mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3175
mod_vvisit_counterHôm Qua8384
mod_vvisit_counterTuần Này50821
mod_vvisit_counterTuần Trước52624
mod_vvisit_counterTháng Này153628
mod_vvisit_counterTháng Trước239272
mod_vvisit_counterTất cả11368317

We have: 162 guests online
Your IP: 54.81.102.236
 , 
Today: Jul 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



HOC HOI DE SONG DAO -TAI SAO TOI KHONG O LAI PHAT GIAO PDF Print E-mail

phung phung
Jul 4 at 7:38 AM


Tại sao tôi không ở lại với Phật giáo?
Tôi vào chùa tu học...
Từ khi còn bé tôi đã thắc mắc ₫ tại sao linh hồn người chết có thể về ăn đồ cúng? Tại sao khi sống thì người ta bất lực nhưng sau khi chết thì linh thiêng và có thể phù hộ hoặc gieo họa cho bà con thân quyến? Những thắc mắc này thúc đẩy tôi vào chùa tu học. Trong chùa có bàn thờ một vị Bồ tat có net mặt dữ tợn, cái lưỡi của ông dài hơn lưỡi rắn. Tên ông là Tiêu Diện Đại Sĩ. Theo giáo lý nhà chùa thì đây là vị thần cai trị các linh hồn vất vưởng đói rách không được ai cúng thức ăn. Mỗi buổi chiều nhà chùa cúng một bat cháo lỏng đặt ngay bàn thờ ông Tiêu Diện và tụng bài kinh Thí thực. Niềm tin này rất thích hợp với người bình dân Việt Nam.
Tôi đã học giáo lý đạo Phật để tìm giải đáp, nhưng càng học càng có thêm những thắc mắc khó giải thích hơn. Ví dụ có chùa chuyên làm bùa Quang Minh và bùa Hải hội, để giải oan cho những linh hồn "nghiệp nặng", chết nhầm vào "ngày xấu". Ngày nay nhiều chùa bói toán xin quẻ. Là một tu sĩ tôi phải học nhiều giới cấm. Càng nhiều giới cấm người ta càng dễ phạm giới, vì thế có một giới cấm đặc biệt là tu sĩ cấp dưới không được tò mò giới luật của tu sĩ cấp trên. Mỗi sáng thức dậy, ai quên đọc câu thần chú trước khi đặt chân xuống đất là mắc tội sat sanh, vì vô ý đạp chết côn trùng trong ngày đó. Hoặc quên đọc câu thần chú uống nước, là mắc tội ăn thịt 8 vạn bốn ngàn con vi khuẩn trong một ly nước. Cạo đầu mà không đọc thần chú cũng có tội. Ở chùa ăn nhiều rau, lắm lần tôi thấy sâu chết trong rau muống luộc. Luộc những nồi rau to tướng như thế là giết rât nhiều sinh vật, thế nhưng không ai học câu thần chú luộc rau cả. Ngày xưa Đức Phật cấm nam tu sĩ đứng tiển tiện, nhưng sau đó dân chúng tưởng rằng tât cả đệ tử của Phật là phụ nữ, Đức Phật phải hủy giới cấm ấy để tránh hiểu lầm.
Vì giới luật nhà tu quá chi li, nên không ai giữ được trọn vẹn một giới luật nào cả. Chẳng ai muốn tiết lộ sự phạm giới của mình. Đáng tiếc là đạo Phật không nhìn nhận một cách minh bạch về vấn đề tội lỗi. Để phá chấp người tu sĩ cấp cao, học về ý nghĩa của sự phi giới và cao hơn nữa là vô phi giới. Mỗi khi ăn cơm, người tu hành đọc ba câu thề nguyện mà không một ai tin mình làm được. Thậm chí người ta đọc quen đến nỗi không cần một ý niệm tha thiết chân thành.
