mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay56
mod_vvisit_counterHôm Qua7444
mod_vvisit_counterTuần Này53004
mod_vvisit_counterTuần Trước74511
mod_vvisit_counterTháng Này32141
mod_vvisit_counterTháng Trước295164
mod_vvisit_counterTất cả19138687

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

XIN GIẢI THÍCH RÕ THÊM VỀ NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO, ANH GIÁO VÀ TIN LÀNH

Hỏi:
Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.
Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống, Anh Giáo và Tin Lành.

Trả lời:
Như đã giải thích trong bài trước, Đạo Thánh của Chúa Kitô và Giáo Hội duy nhất của Chúa xây trên Đá Tảng Phểrô,qua thời gian, đã bị rạn nứt hay ly giáo ( schisms) phân chia thành ba Nhánh Kitô Giáo là Công Giáo Roma (The Roman Catholicism ) , Chính Thống Giáo Đông Phương ( Eatern Orthodox Churches) và Tin Lành ( Protestantism).Đây là hậu quả của những cuộc cải cách tôn giáo xảy ra vào thế kỷ XVI ở Tây Phương đã ,làm phát sinh các Giáo giáo trên đây.
Thật vậy, từ đầu, chỉ có Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) trong Giáo Hội nói chung. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Communion) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) đã không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.
Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa bốn Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I-Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) thé nào ?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp là " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn Kitô đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo.
Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople ( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)
Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 7 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô XVI ( đã về hưu năm 2013) đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo. Dầu vậy, một biến cố mới xẩy ra trong năm 2016 là Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp Thượng Phụ Giáo Hội Chính Thông Nga tại MỄ TÂY CƠ (Mexico), nhưng kết quả của cuộc gặp gỡ lịch sử này giữa hai vi lãnh đạo Công Giáo và Chính Thống Nga không được công bố sau đó.Nhưng đây là một dấu chỉ tích cực giữa hai Giáo Hội anh em muốn hiệp nhất với nhau trong cùng một niềm tin vào Chúa Kitô.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây năm 1054.

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- đã bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".
Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử năm 1966 giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người dự tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.
Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu của Chính Thống nếu không tìm được nhà thờ Công Giáo hay linh mục Công giáo khi cần..

2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Viêt Nam.

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: các Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (permanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã cho đến nay.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).
Vì Chính Thống Giáo có đủ bảy bí tích hữu hiệu, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu ở nhà thờ và các linh mục Chính Thống, nếu không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo nơi mình cư ngụ.

II- Tin lành ( Protestantism)Anh Giáo ( Anglican Communion) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó.Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism)nói trên. Một đặc điểm của các giáo phải Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Roma cho đến các giáo hội địa phương ở mỗi quốc gia.Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, nhân sự, tài chính và phương thức hành đạo.

1-Ở góc độ thần học,
Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị.Do đó, chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).
Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ:
"không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi vẫn ra vô ích.
Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình
Là bí tích hòa giải mà các giám mục và linh mục Công Giáo được phép tha tội cho các hối nhân nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi).
,
Lại nữa, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng Kinh thánh., Nhưng đó không phải là cử hành Bí Tích Thánh Thể ( Eucharist) như trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương.. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng Kinh Thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo Hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi Ai dưới đất là Cha, là Thầy .". anh em Tin Lành hiểu lời Chúa trong ngữ cảnh (context) câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công Giáo là 'lạc giáo=heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô
kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ
của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành và Anh giáo.
Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành và Anh giáo đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện (Vicar) duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.
Chính vì không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô nên đây là trở ngại lớn cho các nhánh Tin Lành và Anh giáo muốn hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo.

3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành và Anh Giáo đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession)- và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường dân ( Martin Luther, John Calvin..Henry VIII) chứ không phải là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của Chúa trên Đá Tảng Phêrô.( Mt 16: 18-19) và " Giáo Hội này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phê rô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển" như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã tuyên bố. ( x. LG. số 8). Cho nên các nhánh Tin Lành và Anh giáo đều không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm Tin Lành và Anh Giáo chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullah và Marmonites ở Mỹ , thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự tòng.(catechumens). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi
III-Anh Giáo ( Anglican Communion)
Nhóm Kitô Giáo này do Vua Henry VIII của Nước Anh tự tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Roma từ năm 1534 vì nhà vua bất mãn với Đức Thánh Cha Clemente VII, đã không cho phép ông li dị để lấy vợ khác.Nhóm này khác biệt với Giáo Hội Anh Quốc ( The Church òf England) Là Giáo Hội hiệp thông và vâng phục Giáo Hội Công Giáo Roma do Đức Thánh Cha làm Thủ Lãnh với sự hiệp thông và vâng phục trọn vẹn của các Giáo Hội Công Giáo địa phương ở khắp nơi trên thế giới.Người lãnh đạo Nhóm Anh Giáo nói trên là Vua Nứớc Anh ( nay là Nữ Hoàng Elizabeth II).Vì không có nguồn gốc Tông Đồ, nên Anh Giáo không có các Bí Tich hữu hiệu như Công Giáo, trừ Phép Rửa mà Anh Giáo có chung với các nhóm Tin Lành và với Công Giáo.Vì không có các Bí Tích Thánh Thể và Hòa Giải hữu hiệu nên các linh mục Anh Giáo không thể cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn ( The Eucharist) hữu hiệu như Công Giáo được. Cho nên, các tín hữu Công Giáo không được tham dự Lễ của các linh mục Anh Giáo để thay cho lễ của Công Giáo, cũng như không thể đi xưng tội với các linh mục Anh Giáo vì họ không có Bí Tich hòa giải ( Reconciliation) hữu hiệu như Công Giáo.Sau hết, nếu các linh mục và giám mục Anh Giáo trở lại Công Giáo thì họ phải được huấn luyện lại và chiu chức lại trong Giáo Hội Công Giáo, vì Công Giáo không nhìn nhận các bí tích của Anh giáo trừ Phép Rửa.Chỉ có một đặc ân cho các linh mục Anh Giáo là họ được phép giữ vợ con sau khi được chịu chức linh mục trong Giáo Hội Công Giáo.Các tín hữu Anh Giáo thì phải tuyên xưng đức tin khi họ gia nhập Giáo Hội Công Giáo.Họ không cần được rửa tội lại vì Công Giáo nhìn nhận Phép Rửa của Anh Giáo.Chỉ có những ai không được rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi ( Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullad và Marmonites bên Mỹ thì mới phải được rửa tội lại khi họ gia nhập Giáo Hội Công Giáo mà thôi.
Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo,Chính Thống Giáo, Tin Lành và Anh Giáo nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng chưa hiệp thông (communion) và hiệp nhất ( unity) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Tông đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Roma, người kế vị Thánh Phêrô trong trách nhiệm coi sóc và lãnh đạo Giáo Hội với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn. (College of Bishops) hay của các Giáo Hội Công Giáo địa phương ở các quốc gia trên thế giới.Amen.
Ươc mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.
DMin( Doctor of Ministry=Tiến Sĩ Sứ Vụ),Ph.D ( Tiến sĩ Triết Học )

