mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2098
mod_vvisit_counterHôm Qua5693
mod_vvisit_counterTuần Này27759
mod_vvisit_counterTuần Trước36065
mod_vvisit_counterTháng Này86934
mod_vvisit_counterTháng Trước189436
mod_vvisit_counterTất cả8982014

We have: 109 guests online
Your IP: 54.81.157.56
 , 
Today: Aug 18, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 393=TOI DIEU RAN THU NHAT PDF Print E-mail

NÓI THÊM VỀ TỘI PHẠM ĐIỀU RĂN THỨ NHẤT

Hỏi: xin cha nói rõ thêm về những tội nghịch điểu răn thứ nhất phải tránh.

Trả lời:
Điều răn thứ Nhất dạy chúng ta phải thờ phượng một mình Thiên Chúa trên hết mọi sự để được cứu rỗi và hưởng Thánh Nhan Người trên Nước Trời mai sau.Phải thờ lậy Chúa vì đức tin đã cho ta xác tín Người là Đấng đã tạo dựng muôn loài muôn vật hữu hình cũng như vô hình, trong đó đặc biệt có con người là tạo vật được dựng nên " theo hình ảnh của Chúa" với hai đặc tính có lý trí và ý muốn tự do (intelligence and free will) mà không một tạo vật nào khác có được.
Qua Ông Mô-sê, Thiên Chúa đã nói với dân Do Thái xưa kia như sau :
"Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi Ai cập, khỏi cảnh nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta..." (Đnl 5:6-7)
Trên đây là nội dung Điều Răn thứ nhất trong bản Thập Điều (Decalogue) mà Thiên Chúa đã trao cho Ông Môsê để truyền lại cho dân Do thái tuân giữ như Giao Ước của Người với họ để họ được chúc phúc và được sống muôn đời.(Đnl 5).
Mười Điều Răn này vẫn được áp dụng cho dân Chúa từ thời Cựu Ước cho đến ngày nay.Nhưng cần phải nói ngay ở đây một lần nữa là sở dĩ Thiên Chúa truyền Lề Luật cho con người tuân giữ là vì phúc lợi của con người chứ tuyệt đối không phải vì lợi lộc nào của Chúa, khiến Người phải ngăn cấm con người không được làm hay phải làm những điều ghi trong Mười Điều Răn mà con người phải thi hành để được chúc phúc.
Chúa Giêsu đã nhắc lại Điều Răn thứ Nhất và cũng là điều răn quan trọng nhất khi Chúa trả lời cho một luật sĩ thuộc nhóm Biệt phái và Xa đốc xưa kia như sau:
"ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và là điều răn thứ nhất." (Mt 22: 37-38).

Yêu mến một mình Thiên Chúa trên hết mọi sự có nghĩa là chỉ tôn thờ và yêu mến Người trên hết mọi thần linh khác của những người không chia sẻ một niềm tin với người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo.Nói khác đi, là tín hữu Công giáo thì không được tin và kêu cầu đến một thần linh nào khác ngoài Thiên Chúa Ba Ngôi ra. Chỉ có Ngài là Thiên Chúa duy nhất, Đấng cầm quyền cại trị vũ trụ và sự sống của của con người cùng mọi tạo vật, và nhất là đã cứu chuộc con người nhờ Chúa Kitô, tức Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống trần gian làm Con Người để "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người."( Mt 20: 28) )
Như vậy, ngoài Thiên Chúa Ba Ngôi ( The HOLY TRINITY) mà chúng ta phải tôn thờ, Đức Trinh Nữ Maria, dù là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos), Mẹ của Giáo Hội, Thánh Cả Giuse cùng các Thánh nam nữ khác trên Thiên Đàng chỉ là những mẫu gương sáng ngời cho ta noi theo để nên thánh và nhờ cậy cầu bầu trước Tòa Chúa mà thôi, chứ không phải là đối tượng chính của lòng tin và tôn thờ (adoration). Đối tượng chính của lòng tin yêu và tôn thờ phải là Thiên Chúa Ba Ngôi, trong khi chúng ta cũng yêu mến và tôn kính (veneration) Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse và các Thánh nam nữ trên Trời nữa.
Do đó, từ góc độ thần học và đức tin này, mọi người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo hội Công Giáo cần phải tránh xa mọi hình thức tin tưởng hay trông cậy trái nghịch với Điều Răn thứ nhất trên đây thể hiện qua những thực hành sai trái và có tính cách mê tín dị đoan sau đây:

1. Thờ các ngẫu tượng (idolatry):

Điều răn thứ nhất cấm tôn thờ bất cứ thần linh (idols) nào ngoài Thiên Chúa ra, như thờ thần cây đa, thần bếp, thần hỏa, thần nước, thần tài,v.v.Mặt khác, người Công giáo cũng không thể nói ba phải rằng Đạo nào cũng tốt, thần linh nào cũng đáng kính , nên có thể đem trưng bầy trên ban thờ ở nhà ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ chen lẫn với các tượng Đức Phật, Đức Không Tử, Lão Tử, Mohammeh (của Đạo Hồi) v.v. Chúng ta tôn trọng niềm tin của các tín đồ khác, nhưng không cùng chia sẻ niềm tin của họ về Đấng họ tôn thờ, như chúng ta tin và tôn thờ Thiên Chúa của chúng ta.
Do đó, người Công giáo mà trưng ảnh tượng bất cử thần linh nào khác là lỗi phạm điều răn thứ nhất dạy thờ phượng một mình Thiên Chúa mà thôi.Lại nữa, nếu vì xã giao mà phải tham dự các buổi lễ của các tôn giáo khác, hay đến viếng người chết ở nhà quàn (funeral home), người Công giáo không được phép bái lạy các tượng Đức Phật, Đức Khổng Tử hay bất cứ ảnh tượng nào mà các tín hữu bạn tôn thờ. Đó là niềm tin của họ, chúng ta tôn trọng, nhưng không chia sẻ niềm tin với họ như đã nói ở trên.Tuy nhiên, chúng ta được phép đốt nhang cho người chết ở nhà quàn hay tư gia.
Cũng cần nói thêm là, để tỏ lòng tôn kính, tôn thờ một mình Thiên Chúa trên hết mọi thần thánh, kể cả Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse, người Công giáo, mỗi khi vào nhà thờ, phải bái quì thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện cách bí nhiệm cùng Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi và trong bí tích Thánh Thể nơi Nhà Tạm ( Tabernacle) trước khi quay sang chỗ trưng bày thánh tượng Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse hay Thánh Nam nào Nữ khác. Đây là hành vi đức tin thể hiện lòng tôn thờ một mình Thiên Chúa Ba Ngôi trên hết mọi thần thánh khác, và chắc chắn điều này làm đẹp lòng Chúa, Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ đang chầu trực, ngợi khen Chúa trên Thiên Đàng.
2- Tội phạm thánh ( Sacrilege) :
Được coi là lỗi đức thờ phượng, tức điều răn thứ nhất những hành vi sau đây :
a-đang khi có tội trọng, chưa được tha qua bí tích hòa giải mà dám rước Mình Máu Thánh
Chúa Kitô ( giáo dân) hay cử hành thánh Lễ Tạ Ơn ( linh mục) đều mắc tội phạm thánh. (x. giáo luật số 916)
Thánh Phaolô cũng nói rõ tội này như sau :
" Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh này và uống Chén của Chúa cách bất xứng thì cũng
phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hay ăn Bánh và . uống Chén này," ( 1 Cor 11: 27-28)
b-Ai ném bỏ Mình Thánh hay lấy Mình Thánh về nhà để làm việc mê tín là phạm thánh. . và bị vạ tuyệt thông tiền kết ( x giáo luật số 1367).
Ngoài ra, cũng kể là phạm thánh những hành vi bất kính như đạp chân lên, hay quăng vào thùng rác các ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ và các Thánh hoặc các đồ dùng đã được làm phép như bình đựng Mình Thánh ( Ciborium) chén lễ ( Chalice) khăn thánh ( purificator, corporal) ..
Mặt khác, cũng được kể là phạm thánh ai hành hung Đức Thánh Cha ( mắc vạ tiền kết, giáo luật số 1370 & 1) và các vị có chức thánh hay lời khấn như linh mục, Giám mục, tu sĩ .
c-Sau nữa, cũng được coi là tội phạm thánh những ai phá hủy nơi thờ phượng như nhà thờ,Tu viện và nhà nguyện công ( Public chapel) kể cả giết người và làm việc ô uế (dâm dục) trong nơi thờ phượng. Giết người và làm chuyện ô uế ở nơi khác thì chỉ có tội sát nhân và tội dâm dục, nhưng nếu phạm các tội này ở nơi thờ phượng thì mắc thêm tội phạm thánh nữa.

