mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5954
mod_vvisit_counterHôm Qua8283
mod_vvisit_counterTuần Này59979
mod_vvisit_counterTuần Trước63979
mod_vvisit_counterTháng Này40437
mod_vvisit_counterTháng Trước249791
mod_vvisit_counterTất cả18424924

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO- NHỮNG CÂY NẾN MÙA VỌNG PDF Print E-mail

DM Tran

NHỮNG CÂY NẾN MÙA VỌNG

Trần Mỹ Duyệt

Giáo Hội đã bước vào Mùa Vọng, 4 Chúa Nhật chuẩn bị đón mừng biến cố trọng đại là kỷ niệm ngày hạ sinh của Chúa Cứu Thế. Ngài đến với trần gian qua hình hài một trẻ sơ sinh, và mang thân phận con người. Ngài chính là Emmanuel (Mt 1:23), có nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thánh Phaolô Tông Đồ diễn tả về Ngài: "Ngài trở nên giống như con người ngoại trừ tội lỗi" (Hebrews 4:15). Biến cố lịch sử ấy đã diễn ra giữa đêm đông giá lạnh tại đồng quê Belem, hơn 2000 năm trước.

Lịch sử Mùa Vọng

Trong ý nghĩa phụng vụ, Mùa Vọng là thời gian của hy vọng và chờ đợi. "Advent" có nghĩa là "đến". Nó nhắc chúng ta dừng lại mỗi ngày trong tháng Mười Hai để nhớ lại Chúa Giêsu đã đến với nhân loại vào đêm Giáng Sinh. Truyền thống tại nhiều quốc gia tuy khác nhau đôi chút, nhưng cách chung để nhắc nhớ đến ngày sinh nhật của Chúa Giêsu là những vòng hoa, những cây nến Mùa Vọng.

Chữ "Advent" bắt nguồn từ chữ "adventus" của Latin, có nghĩa là "đến". Nó được dịch từ chữ parousia trong tiếng Hy Lạp. Phần lớn chúng ta ngày nay đều hiểu rằng đây là thời gian của việc chuẩn bị và trông mong ngày giáng trần của Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên, những Mùa Vọng đầu tiên ở các thế kỷ thứ 4 và thứ 5 là thời gian mang ý nghĩa ăn chay và cầu nguyện cho những tân Kitô hữu. Nhưng Mùa Vọng mang ý nghĩa chuẩn bị đón mừng ngày hạ sinh của Chúa Cứu Thế chỉ được bắt đầu khoảng năm 300 A.D, trong cuộc họp của các vị lãnh đạo Giáo Hội gọi là Công Đồng Sargossa. Nó được diễn tiến từ từ thành một mùa suốt trong tháng Mười Hai, kéo dài 4 tuần cho đến lễ Giáng Sinh. Mùa Vọng không chỉ là dấu hiệu mong chờ để kỷ niệm ngày sinh nhật của Chúa Kitô, nhưng còn là dấu hiếu chờ đợi ngày Ngài đến lần thứ hai.

Những cây nến Mùa Vọng

Như những cây nến Mùa Vọng chiếu sáng giữ đêm trường tăm tối. Những cây nến Mùa Vọng mang ý nghĩa tượng trưng và nhắc nhở chúng ta rằng Chúa Giêsu đến như Ánh Sáng chiếu vào thế giới tăm tối của con người. Những cây nến được sắp thành vòng tròn trong một vòng hoa Mùa Vọng. Theo một tục lệ, tại Scandinavia các nhà thờ Tin Lành thắp một cây nến mỗi ngày trong tháng Mười Hai. Đến Lễ Giáng Sinh, họ có 24 cây nến sáng.

Truyền thống chung về nến Mùa Vọng chính là 4 cây nến quanh một vòng hoa. Mỗi cây được thắp lên vào đầu mỗi Chúa Nhật trong tháng Mười Hai. Mỗi cây mang một ý nghĩa tượng trưng riêng. Nhưng cây nến số 1, số 2, và số 4 có màu tím. Riêng cây số 3 là màu hồng. Cũng có nơi, tất cả 4 cây nến đều là màu đỏ, hoặc 4 cây nến cùng là màu xanh da trời hoặc trắng. Một vài nơi còn dùng cây nến thứ 5 màu trắng để ở giữa và nó được đốt lên ngay chính lễ Giáng Sinh.

