Hoc Hoi De Song Dao
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2273
mod_vvisit_counterHôm Qua8536
mod_vvisit_counterTuần Này42447
mod_vvisit_counterTuần Trước48347
mod_vvisit_counterTháng Này126670
mod_vvisit_counterTháng Trước232383
mod_vvisit_counterTất cả11578756

We have: 133 guests online
Your IP: 54.196.5.6
 , 
Today: Aug 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - NGUOI DO DAU PDF Print E-mail

nguyenthi leyen

Người đỡ đầu

Đâu có tình yêu thương bác ái, thì đó là dấu chỉ con cái Chúa. Xin Chúa cho mọi người trong cộng đoàn chúng con, biết nêu cao tinh thần bác ái, đoàn kết giúp đỡ nhau. Đồng thời biết cảm nghiệm tình yêu bao la của Chúa trong Phép Thánh Thể, để sốt sắng tôn sùng, mến yêu và kết hiệp với Chúa mỗi ngày trong hiệp lễ.
Người đỡ đầu
Luật Giáo Hội quy định như thế nào về các điều kiện để làm vú bõ đỡ đầu? Có thể chọn một nữ tu hay một linh mục để đỡ đầu làm vú bõ được không? Được phép chọn bao nhiêu vú bõ đỡ đầu Rửa Tội và có bắt buộc phải chọn vú bõ cùng phái tính với người sắp được Rửa Tội không?
1- Điều kiện để làm vú bõ đỡ đầu
Theo điều 874 của Bộ Giáo luật hiện hành, vú bõ đỡ đầu phải:
1. Do chính người sắp được Rửa Tội chọn, hoặc do cha mẹ hay những người thay quyền cha mẹ chọn, hoặc nếu thiếu những người ấy, thì do cha sở hay do thừa tác viên chọn, và phải có khả năng và ý muốn đảm nhận nhiệm vụ này.
2. Đủ mười sáu tuổi trọn, trừ khi Giám Mục giáo phận đã ấn định một mức tuổi khác, hoặc trừ khi cha sở hay thừa tác viên xét thấy phải chấp nhận, vì một lý do ngoại lệ.
Lý do ngoại lệ ở đây có thể hiểu là trong những trường hợp đặc biệt hay có bất tiện nặng không thể tìm được vú bõ đỡ đầu nào khác.
3. Là người Công giáo đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức và bí tích Thánh Thể, và phải có đời sống xứng hợp với đời sống đức tin và nhiệm vụ phải đảm nhận;
- Chỉ có những người Công giáo mới có thể làm vú bõ đỡ đầu cho người được rửa tội Công giáo. Không được nhận một người không cùng một niềm tin làm vú bõ đỡ đầu. Một người đã được Rửa Tội thuộc một cộng đoàn Giáo Hội không Công giáo chỉ được chấp nhận như là nhân chứng của bí tích Rửa Tội cùng với một người đỡ đầu Công giáo (Điều 874 §2).
- Một người có đời sống không xứng hợp với đời sống đức tin và nhiệm vụ phải lãnh nhận (chỉ xét lúc đỡ đầu rửa tội, chứ không xét đến quá khứ) phải được coi như là thiếu điều kiện để làm vú bõ đỡ đầu. Vì thế thừa tác viên Bí tích Rửa Tội cần phải để ý xác minh về điểm này.
4. Không mắc một hình phạt của giáo luật đã được tuyên kết (đối với hình phạt hậu kết) hay tuyên bố cách hợp pháp (đối với hình phạt tiền kết).
5. Không là cha hoặc mẹ của người được Rửa Tội.
2. Có thể chọn một nữ tu hay một linh mục để đỡ đầu làm vú bõ được không?
Trong Bộ Giáo luật cũ, các tập sinh cũng như các khấn sinh trong các Hội Dòng không được làm vú đỡ đầu, trừ phi trong trường hợp khẩn thiết và phải có phép rõ ràng ít là của Bề trên địa phương (x. Điều 766, 30 và 40, CIC/1917). Các đan sĩ cũng không được làm người đỡ đầu bởi vì người ta đánh giá rằng lối sống của đan sĩ không cho phép họ chu toàn các nghĩa vụ. Các giáo sĩ cũng không được làm bõ đỡ đầu, trừ phi có phép rõ ràng của Đấng Bản quyền riêng. Tuy nhiên, Bộ Giáo luật hiện hành không còn cấm các giáo sĩ, tu sĩ làm vú bõ đỡ đầu nữa.
3. Được phép chọn bao nhiêu vú bõ đỡ đầu Rửa Tội và có bắt buộc phải chọn vú bõ cùng phái tính với người sắp được Rửa Tội không?
3.1. Được chọn bao nhiêu vú bõ đỡ đầu?
Điều 873 của Bộ Giáo luật hiện hành cho phép được chọn:
- hoặc một bõ đỡ đầu,
- hoặc một vú đỡ đầu,
- hoặc chọn cả hai.
Như vậy:
- có một bõ đỡ đầu hoặc một vú đỡ đầu cũng được,
- không được có hai bõ đỡ đầu hoặc hai vú đỡ đầu.
3.2. Không nhất thiết vú bõ đỡ đầu phải cùng phái tính với người sắp được Rửa Tội (x. ASSEMBLEE DES EVEQUES CATHOLIQUES DU QUÉBEC, Guide canonique et pastoral au service des paroisses, Edition canadienne, Wilson &Lafleur, 2006, p. I-14, 5.1).
Tác giả bài viết: Lm. Luy Huỳnh Phước Lâm
Nguồn tin: Gplongxuyen.com

