mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1385
mod_vvisit_counterHôm Qua7179
mod_vvisit_counterTuần Này42133
mod_vvisit_counterTuần Trước45009
mod_vvisit_counterTháng Này121384
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10262697

We have: 145 guests online
Your IP: 54.242.94.204
 , 
Today: Feb 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DA0 - XUNG TOI VOI LINH MUC PDF Print E-mail

TẠI SAO PHẢI XƯNG TỘI VỚI MỘT LINH MỤC ?

Hỏi :
xin cha giải thích rõ những câu hỏi sau đây:
1- Các mục sư Tin Lành đều dạy phải xin Chúa tha tội, chứ không qua trung gian của ai cả. Như vậy có được không ?
2- Có được xưng tội qua điện thoại hay email không?
3- Khi nào được phép xưng tội tập thể ?
Trả lời :
Như tôi đã có đôi lần nói rõ là : chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mới có đầy đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu độ của Chúa cho những ai muốn lãnh nhận để được cứu rỗi.
Liên quan đến Bí Tích hòa giải ( penance= reconciliation) Chúa Kitô đã ban quyền tha tội trước hết cho các Tông Đồ, và sau này cho Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh Tông Đồ như sau :
" anh em tha cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." ( Ga 20: 23)
Như thế rõ ràng cho thấy là Chúa muốn cho con người phải chạy đến với những người trung gian thay mặt Chúa là các Tông Đồ xưa kia và các vị thừa kế các Tông Đồ ngày nay là các Giám Mục trong Giáo hội để nhận lãnh ơn tha thứ qua bí tích Hòa giải. Các giám mục lại chia sẻ quyền tha tội này cho các linh mục là những cộng sự viên thân cận trực thuộc, cũng được chia sẻ Chức linh Mục đời đời của Chúa Kitô. ( Linh mục chia sẻ một phần, Giám Mục chia sẻ trọn vẹn Chức Linh Mục đó).
Nếu chỉ cần xưng tội trưc tiếp với Chúa mà không qua trung gian ai thì Chúa Giêsu đã không nói với các Tông Đồ những lời trên đây, sau khi Người từ cõi chết sống lại và hiện ra với các ông; cũng như trước đó đã không phán bảo Phêrô những lời sau đây :
" Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên Trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều gì , trên trời cũng sẽ tháo gỡ như vậy." ( Mt 16: 19)
Với quyền to lớn trên đây, Giáo Hội- cụ thể là Đức Thánh Cha- có quyền ra hình phạt nặng nhất là vạ tuyệt thông ( ex-communication) và tháo gỡ vạ này.
Như vậy, muốn được ơn tha thứ của Chúa, thì buộc phải xưng tội cá nhân với một linh mục đã được chịu chức thành sự ( validly) và đang có năng quyền ( priestly Faculties) được tha tội nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi). Sở dĩ thế, vì nếu một linh mục đang bị Giám mục của mình rút hết năng quyền - hay gọi nôm na là bị treo chén ( suspension. x. giáo luật số 1333)- thì tạm thời không được phép cử hành bí tích này và các bí tích khác cho đến khi được trao lại năng quyền đầy đủ .( trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục – dù đang bị "treo chén" vẫn được phép tha tội cho hối nhân đang lâm nguy mà không tìm được linh mục khác để xưng tội và lãnh phép lành sau hết. (x. giáo luật số 976).
Giáo lý và giáo luật của Giáo Hội cũng dạy phải xưng tội cá nhân với một linh mục như sau:
" Thú nhận tội lỗi của mình với vị linh mục là một điều chủ yếu của bí tích Giải tội.Khi xưng tội, các hối nhân phải kể ra tất cả các tội trọng mà mình biết đã phạm, sau khi xét mình cách nghiêm chỉnh, dù các tội này rất kín đáo và chỉ phạm đến hai giới răn sau cùng của bản thập giới; bởi vì các tội này làm cho linh hồn bị trọng thương hơn hết , và nguy hiểm hơn các tội ta phạm mà người khác biết rõ."( x, SGLGHCG số:1456; giáo luật số 960).
Như thế chắc chắn không thể nói như anh em Tin Lành là chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà không cần qua trung gian của ai. Dĩ nhiên Chúa tha tội khi ta thực tâm sám hối và xin Chúa thứ tha. Nhưng vẫn cần phải xưng tội với một linh mục thay mặt Chúa để tha tội, vì Chúa đã ban quyền ấy cho các Tông Đồ trước tiên và sau này cho Giáo Hội ngày nay.
Nghĩa là khi Giáo Hội thi hành lời Chúa để cử hành các bí tích- cách riêng bí tích Hòa giải để tha tội cho con người nhân danh Chúa Kitô( in persona Christi), thì chúng ta phải nghe và tuân theo ý muốn của Giáo Hội, cũng là ý muốn của Chúa; nghĩa là xưng tội với một linh mục để nhận lãnh ơn tha thứ của Chúa qua trung gian của các thừa tác viên con người là Giám mục và linh mục. Đây là điều các anh em Tin Lành không đồng ý với chúng ta nên họ dạy các tín đồ của họ chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.
Dĩ nhiên khi ta xưng tội với một linh mục, thì cũng xưng tội với Chúa để xin Người tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Và đây là ý muốn của Chúa Giêsu khi Người trao quyền tha tội cho các Tông Đồ xưa và cho Giáo hội ngày nay. Và đó cũng là tất cả ý nghĩa lời Chúa dạy sau đây:
" ai nghe anh em là nghe Thầy.
Ai khước từ anh em là khước từ Thầy
Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)
