mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7742
mod_vvisit_counterHôm Qua7509
mod_vvisit_counterTuần Này52083
mod_vvisit_counterTuần Trước52699
mod_vvisit_counterTháng Này120071
mod_vvisit_counterTháng Trước193615
mod_vvisit_counterTất cả12713994

We have: 110 guests, 1 members online
Your IP: 3.84.243.246
 , 
Today: Feb 15, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI ĐE SONG DAO - NGÀY 31-12-2018 PDF Print E-mail

31/12 - NGÀY CUỐI CÙNG NĂM 2018 - CÙNG TẠ ƠN CHÚA !

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: 1 Ga 2, 18-21

"Các con được Ðấng Thánh xức dầu, và các con biết mọi sự".

Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Hỡi các con, đây là giờ sau hết. Các con đã nghe biết là sẽ có Phản-Kitô đến, thì nay đã có nhiều Phản-Kitô xuất hiện, do đó chúng ta biết rằng đây là giờ sau hết. Họ ở giữa chúng ta mà ra, nhưng không thuộc về chúng ta, vì nếu họ thuộc về chúng ta, thì họ vẫn còn ở với chúng ta. Như vậy để chứng tỏ rằng không phải tất cả mọi người đều thuộc về chúng ta.

Còn các con, các con được Ðấng Thánh xức dầu, và các con biết mọi sự. Ta viết cho các con, không phải vì các con không biết sự thật, nhưng vì các con biết sự thật, và phàm là dối trá thì không (thể) do sự thật mà có.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 95, 1-2. 11-12. 13

Ðáp: Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan (c. 11a).

Xướng: 1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy chúc tụng danh Người, ngày ngày hãy loan truyền ơn Người cứu độ. - Ðáp.

2) Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan. Biển khơi và muôn vật trong đó hãy reo lên. Ðồng nội và muôn loài trong đó hãy mừng vui, các rừng cây hãy vui tươi hớn hở. - Ðáp.

3) Trước nhan Thiên Chúa, vì Người ngự tới, vì Người ngự tới cai quản địa cầu. Người sẽ cai quản địa cầu cách công minh, và chư dân cách chân thành. - Ðáp.

Alleluia: Dt 1, 2

Alleluia, alleluia! - Ngày thánh đã dọi ánh sáng trên chúng ta. Hỡi các dân, hãy tới thờ lạy Chúa, vì hôm nay ánh sáng chan hoà đã toả xuống trên địa cầu. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 1, 1-18

"Ngôi Lời đã làm người".

Bắt đầu Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thuỷ. Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận sự sáng.

Có một người được Thiên Chúa sai đến tên là Gioan. Ông đã đến nhằm việc chứng minh, để ông chứng minh về sự sáng, hầu cho mọi người nhờ ông mà tin. Chính ông không phải là sự sáng, nhưng đến để chứng minh về sự sáng. Vẫn có sự sáng thực, sự sáng soi tỏ cho hết mọi người sinh vào thế gian này. Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra.

Và Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý.

Gioan làm chứng về Người khi tuyên xưng rằng: "Ðây là Ðấng tôi tiên báo. Người đến sau tôi, nhưng xuất hiện trước tôi, vì Người có trước tôi". Chính do sự sung mãn Người mà chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác.

Bởi vì Chúa ban Lề luật qua Môsê, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Ðức Giêsu Kitô. Không ai nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Ðấng ngự trong Chúa Cha, sẽ mạc khải cho chúng ta.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Emmanuel nguyên thủy

Hôm nay là ngày 31/12, ngày cuối cùng trong một năm về dân sự, cũng là ngày thứ 7 trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh. Trong khi Bài Đọc 1 tiếp theo những gì của Bài Đọc 1 hôm qua thì Bài Phúc Âm hoàn toàn khác hắn, bài Phúc Âm trích lại tất cả đoạn nhập đề Phúc Âm của Thánh ký Gioan về "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14).

Vấn đề đầu tiên được đặt ra ở đây là tại sao vào chính ngày cuối năm dân sự mà Giáo Hội lại chọn đọc một bài Phúc Âm có câu mở đầu hoàn toàn có ý nghĩa ngược lại, đó là câu: "Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa"? Một đàng thì cuối năm theo dân sự nhưng lại "từ nguyên thủy" theo phụng vụ vào ngày 31/12 nghĩa là gì?

Ý nghĩa của vấn đề này có thể hiểu như sau: 1- thời gian một khi đi đến tận cùng thì trở về nguồn cội, về lại với nguyên thủy; 2- một ngày đối với Thiên Chúa được bắt đầu từ "một buổi tối và một buổi sáng" (Khởi Nguyên 1:5,8,13,19,23), chứ không phải từ sáng đến tối theo thể lý - phải chăng đó là lý do Lễ Chúa Nhật hằng tuần được bắt đầu từ chiều tối hôm trước, và Đại Lễ Giáng Sinh và Đại Lễ Phục Sinh được bắt đầu từ nửa đêm, hay Lễ Mẹ Thiên Chúa là ngày cuối cùng của Tuần Bát Nhật Giáng Sinh lại là ngày đầu năm dương lịch; 3- dù thời gian có qua đi những Thiên Chúa vẫn muôn đời tồn tại vô cùng vô tận.

Đúng thế, bài Phúc Âm cho ngày cuối cùng của một năm dân sự này về Ngôi Lời, một Ngôi Lời hằng hữu, một Ngôi Lời nhập thể và một Ngôi Lời thông ban.

Một Ngôi Lời hằng hữu: "Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thủy. Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không át được sự sáng".

Đoạn đầu tiên trong 3 đoạn mở đầu của bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: trước hết là bản tính thần linh của Lời - ở chỗ Lời có trước thời gian (chứ không phải Lời được tạo dựng trong thời gian), Lời hiện hữu nơi Thiên Chúa (vì Lời là chính ý nghĩ về mình của Thiên Chúa và nơi Thiên Chúa) và Lời là chính Thiên Chúa (Đấng tự hữu, hiện hữu và hằng hữu); sau nữa, chính vì bản tính thần linh của mình như thế mà Lời chính là nguyên lý tạo dựng nên mọi sự và là nguyên lý cho sự hiện hữu của tất cả mọi sự không phải là Thiên Chúa hay ngoại tại với Thiên Chúa; và sau hết cũng chính vì bản tính thần linh của mình mà Lời có sự sống thần linh để có thể tỏ mình ra và thông ban.

Một Ngôi Lời tỏ mình: "Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra".

Vì Lời, đối ngoại, là "sự sáng chiếu soi trong u tối" mà "Người vẫn ở trong thế gian", qua các nguyên tắc bất biến về luân lý hay qua các mầm mống thần linh nơi các đạo giáo, và cho dù "thế gian đã do Người tác tạo", nhưng "thế gian đã không nhận biết Người". Đối với dân riêng Do Thái của mình, "Người đã đến nhà các gia nhân Người", ở chỗ Người đã tỏ mình ra cho họ trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, nhưng tiếc thay "các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người", thậm chí còn sát hại Người nữa. Trái lại, "kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa", nghĩa là được tái sinh bởi trời: "do Thiên Chúa mà sinh ra".

Một Ngôi Lời thông ban: "Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý.... Chính do sự sung mãn Người mà chúng ta hết thảy tiếp nhận ơn này tới ơn khác. Bởi vì Chúa ban Lề luật qua Môsê, nhưng ơn thánh và chân lý thì ban qua Ðức Giêsu Kitô. Không ai nhìn thấy Thiên Chúa, nhưng chính Con Một Chúa, Ðấng ngự trong Chúa Cha, sẽ mạc khải cho chúng ta"

"Khi đến thời gian viên trọn" (Galata 4:4) thì "Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể" là Đức Giêsu Kitô, "và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi" như một Hài Nhi Giêsu ở Belem, một Thiếu Nhi ở Giêrusalem, một Thanh Niên ở Nazarét, một Đấng Thiên Sai đến không phải để được phục vụ mà là phục vụ, không phải để luận tội mà là để cứu độ, nhờ đó "chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý", Đấng "tỏ Cha ra" bằng việc tuân phục ý Cha là Đấng đã sai Người, "để khi hoàn tất Người đã trở nên căn nguyên cứu độ cho những ai tín phục Người" (Do Thái 5:9).

Bài Đọc 1 hôm nay, 31/12, khác hẳn với Bài Phúc Âm cùng ngày hôm nay, ngày cuối cùng của năm dương lịch, ở chỗ, ngay câu mở đầu của Bài Đọc 1 hôm nay, trích từ Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan, là thế này: "Hỡi các con, đây là giờ sau hết", mà ngày 31/12, ngày cuối cùng của một năm là tiêu biểu.

