mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay400
mod_vvisit_counterHôm Qua5412
mod_vvisit_counterTuần Này11705
mod_vvisit_counterTuần Trước42988
mod_vvisit_counterTháng Này72633
mod_vvisit_counterTháng Trước269154
mod_vvisit_counterTất cả9852392

We have: 129 guests online
Your IP: 54.234.247.118
 , 
Today: Dec 13, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THU BA CN29TN-A PDF Print E-mail

 Thứ Ba 24-10 - CN29TN-A

HỌC HỎI- Suy Nghiệm VÀ SỐNG Lời Chúa

Phúc Âm: Lc 12, 35-38

Chủ mà cũng không có chìa khóa vào nhà... phải gõ cửa chờ mở ra cho

Trong Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XXIX Thường Niên hôm nay Chúa Giêsu cho chúng ta thấy hình ảnh sống động về một con người công chính sống bởi đức tin như thế nào, qua những gì Người nói với các môn đệ của Người sau đây:

"Các con hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, và hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ về gõ cửa, thì mở ngay cho chủ. Phúc cho những đầy tớ nào khi chủ về còn thấy tỉnh thức. Thầy bảo thật các con, chủ sẽ thắt lưng, xếp chúng vào bàn ăn, và đi lại hầu hạ chúng. Nếu canh hai hoặc canh ba, chủ trở về mà gặp thấy như vậy, thì phúc cho các đầy tớ ấy".

Người công chính sống bởi đức tin ở đây, theo lời Chúa dạy trong Bài Phúc Âm hôm nay, trước hết và trên hết, đó là một con người luôn có thái độ "tỉnh thức", bằng cách "thắt lưng" (hy sinh, bỏ mình, làm chủ bản thân) và "cầm đèn cháy sáng trong tay" (cây đèn đức tin cháy lửa đức mến bằng dầu đức cậy), nhờ đó, họ mới có thể tiếp nhận chủ của họ khi người chủ của họ "đi ăn cưới về".

Kinh nghiệm sống đạo cho thấy một khi Kitô hữu sống buông thả theo bản tính tự nhiên, không khổ chế, không hãm mình, không "thắt lưng", thì hậu quả bất khả tránh đó là ngọn đèn đức tin của họ không thể hay khó lòng cháy sáng được, vì ngọn đèn này bị đam mê nhục dục và tính mê nết xấu của họ dập tắt mất bằng đủ mọi thứ tội lỗi của họ.

Về thời giờ chủ của họ trở về mà họ không "tỉnh thức" không thể đón nhận Người, là vì thời giờ ấy không dễ đoán trước hay ngay giữa ban ngày, song vào "canh hai hoặc canh ba", (nghĩa là vào khoảng "nửa đêm" như trong dụ ngôn 10 trinh nữ - Mathêu 25:6 - "canh hai" từ 9 giờ tối tới nửa đêm "hay canh ba" từ nửa đêm tới 3 giờ sáng), một thời giờ vừa đêm tối về thời gian vừa buồn ngủ về nhân gian.

Thời điểm được Chúa Giêsu khuyên các môn đệ của Người phải "tỉnh thức" trong bài Phúc Âm hôm nay đây có thể hiểu về thời điểm Người tái giáng, Người đến lần thứ hai, thời điểm Người "ăn cưới về", nghĩa là thời điểm xẩy ra sau khi Người nhập thể (để hiệp nhất nên một với nhân loại nơi ngôi vị hai bản tính của Người) cũng như sau khi Người cứu thế (nhờ đó đã phát sinh ra một Nhiệm Thể Giáo Hội hiền thê của Người trên cây Thánh Giá).

Nếu "những đầy tớ nào khi chủ về còn thấy tỉnh thức" để có thể nghênh đón Người và tiếp nhận Người như Người mong muốn, nghĩa là họ còn nhận biết Người, như Người tỏ mình ra cho họ, thì phúc cho họ, bởi vì họ chẳng những gặp lại Người, mà nhất là còn được hiệp nhất nên một với Người, "được thông phần với Thày" (Gioan 13: 8), đến độ: "chủ sẽ thắt lưng, xếp chúng vào bàn ăn, và đi lại hầu hạ chúng", như Người cũng đã thực sự thắt lưng và hạ mình xuống rửa chân cho mỗi và mọi tông đồ trong Bữa Tiệc Ly ngày xưa (xem Gioan 13:4-5), nghĩa là được Người "yêu cho tới cùng" (Gioan 13:1) để nhờ đó các môn đệ của Người có thể sinh muôn vàn hoa trái trong họ và qua họ.

Nguyên việc chính chủ cũng không có chìa khóa mà phải "gõ cửa" để đầy tớ của mình mở cửa cho mà vào trong nhà, hay cho dù chủ có chìa khóa chăng nữa mà cũng không tự động mở vào, đã cho thấy người chủ này rất tôn trọng đầy tớ của mình, và hoàn toàn tin tưởng đầy tớ của mình. Đến độ, có thể nói, ông đã cho đầy tớ được quyền làm chủ, thay ông làm chủ trong thời gian ông đi vắng. Phải chăng ở đây bao gồm cả ý nghĩa quyền bính của riêng vị lãnh đạo Phêrô và các vị thừa kế ngài là các vị giáo hoàng trong giòng thời gian được trao cho "chìa khóa Nước Trời" (Mathêu 16:19), cũng như của chung các tông đồ và các vị giám mục thừa kế các ngài trong việc đóng mở (Mathêu 18:18).