3-Bói toán và ma thuật (divination and magic)
: Tất cả những hình thức mê tín như bói toán, coi chỉ tay, bói bài, tử vi (horoscope) chiêm tinh, (astrology) phong thủy địa lý, phù thủy (sorcery) đồng bóng.... đều là các việc lỗi nghịch điều răn thứ nhất, tức vi phạm niềm tin vào một Thiên Chúa toàn năng duy nhất, Chủ Tể của mọi loài, và là Đấng luôn quan phòng đời sống con người và vạn vật theo sự khôn ngoan và nhân hậu tuyệt vời của Ngài. Vì thế, khi tin và thực hành các hình thức mê tín trên đây, người ta đã tìm đến một hay nhiều quyền lực khác trong vụ trụ hữu hình này thay vì chỉ tin cậy một mình Thiên Chúa mà thôi. Vì thế, người tín hữu Chúa Kitô phải tránh xa các hình thức mê tín trên đây, vì làm một trong những việc này là chứng tỏ không tuyệt đối tin tưởng vào một mình Chúa là Đấng duy nhất ban phát mọi ơn lành và làm chủ vận mạng con người và vũ trụ.(SGLGHCG, số 2115-2117). Thánh Kinh đã lên án tội bói toán, phù thủy, và thờ ngẫu tượng, đồng bóng như sau:

"giữa anh em không được thấy ai làm lễ thiêu con trai, con gái mình, không được thấy ai làm nghề bói toán, chiêm tinh, tướng số, phù thủy, bỏ bùa, ngồi đồng cốt, gọi hồn. Thật vậy, nếu ai làm điều ấy thì là điều ghê tởm đối với Đức Chúa,và chính vì những điều ghê tởm đó mà Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em đã trục xuất các dân tộc ấy cho khuất mắt anh em." (Đnl 18: 10-12).
Hoặc:
"Khi người đàn ông hay đàn bà nào có ma nhập thần ám thì phải bị xử tử, người ta sẽ ném đá chúng, máu chúng đổ xuống đầu chúng." (Lêvi 20:27) và "đàn bà phù thủy, ngươi không được để cho sống." (Xh 22:17)
Tuy nhiên, những lời dạy trên đây chỉ nhằm nhấn mạnh đến việc cấm làm những chuyện mê tín dị đoan, trái đức tin như gọi hồn người chết, đồng bóng, phù thủy... vẫn còn thịnh hành ở một số nơi trên thế giới, đặc biệt là ở VietNam.Nhưng không được hiểu những lời trên theo nghĩa đen là phải giết hại ai làm những việc đó.
Nhân tiện, phải nói rõ thêm về việc xem tử vi như sau:
Hiện nay trên Truyền hình Việt Nam ở Mỹ , có nơi có chương trình nói về tử vi cho người xem. Ông thầy tử vi này đã đưa ra những khuyên cáo như tuổi này hợp với tuổi kia thì làm an mới thành công, nhất là được hạnh phúc trong hôn nhân, nếu vợ chồng hợp tuổi nhau. .Điều này sẽ gây tai hại cho những cặp vợ chồng đã lấy nhau lâu nhưng không biết là có hợp tuổi hay không. Nay vì những chỉ vẽ vô căn cớ của thầy tử vi, họ có thể bỏ nhau để kiếm người hợp tuổi hơn. Hoặc các đôi trai gái sắp kết hôn có thể tin theo thầy tử vi để không dám kết hôn vì không hạp tuổi, dù hai người đang yêu nhau. Người Công Giáo tuyệt đối không được tin theo những lời chỉ dẫn vô cán cứ của các thầy tử vi về vấn đề hạp tuổi trong hôn nhân và trong việc làm ăn.Cụ thể, các người làm cha mẹ không nên đi xem tử vi để quyết định việc hôn nhân cho con cái mình,.Những chỉ dẫn của các thầy tử vi hoàn toàn không có cơ sở tín lý hay khoa học nào, nên không được tin theo họ. để không mắc tội nghịch điều răn thứ nhất dạy phải tôn thờ và tín thác vào Chúa quan phòng mà thôi.

4-Mê tín dị đoan (superstitions):
Phải kể là tội nghịch điều răn thứ nhất các hình thức mê tín dị đoan có trong mọi nền văn hóa như tin con số 9, kiêng số 10, số 13, kiêng chụp hình 3 người, tin ra ngõ gặp đàn bà thì xui, mèo đến nhà thì khó, chó đến thì sang... đeo bùa ngãi, xin sâm, xin quẻ, tin 12 con vật cai trị vận mạng con người và vũ trụ v.v. Những tin tưởng này đều tuyệt đối không có cơ sở giáo lý, và đức tin nào, nên người tín hữu Chúa Kitô phải xa tránh mọi tin tưởng và thực hành sai trái nói trên để tuân giữ cách nghiêm túc Điều răn thứ nhất dạy ta phải tin và thờ phượng một mình Thiên Chúa Ba Ngôi, là Nguồn duy nhất ban phát mọi ơn lành mà thôi.

