mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4259
mod_vvisit_counterHôm Qua9918
mod_vvisit_counterTuần Này30671
mod_vvisit_counterTuần Trước51955
mod_vvisit_counterTháng Này178362
mod_vvisit_counterTháng Trước299691
mod_vvisit_counterTất cả18037206

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THỨ BA 14-1-2020 PDF Print E-mail

Tinh Cao
Jan 13 at 6:21 PM

Thứ Ba

Lời Chúa: NGƯỜI GIẢNG DẠY NHƯ ĐẤNG CÓ UY QUYỀN

Bài Ðọc I: (năm II) 1 Sm 1, 9-20

"Chúa nhớ đến bà Anna và bà đã sinh Samuel".

Trích sách Samuel quyển thứ nhất.

Trong những ngày ấy, tại Silô, sau khi ăn uống, Anna chỗi dậy. Thầy tư tế Hêli đang ngồi trên ghế trước cửa đền thờ Chúa, nhằm lúc Anna sầu khổ, khóc lóc thảm thiết cầu nguyện với Chúa và khấn xin rằng: "Lạy Chúa các đạo binh, nếu Chúa đoái nhìn đến nỗi khổ của nữ tỳ Chúa, và nhớ đến con, Chúa không quên nữ tỳ Chúa, và ban cho nữ tỳ Chúa một con trai, thì con sẽ dâng nó cho Chúa trọn đời, và dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó". Ðang lúc Anna mải mê cầu nguyện trước mặt Chúa, thì Hêli để ý nhìn miệng bà. Vì Anna cầu nguyện thầm thĩ trong lòng, nên bà chỉ nhép môi, và không nói ra tiếng. Hêli tưởng bà say rượu, nên nói: "Chừng nào bà hết say? Bà hãy đi giã rượu đi!" Anna đáp lại rằng: "Thưa ông, tôi không khi nào uống rượu; vì tôi là người đàn bà vô phúc nhất, nên tôi không thể uống rượu và mọi chất làm cho say, nhưng tôi đã giãi bày tâm sự tôi trước nhan thánh Chúa. Ông đừng nghĩ rằng nữ tỳ của ông đây như một đứa con gái Bêlial; vì quá đau khổ và đắng cay, nên tôi đã tỏ bày tâm sự cho đến bây giờ. Bấy giờ Hêli nói: "Bà hãy về bình an, Thiên Chúa Israel sẽ ban cho bà điều bà xin". Bà liền thưa: "Ước gì nữ tỳ của ông được đẹp lòng ông". Bà lui ra ngoài, ăn uống và mặt bà không còn vẻ buồn sầu nữa. Sáng hôm sau, vợ chồng thức dậy, thờ lạy Chúa, rồi trở về nhà ở Ramtha.

Elcana ăn ở với bà Anna, và Chúa nhớ đến bà. Sau một thời gian, Anna có thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Samuel, vì bà đã xin Chúa ban nó cho bà.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: 1 Sm 2, 1. 4-5. 6-7. 8abcd

Ðáp: Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa (c. 1a).

Xướng: 1) Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, và sức mạnh tôi được gia tăng trong Thiên Chúa tôi; miệng tôi mở rộng ra trước quân thù, vì tôi reo mừng việc Chúa cứu độ tôi. - Ðáp.

2) Chiếc cung những người chiến sĩ đã bị bẻ gãy, và người yếu đuối được mạnh khoẻ thêm. Những kẻ no nê phải làm thuê độ nhật, và những người đói khát khỏi phải làm thuê; người son sẻ thì sinh năm đẻ bảy, còn kẻ đông con nay phải héo tàn. - Ðáp.

3) Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống, Chúa đày xuống Âm phủ và Chúa dẫn ra. Chúa làm cho nghèo và làm cho giàu có, Chúa hạ xuống thấp và Chúa nâng lên cao. - Ðáp.

4) Từ nơi cát bụi, Chúa nâng người yếu đuối; từ chỗ phân nhơ, Chúa nhắc kẻ khó nghèo, để cho họ ngồi chung với các vương giả, và cho họ dự phần ngôi báu vinh quang. - Ðáp.

Alleluia: Tv 24, 4c và 5a

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Chúa và xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 1, 21-28

"Ngài giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

(Ðến thành Capharnaum), ngày nghỉ lễ, Chúa Giêsu vào giảng dạy trong hội đường. Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ.

Ðang lúc đó, trong hội đường có một người bị thần ô uế ám, nên thét lên rằng: "Hỡi Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai: là Ðấng Thánh của Thiên Chúa". Chúa Giêsu quát bảo nó rằng: "Hãy im đi, và ra khỏi người này!" Thần ô uế liền dằn vật người ấy, thét lên một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy. Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: "Cái chi vậy? Ðây là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế, và chúng vâng lệnh Người". Danh tiếng Người liền đồn ra khắp mọi nơi, và lan tràn khắp vùng lân cận xứ Galilêa.

Ðó là lời Chúa.

ĐỌC-HỌC HỎI-LẮNG NGHE-THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Đức Kitô giải thoát

Hôm nay, Thứ Ba trong Tuần 1 Thường Niên hậu Giáng Sinh, tiếp tục hôm qua, bài Phúc Âm của Thánh ký Marcô cho biết, sau khi kêu gọi 4 người môn đệ đầu tiên trong bài Phúc Âm hôm qua, rằng "Chúa Giêsu vào giảng dạy trong hội đường vào một ngày nghỉ lễ".

Theo chủ đề chung của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh là "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" thì quả thực bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy rõ điều ấy, như ngay ở đầu và cuối của cùng bài Phúc Âm:

"Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ... Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: 'Cái chi vậy? Ðây là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế, và chúng vâng lệnh Người'".

Thật vậy, "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" này chẳng những làm cho con người bàng hoàng sửng sốt chưa từng thấy như thế mà còn gây cho cả ma quỉ cũng phải kinh hoảng không thể không nhận biết và xưng tụng Người nữa, khi chúng thấy mình gặp phải một siêu đối thủ hoàn toàn cao tay hơn sắp sửa ra tay triệt hạ chúng: "Hỡi Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai: là Ðấng Thánh của Thiên Chúa".

Có lẽ trong các tác động được "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" thực hiện trước tột đỉnh sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế của mình là Cuộc Vượt Qua thì, so với các tác động khác như chữa lành người bệnh và hồi sinh người chết, tác động trừ quỉ chất chứa một ý nghĩa cứu độ có giá trị cao nhất. Tại sao?

Bởi vì, tác động trừ quỉ ám chỉ việc xuất hiện của Chúa Kitô nói chung và công cuộc cứu chuộc của Người nói riêng để thiết lập Vương Quốc của Thiên Chúa sẽ hoàn toàn và vĩnh viễn phá hủy vương quốc của ma quỉ (xem 1Gioan 3:8), một vương quốc đã được thiết lập ngay vừa khi xẩy ra nguyên tội.

