mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1774
mod_vvisit_counterHôm Qua7440
mod_vvisit_counterTuần Này17938
mod_vvisit_counterTuần Trước54108
mod_vvisit_counterTháng Này173261
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11137854

We have: 114 guests online
Your IP: 54.166.141.12
 , 
Today: Jun 20, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THANH THAN HIEN XUONG PDF Print E-mail

Sunday, May 13, 2018
HienXuong1 - Thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật

CHIA SẺ TIN MỪNG

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

(20-5-2018)

«Giờ đã đến... [hãy] thờ phượng Chúa Cha
trong thần khí và sự thật» (Ga 4,23)

ĐỌC LỜI CHÚA

• Cv 2,1-11: (3) Họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống như lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. (4) Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần, họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác, tuỳ theo khả năng Thánh Thần ban cho.

• 1Cr 12,3b-7.12-13: (4) Có nhiều đặc sủng khác nhau, nhưng chỉ có một Thần Khí. (7) Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung.

• TIN MỪNG: Ga 20, 19-23

Đức Giêsu hiện ra với các môn đệ

(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: «Bình an cho anh em!» (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: «Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em». (22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: «Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ».

Câu hỏi gợi ý:

1. Bạn quan niệm thế nào về Thánh Thần? Ngài có đóng vai trò gì quan trọng trong đời sống Kitô hữu của bạn không? Cụ thể là gì?

2. Kế hoạch phát triển Giáo Hội của Thiên Chúa là «men trong bột». Nếu Thánh Thần kêu gọi bạn trở nên «men» cho mọi người, bạn có đáp lại lời mời gọi ấy không?

3. Muốn thật sự gặp gỡ Thánh Thần, phải thực hiện sự gặp gỡ ấy thế nào?

Suy tư gợi ý:

1. Thánh Thần hoạt động mạnh mẽ, nhưng... bị quên lãng

Từ khi Giáo Hội khai sinh, vai trò và hoạt động của Thánh Thần mới được chú ý tới nhiều, qua sự ý thức và nhấn mạnh của Giáo Hội, đặc biệt của Đức Giêsu, của các tông đồ. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã hứa ban Đấng Bảo Trợ, An Ủi cho Giáo Hội: «Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi» (Ga 14,16). Và Đấng Bảo Trợ ấy chính là Thánh Thần: «Đấng Bảo Trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em» (Ga 14,26).

Đức Giêsu đã ra đi để giao lại nhân loại và Giáo Hội cho Thánh Thần: «Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em ; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em» (Ga 15,26). Chính vì thế, hiện nay chúng ta đang sống trong thời hoạt động của Thánh Thần, Ngài đang hoạt động mạnh mẽ trong Giáo Hội và trong chính tâm hồn ta. Nhưng ta ít chú ý tới Ngài, mặc dù thời này là thời hoạt động của Ngài. Chúng ta thường tập trung quan tâm của mình vào Chúa Cha, nhất là Đức Giêsu. Vì thế, Thánh Thần trở thành vị Thiên Chúa bị quên lãng. Do đó, chúng ta ít hợp tác với Thánh Thần, và Thánh Thần không biến đổi ta một cách hữu hiệu được. Vì dù hoạt động mạnh mẽ thế nào, Thánh Thần vẫn luôn luôn tôn trọng tự do của con người. Thánh Thần luôn luôn mời gọi, nhưng con người vẫn luôn luôn có thể làm ngơ vì không quan tâm, hoặc từ chối lời mời gọi đó. Chính vì thế, công việc của Thánh Thần thật hết sức khó khăn.

2. Kế hoạch của Thiên Chúa

Thánh Thần là Đấng tiếp tục công trình của Đức Giêsu trong thế giới và Giáo Hội. Ngài luôn luôn thúc đẩy sự đổi mới trong Giáo Hội, để Giáo Hội ảnh hưởng tốt đến thế giới. Nhưng để được làm điều ấy, Thánh Thần luôn luôn phải hoạt động trong mỗi cá nhân. Cá nhân có thay đổi thì Giáo Hội mới thay đổi, cá nhân có nên thánh thì Giáo Hội mới thánh thiện. Tất cả mọi đều bắt đầu từ những cá nhân, và lan truyền từ cá nhân này sang cá nhân khác. Kế hoạch của Thiên Chúa để xây dựng Nước Trời là chiến lược «men trong bột» (Mt 13,33), «muối ướp đời» (Mt 5,13) hay «đèn sáng cho trần gian» (Mt 5,14).

Men là một chất có hoạt tính, có khả năng biến đổi chất bột tiếp xúc với mình trở nên giống như mình. Mất hoạt tính này, men không còn là men nữa, nó trở thành một thứ bột vô dụng. Muối hay đèn cũng có hoạt tính tương tự. Một hình ảnh khác là lửa, nhưng lửa có tác dụng lan truyền mạnh mẽ và nhanh chóng. Chính vì thế, Thánh Thần khi hiện xuống trên các tông đồ đã lấy hình lưỡi lửa làm biểu trưng cho mình.

Trong quá trình phát triển từ xưa đến nay, Giáo Hội vẫn theo chiến lược «men trong bột», nhưng phải nói rằng Giáo Hội đã phát triển theo chiều rộng nhiều hơn chiều sâu. Nội dung lan truyền chủ yếu là danh nghĩa, hình thức tôn giáo bên ngoài, hơn là tình trạng đích thực sống tinh thần Tin Mừng bên trong.

Biết bao Kitô hữu chỉ giữ đạo theo tập tục (siêng năng đọc kinh, dâng lễ, chịu các bí tích), nói chung là chuộng những thực hành thấy được, và lấy đó làm đủ, mà ít sống đạo, ít đi vào chiều sâu tâm linh, ít khi thật sự gặp gỡ Thiên Chúa. Việc thờ phượng Thiên Chúa chưa đúng với tinh thần «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24), mà còn mang nặng tính thể lý, bên ngoài, nên còn nhiều tính giả dối, không trung thực (ngoài và trong khác nhau). Thay vì «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và trong sự thật», thì lại thờ phượng Thiên Chúa qua hình thức, qua thể chất và trong giả dối. Vì thế, Giáo Hội dường như không còn phát triển mạnh như những thế kỷ trước nữa, thậm chí dừng lại hoặc sút giảm về mặt tỷ lệ dân số (mặc dù số lượng vẫn tăng theo đà phát triển dân số).

Chiến lược «men trong bột» đòi hỏi phải có những cá nhân thật tốt, thật nhiệt thành. Những cá nhân tốt ấy sẽ ảnh hưởng tốt sang những cá nhân khác bằng gương sáng, bằng những hoạt động nhiệt thành và tích cực, biến họ nên tốt, nên nhiệt thành như mình. Nhờ đó, những cá nhân tốt càng ngày càng được nhân lên. Càng nhiều cá nhân tốt thì Nước Trời càng phát triển, càng lớn mạnh.

Nhưng ai sẽ là men đây? Thánh Thần luôn mời gọi chúng ta trở nên «men», không chỉ là «men» mà còn là «men tốt». Mỗi khi lắng đọng tâm hồn lại, chúng ta đều nghe thấy tiếng Ngài mời gọi.

3. Làm sao trở thành men tốt?

Trong chiến lược phát triển Nước Trời, «men trong bột» phải có một «hoạt tính» rất mạnh, nghĩa là có khả năng biến đổi người khác nên tốt và nhiệt thành giống như mình. Như vậy, chính mình phải là người tốt và nhiệt thành đã, chính mình phải thật sự sống tinh thần Tin Mừng đã. Muốn thế, ta phải tiếp xúc với Thánh Thần, nguồn phát sinh «hoạt tính» ấy.

Nhưng làm sao tiếp xúc với Thánh Thần? Bằng cách kêu cầu Ngài với những kinh hay những bài ca về Thánh Thần chăng? − Phải nói đó là những cách thấp nhất để tiếp xúc với Thánh Thần, thường chỉ dành cho những người chưa thể cầu nguyện tự phát, cầu nguyện bằng tâm tình, hay những người chưa biết cách cầu nguyện. Muốn có một đời sống nội tâm thật sự, muốn tiến triển trên con đường tâm linh, ta cần phải tiếp xúc với Thánh Thần một cách thật sự và hữu hiệu.

