mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay372
mod_vvisit_counterHôm Qua14515
mod_vvisit_counterTuần Này36540
mod_vvisit_counterTuần Trước45900
mod_vvisit_counterTháng Này214019
mod_vvisit_counterTháng Trước192249
mod_vvisit_counterTất cả8450570

We have: 76 guests online
Your IP: 54.161.96.152
 , 
Today: May 26, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 372 = CAC PHEP LA VI DAI PDF Print E-mail

CÁC PHÉP LẠ VĨ ĐẠI TRONG KINH THÁNH

Chương mở đầu Kinh Thánh bắt đầu bằng câu: "Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất" (St 1:1). Đó là phép lạ vĩ đại thứ nhất.

Ngày lại ngày, Thiên Chúa có thể dùng những thứ vô hình vô dạng và hoang vu, rồi chỉ một mệnh lệnh đơn giản làm cho muôn vật hiện hữu. Bắt đầu bằng công cuộc sáng tạo lạ lùng là phép lạ thứ nhất của Thiên Chúa, lịch sử đầy những sự kiện kỳ lạ, tất cả được ghi chép trong Kinh Thánh.

Cá phép lạ vĩ đại này được ghi lại trong Cựu Ước và Tân Ước, ảnh hưởng nhiều tới lịch sử và nhân loại. Các phép lạ này vĩ đại theo tỷ lệ và giữ vai trò nhắc nhở, các phép lạ ngày nay vẫn xảy ra trong mọi thứ, và mọi thứ đều có thể đối với Thiên Chúa.

Ngoài phép lạ vĩ đại thứ nhất, đây là 9 phép lạ nổi bật được mô tả trong Kinh Thánh:

1. BÀ SA-RA THỤ THAI TRONG LÚC CAO NIÊN

"Bà Sa-ra có thai và sinh cho ông Áp-ra-ham một con trai khi ông đã già, vào thời kỳ Thiên Chúa đã hứa" (St 21:2).

Điều hầu như là không thể đối với ông Áp-ra-ham ở tuổi 100 và bà Sa-ra ở tuổi 90, nhưng Thiên Chúa đã chúc phúc cho hai vợ chồng đặc biệt này bằng cách cho họ có đứa con trai là I-sa-ác, người được Thiên Chúa thiết lập giao ước vĩnh cửu cho con cháu về sau. Theo sách Sáng Thế, ông Áp-ra-ham đem I-sa-ác tới núi Mô-ri-gia để sát tế theo lệnh Thiên Chúa để thử thách lòng tin của ông. Ngay lúc ông sát tế con trai, thiên thần đã ngăn tay ông và Thiên Chúa chứng giám lòng tin không lay chuyển của ông.

2. MÔ-SÊ PHÂN CHIA NƯỚC BIỂN ĐỎ

"Ông Mô-sê giơ tay trên mặt biển, Đức Chúa cho một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, dồn biển lại, khiến biển hoá thành đất khô cạn" (Xh 14:21).

Ngay trước lúc quân của Pha-ra-ô sắp xâm chiếm Ít-ra-en, Thiên Chúa thực hiện lời hứa bằng cách cho phép ông Mô-sê phân đôi nước biển cho dân đi qua an toàn. Sau đó, Thiên Chúa bảo ông Mô-sê đưa tay ra để làm cho nước biển ập lại như trước, thế là toàn bộ quân thù bị chôn thây dưới lòng biển (Xh14:13-28).

3. MAN-NA TỪ TRỜI

Đức Chúa phán với ông Mô-sê: "Này, Ta sẽ làm cho bánh từ trời mưa xuống cho các ngươi ăn. Dân sẽ ra lượm lấy khẩu phần cho mình, ngày nào cho ngày đó; Ta muốn thử lòng chúng như vậy xem chúng có tuân theo Luật của Ta hay không. Ngày thứ sáu, khi chúng dọn phần ăn đã đưa về, sẽ có gấp đôi phần chúng lượm mỗi ngày" (Xh 16:4-5).

Khi dân Ít-ra-en cảm thấy sắp chết đói, Thiên Chúa tỏ vinh quang của Ngài bằng cách ban chọ man-na và chim cút dồi dào làm lương thực trong suốt 40 năm, cho tới khi họ tới miền đất hứa Ca-na-an (Xh 16:1-35). Thiên Chúa ban cho họ tặng phẩm này trong khi họ đi qua sa mạc, được mô tả hai lần trong Kinh Thánh: một lần trong sách Xuất Hành và một lần trong sách Dân Số.