Chính vì bị vương quốc của ma quỉ cai trị mà loài người, trước đó sống trong tình trạng công chính nguyên thủy, hoàn toàn ngây thơ vô tội và tự do an lành, đã bắt đầu một cuộc sống theo thân phận của thành phần nô lệ cho tội lỗi và sự chết là những gì gây ra bởi nguyên tội và do cơ mưu hết sức thâm độc của "tên sát nhân ngay từ ban đầu" (Gioan 8:44).

Phải chăng vì ý nghĩa và tác dụng chính yếu của sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế là thiết lập Vương Quốc của Thiên Chúa bằng cách phá hủy vương quốc của ma quỉ như thế mà Thánh ký Marcô đã thuật lại sự kiện "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" trừ quỉ đầu tiên trong và trước tất cả những hành động khác tỏ mình ra của Người?

Tuy nhiên, cho dù là thế, bài Phúc Âm còn cho thấy là trước khi trừ quỉ Chúa Kitô đã giảng dạy dân chúng trong hội đường vào ngày hưu lễ. Bởi vì, tự mình, Người là Ngôi Lời, và vì thế, lời của Người phản ảnh Người, như "ánh sáng chiếu trong tăm tối" (Gioan 1:5) và có tác dụng xua tan tối tăm chết chóc, như trường hợp Người trừ quỉ ám trong bài Phúc Âm hôm nay bằng lời truyền đầy quyền năng của Người: "Hãy im đi, và ra khỏi người này!"

Khi thấy "thần ô uế liền dằn vật người ấy, thét lên một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy", thì "mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: 'Cái chi vậy? Ðây là một giáo lý mới ư?'". Họ không nói "đây là quyền năng mới ư" mà là "giáo lý mới ư", nghĩa là họ nhấn mạnh đến khía cạnh nguyên tác trừ quỉ là lời Chúa, là Đấng "đầy ân sủng và chân lý" đã xuất hiện trước mắt họ và đang ở cùng họ, Đấng họ đợi trông nhưng ma quỉ lại sợ hãi.

Lời Chúa trừ quỉ ám trong bài Phúc Âm hôm nay cho chúng ta thấy một quyền lực vốn được chất chứa nơi Lời Chúa và xuất phát từ Lời Chúa. Đó là lý do kinh nghiệm tu đức cho thấy như thế, và lịch sử Giáo Hội nơi các thánh nhân cũng chứng thực như vậy. Ở chỗ, Lời Chúa đã có một mãnh lực biến đổi cuộc đời của Kitô hữu, từ một tội nhân thành thánh nhân, từ tìnht rạng sống tầm thường nên phi thường, chỉ bằng một lời nào đó trong Phúc Âm.

"Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" trừ thần ô uế ám trong bài Phúc Âm hôm nay, hướng đến Ơn Cứu Độ tối hậu, còn mang ý nghĩa giải phóng con người nô lệ đang sống quằn quại trong vương quốc của ma quỉ khỏi mọi gian nan khốn khổ trên đời gây ra bởi tội lỗi và tột đỉnh là sự chết nữa, một cuộc giải phóng xuất phát từ lòng yêu thương của Thiên Chúa, như Ngài đã tỏ mình ra nơi trường hợp của Bà Anna trong Bài Đọc 1 hôm nay, khi Ngài đã "nhớ đến bà", "nhìn đến nỗi khổ của nữ tỳ Chúa", để giải thoát bà khỏi cảnh son sẻ và ô nhục của bà, bằng cách đã cho bà "có thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Samuel".

Được giải thoát cho khỏi cảnh son sẻ và ô nhục như thế, thân mẫu của bé Samuel là vị tiên tri tương lai tốt lành trong lịch sử dân Do Thái không thể nào không cảm thấy hân hoan vui sướng mà không ngợi khen cảm tạ Thiên Chúa bằng chính những lời lẽ của mình trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, và sức mạnh tôi được gia tăng trong Thiên Chúa tôi; miệng tôi mở rộng ra trước quân thù, vì tôi reo mừng việc Chúa cứu độ tôi.

2) Chiếc cung những người chiến sĩ đã bị bẻ gãy, và người yếu đuối được mạnh khoẻ thêm. Những kẻ no nê phải làm thuê độ nhật, và những người đói khát khỏi phải làm thuê; người son sẻ thì sinh năm đẻ bảy, còn kẻ đông con nay phải héo tàn.

3) Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống, Chúa đày xuống Âm phủ và Chúa dẫn ra. Chúa làm cho nghèo và làm cho giàu có, Chúa hạ xuống thấp và Chúa nâng lên cao.

4) Từ nơi cát bụi, Chúa nâng người yếu đuối; từ chỗ phân nhơ, Chúa nhắc kẻ khó nghèo, để cho họ ngồi chung với các vương giả, và cho họ dự phần ngôi báu vinh quang.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

