mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1778
mod_vvisit_counterHôm Qua7440
mod_vvisit_counterTuần Này17942
mod_vvisit_counterTuần Trước54108
mod_vvisit_counterTháng Này173265
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11137858

We have: 115 guests online
Your IP: 54.166.141.12
 , 
Today: Jun 20, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO- TOI PHAM DEN THANH THAN PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
May 11 at 12:22 AM

TỘI PHẠM ĐẾN CHÚA THÁNH THẦN LÀ TỘI NÀO ?

Hỏi : Xin Cha giải thích rõ tại sao tội phạm đến Chúa Thánh Thần thì không được tha thứ?
Trả lời: Trong Tin Mừng Thánh Maccô, Chúa Giêsu nói: "Thầy bảo thật anh em: mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng, và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa, thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời" (Mc 3,28-29)
Chúng ta giải hiểu thế nào về lời dạy trên đây của Chúa Giêsu?
Trước hết, chúng ta cần nhớ lại những lời Chúa Giêsu đã nói với các Tồng Đồ về Chúa Thánh Thần như sau:
"Thầy ra đi thì có lợi cho anh em. Thật vậy, nếu Thầy không ra đi, Đấng Bảo Trợ sẽ không đến với anh em; nhưng nếu Thầy đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với anh em. Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi, về sự công chính và về việc xét xử..." (Ga 16: 7-8)
Đấng Bảo Trợ (the Paraclete) mà Chúa Giêsu nói đây chính là Chúa Thánh Thần. Ngài là Thần Chân Lý (the Spirit of Truth) là Thần Khí của Thiên Chúa (the Spirit of God) là Đấng được sai đến để "dẫn anh em tới sự thật toàn vẹn" (Ga 16, 13) một sự thật mà các Tông Đồ không thể hiểu thấu nếu không có sự trợ giúp của Thần Khí Chúa.
Vì thế, sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Giêsu đã hiện ra với các Tông Đồ, thở hơi vào các ông và nói "anh em hãy nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20: 22). Chúa ban Thánh Thần cho các Môn đệ để giúp họ thấu hiểu những điều Người đã dạy bảo họ trong 3 năm sống chung trước khi Người thọ nạn thập giá và lên Trời.
Khi lãnh nhận bí tich rửa tội, qua việc sức dầu thánh, chúng ta đã lãnh nhận một phần ơn Chúa Thánh Thần. Với bí tích thêm sức, ta được ban đầy đủ ơn của Chúa Thánh Thần để kiện toàn ơn tái sinh qua phép rửa và để "cho ta sức mạnh đặc biệt hầu loan truyền và bảo vệ đức tin bằng lời nói và việc làm với tư cách là những nhân chứng đích thực của Chúa Kitô, nghĩa là để tuyên xưng danh Chúa một cách can trường và không bao giờ hổ thẹn về Thập Giá của Người" (Sách Giáo Lý Công Giáo, số 2044).
Chính nhờ Thần Khí Chúa mà người tín hữu được lớn lên vững manh trong đức tin, được hiểu rõ hơn về Chân Lý của Chúa Giêsu, ý thức đầy đủ về nguy haị của tội lỗi, được thúc dục tin tưởng vào lòng thương xót, tha thứ của Thiên Chúa và được lòng yêu mến Người. Đây là đại cương những việc Chúa Thánh Thần đã và đang làm trong tâm hồn mọi tín hữu Chúa Kitô và trong Giáo Hội của Chúa từ thời sơ khai cho đến ngày nay và còn mãi mãi về sau cho đến hết thời gian.
Như vậy, tội phạm đến Chúa Thánh Thần là tội mang nội dung sau đây:
* Hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa là Cha nhân lành giầu lòng xót thương và tha thứ
* Từ khước ơn cứu chuộc của Chúa Kitô
* Phủ nhận Chân Lý mà Thần Khí Chúa đã mặc khải cho con người
* Không còn nhìn nhận tội lổi để xin được tha thứ
Tội nào cũng có thể được tha thứ nếu người ta còn tin tưởng vào lòng xót thương của Thiên Chúa. Vậy, nếu nhờ Thần Khí Chúa mà ta nhận biết Người là Cha nhân lành để chạy đến xin tha thứ mọi lỗi phạm vì yếu đuối, vì lầm lạc, thì điều kiện để được tha thứ là phải nhìn nhận tội lỗi của mình và còn tin tưởng vào lòng thương xót, thứ tha này của Chúa. Nếu chối từ Thiên Chúa, thất vọng hoàn toàn về tình thương tha thứ của Người cũng như không còn tin và yêu mến Người nữa là xúc phạm nặng nề đến chính Chúa Thánh Thần là Đấng đã giúp ta nhận biết Thiên Chúa là Cha nhân hậu, nhận biết công trình cưú chuộc vô giá của Chúa Kitô, và giúp ta nhìn nhận tội lỗi đã phạm. Chúa Thánh Thần cũng là Đấng đã nung lửa yêu mến Thiên Chúa trong lòng tín hữu. Do dó, xúc phạm đến Chúa Thánh Thần là bác bỏ mọi công việc Người đã làm trong linh hồn ta và trong Giáo Hội của Chúa Kitô.
Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã dạy: "ai nói phạm đến Con Người (tức Chúa Giêsu) thì được tha, nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau" (Mt 12: 32).
Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, trong Tông Thư "Dominum et Vivificantem" (Chúa là Đấng ban sự sống) cũng nói như sau về tội phạm đến Chúa Thánh Thần: "Tội phạm đến Chúa Thánh Thần không phải chỉ đơn thuần xúc phạm đến Người bằng lời nói mà hệ tại sự chối từ nhận lãnh ơn cứu chuộc mà Thiên Chúa ban cho con người qua Chúa Thánh Thần hoạt động qua quyền lực của Cây Thập Giá" (cf. ibid. no. 46.3).
Tóm lại, tội phạm đến Chúa Thánh Thần không thể tha thứ được vì kẻ xúc phạm đã hoàn toàn khước từ Thiên Chúa và tình thương tha thứ của Người. Nếu đã không còn tin Chúa để chạỵ đến xin Người tha thứ tội lỗi thì làm sao thứ tha được nữa?
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU NAM - CN6PS-B PDF Print E-mail

Thứ Năm - CN6PS-B

(Hôm nay đúng 40 ngày sau Phục Sinh là Lễ Trọng Chúa Giêsu Thăng Thiên và là Lễ Buộc.

