mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1171
mod_vvisit_counterHôm Qua9027
mod_vvisit_counterTuần Này52765
mod_vvisit_counterTuần Trước55459
mod_vvisit_counterTháng Này183269
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả7983667

We have: 139 guests online
Your IP: 54.163.117.182
 , 
Today: Mar 26, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 301 =NHIN NHAN CAC PHEP LA PDF Print E-mail

Quy chế mới của Bộ Tuyên Thánh về việc nhìn nhận các phép lạ

Kristie Phan chuyển

Quy chế mới của Bộ Tuyên Thánh về việc nhìn nhận các phép lạ
WHĐ (24.09.2016) – Hôm thứ Sáu 23 tháng Chín 2016, Bộ Tuyên Thánh đã công bố một sửa đổi Quy chế liên quan đến việc các chuyên viên y tế chứng nhận phép lạ, trong khuôn khổ tiến trình tuyên phong chân phước và tuyên thánh.
Theo nguyên tắc, mọi án phong chân phước đòi hỏi phải có một phép lạ (trừ các vị được công nhận là tử đạo), và mọi án phong thánh đòi hỏi phải có một phép lạ thứ hai được công nhận. Việc điều tra các phép lạ đôi khi phải mất nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ, để phân định được một hiện tượng nào đó là do Thiên Chúa, chứ không phải là những hiện tượng có thể giải thích được bằng khoa học.
Sửa đổi lần này của Bộ Tuyên Thánh cập nhật Quy chế có từ năm 1976, triều giáo hoàng của Chân phước giáo hoàng Phaolô VI, chủ yếu quy định: để được nhìn nhận, một phép lạ phải được đa số (5/7 hoặc 4/6) chấp thuận; chủ tịch Ủy ban y học chỉ được đảm nhiệm hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ 5 năm; số lần tái điều tra là ba lần (mỗi lần với các chuyên viên khác nhau); và tất cả mọi người tham gia vào vụ án tuyên phong chân phước hay tuyên thánh phải giữ bí mật tuyệt đối; những người này gồm các người vận động, cáo thỉnh viên, chuyên viên, nhân viên Toà án, các viên chức của Bộ.
Ngoài ra, để bảo đảm theo dõi tốt hơn công tác tài trợ cho vụ án, các chuyên viên sẽ được trả lương bằng cách chuyển khoản theo hệ thống ngân hàng.
Một giai đoạn mới trong sự phân định của Giáo hội
Tiến triển này là một giai đoạn mới trong mối quan tâm của Giáo hội từ nhiều thế kỷ nay, làm cho thủ tục công nhận các phép lạ ngày càng đáng tin cậy hơn và nghiêm túc hơn. Từ thời Phúc Âm, các cuộc chữa lành kỳ diệu trở thành một phần của lịch sử Kitô giáo, và được coi như những dấu chỉ Thiên Chúa can thiệp vào lịch sử nhân loại. Nhưng vẫn phải chứng minh tính chất kỳ diệu của việc được chữa lành, vốn đôi khi việc khỏi bệnh lại hoàn toàn có thể giải thích được về mặt khoa học.
Sự can thiệp đầu tiên của các chuyên viên y tế trong một án tuyên thánh là vào năm 1610, trong án tuyên thánh cho Đức Tổng giám mục Milano, Charles Borromeo. Đây là hệ thống có từ năm 1678, theo quyết định của Đức giáo hoàng Innocent XI. Tiếp nối sự tiến triển này, Bộ Giáo Luật 1917 đã quy định bắt buộc phải có ý kiến của hai bác sĩ về việc lành bệnh có giải thích được hay không, ngay cả trước khi có cuộc kiểm tra về mặt thần học đối với các trường hợp được nghiên cứu.
Năm 1948, Đức giáo hoàng Piô XII đã thành lập một ủy ban y học, sau đó vị kế nhiệm ngài là Thánh giáo hoàng Gioan XXIII đã ban hành một Quy chế cụ thể cho uỷ ban này vào năm 1959, rồi Chân phước giáo hoàng Phaolô VI cập nhật vào năm 1976. Quy chế này, phù hợp với Bộ Giáo Luật 1983, vẫn có hiệu lực trong suốt 40 năm qua.
Quy chế mới được giới thiệu là kết quả của mười tháng làm việc, khởi đầu hồi tháng Chín 2015, do một ủy ban thực hiện, đứng đầu là Thư ký Bộ Tuyên Thánh, Đức Tổng giám mục Marcello Bartolucci. Quy chế này được trình bày tại Hội nghị thường lệ của Bộ vào tháng Sáu 2016 và được hồng y Quốc vụ khanh Toà thánh Pietro Parolin nhân danh Đức giáo hoàng chuẩn nhận vào ngày 24 tháng Tám vừa qua.
Vẫn có thể có những luật trừ
Việc tuyên phong chân phước và tuyên thánh thuộc quyền Đức giáo hoàng, tuy nhiên ngài có thể tuyên thánh và tuyên phong chân phước mà không cần thông qua các thủ tục thông thường, như trường hợp tuyên thánh cho Đức giáo hoàng Gioan XXIII hồi tháng Tư năm 2014. Phép lạ thứ hai bắt buộc trong án tuyên thánh cho vị Giáo hoàng trên ngai toà Phêrô từ năm 1958 đến 1963 chưa được chính thức công nhận trước, khác với phép lạ được xác nhận đối với Đức Gioan Phaolô II, được tuyên thánh cùng ngày hôm ấy. Việc tuyên thánh "tương đương" đối với Thánh Phêrô Favre và Thánh Angela Foligno cũng được thực hiện qua sắc lệnh của Đức giáo hoàng mà không cần công nhận phép lạ trước. Nhưng đó là những trường hợp ngoại lệ.
(Vatican Radio)

