mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3989
mod_vvisit_counterHôm Qua6243
mod_vvisit_counterTuần Này21040
mod_vvisit_counterTuần Trước49260
mod_vvisit_counterTháng Này197815
mod_vvisit_counterTháng Trước245784
mod_vvisit_counterTất cả8686858

We have: 98 guests online
Your IP: 54.198.139.134
 , 
Today: Jun 28, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 371 =CAC THANH-THIEN THAN PDF Print E-mail

CÁC THÁNH, CÁC THIÊN THẦN VÀ LOÀI NGƯỜI GIỐNG VÀ KHÁC KHAU NHƯ THẾ NÀO ?

Lm P.X Ngô Tôn Huấn.

Hỏi :

Xin cha giải thích rõ những thắc mắc sau đây :

1- Có Thiên Thần không ?

2- Thiên thần, các Thánh và loài người khác và giống nhau thế nào ?

Trả lời :

1- Có Thiên Thần ( Angels) hay không ?

Giáo lý của Giáo Hội nói rõ : " Sự hiện hữu của các hữu thể thiêng liêng, không có thân xác mà Thánh Kinh thường gọi là các Thiên Thần, (Angels) là một chân lý của đức tin. chứng từ của Thánh Kinh cũng rõ ràng như toàn thể Thánh Truyền. " ( x. SGLGHCG, số 328))

Là chân lý của đức tin có nghĩa đây là điều phài tin trong toàn bộ niềm tin của Đạo thánh do Chúa Kitô mặc khải và rao giảng.

Chúa Giê su đã nói đến các Thiên Thần như sau :

" Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn này; quả thật, Thầy nói cho anh em biết : các thiên thần của họ ở trên trời không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời." ( Mt 18:10)

Dịp khác, khi nói về sự sống của những ai được sống lại sau khi phải chết trong thân xác con nhười, , Chúa cũng nói rõ : " Quả thật, họ không thể chết nữa vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại." ( Lc 20: 36)

Lần nữa, Chúa cũng nói đến công việc của các thiên thần như sau:

" Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên thần theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự trên ngai vinh hiển của Người." ( Mt 25:31)

Các Thiên Thần cũng được gọi là các Thiên Sứ (Heavenly Messengers) như ta đọc thấy trong Thánh Vịnh sau đây:

" Chúc tụng Chúa đi , hởi muôn vì Thiên sứ
Bậc anh hùng dũng mãnh thực hiện lời Người
Luôn sẵn sàng phụng lệnh." ( Tv 103: 20)

Như thế rõ ràng cho thấy có các Thiên Thần hay Thiên Sứ ở trên trời. Họ là những thực thể thiêng liêng, không có thân xác (spiritual non-corporeal beings) như loài người chúng ta.Họ đựơc tạo dựng cách hoàn hảo ngay từ đầu để thờ lậy, chúc tụng , ngợi khen Chúa trên Thiên Đàng.Họ. không có thân xác,và không vướng mắc tội lỗi như con người. Nhưng một số -mà kẻ cầm đầu là Satan- đã nổi lên chống lại Thiên Chúa và " Thiên Chúa sẽ không dung thứ cho các thiên thần có tội, nhưng đã đẩy họ vào hố địa ngục tối tăm giữ họ để chờ cuộc phán xét."( 2 Pr 2, 4). Khi phải thi hành mệnh lệnh hay sứ mạng nào của Thiên Chúa cho loài người, thì các Thiên Thần cũng phải dùng những phương tiện "con người" để giúp con người hiểu sứ vụ của họ. Thí dụ, Sứ Thần Gabriel đã xuất hiện có thân xác và dùng ngôn ngữ loài người để truyền tin cho Đức Trinh Nữ Maria.(x Lc 1 :26-38)). Sau khi Chúa Giê su giáng sinh trong Hang bò lừa, các Thiên Thần cũng xuất hiện để báo tin cho các mục đồng biết và chỉ chỗ cho họ đến thờ lậy Chúa Hái Đồng..Lại nữa, Khi các Tông Đồ của Chúa Giêsu bị các thuợng tế Do Thái tống giam vào ngục thất, vì đã rao giảng tên Giêsu cho dân chúng, " nhưng ban đêm các thiên sứ của Đức Chúa mở cửa ngục, đưa các ông ra mà nói : các ông hãy đi, vào đứng trong Đền Thờ mà nói cho dân chúng những lời ban sự sống." ( x. Cv 5:19-20)

Trong Giáo Hội, người ta thường minh hoạ các thiên thần với đôi cánh trên vai để "bay từ trời xuống" (theo tưởng tượng của con người.).

II- Sự khác biệt giữa Thiên Thần, Các Thánh và con người:

a- Các Thánh là ai ?

Các thánh ( Saints) trước hết là những con người có hồn có xác, được sinh ra và sống trên trần thế này và đều vướng mắc tội nguyên tổ (original sin) cũng như các tội cá nhân khác, trừ một mình Đức Trinh Nữ Maria, người duy nhất được diễm phúc giữ gìn khỏi mọi tội lỗi từ phút đầu được thụ thai cho đến ngày về trời cả hồn xác.Thánh Gioan Tẩy Giả được tin là chỉ mắc tội tổ tông trong 6 tháng và được khỏi tội này khi Đức Mẹ đến thăm viếng Bà Ê-li-sa-bét. đang mang thai Thánh nhân lúc đó. "Bà Ê-li sa bét vừa nghe tiếng bà Maria chào thì đứa con trong bụng nhảy lên , và bà được tràn đầy Thánh Thần" ( Lc 1:41).Từ sự kiện này, Giáo Hội tin Thánh Gioan Tẩy Giả chỉ mắc tội tổ tông có 6 tháng thôi.

