mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1100
mod_vvisit_counterHôm Qua9027
mod_vvisit_counterTuần Này52694
mod_vvisit_counterTuần Trước55459
mod_vvisit_counterTháng Này183198
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả7983596

We have: 116 guests online
Your IP: 54.163.117.182
 , 
Today: Mar 26, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 307 = CAC THANH LA AI? PDF Print E-mail

Các Thánh là ai vậy?
31-10-2016 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ĐỌC  VÀ SỐNG TIN MỪNG Mt 5, 1-12a : PHUC THẬT TÁM MỐI)

Chúng ta hôm nay mừng kính trọng thể Các Thánh Nam Nữ ở trên Trời. Có thể nói, hôm nay là ngày hội lớn, ngày vui mừng của mọi thành phần con cái trong đại gia đình Hội Thánh. Mừng kính Các Thánh, là mừng kính những người đang sống sự sống của Thiên Chúa, những vị đang hưởng phúc vinh quang tràn đầy trước tòa cao sang của Chúa Ba Ngôi trên thiên đàng.

Hỏi : Thiên đàng là gì ?

Thưa : Thiên đàng là nơi đầy dẫy những sự vui vẻ vô cùng, mà phúc nhất trên thiên đàng là xem thấy mặt Đức Chúa Trời liên (Sách Bổn Hà Nội tr. 21).

Thiên đàng là cùng đích tối hậu, nơi ấy khát vọng sâu xa nhất của con người trở thành hiện thực, đó là tình trạng hạnh phúc cao nhất và vĩnh cửu (x. GLCG số 1023-1025), nơi người ta yêu thương nhau, là nơi chỉ còn tình yêu là đáng kể, nơi có Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh em với nhau, nơi không còn chết chóc, chiến tranh, hận thù và nước mắt. Trái lại, chỉ có hòa thuận và thương yêu, Các Thánh là những người đã đạt tới hạnh phúc đó.

Hỏi : Các Thánh là ai vậy ?

Là những người không bằng lòng với sự kém cỏi; với những biện pháp nửa vời. Các Thánh là những người đói và khát sự công chính, theo ngôn ngữ Kinh Thánh là khát khao sự thánh thiện. Vì khao khát, nên Thiên Chúa đã cho các ngài thỏa chí toại lòng đúng như Chúa Giêsu công bố : "Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả" (Mt 5, 6).

Chi tiết trong bài đọc I của ngày lễ giúp chúng ta hiểu thêm Các Thánh là ai. Các Thánh là "những người giặt áo và tảy áo trắng trong máu Con Chiên" (Kh 7,14). Như thế, sự thánh thiện mà các ngài có được là từ Chúa Kitô. Trong Cựu Ước, làm thánh có nghĩa là "tách biệt" khỏi tất cả những gì ô uế. Chữ "thánh" có nghĩa chung là "kitô hữu", hợp thành cộng đoàn qui tụ chung quanh Đức Giêsu làm thành Dân thánh. Sự thánh tách khỏi sự phàm tục. Các Thánh tràn đầy sự thánh, còn người phàm mang đầy sự phàm. Các Thánh là những người đã được Thiên Chúa làm gia nghiệp.

Hỏi : Các Thánh làm gì trên thiên đàng?

Câu trả lời cũng được tìm thấy trong Bài đọc I: "Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: "Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Đấng ngự trên ngai vàng, và Con Chiên". Ca đoàn các ngài được Đức Mẹ Maria hướng dẫn, Mẹ tiếp tục thánh thi ca ngợi của Mẹ trên trời, " Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa..." (Lc 1, 46). Chính trong sự ca ngợi này mà Các Thánh gặp được hạnh phúc và niềm vui , "Thần trí tôi hơn hở vui mừng trong Chúa Đấng Cứu Độ tôi" (Lc 1, 47). Vinh quang và hạnh phúc của Thiên Chúa ngập tràn các ngài.

Hỏi : Các Thánh mặc áo gì?

Các Thánh mặc áo chùng trắng, giặt áo mình trong máu Con Chiên. Các Thánh mạc áo đỏ, mặc áo theo con đường tử đạo của Đức Kitô. Các Thánh mạc áo xanh vì đã xây dựng hòa bình, yêu thương và phục vụ công bình đạo lý. Các Thánh mạc áo vàng khi tham dự vào chức huy hoàng của Đức Kitô, và hy vọng vào Thiên Chúa.

Hỏi : Các Thánh là bao nhiêu?

Sách Khải Huyền nói : "Số người được đóng ấn là một trăm bốn mươi bốn ngàn người, thuộc mọi chi tộc Israel" (Kh 7, 4). Tôn chỉ của họ là Tám Mối Phúc Thật. Phúc cho những ai hiền lành, nghèo khó; họ là những người khóc lóc nay tìm được sự ủi an ở nơi Thiên Chúa ; họ là những người biết thương xót người nay được Chúa xót thương ; họ là những người trong sạch nay được nhìn thấy Thiên Chúa; họ là những người xây dựng hòa bình nên được gọi là con Thiên Chúa; họ là những người bị bắt bớ, "họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến" (Kh 7, 14). Họ là các Tổ phụ, các Tiên tri, các Tông đồ, Tử đạo, các thánh Hiển tu, Ẩn tu, các thánh Đồng trinh thủ tiết, các thánh nam nữ.

Thánh Gioan đã nhìn thấy: "Đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng" (Kh 7, 9). Họ thuộc đủ mọi thành phần và mọi tầng lớp trong xã hội. Ðó là lý do tại sao Giáo hội thiết lập ngày Lễ Các Thánh, để mừng kính chung Các Thánh gồm cả Các Thánh không tên tuổi, trong đó phải có tổ tiên, họ hàng gần xa của mỗi chúng ta.

Mừng kính Các Thánh, chúng ta cậy nhờ các ngài nguyện giúp cầu thay cho chúng ta bao lâu còn sống ở đời tạm nay, biết noi gương các ngài sống Hiến Chương Nước Trời, thực hành Tám Mối Phúc như Chúa Giêsu dạy, để mai sau cũng được Chúa ân thưởng thiên đàng.

Với niềm hy vọng, cùng với gương sáng và sự trợ giúp của Các Thánh, chúng ta cũng có thể làm thánh, và phải nên thánh bằng cách tự thánh hóa bản thân như Các Thánh đã làm, tức là sống theo tinh thần và mệnh lệnh của Tin Mừng là : hiền lành, bác ái, hòa thuận, trong sạch, với tâm hồn luôn hướng về những thực tại siêu nhiên, chịu đựng những vất vả, đau khổ tự nhiên hay do người khác mang đến, luôn tìm kiếm Chúa và cố gắng sống phù hợp với thánh ý Chúa.