--------------------------------------

 

 
HOC HOI DE SONG DAO - CHIA SE CN17TN-B PDF Print E-mail

CHIA SẺ TIN MỪNG

Chúa Nhật thứ 17 Thường Niên (29-7-2018)

Đức Giêsu quan tâm đến cả những nhu cầu thực tế của dân chúng

ĐỌC LỜI CHÚA

• 2V 4,42-44: (42) (Với hai mươi chiếc bánh lúa mạch và cốm) ông Êlisa nói: «Phát cho người ta ăn». (43) Tiểu đồng hỏi: «Có bằng này, sao phát cho cả trăm người ăn được?» Ông bảo: «Cứ phát đi! Vì Đức Chúa phán: Họ sẽ ăn, mà vẫn còn dư». (44) Tiểu đồng phát cho họ ăn mà vẫn còn dư.

• Ep 4,1-6: (1) Là người đang bị tù vì Chúa, tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban cho anh em.

• TIN MỪNG: Ga 6,1-15

Đức Giêsu hoá bánh ra nhiều

(1) Sau đó, Đức Giêsu sang bên kia Biển Hồ Galilê, cũng gọi là Biển Hồ Tibêria. (2) Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm. (3) Đức Giêsu lên núi và ngồi đó với các môn đệ. (4) Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Dothái.

(5) Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Philípphê: «Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?» (6) Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi. (7) Ông Philípphê đáp: «Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút». (8) Một trong các môn đệ, là ông Anrê, anh ông Simôn Phêrô, thưa với Người: (9) «Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu!» (10) Đức Giêsu nói: «Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi». Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn.

(11) Vậy, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý. (12) Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: «Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi». (13) Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng.

(14) Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giêsu làm thì nói: «Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian!» (15) Nhưng Đức Giêsu biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.

CHIA SẺ

Câu hỏi gợi ý:

1. Đức Giêsu có quan tâm và dấn thân cho những nhu cầu cụ thể –như ăn uống, sức khỏe, sự thoải mái thể chất– của dân chúng không? Nếu không quan tâm đến những nhu cầu cụ thể ấy, Ngài có thể loan báo Tin Mừng một cách hiệu quả không? dân chúng có chịu đến để nghe Ngài dạy dỗ không?

2. Trong một xã hội đầy bất công, áp bức, nhiều tệ nạn xã hội, người dân phải chịu đựng nhiều đau khổ, mà người tông đồ lại chỉ quan tâm đến nhu cầu tâm linh của họ, không đếm xỉa gì đến những đau khổ, những nhu cầu cụ thể và cấp bách của họ, thì việc tông đồ ấy có kết quả không? Tại sao?

3. Trong những xã hội đầy bất công như thế, nhu cầu cụ thể và cấp bách của dân chúng là gì? Chúng ta chỉ cần xoa dịu những đau khổ cho dân chúng hay cũng cần giải quyết tận gốc những đau khổ ấy?

Suy tư gợi ý:

1. Đức Giêsu quan tâm tới cả nhu cầu thể chất của dân chúng

Bị cám dỗ sau khi ăn chay 40 ngày, Đức Giêsu nói với Satan: «Người ta sống không nguyên bởi bánh, mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra» (Mt 4,4). Nghĩa là con người không chỉ sống bằng thể chất, mà còn sống bằng tinh thần. Hành động của Ngài trong bài Tin Mừng hôm nay dường như muốn nói một câu đồng nghĩa như vậy, nhưng theo chiều ngược lại: «Người ta sống không nguyên bởi Lời Chúa, mà còn sống bởi bánh nữa». Nghĩa là con người không chỉ sống bằng tinh thần, mà còn sống bằng thể chất. Vì con người không chỉ thuần túy là tinh thần hay thần khí, cũng không chỉ là thể chất, mà là cả hai. Nên con người vừa có nhu cầu tinh thần, vừa có nhu cầu thể chất. Đức Giêsu quan tâm tới con người toàn diện, nghĩa là quan tâm tới cả nhu cầu tinh thần lẫn thể chất.

Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy điều ấy. Mặc dù sứ mạng của Ngài là cứu độ nhân loại khỏi nô lệ tội lỗi, nghĩa là chủ yếu về mặt tâm linh, nhưng không vì thế mà Ngài quên đi nhu cầu thể chất của con người. Thật vậy, khi «nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình», Ngài liền hỏi môn đệ: «Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?» (Ga 6,5). Thật ra, Ngài có thể để mặc họ trở về nhà với cái bụng lép xẹp, và chắc chắn chẳng ai lên tiếng trách móc Ngài vì đã để mặc họ như vậy. Nhưng Ngài không làm như vậy. Tình thương và sự nhạy cảm đối với đau khổ và hạnh phúc của con người đã thúc đẩy Ngài đáp ứng nhu cầu của họ. Họ cần nghe Ngài rao giảng, nhưng để có thể nghe Ngài, họ cũng cần phải no bụng.