Thường chỉ có Tòa Thánh Rôma và các Dòng Tu mới mừng đúng ngày, còn hầu như ở các giáo xứ sẽ mừng vào Chúa Nhật vì lý do mục vụ.

Bởi thế cho nên ở đây chúng ta vẫn tiếp tục phụng vụ Lời Chúa cho ngày Thứ Năm trong Tuần VI Phục Sinh liên tục như thường)

HOC HOI - CAM NGHIỆM - SỐNGPhúc Âm (Gioan 16:16-20)

Sự Hiện Diện Thần Linh là những gì bất khả thiếu đức tin, vì chỉ có đức tin mới có thể cảm nhận được sự hiện diện thần linh mà thôi, cho dù là trong những lúc đau thương khốn khó nhất. Đó là lý do trong bài Phúc Âm cho Thứ Năm của Tuần VI Phục Sinh này, một bài Phúc Âm cũng rất thích hợp với ý nghĩa của biến cố Chúa Giêsu Thăng Thiên hôm nay, Chúa Giêsu mới nói đến một tình trạng rất ư là khó hiểu đối với tâm thức tự nhiên của các tông đồ: "Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy".

"'Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy.' Bấy giờ vài người trong nhóm môn đệ của Đức Giê-su hỏi nhau: 'Người muốn nói gì khi bảo chúng ta: Ít lâu nữa, anh em sẽ không trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy và Thầy đến cùng Chúa Cha?' Vậy các ông nói: 'Ít lâu nữa' nghĩa là gì? Chúng ta không hiểu Người nói gì!' Đức Giê-su biết là các ông muốn hỏi mình, nên bảo các ông: 'Anh em bàn luận với nhau về lời Thầy nói: Ít lâu nữa, anh em sẽ không trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy. Thật, Thầy bảo thật anh em: anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui'".

Chúa Giêsu tuy không trực tiếp trả lời cho những gì các vị thắc mắc về vấn đề thời gian 'ít lâu nữa' các vị 'không thấy Thày' rồi lại 'thấy Thày', nhưng Người đã trấn an các vị và khẳng định cho các vị thấy một dấu hiệu Người vẫn ở với các vị, sẽ hiện diện thần linh nơi các vị, ở chỗ, đó là cho dù các vị "sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng", cuối cùng các vị chẳng những không cảm thấy chán nản bỏ cuộc, trái lại, chính "nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui" nơi các vị, như đã từng xẩy ra thực sự nơi hai Tông Đồ Phêrô và Gioan sau khi bị đánh đòn và thả về: "Họ cho gọi các Tông Đồ lại mà đánh đòn và cấm các ông không được nói đến danh Đức Giê-su, rồi thả các ông ra. Các Tông Đồ ra khỏi Thượng Hội Đồng, lòng hân hoan bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục vì danh Đức Giê-su". (Tông Vụ 5:40-41).

"Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy" ở đây thực sự là liên quan đến thực tại hiện diện thần linh. Câu này có thể hiểu hai nghĩa khác nhau nhưng tương tự như sau. Nghĩa thứ nhất đó là Chúa Giêsu bỏ môn đệ mà đi chịu chết: "Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy", nhưng đến ngày thứ ba Người đã phục sinh từ trong kẻ chết và hiện ra với các vị: "rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy". Nghĩa thứ hai đó là Chúa Kitô Thăng Thiên về cùng Cha là Đấng đã sai Người: "Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy", nhưng sau đó Người đã từ Cha sai Thánh Linh đến để nhờ Ngài mà "ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mathêu 28:20).

Trong đời sống tu đức cũng thế, sự hiện diện thần linh theo kiểu "Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy" có thể hiểu về trường hợp hiệp lễ và trước hoặc sau hiệp lễ. Đúng thế, khi Kitô hữu hiệp lễ là họ được Chúa Kitô hiện diện nơi cả linh hồn và thân xác của họ bằng chính Mình Thánh và Máu Thánh của Người, nghĩa là một Chúa Kitô bằng xương bằng thịt đàng hoàng, nhưng dưới dạng Bánh Thánh và Rượu Thánh, như thể họ được thấy Người.

Thế nhưng, sự hiện diện của Chúa Kitô bằng Thánh Thể của Người, qua Bánh Thánh và Rượu Thánh, chỉ kéo dài trong chốc lát, cho tới khi Bánh Thánh và Rượu Thánh tan biết trong thân xác của họ, và bấy giờ Người hiện diện nơi họ bằng Thánh Thần của Người, một Thánh Thần Người ban cho họ mỗi khi họ rước lấy Mình Máu Thánh của Người, một thân xác đã phục sinh và đã hiện ra với các tông đồ để thông ban Thánh Thần của Người cho các vị thế nào thì Người cũng thông Thánh Thần của Người cho ai rước lấy Người như vậy, như thân nho thông truyền cho cành nho để họ nhờ đó sinh dồi dào hoa trái.