Thật vậy, "chủ sẽ thắt lưng, xếp chúng vào bàn ăn, và đi lại hầu hạ" "những đầy tớ nào khi chủ về còn thấy tỉnh thức", thành phần đầy tớ làm công cho chủ, hoàn toàn không xứng đáng được chủ yêu thương quá như vậy, bởi thân phận của họ chẳng những không ngang hàng với chủ như bạn hữu hay thân nhân ruột thịt, mà còn là một tạo vật tội lỗi xấu xa vô cùng hèn hạ trước nhan Người là Thiên Chúa của họ nữa.

Thế nhưng, ơn cứu độ không phải do công nghiệp của con người, của thành phần đầy tớ, mà do tình yêu nhưng không của Thiên Chúa, do ân sủng của Ngài nơi Đức Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế, đến độ tội lỗi của con người càng tràn lan thì ân phúc của Ngài càng ngập lụt, càng bao phủ tội lội, càng nhận chìm tội lỗi, đúng như cảm nhận và xác tín của Thánh Phaolô Tông Đồ trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay:

"Nếu bởi tội của một người mà nhiều người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa và ơn huệ kèm trong ân sủng của một người, là Ðức Giêsu Kitô, càng tràn ngập chan chứa hơn nữa tới nhiều người. Vì nếu bởi tội của một người mà sự chết đã thống trị do một người đó, thì những người lãnh được ân sủng và ơn huệ dồi dào bởi đức công chính, càng được thống trị hơn nữa trong sự sống do một người là Ðức Giêsu Kitô... Ở đâu càng đầy tràn tội lỗi, thì ở đó càng dồi dào dư dật ân sủng: để như tội lỗi đã thống trị làm cho người ta chết thế nào, thì nhờ đức công chính, ân sủng sẽ thống trị làm cho người ta sống đời đời do Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, cũng như vậy".

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa những nhận thức và tâm tình của một con người sống bởi đức tin ở chỗ dấn thân thực thi ý muốn tối cao của Vị Thiên Chúa công minh và từ bi nhân ái, để tình yêu và ân sủng của Ngài càng được tràn lan viên mãn:

1) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở tai con. Chúa không đòi hỏi lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến".

2) Như trong Quyển Vàng đã chép về con: lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật của Chúa ghi tận đáy lòng con.

3) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong đại hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi.

4) Hãy mừng vui hoan hỉ trong Chúa, bao nhiêu kẻ tìm Chúa, và luôn luôn nói: Chúa thực là cao cả! Bao nhiêu kẻ mong ơn phù trợ của Ngài.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU HAI TUAN29TN-A PDF Print E-mail

-HOC HỎI - Suy Nghiệm Lời Chúa

Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 4, 20-25

Ðáp Ca: Lc 1, 69-70. 71-72. 73-75

Phúc Âm: Lc 12, 13-21

Đồ ngu...

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Hai Tuần XXIX Thường Niên, là bài Phúc Âm tiếp ngay sau bài Phúc Âm của Thứ Bảy tuần trước, và cả 2 bài Phúc Âm, cùng với Bài Đọc 1 của từng ngày, đều nhắm đến vấn đề người công chính sống bởi đức tin.

Thật vậy, chính đức tin mới chứng tỏ ai là người công chính và ai là người không công chính hay chưa công chính. Mà đức tin không thể tách rời với thử thách, tức những thử thách liên quan tới bản tính tự nhiên, tới giác quan thực nghiệm, tới ý nghĩ phàm nhân cho dù là hợp lý, tới ý muốn tự do cho dù là tốt lành v.v.

Bởi thế ai công chính là người như nhìn thấy Đấng vô hình, là người đi mà không biết mình đi đâu ngoài những nơi được hứa hẹn song chưa bao giờ tới, là người hy vọng trong cả những lúc hầu như tuyệt vọng v.v. Như trường hợp của vị tổ phụ Abraham là nhân vật được gọi là cha của những kẻ tin, như Thánh Phaolô Tông Đồ cho thấy trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Anh em thân mến, lòng tin của Abraham vào Thiên Chúa không nao núng, mặc dầu ông nhìn đến thân xác cằn cỗi của mình, -- vì ông đã gần trăm tuổi, -- và tuổi già tàn tạ của Sara. Ông đã không cứng lòng hồ nghi lời hứa của Thiên Chúa; trái lại, ông vững tin mà làm sáng danh Thiên Chúa, ông biết chắc chắn rằng Thiên Chúa có quyền năng thi hành điều Người đã hứa. Bởi đấy, 'việc đó đã được kể cho ông là sự công chính'".

Đức tin đây không phải chỉ áp dụng cho riêng tổ phụ Abraham mà cho tất cả những ai tin tưởng như ông, tin tưởng vào Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, Vị Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho tổ phụ Abraham bằng lời hứa của Ngài, một lời hứa đã được hiện thực nơi Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế. Bởi thế, Thánh Phaolô Tông Đồ đã viết thêm cho Kitô hữu thuộc Giáo đoàn Rôma như sau:

"Và khi chép rằng 'đã được kể cho ông', thì không phải chỉ chép vì ông mà thôi, mà vì chúng ta nữa, là những kẻ tin vào Ðấng đã cho Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, từ cõi chết sống lại, Người đã bị nộp vì tội lỗi chúng ta, và đã sống lại để chúng ta được công chính hoá".

