mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4517
mod_vvisit_counterHôm Qua6418
mod_vvisit_counterTuần Này40481
mod_vvisit_counterTuần Trước57635
mod_vvisit_counterTháng Này209186
mod_vvisit_counterTháng Trước256467
mod_vvisit_counterTất cả13579363

We have: 81 guests online
Your IP: 54.227.76.35
 , 
Today: May 23, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

TRONG GIÁO HỌI CÔNG GIÁO, TRUYỀN THỐNG KẾ VỊ TÔNG ĐỒ LÀ GÌ ?

Sau khi hoàn thành Sứ Mệnh cứu chuộc cho nhân loại, và trước khi về Trời ngự bên hữu Chúa Cha, Chúa Kitô đã thiết lập Giáo Hội của Chúa trên nền tảng Tông Đồ với Phê rô là Thủ Lãnh đầu tiên của Giáo Hội sơ khai với Sứ Mệnh “ Hãy chăn dắt chiên của Thầy .” ( Ga 21: 17 ). Chúa cũng truyền cho Phêrô và các Tông Đồ mệnh lệnh rất quan trọng này là “ hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo...” ( Mc 16:15) .
Giáo Hội được Chúa thiết lập trên đây “ tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển.” ( LG 8 )
Giáo Hội trên của Chúa là công giáo, thánh thiện và Tông truyền. : là Công giáo( Catholic) vì được dành cho hết mọi người, không phân biết màu da, tiếng nói và ngôn ngữ, tất cả đều được mời gọi gia nhập Giáo Hội này để lãnh ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô. “ Đấng đã đến để hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20: 28).Giáo Hội là thánh thiện( Holy) vì Đấng Sáng Lập ( Chúa Kitô) là THÁNH. Giáo Hội là Tông truyền Apostolic succession) vì được xây trên nền tảng Tông Đồ với Phêrô là Tông Đồ Trưởng,và Người kế vị Thánh Phêrô cho đến nay là Đức Thánh Cha,tức Giám Mục Roma, với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám mục Đoàn ( College of Bishops) là những người kế vị các Tông Đồ với Sứ Mệnh rao truyền Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho mọi dân mọi nước cho đến ngày cánh chung tức ngày tận thế.khi không còn sự sống trên trần gian này nữa.
Trong phạm vi bài này, tôi xin được nói qua về Truyền Thống Kế Vị Tông Đồ ( Apostolic Succession), một Truyền Thống mà chỉ có Giáo Hội Công Giáo Roma và các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) thừa hưởng để tuyển chọn các giám mục, đặc biệt là chọn Giám Mục Rôma cho Giáo Hội Công Giáo, tức Người kế vị Thánh Phêrô trong chức năng và địa vị Giáo Hoàng là Thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.
Các anh em Chính Thống Đông Phương vẫn còn bất đồng với Giáo Hội Công Giáo về vai trò Đại Diện ( Vicar) Chúa Kitô của Đức Thánh Cha, nên vẫn chưa thể hiệp nhất và hiệp thông trọn vện được với Giáo Hội Công Giáo mặc dù họ có chung Truyền thống Tông Đồ và có các bí tích hữu hiệu như Công Giáo.
Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo nói như sau về Truyền thống kế vị Tông Đồ :
“ Cũng như Chúa Kitô đã được Chúa Cha sai đi, thì Ngài cũng sai các Tông Đồ của mình, đầy ơn Chúa Thánh Thần, để các ông giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật ..Như vậy. Chúa Kitô phục sinh đã ban Chúa Thánh Thần cho các Tông Đồ và trao cho các ông quyền năng thánh hóa của Ngài. Các ông đã trở thành những dấu hiệu bí tích của Chúa Kitô.
Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần , các ông trao uy quyền này lại cho những người kế vị các ông. Sự kế vị Tông Đồ này là cơ cấu của toàn bộ sinh hoạt Phụng vụ của Giáo Hội. Nó có tính bí tích và được truyền lại qua Bí tích Truyền chức thánh. “ ( x . SGLGHCG số 1086-87)
Lời dạy trên đây của Giáo Hội bắt nguyền từ chính lời Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ xưa, khi Người hiện ra với các ông sau khi từ cõi chết sống lại:
“ Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” ( Ga 20: 22)
Chúa đã chọn và sai các Tông Đồ tiên khởi đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và làm phép rửa cho muôn dân cho đến tận cùng trái đất và cho đến ngày hết thời gian.Dĩ nhiên các Tông Đồ tiên khởi đó không thể sống mãi để thi hành Sự vụ được nhận lãnh, nên chắc chắn các ngài đã phải chọn người kế vị để tiếp tục Sứ Vụ mà Chúa Kitô đã trao phó cho các ngài, như Thánh PhaoLô đã nói rõ như sau:
“ Vậy hỡi anh ( Timôthê) người con của tôi, anh hãy nên mạnh mẽ trong ân sủng của Đức Kitô Giêsu. Những gì anh đã nghe tôi nói trước mặt nhiều nhân chứng, thì anh hãy trao lại cho những người tin cẩn, những người sẽ có khả năng dạy cho người khác.” ( 2 Tm 2: 1-2)
Các Tông Đồ đã truyền chức cho những người kế vị được chọn qua việc đặt tay :
“ Vì lý do đó, tôi nhắc anh ( Timôthê) phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng mà anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh.” ( 2Tm 1: 6)
Nơi khác, Thánh Phaolô cũng ân cần nhắc thêm cho Ti-mô-thê về ơn được chọn làm Tông Đồ :
“ Đừng thờ ơ với đặc sủng đang có nơi anh, đặc sủng Thiên Chúa đã ban cho anh nhờ lời ngôn sứ, khi hàng kỳ mục đặt tay trên anh. “ ( 1 Tm 4: 14)
Hàng “Kỳ mục” ( Overseers) mà Thánh Phaolô nói trên đây chính là các Giám mục đã được chọn và các ngài đã truyền chức lại cho những người kế vị để tiếp tục Sứ Vụ của Chúa Kitô trong Giáo Hội sơ khai thời đó.
Sách Công Vụ Tông Đồ của Thánh Luca cũng thuật rõ việc các Tông Đồ, sau khi Chúa Kitô về trời, đã hội họp, cầu nguyện và rút thăm để chọn người thay thế cho Giuđa phản bội đã treo cổ chết, và “ ông Matthia trúng thăm. Ông được kể thêm vào số mười một Tông Đồ.” ( Cv 1: 23-26).
Như thế đủ cho thấy là ngay từ đầu, các Tông Đồ, trước hết, đã chọn người thay thế cho đủ con số 12 Tông Đồ tiên khởi mà Chúa Giêsu đã tuyển chọn để tham gia vào Sứ Vụ rao giảng Tin mừng Cứu độ của Chúa.
Từ đó đến nay, trải dài trên 20 thế kỷ , Giáo Hội vẫn theo truyền thống trên để truyền các chức thánh Phó Tế, Linh mục và Giáo mục qua việc cầu xin ơn Chúa Thánh Thần và đặt tay trên các ứng viên được tuyển chọn, đặc biệt nhất là tuyển chọn Giám Mục Rôma, tức Đức Thánh Cha mà các Hồng Y dưới 80 tuổi họp Mật Nghị ( Conclave) để bầu Tân Giáo Hoàng, khi đương kim Giáo Hoàng từ trần hay về hưu ( Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nghỉ hưu từ ngày 28 tháng 2 năm 2913 vừa qua vì lý do sức khỏe ).
Chúng ta tin chắc Chúa Thánh Thần luôn hiện diện và hướng dẫn Giáo Hội để việc chọn lựa này được diễn ra đúng theo Kế hoăch của Thiên Chúa, chứ không do thế lực trần gian nào muốn áp đặt hay ảnh hưởng đến.
Có như vậy thì Hội Thánh của Chúa Kitô mới thực là Thánh thiện , Công giáo và Tông truyền.
Liên quan đến việc chọn người kế vị, Thánh Phaolô cũng cẩn thận nhắc cho môn đệ thân tín của ngài là Timothê phải hết sức thận trọng trong việc rất can hệ này để người được chọn phải là người Chúa muốn đặt lên để coi sóc và dạy dỗ dân của Người:
“ Anh đừng vội đặt tay trên ai, đừng cộng tác vào tội lỗi của người khác. Hãy giữ mình trong sạch.” ( 1Tm 5: 22)
Đừng vội đặt tay trên ai có nghĩa là đừng chọn và truyền chức cho ai vì thân quen, gửi gấm, mua chuộc hay vì áp lực nào của các phe nhóm bên ngoài Giáo Hội, như đã từng xẩy ra trong quá khứ xa xưa, là thời kỳ đen tối khi thần quyền ( divine power) còn dính bén đến thế quyền ( secular or worldly power) một thời trong Giáo Hội xưa.
Mặt khác, trong thư gửi cho Ti Tô, một môn đệ khác của ngài, Thánh Phaolô cũng trao cho môn đệ này trách nhiệm chọn lựa các giám mục như sau :
“Tôi để anh ở lại đảo Kê-ta chính là để anh hoàn thành công việc tổ chức , và đặt các kỳ mục trong mỗi thành như tôi đã truyền cho anh....Giám quản ( tức giám mục) phải là người không chê trách được., không ngạo mạn, ...không tìm kiếm lợi lộc thấp hèn; trái lại, phải hiếu khách, yêu chuộng điều thiện, chừng mục, công chính, thánh thiện, biết tự chủ. Người ấy phải gắn bó với lời đáng tin cậy và đúng đạo lý, để vừa có khả năng dùng giáo lý lành mạnh mà khuyên nhủ, vừa có khả năng bẻ lại những kẻ chống đối.” ( Tt 1: 5-9)
Ngoài ra, để nhận mạnh thêm về bản chất chức năng và tư cách của người được tuyển chọn để thi hành sứ vụ rao giảng và coi sóc dân Chúa, Thánh Phaolô cũng nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca như sau:
“ Không bao giờ chúng tôi tìm cách để được một người phàm nào tôn vinh, dù là anh em hay người khác, trong khi chúng tôi có thể đòi anh em phải trọng đãi, với tư cách là Tông Đồ của Đức Kitô.” ( 1 Tx 2 : 6-7)
Nghĩa là các Tông Đồ xưa và nay- khi thi hành Sứ Vụ- phải noi gương Chúa Kitô, “ Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20: 28).
Đây là sứ mệnh thiêng liêng cao cả mà Chúa Cứu Thế Giêsu đã trao cho các Tông Đồ tiên khởi thuộc Nhóm Mười Hai để tiếp tục Sứ Vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa cho đến thời viên mãn. Như thế, tất cả những ai được ơn gọi làm Tông Đồ cho Chúa Kitô, phải hết sức theo gương sống và phục vụ của Chúa để không dính bén vào mọi hình thức làm tay sai cho thế quyền nào để trục lợi cá nhân, phương hại đến Sứ vụ và uy tín của Giáo Hội, là Cơ Chế có mặt và hoạt động trong trần gian hoàn toàn vì mục đích siêu nhiên cứu độ mà thôi.
Lại nữa, nếu người Tông Đồ mà không có tinh thần nghèo khó để chạy theo tiền bạc và danh lợi phù phiếm, thì không thể giảng Phúc Âm hữu hiệu cho ai và làm nhân chứng đích thực cho Chúa Kitô , “Đấng vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cài nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có.” ( 2 Cr 8: 9).
Tóm lại, qua Truyền Thống Kế Vị Tông Đồ, và nhất là nhờ ơn soi sáng chỉ dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tiếp tục tuyển chọn các tông đồ đảm trách các chức năng Phó, tế, Linh mục, Giám mục và Hồng Y, đặc biệt nhất là chức Giám Mục Rôma, tức Đức Thánh Cha là vị Đại diện ( Vicar) duy nhất của Chúa Giêsu trong vai trò và chức năng lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ với sự hiệp thông, cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám mục Đoàn,( College of Bishops) là những người kế vị các Thánh Tông Đồ xưa.
Chúng ta cùng tha thiết cầu nguyện cho Giáo Hội luôn trung thành với Truyền Thống Tông Đổ ( Apostolic Succession) để tuyển chọn các vị kế nghiệp các Tông Đồ,là các Giám Mục trong toàn Giáo Hội , cách riêng chọn người kế nghiệp Thánh Phêrô trong sứ mệnh và vai trò cai quản Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, tức là Đức Thánh Cha, Giám mục Roma. Người Đại Diện ( Vicar) duy nhất hợp pháp của Chúa Kitô trên trần thế.Amen
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn vấn đề được đặt ra.
Lm.Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