Thế nhưng, làm sao biết được "đây là giờ sau hết", nếu không phải, như Bài Đọc 1 hôm nay tiết lộ và khẳng định, có thể căn cứ vào hiện tượng "đã có nhiều Phản-Kitô xuất hiện, do đó chúng ta biết rằng đây là giờ sau hết". Thành phần "phản kitô" này là ai, nếu không phải là những người "xuất phát từ hàng ngũ của chúng ta nhưng không thuộc về chúng ta", bởi họ "chối bỏ Chúa Kitô đến trong xác thịt" (2Gioan 7), tức chối bỏ "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14).

Hiện tượng xuất hiện "kitô giả" hay "phản kitô" là thành phần chối bỏ Chúa Kitô, chối bỏ sự thật, là hiện tượng chẳng những cho thấy ngày cùng tháng tận mà còn cho thấy càng tiến đến ngày cùng tháng tận con người càng sống trong tăm tối, và vì thế họ càng phải được soi sáng bởi "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9) là "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14), Đấng "đã có từ nguyên thủy", Đấng bất biến cho dù thế gian có qua đi, và là Đấng sẽ canh tân tất cả mọi sự thành một trời mới đất mới là nơi Thiên Chúa muôn đời ngự trị (xem Khải Huyền 21:1-5), nơi không còn đêm và cửa không bao giờ đóng (xem Khải Huyền 21:25).

Vì Thiên Chúa là Đấng hiện hữu, không bao giờ qua đi, luôn mới mẻ, nhất là cho những ai cởi mở đón nhận Ngài và đáp ứng tác động thần linh của Ngài, mà Ngài phải được vũ trụ và địa cầu cùng nhau ngợi khen chúc tụng, như trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy chúc tụng danh Người, ngày ngày hãy loan truyền ơn Người cứu độ.

2) Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan. Biển khơi và muôn vật trong đó hãy reo lên. Ðồng nội và muôn loài trong đó hãy mừng vui, các rừng cây hãy vui tươi hớn hở.

3) Trước nhan Thiên Chúa, vì Người ngự tới, vì Người ngự tới cai quản địa cầu. Người sẽ cai quản địa cầu cách công minh, và chư dân cách chân thành.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

------------------------------

 
HỌC HOI DE SONG DAO - THU BAY TUAN BAT NHAT GS PDF Print E-mail

THỨ BẢY TUẦN BAT NHẬT  GS 29/12

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: 1 Ga 2, 3-11

"Ai thương yêu anh em mình thì ở trong sự sáng".

Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Các con thân mến, chính nơi điều này mà chúng ta biết rõ được là chúng ta biết Chúa Giêsu, nếu chúng ta giữ các giới răn Người. Ai nói mình biết Người, mà không giữ giới răn Người, là kẻ nói dối, và nơi người ấy không có chân lý. Còn ai giữ lời Người, thì quả thật tình yêu của Thiên Chúa đã tuyệt hảo nơi người ấy, và nhờ điều đó mà chúng ta biết được chúng ta ở trong Người. Ai nói mình ở trong Người, thì phải sống như Người đã sống.

Các con thân mến, đây không phải là một giới răn mới mà cha viết cho các con, nhưng là giới răn cũ các con đã có từ ban đầu. Giới răn cũ đó, là lời các con đã nghe rồi. Nhưng đây cha lại viết cho các con một điều răn mới, là điều chân thật nơi Người và nơi các con, vì tối tăm đang qua đi, và sự sáng đã soi đến rồi.

Ai nói mình ở trong sự sáng, mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong tối tăm. Ai thương yêu anh em mình, thì ở trong sự sáng, và nơi người ấy không có cớ vấp phạm. Còn ai ghét anh em mình, thì ở trong tối tăm, đi trong tối tăm và không biết mình đi đâu, vì tối tăm đã làm mù mắt họ.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 95, 1-2a. 2b-3. 5-6

Ðáp: Trời xanh hãy vui mừng và địa cầu hãy hân hoan (c. 11a).

Xướng: 1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy chúc tụng danh Người. - Ðáp.

2) Ngày ngày hãy loan truyền ơn Người cứu độ. Hãy tường thuật vinh quang Chúa giữa chư dân, và phép lạ Người ở nơi vạn quốc. - Ðáp.

3) Vì mọi chúa tể của chư dân là hư ảo, nhưng Thiên Chúa đã tác tạo trời xanh. Sáng láng và oai nghiêm toả trước thiên nhan, uy hùng và tráng lệ phủ trên ngai báu. - Ðáp.

Alleluia:

Alleluia, alleluia! - Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể và đã cư ngụ giữa chúng ta. Những ai tiếp nhận Người, thì Người ban cho họ được quyền làm con Thiên Chúa. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 2, 22-35

"Ánh sáng đã chiếu soi các lương dân".

Khi mãn thời hạn thanh tẩy theo Luật Môsê, ông bà đem Chúa Giêsu lên thành Giêrusalem, để dâng cho Chúa, như đã viết trong lề luật Chúa rằng: "Mọi con trai đầu lòng sẽ được gọi là của thánh, dâng cho Thiên Chúa", và việc dâng lễ vật như đã nói trong lề luật Chúa là "một cặp chim gáy, hoặc hai bồ câu con".

Và lúc đó tại Giêrusalem có một người tên là Simêon, là người công chính và có lòng kính sợ, đang mong đợi niềm an ủi Israel, có Thánh Thần ở trong ông. Ông được Thánh Thần mách bảo là sẽ không thấy giờ chết đến, trước khi thấy Ðấng Kitô của Chúa. Ðược Thánh Thần thúc giục, ông vào đền thờ. Khi cha mẹ bồng trẻ Giêsu đến để thi hành cho Người các nghi thức theo luật dạy, thì ông ẵm lấy Người trên cánh tay mình, và chúc tụng Thiên Chúa rằng:

"Lạy Chúa, bây giờ Chúa để cho tôi tớ Chúa đi bình an, theo như lời Chúa. Vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là ánh sáng đã chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa".

Cha mẹ Người đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà, và nói với Maria mẹ Người rằng: "Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà, để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ".

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Sau 3 lễ được Giáo Hội cố ý sắp xếp ngay sau Đại Lễ Giáng Sinh là Lễ Thánh Stephanô 26/12, Lễ Thánh Gioan Tông Đồ 27/12 và Lễ Các Thánh Anh Hài 28/12, thì đến các ngày còn lại trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, bao gồm cả Lễ Mẹ Thiên Chúa là ngày cuối cùng của Tuần Bát Nhật Giáng Sinh theo phụng niên của Giáo Hội cũng là ngày mở màn cho một năm mới của trần gian.

Bài Phúc Âm hôm nay cũng chính là bài Phúc Âm cho Lễ Chúa Giêsu được hiến dâng trong đền thờ ngày 2 thánh 2 hằng năm, thời điểm sau 40 ngày Người được hạ sinh. Tuy nhiên, bài Phúc Âm này vẫn được Giáo Hội chọn đọc cho ngày 29/12 hôm nay trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh có một ý nghĩa khác, không phải là ý nghĩa về biến cố hiến dâng mà là ý nghĩa về mầu nhiệm giáng sinh.

Thật vậy, bài Phúc Âm hôm nay được trích từ Phúc Âm Thánh Luca 2:22-35, không bao gồm câu 21 ngay trước đó, câu cũng ở ngay sau đoạn Phúc Âm Lễ Rạng Đông Giáng Sinh (Luca 2:15-20) về sự kiện các mục đồng đến thăm Hài Nhi Giêsu, đó là câu: "Khi Hài Nhi được đủ tám ngày, nghĩa là đến lúc phải làm lễ cắt bì, người ta đặt tên cho Hài Nhi là Giê-su; đó là tên mà sứ thần đã đặt cho Người trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ".

Bởi vì câu Phúc Âm về biến cố cắt bì này không thích hợp với ý nghĩa của ngày 29/12 trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh hôm nay. Nhưng nguyên bài Phúc Âm hôm nay về biến cố hiến dâng sau 40 ngày lại thích hợp với mầu nhiệm Giáng Sinh. Là vì trong bài Phúc Âm này, ở đoạn cuối, có hai câu liên quan đến chính bản thân của Hài Nhi Giêsu, cũng như liên quan đến cả thân phận Mẹ của Người nữa:

"Vì chính mắt con đã thấy ơn cứu độ mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là ánh sáng đã chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa... Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà, để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ".

