mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay630
mod_vvisit_counterHôm Qua10757
mod_vvisit_counterTuần Này44830
mod_vvisit_counterTuần Trước45104
mod_vvisit_counterTháng Này135886
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10640142

We have: 101 guests online
Your IP: 54.162.173.119
 , 
Today: Apr 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO -CAC ON DAI XA TUAN THANH PDF Print E-mail

Vui Hưởng Các ơn Đại Xá trong Tuần Thánh!

kristie phan chuyển

-Chiếu theo Tông Huấn Giáo Lý Ân Xá (Indulgentiarum Doctrina ) do Đức Thánh Cha Phaolo VI ban bố ngày 1 tháng 1 năm 1967 và Cẩm Nang Về Các Ân Xá (Enchiridion Indulgentiarum) ấn bản thứ tư năm 1999, các việc làm vào những dịp sau đây trong Tuần Thánh được hưởng nhận các ơn Đại Xá Hội Thánh rộng ban cho các tín hữu như sau:
**********************
– Tối Thứ Năm Tuần Thánh, sau Thánh Lễ Tiệc Ly, ai hát kinh Tantum Ergo (đây Nhiêm Tích Vô Cùng Cao Quý) hoặc Chầu Mình Thánh Chúa đủ 30 phút thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.
– Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, ai tham dự nghi lễ Thờ lạy và hôn kính Thánh Giá thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá
– Ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, trong Đêm Vọng Phục Sinh, ai tuyên lại lời hứa khi Rửa Tội hoặc có thể thay bằng Tín Biểu các Tông Đồ, Kinh Tin Kính công đồng Nicea-Constantinople thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.
– Các ngày khác trong Tuần Thánh và các ngày khác quanh năm, ai viếng đủ 14 chặng Đàng Thánh Giá thì được hưởng nhờ ơn Đại Xá.
***Các ơn Đại Xá ngày mỗi ngày được hưởng nhận 1 lần và có thể nhường cho các linh hồn.
Để lãnh nhận ơn Đại Xá cần giục lòng ăn năn, chê ghét, dốc lòng chừa mọi tội trọng, tội nhẹ đã phạm, dứt lòng quyến luyến tội lỗi và theo các điều kiện hưởng ơn Đại Xá thông thường:
- Xưng Tội
- Rước Lễ trong chính ngày hưởng ơn Đại xá
- Cầu theo ý Đức Giáo Hoàng : có thể cầu theo ý chỉ hoặc đọc thay bằng 1 Kinh Lạy Cha để hiệp ý cùng Đức Giáo Hoàng.
-Xin Anh Chị Em loan báo rộng rãi điều này để Danh Chúa cả sáng và sinh ơn ích cho các linh hồn.

http:thanhcavietnam.net/forum/showthread.php?t=49558

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - Y NGHIA CHUA NHAT LE LA PDF Print E-mail

Ý nghĩa Chúa Nhật Lễ Lá

Với Lễ Lá, CAC BẠN bắt đầu tuần lễ quan trọng nhất của Năm Phụng Vụ gọi là Tuần Thánh.

Trong Tuần Thánh, chúng ta cử hành cuộc khổ nạn, sự chết và nhất là sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, Ðấng Cứu Thế. Dầu cho với cái nhìn chính trị, xã hội của con mắt người đời, việc Chúa Giêsu vào thành Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua, là một việc có tính cách gây rối chính trị, vì đế quốc Rôma đang cai trị và Hêrôđê đang làm vua. Nhưng Chúa Giêsu, Người biết rõ việc Người làm. Trước mặt Philatô, Người tuyên bố rõ ràng: "Tôi là Vua nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này".

Vậy Phụng vụ Lễ Lá có thể gợi lên cho QUÝ VỊ CÀ CAC BẠN ba ý nghĩa:

- Trước tiên Chúa Nhật Lễ Lá là việc tưởng niệm cuộc vào thành Giêrusalem long trọng của Chúa Giêsu trước khi Người chịu khổ hình và chết. Biến cố đó cho chúng ta thấy Chúa Giêsu biết rằng giờ của Người đã đến, biết rằng Người phải làm gì và Người đã tự nguyện bước vào cái chết sinh ơn cứu độ, như hạt lúa miến đã chết đi để sinh sự sống mới. Người tự hiến mình để chu toàn thánh ý của Chúa Cha. Vì thế trước đó nhiều lần, những người Do Thái chống đối lập mưu để giết Người, như ném đá Người hoặc xô Người xuống vực thẳm, nhưng họ không làm được việc gì, vì giờ của Người chưa đến. Và cũng đã nhiều lần dân chúng hợp lại định tôn phong Người lên làm vua, nhưng Người đã lẩn trốn sang nơi khác cũng chỉ vì giờ của Người chưa đến.

- Ý hướng thứ hai của Lễ Lá là ngày lễ để tôn kính Chúa Kitô là Vua. Ðây là lần đầu tiên trong suốt cuộc đời trần thế của Người, Chúa Giêsu đồng ý để cho dân chúng tung hô vạn tuế Người là Vua: "Hoan hô chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời." Người vào Giêrusalem, thành của vua cả trong phong cách đế vương, và chính vì phong cách đế vương này mà Người đã bị kết án tử hình. Bản án của Người được viết bằng ba thứ tiếng, Do Thái, La Tinh và Hy Lạp, "Giêsu Nagiarét Vua dân Do Thái." Vì thế, dầu cho Người bị kết án tử hình bằng một hình khổ dã man và nhục nhã, đóng đinh chân tay căng thây trần truồng trên Thập Giá, nhưng các sách Phúc Âm đều ghi đậm nét vẻ vương giả của Người để khai mào một vương quốc mới. Vương quốc của sự thật và sự sống, vương quốc của yêu thương và an bình như Người đã nói trước mặt Philatô: "Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là để làm chứng cho sự thật. Ai tôn trọng sự thật thì nghe tiếng Tôi." Vậy Chúa Nhật Lễ Lá cho chúng ta một cơ hội nữa để tuyên xưng niềm tin của chúng ta vào Vua các vua, Vua cả trời đất, nhất là Vua của mọi cõi lòng.

