mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay687
mod_vvisit_counterHôm Qua6098
mod_vvisit_counterTuần Này18149
mod_vvisit_counterTuần Trước50576
mod_vvisit_counterTháng Này200611
mod_vvisit_counterTháng Trước245784
mod_vvisit_counterTất cả8689654

We have: 119 guests online
Your IP: 54.146.18.105
 , 
Today: Jun 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Tôi Đi Hành Hương Đất Thánh
NHUNG BAI VE DUC ME # 210 = ME MARIA LA LOI CHUA PDF Print E-mail

> CON ĐANG TÌM MẸ CON

MẸ MARIA CHÍNH LÀ LỜI CHÚA SỐNG ĐỘNG

THUY NHU CHUYỂN
>
> "...Năm 1949 chúng tôi hiểu được đôi điều mới về Mẹ Maria. Sự hiểu biết đầu tiên là thấy Mẹ Maria chính là Lời Chúa sống động; Ngài được mặc bằng Lời Chúa. Mẹ Maria là Phúc Âm hằng sống. Nếu Ngôi Lời là vẻ đẹp, là sự chói ngời của Chúa Cha, thì Mẹ Maria là một thụ tạo với bản chất là Lời Chúa và Người có vẻ đẹp không ai sánh bằng.
>
> Việc Mẹ Maria chính là Lời Chúa sống động được nói lên rõ ràng nơi bài ca chúc tụng (Magnificat); bài ca độc đáo vì những câu Kinh Thánh trong đó. Điều này cho thất rõ ràng Mẹ Maria được nuôi dưỡng bằng Kinh Thánh đến độ Người có thói quen dùng Lời Kinh Thánh...
>
> Sự hiểu biết này (Mẹ Maria là Lời Chúa được thực hiện) đã đánh động chúng tôi rất sâu xa... Trong tính cách đặc biệt và toàn thiện của Người, Mẹ Maria nói lên điều mọi người Kitô hữu phải trở thành: đó là một Kitô khác, là sự Thật, là Ngôi Lời, từ con người mà Thiên Chúa đã ban cho họ..."
>
> Đây là kinh nghiệm của bà Chiara Lubich về Mẹ Maria. Mẹ Maria là Phúc Âm được hoàn toàn đem thực hiện (She is the Word of God perfectly put in practice). Kể cả anh chị em Tin Lành cũng chấp nhận cái nhìn này về Mẹ Maria. Khi nhìn vào Mẹ, chúng ta thấy kết quả của Phúc Âm đã được đem thực hiện: từ Phúc Âm được sinh ra một con người cao đẹp, giống như Chúa Giêsu hay là một cộng đoàn như Gia Đình Nazareth.
>
*SUY TƯ VÀ HÀNH ĐỘNG NGAY:  Đây chính là điều mà Mẹ Maria mong ước nơi BẠN VÀ TÔI, là con cái của Mẹ: sống Lời Chúa, sống theo tinh thần Phúc Âm, chứ không phải theo logic của thế gian. Đó có nghĩa là sống như chính Mẹ đã sống. Nói một cách khác, Mẹ muốn CAC BẠN phúc âm hóa lối sống CỦA MÌNH. Người sẵn sàng giúp BẠN VÀ TÔI trong việc này!
>
> Thân ái,
> Gildo Dominici, SJ
> (Trích báo Ðồng Hành - tháng 5 và 6/1992)
------------------------------------

 
TOI DI HANH HUONG DAT THANH # 13 -TAM TINH MOT CHUYEN DI PDF Print E-mail

TÂM TÌNH MỘT CHUYẾN ĐI ...

Sơn Vu -  May 21 at 10:20PM

Sáng Chủ nhật vừa qua, mới gặp thầy Sáu Định đã chúc mừng chúng tôi sau cuộc hành hương Do Thái với cha Tước trở về. Ngài muốn tôi viết về chuyến đi để chia sẻ với bạn bè. Vâng lời thầy nên cố gắng ghi lại với trí nhớ của một người cao tuổi đã bị hao mòn quá nhiều với thời gian.

Cách nay độ 3- 4 năm, chúng tôi cũng đã viếng thăm Do Thái và Ai Cập hơn 10 ngày. Chuyến đi đó không chỉ bước theo dấu chân Chúa Kitô qua những nơi được đề cập nhiều đến trong Thánh Kinh, mà còn theo đường truyền giáo của thánh Phao Lô nữa. Lần này thì do cha Nguyễn Trọng Tước hướng dẫn. Chắc không cần giới thiệu nhiều về ngài, vì chỉ với cái tên Nguyễn Tầm Thường đã đủ rồi.

Cuộc hành hương bắt đầu từ 23-4 và chấm dứt ngày 2-5-2014. Tổng cộng là 11 ngày tính cả 3 ngày đi về. Mặc dầu đã đi một lần, nhưng nhà tôi vẫn ước ao đi một chuyến nữa với cha Tước, giữa lúc tình trạng sức khỏe ngày một yếu kém. Cả hai tháng trước khi khởi hành, nhà tôi bị đau yếu liên miên. Tôi nghĩ chắc mình tốn gần 6.000 bạc vô ích, vì nhà tôi không đi được thì tôi cũng ở nhà. Ngay trước khi ra sân bay, tôi còn hỏi nhà tôi "liệu có đủ sức để đi không?" Nhà tôi trả lời là đi được . Nhà tôi còn bảo rằng muốn mang tấm thân bệnh hoạn này theo chân Chúa để cảm nhận rõ hơn về những cực khổ Ngài đã chịu. Tôi cứ việc chấp hành lệnh "bề trên" và nghĩ đến trường hợp xấu nhất, là nếu có truyện gì xẩy ra mà chôn tại Do Thái thì ba ngày sau cũng còn hy vọng sống lại được. Hình như trong đời sống của chúng ta, khi mình ao ước làm một điều ích lợi cho tâm hồn thì Chúa luôn tạo đều kiện để ta có thể thực hiện được. Và chúng tôi ra đi với cả tâm tình phó thác đó. Máy bay rời phi trường Bush vào khoảng 8 chiều ngày 23-4. Chờ đợi ở phi trường Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ mấy tiếng. Chúng tôi đến phòng ngủ tại Do Thái sau 3 giờ sáng ngày 25-4 thì hơn 4 giờ sáng đã phải chuẩn bị chuyến thăm viếng đầu tiên.

