và những người chăm sóc chúng ta trên thế gian. Đó là lý do Thiên Chúa bảo con cái phải vâng lời cha mẹ như Cha trên trời – vì ích lợi cho chúng.

12. Đức Giêsu có là Thiên Chúa?

KINH THÁNH: Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời. Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, và Ngôi Lời là Thiên Chúa. Lúc khởi đầu, Người vẫn hướng về Thiên Chúa (Ga 1:1-2).

TRẢ LỜI: Chúa Giêsu thực sự là Thiên Chúa. Khi đến thế gian và sinh ra làm con Đức Maria, Chúa Giêsu cũng là một con người có thân xác như chúng ta. Vì thế, Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Ngài khiêm nhường chọn cách làm con người để Ngài có thể cứu chúng ta thoát khỏi tội lỗi và đem chúng ta về với Thiên Chúa.

13. Thiên Chúa có biết khóc?

KINH THÁNH: Chúa Giêsu khóc (Ga 11:35).

TRẢ LỜI: Là con người, Chúa Giêsu cũng khóc chảy nước mắt khi lo buồn. Ngày nay Thiên Chúa không khóc, nhưng Ngài vẫn cảm thấy buồn khi người ta làm hại nhau, khi họ không vâng lời Ngài và không tin vào Ngài. Chúng ta có thể làm cho Ngài vui bằng cách sống tốt lành, thể hiện tình yêu thương đối với người khác, và nói với người khác về Đức Kitô.

14. Chúa Giêsu đi trên nước thế nào?

KINH THÁNH: Các môn đệ thấy Đức Giêsu đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền (Ga 6:19).

TRẢ LỜI: Chúa Giêsu làm nhiều phép lạ và chứng tỏ quyền năng của Ngài là Thiên Chúa, là Đấng cứu độ và là Đấng sáng tạo cao cả. Phép lạ Chúa Giêsu đi trên mặt biển cho thấy rằng Ngài quyền phép vượt qua luật tự nhiên, Ngài có thể đi trên nước khi Ngài muốn.

CHA MẸ LƯU Ý: Thiên Chúa làm cho mặt trời và mặt trăng đứng tại chỗ (Kbc 3:11).

15. Tại sao Thiên Chúa yêu thương loài người?

KINH THÁNH: Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta (Rm 5:8).

TRẢ LỜI: Kinh Thánh cho chúng ta biết Thiên Chúa là tình yêu (1 Ga 4:8). Yêu thương là bản chất của Ngài. Thiên Chúa yêu thương chúng ta không vì chúng ta tốt lành và dễ thương, chẳng có ai xứng đáng được Thiên Chúa yêu thương, nhưng Ngài vẫn yêu thương chúng ta ngay cả khi chúng ta không vâng lời Ngài và làm ngơ Ngài.

CHA MẸ LƯU Ý: Có thể đây là lúc nói về sự khác biệt giữa tình yêu có điều kiện và tình yêu vô điều kiện.

16. Nước Trời như thế nào?

KINH THÁNH: Khi tôi xuất thần, người đem tôi lên một ngọn núi cao hùng vĩ, và chỉ cho tôi thấy Thành Thánh là Giêrusalem, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Thành rực sáng tựa đá quý tuyệt vời, như ngọc thạch trong suốt tựa pha lê (Kh 21:10-11).

TRẢ LỜI: Cách mô tả Thành Thánh cho chúng ta có cái nhìn thấu vào Nước Trời. Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng các con đường làm bằng vàng, khảm ngọc quý và đặc biệt nhất là có Chúa Giêsu ở đó. Ngài hứa chuẩn bị chỗ ở cho chúng ta, để Ngài ở đâu thì chúng ta cũng được ở đó (Ga 14:3).

17. Chúa Giêsu ở trong chúng ta như thế nào?

KINH THÁNH: sự sống đã được tỏ bày, chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Đó là điều bí ẩn: Đức Kitô ở trong lòng chúng ta qua niềm hy vọng của vinh quang (x. 1 Ga 1:3).

TRẢ LỜI: Khi chúng ta nói bằng cả tấm lòng là chúng ta sống và tin. Thiên Chúa thực sự ở trong chúng ta vì chúng ta là Đền Thờ của Thiên Chúa hằng sống (2 Cr 6:16; 1 Cr 3:16). Chúa Thánh Thần là Đấng trợ giúp chúng ta có những quyết định đúng đắn làm vui lòng Thiên Chúa.

CHA MẸ LƯU Ý: Hãy hỏi con cái xem chúng có bao giờ cảm thấy gì khi chúng sắp làm điều gì sai trái, điều gì đó khiến chúng thay đổi ý định. Hãy giải thích cho chúng biết rằng Chúa Thánh Thần cho chúng ta cảm giác để giữ chúng ta đi vào đường đúng, muốn vậy thì phải biết lắng nghe, chứ Ngài không ép buộc chúng ta.

18. Tại sao một số người chết khi chưa già?

KINH THÁNH: Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi. Nếu sống ở đời này mà công việc của tôi được sinh hoa kết quả, thì tôi không biết phải chọn đàng nào. Vì tôi bị giằng co giữa hai đàng: ao ước của tôi là ra đi để được ở với Đức Kitô, điều này tốt hơn bội phần: nhưng ở lại đời này thì cần thiết hơn, vì anh em (Pl 1:21-24).

TRẢ LỜI: Có tội lỗi vào thế gian nên có sự chết, từ khi ông bà nguyên tổ phạm tội. Mọi thứ sống trên thế gian rồi sẽ chết: cây cối, động vật và con người. Sự chết có thể đến qua tai nạn giao thông, bệnh tật, tuổi già hoặc xảy ra bất thình lình. Thiên Chúa kiểm soát từng nhịp thở của chúng ta để chúng ta có thể vui sống, vì chúng ta biết rằng khi chúng ta chết thì chúng ta sẽ được sống đời đời trong sự sống viên mãn của Đức Kitô.

CHA MẸ LƯU Ý: Hãy nói chắc với con cái rằng cái chết không là điều sợ hãi, đó chỉ là như sự kết thúc của mọi câu chuyện hay mà chúng vẫn nghe và thấy thú vị mà thôi. Chết là chấm dứt cuộc đời tạm để được sống đời đời.

19. Trên Thiên Đàng có đồ ăn ngon không?

KINH THÁNH: Các ông còn chưa tin vì mừng quá, và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: "Ở đây anh em có gì ăn không?". Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông (Lc 24:41-43).

TRẢ LỜI: Kinh Thánh cho biết rằng sau khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, Ngài đã ăn món cá nướng. Nhưng chắc chắn rằng ở Thiên Đàng không cần ăn uống như trên thế gian nữa.

