mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6148
mod_vvisit_counterHôm Qua16592
mod_vvisit_counterTuần Này35594
mod_vvisit_counterTuần Trước100691
mod_vvisit_counterTháng Này100530
mod_vvisit_counterTháng Trước419088
mod_vvisit_counterTất cả22453101

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO- CẦN BIẾT VỀ LỄ LÁ PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Wed, Mar 24 at 12:18 AM

9 điều cần biết về lễ Lá

Chúa Nhật Lễ Lá khởi đầu Tuần Thánh. Ngày này không cử hành riêng lẻ mà cử hành hai sự kiện rất quan trọng trong cuộc đời Chúa Giêsu. Đây là 9 điểm chúng ta cần biết:

1. Chúa Nhật Lễ Lá là gì?

Chúa Nhật Lễ Lá còn gọi là Chúa Nhật Khổ Nạn. Gọi là Chúa Nhật Lễ Lá phát xuất từ việc tưởng nhớ Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem, được dân chúng vừa cầm lá vừa tung hô (Ga 12:13). Gọi là Chúa Nhật Khổ Nạn vì Bài Thương Khó được đọc vào ngày này.

Theo tài liệu chính thức Paschales Solemnitatis nói về việc cử hành các ngày lễ liên quan Lễ Phục Sinh: Tuần Thánh bắt đầu từ Chúa Nhật Lễ Lá, liên kết việc tiên báo cuộc rước hiển hách với việc công bố cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu. Việc liên kết giữa hai sự kiện này của Mầu nhiệm Vượt qua được tỏ hiện, được giải thích việc cử hành ngày này và giáo lý về ngày này.

2. Một điểm quan trọng của ngày này là cuộc rước lá trước Thánh Lễ. Tại sao chúng ta làm vậy?

Tài liệu Paschales Solemnitatis cho biết: Theo truyền thống, việc tưởng nhớ Chúa Giêsu vào Thành Giêrusalem được cử hành bằng cuộc rước trọng thể, mọi người hát noi gương các trẻ em Do Thái đồng thanh tung hô Đức Giêsu: "Thánh, thánh, thánh! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến".

Cuộc rước lá được thực hiện trước Thánh Lễ, có thể vào chiều tối Thứ Bảy hoặc Chúa Nhật. Lá được làm phép và mọi người cầm lá trong cuộc rước, tưởng nhớ lúc Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem.

3. Phải dùng lá cọ, lá dừa?

Không nhất thiết phải dùng lá cọ, lá dừa. Có thể dùng các loại cành lá khác. Cuộc rước lá kỷ niệm việc Chúa Giêsu vào Thánh Giêrusalem là cuộc vui mừng, mọi người cầm lá đã được làm phép, sau đó đưa lá về nhà.

4. Có cần hướng dẫn giáo dân?

Rất cần. Giáo dân nên được hướng dẫn về ý nghĩa của cuộc rước để họ hiểu tầm quan trọng của cuộc rước. Đây là dịp họ được nhắc nhở rằng họ cần tham dự cuộc rước để tôn vinh Con Thiên Chúa.

Lá được làm phép và được giữ lại, nhưng đừng coi lá đó như "bùa hộ mệnh" (amulet), hoặc coi lá đó có thể chữa bệnh, trừ tà, hoặc ngăn ngừa tai họa, vì như vậy là mê tín dị đoan. Lá đó được giữ tại nhà để biểu hiện niềm tin vào Đức Kitô là Đấng Thiên Sai, Đấng Cứu Độ, Ngôi Hai Thiên Chúa.

5. Chúa Giêsu làm gì trong khi vào Thành Thánh?

Chúa Giêsu là Vua các vua nhưng rất khiêm nhường. Ngài cưỡi lừa con vào Thành Thánh chứng tỏ Ngài là Vua. Từ nay chúng ta hãy chý ý: Chúa Giêsu thực sự xưng vương. Ngài muốn con đường Ngài đi và hành động của Ngài được hiểu rằng các lời hứa Cựu ước được hoàn tất nơi Ngài... Kinh Thánh cho biết rõ: "Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ" (Dcr 9:9). Ngài là Vua nhưng Ngài không có ý thu nạp quân đội hoặc âm mưu lật đổ chính quyền La Mã. Quyền hành của Ngài ở trong sự nghèo khó của Thiên Chúa, sự bình an của Thiên Chúa, sức mạnh đó có ơn cứu độ.

6. Phản ứng của đám đông biểu hiện điều gì?

Đám đông tung hô Chúa Giêsu chứng tỏ họ nhận biết Ngài là Đấng Thiên Sai. Họ trải áo cho Ngài đi qua là làm truyền thống Ít-ra-en, như khi dân chúng tôn vinh ông Giê-hu: "Họ vội vàng lấy áo choàng trải lên đầu thềm cấp, dưới chân ông. Họ thổi tù và, rồi hô lên: Giê-hu làm vua!" (2 V 9:13). Hành động của các môn đệ là động thái tôn phong theo truyền thống Vua Đa-vít, chứng tỏ niềm hy vọng vào Đấng Thiên Sai.

