mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5003
mod_vvisit_counterHôm Qua10890
mod_vvisit_counterTuần Này15893
mod_vvisit_counterTuần Trước57635
mod_vvisit_counterTháng Này184598
mod_vvisit_counterTháng Trước256467
mod_vvisit_counterTất cả13554775

We have: 264 guests online
Your IP: 54.87.61.215
 , 
Today: May 20, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



KINH THÁNH LÀ BỨC THƯ TÌNH -THỨ BẢY CN6TN-C PDF Print E-mail

Thứ Bảy Tuần 6 TN1, Năm lẻ

BỨC THƯ TÌNH CHÚA GỞI: Bài đọc: Heb 11:1-7; Mk 9:2-13.

Reading :

Heb 11:1-71 Only faith can guarantee the blessings that we hope for, or prove the existence of realities that are unseen.

2 It is for their faith that our ancestors are acknowledged.

3 It is by faith that we understand that the ages were created by a word from God, so that from the invisible the visible world came to be.
4 It was because of his faith that Abel offered God a better sacrifice than Cain, and for that he was acknowledged as upright when God himself made acknowledgement of his offerings. Though he is dead, he still speaks by faith.

5 It was because of his faith that Enoch was taken up and did not experience death: he was no more, because God took him; because before his assumption he was acknowledged to have pleased God.

6 Now it is impossible to please God without faith, since anyone who comes to him must believe that he exists and rewards those who seek him.

7 It was through his faith that Noah, when he had been warned by God of something that had never been seen before, took care to build an ark to save his family. His faith was a judgement on the world, and he was able to claim the uprightness which comes from faith.

1/ Bài đọc I: 1 Đức tin là bảo đảm cho những điều ta hy vọng, là bằng chứng cho những điều ta không thấy.

2 Nhờ đức tin ấy, các tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám.

3 Nhờ đức tin, chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi lời của Thiên Chúa; vì thế, những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có.

4 Nhờ đức tin, ông A-ben đã dâng lên Thiên Chúa một hy lễ cao quý hơn hy lễ của ông Ca-in: nhờ tin như vậy, ông A-ben đã được chứng nhận là người công chính, bởi vì Thiên Chúa đã chấp nhận những lễ phẩm ông dâng. Và cũng nhờ tin như thế, mà tuy đã chết rồi, ông vẫn còn lên tiếng.

5 Nhờ đức tin, ông Kha-nốc được đem đi nơi khác để khỏi chết, và người ta không tìm thấy ông nữa, bởi vì Thiên Chúa đã đem ông đi. Quả thật, Kinh Thánh chứng nhận rằng: trước khi được đem đi, ông đã làm đẹp lòng Thiên Chúa.

6 Mà không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa, vì ai đến gần Thiên Chúa, thì phải tin là có Thiên Chúa và tin Người là Đấng ban phần thưởng cho những ai tìm kiếm Người.

7 Nhờ đức tin, ông Nô-ê được Thiên Chúa báo cho biết những gì người ta chưa thấy; vì có lòng kính sợ Thiên Chúa, ông đã đóng một chiếc tàu để cứu gia đình ông. Tin như thế là ông đã lên án thế gian, và được phần gia nghiệp là sự công chính nhờ đức tin.

Gospel:

Mk 9:2-13.2 Six days later, Jesus took with him Peter and James and John and led them up a high mountain on their own by themselves. There in their presence he was transfigured:

3 his clothes became brilliantly white, whiter than any earthly bleacher could make them.
4 Elijah appeared to them with Moses; and they were talking to Jesus.

5 Then Peter spoke to Jesus, 'Rabbi,' he said, 'it is wonderful for us to be here; so let us make three shelters, one for you, one for Moses and one for Elijah.'

6 He did not know what to say; they were so frightened.

7 And a cloud came, covering them in shadow; and from the cloud there came a voice, 'This is my Son, the Beloved. Listen to him.'

8 Then suddenly, when they looked round, they saw no one with them any more but only Jesus.

9 As they were coming down from the mountain he warned them to tell no one what they had seen, until after the Son of man had risen from the dead.