Chính vì Ngài tỏ ra yêu thương họ, quan tâm đến những nhu cầu cụ thể của họ, mà họ đến với Ngài, sẵn sàng nghe Ngài dạy dỗ. Nếu Ngài không làm như vậy, sẽ có nhiều người chẳng đến với Ngài và chẳng nghe Ngài dạy bảo. Ở Việt Nam, nhiều người truyền đạo trong các tôn giáo khác cũng phần nào làm tương tự như Đức Giêsu: họ mở phòng thuốc, khám bệnh, chữa bệnh và cho thuốc miễn phí, và khi thuận tiện thì nói về đạo pháp cho những ai muốn nghe.

Như vậy, Đức Giêsu không chỉ lo phần rỗi đời sau cho con người, mà còn lo cả những gì cần thiết cho đời sống hiện tại của họ nữa. Ngài cũng ra lệnh cho các môn đệ ngoài việc rao giảng Tin Mừng, còn phải giải quyết những nhu cầu thể chất và cấp bách của họ: «Anh em hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã đến gần. Hãy chữa lành người đau yếu, làm sống lại kẻ chết, làm sạch bệnh người phong hủi, và khử trừ ma quỷ» (Mt 10-7-8).

Lo cho người ta về thể chất chính là cách biểu lộ tình thương đối với họ, đó là tạo điều kiện để lo cho họ một cách hữu hiệu về tâm linh.

2. Tình yêu đòi buộc ta phải ưu tiên đáp ứng những nhu cầu bức thiết nhất của người chung quanh ta

Nếu ta thật sự yêu thương những người chung quanh ta, ta sẽ hành xử với họ giống như ta vẫn hành xử với những người ta yêu thương nhất, như những người trong gia đình ta. Yêu thương ai, ta sẽ đáp ứng đúng nhu cầu của họ. Cho dù ta là một thầy giáo, một giáo sư đại học, một linh mục hay giám mục, không khi nào ta thấy người thân của ta đói, khát, hoặc bị một ai đó ức hiếp, đánh đập mà ta lại tặng họ một cuốn sách giá trị, hay một cuốn Thánh Kinh, cho dù những thứ đó cũng rất cần thiết cho họ. Nếu ta hành xử như vậy, mọi người sẽ nghĩ ta là người mất trí. Trường hợp đó, trước tiên, ta phải cho họ ăn, uống, hoặc nhảy vào can thiệp để người thân ta khỏi bị đánh đập đau đớn. Thế nhưng hiện nay, có biết bao người mang danh hiến thân phục vụ con người, lại chỉ biết lo cho họ về mặt tâm linh, chẳng đếm xỉa gì đến nhu cầu hết sức cụ thể, bức thiết và trước mắt của họ. Thế mà lúc nào những người ấy cũng vẫn tự hào mình đang hiến thân cho một sứ mạng cao cả là phục vụ con người.

Quả thật, trong xã hội và Giáo Hội vẫn luôn luôn có những con người «cao cả» theo kiểu đó, nghĩa là cao cả một cách phi thực tế. Họ có thể «bình tâm như vại» trước những đau khổ, thiếu thốn, trước những cảnh bất công, áp bức mà những người chung quanh mình phải chịu, trước những bàn tay giơ lên xin họ cứu giúp một cách khẩn thiết và tuyệt vọng. Nhưng những người «cao cả» này vẫn cảm thấy mình không cần phải làm gì cho những người khốn khổ ấy khác hơn là những việc gọi là tâm linh. Và một khi quan tâm lo những chuyện về tâm linh ấy, họ cảm thấy lương tâm mình bình an vì mình đã làm được những việc bác ái rất cao cả. Ngay cả khi làm những việc được gọi là bác ái cao cả ấy, có nhiều vị còn đòi hỏi đối tượng mình phục vụ phải bù đắp lại cho mình một cách cụ thể như những điều kiện phải có, nếu không thì họ sẽ chẳng làm. Nói cách khác, phải được bù đắp cụ thể họ mới chịu làm những việc «cao cả» ấy.

3. Nhu cầu bức thiết của con người trong những xã hội lầm than, nghèo khổ, đầy dẫy bất công áp bức

Trong những xã hội hay đất nước nghèo khổ, đầy dẫy những tệ nạn xã hội, những bất công áp bức, thì nhu cầu bức thiết của người dân rất là cụ thể. Là những người theo Chúa, tuy ta đặt rất nặng mặt tâm linh –đó là điều hợp lý– nhưng ta không thể hoàn toàn lãnh đạm hoặc không biết đến những nhu cầu khẩn thiết và cụ thể của người dân chung quanh ta. Thiết tưởng sống trong một đất nước càng nghèo khổ, càng đầy dẫy sự bất công áp bức, càng lan tràn những tệ nạn xã hội, thì người theo Chúa càng phải quan tâm và dấn thân nhiều hơn cho những vấn đề ấy. Nói cách khác, người theo Chúa đúng nghĩa phải quan tâm đến sự phát triển của con người, sự công bằng của xã hội, và sự tiến bộ của thế giới. Đó là một chiều kích nhân bản không thể thiếu trong việc nên thánh, hay việc nên giống Chúa Giêsu, Đấng «muốn lòng nhân chứ không phải hy lễ» (Hs 6,6; Mt 9,13), lại càng không thể thiếu trong việc tông đồ, trong việc mở mang Nước Trời.

