mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay887
mod_vvisit_counterHôm Qua9655
mod_vvisit_counterTuần Này54742
mod_vvisit_counterTuần Trước45104
mod_vvisit_counterTháng Này145798
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10650054

We have: 100 guests online
Your IP: 54.162.173.119
 , 
Today: Apr 22, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - HUAN TU DTC -CN5MC-B PDF Print E-mail

HUẤN TỪ TRUYỀN TIN CHÚA NHẬT V MÙA CHAY 18/3/2018

"Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy hướng ánh mắt của chúng ta về tượng chuộc tội, một bức tượng không phải là một thứ đồ vật trang hoàng hay là một thứ điểm trang cho y phục - đôi khi bị lạm dụng! - nhưng là một dấu hiệu đạo giáo để chiếm ngắm và ý thức".

Bài Phúc Âm hôm nay (Gioan 12:20-33) thuật lại môt tình tiết đã xẩy ra vào những ngày cuối cùng của đời sống Chúa Giêsu. Màn cảnh này xẩy ra ở Giêrusalem, nơi Người đến để dự lễ Vượt Qua của người Do Thái.

Một số người Hy Lạp cũng tới cử hành lệ nghi này. Họ là những con người được tác động bởi những cảm thức đạo giáo, được thu hút bởi đức tin của dân Do Thái, và vì nghe nói đến vị đại tiên tri này thì đã đến cùng Philiphê, một trong 12 tông đồ mà nói cùng ngài rằng: "Chúng tôi muốn xin gặp Chúa Giêsu" (câu 21). Thánh Gioan nhấn mạnh đến câu này, chú ý tới động từ gặp, một động từ mà theo ngữ vựng của vị thánh ký này có nghĩa là muốn vượt ra ngoài những gì là hình dáng để nắm bắt được mầu nhiệm về một con người. Động từ "gặp" được thánh ký Gioan sử dụng là để tiến vào sâu cõi lòng, tiến vào sâu con người, ở bên trong con người, bằng chiêm nghiệm và bằng hiểu biết.

Thái độ đáp ứng của Chúa Giêsu có vẻ khác lạ. Người không trả lời là "được" hay "không được" mà lại nói: "Đã đến giờ Con Người được vinh hiển" (câu 23). Những lời này, thoạt tiên như thể Người không chú ý gì tới câu hỏi xin của những người Hy Lạp ấy, thực ra lại đang cống hiến câu trả lời chân thực, vìai muốn biết Chúa Giêsu thì cần phải nhìn vào cái nội tại của thập tự giá, nơi tỏ hiện vinh quang của Người. Nhìn vào nội tại của thập tự giá. Bài Phúc Âm hôm nay mời gọi chúng ta hãy hướng ánh mắt của chúng ta về tượng chuộc tội, một bức tượng không phải là một thứ đồ vật trang hoàng hay là một thứ điểm trang cho y phục - đôi khi bị lạm dụng! - nhưng là một dấu hiệu đạo giáo để chiếm ngắm và ý thức. Nơi hình ảnh Chúa Giêsu tử giá tỏ hiện mầu nhiệm Tử Nạn của Con Thiên Chúa như là một tác động tột đỉnh yêu thương, nguồn mạch sự sống và ơn cứu độ cho nhân loại thuộc mọi thời đại. Chúng ta được các thương tích của Người chữa lành.

Tôi có thể tự hỏi: "Tôi nhìn vào tượng chuộc tội như thế nào? Như là một thứ nghệ thuật xem nó đẹp hay chăng? Hay tôi nhìn vào nội tại của tượng chuộc tội để tiến vào cõi lòng của Người ở nơi những thương tích của Người? Tôi có nhìn vào mầu nhiệm của Vị Thiên Chúa đã hư không hóa bản thân mình nơi cái chết như là một tên nô lệ, như là một tên tử tội hay chăng?" Đừng quên điều này, đó là hãy nhìn vào tượng chuộc tội, nhưng là nhìn vào nội tại của tượng này. Có một việc sùng kính tốt đẹp là đọc một Kinh Lạy Cha cho mỗi một thương tích trong năm dấu thánh: khi chúng ta đọc Kinh Lạy Cha là chúng ta tìm cách tiến vào bên trong của các dấu thánh Chúa Giêsu, bên trong, ngay cõi lòng của Người. Ở đó chúng ta sẽ học được sự khôn ngoan cả thể của mầu nhiệm Chúa Kitô, sự khôn ngoan cả thể về thập tự giá.

Để diễn giải ý nghĩa về Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của mình, Chúa Giêsu đã sử dụng đến một hình ảnh mà rằng: "trừ phi hạt lúa miến rơi xuống đất mục nát đi thì nó vẫn cứ còn nguyên như thế; nhưng nếu nó chết đi thì mới sinh nhiều hoa trái" (câu 24). Người muốn làm sáng tỏ là biến cố tối hậu này của Người - tức là khổ giá, Tử Nạn và Phục Sinh - là một tác động sinh sôi nẩy nở - các thương tích của Người đã chữa lành chúng ta - một thứ sinh sôi nẩy nở muôn vàn hoa trái cho nhiều người. Vậy Người sánh mình với hạt lúa miến, nhờ mục nát đi trong lòng đất, tái sinh sự sống mới. Bằng việc Nhập Thể, Chúa Giêsu đã xuống thế gian, nhưng vẫn chưa đủ. Người cũng cần phải chết để làm giá cứu chuộc con người khỏi cảnh làm nô lệ cho tội lỗi và cống hiến cho họ một sự sống mới được hòa giải trong yêu thương. Tôi nói rằng "để làm giá chuộc con người", thế nhưng Người đã phải trả giá này để cứu chuộc tôi, cứu chuộc anh chị em, cứu chuộc tất cả chúng ta, từng người chúng ta. Đó là mầu nhiệm Chúa Kitô. Nó tiến đến các thương tích của Người, tiến vào, chiêm ngắm, nhìn thấy Chúa Giêsu nhưng từ nội tại.

Cái động chuyển của hạt lúa miến này, được nên trọn nơi Chúa Giêsu, cũng cần phải được thể hiện nơi chúng ta là thành phần môn đệ Người nữa: chúng ta được kêu gọi để chấp nhận thứ luật vượt qua - paschal law trong việc mất sự sống của chúng ta để nhận lại nó một cách mới mẻ và vĩnh viễn. Đâu là ý nghĩa của việc mất sự sống mình? Tức ý nghĩa của hạt lúa miến là gì? Nghĩa là nghĩ ít về chúng ta, về những lợi lộc riêng tư của chúng ta, để nhờ đó có thể "nhìn" và đáp ứng các nhu cầu của tha nhân chúng ta, nhất là thành phần hèn mọn nhất.