Ý nghĩa và biểu tượng

1. Cây nến đầu tiên, tượng trưng cho Hy Vọng. Nó cũng còn được gọi là cây nến "Tiên Tri" để tưởng nhớ đến các tiên tri trong Cựu Ước, đặc biệt là tiên tri Isaiah, người đã nói tiên tri về việc hạ sinh của Chúa Cứu Thế. Nó chính là biểu tượng cho niềm hy vọng hòa nhập trong mong chờ Đấng Thai Sai (Messiah). Ngài là Đấng sẽ xuất hiện để giải thoát nhân loại khỏi tội tình, khỏi vòng nô lệ của Satan.

2. Cây nến thứ hai, tượng trưng Đức Tin. Nó cũng được gọi là cây nến "Bethlehem" mang ý nghĩa tưởng nhớ đến cuộc hành trình về Bethlehem của Mẹ Maria và Thánh Giuse. Đức Tin của Mẹ Maria và Thánh Giuse đã phải trải qua những thử thách khi chứng kiến Con Thiên Chúa làm người giáng sinh trong máng bò lừa đơn hèn giữa đêm trường giá lạnh.

3.Cây nến thứ ba là cây màu hồng và tượng trưng niềm Vui Mừng. Nó còn được gọi là cây nến "Mục Đồng". Theo tinh thần phụng vụ, màu hồng tượng trưng cho niềm vui. Cũng vì thế, Chúa Nhật thứ ba mùa Vọng còn được gọi là Chúa Nhật Gaudete. Nó mang ý nghĩa nhắc nhở chúng ta sự vui mừng mà thế giới đã kinh nghiệm về sự giáng trần của Chúa Giêsu, cũng như sự vui mừng mà những Kitô hữu đã cảm nhận được ở giữa Mùa Vọng.

4.Vào Chúa Nhật thứ tư của Mùa Vọng, chúng ta thắp cây nến màu tím cuối cùng để kết thúc tuần lễ cuối của kinh nguyện, thống hối khi chúng ta trông chờ ngày hạ sinh của Chúa Cứu Thế của chúng ta. Cây nến cuối cùng cũng được gọi là cây nến "Thiên Thần" tượng trưng cho sự Bình An. Nó nhắc nhở chúng ta về thông điệp của các thiên thần: "Bình an dưới đất cho người lòng ngay" (Luc 2:14). Chúa đến để giải thoát nhân loại tội tình. Chúa đến để ban cho nhân loại hồng ân con Thiên Chúa. Món quà mà Ngài mang xuống từ trời cao cho con người là sự bình an. Sự bình an của con cái Chúa. Luôn luôn hạnh phúc vì có Chúa ở cùng.

Mùa Vọng đã bắt đầu, những ngọn nến Mùa Vọng sẽ từ từ được thắp lên để nhắc nhở chúng ta về thời gian chuẩn bị và đón chờ. Như 5 cô trinh nữ khôn ngoan, chúng ta cũng hãy trang trí cho hang đá tâm hồn mình được thắp sáng bằng những ngọn nến vui mừng, bình an, và hy vọng cùng với niềm tin yêu tha thiết để đón tiếp Hài Nhi Giêsu khi Ngài ngự đến trong đêm Giáng Sinh.

Noel 2020

Nguồn: Sưu tầm và tóm lược trên Internet

--------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - ĐTC TRẢ LỜI VỀ HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH PDF Print E-mail


Mon, Nov 9 at 2:50 PM

Thông cáo Tòa Thánh: Đức Thánh Cha Phanxicô trả lời về hôn nhân đồng tính

Những lời nhận định này của Đức Thánh Cha không đề cập đến Học thuyết Giáo Hội Công Giáo về hôn nhân và gia đình. Bí tích Hôn nhân, cũng như định nghĩa hôn nhân theo luật dân sự, luôn luôn là việc giữa người nam và người nữ.

Tài liệu này cống hiến một số điểm hữu ích, với mong muốn trình bày một cách hiểu thích đáng về những tuyên bố của Đức Thánh Cha.

* * *

Trong những ngày qua, một số khẳng định trong phim tư liệu "Phanxicô", của đạo diễn Evgeny Afineevsky, đã gây nên những phản ứng và cách giải thích khác nhau. Vì thế, xin được trình bày một số yếu tố hữu ích, theo ý muốn của Đức Thánh Cha, giúp hiểu biết cách thích đáng những tuyên bố của ngài.

