mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5713
mod_vvisit_counterHôm Qua11016
mod_vvisit_counterTuần Này27619
mod_vvisit_counterTuần Trước57635
mod_vvisit_counterTháng Này196324
mod_vvisit_counterTháng Trước256467
mod_vvisit_counterTất cả13566501

We have: 104 guests online
Your IP: 54.227.76.35
 , 
Today: May 21, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 107 = DONGTEN 400 NAM TAI VN PDF Print E-mail

January 14, 2014

Phóng viên ucanews.com, Việt Nam

Hành trình 400 năm tu sĩ Dòng Tên ở Việt Nam thumbnail
Bức họa tiết về cuộc tử đạo của Chân phước Anrê Phú Yên do họa sĩ người Ý Giacinto Brandi vẽ

Những cử hành đánh dấu kỷ niệm 400 năm các nhà truyền giáo đầu tiên của Dòng Tên đến Việt Nam đã được ấn định khởi đầu bằng Thánh Lễ vào ngày 18 tháng 1, tại Vương Cung Thánh Đường Đức Bà, Sài Gòn.

Để công bố cho sự kiện này, Dòng Tên đã lập trang mạng loanbaotinmung.net.

Linh mục Giuse Phạm Thanh Liêm, Giám Tỉnh Dòng Tên Việt Nam cho biết: Để kỷ niệm sự kiện này các tu sĩ Dòng Tên Việt Nam "sẽ tổ chức Năm Thánh, tổ chức những cuộc hội thảo chuyên đề về truyền giáo và chữ quốc ngữ, tổ chức các cuộc hành hương về quê hương và nơi hành quyết chân phước Anrê Phú Yên."

Anrê Phú Yên là vị Chân Phước tử đạo tiên khởi của Việt Nam, ngài đã từng làm việc với các tu sĩ Dòng Tên thời đó và đã bị giết vào năm 1644. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phong chân phước cho ngài vào năm 2000.

Các tu sĩ Dòng Tên đầu tiên đã đặt chân đến Cửa Hàn, Đà Nẵng, miền trung Việt Nam vào ngày 18/1/1615 để nâng đỡ các Kitô hữu Nhật Bản di tản tránh cuộc bách hại tôn giáo tại Nhật.

Mặc dù không phải là các nhà truyền giáo đầu tiên ở Việt Nam – vì đã có các nhà truyền giáo đầu tiên đến trước đó vào năm 1533 và năm 1550 là các nhà truyền giáo Dòng Đa Minh – nhưng việc đến Việt Nam của các Tu sĩ Dòng Tên có một ý nghĩa cho sự khởi đầu của Giáo Hội Việt Nam và có ảnh hưởng lớn cho nền văn hóa cũng như những đóng góp quan trọng cho lịch sử công cuộc loan báo Tin Mừng.

Mục đích của việc cử hành Năm Thánh này là canh tân đời sống thiêng liêng của các tu sĩ Dòng Tên Việt Nam và tất cả những ai đã đón nhận linh đạo thánh Inhã thành Loyola.

Ước mong của việc canh tân này là cũng cố tinh thần truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam, đồng thời giúp các kitô hữu Việt Nam biết một số điều về lịch sử truyền giáo trên quê hương mình.

Linh mục Giuse Liêm nói rằng một phần của Năm Thánh này sẽ là các cuộc hội thảo và diễn đàn nhằm "học biết và cổ võ cách thức loan báo Tin Mừng thích hợp với thế giới và con người ngày nay, qua việc nhìn lại lịch sử Loan Báo Tin Mừng tại quê hương Việt Nam. Những gì chúng ta có thể khám sẽ đưa ra những cách thức tốt hơn cho sứ mạng dấn thân với con người Việt Nam hôm nay."

Linh mục Dòng Tên, Alexandre de Rhodes, công trình của ngài đã giúp La tinh hóa tiếng Việt từ chữ Nôm, được gọi là chữ "Quốc ngữ ".

Trước khi các tu sĩ Dòng Tên đến, những cố gắng đơn lẻ trong việc truyền giáo đã xuất hiện trong suốt thế kỷ XVI. Năm 1533, một giáo sĩ phương Tây tên là "I-Ni-Khu" đến đất nước này, giảng đạo trong khu vực ở Nam Định.

Năm 1550, các tu sĩ Dòng Đa Minh, Luis Fonseca, Gregory La Motte và Gaspar de Santa Cruz từ Malacca đến tỉnh Hà Tiên.

Năm 1580, có thêm bốn tu sĩ Đa Minh từ Philippines đến tỉnh Quảng Nam ở miền Trung Việt Nam. Và 1584, bốn tu sĩ Dòng Phanxicô đến Hà Nội.

Sự xuất hiện của các tu sĩ Dòng Tên tại Việt Nam gồm hai lượt. Lượt đầu tiên tại Cửa Hàn, Đà nẵng gồm hai linh mục – François Busomi và Diego Carvalho – cùng với ba Kitô hữu Nhật Bản.

Các tu sĩ Dòng Tên khác không lâu sau đã đến gia nhập nhóm trên, gồm có các linh mục – François de Pina, Borri Christopho và đặc biệt là Alexandre de Rhodes, người nổi tiếng nhất trong số họ.

Bên cạnh việc đóng vai trò quan trọng trong phát triển chữ Quốc ngữ, thì nỗ lực trước hết của họ được dành để phát triển bộ giáo lý thích hợp cho người Việt.

Năm 1627, linh mục Alexandre de Rhodes chịu trách nhiệm truyền giáo ở Đàng ngoài. Ngài đến tỉnh Thanh Hóa, sau đó thành lập các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên ở Hà Nội.

Tuy nhiên, với lệnh cấm Kitô giáo vào năm 1629, ngài bị trục xuất đến Macao năm 1630. Ngài trở lại Đàng trong năm 1640, và bị trục xuất lần nữa vào năm 1644.

Năm 1650, cha de Rhodes đề nghị với Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide) ở Rôma gửi giám mục đến Việt Nam, đào tạo và truyền chức cho giáo sĩ người Việt bản địa.

Sáng kiến ​​này đã được Tòa Thánh thực hiện khi bổ nhiệm vị Đại Diện Tông Tòa đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1659, là Đức giám mục Pallu, người đứng đầu Giáo Hội mới ở Đàng ngoài, và Đức giám mục Lambert de la Motte, người nhận trách nhiệm lãnh đạo Giáo hội mới ở phía Nam của đất nước sau đó được gọi là Đàng trong.

Các giám mục đầu tiên này là thành viên Hội Thừa Sai Pari mới được thành lập.

 

 
hoc hoi de song dao # 106 =TRAN DAY THANH LINH PDF Print E-mail

Niem Vui Phuc Am - Tran day Than Linh
Tinh Cao

Tông Huấn

NIỀM VUI PHÚC ÂM - GAUDIUM EVANGELII

của

Đức Thánh Cha Phanxicô

ban hành ngày 24/11/2013

Phần Một

Thành phần tác nhân loan truyền Niềm Vui Phúc Âm

(tiếp - 5)

3- Niềm Vui Phúc Âm - một sứ vụ cần phải được tràn đầy Thần Linh mới có thể hoàn thành

(Chương Năm: Thành phần truyền bá phúc âm hóa tràn đầy Thần Linh; Mục I: Những lý do cho một động lực truyền giáo mới)

259- Thành phần truyền bá phúc âm hóa tràn đầy thần linh nghĩa là thành phần truyền bá phúc âm hóa hiên ngang cởi mở cho hoạt động của Thánh Linh ... Chúa Giêsu muốn thành phần truyền bá phúc âm hóa loan báo tin mừng chẳng những bằng lời nói mà trên hết bằng một đời sống được biến đổi bởi sự hiện diện của Thiên Chúa.

264- Lý do chính yếu cho việc truyền bá phúc âm hóa đó là tình yêu của Chúa Giêsu mà chúng ta đã lãnh nhận, một cảm nghiệm về ơn cứu độ là những gì thôi thúc chúng ta càng yêu mến Người hơn nữa....

265- Tất cả đời sống của Chúa Giêsu, đường lối Người đối xứ với người nghèo, các hành động của Người, tính chất nguyên tuyền của Người, các tác động quảng đại giản dị hằng ngày của Người, và sau cùng là việc Người hoàn toàn hy hiến bản thân mình, là những gì quí báu và cho thấy mầu nhiệm sự sống thần linh của Người... "Nhà truyền giáo tin tưởng rằng, nhờ hoạt động của Thần Linh, vẫn hiện hữu nơi cá nhân cũng như dân chúng một niềm mong đợi, cho dù là niềm mong đợi thiếu ý thức, trong việc nhận biết sự thật về Thiên Chúa, và về cách thức làm sao chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết. Lòng nhiệt thành của nhà truyền giáo trong việc loan truyền Chúa Kitô xuất phát từ niềm xác tín rằng Người đang đáp ứng niềm mong đợi ấy" [John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 45: AAS 83 (1991), 292.]

