mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay9010
mod_vvisit_counterHôm Qua7385
mod_vvisit_counterTuần Này57115
mod_vvisit_counterTuần Trước68243
mod_vvisit_counterTháng Này297187
mod_vvisit_counterTháng Trước351972
mod_vvisit_counterTất cả20814881

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - PDF Print E-mail

Kim Vu
>
>

> THÁNH GIOAKIM (JOACHIM) VÀ THÁNH ANNA (ANNE)
>
>
>
> Thánh Gioakim và Thánh Anna là song thân của Đức Mẹ, tức là Ông Bà Ngoại của Chúa Cứu Thế Giêsu. (Xin được mở ngoặc: Có một số người thường viết lộn hoặc đọc sai là Gioan-kim).
>
>
>
> Tên Gioakim được tạo bởi chữ YHWH (tiếng Do thái: יְהוֹיָקִים Yəhôyāqîm, tiếng Hy Lạp: Ἰωακείμ Iōākeím), nghĩa là "sự chuẩn bị của Gia-vê".
>
>
>
> Thánh Gioakim là Phu quân của Thánh Anna và là Thân phụ của Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ của Chúa Giêsu, theo truyền thống Công giáo Rôma, Chính Thống giáo, và Anh giáo. Câu chuyện về Thánh Gioakim và Anna xuất hiện lần đầu tiên ở ngụy thư Phúc Âm thánh Giacôbê. Thánh Gioakim và Thánh Anna không được nhắc tới trong Kinh Thánh.
>
>
>
> Hai Ông Bà được Giáo hội kính nhớ vào ngày 26 tháng Bảy hằng năm. Đây là ngày lễ của những người đã làm ông bà (nội hay ngoại). Lễ này nhắc nhớ quý ông bà nội ngoại về trách nhiệm xây dựng các thế hệ tương lai, phải tạo truyền thống gia phong lễ giáo như phần di sản đạo đức làm của hồi môn cho cháu chắt. Tuy nhiên, lễ này cũng là lời nhắn nhủ dành cho thế hệ trẻ: Phải tôn kính người lớn hơn mình, nhất là những người già, phải biết trải nghiệm, đánh giá cao cuộc sống chứ không được coi nhẹ hoặc làm ngơ.
>
>
>
> Gia phả của Chúa Giêsu trong Phúc Âm thánh Matthêu và Luca không nói rõ tên cha mẹ của Đức Maria, nhưng có liệt kê tên người cha của thánh Giuse, nhiều học giả trong nhóm của John ở Damascus (thế kỷ 8), và đặc biệt là các học giả Tin Lành, tranh luận rằng gia phả trong Phúc Âm theo thánh Luca mới đúng là phả hệ của Đức Mẹ, và Heli là cha. Để giải quyết vấn đề thánh Giuse có hai người cha – một thuộc dòng dõi Vua Salomom, hậu duệ của Nathan, con Vua Đa-vít, truyền thống từ thế kỷ 7 xác định rằng Heli là anh em họ đầu tiên của Thánh Gioakim.
>
>
>
> Theo truyền thống, Bà Anna sinh tại Belem, kết hôn với Ông Gioakim người Nadaret, cả hai đều là dòng dõi thánh vương Đa-vít. Trong Protoevanggelium của thánh Giacôbê, thánh Gioakim được mô tả là người giàu có và đạo đức, thường giúp đỡ người nghèo và tới Đền thờ tại Sepporis. Truyền thống nói rằng cha mẹ của Đức Maria mới đầu sống ở Galilê, sau đó định cư ở Giêrusalem. Tuy nhiên, Bà Anna là phụ nữ son sẻ, ông Gioakim bị các thầy thượng tế sa thải và từ chối lễ vật hy sinh của ông, vì việc Bà Anna không có con được hiểu là việc không đẹp lòng Chúa. Ông Gioakim rút vào hoang địa để ăn chay và đền tội 40 ngày. Lúc đó các thiên thần hiện ra hứa với Ông Bà Gioakim và Anna là sẽ có con nối dõi. Sau đó, ông Gioakim trở lại Giêrusalem và đón bà Anna tại cổng thành. Có niềm tin cổ cho rằng đứa con sinh bởi người mẹ già là đã được tiền định về điều gì đó kỳ lạ. Trong Cựu ước có trường hợp của Bà Hannah, Thân mẫu của Ngôn sứ Samuel.
>
>
>
> Truyền thuyết liên quan Ông Bà Gioakim và Anna có trong "Cổ Tích Vàng" (Golden Legend) và vẫn phổ biến trong nghệ thuật Kitô giáo cho tới khi Công đồng Trentô xác nhận đó là các sự kiện ngụy tạo.
>
>
>
> Phụng vụ theo lịch Tridentine không có lễ Thánh Gioakim. Lễ này được thêm vào Công Lịch Rôma từ năm 1584, mừng vào ngày 20-3, ngay sau lễ Đức Thánh Giuse Phu quân Đức Mẹ. Năm 1738, lễ này được chuyển sang Chúa nhật sau tuần bát nhật lễ Đức Mẹ Mông Triệu. Với nỗ lực để Phụng vụ các Chúa nhật được cử hành, Đức Giáo Hoàng Piô X đã chuyển lễ này sang ngày 16 tháng Tám, sau lễ Đức Mẹ Mông Triệu, để Thánh Gioakim được kính nhớ trong khi cử hành cuộc khải hoàn của Đức Mẹ. Trong lịch các thánh của Giáo hội Công giáo Rôma (năm 1969), lễ Thánh Gioakim được mừng chung với Thánh Anna vào ngày 26 tháng Bảy.
>
>
>
> Giáo hội Chính thống Đông phương và Công giáo Hy Lạp kính nhớ thánh Gioakim và thánh Anna vào ngày 9 tháng Chín. Thánh Gioakim và thánh Anna là thánh bổn mạng của các cha mẹ, các ông bà nội ngoại, những người kết hôn, những người đóng tủ và những người buôn vải. Có một số biểu tượng gắn liền với thánh Gioakim: Cuốn sách hoặc cuộn giấy tượng trưng người dệt vải, chiếc gậy chăn chiên tượng trưng chữ nghĩa của Kitô giáo, và cái rổ đựng đôi chim bồ câu tượng trưng sự hòa bình. Thánh Gioakim thường có trang phục màu xanh lá cây, màu của niềm hy vọng.
>
>
>
> Trong Kinh thánh, hai thánh sử Matthêu và Luca cung cấp gia phả của Chúa Giêsu, cho thấy rằng Chúa Giêsu là đỉnh cao của Giao ước (những lời hứa). Chúng ta không biết gì nhiều, ngay cả ông bà ngoại Gioakim và Anna cũng chỉ được nhắc tới sau khi Chúa Giêsu chịu chết được hơn 100 năm.
>
>
>
> Đức tính anh hùng và sự thánh thiện của các ngài được suy ra từ bầu khí gia đình liên quan Đức Maria trong Kinh thánh. Dựa vào truyền thuyết thời thơ ấu của Đức Maria hoặc suy đoán từ thông tin trong Kinh thánh, chúng ta thấy sự viên mãn của nhiều thế hệ của những con người cầu nguyện, chính Đức Mẹ đã say đắm cầu nguyện theo truyền thống tôn giáo.
>
>
>
 Tính cách mạnh mẽ của Đức Maria thể hiện khi quyết định "xin vâng" (Lc 1:38), liên lỉ cầu nguyện, tuân thủ luật đức tin, sự vững vàng khi gặp khủng hoảng, và tận tụy với những ngườ>i thân (Lc 1:39-45) – cho thấy gia đình gắn bó yêu thương, trông mong thế hệ kế tiếp duy trì những điều tốt đẹp nhất của quá khứ.
>
>
>
> Ông Bà Gioakim và Anna biểu hiện các thế hệ khá lặng lẽ khi trung thành thực hiện trách nhiệm, sống đức tin và thiết lập môi trường tốt lành cho Đấng Thiên Sai tới.
>
>
>
> Lạy Thánh Gioakim và Thánh Anna, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con. Amen.
>
>
>
> Nguồn: https://ditimchanly.org
>
----------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - GIEO SUY NGHĨ TỐT PDF Print E-mail