Hơn một năm trước, trong một buổi phỏng vấn, Đức Thánh Cha Phanxicô đã trả lời hai câu hỏi riêng biệt ở hai lúc khác nhau, thế rồi chúng đã được biên tập và xuất bản trong đoạn phim nói trên, thành như một câu trả lời duy nhất mà không hề đề cập đến bối cảnh của nó, điều đó đã gây nên những lẫn lộn, bối rối. Điều đầu tiên Đức Thánh Cha đã nói liên quan đến vấn đề mục vụ: trong gia đình, tuyệt đối đừng bao giờ kỳ thị những đứa con có xu hướng tính dục đồng giới. Những lời liên quan đến vấn đề này đó là: «Las personas homosexuales tienen derecho a estar en familia; son hijos de Dios, tienen derecho a una familia. No se puede echar de la familia a nadie ni hacerle la vida imposibile por eso» ["Những người đồng tính luyến ái có quyền sống trong gia đình; họ là con Thiên Chúa, họ có quyền có một gia đình. Không thể loại trừ bất kỳ ai ra khỏi gia đình, hay khiến cho đối với người này đời sống là không thể vì lý do đó"].

Đoạn văn sau đây của Tông huấn Hậu Thượng hội đồng về tình yêu trong gia đình Amoris laetitia (2016) có thể soi sáng cho ý trên: "Cùng với các Nghị phụ Thượng Hội đồng, tôi đã xem xét hoàn cảnh của các gia đình sống kinh nghiệm trong nhà mình có người mang xu hướng đồng tính, một kinh nghiệm không dễ dàng đối với cha mẹ cũng như con cái. Vì vậy, trước hết chúng tôi muốn khẳng định lại rằng mọi người, không phân biệt khuynh hướng tính dục, phải được tôn trọng theo phẩm giá của họ và phải được đón nhận với lòng kính trọng, hết sức tránh "mọi dấu hiệu kỳ thị bất công" và nhất là mọi hình thức gây hấn và bạo lực. Còn đối với gia đình thì cần bảo đảm một sự đồng hành trân trọng, để người có xu hướng đồng tính có thể nhận được sự trợ giúp cần thiết, để họ hiểu và thi hành trọn vẹn thánh ý Thiên Chúa trên cuộc đời của mình" (số 250).

Còn câu hỏi tiếp theo của cuộc phỏng vấn thì liên quan đến một luật địa phương tại Argentina mười năm trước gọi là «matrimonios igualitarios de parejas del mismo sexo» ["các cuộc hôn nhân bình đẳng của các cặp đồng tính"] và liên quan đến những đối chứng phản kháng của Đức Tổng Giám mục Buenos Aires khi đó. Về vấn đề này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định rằng «es una incongruencia hablar de matrimonio homosexual» ["thật không hợp lý khi nói về hôn nhân đồng tính"], trong bối cảnh cụ thể như thế, ngài đề cấp đến quyền của những người này, họ có quyền được pháp luật bảo vệ, nên ngài nói thêm: «lo que tenemos que hacer es una ley de convivencia civil; tienen derecho a estar cubiertos legalmente. Yo defendí eso» ["việc chúng ta phải làm là tạo ra một đạo luật về sự chung sống dân sự; họ có quyền được pháp luật bảo vệ. Tôi đã ủng hộ điều này"].

Trong cuộc phỏng vấn năm 2014 Đức Thánh Cha đã phát biểu: "Hôn nhân là việc giữa một người nam và một người nữ. Các nhà nước dân sự muốn biện minh cho việc kết hiệp dân sự để điều chỉnh những tình huống khác nhau của việc chung sống, được thúc đẩy bởi đòi hỏi phải điều chỉnh những tương quan kinh tế giữa con người với nhau, chẳng hạn như bảo đảm có được sự hỗ trợ y tế. Đó là những thỏa thuận chung sống có bản chất khác nhau mà tôi không thể liệt kê hết được. Cần phải xem xét và đánh giá các trường hợp khác nhau trong chính sự đa dạng của chúng".

Do đó hiển nhiên là Đức Thánh Cha Phanxicô đã đề cập đến những quy định cụ thể của nhà nước, chứ không hề nói về giáo thuyết của Hội Thánh, giáo thuyết mà ngài đã xác nhận nhiều lần trong những năm qua.

Nguồn: hdgmvietnam.com

Kính chuyển:
Hồng

--------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THÁNG CAC LINH HỒN PDF Print E-mail

TÍCH TRUYỆN THÁNG CÁC LINH HỒN
05/11

TRẺ EM CHẾT SỚM CŨNG PHẢI ĐỀN TỘI Ở LUYỆN NGỤC

I. AI ĐÃ THÀNH LẬP LỄ CÁC ĐẲNG LINH HỒN

Chính thánh Odilông (Odilon) Tu Viện Trưởng Cơluyni (Cluny) ở thế kỷ XI đã thành lập lễ các Đẳng Linh Hồn ngày mồng 2 tháng 11.

