mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5643
mod_vvisit_counterHôm Qua11016
mod_vvisit_counterTuần Này27549
mod_vvisit_counterTuần Trước57635
mod_vvisit_counterTháng Này196254
mod_vvisit_counterTháng Trước256467
mod_vvisit_counterTất cả13566431

We have: 95 guests online
Your IP: 54.227.76.35
 , 
Today: May 21, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 103 = NIEM VUI PHUC AM PDF Print E-mail

Niem Vui Phuc Am - Boi Canh Lich Su
Tinh Cao
Jan 13 at 5:10 PM

Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm

phân tích, tuyển hợp và chuyển dịch

http://www.vatican.va/holy_father/francesco/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium_en.html.

Niềm Vui Phúc Âm - Bối Cảnh Lịch Sử

Vẫn biết văn kiện đầu tay của Đức Thánh Cha Phanxicô không phải là Tông Huấn "Niềm Vui Phúc Âm - Evangelii Gaudium" ban hành ngày Lễ Chúa Kitô Vua bế mạc Năm Đức Tin 24/11/2013, mà là Thông Điệp "Ánh Sáng Đức Tin - Lumen Fidei" được ký ban hành vào ngày Lễ Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô 29/6/2013.

Tuy nhiên, Thông Điệp Ánh Sáng Đức Tin hầu như của ĐTC Biển Đức XVI hơn là của ngài, vì bức thông điệp này, như ngài xác nhận ở đoạn 7 là chính vị giáo hoàng tiền nhiệm của ngài "đã hầu như hoàn tất bản nháp đầu tiên cho bức thông điệp về đức tin", còn ngài chỉ "tiếp tục văn kiện hay ho này và góp thêm một ít phần của mình vào đó".

Còn Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm, tuy là đóng góp của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ lần thứ 13 trong thời đoạn từ 7-28/10/2012 về chủ đề "Việc Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa để Truyền Đạt Đức Tin Kitô Giáo", thế nhưng người đọc vẫn thấy được những nét độc đáo của chính Đức Giáo Hoàng Phanxicô, qua giọng điệu của ngài, chủ trương của ngài cũng như cách sử dụng từ ngữ của ngài, những gì ngài đã bày tỏ qua các cuộc phỏng vấn công khai trước đó.

Công Đồng Chung Vaticanô II là một mốc điểm lịch sử quan trọng nhất cho Giáo Hội ở vào hậu bán thế kỷ 20 trước khi tiến vào ngàn năm thứ 3 Kitô giáo, một công đồng kéo dài 3 năm 2 tháng (11/10/1962 - 8/12/1965), ban hành 16 văn kiện, 4 hiến chế (constitutions), 9 sắc lệnh (decrees) và 3 tuyên ngôn (declarations), trong đó có hai văn kiện tiêu biểu nhất cho công đồng thứ 21 này của Giáo Hội, đó là Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội "Ánh Sáng muôn dân - Lumen gentium" (21/11/1964) và Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội "Vui mừng và hy vọng - Gaudium et spes" (7/12/1965).

Sau công đồng này, ngoại trừ vị giáo hoàng 33 ngày là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I (26/8-28/9/1978), có 3 vị giáo hoàng hậu công đồng cho tới nay: Nếu Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II (16/10/1978 - 2/4/2005), một triết gia nhân bản, và Đức Thánh Cha Biển Đức XVI (19/4/2005-28/2/2013), một thần học gia về chân lý đức tin, là hai vị giáo hoàng, qua các văn kiện và chiều hướng hoạt động của mình, tiêu biểu cho một Giáo Hội là "ánh sáng muôn dân", thì Đức Thánh Cha Phanxicô, qua đời sống bình dân và tinh thần từ ái của ngài, là vị giáo hoàng tiêu biểu cho một Giáo Hội thực hiện sứ vụ mang "vui mừng và hy vọng" đến cho loài người, nhất là cho thành phần nghèo khổ và tội lỗi trong một thế giới càng văn minh con người càng bạo loạn và diệt vong.

Không phải hay sao, chính hai văn kiện được Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành: Thông Điệp "Ánh Sáng Đức Tin" và Tông Huấn "Niềm Vui Phúc Âm" đã đủ nói lên chiều hướng của Công Đồng Chung Vaticanô II: Giáo Hội là "Ánh Sáng muôn dân" để mang "Niềm Vui và hy vọng" đến cho thế giới tân tiến ngày nay? Bức Thông Điệp "Ánh Sáng đức tin", hầu như tác giả là Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, nếu được coi là tiêu biểu cho một Giáo Hội "Ánh Sáng muôn dân", thì cũng có thể là tiêu biểu cho hai vị Giáo Hoàng uyên bác về kiến thức đã tham dự Công Đồng Chung Vaticanô II, đó là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, một nghị phụ chính thức của Công Đồng này, và Đức Thánh Cha Biển Đức XVI là cố vấn thần học cho một nghị phụ của Công Đồng này. Bức Tông Huấn "Niềm Vui Phúc Âm", nếu được coi là tiêu biểu cho một Giáo Hội mang "Niềm Vui và hy vọng" đến cho nhân loại, thì cũng có thể là tiêu biểu cho vị Giáo Hoàng đã công khai khẳng định rằng ngài mong muốn có được "một Giáo Hội sống nghèo và là một Giáo Hội cho người nghèo" (Tông Thư Niềm Vui Phúc Âm khoản 198).

Và nếu di sản Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II để lại cho chung Giáo Hội trong ngàn năm thứ ba Kitô giáo được gói ghém trong Tông Thư "Mở Màn Ngàn Năm Mới - Novo Milennio Ineunte" ban hành ngày 6/1/2001 để bế mạc Đại Năm Thánh 2000, đó là "duc in altum - nước sâu thả lưới" (Luca 5:4), thì vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã được sai đến trong vòng gần 8 năm ngắn ngủi, (cho đến khi ngài tự ý từ nhiệm), là để dẫn Giáo Hội đến chỗ "nước sâu" và Đức Thánh Cha Phanxicô đang được sai đến là để "thả lưới".

