mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay57
mod_vvisit_counterHôm Qua7006
mod_vvisit_counterTuần Này57
mod_vvisit_counterTuần Trước77221
mod_vvisit_counterTháng Này174938
mod_vvisit_counterTháng Trước196840
mod_vvisit_counterTất cả14995213

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

NHÂN THÁNG GIÁO HỘI DÀNH CẦU CHO CÁC LINH HỒN , CẦN BIẾT LUYỆN NGỤC và HỎA NGỤC LÀ GÌ, Ở ĐÂU và DÀNH CHO AI ?
Nhân tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11 DL) xin cha giải thích 3 thắc mắc sau đây:
1- Hỏa ngục là gì và dành cho ai ?
2- Luyện ngục là gì và khác với hỏa ngục như thế nào ?
3- Tín điều các Thánh thông công là gì ?
Trả lời :
1- Hỏa ngục là gì và dành cho ai ?
Tôi đã nhiều lần nói rõ : Thiên Chúa, CHA chúng ta ở trên trời, là tình thương, Người chậm bất bình và hay tha thứ. Người tạo dựng con người chỉ vì yêu thương vô vị lợi và " muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4). Nghiã là Chúa mong muốn cho mọi người được vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Người trên Thiên Đàng, là nơi không còn đau khổ , bệnh tật, nghèo đói, bóc lột, bất công , gian ác, kỳ thị , khủng bố , chiến tranh, động đất, bão lụt và chết chóc nữa.
Hạnh phúc Thiên Đàng là hạnh phúc mà " mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe lòng người chưa hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người." ( 1 Cor 2: 9) Như Thánh Phaolô đã dạy.
Nhưng muốn hưởng hạnh phúc Thiên Đàng thì phải yêu mến Chúa và tuân giữ các giới răn của Người.
Tại sao ? tại vì Thiên Chúa là " tình thương" nên " ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa" ( 1 Ga 4 : 8)
Hơn thế nữa, quan trọng không kém là phải cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc cực trọng của Chúa Kitô , Đấng đã quên mình là Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa CHA và Chúa Thánh Thần để xuống trần gian làm CON NGƯỜI và hy sinh mạng sống mình " làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20:28)
Biết Thiên Chúa là tình thương , mà quả thật Người là tình thương, thì lẽ tự nhiên ta phải yêu mến Người với tất cả tâm trí và nghị lực để đáp trả phần nào tình thương quá lạ lùng của THIÊN CHÚA dành cho mọi người chúng ta. Vả Lại, yêu mến Chúa thì chỉ có lợi cho ta chứ Chúa không được lợi lộc gì vì Người đã quá đủ hạnh phúc , vinh quang và giầu sang phú quí rồi , nên không cần ai thêm gì cho Người nữa.
Tuy nhiên, vì Thiên Chúa tạo dựng con người với hai đặc tính độc đáo là có lý trí (Intelligence) và ý muốn tự do ( free will) và Thiên Chúa đã ban tặng và hoàn toàn tôn trọng cho con người sử dụng hai khả năng đó. Vì thế vấn đề thưởng phạt chỉ được đặt ra cho riêng con người mà thôi. Nghĩa là nếu con người , qua lý trí, nhận biết có Thiên Chúa là CHA trọn tốt trọn lành, là Đấng tạo thành trời đất và muôn loài muôn vật – trong đó có con người- thì con người phải sử dụng ý muốn tự do của mình để chọn yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người để được cứu rỗi và vui hưởng hạnh phúc Nước Trời với Chúa trên cõi vĩnh hằng.
Nhưng con người phải tỏ thiện chí muốn yêu mến Chúa bằng hành động cụ thể để chứng minh, chứ không thể nói suông ngoài môi miệng được, như Chúa Giê su đã nói rõ với các môn đệ xưa là:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa !, Lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 : 21)
Nhưng thế nào là thi hành ý muốn của Chúa Cha ,Đấng ngự trên Trời?
Chúa Giêsu đã chỉ cho ta cách thi hành ý muốn của Chúa Cha như sau :.
" ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy." ( Ga 14: 23)
Giữ lời Thầy có nghĩa là thực thi những gì Chúa đã rao giảng và dạy bảo , cụ thể là hai Điều Răn quan trọng nhất, đó là mến Chúa và yêu người, như Chúa đã nói với một luật sĩ Do Thái xưa. ( Mt 22: 37-39)
Như vậy , thực thi hai Điều Răn đó là cách chứng minh cụ thể lòng ta yêu mến Chúa để xứng đáng được " Cha Thầy và Thầy đến ở" với ta như Chúa Giêsu nói trên đây.
Là con người , ai lại không muốn hạnh phúc, sung sướng và bình an ? nên yếu mến Chúa là yêu mến chính nguồn hạnh phúc, an vui vĩnh cửu đó.Như thế, chỉ có lợi cho con người khi chọn yêu mến Chúa, chứ tuyệt đối không có lợi lộc gì cho Chúa hết. Chúng ta phải xác tín điều này, để đừng ai nghĩ rằng Thiên Chúa được lợi lộc gì khi ta yêu mến và tuân giữ các giới răn của Người. .
Đó là điều chắc chắn ta phải tin khi thi hành các Điều Răn của Chúa để không giết người, trộm cắp. gian dâm, thông dâm, mãi dâm, ấu dâm, phá thai, ly dị, thù oán người khác, kỳ thị chủng tộc, nói xấu , vu cáo làm hại danh dự và đời tư của người khác, bất công , bóc lột người làm công cho mình, và dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của anh chị em đồng loại,- và nhất là- , buôn bán phụ nữ và trẻ gái cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi, như thực trạng của thế giới tục hóa vô luân vô đạo hiện nay.
Nếu ta tuân giữ các Điều Răn của Chúa để không làm những sự dữ hay tội lỗi nói trên, thì chúng ta đã yêu mến Chúa cách cụ thể để được " ở lại trong tình thương của Người" như Chúa Giêsu đã dạy trên đây. Ngược lại, nếu ai dùng " ý muốn tự do= free will để làm những sự dữ nói trên thì đã tự ý và công khai khước từ Thiên Chúa và tình thương của Người. Như thế họ phải lãnh chịu mọi hậu quả của việc mình làm vì tự do chọn lựa này.
Chính vì con người có tự do để chọn lựa , hoặc sống theo đường lối của Chúa để được chúc phúc; hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng mình và chạy theo những lôi cuốn của thế gian tội lỗi , nhất là những cám dỗ của ma quỉ để tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất và mọi thú vui vô luân vô đạo, như thực trạng sống của biết bao con người ở khắp nơi trong thế gian tục hóa ngày nay.Nếu ai chọn sống như vậy, thì cũng đã tự ý chọn nơi cư ngụ cuối cùng cho mình, sau khi phải chết trong thân xác có ngày phải chết đi này.Thiên Chúa yêu thương con người và đã cứu chuộc con người nhờ Chúa Kitô. Nhưng Thiên Chúa cũng gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi và sự dữ đi ngược lại hoàn toàn với bản chất yêu thương, công bình và thánh thiện của Người. .