Trong suốt cả cuộc hành trình này, 4 - 5 giờ sáng phải thức dậy là truyện bình thường. Ngoài ra Do Thái là cả vùng đồi núi nên những chỗ đến đa số là những nơi gâp ghềnh sỏi đá, lên cao và xuống dốc. Với những người có tuổi và yếu đau như nhà tôi theo cha quả là vất vả. Nhưng mọi khó chịu và cực nhọc sẽ nhẹ nhàng nếu mình luôn tâm niệm rằng đi là để học hỏi, kính viếng , tạo điều kiện để thăng tiến tâm linh và được cảm nhận gần Chúa hơn. Có một địa đạo dài hơn 1 km, ( họ cũng mới khám phá ra. Đó là con đường ngầm để tiến vào hay rút lui từ Giêrusalem,) phải lội bì bõm trong bóng tối dầy đặc độ 45 phút với nước đến đầu gối. Đây là lần đầu tiên tôi được đi vào con đường này. Cha Tước có kể lại cảm nghiệm của một vài người đã đi trước nói lại. Riêng tôi thì nghĩ rằng đây không phải là con đường Chúa đã đi qua mà chỉ là một con đường chiến lược, thì chỉ đi cho biết mà thôi. Trong nhóm hành hương của chúng tôi có 50 người thi một bà già 85 tuổi và nhà tôi là không đủ sức để đi với anh chị em. Tôi cũng nghe có người nói là cha Tước khó lắm, kỷ luật rất gắt gao. Thực tế thì cũng không có gì đáng phàn nàn nếu mình là một người tự trọng và biết tôn trọng kỷ luật chung. Chúng ta ai cũng hiểu rằng với một toán 50 người mà vô kỷ luật thì sẽ không làm được gì cả.

Để làm hướng dẫn viên cho những chuyến hành hương như thế này, cha Tước đã sang Do Thái từ năm 2005 để nghiên cứu, học hỏi không chỉ về lịch sử, địa dư, mà phải tham dự các cuộc thăm viếng do người địa phương hướng dẫn và cũng phải góp nhặt kinh nghiệm từ những hướng dẫn viên lâu đời. Đôi khi cha còn phải len lỏi trong rừng hay sa mạc theo đoàn bộ hành với những bước chân gập ghềnh mệt mỏi. Chỉ leo lên đồi gôn- gô-Tha cũng bá thở. Thế mà Chúa, sau một ngày đêm dài bị hành hạ đã kiệt sức, rã rời thân thể, mà còn phải vác theo cây Thập Tự Gía nặng nề. Từng bước, từng bước leo lên để phải vấp ngã bao lần! Để rồi chính trên cây Thập Tự gía đó sẽ là nơi trút hơi thở cuối cùng. Chỉ nghĩ như thế cũng đủ đau thấu tận tâm can rồi. Đối với cha Tước việc hướng dẫn các đoàn hành hương là một sứ vụ. Vì vậy việc nghiên cứu của ngài rất thận trọng và kỹ càng. Với kiến thức, nhận xét và tầm nhìn của một nhà văn quả tình ngài đã có những hiểu biết rất xâu xa và phong phú về từng nơi, từng chỗ đã dẫn chúng tôi đi qua. Mỗi nơi chúng tôi đến, ngài giải thích trong khi xe chạy hoặc đến chỗ chỉ định, khi qui tụ mọi người lại và giảng giải rõ ràng về sự kiện, hoàn cảnh xã hội và bối cảnh lịch sử để mọi người hiểu tại sao hay thực tế những sự việc đã xẩy ra lúc đó như thế nào. Trong lời giải thích, ngài dưạ trên sách vở, khảo cổ học và truyền thuyết. Có những chỗ thì ngài dùng suy luận một cách hợp lý. Thí dụ khi đến dinh quan Phi La Tô ngày xưa, thì cha nói lại cái quang cảnh, tâm trạng và tình thế của những đám dân đang bị khích động vào lúc đó. Rồi đọc đoạn Phúc Âm liên hệ và giải nghĩa đoạn Thánh Kinh vừa nghe. Khi nói về Philatô, cha chứng minh rằng Philatô là một con cáo già đã khích động dân giết Chúa Giêsu để trừ hậu họa. Từ trước đến giờ tôi vẫn nghĩ rằng Philatô không phải là động lực chính trong việc đóng đinh Chúa. Có thể vì câu ông nói khi rứa tay là "ta vô can trong việc xử án người này" . Vì thiếu hiểu biết về con người của Philatô, hoàn cảnh lịch sử và xã hội lúc đó mà tôi nghĩ ông là người vô tội. Tôi tưởng rằng việc đóng đanh Chúa là vì thù hằn ganh ghét của nhóm luật sĩ, Thượng Tế, Pharisiêu và biệt Phái, vì Chúa đã hạ bệ những kẻ đang sống nhờ tôn giáo. Hủy hoại những hình ảnh thần tượng của họ nơi lòng dân chúng. Còn khí thế và sự xung động của đám đông thì chỉ là bị lơi dụng mà thôi. Nhưng cha bảo Philatô muốn diệt Chúa vì Ngài là mầm họa cho quyền thế của ông. Từ sự giải thích của cha, tôi nghĩ đến việc vợ ông cũng đã khuyên ông không nên dính vào vu giết Chúa. Ngoài ra cha còn nói đến ông Phêrô. Cha khen Phêrô là người can đảm. Mặc dầu sau ba lần bị hỏi là ba lần đều chối Chúa. Nhưng cuối cùng ông Phêrô cũng loanh quanh gần Chúa. Cha nói là dù biết rằng có thể gặp tai họa, mà vẫn ở gần Chúa đó là con người can đảm. Riêng phần này thì tôi có một suy nghĩ khác. (Khi có những suy nghĩ không giống nhau trong một đoạn Thánh Kinh thì cũng là một truyện rất bình thường. Vì đôi khi cùng một đoạn Thánh Kinh mà ta tìm ra được nhiều ý tưởng khác nhau.) Tôi thì cho rằng ông Phêrô là một người nhát gan. Một người can đảm phải là một người dám ưỡn ngực ra đối diện với sự thật. Dám chấp nhận chứ không chối bỏ. Mà Phêrô cũng không ở dưới chân Thánh Gía như Gioan trong cơn hấp hối của Thầy. Để hiểu được sự kiện ông Phêrô dù không can đảm, nhưng vẫn ở đó mà không bỏ Chúa chính vì tình yêu Thầy lớn hơn sự sợ hãi. Cũng vì vậy mà sau này Chúa đã đặt ông Phêrô coi hội thánh và đã hỏi ông ba lần là "Con có yêu Thầy không?"