4. Làm sao để tiếp xúc với Thánh Thần thật sự và hữu hiệu?

Muốn tiếp xúc với Ngài, trước hết phải biết Ngài ở đâu, bản chất của Ngài thế nào.

Thánh Thần là thần khí (spirit = tinh thần), hiện diện khắp nơi, tràn đầy trong vũ trụ, trong không gian và thời gian. Chúng ta có tinh thần, và tinh thần của ta cũng là thần khí (spirit = tinh thần). Một cách nào đó, tinh thần của ta phần nào cũng đồng bản chất với Ngài. Chính vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, phải gặp bằng chính thần khí hay tinh thần của ta. Đức Giêsu đã nhắc nhở: «Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người phải thờ phượng trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24).

Nếu ngày xưa thánh Phaolô nói: «Chúng ta, những người thờ phượng Thiên Chúa nhờ Thần Khí của Người, mới thật là những người được cắt bì» (Pl 3,3), thì ngày nay ta cũng có thể nói: chỉ những ai thờ phượng Thiên Chúa trong Thần Khí, mới là người Kitô hữu đích thực. Đó là những người thờ phượng Thiên Chúa bằng tinh thần, bằng tâm hồn, bằng ý thức và bằng tình yêu, bằng việc thật sự gặp gỡ và sống trong Thánh Thần; chứ không phải chỉ bằng những nghi thức bề ngoài, dù những nghi thức này lắm khi cũng cần thiết.

Thờ phượng Thiên Chúa bên ngoài mà không có bên trong, hay hình thức bên ngoài không phù hợp với tâm tình bên trong, là thờ phượng trong giả dối, không phải là trong chân lý.

Thánh Thần tuy tràn lan trong vũ trụ, nhưng lại hiện diện «đặc sệt» và tràn đầy nhất trong tâm hồn ta. Thánh Phaolô viết: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?» (1Cr 3,16); «Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần mà chính Thiên Chúa đã ban cho anh em» (1Cr 6,19). Vì thế, muốn gặp gỡ Thánh Thần, không gì tốt hơn là gặp Ngài trong chính bản thân mình, bằng tinh thần của mình.

Việc gặp gỡ Ngài rất dễ dàng: chỉ cần hồi tâm lại, ý thức Ngài đang hiện diện ngay trong bản thân mình, và muốn được tan hòa vào trong Ngài. Điều quan trọng trong việc gặp gỡ Thánh Thần là những ý thức và tâm tình có thực bên trong, chứ không phải là những lời cầu nguyện phát biểu ra, dù là phát biểu trong tâm trí. Tuy nhiên, nếu những lời ấy tự nhiên bộc phát ra từ đáy lòng, thì cũng là điều rất tốt. Tuyệt đối không nên sáng tác ra bất kỳ lời nào khi không có những tâm tình đích thực bên trong, vì cầu nguyện như thế là thờ phượng trong giả dối. Lời bộc phát ra phải luôn luôn phù hợp với tâm tình có thực bên trong mới là thờ phượng trong chân lý.

5. Ý thức và tâm tình phải có khi tiếp xúc với Thánh Thần

Khi hồi tâm để tiếp xúc với Thánh Thần, ngoài việc ý thức sự hiện diện thật sự của Ngài trong tâm hồn ta, ta nên ý thức rằng Ngài là nguồn sức mạnh, nguồn yêu thương của ta. Hãy giục lòng tin tưởng rằng: nếu năng tiếp xúc với Ngài thì sức mạnh và khả năng yêu thương vô biên của Ngài sẽ truyền sang ta, như năng lượng từ dòng điện truyền sang dụng cụ điện, làm dụng cụ ấy hoạt động. Thường xuyên tiếp xúc với Ngài như vậy, nội lực và tình thương của ta ngày càng tăng lên một cách cảm nghiệm được.

Ngoài ra, ta cần tan hòa trong Thánh Thần bằng tâm tình «tự hủy» (kenosis), «tự sát tế» của Đức Giêsu. Nghĩa là có sự quyết tâm muốn quên mình, xóa bỏ mình trước Thiên Chúa và tha nhân, không tự coi bản thân mình, ý riêng của mình, và những gì của mình là quan trọng. Tâm tình ta cần có là: «Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi» (Ga 3,30), nhỏ đi chừng nào tốt chừng nấy.

Song song với tâm tình «tự hủy» cần phải có là tâm tình «vị tha». Nghĩa là có sự quyết tâm sống cho Thiên Chúa và tha nhân, đặc biệt sẵn sàng làm tất cả những gì Thánh Thần đề nghị để gieo tình thương và hạnh phúc nơi nơi, cho tất cả mọi người chung quanh ta.

Và cuối cùng là lắng nghe tiếng của Thánh Thần vang dội trong lòng mình. Tiếng của Ngài ngày càng trở nên rõ ràng và mạnh mẽ nếu ta luôn luôn quảng đại đáp lại lời mời gọi của Ngài. Tiếng của Ngài sẽ dần dần yếu đi nếu ta bỏ lơ hay không đáp lại lời mời gọi ấy.

Thường xuyên gặp gỡ Ngài như thế, chắc chắn cuộc đời của ta sẽ biến đổi và trở nên men tốt, muối tốt và ánh sáng rực rỡ cho xã hội, Giáo Hội và đặc biệt cho môi trường chung quanh ta. Và đó chính là cách ta «thờ phượng Thiên Chúa trong thần khí và sự thật» (Ga 4,24).

*TÔI CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN:

Lạy Cha, Cha đã ban Thánh Thần cho thế giới. Nhưng dường như sự hiện diện của Ngài trong thế giới ít được người Kitô hữu quan tâm đến trong đời sống thực tế của mình. Nếu có thì thường chỉ được nhắc đến trong phụng vụ. CON QUYẾT TÂM năng tiếp xúc với Thánh Thần để được tan hòa trong Ngài và nhận được tràn đầy sức mạnh và khả năng yêu thương của Ngài. Nhờ đó con trở nên muối men cho đời, cho những người chung quanh con, để biến họ nên tốt lành và hạnh phúc hơn.

Nguyễn Chính Kết

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU SAU-CN7PS-B PDF Print E-mail

Thứ Sáu Tuần VII Phục Sinh

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG : Phúc Âm (Gioan 21:15-19)

"Khi Chúa Giêsu đã tỏ mình ra cho các môn đệ, Người dùng bữa với các ông, và hỏi Simon Phêrô rằng: 'Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?' Ông đáp: 'Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy'. Người bảo ông: 'Con hãy chăn dắt các chiên con của Thầy'. Người lại hỏi: 'Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?' Ông đáp: 'Thưa Thầy: Có, Thầy biết con yêu mến Thầy'. Người bảo ông: 'Con hãy chăn dắt các chiên con của Thầy'. Người hỏi ông lần thứ ba: 'Simon, con ông Gioan, con có yêu mến Thầy không?' Phêrô buồn phiền, vì thấy Thầy hỏi lần thứ ba 'Con có yêu mến Thầy không?' Ông đáp: 'Thưa Thầy, Thầy biết mọi sự: Thầy biết con yêu mến Thầy'. Người bảo ông: 'Con hãy chăn dắt các chiên mẹ của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho con biết: khi con còn trẻ, con tự thắt lưng lấy và đi đâu mặc ý, nhưng khi con già, con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn đến'. Chúa nói thế có ý ám chỉ Phêrô sẽ chết cách nào để làm sáng danh Thiên Chúa. Phán những lời ấy đoạn, Người bảo ông: 'Con hãy theo Thầy'".

Chiều kích Hiệp Nhất Thần Linh trong bài Phúc Âm của Thứ Sáu Tuần VII Phục Sinh hôm nay là ở chỗ: 1- lòng yêu mến Thày nơi Tông Đồ Phêrô, và 2- vai trò thay Thày chăn đàn chiên của Thày và cho Thày. Thật vậy, nếu không yêu mến Thày, không phải bằng một lòng yêu tầm thường, mà là bằng một lòng yêu mến trổi vượt, "hơn những người này", tức là hơn các tông đồ khác, thì mới có khả năng và đủ tư cách để thay Thày chăn dắt đoàn chiên của Thày và chăn dắt đàn chiên như Thày.

