mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1390
mod_vvisit_counterHôm Qua7179
mod_vvisit_counterTuần Này42138
mod_vvisit_counterTuần Trước45009
mod_vvisit_counterTháng Này121389
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10262702

We have: 144 guests online
Your IP: 54.242.94.204
 , 
Today: Feb 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THANH PHAOLO TRO LẠI PDF Print E-mail

Thánh Phaolô - Trở Lại

Buổi Giáo Lý hôm nay nhắm đến cái cảm nghiệm của Thánh Phaolô trên đường ngài đến Damascus, cũng là những gì thường được cho là cuộc trở lại của ngài. Chính trên con đường đi Damascus này mà vào đầu thập niên 30 ở thế kỷ thứ nhất và sau giai đoạn bắt bớ Hội Thánh giây phút định đoạt nơi đời sống của Thánh Phaolô đã xẩy ra.

Cuộc trở lại này đã được viết về rất nhiều, và tất nhiên là theo các quan điểm khác nhau. Chắc chắn một điều là ngài đã đạt tới khíc quanh này ở đó, thật sự là một thứ đảo ngược về quan niệm. Đùng một cái ngài đã bắt đầu coi như 'thua bại' và 'phế thải' tất cả những gì là lý tưởng nhất của ngài, như thực sự là căn nguyên - raison d'être cho đời sống của ngài (cf. Phil 3:7-8). Thế thì những gì đã xẩy ra?

Về vấn đề này chúng ta có 2 loại nguồn tài liệu. Nguồn thứ nhất, được biết đến nhất, bao gồm những trình thuật chúng ta có được từ ngòi bút của Thánh Luca, vị kể cho chúng ta biết về biến cố này ít là 3 lần trong cuốn Tông Vụ (cf. 9:1-19; 22:3-21; 26:4-23). Độc giả trung bình bị thu hút lâu dài vào những chi tiết như ánh sáng từ trời, việc ngã xuống đất, tiếng nói gọi ngài, tình trạng ngài bị mù lòaa, việc ngài được chữa lành như vẩy rơi khỏi mắt của ngài và việc ngài chay tịnh. Thế n hưng tất cả mọi chi tiết ấy đều qui về tâm điểm của biến cố ấy, đó là Chúa Kitô Phục Sinh xuất hiện như một luồng ánh sáng chói lọi và nói với Saul, biến đổi ý nghĩ của ngài và tất cả đời sống của ngài. Ánh sáng rạng ngời của Chúa Kitô Phục Sinh đã làm cho ngài trở nên mù lòa; nhờ đó, những gì là thực tại nội tâm của ngài cũng được tỏ hiện ra bên ngoài, tình trạng mù lòa của ngài trước chân lý, trước ánh sáng là Chúa Kitô. Để rồi tiếng 'xin vâng' đáp ứng Chúa Kitô của ngài nơi Phép Rửa đã phục quang cho ngài và làm cho ngài được thực sự thấy.

Trong Giáo Hội xưa, Phép Rửa cũng được gọi là 'sáng soi - illumination', vì Bí Tích này là bí tích ban ánh sáng; nó thực sự làm cho con người được thấy. Nơi Thánh Phaolô, những gì ám chỉ một cách thần học cũng được thể hiện một cách thể lý, ở chỗ, ngài thấy rõ ràng khi được chữa lành tình trạng mù quáng nội tâm. Như thế, Thánh Phaolô không được biến đổi bởi một tư tưởng mà là bởi một biến cố, bởi sự hiện diện bất khả cưỡng của Đấng Phục Sinh, Đấng sau đó ngài không bao giờ cảm thấy ngờ vực, một chứng cớ rất mãnh liệt về biến cố này, cho cuộc gặp gỡ ấy,

Nó đã biến đổi cuộc đời của Thánh Phaolô một cách sâu xa; bởi thế người ta có thể và phải nói về một cuộc hoán cải. Cuộc gặp gỡ này là tâm điểm cho trình thuật của Thánh Luca, một trình thuật rất có thể là vị thánh này đã sử dụng một trình thuật xuất phát từ cộng đồng Damascus. Điều này được cho thấy bởi những chi tiết liên quan tới địa phương, với sự hiện diện của Ananias cũng như nơi những tên gọi, về cả đường phố lẫn gia chủ là người chất chứa Thánh Phaolô (Acts 9:11).

Nguồn tài liệu thứ hai liên quan tới cuộc trở lại của Thánh Phaolô là ở nơi chính các Bức Thư của ngài. Ngài không bao giờ nói về biến cố này với đầy đủ các chi tiết, theo tôi là vì ngài cho rằng ai cũng đều biết đến những gì là chính yếu trong câu chuyện của ngài rồi: hết mọi người đều biết rằng ngài đã được biến đổi từ một tên bắt đạo thành một vị tông đồ nhiệt thành của Chúa Kitô. Và biến cố atrở lại này đã không xẩy ra theo sự tự phản tỉnh của ngài, mà là sau một biến cố mãnh liệt, một cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh.

Cho dù không nói đến những chi tiết, ở một số trường hợp, ngài cũng nói tới biến cố rất quan trọng này, tức là ngài cũng là chứng nhân của việc Chúa Giêsu Phục Sinh, một mạc khải ngài đã trực tiếp lãnh nhận từ Chúa Giêsu, cùng với sứ vụ tông đồ của ngài. Bản văn rõ ràng nhất về vấn đề này là ở đoạn ngài kể về những gì cấu tạo nên tâm điểm của lịch sử cứu độ, đó là cái chết và cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu cùng với những lần Người hiện ra với thành phần chứng nhân (cf. 1Cor 15).

Theo kiểu nói của truyền thống xưa, một truyền thống cả ngài nữa cũng đã lãnh nhận từ Giáo Hội ở Giêrusalem, ngài nói rằng Chúa Giêsu đã chết trên Thập Giá, đã được mai táng và sau khi Phục Sinh đã hiện ra với trước hết là Cephas, tức là Phêrô, tồi tới 12 Vị, đoạn tới 500 aanh em hầu hết trong những người này vẫn còn sống vào thời Thánh Phaolô, xong tới Giacôbê rồi tới tất cả mọi Tông Đồ. Để thêm vào trình thuật được truyền thống lưu lại này, ngài đã thêm là 'sau cùng... Người đã hiện ra với cả tôi nữa' (1Cor 15:8). Như thế là ngài đã làm sáng tỏ về nền tảng của sứ vụ tông đồ và đời sống mới của ngài. Cũng có những bản văn khác lập lại chi tiết này: 'Chúa Giêsu Kitô, nhờ Người chúng tôi đã lãnh nhận ân sủng và vai trò tông đồ' (cf. Rm 1:4-5); chưa hết:

'Chẳng lẽ tôi chưa được thấy Chúa Giêsu là Chúa của chúng ta hay sao?' (1Cor 9:1), những lời ngài đã bóng gió nói tới một điều gì đó mà mọi người đã biết tới. Sau cùng, bản văn được nhiều người biết đến nhất là trong Thư gửi tín hữu Galata: 'Thế nhưng, khi Ngài là Đấng đã tuyển chọn tôi trước khi tôi được sinh ra, và đã kêu gọi tôi bằng ân sủng của Ngài, đã muốn tỏ Con của Ngài cho tôi, để tôi có thể rao giảng Người cho Dân Ngoại, tôi đã không bàn hỏi với huyết nhục, cũng chẳng lên Giêrusalem với những Vị Tông Đồ trước tôi, nhưng tôi đã đến Arabia, và rồi trở lại Damascus' (1:15-17). Trong 'lời tự biện bạch' này, ngài đã dứt khoát nhấn mạnh là ngài thực sự là một nhân chứng của Đấng Phục Sinh, aaaaangài đã lãnh nhận sứ vụ của ngài trực tiếp từ Đấng Phục Sinh.

