mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay631
mod_vvisit_counterHôm Qua10757
mod_vvisit_counterTuần Này44831
mod_vvisit_counterTuần Trước45104
mod_vvisit_counterTháng Này135887
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10640143

We have: 102 guests online
Your IP: 54.162.173.119
 , 
Today: Apr 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - NGOI MO TRONG PDF Print E-mail


Apr 1 at 12:13 PM
NGÔI MỘ TRỐNG : LÀ DẤU CHỈ TÌNH YÊU THIÊN CHÚA TRONG CUỘC ĐỜI MÌNH
Trần Mỹ Duyệt

Thế là Giêsu người thành Nagiarét đã "mồ yên mả đẹp". Thôi thì hãy yên nghỉ và quên đi những vất vả trên những nẻo đường truyền giảng Tin Mừng. Quên đi những tiếng la ó, những lời thóa mạ, phản kháng, và bản án bất công. Quên đi những tiếng búa chát chúa làm xuyên thấu tay chân bằng những chiếc đinh dài và nhọn nhưng rất vô tình. Quên đi cơn hấp hối kinh hoàng tưởng chừng "Cha nỡ bỏ con" (Mt 27:46). Quên đi đồi Golgotha loang máu. Và Giêsu ơi! Hãy ngủ yên.

Câu chuyện tưởng đã yên, nhưng mới sáng ngày thứ nhất trong tuần đã bị khua động trở lại. Ngài đã không ngủ yên. Ngài đã chỗi dậy và ra khỏi mồ. Maria Mađalêna và một số phụ nữ đã phát hiện ra rằng ngôi mộ đã trở thành trống rỗng, và thân xác Giêsu đã không còn trong đó nữa. Thế là một lần nữa, những thiếu phụ này lại bị xúc động và sợ hãi: "Chúa đã bị mang ra khỏi mồ. Chúng tôi không biết họ để Ngài ở đâu" (Gio 20:2). Ðiều này cũng làm cho các môn đệ đã hoang mang sợ hãi, càng thêm hoang mang sợ hãi hơn. Phêrô và Gioan cũng đã bị lôi cuốn, và muốn tìm ra sự thật.

Những nhân chứng ấy không ai khác là Maria Mađalêna và một số phụ nữ, Phêrô và Gioan, những người mà liên hệ mật thiết với Ðức Kitô đã được nói đến nhiều trong Tin Mừng (x Gio 20:1-10).

Thời gian là buổi sáng phục sinh, khi mà người, vật còn đang ngái ngủ. Khi ánh bình minh vừa ló rạng. Vào thời điểm ấy, ta mường tượng các phụ nữa kia đang âm thầm và lặng lẽ bước đi trong sương mai, và những con gió thoảng buổi sáng đang làm họ se lạnh. Những cơn gió mát, nhẹ nhàng và thoang thoảng.

Không gian là ngôi mộ trống bên triền đồi Golgotha. Nơi mà buổi chiều thứ Sáu thảm sầu, một tử thi đã được chôn cất vội vã!

Và Chúa Giêsu đã sống lại. Biến cố này đã trở thành niềm tin và sức sống mãnh liệt cho nhân loại trong suốt chiều dài lịch sử cứu độ. Hàng triệu triệu người đã sống với niềm tin này, và hàng triệu triệu người đã chết để bảo vệ niềm tin này. Nhưng đối với những người như chúng ta, những chứng từ ấy phải chăng vẫn còn là một nghi vấn. Nó có nghĩa gì trong cuộc sống đạo của mỗi Kitô hữu?

Có cần phải tình cảm và xúc động như Maria Mađalêna và những phụ nữ đã có mặt trong buổi sáng phục sinh không: "Thưa ông, nếu ông mang Ngài đi đâu, xin làm ơn chỉ cho tôi chỗ ông đã đặt Ngài để nhận Ngài lại" (Gio 20:15).

Cuộc sống đạo, cuộc sống tâm linh đôi lúc cũng cần được nuôi dưỡng bởi những động lực và thôi thúc tình cảm như thế. Có lúc chúng ta cần phải xúc động khi tham dự những nghi lễ sốt sắng. Cũng có lúc chúng ta cần phải để lòng mình lắng đọng khi gối quì một mình trong thinh lặng tại một góc của giáo đường. Và cũng có lúc chúng ta phải để cho lòng mình thổn thức một niềm cảm xúc trước những vẻ đẹp và sự cuốn hút của Thiên Chúa qua những người, những vật, mà chúng ta đụng chạm tới.

Có cần phải hăm hở và nhiệt tình như Phêrô, như Gioan đã nhanh chân chạy ra mộ để tìm ra những dấu hiệu của cuộc phục sinh không: "Phêrô và môn đệ kia bắt đầu chạy ra mồ. Họ cùng chạy bên nhau, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn và đến mồ trước. Ông không vào trong nhưng cúi xuống nhìn vào và thấy những khăn liệm ở trên đất" (Gio 20:3-5).

Ðời nội tâm nếu chỉ dựa vào những rung động của tình cảm sẽ dễ trở thành mê tín, dị đoan, nhìn Chúa Giêsu mà lại tưởng là người làm vườn. Hoặc ngược lại, nhìn người làm vườn mà lại cho là Chúa Giêsu, như trường hợp của Maria Mađalêna. Niềm tin, ngoài những yếu tố tình cảm cũng đòi hỏi những dấu hiệu khả tín và dựa vào những lý luận hợp lý. Có lẽ vì phản ứng tự nhiên ấy mà cả Phêrô lẫn Gioan đã hăm hở chạy ra mộ.

