mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7593
mod_vvisit_counterHôm Qua9345
mod_vvisit_counterTuần Này52939
mod_vvisit_counterTuần Trước65202
mod_vvisit_counterTháng Này177711
mod_vvisit_counterTháng Trước278668
mod_vvisit_counterTất cả13281542

We have: 138 guests online
Your IP: 54.82.119.116
 , 
Today: Apr 19, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THỨ BẢY CN2TN-C PDF Print E-mail

Thứ Bảy CB2TN-C

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: (năm I) Dt 9, 2-3, 11-14

"Nhờ chính máu Mình mà Người vào Cung Thánh chỉ một lần".

Trích thư gửi tín hữu Do-thái.

Anh em thân mến, nhà tạm được cất lên trong gian thứ nhất, có đặt chân nến, bàn, và bánh tiến. Gian này gọi là Cung Thánh. Sau tấm màn thứ hai thì đến gian gọi là Cực Thánh.

Còn Chúa Kitô xuất hiện như vị Thượng tế của mọi tốt lành tương lai. Người đi qua nhà tạm rộng rãi và hoàn hảo hơn, không phải do tay người phàm xây dựng, nghĩa là không thuộc về trần gian này, cũng không nhờ máu dê bò, nhưng nhờ chính máu của Người mà vào Cung Thánh chỉ một lần và đem lại ơn cứu độ muôn đời. Vì nếu máu dê bò và tro bò cái mà người ta rảy trên kẻ ô uế, còn thánh hoá được thân xác nên trong sạch, huống chi máu của Ðức Kitô, Ðấng đã nhờ Thánh Thần mà hiến tế chính mình làm của lễ trong sạch dâng lên Thiên Chúa; máu đó sẽ càng tẩy sạch lương tâm chúng ta khỏi những việc sinh sự chết, khiến chúng ta có thể phụng sự Thiên Chúa hằng sống.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 46, 2-3. 6-7. 8-9

Ðáp: Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang (c. 6).

Xướng: 1) Hết thảy chư dân hãy vỗ tay, hãy reo mừng Thiên Chúa tiếng reo vui! Vì Chúa là Ðấng Tối Cao, Khả uý, Người là Ðại Ðế trên khắp trần gian. - Ðáp.

2) Thiên Chúa ngự lên giữa tiếng tưng bừng, Chúa ngự lên trong tiếng kèn vang. Hãy ca mừng, ca mừng Thiên Chúa, hãy ca mừng, ca mừng Vua của chúng ta! - Ðáp.

3) Vì Thiên Chúa là vua khắp cõi trần gian, hãy xướng ca vịnh mừng Người, Thiên Chúa thống trị trên các nước, Thiên Chúa ngự trên ngai thánh của Người. - Ðáp.

Alleluia: Ga 14, 5

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 3, 20-21

"Những thân nhân của Người nói: Người đã mất trí".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được. Những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: "Người đã mất trí".

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Đức Kitô "mất trí"

Ngày Thứ Bảy hôm nay trong Tuần 2 Thường Niên hậu Giáng Sinh là ngày duy nhất trong riêng tuần này và chung phụng niên có bài Phúc Âm ngắn nhất, chỉ với 2 câu vắn vỏi (Marco 3:20-21).

Một số ngày khác trong tuần suốt phụng niên đặc biệt là của Mùa Thường Niên cũng có những bài Phúc Âm chỉ có 3 câu đã thấy ngắn lắm rồi, như trong Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh có Thứ Hai Tuần 6 (Marco 8:11-13) hay Thứ Tư Tuần VIII (Marco 9:38-40), hoặc trong Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh, có Thứ Tư Tuần X (Mathêu 5:17-19), Thứ Tư tuần XVII (Mathêu 13:44-46), Thứ Hai và Thứ Ba Tuần XXV (Luca 8:16-18 và 19-21), thế mà hôm nay bài Phúc Âm còn ngắn hơn nữa.

Tuy nhiên, không phải vì cái ngắn thật là ngắn chưa từng có này của bài Phúc Âm hôm nay đã không tiếp tục phản ảnh chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh, cho dù nội dung và ý nghĩa của bài Phúc Âm có vẻ hoàn toàn ngược lại:

"Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được. Những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'".

Thật thế, trong bài Phúc Âm hôm nay, ngay câu thứ nhất trong hai câu, Thánh ký Marco vẫn cho thấy hình ảnh nổi nang và tầm ảnh hưởng mãnh liệt của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", ở chỗ: "Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được".

Thánh ký Marco không cho chúng ta biết việc "Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà" đây là ở đâu, chỗ nào, nhà ai? Phải chăng là chính nhà của Người ở Nazarét, vì chi tiết được vị Thánh ký cho biết ngay sau đó là: "Những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'"?

Theo tiến trình di chuyển của Chúa Giêsu cùng với các môn đệ của Người, được Thánh ký Marco thứ tự thuật lại, từ tuần mở đầu Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh cho đến hôm nay, thì ngôi nhà này có thể là nhà của anh em Simon và Anrê, nơi Người đã đến lần đầu tiên trong bài Phúc Âm Thứ Tư tuần trước, nơi Người đã chữa cho bà nhạc của chàng Simon khỏi cảm cúm cùng với các bệnh nạn tật nguyền khác của dân chúng tuốn đến với Người vào chính hôm đó, và cũng có thể nói là nơi Người đã chữa lành cho một người bất toại được thả xuống từ trên nóc nhà để tránh đám đông đứng chật trong ngoài ngôi nhà này, ở bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần trước.

Có cái lạ là trong khi Chúa Giêsu đang nổi nang và đầy thu hút dân chúng như vậy thì "những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'". Tại sao họ lại có thái độ và hành động hoàn toàn ngược chiều với quần chúng như vậy?

Phải chăng "Người đã mất trí" là vì "Người không dùng bữa được" bởi "dân chúng đông đảo lại đổ xô tới"? Nếu thế thì khi tới nơi họ lại càng cần phải trợ giúp Người để nhờ đó Người có thể dùng bữa được như họ mong muốn, bằng cách họ tạm trấn an dân chúng và cung cấp thực phẩm cho Người ăn uống ngay lúc bấy giờ, chứ tại sao họ lại muốn "bắt Người đi" là làm sao? "Bắt Người đi" đâu?? "Bắt Người đi" khỏi chỗ đó để làm gì??? Chẳng lẽ để mang Người tới một bệnh viện tâm thần (mental health hospital) để Người được chữa trị, hay để chính họ cùng nhau chữa trị cho Người, vì "Người đã mất trí"!?

Nếu không thì vấn đề tiếp tục được đặt ra ở đây sẽ như thế này: họ "hay tin đó" là tin gì về Người? Tin Người "trở về nhà", hay tin "dân chúng đông đảo lại đổ xô tới", hoặc tin "Người không dùng bữa được"? Hay cả 3 tin một lúc: "Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được"? Hoặc chỉ có một tin nào trong 3 tin ấy đã khiến họ phải thốt lên một cách hết sức bất mãn về Người: "Người đã mất trí", tới độ họ không chịu được nữa và cần phải nhúng tay can thiệp ngay để "bắt Người đi"?

Để giải đáp vấn đề này, chúng ta cần biết thành phần "những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người" đây là ai? Dù không biết rõ từng người trong họ, chúng ta cũng có thể khẳng định mà không sợ sai lầm rằng không có Mẹ của Chúa Giêsu rồi đó. Không ai hiểu Chúa Giêsu hơn Mẹ Maria. Mẹ chẳng bao giờ cho Con Mẹ là "mất trí" cần phải "bắt đi" như những người "thân nhân" nào đó đã có thái độ và hành động đủ cho thấy là chính họ mới là một nạn nhân đang bị "mất trí" đáng thương mà không biết!

Thật ra, nếu chúng ta đọc thêm bài Phúc Âm hôm nay một chút nữa, ngay sau câu 21 cuối bài sang đầu câu 22, một câu thuộc về bài Phúc Âm cho Thứ Hai Tuần III Thường Niên tuần tới, sẽ thấy một mệnh đề trước (câu 21) cách mệnh đề sau (câu 22) bằng dấu chấm phẩy (;), chúng ta sẽ thấy một chi tiết liên quan có thể làm sáng tỏ vấn đề như sau: "trong khi đó, những luật sĩ từ Giêrusalem xuống nói rằng: 'Ông ấy bị quỷ Belgiêbút ám', và nói thêm rằng: 'Chính nhờ tướng quỷ mà ông ấy trừ quỷ'".