Đây là gốc tích ngày lễ đầy tình thương cao trọng: Một giáo lữ hành Pháp hành hương từ thánh địa về, bị một cơn bão và tấp vào bờ biển Xixin (Sicile).

Một thầy ẩn sĩ sống ở trong hải thạch cù lao này hỏi anh có biết dòng Cơluyni và cha bề trên Ôdilông không? Thầy thêm: "Bần sĩ thường nghe ma quỷ tru trếu, nguyền rủa những người đạo đức cứu thoát các linh hồn khỏi các cực hình họ phải chịu bên kia thế giới, bằng lời cầu nguyện, các việc bố thí, các lần rước lễ và dâng lễ, ... Chúng chửi bới nhất là cha Ôdilông và các thuộc sĩ. Khi nào ông bạn về Pháp, xin vui lòng khuyến khích vị tu viện trưởng thánh thiện ấy và các tu sĩ tăng cường hơn nữa việc bác ái đối với các linh hồn đau khổ trong Luyện Ngục".

Được cổ xúy, linh mục Ôdilông lại phấn khởi hơn nữa và Ngài đã vận động thành lập ngày lễ Các Đẳng vô vàn đáng ghi nhớ đó.

II. TÍCH THIỆN PHÙNG THIỆN

Đức Giáo Hoàng Biển Đức VIII hết lòng ưu ái thánh Ôdilông và dòng của ngài ở Cluny. Ngài thích nhất lòng nhiệt thành của thánh nhân đối với Các Đẳng Linh Hồn. Hẳn thật, thánh này không những cầu nguyện và đền tội cho Các Đẳng, còn khuyên dụ mọi người làm như vậy nữa.

Đức Biển Đức đã ban đủ thứ ân huệ quý báu cho thánh Ôdilông, và chịu các chi phí thánh nhân đi La Mã.

Đức Giáo Hoàng đã được thưởng công bội hậu sau khi chết. Một vài ngày sau khi chôn, ngài hiện về với Đức Cha Gioan, Giám Mục Porto, báo tin ngài bị phạt ở Luyện Ngục hết sức nghiệt ngã, nhưng hy vọng sẽ được thánh Ôdilông cứu thoát, nếu thánh nhân biết ngài bị cực hình.

Ngài thêm: "Vậy khẩn khoản xin Đức Cha báo tin cho thánh nhân biết điều tôi đã tiết lộ."

Vừa nghe thế, thánh Ôdilông không những tự mình cầu nguyện, còn chỉ thị cho tất cả các tu sĩ dòng mình phải khắc phục hãm xác và cầu nguyện cho Đức Biển Đức. Ngài cũng lệnh cho các dòng khác phải tích cực làm các việc đạo đức. Các dòng đã cầu nguyện, khổ chế và dâng thánh lễ. Cha Eđênbe (Edelbert), quản lý nhà dòng còn bố thí rộng rãi để cho linh hồn Đức Thánh Cha được siêu thoát.

Sau ít ngày, chính cha quản lý có một thị kiến: Cha thấy đi vào trong dòng một nhân vật oai phong lẫm liệt, choàng một áo sáng chói, đầu đội triều thiên nạm ngọc quý và kim cương rực rỡ. Đoàn tùy tùng gồm nhiều người bận đồ trắng. Nhân vật ấy đi thẳng đến thánh Ôdilông để cám ơn thánh nhân và cả dòng.

Cha quản lý hết sức kinh ngạc trước cảnh tượng ấy, và muốn biết: "Nhân vật khả kính ấy là ai, liền nghe nhân vật đó là Đức Gáo Hoàng Biển Đức VIII, được cứu thoát khỏi Luyện Ngục nhờ lời cầu nguyện của dòng và của Ôdilông".

Trước khi lên trời, ngài muốn đến tỏ lòng tri ân và đoan chắc về phần ngài, ngài sẽ không quên trước mặt Chúa nhũng vị ân nhân. Đoạn ngài biến mất.

III. TRẺ EM CHẾT SỚM CŨNG PHẢI ĐỀN TỘI Ở LUYỆN NGỤC

Bà thánh Pécpêtua, tử đạo khoảng 203, đã thuật lại hai thị kiến sau đây.