Được như thế, chúng ta có thể "vui mừng hân hoan vì phần thưởng của chúng ta sẽ trọng đại ở trên trời như Các Thánh hiện nay là những anh em chúng ta đang ca tụng Chúa muôn đời" (Mt 5, 12a).

Lạy Các Thánh Nam Nữ của Thiên Chúa, xin cầu cho chúng con. Amen.

ĐẠO BINH ĐỨC MẸ

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 305= PDF Print E-mail

 Huấn Thị Bộ Giáo Lý đức tin về an táng và giữ tro hỏa táng.

VATICAN. Bộ Giáo Lý đức tin tái khẳng định lập trường của Giáo Hội cổ võ an táng người chết thay vì hỏa táng. Và trong trường hợp hỏa táng, phải giữ tro cốt người chết tại nghĩa trang hoặc tại nhà thờ và không được rải tro trong thiên nhiên.

Trên đây là nội dung Huấn Thị "Ad resurgendum cum Christo" (Để sống lại với Chúa Kitô), do Bộ giáo lý đức tin công bố sáng ngày 25-10-2016. Huấn thị gồm 8 đoạn, được ĐTC Phanxicô phê chuẩn ngày 18-3-2016 và truyền công bố. Huấn thị mang chữ ký ngày 15-8-2016 của ĐHY Tổng trưởng Gerhard Mueller và vị Tổng thư ký là Đức TGM Luis Ladaria S.I. Chính ĐHY cùng với 2 chuyên gia đã giới thiệu văn kiện này trong cuộc họp báo tại phòng báo chí Tòa Thánh.

Nội dung

Sau khi nhắc lại những lý do đạo lý khiến truyền thống của Giáo Hội cổ võ việc an táng người chết, nhưng không cấm hỏa táng trừ khi người ta thi hành việc này vì chống đối đạo lý của Hội Thánh, trong đoạn số 4, Bộ giáo lý đức tin khẳng định rằng: "Nơi nào vì lý do vệ sinh, kinh tế hoặc xã hội khiến người ta chọn hỏa táng, - sự chọn lựa này không được trái với ý muốn rõ ràng hoặc giả thiết một cách hữu lý là không trái ý người quá cố, - Giáo Hội không đưa ra những lý do đạo lý để cấm hỏa táng, vì việc hỏa táng không chạm tới linh hồn và không cản trở sự toàn năng của Chúa làm cho xác được sống lại, vì thế nó không phủ nhận khách quan đạo lý Kitô về sự bất tử của linh hồn và sự sống lại của thân xác. Giáo Hội tiếp tục ưa chuộng việc chôn cất thi hài vì qua đó Giáo Hội bày tỏ sự quí trọng hơn đối với người quá cố; tuy nhiên, việc hỏa táng không bị cấm, "trừ khi hành động này được chọn vì những lý do trái với đạo lý Kitô" (4).

- Trong đoạn 5, Huấn thị khẳng định rằng "tro người chết theo luật phải được giữ ở một nơi thánh, nghĩa là tại nghĩa trang, hoặc trong một thánh đường hay một khu vực được thiết định với mục đích ấy, theo qui định của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội".

"Việc giữ tro tại một nơi thánh có thể góp phần giảm bớt nguy cơ lén lút đưa người chết ra khỏi kinh nguyện và ký ức của thân nhân và cộng đoàn Kitô. Ngoài ra, người ta cũng tránh được tình trạng người chết có thể bị quên lãng hoặc thiếu tôn trọng, điều này có thể xảy ra nhất là khi thế hệ thứ I qua đi, và do những đường lối thực hành không thích hợp hoặc mê tín".

- Đoạn 6 của Huấn thị khẳng định rằng: "Vì những lý do nói trên, việc giữ tro người chết tại tư gia là điều không được phép. Chỉ trong những trường hợp hệ trọng và đặc biệt, do những hoàn cảnh văn hóa của địa phương, vị Bản Quyền (Đức Giám mục giáo phận hoặc vị Tổng Đại diện), thỏa thuận với HĐGM hoặc với Hội đồng của các Giáo Hội Công Giáo Đông phương, có thể cho phép giữ tro ở nhà tư. Nhưng tro hỏa táng không được chia sẻ giữa những người thân trong gia đình với nhau và luôn luôn phải đảm bảo sự tôn trọng và những điều kiện thích hợp để bảo tồn tro".

- Trong đoạn 7, Huấn thị dạy rằng "để tránh mọi thứ mơ hồ phiếm thần, duy thiên nhiên hay duy hư vô, không được phép tung tro trong không khí, trên mặt đất hoặc trong nước, hoặc theo một cách thức khác, hay giữ tro trong các đồ kỷ niệm, trong một nữ trang hoặc các vật dụng khác, cũng để ý rằng không thể chấp nhận các phương thức tiến hành như thế dựa vào những lý do vệ sinh, xã hội hoặc kinh tế có thể khiến người ta chọn lựa hỏa táng".

- Sau cùng, trong trường hợp người quá cố đã công khai yêu cầu hỏa táng mình và tung tro của mình trong thiên nhiên, vì những lý do trái ngược với đức tin Kitô, thì không thể cử hành lễ an táng đương sự, chiếu theo luật (n.8).

Họp báo

- Trong cuộc họp báo, ĐHY Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, Mueller, bày tỏ hy vọng "Huấn Thị mới này có thể góp phần để các tín hữu Kitô ý thức hơn nữa về phẩm giá của họ là con cái Thiên Chúa (Rm 8,16). Chúng ta đang đứng trước một thách đố mới đối với công cuộc loan báo Tin Mừng về sự chết. Chấp nhận con người là thụ tạo của Thiên Chúa không trở thành hư vô, đòi phải nhìn nhận Thiên Chúa là nguyên ủy và là vận mạng của cuộc sống con người: chúng ta xuất thân từ đất chúng ta và sẽ trở về đất, trong khi chờ đợi sống lại. Vì thế cần loan báo theo tinh thần Tin Mừng về ý nghĩa sự chết dươi ánh sáng niềm tin nơi Chúa Kitô Phục Sinh, là lò tình yêu nồng cháy, thanh tẩy và tái tạo, trong khi chờ đợi người chết sống lại và sự sống trong thế giới mai hậu (Xc n.2). Như Tertulliano đã viết: "Sự sống lại của người chết chính là niềm tin của các Kitô hữu: khi tin nơi sự sống lại chúng ta là Kitô hữu" (De resurrectione carnis, 1,1).