Như thế chúng ta có thể thấy rằng hai nguồn tài liệu này. cuốn Tông Vụ và Các Thư Thánh Phaolô, cùng đồng qui và đồng thuận về điểm chính yếu đó là Đấng Phục Sinh đã nói với Thánh Phaolô, đã kêu gọi ngài thi hành sứ vụ tông đồ và đã làm cho ngài trở thành một Tông Đồ thực sự, một chứng nhân của Cuộc Phục Sinh, với công việc chuyên biệt là rao giảng Phúc Âm cho Chư Dân Ngoại, cho thế giới Hy La. Và đồng thời Thánh Phaolô mặc dù ngài có một mối liên hệ trực tiếp với Đấng Phục Sinh, ngài cũng cần phải tham dự vào mối hiệp thông với Giáo Hội, chính ngài cũng được lãnh nhận phép rửa, ngài cũng phải sống hòa hợp với các vị Tông Đồ khác. Chỉ ở trong mối hiệp thông này với mọi người thì ngài mới là một tông đồ thực sự, như ngài minh nhiên viết trong Thư Nhất gửi giáo đoàn Côrintô: 'Bởi thế cho dù là tôi hay các vị ấy, chúng tôi là những người rao giảng và anh em là những người tin tưởng' (15:11). Chỉ có một lời loan báo duy nhất về Đấng Phục Sinh, vì Chúa Kitô chỉ là một.

Như đã thấy, trong tất cả mọi đoạn văn ấy, Thánh Phaolô không bao giờ cho giây phút ấy như là một biến cố hoán cải. Tại sao? Có nhiều giả thuyết, thế nhưng, đối với tôi thì lý do rất là rõ ràng. Khúc quanh này trong đời sống của ngài, việc biến đổi toàn thể con người của ngài không phải là thành quả của một tiến trình về tâm lý, của một thứ chín mùi hay của một thứ phát triển về tri thức và về luân lý. Trái lại, nó xuất phát từ bên ngoài: nó không phải là hoa trái của những gì ngài nghĩ tưởng mà là của việc ngài gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô.

Theo ý nghĩa ấy thì nó không dơn thuần là một cuộc trở lại, một phát triển về 'cái tôi' của ngài, mà là một cái chết và phục sinh đối với chính Thánh Phaolô. Một cuộc sống chết đi và một cuộc sống khác, một cuộc sống mới được hạ sinh với Chúa Kitô Phục Sinh. Không còn cách nào khác để cắt nghĩa về cuộc canh tân này của Thánh Phaolô. Không một cuộc phân tâm nào có thể làm sáng tỏ hay giải được vấn đề này. Chỉ nguyên biến cố ấy, chỉ duy cuộc gặp gỡ mãnh liệt với Chúa Kitô này, là cái then chốt để hiểu được những gì đã xẩy ra, đó là cái chết và phục sinh, là việc canh tân về phần của Đấng đã tự tỏ mình ra và nói với ngài.

Theo ý nghĩa sâu xa này, chúng ta có thể và phải nói về vấn đề hoán cải. Cuộc gặp gỡ này là một cộc canh ân thực sự đã làm biến đổi tất cả những gì là giới hạn của ngài. Bấy giờ ngài có thể nói rằng những gì là thiết yếu và nồng cốt đối với ngài trước kia đã trở thành 'đồ phế thải' đối với ngài; nó không còn là những gì 'đạt được' mà là mất mát, vì từ đó đối với ngài chỉ có một điều duy nhất đáng kể là sự sống Chúa Kitô.

Tuy nhiên, chúng ta không nghĩ rằng Thánh Phaolô như thế đã bị đóng khung vào một biến cố mù quáng. Ngược lại thì đúng hơn, vì Chúa Kitô Phục Sinh là ánh sáng chân lý, là ánh sáng của cính Thiên Chúa. Điều này đã nới rộng cõi lòng của ngài và làm cho nó hướng về tất cả mọi người. Vào lúc bấy giờ ngài đã không mất đi tất cả mọi sự vốn tốt lành và chân thực nơi đời sống của ngài, nơi gia sản của ngài, thế nhưng ngài đã hiểu được sự khôn ngoan, được chân lý, được chiều sâu của lề luật và của những vị tiên tri một cách mới mẻ và một cách mới mẻ của ngài.

Đồng thời, việc luận lý của ngài cũng cởi mở với sự khôn ngoan của dân ngoại nữa. Cởi mở với Chúa Kitô bằng tất cả tâm can của mình, ngài đã có thể thực hiện nhiều cuộc đối thoại với hết mọi người, ngài đã có thể làm cho ngài trở thành mọi sự cho mọi người. Như thế ngài mới có thể thực sự là vị Tông Đồ cho Dân Ngoại.

Quay về với bản thân mình, chúng ta hãy hỏi điều này có nghĩa gì đối với chúng ta. Đối với cả chúng ta là Kitô hữu nữa, nó không phải là một thứ triết lý mới hay một thứ luân lý mới. Chúng ta chỉ là Kitô hữu khi nào chúng ta được gặp gỡ Chúa Kitô. Dĩ nhiên là Người không tỏ mình cho chúng ta một cách choáng ngợp, chói lòa này, như ngài đã thực hiện với Thánh Phaolô để làm cho ngài trở thành Vị Tông Đồ cho muôn dân.

Thế nhưng, cả chúng ta nữa cũng có thể gặp gỡ Chúa Kitô nơi việc dọc Thánh Kinh, nơi nguyện cầu, nơi đời sống phụng vụ của Giáo Hội. Chúng ta có thể chạm được Trái Tim của Chúa Kitô và cảm thấy Người chạm đến tâm can của chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta ở trong mối liên hệ riêng tư này với Chúa Kitô, chỉ khi nào chúng ta ở trong cuộc gặp gỡ Đấng Phục Sinh này, chúng ta mới thực sự trở thành Kitô hữu. Nhờ đó lý trí của chúng ta mới mở ra, tất cả những gì khôn ngoan của Chúa Kitô mở ra như là tất cả những gì là phong phú của sự thật mở ra vậy.

Bởi thế hãy nguyện xin Chúa soi sáng, ban cho chúng ta được gặp gỡ sự hiện diện của Người trên thế giới này, nhờ đó MỖI TÍN HỮU LÀ một đức tin sống động, một tâm hồn cởi mở và một tình yêu cao cả với tất cả mọi người, những gì có thể canh tân thế giới.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

----------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CN3TN-B PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Nước Chúa đã gần đến, hãy tin tưởng vào Phúc Âm. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 1, 14-20

"Anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm".

Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa, Người nói: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm". Ðang lúc đi dọc theo bờ biển Galilêa, Người thấy Simon và em là Anrê đang thả lưới xuống biển, vì các ông là những người đánh cá. Chúa Giêsu bảo các ông: "Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người". Lập tức các ông bỏ lưới theo Người. Ði xa hơn một chút nữa, Người thấy Giacôbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền, Người liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người.

Ðó là lời Chúa.

HOC HỎI-Suy nghiệm - SỐNG Lời Chúa

Chúa Kitô: Lời Rao Giảng Tiên Khởi

Có thể nói, theo Thánh ký Marco, Chúa Giêsu bắt đầu chính thức thi hành thừa tác vụ Thiên Sai Cứu Thế của mình từ bài Phúc Âm hôm nay. Tức là, sau biến cố Người chịu Phép Rửa của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả và chay tịnh 40 ngày trong hoang địa, như phần đoạn đầu tiên bao gồm các câu Phúc Âm trước các câu của Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật Thứ III Mùa Thường Niên Năm B hôm nay.

Tuy nhiên, theo phụng vụ, sau biến cố Người lãnh nhận Phép Rửa, Người chưa vào hoang địa 40 ngay để chay tịnh và chịu cám dỗ. Trái lại, theo Thánh ký Gioan, Người còn ở gần Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ít là 2 ngày nữa sau biến cố Phép Rửa (xem Gioan 1:29, 35, 43). Thậm chí, cũng theo Phúc Âm Thánh Gioan, có thể Chúa Giêsu còn về Galilêa để dự tiệc cưới Cana "vào ngày thứ ba" sau biến cố Phép Rửa nữa (xem Gioan 2:1). Đó là lý do Giáo Hội đã cố ý chọn đọc ba bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan về thời đoạn mấy ngày chuyển tiếp lưng chừng này cho Chúa Nhật II Thường Niên, trước khi tới bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III Thường Niên Năm B hôm nay.

Ngay chi tiết đầu tiên của bài Phúc Âm hôm nay cũng cho thấy một sự kiện chuyển tiếp thật tuyệt vời, sự kiện chuyển tiếp từ một tận điểm sang một khởi điểm đã được ấn định cần phải khít khao xẩy ra, đó là: "Sau khi Gioan bị bắt, Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa". Đúng thế, Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả dù sao cũng chỉ được sai đến để dọn đường cho "Đấng đến sau" (trước biến cố Phép Rửa, như các bài Phúc Âm Nhất Lãm trong Mùa Vọng cho thấy) và để làm chứng cho Người là "Chiên Thiên Chúa" (như các bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho thấy trong các ngày 2-5/1 trước Lễ Hiển Linh ngày 6/1), tự bản thân của ngài "không phải là ánh sáng" (Gioan 1:8), mà ngài chỉ "được sai đến... để làm chứng cho ánh sáng" (Gioan 1:6-7), cho tới khi "ánh sáng thực chiếu soi mọi người đã đến trong thế gian" (Gioan 1:9), thì "bị bắt" và bị nhốt ở trong ngục tối, như ánh sáng của "cây đèn" (xem Gioan 5:35) tự nhiên phải trở nên mờ khuất trước ánh sáng xuất hiện: "Chúa Giêsu sang xứ Galilêa, rao giảng Tin Mừng nước Thiên Chúa".

