Hoc Hoi De Song Dao
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2274
mod_vvisit_counterHôm Qua8536
mod_vvisit_counterTuần Này42448
mod_vvisit_counterTuần Trước48347
mod_vvisit_counterTháng Này126671
mod_vvisit_counterTháng Trước232383
mod_vvisit_counterTất cả11578757

We have: 134 guests online
Your IP: 54.196.5.6
 , 
Today: Aug 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THU HAI-CN16TN-B PDF Print E-mail

Tinh Cao
To: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it ,CMC-THDC
Bcc: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Jul 22 at 6:53 PM

Thứ Hai - CN16TN-B

Phụng Vụ Lời Chúa

Bài Ðọc I: (Năm II) Mk 6, 1-4. 6-8

"Người hỡi, Ta sẽ chỉ cho ngươi việc phải làm, và việc nào Chúa đòi hỏi nơi ngươi".

Trích sách Tiên tri Mikha.

Các ngươi hãy nghe Chúa phán: "Ngươi hãy đứng lên, hãy trình bày lời tố cáo của ngươi trước núi non, và các đồi hãy nghe tiếng của ngươi. Hỡi các núi và nền tảng kiên cố của địa cầu, hãy nghe Chúa tố cáo dân Người và biện luận với Israel.

"Hỡi dân Ta, Ta đã làm gì cho ngươi? Hay là Ta đã làm khổ ngươi điều gì? Hãy trả lời cho Ta biết. Chính Ta dẫn ngươi ra khỏi đất Ai-cập, đã giải thoát ngươi khỏi nhà nô lệ, và sai Môsê, Aaron và Maria đi trước mặt ngươi?"

Tôi sẽ hiến dâng vật gì lên Thiên Chúa cho xứng đáng? Hay là tôi sấp mình trước Thiên Chúa Tối Cao? Tôi sẽ dâng lên Người của lễ toàn thiêu và con bê một tuổi chăng? Chúa có hài lòng với hằng ngàn chiên đực, hoặc hằng muôn vàn dê đực béo tốt chăng? Tôi sẽ dâng con đầu lòng để đền tội ác của tôi, và dâng con cái tôi để đền chính tội tôi chăng?

Người hỡi, Ta sẽ chỉ cho ngươi việc phải làm, và việc nào Chúa đòi hỏi nơi ngươi: tức là ngươi hãy thực hiện công bình, quý mến lòng nhân lành, và khiêm tốn bước theo Thiên Chúa ngươi.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 49, 5-6. 8-9. 16bc-17. 21 và 23

Ðáp: Ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ (c. 23b).

Xướng: 1) "Hãy tập họp cho Ta các tín đồ đã ký lời giao ước của Ta cùng hy sinh lễ". Và trời cao sẽ loan truyền sự công chính của Ngài, vì chính Ðức Thiên Chúa, Ngài là thẩm phán. - Ðáp.

2) Ta không khiển trách ngươi về chuyện dâng lễ vật, vì lễ toàn thiêu của ngươi đặt ở trước mặt Ta luôn. Ta không nhận từ nhà ngươi một con bò con, cũng không nhận từ đoàn chiên ngươi những con dê đực. - Ðáp.

3) Tại sao ngươi ưa kể ra những điều huấn lệnh, và miệng ngươi thường nói về minh ước của Ta? Ngươi là kẻ không ưa lời giáo huấn, và ném bỏ lời Ta lại sau lưng. - Ðáp.

4) Ngươi làm thế, mà Ta đành yên lặng? Ngươi đã tưởng rằng Ta cũng giống như ngươi? Ta sẽ bắt lỗi, sẽ phơi bày trước mặt ngươi tất cả. Ai hiến dâng lời khen ngợi, người đó trọng kính Ta; ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ. - Ðáp.

Alleluia: Ga 10, 27

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 12, 38-42

"Nữ hoàng phương nam sẽ chỗi dậy lên án thế hệ này".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, có mấy luật sĩ và biệt phái thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ". Người trả lời: "Thế hệ hung ác gian dâm đòi một dấu lạ! Nhưng sẽ không cho dấu lạ nào, trừ dấu lạ tiên tri Giona. Cũng như xưa tiên tri Giona ở trong bụng cá ba đêm ngày thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba đêm ngày như vậy. Tới ngày phán xét, dân thành Ninivê sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và lên án nó, vì họ đã nghe lời tiên tri Giona mà sám hối tội lỗi, nhưng đây có Ðấng cao trọng hơn Giona. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và lên án nó: vì bà từ biên thuỳ trái đất đã đến nghe lời khôn ngoan của vua Salomon, nhưng đây có Ðấng cao trọng hơn Salomon".

Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa

Theo thói quen cũng là khuynh hướng chung của dân tộc Do Thái là dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn cách riêng trong tất cả mọi dân nước trên thế giới, thì họ là một dân tộc thích điềm thiêng dấu lạ, đến độ, có thể nói, điềm thiêng dấu lạ được coi là nền tảng đức tin của họ, ở chỗ, phải có điềm thiêng dấu lạ mới đáng tin.

Khuynh hướng và thói quen đòi điềm thiêng dấu lạ này nơi dân Do Thái cũng dễ hiểu, bởi vì trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, họ luôn được chứng kiến thấy những điềm thiêng dấu lạ này, được chính Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ tỏ ra để làm cho họ tin vào Ngài, nhất là những lúc họ bị đô hộ hay đầy ải bởi ngoại bang.

Đó là lý do chúng ta thấy Thánh Ký Mathêu trong bài Phúc Âm cho Thứ Hai Tuần XVI Thường Niên có sự kiện được ngài ghi nhận rằng: "Khi ấy, có mấy luật sĩ và biệt phái thưa cùng Chúa Giêsu rằng: 'Lạy Thầy, chúng tôi muốn thấy Thầy làm một dấu lạ'".

Thật ra, chính thành phần xin Chúa Giêsu xem thấy điềm thiêng dấu lạ từ Người và bởi Người để chứng minh Người quả thực là Đấng Thiên Sai này đã từng thấy Người làm phép lạ chữa lành hay trừ quỉ rồi, thế nhưng họ vẫn chưa chịu, vẫn chưa công nhận Người, đến độ, họ còn phủ nhận Người và xuyên tạc quyền phép vô địch của Người nữa, như có lần thấy Người trừ quỉ xong họ liền cho rằng Người đã dùng quyền của quỉ cả mà khu trừ quỉ con (xem Mathêu 12:24).

