mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay383
mod_vvisit_counterHôm Qua5412
mod_vvisit_counterTuần Này11688
mod_vvisit_counterTuần Trước42988
mod_vvisit_counterTháng Này72616
mod_vvisit_counterTháng Trước269154
mod_vvisit_counterTất cả9852375

We have: 127 guests online
Your IP: 54.234.247.118
 , 
Today: Dec 13, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - DIEU RAN LON NHAT -CN30TNA PDF Print E-mail

Chúa Nhật XXX thường Niên A

ĐIỀU RĂN LỚN NHẤT
Xh 22, 20-26; 1Tx 1, 5c-10; Mt 22, 34-40

Mẹ Têrêsa Calcutta kể lại một chứng từ:
"Hôm ấy, một người lạ mặt đến nhà dòng, ông thấy một Sơ vừa đem về một người hấp hối, nằm bên ống cống, mình mẩy giòi bọ rất hôi thối. Thế mà, Sơ rất nương nhẹ nhặt từng con bọ với vẻ mặt vui tươi, thanh thản đầy thương mến... Rồi người lạ đến gặp tôi nói: "Thưa mẹ, khi con đến đây với lòng đầy căm hờn của một người vô tín ngưỡng. Nhưng bây giờ con ra về với một tâm hồn hoàn toàn đổi mới. Con bắt đầu tin Chúa, bởi vì con đã chứng kiến tình yêu của Chúa được diễn tả một cách cụ thể qua hành động và qua cách Sơ ấy đối xử với người hấp hối bẩn thỉu kia. Bây giờ con tin thật Chúa là tình yêu. Không có tình yêu Chúa trong tâm hồn, không khi nào có đủ nghị lực để yêu tha nhân được".
Thật vậy, không mến Chúa, không thể yêu người vô vị lợi được. Vì thế Chúa Giêsu đã nhấn mạnh cho mọi người nhận biết hai điều răn quan trọng nhất là "Mến Chúa yêu người". Chính tình yêu Chúa đã làm cho người ta bỏ tính vị kỷ mà biết xả kỷ, thay vì chỉ biết lo cho bản thân mình lại biết mở lòng ra để lo cho người khác: "Yêu Chúa với tất cả trái tim và yêu người như yêu mình".
Cho nên, để xạ kỷ hy sinh, "Yêu là chết ở trong lòng một ít" (Xuân Diệu, Yêu)
Thi sĩ Xuân Diệu nói về tình yêu bằng những vầng thơ:
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu,
Nó đến với ta một buổi chiều.
Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt
Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.
(Xuân Diệu, Vì sao)
Vấn đề điều răn lớn nhất được bàn luận trong một cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và một vị tôn sư của Do Thái giáo; vị này hẳn là muốn làm sáng tỏ hoặc đào sâu giữa các điều răn điều răn nào trọng nhất: vì Luật của Do Thái giáo có tới 613 điều luật được chia thành hai phần với 248 điều phải làm và 365 điều phải tránh. Giữa các điều ấy có những điều nặng và những điều nhẹ. Phạm những điều nhẹ thì chịu phạt đền tội, còn phạm những điều nặng, có thể bị án tử hình. Các nhà thông luật thường tranh luận với nhau xem điều luật nào quan trọng nhất trong các điều luật.
Chúa Giêsu đã đáp lại vấn nạn của nhà thông luật Pharisêu đặt ra về điều luật trọng nhất, bằng cách ghép lại hai điều luật của tình yêu: "Yêu Chúa với tất cả trái tim (Đnl 6,5) và yêu người như yêu mình" (Lv 19,18). Chúa Giêsu còn khẳng định: "Tất cả Luật Môsê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy" (Mt 22,40). Hai điều răn đều biểu lộ tình yêu : đến với Thiên Chúa và cho tha nhân.
Yêu thương bắt nguồn từ Thiên Chúa, thánh Gioan sau này đã khẳng định: "Thiên Chúa là tình yêu... Ai ở trong tình yêu là ở trong Thiên Chúa" ( 1Ga 4,8.16). Thánh Phaolô cũng căn dặn người tin: « Anh em hãy mặc lấy đức ái, đó là giềng mối của sự trọn lành » (ICr 3,14).
Yêu người là thước đo lòng yêu mến Chúa: "Ai không yêu người anh em mình thấy trước mắt, tất cả cũng không thể yêu mến Thiên Chúa mà mắt mình không thấy được" (1Ga 4,20).
Yêu Thiên Chúa là nền tảng là gốc cho yêu thương anh em: "Tình yêu tha nhân phải được nền trên tình yêu Thiên Chúa. Khi trái tim tôi thuộc trọn về Thiên Chúa thì ngay lúc ấy nó cũng thuộc trọn về tha nhân. Người ta chỉ có khả năng yêu tha nhân đến vô cùng khi được tình yêu Chúa chiếm hữu" (Rm 5,5).
Thánh Phaolô tái khẳng định điều đó: "Ai yêu thương người (điều răn thứ hai) thì đã chu toàn Lề Luật" (tức là đã giữ trọn tất cả các điều răn, kể cả điều răn thứ nhất là mến Chúa) (Rm 13,8).
Trong thư gửi tín hữu Rôma, thánh Phaolô còn tái xác quyết mạnh mẽ: "Thật thế, các điều răn như: Ngươi không được ngoại tình, không được giết người, không được trộm cắp, không được ham muốn, cũng như các điều răn khác, đều tóm lại trong lời nầy: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Đã yêu thương thì không làm hại người đồng loại; yêu thương là chu toàn Lề Luật vậy" (Rm 13,9-10)
Thánh Giacôbê khẳng định yêu thương là đỉnh cao của Kinh Thánh: "Luật Kinh Thánh được đưa lên hàng đầu là "Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" (Gc 2,8). Không những ta phải yêu thương những người chung quanh mình, hy sinh cho họ, mà còn phải làm sao để họ cũng sống yêu thương và thúc đẩy nhau sống yêu thương như tác giả thư Do Thái dạy: "Chúng ta hãy để ý đến nhau, làm sao cho người này thúc đẩy người kia sống yêu thương và làm những việc tốt" (Dt 10,24).
Yêu nhau như Chúa Giêsu hy sinh trên Thánh giá vì tình yêu,nhân loại: « Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình ».
Cây Thánh giá mà Chúa Kitô là trung tâm điểm - biểu tượng của tình yêu hai chiều kích luôn gắn bó: thanh dọc là tình yêu với Thiên Chúa, thanh ngang là tình yêu qua vòng tay ôm lấy anh em. Thiên Chúa và anh em trong một mối tình duy nhất. Đây chính là cốt lõi của mạc khải vậy. Khi tình yêu làm cho anh em điều gì là làn cho chính là Thiên Chúa: "Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc, Ta đau yếu các ngươi đã đến thăm, Ta bị tù đầy các ngươi đã đến với Ta... Những gì các ngươi làm cho một trong các anh em bé mọn của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy". (Mt 25,36).
Thánh Augustinô đã nói: Ama et fac quod vis, hãy yêu mến rồi làm gì cũng được. Thật thế, yêu Chúa hết lòng và yêu tha nhân làm cho ngôi nhà chúng ta trở thành một gia đình ngập hạnh phúc, khu xóm đầy tiếng cười, xã hội trọng văn minh tình thương.... Cộng đồng yêu thương trở nên dấu chỉ tình yêu và là sự sáng lan tỏa trong sứ vụ truyền giáo mà Chúa Giêsu đã nhắn nhủ: "Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau" (Ga 13,35).
"Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người...."
(thánh Phanxicô Assie).
Lm. Vinh Sơn scj, Sài gòn .

