mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5350
mod_vvisit_counterHôm Qua16328
mod_vvisit_counterTuần Này71680
mod_vvisit_counterTuần Trước89381
mod_vvisit_counterTháng Này35925
mod_vvisit_counterTháng Trước419088
mod_vvisit_counterTất cả22388496

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - CHÚA LÊN TRỜI Ỏ CHỖ NÀO? PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Wed, May 13-5

ĐỨC GIÊSU LÊN TRỜI LÀ LÊN CHỖ NÀO?

NẾU HIỂU THEO NGHĨA ĐEN, thì đúng là Nước Trời hoặc quê trời là một xứ sở, một vùng trời nào đó mà Thiên Chúa đang ngự trị.

Khi trò chuyện với nhóm bạn trẻ, một bạn hỏi tôi rằng: "Thầy ơi, trong Kinh Thánh con thấy Đức Giêsu lên trời, vậy nơi ấy là chỗ nào?" Trước câu hỏi này, thực sự tôi cũng lúng túng để giải thích làm sao cho các bạn trẻ hiểu! Khi hỏi câu ấy, bạn này cũng như nhiều bạn hiểu rằng trời cao thuộc về vũ trụ vật chất này. Đó có thể là các tầng trời, là các hành tinh thuộc hệ mặt trời hoặc thuộc vào dải thiên hà hay ngân hà nào đó trong vũ trụ vô biên này. Phải chăng những nơi này là Thiên Đàng, là nơi Đức Giêsu được rước lên sau khi Ngài sống lại mà Tin Mừng viết: "Chúa Giêsu được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa" (Mc 16,20)?

Nếu hiểu theo nghĩa đen, thì đúng là Nước Trời hoặc quê trời là một xứ sở, một vùng trời nào đó mà Thiên Chúa đang ngự trị. Theo cách hiểu của Giáo hội, Quê Trời không phải là một chỗ hữu hình cụ thể nào. Thay vào đó, Thiên Đàng nhằm chỉ thực tại thiêng liêng, siêu phàm, "nơi" đó có Thiên Chúa, có các thánh. Nơi đó là "nhà" của Thiên Chúa Cha. Đó cũng là quê hương đích thật mà mỗi người chúng ta hướng về. Chúng ta tin và ước mong rằng sau khi chết, Thiên Chúa cũng đón ta vào vương quốc tình yêu vĩnh hằng ấy.

Bài Tin Mừng lễ Thăng Thiên hôm nay, thánh sử Máccô mô tả lại quang cảnh Đức Giêsu được rước lên trời. Trước đó, Đức Giêsu của chúng ta đã ân cần căn dặn các môn đệ về sứ mạng rao giảng Tin Mừng. Đó là lệnh truyền và là ước mơ của Thiên Chúa dành cho các môn đệ. Lệnh truyền ấy được các tông đồ và Giáo hội luôn thực thi một cách tốt đẹp. Nhờ vậy, số người theo và tin vào Chúa Giêsu mỗi lúc một đông. Là ước mơ, vì Thiên Chúa muốn mọi thế hệ nhận biết Thiên Chúa để họ được cứu độ. Trải qua hơn 20 thế kỷ, Giáo Hội đã hiện diện ở khắp tận cùng trái đất. Tin Mừng cũng được hầu hết các dân tộc đón nhận. Đó không chỉ là công việc của Giáo hội, nhưng đúng hơn, kết quả ấy là của Thiên Chúa, vì "Thầy Giêsu ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế." (Mt 28,20).

Sau khi căn dặn các môn đệ cẩn thận, Đức Giêsu được rước lên trời. Nếu đã xem đoạn phim về cảnh Chúa Giêsu lên trời, bạn cũng thấy Đức Giêsu được nhấc khỏi mặt đất và biến vào vùng trời của ánh sáng. Dĩ nhiên, chúng ta không biết chính xác sau đó Đức Giêsu đi đâu, ở chỗ nào, vì lúc này thân xác phục sinh của Ngài không còn lệ thuộc vào không gian và thời gian. Từ khi giáng sinh cho tới phục sinh, Chúa Giêsu luôn là hiện thân của Nước Trời. Nước ấy đang diễn ra ngay giữa chúng ta[1], trong hiện tại (x. Mt 12,28). Nếu chúng ta nói Thiên Đàng là nơi hạnh phúc bình an, thì một khi ai đó cảm nghiệm được niềm vui, bình an và hạnh phúc trong Thánh Thần (x. Rm 14,17), người ấy cũng đang ở trong Thiên Đàng! Hoặc nói như thần học gia người Pháp, François Fénelon: "Muốn tất cả những gì Chúa muốn, và muốn như thế luôn luôn trong mọi hoàn cảnh và không ngập ngừng, đó là Nước Trời đang ở trong ta vậy." (Youcat 283)