Nhưng cho dù Thiên Chúa quá yêu thương con người như vậy, mà con người không cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và xa tránh mọi sự dữ và tội lỗi thì Chúa vẫn không thể cứu ai được. Lý do là Chúa Kitô đã chết thay để cứu chuộc con người, nhưng Chúa không tiêu diệt hết mọi tội lỗi xuất phát từ bản tính yếu đuối của con người, từ thế gian với đầy rẫy gương xấu và dịp tội, nhất là từ ma quỉ , kẻ tử thù của mọi người chúng ta, luôn cám dỗ với muôn vàn chiến lược tinh quái; Thêm vào đó là vì con người còn có tự do để cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa , hay khước từ ơn cứu chuộc này để sống theo thế gian,theo những đòi hỏi bất chính của bản năng và đầu hàng ma quỉ để làm những sự dữ sự tội.
Như vậy, nếu Thiên Đàng là nơi dành cho những ai thực tâm yêu mến Chúa, tuân giữ các giới răn của Người và quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi, thì hỏa ngục phải là nơi dành cho những ai đã cố ý khước từ Chúa và tình thương của Người để sống theo ma quỷ và làm những sự dữ nói trên , như thực tế đang diễn ra ở khắp nơi trên thế giới trống vắng niềm tin này. Như thế, phải có hỏa ngục dành cho những kẻ gian ác đã tự ý chọn cho mình nơi ở vinh viễn xa lìa Thiên Chúa ngay từ ở đời này. Nghĩa là họ đã tự ý chọn hỏa ngục vì cách sống của họ, chứ không phải tại Thiên Chúa muốn phạt ai ở chốn này, vì Người là Cha đầy yêu thương và " không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải." ( 2 Pr 3 : 9).
2- Sự khác biệt giữa hỏa ngục và Luyên tội :
Chúa Giê su thường nói đến hỏa ngục là nơi lửa không bao giờ tắt ( Mt 5: 22).
Thánh Gioan Tông Đồ đã coi những kẻ sát nhân là những kẻ không có sự sống đời đời , tức là phải xa lìa Thiên Chúa trong nơi gọi là hỏa ngục:
" Phàm ai ghét anh em mình, thì là kẻ sát nhân
Và anh em biết:
Không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó" (1 Ga: 15)
Nhưng cần phân biệt điều này: con người dù tội lỗi đến đâu, mà biết sám hối ăn năn thì vẫn được Chúa thương tha thứ. Cụ thể là Chúa Giêsu đã tha thứ cho người gian phi ( kẻ trộm lành) cùng chịu đóng đanh với Chúa.Anh đã nhận biết tội mình và xin Chúa tha thứ.Chúa đã tha thứ và nói với anh như sau:
" Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." ( Lc 23: 39-43) .
Ngược lại, chỉ những ai tội lỗi mà không hề sám hối để xin Chúa tha thứ , đặc biệt là tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội hoàn toàn từ chối lòng thương sót của Chúa cho đến chết , thì sẽ không bao giờ được tha thứ, như Chúa Giê su đã nói rõ trong Tin Mừng Thánh Marcô.( Mc 3: 29)
Lại nữa, những ai chết đang khi mắc tội trọng ( mortal sin) thì cũng phải chịu hình phạt hỏa ngục, căn cứ theo giáo lý của Giáo Hội. ( X SGLGHCG, số 1035) . Tuy nhiên , cần nói lại là Thiên Chúa không tiền định cho ai phải xuống hỏa ngục , hoặc muốn phạt ai trong nơi "lửa không hề tắt" này. Nhưng vì con người có tự do trong đời sống thiêng liêng, nên nếu ai dùng tự do này để xa lìa Chúa , để tự do làm những sự dữ mà không hề biết ăn năn từ bỏ để xin Chúa thứ tha thì đã tự ý chọn hỏa ngục làm nơi cư ngụ cuối cùng cho mình.
Trái với hỏa ngục , Luyên ngục hay Luyên tội ( Purgatory) là nơi các linh hồn thánh ( holy souls) đang được thanh luyện để đạt được mức thánh thiện cần thiết trước khi vào Thiên Đàng vui hưởng Thánh Nhan Chúa là nguồn vui hạnh phúc của các thánh và các thiên thần.Các linh hồn đang " tạm trú" ở Luyện tội là những người đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa, tức là được bảo đảm về ơn cứu độ, nhưng vẫn cần được thanh luyện để đạt mức thánh thiện cân xứng trước khi gia nhập hàng ngũ các Thánh trên Thiên Quốc. Các linh hồn thánh này không thể làm thêm việc thiện, và cũng không thể phạm tội được nữa vì thời giờ đã mãn cho họ trên trần gian này. Vì thế, trong khi còn được thanh luyện ở nơi đây, các linh hồn mong đợi các Thánh trên Thiên Đàng và các tín hữu còn sống trên trần gian cứu giúp họ bằng lời cầu nguyện và các việc lành. Ngược lại, các linh hồn cũng có thể cầu xin đắc lực cho các tín hữu còn sống trên trần thế, trong Giáo Hội lữ hành. Nhưng các Thánh trên Trời, các linh hồn thánh trong Luyện ngục và các tin hữu còn sống trên trần gian, không thể giúp gì cho các linh hồn đã lìa xa Chúa trong hỏa ngục, vì không có sự hiệp thông nào giữa nơi này với Thiên Đàng, Luyện ngục và Giáo Hội đang lữ hành trên trần thế.
3 – Tín điều các Thánh Thông Công ( comm of Saints )
Tín điều này dạy: chỉ có sự hiệp thông giữa Giáo Hội Vinh Thắng ( Triumphal Church) trên trời và Giáo Hội Lữ Hành ( Pilgrim Church) trên trần thế cùng với Giáo Hội đau khổ ( Suffering Church) trong Luyện Tội. Nghĩa là các Thánh trên Trời , các linh hồn thánh trong Luyện tội và các tín hữu còn sống và đang hiệp thông với Giáo Hội, cả ba thành phần này được hiệp thông với nhau trong cùng một niềm tin, tôn thờ Thiên Chúa , nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.
Các Thánh nam nữ trên trời hiệp thông với các linh hồn thánh trong Luyện Tội và các tín hữu trên trần gian bằng lời nguyện giúp cầu thay đắc lực trước Tòa Chúa cho các linh hồn và các tín hữu còn sống. Các linh hồn trong Luyện tội không thể tự giúp mình được nhưng có thể cầu xin cho các tin hữu còn sống. Các tín hữu còn sống có thể làm việc lành như cầu nguyện. làm việc bác ái và xin lễ cầu cho các linh hồn trong Luyên Tội , cách riêng trong tháng 11 là thánh dành cầu nguyện cho các linh hồn được mau vào Thiên Đàng hưởng Thánh Nhan Chúa.
Đó là nội dung tín điều các Thánh thông Công giữa các Thánh trên Thiên Đàng, các linh hồn thánh trong Luyện Tội và các Tín hữu đang lữ hành trên trần thế.
Như thế, chỉ có những ai đang xa lìa Chúa ở chốn hỏa ngục thì không được thông hiệp với các Thánh trên trời , các Linh hồn trong Luyện tội và các Tín hữu còn sống trên trần gian này.Do đó, không ai có thể làm gì để cứu giúp họ được nữa, vì không có sự hiệp thông nào giữa hòa ngục với các Thánh trên Thiên Đàng, với các linh hồn thánh nơi Luyện tội và với các tín hữu còn đang sống trên trần thế.