Ngôi mộ trống, tự nó, đã có chỗ đứng lịch sử trong biến cố phục sinh. Nếu nó đã bị phá hủy ngay đêm thứ Sáu do lính của La Mã thì mọi chuyện đã đổi chiều. Hoặc nếu đám lính canh của các Thượng Tế gửi tới vẫn còn đang thức khi nhóm phụ nữ đến mộ thì sự việc cũng lại khác hẳn. Nhưng ngôi mộ mà xác thân của Giêsu đã được mai táng, và từ ngôi mộ ấy, Chúa đã sống lại vẫn còn đó, trống vắng, và lạnh lùng. Người ta chỉ tìm được những giây băng, vải cuốn, và khăn liện. Chính vì vậy mà nó đã trở thành một dấu chỉ đầy ý nghĩa của biến cố phục sinh.

Nó cho chúng ta một ý niệm về thái độ dứt khoát với quá khứ. Chúa Kitô đã để lại tất cả những gì thuộc về thế giới kẻ chết như khăn liệm và băng quấn lại cho thế giới của sự chết. Ngài đã ra khỏi mộ và không trở lại. Thân xác Ngài giờ đây là thân xác thần linh, thân xác có thể vào nhà nơi các môn đệ Ngài trong lúc vẫn cửa đóng, then cài. Và đó là ý nghĩa của sống lại, của phục sinh.

Nó còn là một dấu chỉ để con người suy về quá khứ. Một quá khứ với những đa mê và dục vọng. Ðiều này cũng có nghĩa là chúng ta sẽ không ngoái nhìn lại quá khứ và không nên tiếc nuối những gì mình đã bỏ lại. Nếu Thiên Chúa có nhìn đến chúng ta lúc này, thì Ngài muốn nhìn thấy một tinh thần vượt qua từ mồ sâu tội lỗi. Và nếu con người có nhìn đến chúng ta, thì họ sẽ chỉ thấy một chiếc khăn liệm gói trọn quá khứ, và hiện tại là sự đổi mới hoàn toàn. Không luyến tiếc, không ngoảnh mặt lại với quá khứ, nhất là quá khứ từng làm cho con người hư hỏng và sa lầy trong tội, là thái độ mà Chúa Giêsu Phục Sinh muốn thấy nơi mỗi Kitô hữu. Họ cần phải dứt khoát với quá khứ ấy, nếu muốn cùng Ngài phục sinh như Tông Ðồ Phaolô đã khẳng định: "Nếu ta cùng chết với Ngài ta sẽ cùng Ngài phục sinh" (Rom 6:5).

Ngôi mộ trống vẫn không nói nhiều. Ngôi mộ trống cũng vẫn im lìm một chỗ không di chuyển. Và ngôi mộ trống cũng vẫn chỉ là một ngôi mộ trống. Nhưng hình ảnh của nó gắn liền với buổi sáng phục sinh, với Maria Mađalêna, với Phêrô và Gioan, và tất cả những ai đang tin vào Con Thiên Chúa - Ðấng xóa tội trần gian - đã chịu cực hình thập giá, và được mai táng trong đó. Và cũng từ ngôi mộ ấy, Ngài phục sinh vinh hiển.

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Cuộc sống mỗi Kitô hữu cũng phải như ngôi mộ trống ngày phục sinh. Có nghĩa là chúng ta phải trở nên dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, và sự sống lại của Chúa Kitô trong cuộc đời mình. Ðể được thế, trước hết ngôi mộ tâm linh này phải đón nhận Chúa Giêsu Tử Giá bằng những chứng từ cuộc sống, và để Ngài làm cho nở hoa, phục sinh trong quyền lực Thiên Chúa. Như vậy, mỗi khi có ai nhìn vào ngôi mộ tâm linh ấy, tức là linh hồn của mỗi Kitô hữu, họ sẽ khám phá ra không phải là những người giầu tình cảm đạo đức, những người thông thạo giáo lý, hiểu biết; nhưng hơn thế, họ nhận ra một Chúa Giêsu phục sinh và vinh hiển.

Cuộc đời tôi, cuộc hành trình tâm linh của tôi cũng cần phải giống như ngôi mộ trống kia, để tất cả những ai tò mò nhìn vào cũng nhận ra dấu chứng của Chúa phục sinh.

-------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - TAI SAO CHUA CHET VA SONG LAI PDF Print E-mail

Tại sao Chúa Giêsu chết và sống lại?

Cái chết của Chúa Giêsu hoàn tất điều gì? Tại sao Thiên Chúa tha tội lại cần Đức Giêsu phải đổ máu? Thiên Chúa có phản ứng thái quá khi đưa ra cách xử lý quyết liệt như vậy? Tại sao Chúa Giêsu phải chết để hoàn toàn xá tội cho chúng ta? Sự phục sinh của Chúa Giêsu bảo đảm ơn tha tội như thế nào?

Hãy nhìn sâu vào sự thật: Chúa Giêsu chết trên Thập Giá.

Đọc chuyện kể về cái chết của Chúa Giêsu sẽ cho thấy rằng Ngài bị đóng đinh trên Thập Giá lúc 9 giờ sáng và chết lúc 3 giờ chiều. Ngài đã chịu thử thách khủng khiếp trong sáu giờ.

Cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá có nhiều cái thâm sâu hơn nỗi đau đớn hữu hình, nỗi đau khổ khủng khiếp, và nỗi nhục nhã ê chề của Đấng Vô Tội là Con Thiên Chúa.

Vấn đề lớn nhất chúng ta phải đối mặt là đã không chấp nhận sự phục sinh của Đức Kitô, và sự thật là "Ngài vẫn sống" ngày nay. Vấn đề lớn nhất mà các tội nhân chúng ta phải đối mặt là chấp nhận chúng ta phải chết vì phạm tội, và bị mất phần trong Cái Chết của Ngài, Sự Mai Táng và Sự Phục Sinh của Ngài. Đó là tình trạng vô vọng của chúng ta vì tội lỗi. Do đó sự phục sinh của Đức Kitô trở thành sự thật rất cần thiết.

Nhiều người nói rằng họ cố gắng sống theo Mười Điều Răn hoặc theo các quy luật sống khác. Nếu chúng ta chân thật, mỗi chúng ta sẽ khám phá ra rằng chúng ta đã vi phạm các tiêu chuẩn đó vào một lúc nào đó. Đó là điều Thánh Phaolô có ý nói tới: "Mọi người đã phạm tội và bị tước mất vinh quang Thiên Chúa" (Rm 3:23).

Sự an toàn thực sự là sự tự do, không sợ hãi và không nghi ngờ. Sự tự do như thế chỉ hiện hữu nếu chúng ta an toàn trong mối quan hệ với Thiên Chúa. Được kết hợp với Ngài trong sự sống và sự sống lại là sự an toàn tuyệt đối. Bị tách khỏi Ngài trong sự sống và sự sống lại là mối nguy hiểm tuyệt đối.

Mọi người sinh ra trong tình trạng khác nhau, nhưng mọi người có thể được kết hợp. Thiên Chúa cung cấp cho cách giải quyết. Chấp nhận cách giải quyết này, người ta phải chấp nhận sự thật này: Thiên Chúa là Đấng Thánh, còn loài người thì không thánh.

Sự hoàn hảo của Thiên Chúa đối nghịch với sự ác. Luân lý của chúng ta bị tổn thương khi chúng ta thấy sự ác. Bị xúc phạm là phản ứng đúng đắn, thậm chí chúng ta gọi các phản ứng như vậy là "sự căm phẫn chính đáng". Chúng ta bị xúc phạm về luân lý bởi những gì chúng ta thấy.

Điều chúng ta không hiểu đó là sự thật vô hạn về Thiên Chúa vì Ngài hoàn hảo về luân lý. Ngài bị xúc phạm bởi các phản ứng xấu, dù là sự căm phẫn chính đáng. Ngài không thể làm ngơ. Ngài phải bảo vệ công lý chứ không thỏa hiệp và không thiên vị. Tội lỗi phải bị trừng phạt. Vấn đề bây giờ: Tôi có là người phạm tội?

Tôi phạm tội vì tôi không hoàn hảo. Thiên Chúa trao cho loài người Mười Điều Răn để chúng ta cố gắng sống tốt hơn, vì Ngài biết chúng ta không thể tốt đúng mức. Chỉ có Ngài hoàn hảo tuyệt đối: "Không có ai nhân lành cả, trừ một mình Thiên Chúa" (Mc 10:18).

Đây là cách Ngài đo lường mức độ hoàn hảo: "Ai tuân giữ tất cả Lề Luật, mà chỉ sa ngã về một điểm thôi, thì cũng thành người có tội về hết mọi điểm. Thật vậy, Đấng đã phán: Ngươi không được ngoại tình, cũng đã phán: Ngươi không được giết người. Vậy nếu bạn không ngoại tình, nhưng lại giết người, thì bạn cũng thành kẻ vi phạm Lề Luật" (Gc 2:10-11). Chuyện là thế đấy! Tôi giữ tất cả hoặc tôi không giữ gì cả. Không có chuyện "nước đôi". Vấn đề thế này: Tôi có làm điều xấu? Nếu vậy, tôi là người phá luật và tôi phạm tội "không tuân giữ điều răn".

Một sự thật khác là sự vô vọng trong tình trạng của tôi. Các điều răn phải được giữ trọn vẹn. Ham muốn là phạm tội từ trong lòng. Ghen ghét là giết người từ trong lòng.

Trình thuật Mt 5:21-28 cho biết rõ: "Anh em đã nghe Luật dạy người xưa rằng: Chớ giết người; ai giết người, thì đáng bị đưa ra toà. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: Ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra toà. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc, thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng. Còn ai chửi anh em mình là quân phản đạo, thì đáng bị lửa hoả ngục thiêu đốt. Vậy, nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. Anh hãy mau mau dàn xếp với đối phương, khi còn đang trên đường đi với người ấy tới cửa công, kẻo người ấy nộp anh cho quan toà, quan toà lại giao anh cho thuộc hạ, và anh sẽ bị tống ngục. Thầy bảo thật cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó, trước khi trả hết đồng xu cuối cùng. Anh em đã nghe Luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi". mặc dù tôi có thể kiềm chế hành động bên ngoài (giết người, ngoại tình), cũng chẳng dễ kiềm chế ý nghĩ (ghen ghét, ham muốn).

Hãy đến gặp Thần Y Giêsu để được xét nghiệm linh hồn bằng "tia X tâm linh" ngay! Hãy cắt bỏ mọi "khối u tội lỗi" rồi đặt trước mặt Ngài để xin Ngài chữa lành bằng Linh Dược Lòng Thương Xót.