Đúng thế, bài Phúc Âm hôm nay, 29/12, chất chứa hai câu Phúc Âm then chốt này là bài Phúc Âm ngay sau Lễ Các Thánh Anh Hài, một lễ không phải chỉ tưởng kính các hài nhi Belem đã chết thay và chết vì Hài Nhi Giêsu mà còn liên quan đến biến cố Thánh Gia thoát chạy sang Ai Cập lánh nạn nữa, một biến cố lánh nạn xẩy ra ngay sau sự kiện ba chiêm vương gia Đông phương đến bài thờ Hài Nhi Giêsu, "vua của người Do Thái mới sinh" (Mathêu 2:2).

Nghĩa là biến cố tị nạn sang Ai Cập sau biến cố ba chiêm vương gia Đông phương tìm đến triều bái Hài Nhi Giêsu có liên quan đến thành phần dân ngoại, tức liên quan đến vai trò cứu độ của Hài Nhi Giêsu, một nhân vật lịch sử tuy mang huyết thống Do Thái nhưng mang sứ mệnh cứu độ chung nhân loại là loài tạo vật có bản tính đã bị hư hoại bởi nguyên tội nhưng đã được Người mặc lấy và sử dụng như phương tiện và bí tích cứu độ trần gian.

Nếu biến cố ba chiêm vương gia đông phương theo ngôi sao lạ tìm đến bài thờ Hài Nhi Giêsu là "vua của người Do Thái mới sinh" tiêu biểu cho lòng con người khao khát thần linh và mong đợi một Đấng Tối Cao của mình, thì biến cố Hài Nhi Giêsu từ đất Do Thái sang nước Ai Cập tiêu biểu cho hành động thần linh như muốn đáp ứng nguyện vọng cứu độ của con người.

Nếu "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14) nơi Hài Nhi Giêsu thì nhân vật lịch sử Giêsu Thần Linh này chính là "ánh sáng thật chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9), chiếu soi từ dân Do Thái và từ đất Do Thái.

Đó là lý do, "được Thánh Thần thúc giục", vị tư tế lão thành Simeon trong Bài Phúc Âm hôm nay chẳng những đã tự động "vào đền thờ" ngay chính lúc "cha mẹ bồng trẻ Giêsu đến để thi hành cho Người các nghi thức theo luật dạy", mà còn nhận biết ngay Con Trẻ Thần Linh này nữa và nói những lời tiên tri hoàn toàn chính xác về thân phận của Người cũng như của Mẹ Người: "Chính mắt con đã thấy ơn cứu độ mà Chúa đã sắm sẵn trước mặt muôn dân, là ánh sáng đã chiếu soi các lương dân, và vinh quang của Israel dân Chúa".

Tuy nhiên, vị tư tế lão thành hằng trông đợi Đấng Thiên Sai mà ông bấy giờ đã được diễm phúc "ẵm lấy Người trên cánh tay mình" không phải chỉ dừng lại ở chỗ nhận biết mà còn nói tiên tri về việc thực hiện ơn cứu độ này nữa, để nhờ đó mang lại phần rỗi cho "muôn dân" hay "lương dân", đó là: "Con Trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối".

Mà quả thực đã xẩy ra đúng như vậy, với biến cố đầu tiên là "Con Trẻ này" vừa mới được sinh ra còn non nớt đã phải thoát chạy sang Ai Cập, một thoát chạy có vẻ thua kém và đầu hàng trước quyền lực của trần gian, không thể tự cứu được mình, nhưng lại là một thoát chạy mang ý nghĩa "chiếu soi các lương dân" nơi đất nước Ai Cập là quốc gia tiêu biểu vốn có một liên hệ mật thiết với lịch sử cứu độ của dân Do Thái trong Cựu Ước.

Và trong cuộc thoát chạy của "Con Trẻ này", cho dù có được Bõ Giuse của Người đóng vai chính thực hiện chăng nữa, nhưng phải nói chỉ có Mẹ của Người, một đệ nhất tạo vật về ân sủng, một tạo vật thân mật với Người nhất, hơn hết mọi tạo vật, hiểu Người nhất và kính mến Người nhất, không có một tạo vật nào sánh bằng, mới đau khổ nhất, đau khổ hơn ai hết, đau khổ khôn cùng khi thấy "Con Đấng Tối Cao... Con Thiên Chúa" (Luca 1:32,35) của mình còn non nớt như vậy mà đã bắt đầu phải chịu cuộc khổ nạn cứu chuộc của Người, một cuộc khổ nạn và tử giá sau này chính Mẹ sẽ đồng công cộng tác khi đứng dưới chân thập giá của Người (xem Gioan 19:25), quằn quại khổ đau "như bị gươm sắc thâu qua lòng", đúng như lời của vị tư tế lão thành Simeon tiên báo trong Bài Phúc Âm hôm nay.

Bài Đọc 1 hôm nay, được trích từ Thư 1 của Thánh Gioan, tiếp ngay sau Bài Đọc 1 hôm qua, Lễ Các Thánh Anh Hài, cũng cho thấy ý nghĩa của Lễ Các Thánh Anh Hài có liên quan đến hôm nay và ngày mai, vì ngày mai phụng vụ Lời Chúa vẫn tiếp tục cả Bài Đọc 1 hôm nay lẫn Bài Phúc Âm hôm nay.

Căn cứ vào mối liên hệ về phụng vụ Lời Chúa từ hôm qua đến hôm nay trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh thì câu chính yếu của Bài Đọc 1 hôm nay là câu "tối tăm đang qua đi, và sự sáng đã soi đến rồi. Ai nói mình ở trong sự sáng, mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong tối tăm. Ai thương yêu anh em mình, thì ở trong sự sáng, và nơi người ấy không có cớ vấp phạm. Còn ai ghét anh em mình, thì ở trong tối tăm, đi trong tối tăm và không biết mình đi đâu, vì tối tăm đã làm mù mắt họ".

"Sự sáng đã soi đến rồi" đây chính là "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14) nơi Hài Nhi Giêsu, và vì thế đã làm cho "tối tăm đang qua đi", (chứ không phải là đã qua đi). "Tối tăm đang qua đi" là vì những ai tin vào Người, không phải chỉ ở chỗ "nhận biết Người" và "chấp nhận Người" (Gioan 1:10-11) nơi Phép Rửa theo nghi thức, mà nhất là còn phải sống bác ái yêu thương nữa, bằng không họ "vẫn còn ở trong tối tăm", vì Người không phải chỉ là "ánh sáng thế gian" chiếu soi vậy thôi mà là "ánh sáng sự sống / ánh sáng ban sự sống" (Gioan 8:12): "Thày là đường, là sự thật và là sự sống" (Gioan 14:6).

Đó là lý do "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" (Gioan 19:26; 20:2; 21:7,20) đã chí lý nhắc nhở và huấn dụ các Kitô hữu môn đệ Chúa Kitô là thành phần chứng nhân của Người, "là ánh sáng thế gian" (Mathêu 5:14) phản ảnh Người "là ánh sáng thế gian" rằng: "Ai nói mình ở trong sự sáng, mà lại ghét anh em mình, thì vẫn còn ở trong tối tăm. Ai thương yêu anh em mình, thì ở trong sự sáng, và nơi người ấy không có cớ vấp phạm. Còn ai ghét anh em mình, thì ở trong tối tăm, đi trong tối tăm và không biết mình đi đâu, vì tối tăm đã làm mù mắt họ".

Vì "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14) nơi Hài Nhi Giêsu, "là ánh sáng đã chiếu soi các lương dân" như thế mà "toàn thể địa cầu... hãy loan truyền ơn Người cứu độ", đúng như cảm nhận hân hoan chúc tụng của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy ca mừng Thiên Chúa, hãy chúc tụng danh Người.

2) Ngày ngày hãy loan truyền ơn Người cứu độ. Hãy tường thuật vinh quang Chúa giữa chư dân, và phép lạ Người ở nơi vạn quốc.

3) Vì mọi chúa tể của chư dân là hư ảo, nhưng Thiên Chúa đã tác tạo trời xanh. Sáng láng và oai nghiêm toả trước thiên nhan, uy hùng và tráng lệ phủ trên ngai báu.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

----------------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CAC THANH ANH HAI PDF Print E-mail

28/12

Lễ Các Thánh Anh Hài

HỌC HỎI- CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: 1 Ga 1, 5 - 2,2

"Máu Chúa Giêsu Kitô rửa chúng tôi sạch mọi tội lỗi".