- Với ý nghĩa thứ ba, Chúa Nhật Lễ Lá nhắc cho chúng ta biết sống trên đời là đối đầu với đau khổ, vì lễ Lá dẫn đưa chúng ta vào cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, chuẩn bị chúng ta chiêm ngắm cái chết đau thương của Người trên đồi Canvê. Khi chấp nhận bằng lòng vác thập giá mình mà theo chân Chúa Giêsu, đó là chúng ta cũng chia sẻ gánh nặng của Người, noi gương Người để vác thập giá, nhưng điều quan trọng là không phải vác đi trong than khóc mà trong hy vọng. Vì với Chúa Giêsu, đau khổ và chết chóc không dồn con người vào ngõ bí, mà là dẫn đưa đến vinh quang của ngày sống lại.

Hôm nay trong cái nghịch lý của Lễ Lá, vị Vua của chúng ta tiến lên, vị Vua đã bênh vực nhân vị của con người, đã xoa dịu mọi đau khổ thể xác như tinh thần của những ai đến cùng Người. Vị Vua đó đã thu, đã hút tất cả những đau khổ của thể xác và tinh thần của con người vào chính bản thân mình, để chết đi một lần cho tất cả và đã mở ra cánh cửa vào chốn trường sinh. Ðó là niềm hy vọng của chúng ta.

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM THỰC HÀNH: Ðể có việc làm cụ thể trong tuần này, CAC BẠN sẽ tìm cách tế nhị giúp cho một người đang gặp khó khăn vật chất hoặc đau buồn tinh thần, để họ lấy lại được niềm hy vọng. Và noi gương Chúa Giêsu nơi vườn cây Dầu, khi Người cầu nguyện: "Lạy Cha nếu có thể được, xin cất chén đắng này xa Con, nhưng xin đừng theo ý Con một theo ý Cha mà thôi," QUÝ VỊ VÀ CAC BẠN cũng xin Chúa cho MÌNH biết vui lòng vâng phục thánh ý Chúa, dầu lắm khi chúng ta không hiểu được tại sao.!