TN.Tuan1-Thu3.mp3

------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

Kristie Phan

LINH MỤC CÓ ĐƯỢC PHÉP TỰ Ý THAY ĐỔI LỊCH PHỤNG
VỤ, DÂNG LỄ KHÔNG CẦN BÀN THỜ V.V ?
Có một số giáo dân đã gọi cho tôi để than phiền
về việc làm của một số linh mục coi sóc các Giáo xứ
, Cộng đoàn Việt nam ở Mỹ, như rửa tội cho tân tòng
ngày Thứ Năm Tuần Thánh (Holy Thursday) soạn kinh riêng cho
giáo dân đọc, dẹp bỏ Bàn Thờ (Altar) để dâng lễ quay
lưng lại với giáo dân như thời trước Công Đồng
Vaticanô II..
Thử hỏi: các linh mục kia có được phép tự ý
làm những việc trên đây không ?
Câu trả lời đúng đắn là KHÔNG vì là linh mục thì
không ai được phép tự ý làm những việc kể trên khi
thi hành sứ vụ của mình trong môi trường giáo xứ hay
Cộng đoàn nơi linh mục được sai đến phục vụ.
Trước hết, theo Phụng Vụ của Giáo Hội, thì Ngày Thứ
Năm Tuần Thánh (Holy Thursday) là ngày dành để tưởng
niệm Bữa Ăn sau hết của Chúa Giêsu với Nhóm Mười Hai
Tông Đồ.Trong Bữa Ăn lịch sử này Chúa đã thiết lập
hai Bí Tích rất quan trọng là Bí Tich Thánh Thể (Eucharist)
khi Chúa biến bánh và rượu nho thành Mình và Máu Người
cho các Tông Đồ ăn và uống lần đầu tiên, và căn dặn
các ông " anh em hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến
Thấy." (Lc 22: 19; 1Cor 11: 24-25) Đây là nền tảng của
Bí Tích Truyền Chức Thánh (Holy Orders), trong Giáo Hội
Công Giáo và các giáo hội Chính Thống Đông Phương
(Eastern Orthodox churches,).
Anh em Tin Lành không tin ý nghĩa của những sự kiện
trên nên họ không thể có Bí Tích Thánh Thể (The
Eucharist) và Bí tích Truyền Chức Thánh (Holy Orders) và do
đó - các mục sư Tin Lành không thể biến bánh và rượu
nho thành Mình và Máu thánh Chúa Kitô được vì họ không
có chức Linh mục hữu hiệu (valid Priesthood) như các linh
mục Công Giáo và Chính Thống giáo Đông Phương là các
giáo hội đang hiệp thông (comm) và hiệp nhất (Unity)
trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo được đặt dưới
quyền lãnh đạo của Đức Thánh Cha, tức Giám Mục Roma,
là Đại Diện (Only Vicar) duy nhất của Chúa Kitô trên
trần gian.
Như vậy, liên quan đến phụng vụ ngày Thứ Năm Tuần
Thánh (Holy Thursday) Phụng vụ không hề qui định việc
rửa tội cho người dự tòng trong ngày này. Việc này
phải làm trong Lễ vọng Phục Sinh trong đêm Thứ Bảy
Tuần Thánh (Vigil Easter)..và theo truyền thống đã có từ
lâu thì những người dự tòng (catechumens) sẽ được
rửa tội, thêm sức và rước Mình Thánh Chúa Kitô trong
Lễ Vọng Phuc Sinh (Easter Vigil) tối Thứ Bảy Tuần Thánh.
Ai phụ trách dạy giáo lý cho người dự tòng thì phải
nói cho họ biết là họ sẽ được lãnh ba Bí Tich quan
trọng là Rửa tôi, Thêm sức và rước Mình Máu Thánh
Chúa Kitô lần đầu tiên trong Thánh Lễ Vọng Phục Sinh
tối Thứ Bảy Tuần Thánh.
Cũng cần nói thêm là người dự tòng không buộc
phải xưng tội, như có nơi linh mục kia đã bắt buộc
người dự tòng xưng tội trước khi được rửa tội,
Thêm sức và rước Mình Thánh Chúa. Đòi hỏi như vậy,
Linh mục kia đã quên rằng Phép Rửa tội cũng tha mọi
tội cá nhân (personal sins) và tôi Nguyên Tổ (original sin)
nên không ai phải xưng tội trước khi được rửa tội.
Ai bắt họ phải xưng tội là không hiểu gì về ơn ích
của Bí Tích Rửa tội. Bí Tích Hòa Giải (xưng tội,
Confession, Reconciliation) chỉ dành cho những người đã
được rửa tội rồi mà thôi. Xin nhớ kỹ điều này.
Trở lại câu hỏi trên, nếu vì lý do chánh đáng nào
mà Giáo Xứ hay Cộng Đoàn không có Lễ Vọng Phục Sinh
vào tối thứ Bảy Tuần Thánh, thì có thể cho người dự
tòng được rửa tội, Thêm Sức và rước Mình Máu Thánh
Chúa trong Lễ Phục Sinh ngày Chúa Nhật., hay trong một
dịp nào trong Mùa Phục Sinh, chứ không thể vào ngày Thứ
Năm Tuần Thánh được. Như vậy, nếu linh mục nào rửa
tội cho người dự tòng vào ngày THứ Năm Tuần Thánh thì
đã không thi hành đúng Phụng vụ của Giáo Hội trong Ba
Ngày Tam Nhật Thánh (Triduum) qui đinh các Nghi thức (Rites)
và Thánh lễ (Holy Thursday) phải cử hành trong Ba ngày này.
Cũng trong mục đích tôn trọng luật phụng vụ của
Giáo Hội, thì không linh mục nào được tự ý soạn kinh
cho giáo dân đọc trong nhà thờ hay ở tư gia. Các kinh cho
giáo dân đọc phải được Giáo quyền địa phương –
tức Tòa Giám mục địa phương cho phép đọc với con
dấu Nihil Obstat và Imprimatur được ghi ở cuối danh sách
các kinh nguyện được phép đọc trong nhà thờ hay ở tư
gia. NHư vậy, không có kinh nguyện nào được phép đọc
nếu không có phép của Giáo Quyền địa phương.
Thể hiện qua hai ấn tín Nihil Obstat (không có gì ngăn
trở) và Imprimarur (được phép in)
Các bài Thánh ca hát ở nhà thờ cũng vậy, Tất cả phải
được Giáo quyền Địa Phương cho phép hát mới được
hát. Nghĩa là không ai được tự ý soan kinh hay sáng tác
Thánh ca để đọc và hát ở nhà thờ mà không có phép
của giáo quyền liên hệ.
Sau hết, về việc có linh mục ở California đã cho
dẹp bàn thờ (Altar) ở trên Cung Thánh để cử hành Thánh
Lễ trên nơi trước Nhà Tạm (Tablenacle) và quay lưng lại
với giáo dân ! Nếu tin này đúng như vậy, thì ông linh
mục kia đã tự ý làm một việc đi ngược lại với
thực hành chung của Giáo Hội về nơi cử hành Thánh Lễ
Tạ ơn (The Eucharist)
Thật vậy, sau Thánh Công Đồng Vaticanô II, mọi nhà
thờ trong toàn Giáo Hội đều phải có Bàn Thờ (Altar)
đặt giữa trên Cung Thánh (Sanctuary) và linh mục hay Giám
mục cử hành Thánh Lễ phải quay mặt lại với cộng
đoàn giáo dân tham dự phụng vụ thánh hay Thánh Lễ. Đây
là kỷ luật phụng vụ mà mọi linh mục và giám mục
phải tuân theo để có sự thống nhất (unity) về hình
thức cử hành Thánh Lễ có giáo dân tham dự.Không ai
được phép tự ý không tuân theo hình thức cử hành
phụng vụ thánh với hình thức quay lưng lại với giáo
dân như thời trước Công Đồng. Vậy linh mục kía tuân
theo kỷ luật phụng vụ về hình thức cử hành Thánh Lễ
hay tự ý "sáng chế cách cử hành Thánh lễ không có
Bàn Thờ và quay lưng lại với giáo dân như thời Thánh
Lễ còn được làm bằng tiếng La tinh và linh mục quay
lưng lại với giáo dân ?
Như vậy ông linh mục này thi hành luật chung về hình
thức cử hành Thánh Lễ hay cố ý công khai chống lại
Giáo Hội về hình thức cử hành Thánh Lễ theo những
cải cách mới của Công Đồng về hình thức cử hành
Thánh Lễ có giáo dân tham dự ?
Nhà Thờ trong Giáo Hội của Chúa không phải là rạp
hát ( Movies House) để các linh mục muốn múa may kiểu gì
tùy ý thich--mà ngược lại, là nơi cử hành phụng vụ
thánh mà chóp đỉnh là Thánh Lễ Tạ Ơn là nguồn mạch
và là đỉnh cao của đời sống Kitô Giáo (the Summit of
Christian life). Vì thế, mọi giáo sĩ (Phó tế, Linh mục,
Giám mục) buộc phải tuân hành nghiêm chỉnh mọi kỷ
luật của Giáo Hội về việc cử hành phụng vụ thánh.
(Sacred Liturgy)
Không ai được phép tự sáng chế ra cách thi hành
phụng vụ thánh từ nội dung đến hình thức. Do đó, linh
mục tự ý dẹp bỏ Bàn Thờ ở giữa Cung Thánh để làm
lễ ở nơi có đặt Minh Thánh Chúa và quay lưng lại với
giáo dân là đã đi ngược lại những cải cách của Công
Đồng Vaticanô II về nơi và hình thức cử hành phụng
vụ thánh. Đây là gương xấu phải tránh trong Giáo Hội
địa phương.
Giáo dân có bổn phận nói thẳng với linh mục kia về
việc này. Nếu linh mục không chịu nghe để sửa đổi
thì phải trình lên Giám mục liên hệ về việc quan
trọng này.
Tôi tin chắc không giám mục nào có thể bỏ qua sự sai
trái này.
Ước mong những giải thích trên thỏa mãn những câu hỏi
đặt ra, Amen
Lm, P.X Ngô Tôn Huấn
Tác giả: Lm. Ngô Tôn Huấn, Doctor of Ministry

