mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4937
mod_vvisit_counterHôm Qua8427
mod_vvisit_counterTuần Này59513
mod_vvisit_counterTuần Trước84740
mod_vvisit_counterTháng Này259612
mod_vvisit_counterTháng Trước339361
mod_vvisit_counterTất cả17818765

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - MÙA CHAY THÁNH-LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

NHÂN MÙA CHAY THÁNH, CẦN NÓI QUA VỀ MỐI NGUY CƠ TO LỚN ĐẾN TỪ MA QUỈ KẺ THÙ LUÔN CÁM DỖ CON NGƯỜI LÀM SỰ DỮ , SỰ TỘI KHIẾN MẤT HY VỘNG ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ VÀO NƯỚC TRỜI HƯỞNG PHÚC THIÊN ĐÀNG

Hỏi:
Xin cha giải thích về sự có mặt của ma quỉ cám dỗ con người trên trần thế này.
Trả lời:
Nói về ma quỉ (devils, ghosts) chúng ta cần phân biệt phân biệt hai loại sau đây:
1-Trước hết là có những hiện tượng kinh dị mà nhiều người đã gặp thấy và tin đó là có hồn ma người chết hiện về để nhát đảm người còn sống. Cụ thể , cách nay trên 60 năm, trong làng của cha mẹ tôi ở thuộc tỉnh Hâ nam , mẹ tôi đã kể cho tôi nghe về một bà kia ốm đau đã lâu ngày , chữa chậy tồn nhiều tiền mà không khỏi bênh, nên sinh buồn phiền chản nản sao đó. Cho nên hôm lễ kính Thánh Cả Giuse- ngày 19 tháng 3- .Quan Thầy của làng. Bà ta đã xua các con cháu đi lễ hết và ở nhà một mình, bà đã treo cổ tự tử trong nhà. Người con gái lớn đang đi lễ ở nhà thờ bỗng cảm thấy có gì không yên trong lòng nên đã bỏ dở lễ về nhà thì thấy mẹ đang treo cổ chết.Chị đã tháo giây cho bà lăn xuống , bế đặt lên giường rồi tri hô lên là mẹ tôi trúng gió chết !. Thoạt đầu dân làng cũng tin như vậy, vì bà này đã ốm đau lâu ngày. Nhưng sau khi đem bà đi chôn ở nghĩa trang của làng, thì lạ thay có đàn chim lạ đông vô số kể, to và đen như quạ bay ở đâu về đậu từ nghĩa trang nơi chôn bà kia đến nóc nhà bà ở . Một sự sợ hãi đã lan rộng khắp trong làng đến nỗi không ai dám ra ngoài về đêm! Và từ đó dân làng đều tin bà kia đã tự tử chết dù con cái bà dấu không nói ra cho ai biết.Chưa hết, một tối kia, bà già mẹ chồng bà kia đang ẵm cháu nằm trong giường chưa ngủ, thì con ma đã hiện về, mở cửa phòng rôi lên tiếng cười nghe rất ghê sợ. Nó tiến lại giường bà mẹ chồng nắm, giỡ mùng lên và đưa tay lạnh lẽo sờ vào mặt bà và nói : con về thăm mẹ đây ! bà già sợ hãi mắng nó rằng : mày xéo ngay đi ,kiếp nào về kiếp đó.Đừng về đây làm khổ cho con cháu mày nữa ! Tao lấy tên cực trọng Giêsu Maria Giuse mà trừ mày ! Nghe thế, con ma lại lặng lẽ đi ra vào trong đêm tối. Bà già kia đã đem chuyện hải hùng này kể cho mẹ tôi,có tôi ngồi đó nghe ! eo ơi sợ quá, tôi chỉ nghe kể lại mà đã thấy sợ hãi vô cùng. Chưa hết, còn chuyện lạ nữa là mỗi năm trước ngày Lễ kính Thánh Giuse, ngày 19 tháng 3, đàn chịm lạ kia lại bay về làng , đậu từ nghĩa trang chôn bà tự tử kia đến nóc nhà của bà ấy ở. Sau Lễ, chúng lại bay đi khỏi làng ! chính tôi- khi ấy- đã cùng đám trẻ trong làng đi đánh đuổi những con chim kia bay về làng trước ngày Lễ Kính Thánh Giuse.Nhưng từ 60 năm nay sống xa quê hương, tôi không biết đàn chim kia còn bay về làng mối năm nữa không. Tôi đự định về thăm VN trong năm nay (năm 2020) và sẽ về quê ở làng Doãn, Huyện Bình Lục, Tỉnh Hanam để hỏi những người lớn tuổi trong làng về hiện tượng ma quái nói trên. .
Ở Mỹ cũng có hiện tượng tương tự. vì có những nhà được gọi là "Haunted houses" (có ma ám ảnh) không ai dám ở vì tin là có ma hiện ra nhát người sống. Bản thân tôi, khi còn làm phó xứ ở một giáo xứ kia, có một giáo dân người Mễ-Tây Cơ một hôm đã đến xin tôi làm phép nhà cho bà ta vì bà nói thỉnh thoảng về đêm ,bà nghe có tiếng la hét và tiếng nước chảy từ phòng tắm kế bên phòng ngủ của bà , mặc dù trong nhà chỉ có hai vợ chồng già và không ai sử dụng phòng tắm về đêm! Tôi đã đến làm phép nhà cho bà và sau đó không thấy bà nói gì về việc sợ hãi kia nữa.
Như vậy, chắc chắn có những "hiện tượng bất thường" xảy ra mà người ta gán cho là có ma quỷ xuất hiện dưới nhiều hình thức để nhát đảm hay quấy phá người sống. Giáo Hội không đưa ra một giải thích rõ nào về những hiện tượng này, mặc dù tin có chuyện ma quỷ ám hại con người nên cho đến nay, Giáo Hội vẫn sử dụng phép "trừ quỷ, trừ tà" (Exorcism) được Giáo Quyền địa phương trao cho một linh mục nào thi hành khi cần đến.
Xưa kia, khi còn đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần "trừ quỉ" nhập vào làm khổ nhiều người. Điển hình là trường hợp có người kia đã bị một lũ quỷ nhập và hành hạ rất khốn đốn. Chúa đã trừ chúng ra khỏi nạn nhân và cho chúng nhập vào đàn heo và lao xuống vực thẳm chết.hết. (Lc 8: 26-31). Lại nữa, "các thần ô uế, hễ thấy Đức Giêsu thì sấp mình dưới chân Người và kêu lên: Ông là Con Thiên Chúa. Nhưng Người đã cấm ngặt chúng không được tiết lộ Người là ai." (Mc 3: 11-12).
Quỷ la lên khi bị Chúa trừ ra khỏi các nạn nhân của chúng và không cho phép chúng nói Người là ai (Lc 4: 40-41).Tin Mừng Thánh Matthêu cũng thuật lại trường hợp một người bị quỷ ám khiến cho mù lòa và câm. Chúa đã trừ quỷ ra khỏi anh ta khiến anh lại được trông thấy và nói được. (Mt 12: 22-23). Đặc biệt, Chúa đã trừ 7 quỷ ám hại một phụ nữ tên là Maria Ma-đa-la. (Lc 8 : 2) . Bà này sau đó đã đi theo Chúa cho đến khi Người chết trên thánh giá. Bà cũng là phụ nữ đầu tiên đã đến viếng Mộ Chúa sáng ngày thứ nhất trong tuần và đã được gặp Chúa hiện ra và bảo đi loan báo tin mừng Chúa Phục Sinh cho các môn đệ Người. (Mt 28: 1-10; Ga 20: 11-18)
Thánh Phaolô cũng nhân danh Chúa Kitô để trừ quỷ nhập vào một phụ nữ chuyên nghề bói toán, đồng bóng:
"Nhân danh Đức Giêsu-Kitô, ta truyền cho ngươi phải xuất khỏi người này. Ngay lúc ấy quỷ thần liền xuất.ra" (Cv 16: 18)
Nhưng phải nói ngay là, những trường hợp quỷ nhập và ám hại người sống nói trên, kể cả những chuyện ma quỷ hiện hình để quấy phá người sống, tất cả chỉ có tác dụng làm cho người ta sợ hãi, khốn khổ về thể xác mà thôi, chứ không có gì phải lo sợ về phần hồn.
Điều đáng lo sợ về phần hồn, hay phần rỗi của mọi người chúng ta là có loại ma quỷ không hiện hình để phá phách, hay ám hại ai về thể xác, nhưng vô hình cám dỗ con người với nhiều chiến lược tinh xảo khiến cho rất nhiều người đã và đang ngã theo chúng để làm những sự dữ, sự tội như chúng ta thấy rõ bộ mặt của chúng trong cách sống của biết bao người ở khắp nơi trên trần thế xưa và nay. Đó là những kẻ đang giết người, giết thai nhi, hãm hiếp phụ nữ. oán thù muốn làm hại người khác. Đặc biệt đó là những kẻ đang buôn bán phụ nữ, bắt cóc trẻ nữ để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm (child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi ở nhiều nơi trên thế giới tục hóa, vô luân vô đạo này.Tất cả những kẻ đã và đang làm những sự dữ nói trên đều đã bị chi phối hay cám dỗ bởi thứ ma quỉ gọi là Satan và bè lũ
2- Đó là Quỷ Satan và bè lũ:
Loại "ma quỷ" này không hiện ra để làm cho ai phải khiếp sợ, nhưng lai vô hình ám hại con người cách đáng sợ hơn,với những mưu chước cám dỗ rất tinh vi và thâm độc để mong lôi kéo con người ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, làm nô lệ cho chúng khiến mất hy vọng được cứu rỗi.để vào Nước Trời vui hưởng Thánh Nhan Chúa, là Nguồn mọi an vui và hạnh phúc mà của cải tiền bạc trần gian không thể mua hay đổi trác được
Đó chính là loại ma quỉ mà Thánh Phêrô đã cảnh cáo và ví chúng như " sư tử đói rảo quanh tim mồi cắn xé."(1 Pr 5: 8)
