mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay864
mod_vvisit_counterHôm Qua9174
mod_vvisit_counterTuần Này48055
mod_vvisit_counterTuần Trước47282
mod_vvisit_counterTháng Này195054
mod_vvisit_counterTháng Trước231247
mod_vvisit_counterTất cả8232198

We have: 56 guests online
Your IP: 54.161.44.176
 , 
Today: Apr 30, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 370= DUC GIAO HOANG SAU PDF Print E-mail

 Giáo Hoàng Sau Cùng

Khi về triều kiến Ðức Giáo Hoàng Innocent II, Ðức Giám Mục Malachy nước Ái Nhĩ Lan (Ireland) được xem thấy một thị kiến. Ngài thấy sau Ðức Innocent II thì chỉ còn có 112 vị giáo hoàng nữa, và Ðức Giáo Hoàng Phan Xi Cô Ðệ nhất (Francis I) này là vị giáo hoàng thứ 112 sau Ðức Innocent II.

Vậy có phải Ðức Giáo Hoàng Francis I này là giáo hoàng cuối cùng không? Chúng ta không ai biết vì Ðức Giám Mục Malachy, nay là Thánh Malachy, không ghi chép gì về điều này. Người chỉ liệt kê 112 giáo hoàng, kèm theo mỗi vị là một bí ngôn rất ngắn đễ diễn tả từng vị một.
Về Ðức Benedict XVI Thánh Malachy viết "Gloria Olivae" xin tạm dịch là "Vinh Quang Cây Ô Liu". Bí ngôn này ứng với Ðức Benedict XVI vì ngài thuộc Dòng Olivetans.
Về Ðức John Paul II Thánh Malachy viết "De Labore Solis" hay "Sức Cần Lao Của Mặt Trời". Bí ngôn này ứng nghiệm vì sức cần lao của Ðức John Paul II vượt qua sức cần lao của con người. Việc làm của ngài thật đã phải là việc làm của Thiên Chúa; nhất là sau vụ mưu sát năm 1981 thì sức khoẻ của ngài thật không thể đủ cho những việc ngài đã làm; vậy mà công việc của ngài vẫn toả sáng như mặt trời. Ngài được chọn như một luồng gió mới, rao truyền đức tin Công Giáo trên mọi khía cạnh, và đã đi đến với mọi tầng lớp xã hội. Ngài cũng gặp nhiều khó khăn, nhiều chống đối, nhưng những thử thánh này chỉ như một cuộc nhật thực, qua đi chẳng khác nào như mặt trăng không thể che lấp mặt trời. Ðây-nhật thực- cũng là ý nghĩa của bí ngôn "De Labore Solis".
Bí ngôn về Ðức John Paul I là "De medietate Lunae" hay "Nửa Vầng Trăng". Bí ngôn này ứng nghiệm vì giáo triều của Ðức John Paul I chỉ có 33 ngày.

Bạn có thể tìm đọc những bí ngôn cho những giáo hoàng khác trên các mạng. Ở đây tôi chỉ đưa ra ba bí ngôn ứng nghiệm vào ba vị giáo hoàng ngay trước Ðức Phanxicô I. Tôi đưa ra ba vị này là để bác bỏ lý luận của một vài học giả đã cho rằng những gì Thánh Malachy viết chỉ là bịa đặt. Theo tôi, những sấm ngôn này không thể là bịa đặt được vì nó đã được giữ trong thư viện kín của Vatican mãi đến năm 1590 mới đem ra đọc. Vậy nếu những sấm ngôn này là bịa đặt thì nó chỉ có thể ứng nghiệm với những gì đã qua chứ không thể ứng nghiêm cho tương lai được. Từ năm 1590 cho đến đức John Paul I (1978) là 388 năm; có ai bịa được chuyện tương lai xa vời như vậy không? Dù sao, để lượng giá sấm ngôn của Thánh Malachy, chúng ta hãy nghe những gì mà chính Ðức Phanxicô I nói.

Câu hỏi đầu tiên mà Hồng Y Giovanni Battista hỏi Ðức Hồng Y Bergoglio sau khi ngài được chọn làm giáo hoàng là,"Ngài muốn được gọi bằng danh hiệu gì?" Ðức Hồng Y Bergoglio trả lời, "Tôi sẽ được gọi là Phanxicô I" Sau đó khi được dẫn ra giới thiệu với thế giới tại cửa sổ trông xuống quảng trường Thánh Phêrô, Ðức Phanxicô I nói: "Hẳn mọi người đều biết nhiệm vụ của hồng y đoàn là để cho Rôma một giám mục. Vậy mà dường như những anh em hồng y của tôi đã đi gần đến tận cùng trái đất mới có được người ấy. Dù sao chúng ta cũng ở đây rồi." ("You know that the duty of the conclave was to give a bishop to Rome. It seems that my brother cardinals went almost to the end of the world to get him. But here we are.")