Tóm lại, đi hành hương với cha Tước là một cuộc học hỏi và tĩnh tâm dài. Những nhà trọ mà chúng tôi ở thuộc các nhà dòng. Tuy không tiện nghi bằng các quán trọ ở ngoài, nhưng gần gũi những nơi thăm viếng và cũng giúp được ít nhiều cho các cơ sở tôn giáo cần nâng đỡ. Vì vậy cũng không có gì đáng phàn nàn. Có lúc tôi nghĩ "ối chà, ông cha Tước làm kiểu này thu được nhiều tiền lắm nhỉ" và tôi cũng sợ cho ngài. Vì tình, tiền và tính kiêu ngạo là ba thứ nguy hiểm nhất cho các vị linh mục. Nhưng sau này tôi được biết, cha Tước làm được bao nhiêu đều nộp cho nhà dòng để dòng Tên có thêm tiền thực hiện các sứ vụ khác. Như vậy mỗi khi tham dự các cuộc hành hương do cha Tước tổ chức, ta không còn cảm thấy tốn tiền nữa vì số tiền thừa, lại biến thành những ích lợi cho tha nhân.

Tạ ơn Chúa đã cho chúng ta một cuộc hành hương bình an tốt đẹp. Tạ ơn Chúa vì nhờ chuyến đi này nhiều người trong chúng ta hiểu hơn về Thánh Kinh và cũng tạo được nhiều mối liên hệ thân thiết. Đặc biệt cũng ta ơn Chúa vì Ngài đã ban sức khoẻ, sự chiụ đựng và cố gắng để nhà tôi có thể theo Chúa trọn vẹn trong chuyến đi này. Có một điều cho đến bây giờ tôi vẫn không thoải mái với chính mình. Đó là mỗi lần lên xe bus, tôi thường hay lên trước để dành một chỗ tốt cho nhà tôi, vì nhà tôi vừa cao tuổi, đau ốm lại bị say xe. Mặc dầu lý do đó khả chấp, nhưng tranh dành không bao giờ là hành vi của tôi. Mong rằng các bạn đồng hành trong chuyến đi này thông cảm và ban cho hai chữ đại xá.

Vũ Mai Sơn

 
TOI DI HANH HUONG DAT THANH # 12 = 07 NGÀY HANH HUONG PDF Print E-mail

TÔI ĐI HÀNH HƯƠNG ĐẤT THÁNH # 12

* 07 NGÀY HÀNH HƯƠNG *

*NGÀY THỨ NHẤT : Đi Caesarea, Cana & Nazateth :

1/ Sau khi ăn sáng: Xe sẽ đi dọc theo bờ biển Địa Trung Hải (lên phía bắc) -> Caesarea, nơi các tông đồ nghe ông Phêrô kể Tin Mừng đầu tiên & rửa tội.

2/ -Xem nhà hát La Mã – Roman Amphith –Aqueducteatre & Cầu dẫn nước – Aqueduct). Người La Mã xây cầu dẫn nước từ xa vào đất liền, kiểu như dẫn thủy nhập điền, sớm nhất vào 7 năm trước Chúa Giáng sinh, cao đến 10m, dài có khi 300m – 8km.

3/-Pont du Gard, France, Roman aqueduct built circa 19 BC.

(Cầu Gard, Pháp, La Mã xây khoảng năm 19 trước Chúa Giáng sinh)

4/-Núi Camel – Nơi ông Elijah trốn vua Ahab.

-Đi qua thung lũng Jezreel Valley -> Megiddo – nơi đây các nhà khảo cổ học (viết tắt là KCH) đã đào được 20 tầng nền Văn hóa (20 levels of Civilization).

*Chiều : -> Nazareth – Bé Giêsu lớn tại đây – Ăn Trưa – Thánh lễ tại Nhà Thờ Truyền Tin (Church of Annunciation)

1/-> Cana : Chúa làm phép lạ đầu tiên nước hóa thành rượu.

(Ai muốn đọc lại lời hứa phép Hôn phối thì làm ở đây)

2/->Tiberias – Ăn tối – Ngủ tại : Ron Beach Hotel – Phone 972-4-6791350 – Address: 173 Gdud Barack St. Tiberias (Fax 972-4-6791351 (Tối sửa soạn mang hết hành lý cho ngày mai)

*NGÀY THỨ HAI : Đi Caparnaum & Mount of Beatitudes (Núi Tám Mối Phúc Thật.

1/->Ăn sáng xong lên xe đi Núi Tabor (Mt. Tabor) – Nơi Chúa Biến Hình (the site of the transfiguration of our Lord, sau đó đến :

2/->Cầu tầu Tibirias Pier lên tầu đi dạo (relax!) trên Biển Galliee (Sea of Galilee), chúng ta dễ dàng xemGolan Heights gần đó (phía bắc của Do thái), cho ta hình dung ra được phần nào đời sống của các tông đồ chài lưới thế nào?

3/->Tới Ginnosar thăm một bào tàng chứa một chiếc tầu có một thời Chúa còn rao giảng.