Có thể thấy hai điều trong biến cố Đức Giêsu về trời. Một mặt Ngài trở về với Chúa Cha sau sứ mạng nhập thể để cứu độ con người. Mặt khác, Chúa Giêsu phục sinh hiện diện với con người một cách đặc biệt. Ngài có thể đến gặp con người ở mọi lúc, mọi nơi và mọi thời. Lúc này, thời gian và không gian chẳng thể ngăn cản chúng ta đến gặp Ngài. Nếu muốn gặp Thiên Chúa, bạn và tôi thật dễ dàng để gặp Ngài ngay trong các bí tích, trong các nghi thức phụng vụ, trong tâm hồn mỗi người và ở mọi nơi, mọi lúc. Khi đó, trong Chúa Giêsu Phục Sinh, chúng ta cũng được liên kết với Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần.

Chắc chúng ta chẳng cần lên phi thuyền để truy tìm Thiên Đàng hoặc Vương Quốc của Thiên Chúa! Thật hạnh phúc cho con người là lúc này chúng ta cũng đang được ở trong Vương Quốc của Ngài với điều kiện: Đó là chỗ của sự thật, và sự sống, của sự thánh thiện và ân sủng, của công lý, tình yêu và hòa bình[2]. Theo đó, Đức Giêsu lên trời, nghĩa là ngài cũng muốn đưa chúng ta về chốn hạnh phúc vô bờ ấy. Nơi đó, chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi, được hưởng tự do của vinh quang con cái Thiên Chúa (Rm 8,21).

Như vậy, để trả lời câu hỏi trên, hẳn nhiên Giáo hội không chỉ hướng đến trời cao là nơi Thiên Chúa ngự, nhưng còn là nơi cụ thể tại trần gian. Nơi đó là Giáo hội, là trái đất chúng ta đang sống. Chính Thiên Chúa cũng đang tìm cách để gõ cửa, để vào từng nhà, từng tâm hồn của mỗi người. Ngài muốn đưa con người "lên trời" để hưởng hạnh phúc thiên thu. Nói theo cách của Đức Bênêđictô XVI: "Nước Trời không là một khái niệm trừu tượng, một học thuyết giáo lý hay một kế hoạch xa rời thực tế, nhưng trước hết và trên hết là một ngôi vị sống động với khuôn mặt và tên gọi là Giêsu Nazarét; đó là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình[3]."

Ước gì mừng lễ Chúa Lên Trời hôm nay, mỗi người cũng xin Chúa Phục Sinh kéo mình lên với Chúa Cha. Nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần, chúng ta cũng gặp được Thiên Chúa. Đó là khung cảnh thần linh, của "nhân – thần hội ngộ". Như vậy khi Chúa lên trời cũng là lúc Chúa ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã yêu trái đất này,
và đã sống trọn phận người ở đó.
Chúa đã nếm biết
nỗi khổ đau và hạnh phúc,
sự bi đát và cao cả của phận người.

Xin dạy chúng con biết đường lên trời,
nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.

Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu,
chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
để xây dựng trái đất này,
và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.

Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa,
xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời
không làm chúng con quên trời cao ;
và những vẻ đẹp của trần gian
không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa.

Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con,
mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện. Amen[4]

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

............

[1] "Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông." (Lc 17,20-21)

[2] Xem Kinh Tiền Tụng lễ Chúa Kitô Vua

[3] Thông điệp Redemptoris Missio số 18

[4] Trích Nguyễn Cao Siêu SJ, Rabbouni, số 46

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

-----------------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LÒNG THUONG XOT? PDF Print E-mail