Đoàn người đến Giêrusalem với Chúa Giêsu được bắt gặp trong sự nhiệt thành của các môn đệ. Họ trải áo trên đường khi Chúa Giêsu đi qua, họ bẻ những cành lá vừa vẫy chào vừa tung hô chúc tụng: "Hoan hô! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa! Chúc tụng triều đại đang tới, triều đại vua Đa-vít, tổ phụ chúng ta. Hoan hô trên các tầng trời!" (Mc 11:9-10; x. Tv 118:26).

7. Chữ "Hosanna" nghĩa là gì?

ĐGH Benedict XVI giải thích: Nguồn gốc từ này là lời khẩn cầu, chẳng hạn như: "Xin đến cứu giúp chúng tôi!". Các tư tế lặp lại lời cầu này vào ngày thứ bảy của kỳ Lễ Lều Tạm, trong khi đi vòng quanh bàn thờ bảy lần, như lời khẩn khoản cầu mưa. Lễ Lều Tạm dần dần thay đổi từ lễ cầu xin trở thành lễ ca tụng, là tiếng kêu vui mừng.

Vào thờ Chúa Giêsu, từ này cũng ngụ ý Đấng Thiên Sai. Khi tung hô "thánh, thánh, thánh", chúng ta thấy có cảm xúc phức tạp của đám đông theo Chúa Giêsu và các môn đệ vào Thành Thánh: Vui mừng chúc tụng, hy vọng Đấng Thiên Sai đến, mong chờ Vương Triều Đa-vít, đặc biệt là Vương Quốc Thiên Chúa đến để quốc gia Ít-ra-en được tái lập.

8. Chỉ vài ngày sau, chính đám đông đón rước Chúa lại đòi đóng đinh Chúa Giêsu?

Cả bốn Phúc Âm đều nói rõ rằng lòng kính trọng Chúa Giêsu khi Ngài vào Thành Giêrusalem được thể hiện nhưng không phải tất cả đều là cư dân Giêrusalem. Thánh Mát-thêu cho biết: "Khi Đức Giêsu vào Giêrusalem, cả thành náo động, và thiên hạ hỏi nhau: 'Ông này là ai vậy?'. Dân chúng trả lời: 'Ngôn sứ Giêsu, người Nadarét, xứ Galilê đấy" (Mt 21:10-11).

Người ta nghe nói có một ngôn sứ xuất thân từ Na-da-rét, nhưng Chúa Giêsu không mấy quan trọng đối với Giêrusalem, thế nên người ta không biết Ngài là ai. Đám đông tỏ lòng kính trọng Chúa Giêsu tại cửa ngõ vào Thánh Giêrusalem không là đám đông đòi đóng đinh Ngài.

9. Trình thuật cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu thế nào?

Tài liệu Paschales Solemnitatis cho biết: Trình thuật cuộc khổ nạn chiếm vị trí đặc biệt. Trình thuật này – tức là Bài Thương Khó – nên được hát hoặc đọc theo truyền thống, nghĩa là có ba người thể hiện Bài Thương Khó: Một người đóng vai Chúa Giêsu, một người kể chuyện, và một người đóng các vai khác.

Khi đọc Bài Thương Khó, không có đèn nến hoặc xông hương, cũng không làm dấu Thánh Giá. Vì lợi ích tâm linh, Bài Thương Khó nên được công bố đầy đủ.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

--------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Mon, Mar 15 at 1:08 AM

Những Người Không Chịu Phép Rửa Tội Có Được Cứu Rỗi Không?

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hỏi: Trong Phúc Âm Thánh Gioan, Chúa Giêsu đã nói với ông già Nicôđêmô: "Thật tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi thần khí" (Ga 3:5)

Như vậy có nghĩa là phải rửa tội thì mới được vào Thiên Đàng? Vậy những ai chết mà không được rửa tội thì số phận đời đời ra sao?

Trả lời: Đúng, khi nói với ông già Nicôđêmô như trên, Chúa Giêsu đã đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng và sự cần thiết của bí tích Rửa tội (baptism) cho phần rỗi của con người. Lý do là tội nguyên tổ (original sin) của Adam và Eva đã cắt đứt mọi thân tình giữa Thiên Chúa và loài người. Vì thế Chúa Giêsu đã đến trần gian để cứu chuộc cho toàn thể nhân loại khỏi phạt và chết đời đời vì tội lỗi. Chúa đã cứu chuộc bằng chính cái chết của Người trên thập giá cách nay trên 2000 năm. Và Chúa đã thiết lập bí tích rửa tội để tái sinh con người trong sự sống mới như điều kiện tiên quyết để được cứu rỗi. Đó là lý do tại sao Chúa đã nói: "ai tin và chiụ phép rửa thì được cứu độ, ai không tin thì sẽ bị luận phạt." (Mc 16,16).