Một là từ bỏ tất cả việc ac (nguyện đoạn nhất thiết ac)
Hai là làm trọn tẫt cả việc lành (nguyện tu nhất thiết thiện)
Ba là hóa độ tât cả chúng sanh (thề độ nhật thiết chúng sanh)
Khi học đến giáo lý cao siêu, tôi được dạy rằng không có tội lỗi, không ai tha tội cho ai, không có địa ngục, không có niết bàn, không ai dựng nên vũ trụ vạn vật mà chỉ do tâm con người tạo ra. Giáo lý nhà Phật không tin vào Đấng Tạo Hóa, không tin nguyên nhân khởi đầu, mà chỉ tin vào lý nhân duyên điệp trùng tiêp nối, khiến vạn vật lưu chuyển như là đang hiện hữu. Vạn vật vốn là vô thủy vô chung, không có cái gì vĩnh cửu (vô thường). Tâm con người châp vào đâu thì có vào đó, chứ thật ra chẳng có cái gì hiện hữu thật sự. Ngay cả tôi đây cũng không phải là tôi. Phần đông tín đồ Phật giáo không hiểu giáo lý của Phật, mà chỉ nghe theo cac vị tu sĩ.
Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ. Có tám nguyên nhân chính gây ra đau khổ. Sinh khổ. Lão khổ. Bịnh khổ. Tử khổ. Thương yêu mà không được gần nhau là khổ (ái biệt ly khổ). Ghet nhau mà phải gần nhau là khổ (oán tăng hội khổ). Ươc muốn không thành là khổ (cầu bât đăc khổ). Thân thể và tâm hồn mât thăng bằng là khổ (ngủ ấm thạnh khổ). Giáo lý quan trọng đầu tiên của đạo Phật là Chân Lý Của Sự Đau Khổ. Muốn diệt đau khổ thì phải diệt sanh sản (diệt dục), diệt gìa nua (diệt lão), diệt bịnh tật, diệt sự chêt. Nhưng chưa đủ, còn phải diệt thương yêu (ái nghiệp), diệt ham muốn (tham), diệt giận hờn (sân si). Muốn diệt khổ tuyệt đối thì phải diệt luôn cả ý muốn thành Phật (vì ai muốn thành Phật là còn tham). Đạo Phật tin vào luật qủa báo thiện ac, nhưng không châp nhận ai là đấng tạo ra luật qủa báo thiện ac công minh, cũng không giải thich luật nhân qủa công minh này từ đâu mà ra.

Tôi cần mẫn học từng bậc, đến khi tôt nghiệp trường đào tạo tăng tài Phật Học Viện Nha Trang và đại học Vạn Hạnh, tôi tự cảm thấy mình đi tu như thế vẫn không tiêu diệt bơt tội lỗi trong tôi. Chưa kịp tiêu diệt tội cũ, tội mới ló mặt ra trong tôi. Nếu có địa ngục, chăc tôi phải vào trươc nhât. Làm một ông thầy tu phải biêt che dấu tội lỗi để được cac đệ tử thờ lạy khi mình còn sống. Người tu hành sau khi đã lên đến bực Đại Đưc, thì khó hoàn tục vì được sự kính trọng qúa cao và hưởng nhiều ưu đãi quá lớn.

Tôi cởi áo Nhà Tu
Tự xet lấy mình tôi đã từng thât vọng trong con đường tu. Đã có khi tôi cảm thấy cần tìm một cái chêt tự thiêu, để giaỉ quyêt ngỏ bí trong tâm hồn mình. Sau khi đọc hai quyển sách của nhà văn Hermann Hesse: Narsiz and Goldmund và Siddhata, tôi liều lĩnh cởi bỏ chiêc áo thầy tu, để ra đời tìm hiểu nhữntg ý nghĩa mà tôi thắc mắc.
