mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4209
mod_vvisit_counterHôm Qua5966
mod_vvisit_counterTuần Này19579
mod_vvisit_counterTuần Trước60881
mod_vvisit_counterTháng Này201677
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả8002075

We have: 60 guests online
Your IP: 54.161.217.24
 , 
Today: Mar 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 349 = PDF Print E-mail

Sở dĩ Chúa Kitô"hay chữa bệnh ngày sa-bát" là vì
"Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc".

Hôm nay, Thứ Tư trong Tuần IV Mùa Chay, phụng vụ lời Chúa nói chung và Phúc Âm nói riêng liên quan đến mạc khải thần linh của Thiên Chúa, một mạc khải thần linh đã đạt đến tột đỉnh ở nơi bản thân của Chúa Giêsu Kitô, và được chính Chúa Kitô bắt đầu chứng thực cho dân do Thái biết bằng các cuộc đối đáp giữa Người và họ.

Nếu để ý về tiến trình phụng vụ Lời Chúa trong Mùa Chay thì gần 2 tuần đầu, tức từ Thứ Tư Lễ Tro tới hết Thứ Bảy Tuần I Mùa Vọng, các bài Phúc Âm liên quan tới các việc (chay tịnh, cầu nguyện, nhất là bác ái) Kitô hữu cần phải làm trong Mùa Chay; sau đó trong hai Tuần II và III Mùa Chay, các bài Phúc Âm nhấn mạnh đến sứ vụ và thân phận của Chúa Kitô liên quan đến Mầu Nhiệm Vượt Qua; sau cùng là Tuần IV và V, trực tiếp liên quan tới cuộc đ5ung độ giữa Chúa Kitô tỏ mình ra nhưng gặp chống đối nhất là của thánh phần lãnh đạo trong dân, cho tới khi họ âm mưu giết Người, ngay trước khi vào Tuần Thánh.

Như đã nhận định từ hôm Thứ Hai tuần này, chiều hướng của các bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan được Giáo Hội chọn đọc cho ngày trong tuần liên tục suốt 2 tuần cuối cùng IV và V của Mùa Chay, nhất là từ hôm nay trở đi, sau hai bài về 2 phép lạ Người làm như được thuật lại ở bài Phúc Âm Thứ Hai hôm kia và Thứ Ba hôm qua.

Phép lạ Người chữa lành cho một nạn nhân yếu liệt 38 năm vào ngày hưu lễ ở Bài Phúc Âm hôm qua đã trở thành như đầu mối cho cuộc đụng độ bắt đầu công khai hóa giữa Chúa Giêsu và dân Do Thái nói chung, nhất là thành phần biệt phái và lãnh đạo của họ.

Đó là lý do ngay sau phép lạ chữa lành cho nạn nhân yếu liệt 38 năm vào ngay ngày hưu lễ ở bài Phúc Âm hôm qua, Thánh ký Gioan đã ghi chú thêm ngay sau biến cố then chốt này như sau: "Do đó, người Do-thái chống đối Đức Giê-su, vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát".

Chúa Giêsu đã lợi dụng chính vấn đề ngày hưu lễ cần phải nghỉ ngơi theo luật lệ và thông lệ của dân Do Thái để mạc khải cho họ thấy tất cả ý nghĩa sâu xa về việc làm đối với Đấng hiện hữu luôn sống động và năng động không bao giờ nghỉ ngơi, như chính Chúa Kitô khẳng định ở ngày đầu bài Phúc Âm hôm nay: "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc".

Đó là câu trả lời của Chúa Giêsu cho việc "người Do-thái chống đối (Người) vì Người hay chữa bệnh ngày sa-bát". Nghĩa là sở dĩ Người "hay chữa bệnh ngày sa-bát" là vì "Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc". Đúng thế, nếu căn cứ vào luật phải nghỉ ngày hưu lễ, tức là ngày thứ bảy, là vì ngày thứ bảy là ngày chính Thiên Chúa đã nghỉ, hoàn toàn không còn tiếp tục việc tạo dựng của Ngài như 6 ngày trước đó nữa, thì Chúa Giêsu đã làm điều sai trái, ở chỗ Người chẳng những phạm luật Moisen (cũng là luật Thiên Chúa ban cho dân do Thái qua ông) mà Người còn không đúng với ý nghĩa của ngày thứ bảy ban đầu nữa (xem Khởi Nguyên 2:2-3).

Tuy nhiên, nếu hiểu đúng nghĩa của ngày thứ bảy, thời điểm Thiên Chúa nghỉ việc tạo dựng, nhưng lại là thời điểm được thánh hóa: "Thiên Chúa chúc lành cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày này..." (Khởi Nguyên 2:3). Nghĩa là ngày thứ bảy là ngày thánh trong tuần, ngày để làm những việc thiêng liêng với Chúa và lành thánh với tha nhân, xa lánh những mối bận tâm trần thế, chỉ chú tâm đến phần hồn hơn là phần xác (như làm việc xác v.v.). Đó là lý do Kitô giáo đã giữ ngày Chúa Nhật, thay ngày thứ bảy, vì là ngày thứ nhất trong tuần, ngày Chúa Kitô phục sinh. Chúa Kitô đến không phải để hủy lề luật mà làm cho nó nên tọn là như thế.

Con người ta là tạo vật duy nhất được Thiên Chúa dựng nên sau cùng nhưng lại là loài tạo vật được Ngài chăm chú tạo dựng một cách rất đặc biệt theo chủ ý riêng của Ngài (xem Khởi Nguyên 1:26-28). Bởi thế, sau khi tạo dựng nên họ theo hình ảnh của Ngài và tương tự như Ngài, Ngài đã tiếp tục ở với con người, tiếp tục tỏ mình ra cho họ, nghĩa là thánh hóa họ, một việc thánh hóa chỉ xẩy ra trong ngày thứ bảy là thời điểm Ngài nghỉ việc tạo dựng bề ngoài để chuyên vào việc thánh hóa bề trong, ở chỗ làm cho con người tin vào Ngài, như Chúa Giêsu đã khẳng định về công việc của Cha Người: "Công việc của Thiên Chúa đó là hãy tin vào Đấng Ngài sai" (Gioan 6:29).

Vậy Chúa Giêsu chữa lành trong ngày thứ bảy là một việc rất chính đáng, chẳng những nên làm mà còn cần phải làm nữa, vì việc chữa lành của Người hợp với mục đích của ngày thứ bảy là ngày làm việc lành thánh, ngày thánh hóa con người, để nhờ được chữa lành nạn nhân đương sự và những ai quen biết đương sự tin vào Người mà được cứu độ, đúng như bản chất việc làm của Thiên Chúa trong ngày thứ bảy là ngày thánh, ngày Ngài thánh hóa con người nơi việc tỏ mình ra của Con Ngài, Đấng Ngài muốn con người tin tưởng mà được cứu độ và thánh hóa.

