mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay755
mod_vvisit_counterHôm Qua6098
mod_vvisit_counterTuần Này18217
mod_vvisit_counterTuần Trước50576
mod_vvisit_counterTháng Này200679
mod_vvisit_counterTháng Trước245784
mod_vvisit_counterTất cả8689722

We have: 146 guests online
Your IP: 54.146.18.105
 , 
Today: Jun 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 356 = BAI GIAO LY VE NIEM TIN PDF Print E-mail

> GIÁO LÝ VỀ NIỀM TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG
>
> BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 5-4-2017 - ĐTC PHANXICO
>
> Bài 17
>
> "Niềm hy vọng của chúng ta không phải là một quan niệm, không phải là một cảm tính, không phải là một thứ điện thoại di động, không phải là một thứ đầy những giầu sang! Niềm hy vọng là một Ngôi Vị, là Chúa Giêsu, Đấng chúng ta nhìn nhận đang sống động và hiện diện trong chúng ta cũng như nơi các người anh em, vì Chúa Kitô phục sinh...
>
> "Một con người không có niềm hy vọng thì cũng không thể tha thứ; họ không thể cống hiến niềm an ủi của lòng tha thứ cùng lãnh nhận niềm an ủi của sự thứ tha".

> Xin chào anh chị em thân mến!
>
> Bức Thư Thứ Nhất (đoạn 3) của Thánh Phêrô thật là phong phú. Chúng ta cần phải đọc nó một lần, hai lần, ba lần để hiểu được nội dung chất chứa đặc biệt của nó: nó đạt được việc mang lại niềm an ủi và an bình lớn lao.
>
> 1. Cái bí mật nằm ở chỗ bản văn này được trực tiếp bắt nguồn từ Phục Sinh, từ cốt lõi mầu nhiệm chúng ta sắp sửa cử hành, nhờ đó chúng ta mới thấy được tất cả ánh sáng và niềm vui xuất phát từ cái chết và cuộc phục sinh của Chúa Kitô. Chúa Kitô thực sự đã sống lại, và đó là một lời chào tốt đẹp chúng ta có thể trao cho nhau vào Lễ Phục Sinh: "Chúa Kitô phục sinh! Chúa Kitô phục sinh!", như nhiều người đã làm. Chúng ta hãy nhớ rằng Chúa Kitô phục sinh, Người đang sống giữa chúng ta, và ở với từng người chúng ta. Đó là lý tại sao Thánh Phêrô đã mạnh mẽ thôi thúc chúng ta hãy tôn thờ Người ở trong lòng mình (câu 16). Ở đó Chúa đã làm nên nơi cư ngụ của Người vào lúc chúng ta lãnh nhận Phép Rửa, và từ đó Người tiếp tục canh tân đổi mới chúng ta và cuộc đời của chúng ta, làm cho chúng ta tràn đầy tình yêu thương của Người cùng viên mãn Thần Linh.

Bởi thế mà vị Tông Đồ này nhắc nhở chúng ta hãy nhìn nhận niềm hy vọng ở trong chúng ta (câu 16): niềm hy vọng của chúng ta không phải là một quan niệm, không phải là một cảm tính, không phải là một thứ điện thoại di động, không phải là một thứ đầy những giầu sang! Niềm hy vọng của chúng ta là một Ngôi Vị, là Chúa Giêsu, Đấng chúng ta nhìn nhận đang sống động và hiện diện trong chúng ta cũng như nơi các người anh em của chúng ta, vì Chúa Kitô phục sinh. Các sắc dân Slavic khi chào nhau thì thay vì nói rằng: "Good morning" hay "Good evening" vào những ngày lễ Phục Sinh, họ chào nhau bằng câu "Chúa Kitô phục sinh!". Họ nói với nhau rằng "Christos voskrese!", và họ hân hoan nói như vậy! Lời chào "Good morning" và "Good evening" họ cống hiến cho nhau đó là: "Chúa Kitô phục sinh!"
>
> 2. Bởi thế, chúng ta hiểu được rằng chúng ta không thể nào cống hiến lý do về niềm hy vọng này ở mức độ lý thuyết, mà trên hết bằng chứng từ của đời sống, cả trong cộng đồng Kitô hữu lẫn ngoài cộng đồng này. Nếu Chúa Kitô đang sống và ở trong chúng ta, trong cõi lòng của chúng ta, thì chúng ta cũng cần phải để cho Người trở thành hữu hình, chứ đừng che khuất Người, để cho Người tác hành trong chúng ta. Nghĩa là Chúa Giêsu cần phải càng ngày càng trở thành gương mẫu của chúng ta: gương mẫu của đời sống chúng ta và chúng ta cần phải học biết tác hành như Người tác hành. Hãy làm những gì Người bảo. Niềm hy vọng ở trong chúng ta, thế nên, nó không thể ẩn nấp trong chúng ta, trong tâm can của chúng ta, bằng không nó sẽ là một niềm hy vọng yếu kém, không có can đảm để vươn ra và tỏ mình ra; thế nhưng, niềm hy vọng của chúng ta, như rõ ràng ở Thánh Vịnh 33 được tông đồ Phêrô trích dẫn, cần phải hướng ngoại, mang hình thức dịu dàng, trân trọng và tốt lành một cách thanh cao và vững vàng đối với tha nhân của chúng ta, cho đến độ chúng ta có thể tha thứ cho những ai làm hại chúng ta.