Vậy chúng ta hãy cố gắng sống theo Đường lối của Chúa, và cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc cực trọng của Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng vác thập giá và chết đau thuơng trên thập giá, để đền tội thay cho nhân loại. Ai cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc cực trọng này thì sẽ được cứu rồi, mà vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Chúa trên cõi vĩnh hằng cùng với các Thánh, các Thiên Thần, sau khi kết thúc hành trình con người trên trần thế này. Amen.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn những câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

-------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - SU THẬT VỀ LUYỆN NGỤC PDF Print E-mail

Chi Tran

9 Sự Thật Về Luyện Ngục

Có người sợ luyện ngục. Có người hy vọng được vào luyện ngục. Có người cho đó là chứng cớ của lòng Chúa thương xót. Có người cho đó là nơi Chúa giận dữ. Có người không biết gì về luyện ngục. Có người quên luyện ngục và có người nhớ là có sự hiện diện của luyện ngục.

Giáo hội Công giáo dạy rằng có luyện ngục và có 9 sự thật về luyện ngục.

1. Luyện ngục thật sự hiện hữu

Lm Dwight Longenecker nói rằng:

"Có những người Công giáo hiện đại không biết luyện ngục là gì. Họ nghĩ rằng khi phạm tội và xưng tội thì không còn phải trả hậu quả (vạ) của tội lỗi nữa, rồi khi chết thì ai ai cũng lên Thiên Đàng vì Chúa là Đấng Nhân Lành, Ngài không nỡ cho các con của Ngài đi nơi nào khác."

Tuy nhiên, giáo huấn của giáo hội nhắc nhở cho chúng ta biết rằng khi phạm tội thì tội có hậu quả, rằng Chúa là tình yêu và Ngài cho con người được tự do chọn lựa.

2. Luyện ngục không phải chỉ là sự trừng phạt

Đó là một hồng ân của lòng Chúa thương xót và là cảm nghiệm về tình yêu của Thiên Chúa. Thỉnh thoảng người ta nghe nói về sự thống khổ của các linh hồn nơi luyện ngục và họ nghĩ rằng đau khổ là do sự ao ước trả thù của Chúa. Nhưng không phải như thế, Chúa tha thứ cho chúng ta ngay khi chúng ta xin Ngài tha thứ. Vai trò của sự đau khổ là để tháo gỡ những tai hại mà chúng ta đã làm. Đó là do Thiên Chúa chữa lành muốn cho chúng ta trở nên hoàn hảo như hình ảnh Chúa Giêsu Kitô.

Thiên Chúa không phải chỉ muốn cứu rỗi chúng ta khỏi hỏa ngục là nơi mà chúng ta đời đời xa cách Chúa mà Ngài còn muốn cứu chúng ta khỏi phạm tội, muốn ta trở nên hoàn hảo như lúc Ngài vừa mới sáng tạo ra con người.

Chúa giống như một vị bác sĩ giải phẫu, Ngài cố gắng ban cho chúng ta những trái tim mới mà chúng ta cần nhưng chúng ta cứ nhẩy nhót chung quanh bàn để tránh xa khỏi lưỡi dao của vị bác sĩ. Trong luyện ngục thì chúng ta không thể chống cự sự chữa lành mà chúng ta cần và Chúa có thể hoàn tất công trình chữa lành mà Chúa đã bắt đầu trong cuộc sống chúng ta.

3. Nỗi thống khổ của các linh hồn nơi luyện ngục không phải chỉ là cái đau thể xác

Trong nhiều thế kỷ, các nghệ sĩ cố gắng vẽ nên sự đau khổ của các linh hồn ở luyện ngục là chịu lửa thiêu đốt. Trong luyện ngục linh hồn không còn thân xác nên họ chỉ có thể chịu đau khổ cách thiêng liêng chứ không phải đau khổ bằng thể xác. Lứa mà chúng ta chịu thanh tẩy trong luyện ngục là ngọn lửa nội tâm cháy lên vì tình yêu Chúa.