268- ... Để trở thành những viên truyền bá phúc âm hóa các linh hồn, chúng ta cần khai triển một thứ vị giác thiêng liêng về việc gần với đời sống của dân chúng cũng như cần phải khám phá ra rằng đó chính việc làm này là một nguồn vui hơn nữa. Sứ vụ truyền giáo vừa là một thứ say mê đối với Chúa Giêsu và là một thứ say mê đối với dân của Người...

269- ... Chính Chúa Giêsu là mô phạm của phương pháp truyền giáo này, một phương pháp đưa chúng ta đến chính tâm can của dân chúng. Tốt đẹp biết bao khi chúng ta chiêm ngưỡng thấy sự gần gũi Người tỏ ra đối với hết mọi người! Khi nói với ai thì Người ưu ái quan tâm nhìn vào mắt của họ: "Chúa Giêsu trìu mến nhìn anh ta, tỏ lòng ưu ái với anh ta" (Mk 10:21) ... Được đánh động bởi gương của Người, chúng ta tiến vào tầng lớp xã hội một cách trọn vẹn, bằng cách chia sẻ với đời sống của tất cả mọi người, bằng việc lắng nghe các quan tâm của họ, bằng việc giúp đỡ các nhu cầu về thể lý và thiêng liêng của họ, bằng việc vui với người vui khóc với người khóc; chung tay góp sức với nhau chúng ta dấn thân xây dựng một thế giới mới. ...

270- Đôi khi chúng ta thiên về một loại Kitô hữu giữ trong vòng tay mình các thương tích của Chúa. Thế nhưng Chúa Giêsu lại muốn chúng ta đụng chạm tới nỗi khốn cùng của nhân loại, đụng chạm tới xác thịt khổ đau của người khác. Người hy vọng rằng chúng ta sẽ thôi tìm kiếm các thứ hốc tường chung hay riêng là nơi có thể che khuất chúng ta khỏi vũng xoáy bất hạnh của con người, thay vào đó, tiến vào thực tại của đời sống dân chúng và biết được cái quyền lực của sự dịu dàng. Bất cứ khi nào chúng ta làm như thế thì đời sống của chúng ta trở thành phức hợp diệu vợi và chúng ta mạnh mẽ cảm thấy đâu là quần chúng, thuộc về quần chúng.

272- ... Nếu chúng ta thăng tiến trên đời sống thiêng liêng, thì chúng ta cần phải liên lỉ là thành phần thừa sai. Công việc truyền bá phúc âm hóa là những gì làm phong phú trí khôn và cõi lòng; nó làm cho chúng ta nhậy cảm mỗi ngày một hơn với các hoạt động của Thánh Linh, và nó mang chúng ta vượt ra ngoài những cấu trúc thiêng liêng hữu hạn của chúng ta ...

273- Sứ vụ truyền giáo của tôi nơi cõi lòng của dân chúng không phải chỉ là một phần đời của tôi hay chỉ là một thứ phù hiệu tôi có thể tháo cởi; nó không phải là một "thứ thêm thắt" hay chỉ là một lúc nào đó trong đời. Trái lại, nó là một cái gì đó tôi không thể nào làm bật gốc nó khỏi con người của tôi mà không hủy hoại chính bản thân tôi. Tôi là một sứ vụ (I am a mission) ở trên mặt đất này; đó là lý do tại sao tôi ở trên thế gian này...

275- Một số người không dấn thân cho sứ vụ truyền giáo là vì họ nghĩ rằng chẳng có gì sẽ đổi thay đâu nên cố gắng làm gì cho mất công. Họ nghĩ rằng: "Tại sao tôi lại phải tự bỏ đi những thoải mái và vui thú nếu tôi không thấy bất cứ một thành quả đáng kể nào chứ?" Thái độ này khiến họ không thể nào trở thành một nhà truyền giáo. Nó chỉ là một thứ che đậy độc địa để bám víu lấy những gì là thoải mái, biếng nhác, những bất mãn mơ hồ và cái vị kỷ trống rỗng. Nó là một thái dộ tự hủy, bởi vì "con người không thể sống mà không hy vọng: đời sống sẽ trở nên vô nghĩa và bất khả chịu đựng" (Second Special Assembly for Europe of the Synod of Bishops, Final Message, 1: L'Osservatore Romano, Weekly English-language edition, 27 October 1999, 5). ....

276- Cuộc phục sinh của Chúa Kitô không phải là một biến cố thuộc về quá khứ; nó chất chứa một quyền lực sống động đã thấm nhập vào thế giới này. Ở nơi đâu mà tất cả mọi sự dường như chết đi thì các dấu hiệu của sự phục sinh đột nhiên bừng nở. Nó là một thứ quyền lực bất khả chống cưỡng. Thường thì dường như Thiên Chúa không hiện hữu, ở chỗ tất cả mọi sự xẩy ra chung quanh mình chúng ta thầy toàn là bất công, sự dữ, lạnh lùng và tàn ác. Thế nhưng cũng rất thật nữa đó là ở giữa tăm tối thì một cái gì đó mới mẻ luôn xuất hiện cho đời, để rồi không sớm thì muộn sẽ sinh hoa kết trái. Sự sống nẩy lên ở một mảnh đất bị phá trơ trụi, một cách gan lì nhưng bất khả bại. Cho dù các thứ có đen tối đến đâu chăng nữa thì sự thiện bao giờ cũng tái diễn và lan tràn. Vẻ mỹ lệ được tái sinh từng ngày trên thế giới chúng ta đây, nó được biến đổi vươn lên qua các cơn bão tố lịch sử. Các thứ giá trị bao giờ cũng có khuynh hướng tái diễn dưới những dáng vẻ mới, và nhân loại từ thời này đến thời kia đã vươn lên khỏi những tình trạng dường như đã bị tàn tạ. Quyền lực của phục sinh là thế đó, và tất cả những ai truyền bá phúc âm hóa đều là dụng cụ của quyền lực ấy.

280- Việc giữ làm sao cho nhiệt tình truyền giáo của chúng ta sống động cần phải mạnh mẽ tin tưởng vào Thánh Linh, vì chính Ngài là Đấng "giúp chúng ta nơi nỗi yếu hèn của chúng ta" (Rm 8:26). Thế nhưng lòng tin tưởng lớn lao này cần phải được nuôi dưỡng, và vì thế chúng ta cần liên lỉ kêu xin Thần Linh. Ngài có thể chữa lành bất cứ những gì khiến chúng ta suy yếu đi nhiệt tình truyền giáo. Quả thực niềm tin tưởng vào đấng vô hình này có thể khiến cho chúng ta cảm thấy lạc hướng làm sao ấy: nó giống như bị nhận chìm xuống thẳm sâu và không biết đâu là những gì chúng ta tìm kiếm. Chính tôi cũng thường cảm nghiệm thấy điều này. Tuy nhiên, không còn tự do nào hơn là thứ tự do để cho mình được hướng dẫn bởi Thánh Linh, bỏ đi cái nỗ lực phác họa và kiểm soát hết mọi sự từng ly từng tí, trái lại, hãy để cho Ngài soi sáng, hướng dẫn và điều khiển chúng ta, dẫn chúng ta đến bất cứ nơi nào Ngài muốn. Thánh Linh biết rõ những gì cần thiết ở mọi lúc và mọi nơi. Đó là ý nghĩa của việc diệu huyền trổ sinh hoa trái vậy!

285- Chúa Giêsu lưu lại cho chúng ta Mẹ của Người để trở nên Mẹ của chúng ta. Chỉ sau khi làm thế Chúa Giêsu mới phán "mọi sự đã hoàn tất" (Jn 19:28). Dước chân thập tự giá, vào thời điểm tột đỉnh của việc tân tạo, Chúa Kitô đã dẫn chúng ta đến với Mẹ Maria. Người mang chúng ta lại cùng Mẹ vì Người không muốn chúng ta hành trình mà lại thiếu mẹ, và dân của chúng ta đọc thấy nơi hình ảnh mẫu thân này tất cả mọi mầu nhiệm của Phúc Âm. Chúa không muốn xa rời Giáo Hội mà lại thiếu vắng hình ảnh của vai trò người nữ này. Mẹ Maria, vị đã mang Người vào trần gian bằng một đức tin cao cả, cũng đồng hành với "phần giòng dõi còn lại của mình, những người tuân giữ mệnh lệnh của Thiên Chúa và làm chứng cho Chúa Giêsu" (Rev 12:17). Mối liên hệ chặt chẽ giữa Mẹ Maria, Giáo Hội và từng phần tử tín hữu, căn cứ vào sự kiện là mỗi phần hạ sinh Chúa Giêsu theo kiểu cách của mình, đã được Chân Phước Isaac Stella tuyệt vời diễn tả như sau: "Trong các Sách Thánh được linh ứng, những gì nói theo nghĩa phổ quát về người mẹ đồng trinh là Giáo Hội thì cũng được hiểu theo nghĩa cá thể về Trinh Nữ Maria... Một cách nào đó hết mọi Kitô hữu cũng được tin là hôn thê của lời Chúa, mẹ của Đức Kitô, nữ rử và chị em của Người, vừa trinh trắng vừa sinh sản... Chúa Kitô chín tháng đã ở trong nhà tạm là cung dạ của Mẹ Maria. Người cư ngụ cho đến tận thế nơi nhà tạm là đức tin của Giáo Hội. Người sẽ cư ngụ muôn đời nơi sự nhận biết và tình yêu của từng linh hồn tín hữu" (Isaac of Stella, Sermo 51: PL 194, 1863, 1865).