Kim Vu
> ĐỊNH NGHĨA LÒNG THƯƠNG XÓT
>
>
>
> Hôm nay lễ lòng thương xót Chúa. Thiết tưởng chúng ta cần hiểu lòng thương xót nghĩa là gì? Thương xót nghĩa là sự biểu lộ lòng xót xa đồng cảm với những hoàn cảnh khó khăn. Lòng thương xót đối với Chúa còn là sự khao khát muốn làm vơi đi những nỗi đau khổ đó. Như vậy, lòng thương xót của Chúa là sự biểu lộ tình thương trước những hoàn cảnh khó khăn của dân Chúa.
>
>
>
> Lòng thương xót của Chúa không như con người. Vì con người thương xót nhưng có chọn lựa, có tính toán. Cùng hoàn cảnh nhưng chúng ta thương người này và có thể ghét người kia. Thế nhưng, lòng thương xót của Chúa thì trải rộng cho mọi người. Không toan tính. Không chọn lựa. Ngài yêu thương con người bất kể tình trạng luân lý của họ. Bởi vì, Chúa vẫn yêu thương chúng ta ngay khi chúng ta còn là tội nhân.
>
>
>
> Thế nên, lòng thương xót của con người chúng ta thì giới hạn. Chúng ta có thể xót thương kẻ cơ hàn. Xót thương những người già yếu, bệnh tật bị bỏ rơi. Xót thương những trẻ nhỏ bị lạm dụng, bị bóc lột nơi cha mẹ hay người nuôi dưỡng. Và chắc chắn chúng ta sẽ chẳng bao giờ xót thương những phường tội lỗi như: trộm cắp, mại dâm, hay tham ô. Chúng ta thường không thương xót họ mà có khi còn nguyền rủa họ.
>
>
>
> Lòng thương xót Chúa thì không giới hạn. Ngài yêu thương mà không cần nhìn xem họ là ai? Ngài chỉ bận tâm đến nhu cầu của con người và ra tay nâng đỡ. Thánh Kinh bảo rằng: Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được. Thế nhưng, Chúa đã không chấp tội con người, Ngài cũng không giáng phạt theo như tội ta đã phạm. Lòng thương xót của Chúa trải rộng trên con người. Trên người lành cũng như người dữ. Ngài luôn biểu lộ lòng thương xót cho bất cứ ai đến với Ngài. Lòng thương xót ấy không dừng lại ở nơi kẻ yêu Ngài mà còn dành cho cả kẻ ghét Ngài, xỉ nhục và kết án Ngài. Chính trong đau thương khổ nhục mà Ngài vẫn xót thương những kẻ đang hành hạ Ngài khi Ngài cầu nguyện cùng Cha: Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm.
>
>
>
> Có lẽ với bản tính con người, chúng ta sẽ thù hận kẻ giết hại chúng ta một cách oan uổng. Có lẽ chúng ta cũng kinh tởm kẻ vô ơn, phản bội với chúng ta. Thế mà, Chúa Giê-su dường như không còn nhớ đến tội lỗi của con dân thành Giê-ru-sa-lem. Ngài đã tha thứ cho kẻ làm nhục Ngài. Ngài cũng tha thứ cho những môn đệ đã bỏ Ngài trong tuần thương khó.
>
>
>
> Vâng, khi Chúa sống lại Ngài không tìm ai để trách móc, kêu oan. Và dường như Ngài cũng không bận tâm đến lỗi lầm của các môn sinh. Ngài đã trao bình an cho các môn sinh mỗi khi hiện ra với họ. Ngài biết trong lòng các ông còn một nỗi buồn vì phản bội, vì bỏ rơi Thầy trong gian nguy. Ngài biết sau khi Chúa sống lại lòng các tông đồ còn rối bời hoang mang lo sợ, bất an vì mặc cảm tội lỗi, mặc cảm phản bội Thầy. Chúa đã biết điều đó nên đã đi bước trước để ban bình an cho các ông.
>
>
>
> Sứ điệp lễ lòng Chúa thương xót là sứ điệp của yêu thương. Thiên Chúa vẫn tiếp tục xót thương dân Người. Lòng thương xót của Chúa không bị tội lỗi của con người cản trở mà vẫn đong đầy cho những ai đến với Ngài. Lòng thương xót Chúa vẫn xoa dịu những ai đang bất an vì tội lỗi. Lòng thương ấy vẫn đang chữa lành cho những ai đang đau khổ bệnh tật tâm hồn hay thể xác. Lòng thương xót ấy vẫn là căn tính của Thiên Chúa rất yêu thương và xót thương dân Người.
>
>
>
> Ước gì mỗi người chúng ta biết tín thác vào lòng thương xót Chúa cho dẫu chúng ta còn mang đầy những vết thương của yếu đuối lỗi lầm. Hãy để cho lòng thương xót Chúa chữa lành những tật nguyền của chúng ta. Ước gì khi chúng ta đã hưởng nếm lòng thương xót vô bờ của Chúa thì cũng biết trao ban lòng thương xót ấy cho anh em. Xin Chúa ban cho chúng ta cũng có một tấm lòng bao dung để gạt qua những thành kiến, những đố kỵ, ghen tương mà đón nhận nhau trong yêu thương chia sẻ. Xin Chúa giúp chúng ta cũng trở thành một chứng nhân cho lòng thương xót của Chúa bằng tình yêu hiến dâng phục vụ tha nhân. Amen.
>
>
>
> Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền
>
-------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LÂM BÔ LÀ GỈ? PDF Print E-mail

Tracy NGuyen

LÂM BÔ (LIMBO) LÀ GÌ?