À... thì ra thế, "những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'" lý do là vì họ nghe thấy những tin tức xuyên tạc về Người từ thành phần luật sĩ thông luật hơn dân chúng và dạy luật cho dân chúng vốn không tin tưởng Người, vốn không khâm phục Người, không biết có phải vì họ đang hậm hực ghen tức với Người, bởi ảnh hưởng quá mãnh liệt của Người trong quần chúng trổi vượt hơn họ, nên họ đang muốn tìm hết cách để hạ bệ Người xuống, bằng những thứ chụp mũ, xuyên tạc và bôi nhọ Người hay chăng?

Kết quả là Người vẫn còn đó, chẳng những không bị thân nhân của Người "bắt đi", vì Người chẳng "mất trí" như các thân nhân của Người tưởng, trái lại, Người còn quá khôn ngoan đến độ làm cho thành phần luật sĩ này bị cứng họng, bằng cách Người đã sử dùng gậy ông đập lưng ông, như chúng ta sẽ thấy trong Bài Phúc Âm Thứ Hai tuần tới.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

-----------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THƯ NĂM CN2TN-C PDF Print E-mail

Thứ Năm CN2TN-C

HỌC HỎI- CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: (năm I) Dt 7, 25 - 8, 6

"Người chỉ dâng của lễ một lần khi hiến dâng chính Mình".

Trích thư gửi tín hữu Do-thái.

Anh em thân mến, Chúa Giêsu có thể cứu độ cách vĩnh viễn những ai nhờ Người mà đến với Thiên Chúa, vì Người hằng sống để chuyển cầu cho chúng ta.

Phải, vì chúng ta cần một vị Thượng tế thánh thiện, vô tội, tinh tuyền, tách biệt khỏi kẻ tội lỗi và đã được nâng cao trên các tầng trời. Người không cần phải như các tư tế hằng ngày dâng của lễ, trước là đền tội lỗi mình, sau là đền tội lỗi dân chúng, vì Người làm việc ấy chỉ có một lần khi hiến dâng chính Mình. Vì Lề luật thì đặt những người yếu đuối làm tư tế, còn lời thề có sau Lề luật, thì đặt Người Con hoàn hảo làm thượng tế đến muôn đời.

Ðiểm chính yếu về các điều đang đề cập đến là: chúng ta có một Thượng tế như thế ngự bên hữu Ðấng Tối Cao trên trời, với tư cách là chủ tế trong đền thờ, và trong nhà tạm chân thật mà Chúa - chứ không phải người phàm - đã dựng nên. Quả thật, mọi thượng tế được đặt lên là để hiến dâng lễ vật và hy tế, vì thế, vị thượng tế này cần phải có gì để hiến dâng. Vậy nếu Người còn ở trần gian, thì Người cũng không phải là tư tế, vì đã có những người phụ trách hiến dâng của lễ theo lề luật. Việc phượng tự mà họ làm chỉ là hình bóng những thực tại trên trời, như lời đã phán cùng Môsê khi ông sắp dựng nhà tạm rằng: Chúa phán: "Ngươi hãy xem, ngươi sẽ làm mọi sự theo mẫu Ta đã chỉ cho ngươi trên núi". Hiện giờ vị Thượng tế của chúng ta đã lãnh một chức vụ cao trọng hơn, bởi vì Người là Ðấng trung gian của một giao ước tốt hơn, mà giao ước ấy được thiết lập trên những lời hứa rất tốt lành.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 39, 7-8a. 8b-9. 10. 17

Ðáp: Lạy Chúa, này con xin đến, để thực thi ý Chúa (c. 8a và 9a).

Xướng: 1) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở rộng tai con. Chúa không đòi hỏi lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến". - Ðáp.

2) Như trong quyển vàng đã chép về con: lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật của Chúa ghi tận đáy lòng con. - Ðáp.

3) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong Ðại hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi. - Ðáp.

4) Hãy mừng vui hoan hỉ trong Chúa, bao nhiêu kẻ tìm Chúa, và luôn luôn nói: Chúa thực là cao cả! bao nhiêu kẻ mong ơn phù trợ của Ngài. - Ðáp.

Alleluia: Mt 4, 4b

Alleluia, alleluia! - Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 3, 7-12

"Các thần ô uế vừa thấy Người, liền sụp lạy và kêu lên rằng: "Ngài là Con Thiên Chúa", nhưng Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về Người".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ lui về bờ biển, đám đông từ Galilêa theo Người, và từ Giuđêa, Giêrusalem, Iđumê, bên kia sông Giođan, miền Tyrô và Siđon, nhiều kẻ đến cùng Người, khi nghe biết tất cả những việc Người đã làm. Vì đông dân chúng, nên Người bảo các môn đệ liệu cho Người một chiếc thuyền, kẻo họ chen lấn Người. Vì chưng, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân, nên bất cứ ai mắc bệnh tật gì đều đến gần để động đến Người. Và những thần ô uế vừa thấy Người, liền sụp lạy và kêu lên rằng: "Ngài là Con Thiên Chúa", nhưng Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về Người.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Bài Phúc Âm cho Thứ Năm trong Tuần 2 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay càng phản ảnh chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh, liên quan đến tầm ảnh hưởng hầu như khắp đất nước Do Thái bấy giờ của Người, trong khi Người mới chỉ công khai xuất hiện chưa được bao lâu.

Thật vậy, tầm ảnh hưởng của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này bao gồm một địa dư chẳng những ở miến bắc là Galilêa mà còn xuống tới tận miền nam là Giuđêa của đất nước Do Thái bấy giờ nữa, một vùng đất, theo thứ tự trình thuật của Thánh ký Marco, Người chưa hề đặt chân tới và chỉ sẽ tới sau khi hoàn thành cuộc hành trình Giêrusalem của Người vào những ngày cuối cùng của Người sống trên trần gian này thôi.

Bài Phúc Âm hôm nay đã ghi nhận sự kiện liên quan đến tầm ảnh hưởng của Người đầy ấn tượng xẩy ra như một hiện tượng này ở ngay câu mở đầu như sau: "Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ lui về bờ biển, đám đông từ Galilêa theo Người, và từ Giuđêa, Giêrusalem, Iđumê, bên kia sông Giođan, miền Tyrô và Siđon, nhiều kẻ đến cùng Người, khi nghe biết tất cả những việc Người đã làm".

Đám đông dân chúng từ khắp nơi đua nhau ùn ùn kéo tới với "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này như thế, mà ai tới cũng muốn được gần Người bao nhiêu có thể, thậm chí muốn trực tiếp đụng chạm đến Người, nhất là thành phần bệnh nhân và khuyết tật nhân, chẳng khác gì như đám đông dân chúng nghênh đón Đức Giáo Hoàng vào những lần ngài tông du khắp nơi trên thế giới, ai cũng muốn đến gần và chạm đến vị thừa kế Thánh Phêrô đại diện Chúa Kitô trên trần gian này.

Tuy nhiên, ngày nay vấn đề an ninh ở khắp nơi mới có thể ngăn chặn việc chen lấn của đám đông dân chúng tuốn đến nghênh đón vị giáo hoàng, còn ngày xưa không thể nào xẩy ra như thế. Bởi đó, để tránh tình trạng chen lấn và xô lấn ồ ạt bất khả kiểm soát rất nguy hiểm cho chính đám đông, (như đã từng xẩy ra ở những cuộc hành hương hằng năm quá đông của tín đồ Hồi giáo), hơn là cho chính bản thân Chúa Kitô, nhờ đó việc giảng dạy và chữa lành của Người được dễ dàng thực hiện hơn, Chúa Giêsu mới khôn ngoan phản ứng, như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại:

"Vì đông dân chúng, nên Người bảo các môn đệ liệu cho Người một chiếc thuyền, kẻo họ chen lấn Người. Vì chưng, Người đã chữa lành nhiều bệnh nhân, nên bất cứ ai mắc bệnh tật gì đều đến gần để động đến Người".