Vậy thì điềm thiêng dấu lạ mà họ muốn thấy nơi Chúa Giêsu Kitô đây là gì và như thế nào? Phải chăng là việc Người có thể "xuống khỏi thập giá thì chúng ta tin" (Mathêu 27:42). Nhưng Người lại không làm theo ý của họ, bởi vì làm như thế thì Người, dù có thể, hoàn toàn không phải là Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa, đến để làm theo ý Cha chứ không phải theo ý của Người (xem Gioan 6:38), mà chỉ là Đấng Thiên Sai của họ và đối với họ, như một vị cứu tinh dân tộc theo chính trị của họ như lòng họ mong muốn mà thôi, chứ không phải là cứu cả họ lẫn các dân tộc trên thế giới này khỏi tội lỗi và sự chết đời đời.

Đó là lý do trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu chỉ hứa ban cho họ một dấu lạ duy nhất, dấu lạ liên quan đến phần rỗi của chung loài người, trong đó bao gồm cả dân do Thái, đó là "dấu lạ tiên tri Giona", ám chỉ cuộc Vượt Qua của Người: "cũng như xưa tiên tri Giona ở trong bụng cá ba đêm ngày thế nào, thì Con Người cũng sẽ ở trong lòng đất ba đêm ngày như vậy", một cuộc Vượt Qua bao gồm cả cuộc khổ nạn và tử giá vô cùng đau thương và nhục nhã do chính họ gây ra cho Người, và cuộc phục sinh vinh hiển của Người, chứng tỏ Người đã chiến thắng tội lỗi và sự chết của chung con người mắc nguyên tội và của riêng thành phần đã nhúng tay vào cuộc khổ giá của Người nói riêng.

Một khi công ơn cứu chuộc được hoàn tất bởi cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô thì không còn một điềm thiêng dấu lạ nào vĩ đại hơn và quan trọng hơn để cho con người tin mà được cứu độ: "ai tin và chịu phép rửa thì sẽ được cứu rỗi, còn ai không tin thì bị luận phạt" (Marco 16:16), đúng như những gì Chúa Giêsu cũng đã khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay:

"Tới ngày phán xét, dân thành Ninivê sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và lên án nó, vì họ đã nghe lời tiên tri Giona mà sám hối tội lỗi, nhưng đây có Đấng cao trọng hơn Giona. Đến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và lên án nó: vì bà từ biên thùy trái đất đã đến nghe lời khôn ngoan của vua Salomon, nhưng đây có Đấng cao trọng hơn Salomon".

Theo tinh thần của Lời Chúa Giêsu phán trong bài Phúc Âm hôm nay về điềm thiêng dấu lạ mà Người chỉ cho họ thấy và họ cũng chỉ có thể thấy đó là dấu lạ Giona, dấu lạ báo trước cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô cho phần rỗi của chung nhân loại và của riêng dân Do Thái. Và vì thế, dấu lạ tối hậu đó là lòng con người nhận biết lòng thương xót Chúa nơi công cuộc cứu độ của Người mà biết ăn năn sám hối.

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, qua miệng Tiên Tri Mica, sau khi nghe Ngài đặt vấn đề chí lý với mình rằng: "Hỡi dân Ta, Ta đã làm gì cho ngươi? Hay là Ta đã làm khổ ngươi điều gì? Hãy trả lời cho Ta biết. Chính Ta dẫn ngươi ra khỏi đất Ai-cập, đã giải thoát ngươi khỏi nhà nô lệ, và sai Môsê, Aaron và Maria đi trước mặt ngươi?", họ đã tỏ ra nhận biết Ngài như thế này:

"Tôi sẽ hiến dâng vật gì lên Thiên Chúa cho xứng đáng? Hay là tôi sấp mình trước Thiên Chúa Tối Cao? Tôi sẽ dâng lên Người của lễ toàn thiêu và con bê một tuổi chăng? Chúa có hài lòng với hằng ngàn chiên đực, hoặc hằng muôn vàn dê đực béo tốt chăng? Tôi sẽ dâng con đầu lòng để đền tội ác của tôi, và dâng con cái tôi để đền chính tội tôi chăng? Người hỡi, Ta sẽ chỉ cho ngươi việc phải làm, và việc nào Chúa đòi hỏi nơi ngươi: tức là ngươi hãy thực hiện công bình, quý mến lòng nhân lành, và khiêm tốn bước theo Thiên Chúa ngươi".

Bởi thế mà Bài Đáp Ca hôm nay mới có câu họa là "Ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ", một câu họa trước những phán quyết của Thiên Chúa đối với tinh thần và hành động tôn thờ của dân Ngài cần phải hợp với ý muốn tối hậu của Ngài và cân xứng với Ngài, như sau:

1) "Hãy tập họp cho Ta các tín đồ đã ký lời giao ước của Ta cùng hy sinh lễ". Và trời cao sẽ loan truyền sự công chính của Ngài, vì chính Ðức Thiên Chúa, Ngài là thẩm phán.

2) Ta không khiển trách ngươi về chuyện dâng lễ vật, vì lễ toàn thiêu của ngươi đặt ở trước mặt Ta luôn. Ta không nhận từ nhà ngươi một con bò con, cũng không nhận từ đoàn chiên ngươi những con dê đực.

3) Tại sao ngươi ưa kể ra những điều huấn lệnh, và miệng ngươi thường nói về minh ước của Ta? Ngươi là kẻ không ưa lời giáo huấn, và ném bỏ lời Ta lại sau lưng.

4) Ngươi làm thế, mà Ta đành yên lặng? Ngươi đã tưởng rằng Ta cũng giống như ngươi? Ta sẽ bắt lỗi, sẽ phơi bày trước mặt ngươi tất cả. Ai hiến dâng lời khen ngợi, người đó trọng kính Ta; ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CN16TN-B - CAC MUC TU PDF Print E-mail

VINH DỰ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CAC MỤC TỬ
CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN NĂM B (22/07/2018)


HỌC HỎI-SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA: [Gr 23,1-6; Ep 2,13-18; Mc 6,30-34]

I. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
Lời Chúa của Phụng Vụ Chúa Nhật XV tập trung vào ơn gọi và sứ mạng của các Ki-tô hữu (nói chung) thì Lời Chúa của Phụng Vụ Chúa Nhật XVI sẽ tập trung vào ơn gọi và sứ mạng của các Ki-tô hữu lãnh đạo (nói riêng). Trong đạo cũng như ngoài đời, vai trò của người lãnh đạo là hết sức quan trọng. Ngoài đời thì là chính quyền các cấp, trong gia đình là cha mẹ...,còn trong đạo thì là các mục tử các cộng đoàn lớn nhỏ.