Những người phàm được nên thánh vì đã sống thánh thiện, đã thực tâm yêu mến Chúa và đã " thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" ( Mt. 7: 21) trong suốt cuộc đời của họ trên trần thế này. Họ là những anh hùng tử đạo, tức những người dám đổ máu ra để minh chứng lòng yêu mến Chúa và trung thành với đức tin Công Giáo. Họ là những nhà truyền giáo (missionaries).đã hy sinh đời mình cho sứ mạng phúc âm hoá thế giới. Họ là các Tông Đồ lớn nhỏ của Chúa Kitô. Họ là các Tổ phụ dân Do Thái, là các Ngôn sứ (prophets) , các Giáo Phụ ( Church Fathers) và cũng là những tín hữu không tên tuổi , tức là những người chồng, người vợ đã chu toàn bổn phận của mình trong gia đình và âm thầm sống đức tin, đức cậy và đức mến cách sâu đậm trong suốt cuộc đời tại thế.

Đức Mẹ và các thánh nam nữ đang hưởng Thánh nhan Chúa trên Thiên Đàng và cũng đang hiệp thông với các tín hữu trên trần thế và các linh hồn thánh trong nơi luyện tội( Purgatory) qua lời cầu bầu (intercessions) của họ trước Toà Chúa cho chúng ta và cho các linh hồn còn đang ở nơi thanh luyện cuối cùng là Luyện tội ( purgatory,trước khi được vào Thiên Đàng. ( Tín điều các Thánh thông công).

b- Con người:

Là những tạo vật có hồn có xác,.được dựng nên " theo hình ảnh của Chúa" (St 1:26). Con người được ban cho có lý trí và ý muốn tự do (free will) để hiểu biết và tự do chọn lựa cách sống trên trần thế , nên phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những chọn lựa của mình.tr
ước Thiên Chúa là Đấng công minh,đầy lòng thương xót và thánh thiện. Chính vì con người có tự do , mà vấn đề thưởng phạt chỉ được đặt ra cho riêng con người mà thôi.

Nói khác đi, trong tất cả các tạo vật hữu hình, " chỉ mình con người có khả năng nhận biết và yêu mến Đấng sáng tạo ra mình." ( x SGLGHCG số 356).

Là tạo vật có lý trí và ý muôn tự do ( free will), con người được mời gọi nên thánh để chia sẻ sự sống và hạnh phúc của Thiên Chúa cùng các Thánh và các Thiên Thần ở trên Thiên Đàng , tức Vương Quốc tình yêu và an vui đời đời với Chúa...Vì con người có trí hiểu và tự do chọn lựa , nên Thiên Chúa sẽ phán đoán con người về những việc mình làm trong thân xác và trên trần thế này cho đến ngày linh hồn xa lìa thân xác trong sự chết của bản thân mỗi người.., Ai cũng có thể nên thánh và phải nên thánh, nên hoàn thiện " như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện " như Chúa Giê su đã kêu gọi.( Mt 5: 48).. Lời mời này dành cho hết mọi người sinh ra trên trần thế này.Nhưng vấn đề đặt ra là liệu con người có đáp lại lời mời gọi này hay không, vì con người có tự do chọn lựa để ưng thuận hay từ khước.

Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do đó của con người. Nghĩa là Ngài không ép buộc ai phải yêu mến Ngài và vào dự " Tiệc cưới , cỗ bàn đã dọn sẵn"(x. Mt 22:4). Nếu ai từ khước vào dự Bàn Tiệc Nước Trời, tức là hưởng phúc Thiên Đàng, thì họ đã tự chọn cho mình món ăn và nơi cư ngụ khác sau khi chấm dứt cuộc sống trên trần thế này.

Tóm lại, các Thiên Thần khác với loài người ở điểm căn bản này: Thiên thần là tạo vật hoàn toàn thiêng liêng (spiritual) trọn hảo và bất tử. Chức năng của các ngài là các Thiên sứ( Heavenly Messengers) tức các Sứ giả thi hành mệnh lệnh của Thiên Chúa và hầu hạ Người trên Thiên Đàng. Các Thiên Thần cũng che chở, phù giúp mỗi người chúng ta cách đặc biệt trong cuộc sống trên trần gian này. Đó là chức năng của các Thiên Thần bản mệnh( Guardian Angels), có lễ kính ngày 2 tháng 10 hàng năm.

Các Thánh là những con người từng có hồn xác, tức là có cả tinh thần lẫn vật chất và đã trải qua cuộc sống con người trên trần thế này. Các ngài đã được cứu độ và trở nên thánh , nên giống các Thiên Thần vì đã sống đẹp lòng Chúa ở trần gian này.