4. GIÔ-NA VÀ CÁ VOI

Từ trong bụng cá, ông Giô-na cầu nguyện cùng Đức Chúa, Thiên Chúa của ông. Ông nói: "Từ cảnh ngặt nghèo, tôi kêu lên Đức Chúa, Người đã thương đáp lời. Lạy Chúa, từ lòng âm phủ, con cầu cứu, Ngài đã nghe tiếng con. Ngài đã ném con vào vực sâu, giữa lòng biển, làn nước mênh mông vây bọc con, sóng cồn theo nước cuốn, Ngài để cho tràn ngập thân này"... Đức Chúa bảo con cá, nó liền mửa ông Giô-na ra trên đất liền" (Gn 2:2-4, 11).

Khi ông Giô-na bướng bỉnh trốn Thiên Chúa, không tuân lệnh Ngài là đi rao giảng cho dân Ni-ni-vê, Thiên Chúa sai một con cá voi rất to đến nuốt ông vào bụng trong ba ngày, ba đêm. Sau khi nghe ông Giô-na cầu nguyện, Thiên Chúa cho ông thoát ra khỏi bụng cá để ông có thể loan báo mệnh lệnh của Ngài và nhen nhóm lửa đức tin trong dân thành Ni-ni-vê. Họ đã tin và được cứu (Gn 1-4).

5. VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI

"Đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần" (Mt 1:18).

"Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: 'Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói'. Rồi sứ thần từ biệt ra đi" (Lc 1:38).

Thế gian thật diễm phúc từ khi Thiên Chúa tín nhiệm Đức Maria và Đức Giuse để giao phó Thánh Tử Giê-su. Hai vợ chồng trinh tiết đã đón mừng Hài Nhi sinh ra trong hoàn cảnh rất khó khăn, nhưng họ vẫn hoàn thành để bảo vệ Đấng Cứu Thế.

6. ĐA-NI-EN VÀ BẦY SƯ TỬ

Ông Đa-ni-en đáp lại nhà vua: "Hoàng thượng, vạn vạn tuế! Thiên Chúa của thần đã sai thiên sứ đến khoá hàm sư tử khiến chúng không hại được thần, bởi vì trước mặt Người, thần đã được nhìn nhận là vô tội, và, tâu đức vua, ngay trước nhan ngài, thần cũng chẳng làm điều gì ác" (Đn 6:21-23).

Vua Đa-ri-ô đã cho binh lính ném Đa-ni-en vào hang sư tử để trị tội. Nhưng thật kỳ lạ, họ không thấy tiếng sư tử gầm gừ mà thấy chàng trai Đa-ni-en vẫn thanh thản cầu xin Thiên Chúa cứu thoát khỏi nanh vuốt sư tử. Lúc đó, họ không thể phủ nhận phép lạ mà họ chứng kiến, và họ bắt đầu ca tụng Thiên Chúa là Đấng đã cứu sống Đa-ni-en (Đn 6:1-28).

7. CHÚA GIÊ-SU HÓA NƯỚC THÀNH RƯỢU

"Đức Giê-su bảo họ: 'Các anh đổ đầy nước vào chum đi!'. Và họ đổ đầy tới miệng. Rồi Người nói với họ: 'Bây giờ các anh múc và đem cho ông quản tiệc'. Họ liền đem cho ông. Khi người quản tiệc nếm thử nước đã hoá thành rượu" (Ga 2:7-9).

Đó là phép lạ đầu tiên của Chúa Giê-su, Ngài tỏ vinh quang cho các môn đệ bằng cách cứu gia chủ tiệc cưới Ca-na ở Ga-li-lê khi họ hết rượu. Nước hóa thành rượu, không là rượu bình thường mà là rượu hảo hạng, rượu lại quá nhiều vì tới vài trăm lít. Từ việc chữa lành người phong cùi, người mù, người bệnh,... tới việc phục sinh La-da-rô, đó là những chuỗi phép lạ mà Chúa Giê-su đã làm trong ba năm cuối đời (Ga 2:1-10).

8. CHÚA GIÊ-SU HÓA BÁNH RA NHIỀU

Lần thứ nhất, Chúa Giê-su nuôi năm ngàn người: "Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ. Và môn đệ trao cho dân chúng. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con" (Mt 14:19-21).

Lần thứ nhì, Chúa Giê-su nuôi bốn ngàn người: "Người cầm lấy bảy chiếc bánh và mấy con cá, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được bảy thúng đầy. Số người ăn có tới bốn ngàn người đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con" (Mt 15:36-38).

Đám đông bao quanh khi Chúa Giê-su đến, họ đưa các bệnh nhân đến với Ngài và xin Ngài chữa lành cho họ. Để tỏ lòng yêu thương và trắc ẩn theo cách phi thường, hai lần Chúa Giê-su đã cho hàng ngàn người ăn no nê chỉ với vài ổ bánh và vài con cá (Mt 14:13-21; Mt 15:29-39).

9. CHÚA GIÊ-SU ĐI TRÊN BIỂN

"Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. Thấy Người đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: 'Ma đấy!', và sợ hãi la lên. Đức Giê-su liền bảo các ông: 'Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!" (Mt 14:25-27).