Virus-free. www.avast.com

 
HOC HOI DE SONG DAO - LM NGO TON HUAN PDF Print E-mail

LÀM SAO ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ SỐNG ĐỜI ĐỜI VƠI CHÚA TRÊN NƯỚC TRƠI MAI SAU ?
Hỏi :
Nhân Tuần Thánh,tưởng niệm sự thương khó và cuộc tử nạn của Chúa Kitô, xin cha giải thích rõ con người phải làm gì để được cứu rỗi
Trả lời :
Đây là vấn đề đã gây ra nhiều tranh cãi trong và ngoài Giáo Hội. Cụ thẻ, các giáo phái Tin Lành đều cho rằng con người được cứu độ là nhờ tin vào Chúa Kitô, chứ không phải nhờ cố gắng nào của cá nhân mình, vì tội Nguyên Tổ ( Original Sin ) đã phá hủy hoàn toàn khả năng hành thiện của con người, nên không ai có thể làm được gì đáng để được cứu rỗi ngoài tin vào Chúa Kitô. Mặt khác cũng có nhiều người Công Giáo và Tin Lành quá lạc quan cho rằng Thiên Chúa là Đấng giầu tình thương và tha thứ nên không cần phải đặt nặng vấn đề cứu rỗi vì Chúa Giêsu-Kitô đã chết thay cho mọi người rồi, cho nên chỉ cần nhờ cậy vào Chúa Kitô là được cứu rỗi, và không cần phải làm gì thêm về phía con người.
Cụ thể, có một số linh mục ( Viêt nam, Mỹ và Canada), cũng vì cho rằng Chúa Kitô đã đền thay cho mọi người có tội rồi, nên đã mời hết mọi người tham dự Thánh lễ lên rước Mình Máu thánh Chúa, không phân biệt họ là thành phần nào, có Đạo hay không, hoặc đang sống trong tình trạng ngăn trở như ly dị và chưa được tháo gỡ hôn phối cũ mà lại sống chung với người khác như vợ chồng. Lại nữa, có những giáo dân không bao giờ đi xưng tội, nhưng cứ lên rước Mình Thánh Chúa vì cho rằng Chúa đã tha hết mọi tội rồi.! Thêm vào đó, cũng có rất nhiều người Công giáo không muốn đến nhà thờ để tham dự Thánh lễ vì nghĩ rằng không cần thiết, chỉ cần ở nhà đọc Kinh Thánh là đủ !
Chúng ta phải nghĩ thế nào về những quan điểm nói trên ?
Trước hết, chúng ta tin có Chúa là Đấng đầy lòng thương sót đối với toàn thể nhân loại. Thánh Vịnh 30 đã ca tụng tình thương bao la của Thiên Chúa như sau:
" Người có nổi giận, giận trong giây lát
Nhưng yêu thương, thương suốt cả đời." ( TV 30(29) : 6)
Mặt khác , chúng ta không coi nhẹ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, và vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc bảo vệ, nuôi dưỡng đức tin và ban phát ơn cứu độ của Chúa Giê-su-Kitô cho đến ngày mãn thời gian.
Thật vậy, nếu chúng ta được cứu rỗi và có hy vọng được gặp Chúa là cội nguồn của mọi an vui hoan lạc, thì trước hết ta phải cậy nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4). Thêm vào đó, chúng ta phải cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, Đấng " đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28)
Sau nữa phải cần đến Giáo Hội là trung gian trong việc ban phát ơn cứu độ của Thiên Chúa cho con cái mình và cho những ai muốn gia nhập Giáo Hội để nhận lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng đã thiết lập Giáo Hội trên nền tảng các Tông Đồ để tiếp tục sứ vụ rao giảng, dạy dỗ và thánh hóa Dân Chúa được trao phó cho mình chăn dắt về mặt thiêng liêng.
Nhưng cho dù Thiên Chúa mong muốn cho mọi người được cứu độ và cho dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu đã quá đủ cho ta được cứu rỗi; dầu vậy Thiên Chúa vẫn đòi hỏi sự cộng tác của con người vào ơn cứu độ, vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng, để hoặc chọn sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo thế gian với "văn hóa của sự chết"để tự do tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất và tìm hưởng mọi thú vui vô luân vô đạo như thực trạng của biết bao triệu con người trên khắp thế giới tục hóa ngày nay.
Thiên Chúa chỉ mời gọi con người yêu mến và sống theo đường lối của Chúa để được chúc phúc hay bị nguyền rủa như lời ông Mô-sê đã nói với dân Do Thái xưa, sau khi họ được giải phóng khỏi ách nô lệ thống khổ trên đất Ai Cập :
" Hãy xem, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn : hoặc được chúc phúc, hoặc bị nguyền rủa. Anh em sẽ được chúc phúc nếu vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em mà tôi truyền cho anh em hôm nay. Anh em sẽ bị nguyền rủa , nếu không vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA." ( Đnl 11: 26-28)
Khi phán những lời trên với Dân Do Thái, Thiên Chúa đã cho chúng ta thấy rõ là Người muốn con người dùng ý muốn tự do mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng để đáp trả tình yêu của Chúa và sống theo những thánh chỉ của Người để được cứu độ nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Nhưng nếu con người tự ý chọn sống theo thế gian và theo ý riêng mình để khước từ Thiên Chúa thì phải chịu hậu quả là không được hưởng nhờ công nghiệp của Chúa Kitô, như Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người xưa kia như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa,lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7:21)
Thi hành ý muốn của Chúa Cha có nghĩa là quyết tâm từ bỏ con đường gian tà, gian ác, bóc lột bất công, tham ô, giết người, khủng bố , giết thai nhi, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm vô cùng khốn nạn và tội lỗi, cùng với đam mê của cải, tiền bạc và mọi thú vui vô luân vô đạo, như bộ mặt thật của "văn hóa sự chết" đang thống trị tâm hồn của biết bao triệu con người ở khắp nơi trên thế giới duy vật , vô thần, vô luân, và tôn thờ khoái lạc ( hedonism) hiện nay.
Nếu người ta cứ sống như vậy, thì dù miệng có nói " tôi tin có Chúa" bao nhiêu lần thì cũng vô ích mà thôi. Và Chúa cũng không thể cứu họ được dù Người là tình thương vô biên và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá, đủ cho con người được cứu độ. Nhưng đủ ở đây không có nghĩa là người ta không cần phải làm gì thêm về phần mình, cứ việc sống cách nào tùy ý.
Ngược lại, Chúa vẫn đòi hỏi con người phải có thiện chí cộng tác vào ơn cứu độ qua quyết tâm sống theo đường lối của Chúa, xa tránh mọi tội và sự dữ, là những cản trở to lớn cho ai muốn vào Nước Trời để được sống hạnh phúc vinh cửu với Chúa sau khi chấm dứt hành trình trong trần thế này. Đó chính là cách thể hiện thực tâm yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân, thực thi công bằng và bác ái, yêu mến sự trong sạch, thánh thiện là những tiêu chuẩn căn bản để tỏ ra thiện chí " thi hành ý muốn của Chúa Cha , Đấng ngự trên Trời."như Chúa Giê su đã nói rõ trên đây..
Nói khác đị, là người có niềm tin Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, tin Chúa Giê-su Kitô là Đấng đã cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa qua nỗ lực qui hướng đời sống vào mục đích tối hậu là Thiên Chúa và Vương Quốc bình an và hạnh phúc của Người để dứt khoát khước từ mọi cám dỗ của thế gian -và nhất là của ma quỉ- kẻ thù của chúng ta, ví như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." Như Thánh Phêrô đã cảnh báo. ( 1 Pr 5: 8)
Nếu không có nỗ lực nói trên để cứ đi hàng hai là vẫn tin có Chúa nhưng đời sống và việc làm lại thuộc về thế gian và ma quỷ thì chắc chắn Chúa không thể cứu ai được, cho dù Chúa Kitô đã chết để đền tội thay cho con người, nhưng không bảo đảm rằng mọi người sẽ đương nhiên được cứu độ vì đã có công nhiệp cứu chuộc vô giá của Chúa. Công nhiệp này là điều kiện tiên quyết , nhưng con người vẫn phải có thiện chí đáp trả tình thương của Thiên Chúa qua nỗ lực bước đi theo Chúa Kitô là " con đường, là sự thật và là sự sống," ( Ga 14: 6). Nếu không thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa sẽ trở nên vô ích.
Đó cũng là lý do tại sao Chúa đã ngăn đe những ai "đi hàng hai" trong Sách Khải Huyền như sau:
" Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta. " ( Kh 3: 15-16)
Như thế, đủ cho thấy là không phải cứ nói " lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời" như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa. Ngược lại, vào hay không còn tùy thuộc cách con người sử dụng ý muốn tự do để hoặc sống theo Chúa hay theo thế gian và chiều theo những huynh hướng xấu còn tồn tại trong bản tính con người, như đam mê tiền của, ích kỷ , độc ác, chạy theo những quyến rũ về vui thú vô luân vô đạo,..Người có niềm tin Chúa mà sống như vậy thì chắc chắn đã khước từ Chúa bằng chính đời sống của mình, đã tự lên án mình, và tự tìm con đường đưa đến hư mất đời đời.
Sau hết, người tín hữu Chúa Kitô cũng không thể coi thường vai trò và sứ mệnh của Giáo Hội là Hiền thê và là Thân Thể nhiệm mầu ( Mystical Body) của Chúa Kitô, có mặt và hoạt động trong trần gian với mục đích chuyên chở ơn cứu độ của Chúa đến với những ai đã gia nhập Giáo Hội qua bí tích Rửa tội. Giáo Hội chính là Mẹ đang thay mặt và nhân danh Chúa là Cha để dạy dỗ con cái mình sống đúng với Tin Mừng cứu độ và ban phát ơn này qua các bí tích mà Chúa Cứu Thế Giê su đã thiết lập và trao cho Giáo Hội cử hành để thông ban ơn cứu độ của Người cho con cái cho đến thời cuối cùng. Vì thế, là chi thể của Giáo Hôi, mọi tín hữu phải yêu mến và vâng lời Giáo Hội dạy bảo mọi giáo lý về đức tin và luân lý, cũng như hiệp thông với Giáo Hội trong cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích- đặc biệt là bí tích Thánh Thể và Hòa giải- để được sung mãn trong đời sống thiêng liêng và bảo đảm ơn cứu độ. Do đó, ai coi thường và không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội thì không thể lãnh nhận được ơn thánh Chúa ban phát dồi dào qua Giáo Hội.
Tóm lại, Thiên Chúa là tình thương và hay tha thứ. Chúa Kitô đã hiến mạng sống mình "làm giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20: 28). Công nghiệp cứu chuộc này thực vô giá và đủ cho con người được cứu độ. Nhưng đây không phải là lý do để không làm gì về phần mình và không cần đến Giáo Hội để cứ buông thả sống theo những đòi hỏi bất chánh của bản năng, những lôi cuốn của thế gian chối bỏ Thiên Chúa và nhất là những cảm dỗ của ma quỷ, là kẻ thù luôn tìm mọi cách để kéo con người ra khỏi tình yêu của Chúa để làm nô lệ cho chúng và mất hy vọng được cứu độ. Ngược lại, phải cậy nhờ tình thương tha thứ của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, song song với quyết tâm sống cho Chúa và " hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết : có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không được ." ( Lc 13: 24) như Chúa Giêsu đã nói nói với dân chúng đến nghe Người giảng dạy xưa kia.
"Qua của hẹp mà vào" có nghĩa là không được đi vào cửa rộng thênh thang nơi nhiều người đang đi qua để tự do gian manh, lừa đào, tự do phá thai , tự do thay vợ đổi chồng, tự do buôn bán sách báo phim ảnh khiêu dâm đòi truy, tự do mở sòng cờ bạc và làm nghề mãi dâm để kiếm nhiều tiền của, là những cách sống và con đường chắc chắn dẫn đi nhanh đến chốn hư mất đời đời. Nhưng quá nhiều người lại đang nghênh ngang đi vào đó để thách đố hay chế nhạo những ai có niềm tin Thiên Chúa và thực tâm muốn sống niềm tin này cách cụ thể qua quyết tâm xa tránh tội lỗi do ma quỷ và thế gian cấu kết nhau xúi dục đêm ngày để mong xô con người xuống vực thẳm của sự chết trong linh hồn. .
Tóm lại, Thiên Chúa mong muống cho mọi người được cứu độ,Chúa Kitô đã chết trên thập giá năm xưa để cứu chuộc cho mọi người trong nhân loại từ xưa đến nay và cho đên ngày mãn thời gian Nhưng nếu con người không cộng tác với ơn cứu đô của Chúa để sống theo đường lối của Chúa và xa tránh tội lỗi thì Chúa không thể cứu ai được. chắc chắn như vậy.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hổi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn ( Houston, Texas, USA)

