mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay15463
mod_vvisit_counterHôm Qua10688
mod_vvisit_counterTuần Này82229
mod_vvisit_counterTuần Trước79437
mod_vvisit_counterTháng Này283757
mod_vvisit_counterTháng Trước219189
mod_vvisit_counterTất cả16113212

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - TÀ GIÁO - BỘI GIÁO-LY GIÁO- PDF Print E-mail

 TÀ GIÁO, BỘI GIÁO , Và LY GIÁO LÀ NHỮNG TỘI GÌ PHẢI TRÁNH ĐỂ ĐƯỢC HIỆP THÔNG TRỌN VẸN VỚI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO ?
Hỏi :
xin chagiải thích rõ thế nào là Tà giáo, Bội giáo và Ly giáo trong Giáo Hội
Trả lời:
Lịch sử Giáo Hội trên 2000 năm qua đã trải qua nhiều khó khăn và thách đố đến từ bên trong cũng như từ bên ngoài. Con Thuyền Phê rô đã nhiều phen bị chao đảo vì sống gió tứ bề nổi lên uy hiếp. Nhưng ơn Chúa vẫn đủ để giúp đứng vững ,và quyền lực của tử thần sẽ không thắng nổi " như Chúa Giêsu đã hứa khi Người thiếp lập Giáo Hội trên nền tảng Tông Đồ và trao quyền lãnh đạo cho Phêrô. ( Mt 16: 18) là Giáo Hoàng tiên khởi của Giáo Hội. với sứ mệnh "chăn dắt các chiên của Thầy" ( Ga 21:17)
Những khó khăn lớn từ bên ngoài đưa tới là những cuộc bách đạo ngay từ thế kỷ đầu của Giáo Hội sơ khai cho đến ngày nay, khiến cho hầu hết các Tông Đồ và rất nhiều giáo hữu đã được phúc tử đạo, vì đã kiên cường bảo vệ và sống đức tin Kitô Giáo trước mọi thế lực thù nghịch muốn tiêu diệt Đạo Thánh của Chúa Kitô.
Cụ thể, trên quê hương Việt Nam, hàng trăm ngàn giáo dân và giáo sĩ đã bỏ mình vì đức tin Kitô Giáo trong thời các vua Nhà Nguyễn ( Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức) nhất là trong thời Tây Sơn và phong trào Văn Thân vào thế kỷ 19 là thời điểm bách Đạo Công Giáo dữ dội nhất ở VN. Nhưng nhờ máu các anh hùng tử đạo đổ ra mà hạt giống đức tin đã đâm bông, phát sinh hoa trái xum xuê ở khắp mọi nơi đặc biệt trên cánh đồng truyền giáo VN, khiến cho Giáo Hội không những đứng vững mà còn tăng trưởng mạnh mẽ về mọi mặt cho đến ngày nay.
Ngoài những khó khăn trên, Giáo Hội –qua thời gian- còn phải đương đầu với những tà thuyết , như thuyết vô ngộ,( Gnosticism) thuyết tương đối ( Relativism) , thuyết vô thần( Atheism), thuyết cộng sản ( communism), chũ nghĩa vật chất ( materialism) chủ nghiã chuộng khoái lạc ( hedonism) chủ nghĩa tục hóa( secularism) cùng với "văn hóa của sự chết" ( culture of death)...tất cả đều thách đố và nguy hại cho niềm tin Kitô Giao mà Giáo Hội có bổn phạm phải chống đỡ để hướng dẫn con cái mình giữ vững đức tin trước mọi thách đô của thế giới tục hóa xưa và nay.
Và để giữ vững đức tin KitôGiáo , Giáo Hội còn phải đương đầu với ba tà thuyết xuất phát từ bên trong , đó là Tà giáo ( heresy) bội giáo ( Apostasy) và Ly giáo ( Schism).
1-Tà giáo là tội gì ?
Tà giáo ( heresy) hay lạc giáo tức rối đạo , là chối hay nghi ngờ một chân lý đức tin đã được mặc khải mà Giáo Hội tin và giảng dạy cho con cái mình phải tin và tuân giữ cho được rỗi linh hồn. Thí dụ tín điều về Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngôi thứ Hai xuông thế làm Người sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Tín điều Đức Mẹ trọn đời đồng trinh và lên trời cả hồn xác, Tin điều các Thánh Thông Công, tin xác loài người ngày sau sống lại v.v..
Như vậy , nếu ai chối bỏ hay hoài nghi một trong những điều phải tin nói trên thì mắc tội rối đạo hay tà giáo, đặc biệt là những ai dạy điều gì trái với niềm tin Kitô Giáo.
Giáo luật của Giáo Hội cũng nói rõ tà giáo hay lạc giáo là " cố chấp phủ nhận hay nghi ngờ một chân lý phải tin, sau khi được chịu phép Rửa tội ...( x giáo luật số 751)
Trong thời Tân Ước, Thánh Phao lô đã tố cáo những kẻ mượn danh Tông Đồ để giảng dạy những điều sai lạc về Đức tin như sau:
" Điều tôi làm, tôi sẽ tiếp tục làm, để những kẻ muốn có cơ hội tự phu là những người ngang hàng với chúng tôi, không còn có cơ hội đó nữa. Vì những kẻ đó là tông đồ giả , là thợ gian xảo, đội lốt tông đồ của Chúa Kitô." ( 2 Cor 11: 12=13)
Thánh Phê rô cũng đã lưu ý tín hữu về sự xuất hiện của những tiên tri giả, nhừng thầy dạy sai lầm, khiến gây hoang mang cho giáo hữu thời sơ khai như sau:
" Trong dân cũng đã xuất hiện những ngôn sứ giả; giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả hiêu; đó là những kẻ sẽ lén lút đưa vào nhừng tà thuyết đẫn tới diệt vong..." ( 2 Pr 2)
Thánh Gioan cũng nói về nguy cơ có những thầy dạy không thuộc hàng ngũ Tông Đồ. Đó là các kẻ phản Kitô vì chúng sẽ dạy những điều sai lầm, sai lạc giáo lý của Chúa:
"Chúng xuất thân từ hàng ngũ chúng ta. Nhưng không phải là người của chúng ta . Vì nếu là người của chúng ta, chũng đã ở lại với chúng ta.Nhưng như thế mới rõ: Không phải ai ai cũng là người của chúng ta. 1 Ga 2: 19)
Sau đây là một vài điển hình về những người đã dạy sai lạc giáo lý đức tin, trong mấy thế kỷ đầu của Giáo Hội. Đó là Arius,Nestorius và Pelagius :
Arius là một linh mục ở Alexandria, đã dạy sai lầm là Chúa Giê su không cũng bản thể và uy quyền với Chúa Cha, khi xuống trần gian làm Con Người , sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria. Tà thuyết này đã bị Công Đồng Nicaea năm 325 lên án và bác bỏ vì sai lạc hoàn toàn với giáo lý của Giáo Hội về Ba Ngôi Thiên Chúa cùng một bản thể ( substance) và oai quyền ( dignity) như nhau.
Cùng chia sẻ sai lầm với Arius là Nestorius, một linh mục khác ở Antioch năm 428 A,D cũng phân biệt thần tính ( divine nature ) và nhân tính ( human nature) của Chúa Kitô, và dạy rằng Mẹ Maria chỉ là Mẹ về mặt nhân tính của Chúa Kitô mà thôi.!
Tà thuyết này đã bị Công Đồng Ephesus lên án năm 431 vì đã dạy sai lầm về hai hai bản tính không hề tách rời nhau của Chúa Kitô như Giáo Hội tin và dạy không sai lầm. Từ đó Công Đông cũng tuyên bố Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos= God bearer) vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, là Ngôi Hai cùng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi Một Thiên Chúa. (Holy Trinity= Three Persons =One God))Từ đó, Giáo Hội cũng dạy phải kính Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa trong ngày đầu năm dương lịch mỗi năm.
Cùng bị lên án với Nestorius là Pelarius , một luân lý gia nghiêm khắc đã phủ nhận tội Nguyên tổ original sin) với lập luận sai lầm là linh hồn con người do Chúa tạo dựng nên không thể vướng mắc tội được. Do đó, chỉ những người lớn( adults) mới cần rửa tội, còn trẻ con thì không cần, vì chúng chưa biết phạm tội.
2- Bội giáo hay chối Đạo ( Apostasy)
Đây là tội rất nghiêm trọng mà một người đã được rửa tội, đã tuyên xưng đức tin nhưng sau đó đã chối bỏ hoàn toàn đức tin về Thiên Chúa và về quyền bính của Giáo Hội. Tác giả Thư Do Thái đã nói như sau về tội này:
" Quả thật, những kẻ đã một lần được chiếu sáng, đã được nếm thử ân huệ bởi trời , đã được thông chia Thánh Thần, đã được thưởng thức Lời tốt đẹp của Thiên Chúa...những kẻ ấy mà sa ngã, thì không thể được đổi mới một lần nữa để sám hối ăn năn vì họ đã tự đóng đanh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa và đã công khai sỉ nhục Người..." ( Dt 6: 4-8)
Trong thời Cựu Ước, Dân Do Thái mỗi lần bất trung với Thiên Chúa , họ đã phạm tội này như ngôn sứ Giê rê mia đã nói rõ như sau:
" Sự gian ác của ngươi phải sửa trị ngươi
Hành vi phản bội của ngươi sẽ trừng phạt người
Ngươi phải biết, ngươi phải thấy rằng
Lìa bỏ ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi
Không còn kính sợ Người, thì thật là xấu xa và cay đắng" ( Gr 2: 19)
Tác giả Sách Giô-suê ( Joshua) cũng nói như sau về tội bội giáo:
" ĐỨC CHÚA, Thần các thần, chinh Người biết và It-ra-en cũng phải biết: nếu đó là một cuộc nổi loạn hay là một tội bất trung đối với ĐỨC CHÚA, thì xin Người đừng cứu chúng tôi hôm nay," ( Joshua 22: 22)
Thánh Phaolô sau này cũng cảnh giác các tín hữu về nguy cơ chối Đạo như sau:
" Trước đó phải có hiện tượng chối Đạo, và người ta sẽ phải thấy xuất hiện người gian ác, đứa hư hỏng." ( Tx 2: 3)
Giáo luật của Giáo Hội cũng nói rõ " bội giáo là chối bỏ toàn bộ đức tin Kitô giáo." ( Giáo luật số 751)
Như thế, sau khi được rửa tội để gia nhập Giáo Hội, ai công khải chối Đạo, bỏ Đạo, tức chối bỏ mọi niềm tin Kitô Giáo thì mắc tội bội giáo nói trên. ( x giáo luật số 751)