Ngay sau khi chết, các linh hồn ở luyện ngục nhìn thấy Chúa với tất cả vinh quang của Ngài. Họ thấy tình yêu Chúa, lòng nhân hậu của Chúa và các chương trình mà Ngài dành cho mỗi một người chúng ta. Và họ mong ước, ao ước nóng bỏng và sự ao ước ấy nóng như lửa trên trần gian.

Họ đau khổ vì phại chịu xa cách Chúa nên họ chịu cơn sốt thiêng liêng. Khi cơn sốt lên cao độ thì nó làm cho linh hồn tách xa khỏi tội lỗi, và quá trình ấy cũng đau đớn không kém.

Khi chúng ta quá gắn chặt với tội lỗi thì khi tách xa tội lỗi, chúng ta cũng chịu đau đớn. Tội lỗi làm cho chúng ta bị thương và làm tổn thương những người khác. Tội lỗi làm cho chúng ta tách lìa khỏi Thiên Chúa và những chương trình toàn hảo mà Chúa dành cho chúng ta. Lửa vật chất không làm cho chúng ta đau đớn bằng lửa thiêng liêng.

4. Các linh hồn ở luyện ngục vừa chịu đau khổ vừa hưởng niềm vui

Một người chứng xuống luyện ngục và thấy các linh hồn chịu đau khổ nhưng họ biết tình yêu Chúa dành cho họ và họ phải trả những cái vạ do tội lỗi của họ gây nên. Còn ở hỏa ngục thì các linh hồn chịu đau khổ đời đời và không còn hy vọng.

Luyện ngục không phải là hỏa ngục nhưng là nơi chuẩn bị cho linh hồn được thanh tẩy và chờ ngày được giải thoát lên Thiên Đàng. Vì thế các linh hồn luyện ngục mang niềm vui vì chờ ngày vinh quang. Số phận họ đã được dán kín và chờ ngày được mở ra. Do đó, thời gian mà họ ở luyện ngục dù ngắn hay dài cũng vẫn là thời gian vừa đau khổ và vừa vui mừng.

Mọi sự gì quý báu đều cần sự đau khổ để tiến bộ nhưng sự đau khổ có phần thưởng sau đó. Đôi khi luyện ngục giống như là việc chúng ta đi tập thể thao cho mạnh khỏe. Tuy đau đớn nhưng đó là dấu hiệu của tiến bộ. Có nghĩa là bạn ở trên con đường mà bạn sẽ đến. Và đó là sự đau khổ vui mừng.

5. Những lời cầu nguyện của kẻ sống cứu số phận của các linh hồn cách đời đời.

Các linh hồn ở luyện ngục tuy chờ ngày vinh quang nhưng họ phải qua những đau khổ vì họ chịu lửa thanh tẩy của tình yêu Chúa Giêsu KiTo. Các linh hồn này không thể làm gì được để kéo dài hay rút ngắn thời gian ở luyện ngụccủa họ. Và họ cần chúng ta là những người còn sống để ta giúp đỡ họ.

Chúng ta cần cầu nguyện chuỗi Mân Côi, chầu Chúa Giêsu Thánh Thể, Đi Đàng Thánh Giá và dâng Thánh lễ cầu nguyện cho họ. Điều tốt nhất là chúng ta dâng Thánh lễ cầu nguyện cho các linh hồn luyện ngục vì Thánh lễ là một phương thức thờ phượng cao cả nhất, một phương thức cầu nguyện lớn lao nhất.

Không có lời cầu nguyện nào là uổng phí cả. Lời cầu nguyện mà chúng ta cầu cho những người thân yêu trong suốt cuộc đời là một điều ích lợi giúp đỡ họ tiến vào Thiên Đàng.
ducmefatimamancoi.org

6. Các linh hồn cầu bầu cho chúng ta

Các linh hồn không thể làm gì cho bản thân họ nhưng họ lại có thể cầu nguyện cho chúng ta để ta nhận được những ơn lành của Chúa mà đi theo Ngài cách toàn hảo.

7. Lời giáo huấn của giáo hội về luyện ngục phát sinh từ Phúc Âm

Sách Maccabees (12:45) nói rằng ông Judas Maccabee ra lệnh cho mọi người hãy cầu nguyện và hy sinh cho những người lính chết trận là những người thờ ngẫu tượng trước khi họ chết.

Trong Tân Ước, Thánh Phaolo nói về lửa thanh tẩy ở luyện ngục khi ngài viết: "Nếu công việc của con người bị cháy rụi thì người ấy sẽ chịu đau khổ mất mát dù người ấy sẽ được cứu thoát."(1 Cor 3:12-15).

Ngài cầu nguyện cho linh hồn Onesiphorus trong thư 2 Timothy 1:18.

8. Luyện ngục không phải là sản phẩm tưởng tượng của giáo hội

Người Công giáo luôn cầu nguyện cho những người đã chết, ngay cả trước khi họ biết dùng từ ngữ luyện ngục. Họ thấy cần phải dâng lời cầu nguyện và Thánh lễ chỉ cho những người qua đời.

9. Luyện ngục không phải là trường học mùa hè

Trường học vào mùa hè thì tùy theo ai muốn đi học thì đi, không bắt buộc. Luyện ngục là nơi mà chúng ta phải đến để được thanh tẩy khỏi tội lỗi và đền trả những tội vạ do tội ta gây ra.
Chúa ban cho chúng ta ơn huệ để trở thành thánh. Chúng ta có thể làm mọi sự tốt lành để trở nên thánh thiện. Vậy hãy tận dụng để thừa hưởng những ơn lành Chúa ban. Sống cách chân chính và luôn cầu nguyện cho các linh hồn ở luyện ngục và cho các tội nhân được ơn hoán cải trước khi chết.

ducmemancoifatima.org
-------------------------------

 

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

TẠI SAO THIÊN CHÚA LẠI GIẾT CÁC CON ĐẦU LÒNG CỦA NGƯỜI AI CẬP ?

Hỏi :
Xin cha vui lòng giải thích vì sao trước đây Thiên CHúa đã giết các con đầu lòng của người Ai Cập trong khi Chúa dạy không được giết người trong Điều Răn thứ Năm của Chúa ?
Trả lời :
THiên Chúa là tình yêu, chậm bất bình và hay tha thứ. Đó là điều chúng ta phải tin chắc không chút hoài nghi.