-----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 299 = 2 CAU HÓI SAU DAY PDF Print E-mail

Trong Thánh Lễ thì khi nào thì Chúa Giêsu hiện diện trong Bánh&Rượu?
NGƯỜI CÔNG GIÁO CÓ ĐỰỢC THAM DỰ NGHI THỨC THÀNH HÔN VÀ TIỆC CƯỚI CÁC CẶP HÔN NHÂN ĐỒNG TÍNH KHÔNG ?
Hỏi : xin cha giải thích hai thắc mắc sau đây:
1- Người Công giáo có được tham dự đám cư���i của hôn nhân đồng tính không?
2- Trong Thánh Lễ thì khi nào thì Chúa Giêsu hiện diện trong bánh và rượu, vì có linh mục kia nói là khi linh mục đặt tay trên chén lễ thì Chúa bắt đầu ngự xuống trên bánh và rượu. Điều này có đúng vậy không ?
Trả lời:
1-Là người tín hữu Công Giáo, chúng ta có bổn phận sống và chu toàn mọi giáo lý và lề luật của Giáo Hội, là Mẹ đang thay mặt Chúa là Cha trong trách nhiệm dạy dỗ con cái mình tuân giữ mọi điều cần thiết cho được rỗi linh hồn để hưởng phúc Thiên Đàng với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Cụ thể, giáo lý hôn nhân dạy mọi tín hữu biết rằng hôn nhân chỉ có giữa một người nam và một người nữ mà thôi, vì đây là ý muốn của Thiên Chúa từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữa và truyền cho họ phải " sinh sản cho nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị địa cầu." ( St 1:28).
Chúa Giêsu đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích và truyền cho con người mệnh lệnh Là " sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly." ( Mt 9: 6)
(giáo luật số 1055 &1)
Như Thế, Giáo Hội không thể chiều theo su hướng của thời đại tục hóa để công nhận hôn nhân đồng tính (same sex mariage) , tức là hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ được, vì đây là điều trái tự nhiên và vô luân, dựa trên chính lời Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê để truyền lại cho dân Do Thái xưa như sau:
"Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm điều ghê tởm" ( Levi 20: 13)
Vậy mà các xã hội bệnh hoạn như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức...là những quốc gia có đông người theo Kitôgiáo, lại công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này để chiều theo đòi hỏi của thiểu số người bệnh hoạn đòi công nhân cho việc trái tự nhiên này là hôn nhân. Đây quả là một tụt hậu thê thảm cho một nếp sống tinh thần và luân lý lành mạnh, khác xa với đời sống của mọi loài vật chỉ sống với bản năng và không biết gì về luân lý, thuần phong mỹ tục.
Chúng ta không ghét hay lên án những người sinh ra với khuynh hướng bất bình thường ( abnormal) về phái tính ( sexuality). Chúng ta thông cảm và tôn trọng họ như mọi người bình thường khác. Nhưng chúng ta không thể công nhận việc sống chung của họ là hôn nhân được, vì bản chất trái tự nhiên, trái luân lý của sự phối hợp giữa hai người nam hay hai người nữ. Hôn nhân mà họ đòi công nhận- và đã được các xã hội bệnh hoạn kia công nhận- là thứ hôn nhân không thể đạt được mục đích của hôn nhân là sinh con cái và giáo dục chúng thành những người biết sống tự nhiên, phát triền bình thường về mọi mặt tinh thần và tình cảm.
Do đó, nếu các trẻ em mà những cặp hôn nhân đồng tính này nhận làm con nuôi thì những trẻ này sẽ nghĩ sao và học được gì trong gia đình chỉ có hai người cha hay hai người mẹ ? Tệ hại hơn nữa là khi thấy hai người cha hay hai người mẹ của chúng ngủ chung với nhau một giường ..thì chúng sẽ nghĩ gì về sự chung sống này?
