mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay3990
mod_vvisit_counterHôm Qua6243
mod_vvisit_counterTuần Này21041
mod_vvisit_counterTuần Trước49260
mod_vvisit_counterTháng Này197816
mod_vvisit_counterTháng Trước245784
mod_vvisit_counterTất cả8686859

We have: 99 guests online
Your IP: 54.198.139.134
 , 
Today: Jun 28, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO# 366 =NIEM TIN VA CAY TRONG PDF Print E-mail

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GIÁO LÝ VỀ NIỀM TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG

BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 19-4-2017

Bài 19

"... một biến cố bất khả chối cãi, một biến cố không phải là thành quả suy niệm của một con người khôn ngoan nào đó, mà là một sự kiện, một sự kiện đơn thuần đã can thiệp vào đời sống của một số người. Kitô giáo được phát xuất từ đó. Nó không phải là một ý hệ; nó không phải là một trường phái triết lý, mà là một hành trình đức tin được bắt đầu từ một biến cố, một biến cố được các người môn đệ tiên khởi của Người chứng kiến thấy".

"Kitô giáo là ân ban, là những gì ngỡ ngàng bàng hoàng, và vì thế mới cần có một tấm lòng có khả năng về những gì bàng hoàng ngỡ ngàng. Một con tim khép kín, một con tim lý sự thì không thể cảm thấy bàng hoàng ngỡ ngàng, và không thể nào hiểu được bản chất thế nào là Kitô giáo".

Xin chào anh chị em thân mến!

Hôm nay chúng ta gặp gỡ nhau trong ánh sáng của Lễ Phục Sinh, một lễ chúng ta đã cử hành và tiếp tục cử hành bằng phụng vụ. Trong hành trình về niềm tin tưởng cậy trông Kitô giáo, hôm nay tôi muốn nói với anh chị em về Chúa Kitô Phục Sinh, niềm tin tưởng cậy trông của chúng ta, như Thánh Phaolô cho thấy về Người ở Bức Thư Thứ Nhất gửi Giáo Đoàn Corintô (xem Đoạn 15).

Vị Tông Đồ này muốn ổn định một vấn đề thật sự đã trở thành tâm điểm bàn luận ở cộng đồng Corintô này. Vấn đề Phục Sinh là vấn đề tranh cãi cuối cùng được đề cập đến trong bức thư này, thế nhưng, có lẽ, theo thự tự tính cách quan trọng của vấn đề thì nó lại là vấn đề quan trọng nhất, ở chỗ hết mọi sự đều lệ thuộc vào giả định này.

Khi nói với thành phần Kitô hữu của mình, Thánh Phaolô bắt đầu từ một biến cố bất khả chối cãi, một biến cố không phải là thành quả suy niệm của một con người khôn ngoan nào đó, mà là một sự kiện, một sự kiện đơn thuần đã can thiệp vào đời sống của một số người. Kitô giáo được phát xuất từ đó. Nó không phải là một ý hệ; nó không phải là một trường phái triết lý, mà là một hành trình đức tin được bắt đầu từ một biến cố, một biến cố được các người môn đệ tiên khởi của Người chứng kiến thấy. Thánh Phaolô đã tóm gọn nó như thế này, đó là Chúa Giêsu đã chết vì tội lỗi của chúng ta, đã được chôn táng và vào ngày thứ ba Người đã sống lại và hiện ra với Phêrô cũng như với 12 Vị (xem 1 Corinto 15:3-5). Đó là một sự kiện: Người đã chết, đã được chôn táng, đã sống lại và đã hiện ra, tức là Chúa Giêsu đang sống! Đó là tâm điểm của sứ điệp Kitô giáo.

Khi loan báo biến cố này, một biến cố là tâm điểm của đức tin, Thánh Phaolô trên hết đã nhấn mạnh đến yếu tố cuối cùng của mầu nhiệm vượt qua, tức là đến Chúa Giêsu phục sinh. Thật vậy, nếu mọi sự được kết thúc ở nơi cái chết thì chúng ta thấy ở nơi Người một tấm gương hy hiến cao cả nhất, thế nhưng điều này không làm phát sinh ra đức tin của chúng ta. Người là một vị anh hùng. Không phải thế! Người đã chết nhưng lại phục sinh vì đức tin xuất phát từ biến cố Phục Sinh. Việc chấp nhận Chúa Kitô đã chết đi và Người đã chết trên thập tự giá, không phải là một tác động đức tin; nó là một sự kiện lịch sử. Trái lại, việc tin tưởng Người đã phục sinh mới là (tác động đức tin). Đức tin của chúng ta được xuất phát từ sáng Phục Sinh. Thánh Phaolô đã liệt kê những con người được Chúa Giêsu hiện ra (xem các câu 5-7). Ở đây chúng ta có một tổng hợp nho nhỏ về tất cả những trình thuật vượt qua cũng như về tất cả những người liên hệ tới Đấng Phục Sinh. Ở đầu bảng liệt kê là Cephas, tức Phêrô, và nhóm 12, sau đó tới "500 anh em" mà nhiều người trong họ có thể cống hiến chứng từ của mình, rồi Giacôbê được đề cập tới. Người cuối cùng trong bảng liệt kê này - vì bất xứng nhất trong tất cả mọi người - là chính bản thân thánh nhân. Thánh Phaolô nói về mình như là "một kẻ sinh non" (xem câu 8).