Tông huấn Giáo Hội tại châu Á viết: «Không thể cắt đứt việc thờ phượng Thiên Chúa với việc chăm sóc người yếu kém, được Kinh Thánh mô tả một cách điển hình là "cô nhi, quả phụ và ngoại kiều" (x. Xh 22,21-22; Đnl 10,18; 27,19), là những người dễ bị tổn thương nhất khi có bất công đe dọa. Thánh Gioan Kim Khẩu viết: "Anh em có muốn tôn kính thân thể Chúa Kitô không? Vậy thì đừng bỏ qua Ngài khi thấy Ngài trần truồng. Đừng tôn vinh Ngài với đủ thứ gấm vóc lụa là trong đền thờ, trong khi lại bỏ mặc Ngài đang run lạnh và trần truồng ngoài trời. Đấng đã từng nói "Đây là mình Thầy" cũng chính là Đấng đã nói "Các ngươi thấy ta đói mà không cho ăn"... Có ích gì khi bàn tiệc Thánh Thể thì chất nặng những chén lễ bằng vàng, trong khi Đức Kitô đang hấp hối vì đói khát? Hãy cho Ngài hết đói khát trước đã, rồi mới lấy những gì còn lại mà trang hoàng bàn thờ!"» (Tông huấn Giáo Hội tại châu Á, số 41§2).

Tinh thần của những câu trên hoàn toàn phù hợp với lời Đức Giêsu: «Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế» (Mt 9,13) hay «Nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hòa với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình» (Mt 5,23,24). Tại sao theo Chúa mà mình lại chuyên môn làm ngược lại tinh thần của Chúa?

Chính vì để ta dễ dấn thân cho anh em đồng loại của ta hơn, đặc biệt trong những hoàn cảnh nguy hiểm của những xã hội đầy áp bức bất công mà Đức Giêsu đòi hỏi những kẻ theo Ngài phải từ bỏ nhiều thứ thế gian hằng gắn bó. Thật đáng hổ thẹn cho những người tông đồ đã từng cam kết từ bỏ mọi thứ mà lại dấn thân cho anh em không bằng những người không hề cam kết! Thật là mỉa mai khi người tông đồ chủ trương sống độc thân để dễ dàng dấn thân cho đồng loại hơn, lại không thể dấn thân mạnh dạn bằng những người có gia đình! Rất có thể tại vì họ đang sợ mất đi những gì mà họ đã từng cam kết từ bỏ khi dấn thân làm tông đồ!

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, chúng con theo Đức Giêsu, nhưng lại chẳng làm theo gương Ngài. Ngài dùng tình thương để đến với mọi người hầu dẫn họ về với Cha. Còn chúng con, chúng con chỉ muốn dẫn họ về với Cha mà không thèm đến với họ, không cần tỏ ra yêu thương và quan tâm đến những nhu cầu cụ thể bức thiết của họ. Phải chăng chúng con đang làm một chuyện vô ích? và công sức của chúng con đổ ra sẽ chỉ là «công dã tràng»? Xin giúp chúng con noi gương Đức Giêsu, biết yêu thương và quan tâm đến những nhu cầu cụ thể của đồng loại trước khi muốn dẫn họ về với Cha.

Nguyễn Chính Kết

Bấm vào đây để đọc bài đào sâu:
Hãy yêu thương và chủ động làm những gì tình yêu đòi hỏi
http://chiasethanhuu.blogspot.com/2018/07/tn17b.html

--------------------------------------

 
HOC HOI DE ONG DAO- THU NAM CN16TN-B PDF Print E-mail

Phụng Vụ Lời Chúa

Bài Ðọc I: (Năm II) Gr 2, 1-3. 7-8. 12-13

"Họ đã bỏ Ta là nguồn nước hằng sống, để đào giếng rạn nứt".

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Ðây lời Chúa phán cùng tôi rằng: "Ngươi hãy đi và hãy la vào tai Giêrusalem rằng: Ðây Chúa phán: Ta đã nhớ mối tình thanh xuân của ngươi, nhớ đến tình yêu thời đính hôn của ngươi, khi đó ngươi theo Ta trong sa mạc, trong phần đất chưa gieo trồng. Lúc ấy Israel đã được thánh hiến cho Chúa, và là hoa quả đầu mùa của Người; những ai động đến nó, phải đắc tội và phải chuốc lấy tai hoạ". Chúa phán như vậy.

"Ta đã dẫn dắt các ngươi vào đất phì nhiêu, để các ngươi hưởng dùng hoa quả của nó; nhưng vừa ở đó, các ngươi đã làm dơ bẩn đất của Ta và biến cơ nghiệp Ta thành nơi ghê tởm. Các tư tế không nói: 'Chúa ở đâu?'; (các kẻ) nắm giữ lề luật không nhìn biết Ta, còn các chủ chăn thì phản bội Ta, và các tiên tri lại nhân danh Baal mà nói tiên tri và chạy theo các bụt thần giả trá".

Chúa lại phán: "Hỡi tầng trời, hãy kinh ngạc về điều này, và hỡi các cửa trời, hãy ưu sầu thảm não! Vì chưng, dân Ta đã phạm hai tội xấu xa: Họ đã từ bỏ Ta là nguồn nước hằng sống, để đào những giếng rạn nứt không giữ nước được".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 35, 6-7ab. 8-9. 10-11

Ðáp: Lạy Chúa, nguồn sống là ở như nơi Chúa (c. 10a).

Xướng: 1) Lạy Chúa, đức từ bi Ngài chạm tới trời cao; lòng trung tín của Ngài vươn tới ngàn mây. Ðức công minh của Ngài như núi non Thiên Chúa; sự phán quyết của Ngài như biển thẳm sâu. - Ðáp.