Đây là thứ quỷ mà Kinh Thánh và Giáo lý của Giáo Hội nói về "một Thiên Thần đã sa ngã để trở thành quỷ Satan" và kéo theo các Thiên Thần khác nổi lên chống lại Thiên Chúa và không hề ăn năn sám hối xin tha thứ để vĩnh viễn là những kẻ phản loạn, muốn lôi kéo con người đi theo chúng để chống lại Thiên Chúa là tình yêu, công bình và thánh thiện. (x. SGLGHCG số 391-394)
Thánh Gioan, trong Sách Khải Huyền, đã gọi loại ma quỷ hay Sa-tan này là Con Mãng xà, tức Con Rắn xưa:
"Bấy giờ tôi thấy một Thiên Thần từ trời xuống, tay cầm chìa khoá vực thẳm và một dây xích lớn. Người bắt lấy Con Mảng Xà, tức là Con Rắn xưa, cũng là ma quỷ hay Sa-tan, và xích nó lại một ngàn năm." (Kh 20: 1-20)
Nói rõ hơn, loại ma quỷ này được xem như "những Thiên Thần đã sa ngã" vì đã kiêu căng chống lại Thiên Chúa và đã bị đạo binh thiên quốc của Tổng lãnh Thiên thần Mi-ca-e đánh bại.
Đây mới là loại " ma quỉ" mà chúng ta phải khiếp sợ và đề phòng để không sa vào cạm bẫy của chúng như Thánh Phêrô đã ân cần nhắc nhở chúng ta sau đây:
"Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." (1 Pr 5: 8)
Như sư tử đói rảo quanh tìm mồi ăn sống nuốt tươi thế nào, thì ma quỷ cũng ngày đêm rình rập để cướp lấy linh hồn chúng ta bằng mọi mưu chước cảm dỗ như vậy.
Như thế, loại ma quỷ này mới chính là kẻ thù nguy hiểm nhất mà chúng ta phải tỉnh thức đề phòng, và nương nhờ ơn Chúa để chống lại chúng hầu được sống trong tình thương của Chúa và có hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.
Quỷ Satan và bè lũ "rảo quanh cõi đất và lang thang khắp đó đây" như chính Satan đã trả lời Thiên Chúa khi nó muốn thách đố Thiên Chúa về lòng tin và yêu mến của ông Gióp trong cơn thử thách nặng nề. Chúa cho phép nó được đụng chạm đến của cải, tài sản của ông Gióp nhưng không được đụng đến mạng sống của ông. (Gióp 1: 9: 12)
Chính vì mục đích của chúng là lôi kéo con người ra khỏi tình thân với Chúa nên Quỷ Satan và bè lũ đã và đang xô đẩy quá nhiều người xuống vực thẳm hư mất đời đời, vì đã dại dột nghe theo chúng để phạm những tội ghê gớm như giết người hàng loạt, phá thai không gớm tay, hận thù, trộm cướp, ham mê khoái lạc (Hedonism) và dâm ô thác loạn, chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ tiền bạc và của cải vật chất, buôn bán phụ nữ và trẻ nữ để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, và tội lỗi, trong khi dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của biết bao người không may mắn ở khắp nơi trên thế giới. Đặc biết ở các quốc gia độc đảng, độc tài, tham quyền cố vị để vơ vết của cải, làm giầu cho bản thân và phe nhóm, trong khi nhắm mắt bịt tai trước những bất công xã hội và suy thoái nặng nề về luân thường đạo lý. Tắt một lời: thế giới đang sống với văn hóa của sự chết vì Satan đang thống trị quá nhiều người ở khắp nơi trên thế gian tục hóa, vô luân vô đạo ngày nay.
Từ thuở đầu tiên, chính quỷ Satan, trong hình thù con Rắn, đã cám dỗ bà Eva ăn trái cấm trong Vườn Địa Đàng, khiến con người đã mất tình thân với Thiên Chúa và mang sự chết vào trần gian như ta đọc thấy trong Sách Sáng Thế., và Thư Rôma của Thánh Phaolô. ( x. St 3: 1-6; Rm 5: 12 )
Sau này, cũng chinh quỷ Satan đã dám đến cám dỗ Chúa Giêsu ba lần trong rừng vắng, nơi Chúa ăn chay cầu nguyện. Chúa đã đánh bại và quát mắng nó: " Satan kia xéo đi." (Mt 4 : 10)
Chúa đã đánh bại Satan với Thần khí của Thiên Chúa như lời Người đã nói với dân chúng chứng kiến việc Người trừ quỷ ra khỏi một nạn nhân bị nó làm cho câm và mù mắt:
"...còn nếu Tôi dựa vào Thần Khí Thiên Chúa mà trừ quỷ thì quả là triều đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông." (Mt 13: 28)
Sau này, cũng Satan đã "nhập vào Giuđa" sau khi môn đệ này ăn miếng bánh Chúa trao cho trong đêm Tiệc Ly cuối cùng. Và y đã ra đi trong đêm tối để thi hành việc trao nộp Chúa cho bọn Thượng tế và kỳ mục Do Thái. (Ga 13 : 27)
Trước đó, Chúa Giêsu cũng đã nói với Phêrô về hiểm họa cám dỗ của Satan như sau:
"Si-mon, Si-mon ơi, kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo." (Lc 22: 31)
Sàng như sàng gạo, nghĩa là cám dỗ mãnh liệt cho ta sa ngã. Vì thế, Chúa đã nhắc thêm cho Phêrô và các môn đệ Người phải luôn tỉnh thức mà cầu nguyện như sau:
"Anh em hãy canh thức mà cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối." (Lc 14: 38 )
Chúa phải nhắc các môn đệ Người và tất vả chúng ta như vậy vì Người biết rằng Satan và bè lũ luôn rình rập từng giây từng phút để cám dỗ con người phạm tội nghịch cùng Thiên Chúa như chúng luôn thù nghich Thiên Chúa và không muốn cho ai thuộc về Thiên Chúa nữa.
Tóm lại, ma quỷ là một thực thể không thể chối cãi được. Chúng có mặt cách vô hình trên trần gian, sau khi đã phản nghịch cùng Thiên Chúa và bị trục xuất ra khỏi Thiên Đàng như Kinh Thánh và giáo lý của Giáo Hội dạy. Chúng quả thực là kẻ thù đáng sợ cho mọi người tín hữu chúng ta, vì âm mưu thâm độc của chúng muốn lôi kéo chúng ta ra khỏi tình thương và tình thân với Chúa, khiến ta mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.
Do đó, muốn được cứu rỗi, muốn thuộc vể Chúa để hưởng Thánh Nhan Người trên cõi vĩnh hằng, chúng ta không thể coi thường sự có mặt của ma quỉ hằng tỉnh thức và rình rập bên ta ngày đêm để cám dỗ ta làm những gì trái nghích với tình thương, công bình và thánh thiện của Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành; Đấng giầu lòng yêu thương nhưng gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi là do ma quỷ gây ra như Thánh Gioan Tông Đồ đã dạy dưới đây:
"Ai phạm tội thì là người của ma quỷ
Vì ma quỷ phạm tội từ lúc khởi đầu
Sở dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện
Là để phá hủy công việc của ma quỷ." ( 1Ga 3:8)
Vậy chúng ta phải luôn tỉnh thức, luôn cầu nguyện và đề phòng để không sa chước cám dỗ của ma quỷ, là kẻ triệt để khai thác sự yếu đuối của bản tính con người và gương xấu của thế gian, của môi trường xã hội để mong xô chúng ta xuống vực thẳm hư mất đời đời cùng với chúng.. Cho nên, muốn được cứu rỗi để vào Nước Thiên Chúa mai sau, tất cả chúng ta , những người may mắn có được đức tin, phải cương quyết chống lại Satan và bè lũ để không phạm tội và mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.
Chúa Kitô đến trần giân để hy sinh mạng sống mình làm "giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20:28) nhưng Chúa không tiêu diệt hết mọi tội lỗi và kẻ gây ra tội lỗi là ma quỉ. Do đó, muốn được cứu rổi để vào hưởng hạnh phức Nước Trời với Chúa sau khi hoàn tất hành trình con người trên trần thế này, chúng ta chớ quên sự có mặt của tội lỗi và ma quỉ để phải liên lỉ chiến đấu chống lại chúng với ơn Chúa phù giúp cho đến phút sau cùng của mỗi người chúng ta trên trần gian này.Phương pháp hữu hiện để chiến thắng tội lỗi và ma quỉ là phải siêng năng cầu nguyện vì " không có Thầy anh em không làm gì được."( Ga 15:5) Nghĩa là không có ơn Chúa phù giúp thì chúng ta không dễ vượt qua mọi cám dỗ của ma quỉ, của xác thịt yếu đuối và lôi cuốn mạnh mẽ của thế gian với quá nhiều gương xấu và dịp tội.
Tóm lại, tội lỗi và ma quỉ có mặt trong trần gian và ở quanh mỗi người chúng ta để mong lôi kéo chúng ta ra khỏi tình thương và thân tình với Chúa khiến mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.Do đó, muốn chiến thắng ma quỉ và tội lỗi, mọi người tín hữu chúng ta phải luôn cầu nguyện, nhất là năng rước Mình Thánh Chúa Kitô để được tăng sức mạnh thiêng liêng trong cuộc chiến chống tội lỗi và ma quỉ là kẻ gây ra mọi tội lỗi qua các cơn cảm dỗ liên lỉ và tinh quái của chúng.Amen.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.Amen
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Houston, Texas USA.