Nhờ nắm bắt đươc thực trạng của Giáo Hội tại Việt Nam nên vị nguyên đại diện Tòa Thánh Vatican tại Việt Nam, Đức Tổng Giám Mục Leopoldo Girelli, đã có những lời nhắn nhủ không thể chính xác hơn, với các Giám mục Việt Nam họp Hội Nghị lần thứ nhất năm 2012 tại Xuân Lộc, sau Lễ Phục Sinh năm đó:
"Như Chúa Giê-su đã sống lại và ra khỏi mộ, Hội Thánh Việt Nam cũng cần trỗi dậy, thoát khỏi những từ ngữ "chết" trong quyển Sách Thánh để hạ sinh thành Lời rao giảng sống động trong cuộc sống; Hội Thánh Việt Nam không chỉ khép kín trong những mối quan tâm nội bộ, nhưng phải bước ra dấn thân cho công cuộc Loan báo Tin Mừng cho lương dân; cụ thể tại Việt Nam còn hơn 90% anh chị em chưa nghe loan báo Tin Mừng; cuối cùng mỗi cá nhân mục tử cũng cần phải ra khỏi mộ tối để chiếu sáng sự thánh thiện của mình trong việc hi sinh tận tình chăm sóc đoàn chiên đã được giao phó cho mình."
"Bước ra khỏi tình trạng khép kín để dấn thân cho công cuộc Loan Báo Tin Mửng cho lương dân" là trách nhiệm chung của mọi tín hữu Việt Nam; còn "ra khỏi mồ tối để chiếu sáng sự thánh thiện của mình trong việc hi sinh tận tình chăm sóc đoàn chiên đã được giao phó cho mình" là trách nhiệm riêng của các nhà lãnh đạo Giáo hội Việt Nam. Lời Chúa hôm nay củng cố chân lý ấy.

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Bài đọc 1 (Gr 23,1-6): Ta sẽ quy tụ đoàn chiên của Ta còn sót lại. Ta sẽ cho xuất hiện các mục tử để lãnh đạo chúng.
1 Khốn thay những mục tử làm cho đoàn chiên Ta chăn dắt phải thất lạc và tan tác - sấm ngôn của Đức Chúa - 2 Vì thế, Đức Chúa, Thiên Chúa Ít-ra-en, phán như sau để lên án các mục tử, những người chăn dắt dân Ta: chính các ngươi đã làm cho đoàn chiên của Ta phải tan tác; các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng. Này Ta sẽ để ý đến các hành vi gian ác của các ngươi mà trừng phạt các ngươi - sấm ngôn của Đức Chúa. 3 Chính Ta sẽ quy tụ đoàn chiên Ta còn sót lại từ khắp mọi miền Ta đã xua chúng đến. Ta sẽ đưa chúng về đồng cỏ của chúng; chúng sẽ sinh sôi nảy nở thật nhiều. 4 Ta sẽ cho xuất hiện các mục tử để lãnh đạo chúng; họ sẽ chăn dắt chúng. Chúng sẽ không còn phải hãi hùng, kinh khiếp và bị bỏ rơi nữa. Sấm ngôn của Đức Chúa.
5 Này, sẽ tới những ngày - sấm ngôn của Đức Chúa - Ta sẽ làm nẩy sinh cho nhà Đa-vít một chồi non chính trực. Vị vua lên ngôi trị vì sẽ là người khôn ngoan tài giỏi trong xứ sở, vua sẽ thi hành điều chính trực công minh. 6 Thời bấy giờ, Giu-đa sẽ được cứu thoát, Ít-ra-en được sống yên hàn. Danh hiệu người ta tặng vua ấy sẽ là: "Đức Chúa, sự công chính của chúng ta."

2.2 Bài đọc 2 (Ep 2,13-18): Chính Đức Giê-su là sự bình an của chúng ta. Người đã liên kết dân Do-thái và Dân Ngoại thành một.
13 Thưa anh em, trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần. 14 Thật vậy, chính Người là bình an của chúng ta: Người đã liên kết đôi bên, dân Do-thái và dân ngoại, thành một; Người đã hy sinh thân mình để phá đổ bức tường ngăn cách là sự thù ghét; 15 Người đã hủy bỏ Luật cũ gồm các điều răn và giới luật. Như vậy, khi thiết lập hòa bình, Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người. 16 Nhờ thập giá, Người đã làm cho đôi bên được hòa giải với Thiên Chúa trong một thân thể duy nhất; trên thập giá, Người đã tiêu diệt sự thù ghét. 17 Người đã đến loan Tin Mừng bình an: bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. 18 Thật vậy, nhờ Người, cả đôi bên, chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.

2.3 Bài Tin Mừng (Mc 6,30-34): Họ như bầy chiên không người chăn đắt.
30 Khi ấy các Tông Đồ tụ họp chung quanh Đức Giê-su, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy. 31 Người bảo các ông: "Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút." Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa. 32 Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng. 33 Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài. 34 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.

III. KHÁM PHÁ CHÂN DUNG & SỨ ĐIỆP CỦA THIÊN CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
3.1 Chân dung của Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?)
3.1.1 Bài đọc 1 (Gr 23,1-6) là những lời sấm của ngôn sứ Giê-rê-mi-a, nói về những mục tử không chu toàn trách nhiệm được Thiên Chúa giao phó, vì họ đã làm cho đoàn chiên của Chúa phải tan tác và họ đã xua đuổi cũng như chẳng lưu tâm gì đến chiên. Lời sấm còn loan báo Thiên Chúa sẽ chấn chỉnh kế hoạch là sẽ quy tụ đoàn chiên còn sót lại từ khắp mọi miền, sẽ đưa chúng về đồng cỏ tốt tươi; sẽ giao chúng cho các mục tử tốt lành chăn dắt. Đoàn chiên sẽ sinh sôi nảy nở thật nhiều và các mục tử xấu sẽ bị trừng phạt vì hành vi gian ác của họ. Tột đỉnh của kế hoạch này là Con Một Thiên Chúa - là Đức Giê-su - sẽ được gửi đến để chăn dắt đoàn chiên của Thiên Chúa.