Những gì Ðức Phanxicô nói ở trên đã thật là ngắn ngủi, nhưng lại không đơn giản chút nào, và tôi xin được phân tích.

Trong mệnh đề 'những anh em hồng y của tôi đã đi gần đến tận cùng trái đất' thì 'những anh em hồng y của tôi' là chủ từ của động từ đi. Ði đâu? Thưa, đi đến 'Tận cùng trái đất'. Trên thực tế, các hồng y đã không đi đâu hết. Thành ra, khi nói như vậy là Ðức Phanxicô chơi chữ. Người dùng 'Tận cùng trái đất' là một danh cụm từ chỉ nơi chốn, nhưng thực ra là để nói đến thời gian, cái thời mà chúng ta gọi là 'ngày tận cùng' hay 'The end of the world'. 'Ngày tận cùng' này đã tới chưa? Thưa chưa vì ngài dùng trạng từ 'gần' (almost); chỉ mới gần thôi. Rồi để kết câu ngài nói, 'Dù sao chúng ta cũng ở đây rồi.' Ở đây rồi là ở đâu rồi? Không lẽ ngài lại phải nói với mọi người là chúng ta đang ở Vatican hay sao? Thưa không, vì nói như thế là nói thừa; cho nên chữ 'đây' (here) trong câu này là chữ thay cho danh cụn từ 'Tận cùng trái đất' ở câu trước, nên nó cũng có nghĩa là 'ngày tận cùng' hay 'The end of the world'. Tức là, tuy ngày tận cùng chưa đến, chúng ta đang ở vào những ngày tận cùng.

Nhưng chưa hết. Cái phần quan trọng nhất là câu mở đầu, "Hẳn mọi người đều biết nhiệm vụ của hồng y đoàn là để cho Rôma một giám mục." ("You know that the duty of the conclave was to give a bishop to Rome.) Tại sao Ðức Phanxicô lại phải nói như vậy; mà lại nói vào dịp ra mắt thế giới ngay sau khi được chọn làm giáo hoàng? Tất cả những người theo dõi cuộc chọn lựa này, có ai không biết nhiệm vụ của hồng y đoàn là để cho Rôma một giám mục không? Chắc là không. Vậy thì câu nói này cũng là nói thừa hay sao? Thưa không, nhưng để hiểu lời ngài, chúng ta phải trở lại sấm ngôn của Thánh Malachy.

Thánh Malachy liệt kê 112 giáo hoàng, mỗi giáo hoàng được diễn tả bằng một bí ngôn. Bí ngôn diễn tả vị giáo hoàng thứ 112 là "Peter Romanus." hay "Peter Người Rôma". Peter là ai? Thưa ngài là giáo hoàng và là giám mục Rôma. Ðức Phanxicô cũng là Peter hay giáo hoàng, và cũng là Giám Mục Rôma. Như vậy, khi chọn ngài làm giáo hoàng là hồng y đoàn cho Rôma một giáo hoàng, Giáo Hoàng Phanxicô I. Nhưng Ðức Phanxicô có phải là "Peter Người Rôma" không? Thưa phải. Ðức Phanxicô là người Á Căn Ðình (Argentine) nhưng bố là Người Ý vậy thì Ðức Phanxicô cũng là Người Ý, người Rôma. Sấm ngôn của Thánh Malachy đã hoàn toàn ứng nghiệm. Ðức Phanxicô chính là "Peter Romanus"

Giuse Phạm Văn Tuyến

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 369=BAI 20-TIN TUONG-CAY TRONG PDF Print E-mail

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GIÁO LÝ VỀ NIỀM TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG

BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 26-4-2017

Bài 20

"Thiên Chúa của chúng ta không phải là một vị Thiên Chúa vắng mặt, ẩn khuất ở một bầu trời rất xa cách nào đó; trái lại, Ngài là một vị Thiên Chúa 'say mê' con người (passionate for man), quá dịu dàng yêu thương đến độ bất khả tách mình khỏi loài người..."

"... sẽ không có ngày nào trong cuộc đời của chúng ta mà chúng ta không còn là mối quan tâm của cõi lòng Thiên Chúa. Ngài quan tâm đến chúng ta, và bước đi với chúng ta... việc Thiên Chúa bước đi với chúng ta cũng được gọi là 'Việc Thiên Chúa Quan Phòng': Người quan phòng cho đời sống của chúng ta".

Xin chào anh chị em thân mến!

