mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2261
mod_vvisit_counterHôm Qua7908
mod_vvisit_counterTuần Này33056
mod_vvisit_counterTuần Trước54108
mod_vvisit_counterTháng Này188379
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11152972

We have: 142 guests online
Your IP: 54.198.86.28
 , 
Today: Jun 22, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - DE DUOC SONG DOI DOI? PDF Print E-mail

 

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 10, 17-27 - THỨ HAI -CN8TN-B

"Ngươi hãy đi bán tất cả gia tài rồi đến theo Ta".

Khi ấy, Chúa Giêsu vừa lên đường, thì một người chạy lại, quỳ gối xuống trước Người và hỏi: "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?" Chúa Giêsu trả lời: "Sao ngươi gọi Ta là nhân lành? Chẳng có ai là nhân lành, trừ một mình Thiên Chúa. Ngươi đã biết các giới răn: đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt, hãy thảo kính cha mẹ". Người ấy thưa: "Lạy Thầy, những điều đó tôi đã giữ từ thuở nhỏ". Bấy giờ Chúa Giêsu chăm chú nhìn người ấy và đem lòng thương mà bảo rằng: "Ngươi chỉ còn thiếu một điều là ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta". Nhưng người ấy nghe những lời đó, thì sụ nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải. Lúc đó Chúa Giêsu nhìn chung quanh, và bảo các môn đệ rằng: "Những người giàu có vào nước Thiên Chúa khó biết bao". Các môn đệ kinh ngạc vì những lời đó. Nhưng Chúa Giêsu lại nói tiếp và bảo các ông rằng: "Hỡi các con, những kẻ cậy dựa vào tiền bạc, thật khó mà vào nước Thiên Chúa biết bao. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước Thiên Chúa".

Các ông càng kinh ngạc hỏi nhau rằng: "Như vậy thì ai có thể được cứu độ?" Chúa Giêsu chăm chú nhìn các ông, và nói: "Ðối với loài người thì không thể được, nhưng không phải đối với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa làm được mọi sự".

Ðó là lời Chúa.

"Dể được sống đời đời"

Chủ đề "Thày là sự sống" trong Mùa Phục Sinh quả thực đã kéo dài sang cả Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh, như bài Phúc Âm của Thánh ký Marco (10:27-37) cho Thứ Hai Tuần 8 Thường Niên hôm nay cho thấy, qua câu hỏi của một người thành khẩn hỏi Chúa Giêsu: "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?".

Qua câu trả lời của Chúa Giêsu, chúng ta thấy, trước hết, sự sống đời đời được chất chứa ngay trong Thập Giới, nghĩa là ai tuân giữ các giới răn, ít nhất tránh được những gì là tiêu cực thì cũng được rỗi, như Chúa Giêsu đã liệt kê: "đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt, hãy thảo kính cha mẹ".

Ở đây, chúng ta chỉ thấy 7 điều trong Thập Giới mà thôi, từ điều 4 tới điều 10: điều 4 - "thảo kính cha mẹ", điều 5 - "chớ giết người", điều 6 và 9 - "chớ ngoại tình", điều 7 và 10 - "chớ lấy của người" hay "chớ lường gạt" cũng có nghĩa là "chớ tham của người", và điều 8 - "chớ làm chứng dối", hoàn toàn không thấy 3 điều đầu tiên liên quan đến Thiên Chúa đâu.

Vậy chẳng lẽ không cần 3 điều đầu tiên và chính yếu hết sức quan trọng này thì cuối cùng cũng được rỗi, được sống đời đời hay sao?

Có thể, đối với Chúa Giêsu, 3 điều đầu tiên trong Thập Giới chưa được Người nhắc đến liên quan đến vấn đề thứ hai như Người đặt ra cho kẻ đặt vấn đề "được sống đời đời", đó là: "ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta".

Đúng thế, vấn đề thứ hai được Chúa Giêsu nêu lên sau khi liệt kê 7 điều tối thiểu trong Thập Giới thật sự là liên quan đến 3 điều đầu tiên của Thập Giới. Vì một khi thực hành được vấn đề thứ hai này thì con người ta nói chung và con người giầu có trong bài Phúc Âm nói riêng đúng là "thờ phượng và kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự" (điều 1 trong Thập Giới).

Tuy nhiên, trong trường hợp của con người giầu có trong bài Phúc Âm này cũng rất đặc biệt, ở chỗ, cho dù không thể làm theo lời khuyên của Chúa Giêsu trên đây, (một trong 3 lời khuyên của Phúc Âm đó là sống khó nghèo được áp dụng nơi Đời Thánh Hiến tu trì trong Giáo Hội), để có thể sống trọn lành hơn, nhưng người này vẫn không tham lam quá độ, hay vì tham lam mà lường gạt và gian lận sản vật của ai, thậm chí coi tiền bạc hơn mạng người, hay giầu có mà sinh tật trai gái ngoại tình, hoặc khinh thường bất kính với cha mẹ v.v.

Đó là lý do, như Phúc Âm thuật lại, "Chúa Giêsu trìu mến nhìn người ấy", sau khi nghe người này cho biết là "Lạy Thày, những điều ấy tôi đã giữ từ nhỏ". Và đó cũng là lý do Chúa Giêsu mới nhắc nhở con người đã đủ điều kiện tối thiểu để "được sống đời đời" ấy rằng "Ngươi chỉ còn thiếu một điều", đó là sống trọn lành hơn, một đời sống trước hết mang đến cho chính bản thân của đương sự cái lợi đầu tiên đó là được bình an vui sống, chứ không còn cảm thấy băn khoan khắc khoải và bất an nữa, dù bản thân và đời sống của đương sự "có nhiều của cải", một tâm trạng mà đương sự đã không thể nào che giấu ở ngay vấn đề được đương sự thoạt tiên đặt ra hỏi Chúa Giêsu "tôi phải làm gì để được sống đời đời", nhất là qua thái độ cuối cùng của đương sự "bỏ đi với nét mặt u buồn", sau khi nghe lời khuyên sống trọn lành của Người.

Trong lời khuyên của Chúa Giêsu "ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta", chúng ta thấy Người không bảo người giầu có đem bố thí gia tài của anh ta, mà bán trước rồi bố thí sau. "Bán" trước đây có nghĩa là gia tài này có giá trị chứ không phải đồ bỏ, và "bố thí" sau đó "cho người nghèo khó" có nghĩa là trao tặng những gì quí báu của mình cho thành phần có thể hiểu là nghèo khó thật sự về vật chất cần được chia sẻ giúp đỡ, mà cũng có thể nghèo khó về tinh thần bởi lòng tham vô đáy của con người cần ý thức lại trước gương từ bỏ của nghĩa cử "bố thí" rộng lượng của những ai muốn theo Chúa.

Và cũng chỉ sau khi "bán" và "bố thí" "tất cả gia tài" của mình đi, con người mới được "kho báu trên trời", ngay cả trước khi "theo" Chúa, chứ không phải chỉ sau khi theo Chúa mới được. Bởi vì "kho tàng của các con ở đâu thì lòng các con cũng ở đó" (Mathêu 6:21). Như thế, so với "kho báu trên trời" thì "tất cả gia tài" của con người trên trần gian này chẳng có là gì, vậy mà chỉ cần "bán" và "bố thí" đi "tất cả gia tài" chẳng bao nhiêu của mình thì họ như thể đổi 1 xu lấy 1 triệu vậy. Vì cho dù "tất cả gia tài" của con người ở trên đời này có giá trị đến đâu chăng nữa, cũng không quí bằng "kho báu trên trời" vốn là những gì vô giá không gì có thể so sánh được. Nghĩa là chỉ khi nào lòng của con người không còn quyến luyến một sự gì trên thế gian này nữa, dù tự bản chất của chúng là tốt và cần, ngoài một mình Thiên Chúa, họ mới có thể theo Chúa mà thôi: "Không ai có thể làm tôi hai chủ... Các con không thể vừa phụng sự Thiên Chúa và làm tôi tiền của được" (Mathêu 6:24).