Đề tài người công chính sống bởi đức tin cũng được chính Chúa Giêsu áp dụng trong bài Phúc Âm hôm nay, qua dụ ngôn Người huấn dụ về khuynh hướng tự nhiên nơi con người thường tham lam vô đáy và chỉ muốn hưởng thụ tối đa, chẳng biết đến yêu thương bác ái là gì, đến nỗi họ chỉ biết có thiên đường trần gian mà quên mất linh hồn bất tử đời sau của mình:

"Một người phú hộ kia có ruộng đất sinh nhiều hoa lợi, nên suy tính trong lòng rằng: 'Tôi sẽ làm gì đây, vì tôi còn chỗ đâu mà tích trữ hoa lợi?' Ðoạn người ấy nói: 'Tôi sẽ làm thế này, là phá các kho lẫm của tôi, mà xây những cái lớn hơn, rồi chất tất cả lúa thóc và của cải tôi vào đó, và tôi sẽ bảo linh hồn tôi rằng: Hỡi linh hồn, ngươi có nhiều của cải dự trữ cho nhiều năm: ngươi hãy nghỉ ngơi, ăn uống vui chơi đi!' Nhưng Thiên Chúa bảo nó rằng: 'Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?' Vì kẻ tích trữ của cải cho mình, mà không làm giàu trước mặt Chúa, thì cũng vậy".

"Nếu được lợi lãi cả và thế gian mà mất linh hồn nào được ích gì" (xem Mathêu 16:26) thì quả thật: "Hỡi kẻ ngu dại, đêm nay người ta sẽ đòi linh hồn ngươi, thế thì những của ngươi tích trữ sẽ để lại cho ai?". Đó là lý do Chúa Giêsu đã cảnh giác "người trong đám đông thưa cùng Chúa Giêsu rằng: 'Lạy Thầy, xin Thầy bảo anh tôi chia gia tài cho tôi'" rằng: "Các ngươi hãy coi chừng, giữ mình cho khỏi mọi thứ tham lam: vì chẳng phải sung túc mà đời sống được của cải bảo đảm cho đâu".

Ở đây, Chúa Giêsu chẳng những cảnh báo cho người anh tham lam không chịu chia gia tài cho người em mà còn cảnh giác cả người em bị thiệt phần gia tài bị anh lấy mất nữa. Như thể Người khuyên người em rằng có lấy được phần gia tài của mình chăng nữa cũng chẳng ích lợi gì, cũng không quan trọng bằng phần rỗi đời đời của anh ta, đôi khi còn vì của cải mà mất linh hồn nữa. Trái lại, anh ta có thể lợi dụng chính những bất công và thua thiệt về vật chất ấy để sống đức tin, để sống nghèo khổ, để sống thiếu thốn, nhờ đó anh ta mới có thể càng thêm lòng trông cậy mọi sự nơi Đấng Quan Phòng Thần Linh.

Bài Đáp Ca hôm nay được trích từ Ca Vịnh của Tư Tế Giacaria, thân phụ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, bài ca vịnh được ông bộc phát sau một thời gian dài câm lặng, bởi ông đã tỏ ra hồ nghi không tin lời tiên báo của Tổng Thần Gabiên về việc người vợ son sẻ hết thời của ông sẽ hạ sinh một người con trai (xem Luca 1:18-20), cũng như sau khi người con trai "là tiếng kêu trong sa mạc" của ông vừa mở mắt chào đời và đang cần đặt tên cho.

Nội dung của Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa ý thức đức tin về một Vị Thiên Chúa giao ước cũng chính là Vị Thiên Chúa cứu độ của thành phần công chính sống bởi đức tin:

1) Chúa đã gầy dựng cho chúng tôi một uy quyền cứu độ, trong nhà Ðavít là tôi tớ Chúa. Như Người đã phán qua miệng các thánh nhân từ ngàn xưa, là tiên tri của Chúa.

2) Ðể giải phóng chúng tôi khỏi quân thù, và khỏi tay những người ghen ghét chúng tôi. Ðể tỏ lòng từ bi với tổ tiên chúng tôi, và nhớ lại lời thánh ước của Người.

3) Lời minh ước mà Người tuyên thệ với Abraham tổ phụ chúng tôi, rằng Người cho chúng tôi được không sợ hãi, sau khi thoát khỏi tay quân thù. Phục vụ Người trong thánh thiện và công chính, trước tôn nhan Người, trọn đời sống chúng tôi.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-----------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DA0-TRA CHO THIEN CHUA-CN29 PDF Print E-mail

Chúa Nhật XXIX Thường Niên A
CỦA THIÊN CHÚA TRẢ CHO THIÊN CHÚA
Is 45,1.4-6; 1Tx 1,1-5b; Mt. 22,15-21

Vào thời Chúa Giêsu - những năm 30, nước Israen bị đặt dưới ách thống trị của Đế Quốc Rôma - La Mã hoàng đế là César Tiberius, Dân Do thái phải nộp thuế cho chính quyền Rôma. Có ba thứ thuế: thuế điền thổ, thuế lợi tức và thuế thân. Luật thuế thân qui định mọi người nam nữ từ 14 đến 65 tuổi đều phải đóng một denier, tương đương với lương công nhật của một người. Đó là thuế mà nhóm Biệt Phái và Hêrôđê chất vấn Chúa Giêsu có nên nộp thuế cho hoàng đế không.