"Thày ở cùng các con luôn mãi cho đến tận thế" (Mathêu 28:20). Những chữ cuối cùng của Phúc Âm Thánh Mathêu nhắc lại lời công bố ngôn sứ từ ban đầu: "Người sẽ được gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mathêu 1:23; xem Isaia 7:14). Thiên Chúa sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho đến ngày cùng tháng tận. Toàn thể Phúc Âm được khép lại nơi hai câu trích dẫn này, những lời truyền đạt mầu nhiệm về một vị Thiên Chúa có tên gọi, có căn tính là ở với: Ngài không phải là một vị Thiên Chúa cô lập; Ngài là một vị Thiên Chúa ở cùng (a God-with), đặc biệt là với chúng ta, nghĩa là với loài người tạo vật. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một vị Thiên Chúa vắng mặt, ẩn khuất ở một bầu trời rất xa cách nào đó; trái lại, Ngài là một vị Thiên Chúa "say mê" con người (passionate for man), quá dịu dàng yêu thương đến độ bất khả tách mình khỏi loài người. Nhân loại chúng ta tinh khôn trong việc cắt bỏ những mối liên hệ và các nhịp cầu nối. Trái lại, Ngài thì không. Nếu cõi lòng của chúng ta trở nên nguội lạnh, lòng của Ngài bao giờ cũng vẫn rực nồng; Thiên Chúa của chúng ta lúc nào cũng hỗ trợ chúng ta, cho dù, tiếc thay, chúng ta đã quên mất Ngài. Đỉnh điểm dứt khoát tách phân những gì là ngờ vực khỏi đức tin là việc khám phá thấy rằng chúng ta được Cha của chúng ta yêu thương và hỗ trợ, không bao giờ bị Ngài bỏ mặc.

Việc hiện hữu của chúng ta là một cuộc hành hương, một cuộc hành trình. Thậm chí tất cả những ai được tác động bởi một niềm hy vọng thuần nhân loại cũng đều nhận thấy cái thu hút của những chân trời thúc đẩy họ khám phá thấy những thế giới họ vẫn chưa biết. Tâm linh của chúng ta là một tâm linh của người hành hương. Thánh Kinh có đầy những câu chuyện về những người hành hương và những kẻ du hành. Ơn gọi của Abraham bắt đầu bằng lệnh truyền này: "Hãy rời bỏ xứ sở của ngươi" (Khởi Nguyên 12:1). Vị Tổ Phụ này đã bỏ phần đất thế giới mà ông đã quá quen thuộc và đã từng là một trong những cái nôi văn minh ở thời của ông. Hết mọi sự đều liên kết phản nghịch lại với cảm quan tốt đẹp về cuộc hành trình này. Tuy nhiên Abraham vẫn lên đường. Chúng ta không trở thành những con người nam nữ trưởng thành nếu chúng ta không thấy được cái thu hút của chân trời là chỗ gặp nhau giữa trời và đất, nơi cần phải vươn tới bởi thành phần những kẻ tiến bước.

Trong cuộc hành trình trần thế của mình, con người không bao giờ lẻ loi cô độc. Kitô hữu đặc biệt không bao giờ cảm thấy bị bỏ rơi, vì Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng Người chẳng những chờ đợi chúng ta ở cuối cuộc hành trình lâu dài của chúng ta mà Người còn hỗ trợ chúng ta mọi ngày sống của chúng ta............

Nếu chúng ta chỉ tin tưởng vào sức mạnh của chúng ta mà thôi, chúng ta chắc chắn sẽ có lý do để cảm thấy thất vọng và thua bại, vì thế giới này thường tỏ ra bướng bỉnh đối với lề luật yêu thương. Rất thường xẩy ra chuyện chúng ta yêu thích các thứ luật vị kỷ hơn. Tuy nhiên, nếu niềm tin tưởng này tồn tại trong chúng ta là Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta, Thiên Chúa yêu thương chúng ta và thế giới này mỏng dòn, thì chúng ta lập tức thay đổi quan niệm. Người xưa đã nói: "Homo viator, spe erectus - con người lữ hành, hy vọng trung kiên". Lời Chúa Giêsu hứa "Thày ở cùng các con" trong cuộc hành trình là những gì khiến chúng ta đứng, thẳng đứng, bằng niềm hy vọng, tin tưởng rằng vị Thiên Chúa nhân lành đã hoạt động để thực hiện những gì bất khả nơi loài người rồi, vì cái neo này đang ở vùng vịnh nước trời (heaven's beach).