Thật vậy, Vị tiền nhiệm Biển Đức XVI của ngài, với bản chất thâm trầm nội tâm và kiến thức thần học uyên bác, đã dẫn Giáo Hội đến chỗ "nước sâu" qua hai văn kiện của 2 Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới, một vào năm 2005 về Thánh Thể và một vào năm 2008 về Lời Chúa, đó là Tông Huấn "Bí Tích Yêu Thương - Sacramentum Caritatis" ban hành ngày 22/2/2007, và Tông Huấn "Lời Chúa - Verbum Domini" ban hành ngày 30/9/2010. Ngoài ra, ngài còn ban bố 3 bức thông điệp cũng có tính chất tu đức và nội tâm, thứ tự như sau: "Thiên Chúa là tình yêu - Deus caritas est" (25/12/2005), "Niềm hy vọng cứu độ - Spe salvi" (30/11/2007), và "Yêu thương trong chân lý - Caritas in veritate" (29/6/2009). Chưa hết, vị giáo hoàng tiền nhiệm này còn mở Năm Đức Tin (11/10/2012 - 24/11/2013), và gần hoàn tất bức thông điệp thứ 4 về đức tin của ngài (như được đề cập đến trên đây).

Về phần mình, với kinh nghiệm mục vụ rất già giặn và đầy thực tế, vị giáo hoàng từ một miền đất "tận cùng trái đất" (cụm từ được ngài sử dụng lần đầu tiên khi ngỏ lời với dân chúng ở Quảng Trường Thánh Phêrô tối ngày 13/3/2013 trong tư cách là một tân giáo hoàng mới được tuyển bầu), miền đất nghèo khổ Mỹ Châu Latinh ở Á Căn Đình được sai đến với ngai tòa Phêrô để đại diện Chúa Kitô, dẫn Giáo Hội tiếp tục từ chỗ "nước sâu" đến sứ vụ "thả lưới". Phải nói rằng bức Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm là phản ảnh sống động nhất và trung thực nhất về tinh thần và đường hướng của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên nhan đề của bức Tông Huấn có từ ngữ "niềm vui" đã đủ hiện lên gương mặt luôn tươi cười đầy phấn khởi của ngài cũng như chiều hướng của ngài rất thiết tha muốn mang "vui mừng và hy vọng - gaudium et spes" đến cho thế giới ở vào thời điểm lịch sử hết sức buồn thương và khẩn trương hiện nay.

Riêng tôi, càng đọc Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm, tôi càng tự nhiên cảm thấy dường như đang ứng nghiệm lời Chúa Giêsu tiên báo về ngày tận thế như sau: "Vì sự dữ gia tăng mà lòng mến nơi hầu hết đã trở nên nguội lạnh... Tin mừng về Vương Quốc này sẽ được loan báo khắp thế giới như là một chứng từ cho tất cả mọi dân tộc. Chỉ sau đó mới đến ngày cùng tháng tận" (Mathêu 24:12,14).

Qua câu tiên báo này của Chúa Giêsu về thời điểm trước ngày cùng tháng tận, chúng ta thấy:

1- vào chính lúc con người trở nên nguội lạnh thì tin mừng lại được rao giảng khắp thế giới, tức là cả thế giới đã trở thành nguội lạnh, thiếu bác ái yêu thương, sống hận thù sát hại nhau, cần phải được Trời Cao nhắc nhở qua sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội;

2- và chỉ sau khi tin mừng cứu độ được rao giảng khắp nơi rồi thì mới tới ngày cùng tháng tận, tức là việc rao giảng tin mừng khắp thế giới, như việc rao giảng của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả cho dân Do Thái xưa, là để dọn đường cho Chúa Kitô tái giáng "để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ vô cùng bất tận".

Lịch sử đã xẩy ra như thể ứng nghiệm lời tiên báo này của Chúa Kitô về thời tận thế "Tin mừng về Vương Quốc này sẽ được loan báo khắp thế giới như là một chứng từ cho tất cả mọi dân tộc": ở chỗ, chưa bao giờ thấy trong lịch sử Giáo Hội có các vị giáo hoàng thực hiện các chuyến tông du khắp thế giới, bắt đầu từ ngay trong Công Đồng Chung Vaticanô II, qua chuyến tông du lịch sử đầu tiên của Đức Thánh Cha Phaolô VI ở Thánh Địa trong thời khoảng 4-6/1/1964. Sau 11 chuyến tông du của Đức Thánh Cha Phaolô VI tới 104 chuyến tông du của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong vòng 26 năm rưỡi, tức trung bình 4 chuyến 1 năm, và 24 chuyến tông du của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong vòng 8 năm, tức trung bình 3 chuyến một năm.

Công cuộc và sứ vụ truyền bá phúc âm hóa này càng khẩn trương hơn nữa, khi thế giới loài người mỗi ngày mỗi trở nên lạc loài hơn bao giờ hết, với tình trạng khủng hoảng đức tin trong Giáo Hội, cùng với hiện tượng của một xã hội loài người đang bị phá sản luân lý chưa từng thấy bởi thứ văn hóa chết chóc gây ra bởi nọc độc tương đối chủ nghĩa.

Sự kiện trùng hợp ở đây là văn kiện đúc kết của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ lần thứ XIII năm 2012 về việc tân truyền bá phúc âm hóa lại do chính vị giáo hoàng năng nổ truyền giáo Phanxicô ban hành, nhan đề "Niềm Vui Phúc Âm", trong đó, các nghị phụ của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới này nói chung và Đức Phanxicô nói riêng muốn nhắm đến chính tác nhân truyền bá phúc âm hóa, hơn là đến đối tượng được truyền bá phúc âm hóa, như trong Tông Huấn "Evangelii Nuntiandi - Loan Báo Phúc Âm" (8/12/1975) của Đức Thánh Cha Phaolô VI, văn kiện đúc kết Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ lần thứ III năm 1974, cũng như hơn là đến chính sứ vụ truyền giáo, như trong Thông Điệp "Sứ Vụ Cứu Chuộc - Redemptoris Missio" (7/12/1990) của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

Đó là lý do Tông Huấn này đã mở đầu (đoạn 1) bằng câu bao gồm chính tinh thần và chiều hướng của nó như sau: "Niềm vui Phúc Âm là những gì tràn đầy tâm can và đời sống của tất cả những ai gặp gỡ Chúa Giêsu. Những ai chấp nhận việc Người cống hiến ơn cứu độ cho thì được giải phóng khỏi tội lỗi, buồn đau, trống rỗng nội tâm và lẻ loi cô quạnh. Niềm vui luôn được tái sinh nơi Chúa Kitô. Trong Tông Huấn này, tôi muốn phấn khích tín hữu Kitô giáo hãy khai mào một giai đoạn mới của một việc truyền bá phúc âm hóa được đánh dấu bằng niềm vui này, trong khi vạch ra những đường lối mới cho cuộc hành trình vào những năm trước mắt của Giáo Hội".