Từ "lâm bô" ("limbo") không có trong Kinh Thánh, và cũng không có trong Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo. Khái niệm này chưa bao giờ là một tín điều hay giáo lý của Hội Thánh Công Giáo. Có thể nói, nó là một lý thuyết hay một giả định thần học. Vì nếu bí tích Rửa Tội là điều cần thiết cho ơn cứu độ (như Mc 16:16), thì câu hỏi đặt ra là những người công chính chết trước khi được rửa tội sẽ như thế nào: liệu họ có sa hoả ngục? Và nếu họ sa hỏa ngục, thì liệu Thiên Chúa có công bằng?

Để giải quyết mâu thuẫn này, các Giáo phụ đặt ra khaí niệm lâm bô. Lâm bô không phải là luyện ngục, nhưng cũng không phải là thiên đàng. Đây là nơi hạnh phúc tự nhiên vĩnh cửu, nơi dành cho những người công chính chết trước khi được rửa tội. Có hai loại lâm bộ: một loại lâm bô dành cho các tổ phụ (limbus patrum) và một loại lâm bô khác dành cho các bé sơ sinh (limbus parvulorum).

Limbus patrum là nơi dành cho các thánh tổ phụ, những người đã chết trước khi Đức Kitô đến cứu chuộc loài người. Những người này sẽ vào lâm bô, và chờ được cứu độ vào ngày Chúa chịu chết trên thập giá. Ađam và Evà, Abraham, Isaac, Jacob, Đavid và Solômon, ... đã vào nơi này sau khi chết.

Cũng vậy, nếu phép rửa là điều cần thiết cho ơn cứu độ, nghĩa là lên thiên đàng, thì các bé sơ sinh chưa được rửa tội chết trong thời Kitô giáo sẽ đi về đâu? Các em không có tội riêng để phải sa hỏa ngục, nhưng cũng chưa chịu phép rửa để được lên thiêng đàng. Các Giáo phụ cho rằng các em sẽ vào lâm bô (limbus parvulorum).

Như vậy, mục đích của khái niệm lâm bô là để bảo vệ giáo lý về tính thiết yếu của bí tích rửa tội, cũng như bảo vệ giáo lý về lòng thương xót và công bình của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, ngày nay, Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo đã bỏ khái niệm về lâm bô, và nhấn mạnh hơn về ý muốn cứu độ phổ quát của Thiên Chúa, giáo lý về túc sủng và hiệu sủng, và chân lý về sự bất xung khắc giữa lòng thương xót và sự công bình của Thiên Chúa. Nếu các bé sơ sinh chưa được rửa tội, nhưng chắc rằng các em sẽ được rửa tội nếu sống lâu hơn, hoặc có ước muốn được rửa tội thể hiện qua ước muốn của cha mẹ hoặc một cách tiềm tàng nơi ước muốn của chính các em, mà chỉ mình Chúa biết, thì các em vẫn có thể được cứu độ, nghĩa là được lên thiên đàng.

Biên dịch: Kẻ Hành Hương Nguồn: Rev. John Trigilio JR., Ph.D., and Rev. Kenneth D. Brighenti, Ph.D., The Catholicism Answer Book- The 300 Most Frequently Asked Question, (Naperville, Illinois: Sourcebooks, Inc., 2007), 8
-----------------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - CHÚA CHẾT KHI NÀO? PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Fri, Apr 2 at 1:13 AM

 

Chúa Giêsu chết khi nào?

Hằng năm, chúng ta cử hành Mùa Chay, rồi cử hành Tuần Thánh, đặc biệt là Thứ Sáu Tuần Thánh kính nhớ Cuộc Tử Nạn của Chúa Giêsu, và Đại Lễ Phục Sinh kính mừng Chúa Giêsu sống lại. Chúng ta biết rằng sự kiện lịch sử này đã xảy ra tại Giêrusalem hồi thế kỷ I.