Thành phần dân thánh trung thành của Thiên Chúa là thành phần đứng - "homo viator" - và bước đi, thế nhưng thẳng đứng, "erectus", và bước đi trong niềm tin tưởng cậy trông. Bất cứ nơi nào họ tới, họ đều biết rằng tình yêu thương của Thiên Chúa đã đi trước họ: không có một phần nào của thế giới này thoát khỏi cuộc vinh thắng của Chúa Kitô Phục Sinh. Mà cuộc vinh thắng của Chúa Kitô Phục Sinh là gì? Đó là cuộc vinh thắng của tình yêu. Xin cám ơn anh chị em.

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-gods-promise- that-gives-hope/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

-----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 368 = THANH CLEOPHAS LA AI? PDF Print E-mail

THÁNH CLEOPHAS LÀ AI ?

Thánh sử Luca cho biết rằng có hai người đàn ông đang trên đường đi Emmau ngày Chúa Nhật phục sinh thì Đức Kitô hiện ra với họ và làm cho họ nhận ra Ngài khi Ngài bẻ bánh. Một trong hai ông là Cleophas (Cơ-lê-ô-pát).

Đây là đoạn Phúc Âm theo Thánh sử Luca:

Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?". Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cleophas trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay" (Lc 24:13-18).

Cleophas là ai? Cornelius Lapide đã dẫn chứng lời của Thánh Giêrônimô nói rằng Thánh Cleophas là EM TRAI CỦA THÁNH GIUSE (Phu Quân của Đức Maria), là cha của Thánh Giacôbê Nhỏ và Thánh Giuđa (Tađêô), đồng thời là ông của Thánh Giacôbê Lớn và Thánh Gioan – hai con của Thánh Maria Salômê, con gái của Thánh Cleophas".

Chúng ta cùng xem xét:

1. Cleophas là em của Thánh Giuse và là em rể của Đức Mẹ (Thánh Giêrônimô nói vậy).

2. Cleophas là cha của Tông đồ Giacôbê Nhỏ (Hậu), Tông đồ Giuđa (Tađêô) và Maria Salômê.

3. Cleophas là ông của Tông đồ Giacôbê Lớn (Tiền) và Tông đồ Gioan vì Maria Salômê (con gái của Cleophas là mẹ của Tông đồ Giacôbê Lớn và Tông đồ Gioan.

Điều này làm cho Thánh Cleophas trở thành cha củahai Tông đồ và ông của hai Tông đồ khác. Điều này cũng cho biết rằng Thánh Giacôbê Nhỏ và Thánh Giuđa (Tađêô) là hai ông chú của Thánh Giacôbê Lớn và Thánh Gioan.

Danh sách tử đạo củaGiáo Hội Công Giáo xác định ngày tháng tử đạo của Thánh Cleophas là ngày 25 tháng 9, do chính quyền Do Thái tại Giuđê.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Cantuar.blogspot.com)

Kính chuyển:

Hồng
------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 367 =CON NGUOI DUOC TU DO PDF Print E-mail

CON NGƯỜI CÓ THỰC SỰ ĐƯỢC TỰ DO VỀ MẶT THIÊNG LIÊNG KHÔNG ?

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

Hỏi :

Xin cha giải thích giúp : người ta có thực sự được tự do trong việc chọn lựa sống theo Chúa hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng mình ?

Trả lời :

Tôi đã hơn một lần nói rõ là con người có ý muốn tự do ( free will) để hoặc chọn sống theo đường lối của Thiên Chúa để được chúc phúc, và nhất là được cứu độ để vào Nước Trời, nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Giê su-Kitô., hay phải xa Chúa đời đời trong nơi gị là hỏa ngục.

Thật vậy, vấn đề tự do của con người được đặt ra vì có liên quan mật thiết đến sự thưởng phạt của Thiên Chúa dành riêng cho mỗi người trong ngày sau hết của một đời người hay trong ngày cánh chung của toàn thể nhân loại, tức ngày tận thế..

Nghĩa là , việc thưởng phạt của Thiên Chúa chỉ đặt riêng cho con người là tạo vật có lý trí và ý muốn tự do, khác biệt với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn mà thôi.

Vậy căn cứ vào đâu để quả quyết rằng con người có ý muốn tự do mà Thiên Chúa đã ban tặng và hoàn toàn tôn trọng cho con người xử dụng bao lâu còn sống trên trần thế này ?

Đúng thế,Thiên Chúa đã tạo dựng con người với hai đặc tính cá biết khác với mọi loài thụ tạo khác. Đó là có trí hiểu biết và ý muốn tự do ( Intelligence and free will) mà Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con người. Nhờ trí khôn hiểu biết, con người khám phá ra Thiên Chúa qua công trình sáng tạo vụ trụ hữu hình và đặc biết là tạo dựng con người là loài " linh ư vạn vật". Nhờ quà tặng ý muốn tự do, Thiên Chúa tôn trọng cho con người được tự do chọn lựa sống theo lý trí , theo đường ngay lẽ phải hay theo đường nẻo gian tà bất chính.Nói khác đi, khi đã nhận biết có Thiên Chúa thì con người có muốn sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo ý muốn của riêng mình trong suốt đời sống trên trần gian này.

