mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay8483
mod_vvisit_counterHôm Qua10602
mod_vvisit_counterTuần Này66115
mod_vvisit_counterTuần Trước122203
mod_vvisit_counterTháng Này338757
mod_vvisit_counterTháng Trước303578
mod_vvisit_counterTất cả21811215

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

Chi Tran chuyển

ĐIỀU RĂN CHÚA DẠY
Điều Răn Thứ Bảy: „Chớ lấy của người"
Nguồn gốc tội phạm đức công bằng dưới các hình thức khác nhau, tức tội lấy của cải người khác mà không có sự đồng ý rõ ràng của họ, tức tội trộm cắp tiền bạc của cải của kẻ khác, là lòng tham lam của cải vật chất quá độ của con người.

Vì một khi lòng tham lam trở nên quá độ, bất tự chủ, thì tất nhiên nó sẽ điều khiển con người toàn diện, từ tư tưởng, lời nói cho đến hành động, nó sẽ làm cho con người đâm ra ích kỷ một cách thiển cận, mù quáng, thiên lệch và nhất là vô hiệu hóa tiếng nói của lý trí, tiếng nói của lương tri. Từ chỗ đó, con người mất hết lòng nhân ái, sự tự trọng, tư cách của mình và cả chính sự ngăn cản của tiếng lương tâm, và bấy giờ con người chỉ còn là một kẻ nô lệ thuần thục của lòng tham lam vật chất, không từ nan làm bất cứ điều gì, kể cả phạm tội ác chống lại đồng loại, miễn sao chiếm hữu được của cải vật chất càng nhiều càng tốt. Quả thật, người đời đã nói rất chí lý: „Tham thì thâm, thâm thì si" là thế.
Vì thế, Điều Răn Thứ Bảy dạy ta phải tôn trọng đức công bằng, phải tôn trọng tài sản, của cải và quyền sở hữu chủ của người khác. Cấm không được chiếm giữ hay làm hư hại của cải của người khác một cách trái phép.
Các tội phạm đến Điều Răn Thứ Bảy là:
* Trộm cắp, cướp giật tiền bạc, của cải của kẻ khác bằng cách này hay cách kia.
* Lừa đảo, gian lận khi buôn bán, chẳng hạn: như sửa cân hay các dụng cụ đo lường để
đánh lừa và che mắt khách hàng hầu kiếm lợi lộc cho mình một cách bất chính. Bởi vì, khi buôn bán, người ta có quyền đặt giá món hàng cao hợp lý và nếu khách hàng thấy vừa ý thì mua, chứ hành động tráo trở lừa đảo khách hàng như vừa nói là một hình thức cướp giật trái phép; do đó, số tiền thu được từ việc bán món hàng hoàn toàn là tiền bất chính và bó buộc phải bồi trả lại cho chủ nhân của chúng.
* Cho vay nặng lãi quá mức, nhất là nhẫn tâm "siết cổ" những người đang trong cơn cùng quẫn và bó buộc phải khẩn khoản vay mượn tiền bạc của ta.
* Tội hối lộ; thâm thủng của công để mưu ích riêng tư cá nhân hay gia đình.
* Tội chiếm đoạt của thánh, tức tiền bạc, các của cải hay các báu vật của Giáo Hội, do lừa đảo, lấy trộm, oa trữ hay thông đồng mua bán trái phép.
* Chiếm giữ của cải của kẻ khác một cách bất công, tức:
- khi mắc nợ người ta mà không chịu trả vốn và lãi như đã thỏa thuận;
- khi lượm nhặt được của cải của kẻ khác bị thất lạc mà không chịu hoàn trả lại cho sở hữu chủ;
- không trả tiền công tương xứng cho người làm thuê;
- trốn thuế hay oa trữ các của cải gian phi.
Để đền bù tội lấy trộm hay chiếm giữ của cải của người khác, thì dù dưới hình thức nào hay bằng cách nào, luôn luôn bó buộc phải trả lại cho chủ của chúng một cách sớm nhất có thể, nếu không, phải trả thêm tiền lời để bù đắp sự thiệt hại đã gây ra cho chủ. Còn trường hợp làm thiệt hại hay làm mất mát của cải và đồ dùng của người khác, thì cũng bó buộc phải bồi thường lại một cách tương xứng.
Hơn nữa, các tài sản và của cải của kẻ khác, nhất là tài sản, tiền bạc và của cải thuộc Giáo Hội, mà ta chiếm giữ một cách bất chính và không chịu trả lại cho họ ở đời này, thì ở đời sau càng phải trả nặng gấp bội. Đó là điều hoàn toàn hợp lý, phù hợp với luật công bằng tự nhiên, vì trong „số tiền" ta phải trả ở đời sau đó dĩ nhiên gồm có tiền vốn, tiền lãi và tiền phạt. Chỉ khác ở chỗ: nếu ta trả lại của cải mà ta có một cách bất chính cho chủ của chúng ở đời này, thì ta chỉ phải trả lại chính những của cải chóng qua ấy, còn khi chờ cho tới đời sau, tức sau khi bước sang thế giới bên kia, mới trả thì ta phải trả lại bằng các của cải trường cửu, vô cùng quý báu, tức sự vinh quang bất diệt và sự hạnh phúc vô giá trong Nước Trời.
Sau cùng, còn hai điểm quan trọng khác ta cũng cần phải lưu tâm, đó là:
1) Thiên Chúa không luôn luôn gia hạn hay cho ta sự tự do muốn trả nợ lúc nào tùy ý, hoặc đời này hoặc đời sau như vừa nói trên, nhưng nhiều khi chính Người „đích thân" đòi lại các của cái ấy một cách nhãn tiền ngay ở đời này dưới một hình thức nào đó, mà dân gian thường hay nói là: „Của gian phi có chân nó đi", hay: „của thánh có cánh nó bay".
2) Nhưng một khi Thiên Chúa „đích thân" đòi lại các của cải bất chính lại như thế, thì thực tế là ta bị mất đi các của cải đó và đồng thời tội phạm Điều Răn Thứ Bảy ta vẫn phải mang, chứ không được tha, vì chính ta đã không tự ý hoàn trả lại chúng. hình thức khác nhau, tức tội lấy của cải người khác mà không có sự đồng ý rõ ràng của họ, tức tội trộm cắp tiền bạc của cải của kẻ khác, là lòng tham lam của cải vật chất quá độ của con người. Vì một khi lòng tham lam trở nên quá độ, bất tự chủ, thì tất nhiên nó sẽ điều khiển con người toàn diện, từ tư tưởng, lời nói cho đến hành động, nó sẽ làm cho con người đâm ra ích kỷ một cách thiển cận, mù quáng, thiên lệch và nhất là vô hiệu hóa tiếng nói của lý trí, tiếng nói của lương tri. Từ chỗ đó, con người mất hết lòng nhân ái, sự tự trọng, tư cách của mình và cả chính sự ngăn cản của tiếng lương tâm, và bấy giờ con người chỉ còn là một kẻ nô lệ thuần thục của lòng tham lam vật chất, không từ nan làm bất cứ điều gì, kể cả phạm tội ác chống lại đồng loại, miễn sao chiếm hữu được của cải vật chất càng nhiều càng tốt. Quả thật, người đời đã nói rất chí lý: „Tham thì thâm, thâm thì si" là thế.
Vì thế, Điều Răn Thứ Bảy dạy ta phải tôn trọng đức công bằng, phải tôn trọng tài sản, của cải và quyền sở hữu chủ của người khác. Cấm không được chiếm giữ hay làm hư hại của cải của người khác một cách trái phép. R