Nhóm Biệt phái chủ trương dân tộc ái quốc chống nhà cầm quyền Đế quốc không muốn nộp thuế và nhóm Hêrôđê thân chính quyền đô hộ để trục lợi ủng hộ việc nộp thuế. Bình thường, hai nhóm này chống đối nhau, nhưng hôm nay cùng nhau tìm phương thế án hại Chúa Giêsu với một câu hỏi hóc búa về vấn đề nộp thuế. Họ đưa Chúa Giêsu vào thế gọng kìm: một là bị nhà cầm quyền Roma bắt nếu nói không nộp thuế, hai là mất uy tín với dân chúng vì là người phản quốc nếu tuyên bố phải nộp thuế...
Trước gọng kìm tiến thoái lưỡng nan, Đức Giêsu truyền đưa đến đồng tiền nộp thuế. Đây là một đồng tiền bằng bạc, được lưu hành trong toàn đế quốc La mã từ năm 268 trước công nguyên đến năm 200 sau công nguyên vẫn còn được sử dụng. Trên mặt đồng tiền có hình bán thân của hoàng đế César Tiberius. Người hỏi họ:"Hình và danh hiệu này là của ai"? Họ đáp :"Của César". Bấy giờ, Người bảo họ :"Thế thì của César, trả về cho César ; của Thiên Chúa, trả về cho Thiên Chúa".
Đồng tiền mang hình César nên chúng ta phải trả cho César, còn con người chúng ta mang hình ảnh Thiên Chúa phải trả về Thiên Chúa hình hài xứng đáng, Sách Sáng Thế viết: "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa" (St 1,27). Vì thế, con người là tác phẩm tuyệt vời mà Thiên Chúa nhìn thấy rất rõ hình ảnh của Người trong đó. "Của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa". Nhưng buồn thay người ta phá vỡ hình ảnh xinh đẹp của Thiên Chúa, khi người ta ly dị phá vỡ tình yêu được Thiên Chúa Ba ngôi kết hợp, phá thai giết chết những sinh linh bé bỏng mang hình ảnh Thiên Chúa, một tội ác đang diễn ra hàng ngày.... Tiếng thét của những sinh linh bé bỏng mang hình ảnh của Thiên Chúa, không được lắng nghe.
Các qui luật của thiên nhiên, các định luật trong vũ trụ, đều được Thiên Chúa quan phòng sắp xếp: mọi vật đều có nhiệm vụ kể cả cỏ cây, để phục vụ đời sống tươi đẹp của con người. Cho nên, khi nghiên cứu vũ trụ vạn vật nhà bác học Newton đã nói: "Tôi nhìn thấy Thiên Chúa trên đầu viễn vọng kính của tôi". Khi con người tự mình phá vỡ những qui luật thiên nhiên và vũ trụ thì tai họa sẽ ập tới.
Chúng ta nhìn vào lịch sử phát triển của thế giới khi con người tự cho mình quyền định đoạt phá hủy thiên nhiên, thảm họa đã xảy ra cho chính con người, như chúng ta thấy con người phá hoại rừng, gây lụt lội, con người không tôn trọng thiên nhiên gây ô nhiễm đe dọa trực tiếp môi trường sống của chính mình ví dụ như thải khí carbonic lên bầu trời, cho lủng tầng Ozone.... Những thảm họa thiên nhiên như là sự nổi giận và tiếng thét kêu cứu của thiên nhiên vang vọng những con người vẫn cứ làm ngơ....
Thật thế, vũ trụ vạn vật tiềm tàng dấu ấn của Thiên Chúa: đất, rừng, sông biển, không khí, tài nguyên và muôn sinh vật. Hãy trả lại cho Thiên Chúa vũ trụ trong lành, hiền hậu, nghĩa là trả lại cho con người món quà Ngài đã tặng...
Cho nên trả về cho thiên nhiên và môi trường sống căn tính của vạn vật mà Thiên Chúa đã phú vào. Tôn trọng luật lệ thiên nhiên khi chăm sóc vũ trụ vạn vật tạo môi trường sống trong lành cho sức khỏe con người. Trồng cây gây rừng tạo khoảng không xanh, chống ô nhiễm, bảo tồn thiên nhiên - động vật .
Với hình ảnh César mà Chúa Giêsu nhắc tới: "Của César trả cho César" , con người cũng cần trân trọng quyền bính dân sự, để quản lý trật tự xã hội.., Chúa Giêsu không nói rõ ràng là phải nộp thuế cho César hay không, nhưng Chúa khẳng định: Hãy trả cho hoàng đế những gì thuộc về hoàng đế, mệnh lệnh diễn tả những đòi buộc của đời sống cộng đồng xã hội trong số những đòi buộc tự nhiên. Vì dù Kitô hữu là công dân của Nước Trời (x. Pl 3,19-20), chúng ta cũng là công dân của một quê hương trần thế mà chúng ta mang trách nhiệm, đòi chúng ta phải dấn thân phục vụ (x. Cv 21,39: Phaolô, công dân thành Tarsê; Cv 16,37-39 và 22,25-29; Phaolô, công dân Rôma). Cho nên người Kitô hữu không thể nào tự miễn cho mình những bổn phận của người công dân đối với quốc gia và xã hội với điều kiện quyền bính dân sự phục vụ công ích cho người dân, Thánh Phaolô đã dạy: "Những gì ta nợ ai, thì phải trả cho người ấy. Hãy nộp thuế cho kẻ có quyền thu thuế hay trả công cho kẻ có quyền lấy công, hãy sợ kẻ đang sợ, hãy kính kẻ đáng kính" (Rm 13,7). Cho nên đối với quyền bính dân sự phục vụ ích lợi chung (không là quyền bính phục vụ cho cá nhân hay lợi ích một nhóm nhỏ), thánh Phaolô nói: "Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa, và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập. Như vậy, ai chống đối quyền bính là chống lại trật tự Thiên Chúa đặt ra, và kẻ nào chống lại sẽ chuốc lấy án phạt" (Rm 13,1-2).
Tuy nhiên, nếu chúng ta đóng góp vì nghĩa vụ công dân thì cũng đừng quên rằng mình thuộc về Thiên Chúa, và chỉ mình Ngài mới có quyền tối thượng vi: Mọi quyền bính đều bắt nguồn từ Thiên Chúa (x.Ga 19,11; Rm 13,1), là Đấng chúng ta phải yêu mến và tuân phục trên hết mọi sự.
Trong đời sống hằng ngày, có thể xảy ra những tranh chấp, xung đột giữa quyền bính Thiên Chúa và quyền bính xã hội như chúng ta thấy thời các tông đồ bị Hòang đế bất công bắt chối bỏ niềm tin vào Thiên Chúa và vâng phục quyền bính của Ngài. Người Kitô hữu, phải chọn lựa giữa việc vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người ta (x. Cv 4,18-20). Sách Giáo lý Công giáo số 2242 đã khẳng định: "Người công dân có nghĩa vụ, theo lương tâm, không tuân theo những luật lệ của chính quyền dân sự, khi các luật lệ này nghịch với những đòi hỏi của trật tự luân lý, nghịch với những quyền căn bản của con người hoặc với những lời dạy của Phúc âm. Sự từ chối vâng phục các uy quyền dân sự khi họ đòi hỏi những điều nghịch với lương tâm ngay chính, được biện minh bởi sự phân biệt giữa việc phục vụ Thiên Chúa và việc phục vụ cộng đồng chính trị. "Trả về César cái gì của César, và trả về Thiên Chúa cái gì của Thiên Chúa". "Phải vâng phục Thiên Chúa hơn là vâng phục người ta".
Vua Henry VIII nước Anh đã kết hôn hợp thức với bà Catherine d'Aragon, nhưng ông muốn ly dị để cưới vợ mới và nại đến tòa thánh Rôma xin hủy bỏ cuộc hôn nhân đó. Toà thánh đã từ chối. Henry liền tự phong mình là giáo chủ của Nước Anh, tự mình giải quyết vấn đề và tái kết hôn. Thế là ông ta ra lệnh cho bạn bè và các chức sắc ký vào một văn bản tuyên bố đồng ý nhìn nhận hành động của ông là đứng đắn. Thomas More lúc đó là thủ tướng đã từ chối, trong lúc nhiều bạn bè của More đã ký vào, nhưng. Vua Henry yêu cầu More ký vào, nếu không sẽ bị bắt giam và xử tội tạo phản theo luật nhà nước. More vẫn can đảm từ chối. Ngài bị giằng co giữa hai bổn phận: một đối với Chúa, một đối với Tổ quốc. Khi chúng xung đột nhau, thì More không còn chọn lựa nào ngoài sự trung tín với luật Chúa (M. Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr. 305).
Xin Chúa giúp chúng ta trở nên người công dân tốt trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, và người tín hữu công dân nước Trời tin tưởng, tín thác và vâng phục Thiên Chúa trên hết...
Vâng,
Con có một tổ quốc,
một Quê hương Việt Nam,
Con yêu quí ngàn đời....
Con có Chúa là Cha,
Con yêu, con tín thác,
Con tín trung...