Về câu hỏi tại sao Thiên Chúa lại giết các con đầu lòng của dân Ai Cập, chúng ta không quên sự kiện vua Pharra-ô của Ai Cập đã không chịu cho dân Do Thái rời đất Ai Cập trở về quê hương của họ như ông Mô-se yêu cầu theo lệnh truyền của Thiên Chúa .Nhưng Pha a ô ,vua Ai Cập đã ngoan cố không muốn cho dân Do Thái hồi hương. Vì thế, Thiên Chúa đã gửi những tai hạ đến cho Ai Cập trong đó có tai ương các con đầu lòng của Ai Cập đã bị giết như ta đọc thấy trong Sách Xuất Hành 11&12.Đây là tai họa thứ mười Thiên Chúa giáng xuông Ai Cập để buộc vua Phar a –ô buông tha cho dân Do Thái được hồi hương dưới sự lãnh đạo của ông Mô-sê. Kết quả là cuối cùng Phar a-ô đã phải nhượng bộ để cho dân Do Thái rời khỏi Ai Cập trở về quê quán của họ.
Tuy nhiên, qua tai họa mà Thiên Chúa giáng xuống dân Ai Cập để giải thoát dân Do Thái cho họ trở về quê hương, chúng ta thấy THiên Chúa đã tha phép cho việc giết các con đầu lòng của dân Ai Cập. Tại sao Thiên Chúa lại giáng tai họa này xuống cho Ai Cập để cứu dân Do Thái đang sống nô lệ thống khổ trên đất Ai Cập dược trở về quê quán của họ sau bao nhiêu năm phải làm nô lệ trên đất Ai Cập ?
Thiên Chúa làm như vậy có trái với giới răn cấm giết người mà Thiên Chúa đã truyền cho con người phải tuân giữ hay không ?
Đây quả thật là một vấn nạn khó hiểu cho con người ở khắp mọi nơi từ xưa đến nay.
Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ Kinh Thánh Cựu Ước thì chúng ta có thể hiểu tại sao Thiên Chúa đã hành động xem ra khó hiểu như vậy trong hoàn cảnh cụ thể nói trên, khi Người đã giết các con đầu lòng của dân Ai Cập kể cả con đầu lòng của vua Ai Cập là Phara ô để buộc vua này cho người Do Thái được trở về quê hương của họ như Thiên Chúa đã truyền cho ông Mô-Sê mệnh lệnh sau đây :
"...Bây giờ ngươi hãy đi. Ta sai ngươi đến với Phara – Ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-el ra khỏi Ai Cập." ( Xh 3: 10)
Nhưng vì Pharra ô không chịụ cho dân Do Thái rời Ai Cập để về quê hương của họ như Thiên Chúa đã truyền cho ông Mô-sê, nên để làm nản lòng Pha ra ô Thiên Chúa đã giáng mười tai họa xuống Ai Cập trong đó có tai họa các con đầu lòng của Ai Cập bị giết.kẻ cả con đầu lòng của vua Phar a ô. Và với tai họa thứ mười này, Pharra ô đã phải nhượng bộ để cho Dân Do Thái được rời khỏi Ai Cập mà trở về quê hương dưới sự lãnh đạo của ông Mô-sê
Như thế Thiên Chúa đã dùng một sự dữ nhỏ là giết các con đầu lòng của Ai Cập để đạt mục đich to lớn hơn là giải phóng cho toàn dân Do Thái khỏi ách nô lệ thống khổ bên Ai Cập khiến họ đã kêu cứu Thiên Chúa giải thoát họ khỏi nỗi thống khổ trên.THiên Chúa đã phán như sau:
" tiếng rên siết của con cái It-ra el đã thấu tới Ta. Ta cũng đã thấy cảnh áp bức chúng phải chịu vì người Ai Cập." ( Xh 3: 9)
Vì thế, để cứu họ, Thiên Chúa đã sai ông Mô-sê đẫn đưa con cái It=ra- El rời Ai Cập để về chiếm ngự " một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật , xứ sở của người Ca na an.." ( Sđd 3:8)
Sứ mệnh của ông Môsê nói trên cũng tiên báo Sứ Mệnh của Chúa Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa được sai xuống trần gian làm CON NGƯỜI để "hy sinh mạng sống mình làm giá chụộc cho muôn người. " ( Mt 20:28) khỏi chết đời đời vì tội . Thi hành Sứ Mệnh này, Chúa Kitô đã trở thành tân Adam và tân Mô Sê để cứu chuộc cho toàn thể nhân loại khỏi chết vf tội như Thánh Phaolô đã dạy như sau:
"Thật vậy, nếu vì một người duy nhất ( Adam) đã sa ngã mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người."( Rm 5: 15)
Ân sủng đồi dào Thiên Chúa đã ban cho nhân loại nhờ Chúa Giêsu Kitô đã vui lòng vác thập giá để chịu đóng đanh và chết trên thập giá để cứu chuộc cho muôn người khỏi phải phạt và chết đời đời vì tội. Như thế Thiên Chúa đã chấp nhận cái chết của Con mình là Chúa Giêsu Kitô để cứu cho toàn thể nhân loại khỏi chết vì tội.Nói rõ hơn, Chúa Giêsu đã hy sinh chịu chết trên thánh giá cho muôn người được sống. Người đã xin Chúa Cha cất chén đắng tức là cất cho Người khỏi phải chịu đau khổ và chết , nhưng Chúa đã xin vâng Ý Chúa Cha chứ không muốn theo ý của riêng mình,Và Chúa Cha đã chấp nhận sự hy sinh cao cả của Chúa Con làm của lễ đẹp lòng Chúa Cha nhất cho mục đích xin ơn tha tội cho cả nhân loại.
Trong tinh thần và ý nghĩa cao cả đó, Chúa Giêsu đã trở thành " Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" .như Thánh Gioan Baptist đã tuyên xưng một ngày kia khi thấy Chúa Giêsu tiến lại với ông ( x.Ga 1 : 29)
Con chiên, trong Nghi lễ Cựu Ước, bị giết và vị tư tế đã lấy máu của con chiên để rẩy trên bàn thờ và trên các tín hữu có mặt để tha tội cho họ nhờ máu con chiên đã chịu sát tế trong nghi lễ toàn thiêu ( Holocaust) theo truyền thống Cựu Ước.
NHững gì đã xẩy ra trong thời Cựu Ước đều đã được thực hiện trong Thời Tân Ước khi Chúa Kitô đến trong trần gian để thi hành Chương Trình cứu độ nhân loại của Chúa Cha, " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý" ( 1Tm 2: 4),
Để thi hành Chương Trình Cứu Độ của Chúa CHA, Chúa Kitô đã vui lòng vác thập giá và chịu chết treo trên đó "để làm giá cứu chuộc cho muôn người," ( Mt 20:28)
Như thế việc sát tế , dù là con chiên trong thời Cựu Ước hay chính cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá sau này đều có giá trị tha tội và cứu rỗi cho những ai tin và muốn được cứu độ nhờ Công Nghiệp Cứu Chuộc vô giá của Chúa Giêsu Kitô.
Thiên Chúa Cha -trong Bản Thập giới-, đã cấm việc giết người ( Điều Răn Thứ Năm)
Nhưng lại chấp nhận cái chết của Con mình là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chịu sát tế như Con Chiên vẹn sạch để cứu chuộc cho cả loài người tội lỗi đáng phải phạt và chết đời đời vì tội.
Xưa kia trong thời Cựu Ước, để cứu toàn dân Do Thái khỏi ách thống khổ trên đất Ai Cập, Thiên Chúa đã giáng Mười tai họa- trong đó có tai họa giết các con đầu lòng của Ai Cập để làm nản lòng vua Phara- ô ngoan cố không chịu cho dân Do Thái rời khỏi Ai Cập; như Thiên Chúa đã thông cảm nỗi thống khổ của dân Do Thái nên đã sai ông Mô sê dẫn đưa họ về quê hương mà Thiên Chúa hứa ban là đất Ca-na-an "đầy sữa và mật".
Việc giết các "con đầu lòng" của người Ai Cập , mặt khác, cũng cho thấy Thiên Chúa trong thời Cựu Ước là Thiên Chúa công thẳng , là Thiên Chúa trừng phạt những kẻ làm sự dữ mà không biết sám hối ăn nan để được tha thứ.
Sách Sáng Thế đã kể cho chúng ta hai trường hợp Thiên Chúa phải đánh phạt con người vì những sự dữ con người đã làm mà không biết sám hối và từ bỏ để không bị đánh phạt. Đó là trận lụt " Hồng Thủy" thời ông NÔ-e và hai thành Gô-môra và Sô-đôm bị thiêu rụi thời ông Apraham
Lý do Thiên Chúa phải trừng phạt nhẫn tiền với Trận lụt Hồng Thủy ( Deluge) vì ĐỨC CHÚA "thấy trên mặt đất sự gian ác của con người quả là nhiều , và suốt ngày lòng chúng nó chỉ toan tính những ý định xấu. ĐỨC CHÚA hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng. ( St 6: 5-6)
Vì thế. Thiên Chúa đã quyết định tiêu diệt con người và mọi sinh vật trên mặt đất trừ gia đình ông NÔ E và những sinh vật được ông đem lên Tầu trước khi mưa tuôn đổ bốn mươi đêm ngày xuống địa cầu và cuốn vào lòng đại dương mọi người và sinh vật bên ngoài con Tầu của ông NÔ Ê.Ông được coi là người công chính đã sống đẹp lòng Chúa nên ông và vợ con ông không bị tiêu diệt trong Trận Hồng Thủy nói trên .
Đến thời ông Apraham, Thiên Chúa lại đánh phạt hai thành SÔ ĐÔM và GOMORAH bằng lửa trên trời rơi xuống thiêu rụi mọi người và sinh vật trong hai thành tội lỗi trên đây.Thiên Chúa phán: " Tiếng kêu trách SÔ ĐÔM và GOMORAH thật quá lớn, tội lỗi của chúng quá nặng nề. Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta chăng. Có hay không Ta sẽ biết," (St 18: 20-21)
Ông Apraham, người công chính sống đẹp lòng Chúa, đã kêu xin Chúa tha trừng phạt cho hai thành đó. Ông đã xin với Chúa là nếu ông tìm được 50 người lành thì Chúa có vì họ mà tha chết cho những khác không. Chúa đồng ý tha, nếu ông tìm được 50 người tốt lành.Nhưng ông đã không tìm được . Ông lại rút xuống 45 người để xin Chúa Tha. Chúa cũng đồng ý nhưng ông cũng không tìm được . Ông lại rút xuống còn 30 người, rồi 20 người và cuối cùng là 10 người . Chúa vẫn kiên nhẫn chờ nhưng ông không tìm được ai là người công chính để xin Chúa tha tiêu diệt hai thành tội lỗi trên. Rốt cuộc ông và gia đình đành rời khỏi nơi đó trước khi Chúa cho lửa từ trời xuống thiêu hủy hai thành tội lỗi kia !
Sự kiện trên đã cho thấy là Thiên Chúa, dù Người là tình yêu và tha thứ, nhưng nếu con người cứ phạm tội ,cứ làm sự dữ mà không kíp sám hối để xin tha thứ thì Thiên Chúa sẽ giáng cơn thịnh nộ của Người xuống cho những ai lợi dụng lòng thương xót của Người để cứ làm sự dữ, sự tội mà không mau kíp ăn năn sám hối để xin tha thứ. Chúa ghét và ghê tởm mọi tội lỗi, nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết sám hối và xin tha thứ.
Hai tai họa Lụt Hồng Thủy và tiêu diệt hai thành SÔ ĐÔM và GÔ MÔ RAH mà Thiên Chúa đã giáng xuống trên con người trong thời ông NÔ Ê và ông Apraham đã cho ta thấy thái độ cứng rắn của Thiên Chúa đối với những sự dữ ,sự tôi con người làm ở khắp nơi trên trần gian này mà không biết sám hối, ăn năn để xin tha thứ. Đây là hình ảnh của Thiên Chúa trong thời CỰU ƯỚC qua đó chúng ta thấy Thiên Chúa là Đấng nhân lành nhưng lại dễ nổi cơn thịnh nộ để thẳng tay trừng phạt những sự dữ và những kẻ làm những gì xúc phạm đến bản chất yêu thương , thánh thiện và công bằng của Chúa.
