mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay699
mod_vvisit_counterHôm Qua6098
mod_vvisit_counterTuần Này18161
mod_vvisit_counterTuần Trước50576
mod_vvisit_counterTháng Này200623
mod_vvisit_counterTháng Trước245784
mod_vvisit_counterTất cả8689666

We have: 128 guests online
Your IP: 54.146.18.105
 , 
Today: Jun 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 381= CAC TON GIAO PDF Print E-mail

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

Hỏi: Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.v
Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.

Trả lời:
như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra khiến KitôGiáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa
là Anh Giáo ( Anglican Comm) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh
chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.
Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I-Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn Kitô đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo.
Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople ( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)
Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 5 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 ( đã về hưu năm 2012) đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo. Dầu vậy, một biến cố mới xẩy ra trong năm qua (2016) là Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp Thượng Phụ Giáo Hội Chính Thông Nga tại Mexico, nhưng kết quả của cuộc gặp gỡ lịch sử này giữa hai vi lãnh đạo Công Giáo và Chính Thống Nga không được công bố sau đó.Nhưng đây là một dấu chỉ tích cực giữa hai Giáo Hội anh em.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- đã bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".
Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I năm 1966.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.
Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu của Chính Thống nếu không tìm được nhà thờ Công Giáo hay linh mục Công giáo khi cần..

2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Viêt Nam.

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: các Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã ch đến nay.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).
Vì Chính Thống Giáo có đủ bảy bí tích hữu hiệu, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu ở nhà thờ và các linh mục Chính Thống, nếu không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo nơi mình cư ngụ.

II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó.Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism)nói trên. Một đặc điểm của các giáo phải Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Roma cho đến các giáo hội địa phương ở mỗi quốc gia.Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, nhân sự, tài chính và phương thức hành đạo.

1-Ở góc độ thần học,
Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị.Do đó, chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).
Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ:
"không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.
Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình
Là bí tích hòa giải mà các giám mục và linh mục Công Giáo được phép tha tội cho các hối nhân nhân danh Chúa Kito ( in persona Christi).
,
Lại nữa, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh., Nhưng đó không phải là cử hành Bí Tích Thánh Thể ( Eucharist) như trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương.. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng kinh thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo Hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi Ai dưới đất là Cha, là Thầy .". anh em Tin Lành hiểu lời Chúa trong ngữ cảnh (context) câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là 'lạc giáo=heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô
kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ
của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.
Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.
Chính vì không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh Giáo Hội duy nhất của Chúa Kito nên đây là trở ngại lớn cho các nhánh Tin Lành muốn hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo.

3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành và Anh Giáo đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession)- và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường ( Martin Luther, John Calvin..Henry XIII) chứ không phải là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của Chúa trên Đá Tảng Phêrô.( Mt 16: 18-19) và " Giáo Hội này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phê rô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển" như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã nhìn nhận. ( x. LG. số 8). Cho nên các nhánh Tin Lành và Anh giáo đều không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm Tin Lành và Anh Giáo chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullah, thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự tòng.(catechumens). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (comm) và hiệp nhất ( unity) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Tông đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Roma coi sóc và lãnh đạo với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn. (College of Bishops).
Ươc mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 380 = MINH MAU CHUA KITO PDF Print E-mail