Kinh nghiệm thiêng liêng của mỗi người chúng ta cho ta biết rằng mỗi khi xưng tội – đặc biệt là tội trọng- cách thành thật và với tinh thần sám hối , thì ta cảm thấy nhẹ nhõm và an vui trong tâm hồn, một giác mới lạ của an vui sung sướng nội tâm, khác hẳn với tâm tình sẵn có trước khi xưng tội. Điều này chứng minh cụ thể là Chúa đã tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Ngược lại, khi có tội trọng hay nhẹ mà chỉ xin Chúa tha thứ nhưng không đi xưng tội, thì không bao giờ cảm nghiệm được sự an vui nội tâm như khi xưng tội với một linh mục và nhận lãnh ơn tha thứ ( absolution).
Các anh em tin Lành không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, dù cho họ có ca tụng lòng thương xót của Chúa đến đâu, có sám hối nội tâm và xin Chúa tha thứ mà không đi xưng tội như người Công giáo. Họ không đi xưng tội vì trước hết họ không công nhận vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc ban phát các ơn sủng của Chúa cho con người, cho nên họ chủ trương đi thẳng tới Chúa là vì vậy.
Vả lại, tất cả các nhánh Tin Lành( Protestantism) và Anh Giáo ( Anglican Comm) đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nên không có chức linh mục và giám mục để cử hành hữu hiệu các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức dầu nệnh nhân và truyền Chức Thánh. Chính vì họ không có chức linh mục hữu hiệu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể và tha tội cho ai được. Đó là lý do tại sao họ chủ trương chỉ cần xưng tội trực tiếp với Chúa, vì họ cho rằng các thừa tác viên con người như linh mục và giám mục không có năng quyền tha tội cho ai như Giáo Hội Công Giáo tin và dạy..
Một điều quan trọng nữa liên quan đến việc xưng tội cá nhân với một linh mục là đừng ai lo sợ những tội mình xưng với linh mục có thể bị tiết lộ ra ngoài.
Mọi linh mục đều buộc phải giữ kín những gì hối nhân nói với mình trong tòa giải tôi. Đây là Ấn tòa giải tội ( Seal of confessons) mà mọi linh mục buộc phải giữ kín. Linh mục nào vi phạm sẽ tức khắc bị vạ truyệt thông tiền kết (đương nhiên mắc vạ và chỉ có Tòa Thánh tháo gỡ mà thôi) ( x giáo luật số1388)
Tóm lại, là người Công giáo, chúng ta phải nghe và thi hành những gì Giáo Hội là Mẹ dạy bảo thay mặt Chúa Kitô để bỏ ra ngoài tai những gì không phù hợp với giáo lý, tín lý, luân lý và phụng vụ của Giáo Hội.
2- Có được xưng tội qua email hay điện thoại không ?
Chắc chắn là không được, và Giáo Hội không bao giờ cho phép thực hành này.Lý do là nó trái với giáo lý về cách xưng tội đòi hỏi hối nhân phải trực tiếp thú nhận các tội mình phạm với một linh mục, là người nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) để nghe và tha tội cho mình. (đọc giáo lý trích ở phần trên).
Lại nữa, tiện đây cũng xin nói thêm là ngay cả việc xem lễ trên truyền hình, củng chỉ có ích cho các bệnh nhân ở tư gia hay ở nhà thương, không thể đến nhà thờ để dự lễ cùng với cộng đoàn. Xem lễ cách này chỉ giúp thông công với các tin hữu đến nhà thờ dự lễ thực sự, nhưng vẫn thiếu phần hiệp lễ là không được rước Mình Mấu Chúa Kitô, như mọi tín hữu đến dự lễ ở nhà thờ. Như thế, người khỏe mạnh không thể xem lễ trên Truyền hình như phương tiện chu toàn luật buộc tham dự lễ ngày Chúa nhật và các ngày lễ trọng.
Tóm lại, muốn hiêp thông Thánh Lễ trọn vẹn thì phải đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh Lễ cùng với cộng đoàn đức tin. Thánh Lễ trên truyền hình chỉ dành riêng cho các bệnh nhân ở nhà thương , hay người già yếu ở tư gia, không thể đến nhà thờ để dự Lễ được mà thôi.Vả lại, những bệnh nhân hay người già yếu ở tư gia thì không buộc phải đi đến nhà thờ dự lễ như người mạnh khỏe.
3-Khi nào được phép xưng tội tập thể ( communal confessions) ?
Thông thường thì phải đi xưng tội cá nhân, nghĩa là xưng tội riêng với một linh mục sau khi đã xét mình nghiêm chỉnh và sám hối nội tâm, như đã nói ở trên.
Tuy nhiên, trong thực tế, có những hoàn cảnh mà linh mục không thể giải tội cá nhân cho nhiều người trong một thời lượng hạn chế. Thí dụ, khi có thiên tai, bão lụt, đắm tầu, sóng thần hay động đất gây nguy tử cho nhiều người ở một địa phương nào, khiến linh mục không thể có đủ giờ để nghe từng hối nhân muốn xưng tội trong những hoàn cảnh ấy,.
Lại nữa, trong những dịp trọng đại như Lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh là những dịp có rất nhiều người muốn xưng tội. Nhưng chỉ có một mình cha xứ phải làm mục vụ cho một giáo xứ lớn hay nhiều xứ nhỏ họp lại,thì không thể nào giải tội cá nhân cho một số lớn hối nhân trong một thời gian ngắn được. Do đó, vì nhu cầu mục vụ và vì lợi ích thiêng liêng của giáo dân, linh mục được phép cử hành bí tích hòa giải tập thể. Nghĩa là cho gom giáo dân lại và giúp họ xét mình, thống hối ăn năn, rồi ban phép tha tội tập thể cho họ. Nhưng việc này phải được phép trước của giám mục giáo phận. Vì thế, ở mỗi giáo phận, giám mục địa phận sẽ cho phép trường hợp nào có thể giải tội tập thể.Nghĩa là, linh mục không thể tự ý giải tội tập thể mà không có phép của giám mục giáo phận; trừ trường hợp nguy tử như đắm tầu, động đất, chiến tranh, khiến nhiều người- trong đó có người công giáo- có thể chết mà không kịp xưng tội cá nhân.