Như thế , mọi người chúng ta đều có hy vọng được cứu rỗi, trở thành thánh và nên giống các Thiên Thần nếu chúng ta cùng quyết tâm noi gương các thánh nhất là gương mẫu đức tin, đức cậy và đức mến của Mẹ Maria,Thánh Cả Giuse và các anh hùng tử đạo. Chúng ta cũng có thể nên thánh bằng những việc đơn sơ, nhỏ bé nhưng làm vì lòng mến Chúa như Thánh nữ Tê-rê-xa Giêsu Hài Đồng, hoặc yêu thương săn sóc những người nghèo khó, bênh tật, bị bỏ rơi ngoài đường phố như Mẹ Tê-rê-xa thành Calcutta, đã được tôn phong hiển thánh ( saint).

Tóm lại, có được cứu rỗi và nên thánh hay không là tuỳ thuộc tự do chọn lựa của mỗi cá nhân cộng tác với ơn thánh của Chúa trong suốt cuộc sống trên trần thế này.. Nếu ta quyết tâm thì Chúa sẽ giúp sức nâng đỡ để đạt mục đích cứu độ.. Ngược lai, nếu ai cương quyết từ khước Thiên Chúa để sống theo ý muốn của minh, và làm những sự dữ ,sự tội, như ( theo tin báo chí cho biết) một người cha và ông nội đã hiếp dâm con, cháu gái còn nhỏ bé,rồi bán nó cho bọn bất lương hành nghề ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi, hoặc chồng giết vợ để lấy vợ khác,, hay ngược lại, vợ giết chồng để lấy "kép nhí", như thực trạng sống của biết bao con người trong xã hội ung thối vì vô luân, vô đạo, bất công bạo tàn, vô nhân đạo. . Những ai sống như vậy, thì Chúa sẽ tôn trọng ý muốn tội lỗi này của họ , và dĩ nhiên những con người ấy sẽ phài gánh chịu mọi hậu quả của tự do mình đã chọn.

Đó là lý do phải có Thiên Đàng dành cho những ai thành tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người. Mặt khác phải có hỏa ngục để dành cho những kẻ đã và đang khước từ Chúa và làm những sự dữ . sự tội mà không hề biết sám hối, ăn năn để xin tha thứ.

Ước mong những giải thích trên đây thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 370= DUC GIAO HOANG SAU PDF Print E-mail

 Giáo Hoàng Sau Cùng

Khi về triều kiến Ðức Giáo Hoàng Innocent II, Ðức Giám Mục Malachy nước Ái Nhĩ Lan (Ireland) được xem thấy một thị kiến. Ngài thấy sau Ðức Innocent II thì chỉ còn có 112 vị giáo hoàng nữa, và Ðức Giáo Hoàng Phan Xi Cô Ðệ nhất (Francis I) này là vị giáo hoàng thứ 112 sau Ðức Innocent II.

Vậy có phải Ðức Giáo Hoàng Francis I này là giáo hoàng cuối cùng không? Chúng ta không ai biết vì Ðức Giám Mục Malachy, nay là Thánh Malachy, không ghi chép gì về điều này. Người chỉ liệt kê 112 giáo hoàng, kèm theo mỗi vị là một bí ngôn rất ngắn đễ diễn tả từng vị một.
Về Ðức Benedict XVI Thánh Malachy viết "Gloria Olivae" xin tạm dịch là "Vinh Quang Cây Ô Liu". Bí ngôn này ứng với Ðức Benedict XVI vì ngài thuộc Dòng Olivetans.
Về Ðức John Paul II Thánh Malachy viết "De Labore Solis" hay "Sức Cần Lao Của Mặt Trời". Bí ngôn này ứng nghiệm vì sức cần lao của Ðức John Paul II vượt qua sức cần lao của con người. Việc làm của ngài thật đã phải là việc làm của Thiên Chúa; nhất là sau vụ mưu sát năm 1981 thì sức khoẻ của ngài thật không thể đủ cho những việc ngài đã làm; vậy mà công việc của ngài vẫn toả sáng như mặt trời. Ngài được chọn như một luồng gió mới, rao truyền đức tin Công Giáo trên mọi khía cạnh, và đã đi đến với mọi tầng lớp xã hội. Ngài cũng gặp nhiều khó khăn, nhiều chống đối, nhưng những thử thánh này chỉ như một cuộc nhật thực, qua đi chẳng khác nào như mặt trăng không thể che lấp mặt trời. Ðây-nhật thực- cũng là ý nghĩa của bí ngôn "De Labore Solis".
Bí ngôn về Ðức John Paul I là "De medietate Lunae" hay "Nửa Vầng Trăng". Bí ngôn này ứng nghiệm vì giáo triều của Ðức John Paul I chỉ có 33 ngày.

Bạn có thể tìm đọc những bí ngôn cho những giáo hoàng khác trên các mạng. Ở đây tôi chỉ đưa ra ba bí ngôn ứng nghiệm vào ba vị giáo hoàng ngay trước Ðức Phanxicô I. Tôi đưa ra ba vị này là để bác bỏ lý luận của một vài học giả đã cho rằng những gì Thánh Malachy viết chỉ là bịa đặt. Theo tôi, những sấm ngôn này không thể là bịa đặt được vì nó đã được giữ trong thư viện kín của Vatican mãi đến năm 1590 mới đem ra đọc. Vậy nếu những sấm ngôn này là bịa đặt thì nó chỉ có thể ứng nghiệm với những gì đã qua chứ không thể ứng nghiêm cho tương lai được. Từ năm 1590 cho đến đức John Paul I (1978) là 388 năm; có ai bịa được chuyện tương lai xa vời như vậy không? Dù sao, để lượng giá sấm ngôn của Thánh Malachy, chúng ta hãy nghe những gì mà chính Ðức Phanxicô I nói.