3- LY GIÁO ( Schism)
Theo ngữ căn ( etymology) Hy lạp thì từ "Schism" có nghĩa xé rách ra. Áp dụng vào đời sống của Giáo Hội, thì từ Schism=Ly giáo là hành vi cố ý rút ra khỏi mọi hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo, đặt dưới quyền chăn dắt của Đức Thánh Cha , là Đại Diện duy nhất thay mặt ( Vicar) Chúa Kitô trong Sứ mệnh lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ với sự hiệp thông và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn ( College of Bishops).
Lich sử Giáo Hội nghi nhận có hai cuộc ly giáo nghiêm trọng đã xẩy ra trong nội bộ Giáo Hội Công Giáo Phương Tây (Rome) ( Western Schism) và giữa Giáo Hội Phương Tây với một số Giáo Hội Chính Thống Đông phương ( Eastern Orthodox Churches) được tóm lược như sau:
A. Đại Ly giáo Tây Phương ( Great Western Schism)
Cuộc ly giáo này kéo dài từ năm 1378 cho đến năm 1417.
Nguyên nhân chính là do sự tranh chấp của một số phe phái trong Giáo Hội về ngôi Giáo Hoàng La Mã, sau khi Tòa Thánh, dưới triều Đức Giáo Hoàng Gregory XI rời đô trở lại Roma từ Avignon ( Pháp) năm 1377.
Thời gian này có ba Giáo Hoàng cũng tranh ngôi Giáo Hoàng La mã. Đó là
UrbanVI ở Rome, Clement VII ( Pháp) quay trở lại Avignon và Alexander V do Công Đồng Pisa bầu lên năm 1409 nhưng một năm sau (1410) thì được thay thế với Gioan XXIII .Nhưng vị này(GioanXXIII),sau đó, lại bị coi là ngụy Giáo Hoàng ( antipope) nên sau này , năm 1958 Đức Hông Y Roncali được bầu lên kế vị Đức Thánh Cha Piô XII qua đời , ngài đã lấy lai danh hiệu Gioan XXIII cho Giáo Hội.
Trở lại phần trên, Giáo Hội một lúc đã có ba Giáo Hoàng : Urban VI ở Rome, Clement VII ở Avignon và Gioan XXIII ( ngụy giáo hoàng).
Sau nhiều cố gắng điều đình giữa các phe tranh trấp, cuối cùng Công Đồng Constance ( 1414-18) đã bầu được Giáo Hoàng mới cho Giáo Hội . Đó là Hồng Y Oddo Colona, một giáo dân chưa có chức linh mục và giám mục. Nên sau khi được bầu, ngài đã được chịu chức linh mục và giám mục trước khi đăng quang để trở thành Giáo Hoàng Martin V ngày 21 tháng 11 năm 1417. Công Đồng cũng chấp nhận sự từ chức của hai giáo hoàng, một ở Avignon , một ở Rome và truất phế ngụy giáo hoàng Gioan XXIII, chấm dứt cuộc ly giáo Tây Phương kéo dài từ năm 1378 đến 1417 mà nguyên nhân chì vì có sự tranh chấp giữa các phe phái trong nội bộ Giáo Hội Tây Phương ( Rome) về ngôi vị Giáo Hoàng Rôma..
B- Ly giáo Đông Tây ( Eastern Schism)
Đây là vết thương to lớn và kéo dài lâu nhất từ năm 1054 cho đến nay mà vẫn chưa có cơ may hàn gắn.
Đó là cuộc ly giáo giữa Giáo Hội Công Giáo La Mã phương tây và một số các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương do Thượng Phụ Giáo Chủ ở Contantinople ( Hy Lạp) cầm đầu.Nguyên nhân thì có nhiều , nhưng điểm tín lý quan trọng bất hòa là từ ngữ Filioque ( and from the Son) trong Kinh Tin Kinh Nicene của Giáo Hội Công Giáo tuyên xưng Chúa Thánh Thần bới Chúa Cha và Chúa Con mà ra.Về mặt quyền bình, các Giáo Hội Đông Phương hiệp thông với Tòa Thượng Phụ Constantinople Hy Lạp không công nhận vai trò Đai Diên Chúa Kitô của Đức Giáo Hoàng La Mã trong việc lãnh đạo Giáo Hội, và đây là điểm khó hòa giải nhất giữa Contantinople xưa và Istanbul nay ( Thổ Nhĩ Kỳ) với Roma cho đến nay. Hai bên đã ra vạ tuyệt thông ( anathemas) cho nhau từ năm 1054. Nhưng vạ này đã được đôi bên tháo gỡ sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Thượng Phụ Giáo Chủ Chính thống Hy lạp là Athenagoras I và Đức Thánh Cha Phaolô VI năm 1966. Hai Giáo Hội Công Giáo La Mã và Chính Thông Đông Phương đều có chung nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) vì cũng là kết quả truyền giáo của hai Thánh Phêrô ( ở Tây phương) và Anrê em ngài ở Đông Phương. Vì thể cả hai Giáo hội đều có những bí tích hữu hiệu như nhau.
Ngoài các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương, còn có các giáo phái Tin Lành ( Protestantism) và Anh giáo ( Anglican Comm) là những nhóm Kitô Giáo đã tự ý tách khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã từ thế kỷ thứ 16 đến nay- qua biến cố mệnh danh là "' những cuộc cải cách tôn giáo religious reforms" do Martin Lurher chủ xướng năm 1517 ở Đứcvà cũng chưa trở lại hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo vì những bất đồng về quyền bính và một vài điểm tín lý, và phụng vụ.
Như vậy, ai đã gia nhập Giáo Hội qua Phép Rửa mà bỏ Đạo để quay sang một tôn giáo khác thì mắc tội ly giáo trên đây, kể cả những nhóm có ý tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hôi vì lý do riêng của họ.
Tuy nhiên, để tỏ thiện chí muốn hiệp nhất Kitô Giáo, Giáo Hội Công Giáo không lên án những anh em ly khai và luôn hướng về họ với ước mong đạt được sự hiệp nhất( unity) và hiệp thông trọn vẹn ( full comm) với các anh em cùng tin Chúa Kitô và giáo lý của Chúa nhưng đang ở bên ngoài Giáo Hội Cong Giáo.
Dầu vậy , các gương xấu như tà giáo, bội giáo và ly giáo vẫn bị coi là những tội mắc vạ tuyệt thông tiền kết ( đương nhiên mắc vạ) dành riêng cho Đức Thánh Cha quyền tháo gỡ.( x. giáo luật số 1364& 1)
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.Amen.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO -LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

nguyenthi leyen

Có Được Cầu Nguyện và An Táng Trong Nghĩa Trang của Xứ Đạo Những Ai Đã Chết Vì Tự Tử Không?

§ Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Trước khi trả lời câu hỏi trên, xin được nói qua về những thay đổi trong giáo lý của Giáo Hội về việc hỏa táng (cremation) và cầu nguyện cho những người đã tự tử chết.

Chắc mọi tín hữu còn nhớ là trước Công Đồng Vaticanô II (1962-65), Giáo Hội cấm việc hỏa táng xác người chết vì lý do có bè rối (heresy) kia đã chống lại niềm tin về sự sống lại của xác kẻ chết như giáo lý Giáo Hội dạy. Nhóm này đã hô hào đốt xác người chết để thách đố xem Giáo Hội còn gì nữa để tin vào sự sống lại của xác kẻ chết đã ra tro bụi.

Vì thế, Giáo Hội đã cấm các tín hữu không được thiêu xác người chết để không làm cớ cho những kẻ sai lầm nói trên huyênh hoang quảng bá tà thuyết của chúng.

Mặt khác, từ trước đến nay, Giáo Hội vẫn dạy rằng tự tử chết không những là tội nghich điều răn thứ Năm, mà còn là một gương xấu to lớn phải tránh. Cho nên, đã có thời Giáo Hội, đặc biệt ở Viêt Nam trước Công Đồng Vaticano II, đã cấm cử hành tang lễ cho người tự tử cũng như không cho an táng trong đất thánh của họ Đạo vì gương xấu tự sát.

Nhưng phải nói ngay là thời đó Giáo Hội cấm vì gương xấu của tội tự sát chứ không phải vì muốn phán đoán rằng người tự tử đã sa hỏa ngục rồi, nên không cần cầu nguyện cho họ nữa.

Rồi thời gian trôi qua, bè rối kia cũng tiêu tan, vì không ai tin theo họ cả, nên từ sau Công Đồng đến nay, Giáo lý mới của Giáo Hội, được Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II (nay là Chân Phước) ký ban hành ngày 11 tháng 10 năm 1992 có những lời dạy đáng chú ý như sau về việc hỏa táng và an táng kẻ chết vì tự tự.

1- Về việc hỏa táng (cremation) xác kẻ chết:

Giáo lý mới mới dạy rằng: "Giáo Hội cho phép hỏa táng, nếu việc này không động đến niềm tin vào sự sống lại của xác kẻ chết". (x. SGLGHCG, số 2301)

Nghĩa là theo Giáo Hội dạy, thì dù được chôn cất và bị tiêu tan trong lòng đất hay được hỏa thiêu thành tro bụi, xác kẻ chết vẫn được quyền năng của Thiên Chúa cho sống lại, kết hợp cùng với linh hồn để hoặc được vào an nghỉ muôn đời với Thiên Chúa trong Nước Hằng Sống hay bị xa lìa Thiên Chúa vĩnh viễn trong nơi gọi là hỏa ngục.

Do đó, người tín hữu ngày nay được phép hỏa táng thân nhân đã qua đời hay đem chôn cất ngoài nghĩa trang như tục lệ đã có từ lâu đời. Nhưng phải tôn trọng xác chết của thân nhân được mai táng hay được thiêu đốt thành tro bụi đựng trong các hộp để cất giữ trong gia đình hay ở nơi nhà thờ nào có nhận cất giữ các hộp tro này. Nghĩa là được hỏa táng nhưng phải tin xác dù đã ra tro bụi, vẫn sẽ được sống lại như Giáo Hội dạy. Do đó, phải cất giữ tro của xác được hỏa táng chứ không được đem ra trải ngoài sông, hồ hay biển cả như những người ngoài Công giáo đã làm. Vì như vậy, là vô tình chia sẻ niềm tin của những người này cho rằng con người là hư không nên phải trở về với hư vô, để tan biến trong thiên nhiên vũ trụ, và không còn hy vọng nào về sự sống lại nữa. Đây là điều nghich với niềm tin của Kitô Giáo dạy phải "tin xác loài người ngày sau sống lại" (dù được chôn cất hay hỏa thiêu), như chúng ta đọc trong Kinh Tin Kính mỗi ngày Chúa Nhật và Lễ trọng.

2- Về những người đã tự tử chết:

Giáo lý mới của Giáo Hội cũng dạy rằng: "Tự tử là nghịch với tình yêu của Thiên Chúa hằng sống... Nhưng không nên tuyệt vọng về ơn cứu độ của những người đã tự tử.Thiên Chúa có thể dành cho họ một cơ hội để sám hối bằng những con đường mà chỉ mình Ngài biết. Giáo Hội cầu nguyện cho những người đã tìm cách hủy hoại mạng sống mình". (x. SGLGHCG, số 2281, 2283).