Đấy là những vấn nạn đặt ra cho những cặp hôn nhân đồng tính, cho các nhà giáo dục, các nhà xã hội học và luân lý học, và cách riêng, cho các xã hội bệnh hoạn đã công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này.
Trên bình diện luân lý, đạo đức, Giáo Hội không bao giờ công, nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này vì tự bản chất nó là vô luân, trái tự nhiên và không thể đạt mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập cho mục đích bảo tồn và phát triển sự sống của con người trên trần thế này cho đến ngày mãn thời gian.
Vì Giáo Hội không công nhận, nên người tín hữu Công giáo cũng không được phép tham dự đám cưới của những cặp đồng tính này, kể cả dự tiệc cưới của họ. Lý do là tham dự như vậy, có nghĩa là công nhận việc sống�� chung của họ là hôn nhân theo luật của Chúa và của Giáo Hội, và phù hợp với luân lý đạo đức của con người.
Tiện đây cũng xin nói thêm điều này: Ngay cả những đôi hôn phối Công Giáo, vì lý do riêng nào đó, không được chứng hôn trong nhà thờ, tức là thành hôn trong Giáo Hội, mà vẫn tổ chức tiệc cưới bên ngoài như những cặp hôn phối hợp pháp khác, thì người Công giáo cũng không nên tham dự tiệc cưới này , vì tham dự như vậy, cũng có nghĩa là công nhận sự thành hôn của họ là hợp pháp theo giáo lý của Giáo Hội.
Cũng cùng lý do này, người cử tri Công giáo cũng không được bỏ phiếu cho những ứng cử viên nào đã công khai chống lại Giáo Hội vì tán thành việc phá thai, ly dị, chết êm dịu (euthanasia) và hôn nhân đồng tính.Các ứng viên này có tham dự Thánh Lễ thì cũng không được rước Mình Thánh Chúa như những người tín hữu sống theo giáo lý, giáo luật của Giáo Hội,
2-Về câu hỏi thứ hai, xin được trả lời như sau:
Mỗi khi Thánh Lễ được cử hành thì , một cách thiêng liêng, Chúa Giêsu hiện diện trong linh mục cử hành, trên bàn thờ, trong Sách Phúc Âm ( Gospel Book) và trong cộng đoàn giáo dân tham dự., đúng như lời Chúa đã phán bảo:
" Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy
Thì có Thầy ở đấy , giữa họ."( Mt 18: 20)
Nghĩa là khi linh mục mặc lễ phục , bước lên cung thánh để cứ hành Thánh lễ thì Chúa Giêsu đã hiện diện cùng với linh mục và giáo dân tham dự để diễn lại bữa ăn sau cùng của Chúa với Nhóm Mười Hai Tông Đồ, Và nhất là dâng lại Hy Tế thập giá mà một lần Chúa đã dâng trên thập giá năm xưa để xin Chúa Cha tha tội cho cả loài người đáng phải phạt vì tội.
Ngày nay trên bàn thờ ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội, Chúa đã liên tục mượn tay và miệng của các Thừa tác viên có chức thánh là Giám mục và Linh mục để dâng lại Hy tế thập giá của Người cùng thể thức và mục đích Chúa đã một lần dâng lễ đền tội lên Chúa Cha trên thập giá cách nay trên 2000 năm để xin ơn tha thứ cho con người ngày nay như cho con người xưa kia. Vì thế Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist là việc thờ phượng, ca ngượi , cảm tạ , và xin ơn cao trọng và quan trọng nhất mà Giáo Hội hiệp nhất cùng với Chúa Giê-su Kitô để dâng lên Chúa Cha cho mục đích cứu rỗi con người tội lỗi ngày nay và còn tiếp tục cho đến ngày mãn thời gian.