Tóm lại, mọi hình thức đưa đến tin tưởng vào một quyền lực hay thần linh nào ngoài Thiên Chúa ra đều là tội phạm đến Thiên Chúa là Đấng duy nhất ta phải tôn thờ và cầu xin mọi ơn lành hoặc giúp tránh những sự dữ, tai họa cho hồn xác trong cuộc sống trên trần thế này. Nhưng cho được xin ơn Chúa cách hữu hiệu, Giáo Hội dạy mọi tín hữu hãy chạy đến cùng Đức Mẹ, Thánh Cả Giuse và các Thánh Nam Nữ để xin các ngài nguyện giúp cầu thay cho ta trước Tòa Chúa. Nghĩa là tuyệt đối không thể nhờ thầy bùa, thầy pháp, thầy bói, thầy tử vi, thầy địa lý, phong thủy hay chiêm tinh gia nào có thể giúp xoay chuyển được số mệnh hay giúp tránh tai ương, hoạn nạn cho con người ở đời này. Ấy là chưa nói đến những tai họa bất ngờ có thể xảy ra chỉ vì tin và nghe lời các thầy này và các tiên tri giả ( đầy rẫy ở khắp nơi) chỉ vẽ tầm bậy, khiến đưa chân vào hiểm họa không ngờ nữa.

Cụ thể, cách nay hơn hai mười năm, một nhóm 20 tín đồ của giáo phải Cổng Trời ( Heaven Gate) bên California đã tự sát tập thể vì nghe lời "giáo chủ" của họ "tiên tri " tầm bậy là sắp tận thế rồi nên phải chết nhanh đi để được lên Thiên Đàng ! Lại nữa, nhóm Hồi giáo quá khich( Fanatic Moslems ) cũng chủ trương giết những đối thủ của họ ( ám chỉ người Mỹ và các Kitô hữu) để được lên Thiên Đàng ! Vì thế mà có những kẻ cuồng tín đầy mê muội đã ôm bom tự sát và giết hại người khác để hy vọng sớm được lên Thiên Đàng !
Người tín hữu Công giáo phải quyết tâm xa tránh những tin tưởng và thực hành sai trái nói trên để sống đẹp lòng Chúa và nói lên niềm tin của mình vào Một Thiên Chúa toàn năng, đầy lòng nhân ái, và là Nguồn duy nhất ban phát mọi ơn lành, an vui và hạnh phúc cho con người.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO #392 =TINH THUONG VA THA THU PDF Print E-mail