Một con người không có niềm hy vọng thì cũng không thể tha thứ; họ không thể cống hiến niềm an ủi của lòng tha thứ cùng lãnh nhận niềm an ủi của sự thứ tha. Phải, vì đó là những gì Chúa Giêsu đã làm, và cứ thế Người tiếp tục thực hiện qua những ai giành chỗ trong tâm can của mình cùng đời sống của mình cho Người, với ý thức rằng sự dữ không thể nào bị tiêu tan bởi sự dữ mà là bởi sự khiêm tốn, bởi lòng thương xót và bởi sự êm ái dịu dàng. Thành phần Mafia nghĩ rằng sự dữ có thể bị khống chế bởi sự dữ, nên họ tìm cách trả thù và thực hiện tất cả những gì chúng ta đã quá biết. Thế nhưng họ không biết đến những gì là khiêm tốn, là thương xót, là êm ái dịu dàng. Tại sao thế? Vì thành phần Mafia này không có niềm hy vọng. Hãy nghĩ đến điều ấy.
>
> 3. Đó là lý do tại sao Thánh Phêrô khẳng định rằng "nếu là ý muốn của Thiên Chúa thì thà làm lành mà chịu khổ còn hơn là hành ác" (câu 17), điều này không phải việc chịu khổ là những gì tốt lành mà là khi chúng ta chịu khổ vì sự lành thì chúng ta được hiệp thông với Chúa, Đấng đã chấp nhận đau khổ và bị treo lên thập tự giá vì phần rỗi của chúng ta. Bởi vậy mà, trong những trường hợp nhỏ nhất hay lớn nhất của đời sống, chúng ta cũng cần chấp nhận khổ đau vì sự lành, như thể chúng ta gieo rắc những hạt giống của sự phục sinh, những hạt giống của sự sống quanh chúng ta, và làm cho ánh sáng Phục Sinh chiếu soi trong tăm tối. Bởi thế mà Vị Tông Đồ này thôi thúc chúng ta hãy luôn đáp ứng bằng "việc chúc phúc" (câu 9): chúc phúc không phải là một thứ hình thức, hay chỉ là một dấu hiệu thuần túy theo xã giao, mà là một đại tặng ân chúng ta là những người đầu tiên được lãnh nhận, và chúng ta có thể chia sẻ với anh em của chúng ta. Nó là việc loan báo tình yêu thương của Thiên Chúa, một tình yêu vô biên, một tình yêu vô tận, không bao giờ cạn kiệt và làm nên nền tảng thật sự cho niềm hy vọng của chúng ta.
>
> Các bạn thân mến, chúng ta cũng hiểu được lý do tại sao Tông Đồ Phêrô gọi chúng ta là "có phúc" khi cần phải chịu đau khổ vì công lý (câu 13). Nó không phải chỉ là một thứ lý do về luân lý hay khổ chế, mà vì mỗi lần làm như vậy là chúng ta chiếu sáng ra như là những dấu hiệu hy vọng rạng ngời và sống động, nhờ đó chúng ta trở thành dụng cụ của niềm an ủi và an bình, hợp với cõi lòng của Thiên Chúa. Có thế mới tiến bước một cách êm ái và dịu dàng, dễ thương và hành thiện ngay cả với những ai không muốn tốt hay những ai làm hại chúng ta. Hãy tiến lên!
>
> http://www.news.va/en/news/pop e-at-audience-gods-love-basis- of-our-hope
>
> Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 355= THU TU TUAN5MC=A PDF Print E-mail

