mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7376
mod_vvisit_counterHôm Qua6911
mod_vvisit_counterTuần Này46638
mod_vvisit_counterTuần Trước52624
mod_vvisit_counterTháng Này149445
mod_vvisit_counterTháng Trước239272
mod_vvisit_counterTất cả11364134

We have: 96 guests online
Your IP: 54.81.102.236
 , 
Today: Jul 20, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - CHUA BI DONG DINH PDF Print E-mail

Kristie Phan chuyển

Các nhà khoa học tuyên bố tìm ra ngày Chúa Jesus bị đóng đinh


Các nhà địa chất của Mỹ và Đức tuyên bố, họ đã phát hiện ra ngày Đức Ch��a Jesus bị đóng đinh lên cây thập tự sau khi nghiên cứu các hoạt động địa chấn tại Biển Chết.


Nhà địa chất học Jefferson Williams của hãng Supersonic Geophysical (Mỹ) cùng với các đồng nghiệp người Đức là Markus Schwab và Achim Brauer đã tìm hiểu 3 lõi đáy nằm ngoài bờ biển Ein Gedi Spa kế bên Biển Chết. Các mẫu đất thu được cho thấy, có ít nhất 2 trận động đất lớn gây ảnh hưởng đến phần lõi: một trận động đất vào năm 31 trước Công nguyên (TCN) và 1 trận nằm trong khoảng năm 26 đến 36 sau Công nguyên (SCN). Và điều trùng hợp là giai đoạn thứ 2 xảy ra đúng vào khoảng thời gian mà Pontius Pilate làm tổng đốc của thành Judea và đem Chúa Jesus đi hành hình.


Trong cuốn Phúc âm Matthew, chương 27 có viết rằng: khi Chúa Jesus bị đóng lên cây thập tự, "mặt đất rung chuyển, đá nứt vỡ". Như vậy ngày diễn ra cuộc hành hình, tức Ngày Thứ sáu tuần thánh là khá chính xác, nhưng năm của sự kiện trên vẫn còn là nghi vấn, Williams nói.


Khi đặt cùng với một số giả thiết từ cuốn Phúc âm Matthew, kết hợp với lịch Do Thái và dữ liệu về thiên văn học, các nhà khoa học đã tìm thấy ngày chính xác mà Chúa Jesus đã bị hành hình trên cây thập tự. Theo đó, Chúa Jesus đã b�� đóng đinh vào ngày thứ sáu ngày 3 tháng 3 năm 33 SCN, nhóm nghiên cứu cho biết.


Được biết, nguyên nhân dẫn đến cái chết của Chúa Jesus là do các trưởng lão của người Do Thái đã đố kỵ với việc quá nhiều người đi theo Jesus. Họ lo sợ rằng mình sẽ không còn được ai thờ phụng và cấp dưỡng nên đã bịa đặt tội trạng cho Chúa và đóng đinh ngài lên cây thập tự.

__._,_.___

 

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU TU CN15TN-B PDF Print E-mail

Thứ Tư CN15TN-B

Phụng Vụ Lời Chúa

Bài Ðọc I: (Năm II) Is 10, 5-7. 13-16

"Cái cưa có thể tự cao tự đại đối với thợ cưa sao?"

Trích sách Tiên tri Isaia.

Ðây Chúa phán: "Khốn cho Assur, là cây roi cơn giận của Ta. Cây gậy trong tay nó là cơn thịnh nộ của Ta. Ta sẽ sai nó chống lại dân ngoại dối trá, và truyền lệnh cho nó đi chống lại dân chọc giận Ta, để nó cướp bóc, mang chiến lợi phẩm về chà đạp dưới chân như bùn ngoài đường phố. Nhưng chính nó không đồng quan điểm như vậy, và lòng nó không tưởng nghĩ như thế. Trái lại, lòng nó ưa thích phá hoại, và huỷ diệt nhiều dân tộc. Vì chưng, nó nói rằng: 'Tôi đã dùng sức mạnh cánh tay tôi, và dùng sự khôn ngoan của tôi mà làm việc ấy, vì tôi thông minh. Tôi đã dời đổi biên giới các dân, đã cướp lấy kho tàng các vua quan, và như người hùng, tôi lật đổ truất phế các thủ lãnh. Tay tôi lấy của cải các dân như bắt tổ chim. Tôi vơ vét cả hoàn cầu như lượm các trứng rơi, không một ai đập cánh hoặc mở miệng kêu la'.

"Lẽ nào cái rìu lại khoe mình với kẻ cầm rìu sao? Lẽ nào cái cưa lại tự cao tự đại với thợ cưa sao? Lẽ nào cây roi có thể chống lại người cầm roi, và cây gậy có thể nâng tay người cầm gậy sao, vì nó chỉ là gỗ cây? Bởi đó Chúa tể là Thiên Chúa các đạo binh sẽ gửi sự điêu tàn đến giữa cảnh mầu mỡ của nó; và từ dưới cảnh vinh quang của nó, một ngọn lửa sẽ bốc cháy lên như ngọn lửa của một đám cháy".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 93, 5-6. 7-8. 9-10. 14-15

Ðáp: Chúa sẽ không loại trừ dân tộc của Chúa (c. 14a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, chúng chà đạp dân riêng Chúa, và làm khổ gia nghiệp của Ngài. Chúng bóp cổ khách kiều cư, người quả phụ, và chúng sát hại những kẻ mồ côi. - Ðáp.

2) Chúng nói rằng: "Chúa không nhìn thấy, và Thiên Chúa nhà Giacóp cũng chẳng hay". Ðồ ngu xuẩn trong dân, các ngươi nên hiểu biết; lũ dại khờ, bao giờ các ngươi mới nhận ra? - Ðáp.