Như thế rõ rệt cho thấy là, mặc dù lên án hành vi tự sát hay trợ giúp cho hành vi này, nhưng Giáo Hội không phán đoán gì về số phận đời đời của những người tự tử mà chỉ dạy phải cầu nguyện cho họ mà thôi. Có nghĩa là vẫn phải dành cho họ mọi nghi thức an táng như Thánh lễ ở nhà thờ hay cầu nguyện ngoài nhà quàn (Funeral Home) và được chôn cất như mọi tín hữu khác. (việc này các giáo xứ ở Mỹ đang làm. Khi có ai chết thì cha xứ phải làm lễ chọ họ theo lời yêu cầu của thân nhân, nhưng không được hỏi lý do chết và từ chối lễ an táng nếu người chết đã tự tử). Sở dĩ thế, vì không có khoản giáo lý, giáo luật nào cấm đem xác người tự tử vào nhà thờ để cầu nguyện hoặc cấm chôn cất xác đó ở nghĩa trang Công giáo.

Do đó, nơi nào cấm đoán như vậy là đã đi ngược lại với giáo lý của Giáo Hôi dạy phải cầu nguyện cho những người tự sát như đã trích dẫn ở trên. Cầu nguyện cho họ có nghĩa là mình không biết Chúa đã phán đoán họ ra sao, nên chỉ biết phó thác họ cho lòng nhân từ, khoan dung vô biên của Chúa mà thôi. Đây là quan điểm thần học quân bình hơn về phần rỗi của kẻ chết, và cách riêng của những người tự sát, vì chỉ một mình Thiên Chúa biết rõ lý do đã thức đẩy họ đến chỗ tự tử. Chúng ta tin tưởng lòng nhân từ và phán đoán công minh của Thiên Chúa dành cho những người chẳng may đã tự chọn hay bị thức đẩy vào con đường tự hủy hoại đời mình, nhất là thông cảm và nâng đỡ cho thân nhân nhân còn sống của những người đã tự tử chết. Trong tang lễ, linh mục cũng phải tránh không nên nói gì về nguyên nhân cái chết mà chỉ nhấn mạnh đến lòng thương sót vô biên và phán đoán công minh của Chúa để phó thác người đã chết cho lòng thương xót của Chúa mà thôi.

Tuy nhiên, giáo luật của Giáo Hội có cấm việc cử hành tang lễ theo nghi thức của Giáo Hội cho những ai rơi vào một trong những trường hợp sau đây:

1- Những người lạc giáo (heretics) tức những người cố chấp phủ nhận hay nghi ngờ một chân lý đức tin phải tin, sau khi đã được rửa tội trong Giáo Hội Công giáo

2- Những người bội giáo (apostates) là những người chối bỏ toàn bộ đức tin Kitô Giáo và ngoan cố không chịu thay đổi sai lầm của mình.

3- Những người ly giáo (schismatics) là những người không còn muốn tùng phục Đức Thánh Cha và những vị thay mặt ngài coi sóc tín hữu trong toàn Giáo Hội. Nghĩa là không còn muốn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo do Đức Thánh Cha là Chủ Chăn duy nhất có sứ mệnh dắt chăn "các chiên của Thầy" thay mặt cho Chúa Kitô trên trần thế này.

4- Những người chọn hỏa táng thi hài của mình vì những lý do nghịch với đức tin Kitô Giáo. (không tin xác ngày sau sống lại)

Nếu những người nói trên không tỏ dấu ăn năn thống hối nào trước khi chết thì phải từ chối an táng họ theo nghi thức của Giáo Hội. (x. giáo luật số 1184). Có nghĩa là không được cử hành lẽ tang theo nghi thức của Giáo Hội.

Ngoài những trường hợp trên, không có khoản giáo luật hay giáo lý nào cấm cử hành tang lễ cho người tự tử cũng như cấm chôn xác đó trong nghĩa trang công giáo.

Như vậy, ai cấm đoán như trên là đã tự ban hành luật riêng của mình, trái ngược với giáo lý và giáo luật của Giáo Hội.

Tại sao người ta lại tự dành quyền phán đoán số phận đời đời của kẻ chết ?

Tại sao không nghĩ rằng những người tự tử không hẳn là đã hoàn toàn chối từ Thiên Chúa, (mà có thì cũng không ai biết được, trừ một mình Chúa). Họ chọn cái chết có thể vì những hoàn cảnh vô cùng khó khăn gặp phải trong cuộc sống, hoặc những đau khổ vì bênh tật, vì nghèo đói, vì bất công xã hội hay vì hoàn cảnh éo le, tuyệt vọng trong gia đình... đã thúc đẩy họ chọn cái chết để tự giải thoát mà không biết đó là điều trái nghịch với tình thương của Chúa là Đấng duy nhất nắm quyền sinh tử của mọi người.

Hơn thế nữa, tại sao lại muốn giới hạn lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, "Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Tm 2 :4) để tự ý ban hành luật riêng của mình cấm cầu nguyện hay cho an táng người tự tử trong nghĩa trang của họ Đạo?

Sau hết, làm như vậy có giúp an ủi, nâng đỡ thân nhân người chẳng may đã tự sát, hay là bêu xấu họ cách công khai trong giáo xứ địa phương, và do đó, có thể làm mất đức tin của họ chỉ vì chủ chăn không biết cảm thương và thực hành giáo lý mới của Giáo Hội dạy phải cầu nguyện cho những người tự tử, nghĩa là không được phán đoán gì về số phận đời đời của họ như đã trích dẫn ở trên.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

----------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THAM DỰ TĨNH TÂM PDF Print E-mail

DM Tran

Wed, Mar 11 at 10:46 AM

THAM DỰ HỒI TÂM, NGHE GIẢNG VỚI TÂM LÝ NÀO?!

Trần Mỹ Duyệt

Trong những dịp đặc biệt như Mùa Vọng, Mùa Chay, mừng bổn mạng, mừng ngân khánh, kim khánh... các giáo xứ, các hội đoàn thường chuẩn BỊ bằng những buổi hồi tâm, tĩnh tâm, hội thảo. Trong những trường hợp này, người tham dự luôn luôn được nghe những bài giảng, bài nói chuyện với những chủ đề hấp dẫn, và dĩ nhiên, được trình bày do những thuyết trình viên, những nhà chuyên môn đạo đức, có bằng cấp, uy tín và địa vị.

Nguyên việc những dịp như vậy được gọi là đặc biệt, và nghe danh những thuyết trình viên, những nhà giảng thuyết tên tuổi, những đề tài hấp dẫn như vậy đã khiến cho tâm lý người nghe nổi lên nhiều háo hức, tò mò và mong được tham dự. Tâm lỳ ấy cũng tạo nên điểm tích cực trong việc đón nhận những nội dung được trình bày. Mặt khác nó cũng làm cho nhiều người có cảm giác ảo mộng về những gì mình được nghe, và từ đó dễ dẫn đến những điều tiêu cực.

Sau đây là một thí dụ, Mùa Vọng năm nay, giáo xứ chúng tôi mời được vị giảng thuyết từ Việt Nam qua. Trên tờ thông tin liên lạc của giáo xứ cả tháng trước đã giới thiệu tiểu sử của ngài, đề tài của 3 buổi tĩnh tâm. Trong các thánh lễ trước đó cũng đã được cha xứ, cha phó, các vị chủ tịch nhắc nhở, mời gọi, tạo nên không khí chờ đợi, mong ngóng. Giáo dân thì kháo láo với nhau về nhà giảng thuyết và đề tài qua những trao đổi, và nhận định khác nhau. Ngày khai mạc, vô tình tôi gặp một người bạn được cho là "trí thức" và cũng có đôi chút ảnh hưởng trong cộng đồng. Chúng tôi chào hỏi nhau theo cách thức bình thường, rồi ai nấy tìm cho mình một chỗ ngồi trong thánh đường. Hôm sau tôi không thấy anh, và hôm sau nữa cũng không thấy anh. Giáng Sinh tôi lại tình cờ gặp anh và hỏi tại sao không thấy anh tiếp tục tham dự hồi tâm Mùa Vọng. Anh mỉm cười và không trả lời. Nhưng tôi hiểu qua ánh mắt và nụ cười ấy anh muốn nói gì?!

Một hình ảnh khác, mới cách đây vào tuần trước, trong buổi gặp gỡ của một nhóm anh chị em trong sinh hoạt gia đình, một chị đã say sưa nói về cảm tưởng mà chị vừa trải qua trong buổi tĩnh tâm Mùa Chay. Chị cũng không ngớt lời ca tụng vị giảng thuyết: Thánh thiện, thông thái, và dễ mến. Chị còn chia sẻ thêm là từ đó (mới chỉ hơn hai ngày thôi), chị cầu nguyện sốt sắng hơn, nói chuyện với Chúa hàng giờ, và thấy được hạnh phúc, tâm hồn bình an, sung sướng. Chị thấy Chúa gần gũi, và đáng mến dường bao!

Hai thái độ trên, theo tôi, đã phản ảnh phần lớn tâm lý của nhiều người khi tham dự những buổi hồi tâm, thuyết trình, hội thảo hay diễn thuyết: 1) Có người tham dự vì mình. 2) Có người tham dự vì người khác. 3) Có người tham dự vì hiếu kỳ. Và 4) Có người tham dự vì đám đông.

1/ THAM DỰ VÌ MÌNH

Những người tham dự các buổi tĩnh tâm, hồi tâm, hội thảo hay thuyết trình vì mình hay cho mình thường bao giờ cũng mang tâm lý lạc quan, học hỏi, tìm hiểu. Họ là những người có tinh thần cầu tiến. Câu nói bình dân mà những người này thường áp dụng là: "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn". Dù họ là ai - người hiểu biết, học thức hay địa vị - họ vẫn đến tham dự những buổi tổ chức ấy bằng ý thức rất thật về mình: "Biển học mênh mông, cái biết của mình chỉ là giới hạn". Do đó, họ không phê bình, bắt bẻ, hoặc khắt khe chê bai thuyết trình viên hay các vị giảng thuyết mặc dù có những điều mà họ đồng ý hay không đồng ý; ngay cả trong những lãnh vực mà họ chuyên môn, thâm cứu hơn. Điều quan trọng họ muốn tìm hiểu là nội dung người trình bày muốn chuyên chở, mà họ là người nghe đang cần lúc này.

Và họ cũng thường là những người đến đúng giờ, tham dự nghiêm chỉnh và ra về một cách thoải mái. Tóm lại, những người này đến để học hỏi, tìm kiếm một điểm gì tốt, thích hợp cho mình để suy nghĩ, và để sống. Đây là tâm lý tích cực. Nó luôn đem lại những kết quả tốt cho những ai đến các buổi hồi tâm, hội thảo, thuyết trình hay cấm phòng. Nó cũng là tâm tình "đến mà xem" đã được Chúa Giêsu trả lời cho hai môn đệ khi họ muốn tìm biết nơi Ngài ở.

2/ THAM DỰ VÌ NGƯỜI KHÁC

Trái ngược với tâm lý vì mình là vì người khác. Những người tham dự với tâm lý vì người khác họ đến để nghe, để xem cha giảng phòng, thuyết trình viên nói gì? Trình bày như thế nào? Những điều ấy có phù hợp với hiểu biết, quan điểm, phán đoán và cái nhìn của họ hay không? Nếu hợp ý họ, họ sẽ không ngớt lời ca ngợi. Nhưng nhất là những điều ấy có dùng được để khi về họ tố cáo chồng, vợ, cha, mẹ, con, cháu hoặc những người chung quanh hay không?