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU TU 21-3-2018 PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26

Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời".

Phúc Âm: Ga 8, 31-42

"Nếu Chúa Con giải thoát các ngươi, thì các ngươi thực sự được tự do".

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với những người Do-thái đã tin nơi Ngài rằng: "Nếu các ngươi cứ ở trong lời Ta, các ngươi sẽ thật là môn đệ của Ta, và sẽ được biết sự thật, và sự thật giải thoát các ngươi". Họ thưa lại Người: "Chúng tôi là con cháu Abraham, và chưa bao giờ làm nô lệ ai cả. Tại sao ông lại nói "Các ngươi sẽ được tự do"?". Chúa Giêsu trả lời rằng: "Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: Hễ ai phạm tội, thì làm nô lệ cho tội. Mà tên nô lệ không ở mãi trong nhà; người con mới ở vĩnh viễn trong nhà. Vậy nếu Chúa Con giải thoát các ngươi, thì các ngươi sẽ được tự do thực sự. Ta biết các ngươi là con cháu Abraham, thế mà các ngươi lại tìm giết Ta: vì lời Ta không thấm nhập vào lòng các ngươi. Ta nói những điều Ta đã thấy nơi Cha Ta. Còn các ngươi, các ngươi làm điều các ngươi đã thấy nơi cha các ngươi". Họ đáp lại: "Cha chúng tôi chính là Abraham!" Chúa Giêsu nói: "Nếu thực các ngươi là con cháu Abraham, thì các ngươi làm công việc của Abraham! Nhưng các ngươi đang tìm giết Ta, là người đã nói cho các ngươi biết sự thật mà Ta nghe tự Thiên Chúa. Ðiều đó Abraham đã không làm! Các ngươi đang làm việc của cha các ngươi!" Họ lại nói: "Chúng tôi không phải là những đứa con hoang! Chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa!" Chúa Giêsu nói: "Nếu Thiên Chúa là Cha các ngươi, thì các ngươi yêu mến Ta, vì Ta tự Thiên Chúa mà đến; vì Ta không tự mình mà đến, nhưng chính Ngài đã sai Ta đến".

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Sự Sống về nguồn

Nếu Chúa Nhật Lễ Lá cũng là Chúa Nhật Thương Khó là ngày thứ 40 của Mùa Chay kể từ Thứ Tư Lễ Tro thì hôm nay là ngày thứ 36 của Mùa Chay, Thứ Tư trong Tuần V Mùa Chay.

"Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy lại" (Gioan 10:17), chủ đề cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, cho thấy sắp sửa trở thành hiện thực ở biến cố Vượt Qua của Chúa Kitô trong Tuần Thánh, nhất là Tam Nhật Vượt Qua.

Nếu biến cố tử nạn và phục sinh của Người là tột đỉnh của tất cả mạc khải thần linh, cho chung con người nhất là cho riêng dân Do Thái, thì những gì Người tỏ mình ra cho dân Do Thái, qua lời nói của Người, ở các bài Phúc Âm ngày thường từ Thứ Tư tuần trước, Tuần IV Mùa Chay, cho đến hết Tuần V Mùa Chay này, là dạo khúc tiến đến tột đỉnh mạc khải thần linh ấy, một mạc khải Thiên Chúa tỏ hết mình ra cho loài người biết Ngài là ai và như thế nào nơi Con của Ngài là nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét, Đấng bị chính dân của Người phủ nhận, loại trừ và lên án tử!

Thật vậy, bằng lời chứng của mình, Chúa Giêsu đã từ từ tỏ mình ra cho dân Do Thái. Nếu căn cứ vào thứ tự các bài Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc theo Thánh ký Gioan, thì Người tỏ mình ra từ xa tới gần, rất tài tình, khéo léo và đầy ngoạn mục như sau:

Ở bài Phúc Âm Thứ Năm Tuần IV Mùa Chay vừa rồi, chính Người khẳng định và tuyên bố rằng: "Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực", mà ở bài Phúc Âm Thứ Hai đầu Tuần V Mùa Chay này, Người lại khẳng định và tuyên bố hoàn toàn ngược hẳn lại: "Cho dầu Ta tự làm chứng về Ta, thì chứng của Ta cũng xác thực, vì Ta biết rõ Ta từ đâu tới và đi về đâu. Còn các ông, các ông không biết Ta từ đâu tới, cũng chẳng biết Ta đi đâu".