Chúa Giê-su biết các môn đệ vẫn nghi ngờ Ngài nên Ngài hiện ra với họ và làm điều mà phàm nhân không thể làm được — bước đi trên mặt nước. Khi Ngài đưa các môn đệ vượt qua mối nghi ngờ và nỗi sợ hãi, Ngài cho họ biết rằng Ngài thực sự là Đấng mà Ngài đã xác nhận: Con Thiên Chúa (Mt 14:25-32).

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Beliefnet.com)

KÍnh chuyển:

Hồng

-------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 371 =CAC THANH-THIEN THAN PDF Print E-mail

CÁC THÁNH, CÁC THIÊN THẦN VÀ LOÀI NGƯỜI GIỐNG VÀ KHÁC KHAU NHƯ THẾ NÀO ?

Lm P.X Ngô Tôn Huấn.

Hỏi :

Xin cha giải thích rõ những thắc mắc sau đây :

1- Có Thiên Thần không ?

2- Thiên thần, các Thánh và loài người khác và giống nhau thế nào ?

Trả lời :

1- Có Thiên Thần ( Angels) hay không ?

Giáo lý của Giáo Hội nói rõ : " Sự hiện hữu của các hữu thể thiêng liêng, không có thân xác mà Thánh Kinh thường gọi là các Thiên Thần, (Angels) là một chân lý của đức tin. chứng từ của Thánh Kinh cũng rõ ràng như toàn thể Thánh Truyền. " ( x. SGLGHCG, số 328))

Là chân lý của đức tin có nghĩa đây là điều phài tin trong toàn bộ niềm tin của Đạo thánh do Chúa Kitô mặc khải và rao giảng.

Chúa Giê su đã nói đến các Thiên Thần như sau :

" Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời." ( Mt 18:10)

Dịp khác, khi nói về sự sống của những ai được sống lại sau khi phải chết trong thân xác con nhười, , Chúa cũng nói rõ : " Quả thật, họ không thể chết nữa vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại." ( Lc 20: 36)

Lần nữa, Chúa cũng nói đến công việc của các thiên thần như sau:

" Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên thần theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự trên ngai vinh hiển của Người." ( Mt 25:31)

Các Thiên Thần cũng được gọi là các Thiên Sứ (Heavenly Messengers) như ta đọc thấy trong Thánh Vịnh sau đây:

" Chúc tụng Chúa đi , hởi muôn vì Thiên sứ
Bậc anh hùng dũng mãnh thực hiện lời Người
Luôn sẵn sàng phụng lệnh." ( Tv 103: 20)

Như thế rõ ràng cho thấy có các Thiên Thần hay Thiên Sứ ở trên trời. Họ là những thực thể thiêng liêng, không có thân xác (spiritual non-corporeal beings) như loài người chúng ta.Họ đựơc tạo dựng cách hoàn hảo ngay từ đầu để thờ lậy, chúc tụng , ngợi khen Chúa trên Thiên Đàng.Họ. không có thân xác,và không vướng mắc tội lỗi như con người. Nhưng một số -mà kẻ cầm đầu là Satan- đã nổi lên chống lại Thiên Chúa và " Thiên Chúa sẽ không dung thứ cho các thiên thần có tội, nhưng đã đẩy họ vào hố địa ngục tối tăm giữ họ để chờ cuộc phán xét."( 2 Pr 2, 4). Khi phải thi hành mệnh lệnh hay sứ mạng nào của Thiên Chúa cho loài người, thì các Thiên Thần cũng phải dùng những phương tiện "con người" để giúp con người hiểu sứ vụ của họ. Thí dụ, Sứ Thần Gabriel đã xuất hiện có thân xác và dùng ngôn ngữ loài người để truyền tin cho Đức Trinh Nữ Maria.(x Lc 1 :26-38)). Sau khi Chúa Giê su giáng sinh trong Hang bò lừa, các Thiên Thần cũng xuất hiện để báo tin cho các mục đồng biết và chỉ chỗ cho họ đến thờ lậy Chúa Hái Đồng..Lại nữa, Khi các Tông Đồ của Chúa Giêsu bị các thuợng tế Do Thái tống giam vào ngục thất, vì đã rao giảng tên Giêsu cho dân chúng, " nhưng ban đêm các thiên sứ của Đức Chúa mở cửa ngục, đưa các ông ra mà nói : các ông hãy đi, vào đứng trong Đền Thờ mà nói cho dân chúng những lời ban sự sống." ( x. Cv 5:19-20)

Trong Giáo Hội, người ta thường minh hoạ các thiên thần với đôi cánh trên vai để "bay từ trời xuống" (theo tưởng tượng của con người.).

II- Sự khác biệt giữa Thiên Thần, Các Thánh và con người:

a- Các Thánh là ai ?