Chúa Giêsu quả thực đã chí lý khi cho dân Do Thái bấy giờ biết lý do tạo sao Người hay chữa lành vào ngày thứ bảy, đó là vì "Cho đến nay, Cha tôi vẫn làm việc, thì tôi cũng làm việc". Trong bài Phúc Âm hôm nay, ở đoạn ngay sau đó, Người còn cho họ biết "Chúa Con không thể tự mình làm gì nếu không thấy Chúa Cha làm. Ðiều gì Chúa Cha làm, thì Chúa Con cũng làm y như vậy". Chẳng hạn, như Người trưng dẫn một việc quan trọng và chính yếu nhất của ngày thứ bảy là ngày thánh hóa đó là: "Chúa Cha cho người chết sống lại và làm cho họ sống thế nào, thì Chúa Con cũng vậy, Người làm cho ai sống là tùy ý Người", nên "Ai nghe lời Ta và tin Ðấng đã sai Ta, thì được sống đời đời".

Cho dù việc Người làm phép lạ trong ngày hưu lễ chính đáng và chí lý mấy đi nữa, đúng như mục đích và ý nghĩa của ngày thứ bảy theo ý định thần linh của Thiên Chúa, vẫn là một hành động, theo dân Do Thái nói chung và thành phần thông luật, giữ luật và dạy luật trong dân nói riêng, phạm luật và sai trái, nên Người đã bị "người Do-thái chống đối", vậy mà Người lại còn như đổ thêm dầu vào lửa qua cách xưng hô của Người với Đấng đã sai Người, mà tình hình căng thăng và đụng độ càng trở nên kịch liệt hơn nữa, đến độ họ tìm cách sát hại Người, như Thánh ký Gioan ghi nhận ở ngay câu Người nói: "Bởi vậy, người Do-thái lại càng tìm cách giết Đức Giê-su, vì không những Người phá luật sa-bát, lại còn nói Thiên Chúa là Cha của mình, và như thế là tự coi mình ngang hàng với Thiên Chúa".

Thế nhưng là "ánh sáng thật soi chiếu mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9), như "ánh sáng chiếu trong tăm tối, một thứ tối tăm không át được ánh sáng" (Gioan 1:5), Chúa Giêsu đã lợi dụng cái tối tăm và lầm lạc của dân Người nơi chính tình trạng rất đạo đức tốt lành của dân mình, ở chỗ họ hết sức bảo vệ luật lệ (liên quan đến phép lạ Người làm vào ngày hưu lễ) và coi trọng phẩm vị cao cả của Thiên Chúa (liên quan đến lời Người xưng hô với Thiên Chúa), nhưng không hoàn toàn phản ảnh tất cả sự thật của mạc khải thần linh mà Người là tột đỉnh và là tất cả.

Bởi thế, qua bài Phúc Âm hôm nay, Người đã chứng thực về Người liên quan đến mối liên hệ mật thiết với Cha của Người là Đấng đã sai Người, bằng cách Người đã nói cho họ biết rõ: Người và Cha cùng làm một việc như nhau (1); Người là hiện thân đại diện của Cha và cho Cha nơi loài người (2), và Người là thừa tác viên ban sự sống của Cha cho loài người (3).

CAO TẤN TĨNH

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 348 = 40 THU SONG MUA CHAY PDF Print E-mail