----------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

Chi Tran

Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?
5/6/2014 11:00:01 AM
1-Làm sao biết được Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha ở trên trời? 2- Tín điều Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không? 3- Đức Mẹ có nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô hay không?
Trả lời:

1- Trong Kinh Tin Kính Nicene ( đọc ngày Chúa nhật và các ngày Lễ trọng) và Kinh Tin Kính của các Thánh Tông Đồ, Giáo Hội đều tuyên xưng Chúa Giê-su Kitô, " chết, sống lại, lên trời và ngự bên hữu Chúa Cha".

Lời tuyên xưng này bắt nguồn từ chính lời Chúa Giê su trả lời cho viên thượng tế Cai pha và trước toàn thể thượng Hội Đồng thương tế , kỳ mục và kinh sư Do Thái họp nhau lại để tìm cách buộc tội Chúa với án tử hình. Viên thượng tế đã hỏi Chúa xem có phải Người là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không.

Chúa đã trả lời như sau: " Phải chính thế. Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến."( Mt 26: 64; Mc 14: 62; Lc 22: 69)

Như thế lời tuyên xưng của Giáo Hội về chỗ ngồi của Chúa Kitô, bên hữu Chúa Cha trên Nước Trời có nguồn gốc vững chắc là chính lời Chúa Giê su đã nói và được ghi lại trong các Tin Mừng, như bằng chứng trên đây.

2- Tín điều Đức Mẹ là Mẹ là Mẹ Thiên Chúa có nguồn gốc Kinh Thánh không?

Trước khi trả lời câu hỏi này, xin được nhắc lại một lần nữa là vào thế kỷ thứ 4 sau Chúa Giáng Sinh, có một linh mục tên là Arius thuộc Tòa Thượng Phụ Alexandria ( Ai Cập) đã lạc giáo ( heretic) khi cho rằng Chúa Giê-su Kitô có hai bản tính riêng rẽ là nhân tính( humanity) và thần tính ( Divinity) khi xuống trần gian làm Con Người. Vì thế Đức Mẹ Maria chỉ là Mẹ của Chúa Giêsu về phần nhân tính mà thôi. Quan điểm lạc giáo này đã bị Công Đồng Nicaea năm 325 A.D lên án và bác bỏ hoàn toàn vì đi ngược với niềm tin của Giáo Hội về sự đồng nhất bản thể của Ba Ngôi Thiên Chúa ( Trinity) và về hai bản tính không tách rời nhau của Chúa Cứu Thế Giêsu.Nghĩa là, Chúa Giê-su Kitô là Thiên Chúa thật và là Con Người thật, Chúa vừa có Thần tính ( Divinity) như Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, vừa có nhân tính ( humanity) như mọi con người , và hai bản tính này không hề tách rời nhau. Arius đã lạc giáo khi cho rằng Chúa Kitô có hai bản tính tách rời nhau, nên Mẹ Maria chỉ là Mẹ Chúa Giêsu trong phần nhân tính mà thôi. chứ không thể là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos) như các Giáo Phụ dạy và Giáo Hội sơ khai đã tin .Quan điểm sai lầm trên đến đầu thế kỷ thứ 5, (428 A.D) lại được tán đồng bởi Thượng Phụ Nestorius thành Constantinople, là người cũng cho rằng Đức Mẹ chỉ là Mẹ phần xác ( nhân tính) của Chúa Giê su-Kitô để phủ nhận điều các Giáo Phụ từ thời tiên khởi đã dạy rằng : Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa ( Deipara= Theotokos= God bearer =Đấng cưu mang Thiên Chúa.

Các Công Đồng Nicaea ( 325) và Ê-phê sô ( 431) đều lên án tư tưởng lạc giáo của Arius và Nestorius để khẳng định rằng Chúa Giê-su đồng bản tính ( bản thể= substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Lại nữa, Chúa Kitô có hai bản tính không hề tách rời nhau là nhân tính ( Humanity và Thiên tính ( Divinity). Do đó, Đức Mẹ là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, nên Mẹ được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa=( Deipara=Theotokos= God bearer) như Giáo Hội đã dạy không sai lầm

Sau đây là bằng chứng Kinh Thánh :

Khi Đức Mẹ đến viếng thăm người chị em họ là bà Ê-i-sa-bét ( Elizabeth), thì bà này đã được tràn đầy Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói rằng: "Em được diễm phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân Mẫu của Chúa ( Mother of my Lord) đến với tôi thế này Lc 43: 39- 43)

Bà Eli-sa-bét chắc chắn đã được Chúa Thánh Thần soi sáng nên đã thốt ra những lời trên để ca tụng Đức Mẹ. Như thế đủ cho thấy Giáo Hội ,từ đầu, đã không sai lầm khi tuyên xưng Đức Trinh Nữ Mara là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Giê su-Kitô, cũng là Thiên Chúa thật, đồng bản tính ( bản thể= Substance) với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi một Thiên Chúa ( Holy Trinity).