2) Ôi Thiên Chúa, cao quý thay ân sủng của Ngài; con người ta tìm nương tựa trong bóng cánh của Ngài. Họ được ăn no đồ bổ dưỡng nơi nhà Chúa, và Chúa cho họ uống bởi nguồn vui thú của Ngài. - Ðáp.

3) Bởi chưng nguồn sống là ở như nơi Chúa, và trong sự sáng của Ngài, chúng con nhìn xem sự sáng. Xin Chúa dành để tình thương cho những ai thờ Chúa, và đức công minh Ngài cho những kẻ lòng ngay. - Ðáp.

Alleluia: Ga 15, 15b

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết". - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 13, 10-17

"Về phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không cho biết".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, các môn đệ đến gần thưa Chúa Giêsu rằng: "Tại sao Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ?" Người đáp lại: "Về phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không cho biết. Vì ai đã có, thì ban thêm cho họ được dư dật; còn kẻ không có, thì cái họ có cũng bị lấy đi. Bởi thế, Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ: vì họ nhìn mà không thấy, lắng tai mà không nghe và không hiểu chi hết. Thế mới ứng nghiệm lời tiên tri Isaia nói về họ rằng: "Các ngươi lắng tai nghe mà chẳng hiểu, trố mắt nhìn mà chẳng thấy gì. Vì lòng dân này đã ra chai đá, họ đã bịt tai, và nhắm mắt lại, kẻo mắt thấy được, tai nghe được, và lòng chúng hiểu được mà hối cải, và Ta lại chữa chúng cho lành".

"Phần các con, phúc cho mắt các con vì được thấy; và phúc cho tai các con vì được nghe. Quả thật, Thầy bảo các con: Nhiều vị tiên tri và nhiều đấng công chính đã ao ước trông thấy điều các con thấy, mà không được thấy; mong ước nghe điều các con nghe, mà không được nghe".

Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Năm Tuần XVI Thường Niên, tiếp ngay sau bài phúc âm hôm qua, liên quan đến dụ ngôn người gieo giống. Hôm qua là chính nội dung của dụ ngôn người gieo giống, hôm nay là lý do tại sao Chúa Giêsu lại sử dụng dụ ngôn mà giảng dạy cho dân chúng: "Khi ấy, các môn đệ đến gần thưa Chúa Giêsu rằng: 'Tại sao Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ?'"

Như thế có nghĩa là Chúa Giêsu không bao giờ dùng dụ ngôn mà nói với các môn đệ của Người, mà chỉ dùng dụ ngôn để nói với dân chúng thôi. Lý do được chính Chúa Giêsu cho biết rất đơn giản như sau: "Về phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm Nước Trời, còn họ thì không cho biết".

Vậy thì phải chăng "mầu nhiệm Nước Trời" đây là chính bản thân Chúa Giêsu Kitô? "Về phần các con, đã cho biết những mầu nhiệm Nước Trời",nghĩa là đã được Người tuyển chọn ở với Người nên hiểu Người hơn nhờ được giao tiếp trực tiếp với Người bằng mắt thấy, tai nghe, tay sờ v.v. (xem 1Gioan 1:1), "còn họ thì không cho biết", vì không được gần gũi và giao tiếp với Người như các tông đồ.

Đó là lý do ở cuối bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã xác nhận về diễm phúc của các tông đồ là thành phần được Người tuyển chọn để ở với Người (xem Marco 3:13), hơn hẳn chẳng những thành phần dân chúng mà còn hơn cả các vị tiên tri thời xưa nữa:

"Phần các con, phúc cho mắt các con vì được thấy; và phúc cho tai các con vì được nghe. Quả thật, Thầy bảo các con: Nhiều vị tiên tri và nhiều đấng công chính đã ao ước trông thấy điều các con thấy, mà không được thấy; mong ước nghe điều các con nghe, mà không được nghe".

Tuy nhiên, Chúa Kitô đến trần gian là để tỏ mình ra cho chung nhân loại, đặc biệt là dân Do Thái trong thời lịch sử của Người bấy giờ, mà Người cũng cần phải tỏ mình ra cho họ nữa, bằng những cách thế thích hợp với hoàn cảnh sống của họ, với tầm mức hiểu biết bình dân của họ nói chung, chẳng hạn như dùng dụ ngôn bao gồm những hình ảnh cụ thể trong đời sống để mạc khải cho họ thấy một phần nào mầu nhiệm Nước Trời.

Cầu Chúa Giêsu nói "Thầy dùng dụ ngôn mà nói với họ: vì họ nhìn mà không thấy, lắng tai mà không nghe và không hiểu chi hết" nghĩa là gì, nếu không phải khi được giao tiếp với Người một cách nào đó, ở một nơi nào đó, vào một lúc nào đó, dân chúng nói chung, nhất là thành phần luật sĩ và biệt phái giả hình nói riêng, không hiểu được Người vốn là Đấng tự bản chất vô cùng siêu việt, trong khi đó họ lại cứng lòng thì làm sao có thể chấp nhận được Người:

"Các ngươi lắng tai nghe mà chẳng hiểu, trố mắt nhìn mà chẳng thấy gì. Vì lòng dân này đã ra chai đá, họ đã bịt tai, và nhắm mắt lại, kẻo mắt thấy được, tai nghe được, và lòng chúng hiểu được mà hối cải, và Ta lại chữa chúng cho lành". Chính vì thế mà Chúa Giêsu cần phải sử dụng dụ ngôn có tính cách bình dân cho họ hiểu phần nào thực tại của Nước Trời và về Nước Trời.