3) Ðấng làm ra tai, há chẳng biết nghe? Ðấng nặn ra mắt, há không nhìn thấy? Ðấng giáo dục chư dân, há không sửa lỗi? Ðấng dạy bảo thiên hạ, há chẳng thông minh? - Ðáp.

4) Vì Chúa sẽ không loại trừ dân tộc, và không bỏ rơi gia nghiệp của Người. Nhưng sự xét xử sẽ trở lại đường công chính, và mọi người lòng ngay sẽ thuận tình theo. - Ðáp.

Alleluia: Tv 94, 8ab

Alleluia, alleluia! - Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa và đừng cứng lòng. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 11, 25-27

"Chúa đã giấu không cho những người khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thưa rằng: "Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy. Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con trừ ra Cha; và cũng không ai biết Cha trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho".

Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Tư tuần XV Thường Niên, thuật lại lời Chúa Giêsu nguyện cầu chúc tụng dâng lên Cha của Người liên quan đến mạc khải thần linh, bao gồm thành phần xứng hợp với mạc khải thần linh này và tác nhân thực hiện mạc khải thần linh này:

"Lạy Cha là Chúa trời đất, Con xưng tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người hiền triết và khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì ý Cha muốn như vậy. Mọi sự đã được Cha Ta trao phó cho Ta. Và không ai biết Con trừ ra Cha; và cũng không ai biết Cha trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho".

Thành phần xứng hợp với mạc khải thần linh: Trong lời nguyện cầu chúc tụng này, Chúa Giêsu đã xác định rõ thành phần xứng hợp với mạc khải thần linh này không phải là "những người hiền triết và khôn ngoan", mà là "những kẻ bé mọn". Tại sao thế?

Tại vì mạc khải thần linh là những gì siêu việt, những gì liên quan đến đức tin siêu nhiên, vượt lên trên (hơn là phản nghịch với) kiến thức tự nhiên của con người, đến độ cho dù con người có khôn ngoan thông thái đến thế nào đi nữa thì tự mình họ cũng chẳng có thể nào nắm bắt và thấu hiểu được những gì Thiên Chúa muốn mạc khải cho biết. Nhất là đối với những kẻ tự cao tự đại cho mình là thày đời như thành phần luật sĩ và biệt phái trong dân Do Thái.

Tác nhân thực hiện mạc khải thần linh: Đó là chính Con, Đấng đã đến "để tỏ Cha ra" (Gioan 1:18). Thật vậy, "Thiên Chúa là Thần Linh" (Gioan 4:24), trong khi con người là thụ tạo vừa hữu hình lại hữu hạn, không thể nào biết được Thiên Chúa là ai và như thế nào, nếu không được Con tỏ ra cho: "không ai biết Cha trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho". Đó là lý do, "không ai có thể thấy vương quốc của Thiên Chúa nếu không được tái sinh từ trên cao" (Gioan 3:3), vì "cái gì sinh bởi xác thịt là xác thịt, cái gì sinh bởi Thần Linh là thần linh" (Gioan 3:6).

Đúng thế, chính vì con người không thể lên trời để biết được một cách chính xác Thiên Chúa là ai và như thế nào mà đích thân Thiên Chúa tự giáng làm người nơi "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), nơi Đấng "tuy danh phận là Thiên Chúa nhưng.... đã tự hủy ra như không, mặc lấy thân phận tôi mọn..." (Philiphê 2:6-7). Bởi thế, chỉ có "những kẻ bé mọn" như Người và với Người mới có thể nhận ra Người, Đấng cũng chính là mạc khải thần linh của Thiên Chúa, như nhiều trường hợp xẩy ra trong thành phần bình dân đại chúng đã được các Phúc Âm thuật lại.

Thánh phần được gọi là "hiền triết và khôn ngoan" bất xứng với mạc klhải thần linh vô cùng siêu việt và quí báu đây được điển hình hóa nơi trường hợp của Assur, thủ đô của Đế Quốc Assyria (2025-1750 BC) trong Bài Đọc 1 hôm nay, tiêu biểu cho các vị hoàng đế ngạo mạn của đế quốc này. Họ quả thực không thể nào thấu hiểu được mầu nhiệm thần linh nơi vai trò lịch sử của họ.

Trong khi Thiên Chúa là chủ tể lịch sử muốn sử dụng họ cho mục đích cứu độ của Ngài, như Ngài phán qua miệng Tiên Tri Isaia: "Assur, là cây roi cơn giận của Ta. Cây gậy trong tay nó là cơn thịnh nộ của Ta. Ta sẽ sai nó chống lại dân ngoại dối trá, và truyền lệnh cho nó đi chống lại dân chọc giận Ta, để nó cướp bóc, mang chiến lợi phẩm về chà đạp dưới chân như bùn ngoài đường phố".

Thì họ lại cứ tưởng chính nhờ khôn ngoan và tài năng riêng của mình mà họ thống trị một đế quốc của thiên hạ như thế: "Nhưng chính nó không đồng quan điểm như vậy, và lòng nó không tưởng nghĩ như thế. Trái lại, lòng nó ưa thích phá hoại, và huỷ diệt nhiều dân tộc. Vì chưng, nó nói rằng: 'Tôi đã dùng sức mạnh cánh tay tôi, và dùng sự khôn ngoan của tôi mà làm việc ấy, vì tôi thông minh. Tôi đã dời đổi biên giới các dân, đã cướp lấy kho tàng các vua quan, và như người hùng, tôi lật đổ truất phế các thủ lãnh. Tay tôi lấy của cải các dân như bắt tổ chim. Tôi vơ vét cả hoàn cầu như lượm các trứng rơi, không một ai đập cánh hoặc mở miệng kêu la'".