Việc hân hoan thực hiện các việc bác ái đối với tất cả những ai đang chịu đau khổ về phần xác và tâm trí là đường lối chân thực nhất để sống Phúc Âm, nó là nền tảng thiết yếu cho các cộng đồng của chúng ta trong việc gia tăng tình huynh đệ và lòng hiếu khách đối với nhau. Tôi muốn thấy Chúa Giêsu, thế nhưng thấy Người tự bên trong. Hãy tiến vào các thương tích của Người mà chiêm ngắm thấy tình yêu thương của trái tim Người đối với anh chị em, cho anh chị em, cho anh chị em, cho tôi, cho tất cả mọi người.

Xin Trinh Nữ Maria, Đấng luôn chiêm ngắm Con của mình, từ máng cỏ Bêlem đến thập giá trên Canvê, giúp chúng ta gặp gỡ và nhận biết Người như Người mong muốn, nhờ đó chúng ta có thể sống rạng ngời bởi Người, và mang lại cho thế gian các hoa trái của công lý và hòa bình.

https://zenit.org/articles/ angelus-address-on-the-need- to-gaze-at-the-crucifix/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề .

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CN5MC- B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 12, 26

Chúa phán: "Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó".

Phúc Âm: Ga 12, 20-33

"Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt".

Khi ấy, trong số những người lên dự lễ, có mấy người Hy-lạp. Họ đến gặp Philipphê quê ở Bêtania, xứ Galilêa, và nói với ông rằng: "Thưa ngài, chúng tôi muốn gặp Ðức Giêsu". Philip-phê đi nói với Anrê, rồi Anrê và Philipphê đến thưa Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đáp: "Ðã đến giờ Con Người được tôn vinh. Quả thật, quả thật, Ta nói với các con: Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình; nhưng nếu nó thối đi, thì nó sinh nhiều bông hạt. Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, và ai ghét sự sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời. Ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, thì kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó. Ai phụng sự Ta, Cha Ta sẽ tôn vinh nó. Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến, và biết nói gì? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này. Nhưng chính vì thế mà Con đã đến trong giờ này. Lạy Cha, xin hãy làm vinh danh Cha". Lúc đó có tiếng từ trời phán: "Ta đã làm vinh danh Ta và Ta còn làm vinh danh Ta nữa". Ðám đông đứng đó nghe thấy và nói đó là tiếng sấm. Kẻ khác lại rằng: "Một thiên thần nói với Ngài". Chúa Giêsu đáp: "Tiếng đó phán ra không phải vì Ta, nhưng vì các ngươi. Chính bây giờ là lúc thế gian bị xét xử, bây giờ là lúc thủ lãnh thế gian bị khai trừ và khi nào Ta chịu đưa lên cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta". Người nói thế để chỉ Người phải chết cách nào.

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI VÀ SỐNG TIN MỪNG John 12: 20-33

Phụng vụ Lời Chúa cho Chúa Nhật V Mùa Chay tiếp tục hướng về Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô theo dự án cứu độ đầy yêu thương của Cha trên trời. Thật vậy, nếu như trong bài Phúc Âm Chúa Nhật III Mùa Chay Năm B, Chúa Giêsu ví mình là đền thờ bị phá nhưng được Người dựng lại nội trong ba ngày, ám chỉ Mầu Nhiệm Vượt Qua, và trong bài Phúc Âm Chúa Nhật IV Mùa Chay Năm B, Chúa Giêsu ví Người như Đấng bị treo lên để ai tin Người sẽ được sự sống, cũng ám chỉ Mầu Nhiệm Vượt Qua, thì trong bài Phúc Âm Chúa Nhật V Mùa Chay tuần này (Gioan 12:20-33) cũng ám chỉ Mầu Nhiệm Vượt Qua, khi Chúa Giêsu ngấm ngầm ví mình như "hạt lúa mì rơi xuống đất... thối đi" bị mục nát đi để nhờ đó "sinh nhiều bông hạt".

Chúa Giêsu quả thưc là "hạt lúa miến rơi xuống đất" nơi mầu Nhiệm Nhập Thể Giáng Sinh của Người, và Người cũng đúng là "hạt lúa miến bị mục nát đi" nơi Mầu Nhiệm Khổ Nạn và Tử Giá của Người, rồi Người còn là hạt lúa miến "sinh nhiều bông hạt" nơi Mầu Nhiệm Phục Sinh của Người. Mầu Nhiệm Vượt Qua này đã được chính Chúa Kitô xác nhận và khẳng định ở cuối bài Phúc Âm hôm nay: "Khi nào Ta chịu đưa lên cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta".

Mầu Nhiệm Vượt Qua này của Chúa Kitô đã được Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô cảm nhận và tuyên xưng trong thư gởi tín hữu Do Thái (5:7-9) như sau: "Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Ðấng có thể cứu Người khỏi chết, và vì lòng thành tín, Người đã được nhậm lời. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người".

Nhờ cuộc phục sinh của Người mà loài người tội lỗi nói chung và dân Chúa nói riêng mới chẳng những được cứu khỏi tội lỗi và sự chết mà còn được sự sống và là sự sống viên mãn nữa, nhờ Thánh Thần được Chúa Kitô thông ban cho các tông đồ từ thân xác phục sinh của Người sau khi Người sống lại từ trong kẻ chết.

Đó là lý do, trong bài đọc 1, trích từ Sách Tiên Tri Giêrêmia (31:31-34), "Chúa phán: 'Ðây là giao ước Ta sẽ ký kết với nhà Israel sau những ngày đó. Ta sẽ đặt lề luật của Ta trong đáy lòng chúng, và sẽ ghi trong tâm hồn chúng; Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân của Ta'", một thứ giao ước mới tràn đầy sự sống và Thần Linh: "Người này sẽ không còn phải dạy người nọ, anh sẽ không còn phải dạy em rằng: 'Ngươi hãy nhìn biết Chúa', vì mọi người từ nhỏ chí lớn đều nhìn biết Ta", chứ không phải như giao ước cũ, giao ước "sau những ngày đó" - "giao ước Ta đã ký kết với tổ phụ của chúng trong ngày Ta cầm tay chúng dắt ra khỏi đất Ai-cập; giao ước ấy chính chúng đã phản bội, mặc dầu Ta thống trị chúng".