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THÁNH GIUSE -TS DUYỆT PDF Print E-mail

DM Tran
Sat, Feb 29 at 6:32 PM
Mừng Bổn Mạng Giuse và mừng kính Thánh Giuse

THÁNH GIUSE NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Trần Mỹ Duyệt

Để tôn vinh Thiên Chúa, và để đề cao nhân đức của Thánh Giuse, Thánh Giuse - Bạn trăm năm Đức Trinh Nữ Maria, ngày 19.06.2013, Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích công bố một Sắc lệnh đã được Đức hồng y Bộ trưởng Antonius Cañizares Llovera và Đức Tổng Giám Mục Thư ký Arturus Roche ký vào ngày lễ Thánh Giuse Thợ 01.05.2013. Sắc lệnh quyết định đưa tên Thánh Giuse vào các Kinh nguyện Thánh Thể II, III và IV, sau tên của Đức Trinh Nữ Maria. Trước đây, tên Thánh Giuse chỉ được đọc trong Kinh nguyện Thánh Thể I (Lễ quy Rôma). Sắc lệnh viết:

"Qua việc làm cha chăm sóc Chúa Giêsu, Thánh Giuse làng Nazareth, khi được đặt lên trông coi gia đình của Chúa, đã hoàn thành nhiệm vụ đã nhận được nhờ ân sủng. Do gắn bó chặt chẽ với các mầu nhiệm khởi đầu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Ngài trở nên mẫu gương về lòng khiêm nhường và nhân ái, những điều làm cho đức tin Kitô giáo có được những phẩm giá cao cả; và thể hiện những nhân đức nhân bản và đơn sơ, cần cho con người trở nên môn đệ tốt lành và đích thực của Chúa Kitô. Nhờ các nhân đức đó, Người Công Chính này, sau khi đã hết sức trìu mến chăm sóc Mẹ Thiên Chúa và vui vẻ tận tình dạy dỗ Chúa Giêsu Kitô, đã trở nên người quản lý kho tàng quý giá của Thiên Chúa Cha và qua các thế hệ được Dân Thiên Chúa không ngừng tôn kính như đấng bảo trợ thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, nghĩa là Hội Thánh" (Lm. Phêrô Lê Tấn Bảo dịch). (Lm.Giuse Nguyễn Hữu An, Vietcatholic.net, 17/Mar/2018)

Vậy Giuse là ai?

Không có một tài liệu nào nói rõ ràng, đầy đủ về ngài. Thánh Kinh cũng chỉ nhắc đến ngài thuộc hoàng tộc David, "Giuse là con vua David", nhưng từ David đến Chúa Giêsu đã 28 đời. Theo thánh sử Mátthêu: "Từ David đến thời lưu đày ở Babylon là mười bốn đời, và từ thời lưu đày ở Babylon đến Đức Kitô, cũng là mười bốn đời" (Mátthêu 1:17). Cho nên có thể nói rằng nếu Giuse sống bằng nghề thợ mộc thì cũng không gì khó hiểu, vì cái gốc gác hoàng tộc ấy đến ngài cũng đã quá xa.

Cuộc hôn nhân giữa Giuse và Đức Maria, theo Ngụy Kinh (Apocryphal Gospel) của Giacôbê có ghi, khi Maria đến tuổi dậy thì, các thượng tế đã nghĩ đến chuyện thành hôn cho Maria, vì sợ rằng với tuổi ấy những chuyện không tốt có thể xảy đến cho Đức Maria và liên quan đến đền thờ. Câu chuyện bắt đầu bằng việc các thượng tế kêu gọi những trai tráng có đủ điều kiện, mỗi người phải mang một nhánh cây hoặc một cây gậy lên Đền Thờ cầu nguyện. Nếu nhánh cây hoặc gậy của người nào có dấu hiệu lạ xảy ra, người đó sẽ là chồng của Maria. Cuộc hôn nhân này được tác thành bởi các thượng tế vì Maria đã được cha mẹ là Gioankim và Anna gửi vào Đền Thờ lúc còn rất trẻ.

Giữa những cây gậy, nhánh cây của các thanh niên, trai tráng mang đến, gậy của Giuse bỗng nở hoa. Giuse đã được chọn làm chồng của Maria. Và đó cũng là lý do tại sao trong các ảnh vẽ, các tượng của thánh Giuse sau này đều có cằm một cây gậy nở hoa. Nó cũng là dấu hiệu đời sống thánh thiện, trinh khiết của ngài khi kết hôn và sống với Đức Nữ Trinh Maria trong đời sống hôn nhân sau này.

Để tỏ sự tôn kính Đức Trinh Nữ Maria và Chúa Giêsu, các dịch giả hoặc trước tác Việt Nam cố gắng tránh danh từ "chồng" khi nói về Giuse đối với Đức Maria, thay vào đó dịch là "bạn" bạn trăm năm, bạn thanh sạch của Đức Mẹ. Danh từ "cha" của ngài đối với Chúa Giêsu được dịch là "bõ nuôi", "cha nuôi", "dưỡng phụ", hoặc "nghĩa phụ". Nhưng chính Đức Maria đã cải chính và sửa lại quan niệm này. Mẹ không ngần ngại nhận Giuse là chồng, và là bố của Giêsu. Thánh Kinh ghi lại điều này khi gia đình lạc nhau lúc trẻ Giêsu lên 12 tuổi. Trong đền thờ: "Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con!" (Luca 2:48).

Dĩ nhiên, người chồng và người cha ở đây không chỉ hiểu theo một nghĩa thông thường, và Thánh Giuse cũng không phải người bình thường bởi vì Đức Maria là Trinh Nữ rất thánh, đồng trinh trước, đang, và sau khi sinh con. Thánh Giuse đã phải đối diện với vấn nạn này và ngài quyết tâm ly dị người hôn phu của mình vì nàng có thai mà không rõ lý do? Suy nghĩ và quyết định này phải cần đến sự can thiệp của Thiên Chúa. Ngài đã mặc khải cho ông về ý định của Ngài như sau: "Nhưng khi ông đang suy nghĩ về những chuyện này, thiên thần Chúa xuất hiện với ông trong giấc ngủ và bảo, "Giuse con David, đừng sợ nhận Maria làm vợ: vì người con trong lòng bà là bởi phép Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, và ông đặt tên người là Giêsu" (Mátthêu 1:20-21). Người con ấy là do Chúa Thánh Thần, tên là Giêsu cũng là người con của ông, vì ông là người đặt tên cho người con đó. Ngoài ông ra, ai có quyền đặt tên cho đứa trẻ? Và người mà đặt tên cho con, đương nhiên phải là người cha.

Trong những giao tiếp thường ngày, người ta thường chào nhau bằng những danh hiệu phù hợp với địa vị xã hội và trình độ học vấn. Thí dụ, bác sĩ, dược sĩ, luật sư, giáo sư, bộ tưởng, tổng trưởng, dân biểu, nghị sĩ, hoặc tổng thống. Giới giới tu hành, thì được xưng hô là tu sĩ, linh mục, mục sư, giám mục, hồng y, giáo hoàng, thượng phụ giáo chủ, hoặc thượng tọa, hòa thượng, đại đức, tăng thống... Nhưng không thấy có ai được xưng tụng bằng danh hiệu "công chính". Lý do vì không ai dám tự nhận cho mình danh hiệu này. Ðiều con người không dám làm và không làm được, thì Thiên Chúa lại làm. Trước đây 2000 năm, Ngài đã cho gọi đích danh một người, và ban cho người ấy danh hiệu "công chính": "Giuse là người công chính" (Mátthêu1:19). Và cũng từ đó, danh tính ấy và con người ấy đã gắn liền với cuộc đời và sứ mạng cứu thế của Ðức Giêsu, cũng như của mẹ Ngài là Trinh Nữ Maria.

Mặc dù Thánh Kinh không nói nhiều về ngài - cũng như Ðức Maria - Thánh Kinh đã nói đủ để ta biết ngài là ai, làm gì, và sống như thế nào. Tiểu sử của ngài thực ra không phải là không được nhắc tới. Cùng với Maria, người vợ đồng trinh của mình, Giuse cũng được nhắc đến một cách vừa đủ để không bị ảnh hưởng đến những gì mà Thánh Kinh cần viết, và cần nói về Chúa Giêsu, Ngài mới là nhân vật chính.

Tóm lại, Thánh Giuse theo Thánh Kinh thuộc hoàng tộc Ðavít. Quê quán tại Belem, sinh sống và hành nghề thợ mộc tại Nazareth (x. Lc 2:4). Ngài kết hôn với Maria, con GioanKim và Ana. Ngài có người con trai là Giêsu. Ngoài những bạn bè, những người thân thương trong làng xóm, ngài cũng đã từng gặp gỡ các mục đồng trong đêm Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần, tiên tri Simêon và Ana khi đem Chúa Giêsu đi cắt bì tại Giêrusalem. Nhất là được hân hạnh đón tiếp những nhân vật lỗi lạc như 3 nhà đạo sĩ trong thời gian Hài Nhi Giêsu vừa mới sinh tại Belem: "Sau khi Chúa Giêsu sinh tại Belem xứ Giuđêa thời vua Hêrôđê, các đạo sĩ từ Ðông Phương đã tới Giêrasalem và hỏi: "Vua Do Thái mới sinh ra ở đâu? Chúng tôi đã thấy ngôi sao Ngài xuất hiện và chúng tôi đến để triều bái Ngài" (Mátthêu 2:1-2).

Về ngày sinh và ngày qua đời của ngài không ai biết rõ, nhưng phần đông các học giả Thánh Kinh vẫn cho rằng ngài qua đời trước khi Chúa Giêsu bước vào con đường hành động công khai. Trên thập giá, không thấy Ðức Giêsu nói về người cha đáng kính ấy của mình, nhưng đã trối mẹ của mình lại cho Gioan, môn đệ yêu dấu: "Gần thập giá Chúa Giêsu, đứng đó có mẹ Ngài, và chị họ mẹ Ngài là Maria vợ ông Clôpas, và Maria Mađalêna. Trông thấy mẹ mình cùng với môn đệ Ngài yêu dấu, Chúa Giêsu nói với mẹ Ngài: "Hỡi bà, này là con bà". Rồi nói với môn đệ: "Này là mẹ con". Và từ giờ đó, môn đệ đem người về nhà mình" (Gioan 19:25-27).