Chính vì "người ấy nghe những lời đó, thì sụ nét mặt và buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải" mà "lúc đó Chúa Giêsu (mới) nhìn chung quanh, và bảo các môn đệ rằng: 'Những người giàu có vào nước Thiên Chúa khó biết bao' (khiến) các môn đệ kinh ngạc vì những lời đó. Nhưng Chúa Giêsu lại nói tiếp và bảo các ông rằng: 'Hỡi các con, những kẻ cậy dựa vào tiền bạc, thật khó mà vào nước Thiên Chúa biết bao. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu có vào nước Thiên Chúa'. Các ông càng kinh ngạc hỏi nhau rằng: 'Như vậy thì ai có thể được cứu độ?' Chúa Giêsu chăm chú nhìn các ông, và nói: 'Ðối với loài người thì không thể được, nhưng không phải đối với Thiên Chúa, vì Thiên Chúa làm được mọi sự'.

Thật vậy, con người không thể tự độ, tức tự mình cứu độ được mình, mà Thánh Phêrô tông đồ, vị đã đầy kinh nghiệm bản thân về khả năng của mình trước cám dỗ và thử thách đức tin, mới có những cảm nhận chí lý đầy xác tín trong Bài Đọc hôm nay: "Chúc tụng Thiên Chúa là Cha Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, vì lòng từ bi cao cả, nhờ việc Ðức Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại, Người đã tái sinh chúng ta để chúng ta hy vọng được sống, được hưởng gia nghiệp không hư nát, tinh tuyền, không suy tàn, dành để cho anh em trên trời. Anh em được bảo vệ trong quyền năng của Thiên Chúa, nhờ tin vào sự cứu độ đã được mạc khải trong thời sau hết".

Và vì không thể tự độ nhưng phải tin tưởng vào ơn cứu độ của một Vị Thiên Chúa "từ bi cao cả qua Đức Giêsu Kitô" như thế mà, như ngài khuyên dạy và phấn chấn Kitô hữu Do Thái cũng như cho Kitô hữu hậu thế chúng ta, nhất là thành phần giầu có như nhân vật trong Bài Phúc Âm hôm nay, trong Bài Đọc 1 hôm nay rằng: "Lúc đó anh em sẽ vui mừng, tuy bây giờ anh em phải buồn sầu một ít lâu, giữa trăm chiều thử thách, để đức tin anh em được tôi luyện nên quý hơn vàng được thử lửa bội phần, nhờ đó, anh em được ngợi khen, vinh quang và vinh dự, khi Ðức Giêsu Kitô hiện đến. Anh em yêu mến Ngài, dù không thấy Ngài, và anh em tin Ngài, dù bây giờ anh em cũng không thấy Ngài, bởi anh em tin, anh em sẽ được vui mừng vinh quang khôn tả, vì chắc rằng anh em đạt tới cứu cánh của đức tin là phần rỗi linh hồn".

Cảm nhận được cứu độ bởi lòng Chúa xót thương như thế, nhất là những tâm hồn như nhân vật trong bài Phúc Âm hôm nay, cho dù giầu có về vật chất mà vẫn khôn nguôi băn khoăn khắc khoải: "tôi phải làm gì để được sống đời đời", tức là nhân vật này thực sự "chỉ còn thiếu một điều duy nhất", để có thể hoàn toàn mãn nguyện, đúng như tầm vóc loài người của mình được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh của Ngài và tương tư như Ngài (xem Khởi Nguyên 1:26-27), Đấng duy nhất có thể trở thành "kho báu trên trời" của mình, và cũng chỉ có bấy giờ, tâm hồn nào được cứu độ mới có được tâm tình hân hoan chúc tụng ngợi khen Chúa trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Tôi sẽ ca tụng Chúa hết lòng, trong nhóm hiền nhân và trong Công hội. Vĩ đại thay công cuộc của Chúa tôi, thực đáng cho những người mến yêu quan tâm học hỏi.

2) Chúa đã ban lương thực cho những ai tôn sợ Người, cho tới muôn đời Người vẫn nhớ lời minh ước. Chúa tỏ cho dân Người thấy công cuộc quyền năng của Người, hầu ban cho họ được phần sản nghiệp của chư dân.

3) Chúa đã gởi tặng ơn giải phóng cho dân Người, đã thiết lập lời minh ước muôn đời, danh Người thực là thánh thiện và khả uý. Lời khen ngợi Chúa còn tồn tại đến muôn đời.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO -CO DUOC PHEP BO DAO PDF Print E-mail