Nhưng sau 15 năm quen sống trong chiêc áo tu hành, tôi trở thành người thanh niên khờ khạo, vụng về, không thăng bằng và thât bại. Năm 1973, sau khi thôi tu chừng một năm, tôi cưới vợ, nhưng gia đình tôi bị đổ vỡ rât sớm. Tôi trở lại tu theo phap môn thiền định. Phap môn này, đã giup tôi có bản lĩnh để nhìn biêt một số phản ứng nội tâm, khi thân thể mình ngôì tĩnh lặng. Hơn hai năm tu thiền trươc 30.4.1975, tôi tiêp tục ngồi thiền chăm chỉ trong nhà tù cộng sản. Phap môn thiền định đã giup tôi gặp Phật, gặp Chúa, gặp ông Ghandi, và gặp vô số loài vật cũng như bà con thân thuộc của mình trong qúa khứ mù mờ. Hồi đó tôi nghĩ: hình như họ là kiêp trươc của tôi. Phái thiền Phap Hoa Hội Thượng gọi đó là mật phap. Nhiều bạn thiền của tôi cũng đạt đến kêt qủa như thế. Cũng có người cho đó là hư tưởng trong tạng thưc của mình. Càng ngôì thiền siêng năng tôi càng muốn rời bỏ thế gian để tìm hiểu cái gì sẽ xẩy ra sau khi mình chêt. Ý nghĩ tự tử càng dễ xuât hiện trong tôi. Nhưng trên thực tế, lắm khi tôi sống buông thả tệ hại.
Sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản, tôi lại lập gia đình, nhưng không ngờ gặp nhiều điều ngang trái khac. Thế là gia đình tôi lại đổ vỡ lần nữa. (Xin quý vị đọc hai quyển sach: "Ai chêt cho ai? Ai sống cho ai?" và "Từ áo cà sa đến Thập tự gía" để thấy rõ những chi tiêt này hơn.)

Tôi đọc Kinh Thánh

Tôi đi tu, đã tình nguyện tự thiêu, đã ra đời lấy v���, tu thiền và thât bại....Một cuộc đời răc rối đầy rủi ro và thât bại như thế thì chẳng có gì đáng sống nếu theo con măt phàm tục. Nhưng trong hoàn cảnh bi đat ấy, tôi đã được nhà thơ Bùi Giáng khuyên đọc Kinh Thánh.
Luc đầu tôi không có thiện cảm với Kinh Thánh, nhưng lạ thay, càng đọc Kinh Thánh, tôi càng thấy lời dạy của Chúa là rõ ràng và thực tế hơn giáo lý nhà Phật. Kinh Thánh nói về sự sáng tạo vũ trụ và Đấng Sáng Tạo, trong khi đạo Phật dạy rằng không ai dựng nên vũ trụ mênh mông vô lượng này cả, mà chỉ do tâm con người châp có nên mới có. Kinh Thánh dạy rằng Chúa là tình yêu, trong khi đạo Phật dạy rằng yêu là một sự cảm thọ, là ái nghiệp. Chúa dạy về tội lỗi, nguồn gôc của tội lỗi, quyền năng tha tội và cach giải quyêt vấn đề tội lỗi tận gôc để chiến thắng điều ac. Nhưng đạo Phật dạy rằng tội bổn tánh không (tội lỗi vốn là không), không ai tha tội cho ai, con người phải tự mình thăp đuôc lên mà đi. Chúa dạy phải hiếu kính cha mẹ khi họ còn sống với mình, còn đạo Phật dạy cat ái từ sở thân (lìa bỏ tình thương cha mẹ) như Đưc Thich Ca đã lìa bỏ cha mẹ vợ con, nhưng lại thờ cúng cha mẹ sau khi họ đã qua đời. Chúa dạy chúng ta lấy thân thể mình làm đền thờ Ngài, nhưng Phật giáo dạy sự thờ phụng hình tượng trên bàn thờ gỗ, đá, xi măng. Chúa dạy con người dâng lời cầu nguyện để mở lòng tương giao với Chúa, nhưng Phật giáo dạy dâng nhan đèn, trầm hương lễ vật lên hình tượng, để bày tỏ lòng thành. Chúa mặc khải ơn cứu rỗi để giải phóng con người ra khỏi bản tính tội lỗi trươc, rồi sẽ học làm điều lành sau; nhưng Phật giáo dạy rằng con người phải giữ giới cấm, để tự làm cho mình trở nên toàn thiện, không cần ơn thiên thượng.