--------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - 05-5-19- LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

SỐNG ĐỨC TIN và CHU TOÀN MỌI GIỚI RĂN CỦA CHÚA QUAN TRỌNG RA SAO CHO PHẦN RỖI CỦA NGƯỜI TÍN HỮU CHÚNG TA ?
Đối với người tín hữu Kitô Giáo thì vấn đề cứu rỗi là vấn đề quan trọng nhất,vì được cứu rỗi có nghĩa là được vào Thiên Đàng vui hưởng Thanh Nhan Chúa đời đời trong Vương Quốc tình yêu, an bình và hạnh phúc của Chúa, sau khi hoàn tất hành trình con người trên trần thế này.Thiên Chúa là tình yêu là “Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý.”( 1Tm 2:4) như Thánh Phaolô đã quả quyết không sai lầm.


Nhưng muốn được cứu rỗi, con người phải cộng tác với ơn Chúa bao lâu còn sống trên trần gian này, vì con người có tự do để chọn Chúa và sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Người để sống theo bản năng tội lỗi, theo thế gian vô luân vô đạo và đầu hàng ma quỉ để làm những sự dữ, sự tội như oan thù, chia rẽ, giết người, giết thai nhi, đâm ô, thay chồng đổi vợ, ngoại tình. gian tham, trộm cướp, bất công bóc lột người khác...như thực trạng sống của biết bao người trong thế giới vô luân vô đạo ngày nay.
Trước thực tế đó, người tín hữu chúng ta công tác với ơn Chúa có nghĩa là sống đức tin có chiều sâu thực sự và thể hiện đức tin đó cách cụ thể qua quyết tâm thực hành những giới răn, lề luật của Chúa về công bình, bác ái, thương yêu tha thứ như Chúa yêu thương và tha thứ cho chúng ta. Đó là điều kiện cho ta được cứu rỗi để vào Nước Trời hương phúc Thiên Đàng với Chúa đời đời sau khi hoàn tất hành trình đức tin trên trần thế này.
Đức Thánh Cha Phanxicô I, sau khi lên ngôi, đã cho công bố Tông Thư đầu tiên của ngài nhan đề: Ánh Sáng Đức Tin (Lumen Fidei) để nhắc nhở mọi tín hữu trong Giáo Hội suy niệm thêm nữa về quà tặng đức tin mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta để giúp chúng ta vững tin có Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo dựng mọi loài vô hình và hữu hình, tin Chúa Kitô đã xuống thế làm Con Người để – qua khổ hình thập giá – cứu chuộc cho nhân loại khỏi bị án phạt đời đời vì tội.
Ánh sáng Đức Tin là ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta vững chắc bước đi theo Chúa Kitô là “Con Đường, là sự Thật và là sự Sống.” (Ga 14: 6). Chúa Giêsu-Kitô chính là Ánh Sáng đã đến trong trần gian để soi sáng và giải phóng đúng nghĩa cho những ai đang ngồi trong bóng tối của tử thần, của tội lỗi và sự dữ, như Người đã nói với với các môn đệ và dân Do Thái xưa như sau:
“Ta là ánh Sáng đến thế gian
Để bất cứ ai tin vào Ta
Thì không ở lại trong bóng tối.” (Ga 12: 46)
Tin vào Chúa để không ở lại trong bóng tối, có nghĩa là đoạn tuyệt với tội lỗi vì “tội lỗi gây nên sự chết, như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người vì một người đã phạm tội” như Thánh Phaolô đã quả quyết. (Rm 5: 12). Bóng tối là nơi trú ẩn của mọi sự dữ, sự gian tà, dâm đãng ô uế, vì ma quỷ, kẻ thù của chúng ta, đang ẩn mình ở các nơi đây để không ngừng cám dỗ để lôi kéo con người ra khỏi tình thương của Chúa để làm nô lệ cho chúng khiến mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, “Đấng đã hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20 : 28).
Ánh sáng đức tin không những soi đường cho người có niềm tin vững chắc bước đi trong chân lý, trong đường ngay lành, lương thiện mà còn chỉ cho ta biết những gì trái nghịch với đức tin vào một Thiên Chúa Ba Ngôi để từ đó thêm quyết tâm sống theo đường lối của Người, xa tránh mọi sự dữ, sự tội để sống xứng đáng là người có niềm tin và thể hiện niềm tin ấy từ trong tâm hồn ra ngoài hành động cụ thể trước mặt bao người không có hay chưa có đức tin để:
“họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 5: 16).
Thật vậy, cứ nhìn vào thực trạng con người đang sống ở khắp nơi trên thế giới ngày nay cũng đủ cho ta thấy lằn ranh của ánh sáng đức tin và bóng tối của sự dữ, sự chết đang bao phủ biết bao người sống trong đó.
Nếu ánh sáng đức tin đã soi dẫn cho những nhà truyền giáo quên thân mình để hy sinh đi mở mang Nước Chúa ở các nơi xa xôi và nguy hiểm bên Phi Châu, Nam Mỹ và A Châu, thì ngược lại bóng đen của sự dữ đang che mắt và lèo lái biết bao người khiến họ mù lòa không còn nhìn rõ lan ranh giữa sự thiện và sự dữ nữa.
Đó là những kẻ đang giết người vì tiền, vì tin tưởng cuồng tín, như bọn Hồi giáo quá khích (ISIS) đang giết hại các Kitô hữu thiểu số,ở Afganishtan, Pakistan, Ân Độ, Iran ,Iraq, Ai cập.,và Syria,,Công Hòa Trung Phi. . hay vì muốn bám lấy địa vi cai trị độc ác của mình nên đã ra tay sát hại bao trăm ngàn người đang đòi hỏi công lý, dân chủ và tự do.ở nhiều nơi trên thế giới.
Đó là những kẻ đang giết chết hàng triệu thai nhi mỗi ngày trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Trung Hoa lục địa, nơi trẻ nữ đã bị sát hại từ bao thế kỷ trước kia vì quan niệm trọng nam khinh nữ và nay vì chính sách “một hay hai con cho mỗi gia đình” của nhà cầm quyền cộng sản.
Đặc biệt, đó là những kẻ đang buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay. Sau cùng, đó là những kẻ gian manh, trộm cướp, mở sòng cờ bạc, nhà điếm, sản xuất phim ảnh khiêu dâm đồi trụy, trồng và bán các loại cần sa ma túy để làm giầu nhờ buôn bán các sản phẩm nguy hại cho thể xác và đồi trụy tinh thần con người, đặc biệt là giới trẻ ở khắp nơi.
Tất cả những loại người trên đây đã và đang sống trong bóng đêm của sự chết, sự hư mất đời đời nên cần được ánh sáng đức tin và Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô soi chiếu và giải thoát cho ra khỏi bóng đêm đáng ghê sợ đó..
Nhưng bằng cách nào?