Thánh Phaolô sử dụng việc bày tỏ này là vì tiểu sử của ngài là một lịch sử thê thảm: ngài không phải là một chú giúp lễ, mà là một tên bắt bớ Giáo Hội, hãnh diện về những niềm xác tín của mình; ngài cảm thấy mình như là một con người đã được sinh ra, với một ý nghĩa rất thanh khiết về đời sống phải ra sao theo các phận vụ của nó. Tuy nhiên, nơi bức tranh toàn vẹn này - hết mọi sự đều toàn hảo nơi Phaolô, chàng đã biết hết mọi sự - nơi bức tranh toàn hảo về đời sống này, một ngày kia có điều đã xẩy ra hoàn toàn bất ngờ, đó là cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu Phục Sinh, trên đường đến Damasco. Ngài chẳng những là một con người bị ngã xuống đất ở đó, ngài còn là một con người bị chộp bắt bởi một biến cố đã làm đảo lộn ý nghĩa của cuộc đời. Thế rồi kẻ bách hại đã trở thành một vị Tông Đồ, tại sao? Vì tôi đã thấy Chúa Giêsu đang sống! Tôi đã từng thấy Chúa đang sống! Đó là nền tảng của đức tin nơi Thánh Phaolô, như nó là nền tảng đức tin của các vị Tông Đồ khác, của Giáo Hội và của đức tin chúng ta...........

Là Kitô hữu nghĩa là không bắt đầu từ sự chết mà từ tình yêu thương của Thiên Chúa đối với chúng ta, tình yêu thương đã đánh bại kẻ thù dữ dội nhất của chúng ta. Thiên Chúa là Đấng cao cả lớn lao hơn tất cả mọi sự, và chỉ cần người ta thắp nến lên thì đủ xua tan tăm tối nhất của đêm đen. Thánh Phaolô đã kêu lên, âm vang lời của các vị tiên tri, đó là "Ôi sự chết, chiến thắng của người ở đâu? Ôi sự chết, cái nọc chết chóc của người đâu rồi?" (câu 55). Trong những ngày này, chúng ta hãy ấp ủ trong lòng mình tiếng kêu ấy. Và nếu chúng ta được hỏi về lý do tại sao chúng ta tươi cười và về việc chúng ta nhẫn nại chia sẻ thì chúng ta có thể đáp lại rằng Chúa Giêsu vẫn ở nơi đây, Người tiếp tục sống giữa chúng tôi, Chúa Giêsu đang ở nơi đây, tại Quảng Trường này, với chúng tôi: Người đang sống và đã sống lại.

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-risen-christ- our-hope/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 365 = XUNG TOI VOI CHUA PDF Print E-mail


CÓ ĐƯỢC XƯNG TỘI VỚI CHÚA MÀ KHÔNG CẦN QUA TRUNG GIAN CỦA LINH MỤC ?

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hỏi :

Xin cha giải thích rõ :

1- Các mục sư Tin Lành cũng dạy phải ăn năn tội rồi xin Chúa tha thứ.Như vậy Chúa có tha mà không cần phải xưng tội qua một linh mục như Giáo Hội dạy hay không ?

2- Khi nào được phép xưng tội tập thể ?

Trả lời :

Như tôi đã có đôi lần nói rõ là chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mới có đầy đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu độ của Chúa cho những ai muốn lãnh nhận để được cứu rỗi.

Liên quan đến Bí Tích hòa giải ( penance= reconciliation) Chúa Kitô đã ban quyền tha tội cho các Tông Đồ và cho Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh Tông Đồ như sau :

" anh em tha cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." ( Ga 20: 23)

Như thế rõ ràng cho thấy là Chúa muốn cho con người phải chạy đến với những người trung gian thay mặt Chúa là các Tông Đồ xưa kia và các vị thừa kế các Tông Đồ ngày nay là các Giám Mục trong Giáo hội để nhận lãnh ơn tha thứ qua bí tích Hòa giải. Các giám mục lại ban quyền tha tội này cho các linh mục là những cộng sự viên thân cận trực thuộc cũng được chia sẻ Chức linh Mục đời đời của Chúa Kitô. ( Linh mục chia sẻ một phần, Giám Mục chia sẻ trọn vẹn Chức Linh Mục đó).