Khi cử hành Thánh Lễ hay bất cứ Bí tích nào, thì giám mục và linh mục đều phải làm nhân danh Chúa Kit�� (in personal Christi) chứ không nhân danh chính mình bao giờ.
Như thế, chính Chúa Kitô rửa tội, thêm sức , cử hành Thánh Lễ , tha tội, và sức dầu bệnh nhân (và truyền chức thánh dành riêng cho giám mục) qua tay giám mục và linh mục. Phải nói lại điều này để lưu ý mọi người là linh muc , hay giám mục chỉ là công cụ hữu hiệu Chúa dùng để ban phát ơn thánh của Người cho những ai muốn lãnh nhận cách nhưng không ( gratuitously).
Cũng chính vì linh mục hay giám mục chỉ là thừa tác viên, nên sự hữu hiệu( validity) của bí tích không liên hệ gì đến phẩm chất của thừa tác viên con người ( ex opera operato). Do đó, đừng ai thắc mắc hay nghi ngờ Thánh Lễ của linh mục này hay linh mục kia không thành sự vì cho là linh mục đó có đời sống bất xứng.Nếu thực sự có đời sống bất xứng , mà vẫn cử hành các bí tích hay Thánh Lễ, thì tất cả vẫn thành sự ( validly), nhưng người cử hành sẽ mắc tội phạm thánh ( sacrilege). Tội phạm thánh hay tội trọng là tội cấm làm lễ ( linh mục) và rước lễ ( giáo dân)
( x.giáo luật số 916, SGLGHCG, số 1415)
Trở lại câu hỏi khi nào Chúa Giê su hiện diện trong hai chất thể bánh và rượu.
Khi linh mục đặt tay và cấu xin trên chén thánh ( Chalice) thì đó m��i chỉ là phút nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần (Epiklesis, Epiclesis) để Người biến bánh và rượu thành Mình và Máu Chúa Kitô.Nhưng Chúa Kitô chỉ thực sự hiện diện trong bánh và rượu nho sau khi linh mục đọc lời truyền phép ( consecration) mà thôi.
Nghĩa là khi linh mục giơ tay trên lễ vật để xin ơn Chúa Thánh Thần thì lúc đó bánh và rượu nho chưa được biến đổi bản thể ( transubstantiation) để trở nên Mình và Máu Chúa Kitô, cho nên Chúa chưa thực sự hiện diện trong bánh và rượu lúc này.Chúa chỉ thực sự hiện diện sau khi linh mục đọc lời truyền phép l�� : Đây là Mình Thầy..., đây là chén Máu Thầy..đúng như chữ đỏ ( rubric) qui đinh.
Chính vì thế mà trước đây khi Thánh Lễ còn cử hành bằng tiếng La tinh, và linh mục quay lưng lại với giáo dân, thì sau khi linh mục đọc lời truyền phép và dâng Mình Thánh Chúa lên thì người giúp lễ phải rung chuông để báo cho công đoàn tham dự lễ biết rằng Chúa Giêsu đã thưc sự hiện diện trong hai chất thể là bánh và rượu nho để mọi người cúi đầu thờ lậy.
Tóm lại, trong phụng vụ thánh, thì Chúa Giêsu luôn có mặt trong các Thừa tác viên con người là linh mục và giám mục, nghĩa là chính Chúa hiện diện trong các Thừa tác viên này để rửa tội, thêm sức, tha tội, sức dầu bệnh nhân và nhất là dâng lại Hy tế thập giá của Người một lần nữa trên bàn thờ ngày nay, cùng thể thức và mục đích mà xưa Chúa đã một lần dâng Hy Tế này lên Chúa Cha trên núi Sọ để đền tội thay cho cả nhân loại. Nhưng trong Thánh Lễ Tạ Ơn hằng ngày được dâng trên bàn thờ ở khắp nơi trong Giáo Hội, thì Chúa chỉ thực sự hiện diện ( real presence) trong hai chất thể bánh và rượu nho sau khi linh mục đọc lời truyền phép mà thôi.
Việc linh mục giơ tay trên lễ vật và đọc lời cầu xin ơn Chúa Thánh Thần thì lúc này Chúa Kitô chưa thực sự ngự xuống trong bánh và rượu nho.
Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO# 298 =HON NHAN DONG TINH PDF Print E-mail