Trong Bài Phúc Âm hôm nay có một câu Chúa Giêsu nói có vẻ khó hiểu và mâu thuẫn, đó là câu: "Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này. Nhưng chính vì thế mà Con đã đến trong giờ này. Lạy Cha, xin hãy làm vinh danh Cha". Phải chăng câu than lên cùng Cha của mình này của Chúa Giêsu là câu sẽ được Người lập lại trong Vườn Cây Dầu vào Đêm Thứ Năm Tuần Thánh: "Cha ơi, Cha có quyền thực hiện tất cả mọi sự. Xin hãy cất chén này khỏi Con. Nhưng xin cứ ý Cha hơn là ý của Con" (Marco 14:36). Ở Vườn Nhiệt thì Người không được Cha hồi đáp, vì Cha Ngài đã lên tiếng hồi đáp rồi, trong lần Người đang ở giữa dân chúng, bao gồm cả thành phần dân ngoại Hy Lạp muốn gặp Người trong Bài Phúc Âm hôm nay: "Lúc đó có tiếng từ trời phán: 'Ta đã làm vinh danh Ta và Ta còn làm vinh danh Ta nữa'".

Cha Người "đã làm vinh danh" Ngài thế nào hay ở chỗ nào, và "còn làm vinh danh" Ngài ra sao nữa, nếu không phải, trước hết, Ngài "đã làm vinh danh" Ngài trong thời Cựu Ước, qua "giao ước Ta đã ký kết với tổ phụ của chúng trong ngày Ta cầm tay chúng dắt ra khỏi đất Ai-cập" (Bài Đọc 1), nghĩa là Ngài đã trung thực với những gì Ngài tự động hứa với tổ phụ của dân Do Thái, bất chấp "chính chúng đã phản bội, mặc dầu Ta thống trị chúng", xứng với danh xưng "Ta là Ta / Ta là Đấng Có" mà Ngài đã tỏ cho Moisen biết ở bụi gai bốc cháy mà không bị thiêu rụi (xem Xuất Hành 3:14).

Sau nữa, Ngài "còn làm vinh danh" Ngài nữa, ở giao ước mới, "giao ước Ta sẽ ký kết với nhà Israel sau những ngày đó. Ta sẽ đặt lề luật của Ta trong đáy lòng chúng, và sẽ ghi trong tâm hồn chúng; Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân của Ta" (Bài Đọc 1), khi Ngài tuôn đổ Thánh Linh của Ngài xuống trên họ, qua Chúa Kitô Vượt Qua Con Ngài, và nhờ Thánh Linh của Ngài mà họ, tự mình không thể nhận biết Ngài và liên lỉ phản bội Ngài, có thể "mọi người từ nhỏ chí lớn đều nhìn biết Ta" (Bài Đọc 1). Thực tế cho thấy cho đến nay dân Do Thái vẫn chưa nhận biết Ngài nơi Đức Kitô Thiên Sai Cứu Thế Con Ngài. Thế nhưng, tự mình, Ngài đã tôn vinh Ngài bằng cách tỏ hết mình ra nơi Người Con Vượt Qua của Ngài, Người Con trong Bài Phúc Âm hôm nay tuyên bố "đã đến giờ Con Người được tôn vinh", được Cha là Đấng đã sai Người tôn vinh trên cây thập tự giá để Người có thể tỏ hết mình ra "là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), nhờ đó Cha của Người được nhận biết là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, là tình yêu vô cùng nhân hậu "cho những ai tín phục Người" (Bài Đọc 2).

Đúng thế, Ngài đã làm vinh danh Ngài ở chỗ Ngài đã hoàn toàn được toại nguyện nơi tất cả những gì Con Ngài làm trên trần gian này, Người Con mà Ngài đã hai lần lên tiếng là đẹp lòng Ngài, lần đầu khi Con Ngài chịu phép rửa ở Sông Jordan (xem Marco 1:11) và lần sau khi Con Ngài biết hình trên núi cao (xem Marco 9:7), và Ngài sẽ còn làm vinh danh Ngài nữa ở chỗ Con Ngài chấp nhận uống chén của Ngài, bằng cuộc khổ nạn và tử giá, bởi vì nhờ Con của Ngài mà Ngài có thể tỏ hết bản tính là Tình Yêu vô cùng nhân hậu của Ngài ra cho nhân loại khốn nạn tội lỗi đáng thương, một tình yêu toàn năng mạnh hơn tội lỗi và sự chết, được thể hiện qua việc Ngài làm cho Chúa Kitô Con Ngài bị tay loài người sát hại phục sinh vinh hiển.

Thế nhưng, ơn cứu độ của Thiên Chúa thực hiện theo nguyên tắc cho chung tất cả mọi người nhưng trên thực tế chỉ "cho tất cả những kẻ tùng phục Người" mà thôi. Đó là lý do trong bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu mới nói với dân chúng về tiếng Cha của Người vang ra từ trời rằng: "Tiếng đó phán ra không phải vì Ta, nhưng vì các ngươi. Chính bây giờ là lúc thế gian bị xét xử, bây giờ là lúc thủ lãnh thế gian bị khai trừ và khi nào Ta chịu đưa lên cao khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi người lên cùng Ta", nghĩa là làm cho "mọi người" nhận biết Người để được cứu độ, đúng như Thánh Phaolô xác tín và tuyên bố trong bài đọc 2: "Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người", tức là không cho những "ai yêu sự sống mình" mà là những "ai ghét sự sống mình ở đời này", như Chúa Giêsu khẳng định và cảnh báo trong bài Phúc Âm hôm nay.

Bởi thế mà bài đáp ca, được trích từ Thánh Vịnh 50, Thánh Vịnh Thống Hối (3-4,12-13,14-15), mới vang lên ở câu đáp như là chính tâm nguyện mà Kitô hữu chúng ta cần dâng lên Chúa trong Chúa Nhật Thư 5 Mùa Chay là: "Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch", nhờ đó, Chúa sẽ không "loại con khỏi thiên nhan Chúa" và "thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con" để "ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ".

1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác.

2) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.

3) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY-CN4MC-B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26 -

Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời".

Phúc Âm: Ga 7, 40-53

"Ðấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao?"