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐAO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

TRONG GIÁO HỌI CÔNG GIÁO, TRUYỀN THỐNG KẾ VỊ TÔNG ĐỒ LÀ GÌ ?

Sau khi hoàn thành Sứ Mệnh cứu chuộc cho nhân loại, và trước khi về Trời ngự bên hữu Chúa Cha, Chúa Kitô đã thiết lập Giáo Hội của Chúa trên nền tảng Tông Đồ với Phê rô là Thủ Lãnh đầu tiên của Giáo Hội sơ khai với Sứ Mệnh " Hãy chăn dắt chiên của Thầy ." ( Ga 21: 17 ). Chúa cũng truyền cho Phêrô và các Tông Đồ mệnh lệnh rất quan trọng này là " hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo..." ( Mc 16:15) .
Giáo Hội được Chúa thiết lập trên đây " tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển." ( LG 8 )
Nghĩa là Giáo Hội Công Giáo hiện nay là Giáo Hội thật của Chúa Kitô được xây dựng trên nền tảng Tông Đồ cho mục đích rao giang Tin Mừng Cứu Độ của Chúa cho mọi dân ,mọi nước cho đến này cánh chung tức ngày tận thế khi không còn ai sinh ra và sống trên trần gian này nữa
Giáo Hội trên của Chúa là công giáo, thánh thiện và Tông truyền. : là Công giáo( Catholic) vì được dành cho hết mọi người, không phân biết màu da, tiếng nói và văn hóa, tất cả đều được mời gọi gia nhập Giáo Hội này để lãnh ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô. " Đấng đã đến để hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28).Giáo Hội là thánh thiện( Holy) vì Đấng Sáng Lập ( Chúa Kitô) là THÁNH. Giáo Hội là Tông truyền Apostolic succession) vì được xây trên nền tảng Tông Đồ với Phêrô là Tông Đồ Trưởng,và Người kế vị Thánh Phêrô cho đến nay là Đức Thánh Cha,tức Giám Mục Roma, với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám mục Đoàn ( College of Bishops) là những người kế vị các Tông Đồ với Sứ Mệnh rao truyền Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho mọi dân mọi nước cho đến ngày cánh chung tức ngày tận thế .
Trong phạm vi bài này, tôi xin được nói qua về Truyền Thống Kế Vị Tông Đồ ( Apostolic Succession), một Truyền Thống mà chỉ có Giáo Hội Công Giáo Roma và các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) thừa hưởng để tuyển chọn các giám mục, đặc biệt là chọn Giám Mục Rôma cho Giáo Hội Công Giáo, tức Người kế vị Thánh Phêrô trong chức năng và địa vị Giáo Hoàng là Thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.
Các anh em Chính Thống Đông Phương vẫn còn bất đồng với Giáo Hội Công Giáo về vai trò Đại Diện ( Vicar) Chúa Kitô của Đức Thánh Cha, nên vẫn chưa thể hiệp nhất và hiệp thông trọn vện được với Giáo Hội Công Giáo mặc dù họ có chung Truyền thống Tông Đồ và có các bí tích hữu hiệu như Công Giáo.
Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo nói như sau về Truyền thống kế vị Tông Đồ :
" Cũng như Chúa Kitô đã được Chúa Cha sai đi, thì Ngài cũng sai các Tông Đồ của mình, đầy ơn Chúa Thánh Thần, để các ông giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật ..Như vậy. Chúa Kitô phục sinh đã ban Chúa Thánh Thần cho các Tông Đồ và trao cho các ông quyền năng thánh hóa của Ngài. Các ông đã trở thành những dấu hiệu bí tích của Chúa Kitô.
Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần , các ông trao uy quyền này lại cho những người kế vị các ông. Sự kế vị Tông Đồ này là cơ cấu của toàn bộ sinh hoạt Phụng vụ của Giáo Hội. Nó có tính bí tích và được truyền lại qua Bí tích Truyền chức thánh. " ( x . SGLGHCG số 1086-87)
Lời dạy trên đây của Giáo Hội bắt nguyền từ chính lời Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ xưa, khi Người hiện ra với các ông sau khi từ cõi chết sống lại:
" Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." ( Ga 20: 22)
Chúa đã chọn và sai các Tông Đồ tiên khởi đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và làm phép rửa cho muôn dân cho đến tận cùng trái đất và cho đến ngày hết thời gian.Dĩ nhiên các Tông Đồ tiên khởi đó không thể sống mãi để thi hành Sự vụ được nhận lãnh, nên chắc chắn các ngài đã phải chọn người kế vị để tiếp tục Sứ Vụ mà Chúa Kitô đã trao phó cho các ngài, như Thánh PhaoLô đã nói rõ như sau:
" Vậy hỡi anh ( Timôthê) người con của tôi, anh hãy nên mạnh mẽ trong ân sủng của Đức Kitô Giêsu. Những gì anh đã nghe tôi nói trước mặt nhiều nhân chứng, thì anh hãy trao lại cho những người tin cẩn, những người sẽ có khả năng dạy cho người khác." ( 2 Tm 2: 1-2)
Các Tông Đồ đã truyền chức cho những người kế vị được chọn qua việc đặt tay :
" Vì lý do đó, tôi nhắc anh ( Timôthê) phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng mà anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh." ( 2Tm 1: 6)
Nơi khác, Thánh Phaolô cũng ân cần nhắc thêm cho Ti-mô-thê về ơn được chọn làm Tông Đồ :
" Đừng thờ ơ với đặc sủng đang có nơi anh, đặc sủng Thiên Chúa đã ban cho anh nhờ lời ngôn sứ, khi hàng kỳ mục đặt tay trên anh. " ( 1 Tm 4: 14)
Hàng "Kỳ mục" ( Overseers) mà Thánh Phaolô nói trên đây chính là các Giám mục đã được chọn và các ngài đã truyền chức lại cho những người kế vị để tiếp tục Sứ Vụ của Chúa Kitô trong Giáo Hội sơ khai thời đó. Cho đến ngày nay và cho đến ngày cánh chung tức ngày tận thế.
Sách Công Vụ Tông Đồ của Thánh Luca cũng thuật rõ việc các Tông Đồ, sau khi Chúa Kitô về trời, đã hội họp, cầu nguyện và rút thăm để chọn người thay thế cho Giuđa, một tông đồ đã phản bội đã treo cổ chết, và " ông Matthia trúng thăm. Ông được kể thêm vào số mười một Tông Đồ." ( Cv 1: 23-26).