Nếu chỉ cần xưng tội trưc tiếp với Chúa mà không qua trung gian ai thì Chúa Giêsu đã không nói với các Tông Đồ những lời trên đây sau khi Người từ cõi chết sống lại và hiện ra với các ông, cũng như trước đó đã không phán bảo Phêrô những lời sau đây :

" Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên Trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều gì , trên trời cũng sẽ tháo gỡ như vậy." ( Mt 16: 19)

Với quyền to lớn trên đây, Giáo Hội- cụ thể là Đức Thánh Cha- có quyền ra hình phạt nặng nhất là vạ tuyệt thông ( ex-communication) và tháo gỡ vạ này.

Như vậy, muốn được ơn tha thứ của Chúa, thì buộc phải xưng tội cá nhân với một linh mục đã được chịu chức thành sự ( validly) và đang có năng quyền ( priestly Faculties) được tha tội nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi). Sở dĩ thế, vì nếu một linh mục đang bị Giám mục của mình rút năng quyền - hay gọi nôm na là bị treo chén ( suspension. x. giáo luật số 1333)- thì tạm thời không được phép cử hành bí tích này và các bí tích khác cho đến khi được trao lại năng quyền đầy đủ .( trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục – dù đang bị "treo chén" vẫn được phép tha tội cho hối nhân đang lâm nguy mà không tìm được linh mục khác để xưng tội và lãnh phép lành sau hết. (x. giáo luật số 976).

Giáo lý và giáo luật của Giáo Hội cũng dạy phải xưng tội cá nhân với một linh mục như sau:

" Thú nhận tội lỗi của mình với vị linh mục là một điều chủ yếu của bí tích Giải tội.Khi xưng tội, các hối nhân phải kể ra tất cả các tội trọng mà mình biết đã phạm, sau khi xét mình cách nghiêm chỉnh, dù các tội này rất kín đáo và chỉ phạm đến hai giới răn sau cùng của bản thập giới; bởi vì các tội này làm cho linh hồn bị trọng thương hơn hết , và nguy hiểm hơn các tội ta phạm mà người khác biết rõ."( x, SGLGHCG số:1456; giáo luật số 960).

Như thế chắc chắn không thể nói như anh em Tin Lành là chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà không cần qua trung gian của ai. Dĩ nhiên Chúa tha tội khi ta thực tâm sám hối và xin Chúa thứ tha. Nhưng vẫn cần phải xưng tội với một linh mục thay mặt Chúa để tha tội, vì Chúa đã ban quyền ấy cho các Tông Đồ trước tiên và cho Giáo Hội ngày nay.

Nghĩa là khi Giáo Hội thi hành lời Chúa để cử hành các bí tích- cách riêng bí tích Hòa giải để tha tội cho con người nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi), thì chúng ta phải nghe và tuân theo ý muốn của Giáo Hội, cũng là ý muốn của Chúa, là xưng tội với một linh mục để nhận lãnh ơn tha thứ của Chúa qua trung gian của các thừa tác viên con người là Giám mục và linh mục. Đây là điều các anh em Tin Lành không đồng ý với chúng ta nên họ dạy các tín đồ của họ chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.

Dĩ nhiên khi ta xưng tội với một linh mục, thì cũng xưng tội với Chúa để xin Người tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Và đây là ý muốn của Chúa Giêsu khi Người trao quyền tha tội cho các Tông Đồ xưa và cho Giáo hội ngày nay. Và đó là tất cả ý nghĩa lời Chúa dạy sau đây:

" ai nghe anh em là nghe Thầy.
Ai khước từ anh em là khước từ Thầy
Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)

Kinh nghiệm thiêng liêng của mỗi người chúng ta cho ta biết rằng mỗi khi xưng tội – đặc biệt là tội trọng- cách thành thật và với tinh thần sám hối , thì ta cảm thấy nhẹ nhõm và an vui trong tâm hồn, một cảm giác mới lạ của an vui sung sướng, khác hẳn với tâm tình sẵn có trước khi xưng tội. Điều này chứng minh cụ thể là Chúa đã tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Ngược lại, khi có tội trọng hay nhẹ mà chỉ xin Chúa tha thứ nhưng không đi xưng tội, thì không bao giờ cảm nghiệm được sự an vui nội tâm như khi xưng tội với một linh mục và nhận lãnh ơn tha thứ ( absolution).

Các anh em tin Lành không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, dù cho họ có ca tụng lòng thương xót của Chúa, có sám hối nội tâm và xin Chúa tha thứ mà không đi xưng tội như người Công giáo. Họ không đi xưng tội vì trước hết họ không công nhận vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc ban phát các ơn sủng của Chúa cho con người, cho nên họ chủ trương đi thẳng tới Chúa là vì vậy.