Bài Phúc Âm hôm nay bao gồm 2 phần rõ ràng: Phần đầu liên quan đến Lời Rao Giảng Tiên Khởi của Chúa Kitô, và phần sau liên quan đến việc Người chọn 4 môn đệ đầu tiên là hai cặp anh em ở cùng quê và cùng làm một nghề đánh cá là cặp anh em Simon - Anrê và cặp anh em Giacobê - Gioan. Thế nhưng, căn cứ vào nội dung và chiều hướng chung của Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay, thì ý tưởng chính yếu ở ngay Lời Rao Giảng Tiên Khởi của Chúa Kitô: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến; anh em hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm".

Thật vậy, trong Lời Rao Giảng Tiên Khởi này của mình, Chúa Kitô, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14), đã mạc khải cho thấy cả "những sự trên trời" lẫn "những sự dưới đất" (Gioan 3:12). Chúa Giêsu đã mạc khải cho thấy "những sự trên trời", đó là: "Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến", liên quan đến phần của Thiên Chúa;Chúa Giêsu đã mạc khải cho thấy "những sự dưới đất", đó là: "Các người hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm", liên quan đến phần của con người.

Chính vì "thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến", ở chỗ thời điểm Thiên Chúa có ý định hoàn tất lời hứa cứu độ của Ngài với nguyên tổ loài người ngay sau nguyên tội (xem Khởi Nguyên 3:15) đã thực sự đến rồi, ngay từ Mầu Nhiệm Nhập Thể và Giáng Sinh, mà nay bắt đầu được hiện lộ nơi việc chính thức tỏ mình ra của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14), Đấng đến để thiết lập Vương Quốc của Thiên Chúa trên trần gian này bằng Cuộc Vượt Qua của Người, một cuộc Vượt Qua từ sự chết đến sự sống, khiến cho vương quốc cùng với các công việc của ma quỉ hoàn toàn bị phá hủy (xem 1 Gioan 3:8). Đó là lý do khi Chúa Kitô bắt đầu công bố Lời Rao Giảng Tiên Khởi này thì quả thực là "nước Thiên Chúa đã gần đến", về thời gian chỉ còn khoảng 3 năm ngắn gọn, thế thôi.

Thế nhưng, muốn được hưởng Ơn Cứu Độ của Người, nghĩa là muốn được vào Nước Thiên Chúa do Người thiết lập, con người cần phải "ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm", một cặp điều kiện, hay đúng hơn, một điều kiện lưỡng diện bất khả thiếu và bất khả phân ly để con người được cứu độ, được vào Nước Thiên Chúa. Có nghĩa là phải chân nhận mình là con người tội lỗi đáng thương, ở chỗ "ăn năn sám hối", với tất cả lòng tin tưởng vào "Phúc Âm Sự Sống - Evangelium Vitae" là Lòng Thương Xót Chúa, Đấng duy nhất có thể chẳng những cứu mình khỏi tội lỗi và sự chết mà còn cho mình được thông hiệp sự sống thần linh vô cùng trọn hảo viên mãn của Ngài.

Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay cho thấy cả Bài Đọc I lẫn Bài Đọc II đều đáp ứng Lời Rao Giảng Tiên Khởi khẩn trương có tính cách mời gọi này của Chúa Kitô: "hãy ăn năn sám hối và tin vào Phúc Âm". Nếu trong Bài Đọc I, dân thành Ninivê thuộc dân ngoại đã làm gương "ăn năn sám hối" thật tuyệt vời: "Dân thành tin tưởng nơi Chúa: họ công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ người lớn đến trẻ nhỏ", đến độ, "Chúa thấy việc họ làm, vì họ bỏ đời sống xấu xa, Chúa bỏ ý định phạt họ, và Người không thực hiện điều đó", thì ở Bài Đọc II, Vị Tông Đồ Dân Ngoại đã khuyên Kitô hữu thuộc giáo đoàn Corintô "hãy tin tưởng vào Phúc Âm", tức hãy sống đức tin như thế này:

Chính vì "Thời giờ vắn vỏi", một sự kiện "vắn vỏi" ở ngay đầu lời khuyên này của Thánh Phaolô như âm vang lời Chúa Kitô mạc khải "Nước Thiên Chúa đã gần đến" ở trong bài Phúc Âm,mà Kitô hữu chỉ "còn có cách là những ai có vợ, hãy ở như không có; những ai than khóc, hãy ăn ở như không than khóc; những kẻ hân hoan, hãy ăn ở như không hân hoan; những người mua sắm, hãy ăn ở như không có gì; những ai dùng sự đời này, hãy ăn ở như không tận hưởng, vì chưng bộ mặt thế gian này đang qua đi". Có nghĩa là một khi sống bởi đức tin và sống theo đức tin thì chẳng khác gì Kitô hữu sống ở thế gian mà không thuộc về thế gian, coi mọi sự chỉ là phương tiện để đạt đến cùng đích, để phục vụ Nước Trời.

Gương sống động nhất của thành phần "tin vào Phúc Âm" này chính là 4 người môn đệ đầu tiên được Chúa Giêsu kêu gọi trong bài Phúc Âm hôm nay, 4 chàng thanh niên có gia đình và nghề nghiệp đàng hoàng. Ở chỗ, vừa được nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét, một nhân vật mới quen với anh em Anrê và Simon (xem Gioan 1:40-42), lên tiếng kêu gọi "'Hãy theo Ta, Ta sẽ làm cho các ngươi trở thành những kẻ chài lưới người'. Lập tức các ông bỏ lưới theo Người. Ði xa hơn một chút nữa, Người thấy Giacôbê con ông Giêbêđê và em là Gioan đang xếp lưới trong thuyền, Người liền gọi các ông. Hai ông bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người".

Đúng thế, Chúa Giêsu Kitô chính là Phúc Âm của Thiên Chúa, là tất cả mạc khải thần linh của Thiên Chúa (xem Gioan 14:9), mà nếu không tin tưởng vào Người, như "tin vào Phúc Âm", thì 4 chàng thanh niên chuyên nghiệp đánh cá này không thể nào có thể tác hành một cách vô cùng điên rồ dại dột trước mắt thế gian như vậy: "Lập tức các ông bỏ lưới theo Người", hay "bỏ cha là Giêbêđê ở lại trên thuyền cùng với các người làm công, và đi theo Người". Thế mới biết mãnh lực vô cùng hấp dẫn xuất phát từ "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" đã có tác dụng thần linh như thế nào nơi những ai "tin vào Phúc Âm" như hai cặp anh em trong Bài Phúc Âm hôm nay, những con người chân thành chất phác, đầy lòng khao khát thần linh và cởi mở trước tác động thần linh, như tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. Xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con.

2) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế Ngài sẽ dạy cho tội nhân hay đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài.

3) Lạy Chúa, xin hãy nhớ lòng thương xót của Ngài, lòng thương xót tự muôn đời vẫn có. Xin hãy nhớ con theo lòng thương xót của Ngài, vì lòng nhân hậu của Ngài, thân lạy Chúa.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

----------------------------

 

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY NGAY 20-1-2018 PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà không qua Thầy". - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 3, 20-21

"Những thân nhân của Người nói: Người đã mất trí".

Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được. Những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: "Người đã mất trí".

Ðó là lời Chúa.

HOC HỎI - Suy nghiệm- SỐNG Lời Chúa

Đức Kitô "mất trí"

Ngày Thứ Bảy hôm nay trong Tuần 2 Thường Niên hậu Giáng Sinh là ngày duy nhất trong riêng tuần này và chung phụng niên có bài Phúc Âm ngắn nhất, chỉ với 2 câu vắn vỏi (Marco 3:20-21).