40 THỨ CÓ THỂ TỪ BỎ ĐỂ SỐNG MÙA CHAY VÀ SUỐT CẢ ĐỜI !

Thứ Tư Lễ Tro là khởi đầu Mùa Chay. Mùa Chay tới, nhiều người nghĩ phải cố gắng từ bỏ điều gì đó để bước theo Đức Kitô. Tuy nhiên, những điều này lại thường ít ảnh hưởng đến cuộc sống, chúng ta "khôn lỏi" lắm!
Dưới đây là 40 thứ có thể từ bỏ để sống Mùa Chay. Không phải là những thứ liên quan việc ăn uống, nhưng chúng thực sự cần từ bỏ. Mùa Chay kéo dài 40 ngày, mỗi ngày cố gắng từ bỏ 1 điều. Trong 40 điều này, có những điều không chỉ từ bỏ trong Mùa Chay mà phải từ bỏ suốt cả đời.
01. SỢ THẤT BẠI – Bạn không thành công nếu chưa trải qua thất bại. Đúng như tục ngữ Việt Nam nói: "Thất bại là mẹ thành công".
02. VÙNG AN TOÀN – Đó là "vùng thoải mái", sợ khó. Dám ra ngoài "vùng" này thì chúng ta mới có thể khám phá những điều mới lạ.
03. CẢM THẤY HOÀI NGHI – Có lúc chúng ta nghi ngờ rằng không biết Tạo Hóa có tạo dựng nên mình hay không. Hãy xác định như tác giả Thánh Vịnh: "Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con. Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu! Hồn con đây biết rõ mười mươi. Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu. Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự" (Tv 139, 13-16).
04. THIẾU KIÊN NHẪN – Thời giờ của Thiên Chúa là thời giờ hoàn hảo. Mọi thứ đều đúng hẹn, đúng kỳ theo ý Ngài tiền định và quan phòng.
05. SỐNG ẨN DẬT – Còn hít thở, chúng ta còn sống với người khác và tương tác với họ vì Đức Kitô. Công việc của chúng ta luôn ảnh hưởng người khác.
06. LÀM VUI LÒNG NGƯỜI KHÁC – Không ai có thể làm vừa lòng mọi người, nhưng chúng ta phải luôn cố gắng làm vui lòng người khác, còn họ có vừa lòng hay không là phần của họ.
07. SO SÁNH – Một là cảm thấy mình kém cỏi hơn người khác, hai là cảm thấy mình "ngon lành" hơn người khác. Dạng nào cũng không được.
08. TRÁCH CỨ – Chúng ta có xu hướng không dám nhận lỗi, và luôn muốn đổ lỗi cho người khác.
09. PHẠM TỘI – Nhân vô thập toàn. Mặc dù chúng ta là tội nhân, Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta, và Chúa Giêsu đã chết vì chúng ta. Hôm nay là ngày mới, hôm qua đã không còn.
10. MẤT TỰ CHỦ – Do đó chúng ta khó có thể hoàn tất công việc và làm tốt hơn.
11. THIẾU DỰ ĐỊNH – Các quyết định khôn ngoan hiếm khi trở thành vô ích.
12. KHÔNG MINH BẠCH – Một là không minh bạch về điều này hoặc điều nọ (khuất tất), hai là không trong sạch (nhân đ���c).
13. TỰ QUYỀN – Thiên Chúa không mắc nợ chúng ta điều gì, thế giới cũng chẳng mắc nợ chúng ta điều gì. Hãy cố gắng sống trong ân sủng và khiêm nhường.
14. LÃNH ĐẠM – Cuộc đời có bao nhiêu mà hững hờ. Không quý mến nhau thì cũng đừng kèn cựa nhau. Tranh chấp nhau, giành giật nhau, hơn thua nhau làm gì?
15. GHEN GHÉT – Hãy cảnh giác kẻo mắc lừa ma quỷ, bởi vì chúng rất ranh mãnh. Kinh Thánh căn dặn: "Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác" (Rm 12, 21).
16. TIÊU CỰC – Hãy cố gắng quan hệ hòa nhã với mọi người. Tránh né người khác là tiêu cực, mà cũng chỉ vì chúng ta không coi trọng người khác nên mới tránh né họ.
17. MÊ VẬT CHẤT – Hãy nhớ rằng có Thiên Chúa là có tất cả, mất Thiên Chúa là mất tất cả: "Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì" (Tv 23, 1).
18. S��NG MÁY MÓC – Càng đầu tư nhiều thì càng có lợi nhiều. Về tinh thần và tâm linh cũng vậy.
19. THAN PHIỀN – Đừng cằn nhằn, khó tính, than thân trách phận hoặc trách móc người khác, hãy cố gắng xử lý và giải quyết vấn đề cho thấu đáo.
20. BẤT CẦN – Thiên Chúa muốn chúng ta hạnh phúc cả đời này và đời sau. Đó là niềm vui sống. Đừng buông xuôi, bất cần đời !
21. GAY GẮT – Đó là tự làm khổ mình, và tất nhiên cũng làm khổ người khác. Tâm bất an thì không thể nào sống vui và sống khỏe, bệnh tật phát sinh từ đó.
22. CHIA TRÍ – Cuộc sống có nhiều thứ khiến chúng ta chia trí, vì thế cần phải tập trung vào mục đích của mình.
23. MẶC CẢM – Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ chúng ta, dù chúng ta xấu xa và tội lỗi: "Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa thì hãy còn có Chúa đón nhận con" (Tv 27, 10).
24. TẦM THƯỜNG – Cuộc đời chúng ta có thể không ai biết đến, không có gì khác thường, sống rất bình thường, nhưng tuyệt đối đừng sống tầm thường.
25. GÂY CHIA RẼ – Chia rẽ là chết, đoàn kết mới sống. Khuyến khích nhau là điều cần thiết, mọi nơi và mọi lúc:"Phải khuyến khích nhau, nhất là khi anh em thấy Ngày Chúa đến đã gần" (Dt 10, 25).
26. BẬN RỘN – Đó là "huy hiệu danh dự" của người mê công việc mà bỏ bê những thứ cần thiết khác.
27. CÔ ĐỘC – Có Chúa Giêsu, chúng ta sẽ không cô độc. Ngài luôn hiện diện và đồng hành với chúng ta.
28. BẤT HÒA – Xung đột là mối nguy cho cuộc sống, cả đời thường và tâm linh. Xung đột xảy ra thì không thể hợp tác. Sự cộng tác và đồng tâm nhất trí rất cần: "Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho" (Mt 18, 19).
29. VỘI VÀNG – Dục tốc bất đạt. Dù to hay nhỏ, cái gì cũng cần có thời gian, không thể một sớm một chiều.
30. LO LẮNG – Thiên Chúa kiểm soát mọi sự, chúng ta có lo lắng cũng chẳng thay đổi được gì: "Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy" ( Mt 6, 33-34 ).
31. THẦN TƯỢNG HÓA – Đừng thần tượng hóa bất cứ ai, bắt chước là ngu xuẩn, hãy cứ là chính mình! Chỉ có Thiên Chúa là Đấng hoàn hảo mà thôi.
32. CỐ CHẤP – Cuộc sống luôn phải thay đổi để thích nghi mọi thứ. Cố chấp là ích kỷ, là hèn nhát.
33. KIÊU NGẠO – Thiên Chúa hạ bệ kẻ kiêu ngạo, nhưng nâng cao người khiêm nhường (Lc 1, 51-52).
34. NÔNG CẠN – Đừng nói rằng vấn đề khó quá, chính vấn đề khó đó cho chúng ta biết Thiên Chúa vĩ đại."Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông" (Nguyễn Thái Học).
35. ĐỐ KỴ – Người Pháp có câu nói chí lý: "Đừng vì kính mến Chúa mà chống đối ngư���i khác." Mọi người đều là anh em và là con một Cha trên trời.
36. VÔ ƠN BẠC NGHĨA – Cuộc sống là những ngày tháng chúng ta mắc nợ Thiên Chúa, chúng ta cũng mắc nợ tha nhân và xã hội nhiều thứ. Do đó, chúng ta không thể không biết ơn Thiên Chúa và cuộc đời.
37. THAM LAM – Thiên Chúa có kế hoạch riêng dành cho mỗi người: "Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta" (Is 45, 4). Hãy cố gắng làm trọn công việc Ngài giao phó.
38. TỰ MÃN – Chúa Giêsu là sức mạnh của chúng ta:"Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết" (Pl 4, 13). Có Ngài thì chúng ta mới làm được công kia việc nọ, không có Ngài thì chúng ta chẳng làm nên trò trống gì đâu: "Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15, 5).
39. ƯU SẦU – Buồn thì cứ khóc, xong rồi thôi. Đừng giam mình trong vòng ưu sầu. Mọi sự sẽ qua, cứ tín thác vào Thiên Chúa: "Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Người" (Tv 30, 5b).
40. CUỘC ĐỜI – Thế gian là cõi tạm, rồi sẽ qua đi. Đừng coi nặng vật chất, kể cả cuộc sống của chúng ta, tất cả chỉ là bụi tro mà thôi. Chúa Giêsu đã nói: "Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời" (Ga 12, 25).

Trầm Thiên Thu, theo Greater Things Today, Mùa Chay 2017

--------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 347= PDF Print E-mail

TIN MỪNG GIOAN 5, 1-3a.6-16 : HỒ NƯỚC CHỮA LÀNH

Phép lạ Chúa Giêsu chữa lành cho

"một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm"

Mùa Chay tiếp tục với ngày Thứ Ba trong Tuần IV Mùa Chay hôm nay, phụng vụ lời Chúa, bao gồm cả Bài Phúc Âm lẫn Bài Đọc 1, đều liên quan đến hình ảnh về nước.

Trước hết, nước trong Bài Phúc Âm hôm nay là một thứ nước có khả năng chữa lành, như Thánh ký Gioan thuật lại ở đầu bài Phúc Âm như sau: "Tại Giêrusalem, gần cửa 'Chiên', có một cái hồ, tiếng Do-thái gọi là Bếtsaiđa, chung quanh có năm hành lang. Trong các hành lang này, có rất nhiều người đau yếu, mù loà, què quặt, bất toại nằm la liệt".

Lý do tại sao cái hồ này lại "có rất nhiều người đau yếu, mù lòa, què quặt, bất toại nằm la liệt" như vậy, là vì mỗi khi nước hồ động lên đều có thể chữa lành cho bệnh nhân hay tật nguyền nhân nào xuống hồ đầu tiên.