Khi ấy, sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói rằng: "Ông này thật là tiên tri". Kẻ khác nói: "Ông này thật là Ðấng Kitô". Người khác nữa lại nói: "Ðấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem, quê hương của Ðavit?" Vì thế, dân chúng bất đồng ý kiến với nhau về Người. Trong số đó, có một ít kẻ định bắt Người, nhưng không ai dám ra tay bắt Người. Vậy khi những người thừa hành đến với thượng tế và biệt phái, các ông này hỏi họ rằng: "Tại sao các ngươi không điệu nó tới?" Các người thừa hành thưa rằng: "Chẳng hề có ai nói như người ấy". Các người biệt phái trả lời rằng: "Chớ thì các ngươi cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong các vị thủ lãnh và các người biệt phái, có ai tin nó đâu? Chỉ có lũ khốn nạn đó nó không biết gì lề luật". Nicôđêmô là người đã tới gặp Chúa Giêsu ban đêm, cũng là người trong nhóm họ, nói với họ rằng: "Chớ thì luật của chúng ta có lên án cho ai mà không nghe họ, hoặc không biết rõ họ làm gì không?" Nhưng họ trả lời rằng: "Hay ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có tiên tri nào phát xuất từ Galilêa". Sau đó ai về nhà nấy.

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy niệm-SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống Ẩn Hiện

Hôm nay, Thứ Bảy, ngày cuối cùng của Tuần IV Mùa Chay, bài Phúc Âm hôm nay không hề có sự hiện diện chính thức của Chúa Giêsu một tí nào. Thế nhưng dù không có lời nào Người phán hay việc nào Người làm, mà Người lại nổi bật hơn bao giờ hết, giữa tình trạng chia rẽ trầm trọng nơi cả dân chúng cũng như thành phần lãnh đạo, và giữa thành phần lãnh đạo với thành phần thừa hành. Đó là chứng cớ cho thấy tầm ảnh hưởng quá ấn tượng của Người.

Trước hết, thành phần dân chúng đã chia rẽ nhau về Người như sau: "Khi ấy, sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói rằng: 'Ông này thật là tiên tri'. Kẻ khác nói: 'Ông này thật là Ðấng Kitô'. Người khác nữa lại nói: 'Đấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem, quê hương của Ðavit?' Vì thế, dân chúng bất đồng ý kiến với nhau về Người".

Sau nữa, giữa thành phần lãnh đạo với thành phần thừa hành: "Trong số đó, có một ít kẻ định bắt Người, nhưng không ai dám ra tay bắt Người. Vậy khi những người thừa hành đến với thượng tế và biệt phái, các ông này hỏi họ rằng: 'Tại sao các ngươi không điệu nó tới?' Các người thừa hành thưa rằng: 'Chẳng hề có ai nói như người ấy'. Các người biệt phái trả lời rằng: 'Chớ thì các ngươi cũng bị mê hoặc rồi sao? Trong các vị thủ lãnh và các người biệt phái, có ai tin nó đâu? Chỉ có lũ khốn nạn đó nó không biết gì lề luật'".

Sau hết, giữa chính nội bộ lãnh đạo với nhau: "Nicôđêmô là người đã tới gặp Chúa Giêsu ban đêm, cũng là người trong nhóm họ, nói với họ rằng: 'Chớ thì luật của chúng ta có lên án cho ai mà không nghe họ, hoặc không biết rõ họ làm gì không?' Nhưng họ trả lời rằng: 'Hay ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có tiên tri nào phát xuất từ Galilêa' Sau đó ai về nhà nấy".

Tình trạng chia rẽ này, cho dù giữa dân chúng với nhau hay giữa nội bộ lãnh đạo với nhau, đều giống nhau và qui tụ lại ở chỗ cả hai thành phần này cùng căn cứ vào xuất xứ của nhân vật Giêsu Nazarét là từ Galilêa chứ không phải từ Giuđêa để suy diễn và quyết đoán về Người có thực sự là tiên tri hay chăng, hoặc là đấng thiên sai hay chăng?

Dân chúng: "Đấng Kitô xuất thân từ Galilêa sao? Nào Kinh Thánh chẳng nói: Ðấng Kitô xuất thân bởi dòng dõi Ðavit, và từ làng Bêlem, quê hương của Ðavit?"; Lãnh đạo: "Hay ông cũng là người Galilêa? Hãy đọc kỹ Kinh Thánh, ông sẽ thấy rằng không có tiên tri nào phát xuất từ Galilêa".

Đó là về phía thành phần không chấp nhận Người. Còn về thành phần chấp nhận Người thì họ lại căn cứ vào cảm nhận tự nhiên của họ, đúng hơn, căn cứ vào chính những gì Người nói mà họ cảm nhận được Người là ai, đúng như Người chứng thực về Người, rất đáng khả tín, rất đáng chấp nhận.

Trong khi chung dân chúng: "sau khi nghe Chúa Giêsu giảng, có nhiều người trong đám dân chúng nói rằng: 'Ông này thật là tiên tri'. Kẻ khác nói: 'Ông này thật là Ðấng Kitô'", thì thành phần thừa hành của các vị trong giáo quyền cũng cảm thấy có một cái gì đó đặc biệt nơi Người: "Chẳng hề có ai nói như người ấy".

Đến đây và ở trong trường hợp của bài Phúc Âm hôm nay chúng ta mới thấy thật sự và hoàn toàn ứng nghiệm lời tiên tri của tư tế Simeon là vị đã ẵm hài nhi Giêsu trên tay lúc bé mới được 40 ngày mà nói: "Con Trẻ này sẽ trở thành cớ cho nhiều người trong Israel vấp ngã hay chỗi dậy, trở thành một dấu hiệu đối chọi" (Luca 2:34).

Chính Chúa Kitô cũng cho dân Do Thái biết bản thân Người là cả một mầu nhiệm vô cùng cao cả và thần linh, tự mình họ không thể nào thấu biết, cho dù Người không giấu diếm họ một chút nào, trái lại đã nhiều lần và nhiều cách tỏ mình ra cho họ biết tất cả sự thật về Người, theo kiểu cách loài người, đến độ, cả thành phần môn đệ thân tín của Người cũng thế, cũng không hơn gì dân chúng và thành phần lãnh đạo dân chúng, như chính Người đã quả quyết với các vị như đã quả quyết với chung dân Do Thái rằng:

"Các con ơi, Thày không còn ở với các con bao lâu nữa. Các con sẽ tìm kiếm Thày, nhưng này Thày nói với các con những gì Thày đã từng nói với người Do Thái đó là 'nơi Tôi đi quí vị không thể nào đến được'" (Gioan 13:33; 7:33-34).

Thậm chí, Người còn báo trước cho chung dân Do Thái và riêng thành phần lãnh đạo của họ biết rằng: "Quí vị sẽ tìm Tôi nhưng quí vị sẽ chết trong tội lỗi của quí vị" (Gioan 8:21), và quả thực đã xẩy ra hoàn toàn đúng như vậy, trong Tuần Thánh. Ở chỗ, chẳng những cả một Hội Đồng Đầu Mục Do Thái đã đồng thanh lên án tử cho Người ngay khi Người chân nhận mình là Đấng Thiên Sai như họ nhân danh Thiên Chúa hỏi Người, mà còn cả một tông đồ đoàn bỏ chạy, một tông đồ Giuđa phản nộp Thày mình và nhất là một lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô chối bỏ Thày mình ...