Tuy nhiên, ai cũng biết Chúa Giêsu mới xuống trần gian hơn 2000 năm, trong khi nhân loại đã có mặt trên trái đất này không biết là bao nhiêu triệu năm rồi. Nghĩa là có biết bao triệu triệu con người đã sinh ra và đã chết đi trước khi Chúa Giêsu sinh ra và rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Như vậy, những người này không biết Chúa Kitô và không được chiụ phép rửa thì hoàn toàn không phải lỗi của họ, vì chưa có ai rao giảng và làm phép rửa cho họ khi ấy. Do đó, Chúa không thể bất công với những người này để lên án họ về tội không tin và không chịu phép rửa được. Vậy Chúa cứu họ bằng cách nào?

Đây là nền tảng kinh thánh và giáo lý của Giáo Hội:

a) "Chúa muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1 Tm 2:4)

b) "Ngoài Chúa Kitô ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta phải nhờ vào Danh đó mà được cứu độ" (Cv 4,12)

Như thế có nghĩa là tất cả những ai đã sinh ra trước và sau Chúa Kitô đều phải nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa để được sống đời đời. Và đó là ước muốn của Thiên Chúa, Đấng đã dựng nên và cứu chuộc con người trong Chúa Giêsu-Kitô. Riêng đối với những người không được biết Chúa và chết không được rửa tội thì Giáo Hội dạy như sau:

"Những người không biết Phúc Âm của Chúa Kitô và Giáo Hội của Chúa không vì lỗi của họ, nhưng họ vẫn tìm kiếm Chúa với lòng thành và được thúc đẩy bởi ơn sủng, cố gắng hành động để thi hành Ý Chúa theo tiếng nói của lương tâm, thì họ cũng có thể được cứu rỗi đời đời." (x. Sách Giáo Lý Công Giáo, số 847).

Nói rõ hơn, những ai đã sinh ra và chết trước Chúa Kitô, cũng như sinh sau mà không có cơ hội được biết Chúa và Phúc Âm của Người, nhưng đã cố gắng sống ngay lành theo tiếng nói của lương tâm thì họ vẫn có thể được hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, dù họ không biết Chúa và không chiụ phép rửa tội. Đây hoàn toàn không phải lỗi của họ nên Chúa không thể bất công mà phán đoán họ về lỗi này được.

Ngược lại, những người đã biết Chúa, đã chịu phép rửa tội nhưng sau đó lại không sống và thực hành đức tin như Chúa đòi hỏi thì vẫn không được cứu độ như Chúa Giêsu đã phán dạy các môn đệ xưa kia: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi" (Mt 7:21).

Thi hành ý muốn của Cha trên trời có nghĩa là thực thi hai giới luật quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người cũng như quyết tâm xa lánh tội lỗi vì tội là cản trở duy nhất cho con người muốn sống thân tình với Chúa và muốn được cưú rỗi.

Tóm lại, những người không biết Chúa và không chịu phép rửa tội vì không có ai nói cho họ biết, nhưng họ đã sống tốt lành theo sự hướng dẫn của lương tâm thì họ vẫn có thể được hưởng ơn cứu độ của Chúa Kitô. Ngược lại, những người đã biết Chúa nhưng sống nghịch với lương tâm, nghĩa là không thực thi những giới răn của Chúa cho đến chết, thì rửa tội rồi cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

XIN GIẢI THÍCH RÕ THÊM VỀ NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO, ANH GIÁO VÀ TIN LÀNH

Hỏi:
Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.
Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống, Anh Giáo và Tin Lành.

Trả lời:
Như đã giải thích trong bài trước, Đạo Thánh của Chúa Kitô và Giáo Hội duy nhất của Chúa xây trên Đá Tảng Phểrô,qua thời gian, đã bị rạn nứt hay ly giáo ( schisms) phân chia thành ba Nhánh Kitô Giáo là Công Giáo Roma (The Roman Catholicism ) , Chính Thống Giáo Đông Phương ( Eatern Orthodox Churches) và Tin Lành ( Protestantism).Đây là hậu quả của những cuộc cải cách tôn giáo xảy ra vào thế kỷ XVI ở Tây Phương đã ,làm phát sinh các Giáo giáo trên đây.
Thật vậy, từ đầu, chỉ có Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) trong Giáo Hội nói chung. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Communion) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) đã không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.
Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa bốn Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I-Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) thé nào ?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp là " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn Kitô đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo.
Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople ( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)
Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 7 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô XVI ( đã về hưu năm 2013) đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo. Dầu vậy, một biến cố mới xẩy ra trong năm 2016 là Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp Thượng Phụ Giáo Hội Chính Thông Nga tại MỄ TÂY CƠ (Mexico), nhưng kết quả của cuộc gặp gỡ lịch sử này giữa hai vi lãnh đạo Công Giáo và Chính Thống Nga không được công bố sau đó.Nhưng đây là một dấu chỉ tích cực giữa hai Giáo Hội anh em muốn hiệp nhất với nhau trong cùng một niềm tin vào Chúa Kitô.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây năm 1054.