Đó là lý do, "có một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm" đã trần tình cùng "Chúa Giêsu", Đấng bấy giờ đã "thấy người ấy nằm đó và biết anh đã đau từ lâu, liền hỏi: 'Anh muốn được lành bệnh không?'", và đã than thở với Người về hoàn cảnh nuôi hy vọng trong thất vọng và tuyệt vọng của anh ta như sau: "Thưa Ngài, tôi không được ai đem xuống hồ, mỗi khi nước động. Khi tôi lết tới, thì có người xuống trước tôi rồi".

Ở đây, trong câu trả lời của nạn nhân "đau liệt 38 năm này", một nạn nhân cô độc chẳng ai giúp đỡ ấy, như thể đã hoàn toàn bị bỏ rơi, và đã hoàn toàn tuyệt vọng, không còn trông mong được khỏi tật bệnh kéo dài có thể nói gần nửa đời người như thế nữa, nên khi được Chúa Giêsu hỏi "Anh muốn được lành bệnh không?", anh ta đã trả lời một cách có vẻ rất hững hờ, chẳng có chút gì là hào hứng, chỉ trình bày và than phiền về thân phận hẩm hiu bất hạnh đến vô vọng của mình thôi.

Nếu anh ta còn một chút hy vọng, còn ham sống, thì phản ứng của anh ta khi vừa được Chúa Giêsu hỏi: "Anh muốn được lành bệnh không?", anh ta như chộp được thời cơ, chụp được cơ hội ngàn vàng, cơ hội ngàn năm một thuở mà thưa ngay với Người rằng: "Thưa có chứ... Vậy thì ông có thể giúp tôi được không...".

Thế nhưng, anh ta đâu có ngờ rằng, chính lúc anh ta đã nản lòng không còn muốn sống nữa, muốn buông xuôi theo số phận hẩm hiu bất hạnh, anh ta lại được cứu, cho dù anh ta không hội đủ điều kiện là lòng tin tưởng cần có của anh ta. Nhưng vì Chúa Giêsu, ở trong trường hợp của anh ta, không cần anh ta tin, vì anh ta đã biết Người đâu mà tin, cho bằng Người làm cho anh ta tin, bằng quyền năng của Người nơi anh ta.

Bởi thế, Người đã tự động chữa lành cho anh ta: "Anh hãy đứng dậy vác chõng mà về", sau khi đã hỏi phép anh ta đàng hoàng trước đó. Cho dù anh ta không tỏ ra tích cực và minh nhiên theo câu hỏi của Người, nhưng nội dung của câu anh ta trả lời Người đã cho thấy rằng anh ta thực sự là muốn được chữa lành. Và tác dụng thần linh của lời Người truyền đã tuyệt đối công hiệu ngay bấy giờ, nơi đương sự nạn nhân đã tỏ ý muốn được chữa lành: "Tức khắc người ấy được lành bệnh. Anh ta vác chõng và đi".

Phép lạ Chúa Giêsu chữa lành cho "một người nằm đau liệt đã ba mươi tám năm" ấy đã kèm theo cả một hiện tượng phải gọi là quái lạ hay quái gở chưa từng thấy. Ở chỗ, trong bài Phúc Âm không thấy nói gì đến việc nạn nhân đương sự được chữa lành sụp lạy Chúa Giêsu để tạ ơn Người về phép lạ bất ngờ anh ta không thể nào tưởng tượng được rằng phép lạ đã xẩy ra cho anh ta ở vào lúc anh ta tuyệt vọng nhất như thế. Có thể là vì trong thời khoảng anh ta đang lồm cồm bò ngồi dậy sau 38 năm không bao giờ có thể ngồi lên như lời Người truyền thì "Chúa Giêsu đã lánh vào đám đông tụ tập nơi đó".

Cứ cho là như thế đi! Thế nhưng, sau khi anh ta bị những người khác nhắc bảo rằng: "'Hôm nay là ngày Sabbat, anh không được phép vác chõng'. Anh ta trả lời: 'Chính người chữa tôi lành bệnh bảo tôi: Vác chõng mà đi'. Họ hỏi: 'Ai là người đã bảo anh Vác chõng mà đi?' Nhưng kẻ đã được chữa lành không biết Người là ai".

Nạn nhân đương sự được chữa lành này không biết Người cũng phải và vì thế anh ta đã trả lời đúng sự thật. Tuy nhiên vấn đề ở đây là sau đó, sau khi anh ta biết được Người là ai rồi thì anh ta cũng vẫn không ngỏ lời cám ơn Người, trái lại, quái gở thay, anh ta lại đi tố cáo phản lại Người:

"Sau đó, Chúa Giêsu gặp anh ta trong đền thờ, Người nói: 'Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước'. Anh ta đi nói cho người Do-thái biết chính Chúa Giêsu là người đã chữa anh ta lành bệnh. Vì thế người Do-thái gây sự với Chúa Giêsu, vì Người đã làm như thế trong ngày Sabbat".

Trường hợp chín trong mười người phong cùi được Chúa Giêsu chữa lành cho, khi thấy mình được khỏi trên đường đi trình diện với các vị tư tế như lời Người bảo họ, mà không trở lại tạ ơn Người như một người Samaritanô trong số họ (xem Luca 17:11-19), đằng này nạn nhân đương sự bất ngờ (không hề van xin) được Chúa Giêsu chữa lành cho khỏi tật bệnh kéo dài suốt 38 năm trường lại quay ra tố cáo Người nữa thì quả là vô cùng quái gở, không thể nào tượng tưởng được.

Đó là lý do, thấy trước được con người này, Chúa Giêsu đã cảnh giác anh ta về đặc ân nhưng không anh ta vừa được hưởng về phần xác có thể sẽ trở thành tai họa về phần hồn cho anh ta rằng: "Này, anh đã được lành bệnh, đừng phạm tội nữa, kẻo phải khốn khổ hơn trước".

Vấn đề được đặt ra ở đây là thế thì tại sao Chúa Giêsu lại chữa lành cho một nạn nhân mà Người biết rằng ân phúc nạn nhân đương sự này được hưởng có thể trở thành tai họa cho phần hồn của họ như vậy? Có thể nói, lý do Chúa Giêsu chữa lành cho nạn nhân đương sự này là vì tự mình họ đáng thương và cần được cứu vớt trong lúc anh ta không được ai cứu giúp và trong lúc anh ta có vẻ như đã hoàn toàn tuyệt vọng.

Ngoài ra, không phải vì anh ta là con người "xấu" mà anh ta không đáng được hưởng ơn lành như những người tốt hơn anh ta và xứng đáng hơn anh ta. Ơn Chúa là của Chúa, là những gì nhưng không từ Chúa, Người muốn ban cho ai tùy ý của Ngài, hay muốn ban thế nào và ban vào lúc nào cũng không ai cản được, và không ai có quyền ghen tị với người khác và đặt vấn đề với Người.