Tiểu sử của ngài như vừa được tóm lược một cách đơn giản trong Thánh Kinh, tuy ít, nhưng cũng đủ để ta hiểu về ngài chỉ trong một câu đơn giản: "Giuse là người công chính". Sự công chính là thuộc về Thiên Chúa. Do đó, khi thiên thần gọi Giuse là công chính, là ngụ ý rằng Thiên Chúa đã sẵn lòng thông ban cho ngài một phần vinh quang, một phần sự tốt lành, và một phần thánh đức của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Nhưng thánh Giuse đã sống và hành động như thế nào để xứng đáng với danh hiệu công chính?

Ðồng trinh

Nhân đức nổi bật, lạ lùng, cao siêu nhất của Thánh Giuse là "đồng trinh". Không thấy Giáo Hội và truyền thống Giáo Hội nói gì về sự đồng trinh nguyên thủy của ngài như đã từng nói về Bạn Ðồng Trinh của ngài là Trinh Nữ Maria. Nhưng vì Ðức Maria là đấng đồng trinh: đồng trinh trước khi sinh con, đang khi sinh con, và sau khi sinh con. Khi được Tổng Thần Gabriel đề cập đến vai trò làm mẹ Ðấng Cứu Thế trong ngày Truyền Tin, Mẹ đã trả lời rõ ràng: "Việc ấy xẩy ra thế nào được, vì tôi giữ mình đồng trinh" (Luca 1:34). Từ sự đồng trinh của Ðức Trinh Nữ Maria, đã cho thấy đức đồng trinh của Thánh Giuse. Có thể nói một cách hợp lý rằng đức đồng trinh của Ðức Maria làm rạng ngời đức đồng trinh của Thánh Giuse, và nhờ đức đồng trinh của Thánh Giuse mà đức đồng trinh của Mẹ Maria được bảo đảm như đã được Thánh sử Mátthêu ghi lại: "Sau đây là gốc tích của Ðức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Ngài đã đính hôn với Giuse. Nhưng trước khi hai ônb bà về chung sống với nhau, bà đã mang thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Giuse chồng bà, là người công chính không muốn tố giác bà, nên đã định tâm bỏ bà cách kín đáo" (Máttthêu 1:18-19).

Ðể hiểu thêm về đức đồng trinh cao cả ấy, ta cũng nên biết thêm rằng trên nguyên tắc, Ðức Maria là vợ của Thánh Giuse. Bổn phận hay trách nhiệm làm vợ của một phụ nữ trong đời sống hôn nhân gia đình gắn liền với bổn phận và trách nhiệm làm mẹ. Do đó, sinh lý trong hôn nhân, không những chỉ là phương tiện truyền sinh, mà cũng là một hành động của tình yêu đôi lứa, của sự gắn bó vợ chồng. Ở đây, Giuse và Maria đã nâng giá trị hôn nhân và đời sống vợ chồng lên một mức thánh đức trọn hảo, tuyệt vời nhờ vào đức đồng trinh của hai đấng. Cả hai đã sống với nhau và đối xử với nhau như các thiên thần trên trời như Chúa Giêsu đã mặc khải: "Quả thật, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ, lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời" (Mátthêu 22:30). Có thể một số người cho rằng cuộc sống vợ chồng như thế là không ai thực hiện được, nhưng Phaolô Tông Ðồ cũng đã cho biết, người ta có thể sống như thế khi viết: "Những ai có vợ hãy sống như không có vợ". (1 Cor 7:29)

Thánh Giuse đã làm nổi bật và kiện toàn tình yêu cao cả dành cho Ðức Maria khi tôn trọng sự đồng trinh của Ðức Mẹ, mặc dù sau này qua lời thiên thần Ngài mới biết đó là ý muốn và ý định của Thiên Chúa: "Giuse con Ðavít đừng ngại nhận Maria làm vợ, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội. Tất cả sự việc này xảy ra là để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ: "Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuen, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mátthêu 1:20-23). Một người không có tình mến thẳm sâu, không kính sợ Thiên Chúa như Thánh Giuse, thì những lời ấy vẫn không ngăn cản được ý định và ước muốn của bản năng, nhất là bản năng ấy được xử dụng trong hoàn cảnh hợp tình, hợp lý và hợp pháp như trong đời sống vợ chồng. Và điều này càng làm cho Thánh Giuse trở thành cao cả, và đáng mến biết bao.

Khiêm nhường

Sau đức đồng trinh của Thánh Giuse, ta hãy nhìn tới đức khiêm nhường của ngài.

Như đã được nhắc tới trong Thánh Kinh, Thánh Giuse xuất thân từ dòng tộc Ðavít. Ngài là một người thuộc hoàng tộc. Ðiều này càng làm cho đức khiêm nhường của Ngài thêm sáng chói, nếu đem cộng thêm thiên chức cao cả mà Thiên Chúa đã ban cho Ngài là "làm chồng đồng trinh của Ðức Maria, và làm cha nuôi Chúa Cứu Thế".

Cả dân tộc Do Thái thời bấy giờ và trong suốt thời gian Cựu Ước, ngày đêm trông mong sự xuất hiện của Ðấng Cứu Thế. Ai trong các thiếu nữ Sion cũng muốn mình lấy chồng, và mơ màng một ngày nào đó được làm mẹ Ðấng Thiên Sai. Ðó là sự nôn nóng và nô nức tự nhiên, hợp tình, hợp lý. Một giấc mơ thánh thiện.

Một cách tương tự, ai trong các thanh niên Do Thái lúc bấy giờ mà chẳng muốn mình làm cha Ðấng Thiên Sai. Còn gì vinh dự, hãnh diện và hạnh phúc hơn là từ gia đình mình, từ dòng dõi mình xuất hiện Ðấng Cứu Thế. Ðây là một vinh dự lớn và không dễ gì đã có ai bỏ qua. Nhưng trường hợp của Thánh Giuse lại khác hẳn. Ngài sẵn sàng bỏ qua ý tưởng đó, chỉ muốn sống một cuộc đời khiêm nhường. Ngài đã chỉ vì yêu mến Thiên Chúa mà chấp nhận vai trò và danh dự làm "cha nuôi" Ðấng Thiên Sai mà thôi.

Thánh Giuse đã rất giản dị, bình dân, và khiêm tốn. Thánh Kinh không thấy chỗ nào nói tới việc Ðức Maria nhận mình là Mẹ Thiên Chúa - Ðấng Thiên Sai. Cũng vậy, không thấy chỗ nào Thánh Giuse đã nói, hoặc cho ai biết mình là cha của Ðấng Thiên Sai. Cả hai, Ðức Maria và Thánh Giuse không những không nói cho ai biết về cái bí mật mà mọi người đang hăm hở kiếm tìm ấy, mà cũng không hành xử như một người làm mẹ hay làm cha của Ðấng Cứu Thế. Ðây là một hành động hết sức khiêm nhường. Một nhân đức sáng ngời và trổi vượt của Thánh Giuse trong những nhân đức phi thường mà Ngài đã sống với trong cuộc hành trình dương thế của mình bên cạnh Ðức Maria và Chúa Giêsu.

Khó nghèo

Giầu có về ân sủng và nhân đức, nhưng cuộc sống trần thế của Thánh Giuse luôn luôn lận đận với cái nghèo. Người ngoài sẽ không biết rõ được gia đình của Giuse và Maria nghèo đến thế nào nếu như không có biến cố Giáng Sinh tại Belem. Thánh Kinh ghi rõ, cả hai đều bị từ chối và không tìm được một nơi trú ngụ giữa các hàng quán quanh thành. Luca đã ghi lại chi tiết nghèo của thánh gia trong thời gian lưu lại ở Giêrusalem: "Bà sinh con trai đầu lòng, quấn tã lót và đặt trong máng cỏ, vì họ không tìm được chỗ trong các quán trọ" (Lc 2:7). Có thể là vì số người đã nhiều mà các quán trọ không đủ phòng ốc. Cũng có thể là nhìn thấy Maria đang mang thai và như đang gần ngày sinh. Nhưng lý do nghèo của hai người là chính. Có tiền bạc đầy đủ và giầu có thì kiếm đâu không có phòng trọ? Nhưng vì nghèo, nên cả hai đã phải tạm trú tại một chuồng bò ngoài thành. Và trong hoàn cảnh ấy, Thiên Chúa đã hạ sinh và ở giữa chúng ta.

Sự nghèo nàn của thánh gia còn được thấy khi trong nghi lễ hiến dâng Hài Nhi Giêsu. Vì nghèo không đủ tiền mua những lễ vật giá trị hơn, nên cha mẹ của Giêsu chỉ mua được một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non (x Lc 2:22-24), những lễ vật thuộc giới bình dân và nghèo. Nhưng đó là một cái nghèo tự nguyện. Một đời sống nghèo của người công chính, không chộp giật, không bon chen, và không tham lam. Với số vàng, nhũ hương và mộc dược ba nhà đạo sĩ dâng tặng trong lần họ đến bái yết Hài Nhi Giêsu chắc dư dùng cho gia đình nếu như Giuse và Maria có lòng tham lam muốn giữ làm của riêng. Nghề thợ mộc ở vào thời điểm của Thánh Giuse chắc cũng không phải là nghề không kiếm ra tiền, nhất là với tay nghề vững chãi, kinh nghiệm, cộng với sự nhiệt tâm, chịu khó của ngài. Do đó, cái nghèo của Thánh Giuse hiển nhiên là một đức nghèo trọn lành của Phúc Âm. Nó phát xuất từ tâm hồn đơn sơ, phó thác và tin tưởng hoàn toàn nơi Chúa Quan Phòng.

Đặt chân đến Nazareth, khách hành hương như hơi thất vọng với một thành phố mà cho mãi đến ngày nay vẫn hiện lên nét nghèo, với đường xá chật chội, gập ghềnh sỏi đá, nhà cửa không gì mấy khang trang. Nazareth bây giờ cũng chỉ có thể so sánh với những thành phố nghèo ở Việt Nam, Lào, Cao Mên, Mễ, Phi luật tân, hay một nước nào đó bên Phi Châu, trung Đông kém mở mang. Thành phố gồm những căn nhà nhỏ bé, những hẻm đường với những cửa hàng buôn bán bày ra cả lối đi. Đường vào thánh đường Cana hẹp, khó đi, luồn lách qua các ngõ hẻm.

