mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4686
mod_vvisit_counterHôm Qua8281
mod_vvisit_counterTuần Này49613
mod_vvisit_counterTuần Trước57178
mod_vvisit_counterTháng Này157048
mod_vvisit_counterTháng Trước157742
mod_vvisit_counterTất cả9215355

We have: 105 guests online
Your IP: 54.198.58.62
 , 
Today: Sep 23, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 414 THU BAY TUAN 24TN-A PDF Print E-mail

Thứ Bảy 23-9

Phúc Âm: Lc 8, 4-15

Suy Niệm Cảm Nghiệm

LỜI CHÚA CẦN ĐƯỢC GIEO RẮC KHẮP NƠI

Hôm nay, Thứ Bảy Tuần XXIV Thường Niên, Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca thuật lại dụ ngôn người gieo giống của Chúa Giêsu khi "có đông dân chúng tụ họp lại, và người ta từ các thị trấn đến cùng Chúa Giêsu".

Hình ảnh "có đông dân chúng tụ họp lại, và người ta từ các thị trấn đến cùng Chúa Giêsu" ở ngay đầu bài Phúc Âm hôm nay rất thích hợp với dụ ngôn người gieo giống là Chúa Giêsu qua vai trò giảng dạy của Ngài, những lời giảng dạy như hạt giống gieo vào tai, vào lòng thính giả, trong đó không phải ai cũng tiếp nhận hạt giống này như nhau, mà là khác nhau, được chính Chúa Giêsu phân loại và tóm gọn lại thành 4 hạng trong dụ ngôn của Người như sau:

"Người gieo hạt giống ra đi gieo hạt giống mình. Và đang khi gieo, có hạt rơi xuống bên vệ đường, bị người ta chà đạp và chim trời đến ăn đi. Hạt khác rơi trên đá sỏi, vừa mọc lên liền héo đi, vì không có đất ẩm. Hạt khác rơi vào bụi gai, và gai góc cùng mọc lên, bóp nghẹt nó. Hạt khác rơi vào đất tốt, đã mọc lên và kết quả gấp trăm".

Bốn hạng hay bốn loại thính giả lắng nghe lời Chúa hay đón nhận hạt giống lời Chúa này ra sao và được hạt giống lời Chúa tác dụng như thế nào nơi bản thân họ, hay nói cách khác, hạt giống lời Chúa đã sinh hoa kết trái ra sao nơi họ, tất cả đã được Chúa Giêsu dẫn giải ở phần cuối bài Phúc Âm hôm nay theo lời yêu cầu của các môn đệ:

"Dụ ngôn đó có nghĩa thế này: Hạt giống là lời Thiên Chúa. Những hạt rơi bên vệ đường, tức là những người đã nghe, nhưng rồi quỷ tới và cướp lời khỏi lòng họ, kẻo họ tin mà được cứu độ. Những hạt rơi trên đá sỏi là những người, khi nghe thì vui vẻ đón nhận lời Chúa, nhưng họ không đâm rễ, họ chỉ tin tưởng nhất thời, và khi đến giờ thử thách, thì tháo lui. Hạt rơi vào bụi gai, là những người đã nghe, nhưng khi đi đường, những mối lo nghĩ, sự giàu có và thú vui của đời sống bóp nghẹt và họ không sinh hoa kết quả. Còn như hạt rơi trong đất tốt, là những người nghe lời với tấm lòng tốt lành và thiện hảo, họ giữ lấy và nhờ kiên nhẫn, họ sinh được hoa trái".

Như thế, căn cứ vào những gì được Chúa Giêsu dẫn giải, thì trình độ lãnh nhận hay thái độ lãnh nhận lời Chúa được chia ra làm 4 cấp theo tác dụng của lời Chúa, thứ tự như sau:

1- "Vệ đường" - Hững hờ trong tâm linh: "Những hạt rơi bên vệ đường, tức là những người đã nghe, nhưng rồi quỷ tới và cướp lời khỏi lòng họ, kẻo họ tin mà được cứu độ". Trường hợp này thường thấy nơi những con người chẳng tin tưởng gì hết, ngoài chính bản thân họ, họ chủ quan, cố chấp, thành kiến, ý riêng, hoàn toàn sống theo bản tính tự nhiên và buông thả, đến độ không cần bị cám dỗ họ cũng sa ngã, phạm tội mà không biết, mất hết ý thức tội lỗi v.v.

2- "Sỏi Đá" - Nông cạn trong cuộc sống: "Những hạt rơi trên đá sỏi là những người, khi nghe thì vui vẻ đón nhận lời Chúa, nhưng họ không đâm rễ, họ chỉ tin tưởng nhất thời, và khi đến giờ thử thách, thì tháo lui". Thường thấy xẩy ra trong các cuộc tĩnh tâm, tham dự viên rất hào hứng khi nghe giảng, vổ tay, cười lớn, thích thú, gật gù v.v. thế nhưng sau đó vẫn tiếp tục sống với những gì phản lại với lời giảng mà họ cảm thấy hay ho thấm thía nhất thời.

3- "Bụi gai" - Bất ổn trong nội tâm: "Hạt rơi vào bụi gai, là những người đã nghe, nhưng khi đi đường, những mối lo nghĩ, sự giàu có và thú vui của đời sống bóp nghẹt và họ không sinh hoa kết quả". Có những Kitô hữu Công giáo rất thông thuộc lời Chúa, hay lập lại Lời Chúa khi cần, nhắc nhở Lời Chúa cho kẻ khác, và sống đời cầu nguyện một cách kỹ lưỡng hằng ngày, cho tới khi hoạt động đụng chạm mới thấy trình độ thấm nhuần lời Chúa của họ tới đâu.