Kinh Thánh dạy rằng chết là tách rời chứ không là chấm dứt. Đây là "cú phạt đền" đối với tội lỗi của nhân loại. Có sự tách rời khỏi Thiên Chúa trong cuộc đời này và kiếp sau. Hiểu được sự đền bù của Thiên Chúa về luân lý thì chúng ta sẽ hiểu vấn đề tách rời này.

LAMBERT DOLPHIN

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ GodResources.org)

Virus-free. www.avast.com

--------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LM NGO TON HUAAN PDF Print E-mail

CÓ HỎA NGỤC KHÔNG và DÀNH CHO AI ?
Nhân Tuần Thánh và Mùa Phục Sinh tưởng niệm cuộc tử nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết đời đời vì tội , xin cha cho biết:
1- Chúa có phạt ai xuống hỏa ngục không ?
2- Luyện ngục ,hỏa ngục khác nhau như thế nào ?
3- Tín điều các Thánh thông công là gì ?
Trả lời :
1- Chúa có phạt ai xuống hảo ngục không ?
Thiên Chúa là tình thương, Người chậm bất bình và hay tha thứ. Người tạo dựng con người chỉ vì yêu thương vô vị lợi và " muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4). Nghiã là Chúa muốn cho mọi người được vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Người trên Thiên Đàng, là nơi không còn đau khổ , bệnh tật, nghèo nàn, bóc lột, bất công , chiến tranh, khủng bố và chết chóc nữa.
Hạnh phúc Thiên Đàng là hạnh phúc mà " mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe lòng người chưa hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người." ( 1 Cor 2: 9) Như Thánh Phaolô đã dạy.
Nhưng muốn hưởng hạnh phúc Thiên Đàng thì phải yêu mến Chúa và tuân giữ các giới răn của Người.
Tại sao ? tại vì Thiên Chúa là " tình thương" nên " ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa" ( 1 Ga 4 : 8)
Hơn thế nữa, quan trọng không kém là phải cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc cực trọng của Chúa Kitô , Đấng đã hy sinh mạng sống mình " làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20:28)
Biết Thiên Chúa là tình thương , mà quả thật Người là tình thương, thì lẽ tự nhiên ta phải yêu mến Người với tất cả tâm trí và nghị lực để đáp trả phần nào tình thương quá lạ lùng của Chúa dành cho con người. Vả Lại, yêu mến Chúa chỉ có lợi cho ta chứ Chúa không được lợi lộc gì vì Người đã quá đủ hạnh phúc , vinh quang và giầu sang nên không cần ai thêm gì cho Người nữa.
Tuy nhiên, vì Thiên Chúa tạo dựng con người với hai đặc tính độc đáo là có lý trí và ý muốn tự do ( intelligence and free will) và Thiên Chúa hoàn toàn tôn trọng cho con người sử dụng hai khả năng đó, nên vấn đề thưởng phạt mới được đặt ra cho riêng con người mà thôi.Nghĩa là nếu con người , qua lý trí, nhận biết có Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời đất và muôn vật – trong đó có con người- thì con người phải sử dụng ý muốn tự do của mình để chọn yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người để được cứu rỗi và vui hưởng hạnh phúc Nước Trời.
Nhưng con người phải tỏ thiện chí muốn yêu mến Chúa bằng hành động cụ thể để chứng minh, chứ không thể nói suông ngoài môi miệng được, như Chúa Giê su đã nói rõ với các môn đệ xưa là:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa !, Lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 : 21)
Nhưng thế nào là thi hành ý muốn của Chúa Cha ,Đấng ngự trên Trời?
Chúa Giêsu đã chỉ cho ta cách thi hành ý muốn của Chúa Cha như sau :.
" ai yêu mến Thầy , thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy." ( Ga 14: 23)
Giữ lời Thầy có nghĩa là thực thi những gì Chúa đã rao giảng và dạy bảo , cụ thể là hai Điều Răn quan trọng nhất, đó là mến Chúa và yêu người, như Chúa đã nói với một luật sĩ Do Thái xưa. ( Mt 22: 37-39)
Như vậy , thực thi hai Điều Răn đó là chứng minh cụ thể lòng yêu mến Chúa để xứng đáng được " Cha Thầy và Thầy đến ở" với ta như Chúa Giêsu nói trên đây.
Là con người , ai lại không muốn hạnh phúc, sung sướng và bình an ? nên yếu mến Chúa là yêu mến chính nguồn hạnh phúc, an vui vĩnh cửu đó.Như thế, chỉ có lợi cho con người khi chọn yêu mến Chúa, chứ tuyệt đối không có lợi lộc gì cho Chúa hết. Chúng ta phải xác tín điều này, để đừng ai nghĩ rằng Thiên Chúa được lợi lộc gì khi ta yêu mến và tuân giữ các giới răn của Người. .
Đó là điều chắc chắn ta phải tin khi thi hành các Điều Răn của Chúa để không giết người, trộm cắp. gian dâm, thông dâm, mãi dâm, ấu dâm, phái thai, ly dị, thù oán người khác, kỳ thị chủng tộc, nói xấu , vu cáo làm hại danh dự và đời tư của người khác, bất công , bóc lột người làm công cho mình, và dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của anh chị em đồng loại, và nhất là, buôn bán phụ nữ và trẻ gái cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi,như thực trạng của thế giới vô luân vô đạo hiện nay.
Nếu ta tuân giữ các Điều Răn của Chúa để không làm những sự dữ hay tội lỗi nói trên, thì chúng ta đã yêu mến Chúa cách cụ thể để được " ở lại trong tình thương của Người" như Chúa Giêsu đã dạy trên đây. Ngược lại, nếu ai dùng " ý muốn tự do= free will để làm những sự dữ nói trên thì đã tự ý và công khai khước từ Thiên Chúa và tình thương của Người. Như thế họ phải lãnh chịu mọi hậu quả của việc mình làm vì tự do chọn lựa.
Chính vì con người có tự do để chọn lựa , hoặc sống theo đường lối của Chúa để được chúc phúc; hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng mình và chạy theo những lôi cuốn của thế gian , nhất là những cám dỗ của ma quỉ để tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất và mọi thú vui vô luân vô đạo, như thực trạng sống của con người ở khắp nơi trong thế gian tục hóa ngày nay.Nếu ai chọn sống như vậy, thì cũng đã tự ý chọn nơi cư ngụ cuối cùng cho mình, sau khi phải chết trong thân xác có ngày phải chết đi này.Thiên Chúa yêu thương con người và đã cứu chuộc con người nhờ Chúa Kitô. Nhưng Thiên Chúa cũng gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi và sự dữ đi ngược lại với bản chất yêu thương, công bình và thánh thiện của Người. .