Chi Tran

GIEO SUY NGHĨ TỐT
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC CHO NGƯỜI TRẺ CÔNG GIÁO

Câu hỏi:

*Con thấy mình hay có những suy nghĩ mang ý hướng phạm tội, làm thế nào loại bỏ suy nghĩ đó?

Trả lời:

Khi Đức Giêsu chữa lành người bại liệt, các Kinh sư và Biệt phái liền nghĩ xấu về Người, nhưng Đức Giê-su biết ý nghĩ của họ, liền nói : "Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy." (Mt 9,4).

Thiên Chúa nhìn thấy mọi bí mật sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Thiên Chúa là một vị quan toà nghiêm khắc, và sẵn sàng trừng phạt mỗi khi chúng ta có suy nghĩ xấu. Theo Giáo Lý, ý nghĩ xấu tự nó không phải là tội. Một suy nghĩ xấu sẽ trở thành tội khi ta ưng thuận với suy nghĩ đó. Thánh Augustinô dạy rằng, ở đâu không có sự đồng thuận, ở đó không có tội.[1]

Bạn thân mến,

Các thánh cũng bị cám dỗ, cũng có những suy nghĩ xấu và tiêu cực. Thánh Phaolô đã thừa nhận, mặc dù nhận được ơn hoán cải và trở nên một với Đức Ki-tô, nhưng thân xác ngài như "bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại." (Cr 12,7). Thánh nhân đã ba lần cầu nguyện với Thiên Chúa để được giải thoát khỏi cám dỗ này. Thiên Chúa trả lời rằng, ân sủng của Thiên Chúa thì đủ cho thánh nhân: "Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối" (Cr 12,8-9). Thiên Chúa cho phép tôi tớ Ngài bị cám dỗ cũng như bị thử thách. Những thử thách ấy giúp tôi luyện ý chí và cải thiện sự bất toàn của họ.