3.1.2 Bài đọc 2 (Ep 2,13-18) là những lời Thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Ê-phê-sô về những việc làm cụ thể mà Đức Giê-su, Vị Vua xuất thân từ dòng dõi Đa-vít, đã thực hiện nhằm thay đổi mọi thực tại nhân sinh và nhân linh một cách tuyệt diệu để xây dựng Vương Quốc của Thiên Chúa.

3.1.3 Bài Tin Mừng (Mc 6,30-34) là tường thuật của Thánh Mác-cô về tấm lòng chăm lo cho đoàn chiên của Chúa Giê-su: "Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt." Chúa Giê-su là hình ảnh 'trung thực' của Chúa Cha là Đấng không muốn một con chiên nào bị bỏ rơi và phải khổ sở; trái lại Người muốn tất cả mọi con chiên đều được yêu thương và chăm sóc tận tình. Vì chạnh lòng thương đoàn chiên mà Đức Giê-su chữa lành các bệnh nhân, xua đuổi ma quỉ và làm các phép lạ. Vì chạnh lòng thương dân chúng mà Đức Giê-su đứng về phía thứ dân, bênh vực quyền lợi của họ, làm bạn với hạng tội lỗi và sau cùng là chết trên thập giá để cứu chuộc tất cả nhân loại.
3.2 Sứ điệp của Lời Chúa (Chúa muốn chúng ta làm gì?)
Sứ điệp của Lời Chúa hôm nay là: Thiên Chúa là Đấng yêu thương và chăm lo cho mọi người. Người mời gọi chúng ta cộng tác và tíếp tay với Người trong việc chăm lo ấy. Nhất là Người đã sai Con Một Người là Chúa Giê-su đến trần gian để yêu thương và quy tụ mọi người thành một đoàn chiên duy nhất. Tất cả các Ki-tô hữu và nhất là các giám mục, linh mục được Chúa giao phó sứ vụ "mục tử" phải biết học cùng Chúa Giê-su mà "chạnh lòng thương" khi đứng trước nhu cầu vật chất và tinh thần của con người.

IV. SỐNG VỚI CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA LỜI CHÚA
4.1 Sống với Thiên Chúa là Đấng đã vì yêu thương loài người mà dùng ngôn sứ Giê-rê-mi-a thay mặt Thiên Chúa cảnh cáo những người lãnh đạo không chu toàn trách nhiệm chăm sóc các cộng đoàn. Sống với Thiên Chúa là Đấng đã chạnh lòng thương đám đông quần chúng thiều người chăm lo, bảo vệ.

4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa
Để thực thi sứ điệp Lời Chúa qua ba bài Sách Thánh, mỗi người/cộng đoàn/gia đình hãy tự hỏi và tự trả lời 3 câu hỏi sau:
* Tôi/Cộng đoàn và Gia đình tôi có học biết Thiên Chúa là Đấng yêu thương và chăm lo cho mọi người không?
* Tôi/Cộng đoàn và Gia đình tôi có học cùng Chúa Giê-su mà biết "chạnh lòng thương" khi đứng trước nhu cầu vật chất và tinh thần của những người sống chung quanh tôi không?
* Tôi/Cộng đoàn và Gia đình tôi có cộng tác và tíếp tay với Thiên Chúa trong việc chăm lo cho con người, nhất là cho những người nghèo và bị bỏ rơi hơn cả trong xã hội Việt Nam hôm nay không?

V. CẦU NGUYỆN CHO THẾ GIỚI VÀ CHO HỘI THÁNH
[Ghi chú: Lời cầu nguyện giáo dân thường có 4 ý: ý thứ nhất cầu cho thế giới, ý thứ hai cầu cho Hội Thánh toàn cầu, ý thứ ba cầu cho giáo dân của giáo xứ, ý thứ bốn cầu cho một hạng người đặc biệt nào đó]

5.1 "Thưa anh em, trước kia anh em là những người ở xa, nhưng nay, trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ máu Đức Ki-tô đổ ra, anh em đã trở nên những người ở gần" Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho các dân các nước sớm nhận ra Kế Hoạch và Ý Định của Thiên Chúa nơi Chúa Giê-su Ki-tô mà trở thành Ki-tô hữu.
Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.2 «Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cách đặc biệt cho Đức Thánh Cha Phanxicô, cho các Hồng Y, Tổng Giám Mục và Giám Mục, cho các linh mục và phó tế, để với ơn Chúa trợ giúp, các ngài chỉ biết sống chết theo chân Chúa Giê-su mà thương yêu mọi người, nhất là những người nghèo và bị bỏ rơi.
Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.3 «Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho giáo dân thuộc Giáo xứ chúng ta để ai nấy chuyên chăm nghe lời dậy dỗ của Chúa và của các mục tử.
Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

5.4 «Khốn thay những mục tử làm cho đoàn chiên Ta chăn dắt phải thất lạc và tan tác.» Chúng ta hiệp lời cầu nguyện cho các vị mục tử không chu toàn trách nhiệm, đánh mất lòng nhiệt thành truyền giáo, lơ là với việc chăm lo cho người nghèo và bị bỏ rơi, để nhờ Ơn Chúa giúp, các ngài lấy lại được tinh thần Phúc âm mà phục vụ đoàn chiên mà Chúa đã giao cho các ngài TỪ CHA MẸ TRONG GIA ĐÌNH...
Xướng: Chúng ta cùng cầu xin Chúa! Đáp: Xin Chúa nhận lời chúng con!

Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.
Sàigòn ngày 13 tháng 06 năm 2018

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY CN15TN-B PDF Print E-mail

Thứ Bảy

HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO

Bài Ðọc I: (Năm II) Mk 2, 1-5

"Chúng tham lam ruộng đất và chiếm lấy nhà cửa".

Trích sách Tiên tri Mikha.