Thái độ tự phụ tự mãn đầy ngạo mạn coi trời bằng vung của họ, trước nhan Thiên Chúa, được Ngài đặt vấn đề và cảnh báo với thành phần khôn ngoan một cách mù quáng dại khờ như họ thế này: "Lẽ nào cái rìu lại khoe mình với kẻ cầm rìu sao? Lẽ nào cái cưa lại tự cao tự đại với thợ cưa sao? Lẽ nào cây roi có thể chống lại người cầm roi, và cây gậy có thể nâng tay người cầm gậy sao, vì nó chỉ là gỗ cây? Bởi đó Chúa tể là Thiên Chúa các đạo binh sẽ gửi sự điêu tàn đến giữa cảnh mầu mỡ của nó; và từ dưới cảnh vinh quang của nó, một ngọn lửa sẽ bốc cháy lên như ngọn lửa của một đám cháy".

Nội dung của Bài Đáp Ca hôm nay cho thấy không gì có thể qua mặt được Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan và toàn năng, Đấng bất chấp mọi gian ác của con người, mà vẫn có thể hiện thực được ý định vô cùng yêu thương nhân hậu của Ngài đối với dân của Ngài cũng như đối với thành phần lộng hành quyền bính được Ngài trao cho họ:

1) Lạy Chúa, chúng chà đạp dân riêng Chúa, và làm khổ gia nghiệp của Ngài. Chúng bóp cổ khách kiều cư, người quả phụ, và chúng sát hại những kẻ mồ côi.

2) Chúng nói rằng: "Chúa không nhìn thấy, và Thiên Chúa nhà Giacóp cũng chẳng hay". Ðồ ngu xuẩn trong dân, các ngươi nên hiểu biết; lũ dại khờ, bao giờ các ngươi mới nhận ra?

3) Ðấng làm ra tai, há chẳng biết nghe? Ðấng nặn ra mắt, há không nhìn thấy? Ðấng giáo dục chư dân, há không sửa lỗi? Ðấng dạy bảo thiên hạ, há chẳng thông minh?

4) Vì Chúa sẽ không loại trừ dân tộc, và không bỏ rơi gia nghiệp của Người. Nhưng sự xét xử sẽ trở lại đường công chính, và mọi người lòng ngay sẽ thuận tình theo.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - MUC VU HON NHAN CG PDF Print E-mail