TÌNH THƯƠNG Và THA THỨ CỦA CHÚA CÓ TỰ ĐỘNG ĐẾN VỚI CON NGƯỜI HAY KHÔNG ?
Hỏi :
xin cha giải thích rõ về điều kiện để được hưởng lòng Chúa thương xót, và tha thứ .
Trả lời:
Thiên Chúa là tình yêu và giầu lòng thương xót, nên đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Giê su-Kitô, Đấng cũng vì thương xót nhân loại mà đã vui lòng đến trần gian làm CON NGƯỜI để hy sinh " mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20:28).
Khi hiện ra với ông Mô-sê từ trên đám mây, Thiên Chúa đã phán bảo ông như sau:
" ĐỨC CHÚA ! ĐỨC CHÚA ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận; giầu lòng nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ..."( Xh 34: 5-7)
LỜI Chúa trên đây đủ minh chứng Người là Thiên Chúa của tình yêu và lòng thương xót. thứ tha vô biên.
Đó là chân lý chúng ta phải nắm chắc mỗi khi suy niệm hay nghĩ đến Chúa trong tâm tình biết ơn và suy tôn tình thương và lòng thương xót của Chúa. Phải ca tụng và biết ơn Chúa vì Chúa tạo dựng và cứu chuộc con người tuyệt dối không vì lợi ích nào của riêng Người, mà hoàn toàn chỉ vỉ yêu thương và muốn chia sẻ hạnh phúc của mình cho mọi con cái loài người mà thôi.
Như thế, đừng ai nghĩ sai lầm là Thiên Chúa có lợi gì mà phải tạo dựng và cứu chuộc con người, đến nỗi đã hy sinh chính Con Một của mình là Chúa Giê-su-Kitô chết đau thương trên thập giá cách nay trên 2000 năm để cho con người có hy vọng được cứu độ và sống hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Phải nói là có hy vọng thôi chứ chưa bảo đảm 100% ngay từ bây giờ, không phải vì Chúa Cha không thương yêu đủ hay công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô còn thiếu , mà vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng, để hoặc muốn chọn Chúa để hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kiô, hay từ khước Chúa để chọn con đường nào khác theo ý muốn riêng mình, khiến công nghiệp cứu chuộc của Chúa trở nên vô ích cho người đó.
Thật vây, Thiên Chúa yêu thương và giàu lòng thương xót.Nhưng Người không bắt buộc ai phải yêu mến Người để hưởng tình thương và lòng thương xót đó.Chúa chỉ mời gọi để tùy con người đáp trả mà thôi.
Dụ ngôn về tiệc cưới trong Tin Mừng Thánh Matthêu ( Mt 22: 1-10) và Thánh Luca ( Lc 14: 15- 21) đã chứng minh điều này. Hạnh phúc Nước Trời ví như tiệc cưới mà ông vua kia mở ra để mời khách đến dự nhân ngày thành hôn của con mình. Nhưng các khách được mời đều lấy cớ này hay lý do nọ để khước từ lời mời đó, khiến nhà vua phải sai gia nhân ra mời hết mọi người ngoài đường phố vào dự cho đầy nhà . Những khách chính thức được mời mà từ chối không đến chính là những người đã và đang từ chối không muốn yêu Chúa và sống theo đường lối của Người, như Chúa đòi hỏi để được chúc phúc.
Thật vậy, Chúa muốn cứu độ cho hết mọi người để ai cũng được vui hưởng tình yêu và lòng thương xót của Chúa cách nhưng không ( gratuitously) ban cho mọi người. Nhưng thực tế cho thấy là có biết bao người đã và đang khước từ lời mời của Chúa, vì quá yêu thế gian và những thực tại chóng qua ở đời này như tiền của ,vui thú bất chính và danh vọng phù phiếm.
Họ quá gắn bó với những thực tế hư hão chóng qua của trần gian đến nỗi không thể nâng lòng lên tới Chúa và ao ước những giầu sang phú quí và vui thú của Nước Trời nơi " trộm cắp không bén bảng, mối mọt cũng không đục phá." ( Lc 12: 33)
Thiên Chúa không bắt buộc ai phải nhận tình yêu và lòng thương xót của Người.
Chúa chỉ mời gọi và tùy con người đáp trả mà thôi. Do đó, nếu ai từ khước Chúa để sống theo thế gian, làm nô lệ cho ma quỷ,và làm những sự dữ, thì Chúa không can thiệp để ngăn cấm, nhưng con người phải chịu mọi hậu quả của việc mình chọn lựa . Và đó là lý do phải có Thiên Đàng để dành cho những người quyết tâm yêu mến Chuá và sống theo đường lối của Người trong suốt cuộc sống cho đến khi chết trên trần gian này.. Ngược lại, phải có hỏa ngục là nơi dành cho những ai đã hoàn toàn khước từ Chúa để sống theo thề gian, đầu hàng ma quỷ và làm những sự dữ như oán thù, giết người, giết thai nhi, gian tham , trộm cướp, bóc lột , vô nhân đạo, tôn thờ tiền của, ham chuộng khoái lạc ( hedonism) dâm ô thác loạn, buôn bán phụ nữa và trẻ em để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, thay chồng đổi vợ, tiếp tay với thế quyền để bóc lột, hà hiếp người dân lành thấp cổ bé miệng, và dửng dưng trước sự nghèo đói, bệnh tật và bất công xã hội.
Nếu những người này không mau kíp ăn năn sám hối để từ bỏ con đường tội lỗi đang đi, thì họ không thể hưởng được tình yêu và lòng thương xót (love and mercy) của Chúa cùng với công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô để vào Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng với các Thánh và các Thiên Thần đang thờ lậy, ngợi khen và vui hưởng Thánh Nhan Chúa, là Cha cực tốt cực lành.
Như thế có nghĩa là tình thương và lòng thương xót của Chúa Cha cùng với công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô không tự động ban phát cho ai mà không đòi hỏi sự cộng tác của người đó qua quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và bước đi theo Chúa Kitô là " Con Đường, là Sư Thật và là sự sống." ( Ga 14;6)..
Tinh thương và công nhiệp cứu chuộc của Chúa Kitô được tạm vì như giòng suổi nước chảy liên lỉ , nhưng con người nằm bên dòng suối đỏ phải cúi xuống để múc nước lên mà uống cho khỏi chết khát, vì giòng suối nước kia không có chức năng tự động nhảy lên bờ để chảy vào miệng ai cả. Nếu không tự cúi mình xuống mà múc nước lên, thì con người nằm bên bờ suối vẫn chết khát như thường.
Cũng vậy, về mặt thiêng liêng, nếu không cộng tác với ơn Chúa để sống theo đường lối của Chúa là đường dẫn đến hạnh phúc Nước Trời, thì Chúa không thể cứu ai được, vì Người còn phải tôn trọng ý muốn tự do của con người.
Nghĩa là, muốn hưởng tinh thương và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, thì phải từ bó tội lỗi, phải ăn năn sám hối để xin Chúa thứ tha mọi tội mình đã phạm vì yếu đuối con người. Chúa rộng lòng tha thứ nếu con người thực tâm sám hối như Chúa Giê su đã nói với bọn biệt phái xưa kia, khi họ đến hỏi Chúa xem có phải mấy người bị Tổng Trấn Phi-la-Tô giết chết cùng với 18 người khác bị thác Si-lô-a đổ xuống đè chết, là những người tội lỗi hơn người khác hay không,
Chúa đã trả lời họ như sau:
" Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy." (Lc 13: 3).
Như thế rõ ràng cho thấy là Chúa cần thiện chí của con người muốn được thương xót và cứu độ thể hiện qua quyết tâm xa tránh tội lỗi, vì chỉ có tội mới ngăn cản con người đến với Chúa để được thương xót và cứu độ. Chúa yêu thương kẻ có tội : đúng. Nhưng yêu thương để lôi kéo kẻ có tội ra khỏi con đường hư mất, chứ không yêu thương để dung dưỡng, nuông chiều kẻ có tội để họ cứ sống trong tội và nại lòng thương xót của Chúa để không ăn năn chừa bỏ.
Nếu họ cứ sống như vậy, thì lòng thương xót của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô sẽ không ích gì cho họ, vì họ đã lợi dụng lòng thương xót và công nghiệp ấy để cứ sống trong tội ,cứ làm sự dữ mà không biết ăn năn chừa bỏ.Phải có thiện chí muốn cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa và quyết tâm từ bỏ tội lỗi thì mới xứng đáng được hưởng lòng khoan dung tha thứ của Chúa.
Chúa Giê su đã đối xử khoan dung với một phụ nữ phạm tội ngọai tình mà bọn biệt phái kia đã dẫn chị đến để xin Chúa cho ném đá theo luật Mô-sê. Nhưng Chúa đã không lên án chị này như bọn biệt phái giả hình kia đòi hỏi , và đã nói với chị ấy như sau:
" Tôi cũng không lên án chị đâu.Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa." ( Ga 8: 11)
Tại sao Chúa không nói: chị cứ về đi , và nếu có phạm tội thêm lần nào nữa, thì lại đến tôi tha cho ? Ngược lại Chúa nói rõ là từ nay đừng phạm tội nữa.
Đó cũng là điều Chúa nói với tất cả mọi người chúng ta ngày nay đang sống đức tin trong Giáo Hội, giữa bao khó khăn thử thách đến từ thế gian vô luân vô đạo với đầy rẫy gương xấu và dịp tội, nhất là đến từ ma quỷ mà Thánh Phê rô ví như " sư tử đói gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" ( 1 Pr 5: 8) để lôi kéo chúng ra ra khỏi tình thương của Chúa và mất hy vọng được cứu rỗi..
Chúa đầy lòng xót thương, nhưng con người không được lợi dụng tình thương này để đi hàng hai, là một chân bước đi theo Chúa, còn chân kia bước đi theo thế gian và làm nô lệ cho ma quỉ. Ai sống như vậy thì hãy nghe lời Chúa Kitô nghiêm khắc cảnh cáo trong Sách Khải Huyền như sau:
: Ta biết các việc ngươi làm. Ngươi chẳng nóng mà cũng chẳng lanh, Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi cứ hâm hâm chẳng nóng, chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." ( Kh 3: 15-16)
Chúng ta đang sống trong những ngày tiếp theo của Năm Thánh Lòng Thương xót ( Jubilee of Mercy đã kết thúc tháng 11 năm 2016) .Năm này được mở ra để kêu gọi mọi người chậy đến đón nhận lòng thương xót của Chúa. Chậy đến như đứa con đi hoang trở về nhà cha và nói với cha rầng " Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha. Chẳng còn đáng gọi là con cha nữa..." ( Lc 15: 21). Nhưng người cha đã không la mắng con mà còn sai gia nhân làm tiệc ăn mừng con đi hoang đã trở về. Tuy miệng không nói ra, nhưng trong lòng, người cha cũng thầm nói với con rằng : cha tha tội đi hoang lần này của con. Con trở về rồi thì từ nay đừng đi hoang nữa nhé. Nghĩa là chắc chắn người cha không muốn nói với con rầng : cha đầy lòng xót thương, nên con cứ đi hoang rồi lại trở về thì cha lại tha thứ cho.
Chúng ta ,không ít thì nhiều, cũng là những đứa con đi hoang và nay trở về nhà Cha để xin tha thứ. Chắc chắn Cha sẽ mở rộng vòng tay để ôm lấy và sẽ mở tiệc ăn mừng.Nhưng chúng ta phải quyết tâm không bao giờ đi hoang nữa, tức là phải xa tránh tội lỗi để không tự làm hại mình và làm hư công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Làm hư công nghiệp này, vì nếu không quyết tâm đoạn tuyệt với tội lỗi thì Chúa không thể cứu ai được , dù đã một lần Chúa chịu đóng đanh và chết trên thập giá để đền tội thay cho con người.
Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu xưa đã chữa lành cho một người tàng tật; sau đó Chúa lại gặp anh này trong Đền Thờ, và Người đã nói với anh như sau:
" Này anh, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa kẻo lại phải khốn hơn trước." ( Ga 5: 14)
Như thế, rõ ràng cho thấy là nếu cứ coi thường hay lợi dụng lòng thương xót của Chúa để cứ đi hoang, cứ phạm tội thì sẽ tự làm hại mình và làm hư công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Cụ thể, nếu một người cứ lén lút phạm tội ngoại tình mà không có quyết tâm từ bỏ, thì sẽ có ngày mất hết danh dự và cả mạng sống nữa khi tình địch khám phá ra tội nặng này. Hoặc người lái xe cứ quen thói chạy vượt đền đỏ, thì chắc chắn có ngày sẽ gây tử thương cho mình và cho người khác trên công lộ. Lại nữa, cứ xâm nhập gia cư của người khác để ăn trộm, thì có ngày sẽ bị bắn chết, vì ở tư gia Mỹ rất nhiều người có súng đạn để tự vệ và bảo vệ tài sản của mình.
Tóm lại, lòng thương xót của Chúa mời gọi ta thêm yêu mến Chúa và sống sao cho đẹp lòng Người để mưu ích cho ta, chứ không có lợi gì cho Chúa, vì Người đã quá đủ hạnh phúc rồi.Nhưng vì lợi ích cho ta mà Chúa không dung dưỡng cho ai lợi dụng để dùng làm bình phong lá chắn , để cứ ngoan cố phạm tội mà không có thiện chí từ bỏ. Amen.
Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 391- THANH GIOA VIANNEY PDF Print E-mail