4/->Tới Capernaum : thăm một nhà nguyện (Do thái) đổ nat và nhà của thánh Phêrô – rồi Ăn Trưa tại quán Ali ngay bờ biển.

5/->Đi đến Tabgha – Nơi phép lạ 5 chiếc bánh và 2 con cá (site of multiplication of loaves & fishes. Rồi vào xem nhà thờ xinh xắn Mensa Christy (Bàn ăn của Chúa).

6->Đến Núi Tám Mối Phúc Thật (Mt Beatitudes), và dự Thánh Lễ tại đây. (Celebrate Holy Mass here) –Nghỉ đêm.

*NGÀY THỨ BA : Đi Sống Jordan, Beth Sean & Thành phố Jerusalem .

1/Sông Jordan : Xem cảnh – Lội xuống sông– diễn lại Bí tích rửa tội -Thánh lễ - Có thể lấy, mua nước rửa tội ở đây.! Mua quà lưu niệm.

2/Đi Belt Shean/Scythopolis = về phía Nam nơi khảo cổ nổi tiếng của Do thái, giáp ranh giới giữa hai thung lũng Jezreel &Jordan. Như Jericho cũng từng bị chiếm trải qua suốt 1 lịch sử. Sau khi đánh hạ Saul (Saolê) và các con trai ông ta tại Núi Gilboa, dân Phillistines đã treo xác họ trên tường của Belt-Shean (x. 1Sam 31:10-12). Trong thời điểm giao thời giữa Cựu và Tân Ước, thành phố được đổi tên là "Scythopolis". Các nhà khảo cổ học khám phà nhiều di tích cổ đổ nat từ thời La Mã/Byzantine Scythopolis (Thời La Mã năm 64 Trước Chúa GS; Thời Byzantine thế kỷ 4-7 Sau Chúa GS = Nước VN vào thời Bắc thuộc lần 1)

Vào thời Chúa, Scythopolis là 1 trong những TP chính của Decapolis – là 1 trong nhóm 10 TP chia sẻ cùng Văn hóa và chính phủ Hy lạp.

*Ăn Trưa : tại Sachne –Công viên suối Nước Nóng (Hot Springs Park) ->tới chân núi Gilboa và Biblical Trail at Tel Jesrael – Ngủ tối ở đây: Dan Boutique Hotel jerusalem – Tel : 972-2-5689999 – Địa chỉ : 31 Hebron Rd. Jerusalem 93546.

*NGÀY THỨ TƯ : Thời Kinh Thánh tại Do thái/ Bible Time in Israel

1/TP đầu tiên chúng ta viếng thăm là TP Bethlehem/Bê-lem –Thăm máng cỏ Chúa sinh ra – Dự Thánh Lễ ở đây.

2/Jerusalem -> Núi Cây Dầu (Mount of Olive) – xem vị trí Chúa lên Trời, đi bộ dọc theo đường Chủ nhật Lễ Lá (Palm Sunday Rd.)

3/Vườn Gethsemane Garden: Có bao nhiêu người ước muốn ngược lại thời gian để nhìn Chúa hoặc nghe tiếng của Ngài, dù là một chút. Đi bộ giữa hàng cây dầu cổ thụ, đóc đoạn Thánh Kinh về lời cầu nguyện của Chúa. Quí vị dành một ít thì giờ để suy niệm tại đây. Sau đó đến thăm Nhà thờ có mộ Đức Mẹ (Mary's Tomb Church)

*NGÀY THỨ NĂM : Núi Zion, The Western Wall& the Temple (Núi Sion, tường phíc tây & Đền Thờ)

1/Thăm Núi Zion, Mộ Vua David, Nhà Caipha & "Phòng trên" – Upper Room – nơi môn đệ Gioan mà Chúa Giêsu yêu, ông ngả đầu vào ngực Chúa, nơi mà sau này Thánh Tôma kêu lên: "Lạy Chúa tôi, Lạy chúa tôi !" – My Lord&my God". Quí vị sẽ dữ Thánh lễ tại St Peter in Galicanto. Kế bên là Tu viện Dormition Abbey.

2/Đi bộ qua Khu Jewish Quarter, the Roman Ca4do & Biệt thự của Herod (Herediam Mansion)

->Tường phía Tây & Khu khai quật tường phía Nam (The Western Wall, visit the Southern Wall Excavtions : Đây là phía Nam của Đền Thờ(The Temple) có cửa vào dành cho người dân thường, còn cửa cao hơn ở phía Đông thì dành riêng cho các ông Giáo sỹ & Levites. Từ cái sân có các phần cầu thang lớn dẫn đến Temple Mount, chưa được đào ra. Đây là cái sân mà rất có thể Chúa Giesu đã đuổi các hàng rong,các người đổi tiền. (It is in this courtyard that Jesus likely drove out the vendors and money exchangers who were exploiting the people)

* NGÀY THỨ SÁU : Đi vòng quanh Jerusalem "Theo con đường Chúa đã đi qua".

1/ Quý vị đến xem Shrine of th Book (tạm dịch là :Đền Thánh Thư) xem Bảo tàng, bao gồm The Dead Sea Scrolls – Các cuộn giây cổ Kinh Thánh Cựu Ước vùng Biển Chết, đã lưu trữ Lời của Chúa.

2/ Xe đi đến thành cổ (Old City), vào bên trong thành, Quí vị đi dọc theo the Vi Dolorosa – Bethesda – St. Ann Church (nhà thờ thánh Anna. – Tu viện Nữ Zion (Convent of the Sisters of Zion), tại đây quí vị sẽ thấy Antonia fortress pavements – là nơi xét xử Chúa – dẫn đến đồi Calvary, dự Thánh Lễ tại Nhà thờ Chúa Phục Sinh (Church of Holy Sepulcher) – Trong này còn có di tích hang mộ chôn xác Chúa. -The Edicule of the Holy Sepulchre (The Tom of Christ) with the dome of the rotunda visible above.

*NGÀY THỨ BẢY : Thăm Massada – Dead Sea Scrolls – Ein Gedi - Pháo đài Msada – Cuộn Giấy Cổ Biển Chết – Ein Gedi.