Một số ngày khác trong tuần suốt phụng niên đặc biệt là của Mùa Thường Niên cũng có những bài Phúc Âm chỉ có 3 câu đã thấy ngắn lắm rồi, như trong Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh có Thứ Hai Tuần 6 (Marco 8:11-13) hay Thứ Tư Tuần VIII (Marco 9:38-40), hoặc trong Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh, có Thứ Tư Tuần X (Mathêu 5:17-19), Thứ Tư tuần XVII (Mathêu 13:44-46), Thứ Hai và Thứ Ba Tuần XXV (Luca 8:16-18 và 19-21), thế mà hôm nay bài Phúc Âm còn ngắn hơn nữa.

Tuy nhiên, không phải vì cái ngắn thật là ngắn chưa từng có này của bài Phúc Âm hôm nay đã không tiếp tục phản ảnh chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" của chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh, cho dù nội dung và ý nghĩa của bài Phúc Âm có vẻ hoàn toàn ngược lại:

"Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được. Những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'".

Thật thế, trong bài Phúc Âm hôm nay, ngay câu thứ nhất trong hai câu, Thánh ký Marco vẫn cho thấy hình ảnh nổi nang và tầm ảnh hưởng mãnh liệt của "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", ở chỗ: "Khi ấy Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được".

Thánh ký Marco không cho chúng ta biết việc "Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà" đây là ở đâu, chỗ nào, nhà ai? Phải chăng là chính nhà của Người ở Nazarét, vì chi tiết được vị Thánh ký cho biết ngay sau đó là: "Những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'"?

Theo tiến trình di chuyển của Chúa Giêsu cùng với các môn đệ của Người, được Thánh ký Marco thứ tự thuật lại, từ tuần mở đầu Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh cho đến hôm nay, thì ngôi nhà này có thể là nhà của anh em Simon và Anrê, nơi Người đã đến lần đầu tiên trong bài Phúc Âm Thứ Tư tuần trước, nơi Người đã chữa cho bà nhạc của chàng Simon khỏi cảm cúm cùng với các bệnh nạn tật nguyền khác của dân chúng tuốn đến với Người vào chính hôm đó, và cũng có thể nói là nơi Người đã chữa lành cho một người bất toại được thả xuống từ trên nóc nhà để tránh đám đông đứng chật trong ngoài ngôi nhà này, ở bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần trước.

Có cái lạ là trong khi Chúa Giêsu đang nổi nang và đầy thu hút dân chúng như vậy thì "những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'". Tại sao họ lại có thái độ và hành động hoàn toàn ngược chiều với quần chúng như vậy?

Phải chăng "Người đã mất trí" là vì "Người không dùng bữa được" bởi "dân chúng đông đảo lại đổ xô tới"? Nếu thế thì khi tới nơi họ lại càng cần phải trợ giúp Người để nhờ đó Người có thể dùng bữa được như họ mong muốn, bằng cách họ tạm trấn an dân chúng và cung cấp thực phẩm cho Người ăn uống ngay lúc bấy giờ, chứ tại sao họ lại muốn "bắt Người đi" là làm sao? "Bắt Người đi" đâu?? "Bắt Người đi" khỏi chỗ đó để làm gì??? Chẳng lẽ để mang Người tới một bệnh viện tâm thần (mental health hospital) để Người được chữa trị, hay để chính họ cùng nhau chữa trị cho Người, vì "Người đã mất trí"!?

Nếu không thì vấn đề tiếp tục được đặt ra ở đây sẽ như thế này: họ "hay tin đó" là tin gì về Người? Tin Người "trở về nhà", hay tin "dân chúng đông đảo lại đổ xô tới", hoặc tin "Người không dùng bữa được"? Hay cả 3 tin một lúc: "Chúa Giêsu cùng các môn đệ trở về nhà, và dân chúng đông đảo lại đổ xô tới, đến nỗi Người không dùng bữa được"? Hoặc chỉ có một tin nào trong 3 tin ấy đã khiến họ phải thốt lên một cách hết sức bất mãn về Người: "Người đã mất trí", tới độ họ không chịu được nữa và cần phải nhúng tay can thiệp ngay để "bắt Người đi"?

Để giải đáp vấn đề này, chúng ta cần biết thành phần "những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người" đây là ai? Dù không biết rõ từng người trong họ, chúng ta cũng có thể khẳng định mà không sợ sai lầm rằng không có Mẹ của Chúa Giêsu rồi đó. Không ai hiểu Chúa Giêsu hơn Mẹ Maria. Mẹ chẳng bao giờ cho Con Mẹ là "mất trí" cần phải "bắt đi" như những người "thân nhân" nào đó đã có thái độ và hành động đủ cho thấy là chính họ mới là một nạn nhân đang bị "mất trí" đáng thương mà không biết!

Thật ra, nếu chúng ta đọc thêm bài Phúc Âm hôm nay một chút nữa, ngay sau câu 21 cuối bài sang đầu câu 22, một câu thuộc về bài Phúc Âm cho Thứ Hai Tuần III Thường Niên tuần tới, sẽ thấy một mệnh đề trước (câu 21) cách mệnh đề sau (câu 22) bằng dấu chấm phẩy (;), chúng ta sẽ thấy một chi tiết liên quan có thể làm sáng tỏ vấn đề như sau: "trong khi đó, những luật sĩ từ Giêrusalem xuống nói rằng: 'Ông ấy bị quỷ Belgiêbút ám', và nói thêm rằng: 'Chính nhờ tướng quỷ mà ông ấy trừ quỷ'".

À... thì ra thế, "những thân nhân của Người hay tin đó, liền đi bắt Người, vì họ nói: 'Người đã mất trí'" lý do là vì họ nghe thấy những tin tức xuyên tạc về Người từ thành phần luật sĩ thông luật hơn dân chúng và dạy luật cho dân chúng vốn không tin tưởng Người, vốn không khâm phục Người, không biết có phải vì họ đang hậm hực ghen tức với Người, bởi ảnh hưởng quá mãnh liệt của Người trong quần chúng trổi vượt hơn họ, nên họ đang muốn tìm hết cách để hạ bệ Người xuống, bằng những thứ chụp mũ, xuyên tạc và bôi nhọ Người hay chăng?

Kết quả là Người vẫn còn đó, chẳng những không bị thân nhân của Người "bắt đi", vì Người chẳng "mất trí" như các thân nhân của Người tưởng, trái lại, Người còn quá khôn ngoan đến độ làm cho thành phần luật sĩ này bị cứng họng, bằng cách Người đã sử dùng gậy ông đập lưng ông, như chúng ta sẽ thấy trong Bài Phúc Âm Thứ Hai tuần tới.

Nếu thân nhân của Chúa Giêsu sống vào thời của chàng Đavít thì chắc chắn họ cũng sẽ cho Đavít là tên điên điên khùng khùng còn hơn cả Chúa Giêsu nữa, bởi vì anh chàng này đã khóc thương kẻ thù của mình là Vua Saulê, kẻ đã lùng giết chàng 2 lần (xem 1Samuel nguyên đoạn 24 và nguyên đoạn 26), sau khi nghe tin con người ấy cùng với thái tử Gionathan của vua bị tử trận:

"Ðavít liền xé áo mình ra, các người hầu cận của ông cũng làm như thế... (Và Ðavít đã khóc rằng:) 'Các nhân tài Israel đều bị giết trên núi. Cớ sao các anh hùng bị ngã gục như thế? Saolê và Gionathan đáng yêu đáng quý, khi sống cũng như khi chết, họ không hề lìa nhau. Họ lanh lẹ hơn chim phượng hoàng, và hùng dũng hơn loài sư tử. Hỡi thiếu nữ Israel, hãy than khóc Saolê đi, người đã mặc cho các cô áo điều sặc sỡ, đã gắn lên y phục các cô những đồ nữ trang bằng vàng".

Bài Đáp Ca hôm nay như âm vang tâm tình thương khóc của chàng Đavít trong Bài Đọc 1 hôm nay về cái chết của "các nhân tài Israel" trong trận chiến bị thảm bại trước quân Amaleck là quân trước đây Saulê đã thắng trận vẻ vang nhưng đã không tận diệt họ theo lệnh Thiên Chúa, như Bài Đọc 1 Thứ Hai tuần này đã cho thấy, thế nhưng, chính nhờ cuộc thất trận quá thảm bại này đã tác động dân Do Thái hướng về Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của mình (câu 1) và xin Ngài tha thứ mà cứu độ họ (câu 2):

1) Lạy Ðấng chăn dắt của Israel, xin hãy lắng tai! Chúa là Ðấng chăn dẫn Giuse như thể bầy chiên. Chúa ngự trên các Vệ Binh Thần, xin hiện ra trong sáng láng, trước mặt con cháu Ephraim, Bengiamin và Manassê. Xin thức tỉnh quyền năng của Chúa, và ngự tới để cứu độ chúng con.