SUY NIÊM LỜI CHÚA NHÂN LỄ KÍNH MÌNH MÁU CHÚA KITÔ ( CORPUS CHRISTI)
Là người Việt Nam lớn tuổi, ai cũng còn nhớ tai họa chết đói của dân Miền Bắc năm 1945 khiến hai triệu đồng bào ta đã chết đói vì hậu quả quân Nhật bắt dân miền bắc phải trông đay thay vì trồng lúa để có gạo ăn. Đó là cách quân Nhật ngăn chặn sự chống đối ách cai trị của họ bằng cách cắt nguồn lương thực khiến dân đói và không còn sức để kháng chiến nữa. Đọc lại tài liệu cũ ai cũng phải bùi ngùi xúc động khi biết mỗi sáng ở Hanội, chính quyền thành phố đã phải cho xe đi lượm sác người chết đói nằm rải rác ngoài đường phố.
Khi ấy tôi còn nhỏ nên không biết gì về nạn chết đói ghê sợ này. Nhưng trong chuyến vượt biên đi tìm tự do năm 1983, tôi cũng đã phải trả qua ít ngày đói khát trên biển vì hết lương thực và nước uống, trước khi được vớt vào bờ. Tôi không bao giờ có thể quên được Kinh nghiệm đói khát này, dù chỉ có trong vài ngày .
Đó cũng là kinh nghiệm của dân Do Thái xưa khi họ phải sống trong hoang địa suốt 40 năm, sau khi ông Mô Sê dẫn họ vượt qua biển đỏ từ Ai Cập trở về quê hương an toàn. Họ phải sống trong hoang địa để được thử thách về lòng tin yêu Thiên Chúa của họ trước khi họ được vào Đất Hứa tràn đầy sữa và mật ong.
Vì sống trong hoang địa, nên họ không có gì để ăn và nước để uống. Trước cơn đói khát của họ, Thiên Chúa đã cảm thông và cho tuôn đổ từ trời xuống một thức ăn đặc biết gọi là bánh manna để nuôi sống họ.( Xh 16: 4-5)
Và để có nước cho họ uống , Thiên Chúa cũng sai ông Mô -sê lấy gậy đập vào đá tảng để có nước chảy ra cho dân và súc vật uống ( Ds 20: 7-8)
Như thế, là con người, ai ai cũng phải cần đến lương thực nuôi thân xác bao lâu còn sống trên trần gian và trong thân xác có ngày sẽ phải chết đi này.
Thật vậy, là người có niềm tin Thiên Chúa và tin có sự sống đời đời, sau khi phải chết trong thân xác này, chúng ta không chỉ lo cho có của ăn phần xác thôi mà quan trọng hơn nữa là phải lo cho sự sống của linh hồn, là thực thể sẽ được sống mãi hay phải hư mất sau khi chết trong thân xác, và linh hồn phải ra trước tòa Chúa để chịu phán xét,
Chính vì tầm quan trọng này về sự sống của linh hồn, nên trước hết, chúng ta cần đọc lại lời Chúa Giêsu đã nói với tên quỉ đến cám dỗ Chúa khi người ăn chay trong rừng vắng . Qủi cám dỗ Chúa biến đá ra bánh mà ăn khi biết Chúa đang đói sau 40 ngày chay tịnh. Chúa đã trả lời tên quỉ như sau :
Người ta sống không phải chỉ nhờ cơm bánh mà còn nhờ mọi lời từ miêng Thiên Chúa phán ra.( Lc 4: 4; Đnl 8: 3 )
Nghĩa là cho sự sống của linh hồn, người có niềm tin Thên Chúa phải cần đến lương thực trường sinh là lời Chúa, tức lời hằng sống mà Phê rô đã tuyên xưng một ngày kia như sau :
" Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai. Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời." ( Ga 6: 68)
Lời ban sự sống đó là lời Chúa Giê su đã nói với dân Do Thái xưa như sau:
" anh em hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa , còn các thứ kia Người sẽ thêm cho."( Lc 12: 31)
Các thứ kia là những của nuôi thân xác, quần áo, xe cộ ,nhà ở và công việc làm để có tiền lo cho bản thân và gia đình.
Hơn thế nữa, Lời ban sự sống cũng là lời Chúa Giêsu đã khuyên dạy các môn đệ và dân chúng đến nghe Người giảng dạy xưa kia về sự cần thiết phải lo cho phần rỗi của mình hơn là chỉ lo làm giầu,có nhiều tiền và được danh vọng ở đời này:
Chúa nói : Nguời nào được cả thế giới mà phải mất linh hồn-(tức là mất sự sống trong linh hồn) - thì được ích lợi gì ? (Lc 9: 25)
Thử hỏi: có mấy ai được lợi lãi cả thế giới này đâu ?. Nhưng cho dù có được hết mọi sự trên trần gian này, mà mất linh hồn thì những lợi lãi kia có bù đắp được không? Đó là câu hỏi mà chúng ta, những người có niềm tin vào sự sống đời đời, phải nghiêm khắc suy nghĩ và tự trả lời.
Vì thế, Cho mục đích tìm của ăn nuôi linh hồn, nuôi sự sống đời đời , Phúc Âm Chúa Nhật lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô hôm nay mời gọi mọi người chúng ta suy niêm sâu xa về lời Chúa Giê su đã nói vơi dân Do Thái được ghi lại trong Tin Mừng Thánh Gioan như sau :
" Tổ tiên các ông đã ăn man na trong sa mạc , nhưng đã chết