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- đã bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".
Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử năm 1966 giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người dự tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.
Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu của Chính Thống nếu không tìm được nhà thờ Công Giáo hay linh mục Công giáo khi cần..

2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Viêt Nam.

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: các Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (permanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã cho đến nay.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).
Vì Chính Thống Giáo có đủ bảy bí tích hữu hiệu, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu ở nhà thờ và các linh mục Chính Thống, nếu không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo nơi mình cư ngụ.

II- Tin lành ( Protestantism)Anh Giáo ( Anglican Communion) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó.Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism)nói trên. Một đặc điểm của các giáo phải Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Roma cho đến các giáo hội địa phương ở mỗi quốc gia.Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, nhân sự, tài chính và phương thức hành đạo.

1-Ở góc độ thần học,
Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị.Do đó, chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).
Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ:
"không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi vẫn ra vô ích.
Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình
Là bí tích hòa giải mà các giám mục và linh mục Công Giáo được phép tha tội cho các hối nhân nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi).
,
Lại nữa, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng Kinh thánh., Nhưng đó không phải là cử hành Bí Tích Thánh Thể ( Eucharist) như trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương.. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng Kinh Thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo Hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi Ai dưới đất là Cha, là Thầy .". anh em Tin Lành hiểu lời Chúa trong ngữ cảnh (context) câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công Giáo là 'lạc giáo=heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô
kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ
của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành và Anh giáo.
Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành và Anh giáo đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện (Vicar) duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.
Chính vì không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh Giáo Hội duy nhất của Chúa Kitô nên đây là trở ngại lớn cho các nhánh Tin Lành và Anh giáo muốn hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo.

3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành và Anh Giáo đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession)- và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường dân ( Martin Luther, John Calvin..Henry VIII) chứ không phải là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của Chúa trên Đá Tảng Phêrô.( Mt 16: 18-19) và " Giáo Hội này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phê rô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển" như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã tuyên bố. ( x. LG. số 8). Cho nên các nhánh Tin Lành và Anh giáo đều không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm Tin Lành và Anh Giáo chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullah và Marmonites ở Mỹ , thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự tòng.(catechumens). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi
III-Anh Giáo ( Anglican Communion)
Nhóm Kitô Giáo này do Vua Henry VIII của Nước Anh tự tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo Roma từ năm 1534 vì nhà vua bất mãn với Đức Thánh Cha Clemente VII, đã không cho phép ông li dị để lấy vợ khác.Nhóm này khác biệt với Giáo Hội Anh Quốc ( The Church òf England) Là Giáo Hội hiệp thông và vâng phục Giáo Hội Công Giáo Roma do Đức Thánh Cha làm Thủ Lãnh với sự hiệp thông và vâng phục trọn vẹn của các Giáo Hội Công Giáo địa phương ở khắp nơi trên thế giới.Người lãnh đạo Nhóm Anh Giáo nói trên là Vua Nứớc Anh ( nay là Nữ Hoàng Elizabeth II).Vì không có nguồn gốc Tông Đồ, nên Anh Giáo không có các Bí Tich hữu hiệu như Công Giáo, trừ Phép Rửa mà Anh Giáo có chung với các nhóm Tin Lành và với Công Giáo.Vì không có các Bí Tích Thánh Thể và Hòa Giải hữu hiệu nên các linh mục Anh Giáo không thể cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn ( The Eucharist) hữu hiệu như Công Giáo được. Cho nên, các tín hữu Công Giáo không được tham dự Lễ của các linh mục Anh Giáo để thay cho lễ của Công Giáo, cũng như không thể đi xưng tội với các linh mục Anh Giáo vì họ không có Bí Tich hòa giải ( Reconciliation) hữu hiệu như Công Giáo.Sau hết, nếu các linh mục và giám mục Anh Giáo trở lại Công Giáo thì họ phải được huấn luyện lại và chiu chức lại trong Giáo Hội Công Giáo, vì Công Giáo không nhìn nhận các bí tích của Anh giáo trừ Phép Rửa.Chỉ có một đặc ân cho các linh mục Anh Giáo là họ được phép giữ vợ con sau khi được chịu chức linh mục trong Giáo Hội Công Giáo.Các tín hữu Anh Giáo thì phải tuyên xưng đức tin khi họ gia nhập Giáo Hội Công Giáo.Họ không cần được rửa tội lại vì Công Giáo nhìn nhận Phép Rửa của Anh Giáo.Chỉ có những ai không được rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi ( Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullad và Marmonites bên Mỹ thì mới phải được rửa tội lại khi họ gia nhập Giáo Hội Công Giáo mà thôi.
Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo,Chính Thống Giáo, Tin Lành và Anh Giáo nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng chưa hiệp thông (communion) và hiệp nhất ( unity) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Tông đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Roma, người kế vị Thánh Phêrô trong trách nhiệm coi sóc và lãnh đạo Giáo Hội với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn. (College of Bishops) hay của các Giáo Hội Công Giáo địa phương ở các quốc gia trên thế giới.Amen.
Ươc mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.
DMin( Doctor of Ministry=Tiến Sĩ Sứ Vụ),Ph.D ( Tiến sĩ Triết Học )