Nên nếu linh mục có mặt trong trường hợp này, thì được phép giải tội tập thể cho các tin hữu công giáo trong cơn nguy tử đó. Nhưng dù được tha tội tập thể trong những trường hợp trên, nếu ai xét mình có tội trọng, thì- sau khi qua cơn nguy biến đó- vẫn buộc phải đi xưng tội cá nhân với linh mục.( giáo luật số 961-62).
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.Amen
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO- CN2TN-B PDF Print E-mail

Chúa Nhật Thường Niên 2 năm B

HỌC HỎI-SUY NIỆM-SỐNG Lời Chúa : Ga 1,35-42

Chúa Giêsu bắt đầu bước ra thi hành sứ vụ của Ngài. Ngài chưa làm gì, chỉ đi ngang nơi Gioan Tẩy Giả đang đứng với hai môn đệ của ông, và có thể Ngài đã biết những gì sẽ xảy ra. Gioan nhìn thấy Ngài và chỉ cho hai môn đệ : " Đây là Chiên Thiên Chúa". Đối với người Do thái, từ Chiên Thiên Chúa có nghĩa là Đấng Cứu Thế, vì họ nghe đọc Kinh Thánh hằng tuần trong Hội Đường.

Chiên Thiên Chúa nhắc cho họ nhớ đến con chiên Vượt Qua khi dân Do thái làm nô lệ ở Ai Cập. Chúa đã bảo ông Môsê truyền cho mỗi gia đình phải chuẩn bị một con chiên đực, một tuổi, không tì vết và khi có lệnh là giết con chiên đó, lấy máu bôi lên thành cửa, và nhờ vết máu đó mà Thần Tiêu Diệt không làm hại đến những người trong nhà. Nhờ đó họ đã thoát khỏi ách nô lệ người Ai Cập.

Con Chiên Thiên Chúa cũng được nhắc đến trong sách tiên tri Giêrêmia khi nói đến Người Tôi Trung của Thiên Chúa, được ví như "con chiên hiền lành bị đem đến lò sát sinh mà không hở môi". Người Tôi Trung của Thiên Chúa đó được xem như Đấng sẽ đến cứu dân, sẽ chịu nhiều đau khổ và sẽ mang lấy tội của toàn dân.

Khi nghe thầy mình là Gioan giới thiệu, hai môn đệ của Gioan liền đi theo Chúa Giêsu. Thấy hai người đi theo Ngài, Chúa Giêsu quay lại và hỏi : " Các anh tìm gì?"Họ đáp: "Thưa Thầy, Thầy ở đâu ?" Người bảo họ : " Hãy đến mà xem". Họ đã đến và ở lại với Ngài ngày hôm ấy. Lúc đó độ bốn giờ chiều.

Câu chuyện xem ra không có gì lạ, nhưng ở đây hàm chứa nhiều bài học cho chúng ta. Chúa Giêsu được giới thiệu cho chúng ta qua Giáo Hội, chúng ta đã biết Chúa như thế nào ? Chúng ta có bước theo Ngài không ? Có tìm hiểu Ngài là ai không ? Có muốn biết Ngài ở đâu không ? Đức tin không chỉ là một vài kiến thức về Chúa theo như những gì chúng ta biết qua những bài giáo lý, mà là một cuộc tìm kiếm không thôi, vì không bao giờ chúng ta biết Chúa đủ. Biết mà thôi cũng chưa đủ, phải ở lại với Thầy, nghĩa là phải đi sâu vào thân mật với Thầy, sống với Thầy. Nhờ đó, chúng ta nhận ra Thầy là Đấng Mêsia, là Đấng đã đến và cứu vớt chúng ta, đưa chúng ta vào sự sống đời đời, làm con của Chúa Cha, và được vui hưởng tình thương của Ngài, hạnh phúc với Ngài.

Chúa Giêsu đã đến với chúng ta trong trần gian, chia xẻ kiếp người của chúng ta. Ngài không phải là một vị thần xa xôi hay do trí tưởng tượng của chúng ta bày ra. Ngài là Thiên Chúa nhập thể, cụ thể, thân mật và là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài là Tình Yêu. Từ khi Ađam phạm tội, chúng ta mất đi tất cả, trần trụi, Ngài đến với chúng ta, mang lại cho chúng ta tình yêu. Chúng ta được yêu và người yêu của chúng ta là Thiên Chúa. Vì yêu, Ngài đã từ bỏ mọi vinh quang và đã làm người, sống như chúng ta và hơn nữa đã chết cho chúng ta, sống lại để cho chúng ta sự sống thần linh của Ngài. Chúng ta không thể hiểu được tình yêu của Ngài, vì thế, chúng ta phải tìm kiếm không thôi. Và nếu chúng ta cố công tìm kiếm, chúng ta sẽ được Ngài dẫn vào tình yêu, vì ai tìm thì sẽ gặp, ai gõ cửa thì sẽ mở cho.