Nhưng cho dù Thiên Chúa quá yêu thương con người như vậy, mà con người không cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và xa tránh mọi sự dữ và tội lỗi thì Chúa vẫn không thể cứu ai được. Lý do là Chúa không tiêu diệt hết mọi tội lỗi và vì con người còn có tự do để cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa , hay khước từ ơn cứu chuộc này để sống theo thế gian và làm nô lệ cho ma quỉ, kẻ thù của Thiên Chúa.
Như vậy, nếu Thiên Đàng là nơi dành cho những ai thực tâm yêu mến Chúa, tuân giữ các giới răn của Người và quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi, thì hỏa ngục phải là nơi dành cho những ai đã cố ý khước từ Chúa và tình thương của Người để sống theo ma quỷ và làm những sự dữ nói trên , như đang diễn ra ở khắp nơi trên thế giới trống vắng niềm tin này. Như thế, phải có hỏa ngục dành cho những kẻ gian ác đã tự ý chọn cho mình nơi ở vinh viễn xa lìa Thiên Chúa ngay từ ở đời này. Nghĩa là họ đã tự ý chọn hỏa ngục vì cách sống của họ, chứ không phải vì Thiên Chúa muốn phạt ai ở chốn này, vì Người là Cha đầy yêu thương và " không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải." ( 2 Pr 3 : 9).
2- Sự khác biệt giữa hỏa ngục và Luyên tội :
Chúa Giê su thường nói đến hỏa ngục là nơi lửa không bao giờ tắt ( Mt 5: 22).
Thánh Gioan Tông Đồ đã coi những kẻ sát nhân là những kẻ không có sự sống đời đời ,tức là phải xa lìa Thiên Chúa trong nơi gọi là hỏa ngục:
" Phàm ai ghét anh em mình, thì là kẻ sát nhân
Và anh em biết:
Không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó" (1 Ga: 15)
Nhưng cần phân biệt điều này: con người dù tội lỗi đến đâu, mà biết sám hối ăn năn thì vẫn được Chúa thương tha thứ. Cụ thể là Chúa Giêsu đã tha thứ cho người gian phi ( kẻ trộm lành) nhận biết tội mình và xin Chúa tha thứ:
" Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." ( Lc 23: 39-43) .
Ngược lại, chỉ những ai tội lỗi mà không hề sám hối để xin Chúa tha thứ , đặc biệt là tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội hoàn toàn từ chối lòng thương sót của Chúa cho đến chết , thì sẽ không bao giờ được tha thứ, như Chúa Giê su đã nói rõ trong Tin Mừng Thánh Marcô.( Mc 3: 29)
Lại nữa, những ai chết đang khi mắc tội trọng ( mortal sin) thì cũng chịu hình phạt hỏa ngục, căn cứ theo giáo lý của Giáo Hội. ( X SGLGHCG, số 1035) . Tuy nhiên , cần nói lại là Thiên Chúa không tiền định cho ai phải xuống hỏa ngục , hoặc muốn phạt ai trong nơi "lửa không hề tắt" này. Nhưng vì con người có tự do trong đời sống thiêng liêng, nên nếu ai dùng tự do này để xa lìa Chúa , để tự do làm những sự dữ mà không hề biết ăn năn, xin Chúa thứ tha thì đã tự ý chọn hỏa ngục làm nơi cư ngụ cuối cùng cho mình.
Trái với hỏa ngục , Luyên ngục hay Luyên tội ( Purgatory) là nơi các linh hồn thánh ( holy souls) được thanh luyện để đạt được sự thánh thiện cần thiết trước khi vào Thiên Đàng vui hưởng Thánh Nhan Chúa là nguồn vui hạnh phúc của các thánh và các thiên thần.Các linh hồn đang " tạm trú" ở đây là những người đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa, tức là được bảo đảm về ơn cứu độ, nhưng vẫn cần được thanh luyện để đạt mức thánh thiện cân xứng trước khi gia nhập hàng ngũ các Thánh trên Thiên Quốc. Các linh hồn thánh này không thể làm thêm việc thiện, và cũng không thể phạm tội được nữa vì thời giờ đã mãn cho họ trên trần gian này. Vì thế, trong khi còn được thanh luyện ở nơi đây, các linh hồn mong đợi các Thánh trên Thiên Đàng và các tín hữu còn sống cứu giúp họ bằng lời cầu nguyện và các việc lành. Ngược lại, các linh hồn cũng có thể cầu xin đắc lực cho các tín hữu còn sống trên trần thế và trong Giáo Hội lữ hành. Nhưng các Thánh trên Trời, các linh hồn thánh trong Luyện ngục và các tin hữu còn sống không thể giúp gì cho các linh hồn đã lìa xa Chúa trong hỏa ngục, vì không có sự hiệp thông nào giữa nơi này với Thiên Đàng, Luyện ngục và Giáo Hội đang lữ hành trên trần thế.
3 – Tín điều các Thánh Thông Công ( comm of Saints )
Tín điều này dạy: chỉ có sự hiệp thông giữa Giáo Hội vinh thắng ( Triumphal Church) trên trời và Giáo Hội lữ hành ( Pilgrim Church) trên trần thế cùng với Giáo Hội đau khổ ( Suffering Church) trong Luyện Tội. Nghĩa là các Thánh trên Trời , các linh hồn thánh trong Luyện tội và các tín hữu còn sống và đang hiệp thông với Giáo Hội, cả ba thành phần này được hiệp thông với nhau trong cùng một niềm tin, tôn thờ Thiên Chúa , nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.
Các Thánh nam nữ trên trời hiệp thông với các linh hồn thánh trong Luyện Tội và các tín hữu trên trần gian bằng lời nguyện giúp cầu thay đắc lực trước Tòa Chúa cho các linh hồn và các tín hữu còn sống. Các linh hồn trong Luyện tội không thể tự giúp mình được nhưng có thể cầu xin cho các tin hữu còn sống. Các tín hữu có thể làm việc lành như cầu nguyện. làm việc bác ái và xin lễ cầu cho các linh hồn trong Luyên Tội ( cách riêng trong tháng 11 là thánh dành cầu nguyện cho các linh hồn) được mau vào Thiên Đàng hưởng Thánh Nhan Chúa.
Đó là nội dung tín điều các Thánh thông Công giữa các Thánh trên Thiên Đàng, các linh hồn thánh trong Luyện Tội và các Tín hữu trên trần thế.
Như thế, chỉ có những ai đang xa lìa Chúa ở chốn hỏa ngục thì không được thông hiệp với các Thánh trên trời , các Linh hồn trong Luyện tội và các Tín hữu còn sống trên trần gian này.Do đó, không ai có thể làm gì để cứu giúp họ được nữa.
Vậy chúng ta hãy cố gắng sống theo Đường lối của Chúa và cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc cực trọng của Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng vác thập giá và chết đau thuong trên thập giá mà Giáo Hội long trọng cử hành trong Tuần Thánh này, để hy vọng được hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc đó mà vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Chúa trên cõi vĩnh hằng, sau khi kết thúc hành trình con người trên trần thế này.Amen.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LE VUOT QUA NGAY XUA VA HOM NAY PDF Print E-mail

