mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5550
mod_vvisit_counterHôm Qua5337
mod_vvisit_counterTuần Này5550
mod_vvisit_counterTuần Trước55320
mod_vvisit_counterTháng Này158794
mod_vvisit_counterTháng Trước198792
mod_vvisit_counterTất cả9421888

We have: 187 guests online
Your IP: 54.81.131.189
 , 
Today: Oct 22, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Chia sẻ tại nhà quàn
CHIA SE TAI NHA QUAN # 54 = CAN TIM DAO THAT PDF Print E-mail

CÕI ĐỜI TẠM NÀY CẦN TÌM ĐẠO THẬT

 Hôm nay bạn còn ở cõi tạm này, là cơ hội để bạn tìm hiểu đâu là Đạo Thật? Xin bạn đừng thờ ơ, vì không ai hưởng hạnh phúc thiên đàng đời đời thay cho bạn, và cũng không ai chịu khổ đau mãi mãi trong hỏa ngục thay cho bạn. Thời gian qua nhanh hơn bạn nghĩ, cuộc đời ngắn ngủi hơn bạn ngờ; vào lúc bạn không nghĩ, không ngờ, bạn phải đối diện với cõi đời đời. Biết bao cái chết bất ngờ cho người nọ, người kia, không là bài học cho chúng ta hay sao?

Thánh Anphongsô: "Ai cũng biết rằng mình sẽ chết, nhưng khốn thay, nhiều người nghĩ rằng những người già cả, ốm yếu mà còn sống được ba bốn năm nữa, huống chi là mình. Nhưng con hãy biết, đã bao nhiêu người chết một cách bất ưng, khi họ đang ngồi, đang đi, đang ngủ... Có ai trong họ nghĩ rằng sẽ chết, trong giây phút kế tiếp đâu?"

Vua Salomon, vị vua cực giàu có và thông minh đã hưởng mọi thú vui trần thế, nhưng vào ngày cuối đời, ông đã phải thôt lên lời nhận xét về những lạc thú ở trần gian như sau: "Phù vân tiếp nối phù vân, mọi sự ở đời chỉ là phù vân"

 Theo sử liệu của thánh Francesco De Geronimo (1642-1716). Thánh Girolamo là một linh mục dòng Tên, sinh tại Taranto, nhưng hoạt động tông đồ và qua đời tại Napoli, miền Nam nước Ý. Mục vụ nổi bật nhất của ngài là giảng các tuần đại phúc. Vào thời kỳ ấy, các buổi giảng thuyết thường diễn ra nơi các đường phố, tại các công viên, giữa các quảng trường, hay trong các khu vực có những nhà điếm. Mục đích của thánh nhân là mời gọi mọi người hồi tâm thống hối, trở về cùng Thiên Chúa và sống ngay chính.
Một hôm, thánh Geronimo giảng trước đám đông, kéo đến nghe ngài nơi quảng trường thành phố Napoli. Gần đó, trong căn nhà có cửa sổ nhìn xuống quảng trường, có một phụ nữ trắc nết sinh sống. Với chủ đích quấy phá và lấn át tiếng nói của vị thánh, bà cất tiếng la hét ầm ĩ và múa máy lung tung. Mọi lời khuyến cáo bà im đi, đều vô hiệu. Thánh Geronimo đành bỏ dở buổi giảng thuyết hôm ấy.
Ngày hôm sau, thánh nhân trở lại chỗ cũ. Ngạc nhiên vì thấy cửa sổ phòng bà kia đóng kín mít, thánh nhân hỏi lý do tại sao. Người ta cho ngài biết, bà ta đã bất ngờ qua đời trong đêm. Thánh nhân liền nói: "Chúng ta hãy đi xem bà". Một số đông đi theo ngài và trông thấy xác bà còn nằm sóng soài dưới đất. Như được linh hứng, thánh nhân cất tiếng hỏi:
- "Hỡi Catarina, nhân danh Chúa, hãy nói cho mọi người đang có mặt đây biết, bà đang ở đâu". Tức khắc, đôi mắt người quá cố hé mở, đôi môi động đậy. Rồi bằng một giọng khàn khàn, khủng khiếp, bà trả lời:
- "Ở trong Hỏa Ngục .. Tôi bị trầm luân trong Hỏa Ngục đời đời kiếp kiếp!".
Mọi người hiện diện toát mồ hôi lạnh, dựng tóc gáy!. Lúc xuống cầu thang, thánh Geronimo lẩm nhẩm lập lại:
- "Trong Hỏa Ngục mãi mãi .. Ôi Thiên Chúa công minh, đáng sợ biết là chừng nào!".
Đa số những người chứng kiến cảnh tượng hãi hùng đó, không muốn trở về nhà, trước khi xét mình kỹ lưỡng, thành tâm thống hối và sốt sắng lãnh nhận bí tích Giải Tội.
Linh mục Francesco De Geronimo được Đức Giáo Hoàng Pio 7 (1800-1823) tôn phong chân phước ngày 2-5-1806 và được Đức Giáo Hoàng Gregorio 16 (1831-1846) nâng lên hàng hiển thánh ngày 26-5-1839. Trong hồ sơ xin phong thánh cho ngài, ghi lại chứng từ của một người như sau:
-"Con có mặt trong biến cố kinh hoàng ấy. Nhưng con không biết trình bày ra sao, diễn tả như thế nào cho đúng tâm tình của con cũng như của mấy người khác. Con chỉ biết nói rằng, cứ mỗi lần có dịp đi ngang quảng trường và trông thấy cánh cửa sổ ấy, con như còn nghe rõ ràng tiếng nói khàn khàn khủng khiếp:
- "Trong Hỏa Ngục .. Tôi bị trầm luân đời đời trong Hỏa Ngục!".
( "Hỏa Ngục" của Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt)