Tuy nhiên, trong trường hợp bị cám dỗ về những suy nghĩ xấu, nếu chúng ta đồng thuận với suy nghĩ đó, thì chúng ta đã phạm tội. Hội Thánh gọi đó là tội trong tư tưởng. Một tư tưởng xấu với sự ưng thuận là một tội vì điều gì chúng ta không được phép làm, thì chúng ta cũng không được phép ao ước. Ao ước điều xấu cũng là một tội phạm đến Chúa, với tha nhân và với chính mình. Tội trong hành động khiến chúng ta lìa xa Thiên Chúa thế nào, thì suy nghĩ xấu, với sự ưng thuận, cũng khiến ta lìa xa Thiên Chúa thế ấy. Sách Khôn Ngoan dạy ta rằng: "Những suy nghĩ quanh co khiến con người lìa xa Thiên Chúa" (Kn 1,3). Vả lại, "Thiên Chúa quán thông, mọi hành vi, chính Người xét xử" (1 Sm 2,3).

Tuy nhiên, theo thánh Anphongsô Maria, giống như thần học luân lý chia tội thành hai loại. Chúng ta có thể chia suy nghĩ xấu làm ba loại:

- Tư tưởng chợt đến.

- Những tư tưởng mà ta đã thích thú đón nhận.

- Và thứ ba là sự đồng thuận với tư tưởng đó.

Điều này cho thấy rằng, nếu một suy nghĩ xấu xuất hiện trong tâm trí thì tự bản chất, đó chưa phải là tội. Trái lại, nếu ta chống lại suy nghĩ đó thì ta sẽ nhận được ơn ích, như thánh Antoniô nhắc nhở ta rằng: "Khi con kháng cự, con sẽ nhận được mũ triều thiên."

Ý thức được tính nguy hiểm của tư tưởng xấu và ảnh hưởng xấu của nó đến đời sống thiêng liêng, nhiều người đã nỗ lực cố gắng để vượt thắng. Tiếc là không ít người thất bại. Vậy làm sao để chúng ta gạt bỏ những tư tưởng xấu? Và nếu nó cứ đến thì ta phải làm gì?

Để tránh như tư tưởng xấu, chúng ta cần phải làm chủ các giác quan. Người ta vẫn thường nói con mắt là cửa sổ tâm hồn. Điều này cũng đúng với các giác quan khác như thính giác, khứu giác, vị giác... Thông qua các giác quan, mọi hình ảnh, tư tưởng sẽ đi vào tâm trí chúng ta. Vì lẽ đó, chúng ta cần lưu tâm đến thể loại nhạc ta nên nghe, các chương trình truyền hình, các loại phim ảnh chúng ta nên xem, các loại sách hay tạp chí nào ta nên đọc. Chúng ta cần tự hỏi, bộ phim này ảnh hưởng tốt hay xấu đến đời sống thiêng liêng của tôi. Những hình ảnh tôi xem có tác động thế nào đến những suy nghĩ của tôi?

Trong truyền thống Giáo hội, đây được gọi là cách thế để tránh dịp tội, thường bao gồm hai loại: dịp tội xa và dịp tội gần. Thánh Phaolô dạy chúng ta rằng: "Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy lưu tâm đến." (Phl 4,8). Thánh nhân mời gọi chúng ta lưu tâm, suy nghĩ và dành thời gian cho những gì đem lại sức sống cho đời sống thiêng liêng của chúng ta.

Ngoài ra, theo kinh nghiệm nhiều bậc khôn ngoan trong Giáo Hội, chúng ta cần xưng tội và cho cha giải tội biết những cám dỗ và cạm bẫy mà ma quỷ vẫn hay bày ra trước mắt chúng ta. Thánh I-nhã ví ma quỷ như một một kẻ si tình lẳng lơ, muốn giữ bí mật để khỏi bị lộ. Trong sách Linh Thao, thánh nhân viết:

"Quả vậy, một người đàn ông đồi bại dùng lời xảo trá quyến rũ một thiếu nữ con nhà lành, hoặc vợ một người đứng đắn, thì muốn cho những lời dụ dỗ của hắn được giữ kín; trái lại hắn rất bất mãn khi thiếu nữ mách với cha, thiếu phụ mách với chồng những lời quyến rũ và ý xấu xa của hắn, vì hẵn dễ dàng suy ra rằng, không thể nào thành công được với chuyện hắn đã bắt đầu" (số 326).