Rõ ràng là câu mở đầu Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm trên đây bao gồm 2 yếu tố chính đó là tác nhân truyền bá phúc âm hóa và đường lối mới cho việc tân truyền bá phúc âm hóa. Bởi thế, để vừa ngắn gọn hơn mà vẫn không mất ý nghĩa của toàn văn kiện, vừa dễ dàng hơn trong việc nắm bắt ngay được hai ý chính cốt yếu làm nên văn kiện này, nhưng vẫn không vì thế mà coi thường các câu khác trong bản văn không được trích dịch (bởi những câu này chỉ phụ thuộc hay diễn giải thêm), người dịch ở đây sẽ thực hiện việc tuyển hợp những câu, những đoạn / những khoản nào của Bức Tông Huấn sát với hai ý tưởng chủ yếu nhất trong toàn văn kiện.

Sau đây bô cục tổng quan hai phần chính và những khoản tiêu biểu nhất của bức Tông Thư nên đã được người dịch chuyển dịch, trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh. Những tiểu đề theo bố cục và nội dung của bức Tông Thư này vì thế cũng đã được người dịch sắp xếp căn cứ vào câu chủ yếu đầu tiên của bức Tông Thư.

Phần Một: Thành phần tác nhân loan truyền Niềm Vui Phúc Âm

1- Niềm Vui Phúc Âm - một sứ vụ không chấp nhận khuynh hướng phản chứng nơi mục vụ viên

2- Niềm Vui Phúc Âm - một sứ vụ bất khả thiếu và bất khả châm chước của Kitô hữu

3- Niềm Vui Phúc Âm - một sứ vụ cần phải được tràn đầy Thần Linh mới có thể hoàn thành

Phần Hai: Đường lối mới loan truyền Niềm Vui Phúc Âm

1- Niềm Vui Phúc Âm – cần một cuộc hoán cải về mục vụ

2- Niềm Vui Phúc Âm - trước những thách đố của thế giới ngày nay

3- Niềm Vui Phúc Âm - những cách thức để truyền đạt

4- Niềm Vui Phúc Âm - đặc biệt cho người nghèo hèn

(còn tiếp)
Reply, Reply All or Forward | More

 
HOC HOI DE SONG DAO # 102 = PHEP RUA TUYET VOI PDF Print E-mail

Chua Giesu Chiu Phep Rua - Tuyet Voi Mau Nhiem
Tinh Cao
Jan 12 at 4:00 PM
Hôm nay Giáo Hội long trọng cử hành Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. Tất cả ý nghĩa của biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa này đã được Giáo Hội tóm gọn rất hay trong Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khoản 536, như sau:

"Về phần Ngài, phép Rửa của Chúa Giêsu là sự Ngài chấp nhận và khai mạc sứ mạng người Đầy tớ đau khổ của Ngài. Ngài tự liệt mình vào số các tội nhân (xem Is 53,12), và Ngài đã là "Chiên con của Thiên Chúa xoá tội trần gian" (Ga 1,29). Ngài đã làm trước kỳ hạn cuộc "rửa" bằng cái chết đẫm máu của mình (xem Mc 10,38; Lc 12,50). Ngài đã đến để "thực hiện sự công chính toàn vẹn" (Mt 3,15), nghĩa là Ngài trọn vẹn vâng phục thánh ý của Cha Ngài: vì tình yêu, Ngài đã ưng nhận phép Rửa của sự chết để tha thứ tội lỗi của chúng ta (xem Mt 26,39). Đáp lại sự chấp nhận này của Chúa Giêsu, Chúa Cha đã lên tiếng nói rằng Ngài rất thoả lòng về Con của Ngài (xem Lc 3,22; Is 42,1). Và Thánh Thần mà Chúa Giêsu vẫn đã có đầy đủ từ khi được thụ thai, đã tới "đậu" trên Ngài (Ga 1,3233) (xem Is 11,2). Ngài sẽ là nguồn mạch Chúa Thánh Thần cho cả nhân loại. Khi Ngài chịu phép Rửa "các tầng trời đã mở ra" (Mt 3,16), vì trước đó đã bị đóng lại do tội của Ađam. Và dòng nước đã được thánh hoá do sự bước xuống nước của Chúa Giêsu và do sự Chúa Thánh Thần ngự xuống, khai mào cho một cuộc sáng tạo mới".

Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ biến cố được kể như mở màn cho cuộc đời công khai của Chúa Giêsu vào năm Người khoảng 30 tuổi này (xem Luca 3:23), chúng ta còn thấy những điểm đặc biệt kỳ thú nữa sau đây:

1- Mục đích chính yếu của việc Chúa Giêsu chịu phép rửa là để tỏ mình ra Người là ai, như chính vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Người đã khẳng định: "Lý do tôi đến để làm phép rửa bằng nước là để Người có thể tỏ mình ra cho Dân Do Thái" (Gioan 1:31).

2- Thế nhưng, theo Phúc Âm Nhất Lãm, trong đó có Phúc Âm của Thánh Mathêu cho Chu Kỳ Phụng Vụ Năm A hôm nay, thì Chúa Giêsu "tỏ mình ra cho Dân Do Thái" một cách không công khai và trực tiếp, mà là qua vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả của Người, bởi thế chỉ có một mình vị làm phép rửa cho Người nhận biết Người mà thôi.