4- "Đất lành" - Đáp ứng trong tin tưởng: "Còn như hạt rơi trong đất tốt, là những người nghe lời với tấm lòng tốt lành và thiện hảo, họ giữ lấy và nhờ kiên nhẫn, họ sinh được hoa trái". Mẫu gương cho thành phần "đất lành chim đậu" này không ai hơn Đệ Nhất Tạo Vật về ân sủng là Mẹ Maria, nhờ luôn suy niệm và đáp ứng lời Chúa (xem Luca 2:19,51), bởi thế Mẹ luôn đầy ân phúc và không bao giờ giảm một chút gì ân phúc nơi Mẹ, trái lại, ân phúc càng đầy nơi Mẹ, càng làm cho Mẹ nên giống Chúa hơn ai hết, đến độ Mẹ trở nên rực rỡ như mặt trời (xem Khải Huyền 12:1; Diễm Tình Ca 6:10).

Theo chiều hướng làm sao cho hạt giống lời Chúa tác dụng tối đa nơi bản thân mỗi người, nhất là nơi thành phần Kitô hữu môn đệ của Chúa Kitô, Thánh Phaolô đã khuyên môn đệ Timôthêu của ngài cần phải sống trung thực với các huấn lệnh, với lời Chúa, nhờ đó Thiên Chúa mới hiển linh nơi thành phần "tín hữu" của Ngài:

"Con thân mến, cha chỉ thị cho con trước mặt Thiên Chúa, Ðấng làm cho muôn vật được sống, và trước mặt Ðức Giêsu Kitô, Ðấng đã làm trước mặt Phongxiô Philatô lời tuyên xưng thẳng thắn, con hãy giữ gìn huấn lệnh đó cho tinh tuyền và không thể trách được cho tới ngày Chúa chúng ta là Ðức Giêsu Kitô lại đến, mà tới thời đã định, Ðấng phúc lộc và quyền năng duy nhất sẽ tỏ ra Người là Thiên Chúa, Vua các vua và Chúa các chúa, Ðấng độc nhất trường sinh bất tử, Người ngự trong ánh sáng siêu phàm, không một ai trong loài người đã xem thấy, hay có thể xem thấy: Vinh dự và quyền năng (xin kính dâng) cho Người muôn đời. Amen!"

Tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay cũng là tâm tình của những tâm hồn trở thành mảnh đất tốt tươi của Lời Chúa và cho Lời Chúa được Chúa Giêsu ám chỉ trong dụ ngôn người gieo giống ở bài Phúc Âm hôm nay:

1) Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa, hãy phụng sự Thiên Chúa với niềm vui vẻ! Hãy vào trước thiên nhan với lòng hân hoan khoái trá.

2) Hãy biết rằng Chúa là Thiên Chúa; chính Người đã tạo tác thân ta, và ta thuộc quyền sở hữu của Người; ta là dân tộc, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi.

3) Hãy vào trụ quan nhà Người với lời khen ngợi, vào hành lang với khúc ca vui; hãy tán dương, hãy chúc tụng danh Người.

4) Vì Thiên Chúa, Người thiện hảo, lòng từ bi Người tồn tại muôn đời, và lòng trung tín Người còn tới muôn muôn thế hệ.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 413-THU SAU CN24TN-A PDF Print E-mail

Bài Ðọc I: (Năm I) 1 Tm 6, 2c-12
Ðáp Ca: Tv 48, 6-7. 8-10. 17-18. 19-20
Phúc Âm: Lc 8, 1-3

Suy Niệm Cảm Nghiệm - Thứ sáu CN24TN-A

Người nữ môn đệ tội lỗi của Chúa Kitô

Bài Phúc Âm hôm nay, mở đầu đoạn 8, tiếp ngay sau bài Phúc Âm hôm qua ở cuối đoạn 7. Tức là, sau sự kiện Chúa Giêsu được một người biệt phái tên là Simon mời đến dùng bữa với ông và bạn hữu của ông, ở đó Người đã tha thứ cho một người phụ nữ tội lỗi hết lòng ăn năn thống hối đến với Người.

Nếu bài Phúc Âm hôm qua, người phụ nữ lạ mặt như vô danh tiểu tốt này chỉ được Thánh ký Luca tiết lộ một chút xíu ở ngay đầu bài Phúc Âm đó là "một người đàn bà tội lỗi trong thành", thì hình như người phụ nữ tội lỗi ấy đã trở thành một (vẫn tiếp tục vô danh) trong những nữ môn đệ của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay:

"Khi ấy, Chúa rảo qua các thành thị và xóm làng, giảng dạy và loan báo Tin Mừng nước Thiên Chúa. Có nhóm Mười Hai cùng đi với Người, cũng có cả mấy người phụ nữ đã được chữa khỏi tà thần và bệnh tật: là bà Maria cũng gọi là Mađalêna, người đã được trừ khỏi bảy quỷ ám, bà Gioanna vợ của Chusa, viên quản lý của Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác; những bà này đã lấy của cải mình mà giúp Người".

Phải chăng người phụ nữ tội lỗi tỏ lòng ăn năn thống hối ấy chẳng những đã từ bỏ đời sống tội lỗi mà còn dấn thân theo phục vụ Đấng đã vô cùng từ bi nhân hậu tha thứ tội lỗi cho mình nữa, qua chi tiết được Thánh ký Luca cho biết là: "Maria cũng gọi là Mađalêna, người đã được trừ khỏi bảy quỷ ám".

Suy diễn này có thể đúng: người phụ nữ tội lỗi đã "đứng phía chân Người, khóc nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm" và đã được Người tha thứ: "Tội lỗi con đã được tha... Ðức tin con đã cứu con, con hãy về bình an", trong bài Phúc Âm hôm qua, chính là "Maria cũng gọi là Mađalêna" trong bài Phúc Âm hôm nay.

Thật vậy, căn cứ vào hai chi tiết trong 2 phúc âm khác, chúng ta có thể thấy được điều này. Trước hết, trong Phúc Âm Thánh Gioan, Thánh Ký đã chú thích ở trong ngoặc đơn về Maria là chị em của Matta và Lazarô như sau: "(Maria có Lazarô bị bệnh này là người đã xức dầu cho Chúa bằng dầu thơm và lau khô chân Người bằng tóc của mình)" (11:2), đúng như những gì Thánh ký Luca ghi nhận trong bài Phúc Âm hôm qua.