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DA0 - CN30TN-A PDF Print E-mail

Phúc Âm: Mt 22, 34-40 - CN30TN-A

"Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi, và yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi".

Khi ấy, những người biệt phái nghe tiếng Chúa Giêsu đã làm cho những người Sađốc câm miệng, thì họp nhau lại, đoạn một người thông luật trong nhóm họ hỏi thử Người rằng: "Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất?"

Chúa Giêsu phán cùng người ấy rằng: "Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi. Toàn thể Lề luật và sách các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó".

Suy Nguyện Lời Chúa

"Allah Vĩ Đại!" - Nhân danh Thiên Chúa để khủng bố?

Theo chiều hướng sống đạo của thành phần "những người biệt phái" đặt vấn đề với Chúa Giêsu trong Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Nhật XXX Thường Niên A, thì họ coi trọng Thiên Chúa hơn con người, nên họ giữ luật Ngài ban một cách kỹ lưỡng và cẩn thận, trong khi đó, họ lại khinh khi người khác, những con người bình dân không biết lề luật Chúa như họ, nhất là thành phần thu thuế và gái điếm sống phản lại với lề luật của Chúa.

Phải chăng đó là lý do, sau khi "nghe tiếng Chúa Giêsu đã làm cho những người Sađốc câm miệng, thì họp nhau lại, đoạn một người thông luật trong nhóm họ hỏi thử Người rằng: 'Thưa Thầy, trong lề luật, giới răn nào trọng nhất?'" Dĩ nhiên câu họ mong đợi Chúa Giêsu trả lời cho họ sẽ theo đúng như ý nghĩ của họ, đúng như chủ trương sống đạo của họ, đó là Thiên Chúa trên hết, kiểu "Allah vĩ đại" của tín đồ Hồi giáo nói chung, nhất là của một số thành phần cuồng tín quá khích nói riêng, đến độ dám nhân danh Thiên Chúa để khủng bố, để sát nhân, và trước khi ra tay thì hô vang "Allah vĩ đại".

Nhưng họ có ngờ đâu, Chúa Giêsu cũng làm cho cả họ nữa tịt ngòi không nói năng gì được nữa, chẳng khác gì "những người Sadốc câm miệng" trước họ, qua những gì Người trả lời cho thành phần không tin chuyện phục sinh về vấn đề người chết sống lại ở đoạn Phúc Âm trước đó mà Giáo Hội không chọn đọc tiếp ngay sau Bài Phúc Âm tuần XXIX Thường Niên Năm A vừa rồi.

Câu trả lời của Chúa Giêsu mà họ không ngờ và cũng để nhắc nhở thành phần thông luật, giữ luật và dạy luật như họ trong dân chúng bao gồm cả mến Chúa lẫn yêu người, chứ không phải chỉ mến Chúa mà không yêu người, hay trong khi mến Chúa mà lại tỏ ra khinh người, bằng không, mến Chúa một cách bôi bác, què quặt, không thể nào có chuyện mến Chúa như thế, hay có chuyện mến Chúa chân thật ở đây.

"Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Ðó là giới răn thứ nhất và trọng nhất. Nhưng giới răn thứ hai cũng giống giới răn ấy là: Ngươi hãy yêu thương kẻ khác như chính mình ngươi. Toàn thể Lề luật và sách các Tiên tri đều tóm lại trong hai giới răn đó".

Thật vậy, nếu họ tự cho mình là thành phần thông luật và dạy luật trong dân thì họ phải biết những gì Thiên Chúa đã qui định và nhắc nhủ cha ông họ cũng như cho chính họ trong lề luật của Ngài chứ, điển hình như những gì Ngài phán qua Moisen là vị trung gian của Ngài sai đến cứu dân tộc của họ khỏi thân phận làm tôi bên Ai Cập ở trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Ngươi chớ làm phiền lòng và ức hiếp khách ngoại kiều: vì các ngươi cũng là khách ngoại kiều ngụ trong đất Ai-cập. Các ngươi đừng làm hại cô nhi quả phụ. Nếu các ngươi hà hiếp những kẻ ấy, họ sẽ kêu thấu đến Ta, và chính Ta đã nghe tiếng họ kêu van. Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ, sẽ dùng gươm giết các ngươi, vợ các ngươi sẽ phải goá bụa, và con cái các ngươi sẽ phải mồ côi".