: Luyen Truong - PVLC - Thứ Tư Tuần V MC 5-4-2017

> Nếu Chúa Nhật Lễ Lá cũng là Chúa Nhật Thương Khó là ngày thứ 40 của Mùa Chay kể từ Thứ Tư Lễ Tro thì hôm nay là ngày thứ 36 của Mùa Chay, Thứ Tư trong Tuần V Mùa Chay.
>
> "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy lại" (Gioan 10:17), chủ đề cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, cho thấy sắp sửa trở thành hiện thực ở biến cố Vượt Qua của Chúa Kitô trong Tuần Thánh, nhất là Tam Nhật Vượt Qua.
>
> Nếu biến cố tử nạn và phục sinh của Người là tột đỉnh của tất cả mạc khải thần linh, cho chung con người nhất là cho riêng dân Do Thái, thì những gì Người tỏ mình ra cho dân Do Thái, qua lời nói của Người, ở các bài Phúc Âm ngày thường từ Thứ Tư tuần trước, Tuần IV Mùa Chay, cho đến hết Tuần V Mùa Chay này, là dạo khúc tiến đến tột đỉnh mạc khải thần linh ấy, một mạc khải Thiên Chúa tỏ hết mình ra cho loài người biết Ngài là ai và như thế nào nơi Con của Ngài là nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét, Đấng bị chính dân của Người phủ nhận, loại trừ và lên án tử!
>
> Thật vậy, bằng lời chứng của mình, Chúa Giêsu đã từ từ tỏ mình ra cho dân Do Thái. Nếu căn cứ vào thứ tự các bài Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc theo Thánh ký Gioan, thì Người tỏ mình ra từ xa tới gần, rất tài tình, khéo léo và đầy ngoạn mục như sau:
>
> Ở bài Phúc Âm Thứ Năm Tuần IV Mùa Chay vừa rồi, chính Người khẳng định và tuyên bố rằng: "Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực", mà ở bài Phúc Âm Thứ Hai đầu Tuần V Mùa Chay này, Người lại khẳng định và tuyên bố hoàn toàn ngược hẳn lại: "Cho dầu Ta tự làm chứng về Ta, thì chứng của Ta cũng xác thực, vì Ta biết rõ Ta từ đâu tới và đi về đâu. Còn các ông, các ông không biết Ta từ đâu tới, cũng chẳng biết Ta đi đâu".
>
> Để rồi, từ đó, từ chỗ "Ta biết rõ Ta từ đâu tới và đi về đâu" như thế, một sự thật vô cùng quan trọng chẳng những đối với phần rỗi của chung loài người và riêng dân Do Thái, mà còn đối với cả chính bản thân của Người nữa. Bởi vì, nếu Người không biết mình là ai, ở chỗ, từ đâu tới và sẽ đi đâu, thì Người quả là một con người thuần túy, không phải là "Đức Kitô (Thiên Sai), Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), và vì thế Người không phải là Đấng Cứu Thế, không có tư cách và khả năng cứu độ trần gian.
>
> Bởi thế, tự biết mình là một mầu nhiệm thần linh siêu việt, cho dù có tỏ mình ra, không một ai trên trần gian này có thể nào hiểu được, kể cả thành phần môn đệ thân tín của Người, huống chi là dân Do Thái, thành phần mà Người đã thừa biết, như Người đã khẳng định với họ về tầm kiến thức thấp hèn hạn hẹp của họ trong bài Phúc Âm hôm qua, rằng "các người thuộc về hạ giới... thuộc về thế gian", nên không thể nào hiểu được Người là Đấng "bởi trời cao".
>
> Thậm chí, cho dù họ có muốn biết, rất muốn biết về Người, nhưng khốn thay, họ càng muốn biết thì họ lại càng vấp phạm, nhất là vào chính lúc họ thấy rõ được tất cả sự thật về Người do chính Người cuối cùng buộc phải công nhận theo câu hỏi dứt khoát về Người bởi lệnh truyền tối thượng của vị thượng tế Caipha đại diện họ thay mặt Thiên Chúa (xem Mathêu 26:63-67), như Người cũng đã khẳng định với họ về số phận của họ trong cùng bài Phúc Âm hôm qua: '"Tôi ra đi, quí vị sẽ tìm kiếm Tôi và quí vị sẽ chết trong tội của quí vị. Nơi Tôi đi quí vị không thể nào tới được".
>
> Trong bài Phúc Âm Thứ Tư Tuần V Mùa Chay hôm nay, Chúa Giêsu tiếp tục dẫn họ tiến sâu hơn nữa vào mầu nhiệm về Người, liên quan đến nguồn gốc thần linh của Người, khi Người khéo léo đưa họ về lại từ đầu, về chính nguồn gốc thần linh của chính họ, về vị tổ phụ đầu tiên của họ là Abraham, người cha đẻ ra dân tộc của họ về tự nhiên, từ đó, Người dẫn họ tới chính Đấng là Cha của họ về siêu nhiên, Đấng đã tự xưng mình với Moisen là vị cứu tinh dân tộc họ, Ngài là "Thiên Chúa của Abraham..." (Xuất Hành 3:6,15).
>
> Trước hết, Chúa Giêsu đã khéo léo đưa dân Do Thái, qua những người đại diện đang nghe Người bấy giờ, về lại từ đầu, thoạt tiên về vị tổ phụ Abraham là người cha đẻ ra dân tộc của họ về tự nhiên:
>
> "'Ta biết các ngươi là con cháu Abraham, thế mà các ngươi lại tìm giết Ta: vì lời Ta không thấm nhập vào lòng các ngươi. Ta nói những điều Ta đã thấy nơi Cha Ta. Còn các ngươi, các ngươi làm điều các ngươi đã thấy nơi cha các ngươi'. Họ đáp lại: 'Cha chúng tôi chính là Abraham!'"
>
> Sau nữa, từ người cha về tự nhiên này, Chúa Giêsu đã bí mật và kỳ diệu dẫn họ tới chính Thiên Chúa là Cha của họ về siêu nhiên:
>
> "'Nếu thực các ngươi là con cháu Abraham, thì các ngươi làm công việc của Abraham! Nhưng các ngươi đang tìm giết Ta, là người đã nói cho các ngươi biết sự thật mà Ta nghe tự Thiên Chúa. Ðiều đó Abraham đã không làm! Các ngươi đang làm việc của cha các ngươi!' Họ lại nói: 'Chúng tôi không phải là những đứa con hoang! Chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa!' Chúa Giêsu nói: 'Nếu Thiên Chúa là Cha các ngươi, thì các ngươi yêu mến Ta, vì Ta tự Thiên Chúa mà đến; vì Ta không tự mình mà đến, nhưng chính Ngài đã sai Ta đến'".