2) Lạy Chúa thiên binh, Chúa còn thịnh nộ tới bao giờ, bởi vì dân Chúa đang dâng lời khẩn nguyện? Chúa nuôi chúng con bằng cơm bánh trộn giọt châu, và cho chúng con uống bằng nước mắt chảy tràn trề. Chúa biến chúng con thành miếng mồi cho lân bang tranh chấp, và quân thù phỉ báng chúng con.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LM CU HANH THANH LE PDF Print E-mail

LINH MỤC ĐƯỢC CỬ HÀNH HAY ĐỒNG TẾ BAO NHIÊU THÁNH LỄ TRONG NGÀY ?
Hỏi :
Xin cha giải thich rõ lại những câu hỏi sau đây:
1- Luật phụng vụ về cử hành Thánh Lễ và đồng tế của linh mục
2- có nhiều linh mục đồng tế thì được ích lợi thiêng liêng ra sao ?
3- có được phép gom nhiều ý lễ trong một Thánh Lễ hay không?
4- có cần cầu cho các thai nhi và cho các linh hồn "mồ côi không?
5- có được phép đi dự tiệc cưới của các cặp hôn nhân đồng tính không?
Trả lời:
1- Người Công Giáo Việt Nam sống ở Mỹ đều nhận thấy rõ điều này là : chỉ có ở các giáo xứ hay công đoàn Viêt nam ( Cali, Houston, Dallas, New Ỏrleans...) mới có hiện tương nhiều linh mục đến đồng tế trong các lễ tang hay lễ cưới. Đây là điều bên Việt Nam cấm, và ngay cả các giáo xứ Mỹ, Hispanic, Phi, Đại Hần Tàu ...cũng không có , mà chỉ ở các giáo xứ hay Cộng Đoàn dành riêng cho giáo dân Viêt Nam mới có mà thôi.
Tại sao lại có hiện tượng các linh mục đồng tế nhiều như vậy ở các giáo xứ Viêt Nam ở Mỹ ?
Trước khi trả lời cho câu hỏi trên, tưởng cũng cần nói rõ thêm một lần nữa là theo giáo luật , linh mục chỉ được phép cử hành MỘT Thánh Lễ mỗi ngày mà thôi, trừ trường hợp có nhu cầu mục vụ chính đáng, như có đông giáo dân dự lễ trong các ngày Chúa Nhật và lễ buộc, khiến không thể làm một lễ cho quá nhiều người tham dự được. Trong trường hợp này, Đấng bản quyền địa phương- cụ thể là Giám mục địa phận, có thể cho phép các linh mục trực thuộc làm 2 hay 3 lễ trong ngày để thỏa mãn nhu cầu mục vụ của giáo Xứ. ( x. Giáo luật số 905).
Linh mục cử hành Thánh Lễ mà không được phép làm 2, hay 3 Lễ trong ngày , trừ trường hợp ngoại lệ nói trên, thì linh mục đến đồng tế cũng phải theo luật này để không được đồng tế 2, hay 3 lễ trong ngày mà hoàn toàn vì lý do riêng, chứ không phải là vì nhu cầu mục vụ đòi buộc.Nghiã là không có luật ngoại lệ nào cho phép đồng tế nhiều lần như vậy trong một ngày.Chỉ có luật cấm linh mục Công Giáo dồng tế với các thừa tác viên của các giáo đoàn chưa hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo mà thôi, ( x. giáo luật số 908)
Liên can đến câu hỏi 1, Thực tế mà nói thì sở dĩ có nhiều linh mục đồng tế trong các dịp lễ tang hay lễ cưới ở Mỹ là vì hai lý do sau đây:
a- Linh mục có thân nhân hay hay bạn bè quen biết có người qua đời hay lễ cưới của con em họ, nên vì tình gia đình hay quen biết mà phải đi đồng tế.
b- Ngoài lý do nêu trên, có nhiều linh mục đi đồng tế vì được người ta mời cho có đông linh mục trong các dịp lễ tang hay lễ cưới, vì thân nhân muốn được hãnh diện hay khoe khoang với giáo xứ hay công đoàn.Tôi đã có lần chứng kiến trong một lễ có đông linh mục đồng tế, thân nhân của gia đình có lễ tang, đã cầm phong bì đến hỏi tôi xem cha đó là ai để trao phong bì ! Như vậy rõ ràng linh mục kia được ai mời đến cho đông, chứ không phải vì là thân nhân hay quen biết của gia đình có tang lễ .
Một điều đáng nói thêm là ở địa phương kia nơi có nhiều linh mục bên Viêt Nam qua Mỹ du học và cư ngụ trong lãnh thổ giáo xứ. Nên mỗi dịp có lễ tang hay lễ cưới thì đa số các linh mục này đều đến đồng tế , mặc dù không có liên hệ họ hàng hay bạn bè với gia đình có lễ tang hay lễ cưới ! Họ đến vì được mời, chứ không phải vì liên hệ gia đình hay quen biết. Lại nữa cũng ở địa phương khác, các linh mục đã thi nhau đi đồng tế cuối tuần với 2, 3 lễ tang hay lễ cưới ở các giáo xứ quanh vùng.Vì các linh mục phải chạy từ xứ này sang xứ kia cho kịp giờ lễ, nên người ta đã nói " các cha đi sô ( show) cưối tuần như các ca sĩ đi show trình diễn hết chỗ này đến chỗ khác !
Một điều thông thường khó coi là thân nhân các lễ tang hay lễ cưới thường tặng phong bì cho các cha trước hay sau Thánh lễ. Nếu thật sự vì thân quen thì không cần thiết phải tặng phong bì, một tệ trạng mà linh mục cần tránh để khỏi mang tiếng là " đi Sô" để kiếm thêm thù lao không cần thiết cho đời sống linh mục ở Mỹ nói riêng. Không cần thết vì đời sống vật chất của linh mục ở Mỹ đã được cung cấp đầy đủ hơn các linh mục ở Âu Châu hay ở Viêt Nam rất nhiều, nên kiếm thêm tiền nhờ đi đồng tế để làm gì ?
Linh mục mà có nhiều tiền thì làm sao sống tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô, " Người vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tư ý trở nên khó nghèo vì anh em , để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." ( 2 Cor 8: 9)
Có sống đích thực tinh thần khó nghèo này của Chúa Kitô thì linh mục mới có sức thuyết phục khi giảng dạy cho giáo dân về tinh thần nghèo khó của Phúc Âm, mà hơn ai hết linh mục phải là nhân chứng sống động bằng chính đời sống của mình trước mặt người đời. Linh mục mà ham tiền, ham của cải và phương tiện vật chất sa hoa, thì không thể sống gương khó nghèo của Chúa Kitô , " Đấng không có chỗ tựa đầu, trong khi con chồn có hang, chim trời có tổ"(Mt 8: 20 ).
Chúa nói : " ai có tai nghe, thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 7: 16; Lc 8: 8)
2- Có nhiều linh mục đồng tế thì được ích lợi thiêng liêng ra sao ?
Tôi đã có dịp nói đôi lần về vấn đề này. Nay xin được nhắc lại một lần nữa là ơn thánh Chúa ban cho ai còn sống hay đã qua đời hoàn toàn là nhưng không ( gratis=gratuitous) nghĩa là không thể mua được bằng tiền bạc, hay của cải vật chất nào. Cũng không lệ thưộc vào việc có nhiều hay ít linh mục đồng tế .
Sự thật phải tin là. nếu một người, khi còn sống, đã hoàn toàn qui hướng đời mình về với Chúa, đã thực tâm yêu mến Chúa và cố gắng sống theo đường lối của Người, thì khi chết dẫu không có ai dâng lễ và đồng tế cầu nguyện cho, thì cũng không hề thiệt thòi gì, vì đời sống của mình đã đủ để Chúa đoái thương ban phúc trường sinh sau khi chết.
Ngược lại, một người, khi còn sống, đã hoàn toàn quay lưng lại với Chúa và khước từ lời Chúa mời gọi vào dự Bàn Tiệc Nước Trời,( Mt 22: 1-14), thì sau khi chết, dẫu có cả trăm linh mục, giám mục, Hồng Y và ngay cả Đức Thánh Cha dâng lễ cầu cho, thì cũng vô ích mà thôi. Ơn thánh Chúa ban không hề lệ thuộc vào có đông người làm lễ và cầu nguyện, mà căn cứ vào chính đời sống của một người cho đến ngày lìa đời.
Có thêm linh mục đồng tế và đông người cầu nguyện cho thì chỉ có ích cho các linh hồn đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa, nhưng chưa được hoàn hảo đủ để vào ngay Thiên Đàng , mà còn cần được thanh luyện ít nhiều thời gian nơi Luyên Tội.( Purgatory). Chỉ các linh hồn thánh đang còn ở nơi đây mới cần các Thánh trên Trời và người thân còn sống cầu nguyện và làm việc lành để đền thay cho họ được sớm vào hưởng Thánh Nhan Chúa cùng các Thánh các Thiên Thần trên Thiên Đàng. Sở dĩ các linh hồn cần sự trợ giúp này , vì họ đã hết giờ làm việc lành để tự cứu mình rồi..( x SGLGHCG số 1030-1032)