Ai cho mình là tin Thiên Chúa và "yêu mến Chúa là Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn" của mình, nhưng lại không "yêu thương kẻ khác như chính mình" thì kẻ ấy vẫn còn đang lầm lạc, đang vô tình tôn thờ ngẫu tượng mà không biết, chưa thực sự nhận biết Thiên Chúa là ai và như thế nào, tưởng Ngài là một vị Thiên Chúa vô cùng công minh chính trực, chỉ biết giáng phạt, chẳng khác nào như một ác thần hay hung thần, hơn là một vị Thiên Chúa như chính Ngài đã tự nhận trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Ta là Đấng Thương Xót".

Nếu Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của dân Do Thái trong giòng lịch sử cứu độ của họ là một ác thần hay hung thần thì chính dân Do Thái đã bị Ngài tiêu diệt từ lâu rồi, ngay khi họ quay lưng phản bội Ngài bằng việc tôn thờ con bò vàng của họ khi Moisen lên núi lãnh nhận hai bia đá lề luật của Thiên Chúa. Một hung thần hay ác thần lúc nào cũng có thể nổi cơn thịnh nộ trước con người vô cùng hèn yếu, xấu xa tội lỗi và thẳng tay trừng phạt họ thì chẳng bao giờ truyền dạy con người những lời lẽ ở trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Nếu ngươi cho người nghèo khó nào trong dân cùng định cư với ngươi mượn tiền, thì ngươi chớ hối thúc nó như kẻ đặt nợ ăn lãi quen làm, và chớ bắt nó chịu lãi nặng. Nếu ngươi nhận áo sống của người láng giềng cầm cố, ngươi hãy trả lại cho kẻ ấy trước khi mặt trời lặn: vì nó chỉ có một áo ấy che thân, và không còn chiếc nào khác mặc để ngủ; nếu kẻ ấy kêu van đến Ta, Ta sẽ nhậm lời nó, vì Ta là Ðấng thương xót".

Đó là lý do, Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô, ở trong Bài Đọc 1 hôm nay, đã nhắc nhở Kitô hữu dân ngoại thành Thessalonica qua Thư Thứ Nhất ngài gửi cho họ về đời sống đạo chân chính của họ như sau: "Anh em đã bỏ tà thần trở về với Thiên Chúa làm sao để phụng thờ Thiên Chúa hằng sống và chân thật, để trông đợi Con của Người từ trời mà đến, 'Đấng mà Người đã làm cho từ cõi chết sống lại', là Ðức Giêsu, Ðấng đã giải thoát chúng ta khỏi cơn thịnh nộ sắp đến".. Bởi thế, Thánh Vịnh 17 ở Bài Đáp Ca hôm nay đã chất chứa những cảm thức đầy xác tín và chí lý sau đây:

1) Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa, lạy Chúa là Ðá Tảng, chiến luỹ, cứu tinh.

2) Lạy Chúa là Thiên Chúa, là sơn động chỗ con nương mình, là khiên thuẫn, là uy quyền cứu độ, là sức hộ phù con. Con xướng ca ngợi khen cầu cứu Chúa, và con sẽ được cứu thoát khỏi tay quân thù.

3) Chúa hằng sống, chúc tụng Ðá Tảng của con, tán tụng Thiên Chúa là Ðấng cứu độ con. Ngài đã ban cho vương nhi Ngài đại thắng, đã tỏ lòng từ bi với Ðấng được xức dầu của Ngài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY-CN29TN-A PDF Print E-mail

Tông Đồ Simon và Thaddêô

(ĐTC Biển Đức XVI - Bài 21 trong loạt bài Giáo Lý chủ đề Giáo Hội Tông Truyền, Thứ Tư 11/10/2006)

Anh Chị Em thân mến,

Hôm nay chúng ta chú ý tới hai trong 12 Tông Đồ, đó là Tông Đồ Simon người Canaan và Giuđa được gọi là Thaddêô (đừng nhầm với Giuđa Iscariot). Chúng ta chú ý tới hai vị cùng một lúc, không phải vì trong danh sách 12 Tông Đồ hai vị bao giờ cũng được nhắc đến bên nhau (x Mt 10:4; Mk 3:18; Lk 6:15; Acts 1:13), mà vì không có nhiều chi tiết về hai vị, ngoại trừ Sổ Bộ Tân Ước có một bức thư được cho là của Tông Đồ Giuđa Thaddêô.

Tông Đồ Simon được ghép với một hình dung từ khác nhau trong 4 bản liệt kê: trong khi Thánh Ký Mathêu và Marcô diễn tả ngài như là "người xứ Canaan" thì Thánh Ký Luca diễn tả ngài như là "người nhiệt thành". Thật sự, hai phẩm chất này là những gì tương đương nhau, vì chúng có cùng một nghĩa: đúng vậy, theo tiếng Do Thái thì động từ "qanà" có nghĩa là "nhiệt thành, hăng say", và có thể được sử dụng để nói về Thiên Chúa liên quan tới nỗi hờn ghen đối với thành phần dân được Ngài tuyển chọn (x Ex 20:5), hay về thành phần bừng lên lòng nhiệt thành hoàn toàn dấn thân phụng sự Thiên Chúa như Elia (x 1Kgs 19:10).

Bởi thế, có thể Tông Đồ Simon này, nếu không thực sự thuộc về phong trào duy quốc gia chủ nghĩa của Nhóm Zealots, thì ít là có đặc tính của một lòng nhiệt thành đối với căn tính của người Do Thái, vì thế đối với Thiên Chúa, với dân tộc của mình và với lề luật thần linh. Nếu đúng là thế thì Tông Đồ Simon này hoàn toàn khác hẳn với Tông Đồ Mathêu, vị ngược lại, vì là một người thu thuế, xuất thân từ một hoạt động hoàn toàn được coi là dơ bẩn. Đó là dấu hiệu rõ ràng cho thấy Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ của Người cũng như thành phần phụ giúp của Người từ những tầng lớp xã hội và tôn giáo khác nhau, không hề phân cách.