3- Sở dĩ Chúa Giêsu tỏ mình ra trước hết cho Tiền Hô Gioan Tẩy Giả là để chính vị tiền hô thuộc giòng dõi tư tế Lêvi này có thể lấy thế giá của mình mà làm chứng cho Người và về Người, như chính Người đã sử dụng chính chứng từ của vị này đối với dân Do Thái: "Quí vị đã sai đến với Gioan là vị đã làm chứng cho sự thật... Tôi nói đến những điều này là vì phần rỗi của quí vị" (Gioan 5:33-34).

4- Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả thuộc giòng dõi tư tế Lêvi này quả thực là vị có thế giá trước dân Do Thái, nên, như Phúc Âm Thánh Gioan thuật lại, "những người Do Thái đã sai các vị tư tế và Lêvi từ Giêrusalem đến hỏi 'Ông là ai?'" (1:19), và cả "những người được phái Pharisiêu sai đến cũng tiếp tục chất vấn thêm rằng: 'Nếu ngài không phải là Đấng Thiên Sai... thì tại sao ngài lại làm phép rửa chứ?'" (1:24-25).

5- Chỉ có duy một mình Phúc Âm Thánh Gioan mới không thuật lại chính biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa như Bộ Phúc Âm Nhất Lãm, liên quan đến vai trò hay chức vị bề ngoài của Thánh Gioan Tẩy Giả, mà nhấn mạnh đến sứ vụ làm chứng chính yếu của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả mà thôi. Phúc Âm Thánh Ký Gioan, từ đoạn 13 đến hết 17, cũng đã không thuật lại biến cố quan trọng Chúa Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể mà chỉ nhấn mạnh đến tất cả sự thật của Bí Tích này và về Bí Tích này đó là yêu thương và hiệp nhất thôi, như tất cả những gì Người nói và làm trong Bữa Tiệc Ly, những gì liên quan tới Bánh hằng sống từ trời xuống... ban sự sống cho thế gian" (Gioan 6:51).

6- Quả vậy, Phúc Âm Thánh Gioan đã nhấn mạnh đến sứ vụ làm chứng chính yếu này của Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả khi thuật lại những gì xẩy ra ngay sau ngày Chúa Giêsu chịu phép rửa như thế này: "Ngày hôm sau khi Gioan chợt thấy Chúa Giêsu đến cùng mình thì đã kêu lên rằng: 'Kìa! Chiên Thiên Chúa đó, Đấng xóa tội trần gian! Chính Người là Đấng mà tôi đã nói rằng có người đến sau tôi song hơn tôi vì Người có trước tôi... Tôi đã thấy Thần Linh như bồ câu từ trời xuống đậu trên Người... Giờ đây chính tôi đã thấy và làm chứng Đây là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn'" (1:29-30,32,34).

7- Cũng chỉ có Phúc Âm Thánh Gioan, ở đầu đoạn 2, thuật lại một biến cố nữa liên quan một cách gián tiếp đến biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa để tỏ mình ra cho Dân Do Thái qua Tiền hô Gioan Tẩy Giả, đó là biến cố Tiệc Cưới Cana, một biến cố được Giáo Hội nhắc đến vào Chúa Nhật thứ 2 Thường Niên Chu Kỳ Phụng Vụ C, sau Chúa Nhật Chúa Giêsu chịu phép rửa. Tại sao? Tại vì biến cố Tiệc Cưới Cana này liên quan đến việc Chúa Giêsu tỏ mình ra lần đầu tiên cho các môn đệ tiên khởi, nhưng lần này lại qua môi giới Mẹ của Người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Xin đón coi trong tuần Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm rất hay và cần thiết của ĐTC Phanxicô được cùng tác giả đặc biệt phân tích, tuyển hợp và chuyển dịch đề cùng nhau học hỏi và áp dụng thực hành.
Reply, Reply All or Forward | More

 
HOC HOI DE SONG ĐAO # 101 = TINH YEU THUONG PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] TÌNH YÊU THƯƠNG KITÔ GIÁO
Anthony Quang Dinh

Jan 9 at 10:58 PM

TÌNH YÊU THƯƠNG KITÔ GIÁO KHÔNG PHẢI LÀ MÀN KỊCH QUẢNG CÁO
By Elise Harris
Vatican City, ngày 09-01-2014 /09:32 am (EWTN News/CN A)

Trong Thánh Lễ hôm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô trình bầy về tình yêu thương của Kitô giáo, giải thích rằng vấn đề ấy không phải là một hình thức chủ nghĩa lãng mạn ích kỷ, nhưng đúng hơn là một cái gì đó "cụ thể" nó đòi hỏi sự hy sinh.

Tình yêu mà Thánh Gioan nói đến không phải lọai tình yêu của những truỵên tầm phào! Không phải thế, đó là một cái gì khác. Tình yêu Kitô giáo có giá trị đặc bịêt : tính cụ thể." Đức thánh cha đã làm cho người ta chú ý trong bài giảng ngày 09 tháng 01, tham khảo những lời của thánh Gioan Tông đồ trong bài đọc thứ nhất.

Bắt đầu bằng sự suy nịêm về đọan văn trong thư thứ nhất của thánh Gioan trong đó người nói "Nếu chúng ta yêu mến nhau, Thiên Chúa ở trong chúng ta, và tình yêu của Người đã dẫn đến sự hòan hảo trong ta." Đức Thánh Cha Phanxicô đã làm nổi bật như thế nào về kinh nghịêm của đức tin được tìm thấy ở trong di tích trùng lắp này.

"Chúng ta ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong ta : đây là đời sống đạo Công giáo," Đức giáo hòang xác nhận, " không hịên dịên ở trong tinh thần thế gian, không hịên dịên ở trong tính nông cạn, không hịên dịên ở trong sự sùng bái tà thần, không hịên dịên ở trong tính phù hoa."

"Không có gì, không có gì, hịên dịên ở trong Chúa," người nhắc lại, thêm rằng "Người tráo đổi qua lại :Người ở trong ta. Nhưng mà trước hết Người hịên dịên ở trong ta rồi."

"Bíêt bao lần chúng ta đẩy Người ra ngòai và chúng ta không thể hịên dịên ở trong Người. Chính là Thần khí hịên dịên."