Trong Cựu Ước, cho dù Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho dân Do Thái của Ngài, nhưng chỉ bằng nhiều cách khác nhau qua thiên nhiên tạo vật cũng như qua con người trần gian, bao gồm cả những dấu lạ điềm thiêng, nhất là qua các vị tiên tri (xem Do Thái 1:1). Thế nhưng, "đến thời sau hết, Ngài đã nói với chúng ta qua Con của Ngài" (Do Thái 1:2) là Chúa Giêsu Kitô. So với Chúa Giêsu Con của Thiên Chúa, thì các dấu lạ điềm thiêng hay các vị tiên tri chỉ là bóng mờ, chưa hoàn toàn rõ nét về Ngài và chưa phải "là hiện thân của bản thể Cha" (Do Thái 1:3).

Lời Tiên Tri Isaia được Chúa Giêsu trích lại trong Bài Phúc Âm hôm nay để khẳng định về lý do tại sao Người dùng dụ ngôn mà giảng dạy cho dân Do Thái "Các ngươi lắng tai nghe mà chẳng hiểu, trố mắt nhìn mà chẳng thấy gì. Vì lòng dân này đã ra chai đá, họ đã bịt tai, và nhắm mắt lại, kẻo mắt thấy được, tai nghe được, và lòng chúng hiểu được mà hối cải, và Ta lại chữa chúng cho lành", cũng đã được Thiên Chúa diễn giải và chứng thực qua miệng Tiên Tri Giêrêmia về tình trạng Ngài yêu thương dân Ngài ngay từ đầu nhưng dân Ngài vẫn cứ tiếp tục sống bất xứng với tình yêu thương nhưng không và vô đối của Ngài ở Bài Đọc 1 hôm nay như sau:

"Ngươi hãy đi và hãy la vào tai Giêrusalem rằng đây Chúa phán: Ta đã nhớ mối tình thanh xuân của ngươi, nhớ đến tình yêu thời đính hôn của ngươi, khi đó ngươi theo Ta trong sa mạc, trong phần đất chưa gieo trồng. Lúc ấy Israel đã được thánh hiến cho Chúa, và là hoa quả đầu mùa của Người; những ai động đến nó, phải đắc tội và phải chuốc lấy tai hoạ... Ta đã dẫn dắt các ngươi vào đất phì nhiêu, để các ngươi hưởng dùng hoa quả của nó; nhưng vừa ở đó, các ngươi đã làm dơ bẩn đất của Ta và biến cơ nghiệp Ta thành nơi ghê tởm. Các tư tế không nói: 'Chúa ở đâu?'; (các kẻ) nắm giữ lề luật không nhìn biết Ta, còn các chủ chăn thì phản bội Ta, và các tiên tri lại nhân danh Baal mà nói tiên tri và chạy theo các bụt thần giả trá... Hỡi tầng trời, hãy kinh ngạc về điều này, và hỡi các cửa trời, hãy ưu sầu thảm não! Vì chưng, dân Ta đã phạm hai tội xấu xa: Họ đã từ bỏ Ta là nguồn nước hằng sống, để đào những giếng rạn nứt không giữ nước được".

Thế nhưng, chính trong lúc dân của Ngài bất trung và bất xứng với tình yêu thương nhưng không và vô đối của Ngài như vậy mà Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ mới càng chứng thực Thiên Chúa là tình yêu vô cùng nhân hậu, nhờ đó mới thắng vượt được tất cả những gì là bất hảo và tội lỗi của dân Ngài như Ngài đã biết trước khi tuyển chọn họ, và nhờ đó mới có thể chinh phục được lòng họ, khiến họ không thể không kêu lên như tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Lạy Chúa, đức từ bi Ngài chạm tới trời cao; lòng trung tín của Ngài vươn tới ngàn mây. Ðức công minh của Ngài như núi non Thiên Chúa; sự phán quyết của Ngài như biển thẳm sâu.

2) Ôi Thiên Chúa, cao quý thay ân sủng của Ngài; con người ta tìm nương tựa trong bóng cánh của Ngài. Họ được ăn no đồ bổ dưỡng nơi nhà Chúa, và Chúa cho họ uống bởi nguồn vui thú của Ngài.

3) Bởi chưng nguồn sống là ở như nơi Chúa, và trong sự sáng của Ngài, chúng con nhìn xem sự sáng. Xin Chúa dành để tình thương cho những ai thờ Chúa, và đức công minh Ngài cho những kẻ lòng ngay.

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THANH GIACOBE TONG DO PDF Print E-mail

Thứ Tư 21/6/2006

Bài 12

Tông Đồ Giacôbê Tiền

Anh Chị Em thân mến:

Chúng ta tiếp tục loạt hình ảnh về các vị tông đồ được Chúa Giêsu trực tiếp chọn lựa trong đời sống công khai của Người. Chúng ta đã nói về Thánh Phêrô và người an hem Anrê của ngài. Hôm nay chúng ta gặp hình ảnh về tông đồ Giacôbê. Các bản liệt kê theo Thánh Kinh đề cập tới hai vị cùng tên Giacôbê, đó là Giacôbê, con ông Giêbêđê, và Giacôbê, con ông Alphaê (x Mk 3:17,18; Mt 10:2-3), những vị được phân biệt một cách chung chung là Giacôbê Tiền và Giacôbê Hậu.