Vả lại, tất cả các nhánh Tin Lành và Anh Giáo ( Anglican Comm) đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nên không có chức linh mục và giám mục để cử hành hữu hiệu các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức dầu bệnh nhân và truyền Chức Thánh. Chính vì họ không có chức linh mục hữu hiệu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể và tha tội cho ai được. Đó là lý do tại sao họ giảng dạy chỉ cần xưng tội trực tiếp với Chúa vì họ cho rằng các thừa tác viên con người như linh mục và giám mục không có năng quyền tha tội cho ai như Giáo Hội Công Giáo tin và dạy..

Tóm lại, là người Công giáo, chúng ta phải nghe và thi hành những gì Giáo Hội là Mẹ dạy bảo thay mặt Chúa Kitô để bỏ ra ngoài tai những gì không phù hợp với giáo lý, tín lý, luân lý và phụng vụ của Giáo Hội.

2- Khi nào được xưng tội tập thể ( communal confessions) ?

Thông thường thì phải xưng tội cá nhân, nghĩa là xưng tội riêng với một linh mục sau khi đã xét mình nghiêm chỉnh và sám hối nội tâm.

Tuy nhiên, trong thực tế, có những hoàn cảnh mà linh mục không thể giải tội cá nhân cho nhiều người trong một thời lượng hạn chế. Thí dụ, khi có thiên tai, bão lụt, đắm tầu hay động đất gây nguy tử cho nhiều người ở một địa phương nào, khiến linh mục không thể có đủ giờ để nghe từng hối nhân muốn xưng tội trong những hoàn cảnh ấy.

Lại nữa, trong những dịp trọng đại như Lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh là những dịp có rất nhiều người muốn xưng tội. Nhưng chỉ có một mình cha xứ phải làm mục vụ cho một giáo xứ lớn hay nhiều xứ nhỏ họp lại,thì không thể nào giải tội cá nhân cho một số lớn hối nhân trong một thời gian ngắn được. Do đó, vì nhu cầu mục vụ và vì lợi ích thiêng liêng của giáo dân, linh mục được phép cử hành bí tích hòa giải tập thể. Nghĩa là cho gom giáo dân lại và giúp họ xét mình, thống hối ăn năn, rồi ban phép tha tội tập thể cho họ. Nhưng việc này phải được phép trước của giám mục giáo phận.

Vì thế, ở mỗi giáo phận, giám mục địa phận sẽ cho phép trường hợp nào có thể giải tội tập thể. Nghĩa là, linh mục không thể tự ý giải tội tập thể mà không có phép của giám mục giáo phận; trừ trường hợp nguy tử như đắm tầu, động đất, chiến tranh, khiến nhiều người- trong đó có người công giáo- có thể chết mà không kịp xưng tội cá nhân. Nên nếu linh mục có mặt, thì được phép giải tội tập thể cho các tin hữu công giáo trong cơn nguy tử đó. Nhưng dù được tha tội tập thể trong những trường hợp trên, nếu ai xét mình có tội trọng thì- sau khi qua cơn nguy biến- vẫn buộc phải xưng tội cá nhân sau đó với linh mục. ( giáo luật số 961-62).

Ước mong giải đáp trên đây thỏa mãn những câu hỏi đặt ra.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 364 =CONG GIAO-CHINH THONG-TIN LANH PDF Print E-mail

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

HAPPY EASTER.

Hỏi:

Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.v

Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.

Trả lời:

Như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là Kitô Giáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra khiến Kitô Giáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Comm) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.

Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I- Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính ( sound doctrines) , tinh tuyền của Kitô Gíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo. Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo La Mã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã ly khai không còn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)

Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 5 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 ( đã về hưu năm 2012) đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo.

Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See - Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội Kitô Giáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).

Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây:

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".

Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.

Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I năm 1966.

Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.

Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu của Chính Thống nếu không tìm được nhà thờ Công Giáo hay linh mục Công giáo.

2- Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Viêt Nam.

3- Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).

Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã.

Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).

Vì Chính Thống Giáo có đủ bảy bí tích hữu hiệu, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu ở nhà thờ và các linh mục Chính Thống, nếu không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo nơi mình cư ngụ.

II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh Kitô Gíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó. Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism) nói trên. Một đặc điểm của các giáo phải Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Roma cho đến các giáo hội địa phương ở mỗi quốc gia. Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, tài chính và phương thức hành đạo.

1- Ở góc độ thần học:

Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).

Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị. Do đó, chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).

Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ: "không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).

Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.

Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và kinh thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác. Điển hình, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng kinh thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo hội Công Giáo.

Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi Ai dưới đất là Cha, là Thầy .". anh em Tin Lành hiểu lời Chúa trong ngữ cảnh (context) câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là 'lạc giáo-heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.

Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).

Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ và các môn đệ của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.

Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.

3- về bí tích:

Tất cả các nhóm Tin Lành đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession)- và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường chứ không phải là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của mình trên Đá Tảng Phêrô.( Mt 16: 18-19). Cho nên các nhánh Tin Lành đều không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.