Tuy nhiên, không phải vì thế, không phải thấy trước một tương lai đen tối như thế mà Người, Đấng Thiên Sai đích thực của Thiên Chúa cảm thấy sợ hãi và toan tính bỏ chạy. Trái lại, biết vai trò chủ chiên của mình, một "chủ chiên nhân lành thí mạng sống mình vì chiên... cho chiên được sự sống và là sự sống viên mãn" (Gioan 10:11,10) mà Người đã tuyên bố và tiên báo: "Tôi tự ý bỏ mạng sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17).

Qua miệng tiên tri Giêrêmia ở Bài Đọc 1 hôm nay, chính Người đã chấp nhận thân phận thiên sai cứu thế đầy bất hạnh và vô cùng khốn nạn của mình một cách ngoan ngoãn như con chiên bị đem đi giết như sau:

"Lạy Chúa, Chúa đã tỏ cho con và con đã biết; vì Chúa đã chỉ cho con những mưu toan của chúng. Còn con, con như chiên con hiền lành bị đem đi giết. Con đã không biết chúng mưu toan hại con khi chúng nói: 'Chúng ta hãy bỏ cây vào bánh của nó, chúng ta hãy diệt trừ nó khỏi đất kẻ sống, và người ta không còn nhớ đến tên nó nữa'".

Thế nhưng, mục đích Người "tự ý bỏ sự sống mình đi" là "để lấy lại", chứ không phải để bị hủy diệt đời đời. Bởi thế, cũng qua miệng tiên tri Giêrêmia trong Bài Đọc 1 hôm nay, Người đã an tâm chấp nhận mọi sự theo ý Đấng đã sai Người: "Nhưng lạy Chúa các đạo binh, Chúa xét xử công minh, và dò xét tâm can. Chớ gì con sẽ thấy Chúa báo thù chúng, vì con đã phó thác việc con cho Chúa", Đấng đã có cách để "báo thù" một cách kỳ diệu ngoài sức tưởng tưởng của họ.

Đúng thế, cách "báo thù" của Thiên Chúa bao giờ cũng là lấy lành mà thắng dữ, lấy thiện mà báo ác, hay đúng hơn biến ác thành lành, một đường lối siêu việt đến độ thế gian không thể nào hiểu được, chứ đừng nói làm được, mà chỉ bàng hoàng ngỡ ngàng khi thấy chính mưu đồ đầy gian ác, hết sức khôn ngoan và hoàn toàn tự do của mình lại trở thành phương tiện và cơ hội để Thiên Chúa thực hiện tất cả những gì Ngài muốn, theo đúng dự án thần linh của Ngài: "Viên đá bị thợ xây loại bỏ đã trở thành viên đá gốc" (Thánh Vịnh 118:22; Mathêu 21:42; Tông Vụ 4:11).

Bài Đáp Ca hôm nay hoàn toàn phản ảnh nội dung của Bài Đọc 1 cùng ngày, chất chứa tâm tình của một con người hoàn toàn tin tưởng phó thác vào Vị Thiên Chúa của mình, để Ngài muốn làm gì thì làm nơi mình cho ý muốn tối thượng của Ngài được nên trọn:

1) Lạy Chúa là Thiên Chúa con, con đến nương nhờ Ngài, xin cứu con khỏi mọi người đang lùng bắt, và xin giải thoát thân con, kẻo có người như sư tử chộp bắt hồn con, xé nát ra mà không ai cứu gỡ.

2) Xin minh xét cho con, thân lạy Chúa, theo sự công chính và vô tội ở nơi con. Nguyện cho chấm dứt sự độc dữ kẻ ác nhân, và xin Ngài củng cố người hiền đức, khi Ngài lục soát tâm can, ôi Chúa công minh.

3) Thuẫn che thân con là Thiên Chúa, Ðấng cứu độ những kẻ lòng ngay. Thiên Chúa là vị công minh thẩm phán, và Thiên Chúa hăm doạ hằng ngày.

Nếu theo dõi kỹ, kể từ Thứ Tư Tuần 4 Mùa Chay, chúng ta thấy Chúa Giêsu càng tỏ mình ra càng bị dân Do Thái nói chung và thành phần có thẩm quyền nói riêng chống đối, hay nói ngược lại, dân Do Thái càng tìm biết Người, thì Người càng được dịp tỏ mình ra cho họ, nhưng lại càng khiến họ bị chói lòa đến mù quáng đến độ sát hại Người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO- DEM TRO NGUOI CHET RẢI... PDF Print E-mail

NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ NÊN ĐEM TRO NGƯỜI CHẾT TRẢI RA NGOÀI SÔNG,HỒ, BIỂN HAY KHÔNG?
Hỏi: xin cha giải đáp các thắc mắc sau :
1- Hiên nay ở khắp nơi , nhiều người đã chọn thiêu xác kẻ chết, thay vì chôn cất ngoài nghĩa trang như truyền thống xưa nay,.Như vậy người Công giáo có được đem tro người chết trải ra ngoài sông, hồ hay biển như người khác đang làm được không?
2- Khi rước Lễ, giáo dân có thể được lựa chọn để chỉ rước một hình thức là Mình Thánh hay Máu Thánh được không?
3- Các tu sĩ nam hay nữ có được phép rửa tội và chứng hôn không?
Trả lời:
1-Có nên bỏ tro người chết xuống hồ, sông hay biển không ?
Trước hết, phải nói lại một lần nữa là việc chôn xác kẻ chết là một việc đạo đức được khuyến khích và tôn trọng từ xưa đến nay trong Giáo Hội và trong mọi nền văn hóa nhân loại. Riêng trong Giáo Hội Công Giáo, việc đạo đức này được đặc biệt tôn trọng vì niềm tin " xác loài người ngày sau sống lại" (Kinh Tin Kính), cho nên phải được chôn cất cho xứng đáng với niềm tin này.Vì thế, ở khắp nơi trong Giáo Hội đều có các nghĩa trang được làm phép để chôn người chết cho con cháu, thân nhân đến viếng thăm quanh năm , và đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11 dương lịch). Ai viếng thăm nghĩa trang và cầu cho các linh hồn mà xác đang còn nằm ở đây thì được ân đại xá nhưng phải nhường lại ân huệ này cho các linh hồn thân nhân hay các linh hồn khác có xác đang nằm trong nghĩa trang. Đây là việc đạo đức mà các tín hữu được khuyến khích siêng năng làm để cầu cho các linh hồn còn đang được thanh tẩy trong nơi Luyện tội ( Purgatory)
Trước đây, có thời Giáo Hội đã cấm thiêu xác người chết ( cremation) vì có bè rối ( heretics) kia chủ trương đốt xác kẻ chết để thách đố Giáo Hội xem còn lấy gì để tin xác kẻ chết sẽ sống lại như Giáo Hội dạy.Vì thế Giáo Hội căm thiêu xác kẻ chết để khỏi mắc mưu bè rối này.
Nhưng sau này bè rối đó đã tan. nên từ sau Công Đông Vaticanô II ( 1962-65) đến nay, Giáo Hội lại cho phép đốt xác người chết nhưng phải tin rằng dù xác chết tan trong lòng đất hay tan thành tro bụi khi đem thiêu, thì vẫn được quyền năng của Thiên Chúa cho sống lại hiệp cùng linh hồn để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc Thiên Đàng hay bị phạt trong nơi gọi là hỏa ngục.( hell) trong ngày cánh chung.( . Mt 25 : 31-46)
Giáo Lý và giáo luật của Giáo Hội đều dạy phải tôn kính thi hài của người quá cố được an táng trong nghĩa trang Công giáo để chờ ngày sống lại.
Nếu chọn hỏa táng ( cremation) thì việc này không được làm trái với niềm tin của Giáo Hội về sự sống lại của kẻ chết. ( giáo luật số 1176; SGLGHCG số 1684- 1690). Nghĩa là phải tin rằng dù xác kẻ chết đã ra tro bụi, thì vẫn được sống lại cùng với linh hồn trong ngay sau hết như đã nói ở trên. Vì thế, tro của người hỏa táng cũng phải được tôn kính như xác chôn ngoài nghĩa địa. Nghĩa là phải cất giữ tro này ở nơi xứng đáng, ở trong nhà thờ nào có nhận cất giữ tro của người hỏa táng. Nghĩa là không được phép mang tro này ra trải ngoài sông, ao hồ hay biển cả, như những người không có niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết đang làm. Vì không tin, nên họ đã trải tro của thân nhân họ ra sông , hồ hay biển cả , vì cho rằng con người là hư không, chết là hết, nên thả tro ra sông, biển để nói lên sự hư không này của thân phận con người.
Ngược lại, vì người Công Giáo tin xác loài người sẽ sống lại, nên xác chết phải được giữ gìn trong nghĩa trang hay trong các hộp tro để cho con cháu, thân nhân viếng thăm và cầu nguyện. Vậy nếu đem tro của người chết trải ra ngoài sông, biển thì lấy đâu ra nơi cụ thể để viếng thăm đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn. Nghiêm trọng hơn nữa là nếu đem trải tro người chết ra sông, hay biển thì vô tình chia sẻ niềm tin của những người không tin có sự sống lại của thân xác hay sao ?
2- Có được phép chỉ rước Mình hay Máu Thánh Chúa Kitô trong Thánh lễ ?
Từ xa xưa, việc rước Lễ của giáo dân chỉ trong giới hạn rước Mình Thánh Chúa mà thôi, vì Giáo Hội dạy rằng Chúa Kitô hiện diện trọn vẹn trong hình bánh,và chỉ có linh mục cử hành Thánh lễ được rước cả hai Mình và Máu Thánh Chúa.
Nay vì muốn diễn tả cách trọn vẹn ý nghĩa Thánh Lễ, về một phương diện, là bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với 12 Tông Đồ. Trong Bữa Ăn lịch sử này, Chúa đã lập Bi tích Thánh Thể khi biến bánh và rượu thành Mình Máu Người cho các Tông Đồ ăn và uống lần đầu tiên.Vì thế , ngày nay Giáo Hội cho phép giáo dân được rước cả hai hình thức Thánh Thể là bánh và rượu đã được truyền phép ( consecrated) trong Thánh Lễ. Nhưng ở các Giáo Hội địa phương ( Giáo phận) các Giám mục vẫn có toàn quyền để cho phép rước Thánh thể cả hai hình thức hay một hình thức như cũ..
Tuy nhiên, ở nơi nào cho rước cả hai hình thức Thánh Thể, thì giáo dân, hoặc chọn rước cả hai hay chỉ một Mình Thánh mà thôi. Nghĩa là không được chọn rước một hình thức là Máu Thánh mà không rước Mình Thánh. Nói rõ hơn , rước một Mình Thánh thì được , nhưng không được phép chỉ rước Máu Thánh không thôi.
Tuy nhiên, trong trường hợp một bệnh nhân không thể rước Mình Thánh vì không nuốt được chất đặc nào qua miệng, thì có thể chỉ cần rước Máu Thánh là đủ.
Riêng hàng tư tế , tức linh mục và Giám mục, thì buộc phải rước cả hai hình thức Thánh Thể khi chủ tế hay đồng tế Thánh Lễ.
3- Tu Sĩ có được phép rửa tội, sức dầu và chứng hôn không ?
Trước khi trả lời câu hỏi này, cần phân biệt như sau:
Tu sĩ ( religious) là những người có ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh ( chastity) và vâng phục trong một Tu Hội hay Nhà Dòng được thành lập đúng theo giáo luật.
Giáo sĩ ( clerics) là những người có chức thánh như Phó tế, Linh mục và Giám mục. Giáo sĩ chỉ có hai lời khấn là khiết tịnh ( độc thân) và vâng phục mà thôi. Giáo sĩ không phải là Tu sĩ. Nhưng nam tu sĩ có thể trở thành giáo sĩ nếu có các chức thánh nói trên, mặc dù vẫn thuộc hàng tu sĩ, vì có ba lời khấn trong Tu Hội hay Nhà Dòng liên hệ. Giáo sĩ thì thuộc về một địa phận dưới quyền của một Giám mục, và được gọi là các linh mục triều ( diocesan priests), trong khi các tu sĩ linh mục thì được gọi là các linh mục Dòng ( religious priests),
Liên quan đến câu hỏi đặt ra, nếu chỉ là Tu sĩ ( religious ) )có lời khấn Dòng mà không có chức Phó tế, Linh mục hay giám mục, thì không ai được phép cử hành bất cứ bí tích nào. Phải nói rõ điều này vì ở một địa phương kia, có cha xứ đã cho một nữ tu rửa tội cho trẻ em ở nhà thờ trước sự chứng kiến của cha xứ ! và cả hai đã bị bề trên liên hệ khiển trách nặng, vì đã làm việc hoàn toàn sai trái về kỷ luật bí tích của Giáo Hội.
Nhưng nếu Tu sĩ cũng là giáo sĩ ( nam tu sĩ), nghĩa là có chức Phó tế, Linh mục hay Giám mục thì vẫn có năng quyền để cử hành các bí tích như mọi giáo sĩ. Dĩ nhiên, linh mục Triều hay Dòng, muốn làm mục vụ trong giáo hội địa phương ( giáo phận), thì phải có phép của Đấng bản quyền địa phương, nghĩa là phải xin năng quyền ( faculties) của Tòa Giám mục.
Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử,khi không tìm được Phó tế hay linh mục, thì tu sĩ ( nam nữ) hay giáo dân đều được phép rửa tội ở bất cứ nơi nào, nhưng phải theo đúng công thức của Giáo Hội, nghĩa là phải có nước và đọc công thức Chúa Ba Ngôi.
Cũng vậy, trong trường hợp khẩn cấp nguy tử, thì tu sĩ và giáo dân cũng được phép chứng hôn., với hai người làm chứng ( witness)
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU NAM CN4 MC -B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ed 33, 11 - THỨ NĂM CN4MC-B