Sự kiện Chúa Giêsu ngồi trên thuyền mà giảng dạy dân chúng đây chẳng những cho thấy cách thức giải quyết hết sức hữu hiệu và tốt đẹp về hiện tượng đám đông vây quanh Người, gây cản trở cho việc giảng dạy và chữa lành của Người, mà còn cho thấy hình ảnh của một chuyên viên thả lưới đánh cá gần bờ nhất mà lại bắt được nhiều cá nhất, và toàn là những con cá không phải ở dưới nước nhưng là ở trên bờ, trên cạn.

Chưa hết, tầm ảnh hưởng của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này chẳng những liên quan đến đám đông dân chúng thuộc một vùng địa dư khắp đất nước Do Thái thời ấy, tức liên quan đến thế giới hữu hình này, mà còn đến cả thế giới vô hình nữa là thế giới của ma quỉ, thế giới của những thực thể vô hình đã nhận biết được chính căn tính thần linh của Người, dù Người chưa kịp khu trừ chúng. Bởi thế, mới xẩy ra chuyện được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại ở đoạn cuối như sau:

"Và những thần ô uế vừa thấy Người, liền sụp lạy và kêu lên rằng: 'Ngài là Con Thiên Chúa', nhưng Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về Người'".

Chính việc "Người nghiêm cấm chúng không được tiết lộ gì về Người" đã đủ chứng tỏ Người công nhận sự thật của lời ma quỉ vốn dối trá tuyên xưng, tức Người thật là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", và sở dĩ một đàng Người đang muốn từ từ tỏ mình ra Người đúng là "Con Thiên Chúa" như thế, đàng khác Người lại "cấm chúng không được tiết lộ gì về Người" là vì chưa đến giờ của Người, chưa đến đúng thời điểm của Người, và chính Người phải tự tỏ mình ra mới xác thực hơn bất cứ chứng từ nào khác, kể cả chứng từ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả cũng chỉ là những chứng từ tuy cần nhưng mang tính chất phụ thuộc (xem Gioan 5:34,8:14,10:25).

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

-----------------------------------------

 
HOI DE SONG DAO -THU HAI SAU CN CHÚA CHIU PHEP RUA PDF Print E-mail

Thứ Hai 14-1-2019

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ Lời Chúa

Bài Ðọc I: (năm I) Dt 1, 1-6

"Chúa đã phán dạy chúng ta qua Người Con".

Khởi đầu thư gửi tín hữu Do-thái.

Thuở xưa, nhiều lần và dưới nhiều hình thức, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các tiên tri. Trong những ngày sau hết đây, Ngài đã phán dạy chúng ta qua Người Con mà Ngài đã đặt làm vị thừa kế vạn vật, và cũng do bởi Người Con mà Ngài đã tác thành vũ trụ.

Nguyên vốn là phản ảnh sự vinh quang và là hình tượng bản thể Ngài, Người Con đó nâng giữ vạn vật bằng lời quyền năng của mình, quét sạch tội lỗi chúng ta, và ngự bên hữu Ðấng Oai Nghiêm, trên cõi trời cao thẳm. Tên Người cao trọng hơn các thiên thần bao nhiêu, thì Người cũng vượt trên các thiên thần bấy nhiêu.

Phải, vì có bao giờ Thiên Chúa đã phán bảo với một vị nào trong các thiên thần rằng: "Con là thái tử của Cha, hôm nay Cha đã sinh hạ Con"? Rồi Chúa lại phán: "Ta sẽ là Cha Người, và Người sẽ là Con Ta". Và khi ban Con Một mình cho thế gian, Chúa lại phán rằng: "Tất cả các thiên thần Chúa hãy thờ lạy Người!"

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 96, 1 và 2b. 6 và 7c. 9

Ðáp: Bao nhiêu chúa tể hãy cúc cung bái lạy Người (c. 7c).

Hoặc đọc: Chúa hiển trị, Chúa là Ðấng tối cao trên toàn cõi đất (c. 1a và 9a).

Xướng: 1) Chúa hiển trị, địa cầu hãy hân hoan, hải đảo muôn ngàn, hãy mừng vui. Công minh chính trực là nền kê ngai báu. - Ðáp.

2) Trời xanh loan truyền sự công minh Chúa, và chư dân được thấy vinh hiển của Người. Bao nhiêu chúa tể hãy cúc cung bái lạy Người. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, vì Ngài là Ðấng tối cao trên toàn cõi đất, Ngài rất đỗi siêu phàm giữa muôn chúa tể. - Ðáp.

Alleluia: 1 Sm 3, 9

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 1, 14-20

"Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng của nước Thiên Chúa, Người nói: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng".

Ðang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: "Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người". Lập tức bỏ lưới, các ông theo Người. Ði xa hơn một chút nữa, Người thấy Gia-côbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền, Người liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người.

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Bài Phúc Âm của Thánh Marco cho Thứ Hai sau Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa được Giáo Hội chọn đọc không liên tục ngay sau bài Phúc Âm Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, mà là cách 2 câu về sự kiện Chúa Kitô chay tịnh trong hoang địa 40 ngày, một sự kiện gắn liền với sự kiện Người lãnh nhận Phép Rửa bởi Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ở Sông Dược Đăng (Jordan), ở chỗ, một sự kiện liên quan đến phần hồn (đó là việc thống hối qua việc lãnh nhận phép rửa), và một sự kiện liên quan đến phần xác (đó là việc khổ chế các mầm mống nguyên tội nơi bản thân của con người).

Cả hai sự kiện mở đầu cho công cuộc cứu chuộc trần gian của Vị Thiên Sai của dân Do Thái này không phải chỉ có tính cách tiêu cực là tội lỗi cần ăn năn thống hối về phần hồn và khổ chế đền bù về phần xác, mà nhất là có tính cách tích cực, ở chỗ Thần Tính của Lời Nhập Thể nhờ những việc làm này có thể tỏ hiện ra một cách công khai và càng tỏ tường hơn nơi nhân tính của Chúa Giêsu, cho đến khi đạt đến tột đỉnh của mạc khải thần linh là Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, một cuộc vượt qua chẳng những cứu con người khỏi tội lỗi và sự chết, một tội lỗi liên quan đến phần hồn và sự chết đặc biệt liên quan đến phần xác, mà còn thông ban cho con người Thánh Linh cùng với sự sống thần linh vô cùng viên mãn của Người.

Và đó là lý do ngay câu mở đầu bài Phúc Âm có hai phần hôm nay mới có chi tiết hết sức quan trọng và đầy ý nghĩa mở đầu, một chí tiết cho thấy Thần Tính bắt đầu công khai tỏ mình ra qua nhân tính, đó là chi tiết: "Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng của nước Thiên Chúa, Người nói: 'Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng'". Và sau chi tiết mở đầu có tính cách chuyển tiếp một cách khéo léo như thế là sự kiện Chúa Giêsu tuyển chọn 2 cặp môn đệ anh em với nhau là Simon-Anre và Giacobe-Gioan, thành phần làm nên tông đồ đoàn để trở thành chứng nhân tiên khởi của Người và là nền tảng cho Giáo Hội Người sẽ thiết lập.

Sở dĩ phần đầu của bài Phúc Âm hôm nay có tính cách chuyển tiếp khéo léo là vì chi tiết "sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng của nước Thiên Chúa". Đúng thế, một khi Mặt Trời Công Chính là Chúa Giêsu lên, một khi "ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12) là Chúa Kitô bắt đầu tỏ hiện thì làm lu mờ đi ngọn đèn Tiền Hô Gioan Tẩy Giả là nhân vật được tuyển chọn sai đến trước Người để dọn đường cho Người nơi dân Do Thái, hay nói ngược lại, khi thời điểm dọn đường của Vị Tiền Hô Tẩy Giả vừa hoàn thành, nơi việc làm phép rửa cho chính Đấng Đến Sau, Đấng sẽ "làm phép rửa trong Thánh Thần và bằng lửa" (Phúc Âm Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa theo Thánh Luca Năm C), thì "Gioan bị bắt", bị tống ngục, nghĩa là đi vào tăm tối, để "Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại" (Phúc Âm Thánh Gioan ngày 12/1, áp Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa).

Lời rao giảng tiên khởi của Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay là tổng hợp tất cả mạc khải thần linh sẽ được Con Thiên Chúa làm người tỏ hiện trong suốt 3 năm thi hành sứ vụ thiên sai của mình nơi dân Do Thái của Người: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng". Bởi thế chúng ta thấy ngay trong lời rao giảng tiên khởi này có hai phần rõ ràng: phần đầu liên quan đến Thiên Chúa: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến", và phần sau liên quan đến nhân loại: "hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng".