Ngày 04-08:
Thánh GIOAN MARIA VIANNEY
Linh mục, bổn mạng các linh mục
Hôm nay Giáo Hội mừng lễ thánh Gioan Maria Vianney. Đây là một vị đại thánh của Giáo Hội.


Thánh Gioan Maria Vianney, sinh ngày 8 tháng 5 năm 1786 tại Lyon nước Pháp và sau bao nhiêu khó khăn gian khổ, Gioan Maria Vianney được chịu chức linh mục và được giao phó nhiệm vụ làm cha sở họ Ars, một giáo xứ vừa nghèo vừa khô khan nguội lạnh. Cha Gioan Maria Vianney đã lãnh nhận giáo xứ này với tinh thần vâng phục cao độ. Ngài quả là vị mục tử gương mẫu.

Cuộc đời của ngài là cuộc đời chỉ biết lo cho việc loan báo Lời Thiên Chúa, giải tội, cầu nguyện và hãm mình. Có nhiều lúc, khuôn mặt ngài rạng rỡ khác thường, nhờ tình yêu bắt nguồn từ bí tích Thánh Thể mà ngài đem hết lòng sốt sắng để vừa cử hành, vừa thờ phượng.
Khi mới 8 tuổi ngài mới học đọc và biết viết. Vì nhà nghèo nên được cha sở nuôi dạy, và sau đó đã đưa ngài vào chủng viện. Vào trong chủng viện ngài không học được gì cả.
Ngày kia, một giáo sư thần học, thừa lệnh Đức Giám mục đến khảo sát Vianney xem có đủ khả năng học vấn để tiến tới chức Linh mục không. Nhưng Vianney không thể trả lời câu nào.
Nổi nóng, vị giáo sư đập bàn, nói: "Vianney, anh dốt đặc như con lừa! Với một con lừa như anh, Giáo Hội hy vọng làm nên trò trống gì!"
Vianney khiêm tốn bình tĩnh trả lời: "Thưa thầy, ngày xưa Samson chỉ dùng một cái xương hàm con lừa mà đánh bại 3000 quân Philitinh. Vậy với cả một con lừa này, chẳng lẽ Thiên Chúa không làm được việc gì sao?"
Cuộc cách mạng 1789 bùng nổ khiến thầy Vianney phải bỏ dở việc học. Nhưng sau đó thầy tìm hết cách để tự học dưới sự dìu dắt của cha xứ. Nhưng khổ thay, học mấy cũng chẳng nhớ. May lúc ấy địa phận gặp phải cảnh khan hiếm linh mục nên Vianney được bề trên gọi về để khảo hạch. Và lẽ dĩ nhiên là lần nào Vianney cũng trượt.
Vianney không nản lòng, cứ tiếp tục học. Cuối cùng, bề trên thấy thầy bền chí quá bèn gọi cha xứ đến để hỏi về thầy:
- Thầy có lòng đạo đức không?
- Thưa có.
- Thầy có kính mến phép Thánh Thể?
- Thưa có.
- Thầy có siêng năng lần hạt không?
- Thưa có.
Cha chính quyết định: "Thôi, cho thầy chịu chức vì thầy bền chí, chứ nếu cứ khảo hạch mãi thì không bao giờ đỗ được".
Như vậy thầy Gioan Maria Vianney được làm Linh mục là nhờ "phép chuẩn". Vì tuy học hành kém cỏi, đầu óc mù tịt, nhưng nhờ có lòng đạo đức và sự bền chí mà ngài đã được thụ phong Linh mục. Nhưng khi làm Linh mục rồi, Chúa đã ban cho ngài rất nhiều ơn đặc biệt đề cứu các linh hồn, đến nỗi một lần kia, quỷ Satan đã phải nói với ngài: "Nếu trên thế giới có hai đứa như mày thì bọn tao đành phải thất nghiệp mất".
Nhìn vào "cuốn tự điển cuộc sống" của thánh Vianney, người ta đọc thấy toàn là những chữ: ăn chay, hãm mình, đền tội, khổ hạnh... Nhìn vào gương mặt của ngài, người ta cũng gặp thấy toàn là những nét: gian truân, khắc khổ, lao nhọc, đau thương... Thế nhưng, trong con người ấy lại chói ngời một quả tim luôn tươi vui, từ ái và yêu thương đối với hết mọi người.
Hàng ngày, vào khoảng 12 giờ, cha Vianney rời nhà thờ và trở về nhà xứ để ăn trưa. Đến một giờ, ngài lại vào toà giải tội và ngồi ở đó mãi cho đến tối. Trong khoảng thời gian nghỉ ngơi vắn vòi ấy, cha Vianney phải tranh thủ để làm nhiều bao công việc. Thường khi ăn cơm bao giờ ngài cũng đứng, vì ngồi thì sợ sẽ kéo dài giờ ra. Vừa ăn xong, ngài vội đi thăm các trẻ mồ côi, các em mẫu giáo... Ai cũng thấy ngài vui tươi âu yếm và sung sướng giữa những tâm hồn đơn sơ ấy. Từ giã các em, ngài rảo bước đến nhà các kẻ ốm liệt; gặp ai dọc đàng, ngài cũng ủi an thăm hỏi. Các gia đình đều mong cha sở đến thăm, vì đối với họ, dường như nơi ngài tàng ẩn một niềm vui không bao giờ cạn. Lúc trở lại nhà thờ ngài thường trao đổi một vài lời vắn tắt, có lúc rất dí dỏm, hài hước với các khách hành hương đang đứng trước sân nhà thờ chờ đến lượt vào toà xưng tội.
Lần nọ, cha Vianney gặp một bà trong xứ đến chào ngài. Biết rõ bà là người thật lắm mồm lắm mép, ăn nói huyên thuyên suốt ngày, ngài liền hỏi:
- Trong suốt năm, có tháng nào con nói ít hơn mọi tháng không?
Bà ta bỡ ngỡ, ấp úng thưa:
- Thưa cha, con thì quen thói rồi, tháng nào cũng nói như nhau cả.
- Không, có một tháng con nói ít hơn, con biết tháng nào không?
Bà ấy ngẩn ngơ:
- Tháng nào thưa cha?
- Tháng Hai dương lịch, vì tháng đó chỉ có 28, 29 ngày thôi.
Ai nấy cười phá lên. Ngài vội vã bước vào toà giải tội.
Lần khác, cha Vianney thấy ở trước sân nhà thờ có một quầy hàng bán chuỗi, tượng ảnh và có cả hình của ngài nữa. Ngài bèn dừng lại, cầm lấy tấm hình của mình đưa lên cao cho mọi ngài xung quanh coi và nói:
- Thiên hạ dại dột thật. Cái hình nhăn nheo như con khỉ khô thế này mà cũng phải mua mất một đồng quan!
Các người chung quanh được dịp cười bể bụng vui vẻ. Cha Vianney cũng cười theo, trả tấm ảnh lại rồi bước vào nhà thờ.
Về sau, Vianney đã trở thành một vị thánh thời danh, thu hút nhiều tâm hồn trở về với Chúa.
Đời sống thánh Gioan Maria Vianney quả là một tấm gương hy sinh vì Chúa và các linh hồn, đúng như lời thánh nhân thường nói: "Hạnh phúc cho một vị linh mục được chết kiệt sức vì phục vụ Chúa và các linh hồn." Hạnh phúc ấy đã đến với thánh Gioan Maria Vianney vào ngày 2 tháng 8 năm 1859. Thánh nhân lãnh nhận Bí tích Xức dầu bệnh nhân và Bí tích Thánh Thể, ngài cầu nguyện: "Lạy Chúa, Chúa quảng đại quá khi con không đến với Chúa được, thì Chúa đến với con". Ngày 4 tháng 8 năm 1859, khi vị linh mục đọc kinh cầu nguyện cho người hấp hối đến câu: "Xin các thiên thần Chúa đến rước linh hồn Gioan vào thành thánh Giêrusalem", thánh nhân trút hơi thở cuối cùng một cách êm ái. Ngài hưởng thọ 73 tuổi; làm cha sở họ Arc được 41 năm.
Tin thánh Gioan Maria Viannê qua đời đã lôi kéo cả một biển người đổ xô về giáo xứ Arc. Đoàn người đông đảo đã đi qua trước xác thánh nhân suốt 48 tiếng đồng hồ.
Đức Giám mục giáo phận đã đến chủ sự Thánh lễ an táng và giảng thuyết: ngài nhấn mạnh rằng bao thế kỷ mới được thấy một cuộc đời linh mục như Thánh Gioan Maria Vianney. Thánh nhân được an táng trong nhà nguyện thánh Gioan Tẩy Giả, bên cạnh toà giải tội mà người ta đã gọi là "phép lạ lớn nhất ở Arc".
Từ ngày ấy, biết bao nhiêu Hồng Y, Giám mục, linh mục đã đến quỳ cầu nguyện và đặt những cái hôn thành kính lên viên đá mộ thánh nhân. Ngày 31 tháng 5 năm 1925, thánh Gioan Maria Vianney được tuyên Hiển Thánh; và năm 1929, thánh nhân được đặt làm thánh bổn mạng các linh mục chính xứ trên toàn thế giới.
TÔI CẦU NGUYỆN VÀ QUYẾT NOI GƯƠNG THÀNH GIOAN VIANNEY: Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho thánh linh mục Gioan Maria nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của một người mục tử. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, chúng con QUYẾT noi theo lòng bác ái của ngài mà cố gắng đem nhiều anh em về với Đức Kitô để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc.
> Kinh chuyen,
> QP
>
> God bless you!
>
> www.tonghoimancoi.org
>---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 390 =CHET MA CHUA RUA TOI PDF Print E-mail