Hơn thế nữa, tình yêu của Ngài đã đưa Ngài đến sự điên rồ của thập giá. Cũng chưa đủ, Ngài trở thành tấm bánh, cho chúng ta ăn lấy Ngài, nhờ đó Ngài trở thành một với chúng ta. Tình yêu đã nên trọn vẹn khi chúng ta ăn lấy Ngài. Ngài đã nài xin chúng ta : " Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy". Có ai yêu chúng ta như Ngài ? Chúng ta đáp trả như thế nào ? Chúng ta có muốn yêu Ngài không ? Ngài là Thiên Chúa Tình Yêu. Là Tình Yêu tức là khiêm tốn, là trở thành nhỏ bé để nài xin, để cho đi tất cả. Ngài đã cho đi tất cả, nhưng người ta vẫn không tiếp nhận Ngài. Đó là một điều đau xót không cùng. Chính chúng ta cũng không đón nhận ngài, và nếu có, cũng chỉ lơ là thôi.

Các thánh đã hiểu được tình yêu và đã đáp trả. Thánh Phaolo đã hiểu và đã đáp trả với tất cả nhiệt tình của một con người. Ngài đã từng nói : " Ngài đã yêu tôi và đã chết cho tôi !" Ngài trở nên một với Đấng đã chọn Ngài : " Sống đối với tôi là Giêsu Kitô, và chết là một mối lợi". " Tôi sống, nhưng không phải là tôi mà là Chúa Kitô sống trong tôi". Chúng ta cũng được kêu gọi sống với Chúa như thế. Nhìn nhận Ngài là Đấng Mêsia, đi tìm Ngài, ở lại với Ngài và trở thành môn đệ.

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Những người mà Giáo Hội gọi là các thánh cũng là những người đã yêu mến Chúa hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự. Sao TÔI không thể yêu mến Chúa như thế ? Chỉ vì TÔI còn quá nặng nề. CÒN yêu mình hơn yêu Chúa, chưa biết Chúa, chưa hiểu tình yêu Chúa. Hãy tìm Chúa, hãy tìm mãi không thôi, Ngài sẽ không để TÔI thất vọng. Ngài sẽ tỏ mình cho TÔI KHI mệt mõi tìm kiếm Ngài. Ngày đó TÔI sẽ gọi Ngài là Tình Yêu của con, như tiên tri Hôsê đã nói.

Lm Trầm Phúc

Kính chuyển:

Hồng

-----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - NGAY 12-1-2018 PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 2, 1-12

"Con Người có quyền tha tội dưới đất".

Sau ít ngày, Chúa Giêsu lại trở về Capharnaum; nghe tin Người đang ở trong nhà, nhiều người tuôn đến đông đảo, đến nỗi ngoài cửa cũng không còn chỗ đứng, và Người giảng dạy họ. Người ta mang đến cho Người một kẻ bất toại do bốn người khiêng. Vì dân chúng quá đông, không thể khiêng đến gần Người được, nên họ dỡ mái nhà trên chỗ Người ngồi một lỗ to, rồi thòng chiếc chõng với người bất toại xuống. Thấy lòng tin của họ, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: "Hỡi con, tội lỗi con được tha". Lúc ấy, có một ít luật sĩ ngồi đó, họ thầm nghĩ rằng: "Sao ông này lại nói thế? Ông nói phạm thượng. Ai có quyền tha tội, nếu không phải là một mình Thiên Chúa". Chúa Giêsu biết tâm trí họ nghĩ như vậy, liền nói với họ: "Tại sao các ông nghĩ như thế? Nói với người bất toại này: "Tội lỗi con được tha" hay nói: "Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi", đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất". - Người nói với kẻ bất toại: "Ta truyền cho con hãy chỗi dậy, vác chõng mà về nhà". Lập tức người ấy đứng dậy, vác chõng ra đi trước mặt mọi người, khiến ai nấy sửng sốt và ngợi khen Thiên Chúa rằng: "Chúng tôi chưa từng thấy như thế bao giờ".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy nghiệm SỐNG Lời Chúa

Đức Kitô Quyền Linh

Hôm nay, Thứ Sáu trong Tuần 1 Thường Niên hậu Giáng Sinh, chủ đề của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" vẫn tiếp tục phản ảnh nơi một phép lạ đặc biệt khác nữa được Chúa Giêsu thực hiện, chẳng những liên quan đến phần xác của nạn nhân mà còn đến cả phần hồn của đương sự nữa.

Đó là trường hợp, như bài Phúc Âm hôm nay thuật lại, bấy giờ "Chúa Giêsu lại trở về Capharnaum", sau khi Người từ nhà của hai tông đồ Simon và Anrê ra đi (ở bài Phúc Âm hôm kia), cũng như sau khi Người chữa lành cho một người phong cùi (ở bài Phúc Âm hôm qua), một nơi đã được Người chọn làm như tổng hành dinh của Người để thường xuyên tỏ mình ra, và vì thế nó đã trở thành một nơi "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" trở nên nổi tiếng, đến độ "nghe tin Người đang ở trong nhà, nhiều người tuôn đến đông đảo, đến nỗi ngoài cửa cũng không còn chỗ đứng, và Người giảng dạy họ".

Phúc Âm không cho chúng ta biết bấy giờ Người đang ở trong ngôi nhà của ai ở Capharnaum, cũng có thể lại là nhà của anh em Simon và Anrê như bài Phúc Âm Thứ Tư vừa rồi, và nếu quả thực như vậy thì lần này ngôi nhà ấy đã trở thành một ngôi nhà chưa từng thấy xẩy ra trong lịch sử chữa lành của Chúa Giêsu. Ở chỗ, như bài Phúc Âm cho biết:

"Người ta mang đến cho Người một kẻ bất toại do bốn người khiêng. Vì dân chúng quá đông, không thể khiêng đến gần Người được, nên họ dỡ mái nhà trên chỗ Người ngồi một lỗ to, rồi thòng chiếc chõng với người bất toại xuống".