- Đức ông Angel Rodriguéz Luno, Cố vấn Bộ giáo lý đức tin, cho biết sở dĩ Huấn thị cấm "tung tro trong thiên nhiên", là để tránh mọi sự lẫn lộn về đạo lý.. "Thực vậy, sự chọn lựa tung tro thường xuất phát từ ý tưởng với cái chết toàn con người bị hủy diệt, đi tới độ hòa với thiên nhiên, như thể đó là định mệnh chung cục của con người. Đôi khi nó cũng xuất phát từ một sự hời hợt, từ ý muốn che dấu hoặc riêng tư hóa khi nói về cái chết, hoặc từ sự phổ biến sở thích không đúng".

Về vấn nạn: việc giữ tro hỏa táng của một người thân (cha, mẹ, vợ chồng, con cái) ở trong tư gia có thể là do ước muốn gần gũi và thảo hiếu, giúp dễ tưởng nhớ và cầu nguyện. Đó không phải là động lực thường xuyên, nhưng trong một số trường hợp có lý do ấy. Nhưng có nguy cơ việc giữ tro ở tư gia như thế có thể tạo nên sự quên lãng và thiếu tôn trọng, nhất là khi thế hệ thứ I qua đi (Xc. n.5), hoặc có thể dẫn đến những thứ tang chế không lành mạnh. Nhưng nhất là phải để ý rằng các tín hữu qua đời là thành phần của Giáo Hội, là đối tượng kinh nguyện và tưởng nhớ của người sống, nên điều tốt đẹp là di tích của họ được Giáo Hội đón nhận và gìn giữ với lòng kinh trọng, qua dòng thời gian, tại những nơi mà Giáo Hội đã làm phép với mục đích ấy, không đưa họ ra khỏi ký ức và kinh nguyện của người thân và cộng đoàn" (SD 25-10-2016)

G. Trần Đức Anh OP

--------------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 304 = HONG Y LA AI ? PDF Print E-mail