Trong Phúc Âm của Thánh ký Marco, ở đoạn liệt kê thứ tự các lần Chúa Kitô phục sinh hiện ra, mà người đầu tiên được vị Thánh ký này liệt kê là "Maria Magdalene", một nhân vật nữ đã được thánh ký ghi chú thêm một cách kỹ lưỡng như sau: "Người trước hết đã hiện ra với Maria Magdalene là người được Người trừ cho khỏi 7 quỉ" (16:9), đúng như những gì Thánh ký Luca ghi nhận trong bài Phúc Âm hôm nay.

Tóm lại, căn cứ vào các đoạn Phúc Âm được trích dẫn liên quan đến nhân vật mang tên Maria và Maria Magdalene, có thể kết luận rằng cả hai danh xưng này chỉ là một nữ nhân vật duy nhất, đó là Chị Thánh Maria Mai Đệ Liên được Giáo Hội mừng kính hằng năm vào ngày 22/7.

Vậy Maria Magdalene cũng là Maria chị em của Matta và Lazarô ở Bêtania, có thể là một con người đã bỏ nhà đi hoang sống đời tội lỗi (x Lk 7:37) ở Magdala (?), nhưng đã thống hối bằng tất cả tấm lòng tan nát khiêm cung của mình (x Lk 7:47), "đã chọn phần tốt hơn" là lắng nghe lời Chúa (x Lk 10:42), đã khóc thương Lazarô khiến Chúa cũng cảm thấy mủi lòng trước nước mắt của chị (x Jn 11:33), và đã trung kiên theo Chúa (còn hơn cả đa số các vị tông đồ) cho tới khi đứng dưới chân thập giá Chúa với Mẹ Maria và Thánh Tông Đồ Gioan (x Jn 19:25), nhờ đó chị thậm chí còn diễm phúc trở thành con người đầu tiên được Chúa Kitô phục sinh ưu tuyển hiện ra (x Mk 16:9), trước cả các thánh tông đồ, và Người đã sai chị đi loan báo tin mừng phục sinh về Người cho chính các tông đồ nữa (x Jn 20:17)!

Việc trong thành phần môn đệ của Chúa Kitô có cả các nữ môn đệ đi theo Người để phục vụ Người, trong đó có Maria Mai-Đệ-Liên, cho thấy họ là những con người khôn ngoan, trổi vượt, sống trong thế gian mà không thuộc về thế gian, ở chỗ, về tiêu cực không sống theo thế gian và như thế gian, và về tích cực họ sống với Chúa và cho Chúa, cả hai khía cạnh tiêu cực và tích cực này đều được chất chứa trong huấn dụ Thánh Phaolô gửi môn đệ Timôthêu của ngài trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay:

Về tiêu cực không sống theo thế gian và như thế gian: "Chúng ta đã không mang gì vào thế gian này, và chắc chắn chúng ta cũng không thể lấy ra được gì. Khi có cơm ăn và áo mặc, chúng ta hãy lấy thế làm bằng lòng. Còn như những kẻ muốn làm giàu, họ sa vào cơn cám dỗ, vào cậm bẫy và nhiều dục vọng điên rồ tác hại. Những cái đó làm con người ta chìm đắm vào chỗ điêu tàn và hư hỏng. Bởi chưng gốc rễ mọi sự dữ là lòng tham tiền bạc. Một số người vì đeo đuổi lòng tham này đã lạc mất đức tin và tự chuốc vào thân nhiều nỗi khổ đau".

Về tích cực họ sống với Chúa và cho Chúa: "Phần con, hỡi người của Thiên Chúa, hãy trốn xa những chuyện đó. Hãy theo đuổi đức công chính, lòng đạo hạnh, đức tin, đức ái, đức nhẫn nại, đức hiền lành. Con hãy chiến đấu trong cuộc chiến đấu chính nghĩa của đức tin. Hãy cố đoạt lấy sự sống đời đời mà con đã được kêu gọi tới, và cũng vì đó, con đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin trước mặt nhiều nhân chứng".

Bài Đáp Ca hôm nay phản ảnh nhận thức và tâm tình của những ai từ bỏ thế gian mà đi theo Chúa hay sống công chính trọn lành theo ý Chúa, như thành phần nữ môn đệ của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay, hay như những gì được Thánh Phaolô phác họa cho môn đệ Timôthêu của ngài trong Bài Đọc 1 hôm nay:

1) Tại sao tôi phải kinh hãi trong ngày tai hoạ, khi ác tâm quân thù mưu hại bao bọc quanh tôi? Bọn người này tin cậy vào tài sản, chúng tự hào vì có bạc vạn tiền muôn.

2) Nhưng thực ra không ai tự cứu được bản thân, cũng không ai dâng được lên Chúa giá tiền thục mạng. Giá thục mạng quá đắt, không bao giờ có đủ, hầu mong sống mãi đời đời, không phải nhìn coi sự chết.

3) Ðừng e ngại khi thấy ai giàu có, khi thấy tài sản nhà họ gia tăng: bởi lúc lâm chung, họ chẳng mang theo gì hết, và tài sản cũng không cùng họ chui xuống nấm mồ.

4) Dầu khi còn sống họ ca tụng mình rằng: "Thiên hạ sẽ khen ngươi, vì ngươi biết khôn ngoan tự liệu", họ sẽ tìm đến nơi đoàn tụ của tổ tiên, những người muôn thuở không được nhìn xem sự sáng.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 412 =GIAO HOI TONG TRUYEN PDF Print E-mail

 Thánh Tông Đồ Mathêu - Thứ Năm 21-9

ĐTC Biển Đức XVI Thứ Tư 30/8/2006 - Bài 17 trong loạt 138 bài Giáo Lý chủ đề Giáo Hội Tông Truyền

Anh Chị Em thân mến:

Để tiếp tục loạt chân dung về 12 Tông Đồ, loạt chân dung được bắt đầu một ít tuần trước đây, hôm nay chúng ta suy niệm về Thánh Mathêu.

Phải chân nhận rằng hầu như không thể mô tả trọn vẹn hình ảnh của ngài, vì tín liệu về ngài hiếm có và không đầy đủ. Những gì chúng ta có thể làm đó là mô tả không nhiều lắm về tiểu sử của ngài nhưng những gì được Phúc Âm cống hiến cho chúng ta.