Vào khoảng năm 195 tại Cacsta, Phi Châu, em Đinôcát (Dinocrate) lên bảy, đã chết vì bệnh nan y. Chị em là thánh Pécpêtua bị bắt giam vì tội không thờ kính bụt thần. Trong khi khám đường, bà cầu nguyện hết sức sốt sắng, trước khi bà bị ném cho thú dữ, bà thị kiến.

Bà thấy Đinôcát và nhiều người khác trong một ngục tối tăm. Mặt em tái mét, mắt lửa đỏ và còn mang bệnh. Dùng những bộ điệu hết sức tiêu biểu, em có cho chị hiểu là em đang quằn quại trong lửa và khát nước. Bên cạnh em, có một bể lớn chứa nước, nhưng thành bể cao quá, em không uống được.

Thánh Pécpêtua cảm động thấy em đau khổ, cầu nguyện nhiều cho em, cầu nguyện hết sức, hết mình.

Vài ngày sau, bà có một thị kiến khác thật an ủi. Cậu em bận đồ trắng, thân thể sáng chói, mặt hồng hào tươi trẻ. Bà hiểu là bà cầu nguyện được Chúa chấp nhận và Đinôcát đã được giải thoát khỏi Luyện Ngục.

Các trẻ em thường phạm lỗi và cho là không đáng kể, nên không còn nghĩ đến. Dù trẻ tuổi đến đâu, các em cũng phải thanh trừng trong Luyện Ngục, nếu chưa đền tội ở trần gian.

Thánh Augustinô đã chẳng cho ta hay một cậu em lên ba đã phải trầm luân trong hỏa ngục đó sao?

LỜI NGUYỆN

Ôi! Lạy Chúa, còn chúng con: càng thêm tuổi, càng thêm tội. Do đó, các cực hình Luyện Ngục đang chờ chúng con, nếu chúng con dại dột không lo đền trước ở trần gian này.

Nguyện xin các Đẳng Linh Hồn đã siêu thoát cầu cho chúng con được luôn luôn ý thức đúng mức điều đó.
NXB PHƯƠNG ĐÔNG

--------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

XIN NÓI LẠI NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO, ANH GIÁO VÀ TIN LÀNH

Hỏi:
Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.v
Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống, Anh Giáo và Tin Lành.

Trả lời:
Như đã giải thích trong bài trước, Đạo Thánh của Chúa Kitô và Giáo Hội duy nhất của Chúa xây trên Đá Tảng Phểrô,qua thời gian, đã bị rạn nứt hay ly giáo ( schisms) phân chia thành ba Nhánh Kitô Giáo là Công Giáo Roma (The Roman Catholicism ) , Chính Thống Giáo Đông Phương ( Eatern Orthodox Churches) và Tin Lành ( Protestantism).Đây là hậu quả của những cuộc cải cách tôn giáo xảy ra vào thế kỷ XVI ở Tây Phương,làm phát sinh các Đạo giáo trên đây.
Thật vậy, từ đầu, chỉ có Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) trong Giáo Hội nói chung. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Communion) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.
Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa bốn Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I-Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) thé nào ?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp là " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn Kitô đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo.
Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople ( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)
Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 6 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô XVI ( đã về hưu năm 2013) đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo. Dầu vậy, một biến cố mới xẩy ra trong năm 2016 là Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp Thượng Phụ Giáo Hội Chính Thông Nga tại MỄ TÂY CƠ (Mexico), nhưng kết quả của cuộc gặp gỡ lịch sử này giữa hai vi lãnh đạo Công Giáo và Chính Thống Nga không được công bố sau đó.Nhưng đây là một dấu chỉ tích cực giữa hai Giáo Hội anh em muốn hiệp nhất với nhau trong cùng một niềm tin vào Chúa Kitô.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây năm 1054.

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- đã bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".
Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử năm 1966 giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người dự tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.
Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu của Chính Thống nếu không tìm được nhà thờ Công Giáo hay linh mục Công giáo khi cần..

2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Viêt Nam.

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: các Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (permanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã cho đến nay.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).
Vì Chính Thống Giáo có đủ bảy bí tích hữu hiệu, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu ở nhà thờ và các linh mục Chính Thống, nếu không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo nơi mình cư ngụ.

II- Tin lành ( Protestantism)Anh Giáo ( Anglican Communion) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó.Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism)nói trên. Một đặc điểm của các giáo phải Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Roma cho đến các giáo hội địa phương ở mỗi quốc gia.Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, nhân sự, tài chính và phương thức hành đạo.