Tôi là bánh hằng sống từ trời xuông
Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời,
vì bánh tôi sẽ ban tặng là chính thịt tôi đây để cho thế gian được sống:
Ai ăn thịt tôi và uống máu tôi thì được sống muôn đời và tôi sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết ( Ga 6 : 51-54)
Như thế, đủ cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu đã ban chính thịt máu mình làm của ăn của uống để nuội sống linh hồn chúng ta trong cuộc lữ hành về quê trời với hy vọng được sống lại sau khi phải chết trong thân xác như Chúa đã hứa trên đây.
Đó là lý do vì sao Chúa Kitô đã lập bí tích Thánh Thể trong bữa ăn cuối cùng với 12 Tông Đồ, trước khi Người bị trao nộp cho kẻ dữ bắt bớ, hành hung và bị treo trên thập giá cho đến chết. Trong bữa ăn lịch sử nói trên, Chúa đã biến bánh và rượu nho thành Mình, Máu Người và trao cho các tông đồ hiện diện ăn uống lần đầu tiên.
Chúa đã nói với các ông như sau:
: Đây là Mình Thầy anh em hãy lãnh nhận mà ăn "
Người cũng trao chén rượu cho các ông và nói :
" anh em hãy lãnh nhận mà uống . Đây là máu Thầy, máu giao ước đổ ra cho anh em và cho nhiều người được tha tội . Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy . ( Mt 26: 26-28; Lc 22: 19-20; 1 Cor 11 : 23- 25)
Tuân lời Chúa dạy, Từ đó đến nay, Giáo Hội tiếp tục cử hành Thánh lễ Tạ ơn để diễn lại bữa ăn cuối cùng của Chúa và hy tế thập giá sau đó để đền tội thay cho nhân loại ngày nay cùng thể thức và mục đích của Hy Tế thập giá Chúa dâng lên Chúa Cha xưa trên Núi Sọ.
Như thế, mỗi lần chúng ta tham dự Thánh Lễ. là tham dự bữa ăn của Chúa.
Và khi rước Minh Máu Chúa cách xứng đáng, thực sự hiện diện dưới hai hình bánh và rượu nho, chúng ta được ăn chính thịt và uống máu Chúa Kitô như các Tông Đồ đã được ăn và uống lần đầu tiên trong bữa ăn sau hết với Chúa trước khi Người thọ nạn thập giá để đền tội thay cho mọi người chúng ta.
Mình Máu Chúa Kitô thực sự là của ăn của uống cho ta được sống đời đời với Chúa, sau khi kết thúc hành trình đức tin trên trần thế này. Thực phẩm quí giá này không thể mua được bằng vàng bạc kim cương hay bất cứ loại tiền tệ nào có trên trần gian này, mà chỉ có Chúa Kitô ban phát miễn phí cho chúng ta hưởng dùng mà thôi.
Vậy, ta phải hoan hỉ mỗi khi tham dự Thánh Lễ để được ăn và uống Mình Máu Chúa Kitô , là bánh hằng sống từ trời xuống để nuôi sống linh hồn chúng ta ngay từ bây giờ trước khi chúng ta được thực sự chiêm ngưỡng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng mai sau.
Nhưng cho được xứng đáng ăn thịt và uống máu Chúa Kitô, hay nói khác đi, là được rước Chúa vào lòng cách xứng hợp mỗi khi tham dự Thánh Lễ Tạ Ơn, chúng cần nhớ lại giáo lý của Giáo Hội về điều kiện để được rước Chúa cách xứng đáng : Đó là ta phải sạch tội trọng, vì ai đang có tội trọng thì không được làm lễ (đối với linh mục) và rước Lễ (đối với giáo dân) ( X giáo luật số 916, SGLGHCG số 1415)
Phải sạch tội trọng vì tội này cắt đứt tình thân giữa con người và Thiên Chúa. Do đó, ai mắc tội này phải mau kíp đi xưng tội để được giao hòa lại với Thiên Chúa trước khi rước Chúa Kitô vào lòng.Ai rước Chúa đang khi còn tội trọng trong linh hồn là phạm sự thánh.( Sacrilege)
Chúng ta vô cùng cảm tạ Chúa Kitô vì ơn cứu độ Chúa đã mang lại cho chúng ta qua khổ hình thập giá, chết , sống lại và lên trời. Chúng ta cảm tạ Chúa đặc biệt trong Chúa Nhật kinh Mình Máu Chúa hôm nay , vì Chúa đã ban chính thịt máu Người làm của ăn của uống cho linh hồn ta được sống sau khi phải chết trong thân xác yếu hèn này.
Xin Mẹ Maria, Đấng đã cưu mang Chúa Giêsu -Kitô , tức là người đầu tiên được rước Chúa vào cung lòng vẹn sạch của Mẹ, giúp chúng ta thêm yêu mến phép Thánh Thể, siêng năng rước Mình Máu Chúa Kitô mỗi khi tham dự Thánh lễ để được bổ sức thiêng liêng cho hành trình tiến về quê Trời và nhất là có hy vọng được sống lại sau khi phải chết trong thân xác như Chúa đã hứa :.
" Ai ăn thjt và uống máu Ta , thì được sống muôn đời
Và Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại vào ngày sau hết. ( Ga 6: 54)
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 379 = THIEN CHUA THINH LANG PDF Print E-mail