Khốn cho những kẻ suy tính điều gian ác, và mưu đồ việc xấu xa trong phòng mình. Sáng ngày, chúng thực hiện điều đó, vì tay chúng chống lại Thiên Chúa. Chúng tham lam và dùng võ lực chiếm lấy ruộng đất, nhà cửa kẻ khác. Chúng ức hiếp người ta, phá phách nhà họ, chủ nhà và sản nghiệp của họ. Vì thế, Chúa phán thế này:

Ðây Ta toan giáng hoạ trên dòng giống này mà các ngươi không thoát được, các ngươi không ngước đầu lên mà đi được nữa, vì đây là thời kỳ tai hoạ. Trong ngày đó, người ta ngâm bài trào phúng chế diễu các ngươi và sẽ hát bài ca thán mà rằng: "Chúng ta đã bị bóc lột hết rồi, sản nghiệp dân ta bị đổi chủ, làm sao Chúa tước đoạt của cải chúng ta, và phân chia đất đai chúng ta cho những kẻ bóc lột chúng ta".

Vì thế, trong cộng đoàn Thiên Chúa, không còn ai giăng dây chia đất cho ngươi.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 10, 1-2. 3-4. 7-8. 14

Ðáp: Lạy Chúa, xin đừng quên những kẻ cơ bần (c. 12b).

Xướng: 1) Lạy Chúa, tại sao Ngài xa cách, tại sao Ngài ẩn mặt trong lúc gian truân, đang khi đứa ác kiêu căng, người nghèo bị hại, bị trúng mưu gian nó đã bày ra? - Ðáp.

2) Bởi đứa tội nhân đang hãnh diện vì lòng tham; tên kẻ cắp đang lộng ngôn, khinh nhờn Chúa. Ðứa ác nhân ngạo nghễ thốt lời: "Ngài không báo ứng, không có Chúa Trời!" Ðó là tất cả điều nó suy tư. - Ðáp.

3) Miệng nó đầy lời chửi rủa, gian ngoan và xảo kế, dưới lưỡi nó chứa sự tân toan và sách nhiễu. Nó ngồi núp gần những nơi thôn xóm, trong chỗ khuất tịch nó giết người hiền lương, mắt nó rình xem kẻ cơ bần. - Ðáp.

4) Nhưng Ngài thấy, Ngài nhìn nỗi tân toan sầu khổ, để rồi Ngài đỡ lấy trong tay. Kẻ cơ bần đem thân phó thác cho Ngài, Ngài là Ðấng phù trợ kẻ mồ côi. - Ðáp.

Alleluia: Tv 144, 13cd

Alleluia, alleluia! - Chúa trung thành trong mọi lời Chúa phán, và thánh thiện trong mọi việc Chúa làm. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 12, 14-21

"Người cấm họ đừng cho ai biết Người, để ứng nghiệm lời đã phán".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, các người biệt phái đi ra ngoài, bàn mưu kế chống lại Chúa Giêsu để hãm hại Người. Biết thế, Chúa Giêsu rời bỏ nơi ấy. Có nhiều kẻ đi theo Người, và ai có bệnh, đều được Người chữa lành. Người cấm họ đừng cho ai biết Người, để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia đã chép rằng:

"Này là tôi tớ Ta đã chọn, là người Ta rất yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng. Ta sẽ cho Thần trí ngự trên Người. Người sẽ rao giảng sự công chính cho dân ngoại. Người không cãi cọ hay dức lác, và không ai nghe tiếng Người ngoài đường phố. Người không bẻ gãy cây sậy đã giập, không dập tắt tim đèn còn khói, cho đến lúc Người khiến sự công minh được toàn thắng. Dân ngoại sẽ hy vọng vào danh Người".

Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Bảy Tuần XV Thường Niên, tuy không liên tục về đoạn văn với bài Phúc Âm hôm qua, nhưng lại liên tục về nội dung. Bài Phúc Âm hôm qua và bài Phúc Âm hôm nay cách nhau bởi những câu Phúc Âm thuật lại về câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành cho một người bị co bại tay vào ngày hưu lễ trong hội đường.

Bởi thế, liên quan đến cả hai lần liền về ngày hữu lễ, lần trước về vụ các môn đệ của Người bứt bông lúa mà ăn trong ngày hữu lễ ở bài Phúc Âm hôm qua, và lần sau về vụ chính Người chữa cho người co bại tay vào ngày hưu lễ trong hội đường ở đoạn Phúc Âm giữa hai bài Phúc Âm hôm qua và hôm nay, mà ngay đầu bài Phúc Âm hôm nay mới có câu: "Khi ấy, các người biệt phái đi ra ngoài, bàn mưu kế chống lại Chúa Giêsu để hãm hại Người".

Thế nhưng, vấn đề chính yếu của bài Phúc Âm hôm nay không phải là ở chỗ đó, chỗ liên quan với thành phần biệt phái này, mà là liên quan đến chính bản thân của Chúa Kitô, Đấng đến để đóng vai trò như thày thuốc cứu chữa thành phần bệnh nhân trên thế gian này (xem Mathêu 9:12), chứ không phải để tranh cãi và "luận phạt" (xem Gioan 3:17). Đó là lý do bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy khi những người Pharisiêu âm mưu hại Người thì: "Biết thế, Chúa Giêsu rời bỏ nơi ấy".

"Chúa Giêsu rời bỏ nơi ấy" không phải là vì Người sợ thành phần biệt phái ám hại Người, cho bằng để Người có thể tiếp tục sứ vụ cứu chữa khẩn trương của Người: "ai có bệnh, đều được Người chữa lành", một sứ vụ chính yếu sẽ được Người hoàn tất nơi Cuộc Vượt Qua của Người, và là một sứ vụ hoàn toàn phản ảnh tấm lòng yêu thương vô cùng nhân hậu của Người, đúng như những gì Tiên Tri Isaia đã báo trước về Người:

"Này là tôi tớ Ta đã chọn, là người Ta rất yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng. Ta sẽ cho Thần trí ngự trên Người. Người sẽ rao giảng sự công chính cho dân ngoại. Người không cãi cọ hay dức lác, và không ai nghe tiếng Người ngoài đường phố. Người không bẻ gãy cây sậy đã giập, không dập tắt tim đèn còn khói, cho đến lúc Người khiến sự công minh được toàn thắng. Dân ngoại sẽ hy vọng vào danh Người".

Thật ra, theo con mắt trần gian thì khó lòng mà nhận biết nhân vật Giêsu Nazarét "là Đức Kitô (Đấng Thiên Sai), Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), nên dân làng của Người và thành phần biệt phái cùng luật sĩ và những nhân vật trong Hội Đồng Đầu Mục Do Thái đã khó lòng chấp nhận Người, cho đến độ đã cho Người là lộng ngôn phạm thượng và lên án tử cho Người.