Đây là câu hỏi đặt ra cho mỗi người tín hữu chúng ta, những người có diễm phúc đã được biết Chúa Kitô là chính Tin Mừng và là Ánh Sáng chiếu soi, nên có bổn phận và trách nhiệm đem ánh sáng ấy chiếu vào những nơi tối tăm, sình lầy, nhơ uế của tục hóa, vô thần và vô luân đang bao phủ và mê hoặc biết bao triệu người ở khắp nơi trên thế giới ngày nay.
Đây chính là trách nhiệm “phúc âm hóa môi trường sống” của người tín hữu Chúa Kitô bằng đời sống chứng nhân của mình ở giữa những người chưa biết Chúa và đang bị bóng đêm của sự chết bao phủ.
Thi hành vai trò chứng nhân nói trên đòi hỏi mọi tín hữu trong Giáo Hội – từ hàng Giáo Phẩm, giáo sí, tu sĩ và giáo dân – trước hết phải thực sự sống Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô, để minh chứng đức tin thực sự của mình. Ngược lại, nếu sống phản chứng hay mâu thuẫn với niềm tin, thì sẽ không thuyết phục được ai tin những gì mình muốn rao giảng cho họ, vì không ai có thể cho người khác cái mà chính mình không có.
Cụ thể, nếu mình rao giảng tinh thần nghèo khó, và khinh chê hư danh trần thế của Phúc Âm, nhưng chính bản thân mình lại chạy theo thế quyền, ham mê tiền của, hơn là hăng say rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng thì làm sao có thể thuyết phục được ai tin và sống điều mình giảng dạy nữa?
Nếu lời nói không đi đôi với việc làm thì không thể làm nhân chứng cho bất cứ điều gì được, vì
“Ai tin vào Con Thiên Chúa, thì có lời chứng ấy nơi mình
Ai không tin Thiên Chúa, thì coi Thiên Chúa là kẻ nói dối
Vì kẻ ấy không tin vào lời Thiên Chúa
Để làm chứng về Con của Người.” (1 Ga: 5: 10)
Như thế, thật vô cùng cần thiết phải sống đức tin cách cụ thể để mời gọi người chưa có đức tin được nhận biết có Chúa Kitô đang sống và hoạt động nơi mình để từ đó đời sống và lời rao giảng của mình sẽ có sức thuyết phục người khác.
Cụ thể, nếu người Công giáo, người Tin hữu Chúa Kitô mà cũng ăn gian nói dối, lường đảo, hận thù, thay chồng đổi vợ, bất công và thờ ơ với người nghèo khó, thì làm sao có thể thuyết phục được ai tin có Chúa là Đấng nhân từ, công chính, yêu thương, nhịn nhục và tha thứ? Đó là lý do tại sao Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã khuyên dạy như sau:
“Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động thì nào có ích gì?
....Thật thế, một thân xác không hơi thở là một xác chết. Cũng vậy, đức tin không có
hành động là đức tin chết.’ (Gc 2: 14, 26)
Hành động mà thánh Gia-cô-bê nói trên đây là chính đời sống nhân chứng của người có niềm tin nơi Chúa trước mặt ngưởi khác để họ thấy chiếu sáng qua đời sống của mình những giá trị của Tin Mừng về công bằng, nhân ái, lương thiện, nhịn nhục và tha thứ đối nghịch với bất công, gian ác, bất lương, dâm ô, thù hận, vô nhân đạo, vô luân vô đạo của thế gian tục hóa, trống vắng niềm tin.
Trong bối cảnh ấy, nếu người có niềm tin vững mạnh và sống niềm tin của mình cách cụ thể trước mặt người đời, thì “anh em sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời.” như Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Phi-lip-Phê (Pl 2: 15)
Mặt khác, sống trong ánh sáng đức tin, người tín hữu không thể coi nhẹ việc cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích tối cần như Thánh Thể và hòa giải, và tuân giữ những giới răn của Thiên Chúa như Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong Tông Thư “Ánh Sáng Đức Tin, số 40-46”.
Cần cầu nguyện để nói lên niềm tin có Chúa và tin thác vào ơn Chúa để có đủ sức vươn lên trong mọi chiều kích của đức tin và lòng mến yêu Chúa. Cầu nguyện cũng đem ta đến gần Chúa là nguồn ban phát mọi ơn cần thiết giúp ta luôn sống trong tình yêu của Chúa và có đủ sức để chông lại mọi cám dỗ của ma quỷ tinh quái, xác thịt yêu đuối và gương xấu, dịp tội đầy rẫy trong mọi môi trường sống ngày nay.
Mặt khác, tuân giữ các Giới Răn của Chúa trong Bản Thâp Điều (Decaloque) cũng mạnh mẽ nói lên niềm tin và mến yêu Chúa cách cụ thể, như lời Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ xưa:
“Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy...” (Ga 14: 23)
Mười điều Răn của Chúa không phải là những đòi hỏi có tính tiêu cực mà là những chỉ dẫn cụ thể để giúp ta đáp trả tình yêu vô biên của Thiên Chúa, thể hiện qua Chúa Kitô, Đấng cũng vì yêu thương mà “hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” (Mt 20 : 8).
Nói khác đi, thực thi Mười Điều Răn của Chúa, được đúc kết trong hai điều răn quan trọng nhất mà Chúa Kitô đã nói với một kinh sư kia (Mc 12: 29-31) là cách biểu lộ cụ thể niềm tin và biết ơn của chúng ta đối với Chúa, là Đấng đã tạo dựng và cứu độ chúng ta, chỉ vì Người yêu thương chúng ta quá vô vị lợi, chứ tuyệt đối Người không được lợi lộc gì mà phải làm như vậy. Do đó, yêu mến Chúa và tuân thủ các giới răn của Người chỉ có lợi cho chúng ta mà thôi, đúng như lời ông Mô-sê đã nói với dân Do Thái xưa:
“Anh em hãy lo thực hành như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em, không đi trệch bên phải, bên trái. Anh em hãy đi đúng con đường mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em, để anh em được sống, được hạnh phúc và được sống lâu trên mặt đất mà anh em sẽ chiếm hữu.” (Đnl 5: 32-33)
Như thế rõ rệt cho thấy là đức tin phải được thể hiện cụ thể bằng việc làm mới có giá trị cứu độ để được hưởng hạnh phúc Nước Trời, hạnh phúc mà “mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa chưa hề nghĩ tới, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người.” (1 Cor 2: 9) như Thánh Phaolô đã nhắc lại cho tín hữu Cô-rin-tô.
Tóm lại, nhờ ánh sáng đức tin chiếu soi, chúng ta được thấy Chúa và tin có Người, dù chưa từng trông thấy Người bằng con mắt xác thịt. Lai nữa, nhờ ánh sáng đức tin, ta được nhìn rõ lằn ranh giữa sự thiện và sự dữ, sự gian tà và nhơ uế để từ đó quyết tâm chọn lựa con đường dẫn đến gặp Chúa, là nguồn an vui, hạnh phúc bất diệt.