--------------------------------

 
HỌC HỔI ĐỂ SỐNG ĐẠO- LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

BÍ TÍCH THÁNH TẨY (RỬA TỘI) QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT RA SAO CHO MU ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ VÀO NƯỚC TRỜI MAI SAU ?
Hỏi :
Xin cha giải đáp thêm về tầm quan trong của Phép Rửa để được cứu rỗi. nhân Lễ Chúa Giê su chịu phép rửa của Thánh Gioan Tẩy Giả tại sông JORDANO xưa.
Đáp:
Cứu rỗi là vấn đề quan trọng nhất đối với những ai tin có Thiên Chúa, tin có sự sống đời đời sau khi phải chết đi trong thân xác có ngày phải chết này.
Chúa Kitô là Thiên Chúa đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi một Thiên Chúa ( Three Persons One God=The Holy Trinity) . Vì thương nhân loại tội lỗi, Chúa Kitô đã quên mình là Thiên Chúa để đến trần gian trong thân phận CON NGƯỜI, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần để hy sinh chịu chết trên thập giá làm giá cứu chuộc cho "muôn người được cứu rỗi." ( Mt 20:28)
Như thế , ai muốn được cứu rỗi đều phải cậy nhờ Công Nghiệp Cứu Chuộc vô giá của Chúa Kitô
Cũng nhờ đức tin, chúng ta tin có Thiên Chúa là Đấng tạo dựng con người với muôn loài muôn vật, hữu hình và vô hình, là Cha rất nhân lành, và là "Đấng cứu độ chúng ta Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý" ( 1Tm2:4)
Như vậy, chúng ta là những người rất may mắn có được niềm tin đó nên phải vui mừng về hy vọng được cứu rỗi là hy vọng được sống hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa trên Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình con người trên trần thế này.
Cho hy vọng đó, Phép Rửa là cửa ngõ dẫn con người đến sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu nói trên.
Thật vậy, Phép Rửa vô cùng quan trọng và cần thiết căn cứ vào chính những lời Chúa Giêsu đã nói về Phép Rửa như sau:
Trước hết, khi Ni- Cô- đê Mô, một người biệt phái đến thăm Chúa vào buổi tối một đêm kia, Chúa Giê su đã nói với ông thế này:
" không ai có thể vào Nước Trời nếu không được sinh ra bời nước và Thần Khí" ( Ga 3:5)
Sau khi hoàn tất công cuộc cứu chuộc con người qua khổ hình thập giá, chết và sống lại, trước khi về Trời, Chúa cũng đã nới với các môn đệ Người như sau:
" Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu rỗi. Ai không tin sẽ bị luận phạt." ( Mc 16:16)
Như thế đủ cho ta thấy Phép Rửa quan trọng và cần thiết ra sao cho sự cứu rỗi của con người. Quan trọng, vì qua Phép Rửa, con người được tái sinh trong sự sống mới, trở nên tạo vật mới và có hy vọng được cứu rỗi, nếu người được rửa tội thực thi những cam kết khi được rửa tội ( baptismal promises) : đó là yêu mến Chúa trên hết mọi sự, yêu thương tha nhân như chính mình , và từ bỏ ma quỷ để không phạm tội mất lòng Chúa là Đấng gớm nghét mọi tội lỗi và sự dữ, như ; giết người , phá thai , trộm cướp , thù hận, bất công, cờ bạc và dâm ô thác loạn.. nhất là buôn bán phụ nữ và trẻ nữ để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi như thực trạng sống của biết bao người trên thế giới phi luân và tục hóa ngày nay.
Được rửa tội rồi , thì phải sống những cam kết khi được rửa tôi. Nghĩa là, thực thi hai diều răn lớn nhất mà Chúa Giê su đã nhắc lại là mến Chúa và yêu người ,sống theo đường lối của Chúa, là đường dẫn đưa đến hạnh phúc vĩnh cửu .Nếu không thì ơn Phép Rửa sẽ trở nên vô hiệu quả cho ai đã lãnh nhận khi còn bé, hay là người tân tòng sau này.
Nói rõ hơn nữa, không phải cứ được rửa tội là đương nhiên được cứu độ, là chắc chắn được vào Nước Trời để vui hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa là nguồn tình yêu, an vui, và hạnh phúc.
Rửa tội chỉ là bước đầu cần thiết cho tiến trình được cứu rỗi mà thôi.Tiến trình này kéo dài trong suốt cuộc đời của người được rửa tội cho đến ngày lìa đời. Do đó, ai trung thành và kiên trì sống đức tin, đức cậy và đức mến – tức là kiên tâm sống những cam kết khi được rửa tội thì sẽ được cứu rỗi. Ngược lại, rửa tội rồi mà lại sống mâu thuẫn với những cam kết nói trên , để sống theo thế gian, chối bỏ Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình để làm những sự dữ như oán thù, giết người giết thai nhi, trộm cướp, bất công, bóc lột , dâm ô thác loạn...thì Phép Rửa và cả công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô sẽ hoàn toàn vô ích cho những ai sống như vậy.
Thử hỏi những kẻ đang giết người , chặt đầu con tin (hostages) ,hãm hiếp phụ nữ đốt phá nhà cửa của người khác, như bọn cuồng tín Hồi giáo ( ISIS) đang làm ở Trung Đông, những kẻ tham quyền cai trị để hà khắc bóc lột, bất công với dân và vơ vét của cải làm giầu cho tập đoàn cai trị, mở sòng bài bạc để kiêm tiền cách bất chính cùng với bọn buôn người, buôn bán phụ nữ và trẻ gái để cung cấp cho bọn ma cô, tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, thì làm sao bọn người này có thể được cứu độ , Nếu chúng cứ làm những sự dữ đó mà không biết sám hối ăn năn để từ bỏ và xin Chúa tha thứ ?
Rất có thể có những kẻ đã được rửa tội khi còn bé, nhưng nay đang làm những sự dữ nói trên mà không biết ăn năn sám hối để xin Chúa thứ tha, thì Phép rửa có ích gì cho chúng ?
Thiên Chúa là tình thương, chậm bất bình và hay tha thứ, nhưng rất gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi xúc phạm bản chất yêu thương, công bình và thánh thiện của Người.Tuy ghét tội, nhưng Chúa lại yêu thương kẻ có tội biết ăn năn và xin tha thứ.
Vì thế, cho được cứu rỗi thì phải sống sao cho phù hợp với niềm tin có Chúa và thực hành đức tin ấy qua việc tuân thủ những cam kết khi được rửa tội thì mới xứng đáng được hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian để " hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28)