Phần liên quan đến Thiên Chúa: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến". "Thời giờ đã mãn" đây chính là thời điểm cánh chung: "Khi đã đến thời điểm viên trọn, Thiên Chúa đã sai Con Mình đến, được hạ sinh bởi một người nữ, được sinh theo lề luật, để giải cứu khỏi lề luật những ai bị lụy thuộc lề luật, nhờ đó chúng ta được hưởng vị thế làm dưỡng tử" (Galata 4:4). "Và Nước Thiên Chúa đã gần đến" đây ám chỉ Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô nói chung và chính bản thân Người nói riêng, nghĩa là Người đã bắt đầu xuất hiện rồi, và từ từ tỏ mình ra cho nhân loại nơi dân Do Thái của Người vào thời điểm lịch sử nhân loại ấy, cho đến khi Người tỏ hết mình ra trên Thánh Giá và từ Ngôi Mộ Trống.

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thánh Phaolô đã khẳng định về thời điểm cánh chung này với giáo đoàn Do Thái rằng: "Thuở xưa, nhiều lần và dưới nhiều hình thức, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các tiên tri. Trong những ngày sau hết đây, Ngài đã phán dạy chúng ta qua Người Con mà Ngài đã đặt làm vị thừa kế vạn vật, và cũng do bởi Người Con mà Ngài đã tác thành vũ trụ". Nghĩa là vào thời điểm cánh chung, thời điểm cuối cùng khi Con Thiên Chúa xuất hiện nơi Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế, Thiên Chúa tỏ hết mình ra cho nhân loại nói chung và dân Ngài nói riêng, đến độ Chúa Giêsu Kitô là tột đỉnh của mạc khải thần linh và là tất cả mạc khải thần linh: "Ai thấy Thày là thấy Cha" (Gioan 14:9).

Phần liên quan đến nhân loại: "hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng". Tuy nhiên, công ơn cứu độ vô cùng quí giá của Con Thiên Chúa làm người dù đã có thể cứu được toàn thể nhân loại, từ nguyên tổ cho đến tận thế, thậm chí cứu được cả muôn ngàn ức triệu thế giới tội lỗi nào khác nếu có, vẫn không thể tác dụng nơi những ai không sẵn sàng chấp nhận ơn cứu độ của Người hay chấp nhận Người là Đấng cứu độ của mình: "Redemptor hominis - Đấng cứu độ nhân trần" (Bức Thông Điệp đầu tay của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành ngày 4/3/1979).

Trong Bài Đọc thứ 1 hôm nay, Thánh Phaolô cũng cho thấy chẳng những bản thể của Đấng Thiên Sai Cứu Thế mà còn cả sứ vụ cùng quyền năng thế giá vô cùng siêu việt của Người, Đấng chung con người và riêng dân Do Thái cần phải nhận biết và tin tưởng, qua lời xác tín của ngài như sau: "Nguyên vốn là phản ảnh sự vinh quang và là hình tượng bản thể Ngài, Người Con đó nâng giữ vạn vật bằng lời quyền năng của mình, quét sạch tội lỗi chúng ta, và ngự bên hữu Ðấng Oai Nghiêm, trên cõi trời cao thẳm. Tên Người cao trọng hơn các thiên thần bao nhiêu, thì Người cũng vượt trên các thiên thần bấy nhiêu".

Và "bất cứ ai chấp nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con cái của Thiên Chúa" (Gioan 1:12) cần phải hội đủ 2 yếu tố bất khả thiếu và bất khả phân ly, đó là "ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng": "ăn năn sám hối" ở chỗ chân nhận mình là tội nhân vô cùng khốn nạn, tuyệt đối bất toàn và bất lực, nên chỉ còn biết tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa (LTXC) mà thôi: "tin vào Tin Mừng", vì "Tin Mừng" đây chính là Tin Mừng Phục Sinh, Tin Mừng Cứu Độ, Tin Mừng được Chúa Kitô Phục Sinh truyền cho thành phần môn đệ tông đồ của Người rao giảng cho "tất cả mọi tạo vật" (Marco 16:15), cho "tất cả mọi dân nước" (Mathêu 28:19), Tin Mừng là Chúa Giêsu Kitô, Lời Nhập Thể, đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, nên "Đừng sợ, hãy mở rộng các cánh cửa cho Chúa Kitô - Don't be afraid, open wide the doors for Christ" (Lời hiệu triệu của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong bài giảng khai triều 22/10/1979), một lời hiệu triệu hoàn toàn phản ảnh sứ điệp chính yếu của LTXC được Chúa Kitô nhắn nhủ chung loài người và riêng Kitô hữu trong Thời Điểm Thương Xót: "Giêsu ơi, con tin nơi Chúa", một sứ điệp được ghi ngay bên dưới tấm Ảnh LTXC, và là sứ điệp phản ảnh ý Chúa Giêsu muốn thiết lập Lễ LTXC vào Chúa Nhật thứ nhất sau Chúa Nhật Phục Sinh.

Vì ý nghĩa và hiều hướng của chung Bài Phúc Âm cũng như Bài Đọc 1 về Đấng Thiên Sai Cứu Thế và của riêng lời rao giảng tiên khởi của Chúa Giêsu Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay như thế mới có những câu Đáp Ca rất thích đáng và ý nghĩa chúng ta cần phải hợp xướng như sau:

1) Chúa hiển trị, địa cầu hãy hân hoan, hải đảo muôn ngàn, hãy mừng vui. Công minh chính trực là nền kê ngai báu.

2) Trời xanh loan truyền sự công minh Chúa, và chư dân được thấy vinh hiển của Người. Bao nhiêu chúa tể hãy cúc cung bái lạy Người.

3) Lạy Chúa, vì Ngài là Ðấng tối cao trên toàn cõi đất, Ngài rất đỗi siêu phàm giữa muôn chúa tể.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

----------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THU BAY SAU HIEN LINH 12/1 PDF Print E-mail

Thứ Bảy sau Hiển Linh 12/1

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: 1 Ga 5, 14-21

"Chúa nhậm lời chúng ta kêu cầu".

Các con thân mến, này là sự chúng ta tin tưởng nơi Chúa: là hễ chúng ta xin sự gì hợp ý Người, thì Người nhậm lời chúng ta. Và chúng ta biết Người nghe nhận mọi điều chúng ta xin, vì chúng ta biết rằng chúng ta có kêu cầu Người. Ai biết anh em mình phạm thứ tội không đưa tới sự chết, thì hãy cầu xin và Người sẽ ban sự sống cho kẻ phạm thứ tội đó. Có thứ tội đưa đến sự chết, tôi không bảo ai cầu xin cho người phạm tội ấy đâu. Mọi sự gian tà đều là tội, và có thứ tội đưa đến sự chết.

Chúng ta biết rằng ai sinh ra bởi Thiên Chúa, thì không phạm tội, chính sự sinh ra bởi Thiên Chúa gìn giữ họ, và ma quỷ không làm gì được họ. Chúng ta biết rằng chúng ta bởi Thiên Chúa mà ra, và toàn thể thế gian đều phục luỵ ma quỷ. Và chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến và đã ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Người. Chính Ngài là Thiên Chúa chân thật và là sự sống đời đời. Các con thân mến, hãy giữ mình xa các tà thần.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 149, 1-2. 3-4. 5 và 6a và 9b

Ðáp: Chúa yêu thương dân Người (c. 4a).

Hoặc đọc: Alleluia.

Xướng: 1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, hãy vang lên lời khen ngợi trong công hội các tín đồ. Israel hãy vui mừng vì Ðấng tạo tác bản thân, con cái Sion hãy hân hoan vì vua của họ. - Ðáp.

2) Họ hãy hoà nhạc để ngợi khen Người, hãy hát mừng Người với cây đàn cầm, với trống con: bởi vì Chúa yêu thương dân Người, và ban cho kẻ khiêm nhường chiến thắng vẻ vang. - Ðáp.

3) Các tín đồ hãy mừng rỡ trong vinh quang, hãy hoan hỉ trong những nơi khu phố. Miệng họ hãy reo lên lời hoan hô Thiên Chúa. Ðó là vinh quang cho mọi tín đồ của Chúa. - Ðáp.