Tuy nhiên, chúng ta phải có thiện chí muốn cho ánh sáng đức tin soi dẫn, và có can đảm để bước đi trong ánh sáng đó thì mới mong tới được cùng đích, hay chính đối tượng của đức tin là Thiên Chúa, Cha rất nhân từ đang ngự trên trời cao và muốn “đến cư ngụ trong những ai yêu mến Chúa Kitô và tuân giữ lời Chúa”, như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trong diễn từ cáo biệt trước khi thọ nạn thập giá. (x Ga 14: 23)
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra. Amen
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

TẠI SAO CHÚA ĐÒI HỎI MỌI NGƯỜI TRONG GIÁO HỘI PHẢI CÓ VÀ THỰC THI TINH THẦN KHIÊM NHU, VÀ KHÓ NGHÈO NỘI TÂM, ĐỂ MỞ MANG NƯỚC CHÚA, VÀ MỜI GỌI THÊM NHIỀU NGƯỜI NHẬN BIẾT CHÚA QUA GƯƠNG SỐNG NHÂN CHỨNG CỦA MÌNH ?


Khó nghèo là một bất hạnh lớn cho người đời , vì xét theo khôn ngoan của con người , thì đa số chỉ biết quí trọng giầu sang về vật chất,và chỉ đi tìm danh lợi chóng qua ở đời này, nên người ta khinh thường mọi giá tri tinh thần và đạo đức trong đó có giá trị của sự khó nghèo nội tâm.


Nhưng với người có niềm tin Thiên Chúa, tin có sự giầu sang vĩnh cửu trên Nước Trời, thì khó nghèo lại là một nhân đức cần phải có để xứng đáng là những môn đệ lớn nhỏ của Chúa Kitô, Đấng đã thực sự sống khó nghèo từ khi sinh ra trong hàng bò lừa cho đến khi chết trần trụi trên thập giá.
Thế giới ngày nay đang chìm đắm trong đam mê về tiền bạc và của cải vật chất,tôn thờ khoái lạc ( hedonism) khiến dửng dưng – hay lãnh cảm ( numb, insensitive) trước sự đau khổ, nghèo đói của biết bao triệu người là nạn nhân của bóc lột và bất công xã hội, đầy rẫy ở khắp nơi trong thế giới tôn thờ vật chất, tục hóa và suy thoái thê thảm về luân lý, đạo đức và lòng nhân đạo..
Đức Thánh Cha Phanxicô, trong một diễn từ , đã thẳng thắn nói rõ là thế giới hiện nay đang sống với thảm trạng “ tôn thờ tiền bạc ( cult of money ) và dửng dưng với bao triệu người nghèo đói ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia Phi Châu và Á Châu.
Không nói gì đến các nước vốn nghèo sẵn ở Á và Phi Châu, ngay ở Hoa Kỳ là nước được coi là giầu có nhất nhì thế giới mà cũng có biết bao người vô gia cư ( homeless) nghèo đói, sống vất vưởng trên hè phố ở các đô thị lớn như Los Angeles, Houston, Chicago, Nữu Ước... Họ nghèo đến nỗi không có nhà để ở và hàng ngày phải đến xin ăn ở các cơ sở từ thiện, trong khi những người triệu phú , tỉ phú không hề quan tâm đến họ. Chính quyền liên bang cũng như tiểu bang , cho đến nay, vẫn không có biện pháp tích cực nào để giúp những người nghèo vô gia cự này.Nhưng mỉa mai và nghịch lý là chánh quyền Mỹ cứ thi nhau đem tiền ra giúp các nước như Irak. Afghanistan, Pakistan, Ai Cập, Syria...vì quyền lợi chiến lược của Mỹ, chứ không phải vì thương giúp gì dân nghèo , nạn nhân của bóc lột và bất công xã hội ở các quốc gia đó; nhưng đáng buồn hơn nữa là dân các nước nói trên vẫn chống Mỹ và muốn đuổi quân đội Mỹ ra khỏi đất nước họ ! ( Irak và Afghanistan)!
Trước thực trạng trên của Thế giới, Đức Thánh Cha Phanxicô, từ ngày lên ngôi Giáo Hoàng, đã tỏ mối quan tâm sâu xa đối với người nghèo khó ở khắp nơi trên thế giới và luôn kêu gọi Thế giới nói chung và Giáo Hội nói riêng phải làm gì cụ thể để thương giúp những người nghèo khó mà Chúa Kitô đang đồng hóa với họ và thách đố chúng ta nhận ra Chúa nơi những người xấu số này để thương giúp họ cách thich hợp theo khả năng của mình.( x Mt 25)
Đức Thánh Cha đã nghiêm khắc phê phán thế giới “tôn thờ tiền bạc”vì người thấy rõ sự chênh lệch quá to lơn giữa người quyền thế giầu sang và người nghèo cô thân cô thế ở khắp nơi trên thế giới tục hóa này.Nên khi lên ngôi Giáo Hoàng ngày 13 tháng 3 năm 2013, ngài đã chọn danh hiệu “Phanxicô” cho triều đại Giáo Hoàng ( Pontificate) của mình để nói lên ước muốn sống tình thần nghèo khó của Thánh Phan xicô khó khăn Thành Assisi, và nhất là tình thần và đời sống khó nghèo thực sự của Chúa Giêsu Kitô, “ Đấng vốn giầu sang phú quí nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có.” ( 2 Cor 8:9)
Như thế, gương khó nghèo của Chúa Kitô mà Đức Thánh Cha Phanxicô muốn thực hành phải là gương sáng cho mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hôi noi theo, đặc biệt là hàng giáo sĩ và tu sĩ, là những người có sứ mạng và trách nhiệm rao giảng và sống Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô để nên nhân chứng dích thực cho Chúa , “Đấng đã đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20: 28).
Đặc biệt trong thư gửi cho các Tân Hồng Y ngày 13 tháng 1năm 2014 , Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh như sau :
“ cái mũ đỏ không có ý nghĩa là được thăng thưởng( promotion) một danh dự hay hào nhoáng bề ngoài( decoration) mà chỉ đơn thuần là một hình thức phục vụ đòi hỏi mở rộng tầm nhìn và con tim...do đó xin quí chu huynh nhận sự bổ nhiệm mới này với lòng khiêm cung, giản dị và vui mừng, nhưng vui mừng không theo cách người đời hay bất cứ cách mừng vui nào xa lạ với tinh thần của Phúc Âm về sự khắc khổ ( austerity) tiết độ ( sobriety) và khó nghèo ( poverty)”.
Tai sao phải sống khiêm nhu và khó nghèo ?
Trước hết, phải nói ngay là khó nghèo ở đây không có nghĩa là phải đói khát rách rưới, vô gia cư, lang thang đầu đường xó chợ thì mới được chúc phúc. Ngược lại, phải lo cho mình và cho người trong gia đình có phương tiện sống cần thiết tối thiểu như nhà ở, cơm ăn áo mặc, phương tiện di chuyển như xe cộ ,vì ở Mỹ không ai có thể đi bộ hay xe đạp để đi làm hay đi học được..Nghĩa là không nên “lý tưởng thiếu thực tế” để chỉ chú trọng đến đời sống tinh thần mà coi nhẹ hay sao nhãng đời sống vật chất đúng mức cho phù hợp với nhân phẩm.
Nhưng điều quan trọng nhất là phải có nhân đức khiêm nhường và thực sự sống tinh thần nghèo khó mà Chúa Kitô đã dạy các môn đệ và dân chúng xưa là “ Phúc cho ai có tinh thần (tâm hồn) nghèo khó vì Nước Trời là của họ. ( Mt 5:3; Lc 6 : 20)
Sự nghèo khó mà Chúa muốn dạy ở đây không có nghĩa là phải đói khát , rách rưới về phần xác như đã nói ở trên mà chỉ có nghĩa là không được ham mê tiền bạc và của cải vật chất, tiện nghi sa hoa, danh vọng phù phiếm chóng qua ở đời này đến độ vô tình làm nô lệ cho chúng khiến không còn chú tâm vào việc mở mang Nước Thiên Chúa trong tâm hồn của chính mình và nơi người khác; cụ thể là các giáo dân được trao phó cho mình phục vụ và săn sóc về mặt thiêng liêng.
