Hoc Hoi De Song Dao
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5362
mod_vvisit_counterHôm Qua7843
mod_vvisit_counterTuần Này58185
mod_vvisit_counterTuần Trước49998
mod_vvisit_counterTháng Này197133
mod_vvisit_counterTháng Trước205194
mod_vvisit_counterTất cả10912635

We have: 157 guests online
Your IP: 54.224.91.58
 , 
Today: May 26, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - KHUNG HOANG VƠ CHONG PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
May 23 at 10:26 PM
GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN TRONG ĐỜI SỐNG VỢ CHỒNG

"Ngày 01-6-2010, hầu như tất cả mọi phương tiện truyền thông như truyền thanh, truyền hình, internet và báo chí đều phát thanh, phát hình và đang tải một tin mà ảnh hưởng của nó đến rất nhiều người và mang một ý nghĩa hết sức quan trọng. Tin về việc ông Al và bà Tipper Gore quyết định chia tay. Nhiều lời bình luận và nhiều bán tán xôn xao về tin này. Nhưng câu hỏi mà các nhà bình luận vẫn không có câu trả lời thỏa đáng, đó là câu hỏi tại sao?

Tại sao một cuộc tình đầu, hai người yêu nhau hồi còn cắp sách đến trường, đến nay sau 40 năm chung sống với 4 người con lại có kết thúc như vậy.

Tại sao một cặp vợ chồng mà người chồng đã từng là Phó Tổng Thống, ứng viên tranh chức tổng thống và đoạt giải Nobel Hòa Bình, mà vẫn không có đủ yếu tố để giữ cho đến chết mối tình và hạnh phúc hôn nhân của mình.

Và Tại sao trong những năm sóng gió của tám năm Phó Tổng thống, của những ngày tháng tranh cử chức Tổng thống, cũng như suốt 40 năm qua đã không làm hạnh phúc họ phải tan vỡ, mà phải chờ đến giờ này ?..." (Theo TS Trần Mỹ Duyệt, bài 'Những thách thức của sự trung thành trong đời sống hôn nhân').

Ông bà ta thường nói: "Vợ chồng như đũa có đôi". Thực vậy, vì khi kết hôn hai bạn tự nguyện cam kết sánh đôi cùng hội cùng thuyền và sống chung với nhau đến hết cuộc đời. Họ chấp nhận đầu gối tay ấp để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Thế nhưng, thực tế cho thấy không phải bất kỳ cuộc hôn nhân nào cũng êm ái và phẳng lặng cả. Sóng gió có thể nổi lên bất cứ lúc nào. Và trong nhiều trường hợp, kết cục trở nên bi thảm, đó là xảy đến việc ly hôn ly dị.

"Một thống kê cho biết tỉ lệ ly hôn ở Việt Nam chiếm 31%-40%, trong đó tuổi thọ hôn nhân bình quân của thế hệ 8x đưa nhau ra tòa dao động trong khoảng... 30 tháng" (Theo TS Nguyễn Minh Hòa, ĐH KHXHNV TP.HCM – TTO 01-10-2008).

Một thực tế bi đát, xem ra đáng báo động!

Tuy nhiên, có thể nói bất kỳ cuộc ly hôn nào cũng có lí do riêng của nó. Không phải bỗng dưng mà người ta đưa nhau ra tòa. Câu nói trước tòa của đôi bạn thường là "Chúng tôi không hợp nhau...", nhưng đó chỉ là cách nói chung chung. Chắc chắc trong đời sống vợ chồng, họ đã có những mâu thuẫn nào đó, có thể rất nhỏ nhưng kéo dài nhiều năm tháng khiến một trong hai hoặc cả hai người cảm thấy mệt mỏi, chán chường và muốn "ra riêng". Có người bi quan đã nhận định thế này: "Cãi lộn chiếm phần lớn đời sống hôn nhân, phần còn lại không có gì đặc sắc" (Thornoton Wilder).

Vậy để giảm bớt căng thẳng và mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng, chúng ta thử nghĩ đến một số giải pháp đơn giản nhờ đó hai bạn có đủ can đảm giải quyết những bất đồng giữa nhau, để có thể vững bước đồng hành đến cuối cuộc đời.

1. Nhận diện nguyên do gây mâu thuẫn

Trước hết phải khẳng định một điều: những mâu thuẫn bất đồng trong đời sống vợ chồng là chuyện tự nhiên, thường tình như tục ngữ VN có câu: "Chén bát còn có lúc xô xát, huống chi vợ chồng". Do đó, đối với vợ chồng, vấn đề không phải là "giải phóng" hết mâu thuẫn bất đồng giữa hai người, nhưng là tìm ra những nguyên do nào gây nên những mâu thuẫn, bất đồng ấy để có giải pháp xử lý thích hợp. Mâu thuẫn có thể là do khác biệt về tính cách, tính tình. Có thể do cách suy nghĩ khác nhau về nhân sinh quan hay do sự đối lập trong cách phản ứng đối với những tình huống trong giao tiếp. Có thể là do bất đồng trong cách quản lý chi tiêu ngân sách trong gia đình. Có thể là do không cùng quan điểm trong việc nuôi dạy con cái. Cũng có thể do những trục trặc thầm kín trong "chuyện vợ chồng" vv. Nguyên do thì có nhiều. Nhưng điều quan trọng vẫn là hai bạn nên bình tĩnh xem xét vấn đề, khôn ngoan suy nghĩ và thận trọng quyết định. Căn bản vẫn là Tình Yêu. "Yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng" (Ca dao VN).

2. Im lặng là vàng

Nguyên tắc đầu tiên mà các nhà tư vấn tâm lý khuyên ta thực hành, đó là khi gặp mâu thuẫn, cả hai cùng im lặng. Im lặng không có nghĩa là chịu đựng cách tiêu cực mà là bình tĩnh trước sự việc. Không nóng vội. Không bốc đồng. Không thành kiến. Im lặng là sự biểu lộ của lòng vị tha và bao dung. Có người đã nói: "Phân nửa những vấn đề trong hôn nhân được giải quyết bằng cách giữ im lặng". Đúng vậy, vì khi xảy ra "vấn đề" nào đó giữa hai người với nhau, những tranh luận cãi cọ "bằng lời" đôi khi chỉ như đổ thêm dầu vào lửa. Kinh nghiệm dân gian là: "Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời chẳng khê". Và cũng có ý kiến này: "Phải có hai người mới đủ gây lộn, nhưng người có lỗi vẫn là người nói nhiều nhất" (It takes two to make a quarrel and the one in the wrong is the one does the most talking).

3. Nghệ thuật nhượng bộ

Trong lúc hai vợ chồng bất đồng, người nào biết cách nhượng bộ, người đó là người chiến thắng. Sự nhượng bộ sẽ đem lại hòa khí trong gia đình và nhất là có sức mạnh thuyết phục phía-bên-kia cũng nhượng bộ như mình. Ông bà ta khuyên, "một sự nhịn chín sự lành", nghĩa là nếu biết nhịn nhục, ta sẽ dễ dàng làm lành với nhau và cuộc chiến sẽ mau chóng kết thúc...Tác giả André de Mission đã viết: "Tìm hiểu nhau ba tuần, yêu nhau ba tháng, cãi nhau ba năm và nhường nhịn nhau suốt quãng đời còn lại". Trong đời sống gia đình, ai mà chẳng mong ước hòa khí. Nếu cả hai bạn đều có thiện chí muốn nhượng bộ để làm hòa với nhau, thì chắc chắn gia đình sẽ êm ấm. Văn hào Alfred Musset đã nói: "Trong tình yêu,niềm khoái lạc nhất là lúc làm lành với nhau sau khi cãi vã".

4. Tham khảo ý kiến của người khác

Khi các bạn gặp "vấn đề" trong đời sống vợ chồng, các bạn nên tham khảo ý kiến của nhiều người khác. Là người trong cuộc, có thể các bạn sẽ nhìn "vấn đề" một cách phiến diện, chủ quan. Vì vậy ta nên tham khảo ý kiến của người khác. Người khác có thể là cha mẹ, gia đình đôi bên. Có thể là anh chị em trong gia đình. Có thể là thầy cô đã từng dạy dỗ mình. Có thể là bạn bè, đồng nghiệp. Và cũng có thể là cha giải tội hay người phụ trách đoàn thể bạn tham gia vv. Những người mà bạn tham khảo sẽ cho các bạn những ý kiến bổ ích, nhờ đó các bạn tìm được một giải pháp thích hợp cho hoàn cảnh và tình huống cụ thể của mình. Có khá nhiều đôi bạn đã làm lành được với nhau sau một vài cuộc xung đột nặng nề vì họ đã biết lắng nghe và thực hiện sự chỉ dẫn của những người ngoài cuộc...