Lm. Vinh Sơn scj, Sài Gòn

 
HOC HOI DE SONG DAO- HOC HOI-SUY NIEM CN29TN-A PDF Print E-mail

HỌC HỎI- SUY NIỆM- CHIA SẺ LỜI CHÚA CN29-TN-A

Lễ KÍNH Thánh Gioan Phaolô II 22-10: Vị GH Fatima LTXC

Năm 2017 ngày 22/10 lại trùng vào Chúa Nhật Truyền Giáo, một chiều kích truyền giáo rất thích hợp với giáo triều dài 26 năm rưỡi của một vị giáo hoàng đã thực hiện 104 chuyến tông du khắp thế giới để kêu gọi chung loài người và con cái Giáo Hội: "Đừng sợ, hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô - Don't be afraid, open wide the door for Christ", lời kêu gọi ngài đã phát động ngay trong bài giảng lễ đăng quang giáo hoàng của ngài ngày 22/10/1978.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II xuất thân từ một quê hương đất nước cộng sản Balan, một mảnh đất có những lò diệt chủng Do Thái thời Đức Quốc Xã trong Thế Chiến Thứ II (1939-1945), đã được Trời Cao tuyển chọn để ban bố Sứ Điệp LTXC qua Thánh Nữ Faustina từ thập niên 1930, nên lời kêu gọi "đừng sợ, hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô" là "Đấng Cứu Chuộc Nhân Trần - Redemptor Hominis", nhan đề cho bức thông điệp đầu tay của ngài (ban hành ngày 4/3/1979, có nghĩa là "Giêsu ơi, con tin nơi Chúa - Jesus, I trust in you".