Trích thư thứ nhất của Thánh Gioan Tông đồ.

Các con thân mến, đây là sứ điệp chúng tôi nhận được bởi Chúa, và chúng tôi loan truyền cho các con: Thiên Chúa là sự sáng và nơi Người không có sự tối tăm nào. Nếu chúng tôi nói rằng chúng tôi thông hảo với Người, mà chúng tôi đi trong đường tối tăm, thì chúng tôi nói dối, và chúng tôi không thực thi chân lý. Nếu chúng tôi đi trong ánh sáng, cũng như chính Người ở trong ánh sáng, thì chúng tôi có sự thông hảo với nhau; và máu Chúa Giêsu Kitô Con Người rửa chúng tôi sạch mọi tội lỗi.

Nếu chúng tôi nói rằng mình không có tội, thì chúng tôi lừa dối mình, và trong người chúng tôi không có chân lý. Nếu chúng tôi xưng tội mình ra, thì Người là Ðấng trung thành và công chính, sẽ tha tội cho chúng tôi, và rửa sạch chúng tôi khỏi điều gian ác. Nếu chúng tôi nói rằng chúng tôi không phạm tội, thì chúng tôi coi Người là kẻ nói dối, và lời của Người không ở trong chúng tôi.

Các con thân mến, cha viết những điều này cho các con, để các con đừng phạm tội, nhưng nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Ðức Giêsu Kitô, Ðấng công chính làm trạng sư nơi Ðức Chúa Cha. Chính Người là của lễ đền tội chúng ta, không nguyên đền tội chúng ta mà thôi, nhưng còn đền tội cho cả thế gian.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 123, 2-3. 4-5. 7b-8

Ðáp: Hồn chúng tôi như chim non, thoát khỏi lưới dò của người gài bẫy bắt chim (c. 7a).

Xướng: 1) Nếu như Chúa không che chở chúng tôi, khi thiên hạ cùng chúng tôi gây hấn, bấy giờ người ta đã nuốt sống chúng tôi rồi, khi họ bừng bừng giận dữ chúng tôi. - Ðáp.

2) Bấy giờ nước cả đã lôi cuốn mất, trào lưu đã ngập lút con người chúng tôi, bấy giờ sóng cả kiêu hùng đã ngập lút chúng tôi. - Ðáp.

3) Lưới dò đã đứt gãy, và chúng tôi đã thoát thân. Ơn phù trợ chúng tôi ở nơi danh Chúa, là Ðấng tạo thành trời đất. - Ðáp.

Alleluia:

Alleluia, alleluia! - Chúng con ca ngợi Chúa là Thiên Chúa; tinh binh các Ðấng Tử Ðạo ca ngợi Chúa. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 2, 13-18

"Hêrôđê giết hết các con trẻ ở Bêlem".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi các đạo sĩ ra đi, thiên thần Chúa hiện ra với ông Giuse trong lúc ngủ và bảo ông: "Hãy thức dậy, đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và ở đó cho tới khi tôi báo lại ông, vì Hêrođê sắp sửa tìm kiếm Hài Nhi để sát hại Người". Ông thức dậy, đem Hài Nhi và mẹ Người lên đường trốn sang Ai-cập đang lúc ban đêm. Ông ở lại đó cho tới khi Hêrođê băng hà, hầu làm trọn điều Chúa dùng miệng tiên tri mà phán rằng: "Ta gọi con Ta ra khỏi Ai-cập".

Bấy giờ Hêrođê thấy mình bị các đạo sĩ đánh lừa, nên nổi cơn thịnh nộ và sai quân đi giết tất cả con trẻ ở Bêlem và vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo thời gian vua đã cặn kẽ hỏi các đạo sĩ. Thế là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia đã nói: Tại Rama, người ta nghe tiếng khóc than nức nở, đó là tiếng bà Rakhel than khóc con mình, bà không chịu cho người ta an ủi bà, vì các con bà không còn nữa.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Cũng vẫn theo lịch trình phụng niên thì sau Lễ Thánh Stephanô 26/12 và Lễ Thánh Gioan Tông Đồ 27/12 là đến Lễ Các Thánh Anh Hài 28/12, một bộ ba lễ được Giáo Hội cố ý xếp trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh và ngay sau Đại Lễ Giáng Sinh. Có cái hay ở đây là trong Cựu Ước, có một số nhân vật nổi tiếng, như Tổ Phụ Abraham, như Nhà Giải Phóng Moisen, như Vua Đavít, như Tiên Tri Elia v.v. thế mà không một vị nào được Giáo Hội Kitô giáo nói chung và Công giáo nói riêng tôn kính trong phụng vụ của mình, như Thánh Giuse, như cha mẹ của Mẹ Maria là Gioakim và Anna, hay như Tiền Hô Gioan Tẩy Giả. Các Thánh Anh Hài là thành phần được GIáo Hội tưởng kính trong phụng vụ của mình như các vị thánh, vì có liên hệ chặt chẽ với Lời Nhập Thể.

Biến cố các trẻ em Do Thái vô tội bị sát hại được Giáo Hội mừng kính hôm nay như Các Thánh Anh Hài, những em bé đã chết thay cho Hài Nhi Giêsu và chết vì Hài Nhi Giêsu, đã được Thánh ký Mathêu thuật lại trong Bài Phúc Âm hôm nay như sau:

"Khi các đạo sĩ ra đi, thiên thần Chúa hiện ra với ông Giuse trong lúc ngủ và bảo ông: 'Hãy thức dậy, đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và ở đó cho tới khi tôi báo lại ông, vì Hêrođê sắp sửa tìm kiếm Hài Nhi để sát hại Người'. Ông thức dậy, đem Hài Nhi và mẹ Người lên đường trốn sang Ai-cập đang lúc ban đêm. Ông ở lại đó cho tới khi Hêrođê băng hà, hầu làm trọn điều Chúa dùng miệng tiên tri mà phán rằng: 'Ta gọi con Ta ra khỏi Ai-cập'.

"Bấy giờ Hêrođê thấy mình bị các đạo sĩ đánh lừa, nên nổi cơn thịnh nộ và sai quân đi giết tất cả con trẻ ở Bêlem và vùng phụ cận, từ hai tuổi trở xuống, tính theo thời gian vua đã cặn kẽ hỏi các đạo sĩ. Thế là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia đã nói: Tại Rama, người ta nghe tiếng khóc than nức nở, đó là tiếng bà Rakhel than khóc con mình, bà không chịu cho người ta an ủi bà, vì các con bà không còn nữa".

Căn cứ vào bài Phúc Âm được Thánh ký Mathêu thuật lại trên đây thì thời điểm các Thánh Anh Hài bị Vua Hêrôđê sát hại vào khoảng sau thời gian 2 năm Hài Nhi Giêsu được hạ sinh ở Bêlem. Nghĩa là Hài Nhi Giêsu sau khi được hạ sinh vẫn còn ở Belem chứ không trở về Nazarét ngay.

Chắc có lẽ vì Người còn non nớt nên cha mẹ của Người không muốn Người phải sớm bị gian nan khốn khó cùng với cha mẹ từ Belem ở miền nam nước Do Thái để vượt khoảng đường trường 70 - 80 dặm (120 cây số từ Nazarét tới Giêrusalem và 10 cây số từ Giêrusalem tới Belem) đi bộ trở về Nazarét ở miền bắc nước Do Thái, với một thời gian cả tuần lễ lâu la, phải đi từ từ chầm chậm vì có con thơ.

Và như thế, thời gian ba chiêm vương gia Đông phương đến bái thờ Người tại Belem phải xẩy ra mãi sau này, chứ không ngay sau khi Người được hạ sinh mấy ngày hay mấy tuần hoặc mấy tháng, mà có thể là cả năm hay hơn vậy nữa, vì đường đi vừa dài lại vừa bị lạc.

Chắc chắn bấy giờ, khi ba chiêm vương gia Đông phương này tới thì Hài Nhi Giêsu không còn ở ngoài hang lừa máng cỏ bất đắc dĩ như chính đêm Người được hạ sinh nữa, mà là ở một nơi nào đó, như trọ nhờ ở nhà của một người có lòng hảo tâm nào đó thuộc khu vực Belem chẳng hạn. Đó là lý do, Thánh ký Mathêu cho biết là "khi tiến vào nhà, họ thấy con trẻ với Mẹ của Người" (Mathêu 2:11).

