mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5591
mod_vvisit_counterHôm Qua2804
mod_vvisit_counterTuần Này11242
mod_vvisit_counterTuần Trước36531
mod_vvisit_counterTháng Này106948
mod_vvisit_counterTháng Trước189436
mod_vvisit_counterTất cả9002028

We have: 117 guests online
Your IP: 54.146.59.51
 , 
Today: Aug 22, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 385 = XUNG TOI VOI CHUA PDF Print E-mail

CÓ ĐƯỢC PHÉP XƯNG TỘI VỚI CHÚA MÀ KHÔNG CẦN QUA TRUNG GIAN CỦA LINH MỤC KHÔNG ?

Hỏi : xin cha giải thích rõ những câu hỏi sau đây:
1- Các mục sư Tin Lành cũng dạy phải ăn năn tội rồi xin Chúa tha thứ.Như vậy Chúa có tha mà không cần phải xưng tội qua một linh mục như Giáo Hội dạy hay không ?
2- Có được xưng tội qua điện thoại không?
3- Khi nào được phép xưng tội tập thể ?
Trả lời :
Như tôi đã có đôi lần nói rõ là chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mới có đầy đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu độ của Chúa cho những ai muốn lãnh nhận để được cứu rỗi.
Liên quan đến Bí Tích hòa giải ( penance= reconciliation) Chúa Kitô đã ban quyền tha tội cho các Tông Đồ và cho Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh Tông Đồ như sau :
" anh em tha cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." ( Ga 20: 23)
Như thế rõ ràng cho thấy là Chúa muốn cho con người phải chạy đến với những người trung gian thay mặt Chúa là các Tông Đồ xưa kia và các vị thừa kế các Tông Đồ ngày nay là các Giám Mục trong Giáo hội để nhận lãnh ơn tha thứ qua bí tích Hòa giải. Các giám mục lại ban quyền tha tội này cho các linh mục là những cộng sự viên thân cận trực thuộc cũng được chia sẻ Chức linh Mục đời đời của Chúa Kitô. ( Linh mục chia sẻ một phần, Giám Mục chia sẻ trọn vẹn Chức Linh Mục đó).
Nếu chỉ cần xưng tội trưc tiếp với Chúa mà không qua trung gian ai thì Chúa Giêsu đã không nói với các Tông Đồ những lời trên đây, sau khi Người từ cõi chết sống lại và hiện ra với các ông, cũng như trước đó đã không phán bảo Phêrô những lời sau đây :
" Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên Trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều gì , trên trời cũng sẽ tháo gỡ như vậy." ( Mt 16: 19)
Với quyền to lớn trên đây, Giáo Hội- cụ thể là Đức Thánh Cha- có quyền ra hình phạt nặng nhất là vạ tuyệt thông ( ex-communication) và tháo gỡ vạ này.
Như vậy, muốn được ơn tha thứ của Chúa, thì buộc phải xưng tội cá nhân với một linh mục đã được chịu chức thành sự ( validly) và đang có năng quyền ( priestly Faculties) được tha tội nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi). Sở dĩ thế, vì nếu một linh mục đang bị Giám mục của mình rút năng quyền - hay gọi nôm na là bị treo chén ( suspension. x. giáo luật số 1333)- thì tạm thời không được phép cử hành bí tích này và các bí tích khác cho đến khi được trao lại năng quyền đầy đủ .( trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục – dù đang bị "treo chén" vẫn được phép tha tội cho hối nhân đang lâm nguy mà không tìm được linh mục khác để xưng tội và lãnh phép lành sau hết. (x. giáo luật số 976).
Giáo lý và giáo luật của Giáo Hội cũng dạy phải xưng tội cá nhân với một linh mục như sau:
" Thú nhận tội lỗi của mình với vị linh mục là một điều chủ yếu của bí tích Giải tội.Khi xưng tội, các hối nhân phải kể ra tất cả các tội trọng mà mình biết đã phạm, sau khi xét mình cách nghiêm chỉnh, dù các tội này rất kín đáo và chỉ phạm đến hai giới răn sau cùng của bản thập giới; bởi vì các tội này làm cho linh hồn bị trọng thương hơn hết , và nguy hiểm hơn các tội ta phạm mà người khác biết rõ."( x, SGLGHCG số:1456; giáo luật số 960).
Như thế chắc chắn không thể nói như anh em Tin Lành là chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà không cần qua trung gian của ai. Dĩ nhiên Chúa tha tội khi ta thực tâm sám hối và xin Chúa thứ tha. Nhưng vẫn cần phải xưng tội với một linh mục thay mặt Chúa để tha tội, vì Chúa đã ban quyền ấy cho các Tông Đồ trước tiên và cho Giáo Hội ngày nay.
Nghĩa là khi Giáo Hội thi hành lời Chúa để cử hành các bí tích- cách riêng bí tích Hòa giải để tha tội cho con người nhân danh Chúa Kitô( in persona Christi), thì chúng ta phải nghe và tuân theo ý muốn của Giáo Hội, cũng là ý muốn của Chúa, nghĩa là xưng tội với một linh mục để nhận lãnh ơn tha thứ của Chúa qua trung gian của các thừa tác viên con người là Giám mục và linh mục. Đây là điều các anh em Tin Lành không đồng ý với chúng ta nên họ dạy các tín đồ của họ chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.