Người Công Giáo có được Tham Dự Nghi Thức Thành Hôn và Tiệc Cưới cặp "Hôn Nhân Đồng Tính" không?
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
Người Công Giáo cần phải Đọc Kỹ & Hiểu những Luật này.... Để tránh nh��ng điều vấp phạm mà chúng ta không biết...& cũng xin chia sẻ cho người thân quen của mình.

Hỏi : Xin Cha giải thích thắc mắc sau đây:
same-sex-marriage.jpg
Người Công giáo có được tham dự đám cưới của hôn nhân đồng tính không?

Trả lời:
1-Là người tín hữu Công Giáo, chúng ta có bổn phận sống và chu toàn mọi giáo lý và lề luật của Giáo Hội, là Mẹ đang thay mặt Chúa là Cha trong trách nhiệm dạy dỗ con cái mình tuân giữ mọi điều cần thiết cho được rỗi linh hồn để hưởng ph��c Thiên Đàng với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Cụ thể, giáo lý hôn nhân dạy mọi tín hữu biết rằng hôn nhân chỉ có "giữa một người Nam và một người Nữ mà thôi", vì đây là ý muốn của Thiên Chúa từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữa và truyền cho họ phải "sinh sản cho nhiều, cho đầy mặt đất và thống trị địa cầu." ( St 1:28).
Chúa Giêsu đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích v�� truyền cho con người mệnh lệnh Là: " sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly." ( Mt 9: 6) ( giáo luật số 1055 &1)
Như Thế, Giáo Hội không thể chiều theo su hướng của thời đại tục hóa để công nhận hôn nhân đồng tính (same sex mariage), tức là hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ được, vì đây là điều trái tự nhiên và vô luân, dựa trên chính lời Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê để truyền lại cho dân Do Thái xưa như sau:
***"Khi người đàn ông nào nằm với một người đàn ông như nằm với đàn bà, thì cả hai đã làm đều Ghê Tởm...."( Levi 20: 13)
Vậy mà các xã hội bệnh hoạn như Hoa Kỳ, Canada, Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ý, Đức...là những quốc gia có đông người theo Kitôgiáo, lại công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này để chi��u theo đòi hỏi của thiểu số người bệnh hoạn đòi công nhân cho việc trái tự nhiên này là hôn nhân. Đây quả là một tụt hậu thê thảm cho một nếp sống tinh thần và luân lý lành mạnh, khác xa với đời sống của mọi loài vật chỉ sống với bản năng và không biết gì về luân lý, thuần phong mỹ tục.
Chúng ta không ghét hay lên án những người sinh ra với khuynh hướng bất bình thường (abnormal) về phái tính (sexuality). Chúng ta thông cảm và tôn trọng họ như mọi người bình thường khác. Nhưng chúng ta không thể công nhận việc sống chung của họ là hôn nhân được, vì bản chất trái tự nhiên, trái luân lý của sự phối hợp giữa hai người nam hay hai người nữ. Hôn nhân mà họ đòi công nhận- và đã được các xã hội bệnh hoạn kia công nhận- là thứ hôn nhân không thể đạt được mục đích của hôn nhân là sinh con cái và giáo dục chúng thành những người biết sống tự nhiên, phát triền bình thường về mọi mặt tinh thần và tình cảm.
Do đó, nếu các trẻ em mà những cặp hôn nhân đồng tính này nhận làm con nuôi thì những trẻ này sẽ nghĩ sao và học được gì trong gia đình chỉ có hai người cha hay hai người mẹ ? Tệ hại hơn nữa là khi thấy hai người cha hay hai người mẹ của chúng ngủ chung với nhau một giường ..thì chúng sẽ nghĩ gì về sự chung sống này???
Đấy là những vấn nạn đặt ra cho những cặp hôn nhân đồng tính, cho các nhà giáo dục, các nhà xã hội học và luân lý học, và cách riêng, cho các xã hội bệnh hoạn đã công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này.
Trên bình diện luân lý, đạo đức, Giáo Hội không bao giờ công nhận loại hôn nhân trái tự nhiên này vì tự bản chất nó là "Vô Luân", trái tự nhiên và không thể đạt mục đích của hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập cho mục đích bảo tồn và phát triển sự sống của con người trên trần thế này cho đến ngày mãn thời gian,
***Vì Giáo Hội không công nhận, nên người tín hữu Công giáo cũng không được phép tham dự đám cưới của những cặp đồng tính này, kể cả dự tiệc cưới của họ.
Lý do là tham dự như vậy, có nghĩa là công nhận việc sống chung của họ là hôn nhân theo luật của Chúa và của Giáo Hội, và phù hợp với luân lý đạo đức của con người.
Tiện đây cũng xin nói thêm điều này: Ngay cả những đôi hôn phối Công Giáo, vì lý do riêng nào đó, không được chứng hôn trong nhà thờ, tức là thành hôn trong Giáo Hội, mà vẫn tổ chức tiệc cưới bên ngoài như những cặp hôn phối hợp pháp khác, thì người Công giáo cũng không nên tham dự tiệc cưới này, vì tham dự như vậy, cũng có nghĩa là công nhận sự thành hôn của họ là hợp pháp theo giáo lý của Giáo Hội.
***Cũng cùng lý do này, người cử tri Công giáo cũng không được bỏ phiếu cho những ứng cử viên nào đã công khai chống lại Giáo Hội vì tán thành việc phá thai, ly dị, chết êm dịu (euthanasia) và hôn nhân đồng tính. Các ứng viên này có tham dự Thánh Lễ thì cũng "không được rước Mình Thánh Chúa" như những người tín hữu sống theo giáo lý, giáo luật của Giáo Hội...

Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 297 = CONG DOAN TAIZE PHAP PDF Print E-mail

Trại Taize Đông Á tạo cơ hội đối thoại và cầu nguyện
Tham dự viên ở Hồng Kông cũng tận dụng dịp này để thảo luận những quan tâm cá nhân về những căng thẳng chính trị trong khu vực
Tags: cộng đoàn Taize, đối thoại và cầu nguyện

------------------------------

THÔNG BÁO TIN VUI # 44 - Website ChiseLoiChua.com

    * TRẠI TAIZE ĐÔNG Á CẦU NGUYỆN *

MỜI THĂM: www.taize.fr

August 17, 2016

Trại Taize Đông Á tạo cơ hội đối thoại và cầu nguyện
Một tham dự viên Hàn Quốc hát tiếng Quan Thoại trong buổi cầu nguyện Taize Đông Á tổ chức hôm 10-14 tháng 8-2016.

Trên 200 Kitô hữu ở Đông Á tham dự chương trình cầu nguyện Taize vì hòa bình ở Hồng Kông, và thảo luận những quan ngại cá nhân về những căng thẳng chính trị trong khu vực.

Thầy Han Yol cho biết có nhiều người trẻ tham dự chương trình "Hành Hương Tín Thác và Hòa Giải" trên đảo Cheung Chau đã làm thiện nguyện viên tại Cộng đoàn Taize ở Pháp.

Nhiều người gặp khó khăn về văn hóa trong môi trường châu Âu, Thầy Han cho biết và nói thêm một môi trường châu Á đối với nhiều người thì dễ dàng hơn cho họ để trải qua.

"'Văn hóa cầm đũa' tạo thuận lợi hơn cho các tham dự viên Đông Á trao đổi và tự làm quen với nhau", Thầy nói. "Thật khó cho người châu Á tham dự các giờ cầu nguyện tương tự ở châu Âu".

Hồng Kông cũng là địa phương thuận tiện cho tham dự viên đến từ Trung Quốc, Nhật Bản, Macao, Hàn Quốc và Đài Loan, Thầy Han nói.

Một trong những tham dự viên Nhật Bản là Inoue Yuriko cho biết chị đã tham dự các buổi cầu nguyện ở châu Âu trước đây rồi.

Yuriko nói rằng chị cảm thấy như người ngoài cuộc tại các buổi cầu nguyện ở châu Âu nhưng cảm thấy gần gũi hơn khi tham dự buổi cầu nguyện ở Đông Á lần đầu tiên này.

"Không có nhiều người Kitô hữu ở Nhật Bản", chị nói. "Các buổi cầu nguyện quy mô nhỏ ở Đông Á không làm cho tôi cảm thấy như một nhóm thiểu số. Không như các buổi cầu nguyện ở châu Âu, nơi người ta ăn uống riêng rẽ, chúng ta ăn với nhau theo kiểu châu Á và có cơ hội nói chuyện với ai đó mà mình không biết".

Lời Chúa dạy: "Các Tin hữu chuyên cần nghe các Tôn đồ giảng dạy, luôn luôn hiệp thông với nhau, siêng năng tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện không ngừng"  (Công vụ Tông đồ: 2, 42)

Đầy tớ Định Nguyễn - Mời thăm Website : ChiaseLoiChua.com

--------------------------

 

Thảo luận vấn đề chính trị

Ngoài chuyện ăn uống chung với nhau, tham dự viên còn thích thú thảo luận giải quyết những căng thẳng chính trị trong vùng giữa Trung Quốc và Nhật Bản về tranh chấp chủ quyền các đảo và cũng giữa Trung Quốc và Đài Loan về vấn đề "một nước Trung Quốc".