Câu hỏi đầu tiên mà Hồng Y Giovanni Battista hỏi Ðức Hồng Y Bergoglio sau khi ngài được chọn làm giáo hoàng là,"Ngài muốn được gọi bằng danh hiệu gì?" Ðức Hồng Y Bergoglio trả lời, "Tôi sẽ được gọi là Phanxicô I" Sau đó khi được dẫn ra giới thiệu với thế giới tại cửa sổ trông xuống quảng trường Thánh Phêrô, Ðức Phanxicô I nói: "Hẳn mọi người đều biết nhiệm vụ của hồng y đoàn là để cho Rôma một giám mục. Vậy mà dường như những anh em hồng y của tôi đã đi gần đến tận cùng trái đất mới có được người ấy. Dù sao chúng ta cũng ở đây rồi." ("You know that the duty of the conclave was to give a bishop to Rome. It seems that my brother cardinals went almost to the end of the world to get him. But here we are.")

Những gì Ðức Phanxicô nói ở trên đã thật là ngắn ngủi, nhưng lại không đơn giản chút nào, và tôi xin được phân tích.

Trong mệnh đề 'những anh em hồng y của tôi đã đi gần đến tận cùng trái đất' thì 'những anh em hồng y của tôi' là chủ từ của động từ đi. Ði đâu? Thưa, đi đến 'Tận cùng trái đất'. Trên thực tế, các hồng y đã không đi đâu hết. Thành ra, khi nói như vậy là Ðức Phanxicô chơi chữ. Người dùng 'Tận cùng trái đất' là một danh cụm từ chỉ nơi chốn, nhưng thực ra là để nói đến thời gian, cái thời mà chúng ta gọi là 'ngày tận cùng' hay 'The end of the world'. 'Ngày tận cùng' này đã tới chưa? Thưa chưa vì ngài dùng trạng từ 'gần' (almost); chỉ mới gần thôi. Rồi để kết câu ngài nói, 'Dù sao chúng ta cũng ở đây rồi.' Ở đây rồi là ở đâu rồi? Không lẽ ngài lại phải nói với mọi người là chúng ta đang ở Vatican hay sao? Thưa không, vì nói như thế là nói thừa; cho nên chữ 'đây' (here) trong câu này là chữ thay cho danh cụn từ 'Tận cùng trái đất' ở câu trước, nên nó cũng có nghĩa là 'ngày tận cùng' hay 'The end of the world'. Tức là, tuy ngày tận cùng chưa đến, chúng ta đang ở vào những ngày tận cùng.

Nhưng chưa hết. Cái phần quan trọng nhất là câu mở đầu, "Hẳn mọi người đều biết nhiệm vụ của hồng y đoàn là để cho Rôma một giám mục." ("You know that the duty of the conclave was to give a bishop to Rome.) Tại sao Ðức Phanxicô lại phải nói như vậy; mà lại nói vào dịp ra mắt thế giới ngay sau khi được chọn làm giáo hoàng? Tất cả những người theo dõi cuộc chọn lựa này, có ai không biết nhiệm vụ của hồng y đoàn là để cho Rôma một giám mục không? Chắc là không. Vậy thì câu nói này cũng là nói thừa hay sao? Thưa không, nhưng để hiểu lời ngài, chúng ta phải trở lại sấm ngôn của Thánh Malachy.

Thánh Malachy liệt kê 112 giáo hoàng, mỗi giáo hoàng được diễn tả bằng một bí ngôn. Bí ngôn diễn tả vị giáo hoàng thứ 112 là "Peter Romanus." hay "Peter Người Rôma". Peter là ai? Thưa ngài là giáo hoàng và là giám mục Rôma. Ðức Phanxicô cũng là Peter hay giáo hoàng, và cũng là Giám Mục Rôma. Như vậy, khi chọn ngài làm giáo hoàng là hồng y đoàn cho Rôma một giáo hoàng, Giáo Hoàng Phanxicô I. Nhưng Ðức Phanxicô có phải là "Peter Người Rôma" không? Thưa phải. Ðức Phanxicô là người Á Căn Ðình (Argentine) nhưng bố là Người Ý vậy thì Ðức Phanxicô cũng là Người Ý, người Rôma. Sấm ngôn của Thánh Malachy đã hoàn toàn ứng nghiệm. Ðức Phanxicô chính là "Peter Romanus"

Giuse Phạm Văn Tuyến

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 369=BAI 20-TIN TUONG-CAY TRONG PDF Print E-mail

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GIÁO LÝ VỀ NIỀM TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG

BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 26-4-2017

Bài 20

"Thiên Chúa của chúng ta không phải là một vị Thiên Chúa vắng mặt, ẩn khuất ở một bầu trời rất xa cách nào đó; trái lại, Ngài là một vị Thiên Chúa 'say mê' con người (passionate for man), quá dịu dàng yêu thương đến độ bất khả tách mình khỏi loài người..."