----------------------------------

 
CHIA SE TAI NHA QUAN # 53 = DAU KHO - CAI CHET PDF Print E-mail

NỖI BẤT HẠNH

CỦA NHỮNG KẺ KHÔNG CÓ ĐỨC TIN

ĐAU KHỔ

Khốn cho những kẻ không có đức tin vì họ sẽ chẳng tìm thấy được niềm ủi an trong những giây phút đau khổ và nhất là khi phải đứng trước cái chết.

Đúng thế. Dù chúng ta có thành công trên đường đời, dù gia đình chúng ta có đầy đủ mọi tiện nghi vật chất, dù bản thân chúng ta luôn sống trong nhung lụa và được hưởng thụ mọi vui thú, thì cũng có những lúc tâm hồn chúng ta khao khát một niềm an ủi và kiếm tìm một niềm hạnh phúc. Đó là những lúc chúng ta phải đau khổ.

Có một nhà bác học người Anh đã kể lại một câu chuyện như sau :

Hôm đó, trong khi đi dạo tại khu vực "ổ chuột" dành cho dân ngèo tại

thành phố Dublin, ông đã gặp một người đàn bà đang nằm hấp hối bên vỉa hè. Người đàn bà ấy đã hỏi :

- Ông có phải là bác sĩ hay không ?

Ông trả lời :

- Không. Thế nhưng, bác sĩ cũng sắp tới.

Người đàn bà nói tiếp :

- Xin ông hãy cầu nguyện để tôi khỏi chết trong tội lỗi.

Nhà bác học quì xuống bên cạnh bệnh nhân và cầu nguyện cho tới khi bác sĩ và vị linh mục đến. Người đàn bà liền nói :

- Xin Chúa trả công cho ông và bây giờ tôi rất vui mừng và sung sướng.

Nhà bác học thầm nghĩ :

- Nếu tôi đem những kiến thức của tôi ra để nói với người đàn bà ấy, liệu có ích lợi gì...người đàn bà chỉ xin tôi cầu nguyện để được chết trong bình an.

Trong khi đó, kẻ không có đức tin, kẻ vô tín ngưỡng biết dựa vào đâu để tìm cho mình niềm an ủi ?

Dù không tin vào Thiên Chúa chăng nữa, thì vẫn còn tội lỗi. Phải. Tội lỗi đè nặng trên chúng ta như một tảng đá, làm cho chúng ta phải đau khổ và chẳng hề được nguôi ngoai.

Con người đi tìm hạnh phúc trong khoa học, nhưng khoa học không thể nào thỏa mãn các nhu cầu cần thiết và chính đáng của chúng ta. Nếu chúng ta nghi ngờ và chán nản, thì còn đâu là hạnh phúc. Nếu chúng ta ngao ngán và thất vọng, thì còn đâu là hạnh phúc.