Sau khi kỉêm tra động cơ tinh thần này về sự ở trong thần khí, nó thúc đẩy tình yêu của những Kitô hữu, Đức Thánh Cha trở lại những suy nịêm vè làm thế nào để áp dụng tình yêu này, tục ngữ nói :"Ở trong tinh yêu của Thiên Chúa" không giống như một tình trạng ngây ngất ở trong tâm hồn một người hoặc một cảm giác dễ chịu.

"Tình yêu thương Kitô giáo có phẩm chất đặc bịêt :xác thực, cụ thể (sờ, nắn được), tình yêu Kitô giáo là cụ thể, Đức Thánh Cha nhận xét :Chính bản thân Đức Giêsu, khi Người nói về tình yêu, nói với chúng ta về những sự vật cụ thể : cho kẻ đói ăn, thăm víêng người bệnh, và rất nhìêu những vấn đề cụ thể khác.

"Và khi sự cụ thể này không có ở đấy, người ta có thể sống tính chất Kitô giáo ảo tưởng," người tíêp tục, bởi vì người ta không nhận bíêt chỗ nào là trung tâm đỉêm thông địêp của Đức Giêsu.."

Tình yêu này không xẩy đến ở con người cụ thể, nó là tình yêu ảo tưởng, tương tự như những ảo tưởng các môn đệ đã có, khi, nhìn ngắm Chúa Giêsu, họ nghỉ, Đức Giêsu là con ma," Đức Thánh Cha tíêp tục nói , nhớ lại rằng trong bài Phúc Âm theo ngày các tông đồ đã hỉêu lầm Đức Chúa Giêsu so với con ma khi Đức Giêsu đến với họ đi trên mặt nước.

Sự kinh ngạc của họ, Đức Thánh Cha suy nịêm, nổi lên từ sự vô tình của tâm hồn, bởi vì như đã nói trong Phúc Âm, "Họ đã không hỉêu" ý nghĩa sự sinh sản của những ổ bảnh mới xẩy ra trong chốc lát trước đó.

Nếu người ta có một trái tim cứng cỏi," Đức Thánh Chả giảng giải, "người ta không thể yêu thương, và người ta nghĩ rằng tình yêu là những vấn đề tưởng tượng, Không phải thế, tình yêu là cụ thể" người xác nhận, hơn nữa sự cụ thể này đã đặt trên nền tảng của hai tiêu chủân.

"Tiêu chủân thứ nhất, sự yêu mến và những hành động, không phải chỉ nói. Lời nói bị lấy đi mất bởi gió thổi! Hôm nay nó có ở đấy, ngày mai không còn nữa."

"Tiêu chủân thứ hai của sự cụ thể là: trong tình yêu cho đi quan trọng hơn là nhận lãnh," Đức Thánh Cha bộc lộ, hơn nữa "Một người yêu thương, ban phát...cho đi những vật dụng, cho đi sự sống, cho đi chính bản thân cho Thiên Chúa và tha nhân."

"Mặt khác (la) một người không bíêt yêu thương, là người vị kỷ, luôn luôn tìm để nhận lãnh, luôn luôn tìm để có những đồ vật, để có những thụân lợi ," khuýên khích những người hịên dịên "Hãy nâng đỡ với tấm long rộng mở,"

"Đừng giống như một số môn đệ, tâm hồn họ khép kín, họ không hỉêu bíêt bất cứ đìêu gì: ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong chúng ta; ở lại trong tình yêu."

QQ gõ xong 01092014/08:35pm

__._,_.___

 
HOC HOI DE SONG DAO# 100 = HAY NHO PHEP RUA PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] Bí tích rửa tội
Anthony Quang Dinh
Jan 8 at 8:00 PM

ĐTC KHUYEN KHÍCH TÍN HỮU HÃY NHỚ NÌÊM HY VỌNG HUY HÒANG CỦA PHÉP RỬA
By Elise Harris
Vatican city, ngày 09-01-2014/07:00 am (EWTN News/CN A)

Trong bủôi trìêu ýêt chung hàng tùân, Đức Thánh Cha Phanxicô đã suy nịêm về sự quan trọng của Bí tích Thanh Tẩy. nêu bật một ân sủng lien kết chúng ta vào với thân thể Đức Kitô và thúc giục ta rao giảng phúc âm.

"Anh chị em đừng bao giờ lãng quên một ân sủng trõng đại đã tíêp nhận ." Đức Thánh Cha Phanxicô đã xác nhận trong bủôi trìêu ýêt chung ngày 08-01, "Sự thanh tẩy đã làm bíên đổi ta, ban cho ta một nìêm hy vọng mới, vinh quang, và làm cho chúng ta có thể mang tình yêu thương cứu chụôc đến cho mọi người."

Đức Giáo Hòang đã chào mừng những khách hành hương đã tập trung tại Quảng trường Thánh Phêrô, công bố bắt đầu bài giáo lý mới về những phép Bí tích, trong thời gian người sẽ suy nịêm về từng bí tích trong số bẩy bí tích, khởi đầu với bí tích Thanh tẩy.

"Công đồng Vatican II nói với chúng ta rằng: Hội thánh là một bí tích," người giải nghĩa, "một ân sủng chứa đựng dấu hịêu tạo ra công vịêc cứu chụôc của Đức Kitô đưa ra trong lịch sử, nhờ quỳên năng của Chúa Thánh Thần.."

Như là bí tích thứ nhất trong bẩy bí tích của Hội Thánh, phép rửa làm cho ta tái sinh trong Đức Kitô," DTC nói, và phép rửa làm cho chúng ta những người chia sẻ mầu nhịêm tử nạn và phục sinh của Người, ban ơn tha thứ tội lỗi va đem cho ta sụ tự do mới như những con cái và những thành viên của Hội Thánh Thiên Chúa."

"Phép rửa là một bí tích trên đó đức tin của chúng ta được dựng lên và chúng ta là những thành viên sống động của Đức Kitô và của Hội Thánh Người," Đức thánh Cha nhấn mạnh. Nêu bật một vấn đề nó không chỉ là một nghi lễ đơn giản hay một hành động nghi thức quan trọng.."