--------------------------------

 
HỌC HỔI ĐỂ SỐNG ĐẠO- LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

BÍ TÍCH THÁNH TẨY (RỬA TỘI) QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT RA SAO CHO MU ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ VÀO NƯỚC TRỜI MAI SAU ?
Hỏi :
Xin cha giải đáp thêm về tầm quan trong của Phép Rửa để được cứu rỗi. nhân Lễ Chúa Giê su chịu phép rửa của Thánh Gioan Tẩy Giả tại sông JORDANO xưa.
Đáp:
Cứu rỗi là vấn đề quan trọng nhất đối với những ai tin có Thiên Chúa, tin có sự sống đời đời sau khi phải chết đi trong thân xác có ngày phải chết này.
Chúa Kitô là Thiên Chúa đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi một Thiên Chúa ( Three Persons One God=The Holy Trinity) . Vì thương nhân loại tội lỗi, Chúa Kitô đã quên mình là Thiên Chúa để đến trần gian trong thân phận CON NGƯỜI, sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần để hy sinh chịu chết trên thập giá làm giá cứu chuộc cho "muôn người được cứu rỗi." ( Mt 20:28)
Như thế , ai muốn được cứu rỗi đều phải cậy nhờ Công Nghiệp Cứu Chuộc vô giá của Chúa Kitô
Cũng nhờ đức tin, chúng ta tin có Thiên Chúa là Đấng tạo dựng con người với muôn loài muôn vật, hữu hình và vô hình, là Cha rất nhân lành, và là "Đấng cứu độ chúng ta Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý" ( 1Tm2:4)
Như vậy, chúng ta là những người rất may mắn có được niềm tin đó nên phải vui mừng về hy vọng được cứu rỗi là hy vọng được sống hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa trên Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình con người trên trần thế này.
Cho hy vọng đó, Phép Rửa là cửa ngõ dẫn con người đến sự sống và hạnh phúc vĩnh cửu nói trên.
Thật vậy, Phép Rửa vô cùng quan trọng và cần thiết căn cứ vào chính những lời Chúa Giêsu đã nói về Phép Rửa như sau:
Trước hết, khi Ni- Cô- đê Mô, một người biệt phái đến thăm Chúa vào buổi tối một đêm kia, Chúa Giê su đã nói với ông thế này:
" không ai có thể vào Nước Trời nếu không được sinh ra bời nước và Thần Khí" ( Ga 3:5)
Sau khi hoàn tất công cuộc cứu chuộc con người qua khổ hình thập giá, chết và sống lại, trước khi về Trời, Chúa cũng đã nới với các môn đệ Người như sau:
" Ai tin và chịu phép Rửa sẽ được cứu rỗi. Ai không tin sẽ bị luận phạt." ( Mc 16:16)
Như thế đủ cho ta thấy Phép Rửa quan trọng và cần thiết ra sao cho sự cứu rỗi của con người. Quan trọng, vì qua Phép Rửa, con người được tái sinh trong sự sống mới, trở nên tạo vật mới và có hy vọng được cứu rỗi, nếu người được rửa tội thực thi những cam kết khi được rửa tội ( baptismal promises) : đó là yêu mến Chúa trên hết mọi sự, yêu thương tha nhân như chính mình , và từ bỏ ma quỷ để không phạm tội mất lòng Chúa là Đấng gớm nghét mọi tội lỗi và sự dữ, như ; giết người , phá thai , trộm cướp , thù hận, bất công, cờ bạc và dâm ô thác loạn.. nhất là buôn bán phụ nữ và trẻ nữ để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi như thực trạng sống của biết bao người trên thế giới phi luân và tục hóa ngày nay.
Được rửa tội rồi , thì phải sống những cam kết khi được rửa tôi. Nghĩa là, thực thi hai diều răn lớn nhất mà Chúa Giê su đã nhắc lại là mến Chúa và yêu người ,sống theo đường lối của Chúa, là đường dẫn đưa đến hạnh phúc vĩnh cửu .Nếu không thì ơn Phép Rửa sẽ trở nên vô hiệu quả cho ai đã lãnh nhận khi còn bé, hay là người tân tòng sau này.
Nói rõ hơn nữa, không phải cứ được rửa tội là đương nhiên được cứu độ, là chắc chắn được vào Nước Trời để vui hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa là nguồn tình yêu, an vui, và hạnh phúc.