288- Có một "kiểu cách" Thánh Mẫu cho công cuộc truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội. Bất cứ ở đâu chúng ta nhìn vào Mẹ Maria, chúng ta tiến đến chỗ tin tưởng một lần nữa vào bản chất cách mạng của tình yêu và sự dịu dàng. Nơi Mẹ, chúng ta thấy rằng lòng khiêm nhượng và nỗi dịu dàng không phải là các nhân đức của người hèn yếu mà là của kẻ mạnh, thành phần không cần phải đối xử tàn tệ với người khác để tỏ ra quan trọng hóa bản thân mình. Khi chiêm ngưỡng Mẹ Maria, chúng ta nhận thấy rằng Mẹ là người đã chúc tụng Thiên Chúa vì Ngài "hạ kẻ quyền thế xuống khỏi ngai tòa của họ" và "biến người giầu có trở thành tay không" (Lk 1:52-53) cũng là Đấng mang lại hơi ấm gia đình cho việc theo đuổi công lý của chúng ta. Mẹ cũng là vị cẩn thận lưu giữ "tất cả những sự ấy mà suy niệm chúng trong lòng" (Lk 2:19). Mẹ Maria có thể nhận ra những dấu vết Thần Linh của Thiên Chúa nơi các biến cố lớn nhỏ. Mẹ liên lỉ chiêm ngưỡng mầu nhiệm của Thiên Chúa trên thế gian này, trong lịch sử loài người và trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Mẹ là người nữ của nguyện cầu và làm việc ở Nazarét, và Mẹ cũng là Đức Bà Cứu Giúp, vị đã "vội vã" bỏ nhà lên đường (Lk 1:39) để phục vụ người khác. Việc tác động lẫn nhau giữa công lý và nỗi dịu dàng, giữa chiêm niệm và mối quan tâm cho kẻ khác, là những gì khiến cộng đồng giáo hội nhìn lên Mẹ Maria như là một mẫu gương của việc truyền bá phúc âm hóa. Chúng ta van xin lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ để Giáo Hội được trở nên một ngôi nhà cho nhiều người, một người mẹ cho tất cả mọi người, và để mở đường cho việc hạ sinh của một thế giới mới. Chính Chúa Kitô Phục Sinh là Đấng đã nói với chúng ta, bằng một quyền lực làm cho chúng ta tràn đầy tin tưởng và niềm hy vọng không lay chuyển rằng: "Này đây, Ta canh tân tất cả mọi sự" (Rev 21:5).

(còn tiếp)

 
HOC HOI DE SONG DAO # 105 = NIEM VUI PHUC AM PDF Print E-mail

Tông Huấn

NIỀM VUI PHÚC ÂM - GAUDIUM EVANGELII

của

Đức Thánh Cha Phanxicô

ban hành ngày 24/11/2013

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

phân tích, tuyển hợp và chuyển dịch

http://www.vatican.va/holy_father/francesco/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium_en.html.

Phần Một

Thành phần tác nhân loan truyền Niềm Vui Phúc Âm

(tiếp - 4)

2- Niềm Vui Phúc Âm - một sứ vụ bất khả thiếu và bất khả châm chước của Kitô hữu

(Chương Ba: Việc loan báo Phúc Âm; Mục I: Toàn Thể Dân Chúa loan báo Phúc Âm; Mục II: Bài Giảng - từ đoạn 135. Biệt chú: dường như chưa có một văn kiện nào của Đức Thánh Cha từ trước tới nay lại nói vừa dài vừa kỹ về vấn đề Bài Giảng và Soạn Giảng như trong Tông Huấn này, một vấn đề liên quan đến cả giảng thuyết viên lẫn cách thức giảng, bao gồm cả ngôn từ và hành vi cử chỉ v.v. Có những chỗ liên quan đến giảng thuyết viên, như ở dưới đây, trong phần đầu về tác nhân truyền bá phúc âm hóa, và có những chỗ liên quan đến chính bài giảng và soạn giảng là những gì thuộc về đường lối mới truyền bá phúc âm hóa thuộc phần thứ hai)

111- Việc truyền bá phúc âm hóa là công việc của Giáo Hội. Giáo Hội, với tư cách là một tác nhân của việc truyền bá phúc âm hóa, không phải chỉ là một tổ chức về cơ cấu và phẩm trật; trước hết và trên hết Giáo Hội là một dân đang tiến bước trên con đường hành trình về với Thiên Chúa...

112- Ơn cứu độ Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta là công cuộc của tình Ngài xót thương...

114- ... Giáo Hội cần phải trở thành một nơi của tình thương được tự do trao tặng, là nơi hết mọi người đều cảm thấy được đón nhận, yêu thương, tha thứ và phấn khích để sống một đời sống tốt lành của Phúc Âm.

120- Bởi phép rửa của mình, tất cả mọi phần tử thuộc Dân Chúa đã trở thành môn đệ thừa sai (cf Mt 28:19). Tất cả mọi người đã lãnh nhận phép rửa, ở bất cứ vị thế nào trong Giáo Hội hay ở bất cứ tầm mức kiến thức nào về đức tin của mình, đều là tác nhân của việc truyền bá phúc âm hóa, và thật là thiếu sót khi phác họa dự án truyền bá phúc âm hóa được thực hiện bởi các chuyên viên trong khi phần tín hữu còn lại chỉ là thành phần lãnh nhận thụ động. Việc tân truyền bá phúc âm hóa cần đến chuyện cá nhân tham gia về phía mỗi một người đã lãnh nhận phép rửa.... Hết mọi Kitô hữu đều là một vị thừa sai ở chỗ họ đã gặp gỡ tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô: chúng ta không còn nói rằng chúng ta là 'môn đệ' và là 'thừa sai', trái lại, chúng ta bao giờ cũng là 'môn đề thừa sai'. Nếu chúng ta vẫn chưa chịu thì hãy quan sát những môn đệ tiên khởi, thành phần ngay sau khi gặp gỡ ánh mắt của Chúa Giêsu liền hân hoan đi loan báo về Người: 'Chúng tôi đã gặp Đấng Thiên Sai' (Gioan 1;41). Người phụ nữ Samaritanô đã trở thành một nhà thừa sai ngay sau khi nói chuyện với Chúa Giêsu, và nhiều người Samaria đã tin vào Người 'vì chứng từ của người đàn bà này' (Gioan 4:39). Thánh Phaolô cũng thế, sau cuộc khi ngài gặp gỡ Đức Giêsu Kitô, 'liền loan truyền Chúa Giêsu' (Acts 9:20;cf 22:6-21). Vậy thì chúng ta còn chờ đợi gì chứ?

121- Tình trạng chưa trọn lành không được trở thành lý do từ chối; trái lại, sứ vụ truyền giáo là một kích tố liên tục không cho phép được tiếp tục sống tầm thường, trái lại phải tiếp tục tăng trưởng. Chứng từ đức tin mà mỗi một Kitô hữu được kêu gọi cống hiến dẫn chúng ta đến chỗ cùng với Thánh Phaolô mà rằng: 'Không phải tôi đã đạt tới điều ấy hay đã trọn hảo; thế nhưng tôi đang theo đuổi để chiếm lấy nó, vì Đức Giêsu Kitô đã biến tôi thành của Người' (Phil 3:12-13).

127- ... Là một người môn đệ có nghĩa là liên lỉ sẵn sàng mang tình yêu thương của Chúa Giêsu đến cho người khác, và điều này có thể xẩy ra bất ngờ và ở bất cứ nơi đâu: trên đường phố, ở công viên thành phố, trong khi làm việc, trong một cuộc hành trình.

135- ... Bài giảng là tiêu chuẩn thẩm định một vị mục tử có gần gũi và với dân chúng và có khả năng truyền đạt cho dân chúng hay chăng....

145- ... Một vị giảng thuyết không soạn dọn thì chẳng có gì là "thiêng liêng"; họ không trung thực và vô trách nhiệm với các tặng ân đã lãnh nhận.

149- Vị giảng thuyết "trước hết cần phải phát triển tính chất thật quen thuộc riêng tư với lời Chúa. Kiến thức về những khía cạnh ngôn ngữ học hay chú giải cho dù cần thiết vẫn không đủ... "Mức độ thánh thiện hơn kém của thừa tác viên mới có tác dụng thực sự nơi việc loan truyền lời Chúa" [John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Pastores Dabo Vobis (25 March 1992), 25: AAS 84 (1992), 696].... Các bài đọc Chúa Nhật sẽ tỏa rạng hết sức rạng ngời nơi tâm can của tín hữu nếu trước hết chúng diễn ra như thế ở tâm hồn của vị mục tử.