Chúa phán: "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống".

Phúc Âm: Ga 5, 31-47

"Có người tố cáo các ngươi, đó là Môsê, người mà các ngươi vẫn tin tưởng"..

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với dân Do-thái rằng: "Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực. Có một Ðấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực. Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát. Gioan là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian. Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta. Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Ðấng Người đã sai đến. Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống.

Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được? Các ngươi đừng tưởng rằng Ta sẽ tố cáo các ngươi với Chúa Cha. Kẻ tố cáo các ngươi là Môsê, tức là người mà các ngươi vẫn tin tưởng. Vì nếu các ngươi tin Môsê, thì có lẽ các ngươi cũng đã tin Ta, bởi vì chính Môsê đã viết về Ta. Nhưng mà nếu các ngươi không tin điều Môsê đã viết, thì làm sao các ngươi tin lời Ta được?"

Ðó là lời Chúa.

HOC HOI-SUY NIỆM -SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống chứng thực

Thứ Năm trong Tuần IV Mùa Chay hôm nay, phụng vụ lời Chúa bề ngoài có vẻ liên quan đến hiện tượng hay khuynh hướng ngẫu tượng nơi dân Do Thái, cả Cựu Ước lẫn vào thời Chúa Kitô, nhưng sâu xa liên quan đến mạc khải thần linh của Thiên Chúa, một mạc khải thần linh đã đạt đến tột đỉnh ở nơi bản thân của Chúa Giêsu Kitô, nhưng lại là một mạc khải thần linh bị chính dân Người chống đối và trù dập.

Ở ngay đầu đoạn cuối của bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã công khai và thẳng thắn cho chung dân Do Thái đang tụ tập lại nghe Người bấy giờ biết chính vì cái khuynh hướng trần tục của họ đã trở thành lý do tại sao họ không thể nào có thể chấp nhận được chứng từ chân thực của Người về Người:

"Ta không tìm vinh quang nơi loài người. Nhưng Ta biết các ngươi không có lòng yêu mến Thiên Chúa. Ta đến nhân danh Chúa Cha, nhưng các ngươi không chịu đón nhận. Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó. Các ngươi là những người nhận vinh quang lẫn nhau mà không tìm vinh quang do một Thiên Chúa, thì làm sao các ngươi có thể tin được?"

Khi khẳng định với dân Do Thái về họ bấy giờ rằng "Nếu có một người nào khác nhân danh mình mà đến, các ngươi sẽ đón nhận nó", Chúa Giêsu đã đánh trúng tim đen của họ, đã tấn công vào ngay nhược điểm của họ. Ở chỗ, họ đang mong một đấng thiên sai về chính trị để có thể giải cứu họ khỏi quyền lực của đế quốc Roma, mà ai có thể thực hiện được việc giải phóng này thì họ sẽ tin phục, hoan hô và theo đuổi, chẳng cần biết người anh hùng dân tộc đó có thực sự được Thiên Chúa sai đến hay chăng, có thể thắng được đế quốc Roma hay chăng...

Phần Chúa Giêsu, vì "không tìm vinh quang nơi loài người" mà Người không thể nào có những hành động mị dân để được họ hoan hô ủng hộ, để thu hút lòng mộ mến của họ, trái lại, Người nói tất cả sự thật về bản thân cũng như về nguồn gốc thần linh của Người, vì như Người tuyên bố với họ chỉ có chân lý mới giải thoát được họ thôi (xem Gioan 8:32), chứ không phải quyền lực chính trị nào hết, bởi họ cần phải được giải thoát trước hết và trên hết cho khỏi tội lỗi và sự chết liên quan đến phần rỗi đời đời của họ, chứ không phải được giải thoát khỏi một thứ quyền lực thế gian chỉ là những gì tiêu biểu như hình bóng cho thứ quyền lực tối tăm chết chóc của hỏa ngục.

Đó là lý do, trong bài Phúc Âm hôm nay, chứng từ của Chúa Giêsu về bản thân của Người không phải từ chứng cớ riêng của Người: "Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực", mà là từ một thẩm quyền cao hơn Người: "Có một Ðấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực".

Và Người chỉ trưng dẫn những chứng cớ về Người mà Người thấy rằng hoàn toàn "xác thực" nơi bản thân Người, những chứng cớ được thẩm quyền cao hơn Người đã sử dụng để chứng thực về Người, hiển nhiên nhất ở trong biến cố Người biến hình trên núi cao: "Đây là Con của Ta, người Ta đã tuyển chọn; hãy lắng nghe Người" (Luca 9:35).

Chính Người cũng đã căn cứ vào 3 chứng cớ đã được thẩm quyển sai Người sử dụng để chứng thực về Người, trước hết là chứng cớ liên quan đến loài người, sau nữa, nhất là chứng cớ liên quan đến chính Thiên Chúa cùng với mạc khải của Ngài, và sau cùng là chứng cớ liên quan đến mạc khải thần linh trong Thánh Kinh.

Trước hết là chứng cớ liên quan đến loài người: "Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật. Phần Ta, Ta không cần chứng của loài người, nhưng Ta nói những điều này để các ngươi được cứu thoát. Gioan là cây đèn cháy sáng. Các ngươi cũng muốn vui hưởng ánh sáng đó một thời gian".