5. Tìm sự động viên của con cái và người thân trong gia đình

Trong "cuộc chiến" giữa hai vợ chồng, đôi lúc ta cảm thấy đơn độc và thất vọng. Nhưng nếu có sự tiếp tay, động viên từ phía gia đình, nhất là từ con cái, ta sẽ được nâng đỡ, ủi an. Để tránh cãi vã kéo dài, con cái có thể giúp cha mẹ hòa giải với nhau. Vai trò của con cái thật là thuận lợi và đắc lực. Con cái càng lớn, tiếng nói của họ càng nặng ký. Vì vậy, nếu một trong hai bạn biết tranh thủ sự hỗ trợ của con cái thì bầu khí gia đình sẽ được cải thiện và dần dần lấy lại được hòa khí. Hạnh phúc thì ai cũng ước mong và không ai muốn mất đi cả. Con cái chúng ta sẽ hiểu được điều đó. Vì "Tất cả kho tàng trên trái đất này đều không thể sánh bằng hạnh phúc gia đình" (Caldéron).

6. Hãy biết mình

Cổ nhân có câu: "Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng". Trong mâu thuẫn vợ chồng, sở dĩ người ta khó làm lành với nhau là vì ai cũng nhận phần thắng về cho mình. Ai cũng nghĩ là mình phải và người kia trái. Ai cũng muốn đổ lỗi cho bạn mình trong khi mình cũng có lỗi. Vậy tốt nhất là mỗi người hãy tự biết mình. Bạn hãy tập thói quen "xét mình" vào buổi tối trước khi ngủ. Bảng "xét mình" sẽ chia làm hai cột, một bên là "Điểm mạnh/ tốt", một bên là "Điểm yếu/ chưa tốt". Dựa vào kết quả này, bạn sẽ thấy mình như thế nào, đang ở đâu, cần thay đổi gì...Cũng thế, nếu bạn đời của bạn cũng làm như bạn và cả hai cùng chia sẻ cho nhau biết về con-người-thực của nhau, thì lúc đó chắc chắn bạn sẽ có cái nhìn khác hơn về mình và về người bạn đời của bạn. Người đời khuyên: "Hãy vững tin vào những mặt mạnh của nhau và bỏ qua những mặt yếu của nhau". Bí quyết để có hòa thuận lâu dài nằm ở chỗ đó.

7. Cầu nguyện

Đối với đôi bạn Công giáo thì đây là một bí quyết tuyệt vời. Bởi trước khi kết hôn họ đã phải cầu nguyện nhiều rồi, huống chi là khi đã bước vào đời sống hôn nhân gia đình. Đôi bạn phải cầu nguyện thường xuyên, liên lỉ vì hôn nhân là một biến cố cực kỳ quan trọng trong đời sống của một con người. Đó là ơn gọi và sứ mệnh mà Thiên Chúa đã ban và muốn chúng ta dấn thân thực hiện. Vậy cầu nguyện là một hành vi đạo đức không thể thiếu đối với đôi vợ chồng Ki-tô hữu. Đặc biệt là trong lúc gặp sóng gió, thử thách, các bạn càng phải cầu nguyện nhiều hơn nữa. Có người đã khẳng định: "Nếu gia đình cùng cầu nguyện, thì sẽ vững bền mãi mãi".

Thực vậy, khi cầu nguyện chúng ta sẽ lắng nghe và thực hành giáo huấn của Lời Chúa: "Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau" (Cl 3, 12-13)./.
Aug. Trần Cao Khải

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO -THU NAM 24-5-2018 PDF Print E-mail

Thứ Năm sau Chúa Nhật 7 Quanh Năm -B

Alleluia, alleluia! - Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 9, 40-49 (Hl 41-50)

"Thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn đủ cả hai tay mà phải vào hoả ngục".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Ai cho các con (uống) một ly nước vì lẽ các con thuộc về Ðấng Kitô, thật Thầy bảo các con: kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu. Nhưng nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn.

"Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi: thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục, trong lửa không hề tắt. Và nếu chân con làm dịp tội cho con, hãy chặt chân đó đi: thà con mất một chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục. Và nếu mắt con làm dịp tội cho con, hãy móc mắt đó đi, thà con còn một mắt mà vào nước Thiên Chúa, còn hơn là có đủ hai mắt mà phải ném xuống hoả ngục, nơi mà dòi bọ rúc rỉa nó không hề chết và lửa không hề tắt. Vì mọi người sẽ bị ướp bằng lửa.

"Muối là vật tốt, nhưng nếu muối ra lạt, các con lấy gì mà ướp nó cho mặn lại được? Các con hãy có muối ở trong mình và sống hoà thuận với nhau".

Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm - SỐNG LỜI CHÚA

Thiên đàng toàn là thành phần bị tàn tật

Bài Phúc Âm hôm nay, như bài Phúc Âm hôm qua, cũng tiếp tục bài Phúc Âm của ngày hôm trước. Tuy nhiên, bài Phúc Âm hôm nay đáng lẽ phải được đọc cùng với bài Phúc Âm hôm qua mới đúng. Bởi Chúa Giêsu đang nói với các môn đệ của Người chưa xong thì bị Giáo Hội cắt ngang, không cho đọc nữa, để những lời Chúa Giêsu đang muốn nói ấy sang bài Phúc Âm cho ngày hôm nay.

Thật vậy, lời Chúa Giêsu đang nói trong bài Phúc Âm hôm qua là "Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con", và Người chưa nói hết những gì Người đang muốn nói bấy giờ là "Ai cho các con (uống) một ly nước vì lẽ các con thuộc về Ðấng Kitô, thật Thầy bảo các con: kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu...", thì câu này, cùng với các câu sau đó, được chuyển sang câu đầu của bài Phúc Âm hôm nay.

Tuy nhiên, không phải là vô lý mà Giáo Hội dám cắt ngang Lời Chúa của mình như thế. Bởi có lẽ Giáo Hội thấy rằng những gì Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay là một vấn đề khác, hoàn toàn khác, nhưng được chuyển tiếp bằng câu đầu tiên vừa được trích dẫn trên đây. Thế nhưng, nếu lưu ý, chúng ta sẽ thấy vấn đề trong bài Phúc Âm hôm qua và vấn đề trong bài Phúc Âm hôm nay vẫn có tính cách liên tục và liên hệ với nhau làm sao ấy, một cách nào đó.

Đúng thế, trong khi vấn đề của bài Phúc Âm hôm qua liên quan đến lời minh định của Chúa Giêsu về thành phần làm việc lành thay Người cho anh chị em mình: "Chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại nói xấu Thầy", thì vấn đề của bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến một loại người hoàn toàn ngược lại, đó là loại người tác hại đến phần rỗi của anh chị em mình, bằng gương mù gương xấu họ gây ra, những hành động đáng bị trừng phạt xứng đáng: "Nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn".

Vẫn biết ai phạm tội thì phải chịu hình phạt tương xứng với tội phạm của mình, chứ không phải mình phạm rồi người khác chịu phạt thay mình, như chúng ta có khuynh hướng đổ tội cho nhau, như thể chúng ta vấp phạm là do người khác, nên mình vẫn đáng thông cảm tha thứ, còn người làm cớ cho mình sa ngã mới đáng bị phạt hơn là mình và thay vì mình.

Tuy nhiên lời Chúa Giêsu vừa quả quyết trên đây về thành phần gây dịp vấp ngã cho người khác, tuy họ phải gánh chịu trách nhiệm về việc làm xấu gây tác hại thiêng liêng của họ như vậy, nhưng ai phạm tội theo gương mù gương xấu của họ vẫn phải chịu trách nhiệm về tội phạm của mình, chứ không phải họ cần phải hay buộc phải chịu tội thay cho mình.