Rửa tội chỉ là bước đầu cần thiết cho tiến trình được cứu rỗi mà thôi.Tiến trình này kéo dài trong suốt cuộc đời của người được rửa tội cho đến ngày lìa đời. Do đó, ai trung thành và kiên trì sống đức tin, đức cậy và đức mến – tức là kiên tâm sống những cam kết khi được rửa tội thì sẽ được cứu rỗi. Ngược lại, rửa tội rồi mà lại sống mâu thuẫn với những cam kết nói trên , để sống theo thế gian, chối bỏ Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình để làm những sự dữ như oán thù, giết người giết thai nhi, trộm cướp, bất công, bóc lột , dâm ô thác loạn...thì Phép Rửa và cả công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô sẽ hoàn toàn vô ích cho những ai sống như vậy.
Thử hỏi những kẻ đang giết người , chặt đầu con tin (hostages) ,hãm hiếp phụ nữ đốt phá nhà cửa của người khác, như bọn cuồng tín Hồi giáo ( ISIS) đang làm ở Trung Đông, những kẻ tham quyền cai trị để hà khắc bóc lột, bất công với dân và vơ vét của cải làm giầu cho tập đoàn cai trị, mở sòng bài bạc để kiêm tiền cách bất chính cùng với bọn buôn người, buôn bán phụ nữ và trẻ gái để cung cấp cho bọn ma cô, tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, thì làm sao bọn người này có thể được cứu độ , Nếu chúng cứ làm những sự dữ đó mà không biết sám hối ăn năn để từ bỏ và xin Chúa tha thứ ?
Rất có thể có những kẻ đã được rửa tội khi còn bé, nhưng nay đang làm những sự dữ nói trên mà không biết ăn năn sám hối để xin Chúa thứ tha, thì Phép rửa có ích gì cho chúng ?
Thiên Chúa là tình thương, chậm bất bình và hay tha thứ, nhưng rất gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi xúc phạm bản chất yêu thương, công bình và thánh thiện của Người.Tuy ghét tội, nhưng Chúa lại yêu thương kẻ có tội biết ăn năn và xin tha thứ.
Vì thế, cho được cứu rỗi thì phải sống sao cho phù hợp với niềm tin có Chúa và thực hành đức tin ấy qua việc tuân thủ những cam kết khi được rửa tội thì mới xứng đáng được hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian để " hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28)
Nói khác đi, không phải cứ tuyên xưng mình là người Công Giáo, hay Kitô Giáo đã chịu phép Rửa , là đương nhiên được cứu độ để vào Thiên Quốc. Ngược lại, đươc cứu độ hay không, còn tùy thuộc thiện chí của mỗi cá nhân muốn cộng tác với ơn cứu độ qua quyết tâm đi theo Chúa Kitô là "con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống". ( Ga 14:6)
Bước đi theo Chúa Kitô là thực tâm sống theo đường lối của Chúa để được hưởng nhờ công ơn cứu độ của Người. Đó là lý do tại sao Chúa đã nói với các môn đệ Người như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa! lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, mà chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)
Thi hành ý muốn của Chúa Cha là thực hành những điều Chúa Con đã rao giảng , dạy đỗ , cụ thể là thi hành hai Điều Răn lớn nhất là mến Chúa và yêu người như Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ và dân chúng xưa, cùng tất cả chúng ta ngày nay:
" Ai yêu mến Thầy , thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha cúa Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy." ( Ga 14 :23)
Như thế, tuân giữ- hay thực hành lời Chúa - là cách chứng mình hùng hồn nhất CHO niềm tin và lòng yêu mến Chúa của mọi người tín hữu chúng ta đang sống trong một thế giới điên loạn, vì con người không có niềm tin -hay có mà không sống niềm tin ấy- nên đã thi nhau làm những sự dữ ở khắp nơi trong thế giới tục hóa, vô luân vô đạo ngày nay.
Mặt khác, như tôi đã nói trong bài trước đây, nếu những người vô tình hoặc không được ai nói cho biết về Chúa Kitô và về Phép Rửa, nên không có đức tin và không được rửa tội, thì đó không phải là lỗi của họ. Dầu vậy, họ vẫn có thể được cứu rỗi, nếu họ sống theo tiếng nói của lương tâm để làm lành lánh dữ như Giáo Hội dạy.( X SGLGHCG số 847; LG. số 6).