Nhưng cho dầu với địa vị cao trọng làm vậy, Đức Mẹ cũng không cao hơn Thiên Chúa mà chỉ được tôn kính( veneration) ở mức Hyperdulia trong khi Thiên Chúa được tôn thờ ( adoration) ở mức Latria trong phụng vụ thánh của Giáo Hội.Nghĩa là chúng ta chỉ phải thờ lậy ( adore), ngượi khen, vinh danh một mình Thiên Chúa mà thôi, chứ không thờ lậy Đức Mẹ, mà chỉ tôn kính ( venerate) Mẹ cách đặc biệt ( hyperdulia) hơn các Thánh nam nữ khác, được tôn kính ở mức Dulia.

Do đó, trong thực hành, người tín hữu phải cầu xin Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhờ Đức Mẹ và các Thánh chuyển giúp cầu thay, chứ không cầu xin Mẹ hay bất cứ Thánh Nam nữ nào như nguồn ban phát mọi ơn phúc.Chỉ có Chúa là cội nguồn của mọi ơn phúc mà chúng ta phải cầu xin cho được an vui trong cuộc sống trên trần gian này , và nhất là biết sống xứng đáng là con cái của Cha trên trời để được cứu rỗi nhờ công nghiệp Chúa Kitô và sự phù giúp đắc lực của Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.

Lại nữa, khi vào nhà thờ hay nhà nguyện nào, thì phải bái lậy trong tâm tình thờ lậy Chúa trong nhà tạm ( Tabernacle) trước khi bái kính ảnh tượng Đức Mẹ , Thánh Cà Giuse, hay Thánh nam nữ nào khác.Phải nói điều này vì có một số người, khi vào nhà thờ, đã chạy ngay đến nơi có thánh thượng Đức Mẹ để cầu xin mà quên bái quỳ thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện thực sự trong nhà tạm.

Tóm lại, sùng kính Đức Mẹ là việc đạo đức rất tốt đẹp và đáng khuyến khích cho mọi tín hữu, nhưng đừng quên là trên hết phải thờ lậy Chúa là Đấng mà Mẹ Maria cũng phải tôn thờ cùng các Thánh nam nữ và các Thiên Thần, mặc dù Mẹ có địa vị cao trọng là Mẹ Chúa Kitô và cũng là Mẹ Thiên Chúa như Giáo Hội dạy.

3- Mẹ Maria có nhận công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô không ?

Theo giáo lý của Giáo Hội, chúng ta phải tin Mẹ được diễm phúc thụ thai không mắc tội nguyên tổ ( immaculate Conception) và mọi tội khác như mọi người trong nhân loại, cũng như được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, cũng là Thiên Chúa thật đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần như đã nói ở trên. Nhưng Mẹ không cao hơn Chúa và không cùng một bản thể ( substance) với Ba Ngôi Thiên Chúa, nên Mẹ vẫn phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô như chính Mẹ đã tuyên xưng như sau:

" Linh hồn tôi ngượi khen Đức Chúa
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi...." ( My Savior)
( Bài ca Ngượi khen Magnificat, Lc 1: 46-55)

Vì là Mẹ Chúa Kitô, nên Mẹ được diễm phúc khỏi tội tổ tông và mọi tội cá nhân từ khi được thụ thai cho đến khi về trời cả hồn xác. Mẹ được sinh ra như mọi tạo vật khác, trừ đặc ân được giữ gìn khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi để xứng đáng làm Mẹ Ngôi Lời nhập thể.

Nhưng việc nhận ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu ,Con của Mẹ, không làm thương tổn địa vị cao trọng của Mẹ là Mẹ Ngôi Hai và là Mẹ Thiên Chúa. Ngược lại, Mẹ đã vinh danh Chúa Cứu Thế Giêsu khi nhận ơn cứu chuộc của Chúa, vì " ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này, không có một danh nào khác được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh ấy mà được cứu độ." ( Cv 4 :12)

Như thế khi nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô, Mẹ đã tôn vinh Chúa là Đấng cứu thế duy nhất đã hòa giải con người với Thiên Chúa qua vâng phục và hy sinh chịu chết trên thập giá năm xưa, mặc dù Mẹ không có tội lỗi nào cần phải được tha thứ nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa.

Chúng ta cảm tạ Mẹ Maria thật nhiều vì Mẹ đã " xin vâng" với Thiên Chúa để làm Mẹ Chúa Cứu Thế Giêsu, và cộng tác với Con của Mẹ trong sứ mệnh cứu chuộc cho nhân loại khỏi phải chết vì tội. Vai trò của Mẹ thật quan trọng trong Chương Trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô, Con của Mẹ.

Vậy chúng ta hãy siêng năng chạy đến với Mẹ để nhờ Mẹ nguyện giúp cầu thay cho chúng ta được mọi ơn cần thiết của Chúa trong cuộc lữ hành về quê Trời giữa bao khốn khó , gian nan vì cản trở và đánh phá của ma quỷ , cám dỗ của thế gian với đầy rẫy gương xấu, dịp tội và vì bản chất yếu đuối nơi mỗi người chúng ta.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