Ngài bao giờ cũng có tên trong danh sách 12 vị được Chúa Giêsu tuyển chọn (x Mt 10:3; Mk 3:18; Lk 6:15; Acts 1:13). Tên của ngài, theo tiếng Do Thái, có nghĩa là 'tặng ân của Chúa'. Cuốn Phúc Âm đầu tiên trong sổ bộ thánh kinh là cuốn phúc âm mang tên của ngài, cho chúng ta thấy trong danh sách 12 Vị ngài có một tính chất rất đặc biệt, đó là 'viên thu thế' (Mt 10:3).

Đó là lý do ngài được đồng hóa với con người ngồi ở phòng thuế, kẻ được Chúa Giêsu kêu gọi theo Người. 'Khi Chúa Giêsu đi ngang qua đó Người thấy một người tên là Mathêu đang ngồi ở phòng thuế, và Người nói cùng anh rằng: 'Hãy theo Tôi'. Và ngài đã chỗi dạy theo Người' (Mt 9:9).

Thánh Marcô (x 2:13-17) và Luca (x 5:27-30) trình thuật lời kêu gọi con người ngồi ở phòng thuế, nhưng các vị gọi ngài là 'Levi'. Việc tưởng tượng ra cảnh được diễn tả trong Phúc Âm Thánh Mathêu 9:9 cũng đủ để nhớ đến bức họa vĩ đại của Carabaggio, được giữ ở Rôma đây, nơi Thánh Đường Thánh Louis của Pháp.

Một chi tiết mới về thân thế của ngài được các Phúc Âm nhắc tới, đó là, trong đoạn Phúc Âm, trước trình về về lời Chúa Giêsu kêu gọi ngài, có nói tới chi tiết về phép lạ Chúa Giêsu đã làm ở Capernaum (x Mt 9:1-8; Mk 2:1-12), liên quan tới Hồ Tibêria, gần Biển Galilêa (x. Mk 2:13-14).

Người ta có thể suy diễn là Thánh Mathêu đã thực hiện nhiệm vụ của một viên thu thuế ở Capernaum, ở ngay 'bên biển' (Mt 4:13), nơi Chúa Giêsu là một vị khách thường xuyên của gia đình Thánh Phêrô.

Căn cứ vào những nhận định sơ sài từ Phúc Âm này, chúng ta có thể thực hiện một số chia sẻ như sau. Trước hết là Chúa Giêsu đã đón nhận trong nhóm bạn hữu thân thiết của mình một con người, theo quan niệm ở Do Thái thời ấy, được coi là một tội nhân công khai.

Thật ra Mathêu chẳng những là nhân viên quản trị về tiền bạc, một việc được coi là không tinh sạch vì nó xuất phát từ con người xa lạ với thành phần dân Chúa, mà còn hợp tác với thẩm quyền ngoại bang, tham lam bẩn thỉu, có thể ấn định việc cống nộp một cách tùy tiện.

Vì những lý do đó, có vài lần các Phúc Âm đã đề cập chung 'thành phần thu thuế và tội lỗi' (Mt 9:10; Lk 15:1), 'thành phần thu thuế và gái điếm' (Mt 21:31). Ngoài ra, các Phúc Âm còn thấy nơi thành phần thu thuế một mẫu gương tham lam nữa (x Mt 5:46: họ chỉ yêu thương những ai thương yêu họ) và đã đề cập đến một người trong họ là Gia Kêu, như 'người trưởng ban thu thuế, và giầu có' (Lk 18:11).

Căn cứ vào những chi tiết ấy vấn đề cần phải chú ý là Chúa Giêsu không loại trừ một ai ra khỏi tình thân hữu của Người. Hơn thế nữa, chính lúc Người ngồi ở bàn ăn trong nhà viên Thu Thuế Mathêu, trả lời những ai cảm thấy ngứa mắt trước sự kiện qui tụ thường xuyên song bất xứng của Người, Người đã tuyên bố điều quan trọng này là 'Những ai khỏe mạnh thì không cần đến thày thuốc, chỉ có những ai yếu bệnh mới cần; Tôi đến không phải để kêu gọi thành phần công chính mà là tội nhân' (Mk 2:17).

Lời loan báo tốt đẹp này của Phúc Âm thực sự là ở chỗ đó, ở chỗ Thiên Chúa cống hiến ân sủng của Ngài cho thành phần tội nhân! Ở một đoàn khác, bằng một dụ ngôn nổi tiếng về người Pharisiêu và người thu thuế cùng lên đền thờ cầu nguyện, Chúa Giêsu thậm chí cho thấy một người thu thuế vô danh nêu gương khiêm nhượng tin tưởng vào tình thương thần linh: Trong khi người Pharisiêu ngạo nghễ về tình trạng trọn lành luân lý của mình, thì 'người thu thuế, đứng ở đằng xa, không dám ngước mắt lên trời, chỉ biết đấm ngực mà rằng: Lạy Chúa, xin thương đến tôi là kẻ tội lỗi!'

Và Chúa Giêsu nhận định rằng: 'Thày cho các con biết người này về nhà được công chính chứ không phải người kia; vì ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên' (Lk 18:13-14).

Bởi thế, qua hình ảnh Mathêu, các Phúc Âm cho chúng ta thấy một cái ngược đời thực sự, đó là ai có vẻ xa vời nhất với thánh đức lại có thể trở thành một mô phạm trong việc chấp nhận lòng thương xót Chúa, giúp họ có thể thoáng thấy được những hiệu năng của lòng xót thương này nơi cuộc sống của họ.

Về vấn đề này, Thánh Gioan Chrysostom đã có một nhận định đáng kể. Ngài nhận định rằng nơi trình thuật về ơn gọi thì chỉ có một vài người được kêu gọi là có liên quan tới công việc họ đang hành sự. Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan đã được kêu gọi khi các vị đang đánh cá; Mathêu được kêu gọi khi anh đang thu thuế.