Dầu sao thành phần gây ra gương mù gương xấu trên thế gian này, trong xã hội loài người, trong đời sống chung, một hiện tượng gương mù gương xấu không thể nào không có, không thể nào không xẩy ra (xem Mathêu 18:7), vì con người trần gian chúng ta ai cũng mang một bản chất bất toàn, luôn sống với một bản tính đã bị hư đi bởi nguyên tội, đầy những đam mê nhục dục, luôn xu hướng về tội và có thể liên lỉ phạm tội nếu không có ơn Chúa.

Thành phần gây ra gương mù gương xấu chẳng những phải chịu trách nhiệm nặng nề về những gì mình gây ra, như thể bị "buộc thớt cối xay vào cổ", mà còn phải bị "xô xuống biển" nữa, tức bị thế gian là nơi đầy những biến động như biển khơi vùi lấp đi, như Tiên Tri Giona bị đám thủy thủ trên con tầu ông đang muốn lợi dụng để tẩu thoát lệnh truyền của Thiên Chúa sai ông, con tầu đang bị bão tố biển khơi tấn công như thể sắp sửa bị lật nhào mất tích, bất đắc dĩ ném ông xuống biển để cứu bao nhiêu là sinh mạng vô tội bị chết bởi tội ông gây ra (xem Giona 1:13-15).

Nếu Tiên Tri Giona nhờ tai nạn "bị xô xuống biển" này để cứu bao nhiêu sinh mạng khác đáng lẽ bị chết đi bởi tội lỗi của ông được Thiên Chúa cứu sau đó nhờ một con cá nuốt vào bụng nó thế nào, và nhờ đó ông đã được vào bờ an toàn, thì thành phần gây ra gương mù gương xấu cũng có thể được cứu độ như thế, một khi biết ăn năn thống hối nhận ra lầm lỗi của mình. Đó là phần của những ai gây ra dịp tội cho người khác, phải gánh chịu hậu quả những gì mình gây ra làm thiệt hại đến phần rỗi của người khác, nhưng người khác bị hư đi thì lại do chính đương sự nạn nhân chứ không phải chính tác nhân gương mù.

Bởi vậy mà Chúa Giêsu còn cảnh giác cả thành phần đương sự nạn nhân trong bài Phúc Âm hôm nay nữa. Không phải hay sao, trong bài Phúc Âm hôm nay, ngay sau khi nói về thành phần tác nhân gương mù Người đã nói ngay đến thành phần đương sự chủ thể. Theo giáo huấn của Người trong bài Phúc Âm hôm nay thì dịp tội ở ngay bản thân của đương sự chủ thể, chứ không phải ở tác nhân gương mù. Một đàng ở bên ngoài đương sự chủ thể - đó là gương mù, có tính cách khách quan, một đàng ở tại bản thân đương sự chủ thể - đó là dịp tội, có tính cách chủ quan.

Nghĩa là, cho dù thế gian có đầy những gương mù gương xấu không thể nào không xẩy ra, nhưng đương sự chủ thể vẫn không vì thế mà sa ngã phạm tội. Chẳng hạn, người con gái ăn mặc thời trang có vẻ sexi thời đại một cách ngây thơ vô tội, không thể nào hay khó lòng mà trở thành dịp tội cho bất cứ nam nhân nào biết cẩn thẩn khổ chế ngũ quan hay sống đức tin chân chính.

"Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi: thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục, trong lửa không hề tắt. Và nếu chân con làm dịp tội cho con, hãy chặt chân đó đi: thà con mất một chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục. Và nếu mắt con làm dịp tội cho con, hãy móc mắt đó đi, thà con còn một mắt mà vào nước Thiên Chúa, còn hơn là có đủ hai mắt mà phải ném xuống hoả ngục, nơi mà dòi bọ rúc rỉa nó không hề chết và lửa không hề tắt".

Ở đây, qua câu Phúc Âm này, chúng ta thấy Chúa Giêsu nói đến chẳng những dịp tội ở nơi chính chủ thể, nhất là ở 3 cơ quan đặc biệt là tay, chân và mắt trên thân thể của con người, mà còn sâu xa nói đến tiến trình phạm tội của con người nữa, một tiến trình từ ngoài vào trong, liên quan đến 3 cơ quan được Người nhắc đến. Tại sao Người không nhắc đến miệng hay tai cũng là các cơ quan dễ phạm tội nhất như mắt, mà chỉ nói đến tay, chân và mắt. Theo người viết thì "tay" là tiêu biểu cho việc làm sai trái của con người, nhưng việc làm sai trái bề ngoài đó là do quyết định bên trong của con người, một tác động nhất định làm theo ý mình có thể nói được tiêu biểu nơi "chân" bước đi của con người, và con người thường chỉ quyết định sai trái lầm lạc theo phán đoán mù tối hay theo lòng tham vọng của con người, những tác động phán đoán hay tham vọng tâm linh có thể nói được tiêu biểu nơi con "mắt" của họ.

Như thế, có thể nói một cách loại suy và tếu táo rằng nếu "thà con mất một tay mà được vào cõi sống... (và) thà con mất một chân mà được vào cõi sống" thì ở trên Thiên Đàng toàn là những người bị tàn tật, mù lòa và què cụt, bởi khi còn ở trên thế gian này họ đã hy sinh tất cả những phần thể ấy của họ để được rỗi, "còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục... còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục", bởi vậy khi chết đi ai mà còn lành mạnh cả thân thể thì số phận đời đời của họ chẳng còn ở đâu khác ngoài hỏa ngục.... Thật ra thì hoàn toàn ngược lại, một khi thân xác của người lành được phục sinh trong ngày sau hết thì nên giống thân thể vinh quang của Chúa Kitô (xem Philiphe 3:21), trong khi thân xác của thành phần bị "chết lần thứ hai" (Khải Huyền 20:14) cũng sống lại nhưng "bị quăng vào hồ lửa" (Khải Huyền 20:14), phản ảnh tất cả những gì là khốn cực, hư hoại và chết chóc.

Bởi chính dịp tội ở ngay bản thân con người chứ không phải ở ngoài con người như gương mù gương xấu thế gian mà con người cần phải giữ mình nói chung, cần phải khổ chế giác quan và tình cảm nói riêng, để khỏi bị sa ngã phạm tội, để khỏi bị ảnh hưởng tai hại hay chiều theo gương mù gương xấu thế gian, mà ở cuối bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã vừa cảnh giác vừa kín đáo dạy cho các môn đệ của Người cách thức khôn khéo như sau:

"Vì mọi người sẽ bị ướp bằng lửa": bởi "mọi người" không trừ ai ở trên đời này tự mình mà không sa ngã phạm tội làm những gì trái với lương tâm nên bị lương tâm nung nấu cắn rứt như bị "ướp bằng lửa", thứ lửa trần gian còn được thanh tẩy, hơn là thứ lửa hỏa ngục trừng phạt muôn kiếp đời sau.

"Muối là vật tốt, nhưng nếu muối ra lạt, các con lấy gì mà ướp nó cho mặn lại được?": "muối" đây trước hết ám chỉ tính chất khổ chế cần phải có nơi đời sống thiêng liêng để ướp cho bản thân con người vốn yếu đuối đầy những mầm mống tội lỗi chết chóc khỏi sa ngã phạm tội mà bị hư đi như những thứ cá ươn thối.

"Các con hãy có muối ở trong mình và sống hoà thuận với nhau": "muối" ở đây, sau nữa, còn ám chỉ tính chất nhẫn nhịn nhau trong đời sống bác ái yêu thương tha nhân, nhờ đó con người ướp cho nhau khỏi bị ươn thối gây ra bởi những thái độ và phản ứng gương mù gương xấu của mình.

DMINH CAO TAN TINH

------------------------------

 

 
SONG VA CHIA SE LOI CHUA- LE CHUA BA NGOI PDF Print E-mail

.

Sunday, May 20, 2018
Lễ Ba Ngôi Thiên Chúa - Hiệp nhất trong đa dạng là ý muốn của Thiên Chúa

CHIA SẺ TIN MỪNG -Chúa Nhật Lễ Ba Ngôi Thiên Chúa (27-5-2018)

Bài đào sâu

Hiệp nhất trong đa dạng
là ý muốn của Thiên Chúa

ĐỌC LỜI CHÚA

• Đnl 4,32-34.39-40: (39) Anh em phải biết và để tâm suy niệm điều này: trên trời cao cũng như dưới đất thấp, chính Đức Chúa là Thiên Chúa, chứ không có thần nào khác nữa.