20. Thiên Chúa ở khắp mọi nơi, vậy tại sao mình phải tới nhà thờ?

KINH THÁNH: Chúa Giêsu nói: "Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ" (Mt 18:20). Thánh Phaolô nói: "Chúng ta đừng bỏ các buổi hội họp, như vài người quen làm; trái lại, phải khuyến khích nhau, nhất là khi anh em thấy Ngày Chúa đến đã gần" (Dt 10:25).

TRẢ LỜI: Như các gia đình đi đâu cũng đi chung với nhau, chúng ta cũng cần tới nhà thờ. Chúng ta có thể học hỏi lẫn nhau và gặp gỡ mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi giai cấp, mọi nghề nghiệp,... Đó là phản ánh Đức Kitô trên thế gian. Khi gia đình của Chúa quy tụ bên nhau, có điều đặc biệt xảy ra là Thiên Chúa sẽ ngự ở giữa.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 133 = GIẢI ĐÁP THẮC MẮC PDF Print E-mail

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Hỏi: xin cha giải đáp giúp mấy thắc mắc sau đây :
1- Cha xứ có quyền ra vạ tuyệt thông cho ai không ?
2- Có thể xưng mãi một tội với nhiều cha khác nhau không ?
3- Ai được phép hưởng ân xá của Giáo Hội ?
Trả lời:
1-Vạ Tuyệt Thông ( anthema=excommunication) là hình phạt nặng nhất mà Giáo Hội bất đắc dĩ phải áp dụng trong những trường hợp gia trọng như bội giáo ( apostasy) ly giáo( schism) và lạc giáo ( heresy) ( can.751) hành hung Đức Thánh Cha ( can. 370&1) giết người hay giết thai nhi , tiết lộ bí mật trong tòa giải tôi ( can. 1388& 1) v.v
Vạ tuyệt thông có hai loại là tiền kết ( latae sententiae) và hậu kết ( ferendae sententiae):
A- Vạ tiền kết là vạ đương nhiên hay tự động ( automatically incurred) có hiệu lực khi vi phạm điều đã cấm, và chỉ dành cho Tòa Thánh quyền tháo gỡ mà thôi. Những trường hợp bị vạ tuyệt thông tiền kết gồm có những lỗi phạm sau đây:
1 -Hành hung đức Thánh Cha ( can. 370& 1)
2 - Không có phép Đức Thánh Cha mà dám truyền chức Giám mục cho ai. Cả
Người truyền chức và người chịu chức đều đương nhiên mắc vạ. ( can.1382)
3 -Vi phạm ấn tòa giải tội.( Seal of confessions) tức linh mục tiết lộ cho ai
tội đã nghe của hối nhân trong tòa giải tội ( can.1388& 1)
4 - Ném bỏ Mình Thánh hay đem về nhà với mục đích phạm thánh ( Sacrilege)
( can. 1367)
5- Người bội giáo =apostate là người hoàn toàn chối bỏ đức tin KitôGiáo
Tà giáo hay rối Đạo= Heretic= là người chối bỏ một số tín điều hay giáo lý của của Giáo Hội.
Ly giáo ( schimatic) là người công khải bỏ Đạo để gia nhập đạo hay giáo phái khác. Tất cả 3 tội này đều bị vạ tuyệt thông tiền kết. ( can. 751)
6- Phá thai hay giúp phá thai có kết quả ( can. 1398)
Như đã nói ở trên, vạ tiền kết là vạ đương nhiên hay tự động ( automatically incurred) có hiệu lực cho ai lỗi phạm điều đã cấm, và chỉ Tòa Thánh mới có quyền tháo gỡ hay tha vạ này mà thôi.
B- Vạ tuyệt thông hậu kết ( ferendae sententiae)
Vạ này được áp dụng cho những người ngoan cố không chịu sửa lỗi nặng mặc dù đã được thẩm quyền Giáo Hội khuyến cáo vô hiệu quả. ( can 1347 &1) .Cụ thể, cách nay trên 20 năm , nhân vụ " lôn xộn " ở San Jose, California, Đức Giám mục địa phương đã ngăm đe ra vạ tuyệt thông cho một vài người chủ chốt nếu họ không chấm dứt " tranh đấu" và vâng phục giáo quyền địa phương.
Như thế, chỉ có Giám mục mới có quyền ra vạ tuyệt thông hậu kết cho ai không vâng phục để sửa lỗi đã phạm dù đã được khuyến cáo ít là một lần.
Ngoài ra, không linh mục nào, dù là chánh hay phó xứ, được phép đe dọa ra vạ tuyệt thông cho ai. Sở dĩ phải nói điều này là vì ở bên nhà, nghe nói có nơi linh mục chánh xứ đã dọa vạ tuyệt thông cho những ai đi dự tiệc cưới của đôi hôn phối chưa kết hôn trong Giáo Hội. Chưa kết hôn trong Giáo Hội mà ăn ở với nhau như vợ chồng thì tạm thời không được lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải chứ không thể bị " trục xuất ra khỏi Giáo Hội" với vạ tuyệt thông tiền hay hậu kết được, vì không có giáo luật nào cho phép phạt vạ như vậy.
Lại càng vô lý hôn nữa là đe dọa vạ tuyệt thông cho ai đi dự tiệc cưới của họ. Đây là một lạm dụng đáng tiếc về hình phạt vạ tuyệt thông cần được sửa chữa trong Giáo Hội địa phương. Cũng cần nói thêm là ngày nay Giáo Hội đã cho phép hôn nhân hỗn hợp ( mixed marriage ) nghĩa là một người Công Giáo có thể được phép kết hôn với người theo đạo khác, nhưng phải xin phép chuẩn ( dispensation) ở Tòa Giám mục . Khi đã có phép chuẩn cho phía có Đao Công Giáo rồi thì hôn phối được phép cử hành ở nhà thờ như mọi đôi hôn phối khác. Có điều khác biệt là chỉ người có Đạo mới được rước Mình Thánh trong lễ cưới mà thôi.Hôn nhân này là hợp pháp trong Giáo Hội nên không ai được phép chỉ trích hay đe dọa vạ tuyệt thông" cho người đi dự tiệc cưới của họ.
Tóm lại, khi nói đến vạ tuyệt thông, tiền hay hậu kết, có nghĩa là hình phạt tạm thời không được hiệp thông với Giáo Hội trong mọi lãnh vực thực hành đức tin như cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích bao lâu chưa được tha vạ.Như vậy, phải hết sức thận trọng khi nói đến vấn đề này để không làm hoang mang cho giáo dân về kỷ luật và hình phạt bất đắc dĩ của Giáo Hội
2-Có thể xưng mãi một tội hay không ?
Là con người , ai cũng yếu đuối trong bản tính. Thêm vào đó là những cám dỗ của ma quỉ và gương xấu, dịp tội đầy rẫy trong môi trường xã hội , tức hoàn cảnh sống của mỗi người, nên người ta dễ sa phạm tội nặng hay nhẹ.
Chính vì biết rõ như vậy, nên Chúa Kitô - trước khi về Trời- đã ban bí tích hòa giải cho các Tông Đồ để các ngài và những người kế vị thay mặt Chúa tha tội cho mọi người trong Giáo Hội như Chúa đã truyền cho các ngài:
" anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị căm giữ" ( Ga 20 : 23)