Thần-học-gia toại-nguyện,

người ấy chính là tôi.

Chương 5

Tương-quan chặt-chẽ giữa

Con người - Đức Kitô – Thiên Chúa

(Bài 15)

Chúa hiện-diện trong lặng-thinh

Con người, là hình ảnh của Thiên-Chúa, rất Ba Ngôi. Đó là khẳng-định nền-tảng.

Là, "Hình-ảnh của Thiên-Chúa", điều này có nghĩa: như thời cổ sử, hình-ảnh của hoàng-đế La Mã được thiết-dựng ở mọi nơi trên toàn đế-quốc, có ý nói rằng: "Hoàng-đế là Chúa-tể càn khôn."

Thiên-Chúa đã làm thế khi Ngài tạo-dựng con người. Ngài đặt hình-ảnh của chính Ngài nơi con người, để bảo rằng:

Ngài là Đức Chúa, Đấng Tối Cao ngự-trị trên mọi tạo-vật.

Và, con người là ảnh-hình của Thiên-Chúa, vẫn rất đúng. Nói đến người đại-diện Thiên-Chúa, là nói về con người rất như thế. Chúng ta, là kẻ đại-diện cho Thiên-Chúa qua tạo-dựng.

Mọi người, đều có thể biện-bạch về hình-ảnh của Thiên-Chúa; nhưng theo tôi nghĩ, khi về với hình-ảnh của vị hoàng-đế nào đó, ý-niệm này hiện ra thật rõ nét: Ta là Đức Chúa.

Con người, là hình-ảnh của Thiên-Chúa. Điều này, còn có nghĩa: nhân-loại, rõ ràng đại-diện cho Thiên-Chúa. Con người, là hình-ảnh của Thiên-Chúa ở chỗ và vào khi họ thực-thi công-bằng; và khi họ tôn-trọng sự toàn-vẹn của tạo-dựng, cùng nhau thực-hiện việc kết-đoàn, để tồn-tại.

Cũng có thể bảo: ở nơi nào có Thiên-Chúa ngự-trị, thì con người có quyền làm người. Bằng vào nhân-tính của mình, nam-nhân/nữ-giới đều chứng tỏ triều-đại của Thiên-Chúa trong lịch-sử. Và, chính nam-nhân/nữ-giới đều đã làm trung-gian cho sự hiện-hữu của Vương Quốc Nước Trời.

Nói rõ hơn, Vương Quốc Nước Trời là Thiên-Chúa, là ân-sủng của Thiên-Chúa, là quà-tặng "nhưng-không" của Thiên-Chúa, được trung-gian-hoá ngang qua con người. Chính bằng vào sự việc này, mà ngành nhân-chủng-học và thần-học về Đấng Cứu Thế nối-kết với nhau, rất chặt chẽ.

Con người, là hình-ảnh của Thiên-Chúa. Và, là Đức Kitô, hình-ảnh đơn-thuần của Thiên-Chúa như thư thánh Phaolô gửi giáo-đoàn Côlôsê, đã nói như thế. Nhưng, ở đây, vẫn có sự khác-biệt. Nói khác đi, Đức Kitô là hình-ảnh của Thiên-Chúa duy-nhất không nơi nào có. Con người có được sự biệt-lập trong mối tương-quan ta có với Thiên-Chúa giống như người vô-thần vẫn nhận-định cách thực-tế như thế.

Con người có hiểu/biết trí-thức, dù họ không quay về với Thiên-Chúa, vì còn nằm ở phạm-vi nhân-loại, nhưng vẫn biệt-lập mà không cần đến Thiên-Chúa, như ngành nhân-chủng-học từng diễn-tả như thế.

Nhưng ở đây, những chuyện như thế lại không thể thành hiện-thực với Đức Giêsu Kitô, bằng cách-thức tương-tự được.

Nhân-tính của Ngài, là hình-thức có một không hai, vẫn qui về Thiên Chúa qua tương-quan của người Con với Thiên-Chúa-Cha, đã tạo nên nhân-tính của Đức Giêsu.

Xem thế thì, bản-chất con người vẫn có thể qui về Thiên-Chúa, ngang qua tính biệt-lập của Ngài. Nơi Đức Giêsu Kitô cũng thế.

Ngài có sự biệt-lập mang tính rất người, nhưng biệt-lập đây được thành-lập là nhờ vào tương-quan làm Con của Ngài đối với Cha.

Cả Đức Giêsu Kitô lẫn con người, dù theo cung-cách rất khác-biệt, vẫn là hình-ảnh của Thiên-Chúa.

Tính-cách "nhưng-không" của Thiên-Chúa

Trong cuốn sách thứ ba viết về Kitô-học, tôi có nói đến tính "nhưng-không" của Thiên-Chúa theo âm-giọng khá "trữ-tình" khiến người đọc cảm-kích cũng rất nhiều.

Cốt-tuỷ của Thiên-Chúa, là sự tự-do tuyệt-đối.

Triết-học kinh-điển đã tách-bạch giữa bản-chất của Thiên-Chúa và sự tự-do của Ngài.

Lại có sự khác-biệt xuất-hiện từ phép biện-chứng của ông Tôma Akinô. Theo ông thì, bản-chất của Thiên-Chúa không cần-thiết phải như thế, nhưng nhất-thiết là sự tự-do của Ngài xét theo cách tuyệt-đối.

Trong tương-quan với ta là con người, bản-chất của Thiên-Chúa đã nên mới mẻ vào mọi lúc; bởi lẽ, đó chính là tự-do tuyệt-đối. Đây, chính là sự ngỡ-ngàng xảy ra mọi lúc trong cuộc đời người của ta, và cả trong chốn vĩnh-cửu nữa. Đây, là sự ngỡ-ngàng tuyệt-đối.