Do đó, theo lời dạy của thánh nhân, chúng ta được mời gọi để xưng tội và nói cho cha giải tội hay các cha linh hướng biết về những suy nghĩ xấu chúng ta thường gặp phải.

Đừng quên chạy đến với Chúa mỗi khi ta bị cám dỗ. Khi đó chúng ta phải nhớ đến Chúa. Qua lời Thánh Vịnh, chúng ta biết rằng, trong cơn hoạn nạn Vua Đavít đã thưa lên với Chúa rằng: "Tôi kêu cầu Chúa là Ðấng xứng muôn lời ngợi khen, và tôi được cứu thoát khỏi quân thù." (Tv 17,4). Khi ma quỷ dùng một tư tưởng xấu tấn công, bằng cách lặp đi lặp lại một tư tưởng xấu trong tâm trí, ta có thể dùng một câu lời Chúa hay kêu cầu đến danh Chúa, chắc chắn Ngài sẽ đến và giải thoát ta.

Ví dụ, khi bị cám dỗ, chúng ta có thể thầm đọc trong miệng rằng: "Lạy Chúa Giê-su, xin thương xót con." Bằng cách lặp đi lặp lại lời này, chắc chắn chúng ta sẽ vượt thắng cám dỗ. Khi đó, tư tưởng xấu không những không thể hại ta, mà còn là dịp cho ta đến gần với Chúa, trở nên thiết thân hơn với Người.

Để tránh suy nghĩ xấu và tiêu cực, bạn cần chống lại nó. Truyền thống Giáo Hội gọi hành động này là "agere contra". Nghĩa là "làm ngược lại" với những suy nghĩ tiêu cực hay xấu xa mà ma quỷ gợi ra cho chúng ta. Bạn áp dụng phương pháp này thử xem.

Một trong cách thế để tránh suy nghĩ xấu nữa: chúng ta suy nghĩ về những điều tốt, về những lý tưởng sống và ước ao tốt đẹp trong đời sống chúng ta. Ai cũng có những ước mơ cần được nuôi dưỡng, để theo đuổi ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực. Chúng ta cần có kế hoạch và hiện thực hoá kế hoạch đó. Một giấc mơ lớn trở thành hiện thực qua những bước nho nhỏ. Do đó, chúng ta hãy có những ước mơ lớn và hãy dành thời gian, tâm trí và sức lực để sống cho những ước mơ đó.

Đức Thánh Cha Phanxicô khuyên các bạn trẻ đừng đánh mất ước mơ của mình.[2] Hãy dám ước mơ và sống cho ước mơ của mình. Khi có những ước mơ đẹp, chúng ta sẽ không còn thời gian cho những suy nghĩ xấu. Thay vì dành thời gian chiến đấu với những điều xấu, tư tưởng xấu, ta hãy dành thời gian và năng lượng đó để ước mơ và sống cho những ước mơ của mình.

Cảm ơn bạn đã nêu câu hỏi mà hầu hết chúng ta đều vướng phải. Tư tưởng xấu không phải là một tội, nếu chúng ta chưa đồng thuận với tư tưởng đó. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là vô hại. Nó là virus, là mật ngọt chết ruồi, nên chúng ta cần để ý. Tư tưởng xấu có thể làm tổn hại đến đời sống thiêng liêng của chúng ta, làm chúng ta mất bình an và thường là một dịp dẫn đến tội.

   Để tránh tư tưởng xấu, chúng ta cần phải làm chủ giác quan của mình, siêng năng lãnh nhận bí tích hoà giải và sẵn sàng chia sẻ những cám dỗ với những vị hữu trách. Đồng thời, hãy dành thời gian và tâm trí để suy nghĩ về những điều tốt, về những ước mơ của mình.

Thân chào bạn!

Augustinô Nguyễn Minh Triệu, SJ

----------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - NƯỚC THÁNH / NƯỚC PHÉP PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Sat, Jun 5 at 7:37 PM

NƯỚC PHÉP ÂN SỦNG TUYỆT VỜI
Nước Thánh hay nước phép là nước đã được Linh mục làm phép nhân Danh Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống thể xác và linh hồn. Linh mục cầu xin Chúa ban phép lành cho nước để những ai tin tưởng mà dùng được Chúa ban ơn tha tội, được ơn chống lại bệnh hoạn và mưu kế ma quỉ (Lời nguyện khi làm phép nước). Khi giáo dân thành tâm tôn kính làm dấu Thánh giá nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần thì được ơn Tiểu xá Giáo hội ban (Tông huấn Ân xá, số 55).
Khi làm dấu Thánh giá với Nước thánh, giục lòng ăn năn tội thì được những ơn ích sau:

1. Được tha các tội mọn (do lòng ăn năn).
2. Được tha một số hình phạt tạm (do ân Tiểu xá).
3. Được sức khỏe phần xác theo Ý Chúa (do hiệu lực Nước thánh).
4. Được ơn chống cám dỗ (do hiệu lực Nước thánh).