--------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

CÓ ĐƯỢC ĐEM TRO NGƯỜI CHẾT TRẢI RA NGOÀI SÔNG,HỒ, BIỂN HAY KHÔNG?
Hỏi: xin cha giải đáp các câu hỏi sau đây :
1- Hiên nay ở khắp nơi , nhiều người đã chọn thiêu xác kẻ chết, thay vì chôn cất ngoài nghĩa trang như truyền thống xưa nay,.Như vậy người Công giáo có được đem tro người chết trải ra ngoài sông, hồ hay biển như người ngoài Công giáo đang làm được không?
2- Khi rước Lễ, giáo dân có thể được lựa chọn để chỉ rước một hình thức là Mình Thánh hay Máu Thánh được không?
3- Các tu sĩ nam hay nữ có được phép rửa tội và chứng hôn không?
Trả lời:
1-Có nên bỏ tro người chết xuống hồ, sông hay biển không ?
Trước hết, phải nói lại một lần nữa là việc chôn xác kẻ chết là một việc đạo đức được khuyến khích và tôn trọng từ xưa đến nay trong Giáo Hội và trong mọi nền văn hóa nhân loại. Riêng trong Giáo Hội Công Giáo, việc đạo đức này được đặc biệt tôn trọng vì niềm tin " xác loài người ngày sau sống lại" (Kinh Tin Kính), cho nên phải được chôn cất cho xứng đáng với niềm tin này.Vì thế, ở khắp nơi trong Giáo Hội đều có các nghĩa trang được làm phép để chôn người chết cho con cháu, thân nhân đến viếng thăm quanh năm , và đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11 dương lịch). Ai viếng thăm nghĩa trang và cầu cho các linh hồn trong tháng 11 thì được một ơn đại xá nhưng phải nhường lại ân huệ này cho các linh hồn thân nhân hay các linh hồn khác có xác đang nằm trong nghĩa trang. Đây là việc đạo đức mà các tín hữu được khuyến khích siêng năng làm để cầu cho các linh hồn còn đang được thanh tẩy trong nơi gọi là Luyện tội ( Purgatory)và mong đợi những tín hữu còn sống làm việc lành để cứu giúp họ được mau đón nhận vào Thiên Đàng để hưởng Thánh Nhan Chúa là Nguồn vui và hạnh phúc vĩnh cửu của các Thánh các Thiên Thần.Các linh hồn thánh (holy souls) trong Luyện Tội không thể làm gì để tự giúp họ được nữa vì thời giờ đã hết cho họ làm việc lành hay phạm tội được nữa.Vì thế, các linh hồn này trông mong các tín hữu còn sống làm việc lành như cầu ngyện, làm việc bác ái , lần chuỗi nhất là xin lễ cầu cho các linh hồn để họ được mau đón nhận vào Thiên Quốc vui hưởng Thánh Nhan Chúa đời đời trên Thiên Đàng.
Trước đây, có thời Giáo Hội đã cấm thiêu xác người chết ( cremation) vì có bè rối ( heretics) kia chủ trương đốt xác kẻ chết để thách đố Giáo Hội xem còn lấy gì để tin xác kẻ chết sẽ sống lại như Giáo Hội dạy.Vì thế Giáo Hội cấm thiêu xác kẻ chết để khỏi mắc mưu bè rối này.
Nhưng sau này bè rối đó đã tan. nên từ sau Công Đông Vaticanô II ( 1962-65) đến nay, Giáo Hội lại cho phép thiêu xác người chết nhưng phải tin rằng dù xác chết tan trong lòng đất hay tan thành tro bụi khi đem thiêu, thì vẫn được quyền năng của Thiên Chúa cho sống lại hiệp cùng linh hồn để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc Thiên Đàng hay bị phạt trong nơi gọi là hỏa ngục.( hell) trong ngày cánh chung.( . Mt 25 : 31-46)
Giáo Lý và giáo luật của Giáo Hội đều dạy phải tôn kính thi hài của người quá cố được an táng trong nghĩa trang Công giáo để chờ ngày sống lại.
Nếu chọn hỏa táng ( cremation) thì việc này không được làm trái với niềm tin của Giáo Hội về sự sống lại của kẻ chết. ( giáo luật số 1176; SGLGHCG số 1684- 1690). Nghĩa là phải tin rằng dù xác kẻ chết đã ra tro bụi, thì vẫn được sống lại cùng với linh hồn trong ngày sau hết như đã nói ở trên. Vì thế, tro của người hỏa táng cũng phải được tôn kính như xác chôn ngoài nghĩa địa. Nghĩa là phải cất giữ tro này ở nơi xứng đáng, ở trong nhà thờ nào có nhận cất giữ tro của người hỏa táng. Nghĩa là không được phép mang tro này ra trải ngoài sông, ao hồ hay biển cả, như những người không có niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết đang làm. Vì không tin, nên họ đã trải tro của thân nhân họ ra sông , hồ hay biển cả , vì cho rằng con người là hư không, chết là hết, nên thả tro ra sông, biển để nói lên sự hư không này của thân phận con người.
Ngược lại, vì người Công Giáo tin xác loài người sẽ sống lại, nên xác chết phải được giữ gìn trong nghĩa trang hay trong các hộp tro để cho con cháu, thân nhân viếng thăm và cầu nguyện. Vậy nếu đem tro của người chết trải ra ngoài sông, biển thì lấy đâu ra nơi cụ thể để viếng thăm đặc biệt trong tháng cầu cho các linh hồn ? Nghiêm trọng hơn nữa là nếu đem trải tro người chết ra sông, hay biển thì vô tình chia sẻ niềm tin của những người không tin có sự sống lại của thân xác hay sao ?
2- Có được phép chỉ rước Mình hay Máu Thánh Chúa Kitô trong Thánh lễ ?
Từ xa xưa, việc rước Lễ của giáo dân chỉ trong giới hạn rước Mình Thánh Chúa mà thôi, vì Giáo Hội dạy rằng Chúa Kitô hiện diện trọn vẹn trong hình bánh,và chỉ có linh mục cử hành Thánh lễ ,hay đồng tế được rước cả hai Mình và Máu Thánh Chúa.
Nay vì muốn diễn tả cách trọn vẹn ý nghĩa Thánh Lễ, về một phương diện, là bữa ăn cuối cùng của Chúa Giêsu với 12 Tông Đồ. Trong Bữa Ăn lịch sử này, Chúa đã lập hai Bi tích rất quan trọng là Bí Tích Thánh Thể khi biến bánh và rượu nho thành Mình Máu Người cho các Tông Đồ hiện diện ăn và uống lần đầu tiên.Bí Tích quan trọng thứ hai là Bí tich Truyền Chức Thánh ( Holy Orders) ,khi Chúa Giê su nói với các Tông Đồ hiện diên : " anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy." ( 1Cr 11: 24-25)
Đó là Bí Tích Truyền chức Thánh mà Giáo Hội căn cứ vào đây để thiết lập các chức Thánh Phó Tế, Linh mục và Giám Mục để thánh hiến các ứng viên Phó tế, Linh mục và Giám mục thành Thừa tác viên ( Ministers) để phục vụ cho Sứ mệnh rao giảng Tin Mừng Cứu Độ ,thánh hóa và cai trị của Giáo Hội.
Liên quan đến việc rước Mình Máu Thánh Chúa Kitô trong Thánh Lễ, ngày nay Giáo Hội cho phép giáo dân được rước cả hai hình thức Thánh Thể là bánh và rượu nho đã được truyền phép ( consecrated) trong Thánh Lễ. Nhưng ở các Giáo Hội địa phương ( Giáo phận) các Giám mục vẫn có toàn quyền để cho phép rước Thánh thể cả hai hình thức hay một hình thức như cũ..Cho rước Máu Thánh thì có điều bất tiện là không biết có bao nhiêu người muốn rước để linh mục truyền phép đủ lượng Máu Thánh cho giáo dân muốn rước.Nếu truyền phép nhiều rượu mà có ít người muốn rước thì linh mục phải uống hết số Máu Thánh còn dư ,nên có thể bị say vì uống nhiều rượu đã truyền phép.!
Tuy nhiên, ở nơi nào cho rước cả hai hình thức Thánh Thể, thì giáo dân, hoặc chọn rước cả hai hay chỉ một Mình Thánh mà thôi. Nghĩa là không được chọn rước một hình thức là Máu Thánh mà không rước Mình Thánh Chúa thực sụ hiện diện trong hai chất thể là bánh và rượu nho. Nói rõ hơn , rước một Mình Thánh thì được , nhưng không được phép chỉ rước Máu Thánh không thôi.
Tuy nhiên, trong trường hợp một bệnh nhân không thể rước Mình Thánh vì không nuốt được chất đặc nào qua miệng, thì,trong trường hợp này, có thể được rước Máu Thánh thôi là đủ.
Riêng hàng tư tế , tức linh mục và Giám mục, thì buộc phải rước cả hai hình thức Thánh Thể khi chủ tế hay đồng tế Thánh Lễ.Phó tế cũng được rước cả hai hình thức khi phụ giúp Thánh Lễ với linh mục.
3- Tu Sĩ có được phép rửa tội, sức dầu và chứng hôn không ?
Trước khi trả lời câu hỏi này, cần phân biệt như sau:
Tu sĩ ( religious) là những người có ba lời khấn khó nghèo,(poverty) khiết tịnh ( chastity) và vâng phục (obedience) trong một Tu Hội hay Nhà Dòng được thành lập đúng theo giáo luật.
Giáo sĩ ( clerics) là những người có chức thánh như Phó tế, Linh mục và Giám mục. Giáo sĩ chỉ có hai lời khấn là khiết tịnh ( độc thân) và vâng phục mà thôi. Giáo sĩ không phải là Tu sĩ. Nhưng nam tu sĩ có thể trở thành giáo sĩ nếu có các chức thánh nói trên, mặc dù vẫn thuộc hàng tu sĩ, vì có ba lời khấn trong Tu Hội hay Nhà Dòng liên hệ. Giáo sĩ thì thuộc về một địa phận dưới quyền của một Giám mục, và được gọi là các linh mục triều ( diocesan priests), trong khi các tu sĩ linh mục thì được gọi là các linh mục Dòng ( religious priests),
Liên quan đến câu hỏi đặt ra, nếu chỉ là Tu sĩ ( religious ) có lời khấn Dòng mà không có chức Phó tế, Linh mục hay giám mục, thì không ai được phép cử hành bất cứ bí tích nào. Phải nói rõ điều này vì ở một địa phương kia, có cha xứ đã cho một nữ tu rửa tội cho trẻ em ở nhà thờ trước sự chứng kiến của cha xứ ! và cả hai đã bị bề trên liên hệ khiển trách nặng, vì đã làm việc hoàn toàn sai trái về kỷ luật bí tích của Giáo Hội.
Nhưng nếu Tu sĩ cũng là giáo sĩ ( nam tu sĩ), nghĩa là có chức Phó tế, Linh mục hay Giám mục thì vẫn có năng quyền để cử hành các bí tích như mọi giáo sĩ. Dĩ nhiên, linh mục Triều hay Dòng, muốn làm mục vụ trong giáo hội địa phương ( giáo phận), thì phải có phép của Đấng bản quyền địa phương, nghĩa là phải xin năng quyền ( faculties) của Tòa Giám mục.
Tuy nhiên trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử,khi không tìm được Phó tế hay linh mục, thì tu sĩ ( nam nữ) hay cả giáo dân cũng đều được phép rửa tội ở bất cứ nơi nào, nhưng phải theo đúng công thức của Giáo Hội, nghĩa là phải có nước và đọc công thức Chúa Ba Ngôi.
Cũng vậy, trong trường hợp khẩn cấp nguy tử, thì tu sĩ và giáo dân cũng được phép chứng hôn., với hai người làm chứng ( witness)
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