Như thế đủ cho thấy là ngay từ đầu, các Tông Đồ, trước hết, đã chọn người thay thế cho đủ con số 12 Tông Đồ tiên khởi mà Chúa Giêsu đã tuyển chọn để tham gia vào Sứ Vụ rao giảng Tin mừng Cứu độ của Chúa.cho mọi dân mọi nước không phân biệt màu da ,tiếng nói và văn hóa
Từ đó đến nay, trải dài trên 20 thế kỷ , Giáo Hội vẫn theo truyền thống trên để truyền các chức thánh Phó Tế, Linh mục và Giáo mục qua việc cầu xin ơn Chúa Thánh Thần và đặt tay trên các ứng viên được tuyển chọn, đặc biệt nhất là tuyển chọn Giám Mục Rôma, tức Đức Thánh Cha mà các Hồng Y dưới 80 tuổi họp Mật Nghị ( Conclave) để bầu Tân Giáo Hoàng, khi đương kim Giáo Hoàng từ trần hay về hưu ( Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nghỉ hưu từ ngày 28 tháng 2 năm 1913 vừa qua vì lý do sức khỏe ).
Chúng ta tin chắc Chúa Thánh Thần luôn hiện diện và hướng dẫn Giáo Hội để việc chọn lựa này được diễn ra đúng theo Kế hoăch của Thiên Chúa, chứ không do thế lực trần gian nào muốn áp đặt hay ảnh hưởng đến.
Có như vậy thì Hội Thánh của Chúa Kitô mới thực là Thánh thiện , Công giáo và Tông truyền.
Liên quan đến việc chọn người kế vị, Thánh Phaolô cũng cẩn thận nhắc cho môn đệ thân tín của ngài là Timothê phải hết sức thận trọng trong việc rất can hệ này để người được chọn phải là người Chúa muốn đặt lên để coi sóc và dạy dỗ dân của Người:
" Anh đừng vội đặt tay trên ai, đừng cộng tác vào tội lỗi của người khác. Hãy giữ mình trong sạch." ( 1Tm 5: 22)
Đừng vội đặt tay trên ai có nghĩa là đừng chọn và truyền chức cho ai vì thân quen, gửi gấm, mua chuộc hay vì áp lực nào của các phe nhóm bên ngoài Giáo Hội, như đã từng xẩy ra trong quá khứ xa xưa, là thời kỳ đen tối khi thần quyền ( divine power) còn dính bén đến thế quyền ( secular or worldly power) một thời trong Giáo Hội xưa.
Mặt khác, trong thư gửi cho Ti Tô, một môn đệ khác của ngài, Thánh Phaolô cũng trao cho môn đệ này trách nhiệm chọn lựa các giám mục như sau :
"Tôi để anh ở lại đảo Kê-ta chính là để anh hoàn thành công việc tổ chức , và đặt các kỳ mục trong mỗi thành như tôi đã truyền cho anh....Giám quản ( tức giám mục) phải là người không chê trách được., không ngạo mạn, ...không tìm kiếm lợi lộc thấp hèn; trái lại, phải hiếu khách, yêu chuộng điều thiện, chừng mục, công chính, thánh thiện, biết tự chủ. Người ấy phải gắn bó với lời đáng tin cậy và đúng đạo lý, để vừa có khả năng dùng giáo lý lành mạnh mà khuyên nhủ, vừa có khả năng bẻ lại những kẻ chống đối." ( Tt 1: 5-9)
Ngoài ra, để nhận mạnh thêm về bản chất chức năng và tư cách của người được tuyển chọn để thi hành sứ vụ rao giảng và coi sóc dân Chúa, Thánh Phaolô cũng nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca như sau:
" Không bao giờ chúng tôi tìm cách để được một người phàm nào tôn vinh, dù là anh em hay người khác, trong khi chúng tôi có thể đòi anh em phải trọng đãi, với tư cách là Tông Đồ của Đức Kitô." ( 1 Tx 2 : 6-7)
Nghĩa là các Tông Đồ xưa và nay- khi thi hành Sứ Vụ- phải noi gương Chúa Kitô, " Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28).
Đây là sứ mệnh thiêng liêng cao cả mà Chúa Cứu Thế Giêsu đã trao cho các Tông Đồ tiên khởi thuộc Nhóm Mười Hai để tiếp tục Sứ Vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa cho đến thời viên mãn. Như thế, tất cả những ai được ơn gọi làm Tông Đồ cho Chúa Kitô, phải hết sức theo gương sống và phục vụ của Chúa để không dính bén vào mọi hình thức làm tay sai cho thế quyền nào để trục lợi cá nhân, phương hại đến Sứ vụ và uy tín của Giáo Hội, là Cơ Chế có mặt và hoạt động trong trần gian hoàn toàn vì mục đích siêu nhiên cứu độ mà thôi.
Lại nữa, nếu người Tông Đồ mà không có tinh thần nghèo khó của Phúc âm để chạy theo tiền bạc và danh lợi phù phiếm, thì không thể giảng Phúc Âm hữu hiệu cho ai và làm nhân chứng đích thực cho Chúa Kitô , "Đấng vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cài nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." ( 2 Cr 8: 9).
Tóm lại, qua Truyền Thống Kế Vị Tông Đồ, và nhất là nhờ ơn soi sáng chỉ dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tiếp tục tuyển chọn các tông đồ đảm trách các chức năng Phó, tế, Linh mục, Giám mục và Hồng Y, đặc biệt nhất là chức Giám Mục Rôma, tức Đức Thánh Cha là vị Đại diện ( Vicar) duy nhất của Chúa Giêsu trong vai trò và chức năng lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ với sự hiệp thông, cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám mục Đoàn,( College of Bishops) là những người kế vị các Thánh Tông Đồ xưa.
Chúng ta cùng tha thiết cầu nguyện cho Giáo Hội luôn trung thành với Truyền Thống Tông Đổ (Apostolic Succession) để tuyển chọn các vị kế nghiệp các Tông Đồ,là các Giám Mục trong toàn Giáo Hội , cách riêng chọn người kế nghiệp Thánh Phêrô trong sứ mệnh và vai trò cai quản Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, tức là Đức Thánh Cha, Giám mục Roma. Người Đại Diện ( Vicar) duy nhất hợp pháp của Chúa Kitô trên trần thế.Amen
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn vấn đề được đặt ra.
Lm.Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn; MA, DMin (Doctor of Ministry=Tiến Sĩ Sứ Vụ)