Dĩ nhiên khi ta xưng tội với một linh mục, thì cũng xưng tội với Chúa để xin Người tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Và đây là ý muốn của Chúa Giêsu khi Người trao quyền tha tội cho các Tông Đồ xưa và cho Giáo hội ngày nay. Và đó là tất cả ý nghĩa lời Chúa dạy sau đây:
" ai nghe anh em là nghe Thầy.
Ai khước từ anh em là khước từ Thầy
Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)
Kinh nghiệm thiêng liêng của mỗi người chúng ta cho ta biết rằng mỗi khi xưng tội – đặc biệt là tội trọng- cách thành thật và với tinh thần sám hối , thì ta cảm thấy nhẹ nhõm và an vui trong tâm hồn, một giác mới lạ của an vui sung sướng nội tâm, khác hẳn với tâm tình sẵn có trước khi xưng tội. Điều này chứng minh cụ thể là Chúa đã tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Ngược lại, khi có tội trọng hay nhẹ mà chỉ xin Chúa tha thứ nhưng không đi xưng tội, thì không bao giờ cảm nghiệm được sự an vui nội tâm như khi xưng tội với một linh mục và nhận lãnh ơn tha thứ ( absolution).
Các anh em tin Lành không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, dù cho họ có ca tụng lòng thương xót của Chúa đến đâu, có sám hối nội tâm và xin Chúa tha thứ mà không đi xưng tội như người Công giáo. Họ không đi xưng tội vì trước hết họ không công nhận vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc ban phát các ơn sủng của Chúa cho con người, cho nên họ chủ trương đi thẳng tới Chúa là vì vậy.
Vả lại, tất cả các nhánh Tin Lành và Anh Giáo ( Anglican Comm) đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nên không có chức linh mục và giám mục để cử hành hữu hiệu các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức dầu nệnh nhân và truyền Chức Thánh. Chính vì họ không có chức linh mục hữu hiệu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể và tha tội cho ai được. Đó là lý do tại sao họ chủ trương chỉ cần xưng tội trực tiếp với Chúa, vì họ cho rằng các thừa tác viên con người như linh mục và giám mục không có năng quyền tha tội cho ai như Giáo Hội Công Giáo tin và dạy..
Tóm lại, là người Công giáo, chúng ta phải nghe và thi hành những gì Giáo Hội là Mẹ dạy bảo thay mặt Chúa Kitô để bỏ ra ngoài tai những gì không phù hợp với giáo lý, tín lý, luân lý và phụng vụ của Giáo Hội.
2- Có được xưng tội qua điện thoại không ?
Chắc chắn là không, và Giáo Hội không bao giờ cho phép thực hành này.Lý do là . nó trái với giáo lý về cách xưng tội đòi hỏi hối nhân phải trực tiếp thú nhận các tội mình phạm với một linh mục, là người nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) để nghe và tha tội cho mình. (đọc giáo lý trích ở phần trên).Lại nữa, ngay cả việc xem lễ trên truyền hình, củng chỉ có ích cho các bệnh nhân ở tư gia hay ở nhà thương, không thể đến nhà thờ để dự lễ được với cộng đồng.Xem lễ cách này chỉ giúp thông công với các tin hữu đến nhà thờ dự lễ thực sự, nhưng vẫn thiếu phần hiệp lễ là không được rước Mình Mấu Chúa Kitô, như mọi tín hữu đến dự lễ ở nhà thờ. Như thế, người khỏe mạnh không thể xem lễ trên Truyền hình như phương tiện chu toàn luật buộc xem lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng.
Tóm lại, muốn hiêp thông Thánh Lễ trọn vẹn thì phải đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh Lễ cùng với cộng đoàn đức tin. Thánh Lễ trên truyền hình chỉ dành riêng cho các bệnh nhân mà thôi.
3-Khi nào được xưng tội tập thể ( communal confessions) ?
Thông thường thì phải xưng tội cá nhân, nghĩa là xưng tội riêng với một linh mục sau khi đã xét mình nghiêm chỉnh và sám hối nội tâm.
Tuy nhiên, trong thực tế, có những hoàn cảnh mà linh mục không thể giải tội cá nhân cho nhiều người trong một thời lượng hạn chế. Thí dụ, khi có thiên tai, bão lụt, đắm tầu hay động đất gây nguy tử cho nhiều người ở một địa phương nào, khiến linh mục không thể có đủ giờ để nghe từng hối nhân muốn xưng tội trong những hoàn cảnh ấy,.
Lại nữa, trong những dịp trọng đại như Lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh là những dịp có rất nhiều người muốn xưng tội. Nhưng chỉ có một mình cha xứ phải làm mục vụ cho một giáo xứ lớn hay nhiều xứ nhỏ họp lại,thì không thể nào giải tội cá nhân cho một số lớn hối nhân trong một thời gian ngắn được. Do đó, vì nhu cầu mục vụ và vì lợi ích thiêng liêng của giáo dân, linh mục được phép cử hành bí tích hòa giải tập thể. Nghĩa là cho gom giáo dân lại và giúp họ xét mình, thống hối ăn năn, rồi ban phép tha tội tập thể cho họ.