Alleluia: Dt 1, 1-2

Alleluia, alleluia. - Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các tiên tri mà phán dạy cha ông, nhưng đến thời sau hết, tức là trong những ngày này, Người đã phán dạy chúng ta nơi người Con. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 3, 22-30

"Bạn hữu của tân lang vui mừng vì tiếng nói của tân lang".

Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ Người đến đất Giuđêa. Người ở lại đó với họ và làm phép rửa. Cũng có Gioan làm phép rửa tại Ainon, gần Salim, vì ở đó có nhiều nước, và người ta đến để chịu rửa. Vì chưng, khi ấy Gioan chưa bị tống ngục. Xảy ra có cuộc tranh luận giữa các môn đệ của Gioan và người Do-thái về việc thanh tẩy. Họ đến cùng Gioan và nói với ông: "Thưa Thầy, người đã ở với Thầy bên kia sông Giođan, mà Thầy đã làm chứng cho, nay cũng làm phép rửa và ai nấy đều đến cùng người!" Gioan trả lời rằng: "Người ta không tiếp nhận gì mà không phải bởi trời ban cho. Chính các ngươi đã làm chứng cho tôi là tôi đã nói: Tôi không phải là Ðấng Kitô, nhưng tôi được sai đến trước Người. Ai cưới vợ, thì là người chồng, còn bạn hữu của tân lang đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Vậy niềm vui của tôi như thế là đầy đủ. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại".

Ðó là lời Chúa.

Ngày Thứ Bảy cuối Tuần Lễ Hiển Linh ngay trước Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay, Bài Phúc Âm theo chủ đề "Lời ở cùng chúng ta" (Gioan 1;14) của chung Mùa Giáng Sinh, có liên hệ với Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, Vị sẽ làm phép rửa cho Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm ngày mai, như Thánh ký Gioan Tông Đồ thuật lại như sau:

"Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ Người đến đất Giuđêa. Người ở lại đó với họ và làm phép rửa. Cũng có Gioan làm phép rửa tại Ainon, gần Salim, vì ở đó có nhiều nước, và người ta đến để chịu rửa. Vì chưng, khi ấy Gioan chưa bị tống ngục. Xảy ra có cuộc tranh luận giữa các môn đệ của Gioan và người Do-thái về việc thanh tẩy. Họ đến cùng Gioan và nói với ông: 'Thưa Thầy, người đã ở với Thầy bên kia sông Giođan, mà Thầy đã làm chứng cho, nay cũng làm phép rửa và ai nấy đều đến cùng người!' Gioan trả lời rằng: 'Người ta không tiếp nhận gì mà không phải bởi trời ban cho. Chính các ngươi đã làm chứng cho tôi là tôi đã nói: Tôi không phải là Ðấng Kitô, nhưng tôi được sai đến trước Người. Ai cưới vợ, thì là người chồng, còn bạn hữu của tân lang đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Vậy niềm vui của tôi như thế là đầy đủ. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại'".

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu không đóng vai chính như các bài phúc âm của những ngày trước, ngoài một chi tiết ở đầu bài Phúc Âm: "Khi ấy, Chúa Giêsu cùng các môn đệ Người đến đất Giuđêa. Người ở lại đó với họ và làm phép rửa". Tuy nhiên, qua chứng từ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả trong cùng bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy "Lời ở cùng chúng ta" như "là người chồng" mà Tiền Hô Gioan Tẩy Giả được đóng vai "bạn hữu của tân lang" đã cảm thấy hân hạnh và mãn nguyện lắm rồi: "niềm vui của tôi như thế là đầy đủ".

Với chứng từ của mình, Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này đã: 1- tái xác nhận một lần nữa rằng ngài không phải là Đức Kitô Thiên Sai như Chúa Giêsu; 2- nên ngài chỉ đóng vai phụ, với tư cách là "bạn hữu của tân lang", chứ không thể át được vai chính tân lang; 3- và chính vì Người là Đấng Thiên Sai nên Người được dân chúng mộ mến tuốn đến với Người là phải: "Thưa Thầy, người đã ở với Thầy bên kia sông Giođan, mà Thầy đã làm chứng cho, nay cũng làm phép rửa và ai nấy đều đến cùng người!"; 4- ngài chẳng những không ghen tương theo tinh thần cạnh tranh mà còn phải hết sức vui mừng nữa: "đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại".

Ở chứng từ đặc biệt lần này, Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã thêm một hình ảnh rất tuyệt vời về "Lời đã hóa thành nhục thể và ở cùng chúng ta", liên quan đến mầu nhiệm nhập thể và giáng sinh của Người, đó là hình ảnh Người là một "tân lang", "là người chồng", một hình ảnh ám chỉ đến hai thực tại, thực tại thiên tính của Người nên một với nhân tính của Người, và thực tại Người là vị hôn phu của Giáo Hội nhiệm thể của Người.

Không phải "Lời ở cùng chúng ta" chỉ ở nơi Con Người Giêsu sống động trong xã hội Do Thái thời của Người, ở nơi việc Người giao tiếp với đủ mọi hạng người thời bấy giờ, ở nơi việc Người gắn bó với người nghèo và thành phần tội nhân vào lúc ấy v.v., mà còn ở chỗ chung nhân loại ở với Người nơi nhân tính của Người, một nhân tính đã chia sẻ với những nỗi yếu hèn của họ, một nhân tính đã gánh vác tội lỗi của họ, một nhân tính đã hy hiến mạng sống của mình làm giá chuộc họ và cho những ai tin vào Người thành nhiệm thể Giáo Hội của Người.

Chính vì "Lời ở cùng chúng ta" và nhờ đó chung nhân loại chúng ta và riêng nhiệm thể Giáo Hội của Người được dự phần với Người, được kiến thức thần linh như Người và với Người, tức là được sự sống đời đời là chính bản thân Người, đúng như những gì Thánh Gioan Tông Đồ đã viết trong Bài Đọc 1 hôm nay: "chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến và đã ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Người. Chính Ngài là Thiên Chúa chân thật và là sự sống đời đời".

Vì "Lời ở cùng chúng ta", nhờ đó chúng ta được ở với Người, tức được sự sống đời đời, và những ai được lãnh nhận sự sống đời đời vô cùng quan trọng và cao trọng không thể nào không cất tiếng ngợi khen cảm tạ Thiên Chúa cùng với Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, hãy vang lên lời khen ngợi trong công hội các tín đồ. Israel hãy vui mừng vì Ðấng tạo tác bản thân, con cái Sion hãy hân hoan vì vua của họ.

2) Họ hãy hoà nhạc để ngợi khen Người, hãy hát mừng Người với cây đàn cầm, với trống con: bởi vì Chúa yêu thương dân Người, và ban cho kẻ khiêm nhường chiến thắng vẻ vang.

3) Các tín đồ hãy mừng rỡ trong vinh quang, hãy hoan hỉ trong những nơi khu phố. Miệng họ hãy reo lên lời hoan hô Thiên Chúa. Ðó là vinh quang cho mọi tín đồ của Chúa.

Nhìn lại toàn bộ Phụng Vụ Lời Chúa của tuần lễ từ Lễ Hiển Linh đến Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, chúng ta thấy 2 ý tưởng chính yếu bất khả thiếu và bất khả phân lý như sau: "Vua dân Do Thái mới sinh" được Ba Vua đến triều bái chính là Đức Kitô của dân Do Thái và đồng thời cũng chính là Đấng Cứu Thế của nhân loại (1), một Đức Kitô Cứu Thế chỉ bắt đầu tỏ hiện đúng như những gì được vị Gioan Tẩy Giả của Người đóng vai Tiền Hô loan báo và làm chứng (2).