10 They observed the warning faithfully, though among themselves they discussed what 'rising from the dead' could mean.

11 And they put this question to him, 'Why do the scribes say that Elijah must come first?'

12 He said to them, 'Elijah is indeed first coming to set everything right again; yet how is it that the scriptures say about the Son of man that he must suffer grievously and be treated with contempt?

13 But I tell you that Elijah has come and they have treated him as they pleased, just as the scriptures say about him.'

2/ Phúc Âm: 2 Sáu ngày sau, Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, chỉ mình các ông thôi, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mắt các ông.

3 Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy.

4 Và ba môn đệ thấy ông Ê-li-a cùng ông Mô-sê hiện ra đàm đạo với Đức Giê-su.

5 Bấy giờ, ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng: "Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều, một cho Thầy, một cho ông Mô-sê, và một cho ông Ê-li-a."

6 Thực ra, ông không biết phải nói gì, vì các ông kinh hoàng.

7 Bỗng có một đám mây bao phủ các ông. Và từ đám mây, có tiếng phán rằng: "Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người."

8 Các ông chợt nhìn quanh, thì không thấy ai nữa, chỉ còn Đức Giê-su với các ông mà thôi.

9 Ở trên núi xuống, Đức Giê-su truyền cho các ông không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại.

10 Các ông tuân lệnh đó, nhưng vẫn bàn hỏi nhau xem câu "từ cõi chết sống lại" nghĩa là gì.

11 Các ông hỏi Đức Giê-su: "Tại sao các kinh sư lại nói ông Ê-li-a phải đến trước?"

12 Người đáp: "Đúng thế, ông Ê-li-a đến trước để chỉnh đốn mọi sự. Vậy sao có lời chép rằng Con Người phải chịu nhiều đau khổ và bị khinh chê?

13 Nhưng Thầy nói cho anh em biết: ông Ê-li-a đã đến, và họ đã xử với ông theo ý họ muốn, như Sách Thánh đã chép về ông."

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Tin Thiên Chúa đòi chúng ta chấp nhận đường lối của Ngài.

Niềm tin đòi hai chiều: Nếu chúng ta tin những gì người khác nói là thật, chúng ta phải làm những điều họ nói; chúng ta không thể “nói một đàng, làm một nẻo.” Ví dụ, vợ nói là tin chồng; nhưng lúc nào cũng đi sát bên chồng để xem chồng có thực sự chung thủy với mình hay không! Niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa cũng thế: tin Thiên Chúa là phải giữ những gì Ngài truyền.

Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong niềm tin vào Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, tác giả Thư Do Thái nhắc lại những chứng nhân đức tin trong lịch sử: Abel, Enoch, và Noah. Các ông tin Thiên Chúa và làm tất cả những gì Ngài truyền, dù Ngài có mặt hay không có mặt. Nhờ đức tin vào Thiên Chúa, các nhân vật này đã được Thiên Chúa thưởng công xứng đáng với những gì họ đã hy vọng. Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu mang 3 môn đệ thân tín lên núi Tabor để cho họ nhìn thấy vinh quang đích thực của Ngài với các nhân nhứng lừng danh của Cựu Ước, Moses và Elijah. Mục đích của việc biến hình là để các ông tin Ngài là Thiên Chúa; và sẵn sàng chấp nhận một Đấng Thiên Sai chịu đau khổ để cứu chuộc con người.

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Tin nơi Thiên Chúa đòi chúng ta phải thực hành những gì Ngài truyền. Nếu chúng ta nói tin vào Chúa và không thực thi những gì Thiên Chúa dạy, sự thật không có trong chúng ta.

- Rất nhiều lần chúng ta không thực hành những gì Thiên Chúa dạy, vì đó không phải là điều chúng ta mong muốn; nhưng làm theo những gì Thiên Chúa muốn sẽ đem lại kết quả tốt cho chúng ta.

- Những lúc nghi ngờ quyền năng Thiên Chúa, chúng ta hãy noi gương các chứng nhân trong lịch sử: tổ phụ Abraham, Abel, Noah, Thánh Giuse, Đức Mẹ, Thánh Phaolô... Tất cả những gì Thiên Chúa hứa đều đã được thực hiện.

LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP

Kính chuyển:

Hồng

--------------------------------