Tuy nhiên, nếu họ biết thật Thiên Chúa là ai và như thế nào thì họ sẽ nhận biết Đấng Ngài sai. Đó là lý do chính Chúa Giêsu đã khẳng định là dân Do Thái không tin vào Người là vì họ không tin Thiên Chúa, không nhận biết Người là vì họ không nhận biết Thiên Chúa hay nhận biết một cách sai lệch: "Quí vị chẳng biết Tôi cũng chẳng biết Cha Tôi. Nếu quí vị biết Tôi thì quí vị cũng phải biết Cha Tôi nữa" (Gioan 8:19).

Đúng thế, nếu "Thiên Chúa là Tình yêu" (1Gioan 4:8,16) vô cùng nhân hậu, Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất đã thủy chung với dân Do Thái theo những gì Ngài đã hứa với tổ phụ của họ, và đã vô cùng nhẫn nại với họ là thành phần liên lỉ trắng trợn bất trung bội nghĩa với Ngài trong suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, thì quả thật Đấng Thiên Sai của Ngài phải là "Người không bẻ gãy cây sậy đã giập, không dập tắt tim đèn còn khói, cho đến lúc Người khiến sự công minh được toàn thắng. Dân ngoại sẽ hy vọng vào danh Người".

Việc "các người biệt phái đi ra ngoài, bàn mưu kế chống lại Chúa Giêsu để hãm hại Người. Biết thế, Chúa Giêsu rời bỏ nơi ấy", được Thánh ký Mathêu thuật lại ở ngay đầu bài Phúc Âm hôm nay quả thực đã được Sách Tiên Tri Mica ở Bài Đọc 1 cũng hôm nay thuật lại liên quan đến mưu đồ gian ác của họ và hậu quả họ phải hứng chịu như sau:

"Khốn cho những kẻ suy tính điều gian ác, và mưu đồ việc xấu xa trong phòng mình. Sáng ngày, chúng thực hiện điều đó, vì tay chúng chống lại Thiên Chúa. Chúng tham lam và dùng võ lực chiếm lấy ruộng đất, nhà cửa kẻ khác. Chúng ức hiếp người ta, phá phách nhà họ, chủ nhà và sản nghiệp của họ. Vì thế, Chúa phán thế này: Ðây Ta toan giáng hoạ trên dòng giống này mà các ngươi không thoát được, các ngươi không ngước đầu lên mà đi được nữa, vì đây là thời kỳ tai hoạ".

Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay cũng cảm nhận được sự vắng mặt đầy hiện diện thần linh của Thiên Chúa như thể "Ngài ẩn mặt trong lúc gian truân, đang khi đứa ác kiêu căng, người nghèo bị hại, bị trúng mưu gian nó đã bày ra?" (Câu Xướng 1), trái lại, Ngài vẫn hiện diện thần linh ngay trong lúc con người khổ đau cảm thấy như Ngài vắng mặt: "Nhưng Ngài thấy, Ngài nhìn nỗi tân toan sầu khổ, để rồi Ngài đỡ lấy trong tay. Kẻ cơ bần đem thân phó thác cho Ngài, Ngài là Ðấng phù trợ kẻ mồ côi" (Câu Xướng 4).

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

---------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LM NGO TON HUAN PDF Print E-mail