'van nguyen' via DH_GDTT_CAFE_TAMLINH
To:Van Nguyen' via DH_GDTT_CAFE_TAMLINH
Cc: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it List of Dung/Quý
Mar 30 at 8:28 AM

Chào cả nhà,
Nhiều việc bân rộn, nên bài chia sẻ này mãi sáng nay mới xong. Hơi trễ cho thứ 5 Tuần Thánh, nhưng thiết nghĩ rằng tâm tình theo Thầy Giêsu, không bao giờ bị giới hạn bởi thời gian, ngày này, ngày kia, v.v.... mà tâm tình đó phải là tâm tình của mỗi ngày sống. Cho nên xin chia sẻ với cả nhà.

========================================

Thứ Năm Tuần Thánh – Lễ "vượt qua" ngày xưa và hôm nay

Trong ngày lễ vượt qua lần đầu tiên của dân Do Thái, Thiên Chúa đã ra lệnh cho họ sát tế con chiêu đầu lòng và bôi máu nó lên cách cửa nhà của họ. Việc làm này sẽ giúp thần chết không giết những đứa con trai đầu lòng cả người lẫn súc vật vào đêm hôm đó. Thiên Chúa cũng ra lệnh cho họ dùng bữa với thịt chiên nướng và bánh không men.

Trong khi ăn thì phải ở trong tư thế sẵn sàng "ba lô trên vai, giầy dép gọn gàng, v,v... như đã nói trong sách Xuất Hành "Lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng... các ngươi phải ăn thế này: lưng thắt gọn, chân đi dép, tay cầm gậy. Các ngươi phải ăn vội vã..." (Xuất Hành 12:8-12) để sẵn sàng "xuất hành" khi có hiệu lệnh của ông Môi-sen. Tình trạng này cũng giống như cách thức "vừa đi vừa ăn" trong thời đại của chúng ta hiện nay.