Nói khác đi, không phải cứ tuyên xưng mình là người Công Giáo, hay Kitô Giáo đã chịu phép Rửa , là đương nhiên được cứu độ để vào Thiên Quốc. Ngược lại, đươc cứu độ hay không, còn tùy thuộc thiện chí của mỗi cá nhân muốn cộng tác với ơn cứu độ qua quyết tâm đi theo Chúa Kitô là "con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống". ( Ga 14:6)
Bước đi theo Chúa Kitô là thực tâm sống theo đường lối của Chúa để được hưởng nhờ công ơn cứu độ của Người. Đó là lý do tại sao Chúa đã nói với các môn đệ Người như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa! lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, mà chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)
Thi hành ý muốn của Chúa Cha là thực hành những điều Chúa Con đã rao giảng , dạy đỗ , cụ thể là thi hành hai Điều Răn lớn nhất là mến Chúa và yêu người như Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ và dân chúng xưa, cùng tất cả chúng ta ngày nay:
" Ai yêu mến Thầy , thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha cúa Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy." ( Ga 14 :23)
Như thế, tuân giữ- hay thực hành lời Chúa - là cách chứng mình hùng hồn nhất CHO niềm tin và lòng yêu mến Chúa của mọi người tín hữu chúng ta đang sống trong một thế giới điên loạn, vì con người không có niềm tin -hay có mà không sống niềm tin ấy- nên đã thi nhau làm những sự dữ ở khắp nơi trong thế giới tục hóa, vô luân vô đạo ngày nay.
Mặt khác, như tôi đã nói trong bài trước đây, nếu những người vô tình hoặc không được ai nói cho biết về Chúa Kitô và về Phép Rửa, nên không có đức tin và không được rửa tội, thì đó không phải là lỗi của họ. Dầu vậy, họ vẫn có thể được cứu rỗi, nếu họ sống theo tiếng nói của lương tâm để làm lành lánh dữ như Giáo Hội dạy.( X SGLGHCG số 847; LG. số 6).
Ngược lại, những ai biết Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội thật của Chúa Kitô, thiết lập trên nền tảng Tông Đồ, với sứ mệnh chuyên chở ơn cứu độ của Chúa đến cho hết mọi người ở khắp mọi nơi trên trái đất cho đến ngày hết thời gian, mà vẫn không muốn gia nhập Giáo Hội này qua Phép Rửa thì sẽ không được cứu rỗi. Điều này cũng áp dụng cho cả những người đã gia nhập Giáo Hội qua Phép Rửa nhưng không kiên trì sống và thực hành đức tin trong Giáo Hồi thì cũng không được cứu rỗi, vì " tuy thể xác họ thuộc về Giáo Hội nhưng tâm hồn họ không ở trong Giáo Hội." . ( x LG. số 14)
Tóm lại, Phép Rửa thật vô cùng quan trọng cho những ai muốn nhận lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giê-su. Nhưng được rửa tội để gia nhập Giáo Hội của Chúa mới chỉ là bước đầu cho hy vọng được cứu rỗi mà thôi. Muốn cho hy vọng đó thành sự thật thì phải kiên trì sống những cam kết của Phép Rửa là mến Chúa trên hết mọi sự, yêu tha nhân như yêu chính mình, từ bỏ ma quỷ và mọi cám dỗ của chúng để xa tránh mọi tội lỗi, vì chỉ có tội mới làm ngăn cách con người với Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành mà thôi.
Do đó, nếu được rửa tội rồi mà không sống những cam kết trên, thì hy vọng đươc cứu rỗi sẽ trở thành ảo vọng, vì Phép Rửa có liên quan mật thiết với đức tin, nên nếu con người thiếu thiện chí cộng tác với ơn Chúa qua cố gắng sống những cam kết khi được rửa tội thì sẽ không được cứu độ. Lại nữa, cũng sẽ không được cứu rỗi để vào Nước Trời, những ai biết lợi ích của Phép Rửa cũng như biết Giáo Hội của Chúa là phương tiện cứu độ cần thiết mà vẫn không muốn được rửa tội và gia nhập Giáo Hội thì cũng không được cứu độ như đã nói ở trên. ( x Lumen Gentium ( LG )số 14)
Sở dĩ thế, vì con người còn có tự do chọn lựa và Thiên Chúa phải tôn trọng ý muốn tự do ( free will) của con người. Chúa chỉ mời gọi và tùy con người đáp trả. Chúa không bắt buộc ai phải yêu mến Người và nhân ơn cứu độ của Người. Do đó, ai muốn được cứu độ, muốn được vào Nước Trời , thì Chúa sẽ hoan hỉ ban ơn nâng đỡ để giúp họ đạt mục đích mong muốn. Ngược lai, ai muốn từ chối lời mời gọi của Chúa để sống theo ý thich của riêng mình, sống theo thế gian và quay lưng lại với Chúa thì Chúa sẽ tôn trọng và kẻ đó sẽ phải lãnh nhận hậu quả của sự tự do chọn lựa đó.
Đó là lý do phải có Thiên Đàng , là nơi dành cho những người đã chọn yêu mến Chúa trong suốt cả cuộc đời mình trên trần gian này,, và có hỏa ngục để dành cho những kẻ đã hoàn toàn khước từ Chúa và tình thương của Người để làm những sự dữ ,sự tội cho đến hơi thở cuối cùng mà không biết ăn năn để xin Chúa tha thứ.
Tuy nhiên, ai đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng này, thì chỉ có Chúa biết mà thôi. Giáo Hội không biết được, nên chỉ dạy phải cầu nguyện cho các người đã ly trần, chứ không đưa ra một phán đoán nào về số phận đời đời của ai
Là Thầy dạy giáo lý đức tin, và luân lý, Giáo Hội phải đưa ra những lời khuyên bảo cần thiết cho con cái mình tin và thực hành, nhưng quyền phán đoán vẫn hoàn toàn thuộc về Chúa, là Cha đầy yêu thương, nhưng cũng rất công minh khi phải phán đoán con người.
Như vây, là con cái Giáo Hội, chúng ta phải tin và thi hành những gì Giáo Hội dạy trong hai phạm vi đức tin và luân lý, là hai lãnh vực mà Giáo Hội –qua Đức Thánh Cha và các Giám mục hiệp thông- được ơn dạy dỗ không sai lầm ( ìnfallibility )
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn câu hỏi đặt ra.Amen
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn., MA. MDiv, DMin. ( Doctor of Ministry=Tiến Sĩ Sứ Vụ)

------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG DẠO - CÁM DỖ LÀ GÌ? PDF Print E-mail

Anh Le chuyển

 

Cám Dỗ Là Gì?