1/Sáng – Quí vị có Thánh Lễ tại vườn / Garden pf Gethsemane. Rồi tiếp tục tour xe đến vùng Biển Chết – Dead Sea Region, nằm ở mức 366m (1200ft) dưới mực nước biển. Quí vị tiếp tục đi cáp treo (cable car) lên đỉnh núi có Pháo đài Massada, tour guide sẽ kể cho quí vị nghe lịch sử nơi có giao tranh xảy ra.

2/Ăn Trưa : Tại Qumran – sau đó thăm vùng Hang Động the Qumran Cave Area – mà Dead Sea Scolls (tạm dịch "các cuộn giấy có vùng Biên Chết") được tìm thấy ở đây.

1/Ein Gedi, "Spring of the Goat", một ốc đảo (có nước ngọt) ở bờ biển phía tây của Biển Chết. Vì ở đây có thời tiết ấm và nhiều nước ngọt, nên nổi tiếng có nhiều xưởng chế tạo nước hoa & cây cọ (date palm groves)

2/ Nơi đây Vua David trốn khỏi Saul và tại đây Chúa nhận lời chúc tụng và cầu nguyện của Vua Jehosaphat (Sam 23:29; 24. – Songs 1:14 mà Chúa đánh bại kẻ địch của Israelites.

3/ Trở lại Jerusalem ngủ qua đêm, hôm sau ra phi trường về nhà.

* HẾT 7 NGÀY HÀNH HƯƠNG ĐẤT THÁNH *

Ptế : Hướng Dương

 
TOI DI HANH HUONG DAT THANH # 11 =HANH TRINH VIENG XU THANH PDF Print E-mail

Hành Trình Viếng Thăm Xứ Thánh

Thánh vịnh (TV) 122: "Tôi vui mừng, khi người ta nói cùng tôi: "Nào ta đi đến nhà Yavê (Giêhôva)!"6 Hãy xin bình an cho Yêrusalem: Ước gì họ được yên hàn những kẻ yêu mến ngươi !".

Trong những năm gần đây số người Việt Nam viếng thăm xứ thánh càng ngày càng tăng, vì hầu hết các tín hữu Công Giáo hay Tin Lành đều quen thuộc với những điạ danh qua các câu chuyện trong Thánh Kinh như: Yêrusalem, Bêtlehem, Samari, Amaghedon. Đất Do Thái liên hệ chặt chẽ với đức tin Kytô của chúng ta. Người hành hương với kiến thức lịch sử và địa lý về đất Thánh, cũng như Kinh Thánh sẽ cảm thấy đời sống đức tin của mình sung túc và phong phú hơn.

I – Lịch sử tổng quát của vùng đất Palestin

A .Những xung đột qúa khứ.

Chúng ta biết là Chúa hứa ban vùng đất Canaan cho dân tộc Do Thái, xưa gọi là xứ Giuđê (Judea). Song quốc gia này và vùng đất này bị người Asiri (Batư: Iran); người Babylon (Irác) chiếm. Khi người Lamã chiếm, họ gọi vùng này là Palestine.Sau này vùng đất này bị người Ả rập chiếm trong khoảng chừng 1000 năm.Vào thế kỷ 19 phong trào Zionism đòi lại đất và qua Tuyên Ngôn Balfour năm 1917, Palestine được trao cho người Anh.Thế chiến II, 6 triệu người Do Thái bị Đức Quốc Xã giết.Nước Anh và Mỹ đã họp lại để tìm cách ngăn cản thảm trạng này tái diễn.Và họ đã đồng ý là phải để dân Do thái trở về miền đất cũ.Thế là năm1948 Liên Hiệp Quốc chia Palestine thành 2 quốc gia Ảrập và Do Thái.Các quốc gia Ảrập không chấp nhận sự tồn tại của Do Thái.Yêrusalem là thủ đô của Judea, của Israel xưa, cũng là nơi có đền thờ của Do Thái Giáo.Ngày nay đền thờ chỉ còn một bức tường (Western Wall), hay tường than khóc.(Wailing Wall). Người Palestine, người Ảrập xem đền Al-Aqusa Mosque là nơi quan trọng thứ ba của người Hồi Giáo, sau Mecca và Medina.

B .Những dự kiến về xung đột tương lai.

Vấn đề chiếm đóng và định cư: (Occupation/ Settlement)

Sau 1967, Israel chiếm đóng vùng đất phía Tây (West Bank), và Gaza .Do Thái tiếp tục các cuộc định cư.

Quốc gia Palestine :Khi tổ chức Palestine Liberation Organization thành lập, họ muốn chiếm lại tất cả vùng đất bị chiếm. Do Thái đồng ý một quốc gia Palestine không vũ trang (Demilitarized Palestine State) với quyền kiểm soát biên giới và tài nguyên.

An ninh của Do Thái : Vì Khoảng cách từ Tel Aviv đến biên giới West Bank chỉ có 11 dặm. Tel Aviv, Jerusalem và các thành phố khác, đều nằm trong tầm súng đại pháo của người Palestine. Nên Do Thái đòi hỏi Palestine phải phi quân sự (demilitarized).

Người tin nạn: Năm 1948 khi quốc gia Do Thái được thành lập có khoảng 720,000 người Palestinians trở thành người tịn nạn. Ngày nay có khoảng 4 triệu người tịn nạn ở Jordan, Lebanon, Gaza, Syria, và Iraq. Người Palestinians đòi Do Thái cho họ trở về đất Do Thái, người Do thái từ chối, vì sợ đa số người Ảrập trong nước Do Thái.

Quân khủng bố Palestinian: Hầu hết các tổ chức khủng bố Ảrập đều nhắm tận diệt Do Thái. Chỉ có tổ chức Palestine Liberation Organization (PLO) từ bỏ mục đích đó . Thế nhưng các tổ chức khủng bố trong vùng đất do PLO kiểm soát vẫn tiếp tục mục đích tận diệt Do thái.