• Rm 8,14-17: (14) Phàm ai được Thần Khí Thiên Chúa hướng dẫn, đều là con cái Thiên Chúa. (16) Chính Thần Khí chứng thực cho thần trí chúng ta rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa.

• TIN MỪNG: Mt 28,16-20

Đức Giêsu hiện ra tại Galilê,
và sai môn đệ đi đến với muôn dân

(16) Mười một môn đệ đi tới miền Galilê, đến ngọn núi Đức Giêsu đã truyền cho các ông đến. (17) Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. (18) Đức Giêsu đến gần, nói với các ông: «Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. (19) Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, (20) dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế».

Câu hỏi gợi ý:

1. Ba Ngôi Thiên Chúa khác biệt nhau, hay đồng dạng với nhau? Nếu bản chất khác biệt nhau, có Ngôi nào muốn bắt các Ngôi kia phải trở nên giống mình không? Sự hiệp nhất của Ba Ngôi xây dựng trên tinh thần «hiệp nhất trong đa dạng» hay «thống nhất bằng đồng dạng» ?

2. Vũ trụ vạn vật mà Ba Ngôi tạo dựng là đa dạng hay đồng dạng với nhau? Thiên Chúa có muốn chúng ta biến vạn vật thành đồng dạng không? Bắt mọi người phải đồng dạng với mình thì có hợp với ý Thiên Chúa không?

Suy tư gợi ý:

1. Hiệp nhất trong đa dạng nơi Ba Ngôi Thiên Chúa

Thiên Chúa theo quan niệm Kitô giáo là một Thiên Chúa duy nhất, nhưng lại gồm có ba Ngôi –nói nôm na là ba Đấng, ba Vị hay ba «Người»– khác biệt nhau. Ba Ngôi đều là Thiên Chúa, đều cùng một bản tính, nhưng mỗi Ngôi một vẻ, không Ngôi nào giống Ngôi nào. Ba Ngôi khác biệt nhau, nhưng lại hoàn toàn bình đẳng, và không Ngôi nào muốn Ngôi kia phải trở nên giống như mình. Chính vì chấp nhận và tôn trọng sự đa dạng của nhau, mà Ba Ngôi sống hòa bình với nhau, hợp tác chặt chẽ với nhau, yêu thương nhau, và hiệp nhất với nhau chặt chẽ tới mức độ chỉ còn là một Thiên Chúa duy nhất.

2. Sự khác biệt và đa dạng trong vũ trụ vạn vật

Ba Ngôi khác biệt nhau và đa dạng như vậy, nên đã tạo dựng nên một vũ trụ cũng đầy khác biệt và đa hình đa dạng vô cùng. Ngài tạo dựng nên muôn loài khác biệt nhau, và loài nào cũng lại phân chia thành nhiều cấp độ khác nhau với những chủng loại khác nhau. Nhờ đó vũ trụ trở nên vô cùng phong phú, muôn hình muôn vẻ.

Thật vậy, tinh tú trên trời thì đủ kiểu đủ loại. Con người người thì đủ mọi chủng tộc, đủ mọi ngôn ngữ, đủ mọi nền văn hóa khác biệt nhau. Thú vật và thực vật thì lại càng đa hình đa dạng hơn: loại sống trên trời, loại trên đất, loại dưới nước, loại thật to như đại bàng, cổ thụ, loại thật nhỏ như vi trùng, vi-rút, loại ăn thịt, loại ăn cỏ... Vạn vật phong phú và đa dạng đến nỗi con người từ khi biết khám phá đến nay vẫn chỉ thấy mình khám phá được một phần rất nhỏ. Chỉ riêng loài hoa thôi đã có cả hàng chục ngàn giống khác nhau.

Vạn vật tuy vô cùng đa dạng như thế, nhưng vật nào cũng có cái hay cái đẹp riêng của nó và trở nên một toàn thể rất hài hòa. Chính vì thế mà vũ trụ mới tươi đẹp huy hoàng làm sao! Thử tưởng tượng xem nếu Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ trong đó vạn vật đồng dạng với nhau, nghĩa là chỉ có một loài duy nhất, loài này cũng chỉ có một chủng loại duy nhất thì vũ trụ sẽ buồn thảm biết bao! Chỉ cần xét loài hoa: nếu hoa chỉ có một loại duy nhất – dù là loại được hầu hết mọi người coi là đẹp nhất – thì thế giới sẽ bớt đẹp, bớt thơ mộng và phong phú đi biết bao!

Riêng xã hội con người, Thiên Chúa đã gầy dựng trong đó nhiều dân tộc với những nền văn minh, văn hóa, phong tục, nề nếp suy nghĩ khác nhau. Thiên Chúa cũng cho xuất hiện nhiều tôn giáo với những nghi thức, tín điều, với những cách gọi tên, cách quan niệm hay cách nhìn về Thực Tại Tối Hậu khác biệt nhau; v.v...

Nói về từng người, thì mỗi người một vẻ, mỗi người một diện mạo, một tài năng, một tính tình, một quan niệm, một lối suy nghĩ khác nhau: «bá nhân bá tính». Ngay như khi cùng nhau nhìn vào một sự vật cụ thể, thì mỗi người lại có một cách nhìn khác nhau, cách diễn tả về vật ấy cũng khác nhau, thậm chí gọi vật ấy bằng những tên khác nhau. Một vật cụ thể hữu hạn mà người ta còn có nhiều cách nhìn khác nhau như vậy, huống gì khi họ suy nghĩ về những thứ vô hình, nhất là những thực tại không thể quan niệm hay suy nghĩ được, chẳng hạn khi suy nghĩ về tuyệt đối, về nguồn gốc siêu hình của vũ trụ vạn vật... làm sao mà họ quan niệm và nhìn cách giống nhau cho được? Thôi thì đủ mọi loại quan niệm, đủ mọi kiểu nhìn, đủ mọi tên gọi khác nhau cho Thực Tại Tối Hậu duy nhất ấy!

Những cách nhìn khác nhau ấy –dù là hướng về một vật hết sức cụ thể hay về những thực tại hết sức trừu tượng– cũng thường bổ túc cho nhau dẫu có mâu thuẫn lẫn nhau, để –nếu tổng hợp lại– sẽ có được một cái nhìn toàn diện hơn, đầy đủ hơn. Chính nhờ sự khác nhau ấy mà con người mới cần lẫn nhau, mới phải hợp tác với nhau, mới yêu thương nhau.

Chẳng hạn khi xây một căn nhà, người ta cần có đồ họa của kiến trúc sư, cần khả năng thực hiện tổng quát của nhà thầu khoán, cần sự khéo léo của đủ loại thợ (mộc, xây, trang trí, điện...), cần những nhà cung cấp vật tư khác nhau (gạch, xi măng, sắt, gỗ, ống nước, đồ điện...). Ông kiến trúc sư có tài giỏi đến đâu mà không nhờ thầu khoán thực hiện thì cũng chẳng làm nên trò trống gì! Ông thầu khoán mà không thuê được thợ thì cũng đành bó tay bất lực! Thợ khéo léo hay tài giỏi đến đâu mà không có kiến trúc sư hay thầu khoán thì cũng chẳng biết phải làm gì. Nhờ tài năng khác nhau mà người ta cần lẫn nhau, kết hợp với nhau, yêu thương nhau!

Thiên Chúa của chúng ta –gồm Ba Ngôi khác biệt, tuy đa dạng nhưng lại hiệp nhất– đã muốn như thế, chúng ta không nên đi ngược lại đường lối của Ngài!

3. Khuynh hướng «phản đa dạng» của con người

Thế nhưng trên thế giới có biết bao nhiêu con người, bao nhiêu tập thể muốn đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa, muốn chống lại luật «vạn vật đa dạng» của Ngài. Họ muốn tất cả mọi người phải nghĩ giống như họ, làm giống như họ, chỉ theo một lập trường duy nhất là lập trường của họ, vì họ cho rằng chỉ có họ là nghĩ đúng, làm đúng, lập trường của họ là duy nhất đúng hoặc đúng hơn cả. Ai khác họ là họ khó chịu, bực bội, kết án, loại trừ. Họ muốn trên thế giới này chỉ có một bè đảng duy nhất là bè đảng của họ, một ý thức hệ duy nhất là ý thức hệ của họ, một tôn giáo duy nhất là tôn giáo của họ, một đoàn thể duy nhất là đoàn thể của họ... Và họ nỗ lực để biến thế giới đa dạng này thành độc dạng hay đồng dạng (uniforme), thậm chí với tất cả thiện chí hay lòng thành của họ. Biện pháp của họ là loại trừ tất cả những ai khác với họ. Ai chủ trương khác với họ thì bị coi là đối lập, là kẻ thù, cần phải tiêu diệt.