Ai sẽ đem lại sức mạnh và can đảm khi chúng ta gặp phải gian nan và thử thách ? Ai sẽ đem lại an ủi và khích lệ khi chúng ta đau yếu và bệnh tật ? Ai sẽ đem lại câu trả lời cho chúng ta trong giây phút khổ đau và bất hạnh ?

Như vậy, khốn cho những kẻ không có đức tin vì họ không tìm thấy được sự bình an. Chúng ta hãy nghe Anatole France, một tiểu thuyết gia nổi tiếng và cũng là một kẻ vô thần, luôn phỉ báng tôn giáo, ông đã tâm sự về cuộc đời mình như sau :

- Phải chi bạn thấu hiểu được cõi lòng tôi, bạn sẽ kinh hãi thụt lùi. Tôi tưởng trên trần gian này không ai bất hạnh hơn tôi...người ta thấy tôi được may mắn thì phân bì và ghen tương, nhưng còn tôi, tôi chẳng bao giờ biết hạnh phúc là gì, dù chỉ một ngày, một giờ, một phút mà thôi cũng chẳng có.

CÁI CHẾT

Nhưng bất hạnh hơn cả cho kẻ không có đức tin, đó là khi họ phải đối diện với cái chết.

Dù những bản thánh ca Giáng sinh không làm cho tâm hồn họ bồi hồi xúc động, dù hồi chuông Phục sinh reo vang những tiếng mừng vui Alleluia không gợi lên cho họ điều gì, thì đứng trước ngôi mộ của một người thân yêu vừa mới qua đời, chắc hẳn một ý tưởng sẽ lóe lên trong đầu óc họ :

- Một ngày kia, tôi cũng sẽ phải trở về với hư vô và thân xác tôi chỉ còn lại một nắm cát bụi.

Hay như Nguyễn Du đã viết :

- Trăm năm nào có gì đâu,

Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì.

Nhưng đối với chúng ta, những người có đức tin thì khác. Chết không phải là hết, không phải là rơi vào khoảng hư vô. Thân xác của chúng ta có thể trở về cát bụi, nhưng tư tưởng, tình cảm và ước vọng...hay nói cách khác linh hồn của chúng ta không do thân xác, nên cũng không thể trở về cát bụi.

Nhờ cái chết, chúng ta mới được bước vào cõi sống. Và như thế, cái chết chính là khung cửa hẹp dẫn chúng ta vào miền hạnh phúc vĩnh hằng.

Bởi đó, chúng ta có thể bình thản và hân hoan đón nhận cái chết. Nó sẽ làm cho tâm hồn chúng ta trở nên xinh đẹp, còn xinh đẹp hơn cả những ngọn núi cao vút, những cánh hoa đồng nội, hay những bức tượng bằng cẩm thạch, bởi vì linh hồn chúng ta được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa và được sống đời đời.

Giây phút trọng đại nhất của cuộc sống sẽ đến, khi tôi trút hơi thở cuối cùng và nghỉ yên trong vòng tay của những người thân yêu. Lúc bấy giờ, tôi không còn thuộc về tôi nữa, linh hồn tôi rời bỏ thân xác tôi, nó sẽ đi đâu nhỉ ? Đức tin sẽ lặp lại lời Chúa đã phán :

- Hỡi những ai mệt mỏi và gồng gánh nặng nề, hãy đến với Ta. Ta sẽ nâng đỡ và bổ sức cho các ngươi.

Và nhất là : - Ai tin Ta, sẽ không phải chết bao giờ.

Đứng trước cái chết, chỉ những người có đức tin mới được hạnh phúc. Còn những kẻ không có đức tin sẽ phải khổ đau.

Chúng ta hãy nhìn lại cái chết của Mirabeau, một nhân vật nổi tiếng của cuộc Cách mạng Pháp năm 1789. Trên giường bệnh, ông đã bị day dứt cùng khốn. Ông đòi pha thuốc thơm để tắm rửa, lấy vòng hoa để đội trên đầu, mời các nhạc sĩ tới để gẩy đàn cho ông được chết cách êm đềm, nhưng vô ích, chính sự không tin đã dày vò ông và làm cho ông chết đi trong khổ đau tuyệt vọng.

Hay như Voltaire đã dành suốt cả một đời để công kích Giáo Hội và quyết tâm hạ bệ Thiên Chúa. Chính ông đã tuyên án :

- Hai mươi năm nữa Thiên Chúa sẽ phải về hưu vì không còn một ai phụng sự Ngài.