1-Ở góc độ thần học,
Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị.Do đó, chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).
Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ:
"không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi vẫn ra vô ích.
Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình
Là bí tích hòa giải mà các giám mục và linh mục Công Giáo được phép tha tội cho các hối nhân nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi).
,
Lại nữa, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng Kinh thánh., Nhưng đó không phải là cử hành Bí Tích Thánh Thể ( Eucharist) như trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương.. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng Kinh Thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo Hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi Ai dưới đất là Cha, là Thầy .". anh em Tin Lành hiểu lời Chúa trong ngữ cảnh (context) câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công Giáo là 'lạc giáo=heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô
kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ
của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành và Anh giáo.
Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành và Anh giáo đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện (Vicar) duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.
Chính vì không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô nên đây là trở ngại lớn cho các nhánh Tin Lành và Anh giáo muốn hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo.

3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành và Anh Giáo đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession)- và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường dân ( Martin Luther, John Calvin..Henry VIII) chứ không phải là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của Chúa trên Đá Tảng Phêrô.( Mt 16: 18-19) và " Giáo Hội này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phê rô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển" như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã tuyên bố. ( x. LG. số 8). Cho nên các nhánh Tin Lành và Anh giáo đều không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm Tin Lành và Anh Giáo chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullah và Marmonites ở Mỹ , thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự tòng.(catechumens). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi
III-Anh Giáo ( Anglican Communion)
Nhóm Kitô Giáo này do Vua Henry VIII của Nước Anh tự tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Roma từ năm 1534 vì nhà vua bất mãn với Đức Thánh Cha Clemente VII, đã không cho phép ông li dị để lấy vợ khác.Nhóm này khác biệt với Giáo Hội Anh Quốc ( The Church òf England) Là Giáo Hội hiệp thông và vâng phục Giáo Hội Công Giáo Roma do Đức Thánh Cha làm Thủ Lãnh với sự hiệp thông và vâng phục trọn vẹn của các Giáo Hội Công Giáo địa phương ở khắp nơi trên thế giới.Người lãnh đạo Nhóm Anh Giáo nói trên là Vua Nứớc Anh ( nay là Nữ Hoàng Elizabeth II).Vì không có nguồn gốc Tông Đồ, nên Anh Giáo không có các Bí Tich hữu hiệu như Công Giáo, trừ Phép Rửa mà Anh Giáo có chung với các nhóm Tin Lành và với Công Giáo.Vì không có các Bí Tích Thánh Thể và Hòa Giải hữu hiệu nên các linh mục Anh Giáo không thể cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn ( The Eucharist) hữu hiệu như Công Giáo được. Cho nên, các tín hữu Công Giáo không được tham dự Lễ của các linh mục Anh Giáo để thay cho lễ của Công Giáo, cũng như không thể đi xưng tội với các linh mục Anh Giáo vì họ không có Bí Tich hòa giải ( Reconciliation) hữu hiệu như Công Giáo.Sau hết, nếu các linh mục và giám mục Anh Giáo trở lại Công Giáo thì họ phải được huấn luyện lại và chiu chức lại trong Giáo Hội Công Giáo, vì Công Giáo không nhìn nhận các bí tích của Anh giáo trừ Phép Rửa.Chỉ có một đặc ân cho các linh mục Anh Giáo là họ được phép giữ vợ con sau khi được chịu chức linh mục trong Giáo Hội Công Giáo.Các tín hữu Anh Giáo thì phải tuyên xưng đức tin khi họ gia nhập Giáo Hội Công Giáo.Họ không cần được rửa tội lại vì Công Giáo nhìn nhận Phép Rửa của Anh Giáo.Chỉ có những ai không được rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi ( Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullad và Marmonites bên Mỹ thì mới phải được rửa tội lại khi họ gia nhập Giáo Hội Công Giáo mà thôi.
Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo,Chính Thống Giáo, Tin Lành và Anh Giáo nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng chưa hiệp thông (communion) và hiệp nhất ( unity) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Tông đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Roma, người kế vị Thánh Phêrô trong trách nhiệm coi sóc và lãnh đạo Giáo Hội với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn. (College of Bishops) hay của các Giáo Hội Công Giáo địa phương ở các quốc gia trên thế giới.Amen.
Ươc mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.DMin( Doctor of Ministry=Tiến Sĩ Sứ Vụ)