Như thế, cần thiết phải sống ngay lành, mến Chúa và yêu người thực sự, cùng quyết tâm xa tránh tội lỗi trong suốt cuộc đời của mình trên trần thế, thì đó mới chính là bảo hiểm chắc chắn cho hy vọng được cứu độ và sống đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau.Cho mục đích đó, không ai có thể làm thay cho mình, kể cả việc bỏ nhiều tiền ra xin lễ đời đời trước ở các nơi buôn thần bán thánh, trong khi chính mình lại không tự cứu mình bằng đời sống hoàn toàn qui hướng về Chúa và bước đi theo Chúa Kitô là "con Đường, là sự Thật và là sự sống." ( Ga 14: 6), thì cũng vô ích mà thôi.
Thiên Chúa là tình thương và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kito là vô giá và đủ cho con người được cứu độ. Nhưng tình thương và công nghiệp ấy không tự động áp dụng cho hết mọi người mà không đòi hỏi ai phải làm gì nữa để xứng đáng được hưởng nhờ công nghiệp ấy.
Nói rõ hơn, cần phải cộng tác với ơn cứu độ đó bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và xa tránh mọi tội lỗi và sự dữ thì mới xứng đáng để hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, " Đấng đã hy sinh mạng sống của mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20:28).
Cộng tác với ơn cứu độ bằng đời sống tin, cậy, mến có chiều xâu thực sự thí đó là cách thiết thực lo cho phần rỗi của mình .Còn nhờ người khác cầu nguyện thêm cho chỉ là phần phụ mà thôi. Nói khác đi, nếu nhờ người khác làm thay cho , như bỏ nhiều tiền ra xin lễ đời đời trước ở các nơi buôn thần bán thánh, và nhờ các nhà Dòng cầu nguyện cho sau này , mà được bảo đảm cho phần rỗi của mình, thì những người giầu có sẽ vào Thiên Đàng hết, và chỉ người nghèo không có tiền xin lễ hay nhờ người khác cầu nguyện cho thì bị thua thiệt hay sao ?
Chắc chắn không phải vậy, vì Thiên Chúa công bằng, ban ơn thánh của Người cho những ai có thiện chí cộng tác với ơn thánh đó để sống theo đường lối của Chúa và cậy nhờ công nghiệp cửu chuộc của Chúa Kitô để được cứu rỗi mà vào Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình con người trên trần thế này.
Như thế, ai cũng có thể được cứu rỗi, nếu có thiện chí muốn yêu mến Chúa và quyết tâm chống lại mọi cảm dỗ của ma quỉ, của bản năng yếu đuối và mời mọc quyến rũ của thế gian vô luân vô đạo. Không có quyết tâm này thì Chúa không thể cứu ai được.
Chắc chắn như vậy.
3= Có được gom nhiều ý lễ để hưởng trọn bổng lễ trong một Thánh Lễ hay không ?
Ở các giáo xứ hay Công đoàn Việt Nam, người ta thường nghe rao trước lễ các ý lễ ( mass intentions) của người xin. Các ý lễ này có khi nhiều đến hai ba chục người xin được rao trong Thánh Lễ .
Nói đến ý lễ - về một phương diện- là nói đến bổng lễ ( mass stipends) mà linh mục được hưởng khi dâng Thánh Lễ. Linh mục chủ tế hay đồng tế chỉ được hưởng một bổng lễ mà thôi, còn các bổng lễ khác phải nhường cho các mục đích của Giáo quyền sở tại.( x, giáo luật số 951). Nghĩa là dủ có nhiều ý lễ được rao trong Thánh lễ, linh mục cử hành không được phép hưởng tất cả bổng lễ của các ý lễ đó trong môt Thánh Lễ , vì mỗi Thánh Lễ, chỉ được hưởng một bổng lễ mà thôi, dù bổng lễ là ít hay nhiều. ( giáo luật số 948).
Nếu linh mục muốn hưởng hết các bổng lễ thì phải dâng lễ cho đủ số bổng lễ muốn hưởng,. Điều này linh mục phải giải thích rõ cho giáo dân biết để người ta khỏi hiểu lầm là linh mục đã gom các ý lễ trong một Thánh Lễ để hưởng hết mọi bổng lễ trong các ý lễ của người xin. Đây là vấn đề lương tâm công bằng mà mọi linh mục không thể bỏ qua để hưởng lợi theo ý riêng của mình.
Sau hết,cũng cần nó thêm là khi có người xin lễ đưa một số tiền to ( 100 hay 200 đô) mà chỉ nói là để xin lễ chứ không nói rõ là xin bao nhiêu lễ, thì linh mục cũng buộc phải làm lễ và hưởng bổng lễ theo qui định của giáo quyền sở tại ( tử 5 đến 10 đô cho mỗi ý lề tùy mỗi Địa phận qui đinh, ( x. Giáo luật số 950).
Nhưng nếu người xin đưa số tiền to và nói rõ nói là chỉ xin một lễ thôi, thì linh mục được hưởng số bổng lễ đó cách hợp lý
4- Có cần cầu nguyện cho các thai nhi và các linh hồn mồ côi không ?
Ở các giáo xứ Việt Nam, người ta thường nghe có người xin lễ cầu cho các thai nhi và cho các linh hồn mồ côi.
Điều này có hợp lý không ?
Trước hết phải nói ngay là các thai nhi hoàn toàn vô tội trước mặt Chúa, vì chúng chưa được sinh ra và có thể phạm tội cá nhân được, nên không cần ai phải cầu nguyện cho chúng. Chúng bị giết ( phá thai) thì tội thuộc về kẻ đã phá thai hay giúp cho việc phá thai có kết quả. Do đó không cần phải xin lễ cầu cho các thai nhi như thực hành hiện nay ở các giáo xứ hay cộng đoàn Viet Nam ở Mỹ. Có chăng, các thai nhi chỉ chịu hậu quả của tội Nguyên Tổ ( Original Sin) mà thôi.
Nhưng nếu chúng không được rửa tội để tẩy sạch tội này, thì lỗi đó vẫn thuộc về cha mẹ thai nhi và kẻ đã giúp đỡ cho việc phá thai có kết quả. Thiên Chúa nhân từ không thể bắt lỗi các thai nhi vì chúng không được rửa tội. Tóm lại, không cần xin lễ cầu cho các thai nhi , và linh mục cần giải thich rõ cho giáo dân biết, và không nên nhận tiền xin lễ của ai cầu cho mục đích này, vì không hợp lý.
Lại nữa , cũng không nên nhận tiền xin lễ cầu cho "các linh hồn mồ côi", như giáo dân Việt Nam thường làm ở các giáo xứ. Lý do là không có linh hồn nào bị coi là mồ côi, hiểu theo nghĩa là không có ai cầu nguyện cho cả. Sự thật thì Giáo Hội luôn cầu cho "các tín hữn đã ly trần" trong mọi Thánh Lễ, dù không có ai xin lễ. Như thế, có chăng chỉ nên xin lễ cầu chung hay cho riêng một số linh hồn đã ly trần, để nếu họ còn đang được thanh luyện nơi luyện tội , thì được sớm vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Chúa mà thôi. Tóm lại, xin lễ cầu cho các linh hồn ở Luyện Tội là việc bác ái, đạo đức đáng khen, nhưng đừng nói là cầu cho các linh hồn mồ côi vì lý do nói trên.
5-Có được dự tiệc cưới của các cặp hôn nhân đồng tính không ?.
Hôn nhân đồng tính ( same sex marriage) là điều trái tự nhiên, và vô luân ( immoral) nên Giáo Hội không bao giờ nhìn nhận loại hôn nhân này giữa hai người nam hay hai người nữ.Đây là điều trái nghịch với mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập và truyền cho con người (trước tiên là Adam và Eva) phải thi hành để " sinh sôi nẩy nở cho thật nhiều , cho đầy mặt đất,và thống trị mặt đất," (x.St 1:28)
Trung thành với ý muốn đó của Thiên Chúa, Giáo Hội không bao giờ chấp nhân hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ, vì nó trái tự nhiên và trái với mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu; và sau này, Chúa Giêsu đã nâng lên hàng bí tích.
Vì Giáo Hội không công nhận, nên người Công giáo cũng không được phép dự nghi thức thành hôn( ở nơi nào cử hành nghi thức này) và tiệc cưới của những cặp hôn nhân đồng tính vì bất cứ lý do nào. Tham dự như vậy là vô tình tán thành việc kết hôn của họ, một gương xấu, một điều trái tự nhiên và vô luân mà người Công giáo phải xa tránh để bảo vệ truyền thống hốn nhân được Thiên Chúa thiết lập cho mục đích di truyền nòi giống, tức là cộng tác với Chúa trong việc sinh sản con người cho đầy mặt đất cho đến ngày mãn thời gian.
Ước mong các giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.Amen.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO - O LAI VOI NGUOI-CN2TN-B PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Lạy Cha là Chúa trời đất, Chúa đáng chúc tụng, vì đã mạc khải cho các trẻ nhỏ biết những mầu nhiệm nước trời. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 1, 35-42