Rất tiếc là trên thế giới này không chỉ có một bè đảng, một tôn giáo, một đoàn thể duy nhất nghĩ mình là duy nhất đúng hoặc đúng hơn cả và chủ trương loại trừ những ai khác với mình, mà có nhiều bè đảng, nhiều tôn giáo, nhiều đoàn thể nghĩ và chủ trương như vậy. Thế là có chiến tranh: bè đảng này tìm cách diệt bè đảng kia, tôn giáo này diệt tôn giáo kia, đoàn thể này diệt đoàn thể kia. Bè đảng nào, tôn giáo nào, đoàn thể nào cũng đều nhân danh sự thiện, sự đúng của mình – mà họ nghĩ là duy nhất thiện, duy nhất đúng – để tiêu diệt những gì mà họ cho rằng chắc chắn là sai lầm, xấu xa. Ai cũng có những «vũ khí» riêng của mình để ép buộc người khác theo mình, trung thành với mình, đồng dạng với mình. Bè đảng thì dùng vũ lực, âm mưu chính trị. Tôn giáo thì dùng những quyền lực thiêng liêng của mình. Đoàn thể thì dùng kỷ luật riêng của đoàn thể.

Nhưng hễ phản lại ý muốn của Thiên Chúa thì chỉ gây rối loạn. Đáng lẽ con người phải tôn trọng sự khác biệt nhau như một hồng ân Thiên Chúa ban để bổ túc lẫn nhau, để hợp tác với nhau, và để nhờ đó mà dễ yêu thương nhau, mà hiệp nhất với nhau. Hiệp nhất ở đây là thứ hiệp nhất trong đa dạng. Có tôn trọng sự khác biệt của nhau thì mới có thể hiệp nhất được.

Nhưng con người lại coi tình trạng đa dạng đó như một bất lợi cho «cái tôi tập thể» của mình. «Cái tôi» nào –dù là cá nhân hay tập thể– thì cũng ích kỷ, muốn đề cao mình và những gì của mình, muốn mình phải trổi vượt hơn những «cái tôi» khác, và những gì của mình cũng phải trổi vượt hơn những gì của những «cái tôi» khác. «Cái tôi» nào cũng muốn dùng thế mạnh của mình để hiếp đáp những «cái tôi» khác yếu thế hơn, bắt những «cái tôi» khác phải theo mình, phải đồng dạng với mình. Họ muốn «thống nhất bằng đồng dạng».

4. «Hiệp nhất trong đa dạng» là ý muốn của Thiên Chúa

Ôi, chính cái ý chí muốn «thống nhất bằng đồng dạng» này đã gây nên biết bao cảnh «nồi da xáo thịt» trong các quốc gia, cảnh các «bè phái ly khai» trong các tôn giáo, cảnh chia rẽ nhau trong các đoàn thể. Đúng là chưa phát triển được ra bên ngoài thì đã bị chia rẽ nội bộ. Thiết tưởng thế giới đã phải đau khổ rất nhiều, phải chịu biết bao cảnh đau thương tang tóc chỉ vì những tham vọng «thống nhất bằng đồng dạng» của các bè đảng, tôn giáo, đoàn thể.

Nhưng thực tế hiện nay chứng tỏ rằng tham vọng đó càng ngày càng trở nên phi lý, phản tiến bộ và bất khả thi. Thật vậy, khuynh hướng của thế giới, của các quốc gia dân tộc càng ngày càng đòi hỏi phải «đa nguyên chính trị», phải «đa đảng», phải loại trừ độc tài. Chủ trương «độc đảng», «độc tài» đang dần dần bị đào thải khỏi nhân loại vì chủ trương này chỉ làm cho quốc gia dân tộc mình bị băng hoại, nghèo khổ và chậm tiến.

Các tôn giáo thì tôn giáo nào cũng muốn trở thành tôn giáo toàn cầu và đều nỗ lực tối đa để đạt được điều đó; nhưng dường như ngày nay tôn giáo nào cũng đều đi đến tình trạng «bão hòa», nghĩa là khó có thể phát triển thêm về tỷ lệ dân số. Vì ai đã theo tôn giáo nào thì khó mà bỏ tôn giáo mình để theo tôn giáo khác, vì tôn giáo nào cũng có những biện pháp riêng khá hữu hiệu để giữ tín đồ của tôn giáo mình lại. Tuy vẫn có những người thay đổi tôn giáo, nhưng khi có những người tôn giáo này bỏ sang tôn giáo kia, thì ngược lại cũng lại có những người tôn giáo kia bỏ sang tôn giáo này. Cuối cùng vẫn phải chấp nhận một «thế giới đa nguyên tôn giáo», như một «dấu hiệu của thời đại» (signum temporum) để nhận ra ý muốn của Thiên Chúa. Các đoàn thể cũng tương tự như thế.

Vì thế, đã đến lúc các bè đảng, các tôn giáo, các đoàn thể phải nhận ra rằng càng muốn «thống nhất bằng đồng dạng» thì càng gây nên chia rẽ, xáo trộn, và đau khổ cho nhân loại, vì điều này chống lại luật tự nhiên của Thiên Chúa. Trái lại, càng muốn «hiệp nhất trong đa dạng» –nghĩa là đến với nhau trong tinh thần tôn trọng sự khác biệt và đa dạng– thì càng dễ đoàn kết, càng dễ gắn bó yêu thương nhau. Vì sự «hiệp nhất trong đa dạng» chính là ý muốn của Thiên Chúa. Và sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa chính là gương mẫu toàn hảo nhất của sự «hiệp nhất trong đa dạng» mà chúng ta phải noi theo. Gia đình nào, dân tộc nào, tôn giáo nào, tập thể nào biết noi gương này thì sẽ càng ngày càng trở nên hạnh phúc, thịnh vượng và phát triển.

* TÔI CẦU NGUYỆN VÀ QUYẾT TÂM SỐNG LỜI TÔI CẦU XIN:

Lạy Cha, NHỜ THÁNH LINH con cũng như các Kitô hữu và mọi tín đồ của các tôn giáo biết noi gương «hiệp nhất trong đa dạng» của Ba Ngôi Thiên Chúa; biết tôn trọng sự khác biệt và đa dạng mà Cha đã tạo nên nơi mỗi người, mỗi dân tộc, mỗi nền văn hóa, mỗi quốc gia, mỗi tôn giáo... Chúng con QUYẾT TÂM chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt của nhau, đừng ép ai phải giống mình. Để chúng con nhận ra rằng chúng con cần lẫn nhau, cần đến với nhau, cần tìm hiểu, thông cảm, hợp tác với nhau, và nhất là cần yêu thương nhau như Cha hằng mong muốn điều đó. Amen.

Nguyễn Chính Kết

Bấm vào đây .

Posted by Nguyen Chinh Ket at 10:58 AM Email ThisBlogThis!Share to TwitterShare to FacebookShare to Pinterest

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO- LE HIEN XUONG - DTC PDF Print E-mail

Đức Thánh Cha Phanxicô

Giảng Lễ Thánh Thần Hiện Xuống CN 20/5/2018

Pope Francis enters St Peter's Basilica to preside over the Pentecost Sunday liturgy

Trong bài đọc 1 của phụng vụ hôm nay, việc Thánh Linh ngự đến vào Lễ Ngũ Tuần được so sánh với "luồng gió mạnh" (Tông Vụ 2:2). Hình ảnh này nói với chúng ta điều gì? Nó khiến chúng ta nghĩ đến một thứ mãnh lực xẩy ra mà không gây ra tác dụng biến đổi. Gió thật sự gây ra biến đổi: tác dụng ấm khi trời lạnh, mát khi trời nóng, mưa khi đất cằn cỗi... đó là cách nó gây ra biến đổi.