Trở lại câu chuyện mà tôi đã nêu lên ở trên về người chị em đã không ngớt lời khen cha giảng phòng: Đạo đức, duyên dáng, dí dỏm, tư tưởng mới lạ, hữu ích và chuyên môn. Nhưng theo tôi, không biết những điều này có giúp gì cho đời sống tâm linh và đổi mới tâm hồn của một người hay không? Trên thực tế, cá nhân tôi cũng từng được nghe những nhận xét tương tự mỗi khi thuyết trình ở đây đó. Trong những trường hợp như vậy, tôi thường thân mật trả lời: "Cám ơn! Tôi ước gì ở nhà bà xã tôi cũng lâu lâu khen tôi được một vài câu như vậy".

Cái nhìn ảo tưởng này còn dễ đem đến những kết luận tiêu cực. Nó thường là đề tài của những tranh chấp giữa vợ chồng, giữa những người thân trong gia đình. Thật ra, chính Chúa Giêsu cũng đã cảnh báo trước: "Hãy nghe những gì chúng nói, mà đừng bắt chước những gì chúng làm" (Mt 23:3). Và điều này cũng nhắc lại một câu truyện lý thú giữa hai vợ chồng đang ngồi trong rạp xinê. Cô vợ nhìn cảnh tình tứ trên màn ảnh, ghé vào tai chồng:

-Anh xem kìa, đôi tình nhân hôn nhau lãng mạn, tình tứ quá. Em ước gì cũng được anh hôn như vậy.

Người chồng không kém dí dỏm, thì thầm bên tai vợ:

-Em ơi! Thằng tài tử đó hôn nồng nàn, say đắm như thế vì không những được hôn miễn phí mà còn được trả tiền nữa!

Trên thực tế, những người tham dự các buổi hồi tâm, tĩnh tâm, cấm phòng, hay thuyết trình vì người khác là những người thường đến đó chỉ để nghe những gì mà họ muốn chồng, vợ, cha, mẹ, hay con cháu họ phải sửa đổi, phải thực hành. Nghe rồi để đó về nhà nếu thấy những ai đó làm sai ý mình, không như mình nghĩ liền đem ra so sánh, chì chiết, và chê bai: "Anh có nghe cha giảng phòng nói hôm đó là chồng phải thương yêu vợ không" Hoặc: "Em có nghe cha nhắc lại câu thánh kinh: "Chồng là đầu của vợ, như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh" (Eph 5:23) không?" Một sự so sánh thiếu chuẩn mực, không chính xác.

3/ THAM DỰ VÌ HIẾU KỲ

Trường hợp của người bạn tôi nhắc đến ở câu chuyện đầu có thể đến buổi cấm phòng lần đó vì hiếu kỳ? Nghe giới thiệu hấp dẫn. Đề tài mang nội dung chuyên môn, phong phú. Đến thử một lần xem có đúng như những gì thiên hạ đồn đãi không? Tự trong thâm tâm, người hiếu kỳ đã có sẵn những mặc cảm nghi kỵ, bắt bẻ, và phê phán. Do đó, những người này đến với những buổi hội thảo, hồi tâm, học hỏi thường bằng thái độ thờ ơ, nếu không muốn nói là "biết rồi khổ quá nói mãi" để mong phê phán, bắt bẻ hơn để học hỏi.

Với tâm trạng ấy, người thuyết trình viên, cha giảng phòng hoặc bất cứ nhà giảng thuyết nào dù thông thái, đạo đức, khôn ngoan và nhiều kinh nghiệm mấy đi nữa cũng không hài lòng những người này. Bởi vì, họ cho rằng tự mình họ, họ đã biết đủ, đã hiểu đủ, đến là để nghe thử, xem thử và coi thử có giống như thiên hạ đồn đại và giới thiệu hay không! Đến để nghe và để sửa sai người khác.

Tâm lý hiếu kỳ cũng mang sẵn tâm lý chối từ. Với tâm trạng đến để nghe cho biết, những người này sẽ loại bỏ, sẽ từ chối tất cả những tư tưởng, những ý kiến không phù hợp với họ. Họ thường ra về với đầu óc trống rỗng và thất vọng.

4/ THAM DỰ VÌ ĐÁM ĐÔNG

Có lẽ đây là thuộc về số đông. Người này đi, người kia đi, tôi cũng đi, Không đi sợ bị chê là mình khôn khan, nguội lạnh, thiếu đạo đức, thiếu tinh thần.

Những người tham dự hồi tâm, tĩnh tâm, hội thảo kiểu này thường đến trễ, về sớm. Họ không quan tâm đến những lời giảng giải. Thân xác ngồi đó mà tâm trí bay bổng, ngao du những nơi nào khác. Thấy người khác vỗ tay, mình vỗ tay. Người khác xụt xùi cảm động, mình cũng xụt xùi xúc động. Họ thường tránh né những câu hỏi, hoặc ngại ngùng khi phải trả lời do thuyết trình viên, giảng viên nêu ra.

Tuy nhiên ở một khía cạnh khác, họ thường lại là những người dễ bị tâm lý quần chúng tác dụng nhất. Khóc lóc, thổn thức và bừng bừng lửa mến như kiểu Phêrô trên núi lúc Chúa biến hình: "Lạy Thầy được ở đây thì tốt lắm" (Mt 17:4). Riêng trong lãnh vực đạo đức, để thảo mãn tâm lý này, nhiều cha giảng phòng thường dùng những câu truyện hài hước, những ví dụ rẻ tiền, thiếu thực tế mong tạo được tiếng cười, những giây phút thoải mái của người nghe. Nhưng đây là một thực hành tiêu cực rất đáng tiếc, vì sau những trận cười đó, ra về người nghe không học hỏi được gì.

KẾT LUẬN TỰ VẤN

4 trong số những người thường đến với các buổi hồi tâm, tĩnh tâm, chia sẻ, cầu nguyện, và hội thảo, bạn thuộc loại người nào? Mùa Chay cũng chỉ mới bắt đầu. Hãy chọn cho mình một mẫu người tham dự khi đến với những buổi hồi tâm, tĩnh tâm, cấm phòng hay hội thảo.

-----------------------------

 

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - MÙA CHAY THÁNH-LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

NHÂN MÙA CHAY THÁNH, CẦN NÓI QUA VỀ MỐI NGUY CƠ TO LỚN ĐẾN TỪ MA QUỈ KẺ THÙ LUÔN CÁM DỖ CON NGƯỜI LÀM SỰ DỮ , SỰ TỘI KHIẾN MẤT HY VỘNG ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ VÀO NƯỚC TRỜI HƯỞNG PHÚC THIÊN ĐÀNG