1- "Vua dân Do Thái mới sinh" được Ba Vua đến triều bái chính là Đức Kitô của dân Do Thái và đồng thời cũng chính là Đấng Cứu Thế của nhân loại: đó là lý do chúng ta thấy Bài Đáp Ca của 4 ngày đầu liên quan đến Chúa Kitô là một đức vua và chư dân của Người, thứ tự như sau:

- Ngày mùng 7/1: Câu Xướng thứ 1 - "Con là thái tử của Cha, hôm nay Cha đã sinh thành ra Con. Hãy xin Cha và Cha sẽ cho Con được chư dân làm phần sản nghiệp, và cùng kiệt cõi đất làm gia tài", và câu xướng thứ 2 - "Giờ đây, hỡi các vua, hãy nên hiểu biết; quân vương mặt đất nên giác ngộ. Hãy kính sợ làm tôi Chúa và hân hoan mừng Ngài; hãy khiếp run tỏ bày sự vâng phục Chúa", và Câu Đáp chung là - "Cha sẽ cho Con được chư dân làm phần sản nghiệp".

- Ngày 8, 9 và 10 cũng tiếp tục về vai trò làm vua liên quan đến muôn dân của Chúa Kitô, và cả 3 ngày đều giống nhau cả ở câu Xướng 1: "Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người đoán xét dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực", lẫn ở câu Đáp chung: "Lạy Chúa, muôn dân khắp mặt đất sẽ thờ lạy Chúa".

Và Bài Phúc Âm cũng theo chiều hướng như thế, cả 4 ngày đầu (mùng 7, 8, 9 và 10) đều liên quan đến chung nhân loại, một nhân loại đã có bản tính băng hoại bởi nguyên tội lại được Chúa Kitô mặc lấy để nhờ đó soi chiếu vào nơi tối tăm ở vùng đất tiêu biểu trước tiên ngay tại Đất Hứa của dân Do Thái đó là một "Galilêa của dân ngoại" (Phúc Âm ngày 7/1), qua những hành động tỏ mình ra của Người: như việc Người làm phép lạ hóa bánh ra nhiều nuôi dân lần thứ 1, ám chỉ như Người đã cho biết trong Phúc Âm Thánh Gioan (6:51) Người là "bánh bởi trời xuống cho thế gian được sự sống" (Phúc Âm ngày 8/1), và việc Người cứu các môn đệ bị bão tố trong đêm (Phúc Âm ngày 9/1), ám chỉ vai trò làm Vua Vũ Trụ của Người, tức làm chủ thiên nhiên tạo vật, làm chủ sự dữ là những gì đang hành hạ con người vướng mắc nguyên tội, cần được giải cứu khỏi tội lỗi và sự chết bởi Đức Kitô của dân Do Thái, một Đức Kitô được Thiên Chúa xức dầu Thánh Linh và được sai đi chữa lành và giải cứu dân của Ngài, nhất là những ai tin vào Người, như một người mang giòng máu Do Thái với Người và như Người bị "đầy phong cùi" (Phúc Âm ngày 10/1), ám chỉ con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa đã bị biến dạng và trở thành dị dạng bởi nguyên tội, cần được tẩy sạch.

2- Một Đức Kitô Cứu Thế chỉ bắt đầu tỏ hiện đúng như những gì được vị Gioan Tẩy Giả của Người đóng vai Tiền Hô loan báo và làm chứng.

Đúng thế, ngay trong câu đầu tiên của bài Phúc Âm ngày 2/1, đã thấy xuất hiện chi tiết: "Nghe tin Gioan bị nộp, Chúa Giêsu lui về Galilêa", một chi tiết cho thấy vị tiên tri tiền hô này chỉ là "đèn" soi (Gioan 5:35), chứ "không phải là ánh sáng" (Gioan 1:8), như chính Đức Kitô Cứu Thế là Đấng đến sau ngài nhưng cao trọng hơn ngài;

Và trong bài Phúc Âm ngày 12/1, ngày cuối cùng của tuần lễ giữa Lễ Hiển Linh và Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, chính vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này đã xác nhận một lần nữa ngài không phải là Đức Kitô, Đấng được dân chúng báo cho ngài biết rằng "Người đã ở với thày bên kia Sông Dược Đăng, mà thày đã làm chứng cho, nay cũng làm phép rửa và ai nấy đều đến cùng người", vị tiền hô này, chẳng những không thấy mình bị cạnh tranh về việc làm phép rửa và Đức Kitô đã lôi kéo dân chúng đến cùng Người hơn là ngài nữa, trái lại, còn mừng cho Đức Kitô vì thấy được những gì mình loan báo về Người đã được nên trọn như dân chúng chứng thực: "Người ta không tiếp nhận gì mà không phải bởi trời ban cho. Chính các ngươi đã làm chứng cho tôi là tôi đã nói: Tôi không phải là Ðấng Kitô, nhưng tôi được sai đến trước Người. Ai cưới vợ, thì là người chồng, còn bạn hữu của tân lang đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Vậy niềm vui của tôi như thế là đầy đủ. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại".

Phải công nhận rằng Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả quả thực là một điển hình nhất cho những gì Thánh ký Gioan Tông Đồ đã viết ở Thứ Thứ Nhất của ngài trong Bài Đọc 1 cho ngày 12/1: "Chúng ta biết rằng ai sinh ra bởi Thiên Chúa, thì không phạm tội, chính sự sinh ra bởi Thiên Chúa gìn giữ họ, và ma quỷ không làm gì được họ. Chúng ta biết rằng chúng ta bởi Thiên Chúa mà ra, và toàn thể thế gian đều phục luỵ ma quỷ. Và chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến và đã ban cho chúng ta ơn thông hiểu, để chúng ta nhận biết Chúa chân thật, và được ở trong Con chân thật của Người. Chính Ngài là Thiên Chúa chân thật và là sự sống đời đời".

Nếu Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả này không được sinh bởi Thiên Chúa, thì chắc chắn ngài đã có những ohản ứng theo tính tự nhiên của loài người vướng mắc nguyên tội là ghen tức và tìm cách hạ bệ những ai hơn mình xuống, nhưng đằng này ngài chẳng những đã "không phạm tội" mà còn tỏ ra có được một "ơn thông hiểu" về chính bản thân mình: "Tôi không phải là Ðấng Kitô, nhưng tôi được sai đến trước Người", cũng như về Đấng mình làm chứng: "Ai cưới vợ, thì là người chồng, còn bạn hữu của tân lang đứng mà nghe tân lang nói thì vui mừng vì tiếng nói của tân lang. Vậy niềm vui của tôi như thế là đầy đủ. Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại".

Và đó là lý do Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả quả thực đã xứng đáng làm phép rửa cho Đức Kitô Cứu Thế, một phép rửa có tính cách thống hối, nhưng được Chúa Kitô lãnh nhận như dấu hiệu cho phép rửa tha tội của Chúa Kitô (xem Luca 12:50), Đấng sẽ phải chịu một phép rửa bằng máu của mình trên thập tự giá sau này, một phép rửa tái sinh nhân loại vào sự sống thần linh viên mãn.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