Trên thực tế, con người dễ làm ac, khó làm điều lành. Có những tu sĩ thật tâm tu niệm, họ tự cấm khẩu hàng tháng trời, cũng có vị tự nhập thât giam mình hàng tháng trong phòng kín để ngồi thiền hoặc tụng kinh. Nhưng bản chât của tội lỗi trong con người không thể xóa sạch bằng hành vi hãm mình khổ hạnh. Lắm khi vì hãm mình khổ hạnh, người tu sĩ vâp phải những tội lỗi "kỳ cục" hơn người ngoài. Trong giới tu sĩ Phật giáo có nhiều người tôt, nhưng người tôt chưa hẳn là người chiến thắng tội lội của mình. Thậm chí có người biêt mình tu không được, đã từng đôt từng ngón tay để thề nguyện, quyêt tâm tu; hoặc tự chặt đưt bộ phận kín của mình, nhưng sau đó vẫn phạm giới rât thê thảm. Chỉ có người quyêt chí đi tu mới phải đau lòng khi thấy mình không làm sao tu được. Nhưng đa số tu sĩ khó rời chiêc áo, vỉ quyền lợi của một bậc tu hành trong Phật giáo qúa lớn. Người Phật tử phải thờ ba ngôi Tam bảo : Phật bảo (tât cả cac Đưc Phật), Phap bảo (tât cả giáo lý nhà Phật), Tăng bảo (hàng ngũ tu sĩ). Hồi đó tôi sợ nhât là mình được xêp vào hàng ngũ đáng tôn thờ, vì tôi nghĩ đây là lý do khiến tôi dễ vào địa ngục nhât. Khi ngồi trên cao cho hằng trăm người khac lạy, làm sao người ta thể hiện đưc khiêm nhường và vô ngã trong thâm tâm?

Cầu nguyện Chúa có kêt qủa, tôi phải Tin...
Khi đọc Kinh Thánh, tôi thấy lời Chúa dạy rõ ràng và đơn giản. Nếu mình thật lòng thực hành là có thể thấy kêt qủa đúng hay sai. Luc đầu tôi chỉ làm thử; nếu đúng tôi tin, nếu sai tôi bỏ Kinh Thánh. Sau khi tôi đã thử cầu nguyện âm thầm một mình, theo lời dạy của Chúa trong sach Giăng: 13:13,14. Chúa đã ban cho tôi những phep lạ thật kỳ diệu và thật là cụ thể. Bươc đầu tiên tôi không dám tin lắm, nhưng nhiều lần cầu nguyện có kêt qủa tôi phải tin. (Xem thêm hai quyển sach nói trên). Ngày nay tôi sống trong Đưc Tin của Chúa, sự cầu nguyện và kêt qủa của sự cầu nguyện chẳng khac gì mình thụ hưởng thưc ăn điều độ và hit thở khí trời trong lành, ăt phải có sưc khẻo tôt cho mình mà thôi.
Sau khi trở về trong Chúa, tôi được Chúa thay đổi bản tính tội lỗi, để được mặc vào bản tính mới: tự do, nhẹ nhàng, khoan khoái thật là tuyệt vời. Chúa cho tôi đăc thắng tội lỗi mà không kiêu ngạo và Chúa cũng cho tôi thấy cái vực thẳm giữa sự thánh khiêt và tội lỗi là rât mong manh, nhưng hai thế giới ấy cach xa nhau lắm.