Người chú trọng tới con người, chứ không lưu ý tới thứ loại hay qui ước xã hội! Và điều tuyệt vời ở đây là trong các nhóm môn đệ của mình, mặc dù khác nhau, từ thành phần nhiệt thành đến thành phần thu thuế, đều chung sống với nhau, thắng vượt những khó khăn có thể được đặt ra: thật thế, chính Chúa Giêsu là động lực cho việc liên kết này, nơi Người, tất cả đều thấy mình được kết nối. Và điều ấy rõ ràng cống hiến cho chúng ta một bài học, thành phần thường chú trọng tới những gì là khác biệt nhau và có thể là những gì chống đối nhau, quên đi rằng nơi Chúa Giêsu Kitô chúng ta có được một sức mạnh để hòa giải các thứ xung khắc của chúng ta. Và chúng ta hãy nhớ rằng nhóm 12 là một hình ảnh tiền thân của Giáo Hội và vì thế cho thấy trước Giáo Hội cần phải có chỗ cho tất cả mọi đặc sủng, mọi dân nước, mọi chủng tộc, tất cả mọi phẩm chất làm người, tất cả những gì có thể được hòa hợp và hiệp nhất nơi mối hiệp thông với Chúa Giêsu.

Về Tông Đồ Giuđa Thaddêô, vị được gọi như thế bởi truyền thống, liên kết hai tên gọi khác nhau: trong khi Thánh Ký Mathêu và Marcô chỉ gọi ngài là "Thaddêô" (Mt 10:3; Mk 3:18), thì Thánh Ký Luca lại gọi ngài là "Giuđa con Giacôbê" (Lk 6:16; Acts 1:13). Biệt danh Thaddêô có một nguồn gốc không rõ ràng và được giải thích như xuất phát từ tiếng Aramaic "taddà", nghĩa là "ngực" bởi thế có nghĩa là "hào hiệp cao thượng", hay như tiếng viết tắt của một tên gọi Hy Lạp như "Theodore, Teodoto". Ngài là vị ít được nói đến.

Chỉ có Thánh Ký Gioan ghi nhận một điều yêu cầu ngài đã tỏ ra cùng Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly: Thaddêô nói cùng Chúa Giêsu rằng "Lạy Thày, tại sao Thày chỉ tỏ mình cho chúng con mà thôi và không tỏ ra cho thế gian?" Đó là một vấn nạn có một tầm quan trọng lớn lao hiện tại, một vấn đề chúng ta cũng hỏi Chúa Giêsu rằng: Tại sao Đấng Phục Sinh không tỏ hết vinh quang của mình ra cho các thành phần đối phương để chứng tỏ cho họ thấy rằng Người là người vinh thắng? Tại sao Thiên Chúa lại chỉ tỏ mình ra cho thành phần môn đệ mà thôi? Câu trả lời của Chúa Giêsu là một câu giải đáp huyền nhiệm và có ý nghĩa sâu xa.

Chúa Giêsu nói rằng: "Nếu ai yêu mến Thày thì sẽ giữ lời Thày, và Cha Thày sẽ yêu thương họ, rồi Chúng Ta sẽ đến với họ, biến họ làm nơi cư trú của Chúng Ta" (Jn 14:22-23). Tức là Đấng Phục Sinh cũng cần phải được nhìn thấy, được nhận thấy, bằng con tim, nhờ đó Thiên Chúa có thể cư trú nơi họ. Chúa Giêsu không hiện ra như là một thứ đồ vật. Chúa Giêsu muốn đi vào cuộc đời của chúng ta, vì vậy, việc Người tỏ mình ra là một thứ tỏ mình bao hàm và cần có một con tim cởi mở đón nhận. Chỉ có thế chúng ta mới thấy được Đấng Phục Sinh.

Xưa kia Tông Đồ Giuđa Thaddêô được cho là tác giả của một trong những bức thư Tân Ước được gọi là "công giáo" vì những bức thư này ngỏ cùng một số rất đông thành phần độc giả. Thật vậy, bức thư này được ngỏ cùng "thành phần được tuyển chọn đang sống trong tình yêu của Thiên Chúa là Cha và được Chúa Giêsu Kitô gìn giữ bảo trì" (câu 1).

Mối quan tâm chính yếu của bản văn này đó là việc Kitô hữu phải coi chừng tất cả những ai lấy ân sủng của Chúa như tấm bình phong che đậy cái phóng túng bừa bãi của họ và lừa đảo anh em mình bằng những giáo thuyết bất khả chấp, gây chia rẽ trong Giáo Hội "bởi ảnh hưởng từ các thứ mơ tưởng của họ" (câu 8). Bởi vậy mà Tông Đồ Giuđa này so sánh họ với thành phần sa đọavà bằng những lời lẽ mạnh mẽ ngài nói rằng "họ theo đường lối của Cain" (câu 11).

Ngoài ra, ngài không ngần ngại gán ghép cho họ "như là những đám mây không mưa bị nổi trôi bởi gió cuốn hay những thứ cây cối cuối mùa chẳng sinh hoa kết trái, bị cằn chết, bị mất gốc; như những ngọn sóng hung dữ trên biển cả phun bọt bẩn thỉu; như những thứ tinh tú hoang đàng, đáng là đám sương mù tăm tối trong cõi vĩnh hằng" (các câu 12-13).

Ngày nay chúng ta không còn quen với việc sử dụng thứ ngôn từ gây tranh cãi này, thứ ngôn từ dầu sao cũng nói cho chúng ta một điều gì đó quan trọng: Đó là trong tất cả mọi chước cám dỗ hiện hữu, trước tất cả mọi trào lưu của cuộc sống tân tiến, chúng ta cần phải kiên trì gìn giữ lấy căn tính đức tin của mình. Dĩ nhiên đường lối ân huệ và đối thoại được Công Đồng Chung Vaticanô II đã thực hiện một cách khéo léo, chắc chắn sẽ được nhất mực tiếp tục thực hiện. Thế nhưng, đường lối đối thoại này, một đường lối rất ư là cần thiết, vẫn không được làm cho chúng ta quên đi nhiệm vụ cần phải cân nhắc và luôn làm chứng một cách mạnh mẽ những chiều hướng chi phối thuộc căn tính Kitô Giáo của chúng ta là những gì chúng ta không được loại bỏ.