Các thánh ( Saints) trước hết là những con người có hồn có xác, được sinh ra và sống trên trần thế này và đều vướng mắc tội nguyên tổ (original sin) cũng như các tội cá nhân khác, trừ một mình Đức Trinh Nữ Maria, người duy nhất được diễm phúc giữ gìn khỏi mọi tội lỗi từ phút đầu được thụ thai cho đến ngày về trời cả hồn xác.Thánh Gioan Tẩy Giả được tin là chỉ mắc tội tổ tông trong 6 tháng và được khỏi tội này khi Đức Mẹ đến thăm viếng Bà Ê-li-sa-bét. đang mang thai Thánh nhân lúc đó. "Bà Ê-li sa bét vừa nghe tiếng bà Maria chào thì đứa con trong bụng nhảy lên , và bà được tràn đầy Thánh Thần" ( Lc 1:41).Từ sự kiện này, Giáo Hội tin Thánh Gioan Tẩy Giả chỉ mắc tội tổ tông có 6 tháng thôi.

Những người phàm được nên thánh vì đã sống thánh thiện, đã thực tâm yêu mến Chúa và đã " thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" ( Mt. 7: 21) trong suốt cuộc đời của họ trên trần thế này. Họ là những anh hùng tử đạo, tức những người dám đổ máu ra để minh chứng lòng yêu mến Chúa và trung thành với đức tin Công Giáo. Họ là những nhà truyền giáo (missionaries).đã hy sinh đời mình cho sứ mạng phúc âm hoá thế giới. Họ là các Tông Đồ lớn nhỏ của Chúa Kitô. Họ là các Tổ phụ dân Do Thái, là các Ngôn sứ (prophets) , các Giáo Phụ ( Church Fathers) và cũng là những tín hữu không tên tuổi , tức là những người chồng, người vợ đã chu toàn bổn phận của mình trong gia đình và âm thầm sống đức tin, đức cậy và đức mến cách sâu đậm trong suốt cuộc đời tại thế.

Đức Mẹ và các thánh nam nữ đang hưởng Thánh nhan Chúa trên Thiên Đàng và cũng đang hiệp thông với các tín hữu trên trần thế và các linh hồn thánh trong nơi luyện tội( Purgatory) qua lời cầu bầu (intercessions) của họ trước Toà Chúa cho chúng ta và cho các linh hồn còn đang ở nơi thanh luyện cuối cùng là Luyện tội ( purgatory,trước khi được vào Thiên Đàng. ( Tín điều các Thánh thông công).

b- Con người:

Là những tạo vật có hồn có xác,.được dựng nên " theo hình ảnh của Chúa" (St 1:26). Con người được ban cho có lý trí và ý muốn tự do (free will) để hiểu biết và tự do chọn lựa cách sống trên trần thế , nên phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những chọn lựa của mình.tr
ước Thiên Chúa là Đấng công minh,đầy lòng thương xót và thánh thiện. Chính vì con người có tự do , mà vấn đề thưởng phạt chỉ được đặt ra cho riêng con người mà thôi.

Nói khác đi, trong tất cả các tạo vật hữu hình, " chỉ mình con người có khả năng nhận biết và yêu mến Đấng sáng tạo ra mình." ( x SGLGHCG số 356).

Là tạo vật có lý trí và ý muôn tự do ( free will), con người được mời gọi nên thánh để chia sẻ sự sống và hạnh phúc của Thiên Chúa cùng các Thánh và các Thiên Thần ở trên Thiên Đàng , tức Vương Quốc tình yêu và an vui đời đời với Chúa...Vì con người có trí hiểu và tự do chọn lựa , nên Thiên Chúa sẽ phán đoán con người về những việc mình làm trong thân xác và trên trần thế này cho đến ngày linh hồn xa lìa thân xác trong sự chết của bản thân mỗi người.., Ai cũng có thể nên thánh và phải nên thánh, nên hoàn thiện " như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện " như Chúa Giê su đã kêu gọi.( Mt 5: 48).. Lời mời này dành cho hết mọi người sinh ra trên trần thế này.Nhưng vấn đề đặt ra là liệu con người có đáp lại lời mời gọi này hay không, vì con người có tự do chọn lựa để ưng thuận hay từ khước.

Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do đó của con người. Nghĩa là Ngài không ép buộc ai phải yêu mến Ngài và vào dự " Tiệc cưới , cỗ bàn đã dọn sẵn"(x. Mt 22:4). Nếu ai từ khước vào dự Bàn Tiệc Nước Trời, tức là hưởng phúc Thiên Đàng, thì họ đã tự chọn cho mình món ăn và nơi cư ngụ khác sau khi chấm dứt cuộc sống trên trần thế này.