"Vì Chúa, chúng ta nhào lặn vào trong ngùôn sống vô tận, chúng ta đến từ sự tử nạn của Đức Giêsu. Vì vậy chúng ta có thể có một đời sống mới lien kết với Thiên Chúa, và với anh chị em chúng ta."

Đức Thánh Cha ghi nhận rằng mặc dù có nhìêu người "không có một chút ký ức nào về bí tích này," Chúng ta tất cả "được mời gọi hàng ngày có khát vọng sống hướng thượng mà chúng ta nhận được trong Người."

Nếu quyý vị đi theo Đức Giêsu và vẫn còn ở trong Giáo Hội," Đức Thánh Cha đã nhận xét, "với giới hạn của chúng ta và tính mỏng dòn và tội lỗi của ta... sẽ trở nên những tạo vật mới và đã được che phủ trong Đức Kitô" nhờ Những Bí tích.

Suy ra sự lưu ý về sự hăng hái di truỳên giáo của Hội Thánh, Đức Thánh Cha giải nghĩa rằng "Phép rửa đã làm chúng ta thay đỏi, ban cho chúng ta nìêm hy vọng mới và vinh quang, và đã ban quỳên cho chúng ta mang tình yêu thương cứu độ đến cho mọi người, đạc bịêt là những kẻ nghèo, nơi họ chúng ta trông thấy dịên mạo của Đức Kitô."

Đức Thánh tíêp "Phép rửa của chúng ta cũng đã ban cho chúng ta sự chia sẻ nhịêm vụ truỳên bá phúc âm của Hội thánh, như các môn đệ, chúng ta cũng là những nhà truỳên giáo."

"Khi chúng ta mừng lễ Chúa chịu phép rửa vào chúa nhật này, chúng ta hãy cầu xin Người canh tân trong ta ân hụê của phép rửa và làm cho ta,, cùng với những anh chị em nên những con cái chân thực của Thiên Chúa và những thành viên sống động thân thể mầu nhịêm của Người : Hội Thánh."

Đức Thánh Cha kết lụân bài thuýêt trình hàng tùân bằng sự mời gọi nọi người học hỏi "trong đời sống hàng ngày ân hụê mà chúng ta nhận trong phép Rửa tội.\," và đã chào mừng những người đi hành hương hịên dịên từ nhìêu nước trên thế giới.

Trở lại những vấn đề ở Trung Đông, đặc bịêt là ở Syria, Đức Thánh Cha đã yêu cầu họ nhớ lại ngày lãnh nhận bí tích Rửa tội của họ và ăn mừng ngày ấy. bởi vì nhờ phép Bí tích này "tất cả chúng ta trở nên tạo vật mới trong Đức Kitô, nên đền thờ của Chúa Thánh Thần, con cái thừa tự của Đức Chúa Cha."

Quý vị "những thành viên của Hội Thánh, anh em rụôt thịt trong đức tin và là người công bố Phúc Âm," người xác nhận, ai mà "có năng lực tha thứ và yêu thương mọi người, ngay cả kẻ thù nghịch của chúng ta."

QQ gõ xong 01082014/05:30pm

Xem bài trong vịêt Catholic
http://www.vietcatholic.net/News/Html/120080.htm

__._,_.___

 
HOC HOI DE SONG DAO # 99 = NGUON GOC LE HIEN LINH PDF Print E-mail

Chúa Hiển Linh - năm A - Lm Anmai CSsR
Jan 4 at 6:53 PM
Chúa Hiển Linh năm A

Is 60, 1-6; Ep 3, 2-3a5-6; Mt 2, 1-12

Lễ Hiển Linh có nguồn gốc là một ngày lễ cổ xưa của người Kitô giáo tương tự với lễ Giáng Sinh và lễ Phục Sinh.

Từ Đông phương, lễ Hiển Linh lan sang Châu Âu vào khoảng thế kỷ thứ 4 và được nói đến lần đầu tiên tại xứ Gaule vào năm 361. Đến cuối thế kỷ 21, hầu hết các Giáo hội đều cử hành ngày lễ trọng này.

Ban đầu, ở Tây phương, người ta có thói quen cử hành chung các biến cố hạ sinh của Giêsu vào ngày Giáng sinh, biến cố các đạo sĩ đến thờ lạy Chúa và cuộc tàn sát các Thánh Anh Hài. Nhưng khi Roma bắt đầu mừng lễ Hiển Linh thì hai biến cố cuối cùng này được tách rời ra khỏi ngày lễ 25 tháng Chạp để dành tôn kính các Đạo Sĩ là chủ đề chính cho ngày lễ trọng mới vào ngày 6 tháng Giêng. Lễ Hiển Linh trong phụng vụ Roma mang thông điệp chính là sự mạc khải của Đức Kitô cho mọi dân tộc được biểu tượng qua các Đạo Sĩ.

Với Giáo Hội Đông phương, lễ Hiển Linh đã trở thành đại lễ mừng thiên tính của Đức Kitô; mầu nhiệm Nhập Thể và sự thờ lạy của các Đạo Sĩ vì thế được cử hành vào ngày lễ Giáng Sinh. Sau đó lễ Hiển Linh ngày càng được hiểu như là lễ Đức Kitô Chịu Phép Rửa. Do đó mà ở Đông phương có tục lệ làm phép nước rửa tội, nước giếng rửa tội, các nguồn nước và sông suối vào dịp lễ Hiển Linh. Vào ngày này, nhiều đám đông kéo nhau đến bờ sông Giođan để dìm mình ba lần trong trong dòng sông theo như nghi thức rửa tội của Đông phương.

Hôm nay, ta nghe lại lời ngôn sứ Isaia từ 600 năm trước : 'Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước ... Lạc đà đàn đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Epha, dân Saba hết thảy kéo lại, tải đến vàng với trầm hương và chúng cao rao lời khen ngợi Giavê'.

Isaia đã đưa ra những lời tiên đoán đầy phấn khởi về Giêrusalem vào ngày Đấng Cứu Thế xuất hiện.