Thánh Luca thuật lại dụ ngôn Chúa kể về người giàu và Lagiarô nghèo. Từ dưới Hỏa ngục người nhà giầu ngửa cổ lên van nài tổ phụ Abraham sai Lagiarô nhỏ xuống cho một giọt nước giải khát, nhưng tổ phụ Abraham nói là không được nữa, bởi đôi bên đang ở trong tình trạng khác, không còn giống như khi còn sống (Lc 16,24).

* Lịch sử Giáo hội Rôma cũng kể lại, nhờ rảy Nước thánh do Đức Giáo Hoàng Stephanô 6 làm phép đã giết được cả bầy châu chấu phá hại mùa màng.

* Linh mục Đắc Lộ (Alexander de Rhodes) kể rằng nhờ làm dấu Thánh giá bằng Nước thánh và rẩy Nước thánh mà các giảng viên giáo lý của ngài ở Việt nam đã được rất nhiều ơn lạ. Một lần ngài nhờ 6 giảng viên giáo lý đi thăm một làng có nhiều người bệnh, nhờ Nước thánh, họ đã chữa được 272 bệnh nhân (Charity p. 133).

Nước thánh mang lại ơn ích cho người đang sống và cũng là ân sủng cứu các linh hồn Luyện ngục. Một giọt Nước thánh nhiều khi có giá trị hơn một kinh dài, bởi nhiều khi đọc kinh dài, người ta khó cầm trí trọn vẹn được. Các linh hồn Luyện ngục khát khao Nước thánh lắm.

* Một người chết được chôn ở nghĩa địa thành Roma, nước Ý, đã chết 17 năm. Ông ta hiện về với Đấng Đáng kính Đaminh Giêsu Maria nài xin rảy Nước thánh cho mình để linh hồn ông ta được mát mẻ.

* Một thầy dòng Carmelô để sọ người trên bàn làm việc của thầy để dễ suy sự chết, một hôm thầy lấy Nước thánh rảy trên sọ ấy, liền nghe tiếng xin: "Rảy nữa! Rảy Nước thánh nữa!"

* Bà Đáng kính Mình Thánh Chúa thấy một sơ bạn đã qua đời thường hiện về xin rảy Nước thánh trên mộ mình để linh hồn được mát mẻ dưới Luyện ngục.

* Bà đáng kính Lindmayer đôi khi được Chúa nhắc cho rảy Nước thánh cho các người đã chết. Bà có thói quen rảy Nước thánh rồi mới đi ngủ. Một hôm bà vội vàng lên giường, quên rảy Nước thánh như thói quen thì nghe tiếng các linh hồn nài van, bà lập tức chỗi dậy rảy Nước thánh và không thấy tiếng kêu nài như trước (Charity 133).

Nếu các linh hồn Luyện ngục xin chúng ta một chút Nước phép để các ngài được mát mẻ, chúng ta đừng tiếc. Khi vào hay ra khỏi cửa nhà thờ đừng quên giơ tay chấm Nước phép làm dấu Thánh giá, giục lòng ăn năn tội, lãnh ân xá cầu cho các linh hồn.

Nhiều giáo dân đạo đức quen làm dấu Thánh giá bằng Nước phép trước khi ra khỏi nhà và khi trở về, khi rời khỏi phòng, trước khi đi ngủ, khi bị cám dỗ. Cha Mẹ nên dạy con cái năng dùng Nước phép để chúng được ơn phù hộ hồn xác và cứu giúp các linh hồn Luyện ngục.
vungtinvaochua

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LỄ MINH MÁU CHÚA PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Sat, Jun 5 at 9:12 PM

"Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy" (Mc 14,22):
NGUỒN GỐC LỄ MÌNH THÁNH CHÚA