Ở một tầm mức khác, Thánh Linh cũng làm như vậy. Ngài là quyền lực thần linh biến đổi thế giới. Bài Tiếp Liên đã nhắc nhở chúng ta như thế: Thần Linh là "niềm an ủi ngọt ngào trong cơ cực; là nỗi khuây khỏa trong sầu thương". Bởi vậy chúng ta hãy van xin Ngài: "Xin chữa lành các thương tích của chúng con, xin canh tân sức mạnh của chúng con; xin đổ sương xa xuống trên tình trạng khô cằn của chúng con; xin tẩy rửa các tì vết của lỗi lầm". Vị Thần Linh này đến biến đổi các trạng huống. Ngài đổi thay những tâm can và Ngài thay đổi các tình huống.

Thánh Linh biến đổi các cõi lòng. Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Người rằng: "Các con sẽ nhận được quyền lực khi Thánh Thần xuống trên các con; và các con sẽ là nhân chứng của Thày" (Tông Vụ 1:8). Đó chính là những gì đã xẩy ra. Những người môn đệ này, thoạt tiên thì sợ hãi, ru rú ở bên trong cửa khép kín, thậm chí cả sau khi Thày của các vị phục sinh, đã được Thần Linh biến đổi, và như Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay là "các con làm chứng cho Thày" (xem Gioan 15:27). Không lưỡng lự gì nữa, các vị đã trở nên can đảm, để rồi từ Giêrusalem, các vị bắt đầu đi cho đến tận cùng trái đất. Các vị tỏ ra nhút nhát khi Chúa Giêsu còn ở giữa các vị, nhưng khi Người đi khỏi rồi thì các vị trở nên cương quyết hơn, vì Thần Linh đã thay đổi tâm can của các vị.

Vị Thần Linh này giải thoát các con tim bị sợ hãi trói buộc. Ngài khống trị tất cả mọi cưỡng chống. Ngài tác động tất cả tấm lòng quảng đại nơi những ai thỏa mãn với những gì nửa vời. Ngài mở ra các tâm can khép kín. Ngài thôi thúc những ai sống tiện nghi thoải mái ra đi phục vụ. Ngài thúc đẩy những ai tự mãn lên đường theo những chiều hướng mới. Ngài làm cho kẻ hâm hâm dở dở rộn lên những mộng ước mới. Đó là những gì mang ý nghĩa đổi thay cõi lòng. Nhiều người hứa hẹn thay đổi, bắt đầu lại, canh tân đổi mới một cách kỳ diệu, thế nhưng kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng không một nỗ lực trần gian nào muốn thay đổi thực tại lại có thể hoàn toàn làm thỏa mãn tâm can của con người hết. Tuy nhiên, tình trạng thay đổi bởi Thần Linh thì khác. Nó không cách mạng đời sống chung quanh chúng ta, mà là thay đổi tấm lòng của chúng ta. Nó không giải thoát chúng ta khỏi gánh nặng từ các vấn đề chúng ta phải chịu đựng, nhưng giải thoát chúng ta từ bên trong để chúng ta có thể đương đầu với chúng. Nó không ban cho chúng ta hết mọi sự ngay lập tức, nhưng làm cho chúng ta tiếp tục tin tưởng, không bao giờ biết sống uể oải. Vị Thần Linh này giữ cho con tim của chúng ta trẻ trung - một tuổi trẻ mới mẻ. Trẻ trung, đối với tất cả mọi cố gắng của chúng ta để kéo dài chúng, không sớm thì muộn cũng tàn phai; trái lại, Vị Thần Linh này ngăn ngừa duy chỉ những gì là già đời không lành mạnh, tức là trở thành cổ hủ bên trong. Ngài làm điều ấy ra sao? Bằng việc canh tân đổi mới cõi lòng của chúng ta, bằng việc tha thứ cho các tội nhân. Sự thay đổi lớn lao ở đây là: Ngài biến đổi chúng ta từ tội lỗi thành công chính và do đó Ngài làm thay đổi hết mọi sự. Từ tình trạng làm nô lệ cho tội lỗi chúng ta trở nên tự do, từ thân phận tôi tớ chúng ta trở thành con cái yêu dấu, từ cái giá chẳng là gì, từ ảo ảnh được tràn đầy niềm hy vọng. Nhờ tác động của Thánh Linh, niềm vui được tái sinh và bình an bừng nở trong lòng chúng ta.

Bởi vậy, hôm nay chúng ta hãy học biết những gì cần phải làm khi chúng ta cần đến việc thực sự đổi thay. Ai trong chúng ta không cần thay đổi chứ? Đặc biệt là khi chúng ta cảm thấy chán nản thất vọng, cảm thấy rã rời bởi đời sống nặng nề, bị áp đảo bởi tình trạng yếu hèn của chúng ta, vào những lúc khó tiến bước và yêu thương dường như bất khả. Trong những lúc ấy, chúng ta cần đến một "cái thúc" mãnh liệt, đó là Thánh Linh, quyền năng của Thiên Chúa. Trong Kinh Tin Kính chúng ta tuyên xưng rằng Ngài là "Đấng ban sự sống". Tốt đẹp biết bao đối với chúng ta mỗi ngày đều cảm thấy "cái thúc" của đời sống này! Khi thức giấc mỗi sáng chúng ta hãy nói: "Xin Thánh Linh hãy đến, đến với lòng con, đến với ngày hôm nay của con".

Vị Thần Linh này chẳng những làm thay đổi tâm can; Ngài còn làm đổi thay các tình huống nữa. Như gió thổi khắp nơi, Ngài thẩm thấu vào các tình huống khôn tưởng nhất. Trong Sách Tông Vụ - một cuốn sách chúng ta cần cầm lên mà đọc có vai chính là Thánh Linh - chúng ta chú ý đến một loạt biến cố lạ lùng. Khi mà các môn đệ không ngờ mấy thì Thánh Linh đã sai các vị đến với thành phần dân ngoại. Ngài mở ra những con đường mới, như ở đoạn về phó tế Philip. Vị Thần Linh này thúc đẩy phó tế Philip vào một con đường trong sa mạc từ Giêrusalem đến Gaza... (khi nghe đến tên Gaza này lòng chúng ta nhức nhối biết bao! Xin Thần Linh thay lòng đổi sự để hòa bình có thể đến cho Thánh Địa!). Dọc theo con đường ấy, phó tế Philip giảng cho một viên quan người Ethiopia và rửa tội cho ông. Sau đó Vị Thần Linh mang phó tế đến Azotus, đoạn tới Caesarea, liên tục ở các trường hợp mới mẻ, để loan truyền những gì là mới mẻ của Thiên Chúa. Thế rồi có cả chàng Phaolô nữa, "được thúc đẩy bởi Thần Linh" (Tông Vụ 20:22), vị tông đồ hành trình xa và rộng, mang Phúc Âm đến cho các dân tộc ngài chưa bao giờ gặp. Thần Linh ở đâu thì bao giờ cũng xẩy ra một điều gì đó; ở đâu Ngài thổi tới thì ở đó các sự vật chẳng bao giờ còn trầm lặng.

Trong đời sống của các cộng đồng chúng ta, khi chúng ta cảm thấy một thứ "thờ ơ" nào đó, khi chúng ta thích bình an và trầm lặng hơn là những gì mới mẻ của Thiên Chúa thì đó là một dấu hiệu xấu. Nghĩa là chúng ta đang cố gắng tìm kiếm chỗ ẩn náu cho khỏi ngọn gió Thần Linh. Khi chúng ta sống một cách tự tồn và làm sao gần nhà thì đó không phải là một dấu hiệu tốt đẹp. Vị Thần Linh này thổi, nhưng chúng ta lại đi hạ cánh buồm của mình xuống. Tuy nhiên, chúng ta đã từng chứng kiến thấy Ngài tác động các điều kỳ diệu thường xuyên ra sao! Một cách thường xuyên, thậm chí ngay cả nơi những lúc ảm đạm nhất, Vị Thần Linh đã làm nổi lên những gì là thánh hảo trổi vượt nhất! Vì Ngài là hồn sống của Giáo Hội, Đấng liên tục làm Giáo Hội dậy lên niềm hy vọng mới mẻ, làm cho Giáo Hội tràn đầy niềm vui, làm cho Giáo Hội nên phong phú, và làm cho sự sống mới bừng nở. Trong một gia đình, khi có một em bé mới sinh thì nó làm đảo lộn chương trình của chúng ta, nó làm cho chúng ta mất ngủ, thế nhưng nó cũng mang lại cho chúng ta một niềm vui làm đổi mới đời sống chúng ta, thúc đẩy chúng ta sống, gia tăng yêu thương nơi chúng ta. Vị Thần Linh này cũng thế: Ngài mang lại một "hương vị con trẻ" cho Giáo Hội. Ngài tiếp tục hạ sinh. Ngài canh tân tình yêu ban đầu của chúng ta. Chúng ta đừng bao giờ thôi nghênh đón Vị Thần Linh này vào đời sống của chúng ta, đừng thôi kêu cầu cùng Ngài trước mọi sự chúng ta làm: "Xin Thánh Linh hãy đến!"