Mỗi ngày sống trong Chúa qủa thật là qúy báu. Dù bị thế gian băt bớ hiểu lầm, bị xuyên tạc, tôi vẫn là một người hạnh phuc và yêu qúy mọi người. Không thât vọng, không nghi ngờ, tôi vui thỏa từng giờ, từng ngày. Đó là sự bình an, sự yên nghỉ mà Chúa hứa ban cho bât cứ ai muốn đi theo Ngài. Tôi tiêp tục sống với Lời Chúa và nhận đư��c những kêt qủa vô cùng lớn lao. Khi cầu nguyện linh hồn tôi bình tịnh, tỉnh táo, nhẹ nhàng, khiêm hạ và thực tế chứ không mù mờ như khi ngồi thiền trươc đây. Bổn tánh nhân từ thánh khiêt của Chúa, được bồi đăp thêm trong con người mới của tôi mỗi ngày rât cụ thể. Đây là những kêt qủa qúy báu, để làm bằng chứng về nươc Thiên đàng mai sau như lời Chúa hứa.

Đối chiếu Phật Học và Kinh Thánh

Đối chiếu Phật Học và Kinh Thánh, nhất là kinh nghiệm tu hành theo đạo Phật với kêt qủa kỳ diệu trong Đưc Tin Chúa ban cho tôi, tôi nhận thấy rằng Thái tử Tât Đạt Đa là một người thiêt tha tìm con đường giải thoat, sau bốn lần ra khỏi cung vua để nhìn thấy cuộc đời toàn là đau khổ. Với bản tính một người Ấn Độ, thái tử đã suy niệm sâu xa về sự huân tập đưc tánh xấu trong con người, nhưng thái tử chưa thấu đạt nguyên nhân của sự huân tập ấy, là tội lỗi của con người như Kinh Thánh đã nói rõ. Vì thế thái tử cho là nghiệp lực thay vì là tội lỗi.
Tiếc thay thời đó Kinh Thánh Cựu Ươc chưa được truyền qua Ấn Độ, mặc dù thái tử đã học nhiều tôn giáo khac nhau. Là một người thông minh vượt bực, lại có lương tâm nhạy bén, thái tử Tât Đạt Đa không thỏa mãn với những luồng tư tưởng và tôn giáo nặng thần bí theo văn hóa Ấn Độ. Sáu năm đầu sau khi từ bỏ hoàng cung để quyêt chí tu học, thái tử đã thât bại với phap môn khổ hạnh đầu đà. Rôt cuộc thái tử Tât Đạt Đa cương quyêt ngồi thiền bên bờ sông Ni Liên. Ngài thề rằng "Nếu ta không tìm ra chân lý thà chêt chứ không đứng dậy khỏi chổ này". Khi ngồi thiền, thái tử đã thấy những hiện tượng nội tại như ngày nay nhiều người ngồi thiền cũng đã thấy. Từ đó Ngài nghĩ rằng mình đã thành Phật. (Ngày nay nhiều người ngồi thiền cũng đã tự xưng mình đã thành Phật).. Giáo lý của Ngài đã bị cac thế hệ sau thêm thăt qúa nhiều, khiến cho mẫu thuẫn và bị mê tín hóa. Ví dụ Phật giaó Việt Nam có nhiều điều không bà con gì với Phật giáo Ấn độ. Cac bộ kinh của Phật chỉ được truyền khẩu qua nhiều thế kỷ, trươc khi được ghi lại bằng trí nhớ của môn đệ. Đó là lý do khiến kinh Phật bị thât bản và bị thêm thăt thành "thiên kinh vạn quyển" khiến nhiều người học đạo đã lạc đường rồi mà vẫn chưa hay biêt gì cả, hoặc có biêt phần nào cũng cam chịu nhắm măt đưa chân.
Phần đông người ta không đủ can đảm để tự hỏi đâu là chân lý ngoài cac nghi thưc cố châp và triêt lý mơ hồ. Vì không có chân lý, những mâu thuẫn sờ sờ cũng không ai màng che đậy.
Ví dụ nghi thưc quy y thì có ba câu thề nguyện, câu đầu là "Qui y Phật, tôi thề sẽ không quy y, trời, thần, quỷ vật, nhưng câu nói đầu tiên ở cửa miệng người ta là "Cầu Trời, khẩn Phật"
Nghĩa là cầu Trời trước, khẩn Phật sau. Còn thờ lạy thì thờ lạy đủ cac loại thần mà họ không biêt, kể cả thần Quan Công, thần Hộ Phap, thần chú, thần hoàng thổ địa, thần cô hồn các đảng.