Trước một sự kiện chưa từng bao giờ xẩy ra như thế, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" không thể nào không đáp ứng lòng tin tưởng mãnh liệt của họ, lòng tin không phải chỉ của nạn nhân bất toại mà còn của chính những người thân nhân bạn hữu của đương sự, thành phần chẳng những khiêng nạn đến đến với Chúa Giêsu mà còn tìm hết cách để đưa nạn nhân đến tận nơi Người hiện diện nữa, như Phúc Âm hôm nay trình thuật: "Thấy lòng tin của họ, Chúa Giêsu nói với người bất toại rằng: 'Hỡi con, tội lỗi con được tha'".

Hình như lần chữa lành này, sau mấy lần chữa lành lần trước từ khi xuất thân công khai thực hiện thừa tác vụ Thiên Sai Cứu Thế của mình, Chúa Giêsu đã từ từ có ý muốn tỏ mình ra cho chung dân chúng và cho riêng thành phần môn đệ của Người biết thêm về bản thân và sứ vụ của Người, Đấng được Cha sai đến không phải chỉ để chữa lành những hậu quả nguyên tội liên quan đến thân xác của con người là bệnh nạn tật nguyền hay đến tâm thần của con người là bị quỉ ám, mà chính là để cứu con người khỏi tội lỗi của họ là căn nguyên gây ra tình trạng đau khổ trong ngoài như thế.

Đó là lý do câu nói bật ra từ môi miệng của Người lần đầu tiên liên quan đền việc tha tội này, một câu nói hình như Người có ý chờ đến lần này mới chính thức công khai thốt lên, có thể là vì bởi Người biết rằng trong đám đông "lúc ấy, có một ít luật sĩ ngồi đó", (mà mấy lần trước hình như không có, vì tiếng tăm của Người chưa lừng lẫy cho lắm, không đáng họ chú ý và theo dõi), nên Người đã lợi dụng để tỏ mình ra là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" một cách chính xác hơn nữa.

Bởi thế, sau khi chờ phản ứng của thành phần luật sĩ ấy, cho dù họ không dám công khai lên tiếng kẻo bị đụng đến chung dân chúng, mà đối với họ, như đang có vẻ "mù quáng" hay "cuồng tín" chạy theo Người, một phản ứng tự nhiên nổi lên trong óc của từng vị luật sĩ bấy giờ, như Phúc Âm thuật lại: "họ thầm nghĩ rằng: 'Sao ông này lại nói thế? Ông nói phạm thượng. Ai có quyền tha tội, nếu không phải là một mình Thiên Chúa'", Chúa Giêsu mới tỏ cho riêng họ và chung dân chúng lần đầu tiên biết vai trò Thiên Sai Cứu Thế cả hồn lẫn xác của loài người qua bài Phúc Âm hôm nay:

"Chúa Giêsu biết tâm trí họ nghĩ như vậy, liền nói với họ: 'Tại sao các ông nghĩ như thế? Nói với người bất toại này: 'Tội lỗi con được tha' hay nói: 'Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi', đàng nào dễ hơn? Nhưng (nói thế là) để các ông biết Con Người có quyền tha tội dưới đất'. - Người nói với kẻ bất toại: 'Ta truyền cho con hãy chỗi dậy, vác chõng mà về nhà'. Lập tức người ấy đứng dậy, vác chõng ra đi trước mặt mọi người, khiến ai nấy sửng sốt và ngợi khen Thiên Chúa rằng: 'Chúng tôi chưa từng thấy như thế bao giờ'".

Câu hỏi Chúa Giêsu đặt ra cho riêng mấy vị luật sĩ đang ngồi đó bấy giờ là "'Tội lỗi con được tha" hay nói: 'Hãy chỗi dậy vác chõng mà đi', đàng nào dễ hơn?" hoặc "đằng nào đúng hơn" cũng thế. Bởi vì, về phía Thiên Chúa, Ngài chỉ cần cứu linh hồn con người, bằng cách tha tội cho con người, thì con người được cứu độ, được cứu độ cả hậu quả tội lỗi của họ là những gì họ phải gánh chịu nơi thể xác lẫn tâm thần của họ. Thế nhưng, về phía loài người, sự kiện họ được chữa lành cho khỏi các hậu quả của tội lỗi mới là dấu chứng thực họ thật sự được cứu độ.

Bởi thế, để chiều theo cùng đáp ứng thị hiếu và xu hướng thực nghiệm không phải là hoàn toàn vô lý của loài người, nhờ đó chính họ mới có thể thấy được phần nào "tất cả sự thật" (Gioan 13:16) về "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", Chúa Giêsu đã chữa lành cho cả thân xác bất toại của nạn nhân đương sự, một tật nguyền chẳng những là hậu quả của nguyên tội, mà còn là biểu hiệu cho tác dụng của tội lỗi là những gì đã khiến con người vốn được dựng nên để sống tự do đã trở thành bại liệt, bất lực và bất động, một tình trạng về linh hồn vô cùng trầm trọng liên quan đến phần rỗi đời đời của con người mới là những gì trên hết và trước hết cần phải được cứu độ và được giải thoát.

Nếu trong bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã lợi dụng cái thắc mắc chính đáng của mấy vị luật sĩ về thẩm quyền tha tội của Người, thì trong Bài Đọc 1 cho năm chẵn hôm nay cũng thế, Thiên Chúa cũng đã có ý lợi dụng đòi hỏi chính đáng của dân Do Thái bấy giờ đã trưởng thành hơn về ý thức hệ tự lập của họ để tiếp tục tỏ mình ra cho họ.