Chúa đầy lòng thương xót và hay tha thứ. Đúng, nhưng con người không được lợi dụng lòng thương xót tha thứ này để cứ phạm tội rồi đi xưng tội. Xưng tội vì lỡ sa ngã do bản tính yếu đuối, vì ma quỷ và thế gian cám dỗ. Nhưng cũng phải cố gắng hết sức về phần mình và nương nhờ vào ơn Chúa để tránh phạm tội hầu được sống trong tình thương và ơn nghĩa với Chúa. Đó là điều Chúa mong muốn nơi mỗi người tín hữu chúng ta. Sở dĩ nói Chúa mong muốn chứ không ép buộc , vì con người còn có ý muốn tự do (free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người xử dụng để hoặc tự do chọn Chúa và xa tránh sự dữ, sự tội, hay khước từ Chúa để tự do sống theo ý muốn của mình và làm những điều trái nghịch với tình thương, công bình và thánh thiện của Chúa.
Nếu chọn Chúa thì phải quyết tâm sống theo đường lối của Chúa là con đường dẫn đưa đến hạnh phúc Nước Trời. Đó là con đường cứu thoát mà ít người muốn đi qua như Chúa Giê su đã trả lời cho một người hỏi Chúa xem có phải rất ít người được cứu thoát hay không. Chúa đáp :
" Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không được." ( Lc 13: 24)
Cửa hẹp mà Chúa muốn nói ở đây là kỷ luật mà chúng ta phải khép mình vào để không chạy theo những quyến rũ của tiền bạc, danh lợi chóng qua ở đời này cùng những thú vui vô luân vô đạo là con đường rộng thênh thang mà nhiều người thích đi trên đó, nhưng không biết sẽ đi vào cõi chết đời đời. Cụ thể, đó là những kẻ tôn thờ chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa vật chất và khoái lạc ( hedonism) khiến họ đang tìm tiền của cách bất chính để làm giầu như buôn bán gian lận, mở sòng bài bạc, nhà điếm, sản xuất sách báo và phim ảnh dâm ô đồi trụy, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay.
Nếu người có niềm tin Thiên Chúa mà cũng đi vào con đường đó , nghĩa là cũng ăn gian nói dối, cờ bạc đỏ đen, thay vợ, đổi chồng, dâm ô trác táng, bất công với người khác và lãnh cảm trước sự nghèo đói của anh chị em đồng loại, thì dù có mang danh là người Công giáo, vẫn đi lễ ngày Chúa nhật, vẫn kêu tên Chúa Kitô và hát Alleluia, Alleluia như anh em Tin Lành, thì cũng vô ích mà thôi, căn cứ vào chính lời Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa !, lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 : 21)
Thi hành ý muốn của Cha trên trời có nghĩa là xa tránh tội lỗi và mọi cách sống mâu thuẫn với Tin Mừng Cứu Độ để bước đi theo Chúa Kitô, là " con đường, là sự thật và là sự sống." ( Ga 14: 6)
Như thế, trong thực hành, nếu không cố gắng khép mình vào kỷ luật nội tâm và nương nhờ ơn Chúa nâng đỡ, để xa tránh tội lỗi và trở nên hoàn thiện mỗi ngày, thì hãy nghe lại lời Chúa cảnh cáo như sau trong Sách Khải Huyền:
" Ta biết các việc ngươi làm. Ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẵn hay nóng hẵn đi.Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." ( Kh 3: 15-16)
Nói khác đi, nếu đi xưng tội mà không có quyết tâm chừa tội để cứ sa đi ngã lại, cứ xưng mãi một tội quen phạm thì sẽ trở thành là người chẳng nóng, chẳng lạnh, cứ hâm hâm, nửa nóng nửa lạnh, như Chúa cảnh cáo trên đây.Và như vậy chắc chắn không thể sống đẹp lòng Chúa và đáng được cứu độ. Chúa nói: " Ai có tai nghe thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 4: 23; Lc 8: 8).
4- Ai được lãnh ơn xá ?
Ân xá ( Indulgence) là ơn Giáo Hội lấy từ kho tàng ơn Cứu Độ của Chúa Kitô để tha các hình phạt hữu hạn ( temporary punishment) của các tội nặng nhẹ đã được tha qua bí tích hòa giải.( x SGLGHCG số 1471)
Nghĩa là, sau khi xưng tội cách ngay lành ( không dấu tội nào) và được tha qua bí tích hòa giải, thì hối nhân phải làm việc đền tội do cha giải tội giao cho. Việc đền tội này có mục đích tẩy xóa sạch những hậu quả do tội để lại trong tâm hồn hối nhân, dù mọi tội nặng nhẹ đã được tha. Nếu ai không làm đủ việc đền tội này khi còn sống thì phải đền phạt trong luyện tội ( purgatory) sau khi chết.( x SGLGHCG, số 1030-1031)
Và đây là lý do Giáo Hội ban ơn xá để tha hình phạt hữu hạn nói trên.
Ơn ( Ân ) xá có thể là toàn phần, hay còn gọi là Ơn đại xá ( full indulgence)
để tha hết mọi hình phạt hữu hạn , hay từng phần ( partial indulgence) để tha một phần hình phạt trên ( x.giáo luật số 993)
Ơn xá có thể lãnh nhận cho chính mình hoặc nhường lại cho các linh hồn trong Luyện tội , nhưng không thể nhường cho người khác còn sống ( x. giáo luật số 994).
Muốn lãnh nhận ơn xá cách có hiệu quả thì phải sạch tội trọng và làm một số việc lành như xưng tội , dự lễ, rước Mình Thánh Chúa, viếng nhà thờ và đọc các kinh lậy Cha, Kinh mừng, Sáng danh, Kinh Tin Kính và cầu nguyện theo ý Đức Thánh cha.
Ân xá được ban trong những dịp trọng đại như Năm Thánh ( Jubilee Year),
Kỷ niệm thành lập Giáo Phận, hay Dòng Tu, viếng nghĩa trang trong tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11) hoặc dự lễ mở tay của tân linh mục...
Chỉ có Đức Thánh Cha, hoặc thẩm quyền tối cao dưới quyền ngài, mới có quyền ban ân xá cho Giáo Hội hoàn vũ hay Giáo Hội địa phương ( Giáo phận) ( giáo luật số 995).
Giáo phận hay Dòng Tu nào muốn hưởng đặc ân này nhân kỷ niệm trọng đại của mình, thì phải xin phép nơi thẩm quyền tối cao của Tòa Thánh.
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn những câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xavê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 132 = CHÚA CHET KHI NAO PDF Print E-mail

- TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)
Apr 6 at 9:36 PM

Chúa Giêsu chết khi nào?