Ngoài ra, trong giòng lịch sử của Giáo Hội, vẫn có một thiểu số tâm hồn Kitô hữu nào đó, được đặc ân trải qua cảm nghiệm thần linh "Ít lâu nữa, anh em sẽ không còn trông thấy Thầy, rồi ít lâu nữa, anh em sẽ lại thấy Thầy" bất khả thiếu để có thể được hiệp nhất nên một với Chúa bằng một đức tin tinh tuyền. Thật vậy, tu đức Kitô giáo, theo các thánh và các nhà thần bí, được chia ra làm 3 giai đoạn: khởi sinh (giai đoạn từ bỏ thế gian và tội lỗi), tiến sinh (giai đoạn tập tành các nhân đức trọn lành), và hiệp sinh (giai đoạn chiêm niệm bằng một tấm lòng gắn bó với Thiên Chúa và hiệp nhất nên một với Ngài, đến độ Ngài sống trong họ và làm chủ họ).

Tuy nhiên, để "vượt qua" từ giai đoạn tu đức tiến sinh lên giai đoạn hiệp sinh, tâm hồn thường phải trả qua một tình trạng được gọi là Đêm Tối Tăm, bằng một cuộc thử thách đức tin kinh hoàng, đến độ có những lúc cảm thấy mình bị Thiên Chúa loại trừ, và Thiên Chúa trở thành một hung thần v.v. Tuy nhiên, nếu tiếp tục sống đức tin, cho dù "không thấy Chúa đâu" (Mathêu 25:37-39,44), như Mẹ Thánh Têrêsa Calcutta từng trải nghiệm gần 50 năm tối tăm mịt mù mà vẫn vui tươi phục vụ những người anh chị em hèn mọn nhất của Chúa Kitô, thành phần nghèo nhất trong các người nghèo, tâm hồn "sẽ lại được thấy Thày", nhưng bấy giờ ở một mức độ siêu việt, mức độ của một "sự sống viên mãn hơn" (Gioan 10:10).

Bài Đọc 1 (Tông Vụ 18:1-8)

Nếu nhờ sự hiện diện thần linh của Chúa Kitô bởi Thánh Thần của Người nơi các tông đồ mà "anh em sẽ khóc lóc và than van, còn thế gian sẽ vui mừng. Anh em sẽ lo buồn, nhưng nỗi buồn của anh em sẽ trở thành niềm vui", thì đã quả thực xẩy ra nơi trường hợp của vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô trong bài đọc 1 hôm nay. Ở chỗ, vị tông đồ này bị chống đối bởi chính đồng hương và đồng đạo của mình, thật là đắng cay chua xót, như chính lời ngài thẳng thắn ngỏ cùng họ trong bài đọc 1 hôm nay. Tuy nhiên, nỗi xót xa cay đắng khổ tâm gây ra cho ngài bởi chính dân của ngài ấy đã trở thành niềm vui trong ngài khi ngài thấy tác động thần linh đã tỏ hiện lạ lùng nơi một gia đình "dân ngoại tôn thờ Thiên Chúa" cũng như nơi nhiều người dân ngoại khác ở "Corinto":

"Khi ông Xi-la và ông Ti-mô-thê từ Ma-kê-đô-ni-a xuống, thì ông Phao-lô chỉ lo giảng, long trọng làm chứng cho người Do-thái biết rằng Đức Giê-su chính là Đấng Ki-tô. Bởi họ chống đối và nói lộng ngôn, nên ông giũ áo mà bảo họ: 'Máu các người cứ đổ xuống trên đầu các người! Phần tôi, tôi vô can; từ nay trở đi, tôi sẽ đến với người ngoại'. Ông rời bỏ chỗ ấy đến nhà một người ngoại tôn thờ Thiên Chúa, tên là Ti-xi-ô Giút-tô, ở sát bên hội đường. Ông Cơ-rít-pô, trưởng hội đường, tin Chúa, cùng với cả nhà. Nhiều người Cô-rin-tô đã nghe ông Phao-lô giảng cũng tin theo và chịu phép rửa".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU TU- CN6PS-B PDF Print E-mail

Thứ Tư CN6PS- B

HỌC HỎI -CẢM NGHIÊM - SỐNG: Phúc Âm (Gioan 16:12-15)

Chiều kích Hiện Diện Thần Linh cho Tuần VI Phục Sinh tiếp tục liên quan đến Thánh Linh trong bài Phúc Âm Thứ Tư hôm nay. Ở chỗ, nhờ sự hiện diện thần linh của Ngài, trong khi thế gian được Ngài làm sáng tỏ cho thấy những gì là tội lỗi, công chính và hình phạt, các vị được Ngài "dẫn vào tất cả sự thật", nghĩa là được thông hiểu tất cả những gì Chúa Kitô đã mạc khải cho các vị và dạy dỗ các vị khi Người còn ở bên các vị và ở với các vị bằng xương bằng thịt, nhưng bấy giờ các vị chưa sâu xa cảm nhận và thấu hiểu, vì chưa có được chính Thần Linh thông biết của Người.

"Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: 'Thầy còn nhiều điều phải nói với các con, nhưng bây giờ các con không thể lĩnh hội được. Khi Thần Chân lý đến, Người sẽ dạy các con biết tất cả sự thật, vì Người không tự mình mà nói, nhưng Người nghe gì thì sẽ nói vậy, và Người sẽ bảo cho các con biết những việc tương lai. Người sẽ làm vinh danh Thầy, vì Người sẽ lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con. Tất cả những gì Cha có, đều là của Thầy, vì thế Thầy đã nói: 'Người sẽ lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con'".

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Kitô còn tỏ cho chúng ta thấy Mầu Nhiệm Ba Ngôi, về mối Liên Hệ Thần Linh nơi Ba Ngôi Thiên Chúa. Ở chỗ: "Tất cả những gì Cha có, đều là của Thầy, vì thế Thầy đã nói: 'Người sẽ lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con'".