Nhưng nếu Thiên Chúa của CỰU ƯỚC là hình ảnh của một người CHA nghiêm khắc dễ thịnh nộ và trừng phạt thẳng tay con cái loài người , thì THIÊN CHÚA của Chúa Kitô-Giêsu trong thời TÂN ƯỚC lại là hiện thân của lòng thương xót ,khoan hòa và thứ tha không bờ bến.
Thật vậy, THIÊN CHÚA của CHÚA GIÊSU là THIÊN CHÚA tha không chỉ giới hạn đến 7 lần mà đến 70 lần 7 . Hơn nữa, còn là Thiên Chúa tha thứ và cầu nguyện cho cả kẻ thù , chứ không giới hạn cho người thân ,người bạn của mình.Cụ thể , Chúa Giêsu đã tha cho mọt phụ nữ phạm tội ngoại tình bị bọn Biệt phái bắt gặp và dẫn đến để xin Chúa cho ném đá theo luật của ông Môsê, nhưng Chúa Giêsu đã nói với chị kia : "...Tôi không lên án chj đâu ! Thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa."( Ga 8: 11).Cụ thể hơn nữa, qua dụ ngôn về Đứa con hoang đàng hay Người Cha nhân hậu" Chúa Giêsu đã dạy mọi người chúng ta bài học quí giá về lòng quảng đại tha thứ của Chúa đối với những người tội lỗi biết sám hối để xin tha thứ. Chúa nói : Ta không đến để kêu gọi những người công chính , mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn."( Lc : 5-22).
Cũng vậy, Chính vì muốn tha thứ hơn là trừng phạt thẳng tay, nên Chúa Giêsu đã nói với mấy người thuộc nhóm Biệt Phái đến hỏi Chúa xem có phải những người bị Tổng Trấn Phi-la-tô giết và mười tám người khác bị thác Si-lô-a đổ xuống đè chết có phải họ là những người tội lỗi hơn người khác không, Chúa đã trả lời họ như sau:
" Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu.Nhưng nếu các ông không chịu sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy," ( Lc 13: 5)
Lại nữa , nhân có mấy người Biệt Phái xầm xì với nhau về việc Chúa đến dùng bữa với mấy người thu thuế màị họ coi là quân tội lỗi, Chúa Giêsu đã trả lời họ như sau : " người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần ...Ta không đến để kêu goi người công chinh, mà đến để kêu gọi người tội lỗi."
( Mt 9 :13) . Như thế, Thiên Chúac của Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa của sự khoan dung và tha thứ, là Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi kẻ tội lỗi ăn năn sám hối để được tha thứ chứ không muốn trừng phạt không chút khoan nhượng.Điều này đã thể hiện cụ thể khi Chúa Giêsu còn đang bị treo trên thánh giá . Chúa đã cầu xin cho những kẻ đã đóng đanh và sỉ nhục Người , thay vì lên án và muốn thẳng tay trừng phạt như sau :
" Lậy Cha ,xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm."( Lc 23:34)
Qua lời cầu nguyện trên, Chúa Giêsu đã bào chữa cho những kẻ tử thù của Người khi xin Đức Chúa Cha tha tội cho chúng mặc dù chúng quả thật phải biết việc chúng làm là đã kết án Chúa cách vô lý đầy bất công.Nhưng Chúa không chấp khi tha tội và còn cầu nguyện cho chúng nữa.
Và đối với người gian phi cùng chịu đống đanh nhưng biết sám hối, Chúa đã nói với anh ta như sau: " Tôi bảo thật anh : hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng."( Lc 23: 43)
Anh gian phi này đã một đời sống trong tội lỗi, đã làm biết bao tội ác và sự dữ đáng bị đóng đanh trên cây thập tự cùng với một gian phi nữa và cùng chung với Chúa Kitô, Người lành vô tội.Nhưng chỉ một phút ăn năn sám hối nhận biết mình là kẻ có tội thì lập tức Chúa đã tha hết mọi tội cho anh và cho anh được vào Thiên Đàng với Chúa , một vinh phúc mà các Thánh Nam Nữ khác đã một đời sống đẹp lòng Chúa trên trần thế, đã hy sinh chịu chết vì đức tin như các Thánh Tử Đạo, hoặc chấp nhận mọi gian nan bách hại khi đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa như các Thánh truyền giáo. Các ngài xứng đáng được vào Nước Trời sau khi đã hoàn tất hành trình đức tin trên trần gian này.
So với anh trộm lành bị đóng đanh, đã sám hối và được Chúa cho vào Thiên Đàng cùng với Người, thì các Thánh Nam Nữ kia cũng đã chiu nhiều đau khổ và khó khăn biết bao mà cũng chỉ được hưởng vinh phúc Thiên Đàng như anh trộm lành kia, đã đi đường tắt mà được vào Thiên Đàng trong khi các Thanh Nam Nữ khác đã phải đi qua những con đường dài đầy trông gai trở ngại mới đạt được phần thưởng đích đáng là được hưởng Thánh Nhan Chúa trên cõi vĩnh hằng.
Như thế, đi đường tắt như anh trộm lành hay đường dài như các Thánh Nam Nữ thì cuối cùng đều được vào Thiên Đàng vui hưởng Thánh Nhan CHÚA là quá đủ hạnh phúc cho họ rồi, vì lý tưởng hay mục đích của họ là được chiếm ngự Nước Trời để vui hưởng Thánh Nhan Chúa là Nguồn an vui , hạnh phúc và bình an đích thực. Đó cũng là lý tưởng và mục đích của mọi người tín hữu chúng ta đang sống đức tin có Thiên Chúa là CHA cực tốt cực lành, Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc chúng ta nhờ Chúa Cứu Thế Giê su, " Đâng đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.( Mt 20:28) Tóm lại, Thiên Chúa là tình yêu, dù Người phải đánh phạt con người cách nhãn tiền như ta đọc thấy trong Kinh Thánh thời Cựu Ước. Thiên Chúa đã đánh phạt con người cách nhãn với trận lut Hồng Thủy thời ông NO E và tàn phá hai thành SÔ ĐÔM và GOMORAH thời ông Apraham cũng như đã giết các con đầu lòng của người Ai Cập để làm nản lòng vua Phara-ô là kẻ đã ngoan cố ngăn cản không cho dân Do Thái đang nô lệ bên Ai Cập được trở về quê hương của họ. Thiên Chúa đã truyền cho ông Môsê sứ mệnh dẫn đưa dân Do Thái rời Ai Cập về chiếm ngự đất mới " đầy sữa và mật" là đất Canaan.
Nhưng Thiên Chúa của Chúa Kitô trong thời Tân Ước lại tỏ ra nhẫn nại và khoan hòa với kẻ tội lỗi mặc dù Người chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ như giết người, giết thai nhi, thù hận, chia rẽ , gây chiến tranh giết hại dân lành, trộm cướp, ngoại tình, dâm ô thác loạn, nhất là buôn bán phụ nữ và trẻ nữ cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm ( Child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi như thực trang sống của biết bao người trong thế giới tục hóa , vô luân vô đạo ngày nay.
Thiên Chúa chưa đánh phạt họ và thiêu hủy các thành phố của bọn làm những sữ dữ trên như Chúa đã thiêu hủy hai thành SÔ ĐÔM và GOMORAH trong thời Cựu Ước đã cho ta thấy là Thiên Chúa còn nhẫn nại và khoan hòa với những kẻ lâm sự dữ sự tội xúc phạm nặng nề đến bản chất yêu thương thánh thiện và an hòa của Thiên Chúa, Đấng chậm bất bình và hay thương xót.Chậm bất bình để cho kẻ tội lỗi có thêm thời giờ ăn năn sám hối, từ bỏ con đường tội lỗi dẫn đưa đến hư mất đời đời.Nhưng không phải thấy Chúa khoan dung mà lợi dụng lòng thương xót của Chúa để không cố gắng từ bỏ tội lỗi mà sống theo đường lối của Chúa hầu được cứu độ để vào Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng với các Thánh và các Thiên Thần. Ai có thái độ sống lợi dụng như vậy thi hãy nghe lời Chúa nghiêm khắc cảnh cáo như sau trong Sách Khải Huyền :
" Ta biết các việc ngươi làm,.Ngươi chẳng nóng mà cũng chẳng lạnh.Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi cứ hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sặp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." ( Kh3 : 15-16)
Tuy Chúa nghiêm khắc cảnh cáo như vậy, nhưng Người vẫn nhẫn nại và khoan dung chờ đợi kẻ có tội ăn năn sám hối để khỏi bị trừng phạt, vì Thiên Chúa là " Đấng cứu độ chúng ta , Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1Tim 2: 4)
Như vậy, còn tình thương và khoan hòa nào lớn hơn tình Chúa yêu thương và khoan dung với mọi người chúng ta ,con cái loài người ?
Tóm lại, Thiên Chúa quả thật là tình thương như Thánh Gioan Tông Đồ đã quả quyết :
" Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa
Vì Thiên Chúa là tình yêu," ( 1Ga 4:8)
Thiên Chúa là tình yêu trong mọi hoàn cánh dù phải đánh phạt con người như ta đọc thấy trong Kinh Thánh Cựu Ước , hay khoan hòa đại lượng với con người như Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô trong thời Tân Ước.
Chính vì yêu thương con người tội lỗi, nên Thiên Chúa đã sai Con Một của Người là Chúa Giêsu Kitô xuông trần gian làm Con Người để "hy sinh mạng sống của mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20 :28)
Trong Chúa Cứu Thế Giêsu, chúng ta thấy rõ Thiên Chúa là CHA khoan dung, nhẫn nại, nhân từ, chậm bất bình và hay tha thứ. Nếu Thiên Chúa không nhẫn nại khoan hòa và tha thứ thì không ai có thể làm được điều gì xứng đáng để vào Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng. Nhờ Chúa Giêsu đã dâng mình tế lễ đền tội cho nhân loại , mà Chúa Cha đã tha thứ hết cho con người tội lỗi và hứa sẽ không còn nhớ những việc xâu sa họ đã làm nữa:, như Người đã phán :
" Ta sẽ không còn nhớ đến
Lỗi lầm và việc gian ác của chúng nữa'" ( Dt 10: 17).
Vậy, chúng ta hãy cảm tạ Chúa muôn vàn về tình thương tha thứ quá rộng lượng của Chúa dành cho mọi người chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, Đấng đã hỏa giải con người với Chua CHA qua sự vâng phục và vui lòng chịu chết trên thập giá năm xưa để cứu chụộc cho muôn người được sống. Amen.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm. P.X Ngô Tôn Huấn