>
> Trong câu chuyện đối đáp giữa Chúa Giêsu và thành phần thính giả đại diện cho dân Do Thái bấy giờ liên quan đến nguồn gốc của họ, từ lãnh vực tự nhiên dính dáng đến tổ phụ Abraham, lên lãnh vực siêu nhiên đụng chạm tới chính Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, và cả hai, tổ phụ Abraham và Thiên Chúa, đều được dân Do Thái nhận là cha và gọi là cha: "Cha chúng tôi chính là Abraham!"; "Chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa!".
>
> Tuy nhiên, lần nào cũng thế, mỗi lần họ khẳng định và công nhận với Người cha của họ là tổ phụ Abraham hay Thiên Chúa, Chúa Giêsu đều công nhận họ nói đúng về lý thuyết nhưng hoàn toàn không đúng về thực tế, bởi vì họ có một thứ "cha" nào đó không phải là tổ phụ Abraham hay Thiên Chúa của họ: "các ngươi làm điều các ngươi đã thấy nơi cha các ngươi"... "các ngươi đang tìm giết Ta, là người đã nói cho các ngươi biết sự thật mà Ta nghe tự Thiên Chúa. Ðiều đó Abraham đã không làm! Các ngươi đang làm việc của cha các ngươi!".
>
> Vậy "cha" của dân Do Thái được Chúa Giêsu nói đến ở đây, không phải là tổ phụ Abraham cũng không phải là Thiên Chúa thì là ai vậy? Phải chăng là Moisen, vị trung gian môi giới giữa họ và Thiên Chúa là Đấng đã ban cho họ lề luật qua Moisen, vị được Ngài chọn và sai đến với họ để giải thoát họ khỏi tình trạng làm nô lệ cho người Ai Cập mà dẫn họ về miền Đất Hứa tự do của riêng họ, được Thiên Chúa hứa ban cho họ qua tổ phụ Abraham của họ, và vì thế vị cứu tinh trung gian môi giới Moisen này đối với họ có thể được họ coi như một người cha đã tái sinh họ từ sự chết vào sự sống?
>
> Rất tiếc không phải như thế, nếu chúng ta tiếp tục đọc thêm một chút nữa, chỉ sau bài Phúc Âm hôm nay 1 câu nữa thôi, tức ở câu 44 cùng đoạn 8 với bài Phúc Âm hôm nay (chấm dứt ở câu 42), chúng ta sẽ thấy ngay chân tướng của thứ "cha" được Chúa Giêsu thực sự muốn nói tới liên quan đến dân Do Thái ở đoạn Phúc Âm hôm nay. Ai vậy? Dạ, xin thưa, đó là "ma quỉ": "Người cha mà các người xuất phát là ma quỉ và các người sẵn sàng làm theo những gì hắn muốn...".
>
> Mà "các ngươi làm điều các ngươi đã thấy nơi cha các ngươi", Các ngươi đang làm việc của cha các ngươi!" và "các người sẵn sàng làm theo những gì hắn muốn..." đây là gì, nếu không phải là phản kitô, không chấp nhận Chúa Kitô đến trong xác thịt (xem 1Gioan 2:22; 2Gioan 7), như hình ảnh tiêu biểu được Thánh ký Gioan thị kiến thấy trong Sách Khải Huyền (12:4) về môt con khủng long (ám chỉ Luxiphe hay Satan) rình chực trước người nữ sinh con để nuốt con trẻ do người nữ sinh ra (ám chỉ Chúa Kitô, vị Thiên Chúa nhập thể).
>
> Thật ra dân Do Thái không hế biết như vậy, nhưng chính Chúa Giêsu đã vạch ra cho họ thấy như thế, căn cứ vào việc làm và hành động khách quan của họ. Tự mình họ thuộc về hạ giới và thế gian đã không thể nào hiểu được mầu nhiệm Chúa Kitô, cho dù có được chính Người tỏ ra cho, như bài Phúc Âm hôm qua đặc biệt cho thấy, họ lại còn bị ma quỉ giật giây, chi phối bởi mầm mống nguyên tội ở nơi họ, mầm mống chống đối như ma quỉ, mà họ đã tác hành những gì "đã thấy nơi cha các ngươi", "của cha các ngươi!" và "theo những gì hắn muốn...".
>
> Wow, cả là một đụng chạm kinh hoàng, chưa bao giờ xẩy ra... Bởi thế, chúng ta sẽ tiếp tục thấy được phản ứng của dân Do Thái ra sao, càng ngày càng dữ dội, càng điên tiết lên, cho đến khi họ bất chấp thủ đoạn miễn là làm sao có thể hoàn toàn triệt hạ được đối thủ ghê gớm vô cùng đáng ghét này của họ, và vì vậy, trong khi họ được Chúa Giêsu tiếp tục dẫn họ vào sâu hơn nữa nguồn gốc thần linh của Người, cho tới tận thẳm cung của mầu nhiệm thần linh của Người và về Người, so với tổ phụ Abraham (bài Phúc Âm Thứ Năm Tuần V Mùa Chay ngày mai), cũng như ở nơi mối liên hệ với chính Thiên Chúa (bài Phúc Âm ngày kia, Thứ Sáu Tuần V Mùa Chay)....................."
>
> Bài Đáp Ca hôm nay hoàn toàn phản ảnh nội dung của Bài Đọc 1 về niềm tin tưởng vào Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, Đấng "đáng ca ngợi, tôn vinh và tán tụng muôn đời":
>TÔI  CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN :
> 1) Lạy Chúa là Thiên Chúa cha ông chúng con, Chúa đáng chúc tụng, đáng ca ngợi, tôn vinh và tán tụng muôn đời. Chúc tụng thánh danh vinh quang Chúa, đáng ca ngợi, tôn vinh và tán tụng muôn đời.
>
> 2) Chúa đáng chúc tụng trong đền thánh vinh quang Chúa, đáng ca ngợi và tôn vinh muôn đời.
>
> Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
>-----------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 354= THU BA TUAN5MC-A PDF Print E-mail