Nhưng việc này phải được phép trước của giám mục giáo phận. Vì thế, ở mỗi giáo phận, giám mục địa phận sẽ cho phép trường hợp nào có thể giải tội tập thể.Nghĩa là, linh mục không thể tự ý giải tội tập thể mà không có phép của giám mục giáo phận; trừ trường hợp nguy tử như đắm tầu, động đất, chiến tranh, khiến nhiều người- trong đó có người công giáo- có thể chết mà không kịp xưng tội cá nhân. Nên nếu linh mục có mặt, thì được phép giải tội tập thể cho các tin hữu công giáo trong cơn nguy tử đó. Nhưng dù được tha tội tập thể trong những trường hợp trên, nếu ai xét mình có tội trọng thì- sau khi qua cơn nguy biến- vẫn buộc phải xưng tội cá nhân sau đó với linh mục.( giáo luật số 961-62).
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 384 = DIEU RAN THU SAU PDF Print E-mail

Hỏi :

Xin cha nói rõ thêm về những tội phạm điều răn thứ sáu của Chúa.

Trả lời:

Điều răn thứ sáu cấm làm sự dâm dục.

Đây là điều răn mà con người ngày nay vấp phạm nhiều nhất , vì chưa bao giờ hết, tội phạm điều răn này lại qui mô và đa dạng như thực trạng sống của con người ở khắp nơi trong thế giới tục hóa và vô luân ngày nay.

Thật vậy, Thiên Chúa tạo dựng con người có nam có nữ và trao phó cho họ trách nhiệm "sinh sôi nảy nở cho nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất." ( x. St 1:28)

Và để thưởng công và giúp họ chu toàn ơn gọi và nhiệm vụ quan trọng này cách tốt đẹp, Thiên Chúa đã ban cho người nam và người nữ quà tặng giới tính (sexuality) được phép thoả mãn trong tình yêu vợ chồng kết hợp chính đáng qua bí tích hôn phối.

Trong giới hạn này, tính dục giúp cho "người nam và người nữ hiến thân cho nhau qua những hành vi riêng và độc chiếm dành cho vợ chồng. Trong tinh thần đó, tính dục không phải là một cái gì thuần tuý sinh học (biological) nhưng nó liên hệ đến phần sâu xa nhất của nhân vị con người. Nó chỉ được thực hiện cách nhân bản thật sự khi nó là thành phần cấu tạo tình yêu làm cho người nam và người nữ hiến thân trọn vẹn cho nhau và cam kết gắn bó với nhau cho đến chết." (x. SGLGHCG, số 2361).

Như thế có nghĩa là chỉ trong tình yêu hôn nhân, người ta mới được phép sử dụng và thoả mãn tính dục mà thôi.