150- Ai muốn giảng dạy thì cần phải là người đầu tiên để cho lời Chúa sâu xa tác động mình và để cho lời Ngài trở thành hiện thực trong đời sống hằng ngày của họ. Có thế thì việc giảng dạy mới nhất trí nơi hoạt động này, một việc giảng dạy rất mạnh mẽ và hiệu quả, đó là "truyền đạt cho người khác những gì mình đã chiêm ngắm" (Saint Thomas Aquinas, S. Th. II-II, q. 188, a. 6.). Vì tất cả những lý do đó mà trước khi soạn dọn những gì chúng ta thực sự nói khi giảng dạy, chúng ta cần để cho mình được thấm nhiễm những lời cũng sẽ thấm nhiễm người khác, vì nó là lời sống động và linh động, như một lươi gươm "xuyên cách hồn thiêng với tâm linh, xương tủy, và thấy rõ được những ý nghĩ và ý hướng của tâm can" (Heb 4:12).

151- Nếu họ không có giờ để cởi mở nghe lời Chúa, nếu họ không để cho lời Chúa chạm đến đời sống của họ, thách đố họ, thúc đẩy họ, và nếu họ không dành giờ để cầu nguyện theo lời Chúa, thì họ thực sự sẽ trở thành một ngụy ngôn sứ, một thứ lường gạt, một kẻ mạo danh nông cạn. Thế nhưng, bằng việc nhìn nhận tình trạng bần cùng của mình và mong muốn gia tăng trong việc dấn thân, thì họ bao giờ cũng có thể bỏ mình cho Chúa Kitô, lập lại lời của Thánh Phêrô: "Tôi chẳng có vàng bạc nhưng cái tôi có thì tôi hiến tặng cho anh" (Acts 3:6). Chúa muốn sử dụng chúng ta như là những con người sống động, tự do và sáng tạo, để cho lời của Người tiến vào tâm hồn của chúng ta trước khi truyền đạt sang cho người khác. Sứ điệp của Chúa Kitô cần phải thực sự thẩm thấu và chiếm hữu vị giảng thuyết, không phải chỉ về tri thức mà là toàn thể con người của họ.

153- Trước nhan Thiên Chúa, trong trầm tư xem bài đọc, cần phải đặt vấn đề, chẳng hạn, "Lạy Chúa, bài đọc này nói gì với con đây? Qua bài đọc này Chúa muốn đời sống của con thay đổi ra sao? Cái gì trong bài đọc làm tôi cảm thấy không ổn? Tại sao tôi không hào hứng gì nơi bài đọc này? Hay cũng có thể đặt vấn đề: Tôi cảm thấy hứng thú gì ở bài đọc ấy? Lời Chúa tác động nơi tôi những gì? Đâu là cái thu hút tôi? Tại sao nó lại lôi cuốn tôi?" Khi chúng ta cố gắng lắng nghe Chúa thì những chước cám dỗ thường xẩy ra. Một trong các chước cám dỗ đó là chỉ cảm thấy bất ổn hay nặng nề và muốn tránh né đi. Một chước cám dỗ thông thường nữa đó là nghĩ về ý nghĩa của bài đọc là để cho người khác, và vì vậy không áp dụng nó vào đời sống của chúng ta. Cũng có thể xẩy ra trường hợp là chúng ta tìm cách xóa bỏ ý nghĩa rõ ràng của bài đọc. Hay chúng ta có thể ngẫm nghĩ rằng Thiên Chúa dòi hỏi chúng ta quá nhiều, yêu cầu một quyết định mà chúng ta chưa sẵn sàng thực hiện. Điều này dẫn nhiều người đến chỗ thôi không thích gặp gỡ lời Chúa nữa; thế nhưng như vậy có nghĩa là chúng ta quên rằng không ai nhẫn nại bằng Thiên Chúa là Cha của chúng ta, không ai thông cảm và muốn đợi chờ hơn Ngài. Ngài luôn mời gọi chúng ta hãy bước từng bước một, chứ không đòi hỏi một đáp ứng trọn vẹn nếu chúng ta chưa sẵn sàng. Ngài chỉ yêu cầu chúng ta thành thật nhìn vào cuộc đời của chúng ta và chân tình ra trình diện trước nhan Ngài, và chúng ta muốn tiếp tục tăng triển, xin Ngài những gì chính chúng ta chưa thể đạt được.

154- Một vị giảng dạy cần phải chiêm niệm lời Chúa, nhưng đồng thời cũng phải chiêm ngắm con người nữa... Họ cần phải làm sao có thể liên kết sứ điệp của một bài đọc thánh kinh với hoàn cảnh của con người, với một thứ cảm nghiệm cần đến ánh sáng của lời Chúa... Những gì chúng ta cần tìm kiếm đó là "những gì Chúa cần phải nói ở trường hợp đặc biệt này nọ" [Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 43: AAS 68 (1976), 33.]

155- ... Chúng ta cũng nên nhớ rằng chúng ta không bao giờ trả lời cho những vấn nạn không ai hỏi tới. Hay được cho rằng thích hợp để nói về các tin tức mới nhất hầu gây hứng cho dân chúng; chúng ta đã có các chương trình truyền hình về vấn đề ấy rồi. Tuy nhiên, vẫn có thể bắt đầu bằng một số sự kiện hay truyện trò để lời Chúa có thể âm vang một cách mạnh mẽ nơi việc kêu gọi hoán cải của lời này, kêu gọi tôn thờ, kêu gọi dấn thân cho tình huynh đệ và việc phục vụ v.v. Tuy nhiên, bao giờ cũng có một số người muốn lắng nghe những nhận định của vị giảng thuyết về các sự việc đang xẩy ra, trong khi đó họ lại không muốn mình bị rắc rối.

(còn tiếp)

 
HOC HOI DE SONG DAO # 104 = Y NGHIA CHUA ANH EM PDF Print E-mail

Ý NGHĨA CỦA CHỮ ''ANH EM'' TRONG KINH THÁNH

Người viết: Đaminh Phan văn Phước

Vài hàng dẫn nhập

''Của Xêda thì trả về cho Xêda. CỦA Thiên Chúa thì trả về cho Thiên Chúa.'' (Marcô 12,17) Cung Lòng Mẹ Maria là CỦA Một Mình Thiên Chúa Cứu Chuộc là Giêsu. Cho nên, trong bài này, trước khi chứng minh rằng GIACÔBÊ, GIUSE, GIUĐA, SIMON không phải là EM cùng MẸ với Chúa Giêsu, tôi chỉ nêu lên một số nghĩa của chữ ANH EM (1) được dùng trong Kinh Thánh. Vì việc chứng minh như vừa nêu phải rõ ràng và để khỏi ''nhầm trước, quên sau'' như tôi, thiết tưởng cần ghi lớn, tô màu và gạch dưới nhiều chữ để người đọc dễ nhận ra và đối chiếu các chữ quan trong ấy.

I. Ý Nghĩa của Chữ ANH EM

Chữ ANH EM trong Kinh Thánh tiếng Việt có cùng nghĩa với chữ Hy-lạp: ἀδελφὸσ (adelphos), chữ La-tinh, Pháp, Anh, Đức là ''frater, frère, brother, Bruder'' như sau: ''anh em cùng cha-mẹ; anh em khác cha hay mẹ; anh em trong dòng tộc; người đồng hương hay đồng bào; bạn đồng hành; người cùng lý tưởng; người đồng nghiệp hay đồng sứ mạng; anh em trong Chúa Kitô; tông đồ nói chung; anh em cùng một Cha trên Trời; mọi người kể cả địch thù'' như Lời Chúa dạy: ''Song hãy thương yêu ĐỊCH THÙ và hãy làm ơn, hãy cho vay mượn, mà chẳng trông báo đền. Như vậy, phần thưởng dành cho các con sẽ lớn lao, và các con sẽ là con cái của Ðấng Tối Cao vì Ngài nhân hậu với người vô ơn và phường độc ác." (Luca 6,35) Tại sao con thấy cái rác trong mắt của ANH EM con, mà cái xà trong mắt của mình thì lại không để ý tới? (Math. 7,3)

II. Một số dẫn chứng về ý nghĩa của chữ ANH EM trong Kinh Thánh

A. Trong Cựu Ước

1. Sáng Thế Ký 13,8: ''Thế là Abram nói với Lót: Đừng có chuyện tranh chấp giữa BÁC và CHÁU, giữa mục đồng của BÁC và mục đồng của CHÁU. Vì mình là ANH EM!'' (for we are BROTHERS.)