nguyenthi leyen

Mục vụ hôn nhân Công giáo cho bệnh nhân HIV/AIDS
Đáp:
Câu hỏi 1 - Linh mục chính xứ có thể từ chối chứng hôn cho một người vì họ mắc bệnh HIV/AIDS dương tính không?
Giáo Hội Công Giáo quan niệm: quyền kết hôn là một quyền tự nhiên và bất khả xâm phạm của con người chiếu theo luật tự nhiên, theo thánh ý của Thiên Chúa Sáng Tạo; những ai không bị luật cấm đều có thể kết hôn (Gaudium et spes 26; GL 1058). Những trường hợp bị luật cấm kết hôn đều xuất phát từ luật tự nhiên và quy về hai loại: 1- tự bản thân người này không có khả năng kết hôn (chẳng hạn người mất trí); 2- việc kết hôn này gây nguy hại cho cộng đoàn nhân loại, trái luật tự nhiên (chẳng hạn hôn nhân loạn luân). "Chỉ có quyền bính tối cao trong Giáo Hội mới có quyền tuyên bố khi nào luật Thiên Chúa cấm kết hôn" (GL 1075); nhưng cho tới nay, Đức Giáo Hoàng hay Bộ Giáo Luật 1983 đều không cấm bệnh nhân AIDS kết hôn.
Tại VN, Luật Hôn Nhân và Gia Đình 1959 của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cấm kết hôn đối với người phong hủi và hoa liễu (điều 10). Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân VN và người nước ngoài 15.12.1993, điều 06 khoản 1 cấm kết hôn tại VN đối với người nước ngoài mắc bệnh AIDS. Hiện nay luật dân sự VN, theo Luật Hôn Nhân và Gia Đình 2000, đã bãi bỏ các lệnh cấm trên, chỉ còn cấm người mắc bệnh tâm thần (điều 10). Dù hồ sơ kết hôn với người nước ngoài vẫn còn buộc hai bên phải khám sức khỏe, nhưng cơ quan hộ tịch VN, trên lý thuyết, không có quyền dựa vào kết quả xét nghiệm có bệnh AIDS để từ chối việc họ đăng ký kết hôn.
Như vậy, giáo luật và dân luật hiện hành đều không cấm bệnh nhân AIDS kết hôn.
Kết luận: Linh mục chánh xứ không có quyền từ chối chứng hôn cho một người vì họ mắc bệnh HIV/AIDS dương tính. Dĩ nhiên, ngài có bổn phận khuyên họ cân nhắc cẩn thận việc kết hôn; hoặc ngài có thể từ chối chứng hôn vì một lý do chính đáng khác.
Câu hỏi 2- Nếu người vợ/chồng tương lai giấu việc mình mắc bệnh AIDS, hôn nhân có thành sự không?
Theo kiến thức y khoa hiện nay của nhân loại, không thể nói chắc chắn bệnh HIV/AIDS tự bản chất trực tiếp ngăn trở việc kết hôn thành sự; nên Giáo Hội không cấm người bệnh HIV/AIDS kết hôn. Giáo Luật chủ trương "hôn nhân được luật ưu đãi, vì thế khi hồ nghi, hôn nhân được coi là thành sự" (GL 1060). Như thế, nếu người vợ/chồng tương lai giấu việc mình mắc bệnh AIDS, hôn nhân vẫn thành sự.
Tuy nhiên, bệnh HIV/AIDS là một yếu tố nghiêm trọng có liên quan đến phẩm chất của người sắp kết hôn, vì bệnh trạng tâm sinh lý không thể phục hồi tạo ra một ảnh hưởng bền vững trên người bệnh. Phẩm chất này có ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống hôn nhân, đến sức khoẻ và tương lai của người bạn đời và con cái. Nếu phẩm chất này bị cố tình giấu kín (dolus omissivus) hay cố tình nói dối khi bị hỏi (dolus affirmativus) để được người kia ưng thuận kết hôn, chúng ta có thể xem là trường hợp hôn nhân bất thành vì kết hôn do bị lừa gạt (GL 1098).
Ngoài ra, y khoa còn cho biết HIV/AIDS có thể tạo ra tình trạng bất thường về tâm sinh lý, nhất là khi bệnh đã phát triển sang các giai đoạn sau. Do đó, hôn nhân còn có thể bất thành, nếu bệnh nhân đã đến mức mất trí phán đoán, thiếu ý thức nghiêm trọng hay không còn khả năng đảm nhận những nghĩa vụ của hôn nhân (GL 1095).
Trong trường hợp này, người ngoài không được can thiệp vào hôn nhân đó. Việc khiếu nại về hôn nhân bất thành phải do người đã kết hôn hoặc vị Công tố viên giáo phận thực hiện. Người khiếu nại phải nộp đơn cho Toà án Hôn phối Giáo phận và phải trưng được các chứng cứ biện minh cho lập trường của mình.
Kết luận: nếu người vợ/chồng tương lai giấu việc mình mắc bệnh AIDS, hôn nhân vẫn được xem là thành sự. Người bị lừa dối có thể khiếu nại tại Toà án Hôn phối Giáo phận.
Câu hỏi 3- Linh mục chính xứ có bổn phận báo cho người sắp kết hôn việc người vợ/chồng tương lai của họ giấu chuyện mình mắc bệnh HIV/AIDS hay không?
Người sắp kết hôn phải có ý hướng "yêu thương và tôn trọng" người bạn đời của mình, nên có bổn phận luân lý phải cho người bạn đời biết về tình trạng bệnh của mình. Linh mục chính xứ và vị Thường Quyền Sở Tại cũng có bổn phận này. Giáo Hội buộc các ngài "trước khi cử hành hôn phối, phải biết chắc không có gì ngăn trở việc cử hành hôn phối thành sự và hợp pháp" (GL 1066). "Mọi tín hữu, nếu biết có ngăn trở nào, phải trình bày cho linh mục chính xứ hay vị Thường Quyền" (GL 1069). Như đã trình bày trên đây, việc lừa dối trong trường hợp này có thể là một ngăn trở làm cho hôn nhân bất thành.
Việc thông báo này là một bổn phận nên không đi ngược với lệnh cấm vi phạm thanh danh và đời tư của cá nhân (GL 220).
Kết luận: Linh mục chính xứ có bổn phận báo cho người sắp kết hôn việc người vợ/chồng tương lai của họ mắc bệnh HIV/AIDS.
Câu hỏi 4- Linh mục chính xứ có quyền buộc người sắp kết hôn phải đi xét nghiệm HIV/AIDS không?
Linh mục chính xứ và vị Thường Quyền Sở Tại có thể khuyên người sắp kết hôn đi xét nghiệm y khoa, trong trường hợp nghi ngờ HIV dương tính, nhưng không có quyền ép buộc.
Nếu người này không nghe lời khuyên để đi xét nghiệm, linh mục chính xứ không được từ chối chứng hôn. Ngài có thể đệ trình lên vị Thường Quyền Sở Tại, nếu xét thấy vấn đề nghiêm trọng. Vị Thường Quyền Sở Tại có quyền cấm kết hôn khi có lý do nghiêm trọng, nhưng chỉ cấm từng trường hợp đặc biệt, trong lãnh địa của ngài và trong một thời gian mà thôi (GL 1077).
Kết luận: Linh mục chính xứ không có quyền buộc người sắp kết hôn phải đi xét nghiệm HIV/AIDS
Câu hỏi 5- Một người sắp kết hôn có thể đặt điều kiện "tôi chỉ cưới anh, nếu anh không mắc bệnh HIV/AIDS" không?
Hôn nhân Kitô giáo là một quyết định tự do, một cam kết để chia sẻ cuộc sống gia đình trong yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Tự bản chất, lời cam kết hôn nhân bao hàm việc chấp nhận mọi nguy cơ và rủi ro trong đời sống vợ chồng, "khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ". Nếu chưa biết rõ về người bạn đời tương lai của mình, người sắp kết hôn phải tự tìm hiểu thêm và phải chịu trách nhiệm về quyết định kết hôn của mình. Bình thường chúng ta phải hiểu là một người Công giáo kết hôn vô điều kiện.
Trong một số trường hợp rất hiếm, Giáo hội cho phép kết hôn với điều kiện. "Những điều kiện... không thể đặt ra cách hợp pháp, trừ khi có phép bằng văn bản của vị Thường Quyền Sở Tại (GL 1102,3).
Kết luận: Nếu một người muốn kết hôn với điều kiện như trên, phải có phép bằng văn bản của vị Thường Quyền Sở Tại. Nếu không có văn bản này, phải xem là kết hôn không có điều kiện.
Toà Tổng Giám mục Giáo phận TPHCM ngày 02.01.2005
LM Gioan Bùi Thái Sơn
Đại diện Tư pháp Giáo phận