Đức cố Giáo Hoàng Piô XII, trong diễn từ ngày 29-10-51 đã nói: "Chính Đấng Tạo Hoá đã thiết lập cho vợ chồng cảm thấy sự vui thú và thoả mãn về thể xác và về tâm hồn trong chức năng sinh sản này. Vậy vợ chồng không được làm gì sai trái khi tìm kiếm và hưởng thú vui này. Họ nhận lãnh những gì Đấng Tạo Hoá đẵ dành cho họ. Tuy nhiên, vợ chồng phải biết giữ mình trong những giới hạn của một sự điều độ chính đáng." (x.Sđd,số 2362)

Nói khác đi, chỉ trong đời sống vợ chồng kết hợp đúng nghĩa qua bí tích hôn phối, người nam và người nữ mới được phép hưởng thú vui phái tính cho mục đích sinh sản con cái, hoà hợp tâm hồn và tăng cường tình yêu phu phụ, đồng thời cũng nói lên "sự quảng đại và phong phú của Đấng Sáng Tạo" đã nối kết và chúc phúc cho họ trong tình yêu hôn nhân.

Dầu vậy, vợ chồng vẫn được khuyên phải thực hành đức khiết tịnh (chastity) là đức giúp "chế ngự những đam mê và thèm muốn của giác quan bằng lý trí." (x.Sđd, số 2341) .

Sau đây là những tội nghịch điều răn thứ sáu trong Mười Điều Răn Chúa đã truyền dạy:

Động lực chính đưa đến lỗi phạm điều răn này là khát vọng dâm ô (lust) hay tà dâm (fornification), tức những ước muốn về thú vui xác thịt hoàn toàn ở ngoài mục đích giới tính mà Thiên Chúa ban cho con người thụ hưởng để chu toàn mục đích của hôn nhân và để ca tụng "sự quảng đại và phong phú của Ngài". Tà dâm lẫn lộn giữa giới hạn được phép hưởng thú vui phái tính và phạm vi không được phép tìm thú vui này.

Tà dâm đưa đến ngoại tình (adultery) tức vi phạm giao uớc hôn phối đòi buộc vợ chồng phải chung thủy yêu nhau và trọn vẹn thuộc về nhau cả tâm hồn lẫn thể xác. Tà dâm đưa đến thông dâm (fornication) tức giao du tính dục giữa những người chưa kết hôn hoặc giữa người đã kết hôn và người chưa kết hôn. Tà dâm dẫn đến hiếp dâm (rape) một tội cướp đoạt thân xác của phụ nữ để thoả mãn thú tính trái với ý muốn của nạn nhân. Tà dâm cũng đưa đến bán và mua dâm, một tội làm thương tổn nặng nề đến phẩm giá của người phụ nữ vì biến họ thành những công cụ mua vui bất chính (illegitimate instruments for pleasures). Tà dâm cũng làm cho người ta mù quáng không biết xấu hổ khi phạm tội loạn luân (incest), một hình thức dâm loạn giữa những phần tử cùng huyết tộc trong gia đình.Cụ thể, một tin ỏ trong nược cho biết ông nội và người cha đã hiếp dâm cháu và con gái của mình, một tôi dâm loạn chỉ xẩy ra trong một xã hội vô luân, vô đạo mà thôi.! Đáng buồn thay !

Sau hết, trong thời đại suy thoái đạo đức này, tà dâm đang xô đẩy nhiều người đã mất hết lý trí và lương tâm đạo đức đi tìm thú vui xác thịt man rợ nơi những bé gái dưới tuổi vị thành niên, gây thương tật cả thể xác và tâm hồn cho những nạn nhân bất hạnh bị mua bán vào hoạt động cực kỳ tội lỗi khốn nạn này. Đây chính là một trong những bộ mặt đáng ghê sợ của "văn hoá sự chết" đang thịnh hành ở nhiều nơi trên thế giới ngày nay.

Phạm tội nghịch điều răn thứ sáu có hai hình thức chính sau đây:

1- bằng hành động: tức là trực tiếp làm những điều dâm ô, vô luân như hiếp dâm, thông dâm, ngoại tình, loạn luân, thủ dâm (masturbation), mua bán dâm...

2- bằng tư tưởng: nghĩa là ước muốn làm những điều dâm ô này. Đây chính là điều Chúa Giêsu đã cảnh cáo xưa kia: "Anh em nghe Luật dạy rằng: chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi." (x. Mt 5:27-28)

Ngoài hai hình thức trên, còn một hình thức nữa là gián tiếp xúi dục người khác tìm thú dâm ô qua tranh ảnh, sách báo và quảng cáo thô lỗ về phái tính. Đó là những hoạt động khiêu dâm bằng phương tiện truyền thông như sách báo, Video, DVD, mang đầy nội dung dâm ô thác loạn đã và đang đầu độc biết bao nhiêu người lớn nhỏ tìm đọc và xem những phim ảnh đồi bại vô luân này.