Ngày ấy, Giêrusalem sẽ trở thành trung tâm ánh sáng và mọi người từ bốn phương trời sẽ tiến về đó với muôn vàn lễ vật. Nghiệt ngã thay vào ngày mà Con Thiên Chúa giáng sinh làm người như lời ngôn sứ Isaia loan báo, ánh sáng đã chiếu trên Giêrusalem, thì lại chỉ có những người ở ngoài mới nhận ra ánh sáng ấy, còn dân trong thành thì vẫn tiếp tục sống trong u tối. Dẫu rằng Giêrusalem đã chỉ rõ nơi vua dân Do Thái mới sinh ra, nhưng lại chỉ có những người ở ngoài mới tới thờ lạy Ngài.

Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại chuyện các đạo sĩ Đông Phương đã theo ánh sao tìm đến triều bái Hài Nhi Giêsu mới giáng sinh tại Bêlem như lời đã loan báo tự ngàn xưa.

Không phải bất ngờ cũng chẳng phải ngẫu nhiên chuyện Chúa Giêsu sinh ra. Chuyện này đã được loan báo từ thuở trước. Được chỉ dẫn, được dặn dò rất rõ ràng về Ngài nhưng rồi không gặp được Ngài.

Khuôn mặt Hêrôđê mà chúng ta vẫn thường nghe gắn liền với cái tên "bạo vương". Bạo vương Hêrôđê dù có binh hùng tướng mạnh trong tay muốn tìm Chúa Giêsu nhưng không gặp được Chúa. Ông không gặp Chúa Giêsu vì ông đã nghe tiên đoán về Ngài và sự xuất hiện của Ngài sẽ làm cho ông mất quyền lợi. Thế nên dù có tìm Chúa đi chăng nữa nhưng không phải để thờ lạy nhưng để giết chết. Ông tìm Chúa Giêsu không phải để tôn vinh Ngài nhưng để tôn vinh bản thân. Ông tìm Chúa Giêsu không phải để làm theo ý Ngài nhưng để bắt Ngài phải vâng theo ý ông. Vì thế Chúa Giêsu đã vượt thoát khỏi tầm tay của ông. Với tất cả những điều đó, vĩnh viễn Hêrôđê ông không gặp được Chúa Giêsu.

Vào thời Chúa Giêsu, bên cạnh khuôn mặt Hêrôđê bạo vương, chúng ta nhìn đến khuôn mặt của các kinh sư, biệt phái. Hơn ai hết, họ là những người hiểu biết Thánh Kinh. Họ đã đọc vanh vách lời ngôn sứ loan báo Đấng Cứu Thế sinh ra tại Bêlem khi ba nhà đạo sĩ đến hỏi thăm họ. Họ hiểu và biết rất nhiều về lý thuyết nhưng không thực hành, vì thế họ không gặp được Chúa. Ngồi một chỗ mà không chịu lên đường. Chỉ chú ý tới chữ nghĩa sách vở mà không chú ý tới cuộc sống con người. Chỉ tìm trong sách vở mà không tìm những dấu chỉ thời đại, dấu chỉ trong đời thường nhật của họ.

Chuyện hài hước mà chúng ta thấy ở đây đó là với những người xem ra gần gũi nhất, hiểu biết nhất, có phương tiện nhất đã không gặp được Chúa Giêsu. Ngược lại, những người có vẻ nghèo hèn, thiếu thốn phương tiện, xa xôi cách trở lại gặp được Chúa Giêsu. Họ là ai ? Họ là những mục đồng đơn sơ nghèo nàn và đặc biệt nhất là ba nhà đạo sĩ mà ta nhớ đến trong thánh lễ hôm nay.

Những người này đã gặp được Hài Nhi Giêsu bởi vì họ đã cất bước lên đường tìm Hài Nhi. Dù không hay không biết không nghe lời ngôn sứ loan báo và thậm chí họ cũng chẳng biết lời hứa, không thuộc Thánh Kinh, nhưng khi thấy ngôi sao lạ, họ đã lên đường ngay tức khắc. Lên đường nói lên thái độ vâng theo ơn Chúa sáng soi cho họ. Vì dấn thân mạnh mẽ cho thái độ vâng theo ơn Chúa soi sáng nên họ lên đường. Thái độ lên đường nói lên lòng cương quyết đi tìm. Và khi lên đường như vậy, họ chấp nhận gian khổ để đạt được điều mơ ước.

Lòng khao khát của họ được đáp trả khi họ gặp được Hài Nhi Giêsu. Với lòng khao khát kiếm tìm chân lý nên đêm đêm họ không ngừng quan sát bầu trời tìm kiếm ánh sao. Nhìn cả bầu trời bao la họ thấy duy chỉ một ánh sao lạ xuất hiện và như vậy họ đã nhận biết. Khao khát chân lý nên khi Chúa vừa tỏ mình qua dấu hiệu ngôi sao, họ đã vội vã theo sát dấu ánh sao đi tìm. Khao khát gặp Chúa nên khi ánh sao vụt biến mất, họ đã không nản lòng, quyết tâm dò hỏi cho ra.

Và với tâm hồn đơn sơ chân thành nên họ đã gặp được Hài Nhi. Họ đi tìm Đấng Cứu Độ trần gian chứ không tìm bản thân. Đi tìm Đấng Cứu Độ trần gian để thỏa lòng khao khát chân lý chứ không để thỏa mãn tính tò mò, thỏa mãn những tham vọng đen tối của cá nhân mình. Họ đi tìm Chúa để thờ lạy Chúa chứ không vì lợi lộc cá nhân. Với tâm hồn đơn sơ như vậy, dù ý Chúa và dấu chỉ hết sức nhẹ nhàng qua một ánh sao nhưng họ đã nhận ra ý Chúa. Với tâm hồn hết sức đơn sơ như thế, dù Chúa có ẩn thân dưới hình dáng một em bé yếu ớt nghèo nàn, trong khung cảnh rất tồi tàn của chuồng bò hôi hám họ đã nhận ra Chúa đang ở đó.