 PVLC Thứ Ba Tuần V MC 4-4-2017 (2)

Chúa Giêsu đã chẳng những cho họ biết lý do họ không hiểu Người

mà còn cho họ biết nguyên do phạm tội chính khi họ "tìm kiếm" Người nữa

Chủ đề chung cho Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy lại" (Gioan 10:17) càng rõ nét trong phụng vụ lời Chúa hôm nay, Thứ Ba trong Tuần V Mùa Chay, bao gồm cả Phúc Âm lẫn Bài Đọc 1.

Ở Bài Phúc Âm, "Tôi tự ý bỏ sự sống của mình đi", ở chỗ, như Chúa Giêsu đã báo trước cho "những người biệt phái rằng": "Khi nào quí vị đưa Con Người lên cao", nghĩa là khi nào quí vị hô hoán đòi "đóng đanh nó vào thập giá, đóng đanh nó vào thập giá" (Luca 23:21; Marco 15:13-15).

Nhưng "Tôi lấy nó lại", ở chỗ, chính khi quí vị thách đố Tôi xuống khỏi thập tự giá Tôi cũng không xuống (xem Matthew 27:39-43; Mark 15:29-32; Luke 23:35-36) thì lại là lúc quí vị bấy giờ mới biết Tôi thật sự là Đấng Thiên Sai, như Tôi đã nói, Tôi xuống thế gian này là để làm theo ý Cha là Đấng sai Tôi chứ không phải làm theo ý của Tôi (xem Gioan 6:38).

Ở Bài Đọc 1 cũng thế, chủ đề "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy lại" được báo trước ngay trong lời Thiên Chúa phán với Moisen rằng: "'Ngươi hãy đúc một con rắn đồng và treo nó lên làm dấu; kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được sống'. Môsê đúc một con rắn đồng, treo nó lên làm dấu, và kẻ nào bị rắn cắn mà nhìn lên rắn đồng, thì được chữa lành".

Hình ảnh "con rắn bằng đồng" có thể chữa lành cho những ai bị "rắn lửa cắn" khi họ nhìn lên con rắn treo lên được đúc bằng đồng ấy ám chỉ Chúa Kitô tử giá, và thành phần bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn bằng đồng được treo lên ấy ám chỉ thành phần tội nhân tin tưởng ("nhìn lên") vào Đấng chịu đóng đanh, bao gồm cả dân ngoại: "Người này quả là một con người vô tội" (Luca 23:47) lẫn dân Do Thái: "Khi đám đông qui tụ lại trước cảnh tượng ấy nhìn thấy những gì đã xẩy ra thì trở về đấm ngực" (Luca 23:48).

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là, tại sao con rắn vốn tiêu biểu cho những gì là độc dữ, đã từng bị chính Thiên Chúa nguyền rủa ngay từ ban đầu sau khi nó là tác nhân gây ra nguyên tội (xem Khởi Nguyên 3:14; Gioan 8:44), mà trong Bài Đọc 1 trích từ Sách Dân Số hôm nay, lại ám chỉ Chúa Kitô tử giá? Phải chăng là vì Thiên Chúa muốn "lấy của độc giải độc", ở chỗ, thương đau và chết chóc gây ra bởi rắn thì chữa lành và sồng còn cũng bởi rắn?

Thật ra, tự bản thân của mình, Chúa Kitô là chính Con Thiên Chúa, là Đấng vô cùng thánh hảo, không có một chút hèn hạ và xấu xa nhơ nhớp nào, thế nhưng, vì Người cũng chính là Đấng Cứu Thế mà Người đã cần phải "trở nên" "Con chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" (Gioan 1:29), để nhờ đó có thể cứu nhân loại nhiễm lây nguyên tội bởi rắn quỉ cắn trong vườn địa đường khỏi tội lỗi và sự chết do chính rắn quỉ gây ra cho bản tính của họ, bằng cách chính Người đã phải "trở thành tội lỗi" (2Corinto 5:21) và "bị nguyền rủa" như một tử tội trên thập tự giá (Galata 3:13), nghĩa là Người đã trở nên như một con rắn bằng đồng thôi, chứ không phải rắn thật, một hình tượng tiêu biểu cho tội lỗi và chết chóc.

Đó là một mầu nhiệm vô cùng thâm sâu con người không thể nào thấu hiểu. Vì theo lập luận của loài người thì Thiên Chúa là Đấng vô cùng thánh hảo và toàn năng không thể nào lại trở thành một con người hay không thể nào làm người vô cùng thấp hèn, bất toàn và bất lực được, chứ chưa nói đến lại còn "trở thành tội lỗi" và "bị nguyền rủa" vô cùng khốn nạn như thế.

Bởi vậy mà trong bài Phúc Âm hôm nay chính Chúa Giêsu đã vừa khẳng định vừa tiên báo cho "những người biệt phái rằng: 'Tôi ra đi, quí vị sẽ tìm kiếm Tôi và quí vị sẽ chết trong tội của quí vị. Nơi Tôi đi quí vị không thể nào tới được'", tức loài người như họ không thể nào hiểu được, chứ chưa nói gì đến việc chấp nhận được.

Ngay câu Người nói ấy mà họ chưa hiểu nổi ý nghĩa sâu xa huyền nhiệm của những gì Người muốn nói huống chi khi họ tận mắt chứng kiến thấy sự thật xẩy ra, do đó: "Người Do-thái nói với nhau rằng: 'Ông ta sắp tự vẫn hay sao mà lại nói: Nơi Ta đi các ông không thể tới được?"

Mà thật, lý do con người bất khả thấu hiểu mầu nhiệm Chúa Kitô này là vì tầm mức chênh lệnh giữa tạo hóa với tạo vật, và tạo vật không thể nào bằng tạo hóa cùng hiểu được như tạo hóa, khoảng cách biệt hơn trời với đất. Thế nên, Chúa Giêsu đã chẳng những cho họ biết lý do họ không hiểu Người mà còn cho họ biết nguyên do phạm tội chính khi họ "tìm kiếm" Người nữa, đó là:

"Quí vị thuộc về hạ giới; còn Ta, Ta bởi trời cao. Quí vị thuộc về thế gian này; còn Ta, Ta không thuộc về thế gian này. Ta đã nói: Quí vị sẽ chết trong tội của quí vị. Vì, nếu quí vị không tin Ta, quí vị sẽ chết trong tội của quí vị".