Hằng năm, chúng ta cử hành Mùa Chay, rồi cử hành Tuần Thánh, đặc biệt là Thứ Sáu Tuần Thánh kính nhớ Cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu, và Đại Lễ Phục Sinh kính mừng Chúa Giêsu sống lại. Chúng ta biết rằng sự kiện lịch sử này đã xảy ra tại Giêrusalem hồi thế kỷ I.

Sự kiện này khiến Chúa Giêsu khác biệt với các thần ngoại giáo trong thần thoại, những người sống ở đâu và làm gì thì chẳng ai biết. Vậy làm sao chúng ta xác định thời gian chính xác về việc Chúa Giêsu chịu chết? Có thể chứ.

Và đây là các chứng cớ...

1. THƯỢNG TẾ CAI-PHA

Các Phúc Âm cho biết rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh theo chủ mưu xúi bẩy của thượng tế tên là Cai-pha (Mt 26:3-4, Ga 11:49-53). Các nguồn khác cho biết rằng ông này là thượng tế từ năm 18 tới năm 36 sau công nguyên, thế nên Chúa Giêsu chịu chết trong thời gian đó. Nhưng chúng ta còn có thể biết rạch ròi hơn vậy.

2. TỔNG TRẤN PHONG-XI-Ô PHI-LA-TÔ

Các Phúc Âm đồng ý rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh theo lệnh của Phong-xi-ô Phi-la-tô (Mt 27:24-26, Mc 15:15, Lc 23:24, Ga 19:15-16). Các nguồn khác cho biết rằng khi đó Phi-la-tô làm tổng trấn Giu-đê (năm 26 tới năm 36 sau công nguyên), do đó chúng ta có thể giảm bớt được vài năm. Nhưng làm sao chúng ta biết đúng ngày và năm?

3. SAU NĂM THỨ 15 CỦA TI-BÊ-RI-Ô XÊ-DA

Phúc Âm theo Thánh Lu-ca cho biết thời gian sứ vụ của Thánh Gioan Tẩy Giả khởi đầu: Năm thứ 15 triều đại của Tiberiô Xê-da (Lc 3:1-2). Như vậy chúng ta có thời gian rõ ràng: Năm 29 sau công nguyên.

Cả bốn Phúc Âm đều mô tả sứ vụ của Đức Kitô bắt đầu sau khi ông Gioan Tẩy Giả bắt đầu sứ vụ (Mt 3, Mc 1, Lc 3, Ga 1), nghĩa là chúng ta có thể bỏ qua vài năm. Cái chết của Chúa Giêsu phải ở trong vòng 7 năm: Giữa các năm 29 và 36 sau công nguyên.

4. CHÚA GIÊSU CHẾT NGÀY THỨ SÁU

Cả bốn Phúc Âm đều đồng ý rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh vào ngày Thứ Sáu (Mt 27:62, Mc 15:42; Lc 23:54; Ga 19:42), ngay trước ngày Sa-bát, ngay trước ngày thứ nhất trong tuần (Mt 28:1, Mc 16:2, Lc 24:1, Ga 20:1).

Chúng ta biết đó là Thứ Sáu vì nó được nói tới là "ngày chuẩn bị" – nghĩa là ngày mà người Do Thái chuẩn bị những gì cần cho ngày Sa-bát, vì họ không thể làm việc gì vào ngày này. Như vậy, đồ ăn được nấu trước và chuẩn bị những thứ cần thiết khác.

Bộ sách Bách Khoa Do Thái nói: Thứ Sáu, trước ngày Sa-bát, gọi là "Ereb Shabbat" (hôm trước ngày Sa-bát). Thuật ngữ "ereb" có hai nghĩa: "chiều tối" và "sự hỗn hợp" (Ex. xii. 38); và "Ereb Shabbat" bao hàm ngày vào chiều tối khi ngày Sa-bát bắt đầu, hoặc ngày mà đồ ăn được chuẩn bị cho cả ngày hiện tại và những ngày sau, nghĩa là sau ngày Sa-bát.

Ý tưởng về sự chuẩn bị được diễn tả bằng tiếng Hy Lạp là "paraskeué", do Josephus đưa ra ("Ant." xvi. 6, § 2) đối với ngày đó (so sánh với Mc 15:42; Lc 23:54; Mt 27:62; Ga 19:42). Trong Yer. Pesaḥim iv. 1, ngày này được gọi là "Yoma da-'Arubta" (ngày chuẩn bị). Điều đó loại trừ 6 ngày trong tuần, nhưng vẫn có vài ngày Thứ Sáu khác trong những năm 29 và 36 sau công nguyên. Làm sao chúng ta có thể biết năm nào?

5. THỨ SÁU NGÀY LỄ VƯỢT QUA

Các Phúc Âm cũng đồng ý rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh trùng với Lễ Vượt Qua hằng năm (Mt 26:2, Mc 14:1, Lc 22:1, Ga 18:39). Ở đây chúng ta gặp sự phức tạp, vì các Thánh Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca đều mô tả Bữa Tiệc Ly vào Thứ Năm Tuần Thánh là bữa ăn mừng Lễ Vượt Qua (Mt 26:19, Mc 14:14, Lc 22:15). Điều đó cho thấy rằng Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày sau Lễ Vượt Qua.

Tuy nhiên, khi mô tả buổi sáng Thứ Sáu Tuần Thánh, Thánh Gioan cho biết rằng người Do Thái chưa ăn Lễ Vượt Qua, họ dẫn độ Chúa Giêsu từ nhà Cai-pha tới dinh của Phi-la-tô (Praetorium): "Người Do Thái điệu Đức Giêsu từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn Lễ Vượt Qua được. Vì thế, tổng trấn Phi-la-tô ra ngoài gặp họ và hỏi: "Các người tố cáo ông này về tội gì?" (Ga 18:28-29).

Điều đó cho thấy rằng Lễ Vượt Qua bắt đầu lúc mặt trời lặn của ngày Thứ Sáu. Có nhiều cách giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn, một số người cho rằng Chúa Giêsu và các môn đệ dùng lịch khác người Do Thái, và chúng ta biết rằng có những lịch khác nhau được dùng trong Do Thái giáo hồi thế kỷ I.