Cần phải gìn giữ thật hiện đại cái căn tính ấy, cái căn tính chúng ta có không phải là trò đùa ở một bình diện thuần văn hóa hay ở một mức độ hời hợt, song nó cần phải là những mạnh mẽ, minh bạch và can đảm trước những xung khắc nơi thế giới chúng ta đang sống.

Đó là lý do bản văn của bức thư ấy mới tiếp tục viết như thế này: "Thế nhưng, anh chị em thân mến, hãy xây dựng bản thân mình trên đức tin rất thánh của anh chị em, hãy nguyện cầu trong Chúa Thánh Thần, hãy giữ mình trong tình yêu Thiên Chúa, hãy đợi chờ tình thương của Chúa Giêsu Kitô là Chúa của chúng ta nơi cuộc sống trường sinh; hãy tin tưởng, những ai trong anh chị em đang bị chao đảo..." (câu 2-22).

Chúng ta thấy rõ là vị tác giả của những giòng chữ này sống trọn vẹn niềm tin của ngài, một niềm tin hàm chứa các thực tại cao cả như tính cách liêm chính và niềm vui về luân lý, lòng tin tưởng và sau hết là việc chúc tụng, tất cả đều được tác động bởi duy sự thiện hảo của vị Thiên Chúa duy nhất của chúng ta và bởi tình thương của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Bởi thế, chớ gì cả Tông Đồ Simon người Canaan và Tông Đồ Giuđa Thaddêô giúp chúng ta biết tái nhận thức một cách mới mẻ và sống một cách thiết tha với vẻ đẹp của đức tin Kitô Giáo, biết thực hiện một chứng từ vừa mạnh mẽ vừa thanh thản.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 11/10/2006

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO CHA HUAN -TINH THUONG PDF Print E-mail