Từ xa xưa cha ông ta đã sử dụng 2 từ cám dỗ, và cho đến hôm nay, chúng ta vẫn tiếp tục sử dụng nó như một tiếp nối của truyền thống. Cám dỗ là sự lôi kéo thúc dục, khơi gợi lòng ham muốn của con người và khiến họ thực hiện một điều gì đó sai trái, sa ngã vào nó. Cám dỗ cũng có thể hiểu là một hiện tượng nổi lên trong cuộc sống khiến bạn chạy theo nó mà không nghĩ đến hậu quả sau này.

Và như vậy, cám dỗ là một phần trong cuộc sống, cám dỗ là gia vị cho cuộc sống mình. Dùng gia vị không đúng thì cuộc sống chua cay bất hạnh. Biềt điều tiết gia vị thì cuộc sống có hương vị tốt hơn.

Như trong tình yêu luôn có cám dỗ mời gọi con người phản bội với người mình yêu. Nếu biết dừng đúng lúc thì tình yêu càng hạnh phúc hơn, người được yêu càng tin tưởng hơn. Ngược lại, nếu đã từng nếm thử sự cám dỗ của phản bội, người ta mới thấy sự hổ thẹn, và tình yêu trở thành bất hạnh cho tất cả những người liên quan.

Cám dỗ luôn dẫn dụ chúng ta nổi loạn để sống theo ý thích của mình, nó kích thíc dục vọng khiến con người vì ham muốn hưởng thụ mà bất chấp hậu quả và ngay cả bất chấp luật pháp và luân thường đạo lý.

Thông thường ta thấy có những cám dỗ như sau:

Có người bị cám dỗ bởi tham lam. Lòng tham thường không đáy. Lòng tham luôn tìm cách mở rộng lãnh địa để chiếm lĩnh mọi sự về mình. Sự cám dỗ của lòng tham đã gây nên biết bao đau thương cho nhân thế qua nhiều thế hệ bởi tranh giành, chiếm đoạt có khi dẫn đến chiến tranh điêu tàn, cướp phá đói nghèo. . .

Có người bị cám dỗ luôn cho mình hơn người khác nên dễ tức giận và nổi nóng. Nổi nóng quạt nạt khi người khác sai. Đây cũng là biểu hiện của sự kiêu căng. Kiêu căng đi đến thái quá sẽ tìm mọi cách để hơn người khác bằng sự đê tiện bỉ ổi như vu khống và gian lận.

Con người luôn đối diện với cám dỗ, nhưng người bị cám dỗ thì không xấu nếu biết kiểm soát cám dỗ để luôn đi theo luân thường đạo lý. Nếu con người biết tự chủ trước cám dỗ thì chính cám dỗ lại là động lực để mình sống tốt hơn và thánh thiện hơn.

Bài phúc âm hôm nay, thánh Marco nói về việc Chúa Giêsu chiến thắng cám dỗ. Ma qủy đã tìm cách lôi kéo Chuá Giêsu quay lưng lại với Chuá Cha. Từ khước sống vâng phục thánh ý Chúa để được thoả mãn cái bụng của mình. Nó hướng mở cho Chúa một tương lai đầy hứa hẹn không chỉ có của ăn dư đầy từ những hòn đất hòn đá cũng biến thành của ăn, từ sỏi đá cũng thành cơm, mà vượt xa hơn nữa là nắm gọn trong tay thiên hạ, kẻ hầu người hạ và thừa hưởng mọi vinh hoa lợi lộc trần gian.

Chúa Giê-su không những đã khước từ những lời mời mọc của ma quỷ và còn cho ma qủy nhận ra rằng không có gì cao qúy hơn là được sống trong tình nghĩa với Thiên Chúa, sống trong sự quy phục Thiên Chúa, vì người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

Những cám dỗ mà ma qủy tuy đã thất bại với Chúa Giêsu nhưng nó vẫn dung con mồi này để quyến rũ chúng ta là: danh vọng, tiền tài, địa vị, thú vui xác thịt. Kết quả là nhiều người vì ham tiền, ham lợi lộc đã trở thành tay sai cho ma qủy, không chỉ mình làm điều ác mà còn lôi kéo, dẫn dụ nhiều người khác đi vào con đường tội lỗi. Ma qủy đã thành công khi sai khiến chúng ta làm sự dữ, là những điều trái với luân thường đạo lý như: trộm cắp, đánh nhau, hận thù ghen ghét, tự cao tự đại .. . Đó là những mối tội đầu đã gây nên biết bao đau khổ cho chính mình và những người chung quanh.

Ở khởi đầu mùa chay khi cho chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu bị ma qủy cám dỗ, Giáo hội mời gọi chúng ta ý thức về thân phận tội lỗi của mình và sức mạnh của sự dữ, của ma qủy luôn rình rập để lôi kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa, đi trong tối tăm của đam mê lầm lạc. Vì thế, chúng ta cần nhận ra sự giới hạn của kiếp người để nhờ ơn Chúa giúp mới chiến thắng cám dỗ và trung thành với Chúa. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

--------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐAO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

nguyenthi leyen chuyển
Fri, Jan 22 at 12:38 AM

Có phải được lãnh ơn Toàn Xá là được lên Thiên Đàng ngay?

1- Ân xá là gì và có hiệu quả ra sao ?

2- Một người khi sống thì bê bối, bỏ Đạo lâu năm, lấy 2, 3 vợ... nhưng khi gần chết kịp ăn năn, xưng tội và được lãnh ơn toàn xá trong giờ sau hết. Như vậy chắc chắn được lên Thiên Đàng ?

Xin cha cho biết điều này có đúng hay không?

Đáp: Căn cứ theo giáo lý của Giáo hội, thì xin được nói rõ lại như sau:

1- Trước hết, theo giáo lý và giáo luật, thì ân xá hay ơn xá giải (Indulgences) "là ơn sủng mà Giáo Hội lấy ra từ kho tàng ơn cứu chuộc của Chúa Kitô và công nghiệp của Đức Mẹ và các thánh để tha các hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) cho tín hữu còn sống hay cho các linh hồn còn đang ở nơi gọi là "Luyện tội" (x. SGLGHCG, số 1471; Giáo luật số 992- 994). Nói rõ hơn, trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần tức tội chối bỏ Thiên Chúa hoàn toàn thì không thể tha được (x. Mt 12:32; Mc 13:28-29) – còn các tội nặng nhẹ khác đều có thể được tha qua bí tích hòa giải, như Chúa Giêsu đã bảo đảm với các Tông Đồ xưa:

"Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha

Anh em cầm giữ ai, thí người ấy bị cầm giữ." (Ga 20:23)

Được tha tội qua bí tích hòa giải rồi nhưng hối nhân vẫn phải làm một việc gọi là việc "đền tội" (penance) do cha giải tội giao để tẩy xóa đi mọi hậu quả do tội để lại trong tâm hồn mình. Đây là hình phạt hữu hạn (temporal punishment) khác xa với hình phạt đời đời (eternal punishment) trong nơi gọi là hỏa ngục dành cho những ngượi chết "trong khi đang mắc tội trọng và không kịp sám hối để xin Chúa thứ tha". (x. SGLGHCG, số 1033-1035).