Hỏi:
Xin cha giải thích về sự có mặt của ma quỉ cám dỗ con người trên trần thế này.
Trả lời:
Nói về ma quỉ (devils, ghosts) chúng ta cần phân biệt phân biệt hai loại sau đây:
1-Trước hết là có những hiện tượng kinh dị mà nhiều người đã gặp thấy và tin đó là có hồn ma người chết hiện về để nhát đảm người còn sống. Cụ thể , cách nay trên 60 năm, trong làng của cha mẹ tôi ở thuộc tỉnh Hâ nam , mẹ tôi đã kể cho tôi nghe về một bà kia ốm đau đã lâu ngày , chữa chậy tồn nhiều tiền mà không khỏi bênh, nên sinh buồn phiền chản nản sao đó. Cho nên hôm lễ kính Thánh Cả Giuse- ngày 19 tháng 3- .Quan Thầy của làng. Bà ta đã xua các con cháu đi lễ hết và ở nhà một mình, bà đã treo cổ tự tử trong nhà. Người con gái lớn đang đi lễ ở nhà thờ bỗng cảm thấy có gì không yên trong lòng nên đã bỏ dở lễ về nhà thì thấy mẹ đang treo cổ chết.Chị đã tháo giây cho bà lăn xuống , bế đặt lên giường rồi tri hô lên là mẹ tôi trúng gió chết !. Thoạt đầu dân làng cũng tin như vậy, vì bà này đã ốm đau lâu ngày. Nhưng sau khi đem bà đi chôn ở nghĩa trang của làng, thì lạ thay có đàn chim lạ đông vô số kể, to và đen như quạ bay ở đâu về đậu từ nghĩa trang nơi chôn bà kia đến nóc nhà bà ở . Một sự sợ hãi đã lan rộng khắp trong làng đến nỗi không ai dám ra ngoài về đêm! Và từ đó dân làng đều tin bà kia đã tự tử chết dù con cái bà dấu không nói ra cho ai biết.Chưa hết, một tối kia, bà già mẹ chồng bà kia đang ẵm cháu nằm trong giường chưa ngủ, thì con ma đã hiện về, mở cửa phòng rôi lên tiếng cười nghe rất ghê sợ. Nó tiến lại giường bà mẹ chồng nắm, giỡ mùng lên và đưa tay lạnh lẽo sờ vào mặt bà và nói : con về thăm mẹ đây ! bà già sợ hãi mắng nó rằng : mày xéo ngay đi ,kiếp nào về kiếp đó.Đừng về đây làm khổ cho con cháu mày nữa ! Tao lấy tên cực trọng Giêsu Maria Giuse mà trừ mày ! Nghe thế, con ma lại lặng lẽ đi ra vào trong đêm tối. Bà già kia đã đem chuyện hải hùng này kể cho mẹ tôi,có tôi ngồi đó nghe ! eo ơi sợ quá, tôi chỉ nghe kể lại mà đã thấy sợ hãi vô cùng. Chưa hết, còn chuyện lạ nữa là mỗi năm trước ngày Lễ kính Thánh Giuse, ngày 19 tháng 3, đàn chịm lạ kia lại bay về làng , đậu từ nghĩa trang chôn bà tự tử kia đến nóc nhà của bà ấy ở. Sau Lễ, chúng lại bay đi khỏi làng ! chính tôi- khi ấy- đã cùng đám trẻ trong làng đi đánh đuổi những con chim kia bay về làng trước ngày Lễ Kính Thánh Giuse.Nhưng từ 60 năm nay sống xa quê hương, tôi không biết đàn chim kia còn bay về làng mối năm nữa không. Tôi đự định về thăm VN trong năm nay (năm 2020) và sẽ về quê ở làng Doãn, Huyện Bình Lục, Tỉnh Hanam để hỏi những người lớn tuổi trong làng về hiện tượng ma quái nói trên. .
Ở Mỹ cũng có hiện tượng tương tự. vì có những nhà được gọi là "Haunted houses" (có ma ám ảnh) không ai dám ở vì tin là có ma hiện ra nhát người sống. Bản thân tôi, khi còn làm phó xứ ở một giáo xứ kia, có một giáo dân người Mễ-Tây Cơ một hôm đã đến xin tôi làm phép nhà cho bà ta vì bà nói thỉnh thoảng về đêm ,bà nghe có tiếng la hét và tiếng nước chảy từ phòng tắm kế bên phòng ngủ của bà , mặc dù trong nhà chỉ có hai vợ chồng già và không ai sử dụng phòng tắm về đêm! Tôi đã đến làm phép nhà cho bà và sau đó không thấy bà nói gì về việc sợ hãi kia nữa.
Như vậy, chắc chắn có những "hiện tượng bất thường" xảy ra mà người ta gán cho là có ma quỷ xuất hiện dưới nhiều hình thức để nhát đảm hay quấy phá người sống. Giáo Hội không đưa ra một giải thích rõ nào về những hiện tượng này, mặc dù tin có chuyện ma quỷ ám hại con người nên cho đến nay, Giáo Hội vẫn sử dụng phép "trừ quỷ, trừ tà" (Exorcism) được Giáo Quyền địa phương trao cho một linh mục nào thi hành khi cần đến.
Xưa kia, khi còn đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần "trừ quỉ" nhập vào làm khổ nhiều người. Điển hình là trường hợp có người kia đã bị một lũ quỷ nhập và hành hạ rất khốn đốn. Chúa đã trừ chúng ra khỏi nạn nhân và cho chúng nhập vào đàn heo và lao xuống vực thẳm chết.hết. (Lc 8: 26-31). Lại nữa, "các thần ô uế, hễ thấy Đức Giêsu thì sấp mình dưới chân Người và kêu lên: Ông là Con Thiên Chúa. Nhưng Người đã cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người là ai." (Mc 3: 11-12).
Quỷ la lên khi bị Chúa trừ ra khỏi các nạn nhân của chúng và không cho phép chúng nói Người là ai (Lc 4: 40-41).Tin Mừng Thánh Matthêu cũng thuật lại trường hợp một người bị quỷ ám khiến cho mù lòa và câm. Chúa đã trừ quỷ ra khỏi anh ta khiến anh lại được trông thấy và nói được. (Mt 12: 22-23). Đặc biệt, Chúa đã trừ 7 quỷ ám hại một phụ nữ tên là Maria Ma-đa-la. (Lc 8 : 2) . Bà này sau đó đã đi theo Chúa cho đến khi Người chết trên thánh giá. Bà cũng là phụ nữ đầu tiên đã đến viếng Mộ Chúa sáng ngày thứ nhất trong tuần và đã được gặp Chúa hiện ra và bảo đi loan báo tin mừng Chúa Phục Sinh cho các môn đệ Người. (Mt 28: 1-10; Ga 20: 11-18)
Thánh Phaolô cũng nhân danh Chúa Kitô để trừ quỷ nhập vào một phụ nữ chuyên nghề bói toán, đồng bóng:
"Nhân danh Đức Giêsu-Kitô, ta truyền cho ngươi phải xuất khỏi người này. Ngay lúc ấy quỷ thần liền xuất.ra" (Cv 16: 18)
Nhưng phải nói ngay là, những trường hợp quỷ nhập và ám hại người sống nói trên, kể cả những chuyện ma quỷ hiện hình để quấy phá người sống, tất cả chỉ có tác dụng làm cho người ta sợ hãi, khốn khổ về thể xác mà thôi, chứ không có gì phải lo sợ về phần hồn.
Điều đáng lo sợ về phần hồn, hay phần rỗi của mọi người chúng ta là có loại ma quỷ không hiện hình để phá phách, hay ám hại ai về thể xác, nhưng vô hình cám dỗ con người với nhiều chiến lược tinh xảo khiến cho rất nhiều người đã và đang ngã theo chúng để làm những sự dữ, sự tội như chúng ta thấy rõ bộ mặt của chúng trong cách sống của biết bao người ở khắp nơi trên trần thế xưa và nay. Đó là những kẻ đang giết người, giết thai nhi, hãm hiếp phụ nữ. oán thù muốn làm hại người khác. Đặc biệt đó là những kẻ đang buôn bán phụ nữ, bắt cóc trẻ nữ để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm (child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi ở nhiều nơi trên thế giới tục hóa, vô luân vô đạo này.Tất cả những kẻ đã và đang làm những sự dữ nói trên đều đã bị chi phối hay cám dỗ bởi thứ ma quỉ gọi là Satan và bè lũ
2- Đó là Quỷ Satan và bè lũ:
Loại "ma quỷ" này không hiện ra để làm cho ai phải khiếp sợ, nhưng lai vô hình ám hại con người cách đáng sợ hơn,với những mưu chước cám dỗ rất tinh vi và thâm độc để mong lôi kéo con người ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, làm nô lệ cho chúng khiến mất hy vọng được cứu rỗi.để vào Nước Trời vui hưởng Thánh Nhan Chúa, là Nguồn mọi an vui và hạnh phúc mà của cải tiền bạc trần gian không thể mua hay đổi trác được
Đó chính là loại ma quỉ mà Thánh Phêrô đã cảnh cáo và ví chúng như " sư tử đói rảo quanh tim mồi cắn xé."(1 Pr 5: 8)
Đây là thứ quỷ mà Kinh Thánh và Giáo lý của Giáo Hội nói về "một Thiên Thần đã sa ngã để trở thành quỷ Satan" và kéo theo các Thiên Thần khác nổi lên chống lại Thiên Chúa và không hề ăn năn sám hối xin tha thứ để vĩnh viễn là những kẻ phản loạn, muốn lôi kéo con người đi theo chúng để chống lại Thiên Chúa là tình yêu, công bình và thánh thiện. (x. SGLGHCG số 391-394)
Thánh Gioan, trong Sách Khải Huyền, đã gọi loại ma quỷ hay Sa-tan này là Con Mãng xà, tức Con Rắn xưa:
"Bấy giờ tôi thấy một Thiên Thần từ trời xuống, tay cầm chìa khoá vực thẳm và một dây xích lớn. Người bắt lấy Con Mảng Xà, tức là Con Rắn xưa, cũng là ma quỷ hay Sa-tan, và xích nó lại một ngàn năm." (Kh 20: 1-20)
Nói rõ hơn, loại ma quỷ này được xem như "những Thiên Thần đã sa ngã" vì đã kiêu căng chống lại Thiên Chúa và đã bị đạo binh thiên quốc của Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-e đánh bại.
Đây mới là loại " ma quỉ" mà chúng ta phải khiếp sợ và đề phòng để không sa vào cạm bẫy của chúng như Thánh Phêrô đã ân cần nhắc nhở chúng ta sau đây:
"Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." (1 Pr 5: 8)
Như sư tử đói rảo quanh tìm mồi ăn sống nuốt tươi thế nào, thì ma quỷ cũng ngày đêm rình rập để cướp lấy linh hồn chúng ta bằng mọi mưu chước cảm dỗ như vậy.
Như thế, loại ma quỷ này mới chính là kẻ thù nguy hiểm nhất mà chúng ta phải tỉnh thức đề phòng, và nương nhờ ơn Chúa để chống lại chúng hầu được sống trong tình thương của Chúa và có hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.
Quỷ Satan và bè lũ "rảo quanh cõi đất và lang thang khắp đó đây" như chính Satan đã trả lời Thiên Chúa khi nó muốn thách đố Thiên Chúa về lòng tin và yêu mến của ông Gióp trong cơn thử thách nặng nề. Chúa cho phép nó được đụng chạm đến của cải, tài sản của ông Gióp nhưng không được đụng đến mạng sống của ông. (Gióp 1: 9: 12)
Chính vì mục đích của chúng là lôi kéo con người ra khỏi tình thân với Chúa nên Quỷ Satan và bè lũ đã và đang xô đẩy quá nhiều người xuống vực thẳm hư mất đời đời, vì đã dại dột nghe theo chúng để phạm những tội ghê gớm như giết người hàng loạt, phá thai không gớm tay, hận thù, trộm cướp, ham mê khoái lạc (Hedonism) và dâm ô thác loạn, chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ tiền bạc và của cải vật chất, buôn bán phụ nữ và trẻ nữ để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, và tội lỗi, trong khi dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của biết bao người không may mắn ở khắp nơi trên thế giới. Đặc biết ở các quốc gia độc đảng, độc tài, tham quyền cố vị để vơ vết của cải, làm giầu cho bản thân và phe nhóm, trong khi nhắm mắt bịt tai trước những bất công xã hội và suy thoái nặng nề về luân thường đạo lý. Tắt một lời: thế giới đang sống với văn hóa của sự chết vì Satan đang thống trị quá nhiều người ở khắp nơi trên thế gian tục hóa, vô luân vô đạo ngày nay.
Từ thuở đầu tiên, chính quỷ Satan, trong hình thù con Rắn, đã cám dỗ bà Eva ăn trái cấm trong Vườn Địa Đàng, khiến con người đã mất tình thân với Thiên Chúa và mang sự chết vào trần gian như ta đọc thấy trong Sách Sáng Thế., và Thư Rôma của Thánh Phaolô. ( x. St 3: 1-6; Rm 5: 12 )
Sau này, cũng chinh quỷ Satan đã dám đến cám dỗ Chúa Giêsu ba lần trong rừng vắng, nơi Chúa ăn chay cầu nguyện. Chúa đã đánh bại và quát mắng nó: " Satan kia xéo đi." (Mt 4 : 10)
Chúa đã đánh bại Satan với Thần khí của Thiên Chúa như lời Người đã nói với dân chúng chứng kiến việc Người trừ quỷ ra khỏi một nạn nhân bị nó làm cho câm và mù mắt:
"...còn nếu Tôi dựa vào Thần Khí Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông." (Mt 13: 28)
Sau này, cũng Satan đã "nhập vào Giuđa" sau khi môn đệ này ăn miếng bánh Chúa trao cho trong đêm Tiệc Ly cuối cùng. Và y đã ra đi trong đêm tối để thi hành việc trao nộp Chúa cho bọn Thượng tế và kỳ mục Do Thái. (Ga 13 : 27)
Trước đó, Chúa Giêsu cũng đã nói với Phêrô về hiểm họa cám dỗ của Satan như sau:
"Si-mon, Si-mon ơi, kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo." (Lc 22: 31)
Sàng như sàng gạo, nghĩa là cám dỗ mãnh liệt cho ta sa ngã. Vì thế, Chúa đã nhắc thêm cho Phêrô và các môn đệ Người phải luôn tỉnh thức mà cầu nguyện như sau:
"Anh em hãy canh thức mà cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối." (Lc 14: 38 )
Chúa phải nhắc các môn đệ Người và tất vả chúng ta như vậy vì Người biết rằng Satan và bè lũ luôn rình rập từng giây từng phút để cám dỗ con người phạm tội nghịch cùng Thiên Chúa như chúng luôn thù nghich Thiên Chúa và không muốn cho ai thuộc về Thiên Chúa nữa.
Tóm lại, ma quỷ là một thực thể không thể chối cãi được. Chúng có mặt cách vô hình trên trần gian, sau khi đã phản nghịch cùng Thiên Chúa và bị trục xuất ra khỏi Thiên Đàng như Kinh Thánh và giáo lý của Giáo Hội dạy. Chúng quả thực là kẻ thù đáng sợ cho mọi người tín hữu chúng ta, vì âm mưu thâm độc của chúng muốn lôi kéo chúng ta ra khỏi tình thương và tình thân với Chúa, khiến ta mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.
Do đó, muốn được cứu rỗi, muốn thuộc vể Chúa để hưởng Thánh Nhan Người trên cõi vĩnh hằng, chúng ta không thể coi thường sự có mặt của ma quỉ hằng tỉnh thức và rình rập bên ta ngày đêm để cám dỗ ta làm những gì trái nghích với tình thương, công bình và thánh thiện của Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành; Đấng giầu lòng yêu thương nhưng gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi là do ma quỷ gây ra như Thánh Gioan Tông Đồ đã dạy dưới đây:
"Ai phạm tội thì là người của ma quỷ
Vì ma quỷ phạm tội từ lúc khởi đầu
Sở dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện
Là để phá hủy công việc của ma quỷ." ( 1Ga 3:8)
Vậy chúng ta phải luôn tỉnh thức, luôn cầu nguyện và đề phòng để không sa chước cám dỗ của ma quỷ, là kẻ triệt để khai thác sự yếu đuối của bản tính con người và gương xấu của thế gian, của môi trường xã hội để mong xô chúng ta xuống vực thẳm hư mất đời đời cùng với chúng.. Cho nên, muốn được cứu rỗi để vào Nước Thiên Chúa mai sau, tất cả chúng ta , những người may mắn có được đức tin, phải cương quyết chống lại Satan và bè lũ để không phạm tội và mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.
Chúa Kitô đến trần giân để hy sinh mạng sống mình làm "giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20:28) nhưng Chúa không tiêu diệt hết mọi tội lỗi và kẻ gây ra tội lỗi là ma quỉ. Do đó, muốn được cứu rổi để vào hưởng hạnh phức Nước Trời với Chúa sau khi hoàn tất hành trình con người trên trần thế này, chúng ta chớ quên sự có mặt của tội lỗi và ma quỉ để phải liên lỉ chiến đấu chống lại chúng với ơn Chúa phù giúp cho đến phút sau cùng của mỗi người chúng ta trên trần gian này.Phương pháp hữu hiện để chiến thắng tội lỗi và ma quỉ là phải siêng năng cầu nguyện vì " không có Thầy anh em không làm gì được."( Ga 15:5) Nghĩa là không có ơn Chúa phù giúp thì chúng ta không dễ vượt qua mọi cám dỗ của ma quỉ, của xác thịt yếu đuối và lôi cuốn mạnh mẽ của thế gian với quá nhiều gương xấu và dịp tội.
Tóm lại, tội lỗi và ma quỉ có mặt trong trần gian và ở quanh mỗi người chúng ta để mong lôi kéo chúng ta ra khỏi tình thương và thân tình với Chúa khiến mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.Do đó, muốn chiến thắng ma quỉ và tội lỗi, mọi người tín hữu chúng ta phải luôn cầu nguyện, nhất là năng rước Mình Thánh Chúa Kitô để được tăng sức mạnh thiêng liêng trong cuộc chiến chống tội lỗi và ma quỉ là kẻ gây ra mọi tội lỗi qua các cơn cảm dỗ liên lỉ và tinh quái của chúng.Amen.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.Amen
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Houston, Texas USA.