2. Sáng Thế Ký 29,15: ''Laban nói với Giacóp: Chẳng lẽ CHÁU phục vụ cho BÁC không tính công vì cháu là ANH EM của BÁC?" (because you are my BROTHER?)

3. Sách I Ký Sự, 23,21-22: ''Êlêada chết, không có con trai, chỉ con gái nên con trai ông Kít, là ANH EM (họ) của các cô, đã cưới họ làm vợ.'' (and the sons of Kis, their BRETHREN, took them.)

B. Trong Tân Ước

1. Theo Thánh Mathêô 13,55-56:

''Ấy chẳng phải là CON CỦA ÔNG THỢ MỘC hay sao? Mẹ ông chẳng phải có tên là Maria và ANH EM là Giacôbê, GIUSE, Simôn (2) và Giuđa hay sao? Tất cả CHỊ EM ông chẳng ở giữa chúng ta hay sao?'' (Nonne hic est fabri filius? Nonne mater eius dicitur Maria, et FRATRES eius Iacobus et IOSEPH et Simon et Iudas? Et SONORES eius nonne omnes apud nos sunt?)

2. Theo Thánh Marcô 6,3:

''Ấy không phải là thợ mộc, CON TRAI bà Maria VÀ ANH EM của Giacôbê, GIÔSÊ, Giuđa và Simôn đó sao? Và các CHỊ EM ông lại không ở giữa ta đây hay sao?" (Nonne iste est faber, filius Mariae et FRATER Iacobi et IOSETIS et Iudae et Simonis? Et nonne SONORES eius hic nobiscum sunt?) Liên từ VÀ không dính líu đến chữ MARIA, mà nối chữ ANH EM với chữ CON TRAI. Cả hai chữ này là ''đồng vị: apposition'' cho chữ THỢ MỘC. (Phần số 4 của B có nhiều chi tiết khác!)

3. Nhận xét thêm về 1 và 2 vừa nêu

a. Trong bản Hy-lạp, danh xưng GIUSE (theo Thánh Mathêô) và GIÔSÊ (theo Thánh Marcô) cũng viết khác nhau. Cho nên, tôi chẳng biết đó là một người có hai tên hay là hai người!

b. Cả hai Thánh Nhân đều nói đến CHỊ EM của Chúa Giêsu! Như vậy, nếu cho rằng Chúa Giêsu có thêm BỐN người EM TRAI thì ''người không tin Bà Maria đồng trinh trọn đời'' đã quên tính luôn cả một ĐÀN EM GÁI!!!???

c. Trong Mathêô và trong Marcô vừa nêu là những câu NGHI VẤN, chứ KHÔNG PHẢI câu KHẲNG ĐỊNH (affirmative)!!! Thiên hạ cũng lầm tưởng Chúa Giêsu là CON CỦA ÔNG THỢ MỘC! Cho nên, dựa vào câu NGHI VẤN để khẳng định Chúa có EM CÙNG MẸ là sai hoàn toàn!

4. GIACÔBÊ và GIUSE là ANH EM, con dì của Chúa; còn GIUĐA là con người khác:

a. TRINH NỮ luôn được nêu lên ĐẦU TIÊN và luôn được XÁC ĐỊNH là MẸ của CHÚA GIÊSU. Trong khi đó, ở Tin Mừng sau đây, không phải như vậy. Cho nên, Maria mẹ của Giacôbê và của Giuse (Giôsê?) KHÔNG phải là Mẹ của Chúa Giêsu!!! Các dữ kiện sau đây chứng minh điều ấy:

b. Tin Mừng theo Thánh Mathêô 27, 55-56 ghi như sau: ''Ở đó, có nhiều phụ nữ ĐỨNG XA MÀ NHÌN, họ đã theo Chúa Giêsu từ GALILÊ để giúp Ngài, trong nhóm có Maria người Magđala, VÀ MARIA MẸ của GIACÔBÊ VÀ GIUSE, và MẸ các người CON của ZÊBÊĐÊ.''

c. Còn theo Thánh Marcô 15, 40 thì: ''Có những phụ nữ ĐỨNG XA MÀ NHÌN, trong nhóm có Maria người Magđala, VÀ MARIA MẸ của GIACÔBÊ thứ, của GIÔSÊ, cùng SALÔMÊ. Khi Ngài còn ở GALILÊ, các bà đã đi theo Ngài và giúp Ngài; và còn nhiều bà khác đã cùng đi với Ngài lên Giêrusalem.'' (Xin lưu ý: ĐỨNG XA khác với ĐỨNG BÊN CẠNH để nhìn và nghe CHÚA TRỐI!)

d. Như vậy, Giacôbê và Giuse (Giôsê?) KHÔNG PHẢI LÀ con của MẸ CHÚA GIÊSU, mà của VỢ ÔNG CLOPAS bởi vì các lý do sau đây:

e. TRINH NỮ là CHỊ EM của MARIA vốn là VỢ của CLOPAS như trong Tin Mừng theo Thánh Gioan 19,26-27, Mẹ của Chúa cũng được nêu lên TRƯỚC các bà khác: ''Ðứng bên Thập Giá Chúa Giêsu, có MẸ Ngài, và người CHỊ EM của Mẹ Ngài LÀ MARIA, VỢ của CLOPAS, (and his mother's sister, Mary the wife of Clopas) và Maria người Magđala. Vậy Chúa Giêsu thấy MẸ Ngài và môn đồ mà Ngài yêu mến đứng BÊN CẠNH thì Ngài nói với Mẹ: "Thưa Bà, này là con Bà!" Rồi Ngài nói với môn đồ ấy: "Này là MẸ của CON!" Và, TỪ GIỜ ĐÓ, môn đồ RƯỚC MẸ VỀ NHÀ MÌNH.''

g. TRINH NỮ không được đề cập tới trong việc MAI TÁNG Chúa vì, sau khi nghe Lời Chúa trối, chắc chắn Thánh Gioan đã canh chừng Mẹ, không cho Mẹ chứng kiến thêm cảnh đau lòng.

h. Tin Mừng theo Thánh Marcô 15,47 cho biết THÊM rằng GIÔSÊ (Giuse?) là con của AI như sau: ''Còn Maria người Magđala và MARIA MẸ của GIÔSÊ (Giuse?) thì đã nhìn kỹ chỗ an táng Ngài.''

i. Tông Đồ Công Vụ 1,13 cho chúng ta biết được rằng GIUĐA là CON của Giacôbê như sau: ''Vào thành, họ lên lầu trên, chỗ họ lưu ngụ: Phêrô, Gioan, Giacôbê, Anrê, Philip, Tôma, Barthôlômêô, Mathêô, Giacôbê (con) của Alphê, và Simôn Nhiệt Thành, cũng như GIUĐA là con của Giacôbê.''

k. Tiếp theo T.Đ Công Vụ 1,13 là các câu 14 và 15 ghi thế này: ''Hết thảy HỌ đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với các PHỤ NỮ, và MARIA là mẹ Chúa Giêsu và các ANH EM Ngài. Trong những ngày ấy, Phêrô đứng dậy giữa ANH EM, lối MỘT TRĂM HAI MƯƠI người...'' Như vậy, hai lần chữ ANH EM vừa nêu KHÔNG phải là EM cùng Mẹ với Chúa Giêsu.

l. Một trăm hai mươi ANH EM ấy là ai?

Hết thảy HỌ là MƯỜI MỘT Tông Đồ vì Giuđa đã tự tử. Các PHỤ NỮ ấy (Chữ ''the, les, den'' trong tiếng Anh, Pháp, Đức là mạo từ xác định. Còn Bible de Jérusalem thì dùng chữ ''quelques: vài''.), những BÀ đã theo Chúa lên Đồi Tử Hình như Tin Mừng đã kể là bao nhiêu thì chẳng rõ. MẸ CHÚA là MỘT người. Nhưng không thể lấy 120 để trừ đi số người vừa nêu bởi vì con số nầy là Kitô Hữu NÓI CHUNG và ANH EM HỌ HÀNG của Chúa như lời Thần Học Gia nổi tiếng, Daniel-Rops, viết trong cuốn JÉSUS EN SON TEMPS: ''Vậy, trong Phúc Âm, thành ngữ ấy diễn nghĩa rõ ràng rằng Chúa Giêsu có ANH CHỊ EM HỌ, con của Marie Cléophas chẳng hạn, đã sống với Ngài trong cùng một căn nhà vốn là việc thường xảy ra ở Phương Đông là nơi mà nhiều gia đình muốn quây quần...ít nhất trong thời còn trẻ trung và ngay cả khi dưỡng phụ Giuse đã mất, Chúa Giêsu đã sống chung với anh em họ hàng.'' (trang 140-142) Có tác giả còn nói rằng có thể Ngài còn có ANH EM là con của dưỡng phụ Giuse hay trong họ hàng của Thánh Nhân.

m. Tin Mừng theo Th. Luca 6, 13-16 cũng cho thấy GIUĐA là CON của GIACÔBÊ, chứ KHÔNG PHẢI là con của Mẹ Maria: ''Đến sáng, Ngài kêu các môn đồ lại, và chọn lấy trong họ mười hai người. Ngài gọi các ông là tông đồ: Simon được Ngài gọi là Phêrô, và em ông là Anrê, thêm nữa là Giacôbê, Gioan, Philip, Barthôlômêô, Mathêô, Tôma, Giacôbê là con của Anphê, Simôn gọi là người Nhiệt thành, GIUĐA con của GIACÔBÊ, và Giuđa Iscariôt là người đã phản bội.''