------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

Chi Tran

ĐIỀU RĂN CHÚA DẠY
Điều Răn Thứ Ba: „Giữ ngày Chúa Nhật"
Điều Răn Thứ Ba dạy con người phải thánh hóa ngày Chúa Nhật, ngày Chúa Giêsu đã sống lại từ trong kẻ chết. Vì thế, ngày Chúa Nhật được đặc biệt dành riêng để tôn thờ, cảm tạ, vinh danh Thiên Chúa và đồng thời để thực thi các nghĩa cử, các việc từ thiện bác ái đối với mọi anh chị em đồng loại, như thăm viếng, an ủi những người đau ốm bệnh tật và hết lòng giúp đỡ các cô nhi quả phụ, các người nghèo khổ bất hạnh.
Nguyên thủy, theo Cựu Ước, Điều Răn Thứ Ba buộc phải tuân giữ Ngày Sabbatô, tức ngày Thứ Bảy, ngày Thiên Chúa nghỉ ngơi sau sáu ngày tạo dựng vũ trụ và mọi loài thọ tạo, trong đó gồm có con người và các loài thảo-, động vật.
Điều Răn Thứ Ba không chỉ dạy con người phải thánh hóa ngày Chúa Nhật, nhưng còn phải thánh hóa các ngày Lễ Buộc khác nữa qua việc sốt sắng tham dự Thánh Lễ, các Giờ Chầu Thánh Thể, kiêng việc xác và làm các nghĩa cử như đã nói trên trong ngày Chúa Nhật.
Đặc biệt, để việc tham dự các Thánh Lễ nói chung và Thánh Lễ ngày Chúa Nhật nói riêng một cách đầy đủ và đúng đắn, cũng như có hiệu quả, tức mang lại ơn ích thiêng liêng cho người tham dự, thì đương sự phải hoàn toàn tự nguyện tham dự trọn vẹn từ đầu đến cuối Thánh Lễ, nhất là tham dự vì do xác tín, vì tin yêu và vì lòng biết ơn đối với Thiên Chúa, chứ không do miễn cưỡng, do ép buộc hay vì một lý do ngoại tại nào khác.
Tiếp đến, người ta nhất thiết cần phải nhận thức và xác tín rõ ràng chân lý thần học này là việc tham dự Thánh Lễ hay việc tôn thờ và ca tụng Thiên Chúa là hoàn toàn vì con người, chứ tuyệt đối không vì Thiên Chúa; hay nói đúng hơn, thực chất của việc thờ phượng Thiên Chúa là cả một hồng ân chính Thiên Chúa dành cho con người – một thụ tạo hư hèn, yếu đuối và bất toàn lại được phép đến gần bàn thờ Đấng Tối Cao để ca tụng Người và để được Người chúc phúc cho – và đồng thời là một bổn phận đương nhiên của một thụ tạo phải chu toàn đối với Đấng Tạo Hóa toàn năng, chứ việc thờ phượng của con người tuyệt đối không mang lại hay làm tăng thêm bất cứ một mảy may vinh quang nào cho Thiên Chúa, vì Người là Đấng Chân Thiện Mỹ tuyệt đối. Thiên Chúa chỉ cho đi, chứ Người không bao giờ nhận lãnh bất cứ điều gì và bất cứ từ đâu.
Vì thế, trong trường hợp có lý do quan trọng bất khả kháng như đau ốm bệnh tật hay một ngăn trở chính đáng nào đó, không thể đi dự Lễ ngày Chúa Nhật được, thì bó buộc phải đọc kinh bù lại, chứ vì lười biếng hay khinh thường mà bỏ việc tham dự Lễ Chúa Nhật và các Lễ Buộc thì mang tội trọng trước mặt Chúa. Trong điểm này, có nhiều người do lây nhiễm môi trường sống duy vật chất, phản Kitô giáo hay chỉ giao du thân thiện với những người vô đạo, vô tín ngưỡng, v.v... nên đã dần dần đánh mất đi lòng hâm mộ đời sống tâm linh cũng như các việc thờ phượng và đạo đức khác nói chung và việc tham dự các Thánh