Thật sự là thế, chính vì "quí vị không tin Ta" mà "quí vị sẽ chết trong tội của quí vị", đúng như Người đã quả quyết và cảnh báo: "quí vị sẽ tìm kiếm Tôi và quí vị sẽ chết trong tội của quí vị", ở chỗ, chính khi họ "tìm kiếm" Người bằng cách cuối cùng "nhân danh Thiên Chúa hằng sống", qua vị thượng tế Caipha của họ hỏi Người một cách chính thức và hết sức trịnh trọng có phải là "Đấng Thiên Sai Con Thiên Chúa hay chăng?" (xem Mathêu 26:63) thì họ, sau khi nghe Người cho họ biết tất cả sự thật về Người, lại "chết trong tội" của họ: "Hắn lộng ngôn... Hắn đáng chết... Họ bắt đầu nhổ vào mặt Người" (Mathêu 26:66-67)..............

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa lời nguyện cầu của một tâm hồn phiền muộn, tiêu biểu cho những ai bị rắn lửa cắn trong Bài Đọc 1 hay thành phần những người biệt phái dầu sao cũng có thiện chí tìm hiểu về Chúa Kitô trong Bài Phúc Âm hôm nay, một tâm hồn tìm kiếm Chúa là Vị Thiên Chúa luôn quan tâm đến con người, tỏ mình ta cho con người và muốn cứu độ con người nói chung cùng những ai tin tưởng cậy trông nơi Ngài nói riêng

TÔI CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA:

1) Lạy Chúa, xin nhậm lời con cầu nguyện, và cho tiếng con kêu lên tới Chúa. Xin Chúa đừng ẩn giấu thánh nhan, trong ngày con phải phiền muộn. Xin Chúa lắng tai nghe con, khi con cầu nguyện, Chúa mau nhậm lời.

2) Lạy Chúa, muôn dân sẽ kính tôn danh thánh Chúa, và mọi vua trên địa cầu sẽ quý trọng vinh quang Ngài; khi Chúa sẽ tái lập Sion, Ngài xuất hiện trong vinh quang xán lạn; Ngài sẽ đoái nghe lời nguyện kẻ túng nghèo, và không chê lời họ kêu van.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 353 = PDF Print E-mail

 PVLC Thứ Hai 3-4-2017 Tuần V Mùa Chay

nếu chính Chúa Kitô không biết mình là ai và từ đâu đến

thì Người không phải là Đấng Thiên Sai của Dân Do Thái và là Đấng Cứu Thế của nhân loại

Ngày Thứ Hai trong Tuần V Mùa Chay vẫn tiếp tục với bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan, bài Phúc Âm chất chứa lời Chúa Giêsu tự làm chứng về Người.

Nếu bài Phúc Âm tuần trước cả dân chúng lẫn thành phần lãnh đạo đều chia rẽ nhau về nguồn gốc của Chúa Kitô thì tuần này Người tự mình chính thức làm sáng tỏ nguồn gốc thần linh của Ngưòi. Nếu tuần trước Người nói Người không tự làm chứng về mình thì tuần này Người không thể không tự làm chứng về Người bởi không ai biết Người bằng chính Người.

Thật vậy, tuần trước, các bài Phúc Âm nói chung theo Thánh ký Gioan, cách riêng bài Phúc Âm cho Thứ Năm của tuần trước ấy, Chúa Giêsu đã không tự chứng hay chưa tự làm chứng về Người: "Nếu chính Ta làm chứng về Mình, thì chứng của Ta sẽ không xác thực", mà là minh chứng về mình bằng 3 chứng từ khác nhau liên quan đến bản thân và nguồn gốc của Người:

1- Chứng từ thần linh liên quan đến Cha là Đấng đã sai Người: "Có một Ðấng khác làm chứng về Ta, và Ta biết chứng Người làm về Ta thì xác thực";

2- Chứng từ nhân loại liên quan đến Tiền Hô Gioan Tẩy Giả: "Các ngươi đã sai người đi hỏi Gioan, và Gioan đã làm chứng cho sự thật";

3- Chứng từ Thánh Kinh liên quan đến mạc khải thần linh: "Các ngươi tra cứu Sách Thánh, vì tưởng rằng trong đó các ngươi sẽ tìm thấy sự sống muôn đời; chính Sách Thánh lại làm chứng về Ta, vậy mà các ngươi vẫn không chịu đến với Ta để được sống".

Tuần này, ngay ở bài Phúc Âm Thứ Hai đầu tuần, Chúa Giêsu bắt đầu chính thức và công khai tự làm chứng về Người và cho Người, vì tự Người và chính Người là "chân lý", là "sự thật" (Gioan 14:6), một chân lý tỏ mình ra như ánh sáng không thể nào không soi chiếu, nên ngay ở đầu bài Phúc Âm hôm nay Người đã ngang nhiên và trịnh trọng tuyên bố: "với những người biệt phái rằng: 'Tôi là sự sáng thế gian. Ai theo Tôi sẽ không đi trong tối tăm, nhưng sẽ có ánh sáng ban sự sống".

Tất nhiên, khi Người xưng mình ra như thế, đối với trần gian thì có vẻ như Người khoe khoang, ngạo mạn, nên một giòng điện dương khi chạm phải cùng một giòng điện dương chắc chắn không thể nào không tóe lửa, nghĩa là vì cho Người tỏ ra khoe khoang ngạo mạn như thế mà thành phần bản chất vốn khoe khoang ngạo mạn thính giả của Người bấy giờ là "những người biệt phái" đã không thể nào chấp nhận được lời tuyên bố của Người: "Ông tự làm chứng cho mình, nên chứng của ông không xác thực".