Áp Bức Do Thái: Để chống lại các quân khủng bố, Do Thái hạn chế sự đi lại của người Palestinians.

Hy vọng Hòa Bình : (Thánh vịnh (TT 122) : 6 a "Hãy xin bình an cho Yêrusalem ! " Trải qua hàng thế kỷ, vùng đất "đượm sữa và mật" như đựơc hứa, nhưng dường như vùng đất này khó lòng đáp ứng được những trông đợi về một vùng địa đàng trên đất.Hòa bình có thể đến khi vua hòa bình đến ngự trị trên đất.

II – Lịch sử các địa danh mà đoàn du lịch sẽ thăm viếng

A. Các địa danh nổi tiếng :

Ngoài các nơi nổi tiếng như: Yêrusalem, Cabênaum, Galilê, Bêtlêhem, ta còn có dịp đi đến các nơi ít ai nhắc đến như: Suối Elisha'spring tại Jericho (II vua 2: 19) nơi Ông Ngôn sứ Êlise chữa lành nước đắng hóa ngọt cho đến ngày nay. Núi Cạtmên cuộc thi của ngôn sứ Eli và tiên tri của thần Baanh (I Vua 18) . Núi Siôn " Ta bước lên Siôn ! "

"Bên trời Babylon

Nước mắt hay sóng buồn

Đàn treo trên cành liễu

Ai ngồi nhớ Siôn ! ".

Biển hồ GaliLê "The most noble sea, that carried upon its waves the King of kings, Jesus. Mat 14: 22 ".

Caesarea, first century congregation: Origen, giáo phụ của Giáo Đoàn đầu tiên tại đây. Amphitheater at Caesarea Peter and Paul preached (north of Tel Avil). Nhà hát lộ thiên tại Cesare, phía bắc Tel Avil, nơi các thánh Phêrô giảng cho Cọtnây (CV 10) và thánh Phaolô giảng cho vua Aripha (CV 25: 13).

Thương cảng Jobba, bờ biển Địa Trung Hải nơi tiên tri Giôna cãi Chúa trốn đi sang Âu Châu (Giôna 1: 3) .Và nơi thánh Phêrôkiến bà Tabitha sống lại (bà Đôca CV 9: 39). Ta còn tìm thấy hồ nước để làm phép Thánh Tẩy (Baptem: dìm mình) làm bằng đá, từ thế kỷ thứ I ở nhà thờ Greek Orthodox tại Hebron.

B.Các địa danh liên quan đến việc dịch Thánh Kinh.

Belehem: Thánh Jerome đã ẩn mình trong hang đá để dịch Thánh Kinh sang tiếng "đế quốc" (Latinh) trong 25 năm. Ông bị chặt đầu, khi đi đến, ta sẽ thấy tượng ông và con gà. (không phải là ông thánh Phêrô mà là Jêrome, đại giáo phụ ảnh hưởng Cơ Đốc giáo suốt 15 thế kỷ).

Qumran Park -The Dead Sea Scrolls: 1947 Một phần Cựu Ước của KT cổ nhất( -100 BC và 100 AD ) đã được tìm thấy do hai cậu bé chăn cừu tại hang núi hoang vu gần biển chết, vùng tây nam của Do thái.

III _ Ảnh hưởng của việc du lịch đối với tâm linh của tín hữu

Quan Điểm Hành Hương :

Có quan điểm giả định rằng một chuyến hành hương đến vùng đấtThánh Kinh sẽ cất bỏ được sương mù trong linh hồn và đem lại một khải tượng rõ ràng về thân vị của Đấng Kitô. Nhưng Lời Chúa KHÔNG đưa ra ơn phước đặc biệt nào cho tội nhân nhờ vào việc người ấy đi đến một nơi cụ thể nào đó. CHỈ CÓ ĐỨC TIN nơi sự hy sinh của CON Thiên Chúa mới có thể mang hoà giải đến giữa Thiên Chúa và con người và chịu phép Thánh tẩy .Hai điều này có thể được thực hành như nhau từ bất cứ NƠI NÀO trên thế giới.

Vì vậy không nên ngạc nhiên khi tìm thấy Tân ước giải thích lời hứa Đức Chúa Trời dành cho Apraham bằng thuật ngữ vũ trụ (cosmic ) Roma 4:13 Toàn bộ vũ trụ được sáng tạo sẽ là của ai có Đức Tin như của Apraham. Dường như Apraham ý thức dữ kiện này ngay từ đầu.ThánhKinh làm chứng rằng ông "Chờ một thành có nền vững chắc, mà Thiên Chúa đã xây cất và sáng lập"(Do Thái 11: 10). Ông không chỉ trông đợi quyền sở hữu vùng Canaan.Ông tìm kiếm một thế giới với một nền móng được xây dựng bởi chính Thiên Chúa, một thế giới được được đổi mới và còn lại đời đời. Apraham và các tổ phụ khác mới " Ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời " (Do Thái 11: 16).

Lịch sử xứ Palestie, chuẩn bị cho công cuộc Cứu Thế.

Thiên Chúa đã chọn mảnh đất nhỏ bé này làm cái nôi diễn ra lịch sử cứu độ toàn thể nhân loại. CON Thiên Chúa đã trở nên một người Do Thái, đảm nhận toàn bộ dòng lịch sử của dân tộc người, một dân tộc sau khi bị lưu đầy ở Asiri 883 BC, lại rơi vào sự thống trị của người Batư (Iran) 722 BC, Babylon (Irac) 539 BC, Aicập 331-198 BC, rồi đến người Hy lạp (Greek)100 BC và sau cùng là người Rôma (Italy) năm 63 AD .

Người Do Thái bị tản lạc làm ích lợi cho các xứ họ lưu ngụ, vì ở bất cứ nơi nào họ tản lạc, họ đem theo mô hình "nhà hội "(synagogues cứ 10 người nam là có một nhà hội Do Thái), đây làm căn bản, tiên phong cho các Hội Thánh Tân ước sau này trên toàn cầu.( Tân Ứơc chúng ta không phân biệt nam nữ nữa).