Trước hết là mối liên hệ thần linh giữa Ngôi Cha và Ngôi Con: "tất cả những gì Cha có, đều là của Thầy" tức Chúa Kitô là "hiện thân bản thể Cha" (Do Thái 1:3) - "Cha yêu Con và đã ban hết mọi sự cho Con" (Gioan 3:35); Cha thực sự ở nơi Người và tỏ mình ra qua Người là Đấng "tỏ Cha ra" (Gioan 1:18), cho đến độ "Cha và Ta là một" (Gioan 10:30) để "ai thấy Thày là thấy Cha" (Gioan 14:9).

Sau nữa là mối liên hệ thần linh giữa Cha và Con với Thánh Thần: "Người sẽ lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con", nghĩa là Thánh Thần chẳng những bởi Cha mà còn "bởi Con mà ra" như Kinh Tin Kính của Giáo Hội Công Giáo vẫn tuyên xưng, và Vị "Thần Chân Lý" là Nội Tâm của Thiên Chúa này (xem 1Corintô 2:10), là chính Liên Hệ Thần Linh giữa Ngôi Cha và Ngôi Con ấy, truyền đạt cho các tông đồ nói riêng và Giáo Hội nói chung chính Chúa Kitô là tất cả mạc khải thần linh về Thiên Chúa và của Thiên Chúa, tức là làm cho Giáo Hội được hoàn toàn hiệp thông thần linh với Chúa Kitô: "như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha" (Gioan 17:21).

Ngoài ra, còn một chi tiết trong bài Phúc Âm hôm nay cần được sáng tỏ, đó là câu Chúa Giêsu nói: "Thầy còn nhiều điều phải nói với các con...". Người không có ý nói rằng Người còn nhiều điều "mới mẻ" chưa nói hết cần phải nói cho hết hay Thánh Thần sẽ đến "nói thêm" thay cho Người. Bởi vì, là Lời Nhập Thể, Người là tất cả mạc khải thần linh của Cha và về Cha, và Người "đã tỏ Cha ra" (Gioan 1:18) bằng chính đời sống của Người, bằng tâm ngôn hành của Người, nhất là bằng cuộc Vượt Qua của Người. Người đã cho các môn đệ của Người nói riêng và dân Do Thái nói chung về cả những sự dưới đất cũng như trên trời (xem Gioan 3:12): những sự dưới đất đây bao gồm đường lối để con người tạo vật có thể đến cùng Thiên Chúa, trong đó có việc tái sinh bởi trời và các mối phúc đức v.v.; những sự trên trời đây bao gồm chính bản thân Thiên Chúa là ai, như thế nào và Nước Trời.

Thật ra không phải là Người còn nhiều điều (many things - về lượng) phải nói với các môn đệ, mà là Người còn phải nói nhiều hơn nữa (much more - về phẩm), nghĩa là không phải Người nói chưa hết những gì Người muốn nói, mà chỉ là những gì Người cần giải thích cho các vị hiểu thêm, hiểu hơn, hiểu hết về những gì Người đã tỏ ra cho các vị, và những dẫn giải này sẽ được Thánh Thần là Đấng Phù Trợ các vị do Người từ Cha sai đến với các vị sẽ làm cho các vị thấu triệt khi "Ngài sẽ dẫn các con vào tất cả sự thật", nghĩa là nắm bắt được ý nghĩa sâu xa của những gì Chúa Kitô tỏ ra cho các vị, nhất là bản thân của chính Người là Đấng các vị đã được mắt thấy, tai nghe và tay sờ (xem 1Gioan 1:1) để có thể làm chứng về Người dưới tác động thần linh của Thánh Thần.

Đó là lý do Giáo Hội vẫn chủ trương Thánh Thần đến là để tiếp tục và hoàn tất sứ vụ của Chúa Kitô mà thôi, chứ không phải để thi hành một sứ vụ khác, một sứ vụ hoàn toàn khác biệt với Chúa Kitô. Chính vì thế mà Thánh Thần đến là để "làm chứng về Thày", "Ngài không tự mình mà nói", trái lại, "Ngài sẽ lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con". Bởi thế, tất cả những gì được cho là xuất phát từ Thánh Linh mà không hoàn toàn và thực sự phản ảnh Chúa Kitô thì không phải từ Thánh Linh. Hay nói ngược lại, tất cả những gì Chúa Giêsu không nói, không làm, không phản ứng, như được Phúc Âm thuật lại, thì chẳng bao giờ Thánh Linh thúc đẩy người ta làm.

Căn cứ vào nguyên tắc này, một nguyên tắc liên hệ mật thiết giữa Chúa Kitô và Thánh Thần như thế, có thể nói rằng việc đặt tay chữa lành và nói tiếng lạ chẳng ai hiểu gì không xuất phát từ Thánh Linh và không phải của Thánh Linh, vì chẳng bao giờ thấy Chúa Kitô trong các Phúc Âm đặt tay ngã lăn quay (và luôn cần phải có người đỡ đằng sau cho "nạn nhân" khỏi ngã) mới có thể chữa lành hay chẳng bao giờ thấy Người nói tiếng lạ chẳng ai hiểu gì.

Có thể đặt vấn đề với những ai có thể đặt tay ngã lăn quay lẫn người cho rằng mình được chữa lành nhờ đặt tay, về cả thực tế liên quan đến hiện tượng Thánh Linh lẫn nguyên tắc liên quan đến thực tại Thánh Linh như sau:

Về hiện tượng Thánh Linh: 1- Hiện tượng đặt tay ngã lăn quay bởi đâu, bởi Thánh Linh hay bởi loài người hoặc bởi ma quỉ? 2- Nếu bởi Thánh Linh thì từ người đặt tay hay từ người được đặt tay? 3- Nếu từ người đặt tay thì tại sao các vị giám mục đặt truyền chức linh mục các vị phó tế không ngã lăn quay - như thế thì chẳng nhẽ việc truyền chức linh mục không thành, bởi Thánh Thần không xuống trên các vị thụ phong; nếu Thánh Linh từ người được đặt tay chứ không phải từ người đặt tay thì các vị phó tế tự phong chức linh mục cho mình, chẳng cần đến các vị đặt tay mà không có Thánh Linh?