Nhưng đây lại là nơi Thánh Gia lập nghiệp và định cư, nơi Con Thiên Chúa ẩn dật, che dấu thân phận Thiên Chúa của Ngài cho đến khi xuất hiện công khai năm lên 30 tuổi. Gần ba mươi năm sống trong thôn làng nhỏ bé này, chắc Chúa rành rẽ đường đi, nước bước. Và vì có dịp làm quen với những người nghèo, nếp sống nghèo nên sau này Chúa thường dùng những ví dụ thực tế, dễ hiểu của đời thường để nói về những mầu nhiệm nước trời. Thí dụ, dụ ngôn người gieo giống, hạt cải, cây vả, cây nho... ngay cả đến hình ảnh của một người con phung phá, ông phú hộ.

Nghèo và những người ở đây cũng chân chất đến nỗi chính Nathanael khi được Philip mời gia nhập đoàn với các Tông Đồ, đã tỏ ra hoài nghi về Chúa Giêsu vì Ngài xuất thân từ Nazareth: "Ở Nazareth có gì hay ho đâu" (Gioan 1:46). Ý ông nói: "Đất sỏi làm gì có chạch vàng?". Vỹ nhân làm sao xuất thân từ nơi khỉ ho cò gáy như thế? Không chỉ có Nathanael là người Bethsaida đồng quê với Phêrô và Andrê, ngay trong dân làng Nazareth họ cũng tỏ dấu nghi ngờ Chúa Giêsu khi họ nghe Chúa giảng dậy và làm những phép lạ: "Bởi đâu ông ta được như thế? Ông ta được khôn ngoan như vậy nghĩa là làm sao?" (Máccô 6:2).

âm thầm

Do khiêm nhường và tâm tình khiêm tốn, nên Thánh Giuse đã hoàn toàn âm thầm và giữ đúng vai trò trung gian của mình giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Giữa Mẹ Maria, Chúa Giêsu và Ðấng đã ủy thác cho mình việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ.

Trong thực hành, ít ai ở vào địa vị như ngài mà lại âm thầm, và khuất tịch được như Ngài. Ai mà không thích danh giá. Không muốn được xưng tụng với danh hiệu này, danh hiệu khác, nhất là khi thực sự mình có danh giá, có địa vị, và chỗ đứng trong xã hội. Ai bằng Ðức Maria, thiếu nữ Sion tuyệt vời, tràn đầy ơn phúc như lời Tổng Thần Gabriel trong ngày truyền tin: "Hãy vui lên, Ðấng đầy ơn sủng. Thiên Chúa ở cùng bà" (Lc 1:28). Còn Isave, chị họ thì ca tụng: "Em có phúc hơn mọi phụ nữ" (Lc 1:42). Ai bằng Giêsu, Con Một Thiên Chúa làm người. Ðấng là chủ tể vũ trụ. Nắm trong tay hai bảo tàng vô giá ấy, mà không huênh hoang, không muốn nổi nang, và luôn luôn khuất tịch, thì chỉ có Thánh Giuse mới làm được. Và cũng chính vì ngài đã làm được chuyện này, nên đã xứng đáng được gọi là công chính.

Trước xưởng mộc của Thánh Giuse ở Nazareth, là một tượng đồng của ngài. Dáng vẻ suy tư trầm ngâm nhưng hiền từ, trong tay có cằm một cây gậy nở hoa. Bức tượng diễn tả đúng với con người của Giuse, người mà Thánh Kinh gọi là công chính: "Giuse chồng bà là người công chính" (Mátthêu 1:19). Khách hành hương với lòng sốt sắng, yêu mến đã xoa vào hai đầu gối bức tượng khiến mòn đi. Họ làm vậy phải chăng với ngụ ý trút bỏ những gánh nặng nề trên bước đường dương thế cho thánh nhân, và nhờ ngài ra tay nâng đỡ. Tôi có cảm tưởng như những gánh nặng mà khách hành hương đã trút bỏ lên hai đầu gối kia nhiều lắm.

Thánh Kinh đã ghi rõ Giuse làm nghề thợ mộc. Là thợ mộc, nên ông cần phải có một xưởng mộc. Cái nghề thợ mộc của ông sau này đã bị người ta đem ra dè bửu khi nói về Chúa Giêsu: "Họ hỏi, đây chẳng phải là Giêsu con ông Giuse, người mà chúng ta biết cả cha lẫn mẹ sao" (Gioan 4:42). "Đây chẳng phải là con bác phó mộc sao?" (Mátthêu 13:55).

Trung tín

Sau cùng là sự trung thành tuyệt đối của Thánh Giuse trong sứ mạng bảo vệ Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ngài đã trung thành công việc được trao phó một cách tự nguyện và với tinh thần trách nhiệm: "Giuse đừng sợ, hãy nhận lấy Maria làm vợ, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần" (Mátthêu 1:20). Thánh Kinh ghi tiếp: "Khi tỉnh giấc, Giuse đã nhận Maria về nhà mình" (Mátthêu 1:24).

Từ ý thức sâu xa trách nhiệm mình trước mặt Thiên Chúa, Thánh Giuse ngày đêm để ý chu toàn dù gặp những thử thách và đau khổ. Ðau khổ đầu tiên là biến cố Giáng Sinh của Chúa Giêsu. Ðau khổ thứ hai là khi nghe lời tiên báo của Simêon tại đền thờ trong ngày dâng Hài Nhi Giêsu như luật định. Chẳng nói ra thì ai cũng biết rằng, những mũi gươm tinh thần mà Simêon nói về Maria thì ít nhiều Giuse cũng mang nó trong lòng, vì ngài là người chồng hoàn hảo nhất, và không thể nào lại không chia sẻ những đau khổ - dù là tinh thần - với người vợ của mình.

Trong biến cố đem Hài Nhi Giêsu và Mẹ của Ngài chạy trốn qua Ai Cập để trốn thoát cảnh lùng bắt của Hêrôđê. Giữa mùa Ðông giá lạnh, và phải lầm lũi đoạn trường đưa vợ con chạy trốn, cảnh tượng này một người chồng, người cha có trách nhiệm không thể nào lại không đau lòng và lo lắng. Theo những nhà khảo sát Kinh Thánh, chưa đầy 4 năm ở bên Ai Cập, Thánh Giuse đã phải di chuyển chỗ ở đến 21 lần vì tránh sự dòm ngó của người nhà Hẽrôđê.

Với tinh thần trách nhiệm, Thánh Giuse không những lo lắng lúc đem Hài Nhi và Ðức Maria chạy trốn, mà cả khi về lại quê cha đất tổ. Mặc dù lúc ấy Giêsu đã lớn, nhưng Thánh Giuse không thể không cảm thấy băn khoăn, lo lắng. Mátthêu đã ghi lại những suy tư của ngài: "Khi nghe tin Aùckhêlao đã kế vị cha là Hêrôđê, cai trị miền Giuđêa, nên ông sợ không dám về đó. Sau khi được mộng báo, ông lui về miền Galilêa và đến ở một thành kia gọi là Nagiarét" (Mátthêu 2:22-23).

Nhưng có lẽ biến cố gia đình thất lạc tại Ðền Thờ đã chạm đến tinh thần trách nhiệm của ngài một cách sâu xa hơn cả như Thánh Kinh đã ghi nhận: "Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Ðền Thờ, đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, vừa nghe, vừa đặt câu hỏi. Khi thấy con, hai ông bà sửng sốt, và mẹ Người nói với Người: "Này con! Sao con lại xử với cha mẹ như vậy? Con không thấy cha con và mẹ đã phải đau lòng tìm con sao!" (Luca 2:46;48).

Thánh Kinh đã khen tặng những người trung tín. Chúng ta có thể nhìn thấy giá trị và kết quả của đức tín trung của Thánh Giuse khi nhìn vào công việc hoàn thành của Chúa Giêsu trong việc cứu chuộc nhân loại. Nhìn vào cuộc đời thánh đức của Ðức Maria. Ðiều này đã cho thấy Thánh Giuse không những sống thánh thiện cho mình, mà còn dùng sự thánh thiện ấy để hoàn tất việc bao bọc và dưỡng nuôi Hài Nhi Giêsu, và Mẹ Thánh của Ngài để chuẩn bị cho Thiên Chúa dùng trong công trình cứu chuộc.

Cựu Ước đã ca tụng Abraham là cha của những kẻ tin. Tân Ước đã ca tụng Thánh Giuse là người công chính. Abraham dâng con là Isaác làm của lễ như Thiên Chúa truyền, Thánh Giuse cũng đã cùng với Đức Maria dâng Chúa Giêsu cho Thiên Chúa trong Đền Thánh để làm của lễ hiến tế và cứu chuộc nhân loại. Thánh Giuse đã dùng cả đời mình để yêu thương, săn sóc, nuôi dưỡng và bao bọc của lễ này. Và Ngài xứng đáng được đó nhận những lời ca tụng của Hội Thánh: "Do gắn bó chặt chẽ với các mầu nhiệm khởi đầu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Ngài trở nên mẫu gương về lòng khiêm nhường và nhân ái, những điều làm cho đức tin Kitô giáo có được những phẩm giá cao cả; và thể hiện những nhân đức nhân bản và đơn sơ, cần cho con người trở nên môn đệ tốt lành và đích thực của Chúa Kitô." (Sắc Lệnh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, 01.05.2013)

Thánh Tiến Sĩ Têrêsa d'Avila đã nói về quyền năng và thần thế của Thánh Giuse:

"Tôi thấy không lần nào xin sự gì cùng Thánh Giuse mà không được như ý. Dường như Thiên Chúa ban ơn cho các Thánh giúp ta việc này, việc khác. Nhưng kinh nghiệm cho tôi biết Thánh Giuse giúp chúng ta trong mọi trường hợp. Tôi lấy danh Chúa mà xin những ai không tin lời tôi hãy thử mà xem". Ite ad Joseph - Hãy đến cùng Giuse.