-----------------------------------------------

 
HOC HỎI DE SONG DAO - NGUY CO CUA TIEN BAC PDF Print E-mail

NGUY CƠ CỦA TIỀN BẠC ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN và ƠN CƯU ĐỘ
Hỏi :
Trong Tin Mừng Thánh Marcô, Chúa Giêsu nói : “con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào Thiên Đàng”.Như vậy có phải Chúa lên án những người giầu không ?
Trả lời :
Sống đức tin Công Giáo cách sâu sắc và trưởng thành không những đòi hỏi phải có can đảm để tuyên xưng đức tin ấy bằng hành động cụ thể bên ngoài qua việc chu toàn những bổn phận thiêng liêng của người tín hữu sống trong Giáo Hội, như siêng năng việc thờ phượng Chúa, học hỏi lời Chúa, năng lãnh nhận các bí tích ban ơn cứu độ như Thánh Thể và hòa giải, và làm nhân chứng cho Chúa Kitô trước mặt người đời -mà hơn nữa- còn phải ý thức sâu xa về những nguy cơ đe dọa đức tin và hy vọng được cứu rỗi nữa.
Đe dọa không phải chỉ đến từ phía các chế độ chính trị thù ghét mọi niềm tin của con người, mà đặc biệt nguy hiểm không kém sự bách hại niềm tin đó là những nguy cơ như tội lỗi, các chủ nghĩa vô thần ( atheism) tục hóa ( vulgarism) tương đối ( relativism) tôn thờ vật chất và khoái lạc ( materialism and hedonism) và làm nô lệ cho tiền của là trọng tâm của bài viết này.
Thật vậy, tiền của là một trở ngại lớn lao cho con người muốn sống công bình, lương thiện, bác ái, và là nguyên nhân chính gây ra những sự dữ, sự gian ác bất công, bóc lột người như ta thấy đầy rẫy ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Do đó, không thể sống đức tin cách đich thực mà không quyết tâm xa tránh nguy cơ này, vì nó là cạm bẫy xô đẩy người tín hữu vào con đường làm nô lệ cho tiền của đến chỗ chối bỏ hay sống mâu thuẫn với niềm tin có Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, công minh, chính trực giữa bao người vô tín ngưỡng ở thời đại tục hóa ( vulgarism) vô luân vô đạo ngày nay.
Ngoài tội lỗi, là nguy cơ thường xuyên đe dọa do ma quỷ, ví như “ sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” mà Thánh Phêrô đã cảnh giác,( 1 Pr 5: 6) còn có gương xấu dịp tội đẫy rẫy trong trần gian cộng với bản chất yếu đuối của con người, là hậu quả của tội nguyên tổ còn để lại trong mỗi người chúng ta cho chúng ta phải chiến đấu để sống niềm tin có Chúa, có hạnh phúc vinh cửu và cũng có hỏa ngục là nơi dành cho những kẻ hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ tiền của và mọi thú vui của “văn hóa sự chết” đang lộng hành trong trần gian ngày nay.
Trên bình diện quốc tế, chính lòng ham mê tiền của và mọi của cải vật chất như dầu hỏa, khí đốt, quặng mỏ, hải sản,lâm sản... đã và đang là nguyên nhân gây ra chiến tranh giữa những quốc gia có tài nguyên thiên nhiên và những quốc gia muốn chiếm đoạt những nguồn tài nguyên đó. Hậu quả là hàng triệu người dân vô tội đã bị giết vì những kẻ tham mê của cải trần gian cách bất lương đã tìm mọi cách để chiếm hữu, dù phải gây ra chiến tranh - khéo che đậy, nguy tạo với những chiêu bài giả dối, phỉnh gạt dư luận như giải phóng, bảo vệ tự do, dân chủ và quyền sống của con người. Nhưng thực chất chỉ là muốn vơ vét của cải của người khác để làm giầu cho quốc gia hay tập đoàn đế quốc của mình mà thôi.
Lại nữa, cũng chính vì lòng ham mê tiền của và quyền lực chính trị nên có biết bao kẻ độc tài, độc đảng đã cố bám lấy địa vị cai trị sắt máu của mình để vơ vét tiền của, núp bóng dưới chiêu bài giải phóng cho giai cấp vô sản bị bóc lột, nhưng thực tế chính họ lại trở thành những đại gia, đại tư bản xanh đỏ đang bóc lột dân nghèo, ăn cắp của công để làm giầu cho cá nhân và tập thể cai trị, gửi tiền ra nước ngoài để kinh doanh và phòng thân, trong khi nhắm mắt, bịt tai trước sự nghèo đói cùng cực của người dân, nạn nhân của mọi bất công xã hội, hậu quả hiển nhiên của chế độ cai trị phi nhân vô đạo như mọi người đã nhìn rõ mà chưa biết phải làm gì để thay đổi bộ mặt của lừa dối phỉnh gạt đó..
Về mặt luân lý, đạo đức, có biết bao kẻ đã vì ham mê tiền của mà dã tâm làm những việc vô cùng xấu xa, tội lỗi như mở sòng bạc casino, nhà điếm, buôn bán phụ nữ, nhất là trẻ em, cho kỹ nghệ mãi dâm để kiếm tiền cách vô luân và đầy tội ác. Còn gì ghê tởm và gian ác hơn khi bắt cóc hay mua bán trẻ em cho bọn người đã trở thành thú vật đi tìm thú ấu dâm rất khốn nạn này ( child prostitution) vì đã gây đau khổ, thương tật cho biết bao trẻ em bị bán cho bọn thú vật này hành hạ thân xác. Đây chính là bộ mặt, là hình ảnh rõ nét nhất của hỏa ngục trên trần gian này hiện nay.
Chưa hết, cũng vì tham tiền mà có những kẻ đã bán rẻ lương tâm để làm tay sai cho ngoại bang, giết hại đồng bào ruột thịt của mình, phản bội chính nghĩa của dân tộc khi ra tay sát hại cách giã man người khác để giúp cho quan thầy ngoại bang thi hành mục đích thống trị theo sách lược thâm độc của chúng..Cụ thể, đó là những tướng tá đã nhận tiền thuê mướn của CIA Mỹ để lật đổ và giết hại rất dã man anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngày 02 tháng 11 năm 1963 ở Saigon, và một số nạn nhân khác với danh nghĩa “cách mạng”.Nhưng thực chất đó chỉ vì lòng tham mê tiền bạc đã đưa họ mù quáng đi vào con đường gian ác, phản bội, tàn nhẫn không hơn không kém.Những kẻ gian ác, phản bội này chắc chắn sẽ không thể ăn ngon, ngủ yên, và vui sống được vì tội ác nung đốt lương tâm, dù đã bị băng hoại của chúng.Nếu ta tin có một Thiên Chúa yêu thương nhưng rất công minh và chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ , thì những kẻ gian ác đó sẽ phải chịu phán xét đích đáng về những việc làm độc ác, dã man của chúng.
Như thế, tiền bạc , mặc dù cần thiết cho con người sống ở trần gian này, nhưng lại là một nguy cơ to lớn cho con người muốn sống lương thiện nói chung và cách riêng cho người tín hữu muốn sống đức tin thực sự vào Chúa Kitô, Đấng đã “chúc phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.” ( Mt 5: 3)
Thật vậy, Tin Mừng của Chúa Kitô đã cho ta biết bao lời khuyên phải tránh cạm bẫy của tiền bạc để được cứu rỗi và vui hưởng hạnh phúc giầu sang, phú quý với Chúa trên Nước Trời.
Trước hết, là câu truyện người thanh niên giầu có trong Phúc Âm Thánh Mac cô. Anh ta đến hỏi Chúa Giêsu xem anh phải làm gì “để được sự sống đời đời làm gia nghiệp”.Anh ta tự khoe đã tuân giữ mọi giới răn của Chúa cách hoàn hảo từ bé.Nhưng có một điều anh còn thiếu và không thể làm được, đó là về bán hết tài sản, lấy tiền cho người nghèo, rồi đi theo Chúa như Chúa Giêsu đã đòi hỏi anh ta.
Trước đòi hỏi này, anh đã buồn rầu bỏ đi, không thể thực hành được vì anh có quá nhiều của cải !( Mc 10 : 17-22)
Như vậy, rõ rệt cho thấy là lòng ham mê tiền của trần thế đã là trở ngại lớn lao nhất cho anh thanh niên kia vào Nước Trời. Vì thế, Chúa Giêsu đã kết luận với các môn đệ như sau :
“ Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn cho người giầu vào Nước Thiên Chúa.” ( Mc 10:17-23; Lc 18: 18-24)
Con lạc đà to lớn như vậy làm sao chui qua được lỗ kím quá nhỏ như thế ? Thật là điều không tưởng, nhưng lại giúp nói lên điều không tưởng lớn lao hơn nữa đó là người giầu có khó có thể vào được Nước Trời. Khó vào được vì có những người giầu đã làm nô lệ cho tiền của đến mức không thể hy sinh được của cải phù vân ở đời này cho hạnh phúc Nước Trời mai sau như trường hợp chàng thanh niên giầu có trên đây.
Chính vì muốn cho các môn dệ xưa và mọi người tín hữu chúng ta ngày nay phải ý thức sâu xa về nguy hại của tiền bạc, của cải vật chất trong khi sống đức tin ở giuwaxntraafngan này mà Chúa Giêsu “ Người vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có.” ( 2 Cr 8: 9),