HỒNG Y LÀ AI VÀ CÓ CHỨC NĂNG GÌ ?
Nhân viêc Đức Thánh Cha Phnxicô vừa chọn thêm 17 tân Hồng Y, tôi xin được trả lời chung
những câu hỏi của nhiều đôc giả về vai trò và trách nhiệm của tước vị Hồng Y trong Giáo Hội
Công Giáo La Mã như sau:
Trước hết, về ngữ căn ( etymology), từ Hông Y ( Cardinal) xuất phát từ nguyên ngữ Latin
CARDO có nghĩa là "cái bản lề.(hinge) "tức bộ phân then chốt để giừ cho cánh cửa được đứng
vững trong khung cửa. Từ ý nghĩa tượng trưng này, các Hồng Y được mệnh danh là "những vị
Hoàng tử ( princes) của Giáo Hội với 2 chức năng rất quan trọng sau đây:
1- Là cố vấn để đóng góp ý kiến (kiến thức và khôn ngoan) cho Đức Thánh Cha trong việc
điều hành và cai tri Giáo Hôi Công Giáo hoàn vũ
2- Khi vào Mật nghị (Conclave) để bầu Giáo Hoàng mới , tất cả các Hông Y đủ điều kiện
theo luật bầu cử- nghĩa là dưới 80 tuổi- đều đương nhiên là các ứng viên (potential
candidates có thể được bầu chứ không ra ứng cử) và cũng là những người được
quyền bỏ phiếu chọn (elector) Giáo Hoàng mới, khi đương kim Giáo Hoàng qua đời
( hay đột nhiên từ nhiệm như trường hợp cá biệt của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI
năm 2012 ( x. Giáo luật số 349)
Theo Luật bầu Giáo Hoàng hiên hành, áp dụng từ nhiều năm qua, thì khi tròn 80 tuổi,
các Hồng Y không còn được tham dự Mật nghị để bầu Giáo Hoàng mới hay tham dự
bất cứ mật hội nào do Đức Thánh Cha triệu tập và chủ tọa để bàn thảo về một vấn đề
quan trọng nào của Giáo Hội.Thêm nữa, khi các Hồng Y đến tuổi 75, và hiện đang coi
sóc các Tổng Giáo Phận hay các Bộ hoặc Cơ quan trọng yếu trong Giáo Triều Roma
thì cũng phải xin từ chức, để tùy Đức Thanh Cha quyết định chấp nhận hay cho lưu
nhiệm thêm. Thí dụ, trường hợp Đức Giáo Hoàng.Biển Đức XV! , khi đang còn làm
Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã xin nghỉ hưu năm ngài 75 tuổi nhưng đã
được Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II yêu cầu tiếp tục nhiệm vụ thêm thời gian
nữa, nên ngài vẫn đảm trách chức vụ Tổng Trưởng trên cho đến khi ngài được bầu lên
ngôi Giáo Hoàng ngày 19-tháng 4 năm 2005 ( x.giáo luật số 354)
Trước năm 1917 tức là năm ban hành bộ Giáo luật cũ, (giáo luật mới 1983 thay giáo luật cũ
1917) các Hồng Y có thể là những thường dân không có chức linh mục hay giám mục được
Giáo Hoàng ban cho tước vị này, vì những lý do riêng tư. Nhưng với Giáo luật năm 1917, thì
người thường dân không còn được chọn nữa, mà chỉ dành cho các linh mục hay giám mục
xuất sắc mà thôi. Đến thời Đức cố Giáo Hoàng Gioan XXIII, thì ai được phong tước Hông Y
cũng phải được thụ phong Giám mục nếu vị đó chưa là giám mục.Sở dĩ thế vì cho đến nay,
thì tước Hồng Y vẫn còn được trao cho một số linh mục xuất sắc, từng giữ các chức vụ quan
trọng trong Tòa Thánh hoặc là những thần học gia nổi tiếng như các linh mục Yves M.J
Congar (O.P) Henri de LuBac và Allen Dulles (SJ) ( đều đã qua đời) ..Trong đợt Hồng Y mới
được công bố Chúa Nhật ngày 09 tháng 10 vừa qua,, cũng có 01 linh mục xuất sắc,đang là
Giám quản cũng được chọn làm Hồng Y..Đó là cha Ernest Simoni thuộc Tông Giáo Phận
Scutari, Abani, đã quá 80 tuổi nên không được đi bầu Giáo Hoàng nữa.
Cũng cần nói thêm là khác với thông lệ trong quá khứ khi Hông Y được chọn từ những gia đình
quí tộc ỏ Âu Châu hoặc những người được Giáo hoàng ưu đãi, thưởng công riêng, các Hồng Y
ngày nay phần lớn xuất thân từ những gia đình đạo đức, bình dân, phải là nam giới và ít nhất
là người có chức linh mục và " trỗi vượt về đạo lý, tác phong, đạo đức và khôn ngoan" ( x.
giáo luật số 351 & 1).Nhưng thường là các giám mục xuất sắc về đức độ và khả năng để có
thể trở thành Giáo Hoàng cai quản Giáo Hội trong tương lai. Lại nữa, vì Hồng Y có thể là linh
mục , nên nếu vị này được đắc cử Giáo Hoàng thì phải được Hồng Y niên trưởng tấn phong
chức Giám Mục trước khi đăng quang.Nếu Hồng Y niên Trưởng vắng mặt thì Hồng Phó niên
trưởng sẽ làm việc này.Nếu vị này cũng vắng mặt, thì Hồng Y cao niên nhất thuộc đẳng Giám
mục sẽ truyền chức Giám mục cho tân Giáo Hoàng chưa có chức Giám mục. ( x.giáo luật số
355, &1) .
Tuy nhiên việc này chưa từng xẩy ra vì các Hồng Y từ nhiều thập niên qua đều là những vị có
chức Giám mục hay đã được tấn phong giám mục sau khi được phong tước Hồng Y.Nghĩa là
không có trường hợp môt Hồng Y chỉ có chức linh mục mà được bầu làm Giáo Hoàng từ
nhiều thập niên qua.Cho nên không thể nói cách chung chung là các Giám mục hay linh mục có
thể được bầu làm Giáo Hoàng. Phải nói cho đúng là cho đến nay, chỉ có các Hồng Y dưới 80
tuổi mới đủ điều kiện để đi bầu Giáo Hoàng mà thôi, vì tất cả các Hông Y trong Giáo Triều
Rôma hiện nay đều có chức Giám mục, chứ không có vị nào còn là linh mục., cho dù mỗi lần
tấn phong thêm Hồng Y, đều có một vài ba Linh mục được chọn, nhưng các vị này đều đã quá
80 hay gần 80 tuổi rồi nên không có triển vọng được bầu làm Giáo Hoàng.
Như thế cho thấy chức Giám mục là chức thánh quan trọng nhất của Giáo Hội, vì Giám mục là
những người kế vị các Thánh Tông Đồ trong chức năng và sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cứu
độ, dạy dỗ chân lý và cai trị Giáo Hội. Chúa Giêsu xưa chỉ chọn các nam Tông Đồ, mà người kế
vị các ngài là các Giám mục ngày nay trong Giáo Hội. Hồng Y không phải là một chức thánh mà
chỉ là tước vị (Title) do Giáo Hội đặt ra vì nhu cầu chọn người kế vị Thánh Phêrô, tức Đức
Thánh Cha cũng là Giám mục Rôma và là Thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.
Các Hồng Y họp lại thành Hồng Y Đoàn riêng biệt ( College of Cardinals) do một vị làm niên
trưởng ( Dean)
Có 3 đẳng cấp Hồng Y sau đây.
1- Hồng Y Giám mục ;( Cardinal bishops) là những giám mục từng coi sóc những giáo
phận chung quanh Rôma nhưng nay là những Hồng Y thâm niên làm việc trọn thời gian
(full-time) trong Giáo Triều Roma. ( Roman Curia)
2- Hồng Y Linh mục ( Cardinal Priests) là những Hồng Y hoăc làm việc trong Giáo Triều
hoặc đang coi sóc cácTổng Giáo Phận ngoài Roma tức là các Tổng Giáo phận ở Ý hay
ở các quốc gia trên thế giới như Paris, New York, Sydney, Houston, Saigon, Manilla v.v
3- Hồng Y Phó Tế ( Cardinal Deacons) từng là những Giám mục hiệu tòa ( Titular Bishops)
tức là không coi sóc Giáo phận nào,và đang làm việc trọn thời gian trong Giáo Triều.
Khi các Hồng Y họp kín để bầu Giáo Hoàng mới, Hồng Y Trưởng đẳng Phó tế sẽ công
bố danh tánh vị được đắc cử và có thể thay thế Đức Thánh Cha để trao dây Pallium cho
các tân Tổng Giám mục hoặc cho người đại diện các vị vắng mặt. ( x. giáo luật số 355, &
2)
Thêm nữa, tất cả các Hồng Y, khi được Đức Thánh Cha chọn và trao tước vị này, đều
được chỉ đinh tước hiệu( Title) của một thánh đường trong hoặc ngoài Rôma. Với tước
hiệu đó, tân Hông Y đến thánh đường được chỉ định để nhận tòa nhưng không có quyền
quản trị nào về hành chánh, nhân sự cũng như tài sản của thánh đường đó, mà chỉ hiệp
thông để hỗ trợ về mặt tinh thần mà thôi.( giáo luật số 357 &1)
Sau hết, tất cả các Hồng Y, nếu không đảm nhận chức vụ Tổng Giám Mục để coi sóc
các Tổng giáo phận ở đâu trên thế giới, thì đều phải cư trú ở Rôma hoặc phải trở về
Giáo đô khi Đức Thánh Cha triệu tập để họp bàn việc gì quan trọng của Giáo Hội (giáo
luật số 356)
Chúng ta hãy cầu nguyện nhiều cho các Tân Hồng Y mới được chọn để các ngài có đủ
ơn Chúa hầu chu toàn trách nhiệm được trao phó.
Tổng số Hồng Y của Giáo Hội hiện nay là 228 vị , trong đó chỉ có 121 vị dưới 80 tuổi, tức
là có điều kiện đi bầu Giáo Hoàng mới, khi có nhu cầu này mà thôi.
LM. Phanxicô Xaviê Ngô tôn Huấn

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 303 = TIEU SU THANH FAUSTINA PDF Print E-mail