Để trả lời cho câu hỏi trên , Kinh Thánh tân và cựu ước cho ta những bằng chứng cụ thể về tự do của con người như sau:.

Trước hết , Sách Sáng Thế, cho ta biết, khi Thiên Chúa muốn thử thách tự do vâng phục của Adam và Eva, nên Người đã phán bảo họ như sau :

" Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái cây của cây cho biết điều thiện điều ác Thì ngươi không được ăn ;vì ngày nào ngươi ăn, ngươi sẽ phải chết. " ( St 2:16-17).

Kết quả cho thấy là hai ông bà đã tự do chọn không vâng phục Thiên Chúa khi họ ăn trái cấm theo lời dụ dỗ của con Rắn.Phải nói họ tự do chọn lựa không vâng phục Thiên Chúa nên họ đã
chịu hậu quả trước tiên là " măt hai người mở ra và họ thấy mình trần truồng , họ mới kết lá và làm khố che thân." (St 3:7)

Nhận biết mình trần truồng là hậu quả nhãn tiền sau khi đã đánh mất " sự ngây thơ , công chính ban đầu (original innocence and justice)"..một tình trạng ơn phúc giúp cho Adam và Eva có thể đứng vững trước mọi cám dỗ của xác thịt và ma quỉ. Nhưng họ đã tự đánh mất ơn phúc đó khi sa ngã vì đã sử dụng " ý muốn tự do =( free will) chứ không vì bản chất yếu đuối do hậu quả của tội nguyên tổ như con người chúng ta ngày nay.

Chính vì Eva đã sử dụng ý muốn tự do khi nghe lời dụ dỗ của con rắn để ăn trái cấm và đưa lại cho Adam ăn khiến hai người bị đuổi khỏi vườn địa đàng và chịu hậu quả của sự bất phục tùng Thiên Chúa là phải chết về mặt thiêng liêng vì mất tinh thân với Chúa.

Ngược lại, khi Thiên Chúa thử thách lòng tin yêu của Abraham bằng cách đòi ông hy sinh con một của mình là I-xa-ác, ông đã xử dụng ý muốn tự do để quyết định tuân theo ý muốn của Thiên Chúa khi dẫn con lên núi và định giết nó làm lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa. Nhưng Chúa đã kịp thời sai Sứ thần can thiệp để cứu mang sống của I-xa-ác vì đã thấy lòng tin yêu của Abraham. Chính vì ông đã tự do chọn lựa vâng theo thánh ý Chúa, nên Chúa đã phán bảo ông như sau:

" Ta lấy danh Ta mà thề : bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi đông nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển....chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta." (St 22: 15-18)

Như thể đủ cho thấy là ngay từ đầu Thiên Chúa đã cho con người có tự do thực sự để vâng nghe lời Người như Abraham hay bất tuân như Adam và Eva khiến cho toàn thể nhân loại phải chịu chung hậu quả của sự chọn lựa sai trái của hai người .

Nếu con người không có tự do lựa chọn và chỉ biết làm theo mệnh lệnh như những người máy Robbots thì Thiên Chúa đã không nói trước cho Adam và Eva biết về hậu quả mà họ sẽ phải lãnh nhận nếu họ ăn trái cấm.

Vì cho họ có tự do lựa chọn nên Thiên Chúa đành để cho hai người phải chịu hậu quả của sự bất tuân là mất tình thân với Chúa và di hại đến toàn thể nhân loại cho đến ngày nay.

Mặt khác, cũng vì Thiên Chúa cho con người có tự do và tôn trọng cho con người sử dụng tự do đó mà Thiên Chúa đã ban những Giới Răn của Người cho dân Do Thái trước tiên và cho toàn thể nhân loại ngày nay-nói chung- được tự do tuân giữ để được chúc phúc hay tự do bất tuân để bị luận phạt như ông Môsê đã nói với dân Do Thái xưa kia như sau:

" Anh em hãy lo thực hành như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em .Không đi trệch bên phải bên trái.Anh em hãy đi đúng con đường mà ĐỨC CHÚA,Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em để anh em được sống, được hạnh phúc và được sống lâu trên mặt đất mà anh em đã được chiếm hữu." ( Đnl 5: 32-33)

Như thể cho thấy rõ là nếu con người sử dụng ý muốn tự do của mình để tuân giữ những giới răn của Thiên Chúa thì sẽ được chúc phúc ngay trong cuộc sống ở trần gian này trước khi được vui hưởng Thánh Nhan Chúa mai sau trên Nước Trời.