Đa số các nhóm Tin Lành này chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullah, thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự tòng.(catechumens). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.

Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (comm) và hiệp nhất ( unity) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Tông đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Roma coi sóc và lãnh đạo với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn. (College of Bishops).

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 363 = CHUA KITO CO PHUC SINH? PDF Print E-mail

CHÚA KITÔ CÓ THỰC SỰ SỐNG LẠI...?

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Thưa Có: 1 – Ở Các Lần Hiện Ra

Theo tín lý và phụng vụ thì Phục Sinh là mầu nhiệm quan trọng nhất của Kitô giáo. Bởi vì, nếu Chúa Kitô không sống lại thì tất cả mọi sự chẳng còn gì là thần linh, chẳng còn gì là mạc khải từ trời, chẳng còn gì là thánh kinh, chẳng còn gì là đức tin cứu độ nữa (xem 1Corinto 15:13-14). Bấy giờ, nhân vật lịch sử mang tên Giêsu Nazarét chỉ thuần là một phàm nhân, chẳng khác gì và chẳng hơn gì các vị giáo tổ khác, mà còn là một tay ma đầu nhất thế giới, bởi dám quả quyết rằng mình sống lại nhưng bất khả, nhưng không bao giờ xẩy ra, và vì thế đã thực sự không thể nào cứu được mình, không thể nào xuống khỏi thập tự giá bị chính quyền đế quốc Rôma đóng đanh vào đó.

Thế nhưng, mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô sẽ chẳng còn ý nghĩa hay giá trị gì nữa, nếu thiếu mất Biến Cố Hiện Ra của Người sau khi Người từ trong kẻ chết sống lại, một biến cố, theo tính chất khẩn thiết bất khả thiếu, cũng quan trọng không kém như thậm chí ở một khía cạnh nào đó còn mầu nhiệm phục sinh là mầu nhiệm bất khả phân ly với biến cố hiện ra của Người. Bởi nếu Người không hiện ra sau khi sống lại thì kể như, đối với riêng các tông đồ và chung dân Do Thái, lịch sử nhân loại vẫn không có một vị Thiên Chúa đã hóa thân làm người và đã cứu chuộc nhân loại bằng Cuộc Vượt Qua của Ngài nơi Con Ngài là Chúa Giêsu Kitô.

Chúa Giêsu Kitô bởi thế không thể nào không hiện ra sau khi Người sống lại, mục đích duy nhất và chính yếu đó là để làm sao chứng thực được rằng Người quả thực chẳng những là Đấng Thiên Sai, Đấng đã được sai đến để cứu Dân Người nói riêng và nhân loại nói chung khỏi tội lỗi và sự chết, mà Người còn là Thiên Chúa thật, Đấng hằng sống, không ai có thể tiêu diệt Người, trái lại, Người đã chiến thắng sự dữ nơi con người và của con người là thành phần đã cùng nhau (cả Dân Do Thái lẫn Dân Ngoại đại diện cho toàn thể nhân loại) tàn ác sát hại Người.

Trong Tuần Bát Nhật Phúc Sinh, Giáo Hội chọn đọc các bài Phúc Âm liên quan tới những lần hiện ra của Chúa Kitô Phục Sinh:

Thứ Hai, Phúc Âm Thánh Mathêu 28:8-15 thuật lại lần Chúa Giêsu hiện ra với các phụ nữ đến thăm mộ của Người từ tảng sáng trong khi các bà chạy đi báo tin cho các tông đồ về những gì các bà nghe thấy thiên thần nói với các bà về Đấng các bà tìm đã sống lại;

Thứ Ba, Phúc Âm Thánh Gioan 20:11-18 thuật lại lần Chúa Giêsu hiện ra với Chị Mai Đệ Liên trong khi chị đang tìm xác của Người ở ngoài mồ, tức là ngay sau bài Phúc Âm Chúa Nhật (Jn 20:1-9) thuật lại việc chị ra mồ, thấy xác Thày không còn thì chạy về báo tin cho tông đồ Phêrô và Gioan hay, rồi sau đó tiếp tục ở lại mồ khi hai vị tông đồ này đã ra mồ và trở về;

Thứ Tư, Phúc Âm Thánh Luca 24:13-35 thuật lại lần Chúa Giêsu hiện ra với 2 môn đệ đang đi về làng Emmau vào buổi chiều, để rồi sau khi nhận ra Người, hai vị chạy về báo tin cho các tông đồ;

Thứ Năm, Phúc Âm Thánh Luca 24:35-48 thuật lại lần Chúa Giêsu hiện ra với 11 tông đồ vào buổi tối ngày thứ nhất trong tuần, (ngay sau đoạn Người hiện ra với 2 môn đệ đi Emmau), đoạn trình thuật này cũng được Phúc Âm Thánh Gioan nhắc đến (x. Jn 20:19-23), nhưng ở hai khía cạnh khác nhau liên quan đến sứ vụ làm chứng của các tông đồ (theo Phúc Âm Thánh Luca) và thừa tác vụ thánh hóa (theo Phúc Âm Thánh Gioan);