Chúa đã nên gương nghèo khó cùng cực khi chọn sinh ra trong hang bò, lừa giữa mùa đông lạnh lẽo, khiến phải nhờ hơi ấm của chiên, bò, lừa ngựa, sưởi cho đỡ lạnh trong đêm Người giáng trần.Lớn lên, đi rao giảng Tin Mừng cứu độ, Chúa đã sống lang thang như kẻ vô gia cư, đúng với ý nghĩa câu trả lời của Chúa cho một kinh sư kia ngỏ ý muốn đi theo Người.nói :
“ Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” (Mt 8:20)
Như vậy, Chúa đã thực sự sống khó nghèo từ khi sinh ra cho đến ngày chết trần trụi trên thập giá. Suốt đời sống nghèo khó đến nỗi khi chết cũng không có chỗ để chôn, khiến môn đệ phải mượn ngôi mộ trống của ông Giô-xép cho Chúa nằm tạm 3 ngày chờ sống lại.( Mt 27: 57-60; Ga 19: 41-42)
Như thế ai có thể ngờ vực được gương khó nghèo của Chúa Kitô ???
Người sống và chết khó nghèo để dạy cho tất cả chúng ta, những người muốn đi theo Chúa vào Nước Trời , một điều rất quan trọng là không được tôn thờ hay yêu mến tiền của đến mức làm nô lệ cho nó mà quên mất hay coi nhẹ việc tối quan trọng hơn là phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, phải tìm kiếm sự sang giầu của Nước Trời trên mọi phú quý sang giầu ở đời này. Trên trần gian này, không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ được, cho nên “ anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được.” ( Lc 16: 13) như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa.
Vì nếu làm tôi tiền của thì sẽ dễ trở thành bất lương, độc dữ, gian ác và lãnh cảm trước sự nghèo đói của người khác. những người mà Chúa Kitô đang hiện diện nơi họ để thách đố chúng ta biết cảm thông và chia sẻ cơm áo với những anh chị em kém may mắn đó.
Nói thế không có nghĩa là cứ phải nghèo đói, rách rưới và ốm đau bệnh tật mới được vào Nước Trời. Ngược lại, lo cho mình và cho người thân của mình được có của ăn, áo mặc, có tiền mua thuốc chữa bệnh , có phương tiện di chuyển cần thiết thì lại là điều tốt đẹp phải làm và không có gì nguy hại cho mục đích sống đức tin có Chúa. Chỉ khi nào ham mê tiền của đến mức làm nô lệ cho nó khiến có thể mù quáng làm những việc bất lương, bất công và vô luân để có tiền thì mới là điều đáng chê trách và phải xa tránh mà thôi.
Chính vì giá trị chính đáng của những nhu cầu cần thiết cho con người như của ăn nuôi sác, được khỏe mạnh để làm việc và sống vui ở trần gian này, mà xưa Chúa Giêsu đã làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi hàng ngàn người đi theo Chúa nghe Người giảng dạy và không có của ăn trong ngày. ( Mc 6 : 35-44) . Chúa cũng chữa lành biết bao người bệnh tật, câm điếc, đui mù què, phong cùi và bị quỷ ám để minh chứng Người là Thiên Chúa giầu lòng xót thương và cảm thông nỗi đau khổ của con người và dạy chúng ta phải biết yêu thương, chia sẻ với người khác nghèo khó vật chất hơn mình.
Chúa không lên án những người giầu có chỉ vì họ có nhiều tiền của mà vì họ mê tiền của hơn yêu mến Chúa và hạnh phúc Nước trời. Có tiền của mà biết dùng vào việc bác ái đích thực để chía sẻ với người khác kém may mắn hơn mình những gì mình có thì đó lại là việc tốt đẹp phải làm. Nghĩa là nếu người giầu có biết dùng tiền của để xoa dịu nỗi thống khổ của người nghèo đói, bệnh tật không có tiền chữa trị, hay giúp cho các cô nhi viện, trẻ em khuyết tật , và các nhà truyền giáo có phương tiện vật chất để đi mở mang Nước Chúa thì đã “ mua sắm những túi tiền không bao giờ cũ rách , một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời , nơi trộm cắp không bén bảng , mối mọt cũng không đục phá..” ( Lc 12 : 33).
Đó là sự khôn ngoan biết dùng tiền của chóng qua ở đời này để mua sự sang giầu, phú quí vĩnh viễn trên Nước Trời, như Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa và cho tất cả chúng ta ngày nay.
Đó cũng là thái độ khinh chê, không làm nô lệ cho tiền của mà chúng ta đọc thấy trong Thánh Vịnh 62 :
“ Tiền tài dẫu sinh sôi nảy nở
Lòng chẳng nên gắn bó làm chi.”( Tv 62 : 11)
Chính vì hiểu rõ giá trị của sự sang giầu trên Nước Trời và niềm vui sướng được biết Chúa Kitô hơn mọi lợi lãi vinh quang ở đời này mà Thánh Phaolô đã thốt lên những lời đáng ca ngợi sau đây:
“ Những gì xưa kia tôi coi là có lợi, thì nay , vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Ki Tô-Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết , và tôi coi tất cả như rơm rác để được Đức KiTô.” ( Pl 3: 7-8)
Lời Thánh Phaolô trên đây quả là khuôn vàng thước ngọc cho mọi người tín hữu chúng ta suy nghĩ và noi theo, vì được biết Chúa Kitô nhờ đức tin quả thực là mối lợi lớn lao mà không có bất cứ cái gì, của gì trên trần gian này như tiền bạc, kim cương đá quí hay danh vọng có thể sánh hay đổi chác được. .
Do đó, nếu nhờ Đức Tin, ta nhận biết có Thiên Chúa là chính sự sang giầu và hạnh phúc tuyệt vời nhất thì nhiên hậu, lời mời gọi sẽ là phải yêu mến Chúa và Vương Quốc của Người trên hết mọi sự , nhất là trên tiền bạc và của cải ở trần gian này để không làm nô lệ cho tiền của, hay say mê đi tìm tiền của hơn tha thiết tìm Chúa và hạnh phúc được chiêm ngắm Thánh Nhan Người trên cõi vinh hằng mai sau.
Lời mời gọi này không những chỉ dành cho các tín hữu sống ơn gọi gia đình hay độc thân giữa đời mà còn dành riêng cho các giáo sĩ và tu sĩ là những người được mong đợi sống “cái nghèo của Chúa Kitô” để làm nhân chứng cho Chúa và nêu gương sáng cho người khác. Do đó, người tông đồ của Chúa không nên để lòng dính bén của cải ,tiền bạc ở trần gian này.Cụ thể, . không nên thích tiền để chỉ nhận dâng lễ với bổng lễ cao, đi đồng tế cho đông để nhận phong bì và coi trọng người giầu có, khinh thường người nghèo, chê hay không nhận dâng lễ cho người không có tiền xin lễ hậu hĩ như các người giầu có ! Đó là thực trạng vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi và gây tai tiếng không ít cho ơn gọi và tinh thần phục vụ của người tông đồ ngày nay.Dĩ nhiên, đây không phải là cách sống của đa số người tông đồ của Chúa nhưng dù chỉ là thiểu số nhỏ thì cũng mang tiếng chung cho đa số vì” con xâu làm rầu nồi canh” như tục ngữ Viêt Nam đã nói.
Tóm lại, là Tông đồ lớn nhỏ của Chúa ,tất cả đều được mong đợi sống tinh thần khó nghèo của Phúc Âm để làm chứng cho Chúa Kitô, Người “ vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được trở nên giầu có” như Thánh Phaolô đã dạy ( 2 Cor 8:9)
Nếu giảng sự khó nghèo của Chúa cho người khác mà chính mình lại ham thích tiền của, chậy theo tiền của, thì lời giảng dạy của mình có thuyết phục được ai tin và thực hành không ?
Sự thật thì dễ mất lòng nhưng vẵn cần thiết phải nói ra để “ Ai có tai nghe thì nghe.” Đó là lời Chúa. Giêsu đã nói với các môn đệ xưa. ( Mt 13: 43; Mc 4: 23; Lc 8: 8)
Tóm lại, là người may mắn có đức tin, chúng ta phải quyết tâm sống đức tin cách sâu đậm không những bằng đời sống thiêng liêng mật thiết với Chúa mà còn phải lưu tâm đến những nguy cơ đe dọa đức tin như tội lỗi, gương xấu và cám dỗ của tiền bạc của cải vật chất, là những trở ngại rất lớn cho chúng ta sống đạo đức, lương thiện, công bằng và bác ái như đức tin đòi hỏi.
Đó chính là điều chúng ta cần suy nghĩ và thực hành trong đời sống đức tin của mối người tín hữu chúng ta mỗi ngày trước mặt người đời..Amen.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm. Phanxicô xaviê Ngô Tôn Huấn

-----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 158