Người tông đồ mà không có nhân đức khiêm nhu và khó nghèo, để khinh chê tiền bạc , của cải vật chất và danh vọng hào nhoáng ở đời , thì không thể rao giảng sự khó nghèo của Phúc Âm cho ai được. Không có và không sống khiêm nhu và khó nghèo thực sự , mà lại rao giảng nhân đức khó nghèo và khiêm tốn thì sẽ làm trò cười mỉa mai cho người nghe mà thôi. Chắc chắn như vậy.
Mặt khác, sự thành công của sứ mệnh rao giảng Tin Mừng không căn cứ ở những giáo đường, nhà xứ , Tòa Giám mục được xây cất sang trọng , lộng lẫy để khoe khoang với du khách mà cốt yếu ở chỗ xây dựng được đức tin và lòng yêu mến Chúa vững chắc trong tâm hồn của mọi tín hữu để giúp họ sống đạo có chiều xâu thực sự, chứ không phô trương bề ngoài với số con số đông tân tòng được rửa tội mỗi năm, đông người đi lễ hàng tuần, đi rước ầm ỹ ngoài đường phố, trong khi rất nhiều người ( giáo sĩ, tu sĩ) vẫn sống thiếu bác ái và công bình với nhau và với người khác.
Lại nữa,, người tông đồ lớn nhỏ - nam cũng như nữ- mà ham mê tiền bạc , thì sẽ không bao giờ có thể sống và thực hành được tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô, Đấng đã sống lang thang như người vô gia cư đến nỗi có thể nói được về mình là “ con trồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” ( Mt 8: 20)
Thử hỏi Chúa có đóng kich “ khó nghèo” từ khi sinh ra trong hang bò lừa cho đến khi chết trần trụi trên thập giá hay không ?
Ai dám nói là có ? Nếu vậy, thì Chúa quả thực đã sống khó nghèo trong suốt cuộc đời tại thế để nêu gương nghèo khó trong tâm hồn và trong cuộc sống cho hết mọi người chúng ta. Nghĩa là các tông đồ của Chúa nói riêng và toàn thể dân Chúa nói chung phải thi hành lời Chúa để đi tìm và “ tích trữ cho mình những kho tàng ở trên trời nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được.” ( Mt 6: 20)
Nếu người tông đồ mà chỉ chú trọng đi tìm tiền của và xây dựng nhà cửa cho sang trọng, thay vì xây dựng cho mình và cho những người mình phục vụ một lâu đài nội tâm hoành tráng, thì mọi lời rao giảng về khó nghèo của Phúc Âm sẽ trở nên trống rỗng và không có sức thuyết phục được ai tin và thực hành, nếu không muốn nói là làm trò cười cho người nghe..
Muốn thuyết phục thì chính mình phải sống và xa tránh hay chống lại những cám dỗ về tiền bạc và của cải vật chất để không đôn đáo đi tìm tiền, làm thân với người giầu có để trục lợi.Và nhiên hậu, cũng sẽ không hơn gì bọn Biệt phái và luật sĩ xưa kia, là những kẻ chỉ dạy người khác sống nhưng chính họ lại không sống điều họ dạy bảo người khác, khiến Chúa Giêsu đã nhiều lần phải nghiêm khắc lên án họ là :“quân giả hình”, bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta , nhưng chính họ lại không buồn động ngón tay vào.”( Mt 23: 4).
Nói rõ hơn, giảng tinh thần khiêm nhu và khó nghèo của Chúa cho người khác, mà chính mình lại sống phản chứng bằng cách chạy theo tiền của, dùng những phương tiện di chuyển sang trọng như đi các loại xe đắt tiền như Lexus, BMW, Mercedes, Ìnfinity, Volvo... đeo đồng hồ longines, Omega ...làm thân với người giầu, không nhận dâng lễ cho người nghèo,vì có bổng lễ thấp, mà chỉ nhận lễ có bổng lễ cao, nhất là bày chuyện “lễ đời đời”, một hình thức buôn thần bán thánh (simonia), để lấy nhiều tiền của giáo dân không am hiểu về giá trị thiêng liêng của việc xin lễ..
Dĩ nhiên đây không phải là cách sống của tất cả mọi linh mục, giám mục nhưng dù chỉ có một thiểu số nhỏ, thì cũng đủ gây tai tiếng cho tập thể nói chung vì “ con sâu làm rầu nồi canh” như tục ngữ Việt Nam đã dạy.
Như vậy, Giáo Hội của Chúa phải thực sự khiêm nhu và nghèo khó theo gương Mẹ Maria , Thánh Giuse và nhất là Chúa Giêsu, Người đã thực sự sống và chết cách khiêm nhu nghèo khó để dạy mọi người chúng ta coi khinh , coi thường sự sang giầu, danh vọng phù phiếm ở đời này, để đi tìm sự giầu sang, vinh quang đích thực là chính Thiên Chúa, cội nguồn của mọi vinh phúc giầu sang vĩnh cửu mà tiền bạc, của cải và hư danh ở đời này không thể mua hay đổi chác được.
Chỉ có nghèo khó, và khiêm nhu thực sự trong tâm hồn, thì Giáo Hội mới có thể để lách mình ra khỏi mãnh lực của đồng tiền, của cải vật chất,danh vọng trần thế, để không làm tay sai cho thế quyền mà trục lợi cá nhân. Lại nữa, nếu quá yêu chuộng tiền bạc và hào nhoáng bề ngoài, để nay tổ chức mừng 10 năm,mai 15 năm, ngày khác 20 năm thụ phong.., để kiếm tiền mừng của giáo dân. Mà Kiếm để làm gì mới được chứ ? Cách riêng linh mục làm việc ở Mỹ,được ưu đãi về lương bổng nhiều hơn các linh mục làm việc ở Á ,Âu Châu, nhất là ở ViệtNam, nên không cần thiết phải kiếm thêm tiền bằng cách chỉ nhận làm lễ với bổng lễ cao, nhất là tổ chức mừng sinh nhật, mừng kỷ niệm thụ phong 5 năm, 10 năm, 15 năm nhiều lần như vậy để kiếm tiền mừng của giáo dân, nhưng lại là một trở ngại cho linh mục sống tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô-và mặt khác-làm phiền cho giáo dân cứ phải mừng cha xứ, cha phó trong những dịp như vậy !
Tóm lại, muốn thi hành có hiệu quả sứ mệnh thiêng liêng của mình là rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô, thì người Tông đồ lớn nhỏ phải là mẫu gương sáng chói về sự chê nghét của cải và hư danh trần thế , để cứ dấu này “ người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy,( Ga 13: 35) như Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa.
Nước Thiên Chúa mà Giáo Hội có sứ mệnh mở mang trên trần thế này, không hề phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm tiền bạc , danh vọng trần thế và của cải vật chất hư hèn, mà chỉ cho mục đích hướng dẫn con người đi tìm kiếm hạnh phúc và bình an vinh cửu trên Nước Trời mà thôi. Lại nữa, không có giáo sĩ và tu sĩ nào có lời khấn sang giầu vật chất mà chỉ có lời khấn khó nghèo, vì Có khó nghèo thực sự trong tâm hồn thì mới dễ vươn mình lên cùng Chúa là chính nguồn vui, và vinh quang hạnh phúc vĩnh cửu . Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với anh thanh niên giầu có kia là “ hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo , anh sẽ được một kho tàng trên trời , rồi hãy đến mà theo tôi.” ( Mc 10: 21)