Về thực tại Thánh Linh: 1- Thánh Linh từ đâu đến? 2- Thánh Linh được sai đến để làm gì? 3- Nếu Thánh Linh từ Cha mà đến và để làm chứng cho Chúa Kitô, mà Chúa Kitô không hề chữa lành bằng cách đặt tay ngã lăn quay và cần có người đỡ lưng cho khỏi té ngã, thì việc đặt tay ngã lăn quay không từ Thánh Linh và bởi Thánh Linh. Chính Chúa Kitô đã đặt tay trên các em bé nhưng chẳng có em nào ngã...! Vậy thì một là Người không có Thánh Linh hay là các em nhỏ không có Thánh Linh??? Ai dám cam đoan rằng mình đặt tay lên đầu Đức Giáo Hoàng thì ngài chắc chắn ngã lăn quay hay chăng?

Mới đây hiện tượng chữa lành bằng cách đặt tay ngã lăn quay lại còn có tính cách Lòng Thương Xót Chúa nữa, cho nó có vẻ chính đáng hơn. Tuy nhiên, hai vị Thánh tiêu biểu nhất của Lòng Thương Xót Chúa là Thánh Faustina và Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II không hề chữa lành bằng cách đặt tay ngã lăn quay như thế. Trái lại, các vị chỉ chữa lành bằng cách chịu đựng khổ đau để cứu các linh hồn về phần thiêng liêng mà thôi. Chính Chúa Kitô là Đấng vô cùng thương xót có thể xuống khỏi thập giá mà vẫn không tự cứu mình, trái lại, cứ tiếp tục chịu khổ cho đến cùng để cứu các linh hồn.

Bài Đọc 1 (Tông Vụ 17:15,22 - 18:1)

Chính nhờ Hiện Diện Thần Linh của Thần Chân Lý mà vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô đã tỏ ra hết sức khôn ngoan trong bài giảng ở thủ đô của một đất nước có thể nói là văn minh nhất về tri thức bấy giờ đó là Hy Lạp, đến độ bài giảng này và đường lối của ngài diễn giải là mô phạm cho tính cách truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội và cho Giáo Hội. Ở chỗ, không đả phá, trái lại, còn biết lợi dụng chính những yếu tố được coi là mầm mống thần linh nơi tâm thức và văn hóa của con người, trong trường hợp của bài đọc 1 hôm nay là vị "Thần vô danh" để có thể phúc âm hóa, để hướng họ về "tất cả sự thật", về Vị "Thiên Chúa, Ðấng đã tác tạo vũ trụ và vạn vật trong vũ trụ", rồi từ đó, từ nguyên lý chung hợp với tâm thức của chung nhân loại ấy, ngài đã dẫn thành phần thính giả luôn tìm kiếm sự khôn ngoan, (như Người Do Thái tìm kiếm dấu lạ), đến Chúa Kitô Cứu Thế, "Ðấng từ cõi chết sống lại để mọi người tin".

"Bấy giờ Phaolô đứng giữa đồi Arêôpagô mà nói: 'Kính thưa quý vị người Athêna, tôi nhận thấy quý vị rất sùng tín về mọi mặt. Vì khi đi ngang qua, nhìn các tượng thần của quý vị, tôi cũng thấy một bàn thờ có ghi chữ: Kính Thần vô danh. Vậy Ðấng quý vị thờ mà không nhận biết, thì tôi xin loan báo Người cho quý vị. Thiên Chúa, Ðấng đã tác tạo vũ trụ và vạn vật trong vũ trụ, Người là Chúa trời đất, nên không ngự nơi đền thờ do tay người phàm làm ra. Người cũng không cần bàn tay người phàm phụng sự như thể thiếu thốn điều gì, vì chính Người ban cho mọi người sự sống, hơi thở và hết mọi sự. Người đã làm cho toàn thể loài người từ một nguyên tổ lan tràn khắp mặt đất. Người phân định thời hạn rõ rệt và biên giới chỗ họ ở, để họ tìm thấy Thiên Chúa nếu họ cố gắng dò dẫm tìm gặp Người, vì thật ra Người không ở xa mỗi người chúng ta. Vì chưng ta sống, ta cử động và ta hiện hữu trong Người, như có mấy thi sĩ của quý vị đã nói: 'Chúng ta thuộc tông giống Người'. Vậy bởi chúng ta là dòng giống của Thiên Chúa, chúng ta không được nghĩ rằng Thần Linh giống như vàng, hoặc bạc, hay đá do nghệ thuật chạm trổ và suy tưởng của con người làm ra. Thiên Chúa không chấp những thời gian mê muội đó, nay Người loan báo cho nhân loại nhận biết để mọi người khắp nơi ăn năn hối cải, vì Người đã quy định ngày Người sẽ xét xử vũ trụ cách công minh, do Ðấng Người đã chỉ định và cho Ðấng ấy từ cõi chết sống lại để mọi người tin".

Tuy nhiên, cho dù đường lối truyền bá phúc âm hóa của Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô thật là tuyệt hảo như thế vẫn không hoàn toàn gây tác hiệu thần linh nơi hầu hết thính giả của ngài, ngoại trừ "có vài người theo và tin ngài, trong số đó có Ðiônysiô nhân viên thuộc Arêôpagô, một phụ nữ tên Ðamari và mấy người khác nữa". Tại sao thế? Nếu không phải tại thành phần thính giả này chưa được chính tác nhân thần linh là "Thần Chân lý ... dẫn vào tất cả sự thật" như "vài người" trong họ. Tuy nhiên, họ cũng vẫn còn thiện chí: "Ðể khi khác, chúng tôi sẽ nghe ông nói lại về điều đó", nhờ đó, vào một lúc nào đó, họ sẽ nhận biết chân lý và chân lý sẽ giải phóng họ (xem Gioan 8:32).