Tóm lại, các Thiên Thần khác với loài người ở điểm căn bản này: Thiên thần là tạo vật hoàn toàn thiêng liêng (spiritual) trọn hảo và bất tử. Chức năng của các ngài là các Thiên sứ( Heavenly Messengers) tức các Sứ giả thi hành mệnh lệnh của Thiên Chúa và hầu hạ Người trên Thiên Đàng. Các Thiên Thần cũng che chở, phù giúp mỗi người chúng ta cách đặc biệt trong cuộc sống trên trần gian này. Đó là chức năng của các Thiên Thần bản mệnh( Guardian Angels), có lễ kính ngày 2 tháng 10 hàng năm.

Các Thánh là những con người từng có hồn xác, tức là có cả tinh thần lẫn vật chất và đã trải qua cuộc sống con người trên trần thế này. Các ngài đã được cứu độ và trở nên thánh , nên giống các Thiên Thần vì đã sống đẹp lòng Chúa ở trần gian này.

Như thế , mọi người chúng ta đều có hy vọng được cứu rỗi, trở thành thánh và nên giống các Thiên Thần nếu chúng ta cùng quyết tâm noi gương các thánh nhất là gương mẫu đức tin, đức cậy và đức mến của Mẹ Maria,Thánh Cả Giuse và các anh hùng tử đạo. Chúng ta cũng có thể nên thánh bằng những việc đơn sơ, nhỏ bé nhưng làm vì lòng mến Chúa như Thánh nữ Tê-rê-xa Giêsu Hài Đồng, hoặc yêu thương săn sóc những người nghèo khó, bênh tật, bị bỏ rơi ngoài đường phố như Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta, đã được tôn phong hiển thánh ( saint).

Tóm lại, có được cứu rỗi và nên thánh hay không là tuỳ thuộc tự do chọn lựa của mỗi cá nhân cộng tác với ơn thánh của Chúa trong suốt cuộc sống trên trần thế này.. Nếu ta quyết tâm thì Chúa sẽ giúp sức nâng đỡ để đạt mục đích cứu độ.. Ngược lai, nếu ai cương quyết từ khước Thiên Chúa để sống theo ý muốn của minh, và làm những sự dữ ,sự tội, như ( theo tin báo chí cho biết) một người cha và ông nội đã hiếp dâm con, cháu gái còn nhỏ bé,rồi bán nó cho bọn bất lương hành nghề ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi, hoặc chồng giết vợ để lấy vợ khác,, hay ngược lại, vợ giết chồng để lấy "kép nhí", như thực trạng sống của biết bao con người trong xã hội ung thối vì vô luân, vô đạo, bất công bạo tàn, vô nhân đạo. . Những ai sống như vậy, thì Chúa sẽ tôn trọng ý muốn tội lỗi này của họ , và dĩ nhiên những con người ấy sẽ phài gánh chịu mọi hậu quả của tự do mình đã chọn.

Đó là lý do phải có Thiên Đàng dành cho những ai thành tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người. Mặt khác phải có hỏa ngục để dành cho những kẻ đã và đang khước từ Chúa và làm những sự dữ . sự tội mà không hề biết sám hối, ăn năn để xin tha thứ.

Ước mong những giải thích trên đây thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 370= DUC GIAO HOANG SAU PDF Print E-mail

 Giáo Hoàng Sau Cùng

Khi về triều kiến Ðức Giáo Hoàng Innocent II, Ðức Giám Mục Malachy nước Ái Nhĩ Lan (Ireland) được xem thấy một thị kiến. Ngài thấy sau Ðức Innocent II thì chỉ còn có 112 vị giáo hoàng nữa, và Ðức Giáo Hoàng Phan Xi Cô Ðệ nhất (Francis I) này là vị giáo hoàng thứ 112 sau Ðức Innocent II.

Vậy có phải Ðức Giáo Hoàng Francis I này là giáo hoàng cuối cùng không? Chúng ta không ai biết vì Ðức Giám Mục Malachy, nay là Thánh Malachy, không ghi chép gì về điều này. Người chỉ liệt kê 112 giáo hoàng, kèm theo mỗi vị là một bí ngôn rất ngắn đễ diễn tả từng vị một.
Về Ðức Benedict XVI Thánh Malachy viết "Gloria Olivae" xin tạm dịch là "Vinh Quang Cây Ô Liu". Bí ngôn này ứng với Ðức Benedict XVI vì ngài thuộc Dòng Olivetans.
Về Ðức John Paul II Thánh Malachy viết "De Labore Solis" hay "Sức Cần Lao Của Mặt Trời". Bí ngôn này ứng nghiệm vì sức cần lao của Ðức John Paul II vượt qua sức cần lao của con người. Việc làm của ngài thật đã phải là việc làm của Thiên Chúa; nhất là sau vụ mưu sát năm 1981 thì sức khoẻ của ngài thật không thể đủ cho những việc ngài đã làm; vậy mà công việc của ngài vẫn toả sáng như mặt trời. Ngài được chọn như một luồng gió mới, rao truyền đức tin Công Giáo trên mọi khía cạnh, và đã đi đến với mọi tầng lớp xã hội. Ngài cũng gặp nhiều khó khăn, nhiều chống đối, nhưng những thử thánh này chỉ như một cuộc nhật thực, qua đi chẳng khác nào như mặt trăng không thể che lấp mặt trời. Ðây-nhật thực- cũng là ý nghĩa của bí ngôn "De Labore Solis".
Bí ngôn về Ðức John Paul I là "De medietate Lunae" hay "Nửa Vầng Trăng". Bí ngôn này ứng nghiệm vì giáo triều của Ðức John Paul I chỉ có 33 ngày.