"... sẽ không có ngày nào trong cuộc đời của chúng ta mà chúng ta không còn là mối quan tâm của cõi lòng Thiên Chúa. Ngài quan tâm đến chúng ta, và bước đi với chúng ta... việc Thiên Chúa bước đi với chúng ta cũng được gọi là 'Việc Thiên Chúa Quan Phòng': Người quan phòng cho đời sống của chúng ta".

Xin chào anh chị em thân mến!

"Thày ở cùng các con luôn mãi cho đến tận thế" (Mathêu 28:20). Những chữ cuối cùng của Phúc Âm Thánh Mathêu nhắc lại lời công bố ngôn sứ từ ban đầu: "Người sẽ được gọi tên là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mathêu 1:23; xem Isaia 7:14). Thiên Chúa sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho đến ngày cùng tháng tận. Toàn thể Phúc Âm được khép lại nơi hai câu trích dẫn này, những lời truyền đạt mầu nhiệm về một vị Thiên Chúa có tên gọi, có căn tính là ở với: Ngài không phải là một vị Thiên Chúa cô lập; Ngài là một vị Thiên Chúa ở cùng (a God-with), đặc biệt là với chúng ta, nghĩa là với loài người tạo vật. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một vị Thiên Chúa vắng mặt, ẩn khuất ở một bầu trời rất xa cách nào đó; trái lại, Ngài là một vị Thiên Chúa "say mê" con người (passionate for man), quá dịu dàng yêu thương đến độ bất khả tách mình khỏi loài người. Nhân loại chúng ta tinh khôn trong việc cắt bỏ những mối liên hệ và các nhịp cầu nối. Trái lại, Ngài thì không. Nếu cõi lòng của chúng ta trở nên nguội lạnh, lòng của Ngài bao giờ cũng vẫn rực nồng; Thiên Chúa của chúng ta lúc nào cũng hỗ trợ chúng ta, cho dù, tiếc thay, chúng ta đã quên mất Ngài. Đỉnh điểm dứt khoát tách phân những gì là ngờ vực khỏi đức tin là việc khám phá thấy rằng chúng ta được Cha của chúng ta yêu thương và hỗ trợ, không bao giờ bị Ngài bỏ mặc.

Việc hiện hữu của chúng ta là một cuộc hành hương, một cuộc hành trình. Thậm chí tất cả những ai được tác động bởi một niềm hy vọng thuần nhân loại cũng đều nhận thấy cái thu hút của những chân trời thúc đẩy họ khám phá thấy những thế giới họ vẫn chưa biết. Tâm linh của chúng ta là một tâm linh của người hành hương. Thánh Kinh có đầy những câu chuyện về những người hành hương và những kẻ du hành. Ơn gọi của Abraham bắt đầu bằng lệnh truyền này: "Hãy rời bỏ xứ sở của ngươi" (Khởi Nguyên 12:1). Vị Tổ Phụ này đã bỏ phần đất thế giới mà ông đã quá quen thuộc và đã từng là một trong những cái nôi văn minh ở thời của ông. Hết mọi sự đều liên kết phản nghịch lại với cảm quan tốt đẹp về cuộc hành trình này. Tuy nhiên Abraham vẫn lên đường. Chúng ta không trở thành những con người nam nữ trưởng thành nếu chúng ta không thấy được cái thu hút của chân trời là chỗ gặp nhau giữa trời và đất, nơi cần phải vươn tới bởi thành phần những kẻ tiến bước.

Trong cuộc hành trình trần thế của mình, con người không bao giờ lẻ loi cô độc. Kitô hữu đặc biệt không bao giờ cảm thấy bị bỏ rơi, vì Chúa Giêsu bảo đảm với chúng ta rằng Người chẳng những chờ đợi chúng ta ở cuối cuộc hành trình lâu dài của chúng ta mà Người còn hỗ trợ chúng ta mọi ngày sống của chúng ta............

Nếu chúng ta chỉ tin tưởng vào sức mạnh của chúng ta mà thôi, chúng ta chắc chắn sẽ có lý do để cảm thấy thất vọng và thua bại, vì thế giới này thường tỏ ra bướng bỉnh đối với lề luật yêu thương. Rất thường xẩy ra chuyện chúng ta yêu thích các thứ luật vị kỷ hơn. Tuy nhiên, nếu niềm tin tưởng này tồn tại trong chúng ta là Thiên Chúa không bỏ rơi chúng ta, Thiên Chúa yêu thương chúng ta và thế giới này mỏng dòn, thì chúng ta lập tức thay đổi quan niệm. Người xưa đã nói: "Homo viator, spe erectus - con người lữ hành, hy vọng trung kiên". Lời Chúa Giêsu hứa "Thày ở cùng các con" trong cuộc hành trình là những gì khiến chúng ta đứng, thẳng đứng, bằng niềm hy vọng, tin tưởng rằng vị Thiên Chúa nhân lành đã hoạt động để thực hiện những gì bất khả nơi loài người rồi, vì cái neo này đang ở vùng vịnh nước trời (heaven's beach).