Phúc Âm, Tin Mừng được lồng trong lịch sử "Khi kỳ hạn đã được trọn" (Galát 4:4)" Ngôi Lời đã trở nên xác thịt "( Gioan 1:14) trong một bối cảnh hết sức thuận tiện cho việc cứu rỗi nhân loại như sau:

Pháp Luật : Về hình sự ,đế quốc Lamã mới có hình thức tử hình vừa bị đổ máu, vừa bị treo trên cây gỗ. (Ứng nghiệm lời Chúa: Xuất 24: 8" Không đổmáu (huyết) thì không có sự tha thứ"; "Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ".Đệ Nhị Luật 21: 23) để hội đủ điều kiện mang tội lỗi của cả nhân loại.

Ngôn Ngữ: Tiếng cổ của xứ Guiđa là Aram, tiền thân, gốc của tiếng Hêborơ. Tiếng Koine, là gốc của ngôn ngữ Hylap (Greek). Tiếng Latin, gốc của Anh, Pháp ngữ. Tiếng Hán gốc của chử Nôm. Lúc Chúa Jêsus giáng sinh, thế giới lúc bấy giờ dùng một ngôn ngữ thông dụng là: Hylạp, Latinh. (Ngày nay Medical term còn dùng tiếng Latin cho toàn thế giới ).

Văn Hóa: Xã hội thời thế kỷ đầu đã bị ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp, con người hay tìm hiểu và hay chấp nhận những luồng tư tưởng mới.

Hệ thống giao thông đường xá : Đế quốc Roma đã có một hệ thống giao thông khắp đế quốc và có hệ thống bưu chính.( Đường nào cũng đến Lamã ! ) Nên ngay khi Chúa Giêxu về trời, các thánh tông đồ đã có thể rao truyền Phúc Âm, khắp Đế quốc La Mã, qua việc viết và gừi các thư tín. Áp dụng lời Chúa vào sự truyền giáo.

Sự hình thành của Tân Ước :

Thiên Chúa muốn mặc khải cho nhân loại bằng ngôn ngữ loài người.

Làm sao nhửng sách Tân ước ược trở thành những sách có thẩm quyền và uy tín ?

a- Tín đồ đầu tiên dùng Thánh Kinh Cựu ước để học hỏi Lơì Chúa.( I Tim 3: 16).

b- Ba tiêu chuẩn để xác định "quy điển", thư quy: Tác phẩm phải bắt nguồn từ các thánh tông đồ( Viết bởi Sứ đồ) * Viết bởi đệ tử của tông đồ * Viết trong thời kỳ các sứ đồ. Chứng từ thành văn của các Tông đồ, sứ đồ.

Thánh Kinh Tân ước được lồng vào bối cảnh của một quốc gia nhược tiểu, y như thân phận của Đấng Cứu thế. Qua lịch sử và xã hội, chúng ta có thể nói rằng bộ Kinh Tân ước được mô tả như sau: có một thân thể Hylạp, sức mạnh của Lamã, mang một tinh thần của Hêbơrơ (Do Thái), và tâm linh là của Đấng Kitô qua các giai đoạn như sau:

1- The Septuagint : Vua Alexandre, Đế Quốc Hy lạp đã cho 72 học giả dịch Kinh Thánh (Cựu Ước) từ Hêbơrơ sang Hy lạp gọi là "Bản 70" được dịch vào năm -250 BC -100 BC. Rất quý giá đây là bước đầu cho sự phổ biến ngoài xứ Palestine.

2- Vulgate :Khi ông thánh Jerome dịch Thánh Kinh Cựu Ước từ Hy lạp, và Tân Ước từ ngôn ngữ Aram,Hy lạp sang tiếng Latinh vào năm 410 AD tại Bêtlêhem, ông dịch trong 25 năm. Đây là bước đem Thánh Kinh đến toàn cầu (Khi đi đến xứ thánh có thể chúng ta sẽ tham quan hang động nơi ông đã ở, trốn tránh trong hang đá, sau ông bị giết vì tội dịch TK). Latin thời này như tiếng Anh ngày nay. Đây là bản Vulgate được dùng như nền tảng Kinh Thánh trong nhiều thế kỷ sau, (1500 năm sau) .

Sau Đế quốc Lamã, Thánh Kinh được phổ biến trong giáo hội Công giáo Lamã và Chính Thống toàn bộ Cựu Tân Ước bằng tiếng Latin. Các dịch giả dịch dịch ra ngôn ngữ địa phương chỉ một phần của Thánh Kinh từ thế kỷ thứ 6-11 gồm các vị như : Augustine 596 AD, Caedmon 676 AD, Aldhelm 709 AD, Bede 735 AD, Alfred The Great 871AD ,Aldred 950 AD, Aelfric 955 AD , Normans Conquer 1066 AD.

3- Thế kỷ 14,15,16 Kinh Thánh đầu tiên đươc dịch sang Anh, Pháp và Đức ngữ tại Đức . Các dịch giả John Wycliffe 1382, Erasmus 1516, William Tyndale 1525 AD đều bị bắt bớ.Các phong trào cải chánh đề cao việc áp dụng Kinh Thánh.

4- Công Đồng Vatican II 1962, đã cho phép dịch toàn bộ Thánh Kinh ra các ngôn ngữ địa phương.

Hiện nay, Thánh Kinh Việt Ngữ đã có khoảng 9 bản dịch khác nhau, do cả hai giáo hội Công giáo và Tin Lành. (có thể có hơn mà tôi chưa được biết.)

1- Bản Thánh Kinh truyền thống, do thi sĩ Phan Khôi dịch 1926.

2- Bản dịch do Linh Mục Trần Đức Huân từ bản Vatican 1970- Imprimatur, Tổng Giám Mục Nguyễn văn Bình.

3- Bản do Linh Mục Nguyễn Thế Thuấn- Dòng Chúa Cứu Thế, từ bản Jerusalem Hy bá 1976- Chuẩn Ấn Imprimatur Phaolo Nguyễn Văn Bình 12-11-1975

4- Bản dịch diễn Ý do Ms Lê Hoàng Phu 1998.