--------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

CÁC BÍ TÍCH của GIÁO HỘI CÔNG GIÁO có nguồn gốc KINH THÁNH không ?

Sau đây là bằng chứng về Thánh Truyền và Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội đã được ghi lại trong Kinh Thánh Tân Ước:
Thứ nhất về Quyền Giáo Huấn, Chúa Kitô đã trao cho các Tông Đồ trước khi Người về trời như sau :
"Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hay đi...và dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em..." ( Mt 28: 20)
Về Thánh Truyền, Thánh Phaolô đã truyền cho môn đệ ngài là Timôthê như sau:
" anh Timôthê, hãy bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho anh, tránh những chuyện nhảm nhí , trống rỗng , và những vấn đề tri thức giả hiệu. Có những kẻ , vì chủ trương cái trí thức đó, nên đã lạc mất đức tin. Chúc anh em được ân sủng." ( 1 Tm 6: 20-21)
Hay rõ hơn nữa:
" Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Kitô-Giêsu , anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo lý tốt đẹp đã trao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta." ( 2 Tm 1: 13-14)
Như thế đủ cho thấy là các Thánh Tông Đồ đã truyền lại cho các thế hệ nối tiếp cho đến ngày nay những giáo lý tinh tuyền của Kitô-Giáo, tức là của chính Chúa Kitô đã giảng dạy cho các Tông Đồ và cho dân chúng thời đó và được truyền lại cho chúng ta ngày nay qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu ( Mystical Body) của Chúa Kitô trong trần thế.
Riêng về các bí tích ,thì Giáo Lý của Giáo Hội đã nói rõ bảy Bí Tích mà Chúa Kitô đã ban cho Giáo Hội như phương tiện cứu rỗi cần thiết mà mọi tín hữu được mong đợi đón nhận với đức tin vững chắc và lòng mến nhiệt thành về những lợi ích thiêng liêng lớn lao của các bí tích này.(x SGLGHCG số 1210-1620)
Tất cả bẩy bí tích này đều có nguồn gốc Kinh Thánh như sau:
1-Bí Tích Thánh Tẩy ( rửa tội )
Trước hết, Chúa Giê su đã nói với một thủ lãnh Biệt phái tên là Ni-cô-đê-mô
đến thăm Chúa một đêm kia như sau:
Tôi bảo thật ông :
Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa
Nếu không được sinh ra bởi nước và thần khí." ( Ga 3:5)
Trước khi về Trời, sau khi hoàn tất công cuộc cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết,sống lại và lên Trời, , Chúa Kitô cũng truyền cho các Tông Đồ những điều quan trọng sau đây:
" Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa Cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.." (Mt 28:19)
Hoặc :
" Ai tin và chịu hép Rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin sẽ bị luận phạt." (Mc16:16)
2- Bí Tích Thêm Sức ( confirmation)
Khi hiện ra với các Tông Đồ sau khi Người sống lại từ cõi chết, Chúa
Giêsu đã thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh
Thần," ( Ga 20:22)
Lại nữa, hai Tông Đồ Phê rô và Gioan được cử đến miền Samari để gặp dân
mới theo Đạo ở đây. Khi đến nơi, " hai ông cầu nguyện cho họ, đặt tay trên
họ và họ nhận được Thánh Thần." ( Cv 8 : 17)
3-Bí Tích Hòa Giải ( penance, reconciliation)
Sau khi thổi hơi để ban Thánh Thần cho các Tông Đồ, Chúa Giêsu đã long trọng truyền cho họ thi hành thi hành mệnh lệnh sau đây :
" Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ" ( Ga 20: 23)
Lại nữa, trước khi chiu khổ hình thập giá chết và sống lại, Chúa Giê-su cũng đã trao cho Phêrô chiều khóa Nước Trời và quyền cầm buộc hay tháo gỡ như sau:
" Thầy sẽ trao cho anh chiều khóa Nước Trời: dưới đất anh cầm buộc
điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều
gì trên trời cũng sẽ thao gỡ như vậy." ( Mt 16: 19)
Quyền đó đã được trao lại cho các vị kế tục Phêrô cho đến ngày nay. Vì thế, Giáo Hội – qua Đức Thánh Cha là người kế vị Thánh Phê rô trong nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Chúa, có quyền ra vạ tuyệt thông= Anathema=Excomunication)
Và giải vạ này cho những ại bị vạ; cũng như ban ân xá ( indulgences) để tha hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) cho người còn sống hay cho các linh hồn đang được thanh luyện nơi Luyện tội ( purgatory).
Đây là điều các giáo phái Tin Lành không tin nên đã đả kích Giáo Hội Công Giáo cách vô căn cớ.
3- Bí tích Thánh Thể
Bí Tích quan trọng này đã được Chúa Giê su thiết lập trong Bữa ăn sau cùng với Mười hai Tông Đồ khi Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng rồi bẻ ra trao cho các ông và nói: " anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.Rồi Người cầm chến rượu, tạ ơn, trao cho các ông và nói : " Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu giao ước đổ ra cho muôn người được tha tội." ( Mt 26: 26-28; Mc 14: 22-24; Lc 22:19-20; Ga 6; 1 Cor 11: 23- 25)
Qua Bí Tích Thánh Thể, Giáo Hội tin có sự hiện diện thực sự ( real presence) của Chúa Kitô dưới hai chất thể là bánh và rượu nho.Đây là điều anh em Tin Lành không tin. Vã lại, vì họ không có Chức Linh Mục ( Priesthood) hữu hiệu nên họ không thể có Bí Tích Thánh Thể ( The Eucharist) và các Bí Tích Hòa Giải ( Reconciliation) , Sức dầu bệnh nhân ( Anointing of the sick) và Bí Tích Truyền Chức Thánh ( Holy Orders ) là những Bí Tích chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mà thôi; ngoài bí tích Rửa Tội mà đa số các giáo phái khác như Tin Lành và Anh Giáo ( Anglican) đều có.
Nhưng nếu nhóm nào –như giáo pháí Bahai Hullad), không làm Phép Rửa với nước và Công Thức Chúa Ba Ngôi ( The Trinitarian Formula) thì bí tích không thành sự ( invalidly) nên nếu giáo hữu của họ muốn gia nhập Giáo Hội Công Giáo thì phải được rửa tội lại.
5-Bí tích Sức dầu ( Anointing)
Bí Tích này được ghi trong Thư Thánh Gia-cô-bê như sau:
" Ai trong anh em đau yếu ư ? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy sau khi sức dầu nhân danh Chúa." (Gc 5: 14)
6- Bí Tích Truyền Chức Thánh ( Hoy Orders)
Trong thư gửi cho môn đệ ngài là Timô-thê, Thánh Phaolô đã căn dặn như
Sau:
" Vì lý do đó, tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa,
Đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh." ( 2 Tm 1: 6)
Như thế việc đặt tay để xin ơn Chúa Thánh Thần là điểm chính yếu trong
Nghi thức Truyền Chức Thánh Phó tê, Linh mục và Giám mục trong Giáo
Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương.
7- Bí Tích Hôn Phối ( Matrimony)
Chính Chúa Giê su đã nhắc lại cho các Tông Đồ - và đặc biệt- là nhóm Biệt phái như sau về bí tích này:
" Các ông không đọc thấy điều này sao: thủa ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán: "vì thế người ta sẽ lìa Cha mẹ mà gắn bó với vợ mình., và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp , loài người không được phân ly." (Mt 19: 4-6)
Thánh Phaolô cũng nhắc cho tín hữu Ê-phê-sô về bí tích hôn phối như sau:
" Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế , người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thực là cao cả.Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng." ( Ep 5: 31-33)
Tóm lại , tất cả bảy Bí Tích đều có nguồn gốc Kinh Thánh, tức là đều bắt nguồn từ ý muốn của Thiên Chúa cho con người thi hành để cộng tác với Chúa trong Chương Trình sáng tạo và cứu độ con người nhờ Chúa Kitô cho đến ngày mãn thời gian.
II-Chỉ nghe Lời Chúa không thôi có đủ cho con người được cứu độ không ?
Nghe lời Chúa qua Kinh Thánh là điều rất quan trọng và cần thiết cho mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội , vì " người ta sống không phải chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn sống nhờ mọi lời từ miệng ĐỨC CHÚA phán ra." (Mt 4: 4 ; Lc 4: 4; Đnl 7: 3;)
Lời Chúa không những là thần lương nuôi sống linh hồn ta mà còn là đuốc sáng soi dẫn ta đi trên đường tìm kiếm Chúa và Vương Quốc bình an, hạnh phúc của Người, đúng như Phêrô đã tuyên xưng một ngày kia:
" Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời." ( Ga 6: 68)
Thánh Vinh 119, cũng ca tụng lời Chúa như sau:
" Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước
Là ánh sáng chỉ đường con đi". ( Tv 119: 105)
Như thế đủ cho thấy là việc nghe lời Chúa qua Kinh Thánh , qua Giáo Hội và trong chính lương tâm con người, là điều vô cùng cần thiết cho những ai muốn đi theo Chúa, muốn yêu mến Người và muốn được cứu rỗi để sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau: .
Tuy nhiên, chỉ nghe lời Chúa như anh em Tin Lành tin và quảng bá ( Sola Scriptura) thì chưa đủ để lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô..Muốn đầy đủ hơn thì cần thiết cho ta phải lãnh nhận các Bí Tích rất quan trọng như Thánh Thể, Hòa Giái và Sức Dầu bệnh nhân ... là những phương tiện thông ban ơn Chúa dồi dào cho những ai muốn lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô nhờ Hy Tế đền tội mà Chúa đã dâng lên Chúa Cha trên thập giá năm xưa và nay còn tiếp tục dâng trên bàn thờ mỗi khi Thánh Lễ được cử hành.
Vì thế , khi tham dự Thánh lễ, chúng ta được lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô như Giáo Hội dạy trong Hiến Chế Lumen Gentium ( Ánh Sáng muôn dân ) sau đây:
" Mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó "Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế (1 Cor 5, 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( LG 3)
Đó cũng là lý do tại sao Thánh Lễ được coi là " nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả đời sống Kitô Giáo".Nghĩa là không thể sống trọn vẹn đời sống Kitô Giáo mà không tham dự Thánh Lễ để vừa được nghe lời Chúa và nhất là được ăn thịt và uống máu Chúa Kitô là bảo chứng cho ta được sống đời đời như Chúa đã hứa:
" Ai ăn thịt và uống máu Ta
Thì được sống muôn đời
Và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết." ( Ga 6: 54)
Mặt khác, là con người sống trên trần gian này, không ai có thể tránh được nguy cơ của tội lỗi đến từ ma quỉ, thế gian và xác thịt.Do đó, nếu không siêng năng chạy đến với Chúa qua bí tích hòa giải ( xưng tội) thì làm sao nối lại được tình thân với Chúa, sau khi lỡ sa ngã vì yêu đuối con người, vì ma quỷ và thế gian luôn cám dỗ với mọi dịp tội và gương xấu để lôi kéo ta ra khỏi thân tình với Chúa để làm nô lệ cho chúng và mất hy vọng được cứu rỗi ?
Chính vì biết con người còn yếu đuối và dễ sa ngã, nên Chúa Kitô đã dự trù sẵn phương thế hữu hiệu là ban cho chúng ta bí tích hòa giải để giúp ta trỗi dậy và lấy lại thân tình với Chúa mỗi khi lỡ sa phạm tội vì yếu đuối trong bản tính con người ,và nhất là vì ma quỷ cám dỗ cho ta phạm tội khiến mất tình thân với Chúa
Và mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu .
Thật vậy, ai dám nói là mình không bao giờ phạm tội để không cần phải xưng tội để được tha thứ ?
Cũng không thể trực tiếp xưng tội với Chúa không cần qua trung gian của ai ( linh mục) như anh em Tin Lành giảng dạy, vì Chúa Kitô đã trao quyền tha tội này cho các Tông Đồ mà người kế vị các ngài là các Giám mục và phụ tá của Giám mục là các linh mục trong toàn Giáo Hội.( Ga 20:23)
Do đó không thể cứ hát Alleluia và nghe lời Chúa không thôi như anh em Tin lành quảng bá thì sẽ thiếu đi phần quan trọng nữa là lãnh nhận các ơn ích thiêng liêng qua các bí tích mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu rỗi cho con người cho đến ngày mãn thời gian.
Anh em Tin Lành không biết các Bí Tích quan trọng như Thêm Sức, ( Confirmation) Thánh Thể ( Eucharist) , Hòa Giải (reconciliation) Sức Dầu bệnh nhân ( Anointing of the sick)..nên không biết những lợi ích thiêng liêng lớn lao của các Bí Tịch này.
Kinh nghiệm thiêng liêng cho mọi người tín hữu chúng ta biết rằng : phải siêng năng cầu nguyện, nghe lời Chúa và luôn chạy đến với hai bí tích rất quan trọng và cần thiết là Thánh Thể và Hòa giải để được ăn uống Mình Máu Chúa, là linh dược nuôi sống linh hồn và cho ta sức mạnh cần thiết để đứng vững trong ơn nghĩa với Chúa cũng như lấy lại ơn nghĩa này sau khi lỡ sa phạm tội nặng hay nhẹ , vì yếu đuối của bản năng, nhất là vì ma quỷ - ví như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" để mong sát hại linh hồn chúng ta, như Thánh Phê rô đã lưu ý.( 1 Pr 5: 8)
Tóm lai, muốn thăng tiến trong đời sống thiêng liêng, muốn lớn lên trong tình yêu Chúa, và muốn được cứu rỗi thì phải sử dụng mọi phương tiện cần thiết nói trên, như nghe lời Chúa, cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải là những phương tiện cứu rỗi vô cùng cần thiết mà Chúa Kitô đã ban cho chúng ta qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa trong trần gian, có mặt và hoạt động cho đến ngày mãn thời gian, tức là ngày cánh chung hay tận thế.Amen
Ước mong những giải đáp trên thả mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô .Xaviê Ngô Tôn Huấn.

----------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM CỬ HÀNH BÍ TÍCH PDF Print E-mail

LINH MỤC CÓ ĐƯỢC PHÉP CỬ HÀNH BÍ TÍCH THEO Ý RIÊNG MÌNH KHÔNG ?