*Lời Chúa trên đây phải là đèn sáng soi cho mọi người tín hữu trong Giáo Hội- cách riêng cho hàng giáo sĩ và tu sĩ- bước đi qua bóng tối đen dầy đặc của tiền bạc, của cải vật chất,và danh vọng trần thế hư hão, là những quyến rũ đã và đang mê hoặc con người ở khắp nơi, khiến họ say mê đi tìm kiếm và tôn thờ, thay vì tìm kiếm và tôn thờ một mình Thiên Chúa là cội nguồn của mọi phú quý giầu sang và vinh quang đích thực mà thôi.
Chúa nói: “ ai có tai nghe thì nghe” ( Mt 13:43; Mc 4: 23; Lc 8:8)
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

----------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

GIUĐA CÓ ĐƯỢC CỨU RỖI HAY PHẢI PHẠT ĐỜI ĐỜI ?
Hỏi:
Nhân Tuần Thánh, tưởng niệm sự đau khổ, sự chết và sống lại của Chúa Kitô,
xin cha giải đáp hai câu hỏi sau đây:
1- Giuda có được cứu rỗi hay không ?
2- Phải chăng Đức Mẹ đã được Thiên Chúa ban ơn cứu độ trước khi làm Mẹ Chúa Giêsu .?
Trả lời :
1-Về câu hỏi thứ nhất, xin được trả lời như sau :
Nói đến Giuđa thì trước hết, đây là điển hình cho loại người quá đam mê tiền của đến quên tinh quên ân nghĩa và phản bội. Đây cũng là gương xấu to lớn phải tránh cho mọi người có niềm tin nơi Chúa là Đấng đầy lòng thương xót , công bình và hay tha thứ. Người thương xót và hay tha thứ, nhưng chúng ta phải tin tưởng và chậy đến xin Người thứ tha cho dù tội lỗi đến đâu. Chí có một tội không thể tha thứ được : đó là tội phạm đến Chúa Thánh Thần , tức là tội hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và không còn tin tưởng gì nơi lòng thương xót của Người nữa. Đó là điều Chúa Giêsu đã nói rõ với các tông đồ trong Tin Mừng như sau:
“ Tôi bảo thật cho anh em : mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng , và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời. “ ( Mc 3: 28-29)
Nói rõ hơn, nhờ Chúa Thánh Thần soi mở lòng trí để giúp ta nhận biết và tin có Thiên Chúa là Cha nhân lành , đầy lòng xót thương và hay tha thứ . Nên khi hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và tình thương tha thứ của Người , thì người ta phạm đến Chúa Thánh Thần là Đấng đã giúp con người tin và yêu mến Thiên Chúa.Như thế, nếu Giuđa quả thực hết tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa đến nỗi đi thắt cổ tự tử thì có thể Giuđa đã phạm tội mà Chúa Giêsu nói trên đây. Nhưng điều này chỉ có một mình Thiên Chúa biết và phán đoán Giuđa chiếu theo lòng khoan dung vô lượng và công minh tuyệt đối của Người. Nghĩa là chúng ta không thể căn cứ vào sự kiện bề ngoài để đưa ra một phán đoán nào, vì chúng ta hoàn toàn không biết được Giuđa có thực sự mất hết tin tưởng nơi lòng thương xót tha thứ của Chúa, hay trong một phút trước khi chết, anh ta đã kịp ăn năn hối lỗi và được tha thứ như người trộm lành ?
Điều này chỉ một mình Chúa biết mà thôi.Do đó, Giáo Hội cũng không dám đưa ra một phán đoán chắc chắn nào về số phận đời đời của Giuđa.Nếu Giáo Hội mà không dám kết luận chắc chắn về phần rỗi của Giuđa thì chúng ta dựa vào đâu mà dám nghĩ rằng Giuđa đã sa hỏa ngục hay được cứu rỗi ?
Cũng vậy, đối với những người tự tử chết ngày nay, Giáo Hội vẫn cho phép cử hành lễ an táng cũng như cho chôn xác trong nghĩa trang công giáo, một điều không được phép làm trước Công Đồng Vaticanô II . Sở dĩ trước đây Giáo Hội cấm cử hành tang lễ cho người tự tử chết vì Giáo Hội lên án hành vi xấu này chứ không vì phán đoán rằng người tự tử đã sa hỏa ngục rồi nên không còn ích gì để cầu nguyện cho ai đã tự hủy hoại đời mình vì bất cứ lý do nào.
Như vậy, ta không nên phán đoán gì về trường hợp của Giuđa cũng như về những người đã tự tử chết, mặc dù đó là gương xấu và cũng là tội trọng phải tránh. Giuđa có tội rất lớn là đã tham tiền và cam tâm phản bội Chúa khi bán Người lấy 30 đồng bạc của bọn Thượng Tế Do Thái. Không ai có thể biện minh cho việc phản bội, tham tiền và thất vọng đi tự tử của Giuđa.
Chính Chúa Giêsu cũng lên án việc phản bội của Giuđa như sau :
“ Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người : thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn !” ( Mc 14: 21)
Lại nữa trong lời cầu cùng Chúa Cha trước đêm bị trao nộp , Chúa Giêsu cũng than trách về Giuđa như sau :
“Khi còn ở với họ, con đã giữ gìn họ
Trong danh Cha mà Cha đã ban cho con
Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất
Trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời kinh Thánh.” ( Ga 17: 12)
Đứa con “ hư hỏng” vì đã phản bội chứ không có nghĩa là đã sa hỏa ngục. Nhưng việc Chúa phải chịu khổ hình và chết trên thập giá lại khác : không phải vì Giuđa phản bội, mà vì Chúa Giêsu muốn thi hành thánh ý Chúa Cha muốn Người hy sinh để đền tội cho cả loài người như Thánh Phaolô đã dạy:
“ Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thẩy chúng ta.” ( Rm 8:32)
Thánh Phêrô cũng quả quyết thêm như sau:
“ Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi. Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa.” ( 1 Pr 3 :18)
Cũng chính vì vâng ý Chúa Cha để chiu khổ hình thập giá và chết thay cho kẻ có tội là mọi người chúng ta, nên trước khi trút hơi thở cuối cùng, Chúa Giêsu đã phó linh hồn cho Chúa Cha với những lời thống thiết như sau :
“ Lậy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.Nói xong Người tắt thở.” ( Lc 23:46)
Lời cầu xin phó linh hồn trên đây của Chúa Giêsu đã được tiên báo trước trong Thánh Vinh 131:
Trước khi Chúa đến trần gian để thi hành thánh ý Chúa Cha:
“ Trong tay Ngài con xin phó linh hồn con.” ( Tv 131: 6)
Như thế, chứng tỏ Chúa Giêsu đã biết trước việc Người sẽ chết để đền tội cho nhân loại, đúng như Người đã nói với các môn đệ trong khi còn đi rao giảng Tin Mừng với họ:
“ Này chúng ta lên Jerusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người. Họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại. “ (Mc 10:33-34),
Do đó, không thể nói rằng nếu Giuđa không phản bội thì Chúa đã không chết.
Sự thật phải tin là Chúa Giêsu đến trần gian làm Con Người để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, trong Chương Trình Cứu Độ nhân loại của Chúa Cha, như ngôn sứ Isaia đã loan báo từ 8 thế kỷ trước khi Chúa Giêsu sinh xuống trần gian :
“ Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn
Giơ má cho người ta giật râu
Tôi không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.” ( Is 50: 6)
Hoặc :
“ Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội
Bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm
Người đã chịu sửa trị để cho chúng ta được bình an
Đã mang lấy thương tích cho chúng ta được chữa lành. “ ( Is 53 :5)