Trong khi Thầy Han nói rằng cộng đoàn Taize tụ họp "không phải là nơi thảo luận chính trị" và mọi người "đã cầu nguyện trong bầu khí yêu thương và hiệp nhất" thì một số tham dự viên cho biết họ đã thảo luận các vấn đề xã hội và chính trị riêng rẽ trong các giờ ăn cơm.

"Người ta cũng nói về các vấn đề xã hội tại các buổi cầu nguyện ở châu Âu nhưng đó toàn là những vấn đề châu Âu", Yuriko nói. "Tại buổi cầu nguyện ở Đông Á này, các vấn đề chúng tôi nói tới gần gũi với chúng tôi hơn và liên quan đời sống chúng tôi hơn. Điều đó cho chúng tôi cơ hội phản ánh cách thức trở thành sứ giả hòa bình ở Đông Á".

Một phụ nữ Công giáo ở Trung Quốc đại lục yêu cầu không nêu tên cho biết chị đã thảo luận tình hình chính trị Trung Quốc-Đài Loan với các tham dự viên Đài Loan trong các giờ ăn chung vì chị nghĩ nó dễ dàng hơn để nói chuyện trong môi trường toàn là Kitô hữu.

"Ở Trung Quốc, tôi không dám nói về chính trị vì tôi không biết người ta sẽ phản ứng thế nào với quan điểm chính trị của tôi", chị nói.

Trình diễn văn hóa

Ngoài các giờ cầu nguyện, ca hát và im lặng trong các buổi cầu nguyện theo phong cách Taize, các tham dự viên còn trình diễn văn hóa giới thiệu đất nước và khu vực của mình. Cũng có hội thảo về vẽ tranh nghệ thuật thánh và làm lồng đèn giấy Nhật Bản.

Chương trình cầu nguyện Taize Đông Á lần trước được tổ chức năm 2013 ở Daejeon, Hàn Quốc.

Chương trình cầu nguyện hôm 10-14/8 là lần đầu tiên Hồng Kông đăng cai tổ chức mặc dù đã tổ chức một chương trình nhỏ không chính thức cho 50 tham dự viên năm 2015.

"Đây là một bước ngoặt cho phong trào đại kết ở địa phương vì 60 Kitô hữu ở địa phương, hầu hết là mới được rửa tội thuộc các giáo phái khác nhau, đã đến tham dự với chúng tôi vào ngày cuối cùng", điều phối viên chương trình James Kwok cho biết.

Cộng đoàn Taize là một tu hội phái tu viện đại kết ở Taize, Saone-et-Loire, Burgundy, Pháp, do Thầy Roger Louis Schutz khởi xướng năm 1940. Cộng đoàn được hình thành như một dấu chỉ hòa giải giữa các Kitô hữu bị chia rẽ và để thúc đẩy đại kết.

Ngày nay, cộng đoàn có hàng trăm thầy dòng gồm cả Công giáo và Tin Lành, từ khoảng 30 quốc gia.

Cộng đoàn đưa ra chủ đề Can Đảm Thương Xót cho năm 2016 giống với tinh thần của Năm Lòng Thương Xót do Đức Thánh cha Phanxicô khởi xướng. "Vui vẻ, giản dị và thương xót" sẽ là ba chủ đề hướng dẫn thêm cho cộng đoàn xuyên suốt tới năm 2018.

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 296 = TIM HIEU THAN KHI PDF Print E-mail

Nghệ Thuật Phân Biệt Thần Loại

    *  TÌM HIỂU THẦN KHÍ  *
        Linh mục Fio Mascarenhas

Thần học dạy chúng ta rằng cụm từ "Thần Khí" quy cho hai loại động lực. Tinh thần của môt cá thể chỉ ra khuynh hướng nội tâm dẫn đến cái tốt và cái xấu, và khi nó biểu hiện thường xuyên thì trở nên đặc tính của cá nhân đó. Có thể cá nhân đó chịu ảnh hưởng bởi thần khí từ bên ngoài - không biết thần khí đó từ Chúa hay ma quỷ. Vì vậy chức năng 'phân biệt thần khí' sẽ thẩm định một hành động hay những hành động lập đi lập lại chịu ảnh hưởng bởi thần khí ma quỷ, hay thần khí của con người.

Phân biệt thần khí: Chiếm Hữu & Linh Ứng
Có hai cách phân biệt thần khí: chiếm hữu và linh ứng.