CÓ ĐƯỢC PHÉP BỎ ĐẠO CÔNG GIÁO ĐỂ GIA NHẬP MỘT GIÁO PHÁI TIN LÀNH NÀO KHÔNG ?
Thực tế ngày nay là có rất nhiều người Công Giáo không còn hiệp thông với Giáo Hội vì không tham dự và thực hành đời sống bí tích như đi dự lễ các ngày Chúa Nhật và xưng tội rước lễ nữa.
Lại có những người đã bỏ Giáo Hội để gia nhập một giáo phái Tin Lành, vì cho rằng các mục sư Tin Lành giảng đạo hay hơn các linh mục và không ngăm đe những ai sống bê bối như thay chồng đổi vợ, phái thai, cờ bạc, buôn bán gian lận
v.v.Thêm vào đó cũng có nhều người cũng đồng ý với anh em Tin Lành cho rằng chỉ cần đọc Kinh Thánh là đủ, không cần đi tham dự Thánh Lễ và rước Mình Máu Chúa Kitô.
lại nữa,cũng không thiều gì những người không bao giờ đi xưng tội, nhưng cứ lên rước lễ , mặc dù đang ngoại tình hay chung sống không kết hôn với người khác!.
Chúng ta phải nghĩ thế nào về những người có những lối sống trên đây ?
Trước hết, chúng ta phải tin rằng Thiên Chúa là tình yêu. Người chậm bất bình và hay tha thứ .Chúng ta cũng tin Chúa Kitô, Đấng "đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người," (Mt 20: 28)
Tuy nhiên , chúng ta không được quên, hay coi thường những lời dạy của Chúa Kitô về điều kiện cho ta được cứu rỗi để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành.
Vì thế, nếu chỉ cần nghe lời Chúa mà không phải làm gì về phần mình, thì Chúa Kitô đã chẳng nói với dân chúng đến nghe Người rao giảng Tin Mừng xưa kía như sau:
" Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" ( Mc 1: 15)
Tại sao phải sám hối ?
phải sám hối để nhìn nhận mình là kẻ có tội để xin Chúa thứ tha. Phải tin vào Tin Mừng vì đó là ánh sáng chỉ đường cho ta đến với Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, " Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4). Tin vào Tin Mừng cũng có nghĩa là sống theo những lời Chúa dạy các Tông Đồ và dân chúng xưa để được cứu rỗi.
Chúa Kitô đã thiết lập Giáo Hội của Người trên nền tảng các Tông Đồ để chuyên chở ơn cứu độ của Chúa đến với hết mọi người trong nhân loại mà Chúa đã hy sinh đổ máu mình ra và chết trên thập giá để cho nhân loại được cứu rỗi.
Cho nên, gia nhập Giáo Hội của Chúa qua phép rửa là việc tối cần thiết cho những ai muốn lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô qua Giáo Hội là " Thân Thể Nhiệm Mầu"(Mystical Body) của Người ở giữa trần gian.
Cho mục đích cứu độ, Giáo Hội của Chúa được ví như Con Tầu của ông Nô-E trong ngày Đại Hồng Thủy , khi Thiên Chúa cho mưa rơi trong 40 đêm ngày làm ngập lụt cả địa cầu, và chỉ những người và sinh vật đã được đưa lên Tầu của ông Nô-e mới thoát chết mà thôi. ( St 6-7).
Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, đã dạy rằng về Giáo Hội của Chúa như sau:
" Giáo Hội ấy tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các giám mục hiệp thông với ngài điều khiển.." ( LG số 8)
Nói rõ hơn, Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội thật của Chúa Kitô, có mặt và hoạt động trên trần thế như phương tiện hữu hiệu chuyên chở ơn cứu độ của Chúa Kitô đến với những ai muốn hưởng nhờ ơn này qua Giáo Hội.
Do đó, " những ai biết rằng Giáo Hội Công Giáo, được Thiên Chúa thiết lập nhờ Chúa Giêsu Kitô, như phương tiện cứu rỗi cần thết mà vẫn không muốn gia nhập , hoặc không muốn kiên trì sống trong Giáo Hội này thì không thể được cứu rỗi." ( LG, số 14)
Như vậy, không thể lấy lý do linh mục không giảng hay bằng các mục sư Tin Lành
để rời bỏ Giáo Hội mà gia nhập một nhánh Tin Lành nào như một số người đã làm.
Nhưng thế nào là giảng hay ?
Giảng hay vì nói hùng hồn hấp dẫn người nghe, hay vì có nội dung sâu sắc mời gọi người nghe thêm lòng yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người ?
Nếu chỉ nói hấp dẫn mà không có nội dung thuyết phục thì không thể nói là giảng hay được, vì bài giảng của linh mục trong Thánh Lễ phải ưu tiên cắt nghĩa lời Chúa qua các bài đọc, cách riêng bài Phúc Âm, và đưa ra được những áp dụng thiết thực đánh động tâm hồn người nghe để giúp họ thêm yêu mến và sống lời Chúa hàng ngày thì mới đạt mục đích giảng lời Chúa. Ngược lại, chỉ nói cho hấp dẫn với những câu truyện vui tai mà không liên hệ gì đến nội dung lời Chúa thì không thể
nói là giảng hay được. Về điểm này, chúng ta cũng công nhận các nhà giảng thuyết Tin Lành trên các băng tầng TV có tài giảng thuyêt rất hùng hồn , hấp dẫn người nghe. Nhưng đa số chỉ nói cách chung chung về lời Chúa mà không đưa ra được những áp dụng cụ thể giúp người nghe nhìn lại đời sống và niềm tin của mình xem có phù hợp với tình yêu của Chúa hay không.
Thiên Chúa là tình yêu. Đó là điều Giáo Hội và mọi giáo phái Tin Lành và Anh Giáo phải nhìn nhận và rao giảng.Nhưng ca tụng tình yêu của Chúa mà không biết sống cho phù hợp với tình yêu ấy thì không ích gì, căn cứ trên chính lời Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa, Lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu; mà chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi,." ( Mt 7: 21)
Nghĩa là không thể chỉ đọc lời Chúa trong Kinh Thánh, chỉ nghe giảng hay mà không áp dụng những gì đọc và nghe vào đời sống của mình thì để tăng thêm lòng yêu mến Chúa và quyết tâm xa tránh tội lỗi thì cũng vô ích mà thôi.
Cụ thể, nếu nghe giảng hay hùng hồn về Chúa nhưng nếu vẫn sống phản chứng như cờ bạc, ngoại tình, dâm đãng gian tham, thù nghét người khác, buôn bán phụ nữ và trẻ nữ cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi, cũng như dửng dưng trước sự thiếu thốn đau khổ của người nghèo khó, thì nghe giảng hay có ích lợi gì ?
Ngược lại, không được nghe giảng hay, nhưng biết qui hướng đời mình vào lời Chúa để sống theo đường lối của Chúa, là xa lánh tội lỗi và mọi thói hư tật xấu của người đời, của thế giân vô luân vô đạo thì đó mới là " thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên Trời " để được vào Nước Trời như Chúa Giêsu đã dạy trên đây.
Như vậy , ai bỏ Đạo Công Giáo để đi theo một đạo nào hay một nhánh Tin Lành nào đó, chỉ vì muốn nghe giảng hay, hấp dẫn thì đó không phải là lý do để tự dối mình , để rời bỏ Giáo Hội mà đi theo giáo phái khác không có nguồn gốc Tông đồ, thiếu các bí tích ban sự sống như Thánh Thể và Hòa giải là những phương tiện cứu độ hữu hiệu mà Chúa Kitô đã ban cho Giáo Hội của Người tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo mà người tin hữu chúng ta hãnh diện nhận mình là thành viên.
Vậy ai đã đi vào con đường này thì cần phải nghĩ lại để kịp thời quay về với Giáo Hội để hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.
Mặt khác, là người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, mọi người được mời gọi không những siêng năng nghe lời Chúa trong Kinh Thánh, trong phụng vụ và qua các bài giảng của linh mục trong các Thánh Lễ, mà cần thiết phải năng rước Mình Máu Chúa Kitô qua bí tích Thánh Thể và năng xưng tội để tâm hồn luôn được sống bình an trong ơn nghĩa Chúa, là bảo đảm cho sự cứu rỗi để vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu mai sau trên Nước Trời.Nói cách khác, đọc và nghe lời Chúa là cần thiết nhưng cũng cần thiết không kém là năng lãnh nhận các bí tích ban sự sống như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải và Xức dầu mà chỉ Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương có mà thôi. Anh em Tin Lành và Anh Giáo không có các bí tích quan trọng này nên tin đồ của họ đã thiếu hẳn nguồn ơn ích thiêng liêng đến từ các bí tích đó.
Không ai có thể phủ nhận những ơn thánh đặc biệt Chúa ban qua Bí Tích Thánh Thể và Hòa giải để giúp con người ngày càng trở nên giống Chúa Kitô, là " đường, là sự thật và là sự sống." ( Ga 14:6), những lợi ích thiêng liêng lớn lao mà các giáo phái ngoài Công Giáo không thể có được, dù họ có nói hay, giảng giỏi đến đâu chăng nữa.
Ngay cả người Công giáo mà không siêng năng lãnh nhận Mình,Máu Thánh Chúa Kitô cũng như năng chậy đến với bí tích hòa giải thì chắc chắn không thể lớn lên trong đời sống thiêng liêng và trong thân tình với Chúa được , vì " ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy mất." ( Mt 13: 12) .
Nói rõ hơn, ai siêng năng cầu nguyện và lãnh các bí tích Thánh Thể và hòa giải, thì sẽ tiến lại gần Chúa hơn, và nhiên hậu trở nên thánh thiện hơn.
Ngược lại, ai thờ ơ, không cầu nguyện, ít lãnh rước Mình Máu Chúa Kitô, không bao giờ đi xưng tội, thì tâm hồn sẽ nguội lạnh, đức tin sẽ mong manh và lòng mến cũng sẽ tàn lụi theo thời gian, vì không được bổ sức thiêng liêng đến từ các bí tích quan trọng đó..
Lại nữa, giáo lý của Giáo Hội dạy ta phải sạch tội nhất là tội trọng ( mortal sin) thì mới xứng đấng lãnh nhận Mình Thánh Chúa trong Thánh Lễ.Do đó, ai có tội trọng thì không được làm lễ ( linh mục) và rước lễ ( giáo dân)( x. giáo luật số 916. SGLGHCG số 1415)
Nói khác đi, những ai đang sống chung với người khác như vợ chồng mà không kết hôn, hay đã li dị mà chưa được tháo gỡ hôn phối cũ theo giáo luật mà lại sống chung với người khác như vợ chồng, thì tạm thời không được lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải. Không phải cứ đi lễ là lên rước lễ mà không cần biết mình đang sống trong tình trạng nào, có tội hay đang bị trở ngại về hôn phối. Chúa mời gọi mọi người ăn uống Mình Máu thánh Người. Tuy nhiên, phải loại trừ những trở ngại cho việc kết hơp với Chúa qua bí tích Thánh Thể như đã nói trên.
Tóm lại, ai không kiên trì sống trong Giáo Hội và siêng năng lãnh nhận các bí tích ban sự sống thì sẽ không thể góp phần hữu hiệu của cá nhân vào công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô để được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn cho mọi người chúng ta.Chúa muốn cứu độ chúng ta, nhưng chúng ta cũng phải tỏ thiện chí muốn được cứu rỗi bằng quyết tâm sống theo đường lối của Người, xa lánh những nguy cơ đe dọa cho niềm tin có Chúa như thuyết vô thần, vô luân, tôn thờ tiền bạc và của cải vật chất, chuộng khái lạc ( hedonism) dâm ô sa đọa, là bộ mặt rất nhơ nhuốc của thế giới tục hóa ngày nay.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO- THU BAY 26-5-2018 PDF Print E-mail