Nhưng về phần người nhận ân huệ của Người có biết ơn Người và đáp ứng xứng đáng với ân huệ họ lãnh nhận hay chăng, hoàn toàn là do họ. Trường hợp nạn nhân đương sự trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đâu có ép anh ta phải được lành mạnh - anh ta có thể nói với Chúa khi Người hỏi anh ta "Anh muốn được lành bệnh không?" rằng: "No, thank you. I'm fine!"

Bởi thế, chỉ sau khi anh ta ngỏ ý muốn được chữa lành Người mới ra tay thỏa đáng ước muốn đã trở thành tuyệt vọng của anh ta thôi, nhờ đó, Người có thể làm cho anh ta phấn khởi lên mà sống, và sống một cách xứng đáng với số phận lành mạnh của con người vốn đã được Thiên Chúa ngay từ ban đầu dựng nên tốt đẹp mọi bề về cả hồn lẫn xác.

Sau nữa, "nước" trong Bài Đọc 1 hôm nay được Tiên Tri Êzêkiên diễn tả xuất phát từ "nhà Chúa" và "chảy dưới thềm nhà phía hướng đông, vì mặt tiền nhà Chúa hướng về phía đông, còn nước thì chảy từ bên phải đền thờ (dường như ám chỉ máu và nước chảy ra từ cạnh suờn Chúa Kitô tử giá), về phía nam bàn thờ (ám chỉ chảy xuống phía dưới cạnh sườn bị đâm thâu qua của Chúa Kitô tử giá)". Nước càng ngày càng dâng cao, đầu tiên chỉ ở mức "mắt cá chân", sau đó "đến đầu gối", rồi "đến ngang lưng" và cuối cùng "vì nước suối dâng lên cao quá, phải lội mới đi qua được".

Chưa hết, Bài Đọc 1 hôm nay còn cho thấy tác dụng của giòng suối nước này, cả ở dưới suối nước lẫn trên bờ suối nước. Ở dưới suối nước: "Tất cả những sinh vật sống động, nhờ suối nước chảy qua, đều được sống. Sẽ có rất nhiều cá và nơi nào nước này chảy đến, nơi đó sẽ trở nên trong lành, và sự sống sẽ được phát triển ở nơi mà suối nước chảy đến".

Còn ở trên bờ suối nước thì sao, chúng ta thấy được Tiên Tri Êzêkiên diễn tả ở phần cuối Bài Đọc 1 hôm nay như thế này: "Gần suối nước, hai bên bờ ở mỗi phía, mọi thứ cây ăn trái sẽ mọc lên; lá của nó sẽ không khô héo, và trái của nó sẽ không bao giờ hết; mỗi tháng nó có trái mới, vì dòng nước này phát xuất từ đền thờ; trái của nó dùng làm thức ăn, và lá của nó dùng làm thuốc uống".

Hình ảnh nước và suối nước theo Bài Đọc 1 hôm nay diễn tả, càng lúc càng dâng cao và mang lại sức sống cùng phát triển cho sinh vật cả ở dưới nước lẫn trên bờ như thế khiến cho chúng ta liên tưởng đến những gì Chúa Giêsu nói về nước ám chỉ Thần Linh, một Vị Thần Linh ban sự sống, được tuôn đổ xuống trên Giáo Hội bởi Chúa Kitô phục sinh (xem Gioan 7:37-39; 20:22) trong mầu nhiệm Vượt Qua và nhờ biến cố Vượt Qua.

Tâm tình của những ai được chữa lành bởi nước, như người đau liệt 38 năm trong Bài Phúc Âm hôm nay, và những ai được no thỏa suối nước xuất phát tự nhà Chúa trong Bài Đọc 1 hôm nay, đều có một cảm nghiệm thần linh như vị thánh vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay:

TÔI CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN:

1) Chúa là nơi ẩn náu và là sức mạnh của chúng ta, Người hằng cứu giúp khi ta sầu khổ. Dầu đất có rung chuyển, ta không sợ chi, dầu núi đổ xuống đầy lòng biển cả.

2) Nước dòng sông làm cho thành Chúa vui mừng, làm hân hoan cung thánh Ðấng Tối Cao hiển ngự. Chúa ở giữa thành, nên nó không chuyển rung, lúc tinh sương, thành được Chúa cứu giúp.

3) Chúa thiên binh hằng ở cùng ta, ta được Chúa Giacóp hằng bảo vệ. Các ngươi hãy đến mà xem mọi kỳ công Chúa làm, Người thực hiện muôn kỳ quan trên vũ trụ.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

----------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 346 = PDF Print E-mail

Chia Sẻ Phụng Vụ Lời Chúa
Thứ Hai Tuần IV Mùa Chay 27-3-2017

thành phần dân ngoại dễ tin vào Người hơn là chính dân của Người

Hôm nay, Thứ Hai trong Tuần IV Mùa Chay, phụng vụ lời Chúa bắt đầu có chiều hướng càng sát nghĩa hơn bao giờ hết với chủ đề "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17) của chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh. Bởi vì, từ hôm nay, dọc suốt 2 tuần liền của thời điểm cuối cùng của Mùa Chay, Giáo Hội cố ý chọn đọc cho các ngày thường trong tuần toàn là các bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan, không còn Phúc Âm của Thánh ký Mathêu, Marco hay Luca như ba tuần trước đây nữa.

Tại sao? Tại vì chỉ có Phúc Âm của Thánh Gioan, cuốn Phúc Âm cuối cùng trong 4 cuốn Phúc Âm được Giáo Hội công nhận trong sổ bộ Thánh Kinh Tân Ước, cuốn Phúc Âm về thần tính của Chúa Kitô và về Giáo Hội, mới có những đoạn Chúa Giêsu tỏ thần tính của mình ra, hay nói cách khác, Người tỏ nguồn gốc thần linh của Người ra, vừa bằng phép lạ hay dấu lạ vừa bằng chính lời tự chứng của Người liên quan đến ý Cha là Đấng đã sai Người.

Tuy nhiên, đa số dân Do Thái nói chung và thành phần lãnh đạo dân Do Thái bấy giờ nói riêng đã không thể chấp nhận chứng từ cùng chứng cớ rất chân thực bất khả chối cãi của Người, cho đến giờ của Người, tức cho đến thời điểm họ có thể thực hiện mưu đồ sát hại Người, theo đúng như dự án cứu độ của Thiên Chúa và công cuộc cứu độ của Người, Đấng đã "tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" bằng Mầu Nhiệm Vượt Qua của Người, một mầu nhiệm là tột đỉnh của chung phụng niên và của riêng Tuần Thánh, đặc biệt là của Tam Nhật Thánh!