5- Bản "Các Giờ Kinh Phụng Vụ" do Nhóm Phiên Dịch, 1998 Vietnamese Bible Society, Imprimatur: Phaolo Nguyễn Văn Bình và Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn.

6 - Bản dịch mới nhóm dịch thuật MS Tiến sĩ Trần Đào 2002 (dịch từ nguyên bản Hybálai và Hy lap.)

7- Phiên dịch và diễn nghĩa Thánh Kinh Tân Cựu Ứơc do Linh Mục Antôn Trần Văn Kiệm 2006.

8- Bản Kinh Thánh Truyền Thống Hiệu Đính 2010- Liên hiệp Thánh Kinh Hội Việtnam.

9- Bản dịch do Ms Đặng Ngọc Báu 2012.

Kết Luận:

Trong cuộc hành trình đất thánh, chúng ta sẽ bước trên những vết chân các tổ phụ trong thời Cựu ước, thời kỳ mở màn cho Đấng Mêsia (Đấng Thiên Nhiệm-CứuThế)vào thế gian. Thiên Chúa chẳng những sắm sẵn một dân tộc Do Thái mà còn chuẩn bị Hy lạp hợp nhất các nền văn minh Á, Âu, Phi, và đã đặt ra một thứ tiếng phổ thông khắp thế giới.Lamã gồm cả thế giới thành một đế quốc, và đắp đường xá. Dân Do Thái bị tản lạc giưã các nước, đem theo nhà hội, Thánh Kinh, chủ nghĩa độc thần, đã làm cho bốn phương biết họ đang trông đợi Đấng Cứu thế. Như Vậy Thiên Chúa đã dọn đường cho cuộc trao truyền Tin Mừng giữa các nước.Sau hết ta cũng sẽ được bước trên bước chân chính Chúa Jêsus và các tông đồ đã đi qua, để chúng ta sẽ tiếp tục công việc của Chúa Jêsus trên trần thế này và vua hòa bình sẽ hồi lai.

Vũ Quý Vân biên soạn 5-2013

Thư Tịch:

- Rose Book of Bible Charts,Time Lines - Rose Publishing 2005.Trang 21-30

- Liên Hữu Đặc San tháng 10- 2010. Vietnamese World Christian Fellowship Inc.

- Tân Ước Lược Khảo I- VBTS - GS: Nguyễn Ngọc Long.Trang 20-27

 
TOI DI HANH HUONG DAT THANH # 10 PDF Print E-mail

 

                        TÔI ĐI HÀNH HƯƠNG ĐẤT THÁNH # 10

                       26- Đoạn đường Emmaus : Lc 24, 13-17

                       27- Chúa lên Trời : Lc 24, 50-51

                        28-Ông Tê-pha-nô bị bắt : Cv 6, 8-15

 

26- Đoạn Đường Em-mau : Đây là một địa điểm cách Gierusalem khoảng 30 km về phía Tây; nhưng việc xác định làng này còn đang trong vòng tranh luận. Họ chỉ nhận ra Đức Giesu khi Người đã dùng Lời Kinh Thánh để giúp họ đi vào mầu nhiệm sự chết và sống lại của Người và khi Người bẻ bánh.

Kinh Thánh kể : Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giêrusalem 60 chặng. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn vị ngăn cản, không nhận ra Người. Người bảo họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ? Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu.” (Lc 24, 13-17)

( Emmaus est le site traditionnenl du village de deux des disciples de Jesus. Deprimes, les deux hommes, de retour aux village apres la Cene et la Crucifixion, rencontrerent un etranger qui leur expliqua le sens de tout ce qui s’etait passe’)

 

27- Chúa lên trời : l’Ascension – Mont des Olivers.= Lc 24, 50-51.

   Sau khi sống lại 40 ngày, Đức Giesu hiện ra nhiều lần với các môn đệ và Người được rước lên trời :

Kinh Thánh kể : “Sau đó Người dẫn các ông tới gần Bê-tan-ni-a, rồi Người dơ tay chữa lành cho các ông. Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được rước lên trời. (Lc 24, 50-51)

Các Môn đệ thờ lạy, tôn thờ Người làm Chúa của các ông và chúc tụng Thiên Chúa. Kết thúc những lần Chúa hiện ra cho các Môn đệ, đồng thời bắt đầu sứ vụ rao giảng của các ông. (x. Mt 28, 19-20)

(40 jours apres la resurrection de Jesus prit place l’Ascention…)

 

28- Ông Tê-pha-nô bị bắt : Cv 6, 8-15

Kinh Thánh kể : Ông Tê-pha-nô được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng dấu lạ lớn lao trong dân…Nhưng họ không địch lại nổi lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông… Họ đưa mấy người chứng gian ra khai rằng : “”Tên này không ngừng nói những lời phạm đến Nơi Thánh và Lề Luật…Toàn thể cử tọa trong Thượng Hội Đồng đều nhìn thẳng vào ông Tê-pha-nô, và họ thấy mặt ông giống như mặt thiên sứ.” (Cv 6, 8-15)

   Ông Tê-pha-nô phải đương đầu với những người Do thái theo văn hóa Hy lạp. Họ từ chối đón nhận sứ điệp ông loan báo và còn âm mưu bắt ông giải cho Thượng Hội Đồng. Cuộc tử đạo của ông gần giống như cuộc thương khó của Chúa Giêsu ở điểm này : Ông đã giảng một bài rất dài tóm tắt lịch sử ơn cứu độ, ông kết thúc bằng lời tố cáo tội ác của những người Do thái đường thời….Ông cho thấy Thiên Chúa không ở trong những nơi do tay người phàm làm ra :

“PHẢI THỜ PHƯỢNG NGƯỜI THEO THẦN KHÍ VÀ SỰ THẬT” (Ga 4, 23)

 

Ptế GB Maria Định Nguyễn/ Huyền Đồng

Viết theo Dans les Pas De Jesus-Christ

 
<< Start < Prev 1 2 3 Next > End >>

Page 1 of 3