Chúng ta biết việc bôi máu chiên lên cánh của để làm dấu hiệu cho thần chết biết đó là nhà của "dân Do Thái, dân của Thiên Chúa" mà tránh không đến nhà đó vào tối hôm đó. Nhưng còn việc ăn thịt chiên nướng và bánh không men một cách vội vàng thì mang một ý nghĩ gì? Đây là phong tục trong ngày lễ của người Do Thái, hay nó có một ý nghĩa gì khác !!?? Đọc sách Xuất Hành chương 12 chúng ta có thể thấy được phần nào câu trả lời. Đêm vượt qua ra khỏi nước Ai Cập chỉ là điểm khởi đầu trong câu chuyện "lễ vượt qua" của dân Do Thái mà thôi. Những gian khổ của cuộc hành trình trong sa mạc để đến miền đất hứa vẫn còn dài, còn rất mông lung mù mơ, và không biết là sẽ kéo dài trong bao lâu và sẽ kết thúc vào ngày nào. Có lẽ người Do Thái không thể nào ngờ là họ phải trải qua 40 năm trời dài đăng đẳng. Chi có một minh Thiên Chúa biết được điều này mà thôi, có lẽ vì như thế nên Ngài khuyên họ lúc nào cũng nên sẵng sàng, cho họ ăn thịt chiên để họ có sức, có nghị lực. Thiên Chúa vẫn đã tiếp tục ban thít cho dân Do Thái trong suốt cuộc hành trình về miền đất hứa. Nếu không có thịt để ăn, chưa chắc gì họ có thể khởi sư cuộc hành trình vượt qua này được. Như vậy thì sự giải phóng khỏi ách nô lệ của đế quốc La Mã sẽ không thực hiện được, và họ sẽ mãi mãi làm những người nô lệ trong nước Ai Cập mà thôi.

Giống như dân Do Thái khi xưa, ngày hôm nay chúng ta cũng rất cần phải có sức mạnh và nghị lực cho cuộc hành trình dài của kiếp sống trên dương thế để về miền đất hứa là nhà Cha, là Thiên Quốc nước Trời. Cuộc hành trình của mỗi người chúng mình dài hay ngắn đều hoàn toàn khắc nhau, và chỉ có Thiên Chúa mới biết rõ ngày nào kết thúc mà thôi. Tạ ơn Chúa, giống như Ngài đã ban thịt cho dân Do Thái Ngày xưa, thì ngày hôm nay Thiên Chúa cũng làm như vậy đối với chúng ta để nuôi dưỡng, chúng ta bằng nguồn sức mạnh cần thiết là Mình và Máu Thánh của Chúa Giêsu trong bí Tích Thánh Thể. Thiên Chúa biết chắc chắn rằng chúng ta sẽ bị thế lực của thế giàn và ma qủi cám dỗ, lôi khéo để chúng ta không thể nào tiến về đến Thiên Quốc, nếu Ngài không trợ giúp chúng ta bằng thứ bánh mầu nhiệm chính là "Thịt và Máu Thánh" của Chúa Giêsu.

Chiều thứ Năm Tuần Thánh là khởi điểm của Giáo Hội bước vào Tam Nhật Phục Sinh. Các nhà thờ trên khắp thế giới sẽ có đầy các tín hữu quy tụ lại để hồi tưởng và sống lại những giây phút cuối đời của Chúa Giêsu Kitô. Còn cách nào tốt đẹp hơn để sống những giây phút Thánh này bằng cách ôm ấp, trân quý và đón nhận Mình và Múa Thánh Chúa Giêsu Kitô, ngõ hầu chúng ta có đủ niềm tin, nghị lực và sức mạnh để có thể tiếp tục tiến bước trên cuộc lữ hành về miền đất hứa là nhà Cha, là Vương Quốc Nước Trời. Do đó trong thánh lễ rửa chân tối thứ Năm Tuần Thánh, khi linh mục cử hành nghi thức rửa chân, mỗi người chúng ta hãy cầu nguyện với phương thức tưởng tượng và hình dung là chích Chúa Giêsu đang rửa chân cho mình, nhờ đó chúng ta có thể cảm nghiệm Chúa Giêsu yêu thương mỗi người chúng ta đến như thế nào. Một điều quan trọng nữa là hãy đón nhận Mình và Múa Thánh Chúa Giêsu Kitô với một tâm tình cảm mến, tri ân và ý thức rằng Ngài luôn luôn hiện diện và đồng hành với mỗi người chúng ta trong những sinh hoạt mỗi ngày của cuộc sống.

Qua bí tích Thánh Thể, Thiên Chúa chúc phúc và ban ân sủng để giúp đời sống tâm linh của chúng ta trưởng thành và lớn mạnh. Bí tích Thánh Thể cộng với sự mở lòng của mỗi người chúng ta sẽ nẩy sinh ra một mối tương quan giữa chúng ta và Thiên Chúa, nhờ đó Ngài sẽ chỉ dậy, cổ võ và an ủi chúng ta mỗi ngày, ngõ hầu chúng ta luôn luôn làm những việc phụng vụ tốt lành cho Thiên Chúa và cho tha nhân.

Lạy Chúa Giêsu, Ngài là con Chiên Thiên Chúa và là Bánh Hằng Sống. Con tạ ơn Chúa đã ban cho con chính Ngài để con có đủ niềm tin và nghị lực để tiếp tục cuộc sống "vượt qua" trên thế gian để về miền đất hứa là nhà Cha Trên Trời. Xin cho con luôn biết ý thức được rằng Chúa luôn hiện diện và đồng hành với con mỗi ngày trong cuộc sống.

Phó-tế Giuse Nguyễn Xuân Văn

----------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU NAM TUAN THANH PDF Print E-mail

THỨ NĂM TUẦN THÁNH

Phúc Âm: Ga 13, 1-15
"Ngài yêu thương họ đến cùng".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ Mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giuđa Iscariô, con Simon, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu; Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Vậy Người đến chỗ Simon Phêrô, ông này thưa Người rằng: "Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?" Chúa Giêsu đáp: "Việc Thầy làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu". Phêrô thưa lại: "Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con". Chúa Giêsu bảo: "Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy". Phêrô liền thưa: "Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa". Chúa Giêsu nói: "Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu". Vì Người biết ai sẽ nộp Người nên mới nói: "Không phải tất cả các con đều sạch đâu".
Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: "Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con".
Ðó là lời Chúa.