Thêm vào đó, còn phải kể đến những quảng cáo cho những nơi ăn chơi ở các bãi biển, hộp đêm, hay quảng cáo nhớp nhúa, thô lỗ về phái tính như sửa chữa bộ phận sinh dục của nam nữ, nghệ thuật làm tình, thuốc kích thích v.v...Những hành động này không nhằm phục vụ cho sức khoẻ và hạnh phúc của con người mà thực chất chỉ để xô nhanh nhiều người xuống hố truỵ lạc để kiếm tiền mà thôi. Chắc chắn đây là tội làm gương mù gương xấu phải lên án trong phạm vi điều răn thứ sáu, vì đây chính là tội mà Chúa Giêsu đã từng nghiêm khắc lên án: "...Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá và cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó sống làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn này vấp ngã." (Lc 17: 1-2)

Cũng được kể vào tội "làm cớ cho người ta vấp ngã" những người cố ý ăn mặc hở hang, nói chuyện tục tĩu khiêu gợi lòng thèm muốn bất chính về xác thịt cho người khác.

Tóm lại, thú vui phái tính chỉ được phép tận hưởng trong tình yêu hôn nhân chân chính mà thôi. Tìm thú vui này ngoài phạm vi hôn nhân là điều sai trái nặng nề vì đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa khi tạo dựng con người có phái tính và mời gọi người nam người nữ cộng tác với Chúa trong chương trình sáng tạo và làm chứng cho tình yêu vô biên của Người đối với toàn thể nhân loại.

Tà dâm hay dâm ô là khao khát hỗn loạn về phái tính, nên không được phép thực hành trong mọi trường hợp, kể cả giữa vợ chồng. Nói rõ hơn , cho dù là vợ chồng thì cũng không được phép xem những phím ảnh khiêu dâm, lui tới những nơi xấu xa và làm những việc không phù hợp với mục đích hiệp thông, tăng cường tình yêu phu phụ và sinh sản con cái.

Người tín hữu Chúa Kitô chắc chắn phải xa tránh mọi hình thức của tội nghịch điều răn thứ sáu nói trên đây để xứng đáng là men, là muối và là ánh sáng của Chúa Kitô giữa một thế giới gian tà sa đọa này.

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

https://www.facebook.com/ GiaiDapThacMacCongGiao/

---------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 383 = BENH PHONG CUI PDF Print E-mail

BỆNH PHONG CÙI

Bệnh phong cùi là chứng bệnh làm hư hoại hình dạng của con người, một chứng bệnh tiêu biểu cho tác dụng của nguyên tội đã làm cho con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa (xem Khởi Nguyên 1:26-27) không còn nguyên vẹn hình hài tốt lành như thuở ban đầu nữa.

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Sáu Tuần XII Thường Niên, Thánh ký Mathêu (8:1-4) đã cho biết ở ngay câu đầu của đoạn 8 là: "Khi Chúa Giêsu ở trên núi xuống, đám đông dân chúng theo Người". Tức là, sau Bài Giảng Trên Núi của Người, một bài giảng đã gây một tác dụng mãnh liệt nơi dân chúng như câu kết của đoạn 7 sau bài Giảng Trên Núi ở bài Phúc Âm hôm qua cho thấy: "Khi Chúa đã nói xong những lời trên, dân chúng kinh ngạc về giáo lý của Người: vì Người dạy dỗ họ như Đấng có quyền, chứ không như luật sĩ và các biệt phái của họ".

Nhưng có một cái lạ là hình như trong đám đông dân chúng ấy có một người cùi, không biết nặng hay nhẹ, chắc là nhẹ thôi nên không ai chú ý lắm, bằng không anh ta đâu có thể lẻn vào đám đông như vậy được mà đến xin Chúa Giêsu chữa lành cho một cách dễ dàng như thế: "Có một người cùi đến lạy Người mà thưa rằng: 'Lạy Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa tôi được sạch'".

Còn một cái lạ hơn nữa, đó là, sau khi chữa cho người cùi được lành rồi, Chúa Giêsu chẳng những bảo anh ta đi trình diện các vị tư tế theo đúng luật định mà trước hết căn dặn anh ta phải giữ kín chuyện được chữa lành nữa: "Chúa Giêsu giơ tay ra chạm đến anh ta và phán: 'Ta muốn. Anh hãy lành bệnh'. Tức thì anh ta liền lành khỏi bệnh phong cùi. Chúa Giêsu phán bảo anh ta: 'Hãy ý tứ, đừng nói với ai. Hãy đi trình diện với tư tế và dâng của lễ theo luật Môsê để minh chứng cho họ biết'".