Nghĩa là, khi ta nhận biết mình có tội nặng hay nhẹ và muốn xin Chúa tha thứ qua bí tích hòa giải thì phải tin rằng Chúa sẵn lòng tha, nếu ta thật lòng sám hối và còn tin tưởng nơi lòng thương xót vô biên của Chúa.Sau đó, phải đi xưng tội với một linh mục đang có năng quyền tha tội. (Linh mục nào đang bị Giám mục tạm rút năng quyền – hay nôm na gọi là "bi treo chén"(Suspension) thì thông thường không được giải tội hay cử hành bất cứ bí tích nào trong thời gian còn bị tạm rút năng quyền ).Nếu ai thành tâm và thành thực xưng ra các tội đã phạm vì yếu đuốii con người và vì ma quỷ cắm dỗ, thì chắc chắn sẽ được Chúa thương tha thứ qua tác vụ của linh mục như Chúa Giêsu đã phán hứa trên đây.

Cũng cần nói rõ thêm là linh mục hay Giám mục thì cũng chỉ là thừa tác viên mà Chúa Kitô dùng để ban ơn thánh của Người cho chúng ta trong Giáo Hội. Do đó, đừng ai đặt vấn đề linh mục có xứng đáng hay không khi cử hành các bí tích. Mọi linh mục đang có năng quyền ( Priestly Faculties) nhận lãnh từ Giám mục trực thuộc thì đều có thể cử hành thành sự ( validly) các bí tích, đặc biệt là bí tích hòa giải, vì linh mục nghe và giải tội cho ai thì đều phải làm nhân danh Chúa Kitô ( in Persona Christi) chứ không nhân danh chính mình. Như thế, , chính Chúa Kitô nghe và tha tội cho mọi hối nhân thành thật xưng tội qua trung gian của một linh mục, dù linh mục đó là người bất xứng đến đâu dưới mặt của người đời. Phải nhấn mạnh thêm về sự thành thật khi xưng tội, vì nếu hối nhân dấu tội không muốn xưng hết với linh mục thì việc xưng tội sẽ không thành, mà còn phạm thêm tội cố ý nói dối Chúa nữa. Chính vì người ta cứ nghĩ lầm là xưng tội với cá nhân linh mục, chứ không phài thú nhận tội lỗi với chính Chúa Kitô, nên nhiều người không dám xưng hết các tội đã phạm - cách riêng các tội phạm điều răn thứ sáu và chin- với linh mục vì mắc cở hay sợ bị tiết lộ ra ngoài. Lo ngại như vậy là không đúng vì mọi linh mục đều bị buộc phải giữ kín mọi điều nghe được từ hối nhân trong Tòa giải tội . Đây là "ấn tòa giải tội=seal of confessions) buộc mọi linh mục phải triệt để tuân giữ. Ai vi phạm sẽ bị vạ tuyệt thông tiền kết. ( x Giáo luật sớ 1388, triệt 1) Vạ này chỉ có Tòa Thánh giải mà thôi.

Ân xá – toàn phần hay bán phần – chỉ có mục đích tha từng phần hay toàn phần các hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) sau khi các tội nặng nhẹ đã được tha qua bí tích hòa giải, để tẩy xóa đi những hậu quả do tội còn để lại trong tâm hồn hối nhân như đã nói ở trên. Nghĩa là ân xá không có hiệu năng tha các tội lớn nhỏ cho ai mà chỉ tha hay tẩy xóa hình phạt hữu hạn của các tội đã được tha qua bí tích hòa giải mà thôi. Do đó, ai đang có tội trọng thì không thể lãnh ân xá hữu hiệu được mà phải đi xưng tội trước rồi mới lãnh ân xá sau để xin tha hình phạt hữu hạn, theo giáo lý Giáo Hội dạy.

Vể thẩm quyền ban phát ân xá, thì giáo luật chỉ qui định một mình Đức Thánh Cha có quyền ban ân xá hay cho phép Bản quyền địa phương nào ban ân xá vì lý do chính đáng được Tòa Thánh chấp thuận. Thí dụ mừng kỷ niệm thành lập Giáo phận hay Nhà Dòng. (x Giáo luật số 995, triệt 1 & 2)

2- Liên quan đến câu hỏi thứ hai, xin được trả lời như sau:

Giáo lý của Giáo Hội chỉ nói đến hiệu quả của bí tích hòa giải là cho chúng ta được giao hòa hay hiệp thông lại với Thiên Chúa trong thân tình Cha-con từng bị gián đọan vì tội, nhất là tội trọng, cũng như chỉ nói đến hiệu quả của ân xá là tha hình phạt hữu hạn sau khi tội được tha qua bí tích hòa giải.

Nhưng Giáo Hội không hề đưa ra tiêu chuẩn cụ thể nào về số phận đời đời của một ai sau khi chết. Nghĩa là Giáo Hội chưa hề dạy nếu ai sống thế nào, hoặc làm điều gì, ngay cả tự tử thì chắc chắn sẽ xuống hỏa ngục hoặc sẽ lên thẳng Thiên Đàng sau khi chết... Giáo lý chỉ nói đến những trường hợp gia trọng để lưu ý giáo dân phải tránh mà thôi. Thí dụ Giáo Lý của Giáo Hội dạy rằng: " những ai đang có tội trọng thì không được rước Mình Thánh Chúa và không được cử hành Thánh lễ ( nếu là linh mục) ( x Giáo luật số 916, SGLGHCG số 1415) hoặc "nếu ai đang mắc tội trọng mà chết không kịp sám hối để được hòa giải với Chúa thì sẽ phải hình phạt hỏa ngục". (x. SGLGHCG, số1033-1035)

Nhưng ai đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng nói trên để đáng phải xuống hỏa ngục, thì chỉ một mình Chúa biết và phán đoán mà thôi. Giáo Hội không biết được nên vẫn dạy phải cầu nguyện cho mọi kẻ chết, kể cả cho những người đã tự tử, hay tự sát sau khi giết một hay nhiều người khác, mặc dù Giáo Hội nghiêm khắc lên án hành vi sát nhân hay tự tử này.