-------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - ĂN CHAY ĐÚNG NGHĨA PDF Print E-mail

DM Tran

THẾ NÀO LÀ CHAY TỊNH ĐÚNG NGHĨA

Trần Mỹ Duyệt

"Hãy xé lòng đừng xé áo" (Joel 2:13). Đây là lời tiên tri nói về tinh thần chay tịnh, nhưng cũng được một số các tín đồ "lừng khừng", giữ đạo "đủ điểm" vào Thiên Đàng dùng để tự bào chữa và cho mình lý do để tránh việc chay tịnh. Điều này có thể áp dụng cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Tôi có một người bạn. Anh rất đạo đức, sinh hoạt chăm chỉ trong nhiều hội đoàn nhưng không bao giờ ăn chay. Cứ mỗi Mùa Chay về, đặc biệt là Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh theo luật Giáo Hội là 2 ngày tối thiểu phải ăn chay và kiêng thịt. Nhưng kiêng thịt thì anh kiêng, còn giữ chay thì anh không giữ. Anh viện lời Thánh Kinh "Hãy xé lòng đừng xé áo" (Joel 2:13) để tự bào chữa.

Không chỉ những tín đồ "lừng khừng" giữ đạo đủ điểm cắt nghĩa và áp dụng lề luật về chay tịnh một cách "méo mó", mà ngay cả những bậc thầy dậy dỗ chân lý cũng nhiều khi cắt nghĩa "dệu dạo" về lề luật. Thí dụ, hồi còn đi học, khi đặt vấn đề ăn chay, kiêng thịt thì đã được nghe dậy rằng nếu ăn chiếc bánh có nhân thịt trong ngày ăn chay kiêng thịt thì vô tội. Cứ việc ăn vui vẻ, lý do thịt trong đó là "nhân bánh" chứ không gọi là thịt. Thịt làm nhân bánh và thịt khác nhau chỗ nào hở trời?! Hoặc cũng có đấng lại cho rằng trong ngày chay tịnh mà mình phải đi đây đó, tạt qua hàng quán bên đường thì cứ thịt mà xơi cũng không sao, vì đó là quán ăn bên đường có gì ăn nấy. Điều này khiến người viết nhớ lại Mùa Chay năm 2019 khi hành hương Đất Thánh, phái đoàn ghé ăn trưa tại một nhà hàng Ả Rập. Ngoài những món khác như bơ, olive, rau, quả, củ còn có món thịt cừu. Một số lữ khách "đạo đức" xua tay, quay mặt làm dấu thánh giá không ăn thịt vì hôm đó là ngày thứ sáu. Còn cha linh hướng sau khi cầu nguyện, ban phép lành rồi hô to ai muốn ăn thịt cứ tự nhiên vì đây là một nhà hàng Ả Rập. Cha còn nói: "Cứ ăn tự nhiên, có tội cha chịu cho". Báo hại nhiều bà, nhiều cô "vâng lời" cha ăn thịt nhưng lại bối rối, cuối cùng thì lại xếp hàng xin xưng tội!

Vậy câu hỏi mà nhiều người trong chúng ta - các Kitô hữu - muốn biết là: "Thế nào mới là ăn chay, kiêng thịt đúng với ý của lề luật?"

Thật ra, kiêng thịt hay ăn chay ngày Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh, hoặc không "ăn thịt" trong toàn Mùa Chay đúng ra chỉ là "cái áo". Chỉ là hình thức bên ngoài. Là phương tiện để cho các tín hữu có dịp hy sinh, kìm hãm giác quan, dễ dàng hướng lòng về Chúa, và tìm được cái ý nghĩa đích thực của Mùa Chay. Còn lại tinh thần chay tịnh mới là "tấm lòng", là điều mà Thiên Chúa muốn ta phải chiêm niệm, nắm giữ cùng với việc chay tịnh bề ngoài.

Bạn nghĩ sao?

Ngày thứ Ba (thứ Ba Béo) vừa qua bạn rủ một nhóm bạn bè nhậu nhẹt linh đình, chè chén say sưa tới 12 giờ khuya. Và hôm sau Thứ Tư Lễ Tro chính ngày ăn chay thì bạn lại ngồi nhìn đồng hồ đổ 12 tiếng rồi bắt đầu ăn uống, nhậu nhẹt tiếp?

Khi bạn "không ăn thịt", nhưng lại thay bằng tôm hùm, cua, ghẹ, nghêu, sò, ốc, hến, và những thứ hải sản đắt tiền thế cho thịt? Trong thâm tâm bạn, chính bạn cũng biết mình đang đổi món chứ không phải kiêng thịt, vì những món mà bạn chọn ăn đắt tiền, và ngon hơn thịt!

Giữ chay, kiêng thịt mà ngay trong ngày chay tịnh hoặc trong Mùa Chay, bạn vẫn lượn lẹo, gian dối trong mua bán; vẫn áp bức, chèn ép những kẻ làm công cho mình. Bạn vẫn đôi co, tranh chấp, chửi rủa, hành hung và vu khống cho người khác? Hoặc bạn vẫn dan díu, ngoại tình, vẫn mang trong lòng sự thù oán, tức tối, và lỗi bác ái, và vẫn không tha cho kẻ đã xúc phạm đến bạn mặc dù người ấy đã thành tâm thống hối và xin lỗi bạn?

Nếu chay tịnh như trên, thì có nghĩa là bạn chỉ "xé áo", chứ chưa "xé lòng." Bạn chỉ giữ những gì bất đắc dĩ phải giữ mà trong lòng không hề muốn. Hoặc bạn chỉ chay tịnh cho có lệ. Vậy, chay tịnh đúng nghĩa nhất phải là gì? Tiên tri Isaia đã nói thay Chúa về điều mà Ngài muốn ta chay tịnh:

6 Cách ăn chay mà Ta ưa thích chẳng phải là thế này sao:

mở xiềng xích bạo tàn, tháo gông cùm trói buộc,

trả tự do cho người bị áp bức, đập tan mọi gông cùm?

7 Chẳng phải là chia cơm cho người đói,

rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ;

thấy ai mình trần thì cho áo che thân,

không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục...

9 Loại khỏi nơi ngươi ở gông cùm, cử chỉ đe doạ và lời nói hại người.

(Isaia 58:6-7,9).

Tóm lại, chay tịnh đúng nghĩa:

-Là nhìn thấy Chúa Giêsu qua những anh chị em nghèo khổ.

-Là mở rộng vòng tay chia cơm, sẻ áo cho những người nghèo đói cùng khổ.

-Là thăm hỏi, giúp đỡ anh chị em đau yếu, tù đày.

-Là tiết độ và kìm hãm những ước muốn, đa mê bất chính.

-Là chấm dứt mối tình bất chính đã và đang làm đổ vỡ hạnh phúc hôn nhân, gia đình của bạn.

-Là tự chế và kìm hãm lời ăn tiếng nói không tục tằn, thô lỗ. Không xúc phạm đến danh giá và phẩm cách của người khác. Không làm chứng gian. Không gian dối lường gạt người khác. Nhưng biết dùng lời lẽ bác ái, chân thật để nâng đỡ và khuyến khích lẫn nhau.

-Là mở xiềng xích trói buộc anh chị em mình. Tha thứ cho những kẻ làm khổ mình....

Chay tịnh đúng nghĩa, do đó, phải là một cảm nghiệm và chia sẻ thật lòng với những ai túng nghèo, đói khát về tinh thần cũng như vật chất trong môi trường và nếp sống hiện tại. Là, "Đặt mầu nhiệm vượt qua vào trung tâm cuộc sống của chúng ta có nghĩa là cảm thấy thương cảm đối với các vết thương của Chúa Kitô bị đóng đinh hiện diện trong nhiều nạn nhân vô tội của chiến tranh, trong các cuộc tấn công vào sự sống, từ sự sống của người chưa sinh đến sự sống của người già và các hình thức bạo lực khác nhau. Các vết thương này cũng hiện diện trong các thảm họa môi trường, sự phân phối không đồng đều của cải trên Trái đất, buôn bán người dưới mọi hình thức và lòng thèm khát lợi nhuận không kiềm chế được, vốn là một hình thức thờ ngẫu tượng." (Sứ điệp Mùa Chay 2020 của Đức Phanxicô - Vũ Văn An chuyển ngữ)

"Hãy xé lòng, đừng xé áo." (Joel 2:13)

Mùa Chay 2020

-----------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ HUẤN PDF Print E-mail

NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ ĐỰỢC PHÉP THAM DỰ ĐÁM CƯỚI VÀ TIỆC CƯỚI CÁC CẶP HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH KHÔNG ?
Hỏi : xin cha giải thích hai thắc mắc sau đây:
1- Người Công giáo có được tham dự đám cưới và tiệc của hôn nhân đồng tính không?
2- Trong Thánh Lễ, thì khi nào thì Chúa Giêsu hiện diện trong bánh và rượu, vì có linh mục kia nói là khi linh mục đặt tay trên chén lễ thì Chúa bắt ngự xuống trên bánh và rượu. Điều này có đúng vậy không ?
3- Các dân biểu, nghị sĩ Công giáo công khai ủng hộ hôn nhân đồng tính (same sex mariage, Chết êm dịu ( euthanasia), li dị,và phá thai có được rước Lễ không?
4- Từ ngữ Công giáo( Catholic) và Kitôhữu( Christian) khác và giống nhau thế nào ?
Trả lời:
Cụ thể, giáo lý hôn nhân Công giáo dạy mọi tín hữu tin rằng hôn nhân chỉ có giữa một người nam và một người nữ mà thôi, vì đây là ý muốn của Thiên Chúa từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữa và truyền cho họ phải " sinh sản cho nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị địa cầu." ( St 1:28).
Chúa Giêsu đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích và truyền cho con người mệnh lệnh
Là " sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly." ( Mt 9: 6)
( giáo luật số 1055 &1)
Như Thế, Giáo Hội không thể chiều theo su hướng của thời đại tục hóa để công nhận hôn nhân đồng tính (same sex mariage) , tức là hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ được, vì đây là điều trái tự nhiên và vô luân, dựa trên chính lời Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê để truyền lại cho dân Do Thái xưa như sau:
" khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm,..." ( Levi 20: 13)