Và đúng hai mươi năm sau, ông đã chết bằng một cái chết thê thảm nhất. Ông đã nhìn thấy những hình ảnh hãi hùng và đã kêu lên :

- Một bàn tay kéo tôi lại với Thiên Chúa...nhưng ma quỉ đã đến bắt tôi...và hỏa ngục đang chờ đón tôi..

Rồi ông tru trếu và giãy dụa. Chứng kiến cảnh tượng ấy, bà già giúp việc đã nói :

- Tôi không muốn phải nhìn một kẻ vô đạo chết nữa. Nếu ma quỉ có chết, thì cũng không thể chết dữ hơn Voltaire!

Nếu một bông hoa bị ngắt khỏi cành, nó sẽ tàn héo. Nếu một giọt nước trong rơi xuống trên đống bùn, nó sẽ trở thành nhơ nhớp. Nếu một con cá bị bắt lên khỏi lòng biển cả, nó sẽ chết. Nếu một con chim nhỏ bị rơi khỏi tổ, nó sẽ khó mà sống được. Con người cũng thế, một khi xa lìa Thiên Chúa, chắc chắn sẽ lâm vào tình trạng tàn héo, nhơ nhớp và chết chóc như vậy.

Thật khốn cho kẻ không có đức tin vì họ không tìm thấy được niềm ủi an khi đứng trước những đau khổ và nhất là khi phải đối diện với cái chết.

Ái Chân, sưu tầm

Kính chuyển:

Hồng

---------------------

 
CHIA SE TAI NHA QUAN # 52 = HOA NGHIA TRANG PDF Print E-mail

Bài Viết
11 Tháng 11 2015

Hoa Nghĩa Trang

Nguyễn Tầm Thường

Nghĩa trang có nhiều loại hoa. Chúng khác nhau ở tên gọi mà giống nhau ở một sự kiện: Hoa nghĩa trang la hoa ở lại với người sống chứ làm sao theo người chết ra đi được. Trong không gian lạnh, trong vùng tối không còn bầu trời của huyệt mộ làm sao người chết biết đến màu sắc của hoa? Vì thế, hoa ân tình hay hoa xã giao thì cũng chỉ người sống nhìn thấy hoa thôi.

Bi thương của con người trong kiếp sống nhân sinh là kẻ sống có thể lấy hoa thật tiễn đưa người chết bằng những tâm tình giả. Bi thương của người chết là có những tâm tình thật, nhưng kẻ đã miền miệt ra đi rồi thì chẳng bao giờ nhìn thấy hoa.

Hoa nghĩa trang vẫn là hoa chỉ kẻ sống nhìn thấy thôi. Chết là đi vào thế giới khác rồi. Hoa hãy ở lại, giã từ hoa.

Lời của một đóa hoa.

Tôi là đóa hoa hồng. Tôi ra đời trong một thửa đất miền quê. Chúng tôi vui với gió và nắng. Bình minh lên, chúng tôi thức dậy chào một ngày mới. Nắng trang điểm cho chúng tôi rực lên sắc đỏ, mướt lên màu xanh. Chiều về chúng tôi chờ sương đêm. Những giọt sương trong và mát như suối tiên xoa trên da chúng tôi nước tinh khiết của trời. Rồi ngày mai nắng lại làm những cánh hoa chúng tôi óng ả. Chúng tôi sống êm dịu với sương đêm và nắng ngày. Thế rồi, bỗng đến một bình minh khắc nghiệt.

Tôi đang sống tuổi thần tiên nhất trong đời thì có người đến bứng khỏi thửa vườn rất thân mến dấu yêu. Tôi không biết mình bị đem đi những đâu, bị đưa qua những chốn nào. Một sáng nọ, khi tôi thấy ánh mặt trời thì chung quanh tôi hoàn toàn khác lạ. Nơi tôi ở không phải là khu vườn miệt quê nữa. Tôi không còn thở hơi của đất, hương nồng của cỏ. Các loại hoa chung quanh tôi cũng bàng hoàng như thế. Tôi đang được bày bán ở một chợ hoa. Và từ đó, định mệnh chúng tôi bắt đầu.

- Nơi nào hạnh phúc nhất?

Tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm về định mệnh này. Chẳng thấy đóa hoa nào đã ra đi rồi trở lại kể cho chúng tôi hay. Tôi biết có những đóa hoa được tặng cho các danh nhân lỗi lạc. Ước mơ một đời làm hoa như tôi là một ngày nào đó, sau khi người nghệ sĩ trình tấu một tình ca tuyệt vời, tôi được trao tặng và người nghệ sĩ giơ tôi lên cao trước hàng ngàn bàn tay ngưỡng mộ. Ôi! hạnh phúc biết mấy!

Tôi cũng nghĩ, biết đâu tôi được cắm trong bình ngọc quý, êm ả ru đời trong phòng một cô thiếu nữ mới lớn. Tôi sẽ rình mò lén nghe cô nhỏ viết nhật ký. Bao nhiêu tưởng tượng thần thoại đi về trong giấc ngủ của tôi.
Tôi là loài hoa cũng lãng mạn, đôi khi tôi thích những chân trời màu tím, và có nước mắt. Nhất là nước mắt của tình yêu, nó dịu dàng làm sao! Một ngày nọ, tôi bồi hồi quá đỗi khi biết mình sặp về vùng trời có nước mắt và màu tím. Mầu tím hôm nay là tím ở trong lòng. Màu tím của một nghĩa trang. Tôi chưa bao giờ biết nghĩa trang. Tôi chỉ bâng khuâng hiểu rằng nơi đó có biệt ly và sầu nhớ. Tôi yêu những khung trời có nỗi đau ngọt ngào, vì tôi nghĩ rằng trong nước mắt sẽ có nhớ, có thương. Tôi hân hoan giã từ bè bạn đi theo định mệnh của tôi ra nghĩa trang.

Tôi được trân trọng đưa vào khung trời cô đơn này. Bây giờ tôi hiểu cô đơn cũng có nhiều thứ. Có cô đơn của một cánh lá chiều hoang. Nó biệt ly thầm lặng, lững thững một mình tìm nỗi sầu. Có cô đơn của một cánh chim lẻ bạn. Nó man mác trong hồn niềm thương. Có cô đơn của thập giá. Nó linh thiêng dũng cảm. Trong nghĩa trang, tôi hiểu thêm những cô đơn khác, và nhất là nỗi cô đơn trong tôi.

* * *

Tôi không là hoa giả. Tôi là đóa hồng với tất cả sự sống Thượng Ðế đã ban tặng. Tôi bị gọi là giả, bởi, tôi rơi trong tay người giả dối, họ đem tôi ra đây với những ý nghĩ giả dối mà thôi. Tôi đang ở trong nghĩa trang. Tôi đã nghe nhiều bài điếu văn tiễn người chết. Nhưng chết rồi làm sao nghe? Rất nhiều khi chỉ là lời của kẻ sống mượn người chết mà tìm vinh quang cho nhau. Tại sao thân phận tôi lại là đóa hoa của người sống muốn làm vui lòng người sống? Tôi thấy những bài điếu văn tiễn người chết nhưng lại cố ý là để lấy lòng người sống vô duyên thế nào thì thân phận làm hoa nghĩa trang của tôi cũng vô duyên như thế. Có những chuyện đời chỉ vì nghi lễ tiễn đưa người chết không làm cho người sống được tiếng khen mà tâm tình gia tộc bị đổ vỡ. Có người đến nghĩa trang vì xã giao, vì lý do chính trị, vì chuyện làm ăn. Ôi! ở ngoài nghĩa trang này có nhiều ý nghĩ tâm tình khác nhau lắm.

Tôi đang cô đơn vì tôi chỉ là cành hồng của người sống mượn người chết mà lợi dụng nhau. Nỗi cô đơn ấy xót xa, vì linh hồn người chết rất tủi, không muốn nhìn tôi, họ không nhận tôi vì tôi không thuộc về họ. Còn người sống sẽ bỏ tôi ngoài nghĩa trang rồi ra về, họ quên tôi.

Chết mà không được nhớ là chết lần thứ hai, thì sống mà không được nhớ là chết hai lần trong một lúc. Vì thế tôi đang sống, nhưng trong tôi là hai nỗi chết.