Ngài sẽ mang đến quyền lực thay đổi của Ngài, một quyền lực độc đáo, tức là bao gồm cả tính cách qui tâm / centripetal và tính cách ly tâm / centrifugal. Nó qui tâm tức là nó tìm kiếm tâm điểm, vì nó tác động sâu xa trong lòng của chúng ta. Nó mang lại hiệp nhất giữa chia rẽ, bình an giữa sầu khổ, sức mạnh giữa các chước cám dỗ. Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta về điều này nơi bài đọc thứ hai, khi ngài viết rằng hoa trái của Thần Linh là vui mừng, bình an, trung tín và tự chủ (xem Galata 5:22). Vị Thần Linh này làm cho chúng ta thân mật với Thiên Chúa, một sức mạnh nội tâm để tiến bước. Tuy nhiên, đồng thời, Ngài cũng là một lực ly tâm, tức là thứ lực hướng ngoại. Đấng qui tâm chúng ta cũng là Đấng thúc đẩy chúng ta đến những vùng sâu vùng xa, đến miền xa xôi hẻo lánh nhân sinh. Đấng tỏ Thiên Chúa ra cũng mở lòng chúng ta ra cho anh chị em của chúng ta. Ngài sai chúng ta đi, Ngài làm cho chúng ta thành các chứng nhân, và vì thế Ngài tuôn đổ trên chúng ta - cũng với lời của Thánh Phaolô - tình yêu thương, lòng nhân lành, sự quảng đại và nỗi dịu hiền. Chỉ ở nơi Vị Thần Linh An Ủi này chúng ta mới nói lời sự sống và mới thực sự phấn khích những người khác. Những ai sống bởi Vị Thần Linh này một cách liên lỉ thiết tha trong tinh thần, họ cảm thấy mình được lôi kéo vừa hướng về Thiên Chúa lẫn hướng tới thế giới.

Chúng ta hãy xin Người làm cho chúng ta sống đúng theo đường lối ấy. Lạy Thánh Linh, luồng gió mạnh của Thiên Chúa, xin hãy thổi trên chúng con, xin hãy thổi vào lòng chúng con và làm cho chúng con hít thở niềm êm ái dịu dàng của Chúa Cha! Xin hãy thổi trên Giáo Hội và thôi thúc Giáo Hội cho đến tận cùng trái đất, nhờ được Chúa nâng đỡ phù trì, Giáo Hội có thể không cần mang theo gì khác ngoài Chúa. Xin hãy thổi trên thế giới của chúng con hơi ấm xoa dịu của bình an và hơi mát lành mạnh của niềm hy vọng. Xin Thánh Linh hãy đến đổi thay chúng con từ bên trong và canh tân bộ mặt trái đất. Amen.

http://w2.vatican.va/content/francesco/en/homilies/2018/documents/papa-francesco_20180520_omelia-pentecoste.html

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THANH THAN HIEN XUONG PDF Print E-mail

Sunday, May 13, 2018
HienXuong1 - Thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật

CHIA SẺ TIN MỪNG

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

(20-5-2018)

«Giờ đã đến... [hãy] thờ phượng Chúa Cha
trong thần khí và sự thật» (Ga 4,23)

ĐỌC LỜI CHÚA

• Cv 2,1-11: (3) Họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. (4) Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho.

• 1Cr 12,3b-7.12-13: (4) Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. (7) Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung.

• TIN MỪNG: Ga 20, 19-23

Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ

(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: «Bình an cho anh em!» (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: «Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em». (22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: «Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ».

Câu hỏi gợi ý:

1. Bạn quan niệm thế nào về Thánh Thần? Ngài có đóng vai trò gì quan trọng trong đời sống Kitô hữu của bạn không? Cụ thể là gì?

2. Kế hoạch phát triển Giáo Hội của Thiên Chúa là «men trong bột». Nếu Thánh Thần kêu gọi bạn trở nên «men» cho mọi người, bạn có đáp lại lời mời gọi ấy không?

3. Muốn thật sự gặp gỡ Thánh Thần, phải thực hiện sự gặp gỡ ấy thế nào?

Suy tư gợi ý:

1. Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ, nhưng... bị quên lãng

Từ khi Giáo Hội khai sinh, vai trò và hoạt động của Thánh Thần mới được chú ý tới nhiều, qua sự ý thức và nhấn mạnh của Giáo Hội, đặc biệt của Đức Giêsu, của các tông đồ. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã hứa ban Đấng Bảo Trợ, An Ủi cho Giáo Hội: «Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi» (Ga 14,16). Và Đấng Bảo Trợ ấy chính là Thánh Thần: «Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em» (Ga 14,26).

Đức Giêsu đã ra đi để giao lại nhân loại và Giáo Hội cho Thánh Thần: «Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em» (Ga 15,26). Chính vì thế, hiện nay chúng ta đang sống trong thời hoạt động của Thánh Thần, Ngài đang hoạt động mạnh mẽ trong Giáo Hội và trong chính tâm hồn ta. Nhưng ta ít chú ý tới Ngài, mặc dù thời này là thời hoạt động của Ngài. Chúng ta thường tập trung quan tâm của mình vào Chúa Cha, nhất là Đức Giêsu. Vì thế, Thánh Thần trở thành vị Thiên Chúa bị quên lãng. Do đó, chúng ta ít hợp tác với Thánh Thần, và Thánh Thần không biến đổi ta một cách hữu hiệu được. Vì dù hoạt động mạnh mẽ thế nào, Thánh Thần vẫn luôn luôn tôn trọng tự do của con người. Thánh Thần luôn luôn mời gọi, nhưng con người vẫn luôn luôn có thể làm ngơ vì không quan tâm, hoặc từ chối lời mời gọi đó. Chính vì thế, công việc của Thánh Thần thật hết sức khó khăn.

2. Kế hoạch của Thiên Chúa

Thánh Thần là Đấng tiếp tục công trình của Đức Giêsu trong thế giới và Giáo Hội. Ngài luôn luôn thúc đẩy sự đổi mới trong Giáo Hội, để Giáo Hội ảnh hưởng tốt đến thế giới. Nhưng để được làm điều ấy, Thánh Thần luôn luôn phải hoạt động trong mỗi cá nhân. Cá nhân có thay đổi thì Giáo Hội mới thay đổi, cá nhân có nên thánh thì Giáo Hội mới thánh thiện. Tất cả mọi đều bắt đầu từ những cá nhân, và lan truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác. Kế hoạch của Thiên Chúa để xây dựng Nước Trời là chiến lược «men trong bột» (Mt 13,33), «muối ướp đời» (Mt 5,13) hay «đèn sáng cho trần gian» (Mt 5,14).

Men là một chất có hoạt tính, có khả năng biến đổi chất bột tiếp xúc với mình trở nên giống như mình. Mất hoạt tính này, men không còn là men nữa, nó trở thành một thứ bột vô dụng. Muối hay đèn cũng có hoạt tính tương tự. Một hình ảnh khác là lửa, nhưng lửa có tác dụng lan truyền mạnh mẽ và nhanh chóng. Chính vì thế, Thánh Thần khi hiện xuống trên các tông đồ đã lấy hình lưỡi lửa làm biểu trưng cho mình.

Trong quá trình phát triển từ xưa đến nay, Giáo Hội vẫn theo chiến lược «men trong bột», nhưng phải nói rằng Giáo Hội đã phát triển theo chiều rộng nhiều hơn chiều sâu. Nội dung lan truyền chủ yếu là danh nghĩa, hình thức tôn giáo bên ngoài, hơn là tình trạng đích thực sống tinh thần Tin Mừng bên trong.