Hai bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan đầu tiên cho 2 tuần cuối cùng của Mùa Chay liên quan đến 2 phép lạ Chúa Giêsu làm, phép lạ trước, trong bài Phúc Âm hôm nay, Người làm ở Galilêa, vùng đất miền bắc xa xôi, nơi có nhiều dân ngoại sinh sống, còn phép lạ sau, trong bài Phúc Âm ngày mai, Người làm ở ngay Giêrusalem xứ Giuđêa ở miền nam, một phép lạ xẩy ra ở ngay giáo đô của dân Do Thái, do đó, đã trở thành nguyên cớ dẫn đến cuộc đối đầu giữa Chúa Giêsu và dân của Người, nhất là với thành phần lãnh đạo ở đó bấy giờ.

Phép lạ được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại, "là phép lạ thứ hai Chúa Giêsu đã làm khi Người ở Giuđêa về Galilêa", tiếp theo phép lạ Người đã hóa nước thành rượu ngon ở tiệc cưới Cana trước đó để tỏ mình ra cho các môn đệ và làm cho các vị tin vào Người là phép lạ đầu tiên (xem Gioan 2:11). Nếu phép lạ thứ nhất liên quan đến hôn nhân thì phép lạ thứ hai này liên quan đến gia đình. Bởi thế mà cuối Bài Phúc Âm Thánh ký Gioan đã cho biết tác dụng xuất phát từ phép lạ Chúa Giêsu thực hiện: "nên ông và toàn thể gia quyến ông đều tin".

Tuy nhiên, sở dĩ Giáo Hội chọn bài Phúc Âm về phép lạ Chúa Giêsu làm cho "một quan chức nhà vua ở Capharnaum có người con trai đang đau liệt", không phải để cho chúng ta thấy cái cân xứng giữa hai phép lạ: phép lạ thứ nhất Người làm cho các môn đệ tin Người và phép lạ thứ hai Người làm cho dân chúng tin Người, mà chính là để cho chúng ta thấy rằng thành phần dân ngoại dễ tin vào Người hơn là chính dân của Người, như phép lạ trong bài Phúc Âm ngày mai chứng thực.

Đó là lý do ở đầu bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Gioan đã ghi nhận lòng khao khát thần linh và thái độ mộ mến của dân chúng đối với Đấng Thiên Sai của chính dân Do Thái: "Khi ấy, Chúa Giêsu bỏ Samaria mà đến Galilêa. Chính Người đã nói: 'Không vị tiên tri nào được kính nể nơi quê hương mình'. Khi Người đến Galilêa, dân chúng ra đón tiếp Người: Họ đã chứng kiến tất cả các việc Người làm ở Giêrusalem trong dịp lễ; vì họ cũng đi dự lễ".

"Chính Người đã nói: 'Không vị tiên tri nào được kính nể nơi quê hương mình'" ở câu Phúc Âm này không phải ám chỉ dân chúng ở Nazarét quê quán của Người đã đối xử với Người được Thánh ký Luca thuật lại (xem 4:14-30), mà là ám chỉ chung dân Do Thái là dân tộc của Người theo huyết nhục trần gian. Tuy nhiên, thành phần dân tộc của Người ít là cũng được chia làm hai loại hay hai hạng, hạng bình dân cởi mở và hạng trí thức lẫn quyền lực.

Hình như dân Do Thái ở Galilêa thuộc miền bắc xa xôi, xa giáo đô Giêrusalem và sống chung với nhiều người dân ngoại đã có được một tinh thần cởi mở và phóng khoáng hơn là những người Do Thái ở Giuđêa nói chung và ở giáo đô Giêrusalem nói riêng. Bởi thế nên, Thánh Gioan đã cho thấy dân Do Thái ở Galilêa đã cởi mở hơn với Chúa Giêsu: "Khi Người đến Galilêa, dân chúng ra đón tiếp Người: Họ đã chứng kiến tất cả các việc Người làm ở Giêrusalem trong dịp lễ; vì họ cũng đi dự lễ".

Sự kiện "dân chúng ra đón tiếp Người: Họ đã chứng kiến tất cả các việc Người làm ở Giêrusalem trong dịp lễ" đây có nghĩa là họ rất cảm phục Người, vì Người chỉ là một người Galilêa tầm thường như họ mà đã dám làm những gì không ai có thể làm và dám làm như Người. Chẳng hạn như Người đã chẳng những dám đánh đuổi đám buôn bán trong đền thờ mà còn dám thách thức những người Do Thái chính qui ở đó bấy giờ đã ngỏ ý muốn thấy dấu lạ Người làm để chứng tỏ thẩm quyền thực sự của Người trong việc Người thanh tẩy đền thờ là nhà của Cha Người như thế (xem Gioan 2:13-23).

Chính vì tấm lòng cởi mở của chung dân Do Thái ở Galilêa như vậy mà hầu như các phép lạ Người làm đều xẩy ra ở Galilêa, hơn là ở Giuđêa. Phép lạ thứ hai Người làm ở Galilêa trong Bài Phúc Âm hôm nay lại xẩy ra ở Cana là "nơi Người đã biến nước thành rượu", một phép lạ được Chúa Giêsu thực hiện cho người con trai của một viên chức triều đình (royal officer), không biết là người Do Thái hay dân ngoại, nhưng có thể nắm chắc là dân ngoại, bởi vì cuối bài Phúc Âm Thánh ký Gioan đã ghi chú thêm chi tiết: "ông và toàn thể gia quyến ông đều tin", như trường hợp của gia đình viên đại đội trưởng Roma Cornelio (xem Tông Vụ 10:1-48).

Trong Phúc Âm của Thánh Gioan, thường Chúa Giêsu tự động làm phép lạ để tỏ mình ra cho người ta tin vào Người, hơn là người ta phải có đức tin đã rồi Người mới làm phép lạ, như thường xẩy ra hầu hết ở bộ Phúc Âm Nhất Lãm. Tuy nhiên, trong bài Phúc Âm hôm nay, Người lại đề cập đến đức tin như là một điều kiện cần thiết trước khi Người làm phép lạ.

Nhưng Người đề cập đến đức tin không phải chỉ với riêng viên chức triều đình đang van xin mà là cho chung những người ở đó bấy giờ: "các ông". Như thể Người nhắc nhở hết mọi người rằng hãy tin sẽ được, như viên chức triều đình vẫn đang gắn bó tin tưởng vào Người bấy giờ: "xin Ngài xuống trước khi con tôi chết". Bởi thế, sau khi nghe "Chúa Giêsu bảo ông: 'Ông hãy về đi, con ông mạnh rồi'. Ông tin lời Chúa Giêsu nói và trở về".

Quả thật, ông đã tin sao thì được đúng như vậy, như bài Phúc Âm ở đoạn cuối cho thấy: "Khi xuống đến sườn đồi thì gặp gia nhân đến đón, báo tin cho ông biết con ông đã mạnh. Ông hỏi giờ con ông được khỏi. Họ thưa: 'Hôm qua lúc bảy giờ cậu hết sốt'. Người cha nhận ra là đúng giờ đó Chúa Giêsu bảo ông: 'Con ông mạnh rồi'".