Sau nữa là chứng cớ liên quan đến chính Thiên Chúa: "Nhưng Ta có một bằng chứng hơn chứng của Gioan: vì công việc Chúa Cha đã giao cho Ta hoàn thành, là chính công việc Ta đang làm. Các việc đó làm chứng về Ta rằng Chúa Cha đã sai Ta. Và Chúa Cha, Ðấng đã sai Ta, chính Người cũng làm chứng về Ta".

Sau hết là chứng cớ liên quan đến mạc khải thần linh của Thiên Chúa, tức liên quan đến Thánh Kinh là những gì chân thực không sai lầm mà họ cần phải tin theo: "Nhưng chưa bao giờ các ngươi được nghe tiếng Người, chưa bao giờ nhìn thấy mặt Người, và lời Người, các ngươi cũng chẳng giữ lại được, vì các ngươi không tin Ðấng Người đã sai đến. Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống".

Cho dù Chúa Giêsu có chứng thực về mình bằng 3 nguồn chứng rõ ràng bất khả thiếu ấy, dân Do Thái nói chung vẫn không chịu chấp nhận Người, bởi khuynh hướng và tinh thần trần tục của họ, như đã đề cập đến trên đây, chẳng những vì họ "không có lòng yêu mến Thiên Chúa... không tìm vinh quang do một Thiên Chúa", trái lại, họ chỉ theo đuổi tìm kiếm "vinh quang lẫn nhau".

Tinh thần và khuynh hướng trần tục này của họ chẳng khác gì của dân ngoại là thành phần vẫn bị họ khinh bỉ là thứ đồ nhơ nhớp tội lỗi, trong khi họ cũng chẳng hơn gì dân ngoại, thậm chí còn tệ hơn cả dân ngoại nữa, vì họ được Thiên Chúa ở cùng họ, liên lỉ tỏ mình ra cho họ, ban lề luật thánh của Ngài để dẫn dắt họ, nhờ đó họ sống xứng với phẩm vị con người và ơn gọi trở thành một dân tộc thánh hảo của Ngài giữa muôn dân nước, thế mà họ vẫn tôn thờ tà thần ngẫu tượng như dân ngoại, chứ đâu có khá hơn dân ngoại.

Không phải hay sao, lịch sử cứu độ của họ đã cho thấy dân Do Thái còn sống tệ hơn cả dân ngoại nữa, trong khi dân ngoại chẳng được diễm phúc biết đến mạc khải thần linh và cũng chẳng được ban cho lề luật thánh hảo nên tôn thờ tà thần là phải, còn dân Do Thái thì lại biến Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất từng tỏ mình ra cho họ, nhất là ở cuộc vượt qua của họ từ đất nước Ai Cập băng qua Biển Đỏ mà vào sa mạc, thành một thứ ngẫu tượng của họ, như Sách Xuất Hành thuật lại chính lời của Thiên Chúa phán cùng Moisen về họ trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Ngươi hãy đi xuống; dân mà ngươi dẫn ra khỏi đất Ai-cập đã phạm tội. Chúng đã sớm bỏ đường lối Ta đã chỉ dạy cho chúng, chúng đã đúc tượng bò con và sấp mình thờ lạy nó; chúng đã dâng lên nó của lễ hiến tế và nói rằng: 'Hỡi Israel, này là Thiên Chúa ngươi, Ðấng đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập'. Chúa phán cùng Môsê: 'Ta thấy rõ dân này là một dân cứng cổ. Ngươi hãy để Ta làm, Ta sẽ nổi cơn thịnh nộ với chúng và sẽ huỷ diệt chúng, rồi Ta sẽ làm cho ngươi trở nên tổ phụ một dân tộc vĩ đại'".

Thế nhưng, mạc khải thần linh của Thiên Chúa không phải chỉ như là ánh sáng chiếu giữa ban ngày mà là chiếu vào bóng tối để xua tan tối tăm. Bởi thế, dân Do Thái càng mù tối càng cần đến ánh sáng, nhờ đó mạc khải thần linh của Thiên Chúa mới ngày càng trở nên sáng tỏ hơn nơi họ. Ở chỗ, dân Do Thái càng phản bội Thiên Chúa của mình, càng muốn biến Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ thành ngẫu tượng của họ thì Thiên Chúa lại càng phải tỏ ra thủy chung với họ, để họ càng thấy được quả thực ngoài Ngài ra không có một vị Thiên Chúa nào khác dưới tầng trời này.

Trong lời khẩn cầu chống đỡ của mình để ngăn cản ý định tru diệt dân Do Thái của Thiên Chúa, vị trung gian môi giới Moisen đã căn cứ vào chính Thiên Chúa, vào lời hứa của Ngài, vào mục đích giải thoát dân Do Thái của Ngài, vào tình yêu nhân hậu của Ngài, vào mối liên hệ của Ngài với các vị tổ phụ của họ để xin Ngài tha cho dân Do Thái, một lời khẩn cầu không thể nào lại không đẹp lòng Thiên Chúa vì nó đã thực sự chạm đến chính cõi lòng của Thiên Chúa và khuấy động lên lòng thương của Ngài:

"Lạy Chúa, tại sao Chúa nổi cơn thịnh nộ với dân mà Chúa đã dùng quyền lực và cánh tay hùng mạnh đưa ra khỏi đất Ai-cập? Xin Chúa đừng để cho người Ai-cập nói rằng: 'Người đã khéo dẫn họ đến đây, để giết họ trên núi và huỷ diệt họ khỏi mặt đất'. Xin Chúa nguôi cơn giận và tỏ lòng khoan dung đối với tội lỗi dân Chúa. Xin Chúa nhớ đến Abraham, Isaac, và Israel tôi tớ Chúa, vì chính Chúa đã thề hứa rằng: 'Ta sẽ làm cho con cháu các ngươi sinh sản ra nhiều như sao trên trời, Ta sẽ ban cho con cháu các ngươi toàn cõi xứ này như lời Ta đã hứa, và các ngươi sẽ chiếm hữu xứ này mãi mãi'. Chúa đã nguôi cơn giận, không thực hiện điều dữ mà Người đe doạ phạt dân Người".

Hành động tôn thờ ngẫu tượng của dân Do Thái trong Bài Đọc 1 hôm nay, được Bài Đáp Ca cùng ngày chẳng những thuật lại mà còn được thánh vịnh gia cảm nhận về tính cách của việc dân Do Thái ấy như là việc "Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ":

1) Họ đã đúc con bò tại Horeb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ.

2) Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ.

3) Chúa đã nghĩ tới chuyện tiêu diệt họ cho rồi, nếu như Môsê là người Chúa chọn, không đứng ra cầu khẩn với Ngài, để Ngài nguôi giận và đừng tiêu diệt họ.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 123