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

--------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG ĐAO- CN6PS-B PDF Print E-mail

 Chúa Nhật thứ 6 Mùa Phục Sinh

SỐNG VÀ CHIA SẺ TIN MỪNG GIOAN 15, 9-17

Hãy làm cho người khác
những gì Đức Giêsu đã làm cho ta

ĐỌC LỜI CHÚA

• Cv 10,25-26.34-35.44-48: (34) «Tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. (35) Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì dù thuộc bất cứ dân tộc nào, cũng đều được Người tiếp nhận».

• 1Ga 4,7-10: (7) Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. (8) Ai không yêu thương, thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.

• TIN MỪNG: Ga 15,9-17

Đức Giêsu tâm sự với các môn đệ

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ: (9) «Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. (10) Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. (11) Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

(12) Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. (13) Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình. (14) Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy. (15) Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

(16) Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em. (17) Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau».

Câu hỏi gợi ý:

1. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu có nói: «Cha Thầy dạy Thầy thế nào, Thầy cũng dạy anh em như vậy, nên anh em hãy dạy nhau như Thầy đã dạy anh em» không? Hay Ngài nói: «Cha Thầy làm gì cho Thầy, Thầy cũng làm điều ấy cho anh em, nên anh em hãy làm cho nhau như Thầy đã làm cho anh em»? Điều đó có nghĩa gì?

2. Xét về gương của Đức Giêsu: Ngài yêu thương con người đến mức độ nào? Ngài muốn chúng ta yêu thương nhau ở mức độ nào?

3. Để yêu thương mọi người, ta có thể làm gì cụ thể và ích lợi cho họ nhất? Họ cần gì nhất?

Suy tư gợi ý:

1. Đức Giêsu bắt chước Chúa Cha, sau đó Ngài mời gọi ta bắt chước Ngài

Trong bài Tin Mừng, ta thấy có những lời của Đức Giêsu có hình thức ít nhiều tương tự như sau: «Chúa Cha làm cho Thầy, Thầy cũng làm như vậy cho anh em», nên «anh em hãy làm như vậy cho nhau, giống như Thầy đã làm cho anh em». Chẳng hạn:

– Đức Giêsu nói với các môn đệ: «Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy» (Ga 15,9). Sau đó Ngài mời gọi: «Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 15,12).

– «Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người» (Ga 15,10b), Vậy «anh em (hãy) giữ các điều răn của Thầy và ở lại trong tình thương của Thầy» (Ga 15,10a).

– «Tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết» (Ga 15,15), nghĩa là: Tất cả những gì Cha Thầy nói với Thầy, Thầy lại nói hết với anh em, nên tất cả những gì Thầy nói với anh em, anh em hãy nói hết cho nhau. Vì nói cho nhau biết hết, tức coi nhau như bạn hữu, nên lời trên có thể diễn tả cách khác: Cha Thầy đã coi Thầy như bạn hữu, Thầy cũng coi anh em như bạn hữu, vậy anh em hãy coi nhau như bạn hữu, giống như Thầy đã làm như vậy với anh em.

2. Gương yêu thương và hy sinh của Đức Giêsu

Điểm nhấn của bài Tin Mừng hôm nay là gương yêu thương và hy sinh của Đức Giêsu, và lời Ngài yêu cầu chúng ta hãy bắt chước Ngài mà yêu thương nhau: «Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em» (Ga 15,12).

Gương của Ngài trong việc yêu thương chúng ta là: Ngài yêu bằng những hành động cụ thể, nghĩa là hy sinh thật sự cho người mình yêu. Khi yêu ai, người ta có thể hy sinh cho người ấy thì giờ, tiền bạc, sức khỏe, công việc, cơ hội, tình cảm khác, v.v... Nhưng hy sinh cao độ nhất là hy sinh chính mạng sống mình: «Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình» (Ga 15,13). Đức Giêsu đã thực hiện chính sự hy sinh cao độ ấy: «Đức Kitô đã chết vì chúng ta» (Rm 5,6.8; x. Ep 5,2; 1Ga 3,16). Không ai thật sự yêu thương mà lại không sẵn sàng hy sinh cho người mình yêu. Ai nói mình yêu thương mà lại không muốn hy sinh, kẻ ấy nói dối, hay tình yêu của kẻ ấy chỉ là thứ môi miệng.

Như vậy, một trong những lý do quan trọng khiến chúng ta phải yêu thương nhau, đó là chính Thiên Chúa và Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta: «Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế thì chúng ta cũng phải yêu thương nhau» (1Ga 4,11); «Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước» (1Ga 4,19); «Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em» (1Ga 3,16).

3. Yêu thương nhau bằng cách làm gương sáng cho nhau: gương tốt nhất là gương yêu thương nhau

Người yêu thương đích thực thì sẵn sàng hy sinh bất kỳ điều gì mà người mình yêu cần đến. Điều mà người mình yêu cần đến có thể rất khác nhau, tùy theo mỗi người và theo từng trường hợp cá biệt. Để hy sinh, để thể hiện tình yêu một cách thích hợp, chúng ta cần phải tìm hiểu xem người mình yêu cần những gì, và cần gì nhất. Đức Giêsu dạy chúng ta phải yêu thương tất cả mọi người không trừ ai. Vậy chúng ta thử tìm hiểu xem con người thời nay, nhất là những người chung quanh ta, cần gì nhất.