Những phân biệt này không phải là để so sánh về sự thánh thiện của các ngài, song chỉ để nói tới sự thích đáng khác nhau của các vị nơi các bản văn Tân Ước, nhất là trong khung cảnh đời sống trần gian của Chúa Giêsu. Hôm nay chúng ta chú trọng tới nhân vật đầu tiên trong hai vị có cùng tên gọi này.

Tên Giacôbê được dịch từ chữ 'lákobos', một tên được biến dạng bởi ảnh hưởng của tiếng Hy Lạp về tên vị tổ phụ nổi tiếng Giacóp. Vị tông đồ có tên gọi là là người an hem của thánh Gioan, và trong các bản liệt kê được đề cập tới thì vị này đứng thứ hai sau thánh Phêrô, như nơi thánh ký Marcô (3:17), hay đứng thứ ba sau thánh Phêrô và Anrê, như trong các Phúc Âm Thánh Mathêu (10:2) và Luca (6:14), trong khi đó, trong Sách Tông Vụ ngài lại đứng sau thánh Phêrô và Gioan (1:13). Cùng với thánh Phêrô và Gioan, tháng Giacôbê thuộc về nhóm 3 môn đệ đặc biệt được tham dự vào những giây phút quan trọng của cuộc sống Chúa Giêsu.

Vì hôm nay là ngày rất nóng bức, giờ đây tôi xin vắn tắt đề cập tới chỉ hai lần trong các trường hợp này mà thôi. Cùng với thánh Phêrô và Gioan, ngài đã tham dự vào giây phút thống khổ của Chúa Giêsu trong Vườn Nhiệt, cũng như trong lúc Chúa Giêsu biến hình. Bởi thế, đây là vấn đề của hai trường hợp rất khác nhau: một trường hợp thì thánh Giacôbê, cùng với hai môn đệ kia, cảm nghiệm được vinh quang của Chúa Kitô, thấy Người nói chuyện với Moisen và Êlia, thấy vinh quang thần linh rạng ngời nơi Chúa Giêsu; còn trường hợp kia thì ngài lại thấy khổ đau và nhục nhã; ngài tận mắt chứng kiến thấy Con Thiên Chúa hạ mình xuống biết là chừng nào, đến vâng lời cho đến chết.

Trường hợp thứ hai đối với ngài thực sự là một cơ hội để trưởng thành đức tin, để chỉnh lại ý nghĩ một chiều, vinh thắng nơi trường hợp thứ nhất, ở chỗ, ngài cần phải nhận thức Đấng Thiên Sai, vị được dân Do Thái đợi chờ như một con người hiển thắng, thực sự không phải chỉ đầy những vinh dự và vinh quang, mà còn bởi những khổ đau và yếu hèn ra sao nữa. Vinh quang của Chúa Kitô được hiện thực đích xác trên cây thập tự giá, khi Người tham phần vào các nỗi khổ đau của chúng ta.

Việc trưởng thành đức tin này được Thánh Linh hoàn trọn vào Ngày Lễ Ngũ Tuần, nhờ đó khi đến giây phút tột đỉnh của việc làm chứng từ, thánh Giacôbê đã không lui bước. Vào đầu thập niên 40 thuộc thế kỷ thứ nhất, Vua Hêrôđê Agrippa, cháu của Hêrôđê Cả, như thánh Luca cho chúng ta biết: 'đã dữ dội ra tay đối với những ai thuộc về Giáo Hội. Ông đã dùng gươm sát hại Giacôbê là người anh em của Gioan' (12:1-2). Chi tiết ngắn ngủi thiếu kể lể này, một đàng cho thấy các Kitô hữu thường làm chứng cho Chúa Kitô bằng mạng sống của mình ra sao, đàng khác cho thấy thánh Giacôbê giữ một vị thế liên quan tới Giáo Hội ở Giêrusalem, một phần là vì vai trò này của ngài được thi hành trong cuộc sống trần gian của Chúa Giêsu.

Một truyền thống sau đó, một truyền thống trở về ít là với Isidore ở Seville, thuật lại rằng ngài ở Tây Ban Nha để truyền bá phúc âm hóa miền đất quan trọng này của Đế Quốc Rôma. Theo một truyền thống khác thì thân thể của ngài được đưa tới Tây Ban Nha, tới thành phố Santiago de Compostela. Như tất cả chúng ta đều biết nơi ấy đã trở thành một đối tượng rất được sùng kính, và cho tới ngày nay, là mục tiêu cho nhiều cuộc hành hương, chẳng những từ Âu Châu mà còn từ khắp thế giới nữa. Bởi thế mới hiểu được hình ảnh tiêu biểu về thánh Giacôbê được gắn liền với chiếc gậy của người hành hương, cũng như với truyện kể Phúc Âm, là những đặc tính của vị tông đồ lưu động, dấn thân loan báo 'tin mừng', đặc tính của cuộc hành trình nơi đời sống Kitô hữu.