Tuy nhiên, Chúa Giêsu đã biện minh cho việc Người tự làm chứng về Người và cho Người là những gì hoàn toàn chân thực và chính xác, qua chính câu Người trả lời cho thành phần không tin Người và không chấp nhận lời tuyên bố của Người: "Cho dầu Ta tự làm chứng về Ta, thì chứng của Ta cũng xác thực, vì Ta biết rõ Ta từ đâu tới và đi về đâu. Còn các ông, các ông không biết Ta từ đâu tới, cũng chẳng biết Ta đi đâu".

Thật vậy, nếu chính Chúa Kitô không biết mình là ai và từ đâu đến thì Người không phải là Đấng Thiên Sai của Dân Do Thái và là Đấng Cứu Thế của nhân loại, mà chỉ là một trong thành phần con người thuần túy chúng ta, thành phần thuần nhân cho tới chết cũng chưa hoàn toàn biết mình, bởi thế vẫn liên tục sa ngã phạm tội là những gì sai lạc, không đúng sự thật về bản thân họ cũng như không đúng sự thật Thiên Chúa muốn nơi họ và cho họ, và chính vì thế họ chỉ được giải phóng cho đến khi họ nhận biết sự thật mà thôi (xem Gioan 8:32).

Muốn biết mình thực sự là ai thì con người cần phải biết mình "từ đâu tới" và sẽ "đi đâu", chứ không phải chỉ biết mình "từ đâu tới" song chẳng biết mình sẽ "đi đâu" là đủ biết mình một cách chân thực và chính xác. Chẳng hạn, theo đức tin của mình, Kitô hữu chúng ta tin rằng, về nguyên ủy, hay nguồn gốc, "từ đâu tới" chúng ta được dựng nên từ hư vô, bởi được Thiên Chúa yêu thương, nhưng trong cuộc sống, về cùng đích "đi đâu" là nơi chúng ta sẽ tới và cần phạt đạt tới, chúng ta lại sống như thể không có đời sau, không có Thiên Chúa, chỉ luôn tìm kiếm và theo đuổi những gì thuộc về hạ giới hợp với xác thịt của chúng ta hơn là Nước Trời và thay vì vĩnh phúc trường sinh bất diệt.

Chúa Giêsu thật sự biết được Người "từ đâu tới" và sẽ "đi đâu": Người từ Thiên Chúa mà tới, Đấng đã sai Người tới: "Thày từ Cha mà đến và đã đến trong thế gian" (Gioan 16:28), và vì thế nơi Người "đi đâu" không còn chỗ nào khác ngoài chính nơi Cha của Người muốn Người tới, nghĩa là Người được sai đến để làm theo ý Cha là Đấng đã sai Người, chứ không phải làm theo ý của Người, đúng như Người đã tuyên bố với người Do Thái: "Tôi từ trời xuống không phải để làm theo ý của mình mà là ý của Đấng đã sai tôi" (Gioan 6:38).

Mà ý của Cha là nơi Người phải tới, mà Người phải làm theo và chu toàn đây là gì, chính Người cũng biết rõ ràng và chắc chắn Người mới có thể làm theo đúng và đáp ứng thật: "Ý muốn của Đấng đã sai Tôi đó là Tôi không được làm mất một sự gì Ngài đã ban cho Tôi, trái lại, Tôi phải làm cho nó sống lại trong ngày sau hết" (Gioan 6:39)............

Và chính vì Chúa Giêsu nại đến Cha của Người là một trong hai người làm chứng về Người nên Người đã được thành phần thính giả của Người thách thức đặt vấn đề: "Cha của ông đâu?", Đấng mà Người đến "để tỏ Cha ra" (Gioan 1:18) qua bản thân Người, đến độ "ai thấy Thày là thấy Cha" (Gioan 14:9), nên Người đã cho thành phần thính giả chất vấn Người về Cha của Người rằng: "Các ông không biết Ta, cũng chẳng biết Cha Ta. Nếu các ông biết Ta thì cũng sẽ biết Cha Ta".

TÔI ẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN:

1) Chúa dọn ra cho con mâm cỗ, ngay trước mặt những kẻ đối phương. Ðầu con thì Chúa xức dầu thơm, chén rượu con đầy tràn chan chứa.

2) Lòng nhân từ và ân sủng Chúa theo tôi, hết mọi ngày trong đời sống; và trong nhà Chúa, tôi sẽ định cư cho tới thời gian rất ư lâu dài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------

 

 
HOC HOI DE SONG DAO # 352 =RUOC LE MUA PHUC SINH PDF Print E-mail

Đọc để tránh những sai lầm, và xin đừng "Xúc Phạm" đến Mình & Máu Thánh Chúa...