Mà chăn dắt đàn chiên của Thày như Thày đây nghĩa là gì, nếu không phải, như Người đã tiên báo trong bài Phúc Âm hôm nay cho vị tông đồ sẽ đại diện Người cai quản đàn chiên Giáo Hội của Người, đó là sẽ chịu chung số phận tử nạn giống Thày: "Thật, Thầy bảo thật cho con biết: khi con còn trẻ, con tự thắt lưng lấy và đi đâu mặc ý, nhưng khi con già, con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn đến'. Chúa nói thế có ý ám chỉ Phêrô sẽ chết cách nào để làm sáng danh Thiên Chúa".

Ở ngay câu tiên báo về số phận của tông đồ Phêrô, Chúa Giêsu đã cho thấy trước linh đạo Kitô giáo không phải ở chỗ con người có thể chủ động làm được gì cho Ngài theo ý mình: "khi con còn trẻ, con tự thắt lưng lấy và đi đâu mặc ý", mà là chính Thiên Chúa làm việc của Ngài qua con người và nhờ con người: "nhưng khi con già, con sẽ giang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho con và dẫn con đến nơi con không muốn đến", miễn là con người tin tưởng phó thác mọi sự: "Con hãy theo Thày", kể cả chính bản thân mình cho Ngài. "Người cần phải lớn lên còn tôi sẽ phải nhỏ lại" (Gioan 3:30).

Linh đạo Kitô giáo là linh đạo ngược chiều với đường lối tự nhiên: ở chỗ, thay vì trưởng thành, lớn lên thì lại phải càng nhỏ bé mới càng lớn trên Nước Trời (xem Mathêu 18:4). Chúa Kitô sau 3 năm đi khắp nơi rao giảng và làm phép lạ, cuối cùng đã trở thành bất lực trên thập tự giá, không thể xuống khỏi thập giá đúng như lời thách thức đầy mỉa mai khinh bỉ của thành phần đầu mục Do Thái, thì lại chính là lúc cứu độ, là lúc Thiên Chúa tỏ hết mình ra nơi Người và qua Người. Các môn đệ được Người kêu gọi "hãy theo Thày" cũng thế, theo đúng như nguyện vọng của Người: "Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu, chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con".

Về phần mình, cho dù biết trước thân phận của mình như thế, vì yêu Thày hơn ai hết, nhất là sau 3 lần trắng trợn chối bỏ Người mà vẫn được Người thứ tha và tin tưởng trao phó đàn chiên cao quí của Người cho mình, vị tông đồ này vẫn đáp ứng lời kêu gọi của Thày: "Con hãy theo Thầy", trong việc đóng vai trò là "vị mục tử tốt lành hiến mạng sống mình vì chiên" (Gioan 10:11) như Thày, một đàn chiên không phải chỉ toàn dân Do Thái mà bao gồm cả dân ngoại trong đế quốc Rôma bấy giờ, một đế quốc đã sát hại ngài tại chính thủ đô Rôma mà cho tới nay đã trở Giáo đô của Kitô giáo nói chung và Giáo Hội Công giáo nói riêng.

Bài Phúc Âm hôm nay và ngày mai là hai bài Phúc Âm được Giáo Hội cố ý chọn đọc để kết thúc Mùa Phục Sinh về chủ đề "Thày là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25). Hai bài Phúc Âm này của Thánh Gioan là những câu cuối cùng của Phúc Âm Thánh Gioan. Tuy nhiên, nếu để ý chúng ta sẽ thấy đoạn cuối cùng của các Phúc Âm nói chung và Phúc Âm Thánh Gioan nói riêng này không phải là một két thúc đóng mà là một kết thúc mở, ở chỗ, hướng về tương lai, hướng về Giáo Hội, hướng về truyền giáo, hướng về toàn thể thế giới nhân loại, hướng về cánh chung (như bài Phúc Âm ngày mai của Thánh ký Gioan sẽ cho thấy).

Thật vậy, đáng lẽ sau 3 bài Phúc Âm cho Thứ Ba, Thứ Tư và Thứ Năm tuần VII Phục Sinh này, theo Phúc Âm Thánh ký Gioan, đoạn 17 là đoạn về lời nguyện của Chúa Kitô kết thúc Bữa Tiệc Ly, một lời nguyện bao gồm tất cả dự án cứu độ và công cuộc cứu độ của Thiên Chúa, phụng vụ lời Chúa của chung Mùa Phục Sinh đã kết thúc rồi mới phải.

Thế nhưng, Giáo Hội vẫn còn giành 2 bài Phúc Âm, cũng của Thánh ký Gioan, 2 bài Phúc Âm cuối cùng của vị thánh này, một liên quan đến tông đồ Phêrô (hôm nay), và một liên quan đến tông đồ Gioan (ngày mai), để kết thúc phụng vụ lời Chúa Mùa Phục Sinh, vì thật ra Mầu Nhiệm Chúa Kitô không kết thúc ở Mầu Nhiệm Vượt Qua là Tử Giá (được Giáo Hội cử hành trong Tuần Thánh) và Phục Sinh (được Giáo Hội cử hành trong Mùa Phục Sinh), mà ở Mầu Nhiệm Cánh Chung, bao gồm cả Mầu Nhiệm Giáo Hội, Nhiệm Thể Chúa Kitô, nơi Người "sẽ ở cùng cho đến tận thế" (Mathêu 28:20) bằng chính Thánh Thần của Người từ Cha sai đến trên các Tông Đồ vào Lễ Ngũ Tuần ở Giêrusalem, nhờ đó Người tiếp tục tỏ mình ra cho chung nhân loại, "cho đến tận cùng trái đất" (Tông Vụ 1:8), cho đến khi "Người lại đến trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ không bao giờ cùng".

Bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến Thánh Phêrô là thủ lãnh Giáo Hội, là chủ chiên thay cho chính Chúa Kitô, một Chúa Kitô tiếp tục chẳng những chăn dắt đàn chiên của mình, cả chiên nhỏ (là giáo dân - lamb) lẫn chiên lớn (bao gồm cả hàng giáo sĩ - sheep, và giáo phẩm - sheep), nơi các vị giáo hoàng đại diện của Người trên trần gian này, mà còn "hiến mạng sống mình vì chiên... cho chiên được sự sống và là sự sống viên mãn" (Gioan 10:11,10) qua các ngài nữa, như Người đã báo trước cho tông đồ Phêrô trong bài Phúc Âm hôm nay, vị tông đồ đã được Người gọi "hãy theo Thày" để có thể tỏ Thày ra cho thế gian bằng chứng từ của lòng mến đã đạt tới độ hiệp nhất nên một với Người "để thế gian tin rằng Cha đã sai Con" (Gioan 17:23).

Bài Phúc Âm hôm nay còn chất chứa một câu Chúa Giêsu nói với tông đồ Phêrô về số phần chứng nhân là: "Chúa nói thế có ý ám chỉ Phêrô sẽ chết cách nào để làm sáng danh Thiên Chúa", một câu đã cho thấy ý nghĩa đích thực của những gì Người đã nguyện cùng Cha của Người ở Lời Nguyện Hiến tế kết thúc Bữa Tiệc Ly: "Con đã ban cho chúng vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để chúng nên một như Chúng Ta là một". Đúng thế, chính lời kêu gọi của Chúa Giêsu với vị chủ chăn tối cao đại diện Người trên trần gian là tông đồ Phêrô: "Con hãy theo Thày" kết thúc Bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy ý nghĩa đích thực về thân phận bất khả phân ly giữa Thày trò với nhau ở câu: "Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu, chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con trước khi tạo thành thế gian"

Ý nghĩa ấy là vinh hiển hay vinh dự của Người là Con Thiên Chúa cũng như vinh quang hay vinh danh của thành phần môn đệ tông đồ của Người đó là trở thành chứng từ của Thiên Chúa, Đấng tỏ mình ra, qua Con cũng như qua những ai "thuộc về Cha" và "là của Cha" mà "Cha đã ban cho Con trên thế gian", để nhờ đó Ngài được vinh hiển, ở chỗ được thế gian nhận biết mà hoàn thành ý muốn cứu độ tối cao của Ngài trong việc tạo dựng nên con người theo hình ảnh thần linh như Ngài và tương tự như Ngài (xem Khởi Nguyên 1:26-27): "Con không cầu xin cho chúng mà thôi, nhưng còn cho tất cả những kẻ, nhờ lời chúng mà tin vào Con, để mọi người nên một, cũng như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để cả chúng cũng nên một trong Ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con".