Cũng trong mục đich hướng dẫn con người biết khôn ngoan chọn lựa khi sống trên đời này mà tác giả sách Huấn Ca ( Sirach) đã được linh ứng (inspired) để đưa ra những lời khuyên nhủ như sau :

" Từ nguyên thủy, chính Chúa đã làm nên con người.

Và để nó tự quyết định lấy

" Nếu con muốn thì hãy giữ các điều răn
mà trung tín làm đẹp ý Người
Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước
Con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy
Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử
Ai thích gì sẽ được cái đó..." ( Hc 15: 14-17)

Lời khuyên trên cho ta thấy rõ là con người có tự do để làm điều lành và tránh điều dữ, điều trái với lương tâm , một cơ năng mà Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con ngươi để nhờ đó con người ở khắp nơi và thuộc mọi chủng tộc ngôn ngữ biết phân biện giữa sự thiện và sự dữ để chọn lựa trong cuộc sống trên trần gian này.

Đó cũng là lý do tại sao Chúa Giê su đã nói với các môn đệ xưa và cung nói với bạn và tôi hôm nay:

" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa ! lậy Chúa"! là được vào Nước Trời cả đâu.Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." Mt 7: 21)

Thi hành ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa là xử dụng ý muốn tự do tự do để chọn sống theo ý muốn của Cha trên trời , sồng theo đường lối của Người là đường dẫn đến sự sống muôn đời; thay ví sống theo thế gian, chiều theo những đòi hỏi bất chánh của xác thịt để làm những sự dữ như giết người, giết thai nhi ,hận thù, khủng bố, tôn thờ tiền của, buôn bán thân xác của phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi như thực trạng sống của biết bao người trong thế giới tục hóa ngày nay.

Đó là lý do phải có Thiên Đàng để dành cho những người tự do sống theo đường lối của Chúa và phải có hỏa ngục để dành cho những kẻ khước từ Chúa để làm những sự dữ sự tội điều gian ác , tội lỗi dẫn đến sự chết của linh hồn vì phải xa lìa Chúa trong nơi gọi là " hỏa ngục". Thiên Chúa không muốn phạt ai trong nơi đáng sợ này vì ' Người muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1 Tm 2 :4) ).

Nhưng vì con người có tự do để chọn lựa sống theo thánh ý Chúa hay quay lưng lại với Người nên những ai đã và đang chối bỏ Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình từ trong tư tưởng ra ngoài hành động thì chắc chắn đã tự chọn cho mình chỗ ở cuối cùng là hậu quả tất nhiên của ý muốn tự do ( free will). Nói khác đi,, nếu ai muốn dùng tự do của mình để theo đuổi một mục tiêu nào thì sẽ phải trả giá cho sự chọn lựa đó như Thánh Phaolô đã dạy sau:đây:

" Anh em không biết sao ? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai thì anh em là nô lệ của người mà anh em vâng phục : hoặc làm nô lệ tội lỗi thì sẽ phải chết, hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa thì sẽ được nên công chính." ( Rm 6: 16)

Tuy nhiên ,cũng cần nói thêm ở đây một lần nữa là mặc dù con người có tự do để quyết định làm điều lành tránh điều gian ác, điều tội lỗi, nhưng tự do ấy cũng bị hạn chế vì bản chất yếu đuối nơi con người do hậu quả của tội nguyên tổ. Nghĩa là, con người luôn bị dằng co giữa tiếng nói của lương tâm, của lý trí và những khuynh hướng hay thế lực nghiềng chiều về đường xấu , đường tội lỗi vẫn hoạt động song song và mạnh mễ bên cạnh lương tâm và lý trí. Đó chính là tình trạng "mâu thuẫn" mà con người luôn phải tranh đấu trong nội tâm để có thể sống theo sự dướng dẫn của lý trí và lương tâm để biết dùng tự do của mình cách chính đáng, hữu ích.