Đúng thế, sau khi được Thiên Chúa sai Moisen giải cứu họ ra khỏi Ai Cập, nơi họ đã sống 430 năm (xem Xuất Hành 12:40), cũng như sau khi vào Đất Hứa qua 40 năm hành trình băng qua sa mạc, họ đã được chính Thiên Chúa hướng dẫn khoảng thời gian 365 năm dưới quyền lãnh đạo của 15 vị được gọi là Quan Án (Judges) trong giai đoạn này, giờ đây, với ảnh hưởng văn hóa của các dân tộc chung quanh, họ ngỏ ý muốn lập quốc theo chế độ quân chủ (hoàn toàn tự lập bằng các vị vua của họ, dù vua cũng được Thiên Chúa chọn lựa và xức dầu phong vương, nghĩa là cũng từ Chúa mà đến và phải được Ngài công nhận), thay vì chế độ thần chủ (do chính Chúa hướng dẫn họ qua các trung gian loài người được Ngài tuyển chọn).

Đó là lý do, bài Đọc 1 hôm nay đã trình thuật về sự kiện cũng là biến cố lịch sử đổi đời chưa từng thấy trong dân Do Thái bấy giờ, dưới thời của vị tư tế kiêm tiên tri Samuel như sau: "Trong những ngày ấy, tất cả các kỳ lão Israel tập họp lại và đến cùng Samuel ở Ramtha, và nói với người rằng: 'Nay ông đã già rồi và con cái ông không đi trong đường lối của ông; vậy ông hãy đặt lên cho chúng tôi một nhà vua, để xét xử chúng tôi, như tất cả các dân tộc khác'".

Tất nhiên, bất cứ một biến đổi đột ngột nào cũng gây ra tình trạng hay hiện tượng chao đảo nơi con người, nhất là một con người truyền thống và trung thành với Thiên Chúa như Samuel, một con người đạo hạnh nhưng con cái lại hư thân, (giống như trường hợp của những cha mẹ đạo đức ngày nay có những đứa con chẳng ra làm sao vậy). Bởi thế, Bài Đọc 1 hôm nay mới có câu: "Lời ấy làm cho Samuel phật lòng, vì họ đã nói: 'Ông hãy cho chúng tôi một nhà vua, để xét xử chúng tôi'".

Thế rồi, cho dù "Chúa phán cùng ông rằng: 'Ngươi cứ nghe theo dân trong những gì họ sẽ nói với ngươi, vì không phải họ khinh bỉ ngươi, mà là khinh bỉ Ta, để Ta không còn cai trị họ nữa'", Samuel cũng hết sức cố gắng thuyết phục đám dân chúng đáng thương để họ từ bỏ ý nghĩ có vẻ phản loạn của họ đi, trong đó ông còn kèm theo lời đe dọa về hậu quả tai hại khôn lường có thể gây ra bởi chọn lựa ngang trái này của họ, mà ông vẫn không thành công, như đoạn kết của Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy:

"Nhưng dân không muốn nghe lời Samuel, và nói với người rằng: 'Không, chúng tôi phải có vua, chúng tôi phải giống như mọi dân tộc khác; nhà vua sẽ xét xử chúng tôi, sẽ đi trước chúng tôi, và sẽ đánh giặc cho chúng tôi'. Samuel nghe tất cả những lời dân nói, và thưa lại cùng Chúa. Nhưng Chúa nói cùng Samuel rằng: 'Ngươi cứ nghe họ và thiết lập cho họ một nhà vua'".

Chiều hướng và đòi hỏi của dân Do Thái trong Bài Đọc 1 hôm nay tỏ ra như thể không muốn an phận, trái lại, có ý muốn tự lập hơn là theo chế độ thần chủ, hoàn toàn ngược lại với ý thức hệ và tâm tình của Bài Đáp Ca hôm nay, một Bài Đáp Ca tuy thế đã phản ảnh tâm tình của Tiên Tri Samuel, vị đã cố gắng thuyết phục họ sống trung thành với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ:

1) Phúc thay dân tộc biết hân hoan, lạy Chúa, họ tiến thân trong ánh sáng nhan Ngài. Họ luôn luôn mừng rỡ vì danh Chúa, và tự hào vì đức công minh Ngài.

2) Vì Chúa là vinh quang, quyền năng của họ, nhờ ân huệ Chúa, uy quyền của chúng tôi được suy tôn. Bởi chưng khiên thuẫn chúng tôi là của Chúa, và vua chúng tôi thuộc về Ðấng Thánh của Israel.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU NAM-11-1-2018 PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 1, 40-45

"Bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch".

Khi ấy, có một người bệnh cùi đến van xin Chúa Giêsu và quỳ xuống thưa Người rằng: "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch". Ðộng lòng thương, Chúa Giêsu giơ tay đặt trên người ấy và nói: "Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh". Tức thì bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch. Nhưng Người nghiêm nghị bảo anh đi ngay và dặn rằng: "Anh hãy ý tứ đừng nói gì cho ai biết, một hãy đi trình diện cùng trưởng tế và dâng của lễ theo luật Môsê, để minh chứng mình đã được khỏi bệnh". Nhưng đi khỏi, người ấy liền cao rao và loan truyền tin đó, nên Chúa Giêsu không thể công khai vào thành nào được. Người dừng lại ở ngoài thành, trong những nơi vắng vẻ, và người ta từ khắp nơi tuôn đến cùng Người.

Ðó là lời Chúa.

HOC HỎI-Suy nghiệm - SỐNG Lời Chúa

Đức Kitô chữa lành

Thứ Năm trong Tuần 1 Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay, bài Phúc Âm của Thánh ký Marcô được Giáo Hội chọn đọc lại có một nội dung hoàn toàn giống như bài Phúc Âm của Thánh ký Luca cho ngày 11/1 hay Thứ Sáu sau Lễ Hiển Linh và một ngày trước Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa.