Thành phần dân thánh trung thành của Thiên Chúa là thành phần đứng - "homo viator" - và bước đi, thế nhưng thẳng đứng, "erectus", và bước đi trong niềm tin tưởng cậy trông. Bất cứ nơi nào họ tới, họ đều biết rằng tình yêu thương của Thiên Chúa đã đi trước họ: không có một phần nào của thế giới này thoát khỏi cuộc vinh thắng của Chúa Kitô Phục Sinh. Mà cuộc vinh thắng của Chúa Kitô Phục Sinh là gì? Đó là cuộc vinh thắng của tình yêu. Xin cám ơn anh chị em.

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-gods-promise- that-gives-hope/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

-----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 368 = THANH CLEOPHAS LA AI? PDF Print E-mail

THÁNH CLEOPHAS LÀ AI ?

Thánh sử Luca cho biết rằng có hai người đàn ông đang trên đường đi Emmau ngày Chúa Nhật phục sinh thì Đức Kitô hiện ra với họ và làm cho họ nhận ra Ngài khi Ngài bẻ bánh. Một trong hai ông là Cleophas (Cơ-lê-ô-pát).

Đây là đoạn Phúc Âm theo Thánh sử Luca:

Cũng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. Người hỏi họ: "Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?". Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. Một trong hai người tên là Cleophas trả lời: "Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay" (Lc 24:13-18).

Cleophas là ai? Cornelius Lapide đã dẫn chứng lời của Thánh Giêrônimô nói rằng Thánh Cleophas là EM TRAI CỦA THÁNH GIUSE (Phu Quân của Đức Maria), là cha của Thánh Giacôbê Nhỏ và Thánh Giuđa (Tađêô), đồng thời là ông của Thánh Giacôbê Lớn và Thánh Gioan – hai con của Thánh Maria Salômê, con gái của Thánh Cleophas".

Chúng ta cùng xem xét:

1. Cleophas là em của Thánh Giuse và là em rể của Đức Mẹ (Thánh Giêrônimô nói vậy).

2. Cleophas là cha của Tông đồ Giacôbê Nhỏ (Hậu), Tông đồ Giuđa (Tađêô) và Maria Salômê.

3. Cleophas là ông của Tông đồ Giacôbê Lớn (Tiền) và Tông đồ Gioan vì Maria Salômê (con gái của Cleophas là mẹ của Tông đồ Giacôbê Lớn và Tông đồ Gioan.

Điều này làm cho Thánh Cleophas trở thành cha củahai Tông đồ và ông của hai Tông đồ khác. Điều này cũng cho biết rằng Thánh Giacôbê Nhỏ và Thánh Giuđa (Tađêô) là hai ông chú của Thánh Giacôbê Lớn và Thánh Gioan.

Danh sách tử đạo củaGiáo Hội Công Giáo xác định ngày tháng tử đạo của Thánh Cleophas là ngày 25 tháng 9, do chính quyền Do Thái tại Giuđê.

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ Cantuar.blogspot.com)

Kính chuyển:

Hồng
------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 367 =CON NGUOI DUOC TU DO PDF Print E-mail

CON NGƯỜI CÓ THỰC SỰ ĐƯỢC TỰ DO VỀ MẶT THIÊNG LIÊNG KHÔNG ?

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

Hỏi :

Xin cha giải thích giúp : người ta có thực sự được tự do trong việc chọn lựa sống theo Chúa hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng mình ?

Trả lời :

Tôi đã hơn một lần nói rõ là con người có ý muốn tự do ( free will) để hoặc chọn sống theo đường lối của Thiên Chúa để được chúc phúc, và nhất là được cứu độ để vào Nước Trời, nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Giê su-Kitô., hay phải xa Chúa đời đời trong nơi gị là hỏa ngục.

Thật vậy, vấn đề tự do của con người được đặt ra vì có liên quan mật thiết đến sự thưởng phạt của Thiên Chúa dành riêng cho mỗi người trong ngày sau hết của một đời người hay trong ngày cánh chung của toàn thể nhân loại, tức ngày tận thế..

Nghĩa là , việc thưởng phạt của Thiên Chúa chỉ đặt riêng cho con người là tạo vật có lý trí và ý muốn tự do, khác biệt với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn mà thôi.

Vậy căn cứ vào đâu để quả quyết rằng con người có ý muốn tự do mà Thiên Chúa đã ban tặng và hoàn toàn tôn trọng cho con người xử dụng bao lâu còn sống trên trần thế này ?

Đúng thế,Thiên Chúa đã tạo dựng con người với hai đặc tính cá biết khác với mọi loài thụ tạo khác. Đó là có trí hiểu biết và ý muốn tự do ( Intelligence and free will) mà Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con người. Nhờ trí khôn hiểu biết, con người khám phá ra Thiên Chúa qua công trình sáng tạo vụ trụ hữu hình và đặc biết là tạo dựng con người là loài " linh ư vạn vật". Nhờ quà tặng ý muốn tự do, Thiên Chúa tôn trọng cho con người được tự do chọn lựa sống theo lý trí , theo đường ngay lẽ phải hay theo đường nẻo gian tà bất chính.Nói khác đi, khi đã nhận biết có Thiên Chúa thì con người có muốn sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo ý muốn của riêng mình trong suốt đời sống trên trần gian này.

Để trả lời cho câu hỏi trên , Kinh Thánh tân và cựu ước cho ta những bằng chứng cụ thể về tự do của con người như sau:.