Thánh Phaolô cũng đã trải qua kinh nghiệm "khó khăn nội tâm" đó nên ngài đã phải thú nhận như sau :

" Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm., nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó nhưng là tội vẫn còn trong tôi." (Rm.7 : 19-20)

Chính vì những khó khăn nội tại như vậy , kèm thêm sự cám dỗ mãnh liết của ma quỉ " kẻ thù của anh em như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" ( 1 Pr 5:8), như Thánh Phêrô đã dạy, nên cho được đứng vững để tự do bước đi theo Chúa Kitô là Đường, là sự Thật và là sự Sống( cf.Ga 14:6) chúng ta khẩn thiết phải cần ơn Chúa để có thể can đảm chọn lựa những gì hữu ích cho phần rỗi của mình , vì " không có Thầy, anh em chẳng làm gì được." ( Ga 15: 5). Nghĩa là với ơn Chúa giúp sức cộng thêm thiện chí đóng góp của cá nhân thì con người sẽ thắng vượt mọi trở ngại và biết sống cách đẹp lòng Chúa để được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn; vì Người là Cha nhân lành đầy lòng thương xót và luôn sẵn lòng ban ơn cần thiết cho những ai muốn sống theo đường lối của Người để đi vào cõi sống hạnh phúc muôn đời mai sau trên Nước Trời..

Nhưng cho được cứu rỗi nhờ công nghiệp vô giá của Chúa Kitô, chúng ta cần tỏ thiện chí muốn dùng tự do để cộng tác với ơn Chúa trong quyết tâm từ bỏ tội lỗi, xa tránh những lối sống của " văn hóa sự chết" đang lan tràn ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Nếu không có thiện chí và quyết tâm này thì Chúa không thể cứu ai được, vì Người phải tôn trọng tự do của con người : tự do đi đường sai trái gian tà hay tự do đi theo Chúa dẫn đến sự sống và hạnh phúc bất diệt trên cói vĩnh hằng.

Tóm lại, bằng chứng Kinh thánh nêu trên đủ cho ta biết con người có tự do thật sự để yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự, hay tự do khước từ Người , dủng dưng lời Chúa mời gọi vào tham dự Bàn Tiệc Nước Trời đã dọn sẵn cho những ai muốn hưởng niềm vui bất tận là chính Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Kitô.

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

--------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO# 366 =NIEM TIN VA CAY TRONG PDF Print E-mail

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GIÁO LÝ VỀ NIỀM TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG

BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 19-4-2017

Bài 19

"... một biến cố bất khả chối cãi, một biến cố không phải là thành quả suy niệm của một con người khôn ngoan nào đó, mà là một sự kiện, một sự kiện đơn thuần đã can thiệp vào đời sống của một số người. Kitô giáo được phát xuất từ đó. Nó không phải là một ý hệ; nó không phải là một trường phái triết lý, mà là một hành trình đức tin được bắt đầu từ một biến cố, một biến cố được các người môn đệ tiên khởi của Người chứng kiến thấy".

"Kitô giáo là ân ban, là những gì ngỡ ngàng bàng hoàng, và vì thế mới cần có một tấm lòng có khả năng về những gì bàng hoàng ngỡ ngàng. Một con tim khép kín, một con tim lý sự thì không thể cảm thấy bàng hoàng ngỡ ngàng, và không thể nào hiểu được bản chất thế nào là Kitô giáo".

Xin chào anh chị em thân mến!

Hôm nay chúng ta gặp gỡ nhau trong ánh sáng của Lễ Phục Sinh, một lễ chúng ta đã cử hành và tiếp tục cử hành bằng phụng vụ. Trong hành trình về niềm tin tưởng cậy trông Kitô giáo, hôm nay tôi muốn nói với anh chị em về Chúa Kitô Phục Sinh, niềm tin tưởng cậy trông của chúng ta, như Thánh Phaolô cho thấy về Người ở Bức Thư Thứ Nhất gửi Giáo Đoàn Corintô (xem Đoạn 15).

Vị Tông Đồ này muốn ổn định một vấn đề thật sự đã trở thành tâm điểm bàn luận ở cộng đồng Corintô này. Vấn đề Phục Sinh là vấn đề tranh cãi cuối cùng được đề cập đến trong bức thư này, thế nhưng, có lẽ, theo thự tự tính cách quan trọng của vấn đề thì nó lại là vấn đề quan trọng nhất, ở chỗ hết mọi sự đều lệ thuộc vào giả định này.

Khi nói với thành phần Kitô hữu của mình, Thánh Phaolô bắt đầu từ một biến cố bất khả chối cãi, một biến cố không phải là thành quả suy niệm của một con người khôn ngoan nào đó, mà là một sự kiện, một sự kiện đơn thuần đã can thiệp vào đời sống của một số người. Kitô giáo được phát xuất từ đó. Nó không phải là một ý hệ; nó không phải là một trường phái triết lý, mà là một hành trình đức tin được bắt đầu từ một biến cố, một biến cố được các người môn đệ tiên khởi của Người chứng kiến thấy. Thánh Phaolô đã tóm gọn nó như thế này, đó là Chúa Giêsu đã chết vì tội lỗi của chúng ta, đã được chôn táng và vào ngày thứ ba Người đã sống lại và hiện ra với Phêrô cũng như với 12 Vị (xem 1 Corinto 15:3-5). Đó là một sự kiện: Người đã chết, đã được chôn táng, đã sống lại và đã hiện ra, tức là Chúa Giêsu đang sống! Đó là tâm điểm của sứ điệp Kitô giáo.