Thành thử, ta có thể nói mà không sợ bị coi là sai lầm, rằng: không có sự khác-biệt giữa bản-chất của Thiên-Chúa và tự-do của Ngài. Nói cách khác, tự-do của Thiên-Chúa xuất tự ý-chí có tự-do của Ngài, tức: Ngài có khả-năng chọn-lựa giữa điều tốt và cái xấu. Và, đó có thể sẽ là thứ tự-do có chừng có mực, đầy hạn-chế. Tuy thế, bản-chất của Thiên-Chúa là tự-do vô-hạn-định, và tuyệt đối.

Đó chính là lý-do cho thấy: tại sao Thiên-Chúa, tự bản-chất, Ngài lại là sự "nhưng-không" hoàn-toàn tuyệt-đối.

Đây, cũng là lý-do tại sao ta không thể xác-chứng được sự hiện-hữu của Thiên-Chúa bằng luận-cứ xuất từ lý-trí mà ra. Tất cả những gì ta nói được rằng: trong cuộc sống rất 'người' của ta, từ cá-nhân cho đến tập-thể, đều có những mốc-điểm/nơi chốn, mà qua đó việc nói về Thiên-Chúa lại đã trở-thành chuyện có thể nhận-thức bằng trí-óc cũng rất được.

Nhưng, việc Thiên-Chúa hiện-hữu, đối với ta, hoàn-toàn là chuyện "nhưng-không".

Và, tính-chất "nhưng-không" này, ta không thể chứng-minh được. Như thế cũng đủ để nói lên một sự thật rồi.

Hệt như thế, thời-khắc nào cũng là chuyện mới mẻ, đối với ta. Bởi, đó là chuyện "nhưng-không", là tự-do tuyệt-đối.

Lại có nơi, qua đó câu chuyện về Thiên-Chúa đều đã khiến con người hiểu/biết được; nhưng không thể xác-chứng được Thiên-Chúa hiện-hữu; mà đơn-giản chỉ chứng-minh được rằng: ta có cơ-sở để nói về Thiên-Chúa, tức có nghĩa:

ta chỉ có thể chứng-minh rằng: ta có đủ trí thông-minh để nói về Thiên-Chúa, thôi.

Thánh Tôma Akinô, bằng vào 5 đường-lối khá lỗi-lạc do mình đề ra, ông chỉ muốn cắt-nghĩa cho mọi người hiểu rằng:

niềm tin vào sự hiện-hữu của Thiên-Chúa, vẫn có nền-tảng để ta biện-bạch và nhờ đó, con người mới có thể hiểu được mà thôi.

Thành thử, con người chúng ta đều có thể nói đến Thiên-Chúa

và nói về Thiên-Chúa nhưng không là chuyện vô lẽ.

Tuy nhiên, đây không là bằng-cớ chứng-tỏ Thiên-Chúa vẫn hiện-diện với con người.

Tôi luôn nói về sự hiện-diện cách "nhưng-không" và tuyệt-đối của Thiên-Chúa liên-quan đến các tạo-vật. Cả vào khi Thiên-Chúa im-lặng, Ngài vẫn có mặt và từ đó, ta vẫn tin-tưởng vào sự "nhưng-không" của việc Ngài hiện-hữu đến như thế. Kinh-nghiệm của ta cho thấy: ta có thể chối bỏ mà đi ngược lại sự có mặt của Ngài, cũng được.

Thiên-Chúa kín ẩn và lặng thinh

Thiên-Chúa hiện-hữu, là nền-tảng mọi sự đặt trên tất cả mọi thứ, nếu ta so với sự hiện-diện của ác-thần/sự-dữ và khổ-đau trên thế-gian.

Không phải Thiên-Chúa định-hình đau-khổ;

nhưng Ngài có mặt ở nơi đó bằng sự lặng-thinh.

Cả vào khi Đức Giêsu tạ thế, Thiên-Chúa vẫn có mặt ở đó, nhưng Ngài lại cứ thinh-lặng. Sự chết xảy đến, đúng vào lúc Thiên-Chúa giữ kín ẩn và thinh-lặng. Đó, là sự đau-khổ rất cùng tột.

Nhưng, những ai tin vào Thiên-Chúa đều biết rằng Ngài lặng-thinh như thế không có nghĩa là Ngài tránh mặt vào lúc đó.

Thành ra, con người vẫn có thể tin-tưởng vào Thiên-Chúa, cả vào khi mọi sự đều ở trong thinh-lặng, đến tột cùng.

Sợi giây nối-kết giữa nhân-loại và ân-huệ, đó là: sự hiện-diện tuyệt-đối của Thiên-Chúa; là việc tự-do rất vẹn-toàn, do đó ơn cứu-độ mới xảy đến với con người.

Thiên-Chúa, Ngài không chỉ hiện-diện trong lặng thinh, kín ẩn mà thôi,

nhưng Ngài còn hiện-diện cách "nhưng-không" và tư riêng nữa,

để rồi nhờ đó ta có thể chuyện trò Ngài, vãn than về những khổ-đau mình chịu, được với Ngài.

Sự lặng-thinh tuyệt-đối của Thiên-Chúa, biểu-lộ rõ việc Ngài hiện-diện một cách tuyệt-đối, không điều-kiện.