Bạn có thể tìm đọc những bí ngôn cho những giáo hoàng khác trên các mạng. Ở đây tôi chỉ đưa ra ba bí ngôn ứng nghiệm vào ba vị giáo hoàng ngay trước Ðức Phanxicô I. Tôi đưa ra ba vị này là để bác bỏ lý luận của một vài học giả đã cho rằng những gì Thánh Malachy viết chỉ là bịa đặt. Theo tôi, những sấm ngôn này không thể là bịa đặt được vì nó đã được giữ trong thư viện kín của Vatican mãi đến năm 1590 mới đem ra đọc. Vậy nếu những sấm ngôn này là bịa đặt thì nó chỉ có thể ứng nghiệm với những gì đã qua chứ không thể ứng nghiêm cho tương lai được. Từ năm 1590 cho đến đức John Paul I (1978) là 388 năm; có ai bịa được chuyện tương lai xa vời như vậy không? Dù sao, để lượng giá sấm ngôn của Thánh Malachy, chúng ta hãy nghe những gì mà chính Ðức Phanxicô I nói.

Câu hỏi đầu tiên mà Hồng Y Giovanni Battista hỏi Ðức Hồng Y Bergoglio sau khi ngài được chọn làm giáo hoàng là,"Ngài muốn được gọi bằng danh hiệu gì?" Ðức Hồng Y Bergoglio trả lời, "Tôi sẽ được gọi là Phanxicô I" Sau đó khi được dẫn ra giới thiệu với thế giới tại cửa sổ trông xuống quảng trường Thánh Phêrô, Ðức Phanxicô I nói: "Hẳn mọi người đều biết nhiệm vụ của hồng y đoàn là để cho Rôma một giám mục. Vậy mà dường như những anh em hồng y của tôi đã đi gần đến tận cùng trái đất mới có được người ấy. Dù sao chúng ta cũng ở đây rồi." ("You know that the duty of the conclave was to give a bishop to Rome. It seems that my brother cardinals went almost to the end of the world to get him. But here we are.")

Những gì Ðức Phanxicô nói ở trên đã thật là ngắn ngủi, nhưng lại không đơn giản chút nào, và tôi xin được phân tích.

Trong mệnh đề 'những anh em hồng y của tôi đã đi gần đến tận cùng trái đất' thì 'những anh em hồng y của tôi' là chủ từ của động từ đi. Ði đâu? Thưa, đi đến 'Tận cùng trái đất'. Trên thực tế, các hồng y đã không đi đâu hết. Thành ra, khi nói như vậy là Ðức Phanxicô chơi chữ. Người dùng 'Tận cùng trái đất' là một danh cụm từ chỉ nơi chốn, nhưng thực ra là để nói đến thời gian, cái thời mà chúng ta gọi là 'ngày tận cùng' hay 'The end of the world'. 'Ngày tận cùng' này đã tới chưa? Thưa chưa vì ngài dùng trạng từ 'gần' (almost); chỉ mới gần thôi. Rồi để kết câu ngài nói, 'Dù sao chúng ta cũng ở đây rồi.' Ở đây rồi là ở đâu rồi? Không lẽ ngài lại phải nói với mọi người là chúng ta đang ở Vatican hay sao? Thưa không, vì nói như thế là nói thừa; cho nên chữ 'đây' (here) trong câu này là chữ thay cho danh cụn từ 'Tận cùng trái đất' ở câu trước, nên nó cũng có nghĩa là 'ngày tận cùng' hay 'The end of the world'. Tức là, tuy ngày tận cùng chưa đến, chúng ta đang ở vào những ngày tận cùng.

Nhưng chưa hết. Cái phần quan trọng nhất là câu mở đầu, "Hẳn mọi người đều biết nhiệm vụ của hồng y đoàn là để cho Rôma một giám mục." ("You know that the duty of the conclave was to give a bishop to Rome.) Tại sao Ðức Phanxicô lại phải nói như vậy; mà lại nói vào dịp ra mắt thế giới ngay sau khi được chọn làm giáo hoàng? Tất cả những người theo dõi cuộc chọn lựa này, có ai không biết nhiệm vụ của hồng y đoàn là để cho Rôma một giám mục không? Chắc là không. Vậy thì câu nói này cũng là nói thừa hay sao? Thưa không, nhưng để hiểu lời ngài, chúng ta phải trở lại sấm ngôn của Thánh Malachy.