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THÁNH GIUSE -TS DUYỆT PDF Print E-mail

DM Tran
Sat, Feb 29 at 6:32 PM
Mừng Bổn Mạng Giuse và mừng kính Thánh Giuse

THÁNH GIUSE NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Trần Mỹ Duyệt

Để tôn vinh Thiên Chúa, và để đề cao nhân đức của Thánh Giuse, Thánh Giuse - Bạn trăm năm Đức Trinh Nữ Maria, ngày 19.06.2013, Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích công bố một Sắc lệnh đã được Đức hồng y Bộ trưởng Antonius Cañizares Llovera và Đức Tổng Giám Mục Thư ký Arturus Roche ký vào ngày lễ Thánh Giuse Thợ 01.05.2013. Sắc lệnh quyết định đưa tên Thánh Giuse vào các Kinh nguyện Thánh Thể II, III và IV, sau tên của Đức Trinh Nữ Maria. Trước đây, tên Thánh Giuse chỉ được đọc trong Kinh nguyện Thánh Thể I (Lễ quy Rôma). Sắc lệnh viết:

"Qua việc làm cha chăm sóc Chúa Giêsu, Thánh Giuse làng Nazareth, khi được đặt lên trông coi gia đình của Chúa, đã hoàn thành nhiệm vụ đã nhận được nhờ ân sủng. Do gắn bó chặt chẽ với các mầu nhiệm khởi đầu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Ngài trở nên mẫu gương về lòng khiêm nhường và nhân ái, những điều làm cho đức tin Kitô giáo có được những phẩm giá cao cả; và thể hiện những nhân đức nhân bản và đơn sơ, cần cho con người trở nên môn đệ tốt lành và đích thực của Chúa Kitô. Nhờ các nhân đức đó, Người Công Chính này, sau khi đã hết sức trìu mến chăm sóc Mẹ Thiên Chúa và vui vẻ tận tình dạy dỗ Chúa Giêsu Kitô, đã trở nên người quản lý kho tàng quý giá của Thiên Chúa Cha và qua các thế hệ được Dân Thiên Chúa không ngừng tôn kính như đấng bảo trợ thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, nghĩa là Hội Thánh" (Lm. Phêrô Lê Tấn Bảo dịch). (Lm.Giuse Nguyễn Hữu An, Vietcatholic.net, 17/Mar/2018)

Vậy Giuse là ai?

Không có một tài liệu nào nói rõ ràng, đầy đủ về ngài. Thánh Kinh cũng chỉ nhắc đến ngài thuộc hoàng tộc David, "Giuse là con vua David", nhưng từ David đến Chúa Giêsu đã 28 đời. Theo thánh sử Mátthêu: "Từ David đến thời lưu đày ở Babylon là mười bốn đời, và từ thời lưu đày ở Babylon đến Đức Kitô, cũng là mười bốn đời" (Mátthêu 1:17). Cho nên có thể nói rằng nếu Giuse sống bằng nghề thợ mộc thì cũng không gì khó hiểu, vì cái gốc gác hoàng tộc ấy đến ngài cũng đã quá xa.

Cuộc hôn nhân giữa Giuse và Đức Maria, theo Ngụy Kinh (Apocryphal Gospel) của Giacôbê có ghi, khi Maria đến tuổi dậy thì, các thượng tế đã nghĩ đến chuyện thành hôn cho Maria, vì sợ rằng với tuổi ấy những chuyện không tốt có thể xảy đến cho Đức Maria và liên quan đến đền thờ. Câu chuyện bắt đầu bằng việc các thượng tế kêu gọi những trai tráng có đủ điều kiện, mỗi người phải mang một nhánh cây hoặc một cây gậy lên Đền Thờ cầu nguyện. Nếu nhánh cây hoặc gậy của người nào có dấu hiệu lạ xảy ra, người đó sẽ là chồng của Maria. Cuộc hôn nhân này được tác thành bởi các thượng tế vì Maria đã được cha mẹ là Gioankim và Anna gửi vào Đền Thờ lúc còn rất trẻ.

Giữa những cây gậy, nhánh cây của các thanh niên, trai tráng mang đến, gậy của Giuse bỗng nở hoa. Giuse đã được chọn làm chồng của Maria. Và đó cũng là lý do tại sao trong các ảnh vẽ, các tượng của thánh Giuse sau này đều có cằm một cây gậy nở hoa. Nó cũng là dấu hiệu đời sống thánh thiện, trinh khiết của ngài khi kết hôn và sống với Đức Nữ Trinh Maria trong đời sống hôn nhân sau này.

Để tỏ sự tôn kính Đức Trinh Nữ Maria và Chúa Giêsu, các dịch giả hoặc trước tác Việt Nam cố gắng tránh danh từ "chồng" khi nói về Giuse đối với Đức Maria, thay vào đó dịch là "bạn" bạn trăm năm, bạn thanh sạch của Đức Mẹ. Danh từ "cha" của ngài đối với Chúa Giêsu được dịch là "bõ nuôi", "cha nuôi", "dưỡng phụ", hoặc "nghĩa phụ". Nhưng chính Đức Maria đã cải chính và sửa lại quan niệm này. Mẹ không ngần ngại nhận Giuse là chồng, và là bố của Giêsu. Thánh Kinh ghi lại điều này khi gia đình lạc nhau lúc trẻ Giêsu lên 12 tuổi. Trong đền thờ: "Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" (Luca 2:48).

Dĩ nhiên, người chồng và người cha ở đây không chỉ hiểu theo một nghĩa thông thường, và Thánh Giuse cũng không phải người bình thường bởi vì Đức Maria là Trinh Nữ rất thánh, đồng trinh trước, đang, và sau khi sinh con. Thánh Giuse đã phải đối diện với vấn nạn này và ngài quyết tâm ly dị người hôn phu của mình vì nàng có thai mà không rõ lý do? Suy nghĩ và quyết định này phải cần đến sự can thiệp của Thiên Chúa. Ngài đã mặc khải cho ông về ý định của Ngài như sau: "Nhưng khi ông đang suy nghĩ về những chuyện này, thiên thần Chúa xuất hiện với ông trong giấc ngủ và bảo, "Giuse con David, đừng sợ nhận Maria làm vợ: vì người con trong lòng bà là bởi phép Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, và ông đặt tên người là Giêsu" (Mátthêu 1:20-21). Người con ấy là do Chúa Thánh Thần, tên là Giêsu cũng là người con của ông, vì ông là người đặt tên cho người con đó. Ngoài ông ra, ai có quyền đặt tên cho đứa trẻ? Và người mà đặt tên cho con, đương nhiên phải là người cha.

Trong những giao tiếp thường ngày, người ta thường chào nhau bằng những danh hiệu phù hợp với địa vị xã hội và trình độ học vấn. Thí dụ, bác sĩ, dược sĩ, luật sư, giáo sư, bộ tưởng, tổng trưởng, dân biểu, nghị sĩ, hoặc tổng thống. Giới giới tu hành, thì được xưng hô là tu sĩ, linh mục, mục sư, giám mục, hồng y, giáo hoàng, thượng phụ giáo chủ, hoặc thượng tọa, hòa thượng, đại đức, tăng thống... Nhưng không thấy có ai được xưng tụng bằng danh hiệu "công chính". Lý do vì không ai dám tự nhận cho mình danh hiệu này. Ðiều con người không dám làm và không làm được, thì Thiên Chúa lại làm. Trước đây 2000 năm, Ngài đã cho gọi đích danh một người, và ban cho người ấy danh hiệu "công chính": "Giuse là người công chính" (Mátthêu1:19). Và cũng từ đó, danh tính ấy và con người ấy đã gắn liền với cuộc đời và sứ mạng cứu thế của Ðức Giêsu, cũng như của mẹ Ngài là Trinh Nữ Maria.

Mặc dù Thánh Kinh không nói nhiều về ngài - cũng như Ðức Maria - Thánh Kinh đã nói đủ để ta biết ngài là ai, làm gì, và sống như thế nào. Tiểu sử của ngài thực ra không phải là không được nhắc tới. Cùng với Maria, người vợ đồng trinh của mình, Giuse cũng được nhắc đến một cách vừa đủ để không bị ảnh hưởng đến những gì mà Thánh Kinh cần viết, và cần nói về Chúa Giêsu, Ngài mới là nhân vật chính.