TÌNH THƯƠNG Và THA THỨ CỦA CHÚA CÓ TỰ ĐỘNG ĐẾN VỚI CON NGƯỜI MÀ KHÔNG CẦN AI MUỐN ĐÓN NHẬN HAY KHÔNG ?
Hỏi :
xin cha giải thích rõ về điều kiện để được hưởng lòng Chúa thương xót, và tha thứ .
Trả lời:
Thiên Chúa là tình yêu và giầu lòng thương xót, nên đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Giê su-Kitô, Đấng cũng vì thương xót nhân loại mà đã vui lòng đến trần gian làm CON NGƯỜI để hy sinh " mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20:28).
Trong thời Cựu Ước, khi hiện ra với ông Mô-sê từ trên đám mây, Thiên Chúa đã phán bảo ông như sau:
" ĐỨC CHÚA ! ĐỨC CHÚA ! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận; giầu lòng nhân nghĩa và thành tín, giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn thế hệ..."( Xh 34: 5-7)
LỜI Chúa trên đây đủ minh chứng Người là Thiên Chúa của tình yêu và lòng thương xót. thứ tha vô biên.
Đó là chân lý chúng ta phải nắm chắc mỗi khi suy niệm hay nghĩ đến Chúa trong tâm tình biết ơn và suy tôn tình thương và lòng thương xót của Chúa. Phải ca tụng và biết ơn Chúa vì Chúa tạo dựng và cứu chuộc con người tuyệt dối không vì lợi ích nào của riêng Người, mà hoàn toàn chỉ vỉ yêu thương và muốn chia sẻ hạnh phúc của mình cho mọi con cái loài người mà thôi.
Do đó, đừng ai nghĩ sai lầm là Thiên Chúa có lợi gì mà phải tạo dựng và cứu chuộc con người, đến nỗi đã hy sinh chính Con Một của mình là Chúa Giê-su-Kitô chết đau thương trên thập giá cách nay trên 2000 năm để cho con người có hy vọng được cứu độ và sống hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Phải nói là có hy vọng thôi chứ chưa bảo đảm 100% ngay từ bây giờ, không phải vì Chúa Cha không thương yêu đủ hay công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô còn thiếu , mà vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban và luôn tôn trọng cho con người sử dụng, để hoặc muốn chọn Chúa và sống theo đường lối của Chúa để hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kiô, hay từ khước Chúa để chọn con đường nào khác theo ý muốn riêng mình, khiến công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô trở nên vô ích cho người đó.
Thật vây, Thiên Chúa yêu thương và giàu lòng thương xót.Nhưng Người không bắt buộc ai phải yêu mến Người để hưởng tình thương và lòng thương xót đó.Chúa chỉ mời gọi để tùy con người đáp trả mà thôi.
Dụ ngôn về tiệc cưới trong Tin Mừng Thánh Matthêu ( Mt 22: 1-10) và Thánh Luca ( Lc 14: 15- 21) đã chứng minh điều này. Hạnh phúc Nước Trời ví như tiệc cưới mà ông vua kia mở ra để mời khách đến dự nhân ngày thành hôn của con mình. Nhưng các khách được mời đều lấy cớ này hay lý do nọ để khước từ lời mời đó, khiến nhà vua phải sai gia nhân ra mời hết mọi người ngoài đường phố vào dự cho đầy nhà . Những khách chính thức được mời mà từ chối không đến chính là những người đã và đang từ chối không muốn yêu Chúa và sống theo đường lối của Người, như Chúa đòi hỏi để được chúc phúc.
Thật vậy, Thiên Chúa , " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2: 4).Nhưng con người phải có thiện chí muốn lãnh nhận ơn cứu độ đó bằng quyết tâm qui hướng đời mình vào Chúa để sống theo đường lối của Người hầu xứng đáng được hưởng công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, Đấng đã hy sinh mạng sống mình trên thập giá để đền tội thay cho cả loài người để ai cũng được vui hưởng tình yêu và ơn cứu độ đó, . Nhưng thực tế cho thấy là có biết bao người đã và đang khước từ lời mời của Chúa, vì quá yêu thế gian và những thực tại chóng qua ở đời này như tiền của ,vui thú bất chính và danh vọng phù phiếm.
Họ quá gắn bó với những thực tế hư hão chóng qua của trần gian đến nỗi không thể nâng lòng lên tới Chúa và ao ước những giầu sang phú quí và vui thú của Nước Trời nơi " trộm cắp không bén bảng, mối mọt cũng không đục phá." ( Lc 12: 33)
Thiên Chúa không bắt buộc ai phải nhận tình yêu và lòng thương xót của Người.
Chúa chỉ mời gọi và tùy con người đáp trả mà thôi. Do đó, nếu ai từ khước Chúa để sống theo thế gian, làm nô lệ cho ma quỷ,và làm những sự dữ, thì Chúa không can thiệp để ngăn cấm, nhưng con người phải chịu mọi hậu quả của việc mình chọn lựa . Và đó là lý do phải có Thiên Đàng để dành cho những người quyết tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người trong suốt cuộc sống cho đến khi nhắm mắt lìa đời .. Ngược lại, phải có hỏa ngục là nơi dành cho những ai đã hoàn toàn khước từ Chúa để sống theo thề gian, đầu hàng ma quỷ và làm những sự dữ như oán thù, giết người, giết thai nhi, gian tham , trộm cướp, bóc lột , vô nhân đạo, tôn thờ tiền của, ham chuộng khoái lạc ( hedonism) dâm ô thác loạn, buôn bán phụ nữa và trẻ em để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, thay chồng đổi vợ, tiếp tay với thế quyền để bóc lột, hà hiếp người dân lành thấp cổ bé miệng, và dửng dưng trước sự nghèo đói, bệnh tật và mọi bất công xã hội.
Nếu những người này không mau kíp ăn năn sám hối để từ bỏ con đường tội lỗi đang đi, thì họ không thể hưởng được tình yêu và lòng thương xót (love and mercy) của Chúa cùng với công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô để vào Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng với các Thánh và các Thiên Thần đang thờ lậy, ngợi khen và vui hưởng Thánh Nhan Chúa, là Cha cực tốt cực lành.
Như thế có nghĩa là tình thương và lòng thương xót của Chúa Cha cùng với công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô không tự động ban phát cho ai mà không đòi hỏi sự cộng tác của người đó qua quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và bước đi theo Chúa Kitô là " Con Đường, là Sư Thật và là sự sống." ( Ga 14;6)..
Tinh thương của Chúa Cha và công nhiệp cứu chuộc của Chúa Kitô được tạm vì như giòng suổi nước kia chảy liên lỉ đêm ngày. Nhưng ai nằm bên dòng suối đỏ phải cúi mình xuống để múc nước lên mà uống cho khỏi chết khát, vì giòng nước kia không có chức năng tự động nhảy lên bờ để chậy vào miệng ai cả.Nghĩa là nếu không tự cúi mình xuống để múc nước lên mà uống , thì người nằm bên bờ suối vẫn chết khát như thường.
Cũng vậy, về mặt thiêng liêng, nếu không cộng tác với ơn Chúa để sống theo đường lối của Chúa là đường dẫn đến hạnh phúc Nước Trời, thì Chúa không thể cứu ai được, vì Người còn phải tôn trọng ý muốn tự do ( free will) của con người.
Nói rõ hơn, muốn hưởng tinh thương và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, thì phải có thiện chí muốn từ bó tội lỗi, phải ăn năn sám hối để xin Chúa thứ tha mọi tội mình đã phạm vì yếu đuối con người. Chúa rộng lòng tha thứ nếu con người thực tâm sám hối như Chúa Giêsu đã nói với bọn biệt phái xưa kia, khi họ đến hỏi Chúa xem có phải mấy người bị Tổng Trấn Phi-la-Tô giết chết cùng với 18 người khác bị thác Si-lô-a đổ xuống đè chết, là những người tội lỗi hơn người khác hay không,
Chúa đã trả lời họ như sau:
" Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy." (Lc 13: 3).
Như thế rõ ràng cho thấy là Chúa cần thiện chí của con người muốn được thương xót và cứu độ thể hiện qua quyết tâm xa tránh tội lỗi, vì chỉ có tội mới ngăn cản con người đến với Chúa để được thương xót và cứu độ. Chúa yêu thương kẻ có tội : đúng. Nhưng yêu thương để lôi kéo kẻ có tội ra khỏi con đường hư mất, chứ không yêu thương để dung dưỡng, nuông chiều kẻ có tội để họ cứ sống trong tội rồi nại lòng thương xót của Chúa để không ăn năn chừa bỏ.
Nếu họ cứ sống như vậy, thì lòng thương xót của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô sẽ không ích gì cho họ, vì họ đã lợi dụng lòng thương xót và công nghiệp ấy để cứ làm sự dữ, sự tội mà không biết ăn năn chừa bỏ.Phải có thiện chí muốn cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa và quyết tâm từ bỏ tội lỗi thì mới xứng đáng được hưởng lòng khoan dung tha thứ của Chúa.
Xưa Chúa Giê su đã đối xử khoan dung với một phụ nữ phạm tội ngọai tình mà bọn biệt phái kia đã dẫn chị đến để xin Chúa cho ném đá theo luật Mô-sê. Nhưng Chúa đã không lên án chị này như bọn biệt phái giả hình kia đòi hỏi , và đã nói với chị ấy như sau:
" Tôi cũng không lên án chị đâu.Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa." ( Ga 8: 11)
Tại sao Chúa không nói: chị cứ về đi , và nếu có phạm tội thêm lần nào nữa, thì lại đến tôi tha cho ? Ngược lại Chúa nói rõ là từ nay đừng phạm tội nữa.
Đó cũng là điều Chúa nói với tất cả mọi người chúng ta ngày nay đang sống đức tin trong Giáo Hội, giữa bao khó khăn thử thách đến từ thế gian vô luân vô đạo với đầy rẫy gương xấu và dịp tội, nhất là đến từ ma quỷ mà Thánh Phêrô ví như " sư tử đói gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" ( 1 Pr 5: 8) để lôi kéo chúng ra ra khỏi tình thương của Chúa và mất hy vọng được cứu rỗi..
Chúa đầy lòng xót thương, nhưng con người không được lợi dụng tình thương này để đi hàng hai, là một chân bước đi theo Chúa, còn chân kia bước đi theo thế gian và làm nô lệ cho ma quỉ. Ai sống như vậy thì hãy nghe lời Chúa Kitô nghiêm khắc cảnh cáo trong Sách Khải Huyền như sau:
: Ta biết các việc ngươi làm. Ngươi chẳng nóng mà cũng chẳng lanh, Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi cứ hâm hâm chẳng nóng, chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." ( Kh 3: 15-16)
Chúng ta đang sống trong những ngày tiếp theo của Năm Thánh Lòng Thương xót ( Jubilee of Mercy đã kết thúc tháng 11 năm 2016) .Năm này được mở ra để kêu gọi mọi người chậy đến đón nhận lòng thương xót của Chúa. Chậy đến như đứa con đi hoang trở về nhà cha và nói với cha rầng " Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với cha. Chẳng còn đáng gọi là con cha nữa..." ( Lc 15: 21).
Nhưng người cha đã không la mắng con mà còn sai gia nhân làm tiệc ăn mừng con đi hoang đã trở về. Tuy miệng không nói ra, nhưng trong lòng, người cha cũng thầm nói với con rằng : cha tha tội đi hoang lần này của con. Con trở về rồi thì từ nay đừng đi hoang nữa nhé. Nghĩa là chắc chắn người cha không muốn nói với con rầng : cha đầy lòng xót thương, nên con cứ đi hoang đi, rồi khi nào trở về thì cha lại tha thứ cho !.
Chúng ta ,không ít thì nhiều, cũng là những đứa con đi hoang và nay đã trở về nhà Cha để xin tha thứ. Chắc chắn Cha sẽ mở rộng vòng tay để ôm lấy và sẽ mở tiệc ăn mừng.Nhưng chúng ta phải quyết tâm không bao giờ đi hoang nữa, tức là phải xa tránh tội lỗi để không tự làm hại mình và làm hư công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Làm hư công nghiệp này, vì nếu không quyết tâm đoạn tuyệt với tội lỗi thì Chúa không thể cứu ai được , dù đã một lần Chúa chịu đóng đanh và chết trên thập giá để đền tội thay cho con người.
Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu xưa đã chữa lành cho một người tàng tật, sau đó Chúa lại gặp anh này trong Đền Thờ, và Người đã nói với anh như sau:
" Này anh, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa kẻo lại phải khốn hơn trước." ( Ga 5: 14)
Như thế, rõ ràng cho thấy là nếu cứ coi thường hay lợi dụng lòng thương xót của Chúa để cứ đi hoang, cứ phạm tội thì sẽ tự làm hại mình và làm hư công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Cụ thể, nếu một người cứ lén lút phạm tội ngoại tình mà không có quyết tâm từ bỏ, thì sẽ có ngày mất hết danh dự và cả mạng sống nữa khi tình địch khám phá ra mình ngoại tình với vợ hay chồng người ta. Hoặc ai lái xe cứ quen thói chạy vượt đền đỏ, thì chắc chắn có ngày sẽ gây tử thương cho mình và cho người khác trên công lộ. Lại nữa, cứ xâm nhập gia cư của người khác để ăn trộm, thì có ngày sẽ bị bắn chết, vì ở tư gia Mỹ rất nhiều người có súng đạn để tự vệ và bảo vệ tài sản của mình.
Tóm lại, lòng thương xót của Chúa mời gọi ta thêm yêu mến Chúa và sống sao cho đẹp lòng Người để mưu ích cho ta, chứ không có lợi gì cho Chúa, vì Người đã quá đủ hạnh phúc rồi.Nhưng vì lợi ích cho ta mà Chúa không dung dưỡng cho ai lợi dụng dùng làm bình phong lá chắn , để cứ ngoan cố phạm tội mà không có thiện chí từ bỏ. Amen.
Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU NAM- CN29TN-A PDF Print E-mail