Thật vậy, nội dung của hai bài Phúc Âm của hai thánh ký khác nhau đều thuật lại về sự kiện Chúa Giêsu chữa lành cho một người phong cùi, với những chi tiết hầu như hoàn toàn giống nhau, nhất là ở các câu đối đáp giữa nạn nhân đương sự và Chúa Giêsu là Đấng chữa lành cho nạn nhân:

1- "Nếu Ngài muốn, Ngài có thể khiến tôi nên sạch". 2- "Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh". 3- "Anh hãy ý tứ đừng nói gì cho ai biết, một hãy đi trình diện cùng trưởng tế và dâng của lễ theo luật Môsê, để minh chứng mình đã được khỏi bệnh".

Ý nghĩa khác biệt của hai bài Phúc Âm có nội dung giống nhau này là ở chỗ, mỗi bài đều phản ảnh chủ đề thích hợp cho mùa phụng vụ của mình. Trong khi bài Phúc Âm của Thánh ký Luca cho ngày 11/1 hay Thứ Sáu sau Lễ Hiển Linh và trước Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa thích hợp với chủ đề "Lời ở giữa chúng ta" của Mùa Giáng Sinh, thì bài Phúc Âm của Thánh ký Marco cho Thứ Năm Tuần I Thưởng Niên hôm nay lại thích hợp với chủ đề "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh.

Đúng thế, nạn nhân bị "bệnh cùi" trong bài Phúc Âm hôm nay đã được chữa cho lành sạch là nhờ "ân sủng" của "Người Con đến từ Cha" đã "động lòng thương" đương sự, bằng một lời truyền chữa lành "'Ta muốn, anh hãy khỏi bệnh'. Tức thì bệnh cùi biến mất và người ấy được sạch", đúng như "sự thật" mà Người mong muốn.

"Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" này còn truyền dạy cho nạn nhân đương sự vừa được Người chữa cho lành sạch 2 điều cũng liên quan đến "ân sủng và chân lý", đó là "Anh hãy ý tứ đừng nói gì cho ai biết, một hãy đi trình diện cùng trưởng tế và dâng của lễ theo luật Môsê, để minh chứng mình đã được khỏi bệnh".

Hành động để đáp lại "ân sủng" mà nạn nhân đương sự nhận được qua biến cố được lành sạch phong cùi đó là đương sự nạn nhân cần phải "dâng của lễ", và hành động tỏ ra chấp nhận cùng hưởng ứng "chân lý" của đương sự nạn nhân này đó là đương sự nạn nhân cần phải "đi trình diện cùng trưởng tế... để minh chứng (sự thật là quả thực) mình đã được khỏi bệnh".

Trong Bài Đọc 1 hôm nay được trích từ Sách Samuel cuốn 1 về trường hợp "những người Philitinh kéo đến gây chiến, và Israel phải xuất quân chống lại... Vừa giáp trận, dân Israel đã phải rút lui trốn khỏi quân Philitinh; và trong trận đó có khoảng bốn ngàn binh sĩ bị giết rải rác khắp đồng ruộng".

Bị bại trận, "các kỳ lão Israel" mới đặt vấn đề và tìm cách giải quyết, một cách giải quyết mà họ tin chắc rằng khôn ngoan nhất và chắc ăn nhất, theo kinh nghiệm lịch sử muôn thuở của họ. Vấn đề được họ đặt ra và quyết định thực hiện như sau: "Tại sao hôm nay Thiên Chúa sát hại chúng ta trước mặt quân Philitinh? Chúng ta hãy đem hòm bia Thiên Chúa từ Silô đến giữa chúng ta, để cứu chúng ta khỏi tay quân thù".

Không biết câu trả lời của họ ra sao cho câu tự vấn của họ về trường hợp bị thảm bại của họ, nhưng căn cứ vào cách giải quyết của họ chúng ta có thể suy đoán ra rằng tại vì họ tự mình chiến đấu, không có Thiên Chúa chiến đấu cho họ, bởi thế họ phải cậy vào quyền năng của Chúa họ mới có thể thắng đươc quân thù. Đó là lý do họ đã cương quyết tiền hành quyết định của mình đó là "phái người đến Silô đem hòm bia Thiên Chúa các đạo binh ngự trên các vệ binh thần (tới)".

Vì "hòm bia Thiên Chúa" tiêu biểu cho sự hiện diện thần linh của Thiên Chúa, nên, về phía dân Do Thái, "khi hòm bia Thiên Chúa đến trại, toàn dân Israel lớn tiếng hoan hô vang trời dậy đất", và về phía đối phương của họ là "quân Philitinh sợ hãi và nói: 'Thiên Chúa đã ngự đến trại quân địch'", đến độ thành phần đối phương này đã "kêu than rằng: 'Thật vô phúc cho chúng ta. Ai sẽ cứu chúng ta thoát khởi tay những vị thần minh cao siêu đó? Ðây là những thần minh đã giáng biết bao tai hoạ trên những người Ai-cập nơi hoang địa'".

Tuy nhiên, quân địch của dân Do Thái vẫn cố gắng trấn an nhau và đoàn kết chiến đấu cho đến cùng, bất chấp Thiên Chúa của dân Do Thái có xuất trận đi nữa: "Hỡi người Philitinh, hãy can đảm và hiên ngang, đừng chịu làm nô lệ dân Do-thái như chúng đã làm nô lệ chúng ta. Hãy can đảm mà chiến đấu".