III. Các Nhà CẢI CÁCH tin rằng Chúa Giêsu không có EM nào cả!

A. Luther: ''Phải tin Maria là Mẹ của Chúa và Mẹ vẫn MÃI ĐỒNG TRINH...Chúng ta tin Chúa Kitô đã sinh ra từ CUNG LÒNG vẫn được GIỮ LẠI HOÀN TOÀN TRINH NGUYÊN!''

B. Calvin: ''Từ đoạn của Mathêô 1,25, một số người muốn diễn nghĩa rằng Trinh Nữ Maria có những người con khác NGOÀI CON CỦA THIÊN CHÚA và rằng, sau nầy, Giuse đã ''sống chung dụng'' với bà, nhưng nói như thế thật là NGÔNG CUỒNG! Bởi vì tác giả Tin Mừng KHÔNG HỀ muốn tường thuật những gì đã xảy ra sau đó, mà chỉ muốn ĐƯA RA ÁNH SÁNG việc Giuse TUÂN PHỤC và chứng tỏ Giuse MỘT MỰC xác tín rằng chính Thiên Chúa đã phái sứ thần đến với Maria. Vì thế, Giuse KHÔNG CHUNG ĐỤNG với Maria... Vả lại, Chúa Giêsu Kitô của chúng ta được gọi là CON ĐẦU LÒNG, không phải vì có con thứ hai hay thứ ba, nhưng vì tác giả Tin Mừng muốn làm NỔI BẬT Con Đầu Lòng ấy! Như vậy, Kinh Thánh cho chúng ta biết điều vừa nói bằng cách nêu Danh Con Đầu Lòng, chứ CHẲNG có chuyện con thứ nào hết!'' (Bài giảng về Mathêô 1,22-25, xuất bản năm 1562.)

C. Zwingli: ''Tôi tin mãnh liệt rằng Maria, theo Lời Chúa trong Tin Mừng, là Trinh Nữ TINH TOÀN, đã sinh ra cho chúng ta Con Thiên Chúa trong lúc sinh và SAU KHI SINH nên Maria vẫn là Trinh Nữ vẹn tuyền.'' Như vậy là đúng với Tín Điều Đồng Trinh ''trước khi sinh, trong khi sinh, sau khi sinh'' (ante partum, in partu, post partum)!!!

IV. Lời Kết

Người không tin vào Giáo Hội Công Giáo, đã tự ý bỏ chữ TÔNG TRUYỀN (apostolicam) trong Kinh Tin Kính (do Công Đồng Nicée-Constantinople, vào Thế Kỷ thứ tư, từ 325-381) và vô tình quên đi Chân Lý trước sau như một này: ''SINH BỞI TRINH NỮ MARIA: EX MARIA VIRGINE''! Ai không tin Mẹ đồng trinh trọn đời, người ấy đã xem nhẹ Lời Chúa trong Cựu Ước và Tân Ước: ''Này đây, TRINH NỮ sẽ thụ thai và sinh MỘT con trai, và Ngài sẽ được gọi là Emmanuen, nghĩa là "Thiên Chúa ở cùng chúng ta. - Ecce, VIRGO in utero habebit et pariet filium, et vocabunt nomen eius Emmanuel", quod est interpretatum Nobiscum Deus." (Isaya 7,14; Math.1,24)

Như vậy, phạm trù ''Trinh nữ sinh MỘT con trai'' (chứ không phải NHIỀU) là để, như Thánh Gioan, mọi người ''được ngắm vinh quang của Ngài, vinh quang của Con một từ nơi Cha, đầy ơn nghĩa và SỰ THẬT.'' (Gioan 1,14) và để ''Con ở trong Cung Lòng Cha'' cũng có ''Cung Lòng Trinh Nữ'' là Đền Thánh DUY NHẤT cho Chúa Cứu Thế! Cho nên Trinh Nữ và Thánh Giuse phải tôn thờ Con Một từ nơi Cha và phải kính trọng LÒNG DẠ ĐÃ CƯU MANG CON THIÊN CHÚA. Xin ghi hàng chữ ''Credo in Latin'' để đọc và nghe Kinh Tin Kính: Credo in Latin - YouTube .

* * *

Ghi chú

1. Bài khác sẽ nói rõ về câu: ''Ai làm theo ý Cha Ta trên trời thì người ấy là anh em và Mẹ của Ta." (Math.12,50)

2. Ngoài Simon Nhiệt Thành (TĐCV 1,13), không thấy câu nào khác trong Kinh Thánh nói rõ về Simon, ''anh em họ thứ ba'' trong bốn người mà hai Thánh Nhân Mathêô và Marcô đã nêu!

Đức Quốc, ngày 03.9.2011

Hồng chuyển

 