-----------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LỄ MẸ VÔ NHIỄM PDF Print E-mail

TÌM HIỂU-SỐNG VÀ CHIA SẺ: Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội Lc 1, 26 – 38

(Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT)

Nói về Mẹ quả là một điều vô cùng hạnh phúc. Bởi vì, ai chẳng yêu thương Mẹ mình, ai chẳng muốn đền ơn báo hiếu Mẹ Cha. Mẹ Cha ở đời đã sinh ra chúng ta, đã ẵm bồng, dưỡng dục, nuôi nấng chúng ta. Cha Mẹ đã đổ biết bao mồ hôi nước mắt vì chúng ta. Công ơn ấy chúng ta đền đáp biết bao cho vừa, đến khi nào mới cân xứng ! Mẹ Cha trần thế còn như vậy, huống chi đối với Đức Mẹ, người Mẹ trên mọi người Mẹ thế trần. Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa, là Mẹ của Hội Thánh và là Mẹ của mỗi Kitô hữu chúng ta. Do đó, nói về Mẹ, Hội Thánh đã có biết danh hiệu để ca tụng Mẹ,tất cả Kitô hữu đã có biết bao lời tôn vinh Mẹ. Nói cho cùng, mọi danh hiệu Hội Thánh dùng để tôn vinh Mẹ nhằm ca tụng lòng từ bi của Chúa. Thiên Chúa đã yêu thương Mẹ từ đời đời, đã gìn giữ Mẹ sạch mọi vết bùn nhơ của tội lỗi, Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội...

NHỮNG ƠN CAO CẢ THIÊN CHÚA DÀNH CHO MẸ MARIA :

Mẹ Maria đã được đắc sủng nơi Thiên Chúa, chính vì thế, Thiên Chúa đã gìn giữ Đức Mẹ và cho Đức Mẹ những hồng ân cao quí nhất mà không một ai trên trần thế đã được như Mẹ. Thiên Chúa đã ban cho Mẹ bốn đặc ân vô cùng quí giá, nhân loại khi nghe đều cúi đầu khâm phục: ơn vô nhiễm nguyên tội, ơn khiết trinh, ơn khỏi tội và ơn hồn xác lên trời. Thiên Chúa quả thực đã yêu thương Mẹ, đã cất nhắc Mẹ và để chọn Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa, chính Ngài đã gìn giữ Mẹ ngay từ giây phút đầu tiên của đời Mẹ, đã không để cho Mẹ vướng mắc bất cứ một chút bợn nhơ nào dù đó là do ông bà nguyên tổ đã lỗi phạm. Mẹ đã có ơn thánh trong tâm hồn ngay từ giây phút đầu tiên trong đời của Mẹ. Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, nên việc Mẹ thụ thai hoàn toàn do ý định của Thiên Chúa. Mẹ Maria đã được ơn trinh khiết ngay khi thụ thai Chúa Giêsu bởi phép Chúa Thánh Thần. Mẹ hoàn toàn thuộc trọn Thiên Chúa. Do đó, Thiên Chúa luôn gìn giữ Mẹ, luôn nâng đỡ Mẹ và luôn chở che, phù trì Mẹ để Mẹ không hề mắc một tội nào dù đó là tội riêng do mình gây ra. Nên, Thiên Chúa đã đưa Mẹ cả hồn lẫn xác về trời khi Mẹ lìa cõi thế này. Tất cả những ơn cao trọng ấy, Thiên Chúa dành riêng cho Mẹ theo kế hoạch tình yêu của Ngài như lời thánh Phaolô đã viết trong thư gửi tín hữu Êphêsô: "Chúc tụng Thiên Chúa, là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Trong Đức Kitô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Kitô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước Thánh Nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người»(Ep 1, 3 – 4).