--------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - DUC TIN DICH THUC PDF Print E-mail

> ĐỨC TIN ĐÍCH THỰC
>
> Đức tin là một ơn ban của Chúa. Người tín hữu đón nhận ơn này khi lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy (còn gọi là Bí tích Rửa tội). Như thế, người không được rửa tội thì không có Đức tin. Sự tin tưởng mà họ có nơi bạn bè và những người thân quen không được gọi là Đức tin mà đó chỉ là "niềm tin."
>
> Giáo lý công giáo dạy: Đức tin là một nhân đức "đối thần", tức là nó giúp ta hướng thẳng về Chúa. Gọi là nhân đức "đối thần" để phân biệt với các nhân đức khác như khôn ngoan, công bình can đảm, tiết độ. Bốn nhân đức này được gọi là bốn "nhân đức trụ", có nghĩa chúng làm nền tảng cho các nhân đức luân lý khác cần thiết cho đời sống con người. Bốn nhân đức trụ này, cũng như các nhân đức luân lý, khi sinh ra, chúng ta chưa có, phải do học hành và luyện tập mới có được.
>
> Đức tin là một ơn ban của Chúa, nên có người nhận được và có người lại không. Nói cách khác, có người sẵn sàng mở lòng đón nhận, nhưng cũng có người khép kín khước từ. Con người được tự do chọn lựa tin vào Chúa hay khước từ Ngài. Tin vào Chúa, đó là một đề nghị được đặt ra cho chúng ta. Đó không phải là mệnh lệnh hay một điều ép buộc. Vì thế, trong Giáo Hội, không bao giờ bắt ép ai theo Đạo. Nếu có ép buộc một người nào phải lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy, thì việc lãnh nhận Bí tích sẽ không thành sự, nghĩa là chẳng mang ơn ích gì. Trong trường hợp này, người bị ép buộc cũng không phải là người công giáo đúng nghĩa. Khi nói đến quyền tự do tin hay không tin Chúa, nhiều người đã phê phán Giáo Hội ép buộc người ta theo Đạo khi rửa tội cho trẻ em. Câu trả lời của Giáo Hội rất rõ ràng: cũng như cha mẹ muốn điều tốt cho con mình nên phải dạy chúng từ khi còn nhỏ mà đâu có hỏi xem chúng có đồng ý hay không. Khi trẻ lên 5 tuổi, cha mẹ bắt ép chúng mới đi đến trường học. Vậy, việc dạy con những điều hay lẽ phải, việc cho con đi học mặc dù chúng không thích có bị phê phán là thiếu tự do hay không? Giáo Hội chủ trương rửa tội cho con trẻ, vừa muốn cho chúng có một nền tảng giáo dục từ ban đầu, vừa qua đó để xin ơn Chúa xuống nơi tâm hồn em bé qua việc lãnh nhận Bí tích.
>
> Vì là một ơn ban, nên có người giữ được mà cũng có người đánh mất. Vì thế, trong ngôn ngữ bình dân, chúng ta vẫn gọi người này người nọ là "mất Đức tin." Người mất Đức tin là người tuyên bố công khai bỏ Đạo, còn người lười biếng đọc kinh, không đến nhà thờ hoặc người đang sống trong ngăn trở thì chưa thể căn cứ vào đó mà kết luận là một người mất Đức tin. Tuy vậy, tình trạng khô khan lười biếng thường dẫn đến tình trạng Đức tin phai nhạt và rồi mất Đức tin.
>
> Có người có Đức tin đích thực, lại có người có Đức tin giả tạo. Người có Đức tin đích thực thì luôn tìm kiếm Chúa và cầu nguyện với Ngài, vì họ xác tín Chúa đang hiện diện trong cuộc đời họ. Người có Đức tin giả tạo thì chỉ hời hợt bề ngoài, gió chiều nào xoay chiếu ấy, đời sống mang nhiều khuôn mặt khác nhau. Đối với người có Đức tin giả tạo, Giáo Hội chỉ như một tổ chức trần tục, tham gia cho vui, không hề gắn bó và yêu mến. Thánh Luca ghi lại phép lạ Chúa Giêsu chữa lành mười người phong cùi trên đường đi Giêrusalem (x. Lc 17,11-19). Mười người trong họ đều có lòng tin. Nhờ lòng tin đó mà họ được chữa lành. Tuy vậy, chỉ có một người trong họ trở lại để tôn vinh Thiên Chúa, mà người ấy lại là người Samaria, tức là người ngoại thường bị người Do Thái khinh bỉ. Như thế, Đức tin đích thực không mang những nhãn hiệu hào nhoáng hay vỏ bọc bề ngoài. Chín người kia chỉ chú ý đến mục