Chàng thanh niên Karol Wojtila 18 tuổi bắt đầu từ Wadowice là quê quán sinh trưởng của mình đến thành phố Crakow ở Balan vào năm 1938, cũng chính là nơi và là năm vị nữ tu Faustina 33 tuổi qua đời ngày 5/10, có biết đâu rằng sau này chàng đã "bất ngờ" trở thành vị Tổng Giám Mục ở TGP Crakow năm 1963, vị bắt đầu tiến trình phong thánh cho nữ sứ giả của LTXC Fuastina năm 1965, vì trở thành Giáo Hoàng 40 năm sau: 16/10/1978, vị phong hiển thánh cho nữ tu Faustina ngày 30/4 trong Đại Năm Thánh 2000, và đồng thời cùng năm cũng đã thiết lập Lễ LTXC theo đúng ý nguyện của Chúa Giêsu là Đấng chẳng những muốn LTXC được tôn kính nơi Bức Ảnh LTXC được Chị Faustina phổ biến mà còn được tôn thờ bởi cả Giáo Hội nơi phụng vụ Chúa Nhật II Phục Sinh.

Vị Giáo Hoàng "bất ngờ" xuất hiện trên Ngai Tòa Thánh Phêrô ngày 16/10/1978 xuất thân từ một nước cộng sản Balan thuộc Đông Âu này, sau 455 năm liên tục chỉ có Giáo Hoàng người Ý, đã được Trời Cao tuyển chọn để làm biến đổi lịch sử thế giới đúng như Bí Mật Fatima phần thứ ba đã tiên báo nơi "vị giám mục mặc áo trắng" bị ám sát, mà ngài là "giám mục" Roma khi bị ám sát chết hụt ở Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 13/5/1981 cũng đang "mặc áo trắng".

Sau khi hồi tỉnh, nhận biết mình được Người Mẹ mà ngài đã tận hiến "totus tuus" cứu mạng vào chính ngày Mẹ hiện ra ở Fatima lần đầu tiên 13/5, ngài đã đọc Bí Mật Fatima phần thứ ba và đã thực hiện việc hiến dâng Nước Nga cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ 3 lần, lần đầu ở Đền Thờ Đức Bà Cả qua truyền thanh ngày Lễ Hiện Xuống mùng 7/6/1981, lần hai vào ngày 13/5/1982 ở chính Linh Địa Thánh Mẫu Fatima, và lần thứ ba ngày 25/3/1984 ở Giáo Đô Roma.

Nhưng chỉ vào lần thứ ba có sự hiệp dâng của hàng giáo phẩm trên thế giới theo đúng ý muốn của Trời Cao, như Mẹ Fatima đã cho chị Lucia biết trong thị kiến cuối cùng chị được thấy ngày 13/6/1929, việc hiến dâng Nước Nga này mới thực sự nên trọn, nhờ đó, tiếng súng "bất ngờ" vang lên ở Quảng Trường Thánh Phêrô ngày 13/5/1981 đã biến thành tiếng súng lệnh báo trước biến cố sụp đổ của chủ nghĩa và chế độ cộng sản ở Đông Âu năm 1989, bắt đầu xẩy ra từ quê hương Balan của vị giáo hoàng này, và sau đó là Liên Sô Nga cộng ngày 25/12/1991.

Chính vị tổng thư ký Liên Sô Nga cộng Gorbachew trẻ nhất trong thành phần tổng thư ký đảng cộng sản Liên Sô, "bất ngờ" xuất hiện vào Tháng 3/1985, tức sau đúng 1 năm Nước Nga được hiến dâng cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Mẹ Maria 3/1984, đã phải công nhận vai trò bất khả thiếu của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong biến cố Đông Âu sụp đổ một cách "bất ngờ" và bất bạo động theo chiều hướng Kitô giáo.

Riêng bản thân của ĐTC Gioan Phaolô II và chung Giáo Triều của ngài bao gồm 2 chiều kích bất khả phân ly là LTXC và Thánh Mẫu Fatima mà ngài: 1- đã qua đời vào ngày 2/4/2005: Thứ Bảy Đầu Tháng và áp lễ LTXC; 2- đã phong thánh cho nữ tu sứ giả LTXC Faustina ngày 30/4/ và phong chân phước cho 2 Thiếu Nhi Fatima thụ khải Phanxicô và Giaxinta ngày 13/5 cùng trong Năm 2000; 3- đã thiết lập lễ LTXC và cho tiết lộ Bí Mật Fatima phần thứ ba, cả hai đều trong Đại Năm Thánh 2000; 4- đã được phong chân phước vào ngày 1/5 là đầu tháng Hoa Đức Mẹ và là CN Lễ LTXC.