TẠI SAO THIÊN CHÚA CHỈ PHÁN XÉT RIÊNG CON NGƯỜI VỀ NHỮNG VIỆC NGƯỜI TA LÀM TRONG CUỘC SỐNG NÀY?
Hỏi :
xin cha giải thích giúp : Tại sao Thiên Chúa chỉ phán đoán để thưởng hay phạt riêng con người mà thôi ?
Trả lời :
Thiên Chúa tạo dựng muôn oài muôn vật trong đó có con người được tạo dựng "theo hình ảnh Thiên Chúa" ( St 1:27) nên Thiên Chúa chỉ phán đoán con người mà thôi.
Sở dì Thiên Chúa chỉ phán đoán con người vì Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con người hai quà tặng đặc biệt : đó là có trí hiểu ( intelligence)và ý muôn tự do ( Free will). Trí hiểu để hiểu biết và ý muốn tự do để chọn lựa bao lâu còn sống trên trần thế và trong thân xác và có ngày phải chết đi này.
Thật vậy, vấn đề tự do của con người được đặt ra vì có liên quan mật thiết đến sự thưởng phạt của Thiên Chúa dành riêng cho mỗi người trong ngày sau hết của một đời người hay trong ngày cánh chung của toàn thể nhân loại, tức ngày tận thế..
Vậy căn cứ vào đâu để quả quyết rằng con người có ý muốn tự do mà Thiên Chúa đã ban tặng và hoàn toàn tôn trọng cho con người xử dụng bao lâu còn sống trên trần thế này ? .
Đúng thế, như đã nói ở trên, Thiên Chúa đã tạo dựng con người với hai đặc tính cá biết khác với mọi loài thụ tạo khác. Đó là có trí hiểu biết và ý muốn tự do ( Intelligence and free will) mà Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con người.mà thôi, Nhờ trí khôn hiểu biết, con người khám phá ra Thiên Chúa qua công trình sáng tạo vụ trụ hữu hình và đặc biết là tạo dựng con người là loài " linh ư vạn vật". Nhờ quà tặng ý muốn tự do(free will), Thiên Chúa tôn trọng cho con người được tự do chọn lựa sống theo lý trí ,theo đường ngay lẽ phải hay theo đường nẻo gian tà bất chính.Nói khác đi, khi đã nhận biết và tin có Thiên Chúa thì con người có muốn sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo ý muốn của riêng mình trong suốt đời sống trên trần gian này.
Để trả lời cho câu hỏi trên , Kinh Thánh Tân và Cựu Ước cho ta những bằng chứng cụ thể về tự do của con người như sau::
Trước hết , Sách Sáng Thế, cho ta biết, khi Thiên Chúa muốn thử thách tự do vâng phục của Adam và Eva, nên Người đã phán bảo họ như sau :
" Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái cây của cây cho biết điều thiện điều ác Thì ngươi không được ăn ;vì ngày nào ngươi ăn, ngươi sẽ phải chết. " ( St 2:16-17).
Kết quả cho thấy là hai ông bà đã tự do chọn không vâng phục Thiên Chúa khi họ ăn trái cấm theo lời dụ dỗ của con Rắn.Phải nói họ tự do chọn lựa không vâng phục Thiên Chúa nên họ đã
chịu hậu quả trước tiên là " măt hai người mở ra và họ thấy mình trần truồng , họ mới kết lá và làm khố che thân." (St 3:7)
Nhận biết mình trần truồng là hậu quả nhãn tiền sau khi đã đánh mất " sự ngây thơ , công chính ban đầu (original innocence and justice)"..một tình trạng ơn phúc giúp cho Adam và Eva có thể đứng vững trước mọi cám dỗ của xác thịt và ma quỉ. Nhưng họ đã tự đánh mất ơn phúc đó khi sa ngã vì đã sử dụng " ý muốn tự do =( free will) chứ không vì bản chất yếu đuối do hậu quả của tội nguyên tổ như con người chúng ta ngày nay.
.Chính vì Eva đã sử dụng ý muốn tự do khi nghe lời dụ dỗ của con rắn để ăn trái cấm và đưa lại cho Adam ăn khiến hai người bị đuổi khỏi vườn địa đàng và chịu hậu quả của sự bất phục tùng Thiên Chúa là phải chết về mặt thiêng liêng vì mất tinh thân với Chúa.
Ngược lại, khi Thiên Chúa thử thách lòng tin yêu của Abraham bằng cách đòi ông hy sinh con một của mình là I-xa-ác, ông đã xử dụng ý muốn tự do để quyết định tuân theo ý muốn của Thiên Chúa khi dẫn con lên núi và định giết nó làm lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa. Nhưng Chúa đã kịp thời sai Sứ thần can thiệp để cứu mang sống của I-xa-ác vì đã thấy lòng tin yêu của Abraham. Chính vì ông đã tự do chọn lựa vâng theo thánh ý Chúa, nên Chúa đã phán bảo ông như sau:
" Ta lấy danh Ta mà thề : bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi đông nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển....chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta." (St 22: 15-18)
Như thể đủ cho thấy là ngay từ đầu Thiên Chúa đã cho con người có tự do thực sự để vâng nghe lời Người như Abraham hay bất tuân như Adam và Eva khiến cho toàn thể nhân loại phải chịu chung hậu quả của sự chọn lựa sai trái của hai người .
Nếu con người không có tự do lựa chọn và chỉ biết làm theo mệnh lệnh như những người máy Robbots thì Thiên Chúa đã không nói trước cho Adam và Eva biết về hậu quả mà họ sẽ phải lãnh nhận nếu họ ăn trái cấm.
Vì cho họ có tự do lựa chọn nên Thiên Chúa đành để cho hai người phải chịu hậu quả của sự bất tuân là mất tình thân với Chúa và di hại đến toàn thể nhân loại cho đến ngày nay.
Và để nối lại tình thân đó, Thiên Chúa đã sai Con Một của Người là Chúa Giê su-Kitô đến trần gian để chịu đau khổ thập giá và hy sinh mạng sống mình " làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20:28)
Mặt khác, cũng vì Thiên Chúa cho con người có tự do và tôn trọng cho con người sử dụng tự do đó mà Thiên Chúa đã ban những Giới Răn của Người cho dân Do Thái trước tiên và cho toàn thể nhân loại ngày nay-nói chung- được tự do tuân giữ để được chúc phúc hay tự do bất tuân để bị luận phạt như ông Môsê đã nói với dân Do Thái xưa kia như sau:
" Anh em hãy lo thực hành như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em .Không đi trệch bên phải bên trái.Anh em hãy đi đúng con đường mà ĐỨC CHÚA,Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em để anh em được sống, được hạnh phúc và được sống lâu trên mặt đất mà anh em đã được chiếm hữu." ( Đnl 5: 32-33)
Như thể cho thấy rõ là nếu con người sử dụng ý muốn tự do của mình để tuân giữ những giới răn của Thiên Chúa thì sẽ được chúc phúc ngay trong cuộc sống ở trần gian này trước khi được vui hưởng Thánh Nhan Chúa mai sau trên Nước Trời.
Cũng trong mục đich hướng dẫn con người biết khôn ngoan chọn lựa khi sống trên đời này mà tác giả sách Huấn Ca ( Sirach) đã được linh ứng (inspired) để đưa ra những lời khuyên nhủ như sau :