Sự kiện này khiến Chúa Giêsu khác biệt với các thần ngoại giáo trong thần thoại, những người sống ở đâu và làm gì thì chẳng ai biết. Vậy làm sao chúng ta xác định thời gian chính xác về việc Chúa Giêsu chịu chết? Có thể chứ. Và đây là các chứng cớ...

1. THƯỢNG TẾ CAI-PHA

Các Phúc Âm cho biết rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh theo chủ mưu xúi bẩy của thượng tế tên là Cai-pha (Mt 26:3-4, Ga 11:49-53). Các nguồn khác cho biết rằng ông này là thượng tế từ năm 18 tới năm 36 sau công nguyên, thế nên Chúa Giêsu chịu chết trong thời gian đó. Nhưng chúng ta còn có thể biết rạch ròi hơn vậy.

2. TỔNG TRẤN PHONG-XI-Ô PHI-LA-TÔ

Các Phúc Âm đồng ý rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh theo lệnh của Phong-xi-ô Phi-la-tô (Mt 27:24-26, Mc 15:15, Lc 23:24, Ga 19:15-16). Các nguồn khác cho biết rằng khi đó Phi-la-tô làm tổng trấn Giu-đê (năm 26 tới năm 36 sau công nguyên), do đó chúng ta có thể giảm bớt được vài năm. Nhưng làm sao chúng ta biết đúng ngày và năm?

3. SAU NĂM THỨ 15 CỦA TI-BÊ-RI-Ô XÊ-DA

Phúc Âm theo Thánh Lu-ca cho biết thời gian sứ vụ của Thánh Gioan Tẩy Giả khởi đầu: Năm thứ 15 triều đại của Tiberiô Xê-da (Lc 3:1-2). Như vậy chúng ta có thời gian rõ ràng: Năm 29 sau công nguyên.

Cả bốn Phúc Âm đều mô tả sứ vụ của Đức Kitô bắt đầu sau khi ông Gioan Tẩy Giả bắt đầu sứ vụ (Mt 3, Mc 1, Lc 3, Ga 1), nghĩa là chúng ta có thể bỏ qua vài năm. Cái chết của Chúa Giêsu phải ở trong vòng 7 năm: Giữa các năm 29 và 36 sau công nguyên.

4. CHÚA GIÊSU CHẾT NGÀY THỨ SÁU

Cả bốn Phúc Âm đều đồng ý rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh vào ngày Thứ Sáu (Mt 27:62, Mc 15:42; Lc 23:54; Ga 19:42), ngay trước ngày Sa-bát, ngay trước ngày thứ nhất trong tuần (Mt 28:1, Mc 16:2, Lc 24:1, Ga 20:1).

Chúng ta biết đó là Thứ Sáu vì nó được nói tới là "ngày chuẩn bị" – nghĩa là ngày mà người Do Thái chuẩn bị những gì cần cho ngày Sa-bát, vì họ không thể làm việc gì vào ngày này. Như vậy, đồ ăn được nấu trước và chuẩn bị những thứ cần thiết khác.

Bộ sách Bách Khoa Do Thái nói: Thứ Sáu, trước ngày Sa-bát, gọi là "Ereb Shabbat" (hôm trước ngày Sa-bát). Thuật ngữ "ereb" có hai nghĩa: "chiều tối" và "sự hỗn hợp" (Ex. xii. 38); và "Ereb Shabbat" bao hàm ngày vào chiều tối khi ngày Sa-bát bắt đầu, hoặc ngày mà đồ ăn được chuẩn bị cho cả ngày hiện tại và những ngày sau, nghĩa là sau ngày Sa-bát.

Ý tưởng về sự chuẩn bị được diễn tả bằng tiếng Hy Lạp là "paraskeué", do Josephus đưa ra ("Ant." xvi. 6, § 2) đối với ngày đó (so sánh với Mc 15:42; Lc 23:54; Mt 27:62; Ga 19:42). Trong Yer. Pesaḥim iv. 1, ngày này được gọi là "Yoma da-'Arubta" (ngày chuẩn bị). Điều đó loại trừ 6 ngày trong tuần, nhưng vẫn có vài ngày Thứ Sáu khác trong những năm 29 và 36 sau công nguyên. Làm sao chúng ta có thể biết năm nào?