đích khỏi bệnh. Lòng tin của họ là lòng tin vì bản thân, ích kỷ và vụ lợi. Người Samaria là người có lòng tin đích thực. Anh vừa được chữa bệnh phong cùi, vừa được mở con mắt tâm hồn để nhận ra chân lý. "Lòng tin của anh đã cứu chữa anh. " Lời tuyên bố của Đức Giêsu cho thấy "tin" là một điều kiện cần thiết để chữa lành. "Tin" cũng có một sức mạnh phi thường để chữa lành, không chỉ những chứng bệnh nan y mà còn chữa lành những tâm hồn đau thương vỡ nát. Đức tin đích thực dẫn ta đến gặp gỡ Chúa, tôn nhận Ngài là đích điểm đời ta. Đức tin đích thực giúp ta nhìn nhận xa hơn để đến với tha nhân, xây dựng một cuộc sống công bằng nhân ái với hết mọi người.
>
> Người tín hữu là người được ban ơn Đức tin, và để Đức tin lớn lên mỗi ngày, họ phải trau dồi đạo đức, chuyên tâm cầu nguyện và thực thi bác ái. Đức tin không phải là một "tấm thẻ ưu tiên" hay "tấm bùa hộ mệnh" để rồi ai sở hữu là tất nhiên được cứu rỗi. Tâm hồn đón nhận Đức tin phải như mảnh đất tốt, để nhờ đó mà hạt giống được gieo vào nảy nở đâm bông kết trái (x. Mt 13,1-9).
>
> Có người có Đức tin mạnh mẽ, lại có người có Đức tin non yếu. Các thánh tử đạo là những người có Đức tin mạnh mẽ. Các ngài không sợ chết. Vì Đức tin khẳng định với các ngài rằng ai trung tín với Chúa sẽ được sống đời đời dù có phải tù đày hay phải chết phần xác. Những người có Đức tin non yếu chỉ tin vào Chúa khi gặp hạnh phúc may mắn, nhưng khi gặp thất bại gian nan thì họ bỏ Chúa, thậm chí phủ nhận vị trí của Ngài trong đời họ. Cũng có khi họ chọn lựa thế gian và lợi lộc vật chất hơn là chọn lựa Chúa. "Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt thiên thần của Thiên Chúa. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì sẽ bị chối trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa" (Lc 12,8). Mạnh mẽ tuyên xưng Đức tin chính là bảo chứng cho việc chúng ta được cứu rỗi trong ngày sau hết của cuộc đời.
>
> Tân ước dẫn chứng rất nhiều tấm gương về Đức tin. Người phụ nữ xứ Canaan đã kiên nhẫn nài nỉ xin Chúa chữa cho con gái bà khỏi bệnh. Mặc dù Chúa Giêsu đã trả lời bà bằng một câu xem ra không có hy vọng, bà vẫn kiên trì và bà đã được như lòng mong ước (x. Mt 15,21-28). Với vị Đại đội trưởng đến xin Chúa chữa cho đầy tớ ông được khỏi, Chúa Giêsu đã khen ngợi ông: "Tôi không thấy một người Israen nào có lòng tin như thế" (Mt 8,19). Lòng tin nơi ông mạnh mẽ đến nỗi ông so sánh quyền lực của Chúa với một vị chỉ huy, chỉ cần truyền lệnh là mọi sự đâu vào đấy.
>
> Bạn thân mến, chúng ta là người tín hữu, vì chúng ta đã được lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy. Bí tích này làm cho chúng ta trở nên con người mới, giống như Chúa Giêsu Kitô. Tuy được mặc lấy Chúa Giêsu, nhưng chúng ta còn là con người, bị tác động bởi biết bao những cám dỗ. Chính sự yếu đuối của thân phận con người nơi thân xác chúng ta cũng là một trong những nguy cơ làm cho chúng ta phai nhạt tình yêu và lòng tín thác đối với Chúa. Chính vì vậy, Đức tin phải được tuyên xưng nơi môi miệng, phải được sống nơi cuộc đời và phải được loan truyền cho anh chị em xung quanh.
>
> Chúng ta cùng chiêm ngắm và noi gương Đức Trinh nữ Maria thành Nagiarét. Mẹ là mẫu mực của các tín hữu trong hành trình theo Chúa. Mẹ được chúc phúc vì Mẹ đã tin những gì Chúa phán cùng Mẹ sẽ thành hiện thực. Đức tin đã giúp Mẹ vượt qua những gian khổ trong cuộc đời. Nhờ Đức tin, Mẹ nhìn thấy thánh ý Chúa trong những biến cố đau thương và luôn một niềm trung tín. Đức tin của Mẹ là Đức tin đích thực. Xin Mẹ giúp chúng ta biết tin như Mẹ đã tin và sống như Mẹ đã sống.
>
> Gm Giuse Vũ Văn Thiên
> Nguồn: gphaiphong.org
> __._,_.___