Thứ Sáu, Phúc Âm Thánh Gioan 21:1-14 thuật lại lần Chúa Giêsu hiện ra với 7 tông đồ vào tảng sáng ở bờ hồ Tibêria để tỏ mình ra cho các vị qua mẻ cá lạ các vị bắt được vị nghe theo lời Người chỉ dẫn sau cả đêm thất bại, và "đó là lần thứ ba" được Phúc Âm Thánh Gioan thuật lại;

Thứ Bảy, Phúc Âm Thánh Marcô 16:9-15 thuật lại thứ tự 3 lần Chúa Giêsu hiện ra vào ngày thứ nhất trong tuần: trước hết với Chị Mai Đệ Liên, sau đó với 2 môn đệ trên đường về làng Emmau, và sau hết với 11 tông đồ.

Về các lần hiện ra của Chúa Kitô sau khi Người sống lại từ trong kẻ chết, có thể căn cứ vào Phúc Âm Thánh Marcô, như Cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô trong Tuần Thánh được căn cứ chính yếu vào bố cục của đoạn trình thuật về biến cố này theo Phúc Âm Thánh Gioan.

Thật vậy, Thánh Ký Marcô (16:9-14), như bài Phúc Âm cho Thứ Bảy trong tuần Bát Nhật Phục Sinh cho thấy, đã thuật lại thứ tự 3 lần Chúa Giêsu hiện ra vào ngày thứ nhất trong tuần: trước hết với Chị Mai Đệ Liên, sau đó với 2 môn đệ trên đường về làng Emmau, và sau hết với 11 tông đồ.

Thánh Ký Gioan còn thuật lại thêm 2 lần sau đó nữa, một lần với 11 tông đồ vào 8 ngày sau (x Jn 20:26-29), và một lần với 7 tông đồ ở bờ hồ Tibêria (x Jn 21:1-14).

Cuối cùng, Thánh Ký Mathêu thuật lại lần hiện ra sau hết ở Galilêa vào lúc Người thăng thiên về trời cùng Cha (x Mt 28:16-20).

Như thế, các Phúc Âm thuật lại 6 lần Chúa Giêsu hiện ra sau khi Người phục sinh, 3 trong 4 lần có đầy đủ 11 vị tông đồ: lần nhất vào buổi tối ngày thứ nhất trong tuần (x Lk 24:36; Jn 20:19), lần thứ hai vào buổi tối 8 ngày sau đó (x Jn 20:26), và lần thứ ba ở Galilêa khi Người thăng thiên về trời cùng Cha (x Mt 28:16-17).

Tuy nhiên, theo thứ tự 3 lần hiện ra của Chúa Giêsu trong ngày thứ nhất trong tuần được Thánh Ký Marcô thuật lại thì không thấy lần Chúa Giêsu hiện ra với các phụ nữ trên đường các bà chạy về báo tin cho các tông đồ, như Thánh Mathêu thuật lại trong bài Phúc Âm cho ngày Thứ Hai trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh.

Về trường hợp của các người phụ nữ ra thăm mồ Chúa ngay từ tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần này, Phúc Âm Nhất Lãm cho biết những chi tiết khác nhau nhưng ăn khớp với nhau như sau:

1- tảng đá lớn lấp cửa mộ của Chúa đã được một vị thiên thần, xuất hiện qua một trận động đất, lăn ra khỏi cửa mồ (x Mt 28:2);

2- các bà được thiên thần báo tin Đấng các bà tìm kiếm đã sống lại rồi và các bà cần phải về báo tin cho các tông đồ (x Mt 28:5-7; Mk 16:6-7; Lk 24:4-7 - riêng Thánh Luca ở đây không thuật lại lời thiên thần bảo các bà về báo tin cho các tông đồ);

3- các bà đang chạy về báo tin cho các tông đồ thì Chúa Giêsu hiện ra với các bà (x Mt 28:8-10), trong khi đó Thánh Marcô thuật lại là các bà sợ quá nên không nói với ai (x Mk 16:8), nhưng Thánh Ký Luca lại cho biết rằng các bà đã về báo cho các tông đồ biết song các vị không tin, tuy nhiên tông đồ Phêrô chạy ra mồ xem sao và tỏ ra bỡ ngỡ (x Lk 24:11-12).

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 362 = THANH GIA CO HINH CHUA PDF Print E-mail

TẠI SAO GIÁO HỘI CÔNG GIÁO
TÔN KÍNH THÁNH GIÁ CÓ HÌNH CHÚA KITÔ BỊ ĐÓNG ĐANH
( Crucifix) ? Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

Hỏi :

Xin cha cho biết tại sao người Tin Lành chỉ trưng cây thập giá không có Chúa chịu đóng đanh, trong khi người Công Giáo lại trưng hình Chúa chịu đóng đanh trên thập giá ở trong nhà thờ cũng như ở tư gia ?