Bài Đọc 1 (Tông Vụ 25:13-21)

"Trong những ngày ấy, vua Agrippa và Berni xuống Cêsarêa chào Phestô. Vì hai người lưu lại đó nhiều ngày, nên Phestô đem chuyện Phaolô trình nhà vua rằng: 'Ở đây có một người tù Phêlixê để lại. Lúc tôi ở Giêrusalem, các thượng tế và kỳ lão Do-thái đã đến xin tôi lên án hắn. Tôi đã trả lời với họ rằng: 'Người Rôma không có thói quen lên án người nào trước khi bị cáo đối diện với nguyên cáo, và có cơ hội bào chữa để thanh minh tội mình'. Vậy họ liền đến đây, ngày hôm sau tôi ngồi toà án, truyền điệu bị cáo đến. Các nguyên cáo đều có mặt, nhưng không đưa ra một tội trạng nào, như tôi đã ngờ trước; họ chỉ tố cáo hắn mấy điều về mê tín, về một Giêsu nào đó đã chết mà Phaolô quả quyết là vẫn sống. Ðang phân vân về vấn đề ấy, tôi hỏi hắn có muốn đi Giêrusalem để được xét xử tại đó về các điều ấy không. Nhưng Phaolô nại đến thẩm quyền của hoàng đế Augustô, nên tôi đã truyền giữ hắn lại để nạp cho hoàng đế'".

Trong bài đọc 1 hôm nay, Thánh ký Luca chỉ thuật lại lời của nhân vật Phesto của đế quốc Rôma ngỏ cùng vua Agrippa về trường hợp của bị cáo Phaolô, mà nguyên cáo của bị cáo này "chỉ tố cáo hắn về mê tín, về một Giêsu nào đó đã chết mà Phaolô quả quyết là vẫn sống".

Đây là chi tiết cho thấy tất cả chứng từ của vị tông đồ dân ngoại này là một Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng đã tỏ mình ra cho ngài trên đường ngài đang rong ruỗi bắt bớ Kitô hữu, và là Đấng đã làm cho ngài sáng mắt ra bằng quyền năng phục sinh của mình để biến đổi ngài thành "ánh sáng chư dân, thành phương tiện cứu độ cho đến tận cùng trái đất" (Tông Vụ 13:47).

Thế nhưng vị tông đồ dân ngoại này sẽ không thể nào hoàn thành sứ vụ vô cùng khó khăn đầy khổ nạn của mình nếu không Hiệp Nhất Thần Linh với Đấng đã tuyển chọn mình và sai mình đi. Đến độ, ngài đã cảm nghiệm thấy rằng: "sự sống tôi đang sống đây không phải là tôi sống mà là Chúa Kitô sống trong tôi" (Galata 2:20).

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO -LAM SAO DE THANH THAN PDF Print E-mail

Trầm Tư Bên Suối SỐNG ĐẠO Làm sao tạo điều kiện để Thánh Thần hoạt động trong ta?
Làm sao tạo điều kiện để Thánh Thần hoạt động trong ta?
tháng 5 -18, 2018 SỐNG ĐẠO

Làm sao tạo điều kiện
để Thánh Thần hoạt động trong ta?

Nguyễn Chính Kết

1. Thánh Thần là ai?
Khi xem một cuốn phim trên màn ảnh hay trên tivi, hầu như ta chỉ nhìn thấy những hình ảnh chuyển động trong phim
chứ không còn trông thấy màn ảnh hay cái tivi nữa. Nhưng thật ra, nếu xét về sự hiện hữu, thì cái màn ảnh hay cái tivi là cái gì có thật làm nền tảng cho những hình ảnh chuyển động kia hiện hữu. Mức độ hiện hữu của màn ảnh hay cái tivi cao hơn những hình ảnh kia rất nhiều. Sở dĩ ta không thấy màn ảnh là vì tâm trí ta bị cuốn hút hoàn toàn bởi những hình ảnh đang xuất hiện trước mắt ta đến nỗi ta không còn trông thấy và ý thức về sự hiện hữu của màn ảnh hay cái tivi nữa. Dù không thấy màn ảnh, nhưng thực ra, khi nhìn vào những hình ảnh chuyển động, là ta đã nhìn vào chính màn ảnh, vì hình ảnh và màn ảnh khi ấy tuy hai mà một. Ta không thấy màn ảnh là vì tâm trí ta bị thu hút hoàn toàn vào những hình ảnh đang diễn ra trên đó, màn ảnh đã bị những hình ảnh «che khuất».

Cũng tương tự như vậy đối với Thánh Thần. Thánh Thần không phải là một thực tại xa cách chúng ta, mà ở ngay trong bản thân ta.
Đức Giêsu nói: «Thánh Thần luôn ở giữa anh em và ở trong anh em» (Ga 14,17b);
Thánh Phaolô cũng viết: «Nào anh em chẳng biết rằng anh em là Đền Thờ của Thiên Chúa, và Thánh Thần Thiên Chúa ngự trong anh em sao?» (1Cr 3,16; x.1Cr 6,19).

Tất cả những gì tốt đẹp khởi lên trong tư tưởng ta, những gì tốt đẹp mà ta thực hiện được, đều xuất phát từ Thánh Thần ở ngay trong ta.
Và Thánh Thần làm nên tất cả những cái tốt đẹp ấy và là nền tảng của chúng.
Nhưng ta dường như chỉ thấy những điều tốt đẹp, mà không thấy Thánh Thần ở sau những điều tốt đẹp ấy.
Nếu một số Kitô hữu xưa nói: «Ngay cả việc có Thánh Thần, chúng tôi cũng chưa hề được nghe nói» (Cv 19,2),
thì nhiều Kitô hữu ngày nay cũng chỉ biết Thánh Thần một cách hết sức lý thuyết qua những lời kinh câu bổn học được từ nhỏ, mà nhiều khi ngay cả người dạy cũng chỉ biết được một cách lý thuyết.

Thật ra Thánh Thần là một thực tế rất sống động ở trong ta, là sự sống, là tình yêu, là sự hiện hữu của Thiên Chúa ở trong ta.
Không có Ngài, ta chẳng làm nên được một điều gì tốt đẹp, chẳng thể hướng về Thiên Chúa và cầu nguyện với Ngài, chẳng thể yêu thương và hy sinh cho tha nhân. Thánh Kinh xác định:

− «Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa» (1Cr 2,11);

− «Không ai có thể nói rằng: "Đức Giêsu là Chúa", nếu người ấy không ở trong Thần Khí» (1Cr 12,3);

− «Không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em» (Mt 10,20);

− «Chính Thần Khí cầu thay nguyện giúp chúng ta» (Rm 8,26);

− «Chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách» (1Cr 12,11);

− «Chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta là nhờ Thần Khí» (1Ga 3,24).

2. Làm sao cảm nghiệm được Thánh Thần?

Không mấy ai thấy Thánh Thần hay cảm nghiệm Ngài một cách trực tiếp, mà chỉ có thể cảm nghiệm Ngài cách gián tiếp qua những biểu hiện của Ngài thôi.
Cũng tương tự như không ai thấy được dòng điện, nhưng dòng điện trở nên rất cụ thể và rất gần gũi với chúng ta nhờ những biểu hiện của dòng điện, như đèn sáng, quạt quay, bếp nóng lên...
Cũng vậy, Thánh Thần sẽ trở nên rất cụ thể và gần gũi với ta, nếu ta nhận ra được những biểu hiện lúc nào cũng có của Ngài trong đời sống của ta và chung quanh ta.