Trước hết , Sách Sáng Thế, cho ta biết, khi Thiên Chúa muốn thử thách tự do vâng phục của Adam và Eva, nên Người đã phán bảo họ như sau :

" Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái cây của cây cho biết điều thiện điều ác Thì ngươi không được ăn ;vì ngày nào ngươi ăn, ngươi sẽ phải chết. " ( St 2:16-17).

Kết quả cho thấy là hai ông bà đã tự do chọn không vâng phục Thiên Chúa khi họ ăn trái cấm theo lời dụ dỗ của con Rắn.Phải nói họ tự do chọn lựa không vâng phục Thiên Chúa nên họ đã
chịu hậu quả trước tiên là " măt hai người mở ra và họ thấy mình trần truồng , họ mới kết lá và làm khố che thân." (St 3:7)

Nhận biết mình trần truồng là hậu quả nhãn tiền sau khi đã đánh mất " sự ngây thơ , công chính ban đầu (original innocence and justice)"..một tình trạng ơn phúc giúp cho Adam và Eva có thể đứng vững trước mọi cám dỗ của xác thịt và ma quỉ. Nhưng họ đã tự đánh mất ơn phúc đó khi sa ngã vì đã sử dụng " ý muốn tự do =( free will) chứ không vì bản chất yếu đuối do hậu quả của tội nguyên tổ như con người chúng ta ngày nay.

Chính vì Eva đã sử dụng ý muốn tự do khi nghe lời dụ dỗ của con rắn để ăn trái cấm và đưa lại cho Adam ăn khiến hai người bị đuổi khỏi vườn địa đàng và chịu hậu quả của sự bất phục tùng Thiên Chúa là phải chết về mặt thiêng liêng vì mất tinh thân với Chúa.

Ngược lại, khi Thiên Chúa thử thách lòng tin yêu của Abraham bằng cách đòi ông hy sinh con một của mình là I-xa-ác, ông đã xử dụng ý muốn tự do để quyết định tuân theo ý muốn của Thiên Chúa khi dẫn con lên núi và định giết nó làm lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa. Nhưng Chúa đã kịp thời sai Sứ thần can thiệp để cứu mang sống của I-xa-ác vì đã thấy lòng tin yêu của Abraham. Chính vì ông đã tự do chọn lựa vâng theo thánh ý Chúa, nên Chúa đã phán bảo ông như sau:

" Ta lấy danh Ta mà thề : bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi đông nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển....chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta." (St 22: 15-18)

Như thể đủ cho thấy là ngay từ đầu Thiên Chúa đã cho con người có tự do thực sự để vâng nghe lời Người như Abraham hay bất tuân như Adam và Eva khiến cho toàn thể nhân loại phải chịu chung hậu quả của sự chọn lựa sai trái của hai người .

Nếu con người không có tự do lựa chọn và chỉ biết làm theo mệnh lệnh như những người máy Robbots thì Thiên Chúa đã không nói trước cho Adam và Eva biết về hậu quả mà họ sẽ phải lãnh nhận nếu họ ăn trái cấm.

Vì cho họ có tự do lựa chọn nên Thiên Chúa đành để cho hai người phải chịu hậu quả của sự bất tuân là mất tình thân với Chúa và di hại đến toàn thể nhân loại cho đến ngày nay.

Mặt khác, cũng vì Thiên Chúa cho con người có tự do và tôn trọng cho con người sử dụng tự do đó mà Thiên Chúa đã ban những Giới Răn của Người cho dân Do Thái trước tiên và cho toàn thể nhân loại ngày nay-nói chung- được tự do tuân giữ để được chúc phúc hay tự do bất tuân để bị luận phạt như ông Môsê đã nói với dân Do Thái xưa kia như sau:

" Anh em hãy lo thực hành như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em .Không đi trệch bên phải bên trái.Anh em hãy đi đúng con đường mà ĐỨC CHÚA,Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em để anh em được sống, được hạnh phúc và được sống lâu trên mặt đất mà anh em đã được chiếm hữu." ( Đnl 5: 32-33)

Như thể cho thấy rõ là nếu con người sử dụng ý muốn tự do của mình để tuân giữ những giới răn của Thiên Chúa thì sẽ được chúc phúc ngay trong cuộc sống ở trần gian này trước khi được vui hưởng Thánh Nhan Chúa mai sau trên Nước Trời.

Cũng trong mục đich hướng dẫn con người biết khôn ngoan chọn lựa khi sống trên đời này mà tác giả sách Huấn Ca ( Sirach) đã được linh ứng (inspired) để đưa ra những lời khuyên nhủ như sau :

" Từ nguyên thủy, chính Chúa đã làm nên con người.

Và để nó tự quyết định lấy

" Nếu con muốn thì hãy giữ các điều răn
mà trung tín làm đẹp ý Người
Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước
Con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy
Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử
Ai thích gì sẽ được cái đó..." ( Hc 15: 14-17)

Lời khuyên trên cho ta thấy rõ là con người có tự do để làm điều lành và tránh điều dữ, điều trái với lương tâm , một cơ năng mà Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con ngươi để nhờ đó con người ở khắp nơi và thuộc mọi chủng tộc ngôn ngữ biết phân biện giữa sự thiện và sự dữ để chọn lựa trong cuộc sống trên trần gian này.