Kinh nghiệm theo Chúa của Tôi
Sau hơn hai mươi năm theo Chúa, mọi thăc măc của tôi đã được Kinh Thánh giải đap cả ba mặt: thân thể, tâm trí và tâm linh. Tôi đã nhận được nhiều phep lạ lớn lao. Bản thân tôi được Ngài chữa lành bịnh đau bao tử, bịnh trầm uât. Con trai tôi đã bị sôt xuât huyêt tăt thở, được Chúa chữa lành đang khi cầu nguyện. Những thói hư tật xấu của tôi được loại bỏ, để được thay thế vào những đưc tánh mới mẻ, nhân từ, thánh khiêt từ Đưc Chúa Trời mà tôi không cần phải khổ công tu luyện như trươc đây.
Giải đáp lớn nhât đối với tôi là sự hiện diện của Chúa Thánh Linh trong con người vốn tầm thường yếu đuối của tôi, để làm cho tôi nên mạnh mẽ...Chúa đã cho tôi thấy nhiều giâc mơ tuyệt diệu, nhưng riêng tư và thực tế đến nỗi khó tả cho ai biêt. Tôi giữ chứng cớ Ngài trong lòng một cach kín nhiệm và hạnh phuc hân hoan. Chúa cho tôi chứng cớ của Ngài một cach thực tế đến nỗi ai phịa ra lời chứng dối là khó che dấu được với Ngài trong tôi, giống như ai đã biêt ba tôi và nói với tôi rằng đã gặp, đã quen, đã sống với ông cụ là tôi biêt ngay người đó nói thật đến mưc độ nào. Chúa đã cho tôi kinh nghiệm sống để biêt Kinh Thánh là Lời sống trong năng quyền của Đưc Thánh Linh chứ không phải là lý thuyêt suông. Để mạc khải ơn tha thứ, trươc hêt Ngài đã tha tội cho tôi. Để mạc khải tình yêu thiêng liêng, trươc hêt Ngài đã yêu tôi và gánh chịu tội lỗi cho tôi trên thập gía.
Tình yêu của Chúa là một bản tính thực tế đầy hiệu năng trong cuộc sống thường nhật, chứ không chỉ là một sự diễn tả bằng lời nói hay chữ viêt. Với những bằng chứng thực tế này, tôi qủa quyêt tiêp tục vui mừng và tin cậy Chúa như những gì Ngài dạy trong Kinh Thánh, dù hôm nay tôi chưa nhìn thấy hêt. Chúa Giêsu phán: "Vì ngươi thấy ta nên ngươi tin; phươc cho kẻ chẳng từng thấy mà đã tin". Ôi Lời Chúa thật là tuyệt vời! Cảm tạ Chúa.
Kinh Thánh nói: "Tiền công của tội lỗi là sự chêt; nhưng sự ban cho của Đưc Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đưc Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta (Roma 6:23)". Chúa dạy rằng tội lỗi di truyền trong dòng dõi loài người sau khi tổ tiên của chúng ta đã phạm tội. Chúng ta có thể tu và sửa cái phong cach bề ngoài cho tôt đẹp, nhưng bản tính tội lỗi bên trong thì không thể nào tự sửa chữa được. Vì thế Ngài ban Con Một của Ngài đến thế gian để gánh cái ach tội lỗi cho chúng ta.