Chẳng hạn, khi viết bài này, tôi thấy mình có những tư tưởng về Thiên Chúa, về Thánh Thần, và cảm thấy hứng thú vì có thể đem lại ích lợi cho Giáo Hội, cho tha nhân, v.v...
Đó là những biểu hiện của Thánh Thần hoạt động ở trong tôi.
Hoặc khi bạn đọc bài của tôi, bạn hiểu và cảm thấy hứng khởi để sống tốt đẹp hơn, v.v... Đó là những biểu hiện hay việc làm của Thánh Thần ở trong bạn.
Quan niệm như vậy, ta sẽ thấy Thánh Thần –phần nào tương tự như dòng điện vô hình kia– là một thực tại, một đấng, một Thiên Chúa rất cụ thể, sống động và rất gần gũi với ta.
Không một giây phút nào ta có thể sống, thở, suy nghĩ, làm những điều tốt đẹp... mà không do Ngài.

Phải thấy Ngài cụ thể và gần gũi như thế, ta mới thân mật được với Ngài, mới nhận được dồi dào sức mạnh, sự sống, tình yêu, ân sủng, và hoa trái của Ngài.
Và hoa trái của Ngài là «bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ» (Gl 5,22-23a).
Nếu không cảm nghiệm được Ngài như thế, đời sống tâm linh của ta sẽ hết sức trừu tượng, xa vời, thiếu thực tế.
Còn nếu cảm nghiệm được Ngài, ta sẽ thấy đời sống tâm linh rất cụ thể, nhiều hứng thú, và đầy những khám phá mới lạ.

Thánh Thần ở trong ta cũng chính là Thánh Thần đã đưa Đức Giêsu vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ (x. Mt 4,1),
đã hiện hình thành chim bồ câu đậu xuống trên Ngài khi Ngài chịu phép rửa (x. Mt 3,16),
đã soi sáng và linh hứng Ngài nói lên tất cả những gì cần phải nói để dạy dỗ con người (x. Lc 10,21; Mc 13,11; Cv 2,4),
đã ngự xuống trên các tông đồ dưới hình lưỡi lửa vào ngày lễ Ngũ Tuần sau khi Đức Giêsu về trời (x. Cv 2,3), v.v...
Chính Thánh Thần đó đang hoạt động trong bản thân ta, đang dần dần biến đổi ta và hướng dẫn ta tới «sự thật toàn vẹn» (Ga 16,13),
miễn là ta cho phép Ngài hoạt động trong ta và ta cùng cộng tác với Ngài.

3. Làm sao để Thánh Thần hoạt động hữu hiệu trong ta?

Thánh Thần luôn hiện diện và sẵn sàng hoạt động ngay trong bản thân ta.
Sẵn sàng hoạt động có nghĩa là Ngài sẽ hoạt động ngay nếu ta cho phép Ngài hoạt động.
Ngài giống như dòng điện đã được thiết kế sẵn sàng ở trong phòng, chỉ cần bật công-tắc lên là đèn sáng, biến căn phòng tối om thành sáng choang. Không bật công-tắc lên, thì điện tuy có trong phòng nhưng vẫn dường như không có, chẳng đem lại lợi ích gì.

Cũng vậy, nếu ta không «đánh thức» Thánh Thần dậy (tạm nói như vậy, vì ta không ý thức sự hiện diện của Ngài, chứ Thánh Thần có bao giờ ngủ đâu!),
thì Ngài cũng giống như Đức Giêsu ngủ say trong thuyền của các tông đồ khi sóng gió đang muốn làm con thuyền lật úp, mà Ngài chẳng làm gì cả (x. Mc 35-41).
Nhưng khi Ngài được đánh thức dậy, Ngài lập tức làm cho sóng gió lặng yên.
Trong máy vi tính, có nhiều trường hợp ta bị đảo điên vì virus hoành hành, đang khi ta có cả một chương trình chống virus rất hữu hiệu.
Sở dĩ virus vẫn hoành hành là vì ta quên rằng máy mình đã có sẵn một chương trình chống virus, hay vì ta không kích hoạt (activate) chương trình ấy để làm cho nó hoạt động.
Cũng vậy, Thánh Thần tuy hiện diện thường trực trong ta, nhưng vẫn thụ động, vì ta không tạo điều kiện cho Ngài hoạt động.

Thánh Thần không hoạt động hữu hiệu trong ta khi ta không ý thức sự hiện diện của Ngài trong ta.
Những lời kinh như: «Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến!» khiến ta thường lầm tưởng Thánh Thần không ở trong ta, mà ở tận đâu đâu, xa lắm.
Đôi khi ta lập đi lập lại lời cầu ấy thật nhiều lần mà dường như Ngài vẫn ở tận đâu đâu, chẳng chịu đến.
Thật ra, trước khi ta cầu xin Ngài đến, thì Ngài vẫn ở ngay trong ta từ đời thuở nào rồi (x. 1Cr 3,16; 1Cr 6,19).
Nhưng Ngài ở trong ta cách thụ động, như một người ngủ, vì ta không đánh thức Ngài dậy bằng cách ý thức sự hiện diện của Ngài trong ta.

Ý thức Thánh Thần ở trong ta là điều kiện tiên quyết để Ngài hoạt động.
Nhưng Ngài chỉ hoạt động hữu hiệu khi không bị chính ta và ý riêng của ta cản trở.
Một người có «cái tôi» quá lớn, coi mình như «cái rốn của vũ trụ», và coi ý riêng mình là quan trọng nhất trên đời, thì Thánh Thần không có cách nào hoạt động hữu hiệu nơi người ấy được. Một ly nước đã đầy ắp không thể chứa thêm được chút nước nào nữa. Cũng vậy, tâm thức của một người đã đầy ắp «cái tôi» của mình rồi, thì không còn chỗ nào cho Thánh Thần hoạt động nữa.

Làm sao ta có thể nói được như thánh Phaolô:
«Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi» (Gl 2,20),
khi mà ta không để Ngài chiếm trọn bản thân ta, và làm mọi việc trong ta theo ý của Ngài?
Cũng vậy, Thánh Thần không thể hoạt động và biến đổi ta khi ta không để Ngài làm chủ bản thân ta, mà chỉ coi Ngài như một người khách lạ đến chơi nhà.
Một người khách làm sao có thể hoạt động hữu hiệu được trong nhà do một người khác làm chủ?
Muốn Thánh Thần hoạt động hữu hiệu trong bản thân ta, biến đổi ta nên con người mới, hãy để Ngài hoàn toàn làm chủ bản thân ta, và ta hãy làm tất cả những gì Ngài muốn ta làm.

Để Thánh Thần làm chủ bản thân ta, để Ngài hoàn toàn tự do làm những gì Ngài muốn ở nơi ta, Ngài sẽ biểu hiện quyền năng vô biên của Ngài trong ta.
Ngài chính là kho tàng hay viên ngọc quý ở ngay trong ta mà Đức Giêsu đã giới thiệu trong Tin Mừng (x. Mt 13,44-46).
Muốn được viên ngọc quý ấy, ta phải bán hết gia tài mình có mới mua được.
Gia tài ta phải bán hết chính là «cái tôi» hay chính bản thân ta, cùng với tất cả ý riêng của ta.
Chính khi ta không còn «cái tôi» ích kỷ của mình nữa, thì một «cái tôi» mới sẽ phát sinh, bao hàm trong đó tất cả mọi người mọi vật trong vũ trụ.
Lúc đó ta sẽ thấy mọi người mọi vật trong vũ trụ đều là chính bản thân ta, và ta sẽ yêu thương tất cả như ta yêu thương tất cả mọi bộ phận đang có trong thân thể ta. Và trong linh hồn ta lúc ấy, chính Thánh Thần, luôn chủ động làm tất cả mọi việc.