Thánh Malachy liệt kê 112 giáo hoàng, mỗi giáo hoàng được diễn tả bằng một bí ngôn. Bí ngôn diễn tả vị giáo hoàng thứ 112 là "Peter Romanus." hay "Peter Người Rôma". Peter là ai? Thưa ngài là giáo hoàng và là giám mục Rôma. Ðức Phanxicô cũng là Peter hay giáo hoàng, và cũng là Giám Mục Rôma. Như vậy, khi chọn ngài làm giáo hoàng là hồng y đoàn cho Rôma một giáo hoàng, Giáo Hoàng Phanxicô I. Nhưng Ðức Phanxicô có phải là "Peter Người Rôma" không? Thưa phải. Ðức Phanxicô là người Á Căn Ðình (Argentine) nhưng bố là Người Ý vậy thì Ðức Phanxicô cũng là Người Ý, người Rôma. Sấm ngôn của Thánh Malachy đã hoàn toàn ứng nghiệm. Ðức Phanxicô chính là "Peter Romanus"

Giuse Phạm Văn Tuyến

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 369=BAI 20-TIN TUONG-CAY TRONG PDF Print E-mail

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GIÁO LÝ VỀ NIỀM TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG

BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 26-4-2017

Bài 20

"Thiên Chúa của chúng ta không phải là một vị Thiên Chúa vắng mặt, ẩn khuất ở một bầu trời rất xa cách nào đó; trái lại, Ngài là một vị Thiên Chúa 'say mê' con người (passionate for man), quá dịu dàng yêu thương đến độ bất khả tách mình khỏi loài người..."

"... sẽ không có ngày nào trong cuộc đời của chúng ta mà chúng ta không còn là mối quan tâm của cõi lòng Thiên Chúa. Ngài quan tâm đến chúng ta, và bước đi với chúng ta... việc Thiên Chúa bước đi với chúng ta cũng được gọi là 'Việc Thiên Chúa Quan Phòng': Người quan phòng cho đời sống của chúng ta".

Xin chào anh chị em thân mến!

"Thày ở cùng các con luôn mãi cho đến tận thế" (Mathêu 28:20). Những chữ cuối cùng của Phúc Âm Thánh Mathêu nhắc lại lời công bố ngôn sứ từ ban đầu: "Người sẽ được gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mathêu 1:23; xem Isaia 7:14). Thiên Chúa sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho đến ngày cùng tháng tận. Toàn thể Phúc Âm được khép lại nơi hai câu trích dẫn này, những lời truyền đạt mầu nhiệm về một vị Thiên Chúa có tên gọi, có căn tính là ở với: Ngài không phải là một vị Thiên Chúa cô lập; Ngài là một vị Thiên Chúa ở cùng (a God-with), đặc biệt là với chúng ta, nghĩa là với loài người tạo vật. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một vị Thiên Chúa vắng mặt, ẩn khuất ở một bầu trời rất xa cách nào đó; trái lại, Ngài là một vị Thiên Chúa "say mê" con người (passionate for man), quá dịu dàng yêu thương đến độ bất khả tách mình khỏi loài người. Nhân loại chúng ta tinh khôn trong việc cắt bỏ những mối liên hệ và các nhịp cầu nối. Trái lại, Ngài thì không. Nếu cõi lòng của chúng ta trở nên nguội lạnh, lòng của Ngài bao giờ cũng vẫn rực nồng; Thiên Chúa của chúng ta lúc nào cũng hỗ trợ chúng ta, cho dù, tiếc thay, chúng ta đã quên mất Ngài. Đỉnh điểm dứt khoát tách phân những gì là ngờ vực khỏi đức tin là việc khám phá thấy rằng chúng ta được Cha của chúng ta yêu thương và hỗ trợ, không bao giờ bị Ngài bỏ mặc.

Việc hiện hữu của chúng ta là một cuộc hành hương, một cuộc hành trình. Thậm chí tất cả những ai được tác động bởi một niềm hy vọng thuần nhân loại cũng đều nhận thấy cái thu hút của những chân trời thúc đẩy họ khám phá thấy những thế giới họ vẫn chưa biết. Tâm linh của chúng ta là một tâm linh của người hành hương. Thánh Kinh có đầy những câu chuyện về những người hành hương và những kẻ du hành. Ơn gọi của Abraham bắt đầu bằng lệnh truyền này: "Hãy rời bỏ xứ sở của ngươi" (Khởi Nguyên 12:1). Vị Tổ Phụ này đã bỏ phần đất thế giới mà ông đã quá quen thuộc và đã từng là một trong những cái nôi văn minh ở thời của ông. Hết mọi sự đều liên kết phản nghịch lại với cảm quan tốt đẹp về cuộc hành trình này. Tuy nhiên Abraham vẫn lên đường. Chúng ta không trở thành những con người nam nữ trưởng thành nếu chúng ta không thấy được cái thu hút của chân trời là chỗ gặp nhau giữa trời và đất, nơi cần phải vươn tới bởi thành phần những kẻ tiến bước.