Thế nhưng, dù cha mẹ trần gian của Con Trẻ Thần Linh có chăm lo gìn giữ cho Người không vội trở về nhà của ông bà ở Nazarét xa xôi, Cha trên trời của Người, Đấng đã sai Người, lại bắt Ngôi Con nhập thể làm người của Ngài phải trải qua một khoảng đường còn xa xôi vất vả hơn khoảng cách từ Belem về Nazarét nữa, tức là từ Belem sang Ai Cập, về hướng Tây Nam, trải qua một khoảng đường dài hơn gấp đôi (175 dặm hay 281.6 cây số): từ Belem đến biên giới Ai Cập là 75 dặm (hay 120.7 cây số), và từ biên giới Ai Cập đến khu vực chung sống của dân Do Thái ở Ai Cập là 100 dặm (hay 160.9 cây số).

Về lý do tại sao Thánh Gia phải chạy trốn, Phúc Âm đã cho biết: - là vì Vua Hêrôđê tìm sát hại Con Trẻ, và tại sao Vua Hêrôđê lại tìm giết Hài Nhi Giêsu - là vì Người là "vua của người Do Thái mới sinh" (Mathêu 2:2), theo như ba chiêm vương gia dò hỏi ở Giêrusalem sau khi các vị bị lạc mất ngôi sao lạ để biết nơi mà "đến triều bái Người" (Mathêu 2:2).

Phải chăng nhân vật Hêrôđê tìm sát hại Hài Nhi Giêsu ấy là tên phản kitô đầu tiên trong lịch sử loài người, một con người chủ trương "không chấp nhận Chúa Kitô đến trong xác thịt" (xem 2Gioan 7 và 1Gioan 2:22), hoàn toàn phản ảnh tinh thần và đường lối của Con Khủng Long ngay từ ban đầu: "Bấy giờ Con Rồng đứng trước người nữ sắp sinh con rình chực nuốt người con của người nữ khi bé được sinh ra" (Khải Huyền 12:4).

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao trong biến cố thoát chạy này Thánh Gia không chọn con đường gần (từ Belem về Nazarét) mà là con đường xa (từ Belem sang Ai Cập) để trốn chạy Vua Hêrôđê như thế? Tất nhiên là vì lệnh báo của trời cao qua giấc mộng của Thánh Giuse, như bài Phúc Âm cho biết, và cũng theo cùng bài Phúc Âm hôm nay, thì chỉ sau khi sang Ai Cập rồi Thánh Gia mới về Nazarét. Thế nhưng tại sao Thiên Chúa lại cố ý muốn chung Thánh Gia và Con của Ngài sang Ai Cập trước khi trở về Nazarét??

Tại vì để cho Lời Kinh Thánh được nên trọn, như bài Phúc Âm hôm nay cho biết: "Ta đã gọi Con Ta ra khỏi Ai Cập" (Hosea 11:1). Vì Ai Cập là nơi dân Do Thái đã sống cuộc đời làm tôi kéo dài 430 năm (xem Xuất Hành 12:40) từ khi gia đình 70 người của tổ phụ Giacóp vì nạn đói hoành hành đã phải sang lánh nạn dưới thời quan đệ nhị Giuse, người con trai thứ 11 của vị tổ phụ này (xem Khởi Nguyên 3 đoạn 45, 46 và 47). Chính Thiên Chúa đã muốn đại gia đình của vị tổ phụ này sang Ai Cập, sống nhờ đất nước này mà phát triển về dân số để thành như một quốc gia, sau đó chính Ngài sẽ mang họ về mảnh đất mà Ngài đã hứa cùng tổ phụ Abraham (xem Khởi Nguyên 46:3-4; 12:7).

Ngoài ra, nếu biến cố "Ta gọi con Ta ra khỏi Ai Cập" liên quan đến sự kiện các con trai đầu lòng của dân Ai Cập bị thiên thần sát hại vào ban đêm thế nào thì các bé trai ở Belem cũng bị Vua Hêrôđê sát hại, khiến Hài Nhi Giêsu phải lánh sang Ai Cập cho tới khi được gọi ra khỏi đất Ai Cập, qua mộng báo cho dưỡng phụ Giuse của Người (xem Mathêu 2:19), để trở về đất Do Thái như thể mang dân Ai Cập về nguồn cứu độ của và với dân Do Thái vậy.

Thế nhưng, để thực hiện một biến cố cho Lời Kinh Thánh được nên trọn như thế, biến cố "Ta gọi con ta ra khỏi Ai Cập", mà chẳng lẽ cần đến bao nhiêu là mạng sống hài nhi vô tội hay sao? Chỉ cần Thiên Thần báo mộng cho Thánh Giuse là Thiên Chúa muốn Thánh Gia sang Ai Cập một thời gian rồi trở về Nazarét cũng được vậy, đâu cần phải liên quan đến mạng sống của bằng ấy hài nhi. Tuy nhiên, biến cố các hài nhi ở Belem bị sát hại cũng là biến cố cần phải nên trọn theo Lời Thánh Kinh như trong bài Phúc Âm hôm nay cho biết: "Tại Rama, người ta nghe tiếng khóc than nức nở, đó là tiếng bà Rakhel than khóc con mình, bà không chịu cho người ta an ủi bà, vì các con bà không còn nữa" (Giêrêmia 31:15).

Như thế, biến cố Vua Hêrôđê tìm sát hại Chúa Giêsu, khiến Người phải trốn sang Ai Cập, và vì thế các hài nhi khác bị giết chết thay cho Người hoàn toàn là do Thiên Chúa sắp xếp theo ý định thần linh đầy mầu nhiệm của Ngài, một mầu nhiệm liên quan đến cả phần rỗi của dân Do Thái lẫn dân ngoại. Ở chỗ, máu của các hài nhi đổ ra thay cho Hài Nhi Giêsu, Đấng Thiên Sai Cứu Thế, xuất thân từ đất nước và dân tộc Do Thái nhưng để cứu độ toàn thể nhân loại bằng giá máu mạng sống của mình, một nhân loại được tiêu biểu nơi ba vị chiêm vương gia tìm đến với Người cũng như nơi dân Ai Cập. Như thế, máu vô tội của các hài nhi Bêlem là dấu báo trước máu cứu độ trần gian của Chúa Kitô vậy.

Vấn đề được đặt ra ở đây là, theo nguyên tắc, muốn có công, con người cần phải ý thức và chấp nhận, trong khi đó các thánh Anh Hài dù có linh hồn cũng vẫn chưa có trí khôn, nghĩa là chưa biết suy nghĩ và chọn lựa, thì làm sao các em trở thành các vị thánh tử đạo vì Chúa Kitô, các em đã thấy Chúa Kitô và biết Người ra sao đâu mà tin và hy sinh đổ máu vì Người. Tuy nhiên, căn cứ vào 2 yếu tố khách quan và chủ quan sau đây, chúng ta thấy các em thật sự được Giáo Hội có lý mà tôn kính như Các Thánh Anh Hài, được tưởng kính trong phụng vụ.

Yếu tố khách quan. Ở chỗ, cho dù chúng ta không biết và không có ý, việc làm của chúng ta vẫn có thể trở thành tội. Chẳng hạn giết người tưởng là con vật. Cái hậu quả của việc sát hại đã biến hành động vô thức và vô ý của đương sự biến thành hành động tội phạm, cần phải đền. Con người ta sinh vào đời, dù còn vô tội, nhưng vẫn mắc nguyên tội là tội họ không phạm.

Yếu tố chủ quan, một đứa bé lãnh nhận phép rửa mà chẳng biết gì, phép rửa vẫn thành, nhờ ý muốn của cha mẹ. Như khi cha mẹ nó muốn có con, thì đứa bé được thụ thai và hạ sinh cho dù chẳng biết gì và chẳng biết có muốn làm con của họ hay chăng, vẫn sinh vào trần gian như thường. Sự kiện các bé 2 tuổi trở xuống ở Belem bị quận vương Hêrôđê sát hại cũng thế, theo ý định khôn ngoan vô cùng và nhân hậu của Thiên Chúa, Đấng để xẩy ra biến cố bất hạnh ấy cho các bé, nhờ ý muốn tối hậu và toàn thiện của Thiên Chúa, đã đủ thánh hóa sự kiện đó và biến sự kiện đó thành một sự kiện phản ảnh cuộc tử nạn của Con Ngài sau này.