Để rồi, từ đó, từ chỗ "Ta biết rõ Ta từ đâu tới và đi về đâu" như thế, một sự thật vô cùng quan trọng chẳng những đối với phần rỗi của chung loài người và riêng dân Do Thái, mà còn đối với cả chính bản thân của Người nữa. Bởi vì, nếu Người không biết mình là ai, ở chỗ, từ đâu tới và sẽ đi đâu, thì Người quả là một con người thuần túy, không phải là "Đức Kitô (Thiên Sai), Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), và vì thế Người không phải là Đấng Cứu Thế, không có tư cách và khả năng cứu độ trần gian.

Bởi thế, tự biết mình là một mầu nhiệm thần linh siêu việt, cho dù có tỏ mình ra, không một ai trên trần gian này có thể nào hiểu được, kể cả thành phần môn đệ thân tín của Người, huống chi là dân Do Thái, thành phần mà Người đã thừa biết, như Người đã khẳng định với họ về tầm kiến thức thấp hèn hạn hẹp của họ trong bài Phúc Âm hôm qua, rằng "các người thuộc về hạ giới... thuộc về thế gian", nên không thể nào hiểu được Người là Đấng "bởi trời cao".

Thậm chí, cho dù họ có muốn biết, rất muốn biết về Người, nhưng khốn thay, họ càng muốn biết thì họ lại càng vấp phạm, nhất là vào chính lúc họ thấy rõ được tất cả sự thật về Người do chính Người cuối cùng buộc phải công nhận theo câu hỏi dứt khoát về Người bởi lệnh truyền tối thượng của vị thượng tế Caipha đại diện họ thay mặt Thiên Chúa (xem Mathêu 26:63-67), như Người cũng đã khẳng định với họ về số phận của họ trong cùng bài Phúc Âm hôm qua: '"Tôi ra đi, quí vị sẽ tìm kiếm Tôi và quí vị sẽ chết trong tội của quí vị. Nơi Tôi đi quí vị không thể nào tới được".

Trong bài Phúc Âm Thứ Tư Tuần V Mùa Chay hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục dẫn họ tiến sâu hơn nữa vào mầu nhiệm về Người, liên quan đến nguồn gốc thần linh của Người, khi Người khéo léo đưa họ về lại từ đầu, về chính nguồn gốc thần linh của chính họ, về vị tổ phụ đầu tiên của họ là Abraham, người cha đẻ ra dân tộc của họ về tự nhiên, từ đó, Người dẫn họ tới chính Đấng là Cha của họ về siêu nhiên, Đấng đã tự xưng mình với Moisen là vị cứu tinh dân tộc họ, Ngài là "Thiên Chúa của Abraham..." (Xuất Hành 3:6,15).

Trước hết, Chúa Giêsu đã khéo léo đưa dân Do Thái, qua những người đại diện đang nghe Người bấy giờ, về lại từ đầu, thoạt tiên về vị tổ phụ Abraham là người cha đẻ ra dân tộc của họ về tự nhiên:

"'Ta biết các ngươi là con cháu Abraham, thế mà các ngươi lại tìm giết Ta: vì lời Ta không thấm nhập vào lòng các ngươi. Ta nói những điều Ta đã thấy nơi Cha Ta. Còn các ngươi, các ngươi làm điều các ngươi đã thấy nơi cha các ngươi'. Họ đáp lại: 'Cha chúng tôi chính là Abraham!'"

Sau nữa, từ người cha về tự nhiên này, Chúa Giêsu đã bí mật và kỳ diệu dẫn họ tới chính Thiên Chúa là Cha của họ về siêu nhiên:

"'Nếu thực các ngươi là con cháu Abraham, thì các ngươi làm công việc của Abraham! Nhưng các ngươi đang tìm giết Ta, là người đã nói cho các ngươi biết sự thật mà Ta nghe tự Thiên Chúa. Ðiều đó Abraham đã không làm! Các ngươi đang làm việc của cha các ngươi!' Họ lại nói: 'Chúng tôi không phải là những đứa con hoang! Chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa!' Chúa Giêsu nói: 'Nếu Thiên Chúa là Cha các ngươi, thì các ngươi yêu mến Ta, vì Ta tự Thiên Chúa mà đến; vì Ta không tự mình mà đến, nhưng chính Ngài đã sai Ta đến'".

Trong câu chuyện đối đáp giữa Chúa Giêsu và thành phần thính giả đại diện cho dân Do Thái bấy giờ liên quan đến nguồn gốc của họ, từ lãnh vực tự nhiên dính dáng đến tổ phụ Abraham, lên lãnh vực siêu nhiên đụng chạm tới chính Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, và cả hai, tổ phụ Abraham và Thiên Chúa, đều được dân Do Thái nhận là cha và gọi là cha: "Cha chúng tôi chính là Abraham!"; "Chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa!".

Tuy nhiên, lần nào cũng thế, mỗi lần họ khẳng định và công nhận với Người cha của họ là tổ phụ Abraham hay Thiên Chúa, Chúa Giêsu đều công nhận họ nói đúng về lý thuyết nhưng hoàn toàn không đúng về thực tế, bởi vì họ có một thứ "cha" nào đó không phải là tổ phụ Abraham hay Thiên Chúa của họ: "các ngươi làm điều các ngươi đã thấy nơi cha các ngươi"... "các ngươi đang tìm giết Ta, là người đã nói cho các ngươi biết sự thật mà Ta nghe tự Thiên Chúa. Ðiều đó Abraham đã không làm! Các ngươi đang làm việc của cha các ngươi!".

Vậy "cha" của dân Do Thái được Chúa Giêsu nói đến ở đây, không phải là tổ phụ Abraham cũng không phải là Thiên Chúa thì là ai vậy? Phải chăng là Moisen, vị trung gian môi giới giữa họ và Thiên Chúa là Đấng đã ban cho họ lề luật qua Moisen, vị được Ngài chọn và sai đến với họ để giải thoát họ khỏi tình trạng làm nô lệ cho người Ai Cập mà dẫn họ về miền Đất Hứa tự do của riêng họ, được Thiên Chúa hứa ban cho họ qua tổ phụ Abraham của họ, và vì thế vị cứu tinh trung gian môi giới Moisen này đối với họ có thể được họ coi như một người cha đã tái sinh họ từ sự chết vào sự sống?