Như vậy, đủ cho thấy rõ là Chúa Cha đã dự liệu những khổ hình mà Chúa Kitô sẽ phải chịu để cứu chuộc cho nhân loại khỏi bị án phạt vì tội. Người chính là “ Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” như Gioan Tiền Hô đã tuyên xưng một ngày kia. Chúa Giêsu cũng đã xác nhận những điều đã được tiên báo về Người trong đêm bị nộp khi Chúa quở mắng Phêrô vì đã chém. đứt tai một đầy tớ của Thượng tế Do Thái:
“ Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần. Nhưng như thế thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được ?”( Mt 26: 53-54)
Hay rõ hơn nữa , khi Chúa bảo Phêrô “ Hãy xỏ gươm vào bao. Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ? “ ( Ga 18: 11)
Chén đắng đây chính là việc Người bị trao nộp, bị đánh đập, nhạo báng, phỉ nhổ và cuối cùng bị đóng đanh và chết trên thập giá.Như vậy, tuyệt đối không có vấn đề giả sử Giuđa đừng phản bội thì Chúa đã không phải chết. Đây là chén đắng Chúa Cha đã định liệu cho Người uống để chuộc tội cho nhân loại trong chương trình cứu độ của Chúa Cha
Và Chúa Kitô đã vui lòng uống “ chén đắng” đó khi Người không kêu cứu Chúa Cha sai đạo binh thiên thần đến giải thoát cho Người khỏi bị bắt và điệu đi hành hình.
Dầu vậy, Giuđa vẫn có lỗi lớn là đã bán Chúa lấy 30 đồng bạc của các thượng tế và kỳ mục Do Thái. Và vì không ngờ việc bán Thầy lại trùng hợp với việc Chúa Giêsu vâng ý Chúa Cha để vui lòng chiu tử nạn, nên y đã quá thất vọng đi tự tử, tức là phạm thêm một tội trọng nữa là tự hủy hoại mang sống mình. Nhưng như đã nói ở trên, ta không biết được Giuđa có còn kịp sám hối trước khi chết hay không, nên không thể kết luận được gì về phần rỗi của y. Việc này Chỉ có Chúa biết mà thôi.
2- Đức Mẹ được cứu chuộc trước khi Chúa Kitô ra đời ?
Có thể nói vắn gọn là điều này không đúng, vì bằng chứng Kinh Thánh sau đây :
a- “ Chỉ có một Thiên Chúa
Chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người
Đó là một con người : Đức Kitô- Giêsu
Đấng đã tự hiến làm giá chuộc cho mọi người.” ( 1 Tm 2 : 5-6)
b-
“ Ngoài Người ( Đức Kitô) ra, không ai đem lại ơn cứu độ vì dưới gầm trời này
Không có một danh nào khác đã ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào
Danh đó mà được cứu độ.” (Cvtđ 4: 12)
Đức Trinh Nữ Maria được diễm phúc không mắc tội tổ tông và mọi tội khác, được trọn đời đồng trinh dù đã sinh Chúa Giêsu với quyền năng của Chúa Thánh Thần, cũng như được về trời cả hồn xác.Nghĩa là Mẹ không phải trải qua cái chết trong thân xác như mọi con người sinh ra trong trần thế này. Hơn thế nữa, Mẹ còn được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos) vì là Mẹ thật của Chúa Giêsu, cũng là Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi Một Thiên Chúa ( The Holy Trinity).
Nhưng dù với địa vị cao trọng làm vậy, Mẹ cũng không cùng bản thể với Thiên Chúa hay cao hơn Chúa, là Đấng được tôn thờ ở mức Latria trong khi Mẹ được tôn kính đặc biệt ở mức Hyperdulia, các Thánh Nam Nữ khác ở mức Dulia trong phụng vụ thánh của Giáo Hội. Đó là những điều chúng ta cần biết, tin và thực hành như Giáo Hội dạy.
Mặt khác, nói về ơn cứu độ, chính Mẹ Maria đã nói khi đến thăm bà Ê-liza-bet như sau :
“ Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi ( My Savior) ( Mangnificat :47)
Như thế Đức Mẹ cũng nhận ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu-Kitô,Con của Mẹ là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người. Chúa đã hoàn tất công nghiệp cứu chuộc này qua khổ hình thập giá, chết và sống lại như Giáo Hội dạy.
Nhưng Giáo Hội chưa hề dạy rằng Mẹ Maria đã được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Thiên Chúa trước khi làm Mẹ Ngôi Hai. Thiên Chúa có Chương Trình cứu chuộc loài ngoài, và đã nhờ Chúa Kitô thi hành Chương Trình này và Chúa đã hoàn tất Công Trình đó qua khổ nạn thập giá, chết , sống lại và lên trời . Đó là nội dung Mầu Nhiệm Vượt qua ( Paschal Mystery) của Chúa Kitô mà Giáo Hội cử hành mỗi năm trong Tuần Thánh với cao điểm là Lễ Phục Sinh, tuyên xưng Chúa Kitô đã sống lại sau khi phải chiu khổ nạn và thực sự chết trên thập giá và được mai táng 3 ngày trong Mồ đá.
Như thế, trước khi Chúa Kitô hoàn tất Chương Trình cứu độ của Chúa Cha qua Mầu Nhiệm Vượt qua thì công nghiệp cứu chuộc đó chưa có để ban phát cho ai, -dù là riêng cho Mẹ Maria- vì Chúa Giêsu chưa “uống chén đắng” mà Chúa Cha muốn trao cho Người.
Chính vì ơn cứu độ chưa sẵn có, nên những người lành thánh chết từ bao đời trước khi Chúa Giêsu hoàn tất công nghiệp cứu chuộc của Người , thì đều phải ở nơi gọi là “Ngục tổ tông=Abode of the Dead” đợi chờ Chúa “ đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm” ở đây. Vì thế, sau khi Chúa chết trên thập giá, Người đã xuống nơi này với tư cách là Đấng Cứu Thế để loan báo Tin mừng cứu độ cho họ và dẫn đưa họ vào Thiên Đàng ( x.1 Pr 3: 19; SGLGHCG số 632)
Do đó, không thể nói rằng Chúa Cha đã ban ơn cứu độ riêng cho Mẹ Maria, Người đầy ơn phúc., vì đã sinh Con Chúa Trời và cộng tác tích cực vào việc thi hành Chương Trình cứu chuộc nhân loại của Chúa Giêsu-Kitô.Nghĩa là mọi người - kể cả Đức trinh Nữ Maria- dù vẹn toàn vì không mắc tội tổ tông và mọi tội cá nhân- đều phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô để vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Chúa là hạnh phúc của các Thánh và các Thiên Thần. Lý do là chỉ có một mình Chúa Kitô là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người trong việc cứu độ nhân loại như lời Kinh Thánh trích trên đây.Cho nên, khi Người chưa hoàn tất công cuộc cứu chuộc loài người qua Hy Tế Thập giá, thì ơn cứu độ đó chưa sẵn có để ban cho ai.Vả lại, nếu ơn đó đã sẵn có, thì Chúa Kitô đã không cần phải đến trần gian “để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người” (Mt 20:28) và trở thành Đấng Cứu Chuộc duy nhất cho nhân loại ( Human Savior).
Đó là tất cả những điều người tín hữu Chúa Kitô phải tin và thực hành để hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo là Mẹ, thay mặt Chúa là Cha để dạy dỗ con cái mình không sai lầm những gì thuộc phạm vị đức tin và luân lý. Amen Alleluia ! Alleluia!
Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn các câu hỏi được đặt ra.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

-----------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

SUY NIỆM MÙA CHAY NĂM 2019
TẠI SAO CON NGƯỜI PHẢI CỘNG TÁC VỚI ƠN CHÚA ĐỂ ĐƯỢC CỨU ĐỘ ?

Nói đến ơn cứu độ là nói đến tình thương,tha thứ vô hạn của Thiên Chúa ,” Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý “ ( 1 Tm 2:4) như Thánh Phaolô đã quả quyết.