Mặt khác, Giáo Hội cũng chưa hề phong thánh cho ai ngay sau khi người đó chết. Cụ thể, ai sống thánh thiện, đạo đức hơn các Đức Giáo Hoàng. Trước khi chết các ngài cũng được xức dầu và lãnh ơn toàn xá trong giờ sau hết, (trừ Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô I chết bất ngờ trong nhà nguyện riêng sau 33 ngày lên ngôi). Nhưng Giáo Hội vẫn cử hành lễ an táng để cầu nguyện cho, chứ chưa hề tức khắc tuyên bố vị nào đã lên Thiên Đàng rồi, nên khỏi cầu nguyện nữa. Ai được phong thánh (canonization) thì cũng phải chờ một thời gian và hội đủ một số tiêu chuẩn theo luật định.Nghĩa là cho đến nay, Giáo Hội chưa hề phong thánh cho ai ngay sau khi người đó chết, mặc dù nhiều người biết đời sống thánh thiện của người đó.

Tóm lại, chúng ta phải tin và trông cậy lòng thương xót tha thứ vô biên của Thiên Chúa, cũng như tin giá trị và hiệu quả của bí tích hòa giải và ơn toàn xá. Nhưng không thể căn cứ vào đây để phán đoán ngay ai được lên Thiên Đàng hay phải sa hỏa ngục để khỏi cầu nguyện cho những người đó nữa. Có chăng chỉ nên tin rằng những ai đã thực tâm yêu mến và sống theo đường lối của Chúa thì chắc chắn Chúa sẽ không bỏ qua mà không tiếp nhận vào Nước Người nơi dành cho các Thánh và các Thiên Thần.Nhưng ai đã được lên Thiên Đàng và ai phải xuống hỏa ngục thì chỉ có một mình Chúa biết mà thôi.

Vậy chúng ta không nên vội đưa ra những phán đoán về số phận đời đời của ai cho dù người đó sống chết ra sao, mà chỉ nên cầu nguyện cho họ mà thôi.

Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

----------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ ĐẠO - TÍN HỮU CÀN BIẾT ĐỂ SỐNG PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Mon, Jan 11 at 11:00 PM

10 điều TÍN HỮU rất cần biết ĐỂ SỐNG ĐẠO

Cá phải bơi. Chim phải bay. Người Công giáo phải đi lễ Chúa Nhật. Rạch ròi và minh nhiên. Là người Công giáo nghĩa là phải biết và làm một số điều – chẳng hạn là tham dự Thánh lễ.

Nửa thế kỷ sau Công đồng Vatican II, người ta vẫn hiểu sai về cách dạy đức tin tại các giáo xứ, trường học và gia đình. Kết quả là rất nhiều người Công giáo vẫn không biết rằng họ có nhiệm vụ là tin hoặc thực hiện. Hơn 20 năm qua, với cuốn Giáp lý Công giáo, Hướng dẫn Tổng quát về Giáo lý và Hướng dẫn Quốc gia về Giáo lý, xu hướng đó đã đảo nghịch. Tuy nhiên, hệ quả của sự hỗn độn hậu Công đồng vẫn còn ở một số nơi.

Mới đây, tổ chức Our Sunday Visitor (Vị Khách Chúa Nhật) đã nghiên cứu các nhà giáo dục tôn giáo về vấn đề này, yêu cầu giúp đỡ soạn thảo một danh sách gồm các các điều cơ bản về giáo lý mà mỗi người Công giáo cần biết, nhưng nhiều người không hề biết. Đây là những gì chúng ta cần biết:

1. Chúng ta phải nên thánh

Nên thánh không là lĩnh vực đặc biệt của một số người được chọn, không dành riêng cho giáo sĩ, tu sĩ hoặc chỉ một số người được đặc cách. Thiên Chúa kêu gọi tất cả mọi người nên thánh. Nhưng chúng ta phải chọn cách đáp lại lời mời gọi đó. Chúng ta phải biết nói "vâng" đối với ân sủng Thiên Chúa muốn trao ban cho chúng ta, và "vâng" đối với Thánh Ý hoàn hảo của Ngài mọi nơi và mọi lúc.

Ở mức độ thực hành, điều đó nghĩa là đón nhận ân sủng qua các bí tích, đặc biệt là rước lễ và xưng tội. Điều này cũng có nghĩa là biết nguồn ân sủng và qua mối liên hệ đó mà nên giống Chúa hơn trong đời sống hằng ngày, biết yêu thương hơn, chân chính hơn và thương xót hơn giống như khi chúng ta gặp chính Ngài, qua Lời Chúa và Giáo hội. Điều đó cũng có nghĩa là sống theo luật Chúa, không phải luật thế gian. Nghĩa là yêu thương người khác như chính mình, phục vụ Chúa bằng cách phục vụ tha nhân, nhất là những người nhỏ bé nhất.

Dĩ nhiên, việc tiếp tục nói "xin vâng" không hề dễ dàng, nhất là khi là lời "xin vâng" để kết hiệp với Chúa Giêsu trên Thánh giá. Nhưng phần thưởng cuối cùng cho lời "xin vâng" của chúng ta là sự bình an và niềm vui vĩnh cửu. Đó là mục đích mà chúng ta được tạo dựng. Không có kết thúc nào tốt hơn như vậy.

Xin xem Mt 5:48; GLCG số 826, 897-913, 941, 1426, 2015.

2. Chúng ta đều là tội nhân

Ngoại trừ Chúa Giêsu và Đức Maria, mọi người đều "di truyền" tội nguyên tổ từ cha mẹ đầu tiên của chúng ta. Nghĩa là chúng ta sinh ra mà không có ơn thánh hóa cần thiết để chống lại cơn cám dỗ.

Nhờ bí tích Thánh tẩy, chúng ta lãnh nhận ơn thánh hóa, được tha thứ cả những tội mình đã phạm. Nhưng hệ lụy tội nguyên tổ vẫn còn. Vì khi chúng ta sống, mỗi chúng ta vẫn có nhiều khả năng quay lưng lại với Thiên Chúa. Với nhiều mức độ, chúng ta thể hiện "khả năng phạm tội" hằng ngày.

Một số người phạm tội tày trời – giết người, bạo lực, tham ô, ngoại tình,... Một số người phạm tội nhỏ, nhưng vẫn là tội lớn. Chúng ta nói dối và che giấu lầm lỗi của mình. Chúng ta nói hành, nói xấu người khác. Chúng ta xem ti-vi thay vì phải học hỏi hoặc làm điều cần hơn. Chúng ta nóng giận và không biết xin lỗi. Chúng ta không quan tâm nâng đỡ người nghèo. Chúng ta không thờ phượng Chúa. Chúng ta ghen tỵ, đố kỵ. Chúng ta tham lam. Chúng ta xét đoán. Mọi tội lỗi đó có hậu quả tạm thời là "bị tù lương tâm", nghĩa là mất niềm tin ở người khác, tất nhiên cũng có hậu quả tâm linh.