Ngược lại, những ai biết Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội thật của Chúa Kitô, thiết lập trên nền tảng Tông Đồ, với sứ mệnh chuyên chở ơn cứu độ của Chúa đến cho hết mọi người ở khắp mọi nơi trên trái đất cho đến ngày hết thời gian, mà vẫn không muốn gia nhập Giáo Hội này qua Phép Rửa thì sẽ không được cứu rỗi. Điều này cũng áp dụng cho cả những người đã gia nhập Giáo Hội qua Phép Rửa nhưng không kiên trì sống và thực hành đức tin trong Giáo Hồi thì cũng không được cứu rỗi, vì " tuy thể xác họ thuộc về Giáo Hội nhưng tâm hồn họ không ở trong Giáo Hội." . ( x LG. số 14)
Tóm lại, Phép Rửa thật vô cùng quan trọng cho những ai muốn nhận lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giê-su. Nhưng được rửa tội để gia nhập Giáo Hội của Chúa mới chỉ là bước đầu cho hy vọng được cứu rỗi mà thôi. Muốn cho hy vọng đó thành sự thật thì phải kiên trì sống những cam kết của Phép Rửa là mến Chúa trên hết mọi sự, yêu tha nhân như yêu chính mình, từ bỏ ma quỷ và mọi cám dỗ của chúng để xa tránh mọi tội lỗi, vì chỉ có tội mới làm ngăn cách con người với Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành mà thôi.
Do đó, nếu được rửa tội rồi mà không sống những cam kết trên, thì hy vọng đươc cứu rỗi sẽ trở thành ảo vọng, vì Phép Rửa có liên quan mật thiết với đức tin, nên nếu con người thiếu thiện chí cộng tác với ơn Chúa qua cố gắng sống những cam kết khi được rửa tội thì sẽ không được cứu độ. Lại nữa, cũng sẽ không được cứu rỗi để vào Nước Trời, những ai biết lợi ích của Phép Rửa cũng như biết Giáo Hội của Chúa là phương tiện cứu độ cần thiết mà vẫn không muốn được rửa tội và gia nhập Giáo Hội thì cũng không được cứu độ như đã nói ở trên. ( x Lumen Gentium ( LG )số 14)
Sở dĩ thế, vì con người còn có tự do chọn lựa và Thiên Chúa phải tôn trọng ý muốn tự do ( free will) của con người. Chúa chỉ mời gọi và tùy con người đáp trả. Chúa không bắt buộc ai phải yêu mến Người và nhân ơn cứu độ của Người. Do đó, ai muốn được cứu độ, muốn được vào Nước Trời , thì Chúa sẽ hoan hỉ ban ơn nâng đỡ để giúp họ đạt mục đích mong muốn. Ngược lai, ai muốn từ chối lời mời gọi của Chúa để sống theo ý thich của riêng mình, sống theo thế gian và quay lưng lại với Chúa thì Chúa sẽ tôn trọng và kẻ đó sẽ phải lãnh nhận hậu quả của sự tự do chọn lựa đó.
Đó là lý do phải có Thiên Đàng , là nơi dành cho những người đã chọn yêu mến Chúa trong suốt cả cuộc đời mình trên trần gian này,, và có hỏa ngục để dành cho những kẻ đã hoàn toàn khước từ Chúa và tình thương của Người để làm những sự dữ ,sự tội cho đến hơi thở cuối cùng mà không biết ăn năn để xin Chúa tha thứ.
Tuy nhiên, ai đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng này, thì chỉ có Chúa biết mà thôi. Giáo Hội không biết được, nên chỉ dạy phải cầu nguyện cho các người đã ly trần, chứ không đưa ra một phán đoán nào về số phận đời đời của ai
Là Thầy dạy giáo lý đức tin, và luân lý, Giáo Hội phải đưa ra những lời khuyên bảo cần thiết cho con cái mình tin và thực hành, nhưng quyền phán đoán vẫn hoàn toàn thuộc về Chúa, là Cha đầy yêu thương, nhưng cũng rất công minh khi phải phán đoán con người.
Như vây, là con cái Giáo Hội, chúng ta phải tin và thi hành những gì Giáo Hội dạy trong hai phạm vi đức tin và luân lý, là hai lãnh vực mà Giáo Hội –qua Đức Thánh Cha và các Giám mục hiệp thông- được ơn dạy dỗ không sai lầm ( ìnfallibility )
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn câu hỏi đặt ra.Amen
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn., MA. MDiv, DMin. ( Doctor of Ministry=Tiến Sĩ Sứ Vụ)