Nhân ngày lễ nhớ Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, chúng ta hãy nghe lại lời nhắc nhủ và kêu gọi khẩn thiết của ngài ngày 17-18/8/2002 trong lần ngài về Balan lần thứ 8 cũng là lần cuối cùng:

* "Thế giới ngày nay cần đến tình thương của Thiên Chúa biết bao!... Trong tình thương của Thiên Chúa thế giới mới tìm thấy hòa bình và nhân loại mới tìm thấy hạnh phúc! Tôi ký thác công việc này cho tất cả mọi người sùng mộ Lòng Thương Xót Chúa... Chớ gì anh chị em là những chứng nhân cho tình thương!"

(ĐTC GPII – Balan 17/8/2002)

* "Hôm nay đây dường như chúng ta được kêu gọi đặc biệt để loan báo sứ điệp này trước thế giới. Chúng ta không thể lơ là với sứ vụ này, nếu chính Thiên Chúa đã kêu gọi chúng ta thực hiện sứ vụ này qua chứng từ của Thánh Nữ Faustina"

(ĐTC GPII – Balan 18/8/2002)

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CN29TN-A PDF Print E-mail

 Chúa Nhật XIX TN Năm A 22-10-2017

Phúc Âm: Mt 22, 15-21

"Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho ông Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa".

Khi ấy, các người biệt phái họp nhau lại bàn mưu để bắt bẻ Chúa Giêsu trong lời nói. Các ông sai môn đồ của các ông đi với những người thuộc phái Hêrôđê đến nói với Người rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người ngay chính, căn cứ theo sự thật mà dạy bảo đường lối Thiên Chúa. Thầy chẳng cần để ý đến ai, vì Thầy không tây vị người nào. Vậy xin Thầy nói cho chúng tôi biết Thầy nghĩ thế nào: Có được phép nộp thuế cho Cêsarê hay không?" Chúa Giêsu thừa hiểu ác ý của họ, nên nói: "Bọn người giả hình, các ngươi gài bẫy Ta làm gì? Hãy đưa Ta xem đồng tiền nộp thuế". Họ đưa cho Người một đồng bạc. Và Chúa Giêsu hỏi họ: "Hình tượng và danh hiệu này là của ai?" Họ thưa rằng: "Của Cêsarê". Bấy giờ Người bảo họ rằng: "Vậy, cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa".

HỌC HỎI- Suy Nghiệm Lời Chúa

Đừng có mà tưởng bở ...

Lịch sử và thực tế cho thấy, con người nói chung và con người vô thần nói riêng, kể cả thành phần nhận mình là hữu thần mà sống như vô thần, thì họ có nhiều lầm tưởng lắm. Họ cho mình làm được những gì họ nghĩ theo khả năng tự nhiên hay trau dồi của họ và được làm những gì họ muốn liên quan đến luân thường đạo lý. Chẳng hạn, theo lập luận của con người văn minh tân tiến về nhân bản tột đỉnh hiện nay, họ lấy lý thân xác là của họ và cái mầm thai hoặc cái thai còn non trong tử cung của họ chỉ là một cục thịt nên họ có quyền trên thân xác của họ (như luật nhân tạo cho phép) để trục xuất cục thịt ấy ra khỏi thân xác độc quyền của họ.

Thế nhưng, thử hỏi họ nhé: 1- thân xác của họ từ đâu mà có, hay họ tự nhiên mà có không cần ai dựng nên và không cần phải được sinh ra, và 2- nếu họ chính là cục thịt mầm thai hay cái thai non bị trục xuất ấy thì họ có muốn bị mẹ của họ phá thai hủy hoại họ như họ phá đi cái thai họ cưu mang hay chăng? 3- họ có biết rằng nếu cục thịt ấy không phải "là" người thì không bao giờ phát triển thành hình thể của một con người, (chứ phải một con vật hay một đồ vật), trong tử cung của là người họ, 4- bởi thế họ trục xuất cục thịt là người ấy họ đã sát hại một con người, dù bấy giờ mầm thai ấy hay cái thai non ấy chưa thành hình dạng con người, nhưng nếu không có cục thịt là người ấy thì không thể nào thành hình dạng của một con người như họ.

Trong lịch sử cũng thế, các chính trị gia cũng cứ tưởng mình có quyền là do khả năng và thế giá của mình, nên muốn làm gì thì làm, bất chấp công ích hay quần chúng. Thế nhưng, như thực tế cho thấy, để được bầu làm tổng thống, trong thời gian tranh cử, họ đã làm hết cách để mị dân, làm tôi dân chúng, cho dù gian trá, hầu chiếm được phiếu bầu của dân. Thậm chí có những Kitô hữu bất chấp đức tin của mình để giữ lấy vị thế chính trị đang lên của mình hay cần được tái đắc cử của mình, bằng cách phò phá thai, phò đồng tính hôn nhân, phò triệt sinh an tử hay triệt sinh trợ tử v.v.