5. THỨ SÁU NGÀY LỄ VƯỢT QUA

Các Phúc Âm cũng đồng ý rằng Chúa Giêsu bị đóng đinh trùng với Lễ Vượt Qua hằng năm (Mt 26:2, Mc 14:1, Lc 22:1, Ga 18:39). Ở đây chúng ta gặp sự phức tạp, vì các Thánh Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca đều mô tả Bữa Tiệc Ly vào Thứ Năm Tuần Thánh là bữa ăn mừng Lễ Vượt Qua (Mt 26:19, Mc 14:14, Lc 22:15). Điều đó cho thấy rằng Thứ Sáu Tuần Thánh là ngày sau Lễ Vượt Qua.

Tuy nhiên, khi mô tả buổi sáng Thứ Sáu Tuần Thánh, Thánh Gioan cho biết rằng người Do Thái chưa ăn Lễ Vượt Qua, họ dẫn độ Chúa Giêsu từ nhà Cai-pha tới dinh của Phi-la-tô (Praetorium): "Người Do Thái điệu Đức Giêsu từ nhà ông Cai-pha đến dinh tổng trấn. Lúc đó trời vừa sáng. Nhưng họ không vào dinh kẻo bị nhiễm uế mà không ăn Lễ Vượt Qua được. Vì thế, tổng trấn Phi-la-tô ra ngoài gặp họ và hỏi: "Các người tố cáo ông này về tội gì?" (Ga 18:28-29).

Điều đó cho thấy rằng Lễ Vượt Qua bắt đầu lúc mặt trời lặn của ngày Thứ Sáu. Có nhiều cách giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn, một số người cho rằng Chúa Giêsu và các môn đệ dùng lịch khác người Do Thái, và chúng ta biết rằng có những lịch khác nhau được dùng trong Do Thái giáo hồi thế kỷ I.

Cũng có thể Chúa Giêsu mừng Lễ Vượt Qua trước với các môn đệ. Nghĩa là họ đã tin Thầy Giêsu là Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa. Nếu Ngài nói: "Chúng ta mừng Lễ Vượt Qua hôm nay".Đó là sớm hơn mọi người, vậy cũng như mọi người. Lưu ý: Ngài có những sửa đổi nghi lễ một chút, như lập Bí tích Thánh Thể khi đang ăn.

Cũng có những cách giải quyết khác. Tuy nhiên, dù Chúa Giêsu làm gì, chúng ta vẫn có thể dựa vào câu nói của Thánh Gioan về những người bắt Chúa Giêsu khi biểu hiện những gì của người Do Thái hoặc cách thực hành chính của họ: Họ mừng Lễ Vượt Qua vào thời gian mà chúng ta gọi là chiều tối Thứ Sáu Tuần Thánh.

Chúng ta có thể giảm bớt thời gian một chút. Đây là những ngày trong những năm 29 và năm 36 có những chiều tối bắt đầu Lễ Vượt Qua:

+ Thứ Hai, 18 tháng 4 năm 29.

+ Thứ Sáu, 7 tháng 4 năm 30.

+ Thứ Ba, ngày 27 tháng 3 năm 31.

+ Thứ Hai, ngày 14 tháng 4 năm 32.

+ Thứ Sáu, 3 tháng 4 năm 33.

+ Thứ Tư, ngày 24 tháng 3 năm 34.

+ Thứ Ba, ngày 12 tháng 4 năm 35.

+ Thứ Bảy, ngày 31 tháng 3 năm 36.

Như vậy, chúng ta chỉ còn lại 2 Thứ Sáu: Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào ngày 7 tháng 4 năm 30, hoặc ngày 3 tháng 4 năm 33. Vậy ngày nào? Ngày theo truyền thống là ngày vào năm 33. Có thể có nhiều người ủng hộ ngày của năm 30. Các Phúc Âm nói gì về 2 năm đó?

6. BA LỄ VƯỢT QUA

Phúc Âm theo Thánh Gioan cho biết có 3 Lễ Vượt Qua khác nhau trong thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu:

+ Lễ Vượt Qua 1: Có ghi trong Ga 2:13, gần đầu thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu.

+ Lễ Vượt Qua 2: Có ghi trong Ga 6:4, giữa thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu.

+ Lễ Vượt Qua 3: Có ghi trong Ga 11:55 (và thường nhắc tới sau), cuối thời gian sứ vụ của Chúa Giêsu.

Như vậy, sứ vụ của Chúa Giêsu phải trong 2 năm đó. Cách đầy đủ hơn cho thấy rằng đó là khoảng 3 năm rưỡi, nhưng dù chúng ta cho rằng điều đó xảy ra ngay trước Lễ Vượt Qua 1, thêm vào 2 Lễ Vượt Qua khác, cho thấy rằng sự việc kéo dài tối thiểu phải hơn 2 năm.