Cũng có thể Chúa Giêsu mừng Lễ Vượt Qua trước với các môn đệ. Nghĩa là họ đã tin Thầy Giêsu là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa. Nếu Ngài nói: "Chúng ta mừng Lễ Vượt Qua hôm nay", đó là sớm hơn mọi người, vậy cũng như mọi người. Lưu ý: Ngài có những sửa đổi nghi lễ một chút, như lập Bí tích Thánh Thể khi đang ăn.

Cũng có những cách giải quyết khác. Tuy nhiên, dù Chúa Giêsu làm gì, chúng ta vẫn có thể dựa vào câu nói của Thánh Gioan về những người bắt Chúa Giêsu khi biểu hiện những gì của người Do Thái hoặc cách thực hành chính của họ: Họ mừng Lễ Vượt Qua vào thời gian mà chúng ta gọi là chiều tối Thứ Sáu Tuần Thánh.

Chúng ta có thể giảm bớt thời gian một chút. Đây là những ngày trong những năm 29 và năm 36 có những chiều tối bắt đầu Lễ Vượt Qua:

+ Thứ Hai, 18 tháng 4 năm 29.

+ Thứ Sáu, 7 tháng 4 năm 30.

+ Thứ Ba, ngày 27 tháng 3 năm 31.

+ Thứ Hai, ngày 14 tháng 4 năm 32.

+ Thứ Sáu, 3 tháng 4 năm 33.

+ Thứ Tư, ngày 24 tháng 3 năm 34.

+ Thứ Ba, ngày 12 tháng 4 năm 35.

+ Thứ Bảy, ngày 31 tháng 3 năm 36.

Như vậy, chúng ta chỉ còn lại 2 Thứ Sáu: Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào ngày 7 tháng 4 năm 30, hoặc ngày 3 tháng 4 năm 33. Vậy ngày nào? Ngày theo truyền thống là ngày vào năm 33. Có thể có nhiều người ủng hộ ngày của năm 30. Các Phúc Âm nói gì về 2 năm đó?

6. BA LỄ VƯỢT QUA

Phúc Âm theo Thánh Gioan cho biết có 3 Lễ Vượt Qua khác nhau trong thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu:

+ Lễ Vượt Qua 1: Có ghi trong Ga 2:13, gần đầu thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu.

+ Lễ Vượt Qua 2: Có ghi trong Ga 6:4, giữa thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu.

+ Lễ Vượt Qua 3: Có ghi trong Ga 11:55 (và thường nhắc tới sau), cuối thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu.

Như vậy, sứ vụ của Chúa Giêsu phải trong 2 năm đó. Cách đầy đủ hơn cho thấy rằng đó là khoảng 3 năm rưỡi, nhưng dù chúng ta cho rằng điều đó xảy ra ngay trước Lễ Vượt Qua 1, thêm vào 2 Lễ Vượt Qua khác, cho thấy rằng sự việc kéo dài tối thiểu phải hơn 2 năm.

Như vậy nghĩa là năm 30 đã qua. Không đủ thời gian giữa năm thứ 15 trong triều đại của Ti-bê-ri-ô Xê-da (năm 29) và Lễ Vượt Qua của năm kế tiếp để hợp với sứ vụ kéo dài ít nhất là 2 năm. Như vậy, ngày Chúa Giêsu chết theo truyền thống (Thứ Sáu, ngày 3 tháng 4 năm 33) là chính xác. Có thể chính xác hơn không?

7. GIỜ THỨ CHÍN

Các Thánh sử Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca đều nói rằng Chúa Giêsu chết vào khoảng "giờ thứ chín" (Mt 27:45-50, Mc 15:34-37, Lc 23:44-46). "Giờ Thứ Chín" đó là 3 giờ chiều theo cách tính giờ thời nay.

Điều này cho phép chúng ta thu hẹp thời gian Chúa Giêsu chết vào một điểm chính xác theo lịch sử: Khoảng 3 giờ chiều Thứ Sáu, ngày 3 tháng 4 năm 33 sau công nguyên.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

Giờ thứ chín, Thứ Sáu, ngày 4-4-2014

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 131 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