Trong vô số những nhu cầu tinh thần cũng như vật chất, điều mà con người cần nhất là được cứu rỗi; nói cụ thể và chi tiết hơn là tin vào Thiên Chúa, đồng thời biết sống xứng đáng với phẩm giá của mình là hình ảnh và là con cái Thiên Chúa để nhờ đó được hạnh phúc vĩnh cửu. Vì thế, người yêu thương tha nhân cách sáng suốt là người biết quan tâm tới sự cứu rỗi của họ, nghĩa là chẳng những giới thiệu cho họ biết Thiên Chúa, tin Đức Giêsu, ý thức phẩm giá cao quí của mình, mà còn giúp họ sống cho xứng với phẩm giá cao quí ấy.

Để sống xứng với phẩm giá cao quí ấy, không gì tốt cho con người bằng thực hiện chính bản tính Thiên Chúa mà Ngài đã chia sẻ hay thông phần cho họ: «Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, là cho anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa» (2Pr 1,4). Mà điều cốt yếu trong bản tính Thiên Chúa chính là tình yêu: «Thiên Chúa là Tình Yêu» (1Ga 4,8.16).

Tình yêu thật sự sẽ như một mồi lửa có thể lan truyền từ người nọ sang người kia và cuối cùng biến trần gian này thành Nước Trời. Chính Đức Giêsu đã mong ước lửa tình yêu mà Ngài đã đem đến trái đất lan truyền đến mọi người và bùng cháy lên: «Thầy đã đem lửa đến trần gian, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên!» (Lc 12,49). Lửa ấy có bùng lên hay không, điều ấy tùy thuộc vào mỗi người chúng ta có lửa ấy trong tâm hồn mình hay không, và có biết truyền lửa ấy đến tâm hồn những người chung quanh ta hay không!

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, Cha và Đức Giêsu đã yêu thương con vô bờ bến, xin cho con cũng biết yêu thương mọi người chung quanh con bằng những hy sinh cụ thể về thì giờ, tiền bạc, sức khỏe, công việc, cơ hội... Xin cho mọi người chung quanh con cảm nghiệm được tình yêu chân thật của con dành cho họ, để chính họ cũng bắt chước con mà yêu thương nhau.

Nguyễn Chính Kết

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CN6PS-B PDF Print E-mail

Alleluia: Ga 14, 23

Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy". - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 15, 9-17 - CN6PS-B

"Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy đã giữ lệnh truyền của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Người. Thầy nói với các con điều đó để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn. Ðây là lệnh truyền của Thầy: Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình. Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thi hành những điều Thầy truyền. Thầy không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm; Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết. Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt để các con đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con. Thầy truyền cho các con điều này là các con hãy yêu mến nhau".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI- Suy Nghiệm SỐNG  Lời Chúa

Chủ đề "Thày là sự sống" ở Chúa Nhật Tuần VI Phục Sinh này liên quan đến tình yêu của Thiên Chúa, nguồn mạch vô cùng bất tận của sự sống thần linh, một nguồn mạch sự sống Ngài đã chẳng những tỏ ra cho chung loài người tội lỗi thấy nơi Người Con Nhập Thể và Tử Giá của Ngài, mà còn thông ban cho riêng Giáo Hội Con của Ngài khi ban Thánh Linh cho họ (xem Roma 5:5), "Đấng ban sự sống" (Kinh Tin Kính). Và đó là lý do, ngay từ Thứ Hai tuần 2 Phục Sinh, Giáo Hội đã chọn đọc bài Phúc Âm về việc "tái sinh bởi trời" (Gioan 3:3), tức "tái sinh bởi nước và Thánh Linh" (Gioan 3:5), hay tái sinh bởi "nước" ám chỉ thân xác phục sinh của Chúa Kitô, một thân xác phục sinh đã thông ban Thánh Linh cho các vị tông đồ (xem Gioan 20:22) là nền tảng của Giáo Hội và đại diện cho cả Giáo Hội bấy giờ.

Trong Bài Đọc 2 hôm nay, người môn đệ được Chúa Giêsu yêu đã thực sự cảm nhận được tình yêu của Thiên Chúa nên mới có thể loan truyền cho Kitô hữu thời Giáo Hội sơ khai cũng như cho Kitô hữu cho tới tận thế về tình yêu thương vô cùng bất tận của Thiên Chúa ở những điểm chính yếu sau đây: 1- "tình yêu bởi Thiên Chúa mà ra"; 2- "Thiên Chúa là Tình Yêu"; 3- "Ðiều này biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta là Thiên Chúa chúng ta đã sai Con Một Người đến trong thế gian, để nhờ Ngài mà chúng ta được sống"; 4- "Tình yêu ấy là thế này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã thương yêu chúng ta trước, và đã sai Con Một Người đến hy sinh, đền thay vì tội lỗi chúng ta".

Đúng thế, tình yêu thương là chính bản tính của Thiên Chúa: "Thiên Chúa là tình yêu". Nghĩa là nếu Thiên Chúa không yêu theo bản tính của mình, như ánh sáng không chiếu soi, như muối không mặm mà, thì không còn là và không phải là Thiên Chúa nữa. Mà đã "là tình yêu" thì không phải chỉ ở chỗ không thể nào không yêu, mà còn ở chỗ yêu với tất cả bản thân là tình yêu của Ngài. Đến độ, dám hy sinh tất cả cho chúng ta, dù chúng ta chỉ là một loài tạo vật vô cùng hèn hạ lại còn xấu xa khốn nạn nữa, bằng cách tự động tỏ tình với chúng ta, thậm chí không tiếc Người Con duy nhất là chính Bản Thân vô cùng cao trọng và cao quí của Ngài cho chúng ta: "Tình yêu ấy là thế này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã thương yêu chúng ta trước, và đã sai Con Một Người đến hy sinh, đền thay vì tội lỗi chúng ta".