Vậy mà các xã hội bệnh hoạn như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức...là những quốc gia có đông người theo Công Giáo (Catholics)hay Kitôgiáo( Christians), lại công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này để chiều theo đòi hỏi của thiểu số người bệnh hoạn đòi công nhân cho việc trái tự nhiên này là hôn nhân. Đây quả là một tụt hậu thê thảm cho một nếp sống tinh thần và luân lý lành mạnh, khác xa với đời sống của mọi loài vật chỉ sống với bản năng và không biết gì về luân lý, thuần phong mỹ tục.
Chúng ta không ghét hay lên án những người sinh ra với khuynh hướng bất bình thường ( abnormal) về phái tính ( sexuality). Chúng ta thông cảm và tôn trọng họ như mọi người bình thường khác. Nhưng chúng ta không thể công nhận việc sống chung của họ là hôn nhân được, vì bản chất trái tự nhiên, trái luân lý của sự phối hợp giữa hai người nam hay hai người nữ. Hôn nhân mà họ đòi công nhận- và đã được các xã hội bệnh hoạn kia công nhận- là thứ hôn nhân không thể đạt được mục đích của hôn nhân là sinh con cái và giáo dục chúng thành những người biết sống tự nhiên, phát triền bình thường về mọi mặt tinh thần và tình cảm.
Do đó, nếu các trẻ em mà những cặp hôn nhân đồng tính này nhận làm con nuôi thì những trẻ này sẽ nghĩ sao và học được gì trong gia đình chỉ có hai người cha hay hai người mẹ ? Tệ hại hơn nữa là khi thấy hai người cha hay hai người mẹ của chúng ngủ chung với nhau một giường ..thì chúng sẽ nghĩ gì về sự chung sống này
Đấy là những vấn nạn đặt ra cho những cặp hôn nhân đồng tính, cho các nhà giáo dục, các nhà xã hội học và luân lý học, và cách riêng, cho các xã hội bệnh hoạn đã công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này.
Trên bình diện luân lý, đạo đức, Giáo Hội không bao giờ công, nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này vì tự bản chất nó là vô luân, trái tự nhiên và không thể đạt mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập cho mục đích bảo tồn và phát triển sự sống của con người trên trần thế này cho đến ngày mãn thời gian,
Vì Giáo Hội không công nhận, nên người tín hữu Công giáo cũng không được phép tham dự đám cưới của những cặp đồng tính này, kể cả dự tiệc cưới của họ. Lý do là tham dự như vậy, có nghĩa là công nhận việc sống chung của họ là hôn nhân theo luật của Chúa và của Giáo Hội, và phù hợp với luân lý đạo đức của con người.
Tiện đây cũng xin nói thêm điều này : ngay cả những đôi hôn phối Công Giáo, vì lý do riêng nào đó, không được chứng hôn trong nhà thờ,tức là thành hôn trong Giáo Hội, mà vẫn tổ chức tiệc cưới bên ngoài như những cặp hôn phối hợp pháp khác, thì người Công giáo cũng không nên tham dự tiệc cưới này , vì tham dự như vậy, cũng có nghĩa là công nhận sự thành hôn của họ là hợp pháp theo giáo lý của Giáo Hội.
3-Cũng cùng lý do này, người cử tri Công giáo cũng không được bỏ phiếu cho những ứng cử viên nào đã công khai chống lại Giáo Hội vì tán thành việc phá thai, ly dị, chết êm dịu ( euthanasia) và hôn nhân đồng tính.Các ứng viên này có tham dự Thánh Lễ thì cũng không được rước Mình Thánh Chúa như những người tín hữu sống theo giáo lý, giáo luật của Giáo Hội,
2-Về câu hỏi thứ hai, xin được trả lời như sau:
Mỗi khi Thánh Lễ được cử hành thì , một cách thiêng liêng, Chúa Giêsu hiện diện trong linh mục cử hành, trên bàn thờ, trong Sách Phúc Âm ( Gospel Book) và trong cộng đoàn giáo dân tham dự., đúng như lời Chúa đã phán bảo khi xưa :
" Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy
Thì có Thầy ở đấy , giữa họ." ( Mt 18: 20)
Nghĩa là khi linh mục mặc lễ phục , bước lên cung thánh để cứ hành Thánh lễ thì Chúa Giêsu đã hiện diện cùng với linh mục và giáo dân tham dự để diễn lại bữa ăn sau cùng của Chúa với Nhóm Mười Hai Tông Đồ, Và nhất là dâng lại Hy Tế thập giá mà một lần Chúa đã dâng trên thập giá năm xưa để xin Chúa Cha tha tội cho cả loài người đáng phải phạt vì tội.
Ngày nay trên bàn thờ ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội, Chúa đã liên tục mượn tay và miệng của các Thừa tác viên có chức thánh là Giám mục và Linh mục để dâng lại Hy tế thập giá của Người cùng thể thức và mục đích Chúa đã một lần dâng lễ đền tội lên Chúa Cha trên thập giá cách nay trên 2000 năm để xin ơn tha thứ cho con người ngày nay như cho con người xưa kia. Vì thế Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist là việc thờ phượng, ca ngượi , cảm tạ , và xin ơn cao trọng và quan trọng nhất mà Giáo Hội hiệp nhất cùng với Chúa Giê-su Kitô để dâng lên Chúa Cha cho mục đích cứu rỗi con người tội lỗi ngày nay và còn tiếp tục cho đến ngày mãn thời gian.
Khi cử hành Thánh Lễ hay bất cứ Bí tích nào, thì giám mục và linh mục đều phải làm nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) chứ không nhân danh chính mình bao giờ.
Như thế, chính Chúa Kitô rửa tội, thêm sức , cử hành Thánh Lễ , tha tội, và sức dầu
bệnh nhân (và truyền chức thánh dành riêng cho giám mục) qua tay giám mục và linh mục. Phải nói lại điều này để lưu ý mọi người là linh muc , hay giám mục chỉ là công cụ hữu hiệu Chúa dùng để ban phát ơn thánh của Người cho những ai muốn lãnh nhận cách nhưng không ( gratuitously).
Cũng chính vì linh mục hay giám mục chỉ là thừa tác viên, nên sự hữu hiệu( validity) của bí tích không liên hệ gì đến phẩm chất của thừa tác viên con người ( ex opera operato). Do đó, đừng ai thắc mắc hay nghi ngờ Thánh Lễ của linh mục này hay linh mục kia không thành sự vì cho là linh mục đó có đời sống bất xứng.Nếu thực sự có đời sống bất xứng , mà vẫn cử hành các bí tích hay Thánh Lễ, thì tất cả vẫn thành sự ( validly), nhưng người cử hành sẽ mắc tội phạm thánh ( sacrilege). Tội phạm thánh hay tội trọng là tội cấm làm lễ ( linh mục) và rước lễ ( giáo dân)
( x.giáo luật số 916, SGLGHCG, số 1415)
Trở lại câu hỏi khi nào Chúa Giê su hiện diện trong hai chất thể bánh và rượu nho.
Khi linh mục đặt tay và cấu xin trên chén thánh ( Chalice) thì đó mới chỉ là phút nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần (Epiklesis, Epiclesis) để Người biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô.Nhưng Chúa Kitô chỉ thực sự hiện diện trong bánh và rượu nho sau khi linh mục đọc lời truyền phép ( consecration) mà thôi. Nghĩa là khi linh mục giơ tay trên lễ vật để xin ơn Chúa Thánh Thần thì lúc đó bánh và rượu nho chưa được biến đổi bản thể ( transubstantiation) để trở nên Mình và Máu Chúa Kitô, cho nên Chúa chưa thực sự hiện diện trong bánh và rượu lúc này.Chúa chỉ thực sự hiện diện sau khi linh mục đọc lời truyền phép là : Đây là Mình Thầy..., đây là chén Máu Thầy..đúng như chữ đỏ ( rubric) qui đinh.
Chính vì thế mà trước đây khi Thánh Lễ còn cử hành bằng tiếng La tinh, và linh mục quay lưng lại với giáo dân, thì sau khi linh mục đọc lời truyền phép và dâng Mình Thánh Chúa lên thì người giúp lễ phải rung chuông để báo cho công đoàn tham dự lễ biết rằng Chúa Giêsu đã thưc sự hiện diện trong hai chất thể là bánh và rượu nho để mọi người cúi đầu thờ lậy.
Tóm lại, trong phụng vụ thánh, thì Chúa Giêsu luôn có mặt trong các Thừa tác viên con người là linh mục và giám mục, nghĩa là chính Chúa hiện diện trong các Thừa tác viên này để rửa tội, thêm sức, tha tội, sức dầu bệnh nhân và nhất là dâng lại Hy tế thập giá của Người một lần nữa trên bàn thờ ngày nay, cùng thể thức và mục đích mà xưa Chúa đã một lần dâng Hy Tế này lên Chúa Cha trên núi Sọ để đền tội thay cho cả nhân loại.
Nhưng trong Thánh Lễ Tạ Ơn hằng ngày được dâng trên bàn thờ ở khắp nơi trong Giáo Hội, thì Chúa chỉ thực sự hiện diện ( real presence) trong hai chất thể bánh và rượu nho sau khi linh mục đọc lời truyền phép mà thôi.
Việc linh mục giơ tay trên lễ vật và đọc lời cầu xin ơn Chúa Thánh Thần thì lúc này Chúa Kitô chưa thực sự ngự xuống trong bánh và rượu nho.
4-Sự khác nhau giữa hai từ ngữ Công giáo ( Catholic) và Kitô hữu( Christian)
Trên thực tế, nhiều người đã không phân biệt được nội dung của hai từ ngữ trên.Khi nói Công giáo có nghĩa là thuộc về Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roman Catholic Church) tức Giáo Hội được Chúa Giêsu Kitô thiết lập trên nền tảng Tông Đò ( Phêrô)nhằm mục đích mời gọi mọi dân, mọi nước gia nhập để lãnh nhận ơn cứu chuộc của Chúa cho đến ngày mãn thời gian, tức ngày tận thế khi không còn ai sinh ra và sống trên trần gian này nữa.Đó là tất cả ý nghĩa của từ Catholic=Catholicam=Catolico=Catholique có nghĩa là phổ quát=Universal
Tức là dành cho hết mọi người, không phân biệt ai được gia nhập Giáo Hội.Ngược lại danh xưng Christian chỉ có nghĩa là thuộc về Chúa Kitô, là Kitô hữu.Danh xưng này được dùng để chỉ các tín hữu ngoài Công giáo nhưng tin Chúa Kitô.Họ là tin hữu của các giáo phái Tin lành nói chung, như Baptist, Lutheran, Methodist, Church of Christ, Evangelical ...Các giáo phái này hoàn toàn độc lập với nhau và với Giáo Hội Công Giáo.Họ không có hệ thống giáo phẩm như Công Giáo. Vì họ tin Chúa Kitô là Cứu Chúa ( Savior)nên họ mang chung danh xưng Christian dù họ thuộc nhiều nhóm Tin Lành khác nhau như Baptist, Lutheran, Methodist ,v,v.Do đó, người tin hữu Công Giáo phải luôn luôn dùng danh xưng Catholic khi giao thiệp với anh em Tin Lành , kể cả với những người vô thần ( Atheists)là người không tin có thần thánh nào cả.