Phúc Âm: Lc 12, 49-53 - Thứ Năm CN29TN-A

"Thầy không đến để đem bình an, nhưng đem sự chia rẽ".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên. Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất. Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba: cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái, và con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu, và nàng dâu chống đối mẹ chồng".

Ðó là lời Chúa.

Chúa Kitô cũng chủ trương bạo lực như ai?

"Thày đến không phải để đem bình an mà là gươm giáo!"

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Năm Tuần XXIX Thường Niên, tuy có 4 câu ngắn ngủi nhưng chất chứa nhiều ý nghĩa sâu xa liên quan đến chính bản thân của Chúa Kitô, hơn là đến các môn đệ của Người như 2 bài Phúc Âm hôm qua và hôm kia, nhưng lại là những gì được Người "phán cùng các môn đệ" chứ không với ai khác, với chung dân chúng hay với riêng thành phần biệt phái và luật sĩ như thường thấy. Nguyên văn của Bài Phúc Âm hôm nay như sau:

"Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên. Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất. Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ. Vì từ nay, năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba: cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái, và con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu, và nàng dâu chống đối mẹ chồng".

Có ít là 3 vấn đề chính yếu cần phải tìm hiểu trong bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến bản thân của Chúa Kitô, thứ tự ở ngay 3 câu đầu tiên như sau: "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên" (1); "Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất" (2); và "Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ" (3).

1- "Thầy đã đến đem lửa xuống thế gian, và Thầy mong muốn biết bao cho lửa cháy lên".

"Lửa" đây là gì, nếu không phải là Thánh Thần!?! Vì Người là Đấng "làm phép rửa bằng Thánh Thần" (Gioan 1:33), một phép rửa Người sẽ thực hiện cho thành phần môn đệ tông đồ của Người khi sau khi Người thăng thiên về cùng Cha để sai Thánh Thần từ Cha xuống trên các tông đồ cũng là trên Giáo Hội của Người: "Gioan làm phép rửa bằng nước nhưng trong vòng ít ngày nữa các con sẽ được rửa bằng Thánh Thần" (Tông Vụ 1:5), Đấng khi hiện xuống vào Lễ Ngũ Tuần ở Giêrusalem trên các tông đồ cũng như từng tông đồ, đã mặc lấy hình lưỡi lửa (xem Tông Vụ 2:3).