Chúa Nhật sau Lễ Hiện Xuống

Lễ Chúa Ba Ngôi Năm B

Alleluia, alleluia! - Sáng danh Ðức Chúa Cha, và Ðức Chúa Con, và Ðức Chúa Thánh Thần; sáng danh Thiên Chúa, Ðấng đang có, đã có và sẽ đến. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 28, 16-20

"Làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".

Khi ấy, mười một môn đệ đi về Galilêa, đến núi Chúa Giêsu chỉ trước. Khi thấy Người, các ông thờ lạy Người, nhưng có ít kẻ còn hoài nghi. Chúa Giêsu tiến lại nói với các ông rằng: "Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy. Vậy các con hãy đi giảng dạy muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần; giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy Nghiệm- SỐNG Lời Chúa

"Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".

Phụng Vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi, đối với bài đọc chính là bài Phúc Âm, thì bài Phúc Âm cho chu kỳ 3 Năm A, B và C không còn theo thứ tự ấn định nữa, Năm A với Phúc Âm Thánh Mathêu, Năm B với Phúc Âm Thánh Marcô và Năm C với Phúc Âm Thánh Luca.

Bởi vì, Phúc Âm Thánh Luca và Phúc Âm Thánh Marcô không có đoạn nào chất chứa mạc khải rõ ràng về Chúa Ba Ngôi (cho dù các đoạn Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa và Chúa Giêsu Biến Hình ở 2 Phúc Âm này cũng ám chỉ về Chúa Ba Ngôi), như các đoạn khác trong Phúc Âm Thánh Mathêu hay trong Phúc Âm Thánh Gioan.

Đó là lý do Giáo Hội đã chọn đọc Phúc Âm của Thánh Gioan cho Năm A (3:16-18) cũng như cho Năm C (Gioan 16:12-15), và Phúc Âm Thánh Mathêu cho Năm B (28:16-20). Chắc chắn việc Giáo Hội chọn lựa 3 bài Phúc Âm cho Chúa Nhật Lễ Chúa Ba Ngôi như thế cũng có một mật thiết liên hệ với nhau về ý nghĩa của 3 bài Phúc Âm này, theo thứ tự Phúc Âm Thánh Gioan (Năm A) rồi sang Phúc Âm Thánh Mathêu (Năm B) và trở lại với Phúc Âm Thánh Gioan (Năm C), chứ không sử dụng bài Phúc Âm Thánh Mathêu cho Năm A đầu tiên vì Phúc Âm này là Phúc Âm chất chứa mạc khải về Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi rõ nhất trong toàn bộ Thánh Kinh.

Đúng thế, tôi cho rằng bài Phúc Âm của Thánh Mathêu cho Năm B là bài Phúc Âm chính yếu cho Lễ Chúa Ba Ngôi, không phải vì bài Phúc Âm này chất chứa rõ ràng Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi: "Các con hãy rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" (Mathêu 28:19), mà còn vì bài Phúc Âm này có liên hệ mật thiết với hai bài Phúc Âm của Thánh Gioan ở Năm A và Năm C nữa. Tại sao?

Xin thưa, nếu có một số con người nào đó, trong đó có chúng ta, được Thiên Chúa dựng nên và sinh vào trần gian này theo tự nhiên, nhưng sau đó đã được trở nên thành phần dưởng tử của Thiên Chúa qua Phép Rửa (như Phúc Âm Thánh Mathêu Năm A đề cập), là do hoàn toàn bởi Thiên Chúa, Đấng "đã yêu thương thế gian đến ban Con Một của Ngài để ai tin vào Người thì không phải chết nhưng được sự sống đời đời" (như Phúc Âm Thánh Gioan Năm A cho thấy), nhờ đó, họ có thể được hiệp thông thần linh với Ba Ngôi do Thánh Thần là Đấng lầy tất cả những gì của Cha nơi Con mà "thông ban" cho họ (như Phúc Âm Thánh Gioan Năm C trình thuật).

Ở đây, qua bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu liên quan đến Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi, chúng ta nên lưu ý mấy điều sau đây:

1- Chúa Giêsu truyền cho các các tông đồ 3 sứ vụ liền: "đi tuyển mộ các môn đồ từ mọi dân nước", "làm phép rửa cho họ" và "giảng dạy họ tuân giữ mọi điều Thày đã truyền cho các con". Ba việc này liên quan đến 3 vai trò của hàng giáo phẩm (bao gồm cả hàng giáo sĩ), đó là vai trò quản trị ("các môn đồ"), vai trò thánh hóa ("làm phép rửa") và vai trò giáo huấn ("giảng dạy"). Ở một nghĩa nào đó, 3 sứ vụ này, theo thứ tự, cũng liên quan đến Mầu Nhiệm Thiên Chúa 3 Ngôi là Cha (Đấng Hóa Công - đã tạo dựng nên "mọi dân nước"), và Con (Đấng Cứu Thế - cần phải tin vào Người bằng việc lãnh nhận "phép rửa") và Thánh Thần (Thần Chân Lý - Đấng đã dùng các tiên tri mà "giảng dạy").