NHỮNG NGƯỜI LỚN , KỂ CẢ TRẺ CON, CHẾT MÀ KHÔNG ĐƯỢC RỬA TỘI, THÌ CÓ ĐƯỢC CỨU RỖI KHÔNG ?
Hỏi :
xin cha cho biết những ai –người lớn và trẻ con – chết mà không được rửa tội và nhận biết Chúa Kitô thì có được cứu rỗi để vào Thiên Đàng hay không?
Trả lời:
Thiên Chúa là tình yêu. Người chậm bất bình và hay thương xót tha thứ. Đó là lý do vì sao Người đã sai Con một mình là Chúa Giêsu- Kitô đến trần gian để loan bào Tin Mừng Cứu Độ và hy sinh " hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20:28).
Sau khi hoàn tất công nghiệp cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết, sống lại và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha, Chúa Giê-su đã truyền cho các Tông Đồ " đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần..." ( Mt 28: 19)
Trước đó, khi nói chuyện với Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh biệt phái Do Thái đến gặp Chúa ban đêm, Chúa Giêsu đã nói với ông này như sau:
" Thật, Tôi bảo thật ông:
Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa
Nếu không sinh ra bởi nước và thần khí." ( Ga 3 : 5)
Trong Tin Mừng Thánh Mac-cô, trước khi về trời, Chúa cũng đã truyền cho các Tông Đồ sứ mệnh sau đây :
" Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan bào Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ; còn ai không tin sẽ bị kết án." ( Mc: 16: 15-16)
Như thế, rõ ràng cho thấy là Phép Rửa quan trọng thế nào cho phần rỗi của con người. Quan trọng vì qua Bí Tích này, con người được tái sinh trong sự sống mới, trở nên tạo vật mới, sau khi con người cũ sinh ra trong tội của nguyên tổ và mọi tội cá nhân, đã chết đi cùng với cái chết của Chúa Kitô để được hồi sinh trong sự sống mới , được trở nên con cái Thiên Chúa và được phép gọi Chúa là Cha (Abba).
Thánh Phaolô đã dạy như sau về ơn ích thiêng liêng lớn lao của Phép Rửa:
" Anh em không biết rằng: khi chúng ta được dìm vào nước thánh tẩy để thuộc về Đức Kitô-Giêsu , là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao ? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta sẽ cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới." ( Rm 6: 3-4)
Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo cũng dạy như sau về Phép Rửa tội:
" Phép Rửa tội làm cho chúng ta trở nên những chi thể của Thân Thể Chúa Kitô...Và cũng nhập chúng ta vào thân thể của Giáo Hội. Từ nơi giếng rửa tội sinh ra một dân tộc độc nhất của Thiên Chúa, của Giáo ước mới, vượt lên trên tất cả mọi giới hạn tự nhiên hoặc nhân bản về dân tộc, về văn hóa, chủng tộc và giới tính. "Phải chăng tất cả chúng ta đã chẳng được rửa tội để làm nên một thân thể duy nhất sao?" (1Cr 12:13) ( x. SGLGHCG số 1267)
Như thế thật vô cùng cần thiết cho con người phải được rửa tội để được tái sinh trong sự sống mới và nhiên hậu được cứu độ để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa, "Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý."( 1 Tm 2: 4).
Tuy nhiên, trong thực tế, chúng ta cũng thấy rõ điều này : không phải tất cả mọi người thuộc mọi chủng tộc và ngôn ngữ ở khắp mọi nơi trên địa cầu đều nhận biết có Thiên Chúa , có Chúa Giêsu là Đấng cứu chuộc nhân loại và có cơ hội được lãnh nhận Phép Rửa. Cụ thể là người Việt Nam chúng ta, mãi cho đến khi có các nhà truyền giáo Tây Phương đến rao giảng Đạo Công Giáo vào thế kỷ 16 thì mới có một số người được biết Đạo và chịu Phép Rửa. Nghĩa là từ thế kỷ 16 trở về trước mấy ngàn năm, thì tuyệt đối không ai biết gì về Thiên Chúa, về Chúa Cứu Thế Giêsu và được rửa tội.
Vậy những người này chết đều xuống hỏa ngục hết hay sao ?