Như vậy nghĩa là năm 30 đã qua. Không đủ thời gian giữa năm thứ 15 trong triều đại của Ti-bê-ri-ô Xê-da (năm 29) và Lễ Vượt Qua của năm kế tiếp để hợp với sứ vụ kéo dài ít nhất là 2 năm. Như vậy, ngày Chúa Giêsu chết theo truyền thống (Thứ Sáu, ngày 3 tháng 4 năm 33) là chính xác. Có thể chính xác hơn không?

7. GIỜ THỨ CHÍN

Các Thánh sử Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca đều nói rằng Chúa Giêsu chết vào khoảng "giờ thứ chín" (Mt 27:45-50, Mc 15:34-37, Lc 23:44-46). "Giờ Thứ Chín" là 3 giờ chiều theo cách tính giờ ngày nay.

Điều này cho phép chúng ta thu hẹp thời gian Chúa Giêsu chết vào một điểm chính xác theo lịch sử: Khoảng 3 giờ chiều Thứ Sáu, ngày 3 tháng 4 năm 33 sau công nguyên.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

--------------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO- CẦN BIẾT VỀ LỄ LÁ PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Wed, Mar 24 at 12:18 AM

9 điều cần biết về lễ Lá

Chúa Nhật Lễ Lá khởi đầu Tuần Thánh. Ngày này không cử hành riêng lẻ mà cử hành hai sự kiện rất quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu. Đây là 9 điểm chúng ta cần biết:

1. Chúa Nhật Lễ Lá là gì?

Chúa Nhật Lễ Lá còn gọi là Chúa Nhật Khổ Nạn. Gọi là Chúa Nhật Lễ Lá phát xuất từ việc tưởng nhớ Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem, được dân chúng vừa cầm lá vừa tung hô (Ga 12:13). Gọi là Chúa Nhật Khổ Nạn vì Bài Thương Khó được đọc vào ngày này.

Theo tài liệu chính thức Paschales Solemnitatis nói về việc cử hành các ngày lễ liên quan Lễ Phục Sinh: Tuần Thánh bắt đầu từ Chúa Nhật Lễ Lá, liên kết việc tiên báo cuộc rước hiển hách với việc công bố cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Việc liên kết giữa hai sự kiện này của Mầu nhiệm Vượt qua được tỏ hiện, được giải thích việc cử hành ngày này và giáo lý về ngày này.

2. Một điểm quan trọng của ngày này là cuộc rước lá trước Thánh Lễ. Tại sao chúng ta làm vậy?

Tài liệu Paschales Solemnitatis cho biết: Theo truyền thống, việc tưởng nhớ Chúa Giêsu vào Thành Giêrusalem được cử hành bằng cuộc rước trọng thể, mọi người hát noi gương các trẻ em Do Thái đồng thanh tung hô Đức Giêsu: "Thánh, thánh, thánh! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến".

Cuộc rước lá được thực hiện trước Thánh Lễ, có thể vào chiều tối Thứ Bảy hoặc Chúa Nhật. Lá được làm phép và mọi người cầm lá trong cuộc rước, tưởng nhớ lúc Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem.

3. Phải dùng lá cọ, lá dừa?

Không nhất thiết phải dùng lá cọ, lá dừa. Có thể dùng các loại cành lá khác. Cuộc rước lá kỷ niệm việc Chúa Giêsu vào Thánh Giêrusalem là cuộc vui mừng, mọi người cầm lá đã được làm phép, sau đó đưa lá về nhà.

4. Có cần hướng dẫn giáo dân?

Rất cần. Giáo dân nên được hướng dẫn về ý nghĩa của cuộc rước để họ hiểu tầm quan trọng của cuộc rước. Đây là dịp họ được nhắc nhở rằng họ cần tham dự cuộc rước để tôn vinh Con Thiên Chúa.

Lá được làm phép và được giữ lại, nhưng đừng coi lá đó như "bùa hộ mệnh" (amulet), hoặc coi lá đó có thể chữa bệnh, trừ tà, hoặc ngăn ngừa tai họa, vì như vậy là mê tín dị đoan. Lá đó được giữ tại nhà để biểu hiện niềm tin vào Đức Kitô là Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Độ, Ngôi Hai Thiên Chúa.