Ngay trong cách thức Chúa Giêsu chữa lành ở bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan hôm nay, chỉ bằng ý muốn là xong, là phép lạ xẩy ra, chứ Người không cần phải hiện diện, phải đến tận nơi, phải đụng chạm, phải tỏ cử chỉ đặc biệt nào đó..., cũng là cách Chúa Giêsu muốn tỏ thần tính của Ngưòi ra, một tỏ mình thần linh chẳng những làm tan biến đi tất cả những gì là yếu hèn bệnh hoạn mà còn mang lại sự sống sinh động nữa.

Nội dung của Bài Đọc 1 hôm nay quả thực đã phản ảnh ý nghĩa tỏ mình ra của Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm hôm nay qua việc Người tỏ thần tính của Người ra nơi phép lạ chữa lành bằng ý muốn toàn năng vô cùng hiệu lực của Người, một phép lạ cho thấy ý muốn cứu độ của Thiên Chúa trong việc tiêu diệt tội lỗi và sự chết mà ban cho con người sự sống và hạnh phúc:

"Này Ta tác tạo trời mới, đất mới; người ta sẽ không còn nhớ lại dĩ vãng, và cũng sẽ không bận tâm đến dĩ vãng nữa. Nhưng các ngươi hãy hân hoan và nhảy mừng cho đến muôn đời trong các việc Ta tác tạo, vì đây Ta tác tạo một Giêrusalem hân hoan và một dân tộc vui mừng. Ta sẽ hân hoan ở Giêrusalem, sẽ vui mừng nơi dân Ta, và từ đây người ta sẽ không còn nghe tiếng khóc lóc và than van nữa. Ở đó sẽ không còn trẻ nhỏ chết yểu, không còn người già chết sớm nữa, vì người chết trăm tuổi cũng còn gọi là chết trẻ, người không sống đến trăm tuổi, kể là bị chúc dữ. Họ sẽ xây cất nhà cửa và cư ngụ ở đó, sẽ trồng nho và ăn trái nho".

Theo chiều hướng của Bài Phúc Âm và Bài Đọc 1 hôm nay, Bài Đáp Ca được Giáo Hội chọn đọc cùng ngày đã chất chứa tâm tình thần linh của thánh vịnh gia cũng là của những tâm hồn thực sự nhận thức được Thiên Chúa là Đấng yêu thương và cứu độ của con người nói chung và của bản thân mình nói riêng:

TÔI CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN:

1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ.

2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ.

3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con, lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con, lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 345 = GIAO HOI HIEN THE 2017 PDF Print E-mail

GIÁO HỘI HIỆN THẾ 2017

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ:

KHÓA TÒA TRONG VÀ 24 GIỜ CHO CHÚA

Hằng năm, trong giáo triều của ĐTC Phanxicô, vào Mùa Chay, sau Tuần Phòng của ngài và giáo triều Roma vào tuần thứ nhất Mùa Chay, đến hai biến cố một lúc vào Thứ sáu Tuần hai Mùa Chay, đó là biến cố Khóa Học Hỏi về "Tòa Trong / Internal Forum" (lần 28) do Tòa Ân Giải tổ chức ở Chancellery Palace (14-17/3/2017) và biến cố "24 Giờ cho Chúa" (Thứ Sáu 17/3/2017), một sáng kiến của Hội Đồng Tòa Thánh Đặc Tránh Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa, năm nay các giáo phận trên thế giới sẽ cử hành vào cuối tuần 24-25/3/2017, với chủ đề chung là "Tôi muốn lòng nhân lành" (Mathêu 9:13). Sau đây là nguyên văn bài nói của ngài với thành phần tham dự viên Khóa "Tòa Trong" vào ngày bề mạc khóa Thứ Sáu 17/3/2017.

"Chắc chắn người ta không trở thành một vị giải tội tốt lành nhờ một khóa học, không phải thế:

khóa học về tòa giải tội là một việc giáo dục dài lâu, kéo dài cả một đời người.

Thế nhưng ai là một "vị giải tội tốt lành"?

Làm thế nào để trở thành một vị giải tội tốt lành?"

Anh em thân mến,

Tôi hân hoan được gặp gỡ anh em ở buổi triều kiến đầu tiên này sau Năm Thánh Thương Xót, nhân dịp Khóa Học Hỏi về Tòa Trong thường niên.... (sau đó ngài ngỏ lời chào các vị đặc trách và toàn thể tham dự viên).

Tôi phải công nhận rằng Tòa Ân Giải này trên thực tế là một Pháp Đình tôi thật sự yêu thích! Nó là một "thứ pháp đình của lòng thương xót" là nơi chúng ta tiến đến để lãnh nhận phương dược bất khả châm chước là lòng thương xót Chúa.

Khóa học của anh em về tòa trong (the internal forum), một khóa học góp phần đào tạo nên những vị giải tội tốt lành, trở nên hữu ích hơn bao giờ hết, và tôi muốn nói rằng thậm chí còn cần thiết trong thời đại của chúng ta đây. Chắc chắn người ta không trở thành một vị giải tội tốt lành nhờ một khóa học, không phải thế: khóa học về tòa giải tội là một việc giáo dục dài lâu, kéo dài cả một đời người. Thế nhưng ai là một "vị giải tội tốt lành"? Làm thế nào để trở thành một vị giải tội tốt lành?

Về vấn đề này tôi muốn nêu lên ba khía cạnh.

1- "Vị giải tội tốt lành", trước hết, là một người bạn đích thực của Chúa Giêsu là Vị Mục Tử Nhân Lành. Không có mối thân tình này thì sẽ khó lòng mà phát triển tính chất làm cha là những gì rất cần thiết trong thừa tác vụ Hòa Giải. Việc làm bạn của Chúa Giêsu, trước hết, nghĩa là vun trồng việc cầu nguyện: cả việc cầu nguyện riêng tư với Chúa, không ngừng xin cho được tặng ân bác ái mục vụ, lẫn việc cầu nguyện đặc biệt cho việc thi hành công việc của vị giải tội, cũng như cho tín hữu, những người anh chị em đến với chúng ta để tìm kiếm lòng thương xót Chúa.

Thừa tác vụ Hòa Giải nào "được gắn bó nguyện cầu" sẽ trở thành một đáp ứng khả tín với lòng thương xót Chúa, và sẽ tránh được những gì là thô lỗ cộc cằn và hiểu lầm có những lúc có thể xuất phát ngay trong cuộc gặp gỡ có tính cách Bí Tích. Vị giải tội nào sống đời cầu nguyện thì nhận thức rõ mình là tội nhân đầu tiên và là người đầu tiên được tha thứ. Người ta không thể nào tha thứ bằng Bí Tích mà lại không nhận thức mình đã được thứ tha trước. Bởi thế, cầu nguyện là việc bảo đảm tiên quyết để tránh được các thái độ khắc nghiệt, tránh được việc phán đoán chẳng ra làm sao đối với tội nhân chứ không phải đối với tội lỗi.