Một số tội làm mất ơn thánh hóa. Một số tội làm giảm khả năng yêu thương. Tất cả đều khiến chúng ta dễ phạm tội hơn. Cũng vậy, chúng chống lại Thiên Chúa. Đó là lý do chúng ta cần được Ngài tha thứ, được Ngài thương xót, được Ngài cứu độ.

Xin xem Rm 3:23; GLCG số 404, 1263, 1849-1869.

3. Tôn thờ Chúa Giêsu

Người Công giáo không tin vào bất kỳ thần linh nào khác. Chúng ta chỉ tin vào MỘT Thiên Chúa Ba Ngôi – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đồng bản thể. Chúng ta biết điều đó vì Chúa Con đã làm người và mặc khải chân lý. Chúa Giêsu Ngôi Hai cũng mặc khải đường tới Thiên Chúa là chính Ngài: "Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy" (Ga 14:6).

Như vậy, việc tôn thờ Chúa Giêsu không là cách chọn lựa riêng của người Công giáo trong đời sống đức tin, nhưng đó là một yêu cầu, một đòi hỏi. Nếu chúng ta muốn sống thánh thiện, hạnh phúc và vào Nước Trời, chúng ta phải biết Chúa Giêsu là ai, Ngài dạy gì và muốn gì ở chúng ta. Chúng ta cũng phải yêu thương và phụng sự Ngài với cả con người của chúng ta.

Muốn làm vậy, chúng ta cần tìm hiểu Chúa Giêsu qua lời của Ngài và những lời viết về Ngài. Chúng ta cần lãnh nhận Chúa Giêsu qua bí tích Thánh Thể. Chúng ta cần tâm sự với Ngài về mọi thứ – về những gì chúng ta yêu và ghét, sợ và muốn, nghĩ và cảm nhận. Mọi quyết định, mọi sự chiến đấu đều cần được chuyển tới Ngài. Cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha và Kinh Mai Côi rất cần và rất tốt, thậm chí là yêu cầu bắt buộc. Đó là chỉ thị: Cầu nguyện liên lỉ, cầu nguyện mọi nơi và mọi lúc. Chúa Giêsu muốn chúng ta mời gọi người khác cùng làm.

Ngài truyền lệnh cho các tông đồ: "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" (Mt 28:19-20). Đó cũng là lệnh truyền cho những ai mệnh danh là Kitô hữu.

Nhờ bí tích Thánh tẩy và Thêm sức trong Đức Kitô, tất cả chúng ta có trách nhiệm chia sẻ đức tin và mời gọi người khác cùng nhận biết Chúa Giêsu. Ccta cũng có trách nhiệm làm chứng về Đức Kitô theo văn hóa của chúng ta – mở rộng lòng thương xót, bảo vệ sự thật, bảo vệ sự sống, phục vụ người nghèo và tạo niềm hy vọng cho thế giới. Tóm lại, tất cả chúng ta đều có trách nhiệm làm tác nhân của công cuộc tân Phúc Âm hóa, để người khác cũng nhận ra diện mạo của Đức Kitô. Hãy yêu thương, yêu thương thật lòng, yêu thương vì Chúa và vì tha nhân, chỉ thế thôi: "Các điều răn của Người có nặng nề gì đâu" (1 Ga 5:3).

Xin xem Mt 11:27, 28:16-20; Ga 14:6; Ep 6:18; Pl 3:8; GLCG số 422-429, 456-478, 2558-2564.

4. Đọc Kinh Thánh

Phần lớn trong việc tôn thờ Chúa Giêsu là đọc lời của Ngài. Chúng ta gặp Ngài trong Kinh Thánh. Qua đó, chúng ta cũng gặp chính mình, gặp những chuyện đời của chính mình – câu chuyện lịch sử ơn cứu độ. Từ Adam và Eva tới Yến Tiệc Con Chiên, Kinh Thánh kể chuyện về kế hoạch của Thiên Chúa đối với thế gian. Kinh Thánh cho biết tình yêu của Ngài và số phận của nhân loại, với nhiều tình tiết đầy kịch tính. Kinh Thánh cho chúng ta biết về gia phả tâm linh của chúng ta, trở lại nguồn gốc từ dân Ít-ra-en, và còn hơn thế nữa. Thánh Giê-rô-ni-mô đã xác định: "Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô" (Ignorance of Scripture is ignorance of Christ), mà không biết Đức Kitô là không biết Thiên Chúa.

Xin xem Dt 6:1-9; Jos 1:8; 2 Tm 3: 16-17; GLCG số 80-81, 101-133.

5. Giáo hội không là sự chọn lựa hợp lệ trong nhiều cách chọn lựa

Giáo hội là Vương quốc trên thế gian do chính Chúa Giêsu thiết lập. Thánh Phêrô là người đầu tiên được trao chìa khóa Nước Trời, và là giáo hoàng tiên khởi của Giáo hội. Xuyên suốt lịch sử, Chúa Thánh Thần vẫn tiếp tục hướng dẫn các giáo hoàng, bảo đảm rằng giáo quyền (Magisterium) dạy sự thật và không dạy gì khác ngoài sự thật. Chân lý đó bất biến, nhưng luật có thể thay đổi. Giáo lý cũng không thay đổi. Chúng phát triển, nghĩa là cách hiểu mới đã đạt được và cách hiểu cũ được đào sâu, nhưng cách hiểu mới không thể trái ngược với cách hiểu cũ. Chân lý không thể tự mâu thuẫn.

Cũng vậy, Giáo hội thực sự có cách nhìn về chân lý. Đối với Giáo hội, Thiên Chúa mặc khải mọi chân lý cần thiết để chúng ta được cứu độ. Như vậy không có nghĩa là các tôn giáo khác không có những bộ phận tồn tại trong Giáo hội viên mãn. Cũng không có nghĩa là mọi người Công giáo đều được cứu độ, còn những ai không là Kitô hữu đều bị án phạt đời đời. Tuy nhiên, khi du hành, chúng ta phải chọn con tàu có độ an toàn cần thiết. Giống như con tàu, Giáo hội không là một chế độ dân chủ. Người khôn ngoan hơn chúng ta đã chọn một thuyền trưởng và cho người đó quyền hướng dẫn. Chúng ta có thể tin tưởng mệnh lệnh của thuyền trưởng đó.

Xin xem Mt 16:18; Cv 15; GLCG số 74-100, 811-870.