5. Chúa Giêsu làm gì trong khi vào Thành Thánh?

Chúa Giêsu là Vua các vua nhưng rất khiêm nhường. Ngài cưỡi lừa con vào Thành Thánh chứng tỏ Ngài là Vua. Từ nay chúng ta hãy chý ý: Chúa Giêsu thực sự xưng vương. Ngài muốn con đường Ngài đi và hành động của Ngài được hiểu rằng các lời hứa Cựu ước được hoàn tất nơi Ngài... Kinh Thánh cho biết rõ: "Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ" (Dcr 9:9). Ngài là Vua nhưng Ngài không có ý thu nạp quân đội hoặc âm mưu lật đổ chính quyền La Mã. Quyền hành của Ngài ở trong sự nghèo khó của Thiên Chúa, sự bình an của Thiên Chúa, sức mạnh đó có ơn cứu độ.

6. Phản ứng của đám đông biểu hiện điều gì?

Đám đông tung hô Chúa Giêsu chứng tỏ họ nhận biết Ngài là Đấng Thiên Sai. Họ trải áo cho Ngài đi qua là làm truyền thống Ít-ra-en, như khi dân chúng tôn vinh ông Giê-hu: "Họ vội vàng lấy áo choàng trải lên đầu thềm cấp, dưới chân ông. Họ thổi tù và, rồi hô lên: Giê-hu làm vua!" (2 V 9:13). Hành động của các môn đệ là động thái tôn phong theo truyền thống Vua Đa-vít, chứng tỏ niềm hy vọng vào Đấng Thiên Sai.

Đoàn người đến Giêrusalem với Chúa Giêsu được bắt gặp trong sự nhiệt thành của các môn đệ. Họ trải áo trên đường khi Chúa Giêsu đi qua, họ bẻ những cành lá vừa vẫy chào vừa tung hô chúc tụng: "Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời!" (Mc 11:9-10; x. Tv 118:26).

7. Chữ "Hosanna" nghĩa là gì?

ĐGH Benedict XVI giải thích: Nguồn gốc từ này là lời khẩn cầu, chẳng hạn như: "Xin đến cứu giúp chúng tôi!". Các tư tế lặp lại lời cầu này vào ngày thứ bảy của kỳ Lễ Lều Tạm, trong khi đi vòng quanh bàn thờ bảy lần, như lời khẩn khoản cầu mưa. Lễ Lều Tạm dần dần thay đổi từ lễ cầu xin trở thành lễ ca tụng, là tiếng kêu vui mừng.

Vào thờ Chúa Giêsu, từ này cũng ngụ ý Đấng Thiên Sai. Khi tung hô "thánh, thánh, thánh", chúng ta thấy có cảm xúc phức tạp của đám đông theo Chúa Giêsu và các môn đệ vào Thành Thánh: Vui mừng chúc tụng, hy vọng Đấng Thiên Sai đến, mong chờ Vương Triều Đa-vít, đặc biệt là Vương Quốc Thiên Chúa đến để quốc gia Ít-ra-en được tái lập.

8. Chỉ vài ngày sau, chính đám đông đón rước Chúa lại đòi đóng đinh Chúa Giêsu?

Cả bốn Phúc Âm đều nói rõ rằng lòng kính trọng Chúa Giêsu khi Ngài vào Thành Giêrusalem được thể hiện nhưng không phải tất cả đều là cư dân Giêrusalem. Thánh Mát-thêu cho biết: "Khi Đức Giêsu vào Giêrusalem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: 'Ông này là ai vậy?'. Dân chúng trả lời: 'Ngôn sứ Giêsu, người Nadarét, xứ Galilê đấy" (Mt 21:10-11).

Người ta nghe nói có một ngôn sứ xuất thân từ Na-da-rét, nhưng Chúa Giêsu không mấy quan trọng đối với Giêrusalem, thế nên người ta không biết Ngài là ai. Đám đông tỏ lòng kính trọng Chúa Giêsu tại cửa ngõ vào Thánh Giêrusalem không là đám đông đòi đóng đinh Ngài.

9. Trình thuật cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu thế nào?

Tài liệu Paschales Solemnitatis cho biết: Trình thuật cuộc khổ nạn chiếm vị trí đặc biệt. Trình thuật này – tức là Bài Thương Khó – nên được hát hoặc đọc theo truyền thống, nghĩa là có ba người thể hiện Bài Thương Khó: Một người đóng vai Chúa Giêsu, một người kể chuyện, và một người đóng các vai khác.

Khi đọc Bài Thương Khó, không có đèn nến hoặc xông hương, cũng không làm dấu Thánh Giá. Vì lợi ích tâm linh, Bài Thương Khó nên được công bố đầy đủ.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

--------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 3 of 172