 
HOC HOI DE SONG DAO - PHO TE DEO GAY STOLA PDF Print E-mail

Chi Tran

Tại sao Phó tế đeo dây stola chéo ?

Trong thánh lễ đồng tế, các linh mục đeo dây stola buông thõng xuống, còn các phó tế thì đeo dây stola bắt chéo từ vai bên trái sang hông bên phải. Tại sao vậy? Dây stola có ý nghĩa gì?

Thiết tưởng nên phân biệt hai vấn đề. Thứ nhất là ý nghĩa của dây stola. Thứ hai cách thức đeo dây stola.
Trong thánh lễ đồng tế, chúng ta thấy có các linh mục và các phó tế, mỗi đẳng cấp đeo dây stola một cách. Tuy nhiên, không chỉ có các linh mục và phó tế mới đeo dây stola mà thôi: các giám mục cũng đeo dây stola, và các giáo hoàng cũng thường chụp hình với dây stola màu đỏ. Đó là chưa kể một trường hợp mà rất ít người có dịp chứng kiến, đó là các nữ tu dòng Chartreux cũng đeo dây stola nữa.

Chúng ta bắt đầu với vấn đề thứ nhất: dây stola có ý nghĩa gì?

Ý nghĩa của dây stola đã thay đổi rất nhiều trải qua dòng lịch sử. Ý nghĩa của nó trong nguồn gốc văn hoá Hy- lạp và Rôma thì khác. Ý nghĩa của dây stola khi được du nhập vào phụng vụ Kitô giáo thì khác. Từ thời Trung cổ, người ta lại thêm ý nghĩa ám dụ nữa. Xét về nguồn gốc, các nhà sử học không đồng ý với nhau. Danh từ stola mới xuất hiện từ cuối thế kỷ VI, và dần dần thay thế danh từ orarium. Mỗi danh từ mang một nguồn gốc khác nhau. Danh từ stola có lẽ lúc đầu ám chỉ áo thụng của các bà quý tộc (tương đương với toga của các ông). Vì thế stola không phải là một sợi dây đeo ở cổ nhưng là một cái áo; có lẽ đó cũng là ý nghĩa của stola được nói trong sách Khải huyền (stolae albae 6,11; 7,9.14). Bên các Giáo hội Đông phương dây stola được gọi là Orarion, cũng tựa như bên Tây phương được gọi là Orarium cho đến thế kỷ IX. Thực ra Orarium cũng không phải là một cái dây, nhưng là một cái khăn đai, hay nói đúng hơn, một khăn quàng cổ. Xét về nguồn gốc trong xã hội Hy- lạp và Rôma, khăn orarium không phải là chiếc khăn quàng để che cổ cho khỏi cảm lạnh, nhưng là chiếc khăn để lau mặt hay để lau miệng (orarium bởi os, oris).

Như vậy, nguồn gốc dây stola là khăn chùi miệng khi ăn hay sao?

Không phải thế. Khi nói đến lau miệng, ta đừng vội nghĩ đến thực khách ngồi bàn ăn nhưng hãy nghĩ đến các nhà hùng biện. Họ phải diễn thuyết đến sùi bọt mép, vì thế thỉnh thoảng phải lau miệng. Dù sao, đó chỉ là một giả thuyết về nguồn gốc lịch sử mà thôi. Xét về việc sử dụng trong phụng vụ, thì bên Đông phương đã thấy nói tới trong một bản văn của công đồng Laodicea (năm 372), dành riêng orarium cho các phó tế, chứ các tác viên thấp hơn không được đeo. Thánh Gioan Kim khẩu cũng cho biết là các phó tế đeo orarium trên vai trái. Bên Tây phương thì ta thấy quy định về orarium của các phó tế trong một bản văn của công đồng Braga ở Tây ban nha (năm 563); và một bản văn công đồng Toledo IV (năm 633) nói đến cách thức đeo orarium khác nhau giữa các phó tế và các linh mục. Các phó tế thì đeo orarium màu trắng trên vai trái, bắt chéo, và ở trên áo dalmatica. Các linh mục và giám mục thì đeo orarium quanh cổ, buông thõng xuống, nhưng mà ở dưới áo lễ.

Đàng sau những quy định phức tạp như vậy, người ta có giải thích ý nghĩa của việc đeo dây stola như thế nào không?

Tiếc rằng các bản văn pháp lý không nói. Chính vì vậy mà các sử gia mới đưa ra nhiều giả thuyết về nguồn gốc và ý nghĩa của nó. Có lẽ lúc đầu, dây orarium chỉ có ý nghĩa thực dụng, đó là lau mặt, lau mồ hôi, hoặc che cổ cho ấm. Nhưng cách riêng, vào thời Trung cổ, người ta gán cho nó nhiều ý nghĩa ám dụ cho dây stola, được hiểu không chỉ như một dây mà còn là một tấm áo nữa.

1/ Hiểu như sợi dây, người ta ví dây stola như sợi dây mà quân dữ đã trói buộc Chúa Giêsu trong vườn cây dầu, hoặc dây trói vào cột đá khi chịu đánh đòn. Vì thế khi đeo dây stola, linh mục hãy nhớ đến sợi dây của đức vâng lời, ràng buộc mình với Chúa Kitô, hy sinh bản thân để cứu chuộc thế giới. Dây stola đeo lên vai cũng nhắc nhở rằng linh mục hãy mang lấy ách êm ái của Chúa Giêsu, học hỏi nơi Người sự hiền lành và khiêm tốn (Mt 11,29). Những điều này được đọc thấy nơi giám mục Sicardo của giáo phận Cremona. Dần dần theo hướng đó, các nhà thần học vạch ra đủ hết các thứ nhân đức cần thiết cho linh mục và phó tế; chẳng hạn như: đức khiêm nhường (Amalariô), đức vâng lời (Rupert de Deutz), khiết tịnh (Honorius), nhẫn nại (Innocente III), can đảm (Yves de Chartres). Rabanus Maurus thì hiểu stola như là biểu hiệu của lời giảng (có lẽ ý nghĩa này lấy từ khăn orarium lau miệng): trước khi giảng thì phải chuẩn bị chu đáo. Các nhà luân lý không quên lưu ý rằng dây stola được buộc vào dây thắt lưng (tượng trưng cho sự khổ hạnh), bởi vì đừng mong tập luyện nhân đức nếu thiếu sự khổ chế. Cách riêng, khi giải thích stola cho các phó tế (nguyên ngữ diaconos trong tiếng Hy-lạp là kẻ phục vụ) thánh Isidorus de Pelusio (+440) nhắc đến tấm khăn mà Chúa Giêsu dùng để lau chân cho các môn đệ sau khi đã khiêm tốn rửa chân cho họ.