Bằng nguyện cầu chúng ta cần van xin tặng ân của một tâm can bị thương tích để có thể hiểu được các thương tích của người khác và chữa lành các thương tích ấy bằng dầu thương xót mà những gì được Người Samaritanô nhân lành đổ lên trên các vết thương của nạn nhân đáng thương mà chẳng được ai động lòng thương (xem Luca 10:34).

Bằng nguyện cầu, chúng ta cần phải xin tặng ân khiêm hạ quí báu, để càng ngày càng ý thức hơn rằng việc tha thứ là một tặng ân nhưng không và siêu nhiên của Thiên Chúa, một tặng ân chúng ta, nếu cần, chỉ là thành phần quản trị theo chính ý muốn của Chúa Giêsu; và Người chắc chắn sẽ hân hoan khi chúng ta biết làm cho lòng thương xót của Người vươn dài nở rộng.

Bởi vậy, bằng nguyện cầu chúng ta hãy luôn cầu khẩn Thánh Linh, Đấng là Thần Linh nhận thức và thương cảm. Vị Thần Linh này giúp chúng ta có thể cảm thông với những nỗi đau khổ của anh chị em chúng ta, những người vào tòa giải tội, cùng hỗ trợ họ bằng việc khôn ngoan và chín chắn nhận thức kèm theo lòng cảm thương về những nỗi khốn khổ của họ là những gì gây ra bởi tình trạng bần cùng của tội lỗi.

2- Sau nữa, vị giải tội tốt lành là một con người của Thần Linh, một con người biết nhận thức. Giáo Hội bị tác hại biết là chừng nào bởi thiếu nhận thức! Tác hại biết bao gây ra cho các linh hồn bởi cách thức tác hành không bắt nguồn từ việc khiêm tốn lắng nghe Thánh Linh cùng ý muốn của Thiên Chúa. Vị giải tội không tác hành theo ý riêng của mình và không dạy dỗ giáo điều riêng của mình. Ngài được kêu gọi để luôn làm theo ý muốn của Thiên Chúa mà thôi, hoàn toàn hiệp thông với Giáo Hội là nơi nhờ đó ngài được làm thừa tác viên, tức là một người tôi tớ.

Việc nhận thức giúp chúng ta luôn biết phân biệt, thay vì bị lẫn lộn, và không bao giờ "cho tất cả mọi người đều có khuyết điểm như nhau - tar all with the same brush". Việc nhận thức là những gì đào luyện nhãn quan của chúng ta cùng tâm can của chúng ta, giúp cho tính chất tinh tế của tâm linh là những gì rất cần thiết đối với những ai cởi mở cung thánh lương tâm của mình ra, có thể lãnh nhận được ánh sáng, bình an và lòng thương xót.

Việc nhận thức cũng cần thiết vì những ai tiến đến với tòa giải tội có thể đến từ những trường hợp thất vọng nhất; họ cũng có thể bị rối loạn về tâm linh là tình trạng tự bản chất cần phải được cẩn thận nhận thức, căn cứ vào tất cả những hoàn cảnh về đời sống, về giáo hội, về tự nhiên và siêu nhiên. Khi vị giải tội nhận thấy xẩy ra những thứ rối loạn về tâm linh thật sự này - một tình trạng phần lớn có tính chất đồng bóng nào đó, nên cần phải được xác nhận bằng việc hợp tác lành mạnh với các khoa học nhân bản - ngài không được chần chờ đem vấn đề này tham khảo với những ai ở trong giáo phận có trách nhiệm về thừa tác vụ tinh tế và cần thiết này, tức là với những vị trừ quỉ. Thế nhưng cần phải rất quan tâm và thận trọng chọn lựa những vị này.

3- Sau hết, tòa giải tội cũng là một nơi truyền bá phúc âm hóa thực sự. Thật vậy, sẽ không có việc truyền bá phúc âm hóa đích thực nào ngoài chính cuộc gặp gỡ với Vị Thiên Chúa của lòng thương xót, với Vị Thiên Chúa là Lòng Thương Xót. Việc gặp gỡ lòng thương xót nghĩa là gặp gỡ dung nhan chân thực của Thiên Chúa, như Chúa Giêsu đã tỏ Ngài ra cho chúng ta biết.

Bởi thế tòa giải tội là một nơi của việc truyền bá phúc âm hóa và vì vậy của cả việc đào luyện nữa. Trong việc trao đổi giữa hối nhân - mặc dù ngắn ngủi - và vị giải tội được kêu gọi để nhận thức những gì hữu ích nhất, hay thậm chí cần thiết cho cuộc hành trình thiêng liêng của người anh chị em đó; có những lúc cần phải tái loan báo những chân lý căn bản nhất của đức tin, tái loan báo cái cốt lõi rạng ngời, tái loan báo lời rao giảng tiên khởi, mà nếu thiếu vắng chúng thì cảm nghiệm về tình yêu của Chúa và lòng thương xót của Ngài vẫn như thể bị câm nín; có những lúc nó cần phải nhắm đến những nền tảng của đời sống luân lý, bao giờ cũng phải liên hệ với chân lý, với sự thiện và với ý muốn của Thiên Chúa. Nó là một công việc của sự nhận thức kịp thời và sáng suốt, những gì có thể trở thành lợi ích lớn lao cho tín hữu.

Thật vậy, vị giải tội được kêu gọi hằng ngày mạo hiểm đến "những vùng ngoại biên của sự dữ và tội lỗi" - tức là một vùng ngoại biên ghê tởm! - và công việc của ngài là một ưu tiên về mục vụ. Giải tội là một ưu tiên mục vụ. Xin đừng để những thông báo viết rằng "chỉ giải tội và Thứ Hai và Thứ Tư vào lúc này lúc kia". Hãy giải tội khi được yêu cầu. Và nếu anh em ở trong tòa giải tội thì hãy cầu nguyện, hãy ở đó với tòa giải tội mở ra như trái tim cởi mở của Thiên Chúa vậy.

Anh em thân mến, tôi chúc lành cho anh em và tôi hy vọng rằng anh em sẽ trở thành những vị giải tội tốt lành, được chìm ngập trong mối liên hệ với Chúa Kitô, có thể nhận thức trong Thánh Linh và sẵn sàng chộp bắt cơ hội để truyền bá phúc âm hóa.

Hãy luôn cầu nguyện cho những người anh chị em của mình, thành phần tìm kiếm Bí Tích tha thứ. Và xin cầu cả cho tôi nữa.

http://www.news.va/en/news/pope-francis-three-characteristics-of-a-good-confe

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 77