Vô thần

Thiên-Chúa hiện-hữu cách tuyệt-đối là sự hiện-diện trong thinh-lặng, và ẩn kín. Con người nay có thể lưu lại trong kinh-nghiệm về sự ngẫu-nhiên hệt như các nhà vô-thần, tuy không vượt lướt đằng sau đó mà chẳng đặt để chính mình vào tương-quan với Thiên-Chúa, Khi ta bảo: với tư-cách là Ki tô-hữu ta biết được là Thiên-Chúa luôn ở trong thinh-lặng, thì những người chủ trương vô thần/vô thánh lại là một sự-kiện có thật. Chính vì thế, mà ta chẳng thể nào chứng minh được sự hiện-hữu rất lặng thinh ấy.

Chủ-nghĩa vô-thần chẳng tin vào thần-thánh, lại là sự thể rất khả thi. Thời Trung Cổ và tiền-sử, đây chỉ là triết-học không tin chuyện thần thánh không hơn không kém.

Nhưng, ở thời hiện-đại, thuyết vô-thần lại nằm mãi trong các giả-định chỉ có tính lý-thuyết, mà thôi. Sự thinh-lặng của Thiên-Chúa có thể được diễn-nghĩa như Thiên-Chúa không hề hiện-hữu.

Chủ-thuyết vô-thần, là sự khả-thi mang tính con người. Nơi chủ-thuyết này, luôn thấy có thể-loại về sự hợp lý.

Kinh nghiệm về tính ngẫu-nhiên nơi con người có thể dẫn ta đến Thiên-Chúa hoặc dẫn vào tình-huống ta chối bỏ Ngài, chứ thật ra không phải là cảm-nghiệm được Ngài. Cả đến thuyết duy-thần thánh lẫn vô-thần thảy đều không thể chứng-minh được. Chúng là thành-phần của kinh-nghiệm về thực-tại khả dĩ diễn-nghĩa được.

Tôi thường bác bỏ chuyện nhiều người chủ trương rằng: người vô-thần không tin gì hết và chỉ những ai là hội viên của tôn-giáo nào đó mới tin-tưởng vào thần thánh, thôi.

Thật ra thì, tất cả mọi người đều tin-tưởng không vào vị này thì cũng vào vị khác, nhưng niềm tin của họ có nội-dung khác nhau, mà thôi.

Bằng vào kinh-nghiệm về sự ngẫu-nhiên, người ta mới rút ra được tính-cách "nhưng-không" của Thiên-Chúa và các kinh-nghiệm khác về sự trống rỗng, không có gì.

Kinh-nghiệm về ngẫu-nhiên chạm mặt với bản-thể người có chọn-lựa; hoặc bằng việc tin vào tính "nhưng-không" của Thiên-Chúa hoặc chối-bỏ một vị Chúa lại cứ giữ thinh-lặng.

Do sự hiện-diện của Thiên-Chúa hoàn-toàn mang tính tuyệt-đối, ta lại không thể định-vị được Ngài trong thế-gian. Thiên-Chúa ôm chặt mọi tạo-vật.

Thiên-Chúa ở mọi chốn và Ngài siêu-thăng mọi sự.

Thiên-Chúa là Lời nói và là sự lặng-thinh.

Thinh-lặng sản-sinh ra lời nguyện cầu, nhưng nó cũng không thể nào khiến cho con người nhận ra được sự trống-rỗng/hư-không, được hết.

Sự hiện-diện trong lặng-thinh, là điều ta có thể chấp-nhận được, nhưng nó lại không thể nào xâm-nhập được vào chốn bí-nhiệm theo cách tư-riêng của nó được.

Thế nên, ta có thể nhờ vào lời nguyện cầu hiểu theo nghĩa chìm ngập vào bên trong tính huyền-bí/nhiệm-mầu mà không cần hỏi bất cứ điều gì; cũng không cần phải dấn thân vào cuộc đối-thoại với bất cứ ai.

Đó, không là lời nguyện cầu của kẻ tin,

mà là sự chìm/đắm trọn-vẹn trong đại-dương mênh-mông của vô-tận,

hiểu như một thứ tích-cực bí-hiểm.

Thành thử, đứng trước sự "nhưng-không" của Thiên-Chúa, vẫn có thể có 3 loại khả-thi, như:

sự chấp-nhận dẫn đến lời nguyện cầu tư riêng,

đến chủ-thuyết vô-thần,

và một thứ tích-cực bí-hiểm.

Rồi ra, ta sẽ quay trở về đề-tài này ở các phần kế-tiếp.