* * *

Chúa trang điểm trái đất bằng vẻ đẹp của hoa. Chung quanh con có biết bao nhiêu hoa. Hoa mọc ngoài đường. Hoa mọc ngoài đồng. Hoa trên bàn thờ. Hoa bên hàng rào. Chúng là ngôn ngữ thật nên thơ. Nếu con biết đứng nhìn cành thiên lý trong một chiều êm ả, con sẽ nghe được sự đơn sơ cần thiết trong cuộc sống. Nhìn đóa sen trong ao, con sẽ thấy sự thanh tao cần thiết trong cõi đời. Hương bưởi thoang thoảng bên ngõ nhà ai một tối trời nào đó, sẽ đưa con về ý nghĩ trong đêm đen vẫn có vẻ diễm kiều của đêm đen. Trong những hoàn cảnh khó khăn vẫn có vẻ đẹp của cuộc sống.

Hoa không chọn nơi nào đẹp mới tới, mà, bất cứ nơi nào tới hoa sẽ làm đẹp nơi đó. Hoa thành thật. Hoa bao dung. Ngôn ngữ loài hoa nghĩa trang thật xót xa. Con muốn cầu xin cho con nhìn hoa mà biết ý nghĩa cuộc sống trên đời.

Hãy cho nhau cánh hoa lúc còn sống, khi chết rồi thì cả rừng hoa đem ra nghĩa trang cũng chẳng ý nghĩa gì.

Nguồn: http://www.gxannagiusehien.net/D.SONGDAO/1.chuyencuocdoi/Text/39.%20HoaNghiaTrang.ht

------------------------------

 
CHIA SE TAI NHA QUAN # 51 = DOI NGUOI CHIEC LA PDF Print E-mail

ĐỜI NGƯỜI CHIẾC LÁ

Những ngày cuối tháng 10, Đất Thánh các Giáo xứ đông người đi tảo mộ. Bên người thân yêu đang an nghỉ, con cháu, thân nhân thành kính đốt nến thắp nhang, hiệp thông cầu nguyện.Description: beautiful-gothic-autumn-grave Mỗi chiều, tôi ra Đất Thánh của Giáo xứ cùng mọi người dọn dẹp cỏ rác, phát quang bụi rậm, sữa sang lễ đài, chuẩn bị cho ngày lễ các đẳng linh hồn.
Nhìn những chiếc lá vàng rơi rụng khắp Nghĩa Trang, tôi nghĩ về mùa thu, nghĩ về đời người và chiếc lá.
Nhớ bài thơ của thi sĩ Lưu Trọng Lư:
Em nghe không mùa thu.
Lá thu rơi xào xạc.
Con nai vàng ngơ ngác.
Đạp trên lá vàng khô.
(Tiếng thu)

Màu vàng của lá, màu úa của cỏ, nắng nhạt gió chiều là hình ảnh đặc trưng của mùa thu. Mùa "chịu tang" của những chiếc lá vàng. Ngồi nhìn lá rơi, mỗi chiếc lá chọn cho mình một cách "chia tay." Có những chiếc lá ra đi trong sự quằn quại khổ đau, dùng dằng bịn rịn như thể không muốn lìa cành; có những chiếc lá "hấp hối" loạng choạng buông mình cách nặng nề nghiêng ngả trên mặt đất. Lại có những chiếc lá ra đi cách nhẹ nhàng trong dáng điệu thướt tha buông mình theo gió. Những chiếc lá khác không bàng hoàng hối hả mà chậm rãi, thanh thản, an nhiên rơi mình trên thảm cỏ xanh như thể một bông hoa say trong giấc ngủ yên lành. Một đời lá mong manh, chóng tàn phai rụng xuống. Mới đó, lá còn xanh tươi, mà nay đã úa vàng lìa cành.