Điều đáng tiếc là còn nhiều người đang khươc từ ơn cứu rỗi của Chúa. Ai muốn giải quyêt nguồn gôc tội lỗi thì phải quay về với Đấng dựng nên chúng ta. Ngài có quyền xét đoán chúng ta và cũng có quyền tha thứ cho chúng ta. Ngài ban cho chúng ta Ảnh Tượng của Ngài, nhưng chúng ta phạm tội nên đã đánh mất Ảnh Tượng thiêng liêng của Ngài. Kinh Thánh nói "Vì mọi người đều đã phạm tội, nên đã thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Roma 3:23)
Đức Chúa Trời yêu con người dù con người đã phạm tội. Nhưng Đức Chúa Trời không châp nhận tội lỗi, nên Ngài đã lập kế hoạch giải cứu con người ra khỏi tội lỗi. Giải pháp của Ngài có hai phần chính: tha thứ tất cả các vi phạm đã qua từ trong bản chất đến hành vi, và dẫn dắt chúng ta vào sự sống mới để thắng tội lỗi. Tất cả giải pháp của Ngài đều đặt trong Con Một của Ngài là Chúa Cứu Thế Jesus Christ. Chúa Jesus Christ xác nhận rằng "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu hể ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời" (Giăng 3:16)
Chúa Jesus Christ đã hiện đến thế gian suốt 2000 năm qua. Ngài đã chết trên thập tự giá để sự chết cứu chuộc của Ngài là nơi mà chúng ta đem tội l��i mình đến để đặt vào bằng tấm lòng ăn năn và tin cậy. Ai tin vào ơn cứu chuộc của Ngài, thì tội lỗi người ấy bị đóng đinh để đồng chết với Ngài trên thập tự giá. Nhưng Ngài là Đấng đến từ Đức Chúa Trời, nên Đưc Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại. Quyền năng sống lại của Ngài đem đến cho kẻ tin Ngài sức sống phục sinh mới mẻ. Nhờ sức sống phục sinh mới mẻ này, con người chúng ta biết được Ảnh Tượng của Đưc Chúa Cha trong chúng ta vốn bị tội lỗi che lâp. Ảnh Tượng của Ngài được tái dựng trong chúng ta, để chúng ta tái sở hữu bằng chứng của địa vị làm con Đưc Chúa Trời.
Nếu chúng ta không trở về với Chúa, nghĩa là chúng ta vẫn để tội lỗi cai trị chúng ta và tội lỗi ngăn cách tình cha con của Đức Chúa Trời và chúng ta. Nếu khước từ ơn tha tội của Chúa, chúng ta sẽ vào địa ngục sau khi chết phần xác. Ví dụ một đứa con từ bỏ cha mẹ, dù nó ăn chay trọn đời vẫn mang tội bất hiếu. Một người từ chối Đấng tạo nên mình, dù có tự đặt ra cho mình bao nhiêu giới tu, vẫn là một người có tội với Trời. Trước phải quay lòng về với Chúa, sau đó mới nói tới chữ tu theo sự dắt dẫn của Ngài.

Kính thưa qúy vị,
Khả năng con người có giới hạn, đặc biệt khả năng làm điều lành của con người thì qúa it ỏi và rất chủ quan. Chúng ta chỉ học theo ý tưởng của loài người để làm lành, nhưng chúng ta vô tình vẫn làm những điều ac mà mình không biết hết. Vậy điều lành đúng nhất là điều lành trong Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng ra vũ trụ và loài người. Các vĩ nhân như Khổng tử, Lão tử, Đức Thich Ca đều là người như chúng ta, vì thế những tư tưởng và đạo lý của họ vẫn có giới hạn nhất định, điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả. Kinh Thánh ghi rằng ý tưởng của Đức Chúa Trời là vô cùng cao siêu không giống như ý tưởng của loài người. Và chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời , là Đấng dựng nên tất cả, là Đấng tha tội cho ai ăn năn, là Đấng xét đoán bất cứ ai cứng lòng và vô tín. Dù chúng ta chấp có hay chấp không, Chúa cũng đã dựng nên tất cả rồi...