TIỂU SỬ THÁNH NỮ FAUSTINA
TIỂU SỬ THÁNH NỮ FAUSTINA.jpg

KRISTIE PHAN  CHUYỂN
Thánh nữ maria faustina kowalska ngày nay được khắp thế giới biết đến với tước hiệu "Tông Đồ Lòng Thương Xót Chúa" là một vị thánh được các nhà thần học kể vào số những nhà thần bí trổi vượt trong Giáo Hội.
Chị là người thứ ba trong số mười người con của một gia đình nông dân nghèo khó nhưng đạo đức tại Glogowiec, một làng quê nằm giữa đất nước Ba Lan. Khi được rửa tội tại nhà thờ giáo xứ Swinice Warckie lân cận, chị đã được nhận tên "Helena." Ngay từ thời thơ ấu, Helena đã nổi bật với đời sống đạo hạnh, yêu thích cầu nguyện, chăm chỉ, vâng lời, và hết lòng thương cảm trước nỗi khổ đau của tha nhân. Helena được đi học trong thời gian chưa đầy ba năm, và đến năm 14 tuổi, chị đã phải rời bỏ mái ấm gia đình để mưu kế sinh nhai, giúp đỡ cha mẹ bằng công việc phụ giúp việc nhà tại thành phố Aleksandrow và Lodz kế cận.
Khi mới lên bảy tuổi (hai năm trước khi rước lễ lần đầu), Helena đã cảm nhận trong tâm hồn lời mời gọi theo đuổi đời sống tu trì. Sau đó, chị đã ngỏ ý muốn với cha mẹ, nhưng hai vị đều dứt khoát không đồng ý cho chị vào sống trong tu viện. Trước hoàn cảnh như thế, Helena đã cố bóp nghẹt lời mời gọi trong tâm hồn. Tuy nhiên, quá xao xuyến vì một thị kiến về Chúa Kitô tử nạn và những lời trách cứ của Người: "Cha còn phải chịu đựng con cho đến bao giờ, con còn phụ rẫy Cha cho đến bao giờ nữa đây?" (NK 9), Helena bắt đầu tìm cách để xin vào một tu viện. Chị đã gõ cửa không ít tu viện, nhưng không được nơi nào đón nhận. Cuối cùng, vào ngày 1 tháng 8 năm 1925, Helena đã được bước qua ngưỡng cửa của dòng Đức Mẹ Nhân Lành ở phố Zytnia tại Warsaw. Trong Nhật Ký, chị có viết: "Dường như tôi đã bước vào cuộc sống thiên đàng. Một lời kinh đã trào dâng từ tâm hồn tôi, một lời kinh tạ ơn" (NK 17).
Tuy nhiên, vài tuần lễ sau đó, chị bị cám dỗ mãnh liệt, muốn chuyển sang một dòng khác để có nhiều thời giờ hơn cho việc cầu nguyện. Chính lúc ấy, Chúa Giêsu đã tỏ cho chị thấy các thương tích và thánh nhan tử nạn của Người và phán: "Chính con gây cho Cha nỗi đau đớn này nếu như con rời bỏ tu viện. Đây là nơi Cha đã gọi con, chứ không phải một nơi nào khác; và Cha đã dọn sẵn nhiều ơn thánh cho con" (NK 19).
Khi vào dòng, Helena được nhận tên Maria Faustina. Chị đã sống thời kỳ năm tập tại Cracow, và cũng tại đây, trước sự chứng kiến của đức giám mục Stanislaus Rospond, chị đã tuyên lời khấn trọm lần đầu, và năm năm sau, tuyên giữ trọn đời ba lời khấn thanh tịnh, khó nghèo và vâng phục. Chị được cắt cử làm một số công tác tại các tu viện của dòng; hầu hết thời gian là ở Cracow, Plock, và Vilnius, với các công tác làm bếp, làm vườn, và coi cổng.
Tất cả những cái vẻ bên ngoài ấy không làm hiện lộ một cuộc sống thần hiệp phong phú ngoại thường nơi chị dòng Faustina. Chị sốt sắng chu toàn các phận sự, trung thành giữ trọn luật dòng, sống đời sống nội tâm và giữ thinh lặng, trong khi đó vẫn sống trong sự tự nhiên, vui tươi, đầy nhân ái và yêu thương người chung quanh một cách vô vị lợi.
Tất cả đời sống của chị được tập trung vào việc liên lỉ cố gắng đạt đến một cuộc kết hiệp ngày càng mật thiết hơn với Thiên Chúa và quên mình cộng tác với Chúa Giêsu trong công cuộc cứu rỗi các linh hồn. Chị đã viết trong Nhật Ký, "Chúa biết ngay từ những năm đầu tiên, con đã muốn trở nên một vị đại thánh; tức là yêu mến Chúa bằng một tình yêu vĩ đại như chưa từng có linh hồn nào đã yêu mến Chúa như thế" (NK 1372).
Chính quyển Nhật Ký của chị đã cho chúng ta thấy được những chiều sâu trong đời sống thiêng liêng của chị. Những tư liệu này - nếu được đọc chăm chú - sẽ làm hiện lên một bức tranh diễn tả mối thân tình hợp nhất cao độ giữa linh hồn chị với Thiên Chúa: sự khắng khít lạ lùng giữa Thiên Chúa với linh hồn chị, cũng như những nỗ lực và chiến đấu của chị trên con đường hoàn thiện Kitô Giáo. Chúa đã ban cho chị nhiều hồng ân phi thường: ơn chiêm niệm, ơn hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm Lòng Thương Xót Chúa, các thị kiến, mặc khải, những dấu thánh tiềm ẩn, ơn nói tiên tri, ơn đọc được tâm hồn người khác, và ơn quí trọng bậc nhiệm hôn. Tuy được hoan hưởng những hồng ân ấy rất dồi dào, nhưng chị đã viết: "Không phải các ân sủng, các mặc khải, các lần ngất trí, hoặc các ân huệ làm cho linh hồn nên hoàn hảo, nhưng chính là sự kết hợp mật thiết giữa linh hồn với Thiên Chúa... Sự thánh thiện và hoàn hảo của tôi hệ ở việc kết hợp mật thiết giữa ý chí tôi với ý chí Thiên Chúa" (NK 1107).
Nếp sống khổ hạnh và những lần chay tịnh đến kiệt sức ngay cả trước khi vào dòng của chị đã làm suy sụp yếu nhược thể trạng của chị, đến nỗi ngay trong thời gian thỉnh tu, chị đã được đưa đi Skolimow gần Warsaw để phục hồi sức khỏe. Gần cuối năm đầu tiên trong thời kỳ nhà tập, chị còn phải trải qua những kinh nghiệm thần bí đớn đau lạ thường của giai đoạn vẫn được gọi là đêm tối giác quan, và sau đó là các đau khổ tinh thần và luân lý liên quan đến việc hoàn thành sứ mạng mà chị được nhận lãnh từ Chúa Kitô. Thánh nữ Faustina đã hy hiến cuộc đời cho các tội nhân, vì thế, chị đã chịu đựng những khổ đau tư bề để trợ giúp các linh hồn. Trong những năm tháng cuối đời của chị thánh, các đau khổ nội tâm của cái gọi là đêm thụ động của linh hồn và những bệnh nạn phần xác càng trở nên dữ dội hơn nữa. Căn bệnh lao của chị lan dần, tấn công những lá phổi và phần ruột non. Vì vậy, hai lần chị đã phải trải qua nhiều tháng điều trị ở bệnh viện phố Pradnik tại Cracow.
Tuy kiệt quệ về thể lý, nhưng chị Faustina đã đạt đến mức trưởng thành sung mãn trong đời sống thiêng liêng. Chị đã từ giã cõi trần khi chưa trọn 33 tuổi đời, giữa tiếng thơm thánh thiện, và được kết hiệp muôn đời với Thiên Chúa vào ngày 5 tháng 10 năm 1938, sau 13 năm trong cuộc sống tu trì. Thi hài của chị được an nghỉ tại ngôi mộ chung trong nghĩa trang tu viện tại Cracow-Lagiewniki. Năm 1966, trong khi thủ tục điều tra tôn phong chân phúc đang được xúc tiến, thi hài nữ tu Faustina đã được cải táng vào nhà nguyện của tu viện.
Chúa Giêsu đã ủy thác cho chị nữ tu đơn sơ, kém học, nhưng can trường và tín thác vô hạn này một sứ mạng cao cả là rao truyền sứ điệp Lòng Thương Xót của Chúa cho thế giới, Người đã phán với chị, "Cha sai con đem tình thương của Cha đến cho toàn thế giới. Cha không muốn đoán phạt, nhưng muốn chữa lành và ghì chặt nhân loại đau thương vào Trái Tim thương xót của Cha" (NK 1588). "Con là thư ký của Lòng Thương Xót Cha. Cha đã tuyển dụng con làm nhiệm vụ ấy trên đời này và ở đời sau" (NK 1605)... "Nhiệm vụ và công tác suốt đời con là tiếp tục làm cho các linh hồn được biết về Lòng Thương Xót lớn lao của Cha dành cho họ, và kêu gọi họ tín thác vào Lòng Thương Xót vô tận của Cha" (NK 1567).
(Trích Nhật Ký Lòng Thương Xót Chúa)
Nguồn: http://www.xuanha.net/