"Họ xem chỗ Người ở, và ở lại với Người".

Khi ấy, Gioan đang đứng với hai người trong nhóm môn đệ của ông nhìn theo Chúa Giêsu đang đi mà nói: "Ðây là Chiên Thiên Chúa". Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Chúa Giêsu. Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại, thấy họ đi theo Mình, thì nói với họ: "Các ngươi tìm gì?" Họ thưa với Người: "Rabbi, nghĩa là: thưa Thầy, Thầy ở đâu?" Người đáp: "Hãy đến mà xem". Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười.

Anrê, em ông Simon Phêrô, (là) một trong hai người đã nghe Gioan nói và đã đi theo Chúa Giêsu. Ông gặp Simon anh mình trước hết và nói với anh: "Chúng tôi đã gặp Ðấng Messia, nghĩa là Ðấng Kitô". Và ông dẫn anh mình tới Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nhìn Simon và nói: "Ngươi là Simon, con ông Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Ðá".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy nghiệm -SỐNG Lời Chúa

Bao giờ Chúa Nhật Thứ Hai Mùa Thường Niên, dù là Chu Kỳ Phụng Vụ Năm A, B hay C, cũng đều theo Phúc Âm của Thánh Ký Gioan, như một chuyển tiếp giữa biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa đến việc Người chính thức công khai tỏ mình ra. Và ý nghĩa chuyển tiếp này về Chúa Giêsu Kitô, qua 3 bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan được Giáo Hội cố ý chọn đọc, lại liên quan đến vai trò môi giới của hai nhân vật bất khả thiếu: trước hết là vai trò môi giới của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả - giữa Chúa Giêsu với chung dân chúng (Phúc Âm Năm A) cũng như với riêng môn đệ của ngài (Phúc Âm Năm B), và sau nữa là vai trò môi giới của Mẹ Maria ở tiệc cưới Cana, giữa Chúa Giêsu với các tập sinh môn đệ của Người (Phúc Âm Năm C).

Thật vậy, theo Thánh Ký Gioan, thì sau biến cố chịu phép rửa của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ở Sông Dược Đăng (Jordan), Chúa Giêsu không vào hoang địa chay tịnh 40 ngày và chịu ma quỉ cám dỗ ngay, mà còn ở đâu đó gần chỗ Tiền Hô Gioan Tẩy Giả thi hành thừa tác vụ của ngài. Cũng theo Thánh ký Gioan, không phải Tiền Hô Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Chúa Giêsu rồi, (như được 3 Thánh ký của Phúc Âm Nhất Lãm thuật lại), là hoàn tất sứ vụ của ngài. Trái lại, vị tiền hô này, theo Thánh ký Gioan, (người viết Phúc Âm không thuật lại biến cố phép rửa như 3 vị viết Phúc Âm Nhất Lãm), vẫn còn tiếp tục sứ vụ làm chứng cho Đấng đến sau ngài nhưng cao trọng hơn ngài mà lại được ngài làm phép rửa cho (xem Gioan 1:33).

Những chứng từ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, cho dù chỉ là "những chứng từ của loài người" (Gioan 5:34), cũng vẫn bất khả thiếu trước mắt trần gian như là một thủ tục giới thiệu về "Đấng đến sau" cho những ai quen biết và là thành phần sẽ được chính "Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần" (Gioan 1:33) ấy tỏ mình ra, trong đó có chung dân Do Thái và riêng các môn đệ của vị tiền hô. Nếu trong bài Phúc Âm Năm A cho Chúa Nhật 2 Năm A cho thấy vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã giới thiệu với chung dân chúng về "Đấng đến sau" cũng là "Đấng đang tiến về phía ngài" bấy giờ (Gioan 1:29) rằng Người là "Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian" (Gioan 1:29), thì trong bài Phúc Âm Năm B hôm nay, ngài giới thiệu với "hai trong số các môn đệ của ngài" về "Đấng đến sau" cũng là vị bấy giờ đang "đi ngang qua" (Gioan 1:36) chỗ của ngài, (chứ không "tiến đến về phía ngài" như hôm trước), rằng Người là "Chiên Thiên Chúa" (Gioan 1:36).

Sau biến cố chịu phép rửa của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, cả hai ngày liền Chúa Giêsu chưa rời bỏ nơi thi hành thừa tác vụ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, "ngày hôm sau... Chúa Giêsu tiến về phía ngài", và "ngày kế tiếp... Chúa Giêsu đi ngang qua", và cũng cả hai ngày liền này, theo Thánh ký Gioan thuật lại, Chúa Giêsu đều không nói năng gì với vị tiền hô của Người. Thậm chí cả trước khi lãnh nhận Phép Rửa, Người cũng không tự động mở miệng ta nói năng bất cứ một sự gì với ai, kể cả với vị tiền hô của Người, bởi chưa tới giờ của Người, chưa tới lúc Người chính thức tỏ mình ra, thi hành thừa tác vị Thiên Sai Cứu Thế của Người, cho tới khi Người không thể nào không lên tiếng, hoàn toàn bất đắc dĩ, để trấn an vị tiền hô của Người (x. Mt. 3:15), nhờ đó Người đã giúp cho vị này có thể an tâm chu toàn sứ vụ tiền hô của mình đối với Người là Đấng đến sau ngài nhưng cao trọng hơn ngài như ngài đã chân nhận.

Tuy nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét hoàn toàn xa lạ với toàn dân Do Thái này không nói năng gì, nhưng Người đã được một nhân vật thế giá khác trong chung dân chúng cũng như với riêng thành phần lãnh đạo của dân Do Thái (xem Gioan 1:19-28) lên tiếng thay, đó là Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, với vai trò trung gian giới thiệu "Đấng đến sau". Và bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy tác dụng của lời ngài giới thiệu, đó là: "Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Chúa Giêsu". Hai vị môn đệ này "đi theo Chúa Giêsu" khi "nghe ông nói" về Người ngay bấy giờ "Ðây là Chiên Thiên Chúa", phải chăng các vị bị thúc đẩy bởi động lực muốn biết "tất cả sự thật" (Gioan 16:13) về "Đấng đến sau" sư phụ của các vị, nhưng lại cao trọng hơn sư phụ của các vị, ở chỗ Người là "Chiên Thiên Chúa", đúng như lời tiên báo xưa (xem Isaia 53:7-8).

Chính thái độ đầy hiếu kỳ lại có vẻ hết sức rụt rè của hai vị trước một nhân vật hoàn toàn xa lạ với các vị, dù được sư phụ của các vị chứng nhận và giới thiệu, cho thấy Chúa Giêsu Kitô thật sự cần phải được Tiền Hô Gioan Tẩy Giả làm trung gian giới thiệu, như Bài Phúc Âm Năm A và B cho Chúa Nhật II Thường Niên Hậu Giáng Sinh cho thấy, cũng như được Mẹ Maria trung gian giới thiệu ở tiệc cưới Cana trong thành phần thân bằng quyến thuộc của Mẹ, như Bài Phúc Âm Năm C Tuần II Thường Niên Hậu Giáng Sinh chứng thực (xem Gioan 2:1-12). Chính vì thế, để phấn khích những ai muốn tìm hiểu về mình, như 2 môn đệ này, Chúa Giêsu đã tự mở lời trước: "Các ngươi đang tìm kiếm gì đấy?". Như thế, trước khi Chúa Giêsu chính thức tỏ mình ra qua Phép Rửa, nhân vật đầu tiên được nghe lời Người nói là vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, và sau khi Người lãnh nhận Phép Rửa là hai môn đệ của vị tiền hô này.