GIẢI ĐÁP THẮC MẮC 3
Xin cha giải thích giúp những thắc mắc sau đây :
1- Các bí tích của Giáo Hội Công Giáo có nguồn gốc Kinh Thánh không?
2- Nếu chỉ nghe lời Chúa trong Kinh Thánh thôi thì có đủ để được cứu rỗi hay không?
Trả lời :
1-
Như tôi đã nhiều lần giải thích là không phải bất cứ điều gì Giáo Hội dạy đều có ghi trong Kinh Thánh. Chính vì chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura), nên anh em Tin Lành, nói chung, đã phê bình Giáo Hội Công Giáo về nhiều điều họ cho là thiếu căn bản Kinh Thánh. Họ phê bình như vậy là vì họ không biết rằng Giáo Hội Công Giáo, ngoài Kinh Thánh, còn có Thánh Truyền,( Sacred Tradition) Mặc Khải( Revelation) và Quyền Giáo Huấn ( Magisterium) là những nguồn chân lý mà Giáo Hội khai thác để dạy những điều mọi tín hữu phải tin và sống cho được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu.
Sau đây là bằng chứng về Thánh Truyền và Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội đã được ghi lại trong Kinh Thánh Tân Ước:
Thứ nhất về Quyền Giáo Huấn, Chúa Kitô đã trao cho các Tông Đồ trước khi Người về trời như sau :
"Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hay đi...và dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em..." ( Mt 28: 20)
Về Thánh Truyền, Thánh Phaolô đã truyền cho môn đệ ngài là Timôthê như sau:
" anh Tmôthê, hãy bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho anh, tránh những chuyện nhảm nhí , trống rỗng , và những vấn đề tri thức giả hiệu. Có những kẻ , vì chủ trương cái trí thức đó, nên đã lạc mất đức tin. Chúc anh em được ân sủng." ( 1 Tm 6: 20-21)
Hay rõ hơn nữa:
" Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Kitô-Giê su, anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo lý tốt đẹp đã trao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta." ( 2 Tm 1: 13-14)
Như thế đủ cho thấy là các Thánh Tông Đồ đã truyền lại cho các thế hệ nối tiếp cho đến ngày nay những giáo lý tinh tuyền của Kitô-Giáo, tức là của chính Chúa Kitô đã giảng dạy cho các Tông Đồ và cho dân chúng thời đó và được truyền lại cho chúng ta ngày nay qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu ( Mystical Body) của Chúa Kitô trong trần thế.
Riêng về các bí tích ,thì Giáo Lý của Giáo Hội đã nói rõ bảy Bí Tích mà Chúa Kitô đã ban cho Giáo Hội như phương tiện cứu rỗi cần thiết mà mọi tín hữu được mong đợi đón nhận với đức tin vững chắc và lòng mến nhiệt thành về những lợi ích thiêng liêng lớn lao của các bí tích này.(x SGLGHCG số 1210-1620)
Tất cả bẩy bí tích này đều có nguồn gốc Kinh Thánh như sau:
1-Bí Tích rửa tội
Trước khi về trời, Chúa Giê su đã truyền cho các môn đệ :
" Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, àm phép Rửa Cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.." (Mt 28:19)
2- Bí Tích Thêm Sức ( confirmation)
Khi hiện ra với các Tông Đồ sau khi Người sống lại từ cõi chết, Chúa
Giêsu đã thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh
Thần," ( Ga 20:22)
Lại nữa, hai Tông Đồ Phê rô và Gioan được cử đến miền Samari để gặp dân
mới theo Đạo ở đây. Khi đến nơi, " hai ông cầu nguyện cho họ, đặt tay trên
họ và họ nhận được Thánh Thần." ( Cv 8 : 17)
3-Bí Tích Hòa Giải ( penance, reconciliation
Sau khi thổi hơi để ban Thánh Thần cho các Tông Đồ, Chúa Giê su đã nói với họ như sau :
" Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ" ( Ga 20: 23)
Lại nữa, trước khi chiu khổ hình thập giá chết và sống lại, Chúa Giê-su cũng trao cho Phêrô chiều khóa Nước Trời và quyền cầm buộc hay tháo gỡ như sau:
" Thầy sẽ trao cho anh chiều khóa Nước Trời: dưới đất anh cầm buộc
điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều
gì trên trời cũng sẽ thao gỡ như vậy." ( Mt 16: 19)
Quyền đó đã được trao lại cho các vị kế tục Phêrô cho đến ngày nay. Vì thế, Giáo Hội – qua Đức Thánh Cha là người kế nghiệp Thánh Phê rô trong nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Chúa, có quyền ra vạ tuyệt thông= Anathema=Excomunication)
Và giải vạ này cho những ại bị vạ; cũng như ban ân xá ( indulgences) để tha hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) cho người còn sống hay cho các linh hồn đang được thanh luyện nơi Luyện tội ( purgatory).
Đây là điều các giáo phái Tin Lành không tin nên đả kích Giáo Hội Công Giáo.
4- Bí tích Thánh Thể
Bí Tích quan trọng này đã được Chúa Giê su thiệp lập trong Bữa ăn sau cùng với Mười hai Tông Đồ khi Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng rồi bẻ ra trao cho các ông và nói: " anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.Rồi Người cầm chến rượu, tạ ơn, trao cho các ông và nói : " Tất cả anh em hãy uông chén này, vì đây là máu Thầy, máu giao ước đổ ra cho muôn người được tha tội." ( Mt 26: 26-28; Mc 14: 22-24; Lc 22:19-20; Ga 6; 1 Cor 11: 23- 25)
5-Bí tích Sức dầu ( Anointing)
Bí Tích này được ghi trong Thư Thánh Gia-cô-bê như sau:
" Ai trong anh em đau yếu ư ? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy sau khi sức dầu nhân danh Chúa." (Gc 5: 14)
6- Bí Tích Truyền Chức Thánh ( Hoy Orders)
Trong thư gửi cho môn đệ ngài là Timô-thê, Thánh Phaolô đã căn dặn như
Sau:
" Vì lý do đó, tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa,
Đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh." ( 2 Tm 1: 6)
Như thế việc đặt tay để xin ơn Chúa Thánh Thần là điểm chính yếu trong
Nghi thức Truyền Chức Thánh Phó tê, Linh mục và Giám mục trong Giáo
Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương.
7- Bí Tích Hôn Phối ( Matrimony)
Chính Chúa Giê su đã nhắc lại cho các Tông Đồ - và đặc biệt- là nhóm Biệt phái như sau về bí tích này:
" Các ông không đọc thấy điều này sao: thủa ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán: "vì thế người ta sẽ lìa Cha mẹ mà gắn bó với vợ mình., và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp , loài người không được phân ly." (Mt 19: 4-6)
Thánh Phaolô cũng nhắc cho tín hữu Ê-phê-sô về bí tích hôn phối như sau:
" Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế , người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thực là cao cả.Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng." ( Ep 5: 31-33)
Tóm lại , tất cả bảy Bí Tích đều có nguồn gốc Kinh Thánh, tức là đều bắt nguồn từ ý muốn của Thiên Chúa cho con người thi hành để cộng tác với Chúa trong Chương Trình sáng tạo và cứu độ con người nhờ Chúa Kitô.
II-Chỉ nghe Lời Chúa không thôi có đủ cho con người được cứu độ không ?
Nghe lời Chúa qua Kinh Thánh là điều rất quan trọng và cần thiết cho mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội , vì " người ta sống không phải chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn sống nhờ mọi lời từ miệng ĐỨC CHÚA phán ra." (Mt 4: 4 ; Lc 4: 4; Đnl 7: 3;)
Lời Chúa không những là thần lương nuôi sống linh hồn ta mà còn là đuốc sáng soi dẫn ta đi trên đường tìm kiếm Chúa và Vương Quốc bình an, hạnh phúc của Người, đúng như Phêrô đã tuyên xưng một ngày kia: " Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời." ( Ga 6: 68)
Thánh Vinh 119, cũng ca tụng lời Chúa như sau:
" Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước
Là ánh sáng chỉ đường con đi. ( Tv 119: 105)
Như thế đủ cho thấy là việc nghe lời Chúa qua Kinh Thánh , qua Giáo Hội và trong chính lương tâm con người là điều vô cùng cần thiết cho những ai muốn đi theo Chúa, muốn yêu mến Người và muốn được cứu rỗi.
Tuy nhiên, chỉ nghe lời Chúa như anh em Tin Lành tin và quảng bá thì chưa đủ để lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô..Muốn đầy đủ hơn thì phải siêng năng cầu nguyện, lãnh nhận các Bí Tích mà Chúa Kitô đã thiết lập để mưu ích phần rỗi cho ta trong Giáo Hội. Các bí tích nói chung, và hai bí tích Thánh Thể và Hòa giải nói riêng, là những phương tiện thông ban ơn Chúa dồi dào cho những ai muốn lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô nhờ Hy Tế đền tội mà Chúa đã dâng lên Chúa Cha trên thập giá năm xưa và nay trên bàn thờ mỗi khi Thánh Lễ được cử hành.
Vì thế , khi tham dự Thánh lễ, chúng ta được lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô như Giáo Hội dạy trong Hiến Chế Lumen Gentium ( Ánh Sáng muôn dân ) sau đây:
" Mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó "Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế (1 Cor 5, 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( LG 3)
Đó cũng là lý do tại sao Thánh Lễ được coi là " nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả đời sống Kitô Giáo".Nghĩa là không thể sống trọn vẹn đời sống Kitô Giáo mà không tham dự Thánh Lễ để vừa được nghe lời Chúa và nhất là được ăn thịt và uống máu Chúa Kitô là bảo chứng cho ta được sống đời đời như Chúa đã hứa:
" Ai ăn thịt và uống máu Ta
Thì được sống muôn đời
Và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết." ( Ga 6: 54)
Mặt khác, là con người sống trên trần gian này, không ai có thể tránh được nguy cơ của tội lỗi đến từ ma quỉ, thế gian và xác thịt.Do đó, nếu không siêng năng chạy đến với Chúa qua bí tích hòa giải thì làm sao nối lại được tình thân với Chúa, sau khi lỡ sa ngã vì yêu đuối con người, vì ma quỷ và thế gian luôn cám dỗ với mọi dịp tội và gương xấu để lôi kéo ta ra khỏi thân tình với Chúa để làm nô lệ cho chúng và mất hy vọng được cứu rỗi.
Chính vì biết con người còn yếu đuối và dễ sa ngã, nên Chúa Kitô đã dự trù sẵn phương thế hữu hiệu là ban cho chúng ta bí tích hòa giải để giúp ta trỗi dậy và lấy lại thân tình với Chúa mỗi khi lỡ sa phạm tội vì yếu đuối và vì ma quỷ cám dỗ.
Ai dám nói là mình không bao giờ phạm tội để không cần bí tích này nữa?
Cũng không thể trực tiếp xưng tội với Chúa không cần qua trung gian của ai ( linh mục) như anh em Tin Lành giảng dạy, vì Chúa Kitô đã trao quyền tha tội này cho các Tông Đồ mà người kế vị các ngài là các Giám mục và phụ tá Giám mục là các linh mục.
Do đó không thể cứ hát Alleluia và nghe lời Chúa không thôi như anh em Tin lành quảng bá thì sẽ thiếu đi phần quan trọng nữa là lãnh nhận các ơn ích thiêng liêng qua các bí tích mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu rỗi cho con người cho đến ngày mãn thời gian.
Kinh nghiệm thiêng liêng cho mọi người tín hữu chúng ta biết rằng : phải siêng năng cầu nguyện, nghe lời Chúa và luôn chạy đến với hai bí tích rất quan trọng và cần thiết là Thánh Thể và Hòa giải để được ăn uống Mình Máu Chúa, là linh dược nuôi sống linh hồn và cho ta sức mạnh cần thiết để đứng vững trong ơn nghĩa với Chúa cũng như lấy lại ơn nghĩa này sau khi lỡ sa phạm tội nặng hay nhẹ , vì yếu đuối của bản năng, nhất là vì ma quỷ - ví như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" để mong sát hại linh hồn chúng ta, như Thánh Phê rô đã lưu ý.( 1 Pr 5: 8)
Tóm lai, muốn thăng tiến trong đời sống thiêng liêng, muốn lớn lên trong tình yêu Chúa, và muốn được cứu rỗi thì phải sử dụng mọi phương tiện cần thiết nói trên, như nghe lời Chúa, cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải là những phương tiện cứu rỗi cần thiết mà Chúa Kitô đã ban cho chúng ta qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa trong trần gian, có mặt và hoạt động cho đến ngày mãn thời gian.
Lm P.X Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 130 = SACH TU THU AUGUSTINO PDF Print E-mail