Lễ nói riêng. Vì thấy những người khác sống bên cạnh không có tôn giáo, không sống đạo hay không đi nhà thờ, nên dần dà mình cũng trở nên khô khan nguội lạnh, thôi không muốn đi nhà thờ nữa và không muốn sống đạo nữa. Và nếu tình trạng kiểu „đạo theo" như thế cứ tiếp tục kéo dài từ năm này qua năm khác, thì cuối cùng lương tâm của đương sự cũng trở nên chai lì, không còn đủ khả năng phản ứng được nữa. Nếu thế, việc bỏ đạo là hậu quả tất yếu, không thể tránh được. Thật quả đúng: „Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng". Vì thế, phần rỗi của những người sống trong tình trạng như thế đang đứng trước một đe dọa vô cùng nguy hiểm.
Đàng khác, kiểu „đạo theo" như thế tố cáo một tình trạng tiêu cực nguy hiểm, đó là sự ấu trĩ, sự thiếu trưởng thành trong đời sống đạo, đức tin chưa thực sự đâm rễ sâu trong tâm hồn, đương sự chưa có sự xác tín cá nhân chắc chắn, vì thế chỉ biết làm theo người khác: thấy người ta đi nhà thờ đọc kinh cầu nguyện, mình cũng đi theo và làm theo, còn khi thấy không có ai đi nhà thờ, mình cũng bỏ luôn, đó là chưa nói đến những khi họ phải đối mặt với những thử thách và bắt bớ đạo. Ở đây người ta cũng có thể áp dụng lời Chúa nói: „Họ chỉ là những người chăn chiên thuê, (...) nên khi thấy sói dữ tới thì bỏ đàn chiên mà chạy" (Ga 10,12-13).
Trong khi đó, người tín hữu chân chính, trung kiên và trưởng thành, thì sống đạo không vì người này hay người nọ, nhưng vì lòng xác tín vững vàng vào Thiên Chúa, vì họ thành tâm kính sợ và mến yêu Người trên hết mọi sự, kể cả khi vì đức tin mà phải hứng chịu những thua thiệt này nọ cho bản thân và cho gia đình. Những tín hữu như thế đã hiểu rõ và sống theo lời kinh chí lý của thánh Phan-xi-cô Năm Dấu: „
- Khi quên mình là lúc gặp lại bản thân" và „chính khi chết đi là lúc vui sống muôn đời".
Vâng, những Kitô hữu như thế chắc chắn sẽ khám phá được ý nghĩa đời mình và nhất là chắc chắn sẽ tìm gặp được hạnh phúc tối hậu của mình nơi Chúa và trong Chúa.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

-----------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - PDF Print E-mail


Wed, Aug 4 at 6:07 PM

NGHI LỄ CŨ NHƯỜNG NGHI LỄ MỚI

Trần Mỹ Duyệt

"Et antiquum documentum. Novo cedat ritui." (Nghi lễ cũ nhường nghi lễ mới). Trong kinh Tantum Ergo được hát trước khi ban phép lành Thánh Thể, Thánh Tôma Aquinas đã ca tụng nghi lễ hiến tế Thánh Thể thay cho các nghi lễ trong Cựu Ước. Chúa Giêsu đã trở nên tâm điểm của mọi nghi lễ. Trong Thánh Thể, Ngài là lễ vật và là Đấng tế lễ.

Nhưng một trong những thay đổi gần đây có liên quan tới Phụng Vụ của Giáo Hội đang gây nhiều tranh cãi là việc Đức Giáo Hoàng Phanxicô, ngày 16 July 2021 đã ban hành Tông Thư dưới dạng Tự Sắc Traditionis Custodes - Những người bảo vệ truyền thống - nhằm thống nhất và hệ thống hóa việc cử hành thánh lễ theo Công Đồng Trent (1545 và 1563) đã được Đức Bênêđíctô XVI trước đây cho phép.