------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG DẠO - CÁM DỖ LÀ GÌ? PDF Print E-mail

Anh Le chuyển

 

Cám Dỗ Là Gì?

Từ xa xưa cha ông ta đã sử dụng 2 từ cám dỗ, và cho đến hôm nay, chúng ta vẫn tiếp tục sử dụng nó như một tiếp nối của truyền thống. Cám dỗ là sự lôi kéo thúc dục, khơi gợi lòng ham muốn của con người và khiến họ thực hiện một điều gì đó sai trái, sa ngã vào nó. Cám dỗ cũng có thể hiểu là một hiện tượng nổi lên trong cuộc sống khiến bạn chạy theo nó mà không nghĩ đến hậu quả sau này.

Và như vậy, cám dỗ là một phần trong cuộc sống, cám dỗ là gia vị cho cuộc sống mình. Dùng gia vị không đúng thì cuộc sống chua cay bất hạnh. Biềt điều tiết gia vị thì cuộc sống có hương vị tốt hơn.

Như trong tình yêu luôn có cám dỗ mời gọi con người phản bội với người mình yêu. Nếu biết dừng đúng lúc thì tình yêu càng hạnh phúc hơn, người được yêu càng tin tưởng hơn. Ngược lại, nếu đã từng nếm thử sự cám dỗ của phản bội, người ta mới thấy sự hổ thẹn, và tình yêu trở thành bất hạnh cho tất cả những người liên quan.

Cám dỗ luôn dẫn dụ chúng ta nổi loạn để sống theo ý thích của mình, nó kích thíc dục vọng khiến con người vì ham muốn hưởng thụ mà bất chấp hậu quả và ngay cả bất chấp luật pháp và luân thường đạo lý.

Thông thường ta thấy có những cám dỗ như sau:

Có người bị cám dỗ bởi tham lam. Lòng tham thường không đáy. Lòng tham luôn tìm cách mở rộng lãnh địa để chiếm lĩnh mọi sự về mình. Sự cám dỗ của lòng tham đã gây nên biết bao đau thương cho nhân thế qua nhiều thế hệ bởi tranh giành, chiếm đoạt có khi dẫn đến chiến tranh điêu tàn, cướp phá đói nghèo. . .

Có người bị cám dỗ luôn cho mình hơn người khác nên dễ tức giận và nổi nóng. Nổi nóng quạt nạt khi người khác sai. Đây cũng là biểu hiện của sự kiêu căng. Kiêu căng đi đến thái quá sẽ tìm mọi cách để hơn người khác bằng sự đê tiện bỉ ổi như vu khống và gian lận.

Con người luôn đối diện với cám dỗ, nhưng người bị cám dỗ thì không xấu nếu biết kiểm soát cám dỗ để luôn đi theo luân thường đạo lý. Nếu con người biết tự chủ trước cám dỗ thì chính cám dỗ lại là động lực để mình sống tốt hơn và thánh thiện hơn.

Bài phúc âm hôm nay, thánh Marco nói về việc Chúa Giêsu chiến thắng cám dỗ. Ma qủy đã tìm cách lôi kéo Chuá Giêsu quay lưng lại với Chuá Cha. Từ khước sống vâng phục thánh ý Chúa để được thoả mãn cái bụng của mình. Nó hướng mở cho Chúa một tương lai đầy hứa hẹn không chỉ có của ăn dư đầy từ những hòn đất hòn đá cũng biến thành của ăn, từ sỏi đá cũng thành cơm, mà vượt xa hơn nữa là nắm gọn trong tay thiên hạ, kẻ hầu người hạ và thừa hưởng mọi vinh hoa lợi lộc trần gian.

Chúa Giê-su không những đã khước từ những lời mời mọc của ma quỷ và còn cho ma qủy nhận ra rằng không có gì cao qúy hơn là được sống trong tình nghĩa với Thiên Chúa, sống trong sự quy phục Thiên Chúa, vì người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

Những cám dỗ mà ma qủy tuy đã thất bại với Chúa Giêsu nhưng nó vẫn dung con mồi này để quyến rũ chúng ta là: danh vọng, tiền tài, địa vị, thú vui xác thịt. Kết quả là nhiều người vì ham tiền, ham lợi lộc đã trở thành tay sai cho ma qủy, không chỉ mình làm điều ác mà còn lôi kéo, dẫn dụ nhiều người khác đi vào con đường tội lỗi. Ma qủy đã thành công khi sai khiến chúng ta làm sự dữ, là những điều trái với luân thường đạo lý như: trộm cắp, đánh nhau, hận thù ghen ghét, tự cao tự đại .. . Đó là những mối tội đầu đã gây nên biết bao đau khổ cho chính mình và những người chung quanh.

Ở khởi đầu mùa chay khi cho chúng ta chiêm ngắm Chúa Giêsu bị ma qủy cám dỗ, Giáo hội mời gọi chúng ta ý thức về thân phận tội lỗi của mình và sức mạnh của sự dữ, của ma qủy luôn rình rập để lôi kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa, đi trong tối tăm của đam mê lầm lạc. Vì thế, chúng ta cần nhận ra sự giới hạn của kiếp người để nhờ ơn Chúa giúp mới chiến thắng cám dỗ và trung thành với Chúa. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

--------------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 4 of 172