6. Thực sự có Hỏa ngục

Thiên Chúa là tình yêu, giàu lòng thương xót, Ngài không muốn chúng ta tách khỏi Ngài. Nhưng Ngài tôn trọng quyền tự do chọn lựa của chúng ta, nếu chúng ta tự tách khỏi Ngài, chết trong tình trạng mắc tội trọng, Ngài vẫn tôn trọng tự do của chúng ta.

Vậy ai là người chọn lựa cách đó? Vì cứng đầu cứng cổ, chính chúng ta vẫn hằng ngày tự ý chọn điều đó: Phạm tội. Bằng vô số cách, chúng ta tự ý chọn Thiên đàng hay Hỏa ngục. Khi chúng ta chọn Chúa, tức là làm theo đường lối và ý muốn của Ngài, đó là chúng ta chọn Nước Trời. Khi chúng ta chọn chính mình, tức là làm theo cách thức và ý riêng mình, đó là chúng ta chọn Hỏa ngục. Bạn thấy sợ chính mình chưa? Tới Ngày Phán Xét, khi chúng ta trình diện Thiên Chúa, mọi sự đều sáng tỏ, chúng ta không thể tự biện hộ hoặc viện cớ: Vì, bởi, tại, nếu, giá mà...

Xin xem Lc 16:19-25; 1 Ga 3:2; 1 Cr 3:1; Mt 7:13-14; GLCG số 1023-1037.

7. Giáo hội không nghĩ "tình dục" là xấu

Tình dục không xấu. Đó là từ ngữ đẹp, là hành động của tình yêu thánh thể hiện sự kết-hợp-trao-ban-sự-sống trong Chúa Ba Ngôi (life-giving union within the Trinity). Theo giáo huấn Công giáo, tình dục và giới tính (sex and sexuality) là những tặng phẩm quý giá. Nhờ tặng phẩm giới tính, nam và nữ là hiện thân Thiên Chúa theo cách riêng và tuyệt vời, và qua sự thân mật giới tính, chúng ta sở hữu khả năng trao tặng chính mình cho người khác, cả thể xác và tâm hồn, không còn là HAI mà là MỘT.

Qua bí tích hôn phối, nam và nữ trở thành những người đồng sáng tạo với Thiên Chúa, họ tạo ra những sự sống mới. Ngay cả khi họ kết hợp mà không có con, đó vẫn là hồng ân, là cách mà Thiên Chúa khiến họ gần nhau hơn trong tình yêu và tình bạn, giúp họ sống viên mãn hơn trong ơn gọi và định dạng bản chất của mối quan hệ hôn nhân. Tuy nhiên, năng lực của tặng phẩm này tác dụng hai cách. Khi tặng phẩm bị lạm dụng hoặc dùng sai, nó có thể có sức hủy hoại – gây nguy hiểm tiềm ẩn cho cá nhân, gia đình và phong hóa.

Giáo hội nhận biết các vấn nạn về phim ảnh "đen", tình dục trước hôn nhân, ngừa thai, sống thử, lang chạ, phá thai, nghiện tình dục, ngoại tình, ly hôn, đồng tính, nghèo khó, trầm cảm, cô đơn và bạo lực. Đó là những hậu quả do dùng sai tặng phẩm giới tính của Thiên Chúa. Đó là lý do vẫn có người không ngừng bảo vệ sự thật về giới tính. Hãy tạ ơn Chúa về điều đó. Sự thật luôn tốt đẹp!

Xin xem Cl 3:5; 1 Cr 6:18-20; GLCG số 2331-2391.

8. Dự lễ Chúa Nhật là luật buộc

Giáo hội dạy người Công giáo phải dự lễ Chúa Nhật. Là luật buộc nhưng hữu ích cho chúng ta. Tất nhiên cũng có những trường hợp ngoại lệ. Tuy nhiên, chúng ta đừng dễ dãi mà viện cớ để biện hộ cho mình. Với người bình thường, bỏ lễ Chúa Nhật là tội trọng.

Giáo hội muốn chúng ta dự lễ Chúa Nhật vì chúng ta cần lãnh nhận ân sủng. Chúng ta phải ưu tiên cho Chúa. Chúng ta phải công khai sống đức tin và thờ phượng Ngài. Đặc biệt là chúng ta phải lãnh nhận Mình Máu Đức Kitô để có sự sống dồi dào. Về tâm linh, chúng ta không thể sống mà thiếu Thần Lương. Cũng như chúng ta không thể chạy marathon khi bụng đói.

Xin xem Dt 10:25; GLCG số 2175-2183.

9. Xưng tội là luật buộc

Tất cả chúng ta, từ giáo hoàng trở xuống, đều thiếu ơn Chúa. Ai cũng là tội nhân nên luôn cần sám hối, điều này thể hiện công khai qua việc lãnh nhận bí tích Hòa giải, nhất là khi chúng ta mắc tội trọng. Nhờ đó, chúng ta được Thiên Chúa chữa lành và tha thứ.

Nhờ lãnh nhận bí tích Hòa giải, chúng ta được lãnh nhận hồng ân giúp chống trả chước cám dỗ trong tương lai. Không có tội nào mà Thiên Chúa không thể hoặc không muốn tha thứ. Chúa Giêsu đã nói với Thánh Faustina: "Lòng thương xót của Ta lớn hơn mọi tội lỗi của con và của toàn thế giới". Vấn đề là chúng ta tin tưởng vào Tình Chúa và thành tâm sám hối. Giáo hội dạy rằng lòng thương xót là thuộc tính lớn nhất của Thiên Chúa. Mọi động thái của Ngài đều thể hiện tình yêu thương xót (merciful love). Đó là cách thức và lý do mà chúng ta nhận biết Ngài.

Xin xem Mt 16:19; 2 Cr 5:18; GLCG số 277, 1422-1470, 1864 và 2001.

10. Mọi Kitô hữu đều phải sám hối

Theo kế hoạch cứu độ thế giới, Thiên Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài. Một trong các cách hợp tác là chúng ta chịu đau khổ – vui chịu đau buồn, khó khăn, vất vả, hy sinh, cô đơn,... để kết hợp với khổ hình Thập giá mà Chúa Giêsu đã chịu vào chiều thứ Sáu năm xưa. Ngài cũng muốn chúng ta chịu mọi đau khổ để đền tội của mình và tội của người khác, và để cứu các linh hồn. Theo truyền thống của Giáo hội, việc sám hối thường kết hợp với việc ăn chay, cầu nguyện và làm việc bác ái. Giáo hội cũng mời gọi chúng ta ăn chay và kiêng thịt các ngày thứ Sáu (trừ lễ trọng), đặc biệt là mùa Chay.

Xin xem Mt 9:1; Cl 1:24; GLCG số 307, 793, 1430-1439 và 1500.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ OSV.com)

-----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 169