Trong số những người tỏ ý bất bình với quyết định của Giáo Hoàng gồm hồng y, tổng giám mục, giám mục và giáo sỹ. Tôi không thuộc thành phần giáo phẩm, giáo sỹ. Tôi cũng không phải là một nhà thần học, một giáo sư phụng vụ hay lịch sử Giáo Hội. Những gì tôi trình bày ở đây thuộc cảm nghiệm của một người đã từng có trải nghiệm về cả hai hình thức Thánh lễ: Thánh lễ Công Đồng Trent và Thánh Lễ Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI, cũng được gọi là thánh lễ theo nghi thức Roma sau công đồng Vaticanô II (1962-65).

Nhớ lại khoảng 70 năm trước, mỗi khi đi lễ, một hành động bị coi như bắt buộc, miễn cưỡng và không mấy thích thú, vì không đi là bị bố đánh đòn. Thánh lễ thời đó được cử hành bằng tiếng Latin, linh mục quay lưng về phía giáo dân. Đến với nhà thờ bằng tâm thức miễn cưỡng lại không hiểu cha đọc gì, nói gì, làm gì mà còn phải ngồi nghe một bài giảng dài, thường thì hay ít giở nhiều, nên tham dự thánh lễ kiểu đó đúng với nghĩa là đi xem lễ. "Đi xem lễ" hợp với cách diễn tả của phần đông các linh mục khi nói về việc cử hành thánh lễ là "đi làm lễ". Chỉ tiếc một điều là việc làm ấy được nhiều vị lập đi, lập lại thường xuyên một cách rất nhàm chán. Với suy nghĩ non nớt của tôi lúc bấy giờ, thà ở nhà ngủ còn sướng hơn!

Nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, sau Công Đồng Vaticanô II, thánh lễ và các nghi thức phụng vụ kể cả các bí tích được canh tân và chuyển qua thành tiếng địa phương (tiếng mẹ đẻ), nên ít nhất ngoài phần giảng giải ra, tôi cũng còn nghe và hiểu lơ mơ về các lời cầu, nhất là các bài đọc trong đó có Phúc Âm để biết Chúa nói gì, làm gì, và những gì Ngài đã thực hiện cho phần rỗi của tôi và của nhân loại. Thích nhất là phần thánh ca với những bài thánh ca hoàn toàn bằng tiếng Việt nghe đến đâu hiểu đến đó. Nó khác hẳn với phần thánh nhạc trước đó hát bằng tiếng Latin mà người hát cũng như người nghe chẳng biết nó như thế nào? Trong tinh thần đổi mới này, tôi thấy mình không phải miễn cưỡng đi lễ và không nhàm chán xem lễ, nhưng ít nhất là được cùng với linh mục, giáo dân dâng lễ, hay hiệp dâng thánh lễ.

Vậy tại sao ở các nước Âu Mỹ, ngày nay lại có một số thành phần cứ đòi cho được cử hành thánh lễ cổ điển theo tinh thần công đồng Trent? Tôi thực sự không biết, nhưng có lẽ nó phát xuất từ quan điểm của Tổng Giám Mục Marcel François Marie Joseph Lefebvre người Pháp. Ông là nghị phụ tham dự công đồng Vaticanô II, nhưng rồi cũng chính ông đã phản đối quyết định của công đồng trong việc canh tân thánh lễ. Dĩ nhiên, phong trào nào cũng vậy, quan điểm của ông cũng thu hút được một số người theo ông. Năm 1970 ông lập Huynh Đoàn Thánh Piô X để quyết tâm duy trì thánh lễ Latin. Sinh hoạt này đã gây ra nhiều phiền toái cho Giáo Hội. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã cố gắng đối thoại với nhóm này nhưng vẫn không kết quả.

Tại Việt Nam không có cái cảnh đòi hỏi này nên Giáo Hội Việt Nam xem ra nhẹ nhõm, nhưng ở các nước Âu Mỹ thì không phải vậy, nên vẫn có những thánh lễ quay lên và bằng Latin ở một số địa điểm, một số nơi, thu hút một số người. Kinh nghiệm của tôi về thánh lễ kiểu này bỗng sống lại khoảng thời gian gần đây khi tham dự thánh lễ an táng của mẹ một người bạn sinh hoạt cùng nhóm. Bà này thuộc thành phần bảo thủ theo nhóm Lefebvre nên quyết định phải được làm lễ qui lăng (lễ an táng) trong một nhà thờ có cử hành thánh lễ Latin và theo nghi thức cũ. Tham dự thánh lễ (đúng hơn là xem lễ) hôm đó mọi người nữ phải trùm đầu bằng khăn choàng đen. Thánh lễ được cử hành bằng tiếng Latin, linh mục quay lưng về phía giáo dân. Ký ức quay về thời xa xưa và thật sự hôm đó tôi phải giục lòng tin nhiều hơn mới cầm lòng, cầm trí mà "xem" cho hết ván lễ (tiếng người xưa vẫn gọi là thánh lễ). Dĩ nhiên cuối cùng thì cũng xong, ra về và không hiểu, không biết gì hết. Tôi tự hỏi, như vậy thì có ích gì? Làm như vậy để làm gì?

Theo tôi, so sánh với Thánh lễ Tridentine cũng được gọi là Thánh Lễ Latin Truyền Thống, được cử hành theo nghi lễ trong Giáo Hội Công Giáo theo sách lễ Roma từ năm 1570 đến 1962, và thánh lễ được cử hành từ năm 1962 tới giờ thì thánh lễ vẫn là thánh lễ. Chúa Giêsu vẫn là Đấng Tế Lễ và là Của Lễ. Hy lễ thập giá năm xưa vẫn tái hiện trên bàn thờ. Người tham dự kể cả linh mục lẫn giáo dân đều được nuôi dưỡng bằng bàn tiệc thiên đình gồm Lời của Chúa và Thánh Thể. Tuy nhiên, nếu được hỏi ý kiến, tôi vẫn thấy thánh lễ được cử hành như hiện nay gần gũi, dễ hiểu, và hấp dẫn người tham dự hơn. Bởi thế, tôi dùng từ tham dự hay dự lễ thay cho từ đi lễ hoặc xem lễ.