---------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 302 = GIAO HOI CO SAI LAM? PDF Print E-mail

K/g bài viết mới của Lm P.X Ngô Tôn Huấn
GIÁO HỘI CÓ SAI LẦM TRONG VIỆC BỔ NHIỆM VÀ THUYÊN CHUYỂN CÁC VỊ LÃNH ĐẠO TRONG GIÁO HỘI HAY KHÔNG?
Hỏi:
Có phải tất cả mọi việc tuyển chọn, bổ nhiệm và thuyên chuyển các Giám mục trong Giáo Hội đều là công việc của Chúa Thánh Thần hoạt động âm thầm nhưng hữu hiệu trong Giáo Hội?
Trả lời:
Trước khi trả lời câu hỏi này, xin được nói qua về ơn gọi (vocation) của một số người được Thiên Chúa dùng trước hết để mặc khải Người cho nhân loại, và thay mặt Chúa để nói với con người những gì Thiên Chúa muốn con người nghe, phải làm và sống để được chúc phúc và cứu rỗi, căn cứ vào lời ông Mô-sê đã nói với dân Do Thái xưa như sau:
"Từ giữa anh em, trong số anh em của anh em, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi để giúp anh em. Anh em hãy nghe vị ấy. "Đnl 18: 15).
I-Thời Cựu Ước
Trong thời gian này, Thiên Chúa đã gọi một số người, đặt làm ngôn sứ hay tiên tri như các ông Abraham, Mô-sê, Amos, Osea, Isaiah, Giêremia, Daniel, Ezekiel, Zakaria, Giona...
Trong số những ngôn sứ trên đây, ông Môsê được Thiên Chúa gọi từ "bụi cây bốc cháy" và truyền cho ông: "Bây giờ ngươi hãy đi. Ta sai ngươi đến với Pha-ra-ô để đưa dân Ta là con cái It-ra-en ra khỏi Ai Cập." (Xh 3:10)
Thiên Chúa chọn ông Mô-sê làm người lãnh đạo dân không vì ông có phẩm chất xứng đáng mà vì sự khôn ngoan khôn lường của Chúa. Vì nếu xét theo khôn ngoan của con người, thì Môsê là người bất xứng như ông tự nhận mình không có tài ăn nói và còn phạm tội sát nhân nữa (giết một người Ai Cập). Nhưng Thiên Chúa không thay đổi ý định chọn và sai ông đi, trước hết để mặc khải danh Người là "Đấng Hiện Hữu" (Xh 3:14) cho dân Do Thái và sau nữa để dẫn đưa họ ra khỏi ách nô lệ thống khổ bên Ai Cập.
Ngôn sứ I-sai-a được nghe tiếng Chúa trực tiếp phán bảo ông như sau:
" Bấy giờ tôi nghe tiếng Chúa Thượng phán:
Ta sẽ sai ai đây? "
Tôi thưa: " Dạ con đây, xin sai con đi"
Chúa phán: " Hãy đi nói với dân này rằng..." (Is 6: 8-9)
Ngôn sứ Giêrêmia cũng được gọi cách đặc biệt khi Thiên Chúa trực tiếp nói với ông:
"Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi lọt lòng mẹ, Ta dã thánh hóa ngươi. Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân." (Gr 1: 5)
Đó là tiêu biểu những người được gọi để làm lãnh tụ và ngôn sứ trong thời Cựu Ước.
II-Thời Tân Ước
Khi Chúa Giêsu xuống thế làm Con Người và đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa đã goi Nhóm Mười Hai Tông Đồ lớn và Bảy mươi hai Tông Đồ nhỏ, (Mc 3: 14-19; Lc 10:1-2) Và sai họ ra đi rao giảng với "quyền trừ quỉ" và chữa lành. Hai Nhóm Mươi Hai và Bảy Mươi Hai này là những cộng sự viên đầu tiên được gọi để tham gia vào Sứ Vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô trong buổi ban đầu.
Sau khi Chúa hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại của Người qua khổ hình thập giá, chết, sống lại và lên trời, các Tông Đồ được sai đi khắp nơi để "làm cho muôn dân trở thành môn đệ và rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần." (Mt 28:19)
Nhưng trước khi các Tông Đồ tiên khởi này qua đời, thì chắc chắn các ngài phải chọn những người thay thế để tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin mừng và làm Phép Rửa cho các thế hệ nối tiếp, căn cứ vào lời Thánh Phaolô đã căn dặn môn đệ của ngài là Timôthê như sau:
"Những gì anh đã nghe tôi nói trước mặt nhiều nhân chứng, thì hãy trao lại cho những người tin cẩn, những người sẽ có khả năng dạy cho người khác." (2 Tim 2: 2)
Như thế, rõ ràng cho thấy các Tông Đồ đã chọn người kế vị các ngài và truyền chức cho họ qua việc đặt tay như Thánh Phaolô viết tiếp dưới đây:
"Vì lý do đó, tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh." (2 Tm 1: 6)
Đây là truyền thống kế vị Tông Đồ (Apostolic succession) mà Giáo Hội đã thi hành từ xưa cho đến nay để chọn các Giám mục là những người kế vị các Thánh Tông Đồ trong sứ mạng chăn dắt, dạy dỗ, thánh hóa và cai trị Dân Chúa trong các Giáo hội địa phương trọn vẹn hiệp thông và vâng phục Giám Mục Rôma, tức Đức Thánh Cha là vị Đại Diện (Vicar) duy nhất của Chúa Kitô trên trần thế trong sứ mệnh cai quản Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.
III-Giáo Hội có sai lầm khi chọn và thuyên chuyển các Giám Mục không?