Trả lời :

Đây là câu hỏi rất quan trọng về sự khác biết giữa Công Giáo và Tin Lành liên quan đến cây thập giá của Chúa Kitô.

Các Nhóm Tin Lành, nói chung, đều cho rằng Chúa Kitô đã chết và đã sống lại rồi, nên không cần thiết phải tôn kinh thánh giá với thân thể Chúa bị đóng đanh nữa. Đó là lý do họ chỉ tôn kinh thập giá không có Chúa bị đóng đanh mà thôi.

Đây là niềm tin của anh em Tin Lành, chúng ta không muốn phê bình và tranh cãi gì với họ.

Về phần mình, sở dĩ Giáo Hội Công Giáo tôn kinh Thánh giá với hình Chúa chịu đóng đanh vì giáo lý sau đây của Thánh Phao lô Tông Đồ:

" Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đanh, một điều người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ." ( 1 Cor 1: 22-23)

ở nơi khác, Thánh Phaolô cũng viết:

" Bởi thế tại vì lề luật mà tôi đã chết đối với lề luật để sống cho Thiên Chúa. Tôi cùng chịu đóng đanh với Đức Kitô vào thập giá." ( Gl 2: 19)

Hay rõ hơn nữa:

" Hồi còn ở giữa anh em, tôi không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Kitô bị đóng đanh vào thập giá," ( 1 Cor 2 : 2)

Như thế cho ta thấy rõ là Thánh Phaolô đã đặc biệt nhấn mạnh đến sự kiện Chúa Kitô bị đóng đanh vào thập giá để hiến mạng sống mình làm " giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20:28).

Dĩ nhiên Thánh Phaolô cũng không coi nhẹ sự kiện Chúa đã sống lại, đã ra khỏi Mồ đá sau ba ngày được mai táng ở đây, như Thánh Kinh đã quả quyết, căn cứ vào ngôi mộ trống và lời chứng của Maria Mac-đa-lê- na, và hai phụ nữ khác , là những người đầu tiên đã đến viếng Mộ Chúa sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần . Các bà đã không thấy xác Chúa và Mac-đa lêna đã khóc vì tưởng ai đã lấy trộm xác Chúa. Cho nên , để an ủi và cho các bà niềm tin về việc Người đã sống lại, Chúa Giêsu đã hiện ra với các bà và bảo họ về nói với các Tông Đồ là Chúa đã sống lại và sẽ gặp các ông ở Ga-li-lê , (Mt 28: 1-8; Mc 16: 1-8; Lc 24: 1-7).

Thánh Phaolô cũng quả quyết như sau về sự Phục Sinh của Chúa Kitô:

" Trước hết tôi truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận: đó là Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh; rồi Người đã được mai táng , và ngày thứ ba đã chỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh." ( 1 Cor 15: 3-4)

Đây là niêm tin của Giáo Hội và là điều Giáo Hội phải dạy cho con con mình tin từ xưa đến nay và còn mãi về sau cho đến ngày cánh chung tức là ngày tận thế hay hết thời gian.

Nhưng sự kiện Giáo Hội vẫn tôn kính Thánh giá với hình Chúa bị đóng đinh ( Crucifix) không có nghĩa không chú trọng đến việc Chúa đã sống lại như anh em Tin Lành quan niệm; mà ngược lại, Giáo Hội muốn nhấn mạnh thêm về ý nghĩa Chúa đã chịu đóng đinh và chết trên thập giá để đền tội thay cho cả nhân loại đáng phải phạt vì tội.

Nghĩa là Giáo Hội muốn cho con cái khi nhìn thân hình Chúa bị treo trên Thánh giá, phải nhớ đến trước tiên điều Thánh Phaolô đã dạy là : " Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình" ( Rm 8: 3)

Lên án tội trong thân xác Con mình , vì con người đã phạm tội trong thân xác nên Thiên Chúa đã sai Con mình là Chúa Giê su Kitô đến trần gian mang thân xác giống thân xác tội lỗi của con người để đền tội thay cho tất cả nhân loại.

Như thế, nếu ai sống theo xác thịt, với những đòi hỏi bất chính, đối nghịch hoàn toàn với bản chất cực tốt cực lành của Thiên Chúa, thì sẽ dẫn đưa đến sự chết đời đời.Ngược lại, ai sống theo thần khí, tức sống theo ý muốn tốt lành của Thiên Chúa được Chúa Thánh Linh soi dẫn, thì sẽ được cứu độ để sống đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau.