2- Vấn đề ở đây là nếu 3 Ngôi chỉ là một Thiên Chúa duy nhất vì đồng bản thể, thì tại sao lại xẩy ra vấn đề "sai" nhau: Cha sai Con (xem Gioan 3:17, 5:37, 10:36, 12:49, 14:24, 20:21 v.v.) và Con sai Thánh Thần (xem Gioan 16:26; Luca 24:49). Theo lập luận và lý lẽ tự nhiên thì thành phần được sai bao giờ cũng thấp kém hơn vị sai mình, thế nhưng, nơi Mầu Nhiệm Ba Ngôi được "sai" đây có nghĩa là xuất phát từ: Con nhiệm sinh từ Cha, và Thánh Linh nhiệm xuất từ Cha và Con. Nơi Thiên Chúa là Đấng tự hữu, hiện hữu và hằng hữu không có thời gian nên không có vấn đề Cha sinh ra Con nên có trước Con và Thánh Linh được nhiệm xuất từ Cha và Con nên có sau Ngôi Cha và Ngôi Con.

3- "Rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần" ở đây, nhờ vai trò thánh hóa của Giáo Hội, qua các thừa tác viên thánh chức của Giáo Hội, không phải chỉ có ý nghĩa tiêu cực là "rửa tội", là "thanh tẩy", là tha "nguyên tội" và tư tội (nếu đã khôn lớn) cho người lãnh nhận cùng với tất cả mọi hình phạt gây ra bởi tội họ đáng phải chịu, mà còn bao gồm ý nghĩa tích cực chính yếu đó là thông ban sự sống thần linh của Thiên Chúa và với Thiên Chúa cho lãnh nhận nhân, nhờ đó thành phần lãnh nhận Phép Rửa được thông phần với bản tính thần linh của Thiên Chúa mà trở nên con cái của Thiên Chúa Ngôi Cha, chi thể của Thiên Chúa Ngôi Con và đền thờ của Thiên Chúa Ngôi Ba.

Theo đức tin và giáo lý của Giáo Hội Công Giáo thì cho dù có 3 Ngôi Vị khác nhau nhưng vẫn chỉ là một Thiên Chúa Duy nhất chứ không phải là 3 Thiên Chúa: 1 x 1 x 1 = 1 chứ không phải 1 + 1 + 1 = 3. Ngôi Cha là Thiên Chúa hay Thiên Chúa Ngôi Cha. Ngôi Con là Thiên Chúa hay Thiên Chúa Ngôi Con. Ngôi Thánh Thần là Thiên Chúa hay Thiên Chúa Ngôi Ba. Bởi vì, 3 Ngôi Vị tuy khác về tính cách hay sứ vụ ngoại tại của mình, nhưng nội tại hoàn toàn "đồng bản thể". Thiên Chúa Ngôi Con bởi Thiên Chúa Ngôi Cha - "được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha" (Kinh Tin Kính của Công Đồng Chung Nicea và Constantinople cho cả Giáo Hội Chính Thống Giáo và Giáo Hội Công Giáo), và Thiên Chúa Ngôi Ba là Thánh Thần "bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra" (Kinh Tin Kính của Giáo Hội Công Giáo).

Nếu chân lý Ba Ngôi được Thánh Kinh Tân Ước nói chung và Phúc Âm nói riêng mạc khải thì chân lý Thiên Chúa chân thật duy nhất là tất cả mạc khải thần linh của Thánh Kinh Cựu Ước và trong Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái. Đó là lý do trong bài đọc 1 hôm nay, được trích từ sách Đệ Nhị Luật (4:32-34,39-40), Ông Moisen, sau khi chứng minh cho thấy kỳ công trong thiên nhiên vạn vật cũng như và nhất là trong lịch sử của chính dân Do Thái, để khuyên dân "hãy tuân giữ các lề luật và giới răn mà hôm nay chính ta truyền dạy", mới khẳng định với dân của mình rằng: "Trên trời dưới đất, chính Chúa là Thiên Chúa, chớ không có Chúa nào khác" - Thiên Chúa duy nhất!

Trong bài đọc 2 hôm nay, được trích từ Thư Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Rôma (8:14-17), vị tông đồ dân ngoại này nhắc nhở Kitô hữu về sự sống thần linh nơi họ là thành phần đã được trở nên con cái Thiên Chúa, một sự sống thần linh của Ba Ngôi Thiên Chúa và với Thiên Chúa Ba Ngôi, một sự sống thần linh nhờ Thánh Thần là Đấng đã được ban cho chúng ta và ở trong chúng ta để làm cho chúng ta thành con cái Thiên Chúa, nên một với Chúa Kitô là Con Duy Nhất của Thiên Chúa và cùng với Chúa Kitô trở nên những kẻ "thừa tự của Thiên Chúa":

"Chính Thánh Thần đã làm chứng cho tâm trí của chúng ta rằng: Chúng ta là con cái của Thiên Chúa. Vậy nếu chúng ta là con cái, thì chúng ta cũng là những người thừa tự: nghĩa là những người thừa tự của Thiên Chúa, và đồng thừa tự với Đức Kitô: vì chúng ta đồng chịu đau khổ với Người, để rồi chúng ta sẽ cùng hưởng vinh quang với Người".

"Sáng danh Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - KHUNG HOANG VƠ CHONG PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
May 23 at 10:26 PM
GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN TRONG ĐỜI SỐNG VỢ CHỒNG

"Ngày 01-6-2010, hầu như tất cả mọi phương tiện truyền thông như truyền thanh, truyền hình, internet và báo chí đều phát thanh, phát hình và đang tải một tin mà ảnh hưởng của nó đến rất nhiều người và mang một ý nghĩa hết sức quan trọng. Tin về việc ông Al và bà Tipper Gore quyết định chia tay. Nhiều lời bình luận và nhiều bán tán xôn xao về tin này. Nhưng câu hỏi mà các nhà bình luận vẫn không có câu trả lời thỏa đáng, đó là câu hỏi tại sao?

Tại sao một cuộc tình đầu, hai người yêu nhau hồi còn cắp sách đến trường, đến nay sau 40 năm chung sống với 4 người con lại có kết thúc như vậy.

Tại sao một cặp vợ chồng mà người chồng đã từng là Phó Tổng Thống, ứng viên tranh chức tổng thống và đoạt giải Nobel Hòa Bình, mà vẫn không có đủ yếu tố để giữ cho đến chết mối tình và hạnh phúc hôn nhân của mình.

Và Tại sao trong những năm sóng gió của tám năm Phó Tổng thống, của những ngày tháng tranh cử chức Tổng thống, cũng như suốt 40 năm qua đã không làm hạnh phúc họ phải tan vỡ, mà phải chờ đến giờ này ?..." (Theo TS Trần Mỹ Duyệt, bài 'Những thách thức của sự trung thành trong đời sống hôn nhân').

Ông bà ta thường nói: "Vợ chồng như đũa có đôi". Thực vậy, vì khi kết hôn hai bạn tự nguyện cam kết sánh đôi cùng hội cùng thuyền và sống chung với nhau đến hết cuộc đời. Họ chấp nhận đầu gối tay ấp để bảo vệ hạnh phúc gia đình. Thế nhưng, thực tế cho thấy không phải bất kỳ cuộc hôn nhân nào cũng êm ái và phẳng lặng cả. Sóng gió có thể nổi lên bất cứ lúc nào. Và trong nhiều trường hợp, kết cục trở nên bi thảm, đó là xảy đến việc ly hôn ly dị.