Tóm lại, Thánh Giuse theo Thánh Kinh thuộc hoàng tộc Ðavít. Quê quán tại Belem, sinh sống và hành nghề thợ mộc tại Nazareth (x. Lc 2:4). Ngài kết hôn với Maria, con GioanKim và Ana. Ngài có người con trai là Giêsu. Ngoài những bạn bè, những người thân thương trong làng xóm, ngài cũng đã từng gặp gỡ các mục đồng trong đêm Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần, tiên tri Simêon và Ana khi đem Chúa Giêsu đi cắt bì tại Giêrusalem. Nhất là được hân hạnh đón tiếp những nhân vật lỗi lạc như 3 nhà đạo sĩ trong thời gian Hài Nhi Giêsu vừa mới sinh tại Belem: "Sau khi Chúa Giêsu sinh tại Belem xứ Giuđêa thời vua Hêrôđê, các đạo sĩ từ Ðông Phương đã tới Giêrasalem và hỏi: "Vua Do Thái mới sinh ra ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao Ngài xuất hiện và chúng tôi đến để triều bái Ngài" (Mátthêu 2:1-2).

Về ngày sinh và ngày qua đời của ngài không ai biết rõ, nhưng phần đông các học giả Thánh Kinh vẫn cho rằng ngài qua đời trước khi Chúa Giêsu bước vào con đường hành động công khai. Trên thập giá, không thấy Ðức Giêsu nói về người cha đáng kính ấy của mình, nhưng đã trối mẹ của mình lại cho Gioan, môn đệ yêu dấu: "Gần thập giá Chúa Giêsu, đứng đó có mẹ Ngài, và chị họ mẹ Ngài là Maria vợ ông Clôpas, và Maria Mađalêna. Trông thấy mẹ mình cùng với môn đệ Ngài yêu dấu, Chúa Giêsu nói với mẹ Ngài: "Hỡi bà, này là con bà". Rồi nói với môn đệ: "Này là mẹ con". Và từ giờ đó, môn đệ đem người về nhà mình" (Gioan 19:25-27).

Tiểu sử của ngài như vừa được tóm lược một cách đơn giản trong Thánh Kinh, tuy ít, nhưng cũng đủ để ta hiểu về ngài chỉ trong một câu đơn giản: "Giuse là người công chính". Sự công chính là thuộc về Thiên Chúa. Do đó, khi thiên thần gọi Giuse là công chính, là ngụ ý rằng Thiên Chúa đã sẵn lòng thông ban cho ngài một phần vinh quang, một phần sự tốt lành, và một phần thánh đức của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Nhưng thánh Giuse đã sống và hành động như thế nào để xứng đáng với danh hiệu công chính?

Ðồng trinh

Nhân đức nổi bật, lạ lùng, cao siêu nhất của Thánh Giuse là "đồng trinh". Không thấy Giáo Hội và truyền thống Giáo Hội nói gì về sự đồng trinh nguyên thủy của ngài như đã từng nói về Bạn Ðồng Trinh của ngài là Trinh Nữ Maria. Nhưng vì Ðức Maria là đấng đồng trinh: đồng trinh trước khi sinh con, đang khi sinh con, và sau khi sinh con. Khi được Tổng Thần Gabriel đề cập đến vai trò làm mẹ Ðấng Cứu Thế trong ngày Truyền Tin, Mẹ đã trả lời rõ ràng: "Việc ấy xẩy ra thế nào được, vì tôi giữ mình đồng trinh" (Luca 1:34). Từ sự đồng trinh của Ðức Trinh Nữ Maria, đã cho thấy đức đồng trinh của Thánh Giuse. Có thể nói một cách hợp lý rằng đức đồng trinh của Ðức Maria làm rạng ngời đức đồng trinh của Thánh Giuse, và nhờ đức đồng trinh của Thánh Giuse mà đức đồng trinh của Mẹ Maria được bảo đảm như đã được Thánh sử Mátthêu ghi lại: "Sau đây là gốc tích của Ðức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Ngài đã đính hôn với Giuse. Nhưng trước khi hai ônb bà về chung sống với nhau, bà đã mang thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Giuse chồng bà, là người công chính không muốn tố giác bà, nên đã định tâm bỏ bà cách kín đáo" (Máttthêu 1:18-19).

Ðể hiểu thêm về đức đồng trinh cao cả ấy, ta cũng nên biết thêm rằng trên nguyên tắc, Ðức Maria là vợ của Thánh Giuse. Bổn phận hay trách nhiệm làm vợ của một phụ nữ trong đời sống hôn nhân gia đình gắn liền với bổn phận và trách nhiệm làm mẹ. Do đó, sinh lý trong hôn nhân, không những chỉ là phương tiện truyền sinh, mà cũng là một hành động của tình yêu đôi lứa, của sự gắn bó vợ chồng. Ở đây, Giuse và Maria đã nâng giá trị hôn nhân và đời sống vợ chồng lên một mức thánh đức trọn hảo, tuyệt vời nhờ vào đức đồng trinh của hai đấng. Cả hai đã sống với nhau và đối xử với nhau như các thiên thần trên trời như Chúa Giêsu đã mặc khải: "Quả thật, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ, lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời" (Mátthêu 22:30). Có thể một số người cho rằng cuộc sống vợ chồng như thế là không ai thực hiện được, nhưng Phaolô Tông Ðồ cũng đã cho biết, người ta có thể sống như thế khi viết: "Những ai có vợ hãy sống như không có vợ". (1 Cor 7:29)

Thánh Giuse đã làm nổi bật và kiện toàn tình yêu cao cả dành cho Ðức Maria khi tôn trọng sự đồng trinh của Ðức Mẹ, mặc dù sau này qua lời thiên thần Ngài mới biết đó là ý muốn và ý định của Thiên Chúa: "Giuse con Ðavít đừng ngại nhận Maria làm vợ, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội. Tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: "Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mátthêu 1:20-23). Một người không có tình mến thẳm sâu, không kính sợ Thiên Chúa như Thánh Giuse, thì những lời ấy vẫn không ngăn cản được ý định và ước muốn của bản năng, nhất là bản năng ấy được xử dụng trong hoàn cảnh hợp tình, hợp lý và hợp pháp như trong đời sống vợ chồng. Và điều này càng làm cho Thánh Giuse trở thành cao cả, và đáng mến biết bao.

Khiêm nhường

Sau đức đồng trinh của Thánh Giuse, ta hãy nhìn tới đức khiêm nhường của ngài.

Như đã được nhắc tới trong Thánh Kinh, Thánh Giuse xuất thân từ dòng tộc Ðavít. Ngài là một người thuộc hoàng tộc. Ðiều này càng làm cho đức khiêm nhường của Ngài thêm sáng chói, nếu đem cộng thêm thiên chức cao cả mà Thiên Chúa đã ban cho Ngài là "làm chồng đồng trinh của Ðức Maria, và làm cha nuôi Chúa Cứu Thế".

Cả dân tộc Do Thái thời bấy giờ và trong suốt thời gian Cựu Ước, ngày đêm trông mong sự xuất hiện của Ðấng Cứu Thế. Ai trong các thiếu nữ Sion cũng muốn mình lấy chồng, và mơ màng một ngày nào đó được làm mẹ Ðấng Thiên Sai. Ðó là sự nôn nóng và nô nức tự nhiên, hợp tình, hợp lý. Một giấc mơ thánh thiện.

Một cách tương tự, ai trong các thanh niên Do Thái lúc bấy giờ mà chẳng muốn mình làm cha Ðấng Thiên Sai. Còn gì vinh dự, hãnh diện và hạnh phúc hơn là từ gia đình mình, từ dòng dõi mình xuất hiện Ðấng Cứu Thế. Ðây là một vinh dự lớn và không dễ gì đã có ai bỏ qua. Nhưng trường hợp của Thánh Giuse lại khác hẳn. Ngài sẵn sàng bỏ qua ý tưởng đó, chỉ muốn sống một cuộc đời khiêm nhường. Ngài đã chỉ vì yêu mến Thiên Chúa mà chấp nhận vai trò và danh dự làm "cha nuôi" Ðấng Thiên Sai mà thôi.

Thánh Giuse đã rất giản dị, bình dân, và khiêm tốn. Thánh Kinh không thấy chỗ nào nói tới việc Ðức Maria nhận mình là Mẹ Thiên Chúa - Ðấng Thiên Sai. Cũng vậy, không thấy chỗ nào Thánh Giuse đã nói, hoặc cho ai biết mình là cha của Ðấng Thiên Sai. Cả hai, Ðức Maria và Thánh Giuse không những không nói cho ai biết về cái bí mật mà mọi người đang hăm hở kiếm tìm ấy, mà cũng không hành xử như một người làm mẹ hay làm cha của Ðấng Cứu Thế. Ðây là một hành động hết sức khiêm nhường. Một nhân đức sáng ngời và trổi vượt của Thánh Giuse trong những nhân đức phi thường mà Ngài đã sống với trong cuộc hành trình dương thế của mình bên cạnh Ðức Maria và Chúa Giêsu.

Khó nghèo

Giầu có về ân sủng và nhân đức, nhưng cuộc sống trần thế của Thánh Giuse luôn luôn lận đận với cái nghèo. Người ngoài sẽ không biết rõ được gia đình của Giuse và Maria nghèo đến thế nào nếu như không có biến cố Giáng Sinh tại Belem. Thánh Kinh ghi rõ, cả hai đều bị từ chối và không tìm được một nơi trú ngụ giữa các hàng quán quanh thành. Luca đã ghi lại chi tiết nghèo của thánh gia trong thời gian lưu lại ở Giêrusalem: "Bà sinh con trai đầu lòng, quấn tã lót và đặt trong máng cỏ, vì họ không tìm được chỗ trong các quán trọ" (Lc 2:7). Có thể là vì số người đã nhiều mà các quán trọ không đủ phòng ốc. Cũng có thể là nhìn thấy Maria đang mang thai và như đang gần ngày sinh. Nhưng lý do nghèo của hai người là chính. Có tiền bạc đầy đủ và giầu có thì kiếm đâu không có phòng trọ? Nhưng vì nghèo, nên cả hai đã phải tạm trú tại một chuồng bò ngoài thành. Và trong hoàn cảnh ấy, Thiên Chúa đã hạ sinh và ở giữa chúng ta.