Vào năm 1263, một linh mục người Đức đang cử hành Thánh lễ tại một nhà thờ kinh thánh KÍT-XI-A-NA (Christiana), lúc bẻ bánh trước khi rước lễ, vị linh mục này đã trông thấy Mình thánh hình bánh đã biến thành Thân Mình Đức GIÊ-SU tử nạn. Trên thân xác Chúa, máu đang rịn ra qua các vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người.
Máu chảy ra làm ướt tấm khăn thánh và mấy lớp khăn phủ trên bàn thờ. Vị linh mục vội gấp các tấm khăn bàn thờ lại. Nhưng gấp tới đâu thì máu vẫn thấm ra tới đó. Cuối cùng máu thấm qua tới 25 lần vải khăn. Vừa cảm động lại vừa sợ hãi đến nỗi vị linh mục không thể tiếp tục dâng hết thánh lễ được.
Sau đó, ngài đến xin yết kiến Đức Giáo hoàng UR-BA-NÔ và tường trình sự kiện lạ lùng ấy. Đức Giáo hoàng liền sai một phái đoàn, đứng đầu là một Giám mục đến điều tra thực hư.
Sau khi xác định thực sự là phép lạ, vị Giám mục đã cho rước Mình Thánh Chúa cùng các khăn bàn thờ đã có thấm Máu Thánh kia về RÔ-MA, đặt tại một nhà thờ kính phép Mình Thánh, và mời gọi giáo dân đến chầu Mình Thánh Chúa liên tục 24/24.

Sau đó, vào ngày mồng 8 thánh 9 năm 1264, Đức Urbanô đã ra sắc dụ truyền thiết lập lễ kính Mình Máu thánh Chúa GIÊ-SU và truyền mừng trọng thể lễ này trong toàn thể Hội thánh.
Post by : Anh Ngoc Tran

------------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ T. HUẤN -DIỀU RĂN THỨ TÁM PDF Print E-mail

Chi Tran chuyển

ĐIỀU RĂN CHÚA DẠY
Điều Răn Thứ Tám: „Chớ làm chứng dối"