Khi loan báo biến cố này, một biến cố là tâm điểm của đức tin, Thánh Phaolô trên hết đã nhấn mạnh đến yếu tố cuối cùng của mầu nhiệm vượt qua, tức là đến Chúa Giêsu phục sinh. Thật vậy, nếu mọi sự được kết thúc ở nơi cái chết thì chúng ta thấy ở nơi Người một tấm gương hy hiến cao cả nhất, thế nhưng điều này không làm phát sinh ra đức tin của chúng ta. Người là một vị anh hùng. Không phải thế! Người đã chết nhưng lại phục sinh vì đức tin xuất phát từ biến cố Phục Sinh. Việc chấp nhận Chúa Kitô đã chết đi và Người đã chết trên thập tự giá, không phải là một tác động đức tin; nó là một sự kiện lịch sử. Trái lại, việc tin tưởng Người đã phục sinh mới là (tác động đức tin). Đức tin của chúng ta được xuất phát từ sáng Phục Sinh. Thánh Phaolô đã liệt kê những con người được Chúa Giêsu hiện ra (xem các câu 5-7). Ở đây chúng ta có một tổng hợp nho nhỏ về tất cả những trình thuật vượt qua cũng như về tất cả những người liên hệ tới Đấng Phục Sinh. Ở đầu bảng liệt kê là Cephas, tức Phêrô, và nhóm 12, sau đó tới "500 anh em" mà nhiều người trong họ có thể cống hiến chứng từ của mình, rồi Giacôbê được đề cập tới. Người cuối cùng trong bảng liệt kê này - vì bất xứng nhất trong tất cả mọi người - là chính bản thân thánh nhân. Thánh Phaolô nói về mình như là "một kẻ sinh non" (xem câu 8).

Thánh Phaolô sử dụng việc bày tỏ này là vì tiểu sử của ngài là một lịch sử thê thảm: ngài không phải là một chú giúp lễ, mà là một tên bắt bớ Giáo Hội, hãnh diện về những niềm xác tín của mình; ngài cảm thấy mình như là một con người đã được sinh ra, với một ý nghĩa rất thanh khiết về đời sống phải ra sao theo các phận vụ của nó. Tuy nhiên, nơi bức tranh toàn vẹn này - hết mọi sự đều toàn hảo nơi Phaolô, chàng đã biết hết mọi sự - nơi bức tranh toàn hảo về đời sống này, một ngày kia có điều đã xẩy ra hoàn toàn bất ngờ, đó là cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu Phục Sinh, trên đường đến Damasco. Ngài chẳng những là một con người bị ngã xuống đất ở đó, ngài còn là một con người bị chộp bắt bởi một biến cố đã làm đảo lộn ý nghĩa của cuộc đời. Thế rồi kẻ bách hại đã trở thành một vị Tông Đồ, tại sao? Vì tôi đã thấy Chúa Giêsu đang sống! Tôi đã từng thấy Chúa đang sống! Đó là nền tảng của đức tin nơi Thánh Phaolô, như nó là nền tảng đức tin của các vị Tông Đồ khác, của Giáo Hội và của đức tin chúng ta...........

Là Kitô hữu nghĩa là không bắt đầu từ sự chết mà từ tình yêu thương của Thiên Chúa đối với chúng ta, tình yêu thương đã đánh bại kẻ thù dữ dội nhất của chúng ta. Thiên Chúa là Đấng cao cả lớn lao hơn tất cả mọi sự, và chỉ cần người ta thắp nến lên thì đủ xua tan tăm tối nhất của đêm đen. Thánh Phaolô đã kêu lên, âm vang lời của các vị tiên tri, đó là "Ôi sự chết, chiến thắng của người ở đâu? Ôi sự chết, cái nọc chết chóc của người đâu rồi?" (câu 55). Trong những ngày này, chúng ta hãy ấp ủ trong lòng mình tiếng kêu ấy. Và nếu chúng ta được hỏi về lý do tại sao chúng ta tươi cười và về việc chúng ta nhẫn nại chia sẻ thì chúng ta có thể đáp lại rằng Chúa Giêsu vẫn ở nơi đây, Người tiếp tục sống giữa chúng tôi, Chúa Giêsu đang ở nơi đây, tại Quảng Trường này, với chúng tôi: Người đang sống và đã sống lại.

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-risen-christ- our-hope/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 81