"Một thống kê cho biết tỉ lệ ly hôn ở Việt Nam chiếm 31%-40%, trong đó tuổi thọ hôn nhân bình quân của thế hệ 8x đưa nhau ra tòa dao động trong khoảng... 30 tháng" (Theo TS Nguyễn Minh Hòa, ĐH KHXHNV TP.HCM – TTO 01-10-2008).

Một thực tế bi đát, xem ra đáng báo động!

Tuy nhiên, có thể nói bất kỳ cuộc ly hôn nào cũng có lí do riêng của nó. Không phải bỗng dưng mà người ta đưa nhau ra tòa. Câu nói trước tòa của đôi bạn thường là "Chúng tôi không hợp nhau...", nhưng đó chỉ là cách nói chung chung. Chắc chắc trong đời sống vợ chồng, họ đã có những mâu thuẫn nào đó, có thể rất nhỏ nhưng kéo dài nhiều năm tháng khiến một trong hai hoặc cả hai người cảm thấy mệt mỏi, chán chường và muốn "ra riêng". Có người bi quan đã nhận định thế này: "Cãi lộn chiếm phần lớn đời sống hôn nhân, phần còn lại không có gì đặc sắc" (Thornoton Wilder).

Vậy để giảm bớt căng thẳng và mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng, chúng ta thử nghĩ đến một số giải pháp đơn giản nhờ đó hai bạn có đủ can đảm giải quyết những bất đồng giữa nhau, để có thể vững bước đồng hành đến cuối cuộc đời.

1. Nhận diện nguyên do gây mâu thuẫn

Trước hết phải khẳng định một điều: những mâu thuẫn bất đồng trong đời sống vợ chồng là chuyện tự nhiên, thường tình như tục ngữ VN có câu: "Chén bát còn có lúc xô xát, huống chi vợ chồng". Do đó, đối với vợ chồng, vấn đề không phải là "giải phóng" hết mâu thuẫn bất đồng giữa hai người, nhưng là tìm ra những nguyên do nào gây nên những mâu thuẫn, bất đồng ấy để có giải pháp xử lý thích hợp. Mâu thuẫn có thể là do khác biệt về tính cách, tính tình. Có thể do cách suy nghĩ khác nhau về nhân sinh quan hay do sự đối lập trong cách phản ứng đối với những tình huống trong giao tiếp. Có thể là do bất đồng trong cách quản lý chi tiêu ngân sách trong gia đình. Có thể là do không cùng quan điểm trong việc nuôi dạy con cái. Cũng có thể do những trục trặc thầm kín trong "chuyện vợ chồng" vv. Nguyên do thì có nhiều. Nhưng điều quan trọng vẫn là hai bạn nên bình tĩnh xem xét vấn đề, khôn ngoan suy nghĩ và thận trọng quyết định. Căn bản vẫn là Tình Yêu. "Yêu nhau trăm sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng" (Ca dao VN).

2. Im lặng là vàng

Nguyên tắc đầu tiên mà các nhà tư vấn tâm lý khuyên ta thực hành, đó là khi gặp mâu thuẫn, cả hai cùng im lặng. Im lặng không có nghĩa là chịu đựng cách tiêu cực mà là bình tĩnh trước sự việc. Không nóng vội. Không bốc đồng. Không thành kiến. Im lặng là sự biểu lộ của lòng vị tha và bao dung. Có người đã nói: "Phân nửa những vấn đề trong hôn nhân được giải quyết bằng cách giữ im lặng". Đúng vậy, vì khi xảy ra "vấn đề" nào đó giữa hai người với nhau, những tranh luận cãi cọ "bằng lời" đôi khi chỉ như đổ thêm dầu vào lửa. Kinh nghiệm dân gian là: "Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm sôi nhỏ lửa một đời chẳng khê". Và cũng có ý kiến này: "Phải có hai người mới đủ gây lộn, nhưng người có lỗi vẫn là người nói nhiều nhất" (It takes two to make a quarrel and the one in the wrong is the one does the most talking).

3. Nghệ thuật nhượng bộ

Trong lúc hai vợ chồng bất đồng, người nào biết cách nhượng bộ, người đó là người chiến thắng. Sự nhượng bộ sẽ đem lại hòa khí trong gia đình và nhất là có sức mạnh thuyết phục phía-bên-kia cũng nhượng bộ như mình. Ông bà ta khuyên, "một sự nhịn chín sự lành", nghĩa là nếu biết nhịn nhục, ta sẽ dễ dàng làm lành với nhau và cuộc chiến sẽ mau chóng kết thúc...Tác giả André de Mission đã viết: "Tìm hiểu nhau ba tuần, yêu nhau ba tháng, cãi nhau ba năm và nhường nhịn nhau suốt quãng đời còn lại". Trong đời sống gia đình, ai mà chẳng mong ước hòa khí. Nếu cả hai bạn đều có thiện chí muốn nhượng bộ để làm hòa với nhau, thì chắc chắn gia đình sẽ êm ấm. Văn hào Alfred Musset đã nói: "Trong tình yêu,niềm khoái lạc nhất là lúc làm lành với nhau sau khi cãi vã".

4. Tham khảo ý kiến của người khác

Khi các bạn gặp "vấn đề" trong đời sống vợ chồng, các bạn nên tham khảo ý kiến của nhiều người khác. Là người trong cuộc, có thể các bạn sẽ nhìn "vấn đề" một cách phiến diện, chủ quan. Vì vậy ta nên tham khảo ý kiến của người khác. Người khác có thể là cha mẹ, gia đình đôi bên. Có thể là anh chị em trong gia đình. Có thể là thầy cô đã từng dạy dỗ mình. Có thể là bạn bè, đồng nghiệp. Và cũng có thể là cha giải tội hay người phụ trách đoàn thể bạn tham gia vv. Những người mà bạn tham khảo sẽ cho các bạn những ý kiến bổ ích, nhờ đó các bạn tìm được một giải pháp thích hợp cho hoàn cảnh và tình huống cụ thể của mình. Có khá nhiều đôi bạn đã làm lành được với nhau sau một vài cuộc xung đột nặng nề vì họ đã biết lắng nghe và thực hiện sự chỉ dẫn của những người ngoài cuộc...

5. Tìm sự động viên của con cái và người thân trong gia đình

Trong "cuộc chiến" giữa hai vợ chồng, đôi lúc ta cảm thấy đơn độc và thất vọng. Nhưng nếu có sự tiếp tay, động viên từ phía gia đình, nhất là từ con cái, ta sẽ được nâng đỡ, ủi an. Để tránh cãi vã kéo dài, con cái có thể giúp cha mẹ hòa giải với nhau. Vai trò của con cái thật là thuận lợi và đắc lực. Con cái càng lớn, tiếng nói của họ càng nặng ký. Vì vậy, nếu một trong hai bạn biết tranh thủ sự hỗ trợ của con cái thì bầu khí gia đình sẽ được cải thiện và dần dần lấy lại được hòa khí. Hạnh phúc thì ai cũng ước mong và không ai muốn mất đi cả. Con cái chúng ta sẽ hiểu được điều đó. Vì "Tất cả kho tàng trên trái đất này đều không thể sánh bằng hạnh phúc gia đình" (Caldéron).