Chúng là những công việc có tầm vóc không quan trọng là bao, Thánh Chrysostom nhận định: 'không còn gì đáng ghê tởm hơn là viên thu thuế và không gì tầm thường hơn là việc đánh cá' ("In Matth. Hom": PL 57, 363).

Bởi thế, lời kêu gọi của Chúa Giêsu cũng vươn tới cả thành phần ở tầm cấp thấp kém, thành phần làm những việc tầm thường của mình.

Một ý tưởng khác cũng xuất phát từ trình thuật Phúc Âm, đó là việc Mathêu tức khắc đáp lại lời mời gọi của Chúa Giêsu: 'Ông đã đứng lên đi theo Người'. Lời vắn gọn của câu này nhấn mạnh đến tính cách tức khắc nơi việc Mathêu đáp lại lời kêu gọi.

Đối với ông thì điều này có nghĩa là từ bỏ hết mọi sự, nhất là một nguồn lợi tức vững chắc, mặc dù thường bất chính và bất xứng. Hiển nhiên là Mathêu hiểu rằng mối thân tình với Chúa Giêsu không cho phép anh tiếp tục những hoạt động không đẹp lòng Chúa.

Người ta có thể dễ dàng trực giác thấy rằng vấn đề này cũng có thể được áp dụng cho hiện nay nữa, ở chỗ, ngày nay người ta cũng không thể chấp nhận việc gắn bó với những gì bất xứng hợp với việc theo Chúa Giêsu, như những thứ giầu sang gian dối. Có lần Người đã công khai phán rằng: 'Nếu anh muốn nên trọn lành thì hãy về bán những gì mình có mà cho kẻ khó để có được nước trời; rồi hãy đến mà theo Tôi' (Mt 19:21).

Đó chính là những gì Mathêu đã làm: Anh đã chỗi dậy đi theo Người! Nơi việc 'đứng dậïy' này người ta có thể thấy được việc ly thoát với tình trạng tội lỗi, đồng thời, thấy được cả việc ý thức gắn bó với một sự sống mới, chính trực, hiệp thông với Chúa Giêsu.

Sau hết, chúng ta nhớ lại rằng truyền thống của Giáo Hội sơ khai đồng ý với việc gán tác giả quyền của cuốn Phúc Âm thứ nhất cho Mathêu. Việc này được bắt đầu với Papias, vị giám mục của Gerapolis ở Phrygia, vào khoảng năm 130.

Vị giám mục này viết rằng: 'Mathêu đã viết những lời của Chúa Giêsu bằng tiếng Do Thái, và mỗi người giải thích những lời ấy tuỳ họ có thể' (in Eusebius of Caesarea, "Hist. eccl.", III, 39, 16). Sử gia Eusebius còn thêm chi tiết là: 'Mathêu, vị trước đó đã giảng dạy cho người Do Thái, khi quyết định đi đến với cả các dân tộc khác nữa, thì đã viết bằng tiếng mẹ đẻ của mình Phúc Âm ngài đã loan truyền: Nhờ đó ngài đã thay thế, bằng bản viết của mình, những gì họ, thành phần ngài lìa bỏ, bị mất mát đi bởi việc ra đi của ngài' (Ibid., III, 24, 6).

Chúng ta không còn bản Phúc Âm được Thánh Mathêu viết bằng tiếng Do Thái hay Aramaic, mà là bản Phúc Âm bằng tiếng Hy Lạp là bản được lưu lại cho tới chúng ta, chúng ta vẫn tiếp tục nghe, ở một nghĩa nào đó, tiếng nói thuyết phục của người thu thuế Mathêu, vị mà khi trở thành tông đồ đã tiếp tục loan truyền cho chúng ta tình thương cứu độ của Thiên Chúa.

Chúng ta hãy lắng nghe sứ điệp này của Thánh Mathêu, chúng ta hãy suy niệm sứ điệp ấy luôn mãi để chúng ta có thể cương quyết dứt khoát chỗi dạy theo Chúa Giêsu.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 30/8/2006

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 411 =DUNG TAY VAO NUOC PHEP PDF Print E-mail

Nhiều tín hữu khi vào nhà thờ, thì chấm tay vào một bình nước và làm dấu thánh giá. Cử chỉ đó có ý nghĩa gì vậy?

THU HẰNG CHUYỂN
Khi người tín hữu vào nhà thờ và chấm tay vào một bình nước, thì họ thâm tín rằng nước đó
không phải như nước máy hay nước giếng, nhưng họ coi đó là nước thánh hoặc nước phép.

Tuy nhiên, theo các sử gia, thì vào những thế kỷ đầu, các tín hữu trước khi vào nhà thờ không phải
chỉ nhúng ngón tay vào một bình nước nhưng thực sự là nhúng tay hay trầm mình vào bồn nước nữa.
Tại sao có chuyện đó? Vì một lý do dễ hiểu.
Sau khi đi đường bụi bặm, trước khi vào nhà thờ, cần rửa mặt mũi tay chân cho sạch sẽ.
Khi chúng ta đến nhà người khác cũng vậy: thường ông chủ sai mấy đứa nhỏ bưng chậu nước
để khách rửa tay rửa mặt, rồi sau đó mới tiếp chuyện.

Từ một tập tục có tính cách vệ sinh thể chất và tâm thần (nghĩa là việc rửa mặt rửa tay đem lại sự mát mẻ thoải mái),
sự chuyển sang ý nghĩa thiêng liêng đạo đức không xa xôi gì!
Khi chúng ta đi chầu Chúa, chúng ta cũng cần giữ gìn thân thể và nhất là tinh thần được sạch sẽ,
nhờ đó việc cầu nguyện (tức là đàm đạo với Chúa) mới có kết quả hơn.
Ta nhận thấy tâm tình này phát hiện nơi nhiều tôn giáo, khi mà các thiện nam tín nữ phải đi tắm rửa
trước khi lên chùa hay lên đền. Cách riêng tại Hy-lạp và Rôma, ở các cửa đền, người ta cất một bồn nước,
hay giếng nước để các tín hữu thanh tẩy trước khi tế tự.