Nếu Chúa Giêsu đã chữa cho người cùi này lành mạnh ngay giữa đám đông dân chúng theo Người bấy giờ thì Người còn căn dặn "'Hãy ý tứ, đừng nói với ai" đây nghĩa là gì, trong khi đó bao nhiêu người bấy giờ đã biết chuyện anh ta được chữa lành và sẽ đồn ra khắp nơi, cho dù anh ta không nói. Hay là Chúa Giêsu đã gặp riêng người cùi này khi dân chúng đã tự động giải tán vào một lúc nào đó, vì Người cùng với các môn đệ đi vào một nơi hoang vắng nào đó, nơi ẩn náu của thành phần bị cùi hủi sống xa tránh dân chúng?

Thật ra, ngay trước Bài Giảng Trên Núi, theo Thánh ký Mathêu (4:23-25), Chúa Giêsu đã nổi tiếng tới tận Syria về các phép lạ Người chữa lành cho các thứ bệnh nạn tật nguyền rồi. Nhưng ngay sau Bài Giảng Trên Núi thì người cùi này là trường hợp cá nhân đầu tiên được kể đến bởi quyền năng chữa lành của Người.

Thái độ khiêm cung ("đến lạy Người") và hoàn toàn tin tưởng phó thác tùy ý Chúa muốn ("Lạy Ngài nếu Ngài muốn, Ngài có thể chữa tôi được sạch") của nạn nhân phong cùi đã được Chúa Giêsu đáp ứng, bằng cách Người "giơ tay chạm đến anh ta và phán: 'Ta muốn. Anh hãy lành bệnh'".

Bệnh phong cùi là chứng bệnh làm hư hoại hình dạng của con người, một chứng bệnh tiêu biểu cho tác dụng của nguyên tội đã làm cho con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa (xem Khởi Nguyên 1:26-27) không còn nguyên vẹn hình hài tốt lành như thuở ban đầu nữa...............

Tuy Ismael là đứa con sinh bởi xác thịt chứ không phải do Lời Hứa nhưng vẫn không bị Thiên Chúa bỏ rơi, trái lại, còn được Thiên Chúa ban cho khả năng phát triển theo bản chất bẩm sinh thiên về xác thịt của nó: "Ta cũng nghe lời ngươi cầu cho Ismael: này Ta sẽ chúc phúc cho nó sinh sản nhiều. Nó sẽ sinh ra mười hai tướng quân, và Ta sẽ làm cho nó nên một dân tộc lớn".

Bài Đáp Ca hôm nay, được Giáo Hội trích từ Thánh Vịnh 127 (1-2,3,4-5), chất chứa ý nghĩa liên quan đến vị tổ phụ công chính Abram, một vị tổ phụ đã được Chúa chúc phúc cho làm cha của dân Do Thái nói riêng và các dân tộc trên thế giới nói chung, qua người con được vợ ông sinh ra theo Lời Hứa:

1) Phúc cho ai biết kính sợ Chúa, và bước đi trong đường lối Người. Ngươi sẽ hưởng công khó của tay ngươi, ngươi có phúc và sẽ được may mắn.

2) Vợ ngươi như cây nho sai trái, trong nội cung gia thất nhà ngươi. Con cái ngươi như chồi non cây dầu ở chung quanh bàn ăn của ngươi.

3) Đó là ơn phúc dành cho người kính sợ Chúa. Từ Sion xin Chúa chúc lành cho ngươi. Chúc ngươi thấy Giêrusalem thịnh đạt suốt mọi ngày trong đời sống của ngươi.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

--------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 382= THANH PHERO VA PHAOLO PDF Print E-mail

GỢI Ý SUY NIỆM LỜI CHÚA

Thánh Phêrô và thành Phaolô Tông Đồ

Lời Chúa : Mt 16.13-19

Nói đến hai đấng thánh Phêrô và Phaolô thì có rất nhiều điều phải nói, nhưng chúng ta chỉ nêu lên một vài nét của hai đấng để chúng ta cầu nguyện và tiến bước mạnh mẽ hơn trên con đường theo Chúa.

Khi nói đến thánh Phêrô, chúng ta nhớ ngay đến việc ngài chối Chúa, thánh Phaolô thì nhớ đến việc ngài té ngựa trước thành Đamát. Đó là những sự kiện dễ nhớ, nhưng đó cũng là những biến cố quyết định trong đời sống các Ngài.