Bản chất của Giáo Hội là thánh thiện, công giáo tông truyền và truyền giáo. Nhưng các thành phần con người trong Giáo Hội thì chưa phải tất cả đã là thánh như bản chất của Giáo Hội. Cho nên, trừ hai phạm vi tín lý (dogma) và luân lý (moral) là hai lãnh vực mà Giáo Hội – cụ thể qua Đức Thánh Cha và các Giám Mục hiệp thông - được giữ gìn cho khỏi sai lầm (ìnfallibility). Ngoài hai phạm vị này, Giáo Hội có thể sai lầm trong tất cả các lãnh vực khác, cách riêng là việc bổ nhiêm và thuyên chuyền các cấp lãnh đạo như Hồng Y và Giám Mục.
Nếu trung thành với sứ mạng và truyền thống của mình, thì Giáo Hội ngày nay phải noi gương các Tông Đồ xưa kia mỗi khi quyết định tiến cử ai đảm trách nhiệm vụ lãnh đạo trong Giáo Hội, cụ thể là việc bổ nhiệm và thuyên chuyển các Giám Mục. Xưa kia, khi chọn người thay thế Giuđa cho đủ con số 12 Tông Đồ tiên khởi, các Tông Đồ đã hội họp cầu nguyện và đề cử hai người xuất sắc là các ông Giuse và Mat-thia. Sau đó, các Tông đồ đã cầu nguyện rằng: "Lạy Chúa, chính Chúa thấu suốt lòng mọi người, xin chỉ cho thấy Chúa chọn ai trong hai người này để nhân chỗ trong sứ vụ Tông Đồ, chỗ mà Giu-đa đã bỏ để đi về chỗ dành cho y. Họ rút thăm và ông Mat-thia trúng thăm: ông được kể thêm vào số mười một Tông Đồ." (Cv 1: 23-26).
Trên đây là bằng chứng cụ thể về cách thức chọn người thay thế nhiệm vụ Tông Đồ trong Giáo Hội sơ khai. Từ đó đến nay, Giáo Hội đã theo truyền thống này mỗi khi phải chọn lựa và bổ nhiệm các Giám mục ở khắp nơi trong Giáo Hội. Tuy nhiên, vì còn là con người trần thế như đã nói ở trên, nên những vị có trách nhiệm đề cử và chọn lựa ứng viên không hẳn đã hoàn toàn vô tư để Chúa Thánh Thần hướng dẫn, chỉ đạo trong việc hệ trọng này... Vì thế chắc chắn đã có những vị được đề cử vì thân quen, vì người cùng phe, cùng Dòng tu, cùng gốc chủng tộc với mình (ở Mỹ, Giám mục gốc Ái Nhĩ Lan (Irish) gốc Đức hay Ý thường chọn người công tác hay kế vị thuộc gốc chủng tộc của mình). Ấy là chưa kể trường hợp có những người đã "vận động ngầm" để tiến cử ứng viên của mình và đã được toại nguyện.
Liên quan đến vấn đế này, phải nói thêm sự kiện khôi hài nghe được như sau: Khi chọn Giám mục, người ta đã không cấp visa cho Chúa Thánh Thần vào. Chỉ sau khi đã chọn xong, người ta mới mời Ngài đến để hợp thức hóa mà thôi.!
Hậu quả là có những người lẽ ra "không nên chọn" mà lại được đưa lên địa vị cao này. Cho nên, đã có các giám mục không dạy dỗ đúng theo giáo huấn của Giáo Hội, (có giám mục kia đã tán thành việc phong chức linh mục cho nữ giới!) có người đã nêu gương xấu như một Tổng Giám Mục Phi Châu đã bỏ Giáo Hội Công Giáo để gia nhập một giáo phái khác (đạo Mum của người Đại Hàn) - tức là phạm tội bội giáo (Apostasy) - và sau đó đã lấy vợ, bắt chấp luật độc thân của Giáo Hội. Tai hại hơn nữa, ông còn truyền chức giám mục cho một số linh mục Mỹ đã hồi tục bất chấp giáo luật và kỷ luật của hàng giáo sĩ đòi buộc phải vâng phục thẩm quyền tối cao của Đức Thánh Cha trong việc chọn và bổ nhiệm các giám mục trong Giáo Hội. Cụ thể gần đây nhất, có giám mục Trung Hoa kia đã cộng tác với tổ chức "Công Giáo Yêu Nước", tay sai của nhà cầm quyền cộng sản Trung Hoa để truyền chức giám mục bất hợp pháp (không có phép của Đức Thánh Cha) cho một linh mục quốc doanh, tạo thêm căng thẳng giữa Tòa Thánh và chánh quyền Trung cộng. Lại nữa, một Giám mục khác đã viết sách tâng bấc cách trơ trẽn và hạ cấp chánh quyền cộng sản để được ưu đãi cho cá nhân mình mà có hại cho uy tín và danh dự cho Giáo Hội địa phương. Ông này cũng dạy sai lầm là Chúa Giêsu đâu có chết, như Giáo Hội dạy!
Cũng liên quan đến việc bổ nhiệm cấp lãnh đạo của Giáo Hội, trước đây, Tòa Thánh đã một lần sai lầm trong việc can thiệp vào nội bộ một giáo tỉnh kia đang tranh đấu đòi chánh quyền cộng sản trả lại đất cho Giáo Tỉnh. Sai lầm lớn khi quyêt định cho Tổng giám mục của giáo tỉnh này nghỉ việc, phù hợp với yêu sách của chánh quyền đang đòi thay thế vị này vì đã dám chống đối họ và cũng vì "âm mưu phá hoại ngầm" của một người đầy tham vọng muốn chíếc ghế Tổng giám mục!
Đây chắc chắn không phải là việc của Chúa Thánh Thần mà là sự thiếu khôn ngoan của người có trách nhiệm thuyên chuyển trong Tòa Thánh.May mắn thay, người thiếu khôn ngoan và hiểu biết đó, đã được thay thế khi Đức Thánh Cha Phanxicô lên ngôi.
Cho nên, các vị có nhiệm vụ đề cử và tuyển chọn Giám muc cần phải theo gương các Tông Đồ xưa cầu nguyện và bỏ phiếu kín để Chúa Thánh Thần có thể tự do làm việc hữu hiệu qua tiến trình này, để Giáo Hội có được những vị lãnh đạo xứng đáng về đạo đức, khả năng chuyên môn (competence) và tình thần Tông Đồ để thi hành sứ vụ Tông Đồ trong Giáo Hội Địa phương hay hoàn vũ.