Qua Phúc âm theo thánh Gioan 9,7 ta cũng biết rằng tại chính đền thánh Giêrusalem cũng có giếng nước Siloê,
dùng để múc nước thanh tẩy. Kitô giáo cũng du nhập tập tục đó.
(xem tiếp bên dưới)

Vì thế không lạ gì, mà ở các nhà thờ cổ ở Rôma thường có giếng nước ở cửa ra vào (gọi là cantharus),
để các Kitô hữu rửa ráy mặt mày tay chân. Thế nhưng cũng ngay từ những thế kỷ đầu, các giáo phụ đã sớm
lưu ý các tín đồ rằng: rửa mặt rửa tay chưa đủ để vào đền Chúa, còn phải rửa tâm hồn cho sạch tội nữa.
Thí dụ như Tertullianô đã viết: khi cầu nguyện, việc dang hai cánh tay trong sạch lên trời chưa đủ,
còn phải giơ ra con tim trong trắng khỏi vết nhơ tội lỗi nữa (De oratione, 13).

Đúng như vậy, lúc đầu các tín hữu ra giếng để rửa mặt rửa tay để cho thân thể sạch sẽ và tâm thần
thoải mái; và các vị mục tử khuyến khích họ hãy nghĩ tới sự sạch sẽ trong linh hồn nữa để xứng đáng gặp gỡ Chúa.
Nhưng dần dần, Giáo hội đã đặt ra một nghi thức làm phép nước, để cầu xin Chúa ban cho
những ai dùng nó được hưởng những công hiệu mà nước tượng trưng. Từ đó mà có chuyện "nước phép".

Nhưng chúng ta nên hiểu cho đúng từ ngữ "nước phép". Có lẽ trong đầu óc của nhiều tín hữu, "nước phép"
có nghĩa là nước có mang theo phép mầu gì đó, nước có phù phép. Sự thực không phải như vậy.
"Nước phép" là nói tắt của từ ngữ "nước đã làm phép", dịch nôm na bởi từ tiếng La- tinh aqua benedicta (eau bénite).
Đúng ra, benedicere không phải là làm phép theo nghĩa là gắn phù phép; nhưng là "chúc lành" (bene-dicere: nói tốt),
xin Chúa chúc lành, ban phúc.

Dĩ nhiên, một câu hỏi tự nhiên nảy ra trong đầu là: cái phúc gì vậy? Đây là cả một thiên lịch sử dài dòng.
Xem ra cái phúc lành tự nhiên hơn cả là sự thanh luyện tâm hồn, tẩy luyện khỏi các vết nhơ tội lỗi;
nhưng dần dần người ta tiến thêm một bước nữa để xin tẩy luyện tận căn rễ của các tội lỗi, tức là ma quỷ.
Và xét vì ma quỷ không phải chỉ cám dỗ con người phạm tội, mà nó còn là tác giả của bao nhiêu sự dữ khác
(thí dụ như bệnh tật) cho nên không lạ gì mà phụng vụ cũng cầu xin những phúc lành đó trong khi làm phép nước.

Khi làm phép nước, linh mục còn bỏ muối vào, vì thế nước phép mặn như nước biển, tại sao vậy?

Thực ra trong số những phúc lành vừa kê ra trên đây, (thanh tẩy khỏi tội lỗi, thanh tẩy khỏi ma quỷ,
thanh tẩy khỏi các bệnh tật), ta thấy rằng Giáo hội đã cố gắng du nhập một số ý nghĩa của nước đã được
các tôn giáo cổ truyền gán cho. Và trong nghi thức làm phép nước cũng vậy, Giáo hội cũng du nhập một số
chất liệu với ý nghĩa đã có ở các tôn giáo cổ truyền. Để rõ ràng hơn, thiết tưởng cần phải phân biệt
nhiều nghi thức làm phép nước (hay nghi thức chúc lành).

1/ Nghi thức cổ điển hơn cả là làm phép nước dùng vào bí tích rửa tội. Lúc đầu, nước dùng để rửa tội là nước
tự nhiên từ sông ngòi. Nhưng từ giữa thế kỷ II, đã có tập tục làm phép nước rửa tội,
nghĩa là xin Thánh Thần thánh hóa nước, ban cho nó những công hiệu thần linh của bí tích này:
vừa thanh tẩy khỏi tội lỗi, vừa tái sinh vào đời sống mới. Vì thế không lạ gì mà việc làm phép nước rửa tội
cũng mang kèm theo những dấu chỉ của bí tích: thí dụ như vào thời Trung cổ, linh mục hà hơi trên nước
(biểu hiệu của Thánh Thần xuống trên nước), hoà dầu thánh, và nhúng cây nến Phục sinh.

2/ Bên cạnh việc làm phép nước rửa tội, còn có nghi thức làm phép nước để dùng vào việc thanh tẩy
và thánh hóa các tín hữu. Có thể là lúc đầu, các tín hữu xin mang nước rửa tội về nhà làm kỷ niệm;
nhưng từ thế kỷ VI, sách phụng vụ đã nói tới một nghi thức làm phép nước, khác với nước dùng trong bí tích rửa tội.

Nước này có pha muối. Theo các sử gia, có lẽ vì người thời cổ tin rằng muối có sức trừ tà,
thí dụ như khi rắc muối ở trước cửa nhà để xua đuổi tà ma. Và có lẽ Giáo hội cũng du nhập tập tục đó,
để thêm vào một ý nghĩa mới cho nước phép, tuy rằng trong lời nguyện chúc lành,
phụng vụ trưng dẫn tích của ngôn sứ Êlisêo đã rắc muối xuống suối nước của thành Giêricô để chữa lành
cho nó (2V 2, 20-21). Vì thế mà chị thấy nước phép mằn mặn.

Nước rửa tội thì dùng vào việc rửa tội; thế còn nước phép thì dùng để làm gì?