Đời người có khác chi một chiếc lá cuối thu. Có những người ra đi trong bấn loạn, hối tiếc, khổ đau, nặng nhọc. Lại có người ra đi về với cội nguồn một cách thanh thản nhẹ nhàng thanh thản. "Lá rụng về cội." Lá rơi bên gốc cây. Lá chờ đợi một quá trình sinh học để trở thành dinh dưỡng nuôi cây. Lá góp thân xác tàn úa để trả ơn cho cây. Đời lá ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa nhân sinh.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Thánh Kinh: "Có thời sinh ra, có thời chết đi" (Gv 3,2). Mỗi loài thụ tạo đều có thời hạn của nó. Đời người như chiếc lá mỏng manh, ngắn ngủi. Chỗ dựa trần gian chẳng an toàn vững chắc. Tiền bạc vật chất, bằng cấp, kiến thức, chức quyền đều chóng tàn phai. Sức khoẻ, sắc đẹp hao mòn rồi rệu rã theo tuổi đời năm tháng.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhận ra sự thật cay đắng nhất của đời người là sự chết. Nó chẳng từ ai, chẳng thương tiếc ai. Nó đến bất ngờ làm ta bang hoàng. Phải bỏ lại tất cả mọi thứ ta gắn bó và gom góp suốt đời để ra đi với hai bàn tay trắng. Cái chết của mỗi người là một chuyến đi cuối cùng. Một chuyến đi quyết định và quan trọng. Một chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Một chuyến đi một vài tuần về thăm quê nhà, một chuyến đi nghỉ hè đôi ba ngày... tôi đã phải sắp xếp chuẩn bị nhiều ngày, có khi nhiều tuần .... Nhưng tôi đã chuẩn bị được những gì cho chuyến đi cuối cùng và thật quan trọng của cuộc đời tôi? Tôi có nỗ lực để xắp xếp chuẩn bị cho chuyến đi vĩnh viễn và không bao giờ trở lại này không?

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Thánh Vịnh: "Đời sống con người giống như cây cỏ, như bông hoa nở trên cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc không còn mang vết tích" (Tv 102,15-16). Dù văn minh đến dâu, con người vẫn không thắng nổi cái chết bằng sức mạnh của khoa học kỹ thuật. Giàu nghèo sang hèn, trí thức hay bình dân, văn minh hay lạc hậu... ai ai rồi cũng phải chết. Đứng trước cái chết, mọi người đều bình đẳng. Sống là chuẩn bị cho con người đi về với cái chết. Suy tư về cái chết là suy tư về sự sống. Chết là một phần của sự sống bởi lẽ trong sự sống đã có sự chết. Nó là cánh cửa nối liền hai thế giới như cửa sông đưa giòng nước vào nguồn biển rộng. Cứ theo định luật tự nhiên, con người được sinh ra, lớn lên, già đi và chết. Đó là định luật chung của con người. Không ai có thể sống mãi mà không chết. Các vua chúa ngày xưa đã cố công đi tìm thuốc trường sinh bất tử nhưng họ cũng chết. Để sống cách trọn vẹn, phải can đảm chấp nhận sự sống lẫn sự chết. Đời người ngắn ngủi như chiếc lá như lời Thánh Vịnh:

Đời con là một kiếp phù du,
Loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi.
Sống làm người ai không phải chết,
Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty?
(Tv 88,48-49)

Con người không có quyền gì trên sự chết và sự sống. Sống và chết là kỳ công và đều bởi Thiên Chúa. Sự sống là mong manh, thế mà Thiên Chúa lại phải đánh đổi bằng máu của các tiên tri, bằng mạng sống của Con yêu dấu là Chúa Giêsu.

Nhìn lá vàng rơi ta nghĩ về cuộc đời lữ thứ. Xin đừng mưu mô tính toán mà làm gì. Xin đừng chia rẽ và thù ghét làm chi. Cuộc đời này thật ngắn, tiền bạc trên thế gian này nhiều lắm, bàn tay ta có tham mấy cũng chẳng vơ vét hết được. Rồi đến lúc bàn tay xuôi xuống, lạnh cóng, cô đơn, chẳng nắm giữ được gì.

Để có được sự ra đi trong thảnh thơi nhẹ nhàng và đong đầy niềm tin hy vọng ngày mai tươi sáng, ta hãy định nghĩa cuộc đời mình bằng sự "hiện hữu", đừng bao giờ là sự "sở hữu". Ta hãy chọn phương châm "sống với" chứ đừng "sống vì". Thấu cảm được ý nghĩa về cuộc đời thì ta mới nhẹ nhàng, thanh thản ra đi mà không vướng bận, không ưu phiền. Như ai đó đã từng nói: "Ngày ta sinh ra đời, mọi người cười ta khóc. Hãy sống như thế nào để khi ra đi mọi người khóc ta cười".