2/ Nếu hiểu như tấm áo dựa theo sách Khải huyền, thì stola là biểu hiệu cho sự thanh sạch mà các tín hữu phải khoác vào để dự tiệc cưới trên trời. Con người được dựng nên trong tình trạng nguyên tuyền; nhưng do tội nguyên tổ, chiếc áo đã trở thành nhơ bẩn. Vì thế con người cần phải tìm cách rửa sạch nó, bằng nước mắt thống hối và nhất là nhờ quyền năng Thập giá Chúa Kitô, trong máu thánh của ngài. Ý nghĩa biểu tượng này còn được nhắc đến trong Sách lễ Rôma trước công đồng Vaticanô II. Khi đeo dây stola, linh mục thầm thĩ cầu xin: "Lạy Chúa, xin hoàn lại cho con stola của bất tử mà nguyên tổ đã làm mất; và tuy con không xứng đáng đến gần nhiệm tích thánh, xin Chúa cũng ban cho con sự hoan lạc đời đời".

Trong Sách lễ Rôma hiện nay không còn kinh đó nữa hay sao?

Vào thời Trung cổ, người ta thích chú giải Kinh thánh và các bản văn phụng vụ theo nghĩa ám dụ. Cách riêng, khi bàn về Thánh lễ, người ta giải thích như cuộc diễn tuồng Thương khó, gồm các chặng giống như đi đàng Thánh giá vậy. Việc giải thích ý nghĩa ám dụ cũng áp dụng cho phẩm phục linh mục, chẳng hạn như áo alba ám chỉ linh hồn trong trắng; dây lưng ám chỉ đức khiết tịnh, áo lễ tượng trưng cho việc vác thánh giá. Từ công đồng Vaticanô II, thần học muốn tìm hiểu ý nghĩa văn bản của Kinh thánh cũng như biểu tượng tự nhiên của các bí tích, chứ không ưa lối giải thích ám dụ, nhiều khi dựa theo óc tưởng tượng hơn là theo bản chất của sự vật. Theo tôi nghĩ, đó là lý do vì sao Sách lễ sau công đồng Vaticanô II bỏ các kinh mà linh mục đọc khi mặc phẩm phục.

Sách lễ hiện nay quy định thế nào về việc đeo dây stola?

Quy tắc Sách Lễ Rôma ấn bản năm 2000 số 340 (tương đương với số 302 ấn bản cũ) quy định như sau: "Các tư tế đeo dây stola quanh cổ và buông thõng xuống đàng trước. Các phó tế đeo dây stola trên vai trái, bắt chéo ngang ngực, và thắt lại ở hông bên phải". So với quy tắc trước công đồng, ta thấy có sự thay đổi không nhỏ đối với các linh mục. Trước đây (nghĩa từ sách lễ năm 1570), các linh mục đeo stola trên cổ và bắt chéo ra trước ngực như hình thánh giá; chỉ có giám mục mới buông thõng xuống, bởi vì ngài còn đeo thêm thánh giá nữa. Chúng ta cũng cần quy chiếu với các điều khoản khác có liên quan đến phẩm phục các tác viên. Đối với các phó tế, thì số 338 nói rằng phẩm phục gồm có áo alba, stola và dalmatica; nhưng vì nhu cầu hoặc lễ thường thì có thể miễn mặc dalmatica. Còn trong thánh lễ đồng tế, thì các linh mục có thể chỉ mặc áo alba và đeo stola.

Các linh mục không chỉ đeo dây stola lúc dâng thánh lễ mà thôi, nhưng còn lúc cử hành các lễ nghi phụng vụ khác nữa, phải không?

Đúng thế. Có lẽ vì vậy mà ở Việt Nam trước đây, người ta dịch stola là "dây các phép", nghĩa là dây đeo lúc cử hành các phép bí tích. Tuy nhiên trong trường hợp này, ta thấy stola thường là màu trắng, trừ khi giải tội và nghi thức an táng thì đổi thành màu tím. Nên biết là vào thời cổ, dây stola (cũng như orarium và pallium) luôn luôn là màu trắng; mãi đến thế kỷ XVI, mới có tục thay đổi màu dây stola cho hợp với màu áo lễ trong ngày. Ngoài ra, cũng nên ghi nhận là trong những trường hợp linh mục đeo stola mà không có áo lễ thì kích thước của nó cũng rộng hơn.
[Trong giáo luật, từ stola còn mang một ý nghĩa chuyên môn, hiểu về vài công tác dành riêng cho các cha sở (ius stolae), mà vết tích còn thấy ở số 530 của bộ giáo luật. Cần phải có sự thỏa thuận của cha sở thì các linh mục khác mới được thi hành các nghi thức đó, thí dụ rửa tội, chứng hôn. Trong khung cảnh này, Stola tượng trưng cho quyền hành của cha sở].

Các giáo dân có được phép đeo stola không?

Tuỳ chúng ta hiểu stola theo nghĩa nào. Nếu hiểu theo nghĩa chuyên môn của phụng vụ thì duy chỉ có các giám mục, linh mục, phó tế mới đeo dây stola lúc cử hành phụng vụ. Còn nếu hiểu theo nghĩa rộng, là bất cứ đai nào cũng gọi là stola, thì chúng ta có thể nhận thấy tại vài nơi, các chức sắc trong giáo xứ cũng đeo đai trắng bắt chéo trước ngực, có lẽ bắt chước các phó tế. Dù sao, giữa hai hình thức (nghĩa rộng và nghĩa hẹp), ta nên thêm nghĩa thứ ba nữa, đó là các nữ tu dòng Chartreux. Vào ngày thánh hiến các chị nhận lãnh một dây stola, và chiếc stola này sẽ được đặt trong hòm lúc an táng. Do một đặc ân của Toà thánh, trong phụng vụ Giờ kinh Sách, chị nào đọc Phúc âm thì cũng đeo stola.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, op.

---------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 138