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - NGUYEN NHAN LY GIAO PDF Print E-mail

NGUYÊN NHÂN NÀO ĐÃ GÂY RA NHỮNG CUỘC LY GIÁO TRONG GIÁO HỘI ?
Hỏi :
Xin cha giải thích rõ hai thắc mắc quan trọng sau đây:
1- Vì sao trong quá khứ có lần Tòa Thánh La Mã lại ở Avignon, Nước Pháp?
2- Nguyên nhân nào đã gây ra cuộc ly giáo Tây Phương .( Western Schism) ,và ly giáo Đông Tây ?( Eastern Schism) ?
Trả lời :

1- Giáo Hội mà Chúa Kitô thiết lập trên nền tảng Tông Đồ dã trải qua nhiều biến cố từ buổi ban đầu cho đến ngày nay.Về mặt tín lý, đã có những tà thuyết ( heresies) và bội giáo (Apostacies) xuất hiện khiến Giáo Hội phải chiến đấu để vượt qua hầu giữ vững đức tin Kitô Giao tinh tuyền. Thêm vào đó là sự rạn nứt trong sự hiệp thông và hiệp nhất ( comm, unity) gọi chung là ly giáo ( schism) đã xảy ra và còn kéo dài cho đến ngày nay, khiến Giáo Hội của Chúa bị phân chia thành hai nhánh chính là Công Giáo La Mã ( Roman Catholicism) và Chính Thống Giáo Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) không còn hiệp thông và hiệp nhất với nhau từ năm 1054 cho đến nay.
2- Ngoài ra, còn phải kể thêm các nhóm khác đã tách ra khỏi hiệp thông và hiệp nhất với Giáo Hội , như các nhóm Tin Lành( Protestantism) và Anh Giáo ( Anglican Comm) đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã từ thế kỷ 16 cho đến nay.
Về việc Toà Thánh có lần đã "di cư" sang Avignon, thì đây là biến cố duy nhất trong lịch sử Giáo Hội, xảy ra việc Tòa Thánh La Mã đã "di cư" sang Pháp, đóng tại thành phố Avignon trong một thời gian khá lâu dài là 68 năm, kể từ năm 1309 đến năm 1377 . Các sử gia đã gọi thời kỳ này là " cuộc lưu đầy, hay cầm tù Babilone của Ngôi vị Giáo Hoàng (The Babilonian captivity of the papacy) .
Nguyên nhân của " cuộc lưu đầy" này có thể được tóm tắt như sau :
Vào thời kỳ cuối thế kỷ 12 và trong thế kỷ 13 , các phe phái chính trị và tôn giáo ở Ý và Pháp đã muốn tranh dành ảnh hưởng đối với Giáo Hội Công Giáo La Mã, nên đã là nguyên nhân chính khiến Ngai Tòa Phêrô bị di chuyển từ Rôma sang Avignon, Pháp, từ năm 1309 dưới triều Đức Giáo Hoàng Clement V ( người Pháp ) ( 1305- 1316).
Ngài được Hồng Y đoàn bầu lên năm 1309 với hy vọng làm dịu bớt căng thẳng giữa các phe người Pháp và Ý đang muốn dành ảnh hưởng đối với Giáo Hôi sau những năm sóng gió dưới triều Đức cố Giáo Hoàng Boniface VIII ( 1294- 1303).
Vì là người Pháp, nên Đức Clement V đã mang Tòa Thánh từ Rome về Avignon, một thành phố phía nam nước Pháp, năm 1309 để tránh phải đương đầu với gia đình Colonna, đầy quyền lực ở Ý khi đó , đang muốn nắm quyền cai trị về mọi phương diện chính trị, xã hội và tôn giáo ở Rôma trong thời điểm đó. Ngài được Hồng Y đoàn bầu lên ngôi Giáo Hoàng năm 1309 như một nhượng bộ nhằm hòa giải giữa hai phe người Ý và Pháp đang có ảnh hưởng lớn trong Giáo Hội Công Giáo Tây phương lúc bấy giờ, nhưng đã không đạt được mục đích mong muốn .Vì thế, Đức Giáo Hoàng Clement V đã mang Tòa Thánh về Avignon để tránh áp lực của các thế lực người Ý đang muốn dành quyền chi phối Giáo Hội trong gian đoạn khó khăn đó.
Tuy nhiên, khi cư trú trên đất Pháp, thì 7 Giáo Hoàng kế tiếp nhau lên ngôi ở đây cũng không tránh được bị chi phối và ảnh hưởng cúa các nhà vua trị vì Nước Pháp trong suốt thời kỳ này. Dầu vậy, truyền thống Tông Đồ ( Apostolic succession) vẫn được tôn trọng trong việc chọn Giáo Hoàng cũng như sứ vụ tông đồ vẫn được tiếp tục theo truyền thống trong việc cai quản Giáo Hội, mặc dù có bị thế quyền Pháp chi phối phần nào do việc Giáo Hội nằm trên lãnh thổ của Nước Pháp trong suốt 68 năm, với 7 Giáo Hoàng được bầu lên cách hợp pháp và có tên sau đây :
1- Clement V ( 1305-1316)
2- Joan XXII ( 1316-1334)
3- Benedict XII ( 1334-1342)
4- Clement VI ( 1342-1352)
5- Innocent VI ( 1352-1362)
6- Urbano V ( 1362-1370)
7- Gregory XI ( 1370- 1378)
Đức Gregory XI là Giáo Hoàng cuối cùng tại Avignon, đã quyết định mang Tòa Thánh trở lại Rôma năm 1377, do công khởi thủy của Đức Giáo Hoàng Urbano V ( 1362- 1370) và đặc biệt thể theo lời khẩn khoản nài van của nữ tu bí nhiệm Dòng ĐaMinh ( Mystic Dominican Sister) mà sau này đã trở thành Thánh Nữ Catherine thành Sienna.
Nhưng dù Tòa Thánh được mang trở lại Rôma với Đức Giáo Hoàng Gregory XI , Giáo Hội vẫn chưa an vị được ở Rôma, mà còn xảy ra cuộc ly giáo Tây phương ( Western Schism) giữa những người cùng hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã về phía Tây phương vì lý do sau đây:
2- Ly Giáo Tây Phương( Western Schism)
Từ ngữ ly giáo ( schism) xuất phát từ nguyên ngữ Hy lạp " schisma" có nghĩa là xé rách ra ( tear off ). Do đó, từ ngữ này được dùng để chỉ một tình trạng hay sự kiện rạn nứt trong sự hiệp nhất của Giáo Hội ( Unity in the Church) .Nhưng khác với tà giáo hay lạc giáo ( heresy) và bội giáo ( Apostacy) , ly giáo ( schism) không nhằm chối bỏ một chân lý nào của Kitô Giáo, hay đặt lại vấn đề về một tín lý nào,( dogma) mà chỉ là gương xấu đưa đến hậu quả làm mất sự hiệp thông ( comm) và hiệp nhất ( unity ) trong Giáo Hội do một vài phe nhóm chủ xướng mà thôi.
Cụ thể, quyết định mang Tòa Thánh trở lại Rôma của Đức Giáo Hoàng Gregory XI đã bị các Hồng Y và thế quyền Pháp chống đối, nên sau khi Đức Gregory XI qua đời ngày 27 tháng 3 năm 1378, Đức Urban VI được bầu lên kế vị ở Rôma , thì các Hồng Y người Pháp ở Avignon lại bầu một ngụy Giáo Hoàng (antipope) lên ngôi và lấy danh hiệu là Clement VII để tranh ngôi Giáo Hoàng với Đức Urban VI ở Rôma .
Và đây là nguyên nhân gây ra cuộc ly giáo Tây Phương trong Giáo Hội, kéo dài từ năm 1378 cho đến năm 1417 với hai Giáo Hoàng tại chức , một ở Avignon và một ở Roma; và sau này có thêm một Giáo Hoàng nữa do Công Đồng Pisa bầu lên, như sẽ nói sau đây.
Cuộc ly giáo trên đã xẩy ra vì có hai phe tranh giành ngôi vị Giáo Hoàng trong thời gian sóng gió đó. Trước hết là phe các nước nói tiếng Latinh và Pháp ủng hộ Giáo Hoàng Clement VII ở Avignon , đối đầu với phe người Đức và Anh ủng hộ Giáo Hoàng Urban VI ở Rome..
Giáo Hoàng Clement VII mất năm 1394 và người kế vị được bầu lên thay là Benedict XIII, tiếp tục cai trị ở Avignon. Ở bên kia, Giáo Hoàng Urban VI cũng mất năm 1397, và người kế vị được bầu lên là Gregory XII, người Roman. Như vậy trong thời kỳ này có hai giáo hoàng cùng tranh ngôi , một ở Pháp và một ở Rôma
Để giải quyết tình trạng này, các Hồng y và nghị phụ đã họp Công đồng tại Písa ngày 29-3-1409 và bầu Giáo Hoàng mới lấy danh hiệu là Alexander V, nhưng ngài chưa kịp về Roma nhậm chức thì đã mất ở Bologna ngày 3-5-1410, và người kế vị được bầu lên ngày 17-5-1411 đã lấy danh hiệu là Gioan XXIII. Nhưng tân Giáo Hoàng này tỏ ra là người không có đủ tài đức và khả năng lãnh đạo Giáo Hội, lại được bầu lên nhờ áp lực và tham vọng cá nhân, nên bị coi là nguy giáo hoàng ( antipope), và buộc phải thoái vị.
Như vậy, Giáo Hội một lúc có tới ba Giáo Hoàng cùng tranh giành Ngôi Tòa Phê rô: Đó là Gioan XXIII do Công Đồng Pisa bầu lên ngôi ngày 17-5-1411, trong lúc có hai Giáo Hoàng nữa đang tại chức là Benedict XIII ở Avignon và Gregory XII ở Rome như đã nói ở trên.
Vì thế, để giải quyết tình trạng bế tắc và gây tai tiếng trên đây , theo sáng kiến của Hoàng Đế Rôma là Sigismund of Luxembourg, Công Đồng Constance được triệu tập ngày 1-11-1417 như một cố gắng cuối cùng để giải quyết tình trạng ly giáo do việc ba Giáo Hoàng trên cùng tranh nhau quyền cai trị Giáo Hội. Kết quả, Công Đồng đã thuyết phục được Giáo Hoàng Gregory XII từ chức, hạ bệ ngụy giáo Hoàng Gioan XXIII, và truất phế vắng mặt Giáo Hoàng Benedict XIII ở Avignon.( ông này đã bỏ chậy trốn khi biết không còn hy vọng ở yên trên ngôi vị Giáo Hoàng được nữa)
Sau đó, ngày 11-11-1417 Công Đồng Constance đã bầu được Giáo Hoàng mới là Oddo Colonna , một nghị phụ tham dự Công Đồng, lên ngôi với danh hiệu Martin V để chấm dứt cuộc ly giáo Tây Phương kéo dài từ năm 1378 đến năm 1417.
Martin V là một thường dân ( layman) trí thức, đạo đức nhưng không có chức linh mục và giám mục. Nên sau khi được bầu lên, ngài đã được truyền chức linh mục và giám mục trước khi đăng quang Giáo Hoàng với danh hiệu Marin V.
Như thế , Công Đồng Constance đã đạt được thành quả lớn : đó là chấm dứt cuộc ly giáo Tây phương kéo dài từ năm 1378 đến 1417. Cuộc ly giáo này xảy ra chỉ vì các phe nhóm có thế lực ở Âu Châu, cụ thể là Pháp và Ý, đã tranh dành ảnh hưởng để dành ngôi vị Giáo Hoàng của Giáo Hội La Mã. Có thể nói tắt một điều : đây là hậu quả của thời kỳ thế quyền và thần quyền lẫn lộn tranh giành quyền cai trị Giáo Hội nên đã gây ra cuộc ly giáo đáng tiếc nói trên.
Có một chi tiết đáng chú ý trong giai đoạn ly giáo này là sự kiện Giáo Hoàng Gioan XXIII , lên ngôi năm 1410, bị coi là ngụy giáo hoàng ( antipope) vì không được bầu lên cách hợp pháp , lại thêm kém tài đức và nhân cách.Vì thế, sau này, khi Đức Hông Y Roncali được bầu Giáo Hoàng ngày 28 tháng 10 năm 1958, để kế vị Đức Thánh Cha Piô XII qua đời ngày 9-10-1958, ngài đã lấy lại danh hiệu Gioan XXIII để cai trị Giáo Hội cho đến ngày qua đời. ( 3-6-1963). Sư kiện này đủ minh chứng là "ngụy giáo hoàng Joan XXIII được Công Đồng Pisa bầu lên ngày 17-5- 1411 là bất hợp pháp.
Trên đây là đại cương nguyên nhân và diễn tiến cuộc ly giáo Tây Phương, một vết thương trong thân thể của Giáo, mặc dù chỉ kéo dài trong 38 năm., trong khi một vết thương khác lớn hơn và kéo dài hơn nữa cho đến nay : đó là cuộc ly giáo Đông Phương ( Eastern Schism) xảy ra giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Giáo Hội Chính Thống Constantinople ( Hy Lạp) bắt đầu từ năm 1054 cho đến nay. Và chưa biết đến bao giờ mới có thể chấm dứt vĩnh viễn để Giáo Hội của Chúa Kitô được hiệp thông và hiệp nhất trong cùng một sứ mệnh tuyên xưng đức tin Kitô Giáo và phúc âm hóa thế giới, để mang ơn cứu độ của Chúa Kitô đến với hết mọi người trên toàn thế giới, không phân biệt màu da, tiếng nói và văn hóa, cho đến ngày mãn thời gian.