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Chi Trân chuyển

-----------------------------

 

 
CHIA SE TAI NHA QUAN # 50= BANG CHUNG LUA THANH LUYEN PDF Print E-mail

Bằng chứng về Lửa Thanh Luyện Linh Hồn

Thứ Hai ngày 2 tháng 11 năm 2015 - Chi Tran chuyển
http://baoconggiao.com/uploads/news/2015_11/nhung-bang-chung-ve-lua-thanh-luyen-linh-hon.jpg

Lm Victor Jouet, được Thánh GH Piô X động viên, đã thành lập bảo tàng viện này nhằm giúp người ta tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giêsu, và nhờ lòng sùng kính này mà giúp đỡ các linh hồn nơi Luyện Hình.

Ngày 1-11-1731, cố Tu viện trưởng Panzini (Dòng Biển Đức Olivetan ở Mantua, Ý) hiện về với Mẹ Isabella Fomari (Dòng Thánh Clara ở Todi) khi Mẹ đang ngồi ở bàn làm việc. Tu viện trưởng Panzini nói rằng ngài đang chịu đau khổ nơi Luyện Hình. Lúc đó ngài đặt bàn tay đang cháy lên bàn làm việc của Mẹ Isabella và đã in hình bàn tay lên chiếc bàn đó. Sau đó, ngàidùng ngón tay đang cháy vẽ hình Thánh Giá lên bàn. Ngài cũng chạm tay vào tay áo của Mẹ Isabella và khiến tay của Mẹ Isabella bị phỏng và chảy máu. Áo và máu của Mẹ Isabella Fomari không có ở bảo tàng viện này, nhưng còn một miếng gỗ của chiếc bàn kia.

Mẹ Isabella đã kể lại cho Lm Isidoro Gazata nghe chi tiết. Lm Isidoro đã cho điều tra để xác định vết cháy kia là vết cháy do lửa siêu nhiên.
Ngày 5-6-1894, cố Nữ tu Maria Thánh Louis Gonzaga đã hiện về với Nữ tu Margherita và cho biết Chị đang chịu đau khổ nơi Luyện Hình.
Nữ tu Maria là người đạo đức nhưng khi bị bệnh lao phổi, Chị buồn và cầu xin cho được mau chết để bớt đau đớn. Vài ngày sau, Chị qua đời trong vẻ thánh thiện.

Khi hiện về, Nữ tu Maria mặc áo dòng, xung quanh có bóng mờ. Chị nói với Nữ tu Margherita rằng Chị đang ở trong Luyện Hình để đền tội vì thiếu kiên nhẫn khi bị bệnh nên đã cầu xin được chết sớm hơn ý Chúa định, và Chị xin Nữ tu Margherita cầu nguyện cho Chị.

Để chứng tỏ mình đang chịu đau khổ trong Luyện Hình, Chị đã chạm tay vào chiếc gối đầu của Nữ tu Margherita và làm lủng một lỗ. Sau đó, Chị đã hiện về hai lần để cảm ơn Nữ tu Margherita đã cầu nguyện cho mình, và cho biết rằng Chị sẽ sớm được cứu thoát khỏi Luyện Hình. Chị cũng đưa ra vài lời khuyên cho các nữ tu trong cộng đoàn Dòng Thánh Clara.

Ngày 5-3-1871, chị Palmira Rastelli hiện về với cô bạn Maria Zaganti để xin người anh của chị là Lm Sante Rastelli dâng lễ cầu hồn cho chị. Chị mới qua đời hơn ba tháng, và đang ở trong Luyện Hình. Chị Palmira đã đặt mấy ngón tay lên sách kinh của Maria và để lại vết cháy của ba ngón tay trên đó.

Thánh Catherine Genoa nói về Luyện Hình rằng có sự đau khổ trong lửa, nhưng đồng thời cũng có tình yêu sâu thẳm của Thiên Chúa và sự an ủi là cuối cùng thì các linh hồn trong đó cũng sẽ được lên Thiên Đàng. Chúng ta hãy tha thiết cầu nguyện cho các linh hồn. Họ sẽ không bao giờ quên chúng ta đã cầu nguyện cho họ. Chúng ta thật hạnh phúc được là người Công giáo, biết về sự hiệu quả của ân xá và lời cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Hình. Nếu chúng ta giúp đỡ họ, sẽ có người khác giúp đỡ chúng ta sau khi chúng ta qua đời.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ TraditionalCatholicPriest.com)
Lễ Cầu Hồn – 2015

----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 4 of 12