The Confessions of St. Augustine Sách Tự Thú của Thánh Augustin - Rev. Ngô tường
Apr 1 at 12:14 PM
The Confessions of St. Augustine
Sách Tự Thú của Thánh Augustin
Rev. Ngô tường DZũng, Texas, USA
Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

Lời Giới Thiệu

Năm 354, trong thành phố nhỏ tên Tagaste, nay là Souk-Ahras trong nước Algérie ngày nay, lúc đó thuộc tỉnh Numidia trong đế quốc Roma, một nhân vật danh tiếng trong lịch sử Kitô giáo ra đời. Tên ngài là Augustin thành Hippo. Dù không phải là người công giáo ngay từ lúc mới sinh ra, ngài đã lãnh phép rửa tội vào năm ngoài 30, và làm linh mục, giám mục, thần học gia có ảnh hưởng lớn lao và thành lập tu viện Augustin.

Giáo hội công giáo luôn công nhận tầm quan trọng của thánh Augustin và phái tin lành như Luther cũng chịu ảnh hưởng của ngài trong việc học hỏi thánh kinh cũng như thần học. Thánh Augustin chết tại Hippo nơi ngài làm giám mục trong khi quân Vandals bao vây thành phố năm 430.

Dù cho thánh nhân là học giả Kitô giáo lớn lao, nhưng cuộc sống và hoàn cảnh cuộc sống của ngài trong thế giới La Mã thế kỷ thứ 4 không có gì xa lạ với tư tưởng thần học và khoa học hiện đại. Tuy nhiên thánh Augustin vẫn hiện đại và hợp thời, vì con người trong thời đại nào hay thuộc nền văn hoá nào đều đặt ra những vấn đề như nhau và cùng vật lộn với những nỗi khó khăn như nhau, vì đó là con người. Câu chuyện cuộc đời thánh Augustin được thành thực kể lại trong sách Tự Thú sẽ cho ta thấy ngài giống chúng ta.

Thực ra những vấn đề thần học làm cho thánh Augustin phải băn khoăn thì cũng làm cho chúng ta phải thao thức. Khi còn trẻ ngài theo phái Mani. Trong thời gian mấy năm trời ngài chủ trương thế giới có hai lực lượng tốt và xấu tranh dành nhau. Phái này không quan niệm Chúa là một nhân vị lại càng không thể chấp nhận việc Thiên Chúa làm người nơi Chúa Giêsu. Ngài lưu ý tới ý nghĩ về thiên Chúa và mối liên hệ với vũ trụ vật chất. Ngài cũng lưu tâm vấn đề nguồn gốc sự dữ mà phái Manichee không thể giải đáp thoả đáng. Phái này tin vào thuyết nhị nguyên nghĩa là có hai lực lượng tốt và xấu tranh chấp trong con người và vũ trụ. Augustin nhìn vào lòng mình và cũng đặt câu hỏi như thánh Phaolô: "Ai cứu tôi khỏi thân xác hay chết này". Ngài luôn chiến đấu để giữ mình trong sạch nhưng luôn thất bại và cảm thấy bất lực không thể cải thiện.