 
HOC HOI DE SONG ĐAO # 104 = LINH MUA-DUC KITO THU HAI? PDF Print E-mail

LINH MỤC, ĐỨC KITÔ THỨ HAI ( ALTER CHRISTUS) , PHẢI LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO ?
Trong phạm vi bài viết này, tôi không muốn đề cập nhiều đến những lý thuyết hay nền tảng thần học cũng như giáo lý của Giáo Hôi về vai trò và sứ mạng của linh mục trong Giáo Hội, vì thiết nghĩ các linh mục và rất nhiều giáo dân ngày nay đều biết rõ.
Điều tôi muốn nói ở đây là trong thực tế, linh mục phải hành xử thế nào để xứng đáng là hiện thân của Chúa Kitô xuyên qua chính đời sống, lời nói và việc làm của mình trước mặt người khác; trước hết là các tín hữu được trao phó cho mình săn sóc và phục vụ về mặt thiêng liêng- và đặc biệt sau nữa- là trước những người chưa biết Chúa Kitô để cảm hóa và mời gọi họ nhận biết và tin Chúa Kitô qua gương sống chứng nhân của mình. .
Với tư cách là cộng sự viên đắc lực, thân cận của Giám mục, linh mục thi hành sứ vụ rao giảng, dạy dỗ và cai trị trong giáo hội địa phương ( tức giáo xứ, giáo Phận) với tất cả thành tâm , thiện chí và xác tín về chức năng và vai trò của mình được nhận lãnh từ bí tích Truyền Chức Thánh cho phép linh mục được chia sẻ Chức Linh Mục đời đời của Chúa KItô, "Thầy Cả Thượng Phẩm..theo phẩm trật Men-ki-xê-đê" (Dt 5: 10)
Trong hoàn cảnh thế giới tục hóa ngày nay, đặc biệt là ở các nước Âu Mỹ, người ta không những bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa vật chất vô luân ( immoral materialism) mà đặc biệt còn bị ảnh hưởng ngày một nghiêm trọng bởi trào lưu tục hóa (secularization) đưa đến thực hành vô thần (practical atheism) , chối bỏ Thiên Chúa , "hạ bệ Kitô hóa" (de-christionization). và dửng dưng với mọi tôn giáo nói chung ( Indifference to religions).
Thực trạng này đã và đang là một thách đố to lớn cho những ai muốn sống niềm tin có Thiên Chúa tốt lành, đã yêu thương và tha thứ cho con người nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.
Để đối phó với trào lưu nguy hại nói trên, ngày 12 tháng 10 năm 2012, Tòa Thánh đã công bố quyết định mới của Đức Thánh Cha Bê-nê-đích-tô 16 ( nay đã về hưu) cho thiết lập một Văn Phòng hay Hội Đồng mới của Tòa Thánh ( New Pontifical Council) với chức năng Tân Phúc Âm hóa ( New Evangelization) như một nỗ lực nhằm chống lại khuynh hướng tục hóa ở các quốc gia Âu Châu và Mỹ châu nói chung. Hội Đồng này do Đức Tổng Giám Mục Rino Fisichella làm Chủ Tịch.
Sự kiện trên cho thấy là Đức Thánh Cha đã tỏ ra rất quan tâm về nguy cơ tục hóa đang đe dọa những giá trị và chân lý của Phúc Âm cũng như đời sống luân lý, đạo đức của con người nói chung, và cách riêng, của người tín hữu Chúa Kitô đang sống trong hoàn cảnh suy đồi đạo đức của thế giới ngày nay.
Đặc biệt, Đức Thánh Cha đương kim Phanxicô cũng đã lưu ý toàn Giáo Hội về thực trạng "tôn thờ tiền bạc" ( cult of money) của thế giới, là nguyên nhân chính của mọi bất công xã hội và thống khổ của con người đang sống dưới quyên cai trị của những kẻ tham tiền, tham quyên cố vị để vơ vét của cải vật chất hầu hưởng thụ và làm giầu, trong khi dửng dưng trước sự nghèo đói và bất công của xã hội dưới quyền cai trị vô lương tâm của họ..
Riêng đối với hàng giáo sĩ tu sĩ , Đức Thánh Cha Phanxicô không những khuyên mà còn làm gương cụ thể cho mọi người về đức khó nghèo của Phúc Âm và của Thánh Phanxicô Khó khăn mà Đức Thánh Cha đã chọn làm thánh hiệu cho triều đại Giáo hoàng của ngài. Cụ thể, mới đây Đức Thánh Cha Phanxicô đã ngưng chức một giám mục Đức vì đã phung phí tài sản của Địa Phân để xây biệt thự lộng lẫy cho mình, trái với lời khuyên khó nghèo của Phúc Âm.
Mới đây nữa , nhân dịp gặp gỡ các nhân viên của các tổ chức từ thiện và và các tù nhân tại thành phố Cagliari ( Ý) Đức Thánh Cha Phan xicô đã nói với họ như sau:
"Một số người đã muốn làm nổi bật việc làm tốt của họ. Họ không ngừng nói về người nghèo, nhưng sau đó lại lợi dụng những người nghèo khó này để trục lợi cho cá nhân mình....Đó chắc hắn không phải là ý muốn của Chúa Giê-su . Tôi đi xa hơn nữa để nói đó là một tội nghiêm trọng. Đó là lợi dụng những người nghèo khó , những người là hiện thân của Chúa Giê-su để tô điểm cho chính mình. Đây là một tội nghiêm trọng."
Như thế , linh mục phải là người nêu gương sáng trước tiên về đức khó nghèo của Chúa Kitô, " Người vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được giầu có." ( 2 Cor 8:9) .
Cụ thể, Linh mục cần thiết phải:
I- Tách mình ra khỏi mọi dính díu với quyền lực và tham vọng trần thế để không vô tình hay cố ý làm tay sai cho một chế độ chính trị nào để cầu lợi cá nhân và nhiên hậu gây thương tổn nặng nề cho chức năng (competence) và vai trò của mình là linh mục của Chúa Kitô.
Trong điễn từ đọc tại Nhà Thờ Chánh Tòa Đức Mẹ Lên Trời ở Parlemo ( Italia) trước hàng trăm Giám mục, Linh mục, và Tu sĩ nam nữ ngày 3 tháng 10 năm 2012, Đức Thánh Cha Bê-nê-đich-tô 16 ( đã về hưu ) đã nói riêng với các linh mục hiện diện như sau " chính Chúa Kitô, chứ không phải thế gian -đã thiết lập cương vị cho linhmục"...Và với cương vị đó, linh mục phải luôn chú tâm đến ơn cứu độ và Vương Quốc của Thiên Chúa." ( Christ establishes the priest's status, not the world... as a priest, he must be always with a view to salvation and the Kingdom of God.( cf.L' Osservatore Romano. Oct 6, 2010). Hơn nữa, linh mục " không thể là thừa tác viên của Chúa Kitô nếu không là chứng nhân và là người ban phát một đời sống khác với đời sống thế tục" ( cf. Presbyterium Ordinis.no.3)
Trước đó, trong thư Thứ Năm Tuần Thánh gủi cho các linh mục, Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II ( sắp được tôn phong hiển thánh ngày 27-4 năm nay) đã lưu ý các linh mục như sau:
" Những nỗ lực nhằm biến linh mục thành người thường dân là làm hại Giáo Hội. Điều này không có nghĩa là một cách nào đó, linh mục phải thờ ơ không quan tâm gì đến những âu lo của người giáo dân ( thường dân=laity); ngược lại, phải rất gần gũi họ theo gương Thánh Maria Gioan Vianney, và trong chiều kích lo cho phần rỗi của họ ( giáo dân) và cho sự mở mang Vương Quốc Thiên Chúa.Linh mục là chứng nhân và là người ban phát một đời sống khác với đời sống thế tục.Đây là điều căn cốt của Giáo Hội nhờ đó căn tính của linh mục được bảo vệ ở chiều dọc. Đời sống và nhân cách của "cha xứ họ Ars" ( Cure' of Ars) đặc biệt là hình ảnh rõ nét sáng ngời về đời sống và nhân cách của linh mục theo chiều kích nói trên." ( James P. Socias Scepter Publishers and Midwest Theological Forum, pp147-148)
Nói khác đi, linh mục chỉ có một vai trò và chức năng quan trọng nhất là rao giảng Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô và làm chứng cho Chúa trong mọi hoàn cảnh để phục vụ hữu hiệu cho các linh hồn đang cần đến Chúa và mong lãnh nhận ơn cứu độ của Người. Do đó, linh mục tuyệt đối không có chức năng chính trị hay xã hội nào để tự nguyện làm tay sai phục vụ, tâng bấc, ca tụng hay chống đối một chế độ nào vì lý do thuần chính trị
Nhưng, nếu chế độ nào, không tôn trọng nhân quyền ( human rights), - không phải nhân quyền của thần học giải phóng, là thứ nhân quyền cổ võ đấu tranh giai cấp, tạo ra những "đàn kéc" chỉ biết ca tụng bợ đợ chế độ để an thân trục lợi- mà là những quyền căn bản của con người, như quyền tự do phát biểu, quyền tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, quyền hành Đạo trong đó bao gồm việc tổ chức, đào tạo,và bổ nhiệm các chức sắc lãnh đạo trong các giáo hội địa phương. Nếu chế độ nào không tôn trọng những quyền căn bản này cũng như dung dưỡng cho những sa dọa, suy thoái về luân lý, đạo đức trong xã hội cai trị, thì linh mục -và nhất là Giám mục - phải có can đảm lên tiếng đòi hỏi chế độ phải tôn trọng những tư do căn bản và thiêng liêng của con người, cũng như mạnh mẽ lên án thực trạng suy thoái đạo đức và luân lý của xã hội để đòi nhà cầm quyền dân sự phải có biện pháp thích đáng để lành mạnh xã hội hầu tạo môi trưởng thuận lợi cho sự phát triển lành mạnh đời sống tinh thần và đạo lý của người dân.
Xã hội vô luân, vô đạo và đầy bất công đang xô nhanh người dân xuống hố diệt vong vì thiếu nền tảng tinh thần cần thiết để giúp phân biệt con người với mọi loài cầm thú chỉ có bản năng và vô lương tri.
Như thế, làm ngơ hay nhắm mắt bịt tai trước những vi phạm về quyền thiêng liêng của con người và tụt hậu về luân lý, đạo đức, sẽ trở thành đồng lõa với chế độ, với xã hội làm phát sinh mọi tội ác vì thiếu căn bản đạo làm người.
II- Trong lãnh vực giảng dạy chân lý và cử hành các Bí tích,
Không linh mục nào được phép dạy và thực hành giáo lý , bí tích riêng của mình mà phải dạy cũng như thực hành đúng giáo lý( doctrines), tín lý ( dogmas) và kỷ luật bí tích của Giáo Hội,