2- "Thầy phải chịu một phép rửa, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi hoàn tất".

"Phép rửa" Chúa Giêsu cần phải chịu đây là gì, như Người cũng đã đề cập với cặp anh em tông đồ Giacôbê và Gioan trong bài Phúc Âm Chúa Nhật XXIX Thường Niên Năm B đầu tuần này, nếu không phải là chính cuộc khổ giá của Người, một cuộc khổ giá bất khả thiếu mà Người không thể nào tránh được với tư cách là một Đấng Thiên Sai Cứu Thế, một cuộc khổ giá vì thế Người không thể nào không "khắc khoải" dấn thân thực hiện "cho đến khi hoàn tất" theo ý của Đấng đã sai Người, và là một "phép rửa" khổ giá vô cùng cần thiết cho "phép rửa bằng Thánh Linh" mà Nhiệm Thể Giáo Hội của Người sẽ lãnh nhận.

3- "Các con tưởng Thầy đến để đem sự bình an xuống thế gian ư? Thầy bảo các con: không phải thế, nhưng Thầy đến để đem sự chia rẽ".

Nếu chỉ căn cứ vào duy câu nói này thôi của Chúa Kitô thì chắc chắn sẽ không một ai còn lương tâm chân chính trên thế gian này có thể chấp nhận Người là giáo tổ Kitô giáo, trái lại, trong trào lưu bạo loạn và khủng bố khắp nơi ngày nay, họ sẽ cho Người là một tên chúa tể hung ác bạo tàn, chẳng khác gì như những tay lãnh đạo nhóm khủng bố Al Queda hay IS hiện nay, hay những tên chuyên chế độc tài diệt chủng ở thế kỷ 20, và Người sẽ bị cơ quan mật vụ FBI của Mỹ theo dõi sát nút.

Thế nhưng dù sao vẫn không thể nào phủ nhận được sự thật bất khả chối cãi của lời Người khẳng định như thế. Bởi vì, chính Người xuống thế gian là để đem lại bình an cho nhân loại, ở chỗ Người đã tái lập lại mối liên hệ đã bị nguyên tội làm lũng đoạn giữa con người với Thiên Chúa cũng như giữa con người với thiên nhiên tạo vật và với nhau, bằng chính cuộc Vượt Qua của Người.

Tuy nhiên, tinh thần Phúc Âm trọn lành theo con đường hẹp rất ít người đi của Người và như Người như thế, tự bản chất của mình, đã gây "chia rẽ" nơi xã hội loài người, ở chỗ, tinh thần trọn lành cùng con đường hẹp Phúc Âm của Người đã làm đảo lộn khuynh hướng vị kỷ của trần gian, bằng đường lối "bỏ mình và vác thập giá" (Mathêu 16:24), và đã cách mạng văn hóa hưởng thụ của con người tự nhiên, bằng tinh thần "không để được phục vụ nhưng phục vụ làm giá chuộc nhiều người" (Mathêu 20:28), khiến cho những ai dấn thân theo Người bị cả chính thân nhân ruột thịt của họ phản kháng và chống phá, như chính Chúa Kitô đã khẳng định trong Bài Phúc Âm hôm nay:

"Vì từ nay, năm người trong một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba người chống lại hai, và hai người chống lại ba: cha chống đối con trai, và con trai chống đối cha; mẹ chống đối con gái, và con gái chống đối mẹ; mẹ chồng chống đối nàng dâu, và nàng dâu chống đối mẹ chồng".

Tình trạng "chia rẽ" xẩy ra trong xã hội loài người do tinh thần và đường lối Phúc Âm của Chúa Kitô gây ra như thế thực sự đã phản ảnh của tâm trạng "chia rẽ" trong nội tâm của mỗi một con người, như chính Thánh Phaolô Tông Đồ đã cảm nhận và bày tỏ trong Thư gửi Giáo đoàn Rôma ở Bài Đọc 1 cho năm lẻ ngày mai: "sự lành tôi muốn thì tôi không làm, còn sự dữ tôi không muốn thì tôi lại làm" (7:19).

Bởi thế, trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, ngài đã khuyên Kitô hữu của giáo đoàn này đừng sống theo xác thịt mà "làm nô lệ sự ô uế và sự gian ác", trái lại hãy sống cho Thiên Chúa một cách tự do để được "sự sống đời đời" như sau:

"Anh em thân mến, tôi nói theo kiểu người phàm, bởi lẽ xác thịt anh em yếu đuối: như xưa anh em đã cống hiến chi thể anh em để làm nô lệ sự ô uế và sự gian ác, khiến anh em trở nên người gian ác thế nào, thì giờ đây anh em hãy cống hiến chi thể anh em để phục vụ đức công chính, hầu nên thánh thiện cũng như vậy. Vì xưa kia anh em làm nô lệ tội lỗi, thì anh em được tự do đối với đức công chính. Vậy thì bấy giờ anh em đã được những lợi ích gì do những việc mà giờ đây anh em phải hổ thẹn? Vì chung cục của những điều ấy là sự chết. Nhưng giờ đây, anh em được thoát khỏi sự tội, được phục vụ Thiên Chúa, thì anh em được những ích lợi đưa đến thánh thiện, mà chung cục là sự sống đời đời. Bởi vì lương bổng của tội lỗi là sự chết. Nhưng hồng ân của Thiên Chúa là sự sống đời đời trong Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta".

Bài Đáp Ca hôm nay diễn tả về người công chính sống bởi đức tin theo tinh thần trọn lành và con đường hẹp Phúc Âm của Chúa Kitô nên họ được triển nở một cách viên mãn như sau:

1) Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác, không đứng trong đường lối những tội nhân, không ngồi chung với những quân nhạo báng, nhưng vui thoả trong lề luật Chúa và suy ngắm luật Chúa đêm ngày.

2) Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa, lá cây không bao giờ tàn úa. Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt.

3) Kẻ gian ác không được như vậy, họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi, vì Chúa canh giữ đường người công chính, và đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 101