Lịch sử cứu độ và Kinh Thánh cho ta biết có sự kiện nguyên tổ loài người là Adam và Eva đã ăn trái Thiên Chúa cấm trong vườn Địa Đàng.Thiên Chúa đã nói với họ rằng :
“ hết mọi trái cây trong vườn ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn , chắc chắn ngươi sẽ phải chết.” ( St 2: 16-17)
Cái chết mà Thiên Chúa nói trên không phải là cái chết về phần xác, mà là cái chết của linh hồn vì sẽ phải lìa xa Chúa đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục.Chính vì hiểu theo nghĩa đen,và muốn phỉnh gạt Eva, nên con rắn đã nói với bà như sau:
“ Không có chết chóc gì đâu.Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện ác,” ( St 3: 4-5)
Hậu quả túc khắc là sau khi hai ông bà ăn trái cấm đó, thì mắt họ mở ra và thấy mình trần truồng, nên phải lấy lá cây che thân và không dám ra gặp Thiên Chúa như mọi ngày khi ông bà không biết xấu hổ vì mình trần truồng, nên cứ vui vẻ dạo chơi với Chúa trong vườn đia đàng.
Sự xấu hổ của Adam và Eva sau khi ăn trái cấm đã cho thấy là họ đã mất tình trạng ân phúc gọi là sự “ngây thơ hay công chính ban đầu Origional innocence and Justice”, một tình trạng ơn phúc đặc biệt đã giữ cho họ được đứng vững trước mọi sa ngã vì tội. Nhưng họ đã phạm tội vì đã sử dụng ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và tôn trọng cho họ được sử dụng.
Chúa Kitô xuống trần gian để cứu chuộc cho con người khỏi chết vì tội, nhưng Chúa không trả lại cho con người tình trạng ngây thơ công chính ban đầu đó, cho nên con người vẫn hoàn toàn yếu đuối và dễ sa ngã sau khi được tái sinh qua Phép Rửa.
Về điểm này, Giáo lý của Giáo Hội cũng dạy rằng: “ Tuy nhiên,nơi mọi người đã được rửa tội, một số những hậu quả của tội lỗi vẫn còn tồn tại , như những đau khổ , bệnh tật, sự chết, hoặc những yếu đuối gắn liền với sự sống như những yếu đuối về tình tình...nhất là sự hướng chiều về tội lỗi mà Truyền thống gọi là tình dục, và theo ẩn dụ, được gọi là “ lò phát sinh ra tội ( fomes percati) được để đó cho chúng ta phải chiến đấu với nó...” ( x SGLGHCG số 1264)
Chính vì những yếu đuối còn để lại trong bản chất con người cộng với ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và hoàn toàn tôn trọng cho con người sử dụng, nên con người xưa và nay dễ sa phạm rất nhiều tội, dù đã được một lần tha thứ hết mọi tội cá nhân và tội Nguyên tổ qua Phép rửa.
Như thế Phép Rửa cũng không bảo đảm cho con người khỏi sa ngã vì tội.
Kinh nghiệm bản thân của mỗi người chúng ta cho thấy là chúng ta luôn sống trong sự giằng co giữa sự thiện và sự dữ, giữa xấu và tốt, giữa mời gọi bước đi theo Chúa để được sống vĩnh cửu hay,ngược lại, khước từ Chúa để sống theo ma quỷ và thế gian khiến mất hy vọng được cứu rỗi và phải chết đời đời vì tội.
Chính vì hậu quả nói trên của Tội Nguyên tổ mà con người xa xưa trong thời cựu ước đã phạm nhiều tội nghiêm trọng khiến Thiên Chúa đã hai lần phải đánh phạt con người cách nhãn tiền.
Lần thứ nhất xẩy ra trong thời ông Nô-E, một tôi tớ sống đẹp lòng Chúa , nên Chúa đã sai ông đóng một con tầu để chở gia đình ông và mọi sinh vật được ông mang lên con tầu này.Thiên Chúa đã phán bảo ông như sau:
“ Ta đã quyết đinh giờ tận số của xác phàm, vì tại chúng mà mặt đất đầy bạo lực : này Ta sắp tiêu diệt chúng cùng với đất.” ( St 5: 13).
Thiên Chúa muốn tiêu diệt mọi người trên mặt đất- trừ gia đình ông No-E và các sinh vật ,mỗi loại 2 con mà ông Noe đã mang lên tầu để thoát nạn đại hông thủy (deluge). Sở dĩ Thiên Chúa đã bất đắc dĩ phải làm như vậy, vi “ trên mặt đất sự gian ác của con người quả là nhiều , và suốt ngày lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu.” ( St 5: 5)
Vì thể, để trừng phạt con người, Thiên Chúa đã cho mưa từ trời cao tuôn đổ xuống trên khắp địa cầu trong suốt 40 đêm ngày, và đã cuốn vào lòng đại dương tất cả người và mọi sinh vật , trừ gia đình ông No E và các sinh vật được ông đem lên tầu trước khi mưa đổ xuống.( x St 6-7)
Đây là lần đánh phạt nặng nề nhất của Thiên Chúa đối với những người đã phạm nhiều tội mà không hề biết ăn năn từ bỏ. Sau lần đánh phạt cả thể này, Thiên Chúa lại phải đánh phạt dân ở hai thánh Sô-dôm và Gômora trong thời ông Abraham, một người công chính sống đẹp lòng Chúa vì đã dám hy sinh con mình là Isaac để chứng mình lòng tin yêu phi thường của ông đối với Thiên Chúa.
Dân hai thành Sôdôm và Gômora bị đánh phạt vì ĐỨC CHÚA phán: “ tiếng kêu trách Sôdôm và Gômora quá lớn ! tội lỗi của chúng quá nặng nề. Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta không..” ( St 18: 20-21)
Thiên Chúa đã cho Ông Abraham biết ý đinh của Người, nên ông đã nài van Chúa tha chết cho họ, nếu ông tìm được 50 người lành, hay chỉ được 45 người , rồi 30 người hoặc chỉ được 20 và cuối cùng là 10 người thôi, thì Chúa có vì mấy người lành này mà tha chết cho cả dân các thành tội lỗi đó không. Chúa đồng ý tha, nhưng ông Abraham cuối cùng đã không tìm được người công chính nào hết, nên đã phải ngậm ngùi rời khỏi thành Sôdôm cùng với gia đình trước khi lửa từ trời xuống thiêu rụi các thành tội lỗi đó.( x St 19)
Hai sự kiện đánh phạt nói trên xảy ra trong thời cựu ước đã cho thấy là dù Thiên Chúa là tình yêu, khoan dung và hay tha thứ, nhưng nếu con người cứ làm sự dữ, cứ phạm tội mà không biết ăn năn sám hối chừa bỏ, thì Thiên Chúa sẽ đánh phạt cách nhãn tiền như ta thấy đã sảy ra trong thời các ông No-E và Abraham nói trên.
Chúa đánh phạt vì Người chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ , vì nó xúc phạm nặng nề đến bản chất tốt lành và thánh thiện của Người.
Nhưng vì đâu có sự tội và sự dữ ?
Thánh Phaolô đã trả lời là : “ vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội đã gây nên sự chết; như thế , sự chết đã lan tràn tới hết mọi người , bởi vì mọi người đã phạm tội.” ( Rm 5: 12)
Người duy nhất đã phạm tội đó là Adam, người đã cùng vợ là Eva ăn trái cấm ,trái lệnh Thiên Chúa nên đã đem sự tội vào thế gian và gây nên sự chết cho cả loài người. Sự sa ngã của Adam và Eva đã đưa đến hậu quả trước tiên là họ đã đánh mất tình trạng ơn phúc ,gọi là sự ngây thơ, công chính ban đầu= Origional Innocence and justice mà họ đã được hưởng trước khi phạm tội, như đã nói ở trên.
Hậu quả của sự mất ơn phúc đặc biệt này khiến Adam và Eva trở nên yếu đuối hoàn toàn trong bản tính, -và do đó- dễ sa phạm tội hơn trước ngày họ ăn trái cấm. Sự yếu đuối này cũng di truyền đến hết mọi người, giống hệt như hậu quả của tội Nguyên Tổ khiến tội và sự chết xâm nhập trần gian và lan ra đến hết mọi người trong nhân loại như Thánh Phaolô đã dạy.
Nghĩa là, con người ,từ sau ngày Nguyên Tổ phạm tội, đã phạm thêm những tội cá nhân như gian dối, gian manh, mê tín dị đoan, hận thù, nghen ghét, dâm ô, hiếp dâm, ngoại tình,trộm cướp, giết người, giết thai nhi, bất công, bóc lột , bỏ vạ cáo gian, chiến tranh, khủng bố, thay chồng đổi vợ, buôn bán phụ nữ ,bắt cóc trẻ nữ để bán cho bọn bất lương hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi như thực trạng thế giới vô luân vô đạo hiện nay.
Tội Nguyên Tổ và tội cá nhân đã khiến con người hoàn toàn xa cách Thiên Chúa là tình yêu, nhân hậu , công chính và thánh thiện. Do đó, các tội của loài người là điều nghê tởm, không thể chấp nhận được đối với Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành.
Nhưng vi Thiên Chúa là tình yêu, “ Người có giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời, ( Tv 29: 30(29): 6) nên Người đã sai Con một là Chúa Giêsu Kitô đến trần gian cách nay trên 2000 năm để “hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.”( Mt 20:28)
Chúa Kitô đã hy sinh mạng sống mình qua khổ hình thập giá, chết đau thương và nhục nhã trên thập giá để đền tội thay cho loài người. Tội đó là tội Nguyên Tổ và mọi tội cá nhân con người đã phạm từ xưa đến nay và còn mãi mãi cho đến ngày hết thời gian.Tội Nguyên Tổ đã làm phát sinh mọi tội khác mà con người đã và đang phạm ở khắp nơi trên trần gian này.Các tội đó đủ làm cho con người hoàn toàn xa cách hay chống lại Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành. Các tội đó đã đóng đanh Chúa Kitô vào thập giá, là vòng gai nhọn quấn quanh đầu Chúa và là lưỡi gươm nhọn đâm vào cạnh sườn Chúa khi Người đang bị treo trên thập giá.,
Như thế, Chúa Kitô chết vì tội lỗi nhân loại.Các tội này bắt nguồn từ tội mà Nguyên Tổ loài người đã phạm khi ăn trái cấm trong vườn địa đàng như Kinh Thánh và giáo lý của Giáo Hội dạy.
Mặc dù Chúa Kitô đã chịu mọi đau khổ và chết trên thập giá để đền tội thay cho con người, nhưng Chúa không tiêu diệt hết mọi mầm mống của tội trong mỗi con người và trong trần gian để cho con người phải chiến đấu chống lại mọi cám dỗ của tội đến từ thế gian với đầy rẫy gương xấu, và nhất là từ ma quỷ, mà Thánh Phêrô đã vì như “ sư tử đói , gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé. ( 1 Pr5:8) để mong cướp lấy linh hồn của con người bao lâu còn sống trong thân xác có ngày phải chết đi này.
Là những người có niềm tin Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi tích cực cộng tác với ơn cứu độ của Chúa để chiến đấu chống lại mọi kẻ thù đến từ bản chất yếu đuối luôn nghiêng chiều về đường tội, từ thế gian với bao gương xấu và dịp tội, và đặc biệt, đến từ ma quỷ, kẻ tử thù không bao giờ muốn cho chúng ta được cứu rỗi để hưởng Thanh Nhan Chúa trên Thiên Đàng, là nơi hạnh phúc mà quỷ Sa tăng và đồng bọn đã bị đánh bật ra ngoài vì tội kiêu căng,dám chống lại Thiên Chúa.
Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá (invaluable) và đủ cho con người được cứu độ để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa.Nhưng nếu ta không cộng tác với ơn Chúa để quyêt tâm xa tránh tội lỗi thì Chúa không thể cứu ai được , và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ ra vô ích cho những ai cứ sống trong tội, cứ làm sự dữ mà không có quyết tâm từ bỏ và ăn năn sám hối để xin Chúa tha thứ.
Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với mấy người biệt phái đến hỏi Chúa xem có phải mấy người Galilêa bị Tổng Trấn Philatô giết và 18 người khác bị thác Si –lô-a đổ xuống đè chết, có phải vì họ là những người tội lỗi hơn những người khác không, Chúa đã trả lời họ như sau:
“ Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu.Nhưng nếu các ông không chịu sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.” ( Lc 13: 5)
Phải sám hội để nhìn nhận tội mình đã phạm mà xin Chúa tha thứ, nếu không sẽ phải chết trong linh hồn và phải xa cách Chúa đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục.
Tóm lại, vị tội Nguyên tổ làm phát sinh ra muôn vàn tội khác khiến con người phải xa cách Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, nên Chúa Giêsu Kitô đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian làm Con Người để hy sinh chịu chết trên thập giá để đền thay cho nhận loại khỏi phải chết đời đời vì tội.


*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Muốn được hưởng công nghiệp cứu chuộc vô giá này của Chúa Kitô, thì mọi người phải quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi để bước đi theo Chúa Kitô là “ con Đường, là sự Thật và là sự Sống” ( Ga 14:6). Nếu không thì Chúa không thể cứu ai được. Chúa nói : “ai có tai nghe, thì nghe.”(Mt 13: 43; Mc 4 23; Lc 8: 8)
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

-----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 158