Một vấn đề liên hệ cũng cần được giải quyết đó là các thai nhi bị phá trong lòng mẹ có được cứu độ hay chăng, vì các em chưa được chịu phép rửa? Theo người viết này thì các thai nhi bị phá trong lòng mẹ được cứu độ! Tại sao - Tại vì Thiên Chúa "muốn tất cả mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Timotheu 2:4) nơi Con Ngài là Chúa Giêsu Kitô, nhất là những ai tin vào Con của Ngài, Đấng "sẽ xuất hiện lần thứ hai là để mang ơn cứu độ đến cho những ai thiết tha trông đợi Người" (Do Thái 9:28). Các thai nhi khi bị phá thực sự chưa có trí khôn để suy nghĩ và nhận biết Chúa Kirtô mà được cứu độ, nên vẫn còn ở dưới Lâm Bô, nơi vô thưởng vô phạt, như trên thiên đàng hay dưới hỏa ngục hoặc trong luyện ngục.

Nhưng vì ở trong trạng thái không còn thời không (thời gian và không gian) nên các thai nhi đã ý thức mình đang ở đâu và vì thế rất mong được cứu độ về thiên đàng, và cuối cùng khi Chúa Kitô xuất hiện lần thứ hai các em đang trông đợi Người sẽ được cứu độ, như các thánh tổ tông được Chúa Kitô xuống mang lên sau cuộc tử nạn của Người vậy. Sau tận thế mọi sự sẽ được canh tân đổi mới, và chỉ cón thiên đàng và hỏa ngục thôi, không thể nào còn một nơi hay một trạng thái vô thưởng vô phải đời đời kiếp kiếp như ở Lâm Bô, một tình trạng không thích hợp với dự án thần linh của Vị Thiên Chúa hóa công muốn tạo dựng nên con người là để hiệp thông thần linh với Ngài vô cùng bất tận trên thiên đàng.

Đáp Ca cho Thánh Ca Tin Mừng Giờ Phụng Vụ Kinh Sáng đã cảm nhận về thân phận cùng diễm phúc của các hài nhi Belem bị sát hại, chết thay cho Hài Nhi Giêsu và chết vì Hài Nhi Giêsu như sau:

Bao trẻ thơ măng sữa

chết bởi tay bạo chúa hung tàn!

Bao hài nhi vô tội
bị sát hại vì danh Ðức Kitô,
nay được đi theo Người
là Con Chiên vô tỳ tích.
Miệng các em chẳng ngớt tung hô:
Lạy Chúa, Ngài vinh hiển muôn đời!

Bài Đọc 1 hôm nay, được trích từ Thư 1 của Thánh Gioan, cũng đã nói đến máu cứu độ của Chúa Kitô ngay trong Lễ Các Thánh Anh Hài này, vì, như trên đã cảm nhận, máu của Các Thánh Anh Hài như báo trước máu cứu độ vô giá của Chúa Kitô, Đấng Thiên Sai (của Do Thái / "chúng ta") cũng chính là Đấng Cứu Độ (của dân ngoại / "thế gian"): "chúng ta có Ðức Giêsu Kitô, Ðấng công chính làm trạng sư nơi Ðức Chúa Cha. Chính Người là của lễ đền tội chúng ta, không nguyên đền tội chúng ta (ám chỉ Do Thái) mà thôi, nhưng còn đền tội cho cả thế gian (ám chỉ Dân Ngoại)".

Bài Đáp Ca hôm nay như vang vọng tâm tình của Các Thánh Anh Hài, những trẻ thơ vô tội ở Belem xưa, tuy chưa ý thức được ý nghĩa sâu xa của số phận bị sát hại oan uổng của mình là được chết cho Đấng Cứu Thế và báo trước cuộc đổ máu của Người, nhưng chính máu của các vị thánh Anh Hài này đã là một dấu chứng hùng hồn cho một niềm tin tưởng vào Thiên Chúa Hóa Công là Đấng Quan Phòng mọi sự cho vinh danh của Ngài và phần rỗi nhân loại:

1) Nếu như Chúa không che chở chúng tôi, khi thiên hạ cùng chúng tôi gây hấn, bấy giờ người ta đã nuốt sống chúng tôi rồi, khi họ bừng bừng giận dữ chúng tôi.

2) Bấy giờ nước cả đã lôi cuốn mất, trào lưu đã ngập lút con người chúng tôi, bấy giờ sóng cả kiêu hùng đã ngập lút chúng tôi.

3) Lưới dò đã đứt gãy, và chúng tôi đã thoát thân. Ơn phù trợ chúng tôi ở nơi danh Chúa, là Ðấng tạo thành trời đất.

Lời nguyện Phụng Vụ Giờ Kinh Sách, Kinh Sáng và Kinh Trưa Lễ Các Thánh Anh Hài:

Lạy Chúa, các thánh Anh Hài đã không dùng lời nói, nhưng dùng chính cái chết của mình mà tuyên xưng danh Chúa. Xin cho chúng con biết lấy cả cuộc đời mà minh chứng niềm tin như chúng con vẫn tuyên xưng ngoài miệng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

-----------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - DUC TIN LA GI? - CHA HUAN NGO PDF Print E-mail

ĐỨC TIN LÀ GÌ và PHẢI SỐNG ĐỨC TIN THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI?
Hỏi:
Xin cha giải thich thêm về đức tin và phải sống đức tin thế nào để được cứu rỗi.
Trả lời
Đức tin là một trong ba nhân đức đối thần hay thần học ( tin,cậy, mến) (Theological Virtues)
nhờ đó chúng ta nhận biết và tin có Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo dựng muôn loài muôn vật
trong đó có con người, “được tạo dựng giống hình ảnh của Thiên Chúa” (St 1: 27).


Nhưng muốn có đức tin thì trước hết phải nhờ ơn Chúa ban cho như một quà tặng quí giá mà
không ai có thể tự sắm cho mình hay nhờ phương thế tự nhiên nào, hoặc học ở một trường Đại
Học nào trên thế giới mà có được đức tin.
Nghĩa là tiên vàn phải là ơn Chúa ban cho ai thì người đó được đức tin. Qua quà tăng này,
Thiên Chúa đã tự mặc khải mình để cho phép ta tin có Chúa, dù không hề trông thấy hay nghe
tiếng Người bằng tai và mắt mà vẫn vững chắc tin và sống theo Thánh ý của Người để được chúc
phúc và cứu rỗi. Nói khác đi, nếu Thiên Chúa không tự mặc khải Người cho chúng ta thì không
bao giờ chúng ta có thể biết Ngài là AI để tin và yêu mến, đúng như Chúa Giêsu đã nói :
“Không ai đến với Thầy được, nếu Chúa Cha không ban ơn ấy cho.” (Ga 6: 65)