Lại nữa, vì Chúa Kitô đã chịu mọi khốn khó trong thân xác mình để đền tội thay cho con người, nên Thánh giá vởi hình Chúa đầu đội mão gai, chân tay bị đanh đóng thâu qua treo trên thập giá sẽ nhắc nhở cho chúng ta về tội lỗi của mọi người chúng ta khiến Chúa phải bị đánh phạt cách nặng nề như vậy.

Do đó,để xứng đáng hưởng công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa, mọi người tín hữu chúng ta phải quyết tâm chừa bỏ tội lỗi để không đóng đanh Chúa thêm lần nào nữa trong tâm hồn mình. Phải xa tránh tội vì chỉ có tội mới làm ngăn cách chúng ta với Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành. Chỉ có tội mới đẩy chúng ta ra khỏi tình yêu của Chúa để thuộc về ma quỷ là kẻ cầm đầu và gây ra mọi tội lỗi và sự dữ từ đầu cho đến bây giờ và còn mãi về sau cho đến ngày hết thời gian.Cứ nhìn vào thực trạng của thế giới hôm nay thì đủ biết tội lỗi ghê gớm thế nào, và vì sao Chúa Kitô còn phải chịu đóng đanh thêm nhiều lần nữa vì tội con người.

Đó là tội giết người, giết thai nhi để lấy các cơ phận của thai nhi đem bán như những món hàng thương mại để kiếm tiền cách vô luân như bọn điều hành cơ quan Planned Parenthood đã và đang làm công khai và hợp pháp từ bao lâu nay ở Mỹ. Đó là tội nhân danh tôn giáo để giết hại những ai không thuộc về phe của chúng, như bọn quá khich Hồi giáo ( ISIS) đang làm ở Trung Đông. Lại nữa, đó là tội ác của bọn buôn người, buôn bán phụ nữ cho nô lệ tình dục, và bắt cóc trẻ gái để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn ở nhiều nơi trên thế giới tục hóa này.

Lại nữa, đó là tội của bọn tham quyền cố vị , cố duy trì cai trị độc ác, để vơ vét của cải, làm giầu cho bọn chúng, và tạo bất công bóc lột người dân lành chẳng may rơi vào ách thống trị của chúng . Sau cùng đó là tội dửng dưng trước sự đau khổ , nghèo khó của biết bao người kém may mắn trong xã hội, nạn nhân của bóc lột và bất công của chế độ cai trị hà khắc.

Sự có mặt của các tội con người đã và đang phạm ở khắp nơi cũng biện minh cho lý do có nơi gọi là hỏa ngục để cho những kẻ đang làm những sự dữ mà không biết sám hối từ bỏ thì sẽ tự dẫn thân đến nơi khốn nạn này để bị trừng phạt xứng đáng với tội họ đã làm khi còn sống trên trần gian này.

Thiên Chúa là Cha rất nhân từ, không muốn ai phải hư mất, vì Người " muốn cho mọi người được cứu độ và nhậm biết chân lý," ( 1 Tm 2: 4). Nhưng chính con người lại muốn chọn bị hư mất, vì đã tự do chọn lựa cách sống nghich cùng Thiên Chúa mà không hề biết ăn năn sám hối để xin Người tha thứ .

Mặt khác, Thánh giá với hình Chúa bị đóng đanh cũng minh chứng hùng hồn điều Chúa Kitô đã nói với các Tông Đồ trước ngày Người bị bắt và bị treo trên thập giá. Chúa nói:

" Không có tình thường nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.

Anh em là bạn hữu của Thầy" ( Ga 15: 13-14)

Chúa coi tất cả chúng ta là bạn hữu của Người, và Chúa đã thực sự hy sinh tính mạng của Người cho chúng ta khi giang tay chịu chết trên thập giá. Vì thế, mỗi lần ngắm hình Chúa bị đóng đanh trên thập giá là dịp cho ta nhớ đến tình thương lớn lao của Chúa dành cho mọi người chúng ta, để từ đó ta thêm quyết tâm yêu mến Chúa Kitô và bước đi theo Chúa là " con Đường, là sự Thật và là sự Sống." ( Ga 14: 6).

Tóm lại, thập giá với thân hình Chúa chịu đóng đanh nhắc cho ta giá đắt Chúa Kitô đã trả cho chúng ta được cứu rỗi, đồng thời cũng nhắc cho ta tình thương vô biên của Thiên Chúa Cha, Đấng đã hy sinh Con mình cho chúng ta được cứu chuộc và có hy vọng được sống đời đời với Chúa trên Thiên Đàng mai sau.

Do đó, Giáo Hội dạy phải tôn kính thập giá với thân hình Chúa Kitô bị treo trên đó cho những ai nhìn lên để xin ơn cứu chuộc, giống như con rắn đồng mà ông Mô-sê đã treo trên cây cột trong sa mạc xưa để những ại bị rắn độc cắn nhìn lên sẽ được cứu sống.(x. Ds 21: 6-9)

Ước mong giải đáp trên đây thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

THANH QUY CHUYỂN

---------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 4 of 84