Trải qua lịch sử, ta thấy Giáo hội cũng như các tín hữu đã sử dụng nước phép vào những hoàn cảnh khác nhau.
Trước hết một số tín hữu xin nước phép đem về nhà riêng. Họ rảy trên thân nhân và nhà cửa của mình,
với ước nguyện xin Chúa ban ơn tẩy luyện các thân thuộc và đồ đạc của mình khỏi tội lỗi và bệnh tật,
khỏi bị quỷ ma quấy phá. Còn Giáo hội thì cũng dùng nước phép ở những cơ hội khác nhau.
Một trường hợp đa nói ở đầu, là đặt ở cửa nhà thờ, để các tín hữu làm dấu thánh giá trên mình,
xin Chúa thanh tẩy trí lòng cũng như tâm hồn, để xứng đáng vào hầu cận Chúa.

Ơn thanh luyện này được cầu xin cách tập thể với nghi thức rảy nước thánh trên tất cả các tín hữu
trước khi cử hành Thánh lễ ngày Chúa nhật. Tập tục này đã có từ thế kỷ IX (Đức Giáo hoàng Lêo IV, 847-855).

Việc rảy nước thánh trên các tín hữu kèm theo bài hát lấy từ thánh vịnh 51:
"Lạy Chúa, xin dùng cành hương thảo rảy nước trên con, thì con được sạch, xin rửa con thì con được trắng hơn tuyết".
Do đó ta thấy ý nghĩa của nó là thanh tẩy linh hồn trước khi cử hành thánh lễ.

Thế nhưng ở trong mùa Phục sinh, thì hát bài "Tôi đã thấy nước từ bên phải đền thờ chảy ra",
xem ra không phải chỉ có ý nghĩa thanh tẩy tội lỗi?

Đoạn văn này trích từ ngôn sứ Êdêkiel chương 47, nhưng được phụng vụ áp dụng theo nghĩa rộng hơn:
nước từ bên cánh phải đền thờ được coi như hình bóng của nước và máu trào ra từ cạnh sườn bên phải
của đức Kitô trên thập giá, mang lại ơn cứu rỗi cho loài người. Nói khác đi, bên cạnh ý nghĩa thanh tẩy,
phụng vụ còn muốn thêm một ý nghĩa nữa cho việc rảy nước phép ngày Chúa nhật, đó là kỷ niệm bí tích thánh tẩy,
nhờ đó chúng ta tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh của đức Kitô: không những là nước ấy thanh tẩy chúng ta khỏi vết nhơ
tội lỗi nhưng còn mang lại cho ta những hồng ân khác, tỉ như ban cho ta ơn được làm con cái Chúa.

Ngoài việc rảy nước thánh trên các tín hữu trước khi cử hành Thánh lễ, linh mục còn rảy nước thánh trên
các đồ vật sau khi đã làm phép chúng, thí dụ khi làm phép ảnh tượng, tràng chuỗi. Tại sao lại phải rảy nước thánh như vậy?

Ý nghĩa của việc rảy nước thánh như vậy xem ra không rõ lắm. Có lẽ nó bắt nguồn từ nghi lễ cung hiến đền thờ.
Vào những thế kỷ đầu tiên, sau khi đế quốc Rôma trở lại đạo Kitô, không thiếu lần thay vì đập phá những đền thờ của tôn giáo cũ,
thì người ta biến nó làm nơi thờ tự cho các tín hữu. Trong lễ nghi cung hiến,
người ta rảy nước thánh trên các tường nhà thờ, có lẽ với ý nghĩa trừ tà.

Những đền thờ này, trước đây đã được dùng thờ cúng ngẫu tượng tà thần ma quỷ,
nay cần được tẩy uế, để dâng hiến cho Thiên Chúa. Có lẽ từ đó mà người ta dùng nước thánh
không những khi cung hiến các nơi được dành cho việc phụng tự, mà rảy trên những vật dụng (tượng ảnh, tràng hạt)
dùng vào việc thờ phượng: ra như tẩy uế cho chúng, để thánh hóa chúng, nghĩa là dâng hiến chúng cho Chúa.

Nói khác đi, ta có thể giải thích rằng cũng như việc rảy nước phép trên các tín hữu nhắc nhở họ nhớ đến
bí tích rửa tội, thì việc rảy nước thánh trên các đồ vật ra như cũng cho phép chúng tham dự cách nào đó vào bí tích rửa tội,
vào mầu nhiệm cứu chuộc của đức Kitô vậy, khi chúng được trở nên dụng cụ thánh hoá con người.

Thật vậy, những đồ vật (thí dụ ảnh tượng) được coi là thánh không phải vì nó mang theo bùa phép gì,
nhưng mà vì nó giúp cho con người nên thánh, thí dụ khi nhìn ngắm bức tượng để nâng lòng
lên cùng Chúa, để cầu nguyện, vân vân.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, op.

-----------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 410- XUNG TOI CUA NHAU PDF Print E-mail

NGẪU TƯỢNG ĐẠO THEO

Chẩn Bệnh, Chứng Bệnh và Trị Bệnh

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

20- Xưng tội của nhau

Có những trường hợp buồn cười xẩy ra là ngay trước khi xưng tội hay đang đứng xếp hàng chờ xưng tội thì lại phạm tội thêm. Thường xẩy ra như vậy khi hàng người xưng tội thì dài mà hối nhân đang ở trong tòa giải tội bấy giờ thì không biết đến bao giờ ra. Không biết có phải là hối nhân đang xưng tội ấy xưng quá nhiều tội chăng? Hay hối nhân lợi dụng bàn hỏi với vị giải tội về đời sống đạo hoặc thắc mắc xem những gì mình bối rối không biết có phải là tội hay chăng để mà xưng v.v.? Nhưng theo kinh nghiệm thì dường như đa số hối nhân chẳng những xưng tội mình còn xưng tội cho cả người khác nữa nên mới lâu như vậy.

Chẳng hạn thay vì xưng: "Trình cha con chửi vợ con 3 lần", thì lại còn xưng thêm tội của vợ mình "vì vợ con nó chẳng những dám cãi tay đôi với con mà còn thách thức con chửi nó nữa". Hoặc: "Trình cha con đã ngoại tình 1 lần", thì lại xưng thêm tội của chồng mình: "vì chồng con bê tha cờ bạc, rượu chè, không quan tâm gì đến con, thậm chí lại còn la mắng con". Nghĩa là "lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại anh chị em một phần". Như thế thì ăn năn dốc lòng chừa ở chỗ nào. Hối nhân đâu có hoàn toàn nhận tội đâu mà sửa, mà thật lòng thống hối ăn năn.