6. Hãy biết mình

Cổ nhân có câu: "Biết người biết ta, trăm trận trăm thắng". Trong mâu thuẫn vợ chồng, sở dĩ người ta khó làm lành với nhau là vì ai cũng nhận phần thắng về cho mình. Ai cũng nghĩ là mình phải và người kia trái. Ai cũng muốn đổ lỗi cho bạn mình trong khi mình cũng có lỗi. Vậy tốt nhất là mỗi người hãy tự biết mình. Bạn hãy tập thói quen "xét mình" vào buổi tối trước khi ngủ. Bảng "xét mình" sẽ chia làm hai cột, một bên là "Điểm mạnh/ tốt", một bên là "Điểm yếu/ chưa tốt". Dựa vào kết quả này, bạn sẽ thấy mình như thế nào, đang ở đâu, cần thay đổi gì...Cũng thế, nếu bạn đời của bạn cũng làm như bạn và cả hai cùng chia sẻ cho nhau biết về con-người-thực của nhau, thì lúc đó chắc chắn bạn sẽ có cái nhìn khác hơn về mình và về người bạn đời của bạn. Người đời khuyên: "Hãy vững tin vào những mặt mạnh của nhau và bỏ qua những mặt yếu của nhau". Bí quyết để có hòa thuận lâu dài nằm ở chỗ đó.

7. Cầu nguyện

Đối với đôi bạn Công giáo thì đây là một bí quyết tuyệt vời. Bởi trước khi kết hôn họ đã phải cầu nguyện nhiều rồi, huống chi là khi đã bước vào đời sống hôn nhân gia đình. Đôi bạn phải cầu nguyện thường xuyên, liên lỉ vì hôn nhân là một biến cố cực kỳ quan trọng trong đời sống của một con người. Đó là ơn gọi và sứ mệnh mà Thiên Chúa đã ban và muốn chúng ta dấn thân thực hiện. Vậy cầu nguyện là một hành vi đạo đức không thể thiếu đối với đôi vợ chồng Ki-tô hữu. Đặc biệt là trong lúc gặp sóng gió, thử thách, các bạn càng phải cầu nguyện nhiều hơn nữa. Có người đã khẳng định: "Nếu gia đình cùng cầu nguyện, thì sẽ vững bền mãi mãi".

Thực vậy, khi cầu nguyện chúng ta sẽ lắng nghe và thực hành giáo huấn của Lời Chúa: "Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau" (Cl 3, 12-13)./.
Aug. Trần Cao Khải

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO -THU NAM 24-5-2018 PDF Print E-mail

Thứ Năm sau Chúa Nhật 7 Quanh Năm -B

Alleluia, alleluia! - Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 9, 40-49 (Hl 41-50)

"Thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn đủ cả hai tay mà phải vào hoả ngục".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Ai cho các con (uống) một ly nước vì lẽ các con thuộc về Ðấng Kitô, thật Thầy bảo các con: kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu. Nhưng nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn.

"Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi: thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục, trong lửa không hề tắt. Và nếu chân con làm dịp tội cho con, hãy chặt chân đó đi: thà con mất một chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục. Và nếu mắt con làm dịp tội cho con, hãy móc mắt đó đi, thà con còn một mắt mà vào nước Thiên Chúa, còn hơn là có đủ hai mắt mà phải ném xuống hoả ngục, nơi mà dòi bọ rúc rỉa nó không hề chết và lửa không hề tắt. Vì mọi người sẽ bị ướp bằng lửa.

"Muối là vật tốt, nhưng nếu muối ra lạt, các con lấy gì mà ướp nó cho mặn lại được? Các con hãy có muối ở trong mình và sống hoà thuận với nhau".

Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm - SỐNG LỜI CHÚA

Thiên đàng toàn là thành phần bị tàn tật

Bài Phúc Âm hôm nay, như bài Phúc Âm hôm qua, cũng tiếp tục bài Phúc Âm của ngày hôm trước. Tuy nhiên, bài Phúc Âm hôm nay đáng lẽ phải được đọc cùng với bài Phúc Âm hôm qua mới đúng. Bởi Chúa Giêsu đang nói với các môn đệ của Người chưa xong thì bị Giáo Hội cắt ngang, không cho đọc nữa, để những lời Chúa Giêsu đang muốn nói ấy sang bài Phúc Âm cho ngày hôm nay.

Thật vậy, lời Chúa Giêsu đang nói trong bài Phúc Âm hôm qua là "Ai chẳng chống đối các con, là ủng hộ các con", và Người chưa nói hết những gì Người đang muốn nói bấy giờ là "Ai cho các con (uống) một ly nước vì lẽ các con thuộc về Ðấng Kitô, thật Thầy bảo các con: kẻ đó sẽ không mất phần thưởng đâu...", thì câu này, cùng với các câu sau đó, được chuyển sang câu đầu của bài Phúc Âm hôm nay.

Tuy nhiên, không phải là vô lý mà Giáo Hội dám cắt ngang Lời Chúa của mình như thế. Bởi có lẽ Giáo Hội thấy rằng những gì Chúa Giêsu nói trong bài Phúc Âm hôm nay là một vấn đề khác, hoàn toàn khác, nhưng được chuyển tiếp bằng câu đầu tiên vừa được trích dẫn trên đây. Thế nhưng, nếu lưu ý, chúng ta sẽ thấy vấn đề trong bài Phúc Âm hôm qua và vấn đề trong bài Phúc Âm hôm nay vẫn có tính cách liên tục và liên hệ với nhau làm sao ấy, một cách nào đó.

Đúng thế, trong khi vấn đề của bài Phúc Âm hôm qua liên quan đến lời minh định của Chúa Giêsu về thành phần làm việc lành thay Người cho anh chị em mình: "Chẳng ai có thể nhân danh Thầy mà làm phép lạ, rồi liền đó lại nói xấu Thầy", thì vấn đề của bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến một loại người hoàn toàn ngược lại, đó là loại người tác hại đến phần rỗi của anh chị em mình, bằng gương mù gương xấu họ gây ra, những hành động đáng bị trừng phạt xứng đáng: "Nếu kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé mọn có lòng tin Thầy, thà buộc thớt cối xay vào cổ người ấy mà xô xuống biển thì hơn".

Vẫn biết ai phạm tội thì phải chịu hình phạt tương xứng với tội phạm của mình, chứ không phải mình phạm rồi người khác chịu phạt thay mình, như chúng ta có khuynh hướng đổ tội cho nhau, như thể chúng ta vấp phạm là do người khác, nên mình vẫn đáng thông cảm tha thứ, còn người làm cớ cho mình sa ngã mới đáng bị phạt hơn là mình và thay vì mình.

Tuy nhiên lời Chúa Giêsu vừa quả quyết trên đây về thành phần gây dịp vấp ngã cho người khác, tuy họ phải gánh chịu trách nhiệm về việc làm xấu gây tác hại thiêng liêng của họ như vậy, nhưng ai phạm tội theo gương mù gương xấu của họ vẫn phải chịu trách nhiệm về tội phạm của mình, chứ không phải họ cần phải hay buộc phải chịu tội thay cho mình.

Dầu sao thành phần gây ra gương mù gương xấu trên thế gian này, trong xã hội loài người, trong đời sống chung, một hiện tượng gương mù gương xấu không thể nào không có, không thể nào không xẩy ra (xem Mathêu 18:7), vì con người trần gian chúng ta ai cũng mang một bản chất bất toàn, luôn sống với một bản tính đã bị hư đi bởi nguyên tội, đầy những đam mê nhục dục, luôn xu hướng về tội và có thể liên lỉ phạm tội nếu không có ơn Chúa.