Rất tiếc không phải như thế, nếu chúng ta tiếp tục đọc thêm một chút nữa, chỉ sau bài Phúc Âm hôm nay 1 câu nữa thôi, tức ở câu 44 cùng đoạn 8 với bài Phúc Âm hôm nay (chấm dứt ở câu 42), chúng ta sẽ thấy ngay chân tướng của thứ "cha" được Chúa Giêsu thực sự muốn nói tới liên quan đến dân Do Thái ở đoạn Phúc Âm hôm nay. Ai vậy? Dạ, xin thưa, đó là "ma quỉ": "Người cha mà các người xuất phát là ma quỉ và các người sẵn sàng làm theo những gì hắn muốn...".

Mà "các ngươi làm điều các ngươi đã thấy nơi cha các ngươi", Các ngươi đang làm việc của cha các ngươi!" và "các người sẵn sàng làm theo những gì hắn muốn..." đây là gì, nếu không phải là phản kitô, không chấp nhận Chúa Kitô đến trong xác thịt (xem 1Gioan 2:22; 2Gioan 7), như hình ảnh tiêu biểu được Thánh ký Gioan thị kiến thấy trong Sách Khải Huyền (12:4) về môt con khủng long (ám chỉ Luxiphe hay Satan) rình chực trước người nữ sinh con để nuốt con trẻ do người nữ sinh ra (ám chỉ Chúa Kitô, vị Thiên Chúa nhập thể).

Thật ra dân Do Thái không hế biết như vậy, nhưng chính Chúa Giêsu đã vạch ra cho họ thấy như thế, căn cứ vào việc làm và hành động khách quan của họ. Tự mình họ thuộc về hạ giới và thế gian đã không thể nào hiểu được mầu nhiệm Chúa Kitô, cho dù có được chính Người tỏ ra cho, như bài Phúc Âm hôm qua đặc biệt cho thấy, họ lại còn bị ma quỉ giật giây, chi phối bởi mầm mống nguyên tội ở nơi họ, mầm mống chống đối như ma quỉ, mà họ đã tác hành những gì "đã thấy nơi cha các ngươi", "của cha các ngươi!" và "theo những gì hắn muốn...".

Wow, cả là một đụng chạm kinh hoàng, chưa bao giờ xẩy ra... Bởi thế, chúng ta sẽ tiếp tục thấy được phản ứng của dân Do Thái ra sao, càng ngày càng dữ dội, càng điên tiết lên, cho đến khi họ bất chấp thủ đoạn miễn là làm sao có thể hoàn toàn triệt hạ được đối thủ ghê gớm vô cùng đáng ghét này của họ, và vì vậy, trong khi họ được Chúa Giêsu tiếp tục dẫn họ vào sâu hơn nữa nguồn gốc thần linh của Người, cho tới tận thẳm cung của mầu nhiệm thần linh của Người và về Người, so với tổ phụ Abraham (bài Phúc Âm Thứ Năm Tuần V Mùa Chay ngày mai), cũng như ở nơi mối liên hệ với chính Thiên Chúa (bài Phúc Âm ngày kia, Thứ Sáu Tuần V Mùa Chay).

Bài Đọc 1 hôm nay, 3 nhân vật tiêu biểu cho niềm tin của Do Thái giáo là "Sidrach, Misach và Abđênagô" đã chứng tỏ niềm tin bất khuất của mình vào Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của dân tộc họ, bất chấp cái chết về thể xác, nhờ đó họ đã làm cho cả vị vua dân ngoại vô thần và thờ tà thần cùng coi mình là thần này ra lệnh giết họ phải nhận biết Thiên Chúa của họ:

"Bấy giờ vua Nabucôđônôsor bỡ ngỡ, vội vã đứng lên và nói với các triều thần rằng: 'Chớ thì ta không ném ba người bị trói vào lò lửa sao?' Các ông trả lời với vua rằng: 'Tâu lạy vua, đúng vậy thật'. Vua nói: 'Ðây ta thấy có bốn người không bị trói đi lại giữa lò lửa mà không hề hấn gì; dáng điệu người thứ tư giống như Con Thiên Chúa'. Vua Nabucôđônôsor nói tiếp: 'Chúc tụng Chúa của Sidrach, Misach và Abđênagô, Ðấng đã sai thiên thần của Người đến giải thoát các tôi tớ tin cậy Người, không chịu vâng phục mệnh lệnh của nhà vua và thà hy sinh thân xác, chớ không phục luỵ thờ lạy Chúa nào khác ngoài Thiên Chúa của họ'".

Đức tin bất khuất của 3 chứng nhân trẻ trung này trước mặt quyền bính thế gian bấy giờ, như họ đã hiên ngang tỏ ra: "Thiên Chúa chúng tôi thờ có thể cứu thoát chúng tôi khỏi lò lửa cháy bừng, và khỏi tay đức vua; nhược bằng Thiên Chúa chúng tôi không muốn thì, tâu lạy vua, vua nên biết rằng chúng tôi không thờ các thần của vua và không lạy tượng vàng của vua dựng lên", thật sự là một đức tin xứng đáng chứng tỏ họ quả là con cháu của tổ phụ Abraham, cha của tất cả những kẻ tin (xem Roma 4:16), một đức tin Chúa Giêsu muốn thấy nhưng rất tiếc không thấy nơi thành phần thính giả của Người bấy giờ trong bài Phúc Âm hôm nay: "Nếu thực các ngươi là con cháu Abraham, thì các ngươi làm công việc của Abraham!"

Bài Đáp Ca hôm nay hoàn toàn phản ảnh nội dung của Bài Đọc 1 về niềm tin tưởng vào Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, Đấng "đáng ca ngợi, tôn vinh và tán tụng muôn đời":

1) Lạy Chúa là Thiên Chúa cha ông chúng con, Chúa đáng chúc tụng, đáng ca ngợi, tôn vinh và tán tụng muôn đời. Chúc tụng thánh danh vinh quang Chúa, đáng ca ngợi, tôn vinh và tán tụng muôn đời.

2) Chúa đáng chúc tụng trong đền thánh vinh quang Chúa, đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời.

3) Chúc tụng Chúa ngự lên ngai vương quyền Chúa, đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời.

4) Chúc tụng Chúa, Ðấng nhìn thấu vực thẳm và ngự trên các Thần Vệ Binh, đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời.