Họ không biết Đạo Công Giáo và được chịu Phép Rửa hoàn toàn không vì lỗi của họ, vì không có ai rao giảng cho họ biết. Như thế, Chúa không thể bắt lỗi họ về việc họ không biết Chúa và được chịu Phép Rửa.
Cũng vậy, các trẻ con chết mà không được rửa tội cũng không phải lỗi của chúng.
Có chăng là lỗi của cha mẹ đã không lo cho con cái được rửa tội mà thôi.
Cho nên Chúa cũng khổng thể bắt lỗi chúng vì đã không được rửa tội.
Thánh Phaolô đã bênh vực cho những người không có cơ hội được biết Chúa Kitô, được nghe Tin Mừng cứu độ của Chúa, và do đó cũng không được rửa tội, không vì lỗi của họ, như sau :
" Thế nhưng làm sao họ kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao họ tin Đấng họ không được nghe? Làm sao mà nghe, nếu không có ai rao giảng ? Làm sao mà rao giảng nếu không được sai đi?" ( Rm 10: 14-15)
Nghĩa là nếu không có người rao giảng, thì không ai có thể tự mình biết gì về Thiên Chúa là Đấng tạo dựng muôn loài muôn vật, là Đấng đã sai Con Một là Chúa Giê-su-Kitô xuống trần gian làm Con Người để cứu chuộc cho nhân lọai khỏi phải phạt và chết đời đời vì tội. Do đó, Chúa không thể bắt lỗi những người không biết Chúa , không được chịu Phép Rửa vì không ai nói cho họ biết về Chúa và về Phép Rửa của Người. Cho nên, điều Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng Mác-cô 16: 15-16, và Gioan 3:5 trên đây, không thể áp dụng cho những người trên đây được ( cho người lớn và trẻ em) vì không ai nói cho họ biết về sự cần thiết phải được tái sinh qua Phép Rửa để được vào Nước Trời.
Vì thế, để được công bằng với họ, Giáo Hội đã dạy rằng:
" Thực thế, những kẻ vô tình không nhận biết Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội Người, nhưng nếu thành tâm tìm kiếm Thiên Chúa và dưới tác động của ơn thánh, họ cố gắng chu toàn Thánh Ý Thiên Chúa trong công việc mình làm theo sự hướng dẫn của lương tâm , thì họ có thể được cứu rỗi." (x. SGLGHCG số 847, Lumen Gentium số 16).
Nói khác đi, những người không biết Chúa và Phép Rửa vì không có ai nói cho họ biết, nhưng họ vẫn cố gắng sống ngay lành theo sự hướng dẫn của lương tâm thì họ vẫn được Chúa đoái thương và cứu họ, dù họ không được rửa tội như lòng Chúa mong muốn. Đó là trường hợp của cha ông VietNam và các dân tộc khác, sinh ra và chết đi trước khi Chúa Giêsu sinh ra và rao giảng Tin Mừng Cứu Độ thì làm sao mà nghe được Tin Mừng ấy, được biết Chúa Kitô và Phép Rửa của Người ?.Ngay cả sau khi Chúa sinh ra và đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, nhiều dân tộc cho đến nay vẫn không nhận biết Chúa và được rửa tội, vì các chế độ cai trị độc tài và tôn giáo khác ngăn cản họ biết Chúa Kitô và Đạo Công Giáo của Người. Đó là các dân sống dưới chế độ cộng sản vô thần như dân Trung hoa, dân Triều Tiên (bắc Triều Tiên) dân Nga trước ngày chế độ cộng sản xụp đổ, và dân ViêtNam hiên nay, nơi đa số người Việt không biết Đạo Chúa vì chế độ ngăn cấm việc truyền giáo.
Sau nữa là dân theo Đạo Hồi ( Islam) Ân Độ Giáo ( Hinduism) và Thần Đạo ( Shinto ở Nhật) chiếm đa số ở các quốc gia đó, nên Kitô Giáo không thể phảt triển được.,và do đó, đa số các dân này không được rửa tội và nhận biết Chúa; kể cả dân Do Thái cho đến nay, nhiều người vẫn chưa nhân biết Chúa Kitô và Phúc Âm
của Chúa, vì họ chỉ tin có Thiên Chúa là Cha các Tổ Phụ của họ là Abraham, Ísaac và Jacob ( Israel) mà thôi.Họ không biết và tin Một Thiên Chúa Ba Ngôi,( Holy Trinity) gồm Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần như Giáo Hội Công Giáo tin và thờ lậy.
Ngược lại,những người đã bết Chúa Kitô, đã nghe Tin Mừng Cứu Độ và đã được rửa tội nhưng không kiên trì sống đức tin vào Chúa để xa tránh tội lỗi,và thực thi những cam kết khi được rửa tội thì vẫn không được cứu rỗi , vì " tuy thể xác họ thuộc về Giáo Hội , nhưng tâm hồn họ không ở trong Giáo Hội." ( LG, số 14)
Cụ thể, những kẻ đang giết người, bắt cóc, trộm cướp, bóc lột kẻ khác, hiếp dâm. Và dâm ô thác loạn, buôn bán phụ nữ và bắt cóc trẻ gái để bán cho bọn hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi...thì làm sao chúng có thể được cứu độ, nếu chúng không mau kíp từ bỏ con đường gian ác, tội lỗi ? trong số những kẻ này, chắc có những kẻ đã được nghe biết về Chúa và đã được rửa tội khi còn bé, nhưng nay lại đi vào những con đường tội lỗi nói trên , thì Phép Rửa có ích gì cho họ ? Chắc chắn là không rồi.
Được chịu phép rửa mới chỉ là bước đầu cần thiết cho việc cứu rồi. Bước kế tiếp quan trọng hơn là sống và thi hành những cam kết khi được rửa tội. ( baptismal promises) : đó là yêu mến Chúa trên hết mọi sự và từ bỏ ma quỷ và mọi cám dỗ của ma quỷ. Nếu không thi hành những cam kết này, thì Phép rửa sẽ trở nên vô ích cho người đã lãnh nhận. Chắc chắn như vậy.
Cũng tương tự như thế, biết Chúa và biết các giáo huấn của Chúa không thôi thì chưa đủ để được cứu rỗi. Muốn đủ để được cứu rỗi thì phải sống đức tin có Chúa bằng hành động tuân giữ các điều răn của Chúa như Chúa Giê su đã nói với các môn đệ xưa kia như sau:
"Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy." ( Ga 14: 23)
.............................................................
" Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy
Anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy
Như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy
Và ở lại trong tình thương của Người." ( Ga 15: 10)
Giữ lời Thầy có nghĩa là thi hành những gì Chúa dạy về mến Chúa, yêu người, tôn trọng công bằng và thực thi bác ái, cùng xa tránh mọi tội lỗi để cộng tác với ơn cứu độ của Chúa cho phần rỗi của mỗi người chúng ta.Không có sự cộng tác này thì Chúa không thể cứu ai được, cho dù Chúa Kitô đã chết để đền tội thay cho kẻ có tội.
Tóm lại, Phép Rửa là cần thiết và quan trọng cho việc cứu rỗi của mọi người tin có Chúa và yêu mến Người. Nhưng nếu không được rửa tội vì không ai dạy bảo cho biết thì đó không phải là lỗi của những người này. Dầu vậy, nếu họ vẫn sống theo tiếng nói của lương tâm và trong tinh thần tìm kiếm chân lý, tức là mặc nhiên tìm kiếm Chúa, thì họ vẫn có thể được cứu rỗi nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô...
Ngược lại, những ai có đức tin, đã được rửa tội - tức là đã gia nhập Giáo Hội- mà không sống đức tin ấy , và thực thi những cam kết khi được rủa tội, thì Phép Rửa vẫn không giúp ích gì cho phần rỗi của những người đó, vì không phải cứ rửa tội xong là được đảm bảo phần rỗi. Muốn được cứu rỗi thì phải sống đức tin có Chúa và thi hành những cam kết khi được rửa tội, như đã nói ở trên .
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn cấu hỏi được đặt ra.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