Có nghĩa là không ai có thể biết Chúa Con, nếu Chúa Cha không ban ơn mở trí cho người ấy.
Chính vì không nhận biết Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa đã đến trần gian trong thân phận
Con Người nên người Do Thái đã đóng đanh Chúa trên thập giá năm xưa.Như thế chúng ta,
người tin hữu Chúa Kitô, thật có diễm phúc vì được Chúa Cha ban quà tặng đức tin như Chúa
Giêsu đã cám ơn Chúa Cha thay cho chúng ta về quà tặng quí giá này như sau:
“Lậy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho
bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé
mọn. Vâng lậy Cha, đó là điều đẹp ý Cha.” ( Mc 10: 21)
Như vậy, chính nhờ ơn mặc khải đức tin Chúa Cha ban mà chúng ta, những kẻ bé mọn đã nhận
được, nên chúng ta mới biết và tin có Thiên Chúa là Cha toàn năng, tin Chúa Ngôi Hai đã
xuống trần gian làm Con Người để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội, cũng như tin Chúa
Thánh Thần là Thần Chân Lý và là Đấng ban sự sống.
Đó là Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi (The Holy Trinity), tức Một Thiên Chúa với Ba Ngôi vị riêng
rẽ nhưng cùng một bản thể (Consubstance) và uy quyền như nhau. Mầu nhiệm này đòi hỏi phải
có đức tin thì mới chấp nhận được, vì không thể giải thích hợp lý được theo luận lý (logic) hay
bất cứ khoa học nào của con người. Khoa học và thông thái của con người chỉ giúp sáng tạo ra
những tiện nghi cho cuộc sống vất chất cũng như chế tạo ra những vũ khí cực mạnh để giết hại
lẫn nhau chứ không thể giúp con người nhận biết có Thiên Chúa là Chủ Tể của mọi loài, mọi vật
hứu hình và vô hình. Chỉ có đức tin mới giúp con người khám phá ra Thiên Chúa để tin yêu mến
Ngài là Cha cực tốt cực lành, Đấng tạo dựng con người có hồn có xác và đã cứu chuộc con
người nhờ Chúa Cứu Thế Giêsu, Đấng cũng vì yêu thương mà đã vui lòng đến trần gian làm Con
Người để “ hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người” ( Mt 20:28).
Thật vậy, khi Chúa Giêsu sinh xuống trần gian làm Con Người, chính Chúa Cha đã mở trí cho
những kẻ chăn chiên và ba đao sĩ phương Đông, nên họ đã mau mắn đi tìm để thờ lậy “một Hài
Nhi” nằm trong máng cỏ, vì họ tin đó “là Đấng Thiên Sai (Messiah) là Chúa Kitô đã đến để
giải thoát cho con người khỏi ách nô lệ tội lỗi và có hy vọng được cứu rỗi, nhờ tin vào Chúa và
sống theo đường lối của Người là “con Đường, là sự Thật và là sự Sống.” (Ga 14: 6)
Ngược lại, đa số người Do Thái, đặc biệt là các trưởng lão, đạo sĩ, và luật sĩ – đã không đến
thờ lậy Chúa vì họ không có đức tin để nhận biết “Con Trẻ nằm trong máng cỏ” là Chúa
Giêsu-Kitô là chính Đấng Thiên Sai, Messiah, mà các Ngôn sứ đã loan báo trong thời Cựu Ước.
Vì thế họ đã thờ ơ, không đón tiếp Người như Tin Mừng Thánh Gioan đã viết: “Người đã đến
nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.” (Ga 1: 11)
Họ chẳng chiu đón nhận Chúa vì họ không thể tin được rằng Đấng Thiên Sai lại có thể
giáng sinh trong một hoàn cảnh vô cùng khó hèn như vậy nơi hang bò lừa.giữa mùa đông
giá rét nơi hang đá Be-lem
Nhưng họ không biết rằng “ Chúa Kitô vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên
nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được trở nên giầu có”
như thánh Phaolô đã dạy không sai lầm .(2Cor 8:9) Chính sự cứng lòng tin này từ đầu
của dân Do Thái mà cuối cùng họ đã đóng đanh Chúa Giêsu trên thập giá như một tội
phạm trong khi Chúa hoàn toàn vô tội nhưng đã vui lòng chịu mọi khốn khó, đau khổ để
đền tôi thay cho toàn thể nhân loại đáng phải phạt vì tội lỗi. Chúa đã vui lòng vác thập giá
để bị đóng đanh và chết đau thương trên thập giá,. “Một điều mà người Do Thái coi là ô
nhục không thể chấp nhận, dân ngoại cho là điên rồ, nhưng đối với những ai được Thiên
Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, là sức mạnh và sự
khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cor 1 : 23-24)
Như thế chỉ có đức tin mới cho phép con người nhận ra trước hết Chúa Giêsu,Ngôi Lời đã
nhập thể trong thân phận “một Trẻ Sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ” (Lc 2: 12) và sau
này đã trở thành một “Tử tội bị đóng đanh cách nhục nhã trên thập giá”.Nhưng đối với
những ai có niềm tin Thiên Chúa thì đó chính là Đức Kitô, Đấng Thiên Sai mà các ngôn sứ
đã loan báo từ thời Cựu Ước, cuối cùng đã đến làm Con Người, như mọi người trong nhân
loại trừ tội lỗi để “hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” (Mt 20: 28)
Qua những bằng chứng Kinh Thánh trên đây, chúng ta thấy rõ đức tin là điều kiện căn
bản tối cần cho phép con người đến với Thiên Chúa là Đấng vô hình nhưng đã mặc khải
Người cách hữu hình nơi Chúa Giêsu-Kitô, Ngôi Lời nhập thể để “ai thấy Thầy thì thấy
Chúa Cha.” như Chúa Giêsu đã trả lời cho môn đệ Philip-phê một ngày kia (Ga 14: 9).
Nhưng, như đã nói ở trên, đức tin phải là một ơn sủng đặc biệt của Thiên Chúa ban cho
con người, như Chúa Giêsu đã nói với Phêrô khi môn đệ này tuyên xưng Chúa là “Đấng
Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. (. Mt 16: 16; Lc 9:20)
Chúa Giêsu đã khen ngợi Phêrô về lời tuyên xưng nói trên như sau: :
“Này anh Si-mon con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân
mặc khải cho anh điều đó, nhưng là cha của Thầy, Đấng ngự trên cao.” (Mt 16: 17)
Như vậy, chúng tỏ cho thấy đức tin là một ơn mặc khải lớn lao của Thiên Chúa ban cho con
người để giúp con người tin có Ngài là Đấng đã vì yêu thương mà tạo dựng loài người ,cũng như
đã cứu chuộc con người nhờ Chúa Kitô, Đấng đã “yêu mến tôi và hiến mạng sống vì tôi.”
(Gl 2 : 20) như thánh Phaolô đã nói không sai/
Nhưng hạt giống đức tin mà chúng ta nhận được qua phép rửa không thể tự nó lớn lên và sinh
hoa kết trái trong tâm hồn ta được, nếu ta không cộng tác với ơn Chúa để nuôi dưỡng hạt giống
đức tin đó được lớn lên trong ta đến mức trưởng thành.
Thật vậy, đức tin đòi hỏi việc lành, việc đạo đức để tăng trưởng như hạt giống cần được tưới
nước để nẩy mầm, sinh cây kết trái. Đó là lý do tai sao Thánh Tông Đồ Gia-cô-bê đã viết:
“Thật thế, một thân xác không có hơi thở là một xác chết. Cũng vậy, đức tin không có
hành động là đức tin chết.” (Gc 2 : 26)
Hành động mà Thánh Gia-cô-bê nói trên đây là những việc đạo đức mà ta cần làm để thể hiện
đức tin như siêng năng cầu nguyện để thắt chặt tình thân với Chúa. Sau đó, đọc và suy gẫm Lời
Chúa, và năng lãnh nhận các bí tich ban sự sống như Thánh Thể và Hòa giải để đức tin được lớn
mạnh thêm trong ta. Nghĩa là ai không cầu nguyện, không tham dự Thánh Lễ, không nghe lời
Chúa và nhất là không rước Mình và Máu Chúa Kitô, thì đức tin của người ấy sẽ ví như cục
than hồng bỏ ra ngoài lò sưởi và sẽ mau chóng tự tàn lụi thành tro mà thôi.
Đó là tất cả ý nghĩa của lời Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa như sau:
“ ....phàm ai đã có thì được cho thêm và sẽ dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang
có, cũng sẽ bị lấy đi.” (Mt 25 : 29)
Đã có đức tin thì sẽ được cho thêm nếu biết vun sới đức tin đó bằng những việc đạo đức .Ngược
lại, thờ ơ hay dửng dưng mọi việc đạo đức thì đức tin sẽ chết dần mòn trong tâm hồn đến mức
không còn muốn tin tưởng gì nữa. Thực tế đã chứng minh điều này: Trong số những kẻ đang
phạm tội ác, đang giết người, trộm cắp và hiếp dâm... chắc chắn cũng có những người trước đây
đã được rửa tội, đã mang danh Kitô-hữu, nhưng nay đã dấn thân vào những con đường tội lỗi
chỉ vì không lo nuôi dưỡng đức tin bằng việc lành, đạo đức nên đức tin đã như cây cỏ chết khô vì
không được tưới nước đầy đủ.
Khi đã không còn đức tin đủ mạnh nữa, thì người ta sẽ dễ buông thả chiều theo những đòi hỏi
bất chính và dễ dàng đi vào con đường tội lỗi để làm những sự dữ, ví như chiếc xe lao xuống
dốc, xuống vực thẳm vì không có cái thắng ngăn chặn.
Đây là kinh nghiệm thiêng liêng của mỗi người tín hữu chúng ta sống giữa trần gian với bao
quyến rũ và dịp tội thách đố đức tin của chúng ta. Chỉ cần nhìn qua cách sống của những người
quanh ta cũng đủ cho ta thấy rõ lằn ranh giữa những người tin và không tin có Chúa hiện nay ở
khắp noi trên thế giới.
Trước hết là những kẻ sống theo”văn hóa của sự chết” đang mải mê tìm tiền của và mọi thú vui
vô luân vô đạo, hoặc đang cai trị với bạo lực để vơ vết của cải và bóc lột người dân cách vô nhân
đạo. Đây chính là những kẻ không có niềm tin vào một Thiên Chúa cực tốt cực lành. Ngược
lại, có những người đang xả thân phục vụ cho người nghèo khó, bệnh tật, đói khát theo gương
Mẹ Tê-rê-xa, nay là thánh , hoặc đang dấn thân, hy sinh đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ ở
những nơi xa xôi nghèo đói bên Phi Châu và vùng Nam Mỹ.
Họ là Ai? Phải chăng đó chính là những người có niềm tin vững chắc vào Thiên Chúa nên đã
hăng say thể hiện niềm tin của mình bằng việc tông đồ, truyền giáo rất đáng ca ngợi?
Như thếi, nếu ta thực tâm tin có Chúa, tin có sự sống mai sau trên Nước Trời, thì ta phải tỏ thiện
chí quyết tâm sống theo đường lối của Chúa ngay từ bây giờ thì đức tin của chúng ta mới có giá
trị cứu rỗi. Ngược lại, nếu chỉ tuyên xưng ngoài môi miêng là có Thiên Chúa, nhưng lòng trí lại
hướng chiều theo những lôi cuốn của các khuynh hướng xấu trong bản năng, chạy theo những
quyến rũ của thế gian vô luân vô đạo, nhất là đầu hàng ma quỉ, địch thù của chúng ta, ví như
“sư tử gầm thét rao quanh tìm mồi cắn xé” (cf. 1 Pr 5: 8 ), với những cám dỗ tinh quái để lôi
ta ra khỏi tình thân với Chúa, thì chắc chắn đức tin sẽ không giúp ích gì cho ta được sống đẹp
lòng Chúa, như Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ xưa như sau:
“Không phải bất cứ ai thưa với Thầy, Lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời cả
đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên Trời mới được
vào mà thôi.” (cf.Mt 7: 21)
Nói khác đi, không phải cứ nhận mình là người Công giáo, cứ nói tôi tin có Chúa, nhưng đời
sống của tôi lại hoàn toàn mâu thuẫn với niềm tin đó, vì vẫn ăn gian nói dối, ngoại tình, gian
tham, tôn thờ tiền bạc và của cải vật chất, oán thù, ghen ghét, cờ bạc, mãi dâm, nhẩy nhót, ca
hát vui chơi sa đọa ...thì có nói cả ngàn lần “Lậy Chúa, Lậy Chúa” cũng vô ích mà thôi! Chắc
chắn như vậy.
. Do đó, muốn đứng vững trong đức tin, trong ơn nghĩa Chúa để bảo đảm ơn cứu độ, chúng ta
phải luôn tỉnh thức và cầu nguyện để “khỏi lâm vào cơn cám dỗ, vì tinh thần thì hăng hái
nhưng thể xác lại yếu đuối.” (cf. Mt 26: 41) như Chúa Giêsu đã nói với mấy môn đệ đi theo
Người vào vườn Giệt sê ma-ni trong đêm Người bị nộp vì Giuđa phản bội.