Tuy nhiên trong sách Tự Thú của ngài chúng ta thấy có những vấn đề hiện đại. Augustin sống trong một xã hội tôn thờ nhà nước và sự thành công. Ðôi khi coi võ lực như là một quyến rũ một việc giải trí. Coi trọng thể thao và coi nhẹ tinh thần. Trong kinh nghiệm của Augustin cũng có bạo động băng đảng, dục tình khai phóng, quá coi trọng dư luận quần chúng, không muốn chủ trương theo thiểu số những vấn đề về nguyên tắc luân lý, mê bói toán, và coi thường phụ nữ. Khi ta đọc sách của Ngài, ta thấy được con người và thấy ngài giống ta. Chúng ta cũng phải đương đầu với hầu hết những vấn đề luân lý ngài phải đương đầu. Những cơn cám dỗ mà ngài chịu thua hay thường nhượng bộ thì cũng đã đánh gục chúng ta. Về vấn đề con người thực ra không có gì mới dưới ánh sáng mặt trời.

Nhưng cuộc hành trình tâm linh của ngài mới là cuộc hành trình của mỗi người chúng ta. Ngài đã không được sửa soạn cho một thế giới Kitô giáo. Ngài muốn mọi sự đều hoàn hảo nên ngài muốn biết Chúa. Chúng ta cũng đi theo ngài trên con đường khúc khủyu và đau đớn. Dần dà không còn lối thoát. Và trong nhiều năm ngài đã không thể mở lòng cho những đòi hỏi luân lý và tinh thần của phúc âm. Là một nhà tưởng ngài cho rằng chướng ngại thứ nhất thuộc lãnh vực lý trí. Sau cùng trong khu vườn tại Ý ngài đã tìm ra ngăn trở chính là luân lý và ý chí. Không thể nào hiểu hoàn toàn về đức tin, chỉ là phó thác trọn vẹn và sẵn sàng dứt khoát với tội lỗi.

Giáo hội trong thế kỷ thứ 4 đang ở ngã ba đường. Sau thời sơ khai và cơn bắt đạo dữ dằn, đạo công giáo đã có mặt hầu hết trong đế quốc Roma. Thánh giá đã mang lại nhiều chiến thắng nhất là cuộc trở lại của hoàng đế Constantine. Nhưng chiến thắng cũng mang theo hậu quả. Giáo hội bị lệ thuộc nhà nước.

Giáo hội vẫn có kẻ thù và kẻ thù còn ghê gớm hơn. Giai cấp trưởng giả Roma đã quay về với tôn giáo ngoại đạo. Nhiều lạc phái nổi lên như phe Ario chối bỏ sự nhập thể của Chúa Giêsu và phái Manichee. Dù sao làm một người công giáo không nhượng bộ không phải là chuyện dễ dàng và lúc nào cũng thế.

Nhưng giáo hội hiện hữu, có của cải và quyền lực cũng như ảnh hưởng. Thay vì thi hành lời Chúa rao giảng cho muôn dân giáo hội quay về những vấn đề nội bộ với nhiều sai lạc tôn giáo hay triết học. Giáo hội thời Augustine có quan điểm lạ lùng về phép rửa tội. Nhiều người cho rằng tội phạm sau khi rửa tội là tội không thể tha thứ. Do đó người ta chỉ rửa tội khi gần chết hay càng muộn càng tốt để tránh cho khỏi phạm tội sau khi đã được rửa tội. Chính Augustine không có quan niệm như thế và ngài đã có ảnh hưởng trong việc bãi bỏ quan niệm đó. Ngài và con trai được rửa tội cùng một lúc trong khi cha ruột của Ngài là Patricius chỉ được rửa tội khi gần chết.

Giáo hội thời đó đang bị giằng co bởi hai khuynh hướng, một đàng muốn giữ lại sự đơn sơ của phúc âm, thống hối, tin tưởng và phép rửa, đàng khác muốn có một giáo hội lớp lang có tổ chức có nghi thức và luật pháp khi đó những sứ điệp căn bản ban đầu có cơ bị lu mờ. Trong sách của Ngài cho ta thấy tình trạng đó. Và Ngài đã dành phần lớn thời gian cho việc đề cao tinh thần phúc âm nguyên tuyền. Giáo hội trong thời ấy cũng bị ảnh hưởng do tinh thần canh tân phát xuất từ Ai cập và chính Augustin cũng bị ảnh hưởng tinh thần đó. Ảnh hưởng lớn nhất đến từ thánh Phaolô và giám mục Milan, thánh Ambrosio cũng không bằng ảnh hưởng của bà mẹ là nữ thánh Monica. Sách tự thú là một bằng chứng về sự can đảm tính tình và niềm tin của người phụ nữ kỳ diệu này. Trong giai đoạn mà người phụ nữ bị coi như đồ chơi hay thuộc quyền sở hữu của chồng, bà luôn tin rằng con và chồng của bà sẽ có ngày lãnh nhận đức tin. Bà cầu nguyện và ăn chay, khóc lóc và lo lắng nhưng nhất là bà làm gương về cuộc sống Kitô hữu. Bà thầm lặng, tử tế và đơn sơ.

Augustin trở lại vào năm 386 khi làm giáo sư tu từ tại Milan. Nhà thờ thánh tích triết gia hay bạo chúa đều qua đi nhưng niềm tin mà Augustine tìm thấy vẫn tồn tại. Niềm tin là ơn sủng do Chúa ban. Có ơn sủng là qua niềm tin, điều này đã mạc khải cho Augustin cũng như cho Luther và Wesley. Ngài đã nuôi dưỡng niềm tin cũng bằng những bí tích chúng ta chịu ngày hôm nay. Ngài đọc thánh kinh, nhất là thánh vịnh và thư thánh Phaolô, khi mới trở lại. Ngài đã được rửa tội như chúng ta. Ngài cũng tìm kiếm cũng một ơn Thánh Thần như chúng ta. Ngài cũng mong ước và nhìn thấy sự trở lại của bạn hữu. Những dòng sau đây rút ra từ cuốn tự thú của thánh Augustin. Tuy nhiên được xếp đặt cho bạn đọc thời nay. Hi vọng bạn đọc nhất là những người trẻ tuổi tìm được nơi đây tiếng vọng của tâm hồn mình và qua đó tìm được con đường hạnh phúc.

Dallas ngày lễ thánh Augustino, 28-8-1990
Ngô tường DZũng.

Kính chuyển

Hồng

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 123 of 159