Luật Xưng Tội Rước Lễ Mùa Phục Sinh
Hỏi:
Giáo hội rất đề cao Phép Thánh Thể...
Xin cho biết: - Ai được rước lễ? Ai phải rước lễ trong mùa Phục sinh? Điều răn thứ 4 trong 6 điều răn của Hội thánh dạy "Rước Mình Thánh Chúa trong mùa Phục sinh", bắt đầu và kết thúc ngày nào? Muốn rước lễ phải làm gì? Ai không được rước lễ?
Đáp:
Nói đến luật Hội thánh thì xin bắt đầu bằng việc mở giáo luật coi xem sao?
1- Trước hết, Giáo hội rất đề cao Phép Thánh Thể.
Giáo luật viết: "Bí tích Thánh Thể là BT cao trọng nhất, trong đó Chúa Giêsu hiện diện, tự hiến và trở nên lương thực, nhờ đó Giáo hội tiếp tục được sống và tăng trưởng..." (điều 897)
Theo những lời trên, ta hiểu rằng: nhờ Mình Thánh Chúa, con cái Giáo hội được "sống và "lớn lên" trong Chúa. Nói ngược lại, không có Thánh Thể Chúa, linh hồn ta sẽ "yếu đuối, còm cõi, và chết". Chúa đã phán:"Ai ăn Thịt Ta...sẽ sống muôn đời" (Ga 6,58)
2- Ai được rước lễ:
"Bất cứ ai đã chịu Phép Rửa tội và không bị luật cấm, đều có thể và phải được nhận cho rước lễ" (điều 912)
3- Ai buộc rước lễ mùa Phục sinh?
"Mọi tín hữu, sau khi rước lễ lần đầu, buộc phải rước lễ ít nhất mỗi năm một lần.(Giáo luật số 920,2). Mệnh lệnh này phải được chu toàn vào mùa Phục sinh (mùa Phục sinh bắt đầu từ lễ Chúa Phục sinh đến chiều lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống), trừ khi có lý do chính đáng, có thể chu toàn vào mùa khác trong năm ( điều 920,2).
- Cho thân xác ăn một năm một bữa, hay cho linh hồn một năm rước Chúa một lần thí ít quá, vì vậy, Giáo hội dạy ta phải "siêng năng và sốt sắng nhận lãnh Mình Thánh Chúa, hết lòng thờ phượng bái kính Thánh Thể Chúa" (điều 898),
- Giáo hội rộng ban: "Nếu một ngày ai dự 2 lễ, thì được rước lễ 2 lần" (Gl điều 917), miễn là họ kiêng ăn uống (trừ nước lã hoặc uống thuốc ít là 1 giờ trước khi lên rước lễ) nhưng không buộc 1 giờ đối với các người già, người bệnh và người săn sóc bệnh nhân, nếu họ ăn chút ít mà không đủ 1 giờ thì cũng được phép rước lễ (điều 919,3).
- Người tín hữu nguy tử (gần chết), dù đã rước lễ rồi, cũng được rước lễ nữa như của "Ăn đàng" về trời. Các ngày sau còn nguy tử thì cứ được rước lễ nữa (điều 921-922). Trẻ em nguy tử cũng được rước lễ, nếu em (chưa xưng tội lần đầu) nhưng phân biệt được Mình Thánh Chúa và của ăn thường, và kính cẩn rước lễ (điều 913).

4- Muốn rước lễ phải làm gì?
Ba điều kiện để rước lễ như giáo lý các em xưng tội lần đầu vẫn học là: 1/ Sạch tội trọng, 2/ Có ý ngay lành, 3/ giữ chay 1 giờ trước khi rước lễ.
Mỗi khi rước lễ, phải dọn tâm hồn với lòng tin, cậy kính mến, khiêm nhường "Lạy Chúa, con chẳng đáng..." Chúng ta thật bất xứng và thiếu sót, không đáng rước Mình Máu thánh Chúa , nhưng ta được phép "nhờ Mẹ Maria" giúp dọn mình và cám ơn khi rước Chúa, đó lại là điều rất đẹp lòng Chúa.

5 - Những ai không được rước lễ?
a/ Những ai "biết mình phạm tội trọng và chưa xưng tội trước thì không được rước lễ" (Gl điều 916).

b/ Những ai bị vạ tuyệt thông (ví dụ: phá thai, (1398) và cấm chế sau khi hình phạt đã tuyên kết hay tuyên bố,
c/ Những ai cố chấp trong tội trọng công khai, (ví dụ: ly dị rồi tự ý kết hôn không có phép Giáo hội) (Gl điều 915).
*Đang có gia đình mà ngoại tình với người cũng đang có gia đình...Tội này Rất Trọng vì phá Gia Cang của GĐ họ, và hủy hoại GĐ của chính mình.
Những người này họ đang sống trong Tội, nhưng vẫn lên Rước Mình Thánh Chúa mỗi khi tham dự Thánh Lễ, Họ phạm tội "Phạm Sự Thánh"...,và làm gương xấu cho những người chung quanh.
Trước mặt Thiên Chúa & Lương Tâm không thể nào che dấu được, ngoại trừ họ bị mất trí nhớ???

Xin kể câu chuyện về ích lợi việc rước lễ:
Ông thánh Thomas More (1478-1525) đã một thời làm quan tể tướng của vua Henri 8 nước Anh. Tuy làm quan lớn trong triều đình, nhưng ông vẫn đi lễ và rước lễ hằng ngày. Việc này làm các quan trong triều bàn tán, họ nói:
- Một giáo dân như quan tể tướng bận rộn với biết bao công việc, bao lo âu.. còn phải mất thời giờ đi lễ thường xuyên như thế.
Quan tể tướng trả lời ngay:
- Thế nhưng chính các vị đã chính xác nêu lên những lý do giải thích tại sao tôi cần phải Thường xuyên đi lễ và rước lễ. Nếu tôi có nhiều lo âu, việc rước lễ đem lại cho tôi sự can đảm, nếu mỗi ngày tôi phải gặp bao cơ hội làm phiền lòng Thiên Chúa, mỗi ngày việc rước lễ cho tôi những sức lực mới để tôi chống trả tội lỗi. Nếu tôi cần sự khôn ngoan và hiểu biết để chu toàn những phận vụ khó khăn, tôi tìm đến với Chúa mỗi một ngày để gặp được ánh sáng và những lời khuyên.

Lm. Đoàn Quang, CMC

-----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 84