Thành phần gây ra gương mù gương xấu chẳng những phải chịu trách nhiệm nặng nề về những gì mình gây ra, như thể bị "buộc thớt cối xay vào cổ", mà còn phải bị "xô xuống biển" nữa, tức bị thế gian là nơi đầy những biến động như biển khơi vùi lấp đi, như Tiên Tri Giona bị đám thủy thủ trên con tầu ông đang muốn lợi dụng để tẩu thoát lệnh truyền của Thiên Chúa sai ông, con tầu đang bị bão tố biển khơi tấn công như thể sắp sửa bị lật nhào mất tích, bất đắc dĩ ném ông xuống biển để cứu bao nhiêu là sinh mạng vô tội bị chết bởi tội ông gây ra (xem Giona 1:13-15).

Nếu Tiên Tri Giona nhờ tai nạn "bị xô xuống biển" này để cứu bao nhiêu sinh mạng khác đáng lẽ bị chết đi bởi tội lỗi của ông được Thiên Chúa cứu sau đó nhờ một con cá nuốt vào bụng nó thế nào, và nhờ đó ông đã được vào bờ an toàn, thì thành phần gây ra gương mù gương xấu cũng có thể được cứu độ như thế, một khi biết ăn năn thống hối nhận ra lầm lỗi của mình. Đó là phần của những ai gây ra dịp tội cho người khác, phải gánh chịu hậu quả những gì mình gây ra làm thiệt hại đến phần rỗi của người khác, nhưng người khác bị hư đi thì lại do chính đương sự nạn nhân chứ không phải chính tác nhân gương mù.

Bởi vậy mà Chúa Giêsu còn cảnh giác cả thành phần đương sự nạn nhân trong bài Phúc Âm hôm nay nữa. Không phải hay sao, trong bài Phúc Âm hôm nay, ngay sau khi nói về thành phần tác nhân gương mù Người đã nói ngay đến thành phần đương sự chủ thể. Theo giáo huấn của Người trong bài Phúc Âm hôm nay thì dịp tội ở ngay bản thân của đương sự chủ thể, chứ không phải ở tác nhân gương mù. Một đàng ở bên ngoài đương sự chủ thể - đó là gương mù, có tính cách khách quan, một đàng ở tại bản thân đương sự chủ thể - đó là dịp tội, có tính cách chủ quan.

Nghĩa là, cho dù thế gian có đầy những gương mù gương xấu không thể nào không xẩy ra, nhưng đương sự chủ thể vẫn không vì thế mà sa ngã phạm tội. Chẳng hạn, người con gái ăn mặc thời trang có vẻ sexi thời đại một cách ngây thơ vô tội, không thể nào hay khó lòng mà trở thành dịp tội cho bất cứ nam nhân nào biết cẩn thẩn khổ chế ngũ quan hay sống đức tin chân chính.

"Nếu tay con nên dịp tội cho con, hãy chặt tay đó đi: thà con mất một tay mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục, trong lửa không hề tắt. Và nếu chân con làm dịp tội cho con, hãy chặt chân đó đi: thà con mất một chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục. Và nếu mắt con làm dịp tội cho con, hãy móc mắt đó đi, thà con còn một mắt mà vào nước Thiên Chúa, còn hơn là có đủ hai mắt mà phải ném xuống hoả ngục, nơi mà dòi bọ rúc rỉa nó không hề chết và lửa không hề tắt".

Ở đây, qua câu Phúc Âm này, chúng ta thấy Chúa Giêsu nói đến chẳng những dịp tội ở nơi chính chủ thể, nhất là ở 3 cơ quan đặc biệt là tay, chân và mắt trên thân thể của con người, mà còn sâu xa nói đến tiến trình phạm tội của con người nữa, một tiến trình từ ngoài vào trong, liên quan đến 3 cơ quan được Người nhắc đến. Tại sao Người không nhắc đến miệng hay tai cũng là các cơ quan dễ phạm tội nhất như mắt, mà chỉ nói đến tay, chân và mắt. Theo người viết thì "tay" là tiêu biểu cho việc làm sai trái của con người, nhưng việc làm sai trái bề ngoài đó là do quyết định bên trong của con người, một tác động nhất định làm theo ý mình có thể nói được tiêu biểu nơi "chân" bước đi của con người, và con người thường chỉ quyết định sai trái lầm lạc theo phán đoán mù tối hay theo lòng tham vọng của con người, những tác động phán đoán hay tham vọng tâm linh có thể nói được tiêu biểu nơi con "mắt" của họ.

Như thế, có thể nói một cách loại suy và tếu táo rằng nếu "thà con mất một tay mà được vào cõi sống... (và) thà con mất một chân mà được vào cõi sống" thì ở trên Thiên Đàng toàn là những người bị tàn tật, mù lòa và què cụt, bởi khi còn ở trên thế gian này họ đã hy sinh tất cả những phần thể ấy của họ để được rỗi, "còn hơn là có đủ hai tay mà phải vào hoả ngục... còn hơn là có đủ hai chân mà phải ném xuống hoả ngục", bởi vậy khi chết đi ai mà còn lành mạnh cả thân thể thì số phận đời đời của họ chẳng còn ở đâu khác ngoài hỏa ngục.... Thật ra thì hoàn toàn ngược lại, một khi thân xác của người lành được phục sinh trong ngày sau hết thì nên giống thân thể vinh quang của Chúa Kitô (xem Philiphe 3:21), trong khi thân xác của thành phần bị "chết lần thứ hai" (Khải Huyền 20:14) cũng sống lại nhưng "bị quăng vào hồ lửa" (Khải Huyền 20:14), phản ảnh tất cả những gì là khốn cực, hư hoại và chết chóc.

Bởi chính dịp tội ở ngay bản thân con người chứ không phải ở ngoài con người như gương mù gương xấu thế gian mà con người cần phải giữ mình nói chung, cần phải khổ chế giác quan và tình cảm nói riêng, để khỏi bị sa ngã phạm tội, để khỏi bị ảnh hưởng tai hại hay chiều theo gương mù gương xấu thế gian, mà ở cuối bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã vừa cảnh giác vừa kín đáo dạy cho các môn đệ của Người cách thức khôn khéo như sau:

"Vì mọi người sẽ bị ướp bằng lửa": bởi "mọi người" không trừ ai ở trên đời này tự mình mà không sa ngã phạm tội làm những gì trái với lương tâm nên bị lương tâm nung nấu cắn rứt như bị "ướp bằng lửa", thứ lửa trần gian còn được thanh tẩy, hơn là thứ lửa hỏa ngục trừng phạt muôn kiếp đời sau.

"Muối là vật tốt, nhưng nếu muối ra lạt, các con lấy gì mà ướp nó cho mặn lại được?": "muối" đây trước hết ám chỉ tính chất khổ chế cần phải có nơi đời sống thiêng liêng để ướp cho bản thân con người vốn yếu đuối đầy những mầm mống tội lỗi chết chóc khỏi sa ngã phạm tội mà bị hư đi như những thứ cá ươn thối.

"Các con hãy có muối ở trong mình và sống hoà thuận với nhau": "muối" ở đây, sau nữa, còn ám chỉ tính chất nhẫn nhịn nhau trong đời sống bác ái yêu thương tha nhân, nhờ đó con người ướp cho nhau khỏi bị ươn thối gây ra bởi những thái độ và phản ứng gương mù gương xấu của mình.

DMINH CAO TAN TINH

------------------------------

 

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 4 of 133