Người Công Giáo phải tôn trọng sự thật như thế nào?
Hỏi: Xin cha giải thích rõ điều răn thứ tám và trường hợp được phép không phải nói sự thật.
Trả lời:
Thiên Chúa là Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối. Nghĩa là chỉ nơi Ngài mới có chân lý hay sự thật, sự thiện hảo và tuyệt mỹ mà thôi.
Chúa Giêsu cũng đã nói rõ điều này với các môn đệ: "Thầy là đường là sự thật và là sự sống." (Ga 14:6). Như thế, tôn trọng sự thật, sống và hành động trong chân lý là bước đi theo Chúa Kitô, sống theo đường lối của Thiên Chúa là làm điều đẹp lòng Chúa nhất vì nó thể hiện cách cụ thể ước muốn thuộc về Ngài là nguồn mạch mọi chân lý, công bình, yêu thương, nhân hậu, khoan dung và tha thứ.
Thế giới ngày nay điên đảo chỉ vì con người ở khắp nơi không biết tôn trọng sự thật, thích thề gian, dối trá, chà đạp công lý và bác ái để thi nhau làm những điều gian ác, xấu xa, không xứng đáng với nhân phẩm và địa vị của mình là "linh ư vạn vật" theo tinh thần văn hóa Đông Phương.
Chính vì không muốn hay không biết phân biệt làn ranh giữa sự thật và sự gian dối, sự thiện và sự dữ, cũng như không lấy sự thật làm thước đo cho mọi suy tư, quyết định và hành động nên không một ai có thể thuyết phục được người khác tin những hứa hẹn hoa mỹ về một thiên đường trần gian, dù hiểu theo cánh chung luận nào.
Riêng trong phạm vi tương giao giữa người với nhau, nếu không tôn trọng sự thật thì không ở đâu người ta có thể xây dựng được một liên hệ tốt đẹp, lâu bền để làm chung được việc gì hữu ích, vì chỉ có sự thật mới giải thoát con người khỏi "mọi thứ gian ác, mọi điều xảo trá, giả hình và ghen tương cùng mọi lời nói xấu gièm pha." (1 Pr 2:1)
Để tránh nguy cơ gian xảo đó, điều răn Thứ Tám của Chúa "cấm tráo trở sự thật trong mọi giao tiếp với tha nhân. Lời truyền dạy luân lý này xuất phát từ ơn gọi của dân thánh là dân được chọn làm nhân chứng cho Thiên Chúa là Đấng chân thật và là chân lý." (x. SGLGHCG, số 2464).
Sau đây là các tội phạm đến chân lý tức nghịch giới răn thứ tám cần phải tránh:
1- Nói dối là trực tiếp chối bỏ hay tráo trở sự thật về một sự kiện nào đó. Thí dụ, chối không nhận tội để khỏi bị phạt hay bồi thường thiệt hại cho người khác. Tùy hoàn cảnh và sự việc mà tội nói dối trở nên nặng hay nhẹ. Thí dụ, nói dối về phẩm chất của một món hàng để bán với giá cao, gây thiệt hại cho người tiêu thụ, thì lỗi đức công bằng và bác ái, đòi hỏi phải tôn trọng lợi ích tinh thần và thể lý của người khác như lợi ích của chính mình. Ngược lại, nếu nói dối về đời tư và lý lịch cá nhân để lường gạt tình và tiền của ai sẽ gây thiệt hại nặng cho người khác hơn là nói dối về phẩm chất món hàng.v.v . Thí dụ: nói dối mình chưa có chồng hay vợ để lừa gạt người khác kết hôn. Trong trường hợp này, hôn phối sẽ không thành sự (valid) theo giáo luật vì gian dối.
2- Làm chứng gian và bội thệ (false witness and perjury): đây là tội nặng không những đối với luật pháp xã hội mà đặc biệt nghịch điều răn thứ tám của Chúa truyền dạy xưa kia: "Ngươi không được làm chứng gian hại người" (Xh 20:16). Sau này, khi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã căn dặn các môn đệ: "Nhưng hễ 'có' thì phải nói 'có' 'không' thì phải nói 'không'. Thêm thắt điều gì là do ma quỷ." (x Mt 5:37)
Trong đời sống xã hội ở khắp nơi ngày nay, làm chứng gian và bội thệ có thể làm thiệt hại lớn lao cho người khác và ngăn cản thi hành công lý. Một phạm nhân có thể bị tù tội nhiều năm hay được trắng án vì lời chứng thực hay thề gian của nhân chứng. Vì thế, người bội thệ hay thề gian sẽ bị pháp luật trừng phạt đích đáng.
Trong Giáo Hội, làm chứng gian cũng gây trở ngại cho việc thành sự (validity) của bí tích. Thí dụ, "chứng gian cho một người đã kết hôn để người này dối gạt kết hôn với người khác thì hôn phối không thành sự (invalid)." (Giáo luật số 1098). Người chứng gian chắc chắn phạm tội lỗi giới răn Thứ Tám. Riêng ở Mỹ, khai gian (nói dối) để hưởng các trợ cấp xã hội như wellfare, foodstamps, single parent, bồi thường tai nạn xe cộ... đều có tội phạm điểu răn thứ tám và lỗi đức công bình. Ai giúp người khác khai gian, thề dối để kiếm lợi đều có tội nghịch điều răn thứ tám và phép công bình, đòi hỏi phải tôn trọng của công cũng như của riêng. Nghĩa là không thể nói: khai gian để lấy tiền của chính phủ hay của công ty thì không có tội, không có giáo lý nào dạy hay cho phép làm điều này.
Trường hợp không buộc phải nói sự thật:
Tuy nhiên, trong thực hành, luật đòi tôn trọng sự thật cũng không gạt bỏ thi hành đức bác ái Kitô Giáo trong một số trường hợp. Nghĩa là có những hoàn cảnh người ta không buộc phải nói sự thật cho người khác biết. Về điểm này, Giáo lý của Giáo Hội nói rõ như sau: "Vì lợi ích và sự an toàn của tha nhân, sự tôn trọng cuộc sống riêng tư và công ích, đó là lý do đủ để không cho người ta biết điều họ muốn biết."(x. SGLGHCG, số 2284).
Cụ thể áp dụng như sau:
1- Liên quan đến bí tích hòa giải, cha giải tội không được phép tiết lộ bất cứ điều gì nghe được từ hối nhân trong tòa giải tội, dù đó là lời thú tội ngoại tình hay sát nhân. Nghĩa là không được dùng những điều nghe được trong tòa giải tội để tố cáo hay làm hại ai vì bất cứ lý do nào. Đây là ấn tòa cáo giải (seal of confessions) buộc mọi linh mục phải tuyệt đối giữ kín. Ai vi phạm sẽ bị vạ tuyệt thông tiền kết. (x. Sđd,số 2490; giáo luật số 983 &1388 triệt 1)
2- Trong xã hội, những người có bổn phận giữ gìn bí mật quốc phòng liên hệ đến an ninh quốc gia, những luật gia, tâm lý gia, tâm lý trị liệu (psychotherapist) đều không được phép tiết lộ những bí mật quân sự và nghề nghiệp đòi buộc phải giữ kín vì lợi ích của quốc gia hay của các thân chủ đã tín nhiệm tiết lộ cho mình. Các bác sĩ cũng không cần phải nói sự thật về bệnh tình cho bệnh nhân biết để tránh gây hoảng hốt và thất vọng cho họ. (x. Sđd ,số 2491).
3- Riêng về đời tư của người khác, dù biết sự xấu của ai vì đức bác ái, không được tố cáo cho người khác biết về sự xấu còn đang trong vòng kín đáo. Thí dụ, biết người nào đang ngoại tình với ai, nhưng chuyện này còn trong vòng kín ít người biết. Mình biết được, thì đức bác ái đòi buộc không được tố cáo thêm cho người khác biết khiến sự xấu trở thành công khai, gây thiệt hại nặng cho danh dự của người liên hệ. Nếu có, trong trường hợp này, chỉ nên cầu nguyện cho họ, và nếu thuận tiện, thì tìm cách kín đáo khuyên bảo họ theo tinh thần lời dạy của Chúa Giêsu về việc "sửa lỗi anh em" (Mt 18: 15-17) mà thôi.
Nói khác đi, không ai có bổn phận phải đi tố cáo cho người khác những gì hoàn toàn thuộc về đời tư của một cá nhân, một gia đình. Nhưng ngược lại, nếu cá nhân hay tập thể làm những điều xấu có hại cho lợi ích chung của nhiều người khác hay cho cả cộng đồng, thì vì công ích chung, lại buộc phải tố cáo sự xấu hay gian dối . Thí dụ, nếu biết rõ người nào đã có gia đình, nhưng đang tìm cách lấy người khác bằng cách nói dối là chưa hề kết hôn, hay người phối ngẫu đã chết, thì vì lợi ích của người đang bị dối gạt, và của người phối ngẫu đang bị phản bội kia, người biết có bổn phận phải tố cáo việc này với thẩm quyền có trách nhiệm. Cụ thể là trình sự việc cho linh mục đang giúp lo thủ tục kết hôn cho người kia biết để ngăn chặn kịp thời sự xấu, tai hại. Đây là việc bác ái, công bằng và lương tâm đòi buộc phải làm. Nếu không, sẽ có lỗi là dung túng hay cộng tác vào việc xấu đã biết.
Cũng vậy, khi biết rõ có kẻ làm hàng giả, pha chế đồ ăn với hóa chất có hại cho sức khỏe của người tiêu thụ thì cũng buộc phải tố cáo để tránh cho công chúng khỏi bị thiệt hại do việc làm thiếu lương thiện nói trên gây ra.
Cũng thế, với những kẻ đang lường gạt phụ nữ dưới chiêu bài "hôn nhân ngoại quốc" hay tuyển mộ công nhân đi làm xa với lương cao nhưng thực tế chỉ là mua bán những phụ nữ đáng thương này cho dịch vụ mãi dâm hay nô lệ tình dục rất tội lỗi và khốn nạn này, thì buộc phải lên tiếng tố cáo việc làm vô đạo này của lũ người vô luân, mất hết lương tri đó cho công luận biết để cứu nguy cho các nạn nhân. Đây là vấn đề lương tâm và đạo đức buộc phải làm, không thể bỏ qua được. Nếu không, sẽ có tội dung thứ hay cộng tác vào việc làm tội lỗi của kẻ khác. Cách riêng, các linh mục có bổn phận dạy dỗ cho giáo dân biết về vấn đề này vì lợi ích thiêng liêng của họ. Do đó, không nên chứng hôn cho những cặp muốn lấy nhau để được ra nước ngoài, chứ không vì yêu thương và muốn sống bí tích hôn phối thực sự.
Ngoài ra, nếu biết rõ ai không phải là tín hữu Công giáo, hoặc ai đang sống chung như vợ chồng mà chưa kết hôn trong Giáo Hội, nhưng cứ lên rước Mình Máu Thánh Chúa khi tham dự Thánh Lễ, thì người biết phải tố cáo việc này cho cha xứ nơi các đương sự đến dự thánh lễ để ngăn cản họ, vì theo giáo lý, giáo luật họ không được phép làm như vậy.
Cũng trong trường hợp tương tự, nếu biết kẻ sát nhân đang lẫn trốn ở đâu, nhất là biết có kẻ khủng bố đang dự định phá hoại, đặt bom ở chỗ nào, thì buộc phải tố cáo kín cho nhà chức trách biết để bắt và trừng trị những kẻ đó hầu tránh tai họa lớn cho nhiều người.
Nhưng nếu có người đang cầm dao hoặc súng đi tìm ai để sát hại, thì lại không được chỉ chỗ trốn của nạn nhân cho hung thủ. Nếu chỉ chỗ để nạn nhân phải thiệt mạng thì sẽ mắc tội cộng tác vào việc sát nhân. Không ai buộc phải ngay thẳng, nói thật trong trường hợp này, vì kẻ mưu sát là kẻ đang muốn làm sự dữ, nên tuyệt đối không ai được phép cộng tác vào việc độc dữ này vì bất cứ lý do gì.
Tóm lại, nói chung, phải tôn trọng sự thật vì Thiên Chúa là Ðấng chân thật. Không được nói dối và thề gian để mưu tư lợi hay để làm hại ai. Tuy nhiên cũng có những trường hợp cho phép người ta không cần nói sự thật vì lợi ích chung hay riêng, như đã nói ở trên...
Mặt khác, cũng vì tôn trọng sự thật và để tránh những thiệt hại và lạm dụng của những người gian manh hay không hiểu rõ giáo lý, chúng ta cũng phải vì lương tâm mà lên tiếng tố cáo những sai trái của người khác trong các trường hợp cụ thể nói trên đây.
Ước mong những lời giải đáp trên đây thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

-----------------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 171