Hơn 20 năm trở về trong Chúa, tôi được Ngài giải đap tât cả những thăc măc nội tâm, được Ngài tái sinh thành con người mới trong tâm linh, được sống hạnh phuc thỏa lòng trong tình yêu siêu thoát của Ngài. Tôi kinh nghiệm được quyền năng và sức sống phục sinh của Chúa Jesus Christ. Bất cứ ai quay lòng về với Chúa Jesus Christ đều được Ngài tái lập làm con Đức Chúa Trời, được nếm trải tình yêu thiêng liêng của Ngài và được sống hạnh phúc thỏa lòng. Kinh nghiệm sống hạnh phúc và đắc thắng tội lỗi là vô cùng tuyệt vời.
Mặc dù hơn 20 năm qua bị thử thách, bị bắt bớ, bị hiểu lầm trong xã hội Việt Nam, nhưng tôi vẫn là một người hạnh phúc, không thất vọng, không oán than như ngày trước. Những thất bại, những thiệt thòi của tôi ngày trước đều được Chúa ban lại những thành công thiêng liêng đầy hạnh phúc hôm nay. Khi ở trong Chúa, cuộc đời chúng ta thật là đáng quý, đáng được hưởng những phước hạnh trần gian và phước hạnh thiêng liêng. Đạo Phật nói đời là bể khổ. Giáo lý này chỉ đúng trên mặt tiêu cực của những người không tiếp nhận đức tin Con Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ mà thôi. Thật ra đời còn nhiều điều đáng hưởng, vì thế ai cũng thích sống lâu. Trong Chúa Jesus Christ cuộc đời rất đẹp quý vị ạ.
Có thể một vài anh em trong hàng ngũ Phật giáo cực đoan, cảm thấy khó chịu khi đọc bài làm chứng này. Nhưng đó là bản tính con người bình thường, vừa tốt vừa xấu, vừa đúng vừa sai trong mỗi chúng ta. Tội lỗi rất tinh vi, nó khiến chúng ta ưa phân rẽ, ưa hận thù vì những khác biệt về tôn giáo, văn hóa, dân tộc...Mọi tôn giáo, văn hóa và dân tộc giữa thế gian này đều tạm bợ. Vì thế gian là cõi tạm. Thế gian có quá nhiều tín ngưỡng. Tín ngưỡng này thờ khỉ, tín ngưỡng kia thờ bò, tín ngưỡng nọ thờ chuột, tín ngưỡng ấy thờ hình tượng, lại có tín ngưỡng thờ vĩ nhân, thờ bình vôi, thờ ông táo, thờ cây đa...nhưng thảy đều thờ những tạo vật hữu hạn hoặc vô tri. Kinh Thánh dạy chúng ta phải hết lòng, hết ý thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên chúng ta. Chúa Jesus Christ đến từ Đức Chua Trời để mạc khải Đức Chúa Trời cho chúng ta.
Tôi thành tâm tha thiết kêu gọi anh chị em từ mọi tôn giáo, văn hóa và dân tộc nên mạnh dạn trở về trong Chúa Jesus Christ để nhận ơn tha tội, để được tái sinh, để được sống đời đời và được nhận lại bản tính nhân lành của Cha thiêng thượng. Bất cứ ngày nào còn sống, tôi muốn nói lên chân lý này, và bất cứ lúc nào lìa khỏi xác thân để về với Chúa là tôi được hưởng nước trời vĩnh cửu.
Gặp Chúa là vô cùng hạnh phúc, không ai có thể ngậm miệng, không ai nỡ mặc nhiên châp nhận những ý kiến chung chung cho rằng "đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy làm lành lánh dữ". Thế gian có nhiều tôn giáo mê tín sai lầm, cũng có tôn giáo dạy điều sai lạc; nếu không dứt khoá́t trở về trong Chúa, con người chúng ta không thể giải quyết được vấn đề tội lỗi của mình và chỉ tiêp tục sống trong mù mờ tăm tối cho đến khi linh hồn hư mất trong tối tăm
Kính mong anh chị em sớm trở về trong Chúa Jesus Christ để được hưởng tiên vị thiên đàng ngay hôm nay. Muốn thật hết lòng.
Nguyễn Huệ Nhật

-------------------------------------------