1. Phân biệt thần khí (PBTK) bằng cách chiếm hữu là sự bù đắp cho khuynh hướng thần khí thông thường mà tất cả mọi người đều có thể trau dồi được nếu biết xử dụng những biện pháp chính đáng.

2. Phân biệt Thần Khí (PBTK) theo cách linh ứng là nhờ ơn Chúa Thánh Thần, ơn mà Chúa chỉ ban cho cho một số cá nhân.

Một người Linh Hướng, trưởng nhóm cầu nguyện hay những người theo Chúa tuyệt đối cần phải đạt được khả năng PBTK. Vì khả năng này giúp họ xác định được thần khí nào đang dẫn dắt người ta đi xa Chúa, trái với hoạt động của Chúa Thánh Thần dẫn dắt người ta hướng về Chúa.

Có nhiều biện pháp giúp ta đạt được nghệ thuật PBTK:

1. Cầu nguyện:
Đây là biện pháp quan trọng nhất, để xin ơn. Chúa Giêsu phán: "Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được..."
(Mt 7:7-11).
"Nếu ai trong anh em thiếu đức khôn ngoan, thì hãy cầu xin Thiên Chúa, Người sẽ ban cho. Vì Thiên Chúa ban cho mọi người cách rộng rãi, không quở trách. Nhưng người ấy phải cầu xin với lòng tin..." (Giacôbê 1:5-6)

Chúng ta phải nhớ tới bảy ơn Chúa Thánh thần lãnh nhận trong Bí Tích Thêm Sức (liệt kê trong sách tiên tri Isaiah đoạn nói về những ơn của đấng thiên sai) bao gồm những ơn tác động tới việc phân định: "Thần khí ĐỨC CHÚA sẽ ngự trên vị này: thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng mãnh, thần khí hiểu biết và kính sợ ĐỨC CHÚA" (Is 11:2). [ơn Kính Sợ ở đây có nghĩa là 'mộ đạo hay sùng kính, kinh sợ, kinh ngạc; không khúm núm hay hèn nhát sợ sệt]. Chúng ta phải xin Chúa khơi dậy những ơn này trong chúng ta. Như Thánh Phaolô khuyên vị giám mục trẻ Timothy, chúng ta phải "khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh" (2 Timothy 1:6).

Nhiều lời nguyện của Thánh Phaolô trong các lá thơ tỏ bày sự quan tâm đến việc phân định đúng đắn. Chúng ta sẽ cầu nguyện tốt để xin những ơn này khi xem chúng như những lời nguyện của chính chúng ta (dùng chủ từ tôi): "Điều tôi khẩn khoản nài xin, là cho lòng mến của (tôi) ngày thêm dồi dào, khiến (tôi) được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên để nhận ra cái gì là tốt hơn. Tôi cũng xin cho (tôi) được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Đức Ki-tô quang lâm. Như thế, (tôi) sẽ đem lại hoa trái dồi dào là sống một đời công chính nhờ Đức Giê-su Ki-tô, để tôn vinh và ngợi khen Thiên Chúa" (Phil 1: 9-11).

"Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho (tôi) thần khí khôn ngoan để mặc khải cho (tôi) nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho (tôi) thấy rõ, đâu là niềm hy vọng (tôi) đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú (tôi) được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu!" (Eph 1:17-19).

"Chúng tôi cũng không ngừng cầu nguyện và kêu xin Thiên Chúa cho (tôi) được am tường thánh ý Người, với tất cả sự khôn ngoan và hiểu biết mà Thần Khí ban cho. Như vậy, (tôi) sẽ sống được như Chúa đòi hỏi, và làm đẹp lòng Người về mọi phương diện, sẽ sinh hoa trái là mọi thứ việc lành, và mỗi ngày một hiểu biết Thiên Chúa hơn. Nhờ sức mạnh vạn năng của Thiên Chúa vinh quang, (tôi) sẽ nên mạnh mẽ để kiên trì chịu đựng tất cả. Chúng ta hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha, đã làm cho (tôi) trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của dân thánh trong cõi đầy ánh sáng" (Col 1: 9-12)

"Tôi nguyện xin Chúa Cha, thể theo sự phong phú của Người là Đấng vinh hiển, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Ki-tô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể dân thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu, và nhận biết tình thương của Đức Ki-tô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết. Như vậy anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa" (Eph 3:16-19)....(còn tiếp)

Hồng Nguyễn chuyển

----------------------------------

 

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 76