Hỏi :
xin cha giải thích vài thắc mắc sau đây liên can đến việc dạy dỗ và cử hành bí tích của một vài linh mục:
1- Có linh mục kia, khi dâng lễ ở tư gia, đã mời mọi người có mặt tham dự lên rước Mình Thánh Chúa, vì cho rằng Chúa đã tha hết mọi tội cho con người rồi nên không ai cần phải xưng tội nữa (dù có tội trọng) trước khi rước Mình Thánh Chúa ! Như vậy có đúng không ?
2- Cũng linh mục đó, khi vào nhà thương thăm một bệnh nhân, đã chứng hôn cho đôi vợ chồng đang "rối" về hôn phối, vì nể lời yêu cầu của bà mẹ đôi vợ chồng kia. Như vậy hôn phối đó có thành sự hay không ?
3- Một linh mục khác đã bảo Thừa tác Viên cho rước Lễ đổ thêm rượu nho vào chén Máu Thánh đã cạn,để cho giáo dân rước. Như vậy có được không ?
Trả lời :
1- Tôi thực kinh ngạc về những câu hỏi trên đây,vì nếu là linh mục được đào tạo đến nơi đến chốn, thì phải dạy đúng giáo lý của Giáo Hội cũng như cử hành các bí tích đúng theo Nghi Thức ( Rite) của Giáo Hội
Trước hết là việc linh mục mời mọi người lên rước Mình Thánh Chúa trong Thánh lễ dù là ở tư gia hay ở nhà thờ là điều không đúng và không được làm vì những lý do sau đây:
Đành rằng Thánh lễ, về một phương diện, là Bữa ăn cuối cùng mà Chúa Giêsu đã cùng ăn uống với Nhóm Mười Hai Tông Đồ buổi tối trước khi Người bị trao nộp cho những kẻ đến bắt bớ vì Giuda phản bội, bán Chúa cho nhóm thượng tế và luật sĩ Do Thái.
Vì thế, khi tham dự Thánh Lễ, mọi người cũng được mời ăn tiệc thánh là rước Mình Máu Chúa Kitô hiện diện thực sự dưới hai chất thể là bánh và rượu nho.
Tuy nhiên, việc rước Mình Máu Chúa Kitô trong Thánh Lễ hàng ngày hay ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng không phải là điều bó buộc cho mọi người tham dự Thánh Lễ, mà chỉ là lời mời gọi cho những ai cảm thấy mình xứng hợp –hay không có gì ngăn trở-để rước Mình Máu Thánh Chúa mà thôi. Phải nói là không có gì ngăn trở, nghĩa là không đang có tội trọng, ( mortal sin), vì nếu ai có tội trọng thì không được làm lễ ( linh mục) và rước Mình Thánh Chúa ( giáo dân) (x. SGLGHCG số 1415 , giáo luật số 916).Như vậy, nếu có tội trọng, thì phải đi xưng tội để làm hòa với Chúa trước khi rước Mình Thánh Chúa trong Thánh Lễ.
Lại nữa, những trẻ em chưa rước lễ lần đầu, cũng không được rước lễ khi tham dự Thánh lễ cùng với cha mẹ, vì chưa được dạy giáo lý cần thiết về Phép Thánh Thể. Điều này cũng áp dụng cho những người thuộc các tôn giáo khác, vì xã giao đến tham dự lễ với người Công giáo. Không thể mời họ lên rước Mình Thánh Chúa được, vì họ không cùng hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo về niềm tin có Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hai chất thể bánh và rượu nho , nghĩa là không hiểu biết gì về bí tích Thánh Thể.
Sau hết, những người đang bị ngăn trở về hôn phối, như đã li dị ngoài tòa án dân sự nhưng chưa được Tòa án hôn phối của Giáo phận tháo gỡ hôn phối cũ mà lại sống chung với người khác như vợ chồng, thì cũng tạm thời không được lãnh nhận các bí tích hòa giải và Thánh Thể, cho đến khi tình trạng hôn phối của họ được giải quyết thỏa đáng theo giáo luật. Nghĩa là họ phải được tháo gỡ hôn phối cũ ( annulled), nếu đủ điều kiện theo giáo luật, rồi mới được tái kết hôn và lãnh nhận các bí tích hòa giải và Thánh Thể.
Như vậy, mời tất cả mọi người tham dự Thánh lễ ở tư gia hay ở nhà thờ lên rước Mình Thánh Chúa là sai hoàn toàn , vì biết đâu trong số những người tham dự Lễ có người đang mắc tội trọng, có người ngoài Công giáo hay đang bị ngăn trở về phép hôn phối. Không thể nói Chúa đã tha hết mọi tội cho con người rồi nên mọi người được rước MÌnh Thánh Chúa, bất kể họ đang ở tình trạng nào.Thiên Chúa tha tội cho con người nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô: đúng, nhưng con người vẫn có thể lại phạm tội nặng hay nhẹ nhiều lần nữa sau khi được rửa tội chứ, vì bản tính yếu đuối , vì ma quỉ cảm dỗ, vì gương xấu của thế gian và nhất là vì con người còn có tự do để tránh phạm tội hay cứ phạm tội vì ỷ lại vào tình thương tha thứ của Chúa. Ai không cố gắng chừa tội mà cứ ỷ lại vào lòng thương xót tha thứ của Chúa để phạm tội năng hay nhẹ, thì hãy nghe lời cảnh cáo nghiêm khắc sâu đây của Chúa Kitô trong Sách Khải Huyền:
" Ta biết các việc ngươi làm : ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng.
Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm, chẳng nóng, chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa người ra khỏi miệng Ta." ( Kh 3:15-16)
Tóm lạị việc rước Mình Máu Chúa Kitô trong Thánh Lễ là hoàn toàn tùy thuộc ý muốn của người tham dự Thánh Lễ. Không có luật nào buộc mọi người tham dự Lễ phải rước Mình Máu Thánh Chúa , mà chỉ có lời khuyên, lời mời cho những ai cảm thấy mình xứng hợp hay không có gì ngăn trở để rước Mình Máu Thánh Chúa mà thôi. Lại nữa ,về phần linh mục, nếu biết rõ ai không phải là người Công giáo, ai đang có ngăn trở về hôn phối mà lên rước Lễ, thì có quyền từ chối trao Mình Thánh Chúa cho những người ấy.Nếu họ thắc mắc, thì sau đó giải thích lý do cho họ hiểu.
2- Về câu hỏi thứ hai, xin được trả lời như sau :
Trước hết, muốn chứng hôn cho ai, linh mục phải biết rõ đôi hôn phối đó có hội đủ điều kiện để kết hôn trong Giáo Hội hay không. Thứ đến linh mục có thẩm quyền để chứng hôn nữa hay không. Nghĩa là đôi hôn phối đó có thuộc quyền coi sóc mục vụ của mình hay không, vì không ai được chứng hôn cho những người vô gia cư, hay không thuộc quyền coi sóc mục vụ của mình. ( giáo luật số 1071 & 1).
Nếu không thuộc quyền coi sóc mục vụ của mình thì, muốn chứng hôn thành sự ( validly) linh mục chứng hôn phải được ủy quyền về năng quyền chứng hôn của cha xứ coi sóc cặp hôn phối đó. ( x Giáo luật số 1111& 2).Ngoài ra, hai người kết hôn phải có hai người làm chứng ( witness) trước mặt đại diện của giáo quyền.
Sau hết, nhà thương hay tư gia không phải là nơi cho phép cử hành hôn lễ
Nghĩa là hôn lễ phải được cử hành ở nhà thờ hay nhà nguyện công do một linh mục hay phó tế chủ sự với sự có mặt chứng hôn của hai người làm chứng. ( giáo luật số 1116&2)
Như vậy, căn cứ theo câu hỏi trên đây, thì linh mục kia đã sai trái hoàn toàn khi chứng hôn cho một một đôi hôn phối ở nhà thương, thể theo lời yêu cầu của bà mẹ đang nằm điều trị ở đây mà không biết đôi hôn phối đó đang bị ngăn trở kết hôn vì lý do gì. Sai trái này khiến cho việc chứng hôn không thành sự và bất hợp pháp ( invalidly and llicitly ) vì đôi hôn phối không thuộc quyền coi sóc mục vụ của mình, hoặc không được thẩm quyền nào cho năng quyền ( faculty) để chứng hôn mà dám chứng hôn chỉ vì nể lời bà mẹ của một trong hai người nam hay nữ yêu cầu. Lại nữa, thiếu hai người làm chứng thì hôn phối cũng không thể thành sự được, cho dù thừa tác viên của bí tích hôn phối là hai người phối ngẫu tự do ưng thuân lấy nhau trước mặt đại diện của giáo quyền và hai người làm chứng.
Tôi không hiểu ông linh mục kia học về bí tích và giáo luật ở đâu mà dám liều lĩnh chứng hôn bừa bãi như vậy. Và chắc chắn việc chứng hôn này là vô hiệu quả và bất hợp pháp ( invalidly and illicitly) vì những lý do nêu trên.
Vậy ai biết việc này, thì xin nói cho bà mẹ và đôi hôn phối kia biết về việc kết hôn không thành sự của con bà vì lỗi của linh mục kia.
3-Về câu hỏi thứ ba :
Tôi vô cùng ngạc nhiên khi đoc câu hỏi này vì nếu đúng như vậy thì không biết linh mục kia đã học hành ra sao mà thực hành sai trái như vậy, Nếu học hành đúng về Bí Tích thì phải hiểu rằng bánh và rượu nho chưa được truyền phép ( unconsecrated) thì chỉ là bánh và rượu thôi. Chỉ khi được truyền phép ( consecrated) trong Thánh Lễ thì mới trở thành Mình và Máu Chúa Kitô thực sự hiện diện ( real presence) trong hai chất thể bánh và rượu nho.Do đó, không thể đổ rượu nho chưa truyền phép vào chén thánh đựng Máu Thánh (consecrated wine) để cho giáo dân rước được, vì đó chỉ là rượu nho chứ không phải là Máu Thánh Chúa Kitô thực sự hiện diện trong chất thể rượu nho sau khi được truyền phép trong Thánh Lễ. Như thế, linh mục kia đã lẫn lộn giữa rượu nho chưa được truyền phép với rượu đã được truyền phép để trở thành Máu Chúa Kitô thực sự hiện diện trong chất thể rượu nho.
Giáo dân cần nói cho linh mục kia biết về sự khác biệt cơ bản nói trên.Nếu linh mục đó không có thiện chí muốn nhận lỗi thì phải trình việc này cho Bề Trên địa phận ( Giám mục) biết để giúp linh mục kia sửa sai.Amen
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi nêu ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 162