3 Sau đây là nguyên nhân của cuộc ly giáo Đông Tây :
Cuộc ly giáo này đã xảy ra bắt đầu từ năm 1054 khi Giáo Hội Đông Phương mà đại diện khi đò là Michael Celarius ,Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinoble và đại diện Giáo Hội Tây Phương là Đức Thánh Cha Leo IX. Đôi bên đã gia vạ tuyệt thông cho nhau vì những bất đồng liên quan đến tín lý và đặc biệt là về vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, Giám mục Roma.
Trước hết về từ ngữ thì từ orthodoxy, theo ngữ căn Hy lap ( orthosdoxa) có nghĩa là ca ngợi đúng ( right praise) tin tưởng đúng ( right belief). Danh từ này được dùng trước tiên để chi lập trường của những giáo đoàn Kitô khi tham dự các Công Đồng Đại kết ( Ecumenical Councils) Nicea I ( 325 A,.D) Ephesô ( 431) và Chalcedon (451)trong đó, họ đồng thanh chấp nhận những giáo lý được coi là tinh tuyền của KitôGiáo =Christianity để đối nghịch với những gì bị coi là "tà thuyết hay lạc giáo=heresy ,
Nhưng sau này, từ ngữ Orthodoxy lại được dùng để chỉ lập trường của các Giáo Hội Đông Phương ( Eastern Churches) mà tiêu biểu là Giáo đoàn Constantinoble ( Hy Lạp) đối nghịch với Giáo Hội Phương Tây mà tiêu biểu là Giáo Hội Công Giáo La Mã ( Roman Catholic Church).
Về tín lý, đôi bên đã bất đồng về từ ngữ " Filioque ( và Con) trong Kinh Tin Kinh Nicea tuyên xưng Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha và Con (Chúa Con) mà ra. Quan trọng hơn nữa là Giáo Hội Chính Thống Hy Lap không công nhận Đức Thánh Cha là Đấng thay mặt ( Vicar) Chúa Kitô trong vai trò Thủ Lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ La Mã.Vì không công nhận vai trò của Đức Giáo Hoàng, nên các Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều do các Giáo Hoàng công bố , đặc biệt là ơn bất khả ngộ ( infallibility) của Đức Thánh Cha trong hai lãnh vực đức tin và luân lý mà Công Đồng Đai Kết Vaticanô I (1870) đã tuyên bố. Vì những bất đồng này mà đôi bên đã gia vạ tuyệt thông cho nhau =Anthemas=Excommunication ngày 16-7-1054 giữa Thượng Phụ Chinh Thống Hy Lạp Michael Cerularius và Đức Giáo Hoàng Leô IX.
Cuộc ly giáo Đông Tây này vẫn kéo dài cho đến ngày nay, mặc dủ đôi đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinoble năm 1966.
Đôi bên đều có thiện chí muốn hiệp thông (communication) và hiệp nhất ( unity) trong cùng một Giáo Hội do Chúa Kitô đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho sự hợp nhất của Giáo Hội sớm được thực hiện qua cố lực đại kết ( ecumenism) mà cả hai Giáo Hội Công Giáo La Mã và Chính Thống Đông Phương đều đã có thiện chí theo đuổi trong mấy thập niên qua.
Nhưng kết quả cụ thể cho đến nay vẫn còn rất xa vời, vì trở ngại lớn nhất vẫn là ngôi vị Giáo Hoàng, Giám mục Roma, mà anh em Chính Thống Đông Phương vẫn không công nhận là vị lãnh đạo duy nhất kế vị Thánh Phê rô trong sứ mệnh cai trị Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ ( Universal Catholic Church) mà Chúa Kitô dã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ để tiếp tục Sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cứu độ của Chúa cho đến ngày mãn thời gian.
Các nhóm Tin Lành và Anh giáo cũng đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh duy nhất Giáo Hội của Chúa Kitô, nên việc hiệp thông và hiệp nhất với các nhóm này đều trở nên khó khăn vì trở ngại này.
Uớc mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU SAU-CN6PS-B PDF Print E-mail