--------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

NÓI THÊM VỀ TỘI PHẠM ĐIỀU RĂN THỨ SÁU
Hỏi :
xin cha nói rõ thêm về những tội phạm điều răn thứ sáu của Chúa

Trả lời:
Điều răn thứ sau cấm làm sự dâm dục.
Đây là điều răn mà con người ngày nay vấp phạm nhiều nhất , vì chưa bao giờ hết, tội phạm điều răn này lại qui mô và đa dạng như thực trạng sống của con người ở khắp nơi trong thế giới tục hóa và vô luân ngày nay.
Thật vậy, Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ và trao phó cho họ trách nhiệm "sinh sôi nảy nở cho nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất." ( x. St 1:28)

Và để thưởng công và giúp họ chu toàn ơn gọi và nhiệm vụ quan trọng này cách tốt đẹp, Thiên Chúa đã ban cho người nam và người nữ quà tặng giới tính (sexuality) được phép thoả mãn trong tình yêu vợ chồng kết hợp chính đáng qua bí tích hôn phối.

Trong giới hạn này, tính dục giúp cho "người nam và người nữ hiến thân cho nhau qua những hành vi riêng và độc chiếm dành cho vợ chồng. Trong tinh thần đó, tính dục không phải là một cái gì thuần tuý sinh học (biological) nhưng nó liên hệ đến phần sâu xa nhất của nhân vị con người. Nó chỉ được thực hiện cách nhân bản thật sự khi nó là thành phần cấu tạo tình yêu làm cho người nam và người nữ hiến thân trọn vẹn cho nhau và cam kết gắn bó với nhau cho đến chết." (x. SGLGHCG, số 2361).

Như thế có nghĩa là chỉ trong tình yêu hôn nhân, người ta mới được phép sử dụng và thoả mãn tính dục mà thôi.

Đức cố Giáo Hoàng Piô XII, trong diễn từ ngày 29-10-51 đã nói: "Chính Đấng Tạo Hoá đã thiết lập cho vợ chồng cảm thấy sự vui thú và thoả mãn về thể xác và về tâm hồn trong chức năng sinh sản này. Vậy vợ chồng không được làm gì sai trái khi tìm kiếm và hưởng thú vui này. Họ nhận lãnh những gì Đấng Tạo Hoá đẵ dành cho họ. Tuy nhiên, vợ chồng phải biết giữ mình trong những giới hạn của một sự điều độ chính đáng." (x.Sđd,số 2362)

Nói khác đi, chỉ trong đời sống vợ chồng kết hợp đúng nghĩa qua bí tích hôn phối, người nam và người nữ mới được phép hưởng thú vui phái tính cho mục đích sinh sản con cái, hoà hợp tâm hồn và tăng cường tình yêu phu phụ, đồng thời cũng nói lên "sự quảng đại và phong phú của Đấng Sáng Tạo" đã nối kết và chúc phúc cho họ trong tình yêu hôn nhân.

Dầu vậy, vợ chồng vẫn được khuyên phải thực hành đức khiết tịnh (chastete') là đức giúp "chế ngự những đam mê và thèm muốn của giác quan bằng lý trí." (x.Sđd, số 2341) .

Sau đây là những tội nghịch điều răn thứ sáu trong Mười Điều Răn Chúa đã truyền dạy:

Động lực chính đưa đến lỗi phạm điều răn này là khát vọng dâm ô (lust) hay tà dâm (fornification), tức những ước muốn về thú vui xác thịt hoàn toàn ở ngoài mục đích giới tính mà Thiên Chúa ban cho con người thụ hưởng để chu toàn mục đích của hôn nhân và để ca tụng "sự quảng đại và phong phú của Ngài". Tà dâm lẫn lộn giữa giới hạn được phép hưởng thú vui phái tính và phạm vi không được phép tìm thú vui này.

Tà dâm đưa đến ngoại tình (adultery) tức vi phạm giao uớc hôn phối đòi buộc vợ chồng phải chung thủy yêu nhau và trọn vẹn thuộc về nhau cả tâm hồn lẫn thể xác. Tà dâm đưa đến thông dâm (fornication) tức giao du tính dục giữa những người chưa kết hôn hoặc giữa người đã kết hôn và người chưa kết hôn. Tà dâm dẫn đến hiếp dâm (rape) một tội cướp đoạt thân xác của phụ nữ để thoả mãn thú tính trái với ý muốn của nạn nhân. Tà dâm cũng đưa đến bán và mua dâm, một tội làm thương tổn nặng nề đến phẩm giá của người phụ nữ vì biến họ thành những công cụ mua vui bất chính (illegitimate instruments for pleasures). Tà dâm cũng làm cho người ta mù quáng không biết xấu hổ khi phạm tội loạn luân (incest), một hình thức dâm loạn giữa những phần tử cùng huyết tộc trong gia đình.Cụ thể, một tin ỏ trong nược cho biết ông nội và người cha đã hiếp dâm cháu và con gái của mình, một tôi dâm loạn chỉ xẩy ra trong một xã hội vô luân, vô đạo mà thôi.! Đáng buồn thay !