Thánh Phêrô theo Chúa Giêsu ngay từ buổi đầu khi Ngài bước ra rao giảng. Chúa đã đổi tên Simon thành Phêrô ngay từ lúc ấy, tức là đã chọn ông làm môn đệ ruột của Ngài. Phaolô thì không biết Chúa lúc Chúa còn sinh thời và đã truy lùng bắt bớ những ai tin theo ông Giêsu, cho đến khi bị Chúa khuất phục trên con đường Đamát.

Phêrô học với Chúa ba năm, cùng ăn cùng ở cùng làm với Thầy Giêsu, còn Phaolô chỉ gặp Chúa một lần và đã được mạc khải mầu nhiệm Nước Trời trong một vùng ánh sáng làm ông mù mắt.

Phêrô là một tên chài lưới, mức độ văn hóa bình dân. Phaolô là một người trí thức uyên thâm, thuộc rành Kinh Thánh và là một người thuộc phái Pharisêu, con của Pharisêu.

Phêrô chối Thầy vì sợ liên lụy. Phaolô bắt bớ Thầy vì bảo vệ Lề Luật. Hai đấng thánh rường cột của Giáo Hội là những người đã mang tì vết. Hai đấng là những người đã trở về từ xa. Thánh Phêrô bị Chúa Giêsu gọi là satan. Thánh Phaolô tự nhận mình là kẻ đã bách hại Hội Thánh Chúa. Điều đó cho thấy rằng, Chúa không chê những ai sai lầm yếu đuối nếu biết trở về. Mọi người đều có thể trở thành người rao giảng Tin Mừng, môn đệ của Chúa nếu tin vào Ngài. Cả hai đấng thánh đã trở thành những người có niềm tin mãnh liệt. Vì tin , các ngài đã vượt qua tất cả mọi gian nguy để loan báo Tin Mừng của Chúa và làm cho Giáo Hội càng ngày càng lớn mạnh và vững chắc. Trong bài đọc thứ nhất hôm nay, Giáo Hội nhắc lại việc Phêrô bị bắt và được thiên thần Chúa giải thoát. Công việc xảy ra lạ lùng đến nỗi ngài tưởng là một giấc mơ, cho đến khi hoàn hồn, ngài mới biết thực sự Thiên Chúa đã sai thiên sứ của Người đến và đã cứu tôi...Phêrô bị bắt không phải một mà nhiều lần, nhưng không phải vì thế mà ngài sợ sệt hay tháo lui, mà ngược lại càng hoạt động can đảm hơn, mạnh mẽ làm chứng cho Thầy mình trước mặt những kẻ ngược đãi mình.

Phêrô đã từng tuyên xưng đức tin : " Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống... Bỏ Thầy, con đi với ai, vì Thầy có những lời ban sự sống đời đời. Dù đã tuyên xưng đức tin như thế, đức tin ấy vẫn còn yếu kém, và đến khi cần phải cương quyết, ngài đã chối Thầy. Nhưng Chúa biết con người ấy, yếu đuối nhưng thành thật, nhạy cảm và khiêm tốn, dám đi trên mặt biển đến với Thầy, và cũng biết mình là kẻ tội lỗi. Chúa có thể sử dụng con người yếu đuối đó để đứng đầu Giáo Hội của mình : " Con là Đá, trên tảng đá nầy Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy".

Phaolô cũng trải qua một cơn thử thách nặng nề khi ông lên đường bách hại các kitô hữu. Ngài hoàn toàn thành thật khi bách hại các kitô hữu, vì Ngài chỉ biết bảo vệ Lề Luật của cha ông, nhiệt thành đến mức ngược đãi Hội Thánh. Nhưng ngài đã tự nhận : " Trước kia, tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và bạo ngược, nhưng tôi đã được Người thương xót, vì tôi hành động một cách vô ý thức, trong lúc chưa có lòng tin". Sau khi được biết Chúa, Phaolô đã hoàn toàn tuân phục, Chúa Kitô trở thành trung tâm của tâm hồn và cuộc sống của ngài, ngài xem mọi sự là rác rến ngoại trừ việc việc biết Chúa Kitô. Chúa không chê những con người luôn sống theo những gì mình cho là đúng, dám đứng ra bảo vệ cho những giá trị thiêng liêng mình đã tin theo. Ngài chỉ cần một tia sáng để biến đổi một con người.