Trong cuộc hành trình trần thế của mình, con người không bao giờ lẻ loi cô độc. Kitô hữu đặc biệt không bao giờ cảm thấy bị bỏ rơi, vì Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng Người chẳng những chờ đợi chúng ta ở cuối cuộc hành trình lâu dài của chúng ta mà Người còn hỗ trợ chúng ta mọi ngày sống của chúng ta............

Nếu chúng ta chỉ tin tưởng vào sức mạnh của chúng ta mà thôi, chúng ta chắc chắn sẽ có lý do để cảm thấy thất vọng và thua bại, vì thế giới này thường tỏ ra bướng bỉnh đối với lề luật yêu thương. Rất thường xẩy ra chuyện chúng ta yêu thích các thứ luật vị kỷ hơn. Tuy nhiên, nếu niềm tin tưởng này tồn tại trong chúng ta là Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta, Thiên Chúa yêu thương chúng ta và thế giới này mỏng dòn, thì chúng ta lập tức thay đổi quan niệm. Người xưa đã nói: "Homo viator, spe erectus - con người lữ hành, hy vọng trung kiên". Lời Chúa Giêsu hứa "Thày ở cùng các con" trong cuộc hành trình là những gì khiến chúng ta đứng, thẳng đứng, bằng niềm hy vọng, tin tưởng rằng vị Thiên Chúa nhân lành đã hoạt động để thực hiện những gì bất khả nơi loài người rồi, vì cái neo này đang ở vùng vịnh nước trời (heaven's beach).

Thành phần dân thánh trung thành của Thiên Chúa là thành phần đứng - "homo viator" - và bước đi, thế nhưng thẳng đứng, "erectus", và bước đi trong niềm tin tưởng cậy trông. Bất cứ nơi nào họ tới, họ đều biết rằng tình yêu thương của Thiên Chúa đã đi trước họ: không có một phần nào của thế giới này thoát khỏi cuộc vinh thắng của Chúa Kitô Phục Sinh. Mà cuộc vinh thắng của Chúa Kitô Phục Sinh là gì? Đó là cuộc vinh thắng của tình yêu. Xin cám ơn anh chị em.

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-gods-promise- that-gives-hope/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

-----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 368 = THANH CLEOPHAS LA AI? PDF Print E-mail

THÁNH CLEOPHAS LÀ AI ?

Thánh sử Luca cho biết rằng có hai người đàn ông đang trên đường đi Emmau ngày Chúa Nhật phục sinh thì Đức Kitô hiện ra với họ và làm cho họ nhận ra Ngài khi Ngài bẻ bánh. Một trong hai ông là Cleophas (Cơ-lê-ô-pát).

Đây là đoạn Phúc Âm theo Thánh sử Luca:

Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?". Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cleophas trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay" (Lc 24:13-18).

Cleophas là ai? Cornelius Lapide đã dẫn chứng lời của Thánh Giêrônimô nói rằng Thánh Cleophas là EM TRAI CỦA THÁNH GIUSE (Phu Quân của Đức Maria), là cha của Thánh Giacôbê Nhỏ và Thánh Giuđa (Tađêô), đồng thời là ông của Thánh Giacôbê Lớn và Thánh Gioan – hai con của Thánh Maria Salômê, con gái của Thánh Cleophas".

Chúng ta cùng xem xét:

1. Cleophas là em của Thánh Giuse và là em rể của Đức Mẹ (Thánh Giêrônimô nói vậy).

2. Cleophas là cha của Tông đồ Giacôbê Nhỏ (Hậu), Tông đồ Giuđa (Tađêô) và Maria Salômê.

3. Cleophas là ông của Tông đồ Giacôbê Lớn (Tiền) và Tông đồ Gioan vì Maria Salômê (con gái của Cleophas là mẹ của Tông đồ Giacôbê Lớn và Tông đồ Gioan.

Điều này làm cho Thánh Cleophas trở thành cha củahai Tông đồ và ông của hai Tông đồ khác. Điều này cũng cho biết rằng Thánh Giacôbê Nhỏ và Thánh Giuđa (Tađêô) là hai ông chú của Thánh Giacôbê Lớn và Thánh Gioan.

Danh sách tử đạo củaGiáo Hội Công Giáo xác định ngày tháng tử đạo của Thánh Cleophas là ngày 25 tháng 9, do chính quyền Do Thái tại Giuđê.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Cantuar.blogspot.com)

Kính chuyển:

Hồng
------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 1 of 82