ƠN VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI:

Mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, chúng ta không đề cập đến tính chuyên môn của Thánh Mẫu Học, nhưng mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội là để chúng ta cảm tạ tri ân Thiên Chúa vì muôn ơn cao quí Thiên Chúa dành cho Mẹ và qua Mẹ, nhờ Mẹ chúng ta cũng được hưởng những ân huệ quí giá này. Mẹ được Thiên Chúa yêu thương, nên Ngài đã ban cho Mẹ một quà tặng, một món quà vô giá không ai có được. Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội nghĩa là Mẹ được Thiên Chúa đón nhận ngay từ đầu như một ân sủng, và nó được diễn tả ra trong suốt cuộc đời Mẹ bằng sự vâng phục tuyệt đối của Mẹ. Đây quả thực là hoa trái của tình yêu của Thiên Chúa. Và đây cũng là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương Mẹ từ đời đời. Ngôn từ đời đời nói lên chiều kích thâm sâu, bí nhiệm của Thiên Chúa. Đây cũng là mầu nhiệm tuyệt vời của lòng thương xót Chúa. Bởi vậy ơn vô nhiễm nguyên tội mà Mẹ Maria thụ đắc nói lên ý nghĩa vô cùng thâm sâu của trang đầu sách Khởi Nguyên và lời chào của sứ thần Gabriel trong ngày truyền tin: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ơn phúc» (Lc 1, 28). Chính lời chào của sứ thần Gabriel đã cho chúng ta nhận ra rằng Mẹ Maria đã được vô tội ngay trong cung lòng bà thánh Anna. Ơn Vô Nhiễm nguyên tội còn do Mẹ xác nhận khi Mẹ hiện ra với Bernadette ở Lộ Đức vào ngày 25 tháng 3 năm 1854 nghĩa là vào lần hiện ra thứ 16, Mẹ đã xác nhận công khai: "Ta là Đấng Vô Nhiễm nguyên tội". Do đó, Mẹ Maria Vô Nhiễm nguyên tội là một kiệt tác tối cao của Thiên Chúa, một tác phẩm hết sức khôn ngoan của Thiên Chúa và đây cũng là tác phẩm của tình yêu thương vô biên của Thiên Chúa.

LỄ MẸ VÔ NHIỄM NGUYÊN TỘI DO AI TUYÊN BỐ VÀ CÓ Ý NGHĨA GÌ ?

Giáo Hội đã mừng lễ này từ lâu, nhưng phải đợi mãi đến ngày 8 tháng 12 năm 1854, Đức Giáo Hoàng Piô IX mới tuyên bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, Ngài đã ban hành bửu sắc Ineffabilis Deus tuyên bố rằng: "Chúng tôi tuyên xưng, công bố, và định tín giáo lý xác nhận Đức Trinh Nữ Maria-ngay từ giây phút đầu tiên được đầu thai, nhờ một ơn thánh cá biệt và đặc ân của Thiên Chúa toàn năng, dựa trên những công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ của nhân loại – đã được gìn giữ khỏi mọi tơ vương của tội nguyên tổ là một giáo lý đã được Thiên Chúa mặc khải, và vì thế, phải được mọi tín hữu tin nhận vững vàng và bền vững".

Chính vì thế, Mẹ là mẫu gương tuyệt vời trên mọi tuyệt vời của mọi Kitô hữu bởi Mẹ đã được Thiên đặt làm Đấng bầu cử cho chúng ta. Chính vì Mẹ thuộc trọn về Thiên Chúa qua việc tận hiến của Mẹ, nên Thiên Chúa không thể từ chối với Mẹ điều gì, đến với Mẹ chúng ta sẽ được Mẹ dẫn tới Chúa. Thánh Germanô, Giám mục Constantinople đã nói: "Hô hấp không phải chỉ là triệu chứng mà còn là nguyên nhân của sự sống. Cũng thế, danh hiệu Mẹ Maria Vô Nhiễm nguyên tội, Mẹ Thiên Chúa, nếu được các con cái Mẹ nói lên ở mọi nơi và trong mọi lúc, sẽ bảo đảm an toàn cho đời sống".

ÁP DỤNG VÀO THỰC TẾ:

Tôi xin chia sẻ một kinh nghiệm nhỏ của tôi. Cuộc đời tôi luôn được gắn bó mật thiết với Đức Mẹ. Mỗi lần tôi mệt mỏi, mỗi lần tôi đang gặp thử thách lời đầu tiên của tôi bao giờ cũng là xin Mẹ hãy giúp con và tôi không quên đọc ba kinh Kính Mừng để ca ngợi ân huệ cao vời của Mẹ. Mỗi lần như thế tôi luôn cảm thấy được bình an. Khi làm việc truyền giáo cho người Dân tộc tôi vẫn luôn động viên, thúc giục họ hãy cậy trông vào Mẹ, vì Mẹ là người Mẹ luôn gần gũi và cảm thông với con người.

- Thứ bảy tuần nào cũng vậy, tôi luôn dành riêng để chia sẻ về Mẹ. Tôi cảm thấy vững dạ, an lòng dù rằng cuộc đời tôi không phải lúc nào cũng thẳng cánh cò bay, vì tôi hay bị đau những cơn đột xuất thập tử nhất sinh. Nhưng tôi luôn cậy trông vào Mẹ, quả thực Mẹ đã cứu tôi nhiều lần...Tôi xác tín lời thánh vịnh: "Bạn hãy ký thác đường đời cho Chúa... Chính Chúa, Ngài sẽ ra tay...".

- Tôi có thể an tâm và cùng với những tâm hồn tôi được sai tới phục vụ, luôn vững lòng tin, cậy bởi tôi có thể nói cứ vững lòng cậy trông vào Mẹ, Mẹ sẽ dẫn chúng ta đến với Chúa và chính Chúa, Ngài sẽ ra tay...

Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm nguyên tội, xin cho chúng con được hưởng nếm hương thơm thánh thiện của Mẹ và để chúng con luôn biết chạy đến với Mẹ trong mọi biến cố của cuộc đời. Amen.

gplongxuyen

----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 5 of 167