Phêrô và Phaolô, hai con người gần như khác nhau về mọi mặt, nhưng lại giống nhau về một phương điện duy nhất : Chúa Giêsu Kitô. Hai ngài, sau khi biết mình lầm lỡ đã quay trở lại, và gắn bó chặt chẽ với Chúa. Phêrô đã chối Thầy ba lần cũng đã đoan thệ lại ba lần, con yêu mến Thầy và đã trung thành cho đến chết. Phaolô cũng thế, sau khi đã biết Chúa đã gắn bó với Chúa đến nỗi ngài có thể nói : "Sống đối với tôi là Chúa Giêsu Kitô", ngài gần như trở thành một với Chúa : " Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà Chúa Kitô sống trong tôi".

Nhìn khuôn mặt hai thánh tông đồ, chúng ta nghĩ gì ? Đừng tự ti mặc cảm, hãy tin rằng, nếu chúng ta dám yêu mến Chúa, thì chúng ta cũng có thể trở thành dụng cụ cho tình yêu của Ngài. Chúa không đòi chúng ta phải liều mạng như các vị tông đồ, bôn ba khắp nơi để rao giảng Tin Mừng, Chúa chỉ muốn chúng ta gắn bó mật thiết với Chúa trọn vẹn, lúc đó, Chúa sẽ cho chúng ta biết phải làm gì. Không phải anh em chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em".

SUY TƯ VÀ QUYẾT HÀNH ĐỘNG: Hôm nay, mừng kính hai thánh Tông Đồ, rường cột của Giáo Hội,  nguyện xin các ngài che chở Giáo Hội luôn đang trong tình trạng bách hại triền miên, NOI GƯƠNG HAI THÁNH TÔI vững tin giữa những cơn bách hại rõ rệt hay tiềm ẩn, một lòng gắn bó với Chúa, BẠN VÀ TÔI LÀ lương thực hằng ngày, làTẤM  Bánh BẺ RA CHO ANH EM, để MỌI NGƯỜI ĐƯỢC GẶP GỠ NHAU TRONG LCTX.

Lm Trầm Phúc

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 381= CAC TON GIAO PDF Print E-mail

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

Hỏi: Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.v
Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.

Trả lời:
như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra khiến KitôGiáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa
là Anh Giáo ( Anglican Comm) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh
chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.
Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I-Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn Kitô đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo.
Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople ( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)
Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 5 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 ( đã về hưu năm 2012) đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo. Dầu vậy, một biến cố mới xẩy ra trong năm qua (2016) là Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp Thượng Phụ Giáo Hội Chính Thông Nga tại Mexico, nhưng kết quả của cuộc gặp gỡ lịch sử này giữa hai vi lãnh đạo Công Giáo và Chính Thống Nga không được công bố sau đó.Nhưng đây là một dấu chỉ tích cực giữa hai Giáo Hội anh em.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- đã bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".
Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I năm 1966.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.
Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu của Chính Thống nếu không tìm được nhà thờ Công Giáo hay linh mục Công giáo khi cần..

2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Viêt Nam.

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: các Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã ch đến nay.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).
Vì Chính Thống Giáo có đủ bảy bí tích hữu hiệu, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu ở nhà thờ và các linh mục Chính Thống, nếu không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo nơi mình cư ngụ.

II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó.Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism)nói trên. Một đặc điểm của các giáo phải Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Roma cho đến các giáo hội địa phương ở mỗi quốc gia.Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, nhân sự, tài chính và phương thức hành đạo.

1-Ở góc độ thần học,
Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị.Do đó, chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).
Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ:
"không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.
Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình
Là bí tích hòa giải mà các giám mục và linh mục Công Giáo được phép tha tội cho các hối nhân nhân danh Chúa Kito ( in persona Christi).
,
Lại nữa, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh., Nhưng đó không phải là cử hành Bí Tích Thánh Thể ( Eucharist) như trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương.. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng kinh thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo Hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi Ai dưới đất là Cha, là Thầy .". anh em Tin Lành hiểu lời Chúa trong ngữ cảnh (context) câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là 'lạc giáo=heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô
kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ
của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.
Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.
Chính vì không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh Giáo Hội duy nhất của Chúa Kito nên đây là trở ngại lớn cho các nhánh Tin Lành muốn hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo.

3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành và Anh Giáo đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession)- và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường ( Martin Luther, John Calvin..Henry XIII) chứ không phải là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của Chúa trên Đá Tảng Phêrô.( Mt 16: 18-19) và " Giáo Hội này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phê rô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển" như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã nhìn nhận. ( x. LG. số 8). Cho nên các nhánh Tin Lành và Anh giáo đều không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm Tin Lành và Anh Giáo chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullah, thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự tòng.(catechumens). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (comm) và hiệp nhất ( unity) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Tông đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Roma coi sóc và lãnh đạo với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn. (College of Bishops).
Ươc mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 3 of 86