"

 
HOC HOI DE SONG DAO # 389 =DANG LE CHUA NHAT PDF Print E-mail

HỎI để SỐNG ĐẠO

Hỏi: xin cha giải thích thắc mắc sau đây: Đi chơi xa có buộc THAM DỰ THÁNH lễ ngày Chúa nhật không? DÂNG Lễ trên Truyền Hình có thay được lễ ngày Chúa nhật hay không.?
-------------
Trả lời: Luật DÂNG lễ ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ buộc quanh năm là luật tòng nhân (personalis) nghĩa là đi bất cứ nơi nào trong Giáo hội thì vẫn buộc phải thi hành.
Trái lại, luật tòng thổ (Territorialis) chỉ buộc phải thi hành ở nơi có luật mà thôi. Thí dụ, tham dự Thánh Lễ Ngày Chúa Nhật, Rước Mình Thánh Chúa trong Mùa Phục Sinh, xưng tội ít là một lần mỗi năm, v.v là luật tòng nhân được áp dụng ở khắp nơi trong Giáo Hội. Do đó, đi du lịch xa nhà, xa giáo xứ của mình thì vẫn buộc phải tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật và các ngày Lễ buộc như Lễ Giáng Sinh, lễ Đức Mẹ hồn xác lên Trời (15-8), Lễ các Thánh Nam Nữ (1-11), Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (9-12) v.v
Nhưng nếu đi chơi xa mà nơi đó không có nhà thờ Công Giáo khiến không thể chu toàn luật buộc thì có thể được miễn thi hành vì lý do bất khả kháng, nhưng phải làm việc lành bù lại như lần chuỗi Mân Côi .v.v
Luật tòng thổ chỉ áp dụng nơi nào có luật. Thí dụ ở Mỹ không có luật buộc phải ăn chay kiêng thịt ngày thứ sáu quanh năm hay trong Mùa chay mà chỉ buộc ăn chay kiêng thịt ngày Thứ tư lễ tro và Thứ sáu Tuần Thánh mà thôi (trong mùa chay chỉ có lời khuyên kiêng thịt chứ không có luật buộc).. Do đó nếu giáo dân ở Mỹ đi đến nơi nào có luật buộc ăn chay kiêng thịt các ngày thứ sáu trong mùa chay thì phải thi hành luật ở nơi đó. (luật tòng thổ)
Cũng vậy, ở Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục cho phép cử hành Lễ trong các ngày Tết của dân tộc (Tết Nguyên Đán) với phụng vụ dành riêng cho 3 ngày Tết. Nhưng ở ngoại quốc nói chung, và ở Mỹ nói riêng, thì các linh mục coi xứ Việt Nam không được tự tiện áp dụng Phụng vụ ngày Tết bên Viet Nam, mà phải theo Phụng vụ chung của địa phận nơi mình cư trú. Muốn làm lễ Tết theo phụng vụ VN thì phải xin phép Giám mục địa phương, chứ không được tự tiện làm; vì theo luật, các giáo hữu Việt Nam ở ngoại quốc thì nay thuộc quyền chăm sóc mục vụ của giáo quyền nơi mình sinh sống chứ không còn thuộc quyền coi sóc của Giám mục nào bên Việt nam nữa..
Vì thế, khi một Giám mục bên nhà có sang thăm "con chiên cũ" ở Mỹ hay ở bất cứ quốc gia nào ngoài Viêt Nam, thì chỉ thăm với tính cách thân hữu xã giao, chứ không thăm với tư cách "mục vụ" vì giáo dân cũ nay đang thuộc quyền mục vụ của Giám mục địa phương nơi họ đang sinh sống. Cần nói rõ điều này vì có nhiều người ở Mỹ vẫn nói Giám mục này hay Giám mục kia đến thăm mục vụ con chiên cũ của mình đang ở Mỹ.
Nói vậy là sai luật tòng thổ và trách nhiệm mục vụ của Giáo Hội.
Lại nữa, cũng cần nói thêm để mọi giáo dân đang sống ở Mỹ được biết rằng Tổ chức Liên Đoàn Công Giáo VN ở Mỹ chỉ là một tổ chức tư nhân với mục đích thân hữu giữa các linh mục và giáo dân VN sống ở Mỹ , chứ không phải là một hệ thống giáo quyền nào đối với các linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam. Các linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam ở Mỹ nay thuộc quyền coi sóc và điều khiển của giáo quyền địa phương - tức là các Giáo phận - nơi mình đang sinh sống và làm việc.
Về vấn đề xem lễ trên Truyền hình, thì mục đích của việc này là để giúp cho các bệnh nhân không thể đi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ trong ngày Chúa Nhật. Nhưng phải nói rõ ngay là nếu đang đau ốm ở nhà hay ở nhà thương, thì bệnh nhân không còn bị buộc phải đi lễ bất cứ ngày nào nữa. Xem lễ trên truyền hình chỉ cốt giúp cho các bệnh nhân được thông công cầu nguyện, tôn thờ và cảm tạ Chúa cùng với Giáo Hội trong ngày Chúa Nhật mà thôi, chứ không có mục đích thay thế việc đi đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh lễ cùng với những người khỏe mạnh.
Tóm lại, bệnh nhân - và cả người săn sóc bệnh nhân - không buộc phải đi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ bất cứ ngày nào. Người khỏe mạnh không được phép DÂNG lễ trên Truyền hình để thay cho việc phải đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật. Lễ trên Truyền hình chỉ giúp cho bệnh nhân, và người già yếu thông công cầu nguyện chứ không nhằm thay thế Lễ ngày Chúa nhật cho nhũng người khỏe mạnh.
--------------------------------
LM FX. Ngô Tôn Huấn

 

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 86