(còn tiếp)

Lm Edward Schillebecckx chuyện trò với Francesco Strazzari

Mai Tá lược dịch

------------------------------

 

 
HOC HOI DE SONG DAO # 378=THANH THE VA LONG MEN PDF Print E-mail

Thánh Thể và lòng mến:
Trưởng Thành

Kristie Phan chuyển
Có người băn khoăn khi đón nhận mầu nhiệm Thánh Thể bằng một câu hỏi: "Tội như thế nào thì không được rước Lễ?"
Họ nhìn bí tích tình yêu với một chọn lựa nguyên tắc hơn là mức độ trưởng thành. Sợ lề luật hơn là thúc đẩy bởi lòng mến. Khi nói tội như thế nào, nghĩa là họ vẽ lằn mức. Họ nhìn tội là những đơn vị đo lường. Nếu bảo tội nặng bằng này, không được rước lễ. Vậy tôi bớt đi một chút, có được rước lễ chăng? Bớt bằng nào để vừa đủ để rước lễ?

Vị đạo sĩ đưa khúc mía còn nguyên vỏ cho người học trò, bảo anh ăn. Khúc mía rất ngọt. Người học trò đưa lên miệng lấy răng cắn vào vỏ mía. Vừa cắn vào, đau buốt óc, anh không thể cắn nổi vì răng anh đau. Càng cố cắn, càng khốn nạn cho mình. Đây là cách hiểu lời Thánh Phaolô gởi giáo-đoàn Côrintô: "Ai nấy hãy tự xét mình rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa là tự chuốc lấy án phạt cho mình." (1 Cr 11:22). Khúc mía vẫn ngọt. Anh từ chối khúc mía hay khúc mía từ chối anh?

Vị đạo sĩ hỏi người học trò: "Khúc mía có ra hình phạt cho con không? Anh im lặng hỏi lòng mình....
Có ai đem đĩa cơm thịt nướng rất thơm cho xác chết trong nhà quàn không? Nhét vào miệng đến đâu xác vẫn cứ nằm đó, mắt nhắm và môi cứ lạnh. Càng nhét vào miệng ta càng thấy rợn người. Ta hiểu xác chết không có khả năng để ăn chứ không phải đĩa cơm từ chối. Tội làm linh hồn tôi chết, nó không còn khả năng thích hợp đón nhận sự thánh thiện. Bản chất của bình an không đi với gian dối. Niềm vui không đi với lỗi phạm. "Anh em không thể vừa uống chén của Chúa và chén của ma quỷ được," (1 Cr 10:21)

Giáo-lý trả lời, có tội trọng thì không được rư���c lễ.
Dễ hiểu. Vấn đề là:
Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Côrintô: "Khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con. Nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi loại bỏ tất cả những gì là trẻ con." (1 Cr 13:11). Giả sử bạn nghe tiếng nhỏ to: "Bận rộn thế này mà ngày mai lại phải vác mặt đến nhà ông ấy." Họ không muốn nhưng vì lý do xã giao phải đến. Rồi ngày mai người đó phải đến nhà bạn. Rồi lại cũng xã giao, cười cười, nói nói, nhưng lòng dạ chán lắm. Bạn có vui trong cuộc gặp gỡ không?

Đừng hỏi có ăn được khúc mía không. Mía bao giờ cũng ngọt, cũng thơm ngon. Tùy khả năng của mình.
Trích sách "Đường Đi Một Mình" của Lm. Nguyễn Tầm Thường.
~^~
Lạy Chúa,
Có tình yêu thì Thánh Thể mới là hoa trái.
Và hoa trái của Thánh Thể là Tình Yêu.
NHỜ THÁNH THẦN con tham dự thánh lễ với một tâm hồn "vui vẻ",
như các tín hữu đầu tiên siêng năng tham dự lễ bẻ bánh với lòng đơn sơ vui vẻ.
"Họ ca ngợi Ch��a, và được toàn dân thương mến.
Và Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ." (CV 2:42)

-----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 377 = BANH TRUONG SINH PDF Print E-mail

BÁNH TRƯỜNG SINH

(Lễ Mình Máu Thánh Chúa, năm A)

Thánh Thể liên quan đức tin, bởi vì "đây là mầu nhiệm đức tin". Giáo Hội đã xác định như vậy, và mỗi khi lãnh nhận Thánh Thể, mỗi chúng ta có trách nhiệm "loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại cho tới khi Chúa đến".

Có rất nhiều loại bánh. Mặn có, ngọt có, dẻo có, cứng có,... và người ta có cả bánh chay nữa. Thích gì ăn nấy, đủ loại có thể tự chọn theo sở thích. Bánh là một loại thực phẩm, ăn để no một thời gian rồi lại cần ăn nữa, thậm chí mỗi ngày người ta còn phải ăn vài lần mới ổn cái bụng. Và rồi ai cũng phải chết, dù no hay đói, dù ăn bất cứ loại thực phẩm nào.

Nhưng có một loại bánh đặc biệt được mệnh danh là Bánh Trường Sinh, đó là Thánh Thể. Chúa Giêsu đã xác định: "Chính tôi là bánh trường sinh. Ai đến với tôi, không hề phải đói; ai tin vào tôi, chẳng khát bao giờ!" (Ga 6:35). Thật vậy, chị Marthe Robin (1902-1981, người Pháp) là người chứng tỏ điều Chúa Giêsu đã nói. Chị Marthe ốm yếu từ nhỏ, đến năm 28 tuổi thì bị liệt, thi thoảng chị được Chúa Giêsu hiện ra, chị không thể ăn hoặc uống được bất cứ thứ gì, chị chỉ sống nhờ Thánh Thể trong suốt 51 năm. Giáo Hội đã tôn phong chị là bậc đáng kính vào ngày 7-11-2014.