Sau hết, trong thời đại suy thoái đạo đức này, tà dâm đang xô đẩy nhiều người đã mất hết lý trí và lương tâm đạo đức đi tìm thú vui xác thịt man rợ nơi những bé gái dưới tuổi vị thành niên, gây thương tật cả thể xác và tâm hồn cho những nạn nhân bất hạnh bị mua bán vào hoạt động cực kỳ tội lỗi khốn nạn này. Đây chính là một trong những bộ mặt đáng ghê sợ của "văn hoá sự chết" đang thịnh hành ở nhiều nơi trên thế giới ngày nay.

Phạm tội nghịch điều răn thứ sáu có hai hình thức chính sau đây:

1- bằng hành động: tức là trực tiếp làm những điều dâm ô, vô luân như hiếp dâm, thông dâm, ngoại tình, loạn luân, thủ dâm (masturbation), mua bán dâm...

2- bằng tư tưởng: nghĩa là ước muốn làm những điều dâm ô này. Đây chính là điều Chúa Giêsu đã cảnh cáo xưa kia: "Anh em nghe Luật dạy rằng: chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi." (x. Mt 5:27-28)

Ngoài hai hình thức trên, còn một hình thức nữa là gián tiếp xúi dục người khác tìm thú dâm ô qua tranh ảnh, sách báo và quảng cáo thô lỗ về phái tính. Đó là những hoạt động khiêu dâm bằng phương tiện truyền thông như sách báo, Video, DVD, mang đầy nội dung dâm ô thác loạn đã và đang đầu độc biết bao nhiêu người lớn nhỏ tìm đọc và xem những phim ảnh đồi bại vô luân này.

Thêm vào đó, còn phải kể đến những quảng cáo cho những nơi ăn chơi ở các bãi biển, hộp đêm, hay quảng cáo nhớp nhúa, thô lỗ về phái tính như sửa chữa bộ phận sinh dục của nam nữ, nghệ thuật làm tình, thuốc kích thích v.v...Những hành động này không nhằm phục vụ cho sức khoẻ và hạnh phúc của con người mà thực chất chỉ để xô nhanh nhiều người xuống hố truỵ lạc để kiếm tiền mà thôi. Chắc chắn đây là tội làm gương mù gương xấu phải lên án trong phạm vi điều răn thứ sáu, vì đây chính là tội mà Chúa Giêsu đã từng nghiêm khắc lên án: "...Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá và cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó sống làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn này vấp ngã." (Lc 17: 1-2)

Cũng được kể vào tội "làm cớ cho người ta vấp ngã" những người cố ý ăn mặc hở hang, nói chuyện tục tĩu khiêu gợi lòng thèm muốn bất chính về xác thịt cho người khác.

Tóm lại, thú vui phái tính chỉ được phép tận hưởng trong tình yêu hôn nhân chân chính mà thôi. Tìm thú vui này ngoài phạm vi hôn nhân là điều sai trái nặng nề vì đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa khi tạo dựng con người có phái tính và mời gọi người nam người nữ cộng tác với Chúa trong chương trình sáng tạo và làm chứng cho tình yêu vô biên của Người đối với toàn thể nhân loại.

Tà dâm hay dâm ô là khao khát hỗn loạn về phái tính, nên không được phép thực hành trong mọi trường hợp, kể cả giữa vợ chồng. Nói rõ hơn , cho dù là vợ chồng thì cũng không được phép xem những phím ảnh khiêu dâm, lui tới những nơi xấu xa và làm những việc không phù hợp với mục đích hiệp thông, tăng cường tình yêu phu phụ và sinh sản con cái.

Người tín hữu Chúa Kitô chắc chắn phải xa tránh mọi hình thức của tội nghịch điều răn thứ sáu nói trên đây để xứng đáng là men, là muối và là ánh sáng của Chúa Kitô giữa một thế giới gian tà sa đọa ngày nay/Amen.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

------------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 167