Sự nghèo nàn của thánh gia còn được thấy khi trong nghi lễ hiến dâng Hài Nhi Giêsu. Vì nghèo không đủ tiền mua những lễ vật giá trị hơn, nên cha mẹ của Giêsu chỉ mua được một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non (x Lc 2:22-24), những lễ vật thuộc giới bình dân và nghèo. Nhưng đó là một cái nghèo tự nguyện. Một đời sống nghèo của người công chính, không chộp giật, không bon chen, và không tham lam. Với số vàng, nhũ hương và mộc dược ba nhà đạo sĩ dâng tặng trong lần họ đến bái yết Hài Nhi Giêsu chắc dư dùng cho gia đình nếu như Giuse và Maria có lòng tham lam muốn giữ làm của riêng. Nghề thợ mộc ở vào thời điểm của Thánh Giuse chắc cũng không phải là nghề không kiếm ra tiền, nhất là với tay nghề vững chãi, kinh nghiệm, cộng với sự nhiệt tâm, chịu khó của ngài. Do đó, cái nghèo của Thánh Giuse hiển nhiên là một đức nghèo trọn lành của Phúc Âm. Nó phát xuất từ tâm hồn đơn sơ, phó thác và tin tưởng hoàn toàn nơi Chúa Quan Phòng.

Đặt chân đến Nazareth, khách hành hương như hơi thất vọng với một thành phố mà cho mãi đến ngày nay vẫn hiện lên nét nghèo, với đường xá chật chội, gập ghềnh sỏi đá, nhà cửa không gì mấy khang trang. Nazareth bây giờ cũng chỉ có thể so sánh với những thành phố nghèo ở Việt Nam, Lào, Cao Mên, Mễ, Phi luật tân, hay một nước nào đó bên Phi Châu, trung Đông kém mở mang. Thành phố gồm những căn nhà nhỏ bé, những hẻm đường với những cửa hàng buôn bán bày ra cả lối đi. Đường vào thánh đường Cana hẹp, khó đi, luồn lách qua các ngõ hẻm.

Nhưng đây lại là nơi Thánh Gia lập nghiệp và định cư, nơi Con Thiên Chúa ẩn dật, che dấu thân phận Thiên Chúa của Ngài cho đến khi xuất hiện công khai năm lên 30 tuổi. Gần ba mươi năm sống trong thôn làng nhỏ bé này, chắc Chúa rành rẽ đường đi, nước bước. Và vì có dịp làm quen với những người nghèo, nếp sống nghèo nên sau này Chúa thường dùng những ví dụ thực tế, dễ hiểu của đời thường để nói về những mầu nhiệm nước trời. Thí dụ, dụ ngôn người gieo giống, hạt cải, cây vả, cây nho... ngay cả đến hình ảnh của một người con phung phá, ông phú hộ.

Nghèo và những người ở đây cũng chân chất đến nỗi chính Nathanael khi được Philip mời gia nhập đoàn với các Tông Đồ, đã tỏ ra hoài nghi về Chúa Giêsu vì Ngài xuất thân từ Nazareth: "Ở Nazareth có gì hay ho đâu" (Gioan 1:46). Ý ông nói: "Đất sỏi làm gì có chạch vàng?". Vỹ nhân làm sao xuất thân từ nơi khỉ ho cò gáy như thế? Không chỉ có Nathanael là người Bethsaida đồng quê với Phêrô và Andrê, ngay trong dân làng Nazareth họ cũng tỏ dấu nghi ngờ Chúa Giêsu khi họ nghe Chúa giảng dậy và làm những phép lạ: "Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy nghĩa là làm sao?" (Máccô 6:2).

âm thầm

Do khiêm nhường và tâm tình khiêm tốn, nên Thánh Giuse đã hoàn toàn âm thầm và giữ đúng vai trò trung gian của mình giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Giữa Mẹ Maria, Chúa Giêsu và Ðấng đã ủy thác cho mình việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ.

Trong thực hành, ít ai ở vào địa vị như ngài mà lại âm thầm, và khuất tịch được như Ngài. Ai mà không thích danh giá. Không muốn được xưng tụng với danh hiệu này, danh hiệu khác, nhất là khi thực sự mình có danh giá, có địa vị, và chỗ đứng trong xã hội. Ai bằng Ðức Maria, thiếu nữ Sion tuyệt vời, tràn đầy ơn phúc như lời Tổng Thần Gabriel trong ngày truyền tin: "Hãy vui lên, Ðấng đầy ơn sủng. Thiên Chúa ở cùng bà" (Lc 1:28). Còn Isave, chị họ thì ca tụng: "Em có phúc hơn mọi phụ nữ" (Lc 1:42). Ai bằng Giêsu, Con Một Thiên Chúa làm người. Ðấng là chủ tể vũ trụ. Nắm trong tay hai bảo tàng vô giá ấy, mà không huênh hoang, không muốn nổi nang, và luôn luôn khuất tịch, thì chỉ có Thánh Giuse mới làm được. Và cũng chính vì ngài đã làm được chuyện này, nên đã xứng đáng được gọi là công chính.

Trước xưởng mộc của Thánh Giuse ở Nazareth, là một tượng đồng của ngài. Dáng vẻ suy tư trầm ngâm nhưng hiền từ, trong tay có cằm một cây gậy nở hoa. Bức tượng diễn tả đúng với con người của Giuse, người mà Thánh Kinh gọi là công chính: "Giuse chồng bà là người công chính" (Mátthêu 1:19). Khách hành hương với lòng sốt sắng, yêu mến đã xoa vào hai đầu gối bức tượng khiến mòn đi. Họ làm vậy phải chăng với ngụ ý trút bỏ những gánh nặng nề trên bước đường dương thế cho thánh nhân, và nhờ ngài ra tay nâng đỡ. Tôi có cảm tưởng như những gánh nặng mà khách hành hương đã trút bỏ lên hai đầu gối kia nhiều lắm.

Thánh Kinh đã ghi rõ Giuse làm nghề thợ mộc. Là thợ mộc, nên ông cần phải có một xưởng mộc. Cái nghề thợ mộc của ông sau này đã bị người ta đem ra dè bửu khi nói về Chúa Giêsu: "Họ hỏi, đây chẳng phải là Giêsu con ông Giuse, người mà chúng ta biết cả cha lẫn mẹ sao" (Gioan 4:42). "Đây chẳng phải là con bác phó mộc sao?" (Mátthêu 13:55).

Trung tín

Sau cùng là sự trung thành tuyệt đối của Thánh Giuse trong sứ mạng bảo vệ Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ngài đã trung thành công việc được trao phó một cách tự nguyện và với tinh thần trách nhiệm: "Giuse đừng sợ, hãy nhận lấy Maria làm vợ, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần" (Mátthêu 1:20). Thánh Kinh ghi tiếp: "Khi tỉnh giấc, Giuse đã nhận Maria về nhà mình" (Mátthêu 1:24).

Từ ý thức sâu xa trách nhiệm mình trước mặt Thiên Chúa, Thánh Giuse ngày đêm để ý chu toàn dù gặp những thử thách và đau khổ. Ðau khổ đầu tiên là biến cố Giáng Sinh của Chúa Giêsu. Ðau khổ thứ hai là khi nghe lời tiên báo của Simêon tại đền thờ trong ngày dâng Hài Nhi Giêsu như luật định. Chẳng nói ra thì ai cũng biết rằng, những mũi gươm tinh thần mà Simêon nói về Maria thì ít nhiều Giuse cũng mang nó trong lòng, vì ngài là người chồng hoàn hảo nhất, và không thể nào lại không chia sẻ những đau khổ - dù là tinh thần - với người vợ của mình.

Trong biến cố đem Hài Nhi Giêsu và Mẹ của Ngài chạy trốn qua Ai Cập để trốn thoát cảnh lùng bắt của Hêrôđê. Giữa mùa Ðông giá lạnh, và phải lầm lũi đoạn trường đưa vợ con chạy trốn, cảnh tượng này một người chồng, người cha có trách nhiệm không thể nào lại không đau lòng và lo lắng. Theo những nhà khảo sát Kinh Thánh, chưa đầy 4 năm ở bên Ai Cập, Thánh Giuse đã phải di chuyển chỗ ở đến 21 lần vì tránh sự dòm ngó của người nhà Hẽrôđê.

Với tinh thần trách nhiệm, Thánh Giuse không những lo lắng lúc đem Hài Nhi và Ðức Maria chạy trốn, mà cả khi về lại quê cha đất tổ. Mặc dù lúc ấy Giêsu đã lớn, nhưng Thánh Giuse không thể không cảm thấy băn khoăn, lo lắng. Mátthêu đã ghi lại những suy tư của ngài: "Khi nghe tin Aùckhêlao đã kế vị cha là Hêrôđê, cai trị miền Giuđêa, nên ông sợ không dám về đó. Sau khi được mộng báo, ông lui về miền Galilêa và đến ở một thành kia gọi là Nagiarét" (Mátthêu 2:22-23).

Nhưng có lẽ biến cố gia đình thất lạc tại Ðền Thờ đã chạm đến tinh thần trách nhiệm của ngài một cách sâu xa hơn cả như Thánh Kinh đã ghi nhận: "Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Ðền Thờ, đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, vừa nghe, vừa đặt câu hỏi. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Này con! Sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con không thấy cha con và mẹ đã phải đau lòng tìm con sao!" (Luca 2:46;48).

Thánh Kinh đã khen tặng những người trung tín. Chúng ta có thể nhìn thấy giá trị và kết quả của đức tín trung của Thánh Giuse khi nhìn vào công việc hoàn thành của Chúa Giêsu trong việc cứu chuộc nhân loại. Nhìn vào cuộc đời thánh đức của Ðức Maria. Ðiều này đã cho thấy Thánh Giuse không những sống thánh thiện cho mình, mà còn dùng sự thánh thiện ấy để hoàn tất việc bao bọc và dưỡng nuôi Hài Nhi Giêsu, và Mẹ Thánh của Ngài để chuẩn bị cho Thiên Chúa dùng trong công trình cứu chuộc.

Cựu Ước đã ca tụng Abraham là cha của những kẻ tin. Tân Ước đã ca tụng Thánh Giuse là người công chính. Abraham dâng con là Isaác làm của lễ như Thiên Chúa truyền, Thánh Giuse cũng đã cùng với Đức Maria dâng Chúa Giêsu cho Thiên Chúa trong Đền Thánh để làm của lễ hiến tế và cứu chuộc nhân loại. Thánh Giuse đã dùng cả đời mình để yêu thương, săn sóc, nuôi dưỡng và bao bọc của lễ này. Và Ngài xứng đáng được đó nhận những lời ca tụng của Hội Thánh: "Do gắn bó chặt chẽ với các mầu nhiệm khởi đầu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Ngài trở nên mẫu gương về lòng khiêm nhường và nhân ái, những điều làm cho đức tin Kitô giáo có được những phẩm giá cao cả; và thể hiện những nhân đức nhân bản và đơn sơ, cần cho con người trở nên môn đệ tốt lành và đích thực của Chúa Kitô." (Sắc Lệnh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, 01.05.2013)

Thánh Tiến Sĩ Têrêsa d'Avila đã nói về quyền năng và thần thế của Thánh Giuse:

"Tôi thấy không lần nào xin sự gì cùng Thánh Giuse mà không được như ý. Dường như Thiên Chúa ban ơn cho các Thánh giúp ta việc này, việc khác. Nhưng kinh nghiệm cho tôi biết Thánh Giuse giúp chúng ta trong mọi trường hợp. Tôi lấy danh Chúa mà xin những ai không tin lời tôi hãy thử mà xem". Ite ad Joseph - Hãy đến cùng Giuse.

-------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 165