Trong một lần giúp tĩnh tâm ở Giáo Phận Fortworth vào đầu tháng 6/2017, trong tình trạng bất ngờ thiếu linh mục. Thay vì 3 vị như dự tưởng thì chỉ còn 1 vị duy nhất. Để giúp cho vị linh mục duy nhất này và trên 40 anh chị em tham dự tĩnh tâm có thể xưng tội trong một thời gian có hạn, tôi đã đề nghị gợi ý với quí anh chị ấy kiểu xưng tội short cut / express - đốt giai đoạn như sau:

1- chỉ xưng tội của mình, đừng xưng thêm tội của bất cứ người nào, nghĩa là đừng thêm chữ "vì" thế này thế kia sau tội của mình;

2- đọc kinh ăn năn tội trước khi vào xưng tội, vì phải ăn năn rồi mới xứng thú, chứ không phải xưng thú rồi mới ăn năn;

3- chỉ xưng một số tội thật sự cần xưng, ngoài tội trọng ra và một số tội có tính cách nghiêm trọng, chứ đừng xưng các lỗi lặt vặt chẳng bao giờ chừa được, như đọc kinh chia trí v.v.

Có thể tóm gọn 3 chi tiết trên đây vào một câu mở đầu xưng tội như sau: "Thưa cha, trong 1/2/3/4/5 (tuần, tháng, năm) qua, sau khi xét mình lại, con cảm thấy hết sức hối hận về những hành vi cử chỉ con đã phạm đến Chúa vô cùng cao cả và thiện hảo của con ở một số điều sau đây: thứ nhất, con đã...; thứ hai con đã...; thứ ba con đã... Còn những gì con vô tình quên sót, cũng xin cha tha thứ cho con. Con đã ăn năn dốc lòng chừa, giờ đây xin cha ban phép giải tội cho con." Tối hôm đó, vị linh mục duy nhất ấy đã giải tội cho 40 anh chị em tham dự tĩnh tâm trong vòng hơn 30 phút đồng hồ một chút!

Cũng liên quan đến vấn đề xưng tội, đôi khi hay nhiều khi chúng ta phạm tội ngay khi đang chờ xưng tội, ở chỗ, chúng ta tỏ ra bực tức đến ghét mặt ai đó ở trong tòa giải tội trước chúng ta, khi họ vì lý do nào đó bắt chúng ta phải chờ lâu, nhất là khi gần hết giờ xưng tội ấn định, và nhất là ở trong trường hợp chúng ta đã cố gắng sắp xếp mãi mới giành được giờ đến tòa giải tội: "thắng cha nào đó" hay "con mẹ nào đó" xưng tội sao mà lâu thế!? Chờ cho hối nhân đó ra để nhìn xem là ai cho bõ tức. Để rồi tới phiên mình vào tòa không biết chúng ta có nhớ mà xưng tội vừa mới phạm ấy hay chăng, hay có xưng thì lại xưng rằng: "con cảm thấy tức giận người anh chị em con xưng tội trước con, (vì nó xưng tội lâu quá trong khi con mãi mới có giờ đi xưng tội như hôm nay)..."

Nếu sống đức tin kiểu đạo theo thì chúng ta dễ dàng có những thái độ và hành vi cử chỉ tương tự như vậy, ở chỗ, chúng ta trọng hình thức (xưng tội) hơn tinh thần (bác ái), coi phương tiện (bí tích) hơn cùng đích là đức ái trọn hảo, tức là chính Thiên Chúa.

Trong chuyến Hành Hương Thời Điểm Fatima 2017, vào chính ngày 13/5, thời điểm mừng kỷ niệm đúng 100 năm Thánh Mẫu Fatima, tôi và một số anh chị em Tông Đồ Chúa Tình Thương trong phái đoàn hành hương của tôi không được rước lễ. Vì chúng tôi cần phải đứng tại chỗ vừa để giữ đồ cho nhau vừa để làm dấu chỉ điểm chỗ tụ họp chung nhóm nhờ đó khỏi lạc nhau như lễ đêm hôm trước. Nên đến khi chúng tôi cố gắng chen được tới chỗ rước lễ thì hết Bánh Lễ.

Không biết những anh chị em cố gắng chen lấn đến bất lịch sự để rước Chúa cho bằng được trước chúng tôi như chúng tôi thấy bấy giờ, cảm thấy như thế nào - chắc có thể vì sự sốt sắng nhà Chúa thiêu đốt tôi hay chăng (xem Gioan 2:17). Riêng tôi, thà không được rước lấy Vị Thiên Chúa là Tình Yêu vô cùng nhân hậu còn hơn là tranh giành nhau đến lỗi đức bác ái để làm sao rước lấy Người cho bằng được. Tôi cảm thấy rất khao khát rước lấy Người, nhưng không thể vì thế mà phạm đến Người, khi chen lấn xô đẩy những người anh chị em khác cũng khao khát rước lấy Người.

Đối với tôi, thà để cho họ được rước lấy Người còn tôi bị hụt hẫng còn hơn. Vì chính lòng khao khát Thánh Thể của tôi hợp với đức bác ái yêu thuơng của tôi chính là những yếu tố thiết yếu bất khả thiếu để tôi được hiệp nhất nên một với Vị "Thiên Chúa là thần linh trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24). Không ngờ, chiều tối hôm đó, Đấng thấu suốt mọi sự đã bù đắp cho chúng tôi bằng cách dẫn chúng tôi đến kính viếng Đền Thờ Ba Ngôi Cực Thánh ở cuối Quảng Trường Fatima, nơi bắt đầu có Thánh Lễ mà chúng tôi không biết. Thế là chúng tôi đã được rước lấy Người để được hiệp nhất với Người bằng cả thân xác tro bụi của chúng tôi nữa.

-------------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 91