Bởi thế chúng ta có thể học được nhiều điều nơi thánh Giacôbê, đó là sự mau mắn chấp nhận tiếng gọi của Chúa, cả khi Người xin chúng ta hãy rời bỏ 'chiếc thuyền bè' đầy an toàn theo con người của chúng ta; là lòng nhiệt thành theo Người trên những con đường được Người ấn định cho chúng ta đi vượt ra ngoài cả óc giả tưởng của chúng ta; là việc sẵn sàng làm chứng cho Người một cách can đảm, và nếu cần bằng việc tận tuyệt hy sinh mạng sống nữa. Vậy thánh Giacôbê Tiền cho chúng ta thấy một mẫu gương sống động về việc gắn bó thiết tha với Chúa Kitô. Ngài, vị thoạt tiên qua người mẹ của mình đã yêu cầu cho được cùng với người anh em của mình ngồi cạnh Thày trong vương quốc của Người, thực sự chính là người đầu tiên được uống chén khổ nạn trong cuộc chung phần tử đạo với các Vị Tông Đồ.

Sau hết, để tóm tắt mọi sự, chúng ta có thể nói rằng con đường của ngài, chẳng những bề ngoài song trên hết là bề trong, từ núi Biến Hình tới núi khổ nạn, là tiêu biểu cho cuộc hành trình của đời sống Kitô hữu, một cuộc hành trình diễn ra giữa các cuộc bắt bớ của thế gian và niềm an ủi của Thiên Chúa, như Công Đồng Chung Vaticanô II đã nói. Theo Chúa Giêsu, như thánh Giacôbê, chúng ta biết rằng, ngay cả trong những nỗi khó khăn khốn khó, chúng ta vẫn đi trên đường ngay nẻo chính vậy.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tín liệu được Zenit phổ biến ngày 21/6/2006

 
HOC HOI DE SONG DAO - NGAY 25-7-2018 PDF Print E-mail

Thứ Tư

Ngày 25 tháng 7

Lễ Thánh Giacôbê, Tông đồ

Lễ Kính

Bài Ðọc I: 2 Cr 4, 7-15

"Chúng ta luôn mang trên thân xác mình sự chết của Ðức Giêsu".

Trích thư thứ hai của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, Chúng ta chứa đựng kho tàng ấy trong những bình sành để biết rằng quyền lực vô song đó là của Thiên Chúa, chớ không phải phát xuất tự chúng ta. Chúng ta chịu khổ cực tư bề, nhưng không bị đè bẹp; chúng ta phải long đong, nhưng không tuyệt vọng; chúng ta bị bắt bớ, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Bởi vì chúng ta luôn mang trên thân xác mình sự chết của Ðức Giêsu, để sự sống của Ðức Giêsu được tỏ hiện nơi thân xác chúng ta. Vì chưng, mặc dầu chúng ta đang sống, nhưng vì Ðức Giêsu, chúng ta luôn luôn nộp mình chịu chết, để sự sống của Ðức Giêsu được tỏ hiện trong thân xác hay chết của chúng ta. Vậy sự chết hoành hành nơi chúng tôi, còn sự sống hoạt động nơi anh em.

Nhưng anh em hãy có một tinh thần đức tin như đã chép rằng: "Tôi đã tin, nên tôi đã nói", và chúng tôi tin, nên chúng tôi cũng nói, bởi chúng tôi biết rằng Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại, cũng sẽ làm cho chúng tôi được sống lại với Ðức Giêsu và sẽ đặt chúng tôi bên Người làm một với anh em. Mọi sự đều vì anh em, để ân sủng càng tràn đầy, bởi nhiều kẻ tạ ơn, thì càng gia tăng vinh quang Thiên Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 125, 1-2ab. 2cd-3. 4-5. 6

Ðáp: Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan (c. 5).

Xướng: 1) Khi Chúa đem những người Sion bị bắt trở về, chúng tôi dường như người đang mơ; bấy giờ miệng chúng tôi vui cười, lưỡi chúng tôi thốt lên những tiếng hân hoan. - Ðáp.

2) Bấy giờ dân thiên hạ nói với nhau rằng: "Chúa đã đối xử với họ cách đại lượng". Chúa đã đối xử đại lượng với chúng tôi, nên chúng tôi mừng rỡ hân hoan. - Ðáp.

3) Lạy Chúa, xin hãy đổi số phận chúng con, như những dòng suối ở miền nam. Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan. - Ðáp.

4) Thiên hạ vừa đi vừa khóc, tay mang thóc đi gieo; họ trở về trong hân hoan, vai mang những bó lúa. - Ðáp.

Alleluia: Ga 15, 16

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy đã chọn các con ra khỏi thế gian, để các con đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại". - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 20, 20-28

"Các con sẽ uống chén của Ta".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, bà mẹ các con ông Giêbêđê cùng với hai con đến gặp Chúa Giêsu. Bà sấp mình xuống lạy Người, có ý xin Người điều chi đó. Người hỏi: "Bà muốn gì?" Bà ta thưa lại: "Xin Ngài hãy truyền cho hai con tôi đây được ngồi một đứa bên hữu, một đứa bên tả Ngài, trong Nước Ngài".

Chúa Giêsu đáp lại: "Các ngươi không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có thể uống chén mà ít nữa đây ta sắp uống chăng?" Họ nói với Người: "Thưa được". Người bảo họ: "Vậy các ngươi sẽ uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban, nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai thì người ấy mới được". Nghe vậy, mười người kia tỏ ra bất bình với hai anh em.

Chúa Giêsu gọi họ lại mà bảo: "Các con biết thủ lãnh của các dân tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thì hành quyền trên họ. Giữa các con thì không được thế. Trong các con, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai muốn cầm đầu các con, thì hãy làm tôi tớ các con. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người".

Ðó là lời Chúa.

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 144