Được phấn khích bởi lời của nhân vật cao trọng hơn thày mình như thế, hai môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ấy bấy giờ mới dàm bảy tỏ tâm tư của mình, ở chỗ: "Họ thưa với Người: 'Rabbi, nghĩa là: thưa Thầy, Thầy ở đâu?'". Ý nghĩa sâu xa của vấn nạn được hai vị đặt ra hỏi Người bấy giờ, theo chiều hướng Do Thái giáo, tức "Thưa Thày, Thày là ai vậy?" Bởi vì, một khi biết được "Thày ở đâu?" là biết được nguồn gốc từ đâu đến của Người, từ đó họ mới có thể nhận ra Người và làm chứng về Người, như một trong hai người môn đệ này là Anrê đã tuyên xưng và làm chứng với người anh Simon của mình sau đó, khi chàng tỏ ra hết sức hào hứng rủ anh mình đến với Người cho bằng được: "Chúng tôi đã gặp Ðấng Messia".

Câu Chúa Giêsu trả lời cho vấn nạn "Thày ở đâu?" được 2 người môn đệ của Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đặt ra liên quan đến nơi chốn về không gian của Người này, đã được Người đáp ứng theo tầm mức và chiều hướng thích hợp của câu vấn nạn, cũng có tính cách về không gian: "Hãy đến mà xem". Được mời gọi một cách hoàn toàn khách quan, chứ không bị áp đặt, theo đúng ước vọng của mình như thế: "Họ đã đến và xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy, lúc đó độ chừng giờ thứ mười", tức khoảng 4-5 giờ chiều. Nếu hai vị "đã ở lại với Người ngày hôm ấy", thì tất nhiên hai vị đã không ở qua đêm, nghĩa là chỉ khoảng mấy tiếng đồng hồ. Trong thời gian "ở lại với Người ngày hôm ấy", chắc các vị đã cẩn thận quan sát từng hành vi cử chỉ của Người. Không biết các vị có hỏi thêm Người điều gì hay chăng. Có thể chính Người âm thầm sửa soạn một bữa ăn và đã đích thân tiếp họ bữa tối hôm đó trước khi họ về, như Người đã làm bữa tiếp 7 môn đệ của Người ở bở biển hồ Tibêria sau khi Người sống lại từ trong kẻ chết và hiện ra với các vị lần thứ ba (xem Gioan 21:12-13).

Chúng ta không biết người môn đệ thứ hai cùng chàng Anrê đến với Chúa Giêsu chiều hôm ấy là ai, nhưng, căn cứ vào một số chi tiết được Thánh ký Gioan trình thuật lại ngay sau đó thì có thể người môn đệ kia là chàng Philiphê, "ở Betsaiđa, cùng quê với Anrê và Phêrô" (Gioan 1:44), và hành động rủ rê bạn bè đến với Chúa Giêsu cũng chứng tỏ chàng đã gặp Chúa Giêsu, nên lời của chàng thanh niên này rủ rê bạn của mình là Nathanael đến với Chúa Giêsu cũng chất chứa một nội dung giống như chàng Anrê như chi tiết hơn: "Chúng tôi đã gặp Đấng được Mose nói đến trong lề luật, cả các vị tiên tri cũng nói nữa, đó là Giêsu, con ông Giuse, ở Nazarét".

Cả hai chàng thanh niên môn đệ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả ấy, sau khi ở với Chúa Giêsu, đều tự mình thấy được Người từ đâu tới, để rồi nhờ cảm nghiệm thần linh này thúc đẩy đã trở về làm chứng cho Người và kéo thêm bạn bè đến với Người như mình. Thái độ cởi mở lắng nghe của các vị đã phản ảnh thái độ của thiếu nhi Samuel trong Bài Đọc I hôm nay, một thiếu nhi có tâm hồn cởi mở lắng nghe "này con đây". Chúng ta hãy lưu ý một chi tiết rất quan trọng ở đây, đó là vị trí "Samuel ngủ trong đền thờ Chúa, nơi đặt Hòm Bia Thiên Chúa". Nghĩa là thiếu nhi Samuel ở gần Thiên Chúa, ở nơi Thiên Chúa hiện diện, nơi Ngài tỏ mình ra, thế nhưng nếu Samuel không biết cởi mở lắng nghe thì cũng chẳng thể nào nhận ra tiếng của Ngài mà đáp ứng một cách mau mắn và hết lòng: "Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe".

Hai môn đệ của vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả nếu không có tâm hồn cởi mở và lắng nghe, thì trước hết họ đã chẳng lưu ý gì đến lời của vị sư phụ giới thiệu về "Con Chiên Thiên Chúa" cho họ, mà vì thế họ cũng chẳng lẽo đẽo theo sau nhân vật được gọi là "Con Chiên Thiên Chúa" này, để "ở với Người" làm chi cho mất công, mất giờ, và không nhận biết Người thì họ cũng chẳng thể nào làm chứng về Người sau khi đã cảm nhận được Người, như bài Phúc Âm hôm nay trình thuật.

Tuy nhiên, cái cảm nhận thần linh ban đầu này, trước hết và trên hết, xuất phát từ thể lý, từ thân xác của họ, tức là từ con mắt và lỗ tai của họ: con mắt họ đã chứng kiến thấy hành vi cử chỉ của "Con Chiên Thiên Chúa" và lỗ tai của họ đã lắng nghe tất cả mọi lời và mỗi lời Người nói. Đó là lý do Thánh ký Gioan ở ngay đầu Thư Thứ Nhất (trong 3 thư) của ngài đã khẳng định: "Ðiều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Ðức Giêsu Kitô, Con của Người" (1:3).

Chính vì thân xác của con người nói chung và của Kitô hữu nói riêng là phương tiện để cảm nhận thần linh rất quan trọng và khẩn thiết bất khả thiếu như thế mà trong Thư Nhất gửi giáo đoàn Corintô ở Bài Đọc II hôm nay, Thánh Phaolô đã khuyên Kitô hữu của giáo đoàn này nói riêng và Kitô hữu mọi đời nói chung hãy nhận thức rằng "thân xác anh em là chi thể của Chúa Kitô sao? Nhưng ai kết hợp với Chúa thì nên một thần trí.... Anh em không biết thân xác anh em là đền thờ Chúa Thánh Thần, Ðấng ngự trong anh em mà anh em đã nhận lãnh nơi Thiên Chúa, vì anh em không còn thuộc về chính mình nữa sao?"

Đúng thế, nếu chung nhân tính của Chúa Kitô và riêng thân xác của Người "đầy ân sủng và chân lý", thì nhân tính của Người và Thánh Thể của Người là dấu chỉ thần linh để chính bản thân Người hay Thần Tính của Người tỏ mình ra ("chân lý") và là Bí Tích để Người thông ban ("ân sủng") nơi Người và của Người, cho những ai đến với Người bằng một tâm hồn khát khao và cởi mở, thành phần nhờ sống trong một thân xác như là chi thể của Chúa Kitô, là đền thờ Thánh Thần, để như thiếu nhi "Samuel ngủ trong đền thờ Chúa, nơi đặt Hòm Bia Thiên Chúa" mà nghe thấy tiếng Chúa gọi hầu đáp ứng tương xứng, hay như 2 môn đệ của Thánh Gioan Tiền Hô trong bài Phúc Âm hôm nay, cũng đến gần với Chúa Kitô là "Người Con đầy ân sủng và chân lý", nhờ đó đã nhận ra Người, và làm theo ý của Người theo tâm tình "Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa" của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Con đã cậy trông, con đã cậy trông ở Chúa, Ngài đã nghiêng mình về bên con, Ngài đã đặt trong miệng con một bài ca mới, bài ca mừng Thiên Chúa chúng ta.

2) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở rộng tai con. Chúa không đòi hỏi lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến".

3) Như trong quyển vàng đã chép về con: lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật của Chúa ghi tận đáy lòng con.

4) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong Ðại Hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 112