" Từ nguyên thủy, chính Chúa đã làm nên con người
Và để nó tự quyết định lấy
" Nếu con muốn thì hãy giữ các điều răn
mà trung tín làm đẹp ý Người
Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước
Con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy
Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử
Ai thích gì sẽ được cái đó..." ( Hc 15: 14-17)
Lời khuyên trên một lần nữa cho ta thấy rõ là con người có tự do để làm điều lành và tránh điều dữ, điều trái với lương tâm , một cơ năng mà Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con ngươi để nhờ đó con người ở khắp nơi và thuộc mọi chủng tộc ngôn ngữ biết phân biện giữa sự thiện và sự dữ để chọn lựa trong cuộc sống trên trần gian này.
Đó cũng là lý do tại sao Chúa Giê su đã nói với các môn đệ xưa:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa ! lậy Chúa"! là được vào Nước Trời cả đâu.Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." Mt 7: 21)
Thi hành ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa là xử dụng ý muốn tự do tự do để chọn sống theo ý muốn của Cha trên trời , sồng theo đường lối của Người là đường dẫn đến sự sống muôn đời; thay ví sống theo thế gian, chiều theo những đòi hỏi bất chánh của xác thịt để làm những sự dữ như giết người, giết thai nhi ,hận thù, khủng bố, tôn thờ tiền của, dâm ô và buôn bán thân xác của phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi, như thực trạng sống của biết bao người trong thế giới tục hóa ngày nay.
Đó là lý do phải có Thiên Đàng để dành cho những người tự do sống theo đường lối của Chúa và phải có hỏa ngục để dành cho những kẻ khước từ Chúa để làm những sự dữ sự tội điều gian ác , tội lỗi dẫn đến sự chết của linh hồn vì phải xa lìa Chúa trong nơi gọi là " hỏa ngục". Thiên Chúa không muốn phạt ai trong nơi đáng sợ này vì ' Người muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1 Tm 2 :4) ).
Nhưng vì con người có tự do để chọn lựa sống theo thánh ý Chúa hay quay lưng lại với Người nên những ai đã và đang chối bỏ Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình từ trong tư tưởng ra ngoài hành động thì chắc chắn đã tự chọn cho mình chỗ ở cuối cùng là hậu quả tất nhiên của ý muốn tự do ( free will). Nói khác đi,, nếu ai muốn dùng tự do của mình để theo đuổi một mục tiêu nào thì sẽ phải trả giá cho sự chọn lựa đó như Thánh Phaolô đã dạy sau:đây:
" Anh em không biết sao ? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai thì anh em là nô lệ của người mà anh em vâng phục : hoặc làm nô lệ tội lỗi thì sẽ phải chết, hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa thì sẽ được nên công chính." ( Rm 6: 16)
Tuy nhiên ,cũng cần nói thêm ở đây một lần nữa là mặc dù con người có tự do để quyết định làm điều lành tránh điều gian ác, điều tội lỗi, nhưng tự do ấy cũng bị hạn chế vì bản chất yếu đuối nơi con người do hậu quả của tội nguyên tổ. Nghĩa là, con người luôn bị dằng co giữa tiếng nói của lương tâm, của lý trí và những khuynh hướng hay thế lực nghiềng chiều về đường xấu , đường tội lỗi vẫn hoạt động song song và mạnh mễ bên cạnh lương tâm và lý trí. Đó chính là tình trạng "mâu thuẫn" mà con người luôn phải tranh đấu trong nội tâm để có thể sống theo sự dướng dẫn của lý trí và lương tâm để biết dùng tự do của mình cách chính đáng, hữu ích cho phần rỗi của mõi người chúng ta..
Thánh Phaolô cũng đã trải qua kinh nghiệm "khó khăn nội tâm" đó nên ngài đã phải thú nhận như sau :
" Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm., nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó nhưng là tội vẫn còn trong tôi." (Rm.7 : 19-20)
Chính vì những khó khăn nội tại như vậy , kèm thêm sự cám dỗ mãnh liết của ma quỉ " kẻ thù của anh em như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" ( 1 Pr 5:8), như Thánh Phêrô đã dạy, nên cho được đứng vững để tự do bước đi theo Chúa Kitô là Đường, là sự Thật và là sự Sống( cf.Ga 14:6) thì chúng ta khẩn thiết phải cần ơn Chúa để có thể can đảm chọn lựa những gì hữu ích cho phần rỗi của mình , vì " không có Thầy, anh em chẳng làm gì được." ( Ga 15: 5). Nghĩa là với ơn Chúa giúp sức cộng thêm thiện chí đóng góp của cá nhân thì con người sẽ thắng vượt mọi trở ngại và biết sống cách đẹp lòng Chúa để được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn; vì Người là Cha nhân lành đầy lòng thương xót và luôn sẵn lòng ban ơn cần thiết cho những ai muốn sống theo đường lối của Người để đi vào cõi sống hạnh phúc muôn đời mai sau trên Nước Trời..
Nói khác đi. chúng ta phải tỏ thiện chí muốn dùng tự do để cộng tác với ơn Chúa trong quyết tâm từ bỏ tội lỗi, xa tránh những lối sống của " văn hóa sự chết" đang lan tràn ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Nếu không có thiện chí và quyết tâm này thì Chúa không thể cứu ai được, vì Người phải tôn trọng tự do của con người, tự do đi đường sai trái gian tà hay tự do đi theo Chúa dẫn đến sự sống và hạnh phúc bất diệt trên cói vĩnh hằng.mai sau.
Tóm lại,những bằng chứng Kinh thánh nêu trên đủ cho ta biết con người có tự do thật sự để yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự, hay tự do khước từ Người , dủng dưng lời Chúa mời gọi vào tham dự Bàn Tiệc Nước Trời đã dọn sẵn cho những ai muốn hưởng niềm vui bất tận là chính Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Kitô. Amen.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

.
"

 
HOC HOI DE SONG DAO - CHUA BI DONG DINH PDF Print E-mail

Kristie Phan chuyển

Các nhà khoa học tuyên bố tìm ra ngày Chúa Jesus bị đóng đinh


Các nhà địa chất của Mỹ và Đức tuyên bố, họ đã phát hiện ra ngày Đức Ch��a Jesus bị đóng đinh lên cây thập tự sau khi nghiên cứu các hoạt động địa chấn tại Biển Chết.


Nhà địa chất học Jefferson Williams của hãng Supersonic Geophysical (Mỹ) cùng với các đồng nghiệp người Đức là Markus Schwab và Achim Brauer đã tìm hiểu 3 lõi đáy nằm ngoài bờ biển Ein Gedi Spa kế bên Biển Chết. Các mẫu đất thu được cho thấy, có ít nhất 2 trận động đất lớn gây ảnh hưởng đến phần lõi: một trận động đất vào năm 31 trước Công nguyên (TCN) và 1 trận nằm trong khoảng năm 26 đến 36 sau Công nguyên (SCN). Và điều trùng hợp là giai đoạn thứ 2 xảy ra đúng vào khoảng thời gian mà Pontius Pilate làm tổng đốc của thành Judea và đem Chúa Jesus đi hành hình.


Trong cuốn Phúc âm Matthew, chương 27 có viết rằng: khi Chúa Jesus bị đóng lên cây thập tự, "mặt đất rung chuyển, đá nứt vỡ". Như vậy ngày diễn ra cuộc hành hình, tức Ngày Thứ sáu tuần thánh là khá chính xác, nhưng năm của sự kiện trên vẫn còn là nghi vấn, Williams nói.


Khi đặt cùng với một số giả thiết từ cuốn Phúc âm Matthew, kết hợp với lịch Do Thái và dữ liệu về thiên văn học, các nhà khoa học đã tìm thấy ngày chính xác mà Chúa Jesus đã bị hành hình trên cây thập tự. Theo đó, Chúa Jesus đã b�� đóng đinh vào ngày thứ sáu ngày 3 tháng 3 năm 33 SCN, nhóm nghiên cứu cho biết.


Được biết, nguyên nhân dẫn đến cái chết của Chúa Jesus là do các trưởng lão của người Do Thái đã đố kỵ với việc quá nhiều người đi theo Jesus. Họ lo sợ rằng mình sẽ không còn được ai thờ phụng và cấp dưỡng nên đã bịa đặt tội trạng cho Chúa và đóng đinh ngài lên cây thập tự.

__._,_.___

 

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 144