LM NGÔ TÔN HUẤN

-----------------------------

 
HOC HOI ĐỂ SỐNG ĐẠO - CHỚ MUỐN VỢ CHỒNG NGƯỜI PDF Print E-mail

Điều răn thứ chín - Chớ muốn vợ chồng người

"Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5,28).

1. H. Điều răn thứ chín dạy ta sự gì?

T. Điều răn thứ chín dạy ta phải sống trong sạch từ trong tư tưởng và chống lại những ham muốn xác thịt nghịch đức trong sạch.

2. H. Tại sao phải giữ sự trong sạch trong tâm hồn?

T. Vì tư tưởng và lòng trí trong sạch giúp ta dễ dàng nhìn mọi sự vật ở đời này theo tinh thần của Thiên Chúa, đồng thời là điều kiện giúp ta chiêm ngắm Thiên Chúa mai sau.

3. H. Muốn giữ tâm hồn trong sạch ta phải làm gì?

T. Ta phải giữ những việc này:

Một là chuyên chăm cầu nguyện, lãnh nhận các Bí tích và trông cậy và ơn Chúa,

Hai là sáng suốt làm chủ ngũ quan và trí tưởng tượng,

Ba là sống đoan trang trong ăn mặc, nói năng, cư xử với người khác và xa lánh dịp tội,

Bốn là năng đọc Lời Chúa và sách báo lành mạnh.

4. H. Khi có những hình ảnh, tư tưởng dâm ô trong tâm trí, ta phải làm gì?

T. Ta phải mau mắn loai bỏ và tránh dịp tội, đồng thời cầu xin Chúa và Đức Mẹ giúp ta thắng vượt cám dỗ.

Chia sẻ kinh nghiệm sống đạo:

1) Điều răn thứ 9 => Ngươi không được ham muốn vợ người khác ... (Xh 20, 17).

2) Thánh Yoan phân biệt 3 loại ham muốn là dục vọng: a) Dục vọng của xác thịt / b) Dục vọng đôi mắt / c) Lối sống kiêu kỳ.

3) Dục vọng là ham muốn của giác quan đi ngược lại với hoạt động của lý trí con người / Thánh Phaolô cho đó là sự nổi loạn của xác thịt chống lại tinh thần / Dục vọng phát xuất từ sự bất tuân của Nguyên tổ / là tội đầu tiên nó làm nổi loạn năng lực luân lý của con người / mặc dù nó chưa phải là tội / nhưng nó luôn hướng con người đến chỗ phạm tội.

4) Con người là một hữu thể phức tạp, nó phối hợp giữa tinh thần và thể xác nên trong con người luôn có sẵn một sự căng thẳng, là có sẵn một cuộc chiến giữa 2 khuynh hướng: tinh thần và thể xác / Cuộc chiến đó là di sản của tội, cũng vừa là hậu quả, cũng vừa là bằng chứng của tội.

5) Chúng ta không nên khinh thường và kết án thân xác / bởi vì thân xác cùng với hồn thiêng liêng tạo nên đầy đủ bản tính và nhân cách của con người mà Thiên Chúa đã tạo dựng.

6) Thói quen tốt hay xấu là những thói quen bền vững nếu xét về mặt luân lý / Đây là kết quả của sự vâng phục hay chống đối / Đối với hành động cứu độ của Chúa Thánh Thần/ vì vậy nếu Chúa sống nhờ Thần Khí, thì chúng ta cũng nhờ Thần Khí mà tiến bước.

7) Trái tim là nơi hình thành nhân cách luân lý . “Tự lòng phát xuất ra ý định gian tà, giết người, ngoại tình, tà dâm” (Mt 15, 19) / Muốn chiến đấu chống lại dục vọng xấu xa của xác thịt, ta cần phải thanh tẩy trái tim và thực thi đức tiến độ.

8) Muốn chiến đấu với dục tình, đòi hỏi phải luyện tập đức trong sạch / Muốn có đức trong sạch đòi hỏi phải có sự nết na / Đây là phần không thể thiếu của đức tiết độ / Sự nết na đòi hỏi phải từ chối phô bày những gì phải giữ kín / của để hớ hênh gợi lòng tham.

9) Sự nết na sẽ hướng cái nhìn và cử chỉ của người khác sao cho phù hợp với phẩm giá con người / Sự nết na cũng bảo vệ tình yêu của họ / nó mời gọi sự nhẫn nại và điều độ trong quan hệ yêu đương / Sự nết na chính là sự đoan trang / sự nết na là sự thận trọng trong việc lựa chọn y phục và ngăn cản những cái nhìn tò mò thiếu lành mạnh.

10) Sự nết na chống lại sự phơi bày thân xác con người để thỏa mãn những cái nhìn (trong quảng cáo) và chống tại các phương tiện truyền thông đã đi quá xa trong việc khai thác những điều thầm kín, thân mật, giúp chống lại những quyến rũ của thời trang / chống lại các trào lưu của tư tưởng và các mốt thời thượng.

Đúc kết: Đức Mẹ đã quyết giữ đức đồng trinh cho dù Sứ thần đã đưa ra một chức vị cao trọng đó là Mẹ Thiên Chúa / Mẹ đã không ngần ngại trả lời Sứ thần: việc ấy xảy ra thế nào được vì tôi không biết đến người nam? Mẹ chỉ đồng ý khi biết chắc là Mẹ thụ thai bởi phép Chúa Thánh Linh, do đó đức đồng trinh của Mẹ không hề bị sứt mẻ / Lúc đó Mẹ mới đồng ý “xin vâng” / (Sứ thần đã bị một phen hú vía.)
Chúng ta hãy noi gương Mẹ, sống trong sạch để được nhìn thấy tôn nhan Chúa / Nhất là không bao giờ làm cớ cho kẻ khác phạm tội. (ăn mặc khêu gợi ,nói năng ẻo lả ,liếc mắt đưa tình )

ditimchanly.org

----------------------------------------

-------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 3 of 155