Giám mục là người kế vị các Thánh Tông Đồ nên phải có tinh thần Tông Đồ, phải là người " có khả năng giảng dạy" (1Tm 3: 2) thì mới chu toàn được nhiệm vụ Tông Đồ. Sở dĩ thế, là vì chức vụ giám mục không phải là cái vinh quang trần thế, mà phải là ơn gọi phục vụ theo gương Chúa Kitô, Người đến không phải để tìm vinh quang trần thế, nhà cao cửa rộng, phú quý sang giầu. Ngược lại, Người đã sống như kẻ vô gia cư, không được như " con chồn có hang, chim trời có tổ nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." (Mt 8 :20). Như thế, người Tông Đồ xứng đáng với danh vị này phải là người " không ai chê trách được" (1 Tm 3 :2), và là người có tinh thần nghèo khó của Chúa Kitô, "Người vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." (2 Cr 8:9).
Nghĩa là, Giám mục phải là người nêu gương sáng về đức khiêm nhường và khó nghèo của Phúc Âm cho người khác, và dám can đảm đòi hỏi quyền tự do tôn giáo và tự do hành đạo, lên án những tội ác của xã hội, của chế độ cai trị về những tụt hậu thê thảm về đức công bình, nhất là về luân lý, đạo đức, phương hại cho đời sống tinh thần của dân chúng và cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô. Đó là sứ vụ đòi hỏi thực thi công bình, bác ái, yêu thương, tha thứ và lên án mọi tội ác và sự dữ (evils) đang lan tràn ở khắp nơi trên thế giới ngày nay.Lại nữa, Giám mục phải là người tha thiết và trung thành với sứ vụ Tông Đồ, là sứ vụ hoàn toàn thiêng liêng, không "dính bén" gì đến mọi hư danh và quyền lực trần thế, vì nếu dính dáng ở mức độ nào để mưu lợi ích riêng tư, thì sẽ có phương hại lớn cho uy tin và sứ mệnh siêu nhiên của Giáo Hội,- và cách riêng- cho sứ vụ và trách nhiệm Tông Đồ của mình.
Thiên Chúa, từ đầu, đã biết sự kiện có những người không xứng đáng được chọn để đảm trách vai trò lãnh đạo và dạy dỗ Dân Chúa nên Người đã than trách như sau:
"Chúng phong vương người mà Ta không chọn.
Tôn làm lãnh tụ kẻ Ta không biết
Dùng vàng bạc làm ra ngẫu tượng để rồi bị đập tan." (Hôsê 8: 4)
Chúa biết nhưng vẫn làm ngơ cho sự việc xảy ra, vì Người tôn trọng ý muốn tự do (free will) của loài người. Bằng cớ: khi dân Do Thái đòi ông Samuel cho họ có vua để cai trị và xử kiện cho họ, ông đi cầu nguyện và Chúa đã phán bảo ông như sau:
"Ngươi cứ nghe theo tiếng của dân trong mọi điều chúng nói với ngươi, vì không phải chúng gạt bỏ ngươi, mà là chúng gạt bỏ Ta, không chịu để Ta làm vua của chúng." (1 Samuel 8:7)
Thánh Phaolô cũng tỏ ý quan tâm về việc có những người không đáng "được đặt tay" để lãnh nhiệm vụ Tông Đồ, nên đã căn dặn Ti-mô-thê như sau:
"Anh đừng vội đặt tay trên ai, đừng cộng tác vào tội lỗi của người khác. Hãy giữ mình trong sạch." (1 Tim 5: 22)
Đừng "vội đặt tay trên ai" có nghĩa là không nên tuyển chọn và truyền chức cho ai vì áp lực, hay vì thân quen "gửi gấm", mua chuộc, hơn là vì có điều kiện xứng đáng về đạo đức, khả năng (competence) và ý thức trách nhiệm.
Sứ vụ Tông Đồ (Apostolic Ministries) là Sứ Vụ mà Chúa Kitô đã trao lại cho các Tông Đồ để các ngài tiếp tục rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa cho muôn dân và phục vụ mọi người theo gương Chúa Kitô, Người "đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho muôn người." (Mt 20: 28)
Như thế việc chọn lựa và bổ nhiệm các Giám mục phải là việc rất hệ trọng vì cần có người xứng đáng kế vị các Thánh Tông Đồ cho nhu cầu thiêng liêng của Giáo Hội ngày nay. Đây không phải là "vinh quang trần thế" cho những ai thích "mũ gậy" mà phải là ơn gọi đặc biệt của Chúa dành cho những người Chúa muốn đặt lên để coi sóc Dân của Người.
Tóm lại, những ai có nhiệm vụ thi hành "Truyền thống kế vị Tông Đồ" để chọn hay tiến cử hoặc thuyên chuyển các Giám mục trong Giáo Hội, cần phải noi gương các Tông Đồ họp nhau cầu nguyện, gạt bỏ mọi thiên tư, hay vị lơi để cho Chúa Thánh Thần soi sáng, chỉ đạo việc rất hệ trọng này ngõ hầu Giáo Hội có được những vị lãnh đạo xứng đáng theo Ý Chúa muốn, chứ không theo ý người có tham vọng muốn địa vị này.
Đây cũng là điều rất quan trọng phải nói cho mọi người biết để cầu nguyện cho Giáo Hội được khôn ngoan trong việc chọn cấp lãnh đạo xứng đáng để thi hành sứ mệnh rao giảng Tin Mừng, thánh hóa và dạy dỗ dân Chúa được trao phó cho mình chăn dắt và bảo vệ để khỏi bị sói rừng là các thế lực thù nghịch của trần gian bách hại.
LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

-----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 76