"Thiên Chúa là tình yêu" chẳng nhưng yêu thương chung loài tạo vật đã được Ngài dựng nên theo hình ảnh thần linh của Ngài và tương tự như Ngài, mà còn yêu từng con người được Ngài dựng nên nữa, dù họ là ai. Vị "Thiên Chúa là tình yêu" chẳng những thương riêng dân của Ngài và thương họ có vẻ như trên hết mọi dân tộc, đến độ Ngài có thể vì họ mà trừng phạt các dân tộc khác dám phạm đến họ, như đã xẩy ra cho dân Ai Cập trong cuộc Xuất Hành của họ mà còn thương tất cả mọi dân tộc khác nữa qua chính dân tộc của Ngài. Đó là lý do vị lãnh đạo tông đồ đoàn Phêrô, sau khi chứng kiến thấy một trường hợp lạ lùng đầu tiên liên quan tới dân ngoại, mới thốt lên ở Bài Đọc 1 hôm nay rằng:

"Xảy ra là khi Phêrô vừa vào nhà, thì Cornêliô ra đón ngài, và sấp mình dưới chân ngài mà lạy. Phêrô liền đỡ ông dậy và nói rằng: 'Xin ông chỗi dậy, vì chính tôi cũng chỉ là người'. Phêrô lên tiếng nói rằng: 'Quả thật, tôi nghiệm biết rằng Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành sự công chính, đều được Người đón nhận!' Phêrô đang nói các lời đó, thì Thánh Thần đã ngự xuống trên mọi kẻ đang nghe lời. Các tín hữu đã chịu cắt bì, những người đã đến cùng Phêrô, đều sửng sốt, khi thấy ơn Thánh Thần cũng đã tuôn đổ xuống trên các dân tộc; vả lại họ nghe các người ấy nói nhiều thứ tiếng và ngợi khen Thiên Chúa. Bấy giờ Phêrô lên tiếng nói rằng: 'Ai có thể ngăn cản ta lấy nước mà rửa cho những kẻ này, khi họ đã nhận lãnh Thánh Thần như chúng ta?' Và ngài truyền rửa tội cho họ nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Bấy giờ họ xin ngài ở lại với họ ít ngày".

Đó là lý do Bài Đáp Ca hôm nay mới có tâm tình tràn đầy hoan lạc và ngợi khen về ơn cứu độ phổ quát của Vị "Thiên Chúa là tình yêu" như sau:

1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người.

2) Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người, trước mặt chư dân, Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel.

3) Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca.

Chính vì tình yêu của Thiên Chúa đối với chung loài người như thế mà những ai được Ngài thương cũng phải yêu thương nhau như vậy, và cần phải làm sao để cho tình yêu thương của Ngài giành cho chúng ta được bừng phát lên, lan tỏa cho tất cả mọi người cũng như cho từng người đã được Ngài yêu thương nơi Con của Ngài và cứu chuộc nhờ Con của Ngài: "Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con", chính Chúa Giêsu đã khẳng định như thế trong Bài Phúc Âm hôm nay, Đấng đã tỏ hết tình yêu của Cha của Ngài ở trên trời cho loài người chúng ta qua cuộc Khổ Nạn và Tử Giá vô cùng nhục nhã và đớn đau của Người, đến độ Người đã trở thành đáng thương hơn cả chúng ta là loài tội lỗi đáng thương nữa.

Thế thì, theo nguyên tắc và đường lối truyền đạt yêu thương ấy, loài người chúng ta nói chung và Kitô hữu chúng ta nói riêng, cũng cần phải tỏ ra mình được thương yêu thế nào thì cũng yêu thương nhau như vậy. Nếu "Người đã yêu thương những ai thuộc về Người ở trên thế gian thì Người cũng muốn chứng tỏ rằng Người thương yêu họ cho đến cùng" (Gioan 13:1), thì chúng ta là môn đệ của Người cũng thế: "Những gì Thày làm là để nêu gương cho các con, để Thày làm thế nào các con cũng hãy làm theo như thế" (Gioan 13:15).Nên cũng trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ đích thực của Người rằng: "Ðây là lệnh truyền của Thầy: Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình".

Và việc Kitô hữu môn đệ chúng ta đáp ứng lệnh truyền của Người "là các con hãy yêu mến nhau" như câu Người nói cuối cùng của Bài Phúc Âm hôm nay, chẳng những là việc chúng ta truyền đạt tình yêu vô cùng bất tận của Thiên Chúa mà còn chính là việc chúng ta trở về nguồn với tình yêu này, đáp lại tình yêu này, hay là "ở lại trong tình yêu của Thày", đúng như ý nghĩa của lời Chúa Giêsu nói ở đầu bài Phúc Âm hôm nay. Tuy nhiên, làm thế nào để có thể "ở lại trong tình yêu của Thầy", chính Chúa Giêsu đã dẫn giải rõ ràng đó là: "Nếu các con tuân lệnh Thầy truyền, các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy đã giữ lệnh truyền của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Người". Mà lệnh truyền của Thày đây là gì, nếu không phải như Người cũng đã khẳng định ngay sau đó rằng: "Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con".

Tuy nhiên, việc thành phần môn đệ Kitô hữu chúng ta yêu mến Chúa và yêu thương tha nhân không phải tự chúng ta là loài tạo vật hữu hạn và bất toàn lại còn đầy những tội lỗi không xứng đáng làm và có khả năng làm, mà chỉ là tác động đáp ứng tình yêu của Thiên Chúa giành cho chúng ta và đối với chúng ta, và chính tình yêu của Thiên Chúa trong chúng ta, nhất là khi đã hoàn toàn chiếm đoạt chúng ta và làm chủ chúng ta, mới làm cho chúng ta xứng đáng kính mến Ngài và mới giúp chúng ta có khả năng yêu thương tha nhân như Con của Ngài.

Chính Chúa Giêsu đã khẳng định cảm nhận đáp ứng tình yêu Thiên Chúa và thông đạt tình yêu Thiên Chúa ở trong bài Phúc Âm hôm nay như sau: "Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt để các con đi và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Người sẽ ban cho các con".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

-------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 132