Thánh Thể là bằng chứng hùng hồn về Lòng Chúa Thương Xót, và liên quan đức tin, nhưng đức tin lại liên quan cách thể hiện yêu thương, liên quan cuộc sống và con người – đặc biệt là những con người hèn mọn. Mẹ Thánh Teresa Calcutta lý giải: "Bạn không thể thấy Chúa Giêsu trong người nghèo nếu bạn không thấy Ngài trong Thánh Thể". Vô hình mà hữu hình. Rất thực tế, rất cụ thể!

Cuộc đời được gọi là cuộc sống. Sự sống liên quan việc ăn uống, liên quan ẩm thực. Ăn để sống, chứ không sống để ăn. Lương thực là một phần thiết yếu để duy trì sự sống. Tuy nhiên, ngày nay người ta phải cảnh giác cao độ vì các loại thực phẩm nhiễm độc vì các hóa chất, đặc biệt là thực phẩm của Trung cộng. Do đó, người ta càng văn minh lại càng đáng quan ngại về thực phẩm – kể cả các dụng cụ, nghĩa là người ta càng cần có sự an toàn.

Theo dòng đời, ai cũng biết rằng lương thực và thực phẩm rất cần, người ta cũng chỉ vì "miếng ăn" mà không ngừng gây chiến tranh. Các dạng tội phạm cũng vì đó mà leo thang. Để hỗ trợ dân nghèo vì nhân đạo, Liên Hiệp Quốc đã thành lập tổ chức FAO (Food and Agriculture Organization – Tổ chức Lương Nông) vào ngày 16-10-1945 tại Canada. Tổ chức này nhằm ba mục đích: (1) Nâng cao mức sống và mức dinh dưỡng của nhân dân các nước thành viên; (2) Nâng cao hiệu quả sản xuất lương thực và nông sản; (3) Góp phần vào việc phát triển kinh tế thế giới và giải phóng nhân dân khỏi nạn đói. Trên logo của FAO có dòng chữ bằng La ngữ: "Fiat Panis – Để Có Lương Thực" (Anh ngữ: Let There Be Bread).

Ngày xưa, chính Chúa Giêsu đã vì chạnh lòng thương, sợ người ta đói khát nên Ngài đã hai lần làm phép lạ hóa bánh ra nhiều cho đám người mê Ngài nói mà quên cả cái bụng. Các thánh sử đã ghi lại phép lạ mà Chúa Giêsu đã làm bằng cách hóa bánh ra nhiều: lần một (Mt 14:13-21; Mc 6:30-44; Lc 9:10-17; Ga 6:1-14), với 5 cái bánh và 2 con cá, Ngài đã cho mọi người no nê, số thực khách lên tới 5.000 người, chưa kể phụ nữ và trẻ em, phần dư còn thu được 12 thúng đầy; và lần hai (Mt 15:32-39; Mc 8:1-10), với 7 cái bánh và vài con cá, Ngài cũng đã cho mọi người no nê, phần dư còn thu được 7 thúng đầy. Đó là ngụ ý đề cập Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu thiết lập trong buổi Dạ Tiệc Vượt Qua, trước khi Ngài chịu tử hình vì tội lỗi của chúng ta. Máu và thịt không thể tách rời. Chính máu và thịt là dấu chứng tỏ của sự sống.

Đối với phàm nhân, chuyện ăn uống là một trong tứ khoái của con người, ăn là hành động đứng đầu, và có thể gọi là "đệ nhất khoái". Tuy nhiên, miếng ăn cũng có thể làm cho người ta vinh hoặc nhục. Có lẽ vì vậy, nhất là với người có lòng tự trọng, tục ngữ Việt Nam so sánh: "Tiếng chào cao hơn mâm cỗ". Ăn cũng có nghệ thuật ăn, không phải cứ cho vô miệng là xong. Không chỉ vậy, ăn không chỉ để no bụng mà còn cần ngon miệng: Đồ ăn ngon, chỗ ăn ngon, và người ăn (với mình) cũng ngon. Thế mới đủ "độ" ngon. Có cả chuỗi nghệ thuật liên quan chứ không đơn giản đâu!................

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con xin tôn vinh và kính thờ Ngài. Xin thêm đức tin cho con người yếu kém của con, xin dùng Lửa Yêu Mến thiêu đốt lòng con và biến trái tim chai cứng của con trở thành trái tim si tình để con chỉ yêu Ngài mà thôi, yêu bằng cả con người của con, yêu qua từng động thái, và xin luôn canh giữ con như con ngươi trong mắt Ngài để con xứng đáng đón rước Ngài vào lòng hằng ngày. Ngài là Đấng hằng sinh và hiển trị cùng với Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Kính chuyển:

Hồng

---------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 84