Đó cũng là lý do tại sao Chúa Giê su đã nói với các môn đệ xưa và cung nói với bạn và tôi hôm nay:

" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa ! lậy Chúa"! là được vào Nước Trời cả đâu.Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." Mt 7: 21)

Thi hành ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa là xử dụng ý muốn tự do tự do để chọn sống theo ý muốn của Cha trên trời , sồng theo đường lối của Người là đường dẫn đến sự sống muôn đời; thay ví sống theo thế gian, chiều theo những đòi hỏi bất chánh của xác thịt để làm những sự dữ như giết người, giết thai nhi ,hận thù, khủng bố, tôn thờ tiền của, buôn bán thân xác của phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi như thực trạng sống của biết bao người trong thế giới tục hóa ngày nay.

Đó là lý do phải có Thiên Đàng để dành cho những người tự do sống theo đường lối của Chúa và phải có hỏa ngục để dành cho những kẻ khước từ Chúa để làm những sự dữ sự tội điều gian ác , tội lỗi dẫn đến sự chết của linh hồn vì phải xa lìa Chúa trong nơi gọi là " hỏa ngục". Thiên Chúa không muốn phạt ai trong nơi đáng sợ này vì ' Người muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1 Tm 2 :4) ).

Nhưng vì con người có tự do để chọn lựa sống theo thánh ý Chúa hay quay lưng lại với Người nên những ai đã và đang chối bỏ Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình từ trong tư tưởng ra ngoài hành động thì chắc chắn đã tự chọn cho mình chỗ ở cuối cùng là hậu quả tất nhiên của ý muốn tự do ( free will). Nói khác đi,, nếu ai muốn dùng tự do của mình để theo đuổi một mục tiêu nào thì sẽ phải trả giá cho sự chọn lựa đó như Thánh Phaolô đã dạy sau:đây:

" Anh em không biết sao ? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai thì anh em là nô lệ của người mà anh em vâng phục : hoặc làm nô lệ tội lỗi thì sẽ phải chết, hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa thì sẽ được nên công chính." ( Rm 6: 16)

Tuy nhiên ,cũng cần nói thêm ở đây một lần nữa là mặc dù con người có tự do để quyết định làm điều lành tránh điều gian ác, điều tội lỗi, nhưng tự do ấy cũng bị hạn chế vì bản chất yếu đuối nơi con người do hậu quả của tội nguyên tổ. Nghĩa là, con người luôn bị dằng co giữa tiếng nói của lương tâm, của lý trí và những khuynh hướng hay thế lực nghiềng chiều về đường xấu , đường tội lỗi vẫn hoạt động song song và mạnh mễ bên cạnh lương tâm và lý trí. Đó chính là tình trạng "mâu thuẫn" mà con người luôn phải tranh đấu trong nội tâm để có thể sống theo sự dướng dẫn của lý trí và lương tâm để biết dùng tự do của mình cách chính đáng, hữu ích.

Thánh Phaolô cũng đã trải qua kinh nghiệm "khó khăn nội tâm" đó nên ngài đã phải thú nhận như sau :

" Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm., nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó nhưng là tội vẫn còn trong tôi." (Rm.7 : 19-20)

Chính vì những khó khăn nội tại như vậy , kèm thêm sự cám dỗ mãnh liết của ma quỉ " kẻ thù của anh em như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" ( 1 Pr 5:8), như Thánh Phêrô đã dạy, nên cho được đứng vững để tự do bước đi theo Chúa Kitô là Đường, là sự Thật và là sự Sống( cf.Ga 14:6) chúng ta khẩn thiết phải cần ơn Chúa để có thể can đảm chọn lựa những gì hữu ích cho phần rỗi của mình , vì " không có Thầy, anh em chẳng làm gì được." ( Ga 15: 5). Nghĩa là với ơn Chúa giúp sức cộng thêm thiện chí đóng góp của cá nhân thì con người sẽ thắng vượt mọi trở ngại và biết sống cách đẹp lòng Chúa để được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn; vì Người là Cha nhân lành đầy lòng thương xót và luôn sẵn lòng ban ơn cần thiết cho những ai muốn sống theo đường lối của Người để đi vào cõi sống hạnh phúc muôn đời mai sau trên Nước Trời..

Nhưng cho được cứu rỗi nhờ công nghiệp vô giá của Chúa Kitô, chúng ta cần tỏ thiện chí muốn dùng tự do để cộng tác với ơn Chúa trong quyết tâm từ bỏ tội lỗi, xa tránh những lối sống của " văn hóa sự chết" đang lan tràn ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Nếu không có thiện chí và quyết tâm này thì Chúa không thể cứu ai được, vì Người phải tôn trọng tự do của con người : tự do đi đường sai trái gian tà hay tự do đi theo Chúa dẫn đến sự sống và hạnh phúc bất diệt trên cói vĩnh hằng.

Tóm lại, bằng chứng Kinh thánh nêu trên đủ cho ta biết con người có tự do thật sự để yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự, hay tự do khước từ Người , dủng dưng lời Chúa mời gọi vào tham dự Bàn Tiệc Nước Trời đã dọn sẵn cho những ai muốn hưởng niềm vui bất tận là chính Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Kitô.

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

--------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 3 of 84