5) Chúc tụng Chúa ngự trên bầu trời, đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BA 20-3-2018 PDF Print E-mail

Thứ Ba 20-3-2018 - CN5MC- B

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 94, 8ab
Hôm nay các ngươi đừng cứng lòng, nhưng hãy nghe tiếng Chúa phán.


Phúc Âm: Ga 8, 21-30 : "ĐẤNG ĐÃ SAI TA, NGÀI ĐANG Ở VỚI TA" (C. 29)


"Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai".

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với những người biệt phái rằng: "Ta ra đi, các ông sẽ tìm kiếm Ta và sẽ chết trong tội của các ông. Nơi Ta đi các ông không thể tới được".
Người Do-thái nói với nhau rằng: "Ông ta sắp tự vẫn hay sao mà lại nói "Nơi Ta đi các ông không thể tới được"?"
Chúa Giêsu nói tiếp: "Các ông thuộc về hạ giới; còn Ta, Ta bởi trời cao. Các ông thuộc về thế gian này; còn Ta, Ta không thuộc về thế gian này. Ta đã nói: Các ông sẽ chết trong tội các ông. Vì, nếu các ông không tin Ta, các ông sẽ chết trong tội của các ông".
Vậy họ liền hỏi: "Ông là ai?" Chúa Giêsu trả lời: "Là Nguyên thuỷ đang nói với các ông đây! Ta có nhiều điều phải nói và đoán xét về các ông, nhưng Ðấng đã sai Ta là Ðấng chân thật, và điều Ta nói ra trong thế gian đây, chính là điều Ta đã nghe biết ở Ngài".
Nhưng họ không hiểu là Người nói về Chúa Cha, vì thế Chúa Giêsu nói: "Khi nào các ông đưa Con Người lên cao, các ông sẽ nhận biết Ta là ai. Ta không tự mình làm điều gì. Ðiều Ta nói, chính là điều Chúa Cha đã dạy Ta. Ðấng đã sai Ta đang ở với Ta; Ngài không để Ta một mình, bởi vì Ta luôn luôn làm điều đẹp lòng Ngài". Khi Người nói những điều ấy thì có nhiều kẻ tin vào Người.
Ðó là lời Chúa.

-HỌC HỎI- Suy niệm- SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống nhìn lên

Chủ đề chung cho Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy lại" (Gioan 10:17) càng rõ nét trong phụng vụ lời Chúa hôm nay, Thứ Ba trong Tuần V Mùa Chay, bao gồm cả Phúc Âm lẫn Bài Đọc 1.

Ở Bài Phúc Âm, "Tôi tự ý bỏ sự sống của mình đi", ở chỗ, như Chúa Giêsu đã báo trước cho "những người biệt phái rằng": "Khi nào quí vị đưa Con Người lên cao", nghĩa là khi nào quí vị hô hoán đòi "đóng đanh nó vào thập giá, đóng đanh nó vào thập giá" (Luca 23:21; Marco 15:13-15).

Nhưng "Tôi lấy nó lại", ở chỗ, chính khi quí vị thách đố Tôi xuống khỏi thập tự giá Tôi cũng không xuống (xem Matthew 27:39-43; Mark 15:29-32; Luke 23:35-36) thì lại là lúc quí vị bấy giờ mới biết Tôi thật sự là Đấng Thiên Sai, như Tôi đã nói, Tôi xuống thế gian này là để làm theo ý Cha là Đấng sai Tôi chứ không phải làm theo ý của Tôi (xem Gioan 6:38).

Ở Bài Đọc 1 cũng thế, chủ đề "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy lại" được báo trước ngay trong lời Thiên Chúa phán với Moisen rằng: "'Ngươi hãy đúc một con rắn đồng và treo nó lên làm dấu; kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được sống'. Môsê đúc một con rắn đồng, treo nó lên làm dấu, và kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được chữa lành".

Hình ảnh "con rắn bằng đồng" có thể chữa lành cho những ai bị "rắn lửa cắn" khi họ nhìn lên con rắn treo lên được đúc bằng đồng ấy ám chỉ Chúa Kitô tử giá, và thành phần bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn bằng đồng được treo lên ấy ám chỉ thành phần tội nhân tin tưởng ("nhìn lên") vào Đấng chịu đóng đanh, bao gồm cả dân ngoại: "Người này quả là một con người vô tội" (Luca 23:47) lẫn dân Do Thái: "Khi đám đông qui tụ lại trước cảnh tượng ấy nhìn thấy những gì đã xẩy ra thì trở về đấm ngực" (Luca 23:48).

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là, tại sao con rắn vốn tiêu biểu cho những gì là độc dữ, đã từng bị chính Thiên Chúa nguyền rủa ngay từ ban đầu sau khi nó là tác nhân gây ra nguyên tội (xem Khởi Nguyên 3:14; Gioan 8:44), mà trong Bài Đọc 1 trích từ Sách Dân Số hôm nay, lại ám chỉ Chúa Kitô tử giá? Phải chăng là vì Thiên Chúa muốn "lấy của độc giải độc", ở chỗ, thương đau và chết chóc gây ra bởi rắn thì chữa lành và sồng còn cũng bởi rắn?

Thật ra, tự bản thân của mình, Chúa Kitô là chính Con Thiên Chúa, là Đấng vô cùng thánh hảo, không có một chút hèn hạ và xấu xa nhơ nhớp nào, thế nhưng, vì Người cũng chính là Đấng Cứu Thế mà Người đã cần phải "trở nên" "Con chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" (Gioan 1:29), để nhờ đó có thể cứu nhân loại nhiễm lây nguyên tội bởi rắn quỉ cắn trong vườn địa đường khỏi tội lỗi và sự chết do chính rắn quỉ gây ra cho bản tính của họ, bằng cách chính Người đã phải "trở thành tội lỗi" (2Corinto 5:21) và "bị nguyền rủa" như một tử tội trên thập tự giá (Galata 3:13), nghĩa là Người đã trở nên như một con rắn bằng đồng thôi, chứ không phải rắn thật, một hình tượng tiêu biểu cho tội lỗi và chết chóc.

Đó là một mầu nhiệm vô cùng thâm sâu con người không thể nào thấu hiểu. Vì theo lập luận của loài người thì Thiên Chúa là Đấng vô cùng thánh hảo và toàn năng không thể nào lại trở thành một con người hay không thể nào làm người vô cùng thấp hèn, bất toàn và bất lực được, chứ chưa nói đến lại còn "trở thành tội lỗi" và "bị nguyền rủa" vô cùng khốn nạn như thế.