Cụ thể, Giáo Lý và Kinh Thánh của Giáo Hội nhìn nhận sự kiện có tội Tổ Tông (Original sin) do Nguyên Tổ loài người là Adam và Eva vấp phạm khiến con người mất ơn nghĩa với Thiên Chúa. Nhưng chính tội bất trung này của Nguyên Tổ loài người lại được Giáo Hội sau này ca ngợi là "Tội sinh ơn phúc" ( Felix culpa) vì bởi tội này mà Thiên Chúa đã sai Con Một của Người là Chúa Kitô đến trần gian để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội. Ơn cứu chuộc và tha thứ này của Thiên Chúa còn lớn lao hơn tội bất trung của Nguyên Tổ rất nhiều như Thánh Phaolô đã dạy : " Nhưng sự sa ngã của Adam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa...Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã mà muôn người phải chết thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người." (Rm 5: 15).
Như thế ai phủ nhận hay đặt vấn đề "tội Tổ Tông" dưới ánh sáng tâm lý học là đã đi ngược lại với giáo lý hiện hành của Giáo Hội về vấn đề rất hệ trọng này.( x.SGLGHCG,số 402-407)
Mặt khác, cũng vì tội Nguyên Tổ đã gây ra " sự chết của linh hồn" như Công Đồng Trentô đã dạy ( DS 1512), mà Giáo Hội cử hành bí tích Rửa Tội để xỏa hết mọi hậu quả của tội nguyên tổ mà còn tha một lần tất cả mọi tội cá nhân con người đã phạm cho đến lúc lãnh nhận Phép Rửa.. . Nhưng phép Rửa không trả lại cho con người tình trạng ơn phúc mà Adam và Eva được hưởng trước khi phạm tội. Nghĩa là sau khi được rửa rội, con người vẫn còn " những yếu đuối " và khuynh hướng nghiêng chiều về sự xấu, sự tội trong bản năng để cho con người phải cố gắng chiến đấu với ơn Chúa nâng đỡ để vươn lên trên đường hoàn hảo hầu được cứu rỗi. Do đó, linh mục không thể dạy sai lầm là phép rửa đã tha hết mọi tội nên không cần phải xưng tội nữa, cứ tự nhiên rước Minh Thánh Chúa ! Phép Rửa tha một lần hết mọi tội, nhưng sau đó, người ta vẫn còn có thể phạm tội nhiều lần nữa chứ , vì bản chất yêu đuối và vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) để chống lại cám dỗ hay buông mình chiều theo sự xấu, sự tội để làm những sự dữ như giết người, cướp của, dâm ô trụy lạc...Đây là thực tế mà không ai có thể chối cãi được.
Liên quan đến bí tích Thánh Thể, không có giáo lý, giáo luật nào dạy mọi người tham dự Thánh Lễ đều được rước Minh, Máu Thánh Chúa, vì cho rằng đây là bữa tiệc Chúa mời mọi người tham dự ăn và uống không phân biệt Công Giáo hay Tin lành, trẻ em đã rước lễ lần đầu hay chưa. Ngược lại, giáo lý và giáo luật nói rõ : ai mắc tội trọng ,chưa kịp đi xưng tội thì không được làm lễ ( linh mục) và rước Minh Thánh Chúa ( giáo dân). ( x, giáo luật số 916; SGLGHCG số 1415).
Như vậy, không thể mời hết mọi người tham dự Thánh Lễ ở tư gia hay ở nhà thờ lên rước Mình Máu Thánh Chúa lấy lý do là Chúa đã tha hết mọi tội cho con người, như một số linh mục Việt Nam , Mỹ, và Cadada đã làm.( có nhân chứng kể lại). Chúa tha thứ tội lỗi cho con người. Đúng, nhưng người ta vẫn còn phạm tội trở lại vì bản tính yếu đuối , vì ma quỉ cám dỗ và vì ý muốn tự do như đã nói ở trên.
Lại nữa, linh mục cũng không được phép từ chối ban bí tích rửa tội, rước lễ lần đầu hay chứng hôn cho ai, vì cha mẹ của trẻ em hay người lớn không đóng đủ tiền cho giáo xứ như đã xẩy ra ở một địa phương kia bên nhà. Đáng nói hơn nữa, linh mục chánh xứ không được phép đe doa " rút phép thông công = ex-communication" cho ai vì bất cứ lý do gì. Chỉ có Giám mục Giáo phận mới có quyền ra vạ tuyệt thông hậu kết ( ferandae sententiae) cho ai ngoan cố không chịu sửa lỗi sau khi đã được cảnh cáo nhiều lần.
Chưa hết, linh mục không được " tham mê tiền của" để chỉ nhận dâng lễ với bổng lễ ( mass stipend) cao và từ chối lễ với bổng lễ thấp, đặc biết là không nên tổ chức mừng ngày thụ phong mỗi năm, hay mỗi 10 năm, 15 năm để lấy tiền mừng của giáo dân.Đây là một gương xấu phải tránh, chứ không phải là một truyền thống tốt đẹp phải thực hành.
Một điều quan trọng nữa là linh mục không được phép biến lễ tang ( Funeral mass) thành lễ cưới hay lễ Phong Thánh ( Canonization Mass) cho ai khi giảng rằng linh hồn này chắc chắn đã lên Thiên Đàng rồi, vì đã được sức dầu và lãnh Phép lành Tòa Thánh trước khi chết., cho nên phải vui mừng, không được thương khóc và để tang như một gia đình kia có con làm linh mục đã làm ! ( tôi là một nhân chứng )
Giáo lý và bí tích của Giáo Hội chỉ qui định việc sức dầu thánh, ban của ăn đàng (Viaticum) cũng như nghi thức phó linh hồn cho ai sắp ly trần, nhưng không hề dạy là nếu ai được sức dầu và lãnh Phép lành Tòa Thánh trước khi chết thì chắc chắn đã lên Thiên Đàng. Lên Thiên Đàng hay xuống hỏa ngục, hoặc đang còn ở nơi Luyện tội thì không ai có thể biết được. Chỉ có Chúa biết mà thôi. Do đó, Giáo Hội chỉ dạy cầu nguyện cho các linh hồn đã ly trần, dù là thường dân, hay linh mục, giám mục hoặc giáo hoàng
Giáo Hội có phong thánh cho ai thì cũng phải đòi hỏi thời gian và những điều kiện cần thiết theo giáo luật, chứ chưa hề tức khắc phong thánh cho ai ngay sau khi người đó chết, dù là các Đức Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám mục...
Mặt khác, với tư cách và cương vị là thừa tác viên và là hiện thân của Chúa Kitô trong trần thế, linh mục không thể coi nhẹ cương vị của mình để dễ dãi tham gia giúp vui trong những bữa tiệc cưới, đứng lên ca hát hoặc kể truyện tếu. Nói rõ hơn, linh mục không nên ôm cây đàn, ca hát và nhảy nhót với ai vì mục đích ca tụng quê hương, đất nước hoặc gây quỹ cho cá nhân hay cơ quan, đoàn thể nào. Làm như vậy, linh mục đã quên cương vị của mình khi tự cho phép hòa mình vào những sinh hoạt có tinh chất thế tục.
Sân khấu và nơi tổ chức ca hát, nhảy nhót của người đời, nên chắc chắn không phải là nơi tụ họp, giúp vui của linh mục. Chỗ đứng và nơi trình diễn của linh mục là bàn thánh, là giảng đài ( pulpit) là Tòa giải tội và giường bệnh nhân, tức là những nơi linh mục thi hành tác vụ thánh đã được lãnh nhận từ Bí Tích Truyền Chức Thánh và năng quyền thi hành từ giám mục mình trực thuộc để phục vụ cho những lợi ích thiêng liêng của giáo dân.
Đặc biệt, linh mục cũng không nên làm các nghề của người đời như bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư v.v để quảng cáo kiếm thân chủ và kiếm tiền như những người làm các nghề chuyên môn này. Chỗ đứng và chức năng ( competence) của linh mục là rao giảng lời Chúa, dạy dỗ chân lý và thánh hóa mình và người khác qua việc cử hành các Bí Tích Thanh Tẩy, Thánh Thể, Hòa giải và sức dầu bệnh nhân, dạy giáo lý, Kinh Thánh..chứ không phải ở phòng mạch, nhà bán thuốc, văn phòng cố vấn pháp luật v .v. Đây là một khuyết điểm lớn của Tu Hội hay nhà Dòng nào cho phép tu sĩ linh mục của mình làm những ngành nghề nói trên để kiếm tiền cho nhà Dòng,Tu Hội. Chúng ta tin rằng mỗi người Chúa ban ơn gọi riêng và khả năng riêng để sống và phục vụ. Do đó, không thể vừa làm linh mục vừa làm ca sĩ hay bác sĩ y khoa, hay luật sư ( attorney) được.Tuy nhiên, cũng có trường hợp một số bác sĩ, luật sư, kỹ sư hay giáo sư đang hành nghề thì cảm thấy ơn goi đi tu làm linh mục. Nhưng sau khi trở thành linh mục, thì thôi không hành nghề chuyên môn kia nữa để dành tâm trí và thì giờ cho Sứ vụ linh mục ( priestly ministries), một " ngành nghề" không dính dáng gì đến việc bon chen để kiếm tiền, làm giầu như các ngành nghề khác trong xã hội.
Lại nữa, linh mục không thể đi làm quảng cáo cho một cơ sở thương mại nào, như một linh mục kia đã nằm dài trên ghế để quảng cáo cho một loại ghế xoa bóp trên truyền hình. Đây rõ ràng là một gương xấu, hoàn toàn không phù hợp với là chức năng và tư cách của linh mục, thừa tác viên thay mặt và nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) để dâng lại hy tế thập giá của Chúa trên bàn thờ, và cử hành các bí tích khác cũng như rao giảng lời Chúa và làm nhân chứng cho Chúa qua tác vụ và đời sống của mình trước mặt người đời.
Tóm lại, là hiện thân của Chúa Kitô giữa trần gian, đặc biệt trong hoàn cảnh xã hội khắp nơi ngày một thêm "tục hóa" vô lương tâm và vô luân hiện nay, mọi linh mục đều được mong đợi sống sao cho người đời, cách riêng cho người tín hữu dễ nhận ra Chúa Kitô, Đấng đến và trở nên Con Người không phải để đồng hóa với người phàm trong mọi chiều kích thế tục mà trở nên Con Người để cứu chuộc và thần linh hóa ( divinize) loài người hầu cho phép con người được sống hạnh phúc và " thông phần bản tính Thiên Chúa sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian" này, như Thánh Phêrô đã dạy. ( 2 Pr 1:4). Chúa nói : " ai có tai nghe thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 7 : 46; Lc 8: 8)
LM . Phanxiô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 128 of 158