-Phẩm phục linh mục nhẹ nhàng hơn, không nặng nề, hình thức và hoa văn rườm rà như trước đây mỗi khi tôi thấy linh mục từ trong phòng thánh bước ra.

-Có tính cách cộng đồng hơn khi chủ tế cùng quay xuống, hòa đồng và cùng dâng lễ với cộng đoàn giáo dân tham dự. Thánh lễ mà chỉ có chủ tế thì thầm gì với Chúa, quay lưng về phía giáo dân thì như xa lạ, chia cách và thiếu tính cách hiệp thông cộng đoàn.

-Giáo dân tham dự được chia sẻ qua các bài đọc, lời nguyện, lời ca tiếng hát. Nhờ được cử hành bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, thánh lễ dưới hình thức này như tôi đã trình bày, thu hút được sự chú tâm, hiệp ý và tạo điều kiện cho người tham dự kết hợp, sống thánh lễ và thực hành thánh lễ trong đời sống.

-Câu hỏi tôi vẫn suy nghĩ mà sợ nói ra bị mang tiếng xúc phạm, đó là có mấy linh mục am hiểu, đọc thông, viết thạo, và nói rõ ràng tiếng Latin như tiếng mẹ đẻ? Nếu vậy, có nên nêu lên nghi vấn về những gì họ đọc và những gì họ làm không?

Một câu truyện cười nhà đạo kể về khả năng Latin của các linh mục như sau. Trong lúc truyền phép Mình Máu Thánh Chúa, khi đọc lời truyền phép một vị linh mục thay vì đọc:

HOC EST ENIM CORPUS MEUM.

(Này là Mình Ta)

Do quên sót hay sốt sắng thế nào lại đọc chữ Corpus thành Corbus (con quạ), thế là một đàn quạ bay đầy nhà thờ. Không biết trong quá khứ có bao nhiêu lần các linh mục đã đọc nhầm lời truyền phép như thế này, và nếu có thì khi rước lễ giáo dân ăn thịt Chúa hay ăn thịt quạ?!

Tóm lại, thánh lễ là vô giá, nơi Thiên Chúa đối thoại, lắng nghe dân Ngài. Ngài ban Lời và Thịt Máu Ngài làm của ăn nuôi dưỡng linh hồn tín hữu trên đường về quê trời. Chúng ta được khuyến khích siêng năng tham dự thánh lễ. Ngoài ra, chủ tế cũng không nên dùng thánh lễ như những cơ hội để khoe áo mũ, gậy gộc. Càng không nên biến tòa giảng thành nơi khoa trương kiến thức, tài hùng biện, nơi kể truyện rông rài, hoặc kết án người này, người khác. Tòa giảng là tòa chân lý, nơi công bố Lời Chúa.

Như vậy không cần phải thánh lễ quay lên hay quay xuống, thánh lễ Latin hay thánh lễ tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp... Nếu thánh lễ được dâng với tinh thần cung kính, nghiêm trang và sốt sắng thì người tín hữu sẽ không coi việc tham dự thánh lễ là xem lễ, và chủ tế không còn coi đó là việc làm nhàm chán, miễn cưỡng mà là dâng thánh lễ.

-----------------------------------------------

"NẾU ANH EM ĐỂ CHO THẦN KHÍ HƯỚNG DẪN, THÌ ANH EM KHÔNG CÒN THUỘC LỀ LUẬT NỮA" (GALAT 5, 18)

-----------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - PDF Print E-mail