Trong Bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan cho Thứ Năm Tuần Thánh, bài Phúc Âm không về việc Chúa Giêsu thiết lập Bí Tích Thánh Thể, mà về việc Người rửa chân cho các tông đồ là thành phần môn đệ tôi tớ của Người, một biến cố bao hàm một ý nghĩa rất sâu xa, có thể nói hướng về Bí Tích Thánh Thể, mà nếu thành phần môn đệ của Chúa Kitô không theo gương "rửa chân" của Người "là Chúa và là Thày đã làm thì các con cũng làm như thế" (Gioan 13:15), sẽ thật sự bất xứng với Thánh Thể: "không được dự phần với Thày" (Gioan 13:8).


Ý nghĩa đó là tấm lòng cảm thương gắn bó với những "người anh chị em hèn mọn nhất" của Chúa Kitô (xem mathêu 25:40,44), như chính Người "đã yêu những kẻ thuộc về mình thì Người muốn cho thấy rằng Người yêu họ cho đến cùng" (Gioan 13:1).
Ý nghĩa của "tình yêu cho đến cùng" của Người ở đây, nơi biến cố Rửa Chân này, không áp dụng cho việc Người hiến mạng sống mình cho bằng yêu cho tới con chiên lạc cuối cùng là người môn đệ Giuđa íchca, một nhân vật bao giờ cũng được liệt kê tên cuối cùng trong danh sách 12 tông đồ mà bao giờ tên của người môn đệ Phêrô cũng đứng đầu.
Chúa Giêsu rửa chân đây ám chỉ Người yêu thương một trong "những kẻ thuộc về mình" là Giuđa đóng vai cái chân (như Phêrô là đầu) trong nhiệm thể tông đồ của Người, khi Người trả lời cho tông đồ Phêrô không muốn cho Người rửa chân của chàng rằng: "Ai đã sạch thì chỉ cần rửa chân thôi. Không phải các con sạch hết cả đâu. (Sở dĩ Người nói 'không phải tất cả các con được sạch hết đâu', vì Người biết kẻ phản nộp Người)" (Gioan 13:10-11).
Nếu nắm bắt được tất cả ý nghĩa sâu xa của biến cố Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ của Người nói chung, cách riêng nhắm đến người môn đệ đáng thương nhất, thấp hèn nhất, và bẩn thỉu nhất ở thân phận cái chân là Giuđa Íchca, thì Kitô hữu hiện đại chúng ta mới hiểu được tất cả lý do tại sao Vị Giáo Hoàng Thương Xót Phanxicô, ngay từ khi mới lên làm giáo hoàng, đã tìm đến những nơi của thành phần anh chị em hèn mọn nhất của Chúa Kitô để rửa chân cho họ, bao gồm cả thành phần hèn mọn về thể lý, cả nữ giới lẫn nam giới, cả trẻ lẫn già, cả Kitô hữu lẫn tín đồ các tôn giáo khác hay vô thần hoặc ngoại giáo..., nhất là về luân lý, nên ngài hay làm ở trong các nhà tù (hình như cách năm thứ tự như sau):


Năm 2013 ở Trung Tâm Cải Huấn Thanh Thiếu Niên Casal del Marmo;
Năm 2015 ở Nhà Tù Rebibbia;
Năm 2017 ở Nhà Tù Paliano;
Năm 2018 ở Nhà Tù Regina Coeli;
Ngoài ra, ngài cũng không quên những người anh chị em hèn mọn nhất về thể lý, nên thỉnh thoảng ngài cũng rửa chân cho cả họ nữa, như:
Năm 2014 ở Trung Tâm C.A.R.A. là nơi chăm sóc các người tị nạn, và
Năm 2016 ở Trung Tâm Don Gnocchi là nơi chăm sóc người già và tàn tật.
(Xin xem một đoạn hình quay video tape tiêu biểu việc ĐTC Phanxicô rửa chân vào các Thứ Năm Tuần Thánh tại các nhà tù ở cái link cuối email này)

Chúng ta có nghĩ rằng chính vì người môn đệ tông đồ Phêrô, cho dù là thật khiêm nhượng, đã tỏ ra "khách sáo", không muốn để cho Thày cúi xuống rửa chân cho mình, nghĩa là hoàn toàn vì bất đắc dĩ, chẳng đặng đừng, chứ không vui vẻ chấp nhận việc Thày rửa chân cho mình, một việc bất khả thiếu mà tự chàng không thể làm được một cách trọn hảo, nhờ đó chàng mới xứng đáng "dự phần với Thày" (Gioan 13:8), tức chàng mới có thể thực sự, tích cực và chủ động, tham phần vào Cuộc Vượt Qua vô cùng huyền nhiệm của Người cho phần rỗi đàn chiên của Người, nên chàng đã chối Thày 3 lần hay chăng?
Mà lần chối Thày đầu tiên trong 3 lần của vị lãnh đạo tông đồ đoàn lại bắt đầu vào chính Đêm Thứ Năm Tuần Thánh ở Dinh Thượng Tế Anna (xem Gioan 18:13-24)...

CAO TAN TINH

--------------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 3 of 123