Tóm lại. người Công giáo có thể xưng mình là Christian,vì cũng tin Chúa Kitô như anh em Tin Lành, nhưng anh em Tin Lành thì không thể xưng mình là Catholic được vì họ không ở trong Giáo Hội Công Giáo dưới quyền lãnh đạo của Đức Giáo Hoàng ( Pope) Roma là Thủ Lãnh tối cao của Giáo Hội Công Giáo toàn cầu với sự vâng phục và cộng tác trọn vẹn của Giám Mục Đoàn ( College of Bishops) ở các giáo hội Công Giáo đia phương thuộc các quốc gia trên toàn thế giới.
Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.Amen
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

-----------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

Kristie Phan
Feb 18 at 9:46 AM

CÓ ĐƯỢC PHÉP ĐỐT PHÁO VÀ MÚA LÂN TRONG NHÀ THỜ ĐỂ MỪNG TẾT VN KHÔNG?


Tết là lễ hội quan trọng nhất của người Việt ở trong và ngoài nước. Là người Công Giáo có niềm tin Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng mọi loài mọi vật hữu hình và vô hình, là Chúa Xuân, là Nguồn duy nhất của mọi an vui, hạnh phúc và thánh thiện. chúng ta phải đón mừng ngày xuân của dân tộc cách nào cho xứng hợp với niềm tin Thiên Chúa là Chúa Xu��n, Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Cứu Thế Giêsu Kitô, Đấng đã đến trần gian làm Con Người để hy sinh "mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người" (Mt 20:28)


Do đó, Ba ngày Tết phải là ba ngày chúng ta đặc biệt thờ lậy và cảm tạ Chúa là
Chúa Xuân, là Chúa của thời gian và không gian, là hai yếu tố căn bản tạo thành lịch sử của con người và của thế giới hữu hình, vì mọi biến cổ xảy ra cho con người- nói riêng- và cho thế giới- nói chung- đều phải xảy ra trong thời gian và không gian cụ thể. Thời gian lễ Tết của người Việt là ba ngày đầu của tháng giêng trong Âm Lịch và không gian là quê hương VN hay ở các quốc gia có người Việt sinh sống. Giáo Hội tôn trọng và khuyến khích giáo dân VN mừng Lễ Tết ở tư gia hay trong Cộng Đoàn Giáo Xứ theo phong tục và truyền thống văn hóa của dân tộc.


Ở tư gia, người tín hữu trưng bày Bàn thờ Tổ Tiên để nhắc nhở con cháu nhớ cội nguồn của mình trong tâm tình tri ân,cảm tạ và cầu nguyện cho các bậc đã sinh thành ra mình và nay đã khuất, xin cho họ được sớm hưởng Thánh Nhan Chúa trên cõi vĩnh hằng. Như thế, ba ngày Tết là thời điểm đặc biệt nhắc nhở con cháu, cách riêng, nhớ đến ông bà, cha mẹ còn sống hay đã ly trần Nhưng ở nhà thờ, nhà Nguyện thì chỉ có Bàn Thờ(Altar) được đặt giữa Cung Thánh (Sanctuary) để cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn (The Eucharist) hàng ngày hay ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng.

Bàn Thờ Tổ Tiên thì chỉ đặt ở tư gia chứ không được đặt ở bất cứ nơi nào trong Nhà Thờ, là nơi dành riêng để cử hành phụng vụ thánh (sacred liturgies) cho Cộng Đoàn hay Giáo Xứ mà thôi. Do đó, đặt Bàn thờ Tổ Tiên, trưng bày đầu Rồng đầu lân trên Cung Thánh là điều bất xứng không được phép làm để tôn trọng nơi thánh thiêng dành riêng để cử hành phụng vụ thánh của Giáo Hội. Lại nữa, cũng không được rước đầu rồng hay đầu lân trước Thánh giá, nến cao Sách thánh và linh mục chủ tế tiên lên Cung Thánh để cử hành Thánh Lễ. Đặc biệt cũng không được phép đốt pháo trong nhà thờ làm mất sự im lặng cần thiết cho việc cầu nguyện trong thinh lặng của giáo dân trong nhà thờ.

Tóm lại, đốt pháo, múa lân là những việc vui chơi nhân ngày Tết phải diễn ra ở ngoài đường phố hay ở tư gia chứ không thể ở trong nhà thờ được vì bất cứ lý do nào. Lại nữa, y phục hay quốc phục của bất cứ dân tộc nào trên thế giới cũng không thể thay thế cho lễ phục của Giáo Hội (sacred Vestments) để cử hành Thánh Lễ.


Vì thế, linh mục không thể mặc quốc phục VN với khăn đống áo thụng xanh để làm lễ nhân ngày Tết của dân t��c. Đây không phải là nét "hội nhập văn hóa (inculture) được khuyến khích mà là một vi phạm kỷ luật của Giáo Hội về Lễ Phục khi cử hành phụng vụ thánh. Xin nhớ kỹ điều này để tránh gương xấu khi làm điều Giáo Hội không cho phép. Lại nữa, dựa trên những cải cách của Công Đồng Vaticanô II áp dụng trong toàn Giáo Hội sau năm 1965, thì Bàn Thờ (Altar) phải được đặt giữa Cung Thánh (Sanctuary) và linh mục dâng lễ phải quay mặt nhìn Công Đoàn tham dự Thánh lễ được làm bằng ngôn ngữ của giáo dân thay vì bằng tiếng Latin và linh mục cử hành quay lưng lại với Cộng Đòan tham dự như hình thức trước Công Đồng.

Người duy nhất không chấp hành những cải cách của Công Đồng Vaticano II là Tổng Giám mục Marcel Lefevre (người Pháp). Ông tiếp tục làm lễ bằng tiếng Latin và quay lưng lại với giáo dân tham dự Thánh Lễ. Nghiêm trọng hơn nữa là ngài đã truyền chức giám mục (không có phép của Đức Thánh Cha) cho một số linh mục Tây Ban Nha và Mỹ đã hồi tục tục, khiến Tòa Thánh phải phạt ông với vạ Tuyệt thông tiền kết (excomunio latae sententiae). Nhưng Sau này ông đã hốI lỗI và được tha vạ trên. Như thế, làm lễ quay lưng lại vớI Giáo dân tham dự Thánh Lễ là trái với những cải cách của Công Đồng Vaticanô II đang được chấp hành thống nhất trong toàn Giáo Hội Công Giáo từ sau Công Đồng cho đến nay. Thử hỏi, khi cử Thánh Lễ từ Giáo Đô Rôma cho đến các Giáo hội địa Phương (giáo phận) thì Đức Thánh Cha và các Giám mục quay mặt hay quay lưng lại với giáo dân?


Như vậy nơi nào linh mục còn quay lưng lại với giáo dân khi dâng Lễ là rõ ràng chống lại Giáo Hội với hình thức cử hành Thánh Lễ dựa trên những cải cách của Công Đồng Vaticanô II. Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội hiệp nhất từ trungương đến địa phương về mọi Phương diện từ niềm tin cho đến hình thức thờ phượng tức cử hành phụng vụ thánh (sacred Liturgies). Do đó, nếu ai tự ý thực hành điều gì theo ý riêng mình, thì còn gì là hiệp thông (comm) và hiệp nhất (unity) trong Giáo Hội nữa?


Cụ thể, nếu linh mục dẹp bỏ Bàn Thờ (Altar) ở giữa Cung Thánh đi để thay thế bằng bàn thờ tổ tiên trong ngày Tết VN thì căn cứ vào chỉ thị hay tiêu chuẩn nào của Giáo Hội để làm như vậy? Như thế, rõ ràng lnh mục đã biến Nhà Thờ là nơi thờ phượng chung của giáo xứ thành tư gia của mình rồi còn gì nữa? và nếu ai cũng tự tiện làm như vậy thì Giáo Hội còn gì là "duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền nữa"? Bởi thế, mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội đều phải tuân thủ và thi hành nghiêm túc mọi qui định về việc cử hành Thánh lễ Tạ Ơn (The Eucharist) và các Bí Tích kể cả các "Á Bí Tích(Sacramentals) của Giáo Hội.


Tóm lại, Giáo Hội là Phương Tiện hữu hiệu Chúa Kitô đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ để ban ơn cứu độ của Chúa cho hết mọi dân mọi nước cho đến ngày mãn thời gian tức ngày tận thế khi không còn ai sống trên trên trần gian này nữa. Amen.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Tác giả: Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry

-----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 3 of 166