Kim Vu
>
>

> THÁNH GIOAKIM (JOACHIM) VÀ THÁNH ANNA (ANNE)
>
>
>
> Thánh Gioakim và Thánh Anna là song thân của Đức Mẹ, tức là Ông Bà Ngoại của Chúa Cứu Thế Giêsu. (Xin được mở ngoặc: Có một số người thường viết lộn hoặc đọc sai là Gioan-kim).
>
>
>
> Tên Gioakim được tạo bởi chữ YHWH (tiếng Do thái: יְהוֹיָקִים Yəhôyāqîm, tiếng Hy Lạp: Ἰωακείμ Iōākeím), nghĩa là "sự chuẩn bị của Gia-vê".
>
>
>
> Thánh Gioakim là Phu quân của Thánh Anna và là Thân phụ của Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ của Chúa Giêsu, theo truyền thống Công giáo Rôma, Chính Thống giáo, và Anh giáo. Câu chuyện về Thánh Gioakim và Anna xuất hiện lần đầu tiên ở ngụy thư Phúc Âm thánh Giacôbê. Thánh Gioakim và Thánh Anna không được nhắc tới trong Kinh Thánh.
>
>
>
> Hai Ông Bà được Giáo hội kính nhớ vào ngày 26 tháng Bảy hằng năm. Đây là ngày lễ của những người đã làm ông bà (nội hay ngoại). Lễ này nhắc nhớ quý ông bà nội ngoại về trách nhiệm xây dựng các thế hệ tương lai, phải tạo truyền thống gia phong lễ giáo như phần di sản đạo đức làm của hồi môn cho cháu chắt. Tuy nhiên, lễ này cũng là lời nhắn nhủ dành cho thế hệ trẻ: Phải tôn kính người lớn hơn mình, nhất là những người già, phải biết trải nghiệm, đánh giá cao cuộc sống chứ không được coi nhẹ hoặc làm ngơ.
>
>
>
> Gia phả của Chúa Giêsu trong Phúc Âm thánh Matthêu và Luca không nói rõ tên cha mẹ của Đức Maria, nhưng có liệt kê tên người cha của thánh Giuse, nhiều học giả trong nhóm của John ở Damascus (thế kỷ 8), và đặc biệt là các học giả Tin Lành, tranh luận rằng gia phả trong Phúc Âm theo thánh Luca mới đúng là phả hệ của Đức Mẹ, và Heli là cha. Để giải quyết vấn đề thánh Giuse có hai người cha – một thuộc dòng dõi Vua Salomom, hậu duệ của Nathan, con Vua Đa-vít, truyền thống từ thế kỷ 7 xác định rằng Heli là anh em họ đầu tiên của Thánh Gioakim.
>
>
>
> Theo truyền thống, Bà Anna sinh tại Belem, kết hôn với Ông Gioakim người Nadaret, cả hai đều là dòng dõi thánh vương Đa-vít. Trong Protoevanggelium của thánh Giacôbê, thánh Gioakim được mô tả là người giàu có và đạo đức, thường giúp đỡ người nghèo và tới Đền thờ tại Sepporis. Truyền thống nói rằng cha mẹ của Đức Maria mới đầu sống ở Galilê, sau đó định cư ở Giêrusalem. Tuy nhiên, Bà Anna là phụ nữ son sẻ, ông Gioakim bị các thầy thượng tế sa thải và từ chối lễ vật hy sinh của ông, vì việc Bà Anna không có con được hiểu là việc không đẹp lòng Chúa. Ông Gioakim rút vào hoang địa để ăn chay và đền tội 40 ngày. Lúc đó các thiên thần hiện ra hứa với Ông Bà Gioakim và Anna là sẽ có con nối dõi. Sau đó, ông Gioakim trở lại Giêrusalem và đón bà Anna tại cổng thành. Có niềm tin cổ cho rằng đứa con sinh bởi người mẹ già là đã được tiền định về điều gì đó kỳ lạ. Trong Cựu ước có trường hợp của Bà Hannah, Thân mẫu của Ngôn sứ Samuel.
>
>
>
> Truyền thuyết liên quan Ông Bà Gioakim và Anna có trong "Cổ Tích Vàng" (Golden Legend) và vẫn phổ biến trong nghệ thuật Kitô giáo cho tới khi Công đồng Trentô xác nhận đó là các sự kiện ngụy tạo.
>
>
>
> Phụng vụ theo lịch Tridentine không có lễ Thánh Gioakim. Lễ này được thêm vào Công Lịch Rôma từ năm 1584, mừng vào ngày 20-3, ngay sau lễ Đức Thánh Giuse Phu quân Đức Mẹ. Năm 1738, lễ này được chuyển sang Chúa nhật sau tuần bát nhật lễ Đức Mẹ Mông Triệu. Với nỗ lực để Phụng vụ các Chúa nhật được cử hành, Đức Giáo Hoàng Piô X đã chuyển lễ này sang ngày 16 tháng Tám, sau lễ Đức Mẹ Mông Triệu, để Thánh Gioakim được kính nhớ trong khi cử hành cuộc khải hoàn của Đức Mẹ. Trong lịch các thánh của Giáo hội Công giáo Rôma (năm 1969), lễ Thánh Gioakim được mừng chung với Thánh Anna vào ngày 26 tháng Bảy.
>
>
>
> Giáo hội Chính thống Đông phương và Công giáo Hy Lạp kính nhớ thánh Gioakim và thánh Anna vào ngày 9 tháng Chín. Thánh Gioakim và thánh Anna là thánh bổn mạng của các cha mẹ, các ông bà nội ngoại, những người kết hôn, những người đóng tủ và những người buôn vải. Có một số biểu tượng gắn liền với thánh Gioakim: Cuốn sách hoặc cuộn giấy tượng trưng người dệt vải, chiếc gậy chăn chiên tượng trưng chữ nghĩa của Kitô giáo, và cái rổ đựng đôi chim bồ câu tượng trưng sự hòa bình. Thánh Gioakim thường có trang phục màu xanh lá cây, màu của niềm hy vọng.
>
>
>
> Trong Kinh thánh, hai thánh sử Matthêu và Luca cung cấp gia phả của Chúa Giêsu, cho thấy rằng Chúa Giêsu là đỉnh cao của Giao ước (những lời hứa). Chúng ta không biết gì nhiều, ngay cả ông bà ngoại Gioakim và Anna cũng chỉ được nhắc tới sau khi Chúa Giêsu chịu chết được hơn 100 năm.
>
>
>
> Đức tính anh hùng và sự thánh thiện của các ngài được suy ra từ bầu khí gia đình liên quan Đức Maria trong Kinh thánh. Dựa vào truyền thuyết thời thơ ấu của Đức Maria hoặc suy đoán từ thông tin trong Kinh thánh, chúng ta thấy sự viên mãn của nhiều thế hệ của những con người cầu nguyện, chính Đức Mẹ đã say đắm cầu nguyện theo truyền thống tôn giáo.
>
>
>
 Tính cách mạnh mẽ của Đức Maria thể hiện khi quyết định "xin vâng" (Lc 1:38), liên lỉ cầu nguyện, tuân thủ luật đức tin, sự vững vàng khi gặp khủng hoảng, và tận tụy với những ngườ>i thân (Lc 1:39-45) – cho thấy gia đình gắn bó yêu thương, trông mong thế hệ kế tiếp duy trì những điều tốt đẹp nhất của quá khứ.
>
>
>
> Ông Bà Gioakim và Anna biểu hiện các thế hệ khá lặng lẽ khi trung thành thực hiện trách nhiệm, sống đức tin và thiết lập môi trường tốt lành cho Đấng Thiên Sai tới.
>
>
>
> Lạy Thánh Gioakim và Thánh Anna, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con. Amen.
>
>
>
> Nguồn: https://ditimchanly.org
>
----------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 172