Bởi vậy mà trong bài Phúc Âm hôm nay chính Chúa Giêsu đã vừa khẳng định vừa tiên báo cho "những người biệt phái rằng: 'Tôi ra đi, quí vị sẽ tìm kiếm Tôi và quí vị sẽ chết trong tội của quí vị. Nơi Tôi đi quí vị không thể nào tới được'", tức loài người như họ không thể nào hiểu được, chứ chưa nói gì đến việc chấp nhận được.

Ngay câu Người nói ấy mà họ chưa hiểu nổi ý nghĩa sâu xa huyền nhiệm của những gì Người muốn nói huống chi khi họ tận mắt chứng kiến thấy sự thật xẩy ra, do đó: "Người Do-thái nói với nhau rằng: 'Ông ta sắp tự vẫn hay sao mà lại nói: Nơi Ta đi các ông không thể tới được?"

Mà thật, lý do con người bất khả thấu hiểu mầu nhiệm Chúa Kitô này là vì tầm mức chênh lệnh giữa tạo hóa với tạo vật, và tạo vật không thể nào bằng tạo hóa cùng hiểu được như tạo hóa, khoảng cách biệt hơn trời với đất. Thế nên, Chúa Giêsu đã chẳng những cho họ biết lý do họ không hiểu mà còn cho họ biết nguyên do phạm tội chính khi họ "tìm kiếm" Người nữa, đó là:

"Quí vị thuộc về hạ giới; còn Ta, Ta bởi trời cao. Quí vị thuộc về thế gian này; còn Ta, Ta không thuộc về thế gian này. Ta đã nói: Quí vị sẽ chết trong tội của quí vị. Vì, nếu quí vị không tin Ta, quí vị sẽ chết trong tội của quí vị".

Thật sự là thế, chính vì "quí vị không tin Ta" mà "quí vị sẽ chết trong tội của quí vị", đúng như Người đã quả quyết và cảnh báo: "quí vị sẽ tìm kiếm Tôi và quí vị sẽ chết trong tội của quí vị", ở chỗ, chính khi họ "tìm kiếm" Người bằng cách cuối cùng "nhân danh Thiên Chúa hằng sống", qua vị thượng tế Caipha của họ hỏi Người một cách chính thức và hết sức trịnh trọng có phải là "Đấng Thiên Sai Con Thiên Chúa hay chăng?" (xem Mathêu 26:63) thì họ, sau khi nghe Người cho họ biết tất cả sự thật về Người, lại "chết trong tội" của họ: "Hắn lộng ngôn... Hắn đáng chết... Họ bắt đầu nhổ vào mặt Người" (Mathêu 26:66-67).

Và sở dĩ họ không tin Người hay tin lời Người nói là vì họ chưa nắm bắt được tất cả sự thật về Người, như bài Phúc Âm hôm nay cho biết, qua câu họ hỏi Người: "Ông là ai?" Bấy giờ Người chưa tỏ hết mình ra như khi Người phải đối diện với toàn thể Hội Đồng Đầu Mục Do Thái và được thẩm quyền cao nhất của họ hạch hỏi, như trên đây, mà chỉ mới tỏ mình ra một cách xa xa nhưng rất chính xác về Người rằng: "Là Nguyên thủy đang nói với các ông đây!"

Thế nhưng, Người càng nói, càng tỏ mình ra, họ càng "không hiểu". Bởi vậy, chỉ còn một cách duy nhất là bằng chính cái chết của Người mà thôi: "Khi nào quí vị đưa Con Người lên cao, quí vị sẽ nhận biết Ta là ai". Bởi vì, chỉ có cách ấy mới có thể chứng thực một cách sống động rằng Người quả thực là Đấng Thiên Sai, ở chỗ: "Tôi không tự mình làm điều gì. Ðiều Tôi nói, chính là điều Chúa Cha đã dạy Tôi. Ðấng đã sai Tôi đang ở với Tôi; Ngài không để Tôi một mình, bởi vì Tôi luôn luôn làm điều đẹp lòng Ngài".

Đúng thế, khi Người nói những gì liên quan đến Chúa Cha: "Tôi có nhiều điều phải nói và đoán xét về quí vị, nhưng Ðấng đã sai Tôi là Ðấng chân thật, và điều Tôi nói ra trong thế gian đây, chính là điều Tôi đã nghe biết ở Ngài", thì "họ không hiểu là Người nói về Chúa Cha", nhưng khi Người nói về chính bản thân Người liên hệ với Chúa Cha, ở chỗ làm theo ý Cha, "thì có nhiều kẻ tin vào Người".

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa lời nguyện cầu của một tâm hồn phiền muộn, tiêu biểu cho những ai bị rắn lửa cắn trong Bài Đọc 1 hay thành phần những người biệt phái dầu sao cũng có thiện chí tìm hiểu về Chúa Kitô trong Bài Phúc Âm hôm nay, một tâm hồn tìm kiếm Chúa là Vị Thiên Chúa luôn quan tâm đến con người, tỏ mình ta cho con người và muốn cứu độ con người nói chung cùng những ai tin tưởng cậy trông nơi Ngài nói riêng:

1) Lạy Chúa, xin nhậm lời con cầu nguyện, và cho tiếng con kêu lên tới Chúa. Xin Chúa đừng ẩn giấu thánh nhan, trong ngày con phải phiền muộn. Xin Chúa lắng tai nghe con, khi con cầu nguyện, Chúa mau nhậm lời.

2) Lạy Chúa, muôn dân sẽ kính tôn danh thánh Chúa, và mọi vua trên địa cầu sẽ quý trọng vinh quang Ngài; khi Chúa sẽ tái lập Sion, Ngài xuất hiện trong vinh quang xán lạn; Ngài sẽ đoái nghe lời nguyện kẻ túng nghèo, và không chê lời họ kêu van.

3) Những điều này được ghi lại cho thế hệ mai sau, và dân tộc được tác tạo sẽ ca tụng Thiên Chúa. Từ thánh điện cao sang Chúa đã đoái nhìn, từ trời cao Chúa đã ngó xuống trần thế, để nghe tiếng than khóc của tù nhân, để giải thoát kẻ bị lên án tử.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

---------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 4 of 123