Biết bao Kitô hữu chỉ giữ đạo theo tập tục (siêng năng đọc kinh, dâng lễ, chịu các bí tích), nói chung là chuộng những thực hành thấy được, và lấy đó làm đủ, mà ít sống đạo, ít đi vào chiều sâu tâm linh, ít khi thật sự gặp gỡ Thiên Chúa. Việc thờ phượng Thiên Chúa chưa đúng với tinh thần «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24), mà còn mang nặng tính thể lý, bên ngoài, nên còn nhiều tính giả dối, không trung thực (ngoài và trong khác nhau). Thay vì «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và trong sự thật», thì lại thờ phượng Thiên Chúa qua hình thức, qua thể chất và trong giả dối. Vì thế, Giáo Hội dường như không còn phát triển mạnh như những thế kỷ trước nữa, thậm chí dừng lại hoặc sút giảm về mặt tỷ lệ dân số (mặc dù số lượng vẫn tăng theo đà phát triển dân số).

Chiến lược «men trong bột» đòi hỏi phải có những cá nhân thật tốt, thật nhiệt thành. Những cá nhân tốt ấy sẽ ảnh hưởng tốt sang những cá nhân khác bằng gương sáng, bằng những hoạt động nhiệt thành và tích cực, biến họ nên tốt, nên nhiệt thành như mình. Nhờ đó, những cá nhân tốt càng ngày càng được nhân lên. Càng nhiều cá nhân tốt thì Nước Trời càng phát triển, càng lớn mạnh.

Nhưng ai sẽ là men đây? Thánh Thần luôn mời gọi chúng ta trở nên «men», không chỉ là «men» mà còn là «men tốt». Mỗi khi lắng đọng tâm hồn lại, chúng ta đều nghe thấy tiếng Ngài mời gọi.

3. Làm sao trở thành men tốt?

Trong chiến lược phát triển Nước Trời, «men trong bột» phải có một «hoạt tính» rất mạnh, nghĩa là có khả năng biến đổi người khác nên tốt và nhiệt thành giống như mình. Như vậy, chính mình phải là người tốt và nhiệt thành đã, chính mình phải thật sự sống tinh thần Tin Mừng đã. Muốn thế, ta phải tiếp xúc với Thánh Thần, nguồn phát sinh «hoạt tính» ấy.

Nhưng làm sao tiếp xúc với Thánh Thần? Bằng cách kêu cầu Ngài với những kinh hay những bài ca về Thánh Thần chăng? − Phải nói đó là những cách thấp nhất để tiếp xúc với Thánh Thần, thường chỉ dành cho những người chưa thể cầu nguyện tự phát, cầu nguyện bằng tâm tình, hay những người chưa biết cách cầu nguyện. Muốn có một đời sống nội tâm thật sự, muốn tiến triển trên con đường tâm linh, ta cần phải tiếp xúc với Thánh Thần một cách thật sự và hữu hiệu.

4. Làm sao để tiếp xúc với Thánh Thần thật sự và hữu hiệu?

Muốn tiếp xúc với Ngài, trước hết phải biết Ngài ở đâu, bản chất của Ngài thế nào.

Thánh Thần là thần khí (spirit = tinh thần), hiện diện khắp nơi, tràn đầy trong vũ trụ, trong không gian và thời gian. Chúng ta có tinh thần, và tinh thần của ta cũng là thần khí (spirit = tinh thần). Một cách nào đó, tinh thần của ta phần nào cũng đồng bản chất với Ngài. Chính vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, phải gặp bằng chính thần khí hay tinh thần của ta. Đức Giêsu đã nhắc nhở: «Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24).

Nếu ngày xưa thánh Phaolô nói: «Chúng ta, những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ Thần Khí của Người, mới thật là những người được cắt bì» (Pl 3,3), thì ngày nay ta cũng có thể nói: chỉ những ai thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí, mới là người Kitô hữu đích thực. Đó là những người thờ phượng Thiên Chúa bằng tinh thần, bằng tâm hồn, bằng ý thức và bằng tình yêu, bằng việc thật sự gặp gỡ và sống trong Thánh Thần; chứ không phải chỉ bằng những nghi thức bề ngoài, dù những nghi thức này lắm khi cũng cần thiết.

Thờ phượng Thiên Chúa bên ngoài mà không có bên trong, hay hình thức bên ngoài không phù hợp với tâm tình bên trong, là thờ phượng trong giả dối, không phải là trong chân lý.

Thánh Thần tuy tràn lan trong vũ trụ, nhưng lại hiện diện «đặc sệt» và tràn đầy nhất trong tâm hồn ta. Thánh Phaolô viết: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?» (1Cr 3,16); «Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần mà chính Thiên Chúa đã ban cho anh em» (1Cr 6,19). Vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, không gì tốt hơn là gặp Ngài trong chính bản thân mình, bằng tinh thần của mình.

Việc gặp gỡ Ngài rất dễ dàng: chỉ cần hồi tâm lại, ý thức Ngài đang hiện diện ngay trong bản thân mình, và muốn được tan hòa vào trong Ngài. Điều quan trọng trong việc gặp gỡ Thánh Thần là những ý thức và tâm tình có thực bên trong, chứ không phải là những lời cầu nguyện phát biểu ra, dù là phát biểu trong tâm trí. Tuy nhiên, nếu những lời ấy tự nhiên bộc phát ra từ đáy lòng, thì cũng là điều rất tốt. Tuyệt đối không nên sáng tác ra bất kỳ lời nào khi không có những tâm tình đích thực bên trong, vì cầu nguyện như thế là thờ phượng trong giả dối. Lời bộc phát ra phải luôn luôn phù hợp với tâm tình có thực bên trong mới là thờ phượng trong chân lý.

5. Ý thức và tâm tình phải có khi tiếp xúc với Thánh Thần

Khi hồi tâm để tiếp xúc với Thánh Thần, ngoài việc ý thức sự hiện diện thật sự của Ngài trong tâm hồn ta, ta nên ý thức rằng Ngài là nguồn sức mạnh, nguồn yêu thương của ta. Hãy giục lòng tin tưởng rằng: nếu năng tiếp xúc với Ngài thì sức mạnh và khả năng yêu thương vô biên của Ngài sẽ truyền sang ta, như năng lượng từ dòng điện truyền sang dụng cụ điện, làm dụng cụ ấy hoạt động. Thường xuyên tiếp xúc với Ngài như vậy, nội lực và tình thương của ta ngày càng tăng lên một cách cảm nghiệm được.

Ngoài ra, ta cần tan hòa trong Thánh Thần bằng tâm tình «tự hủy» (kenosis), «tự sát tế» của Đức Giêsu. Nghĩa là có sự quyết tâm muốn quên mình, xóa bỏ mình trước Thiên Chúa và tha nhân, không tự coi bản thân mình, ý riêng của mình, và những gì của mình là quan trọng. Tâm tình ta cần có là: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3,30), nhỏ đi chừng nào tốt chừng nấy.

Song song với tâm tình «tự hủy» cần phải có là tâm tình «vị tha». Nghĩa là có sự quyết tâm sống cho Thiên Chúa và tha nhân, đặc biệt sẵn sàng làm tất cả những gì Thánh Thần đề nghị để gieo tình thương và hạnh phúc nơi nơi, cho tất cả mọi người chung quanh ta.

Và cuối cùng là lắng nghe tiếng của Thánh Thần vang dội trong lòng mình. Tiếng của Ngài ngày càng trở nên rõ ràng và mạnh mẽ nếu ta luôn luôn quảng đại đáp lại lời mời gọi của Ngài. Tiếng của Ngài sẽ dần dần yếu đi nếu ta bỏ lơ hay không đáp lại lời mời gọi ấy.

Thường xuyên gặp gỡ Ngài như thế, chắc chắn cuộc đời của ta sẽ biến đổi và trở nên men tốt, muối tốt và ánh sáng rực rỡ cho xã hội, Giáo Hội và đặc biệt cho môi trường chung quanh ta. Và đó chính là cách ta «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24).

*TÔI CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN:

Lạy Cha, Cha đã ban Thánh Thần cho thế giới. Nhưng dường như sự hiện diện của Ngài trong thế giới ít được người Kitô hữu quan tâm đến trong đời sống thực tế của mình. Nếu có thì thường chỉ được nhắc đến trong phụng vụ. CON QUYẾT TÂM năng tiếp xúc với Thánh Thần để được tan hòa trong Ngài và nhận được tràn đầy sức mạnh và khả năng yêu thương của Ngài. Nhờ đó con trở nên muối men cho đời, cho những người chung quanh con, để biến họ nên tốt lành và hạnh phúc hơn.

Nguyễn Chính Kết

---------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 129