Đó là lý do trong bài Phúc Âm cho Chúa Nhật XXIX Thường Niên Năm A hôm nay, để trả lời cho thành phần công chính kiểu đạo theo (theo ý nghĩ, ý thích và ý riêng của mình) hơn là theo đạo (là tinh thần luật, là lòng thương xót, là phục vụ hơn hưởng thụ, là cho đi phúc hơn nhận lãnh v.v.) đã đặt vấn đề với Chúa Giêsu, âm mưu "bắt bẻ Chúa Giêsu trong lời nói": "Xin Thầy nói cho chúng tôi biết Thầy nghĩ thế nào: Có được phép nộp thuế cho Cêsarê hay không?", Chúa Giêsu liền trả lời khiến họ cứng họng, đang khôn ngoan sáng suốt trở thành lẩn thẩn như thể đã bị một tay cao thủ giáng cho một đón chí tử làm họ choáng váng cả mặt mày: "Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa".

Đối với họ, với thành phần biệt phái và kinh sư mà trong số họ có nhiều người đóng vai trưởng tế và kỳ lão trong Hội Đồng Đầu Mục Do Thái thì cho dù tận đáy lòng muốn lật đổ đế quốc Roma đấy, vẫn mong muốn có một vị cứu tinh thiên sai nào đó như thời các quan án hậu xuất hành để cứu đất nước và dân tộc của họ, nhưng vì căm thù ghen ghét Chúa Giêsu Kitô đến tận xương tủy và không đội trời chung mà họ thà làm tôi cho Cesa còn hơn làm tôi cho Thiên Chúa trong việc chấp nhận Con Thiên Chúa làm Người là Đức Giêsu Kitô: "Chúng tôi không có một vua nào khác ngoài Cesar" (Gioan 19:15).

Họ đã không trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa là công nhận Đấng Ngài sai đến với họ, trái lại, họ lại trả về cho Cesar những gì không thuộc về Cesar là lòng thần phục của họ, coi Cesar hơn Thiên Chúa làm người ở giữa họ. Thật ra, trong câu Chúa Giêsu nói: "Cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa" không phải là một tách biệt trần tục là trần tục, thế quyền là thế quyền, cái gì thần linh là thần linh, thần quyền là thần quyền, không dính dáng gì với nhau, trái lại, cả hai đều từ Chúa và đều phải cùng nhau qui về Ngài.

Bởi thế, để áp dụng nguyên tắc này: "cái gì của Cêsarê thì hãy trả cho Cêsarê, và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa", Kitô hữu nói riêng, trước hết, cần phải công nhận quyền bính thế tục và tuân phục quyền bính thế tục, như "trả về cho Cesar những gì của Cesar", tuy nhiên, việc công nhận và tuân phục quyền bính thế tục này nơi họ cần phải được tỏ ra và thực hiện bằng một tinh thần đức tin siêu nhiên, ở chỗ vì Chúa là Đấng ban quyền bình thế tục mà công nhận và tuân phục, có thế họ mới "trả về cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa", trong khi họ "trả về cho Cesar những gì của Cesar".

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, qua miệng tiên tri isaia, Thiên Chúa cũng đã nhắc nhở cho Vua Cyrô, "kẻ xức dầu của Chúa", về thân phận cùng vai trò của ông là người được Ngài tuyển chọn và sử dụng "để bắt các dân suy phục trước mặt nó", nhờ đó ông nhận thức được bản thân mình mà đừng tỏ ra ta đây khi thấy các dân nước thuần phục ông, vì Ngài muốn tỏ mình ra cả nơi ông nữa, như chính Ngài phán cùng ông rằng:

"Nhân vì Giacóp tôi tớ Ta, và Israel kẻ Ta kén chọn, Ta đã gọi đích danh ngươi: Ta đã kêu gọi ngươi khi ngươi không nhận biết Ta. Ta là Chúa, và chẳng còn chúa nào khác: ngoài Ta ra, không có Thiên Chúa nào nữa. Ta đã thắt lưng cho ngươi khi ngươi không nhận biết Ta, để các kẻ từ đông sang tây nhận biết rằng ngoài Ta ra không có ai khác: Ta là Chúa, và chẳng có chúa nào khác".

Con người nói chung và cách riêng thành phần được Thiên Chúa sử dụng trong lãnh vực chính trị hay tôn giáo mà biết "trả về cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa", thì họ sẽ cảm nhận được sâu xa thấm thía tâm thức và tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Hãy ca mừng Thiên Chúa bài ca mới, hãy ca mừng Thiên Chúa, hỡi toàn thể địa cầu. Hãy tường thuật vinh quang Chúa giữa chư dân, và phép lạ Người ở nơi vạn quốc.

2) Vì Thiên Chúa, Người hùng vĩ và rất đáng ngợi khen, Người khả uý hơn mọi bậc chúa tể. Vì mọi chúa tể của chư dân là hư ảo, nhưng Thiên Chúa đã tác tạo trời xanh.

3) Hãy kính tặng Thiên Chúa, hỡi người chư dân bá tánh, hãy kính tặng Thiên Chúa quyền thế với vinh quang, hãy kính tặng Thiên Chúa vinh quang xứng với danh Người. Hãy mang lễ vật, tiến vào hành lang nhà Chúa.

4) Mặc lễ phục, thờ lạy Thiên Chúa. Toàn thể địa cầu, hãy run sợ trước thiên nhan, hãy công bố giữa chư dân rằng Thiên Chúa ngự trị. Người cai quản chư dân theo đường đoan chính.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

---------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 101