Niềm tin, lòng đạo của ta là một hành trình dài của chuỗi ngày tìm kiếm và sống. Nhìn vào gương của các nhà đạo sĩ, ta sẽ nhận ra Chúa khi ta có tâm hồn đơn sơ thành thực, có lòng khao khát Chúa vì chính Chúa, và dám dấn thân thực hành những điều Chúa truyền dạy, đặc biệt là giới răn bác ái, phục vụ Chúa trong những anh em nghèo khổ.

Không dừng ở việc gặp Chúa, các nhà đạo sĩ đã lên đường để loan báo Đấng Cứu Độ trần gian. Họ chính là những ngôi sao sống động để chỉ cho người khác sự hiện diện của Ngôi Lời nhập thể. Và như vậy, là người kitô hữu, chúng ta cũng được mời gọi mặc lấy tâm hồn đơn sơ để gặp Chúa và khi gặp Chúa lại chiếu tỏa ánh sáng Giêsu trên cuộc đời ta như những ánh sao.

Ta được mời gọi toả sáng trong đời sống của mình. Qua lời mở đầu của Phúc Âm thánh Gioan, Chúa Giêsu chính là "ánh sáng thật đã đến thế gian và chiếu soi mọi người" (Ga 1, 9), Người là ánh sáng ban sự sống, "sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối và bóng tối đã không diệt được ánh sáng" (Ga 1, 4-5). "Những ai tiếp nhận Người thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa, ban cho họ ân sủng và chân lý" (Ga 1, 9.17).

Là ngôi sao có nghĩa là phải có ánh sáng. Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi chính bản thân nó có ánh sáng. Phản chiếu ánh sáng nhận tự nơi Thiên Chúa thế nên Kitô hữu chỉ chiếu sáng khi chính cuộc sống của mình mang ánh sáng của Đức Kitô.

Kitô hữu phải tỏa ánh sáng của niềm tin. Tin yêu Chúa và tin yêu người. Tin yêu để xây dựng một cuộc sống chan hoà tình người. Tin yêu đẻ tha thứ hoà giải. Tin yêu để vượt qua mọi bóng tối thù hận, chia rẽ, bất hoà. Tin yêu là làn ánh sáng ấm áp làm cho thế giới trở nên gần gũi, con người trở nên thân thiện, cuộc đời trở thành đáng yêu đáng mến.

Kitô hữu phải tỏa ánh sáng của niềm cậy trông. Niềm cậy trông vào ơn cứu độ của Chúa giúp ta vừng bước trên đường lý tưởng. Niềm trông cậy vào một trời mới đất mới cho ta thêm sức mạnh góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Niềm trông cậy vào hạnh phúc thiên đàng giúp ta đánh gía đúng mức của cải vật chất đời này. Trông cậy là ánh sáng làm tươi đẹp con người và cuộc đời.

Kitô hữu phải tỏa lên ánh sáng của công bằng, bác ái, yêu thương. Niềm hy vọng, niềm tin yêu được chứng minh bằng đời sống công bình, bác ái, yêu thương. Tin Chúa được biểu lộ qua sự công bình trong đời sống. Yêu Chúa được thể hiện qua tình bác ái với tha nhân.

Tất cả những ánh sáng mà người Kitô hữu phải có góp lại thành ánh sáng đích thực của người con cái Chúa. Ánh sáng đó là ánh sáng mang tên Giêsu.

Những đam mê vật chất, danh vọng sẽ khiến con người rơi vào bóng tối tuyệt vọng, không lối thoát. Nghi ngờ con người sẽ khiến cuộc đời chìm vào bóng tối cô đơn. Thiếu công bằng bác ái sẽ phủ lên thế giới mới một bóng tối phi nhân, tàn nhẫn. Chỉ có ánh sáng Giêsu mới đủ sức phá tan những bóng tối ấy. Chỉ có ánh sáng Giêsu mới làm cho thế giới thành vui tươi hạnh phúc.

Với tất cả những điều đó, ta hãy toả sáng trong cuộc đời qua lời nói của chúng ta khi gắn bó với Chúa Giêsu là Ngôi Lời. Từng lời ăn tiếng nói của ta phải là những lời tốt đẹp mang lại niềm vui, hạnh phúc, hy vọng, ơn cứu độ cho con người thay vì lời nói xấu, nói dối, nói tục, lời tiêu cực làm cho người khác buồn phiền, chán nản, thất vọng.

Ta hãy toả sáng trong hành động. Những hành động xấu xa, gian ác, tiêu cực đều xúc phạm đến Thiên Chúa trong lòng con người cũng như trong vạn vật. Dù không có ai biết, ai thấy hay khen tặng, ta cũng vẫn hành động tích cực, vẫn chăm chỉ học hành, suy nghĩ tốt, làm việc tốt, làm tất cả những gì Chúa muốn vì Chúa đang nhìn ta và ban thưởng cho ta. Hành động như thế là chúng ta toả sáng.

Khi ý thức được như vậy chúng ta mới chăm chỉ học hành, làm việc, đào luyện tài năng, chơi đùa, giải trí cho đúng đắn thì chúng ta mới đạt được kết quả tốt đẹp để làm chứng cũng như làm cho ánh sáng Giêsu được lan tỏa.

Hôm nay, mỗi người chúng ta được mời gọi trở thành những ngôi sao thật sự toả sáng trong đêm tối cuộc đời để người khác nhận ra Chúa Cứu Thế bằng đời sống kết hợp mật thiết với Chúa và chân thành yêu thương nhau. Như thế là chúng ta mang lại niềm vui, hạnh phúc và ơn cứu độ cho gia đình cũng như cho xã hội hôm nay. Với ánh sáng nhỏ bé của ta và của nhiều người thành tâm thiện chí như ta góp lại sẽ tràn ngập ánh sáng và niềm vui mà Chúa muốn chúng ta thể hiện từ Mùa Giáng Sinh này.

Thế giới đang mong chờ ánh sao dẫn đường. Chúa đang mời gọi chúng ta trở thành một ngôi sao chiếu lên làn ánh sáng đạo đức. Chính qua ánh sáng Giêsu mà ta có trong đời của ta mọi người sẽ nhận biết và yêu mến Chúa.

Lm Anmai, CSsR

Chuyển từ muoichodoi.com

Kính chuyển

Hồng

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 129 of 158