Thứ Sáu - CN6PS-B

HỌC HỎI- CẢM NGHIỆM - SỐNG Phúc Âm (Gioan 16:20-23a)

Chiều kích hiện diện thần linh trong chủ đề "Thày là sự sống" cho Mùa Phục Sinh sau Tuần Bát Nhật Phục Sinh càng tỏ hiện trong bài Phúc Âm Thứ Sáu Tuần VI Phục Sinh hôm nay. Ở chỗ, "Thầy sẽ gặp lại các con, và lòng các con sẽ vui mừng", đến độ họ chỉ biết ngây ngất hoan hưởng sự hiện diện thần linh lạ lùng ấy không còn nói lên lời: "Và trong ngày đó các con sẽ không còn hỏi Thầy điều gì nữa".

"Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: 'Thật, Thầy bảo thật các con: các con sẽ than van khóc lóc, còn thế gian sẽ vui mừng. Các con sẽ buồn sầu, nhưng nỗi buồn của các con sẽ trở thành niềm vui. Người đàn bà khi sinh con thì lo buồn, vì giờ đã đến, nhưng khi đã sinh con rồi, thì bà mừng rỡ, không còn nhớ đến cơn đau, bởi vì đã có một người sinh ra đời. Các con cũng thế, bây giờ các con buồn phiền, nhưng Thầy sẽ gặp lại các con, và lòng các con sẽ vui mừng, và niềm vui của các con không ai sẽ lấy mất được. Và trong ngày đó các con sẽ không còn hỏi Thầy điều gì nữa'".

Sự hiện diện thần linh của Chúa Kitô nơi các tông đồ nói riêng và chung Giáo Hội được chứng tỏ nơi 2 dấu hiệu: khổ đau và vui mừng, hay khổ đau để sinh hoa kết trái, như người đàn bà quằn quại sinh con, hay như cành nho vì dính chặt với thân nho đã sinh trái lại càng cần được cắt tỉa cho sai trái hơn (xem Gioan 15:2). Chính niềm vui hay hoa trái trổ sinh nơi tình trạng gian nan khốn khó của Kitô hữu là những gì chứng tỏ đích thực nhất sự hiện diện thần linh của Chúa Kitô nơi họ, như thân nho tràn đầy nhựa sống thần linh tuôn sang cho họ để họ sinh hoa kết trái như Người mong muốn, xứng với quyền lực thần linh phục sinh của Người (xem Mathêu 28:18).

Trong bài Phúc Âm hôm nay còn chất chứa một hình ảnh về người đàn bà sinh con. Việc sinh con có triệu chứng đớn đau. Và cơn đau đớn khi sinh con này bởi đâu mà có ngay lúc bấy giờ, nếu không phải bởi chính đứa con, vai chính trong cuộc, đã tới ngày giờ cần phải được sinh ra nên đòi ra, từ đó gây ra những biến động co thắt nơi bụng dạ của người mẹ, khiến bà cảm thấy đau đớn.

Trong lãnh vực siêu nhiên cũng thế. Mẹ Maria chịu đớn đau nhất vào lúc Chúa Giêsu bị lưỡi đòng đâm vào cạnh sườn, và bấy giờ Người không còn đau nữa nhưng Mẹ Maria bị nhói lên, đau cái đau của Người và đau cái đau thay Người, mà cái đau như gươm sắc thâu qua lòng của Mẹ (xem Luca 2:35) bấy giờ không phải bởi lưỡi đòng gây ra cho Mẹ mà là bởi chính Người Con yêu dấu của Mẹ bị đâm, tức là chính Con Mẹ làm cho Mẹ đau, như thai nhi đạp bụng mẹ khiến mẹ đau để nó có thể lọt lòng mẹ mình vậy. Dấu hiệu đớn đau khi sinh con của người đàn bà theo tự nhiên cũng phản ảnh chẳng những cái đau đớn thiêng liêng để sinh Chúa Kitô ra cho các linh hồn mà còn cả vai trò chủ động của Chúa Kitô trong việc cứu các linh hồn nhờ những đau thương của chi thể của Người, như các cành mnho đã sinh trái được cắt tỉa đi cho càng sinh hoa kết trái hơn nữa (xem Gioan 15:2).

Trong đời sống thiêng liêng cũng thế, để có thể sinh Chúa Giêsu ra cho các linh hồn, (hơn là hay cũng là sinh các linh hồn vào sự sống thần linh), linh hồn nào cũng phải trải qua một cơn đau đớn khủng khiếp với Chúa Giêsu và như Chúa Kitô Tử Giá, và chính cơn đau hiệp thông thần linh này là dấu hiệu cho thấy tình trạng hiệp thông thần linh của Kitô hữu lên đến tột đỉnh, đến độ Chúa Kitô nơi họ sắp được hay đang được sinh ra cho các linh hồn qua họ là một linh hồn được tuyển chọn, dù họ là nam nhân chứ không phải nữ nhân, như chính Chúa Giêsu đã khẳng định "ai là mẹ Tôi" khi Người chỉ tay vào thành phần môn đệ nam nhân của Người bấy giờ (xem Mathêu 12:49-50).

Bài Đọc 1 (Tông Vụ 18:9-18)

Sự hiện diện thần linh của Chúa Kitô Phục Sinh và Thăng Thiên quả thực đã hiện diện một cách tỏ tường nơi vị tông đồ dân ngoại Phaolô trong bài đọc 1 hôm nay, khi Người tỏ mình ra cho ngài vào "một đêm kia" và trấn an ngài trong một thị kiến rằng: "Con đừng sợ, cứ giảng dạy, chứ đừng làm thinh; vì Ta ở cùng con, và không ai tra tay làm hại con, vì trong thành này, Ta có một dân đông đảo". Bởi thế, cho dù ngài bị kịch liệt chống đối và bị điệu ra tòa, đã có thẩm quyền bênh vực ngài:

"(Ðến) thời Galliô làm tổng trấn xứ Akaia, người Do-thái đồng lòng nổi lên chống Phaolô và điệu ngài đến toà án mà thưa rằng: 'Người này xui dân tôn thờ Thiên Chúa trái luật'. Phaolô toan mở miệng, thì Galliô nói với người Do-thái rằng: 'Hỡi người Do-thái, nếu quả thật là điều chi tội ác, ta sẽ có lý mà nghe các ngươi; nhược bằng chỉ là những tranh luận về đạo lý, danh từ và lề luật, thì các ngươi hãy liệu lấy; ta không muốn xử các việc ấy'. Rồi ông đuổi họ ra khỏi toà án. Mọi người liền bắt Sosthênê, trưởng hội đường, và đánh đập ông ta trước toà án, thế mà Galliô cũng chẳng lưu tâm gì đến. Còn Phaolô thì lưu lại đó nhiều ngày, rồi từ giã anh em, xuống tàu đi Syria (với Priscilla và Aquila); tại Cenchri, ngài cạo trọc đầu, vì ngài đã khấn như thế".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

---------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 132