Thật không ngờ, hoàn toàn không ngờ, lòng tin tưởng của dân Do Thái đã chẳng những không được đáp ứng, mà họ còn bị mất cả chính "hòm bia Thiên Chúa" nữa:

"Vậy người Philitinh giao chiến, và dân Israel bị bại trận, và mạnh ai nấy chạy về trại mình. Và thật là một đại họa, bên Israel có đến ba mươi ngàn bộ binh tử trận. Hòm bia Thiên Chúa cũng bị chiếm đoạt. Cả hai con Hêli là Ophni và Phinê cũng tử trận".

Cho dù dân Do Thái có hoàn toàn bị thảm bại, bị thất trận một cách trầm trọng chưa bao giờ thấy như thế, Thiên Chúa vẫn có thể tỏ mình ra cho họ và nơi họ, tỏ mình ra một cách tỏ tường hơn bao giờ hết. Ở chỗ, qua lần thất trận hết sức thảm thương này, dân của Ngài mới ý thức được rằng:

1- Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ không phải chỉ ở với họ mà còn có thể ở với cả dân ngoại thậm chí là chính quân thù của họ nữa, nếu họ không trung thành với Ngài, trong khi dân ngoại lại nhận biết Ngài ở với họ;

2- Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ phải là chính nguồn mạch và là cùng đích của họ, chứ không phải chỉ là phương tiện để cấp thời cứu nguy họ, để cứu lấy danh dự của họ hơn là cho Thiên Chúa được vinh quang;

3- Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ phải được họ liên lỉ tôn thờ và kính mến, bằng không, Ngài dù có trung thành với họ bất chấp mọi bất trung của họ, nhưng vẫn có thể bỏ họ để họ nghĩ lại mà trở về với Ngài, như Bài Đáp Ca hôm nay trung thực phản ảnh tâm trạng của họ sau đây:

1) Nay Chúa đã xua đuổi và để chúng con đầy nhuốc hổ, Chúa không xuất trận với quân đội chúng con. Chúa đã bắt chúng con phải tháo lui trước quân thù, và những kẻ thù ghét chúng con tha hồ cướp của.

2) Chúa đã để chúng con bị lân bang chế diễu, bị những kẻ chung quanh phỉ báng chê cười. Bị các quốc gia tha hồ chế nhạo, và bị các dân tộc trông thấy lắc đầu.

3) Ôi lạy Chúa, xin hãy tỉnh dậy, sao Chúa vẫn ngủ? Xin hãy bừng tỉnh và đừng xua đuổi chúng con muôn đời. Sao Chúa lại ẩn giấu thiên nhan, Chúa quên lãng cảnh chúng con chịu thống khổ và áp bức?

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

--------------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU TU NGÀY 10-1-2018 PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 1, 29-39

"Ngài chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau".

Khi ấy Chúa Giêsu ra khỏi hội đường. Người cùng với Giacôbê và Gioan đến nhà Simon và Anrê. Lúc ấy bà nhạc gia của Simon cảm sốt nằm trên giường, lập tức người ta nói cho Người biết bệnh tình của bà. Tiến lại gần, Người cầm tay bà, và nâng đỡ dậy. Bà liền khỏi cảm sốt và đi tiếp đãi các Ngài.

Chiều đến, lúc mặt trời đã lặn, người ta dẫn đến Người tất cả những bệnh nhân, tất cả những người bị quỷ ám; và cả thành tụ họp trước cửa nhà. Người chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau, xua trừ nhiều quỷ, và không cho chúng nói, vì chúng biết Người. Sáng sớm tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó. Simon và các bạn chạy đi tìm Người. Khi tìm được Người, các ông nói cùng Người rằng: "Mọi người đều đi tìm Thầy". Nhưng Người đáp: "Chúng ta hãy đi đến những làng, những thành lân cận, để Ta cũng rao giảng ở đó nữa". Và Người đi rao giảng trong các hội đường, trong khắp xứ Galilêa và xua trừ ma quỷ.

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI- Suy nghiệm VÀ SỐNG Lời Chúa

Đức Kitô thần hiệp

Bài Phúc Âm Thứ Tư trong Tuần 1 Thường Niên hôm nay được Giáo Hội chọn đọc thích hợp với chủ đề chung của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý".

Tiếp tục bài Phúc Âm hôm qua về việc trừ quỉ cho một người ở trong hội đường, bài Phúc Âm hôm nay cho biết "Khi ấy Chúa Giêsu ra khỏi hội đường. Người cùng với Giacôbê và Gioan đến nhà Simon và Anrê. Lúc ấy bà nhạc gia của Simon cảm sốt nằm trên giường, lập tức người ta nói cho Người biết bệnh tình của bà. Tiến lại gần, Người cầm tay bà, và nâng đỡ dậy. Bà liền khỏi cảm sốt và đi tiếp đãi các Ngài".

Bài Phúc Âm hôm nay cũng cho thấy 4 người môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu, được Người kêu gọi và đã mau mắn bỏ tất cả mọi sự mà theo Người ngay lập tức, ở bài Phúc Âm Thứ hai đầu tuần này, vẫn tiếp tục đi theo Người và luôn ở bên Người, để chứng kiến những việc Người làm, nhờ đó, sau này, cùng với các vị tông đồ được tuyển chọn sau các vị, có thể trở nên thành phần chứng nhân tiên khởi của Người.

Ở đâu và đi đâu, các vị cũng thấy Thày của các vị luôn tỏ ra thực sự là "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý", đối với từng cá nhân con người chứ không phải chỉ với đám đông quần chúng, dù cảnh gian nan khốn khó nặng hay nhẹ. Chẳng hạn, trong trường hợp "bà nhạc gia của Simon cảm sốt nằm trên giường", một chứng bệnh không trầm trọng và đau đớn là bao so với các tật bệnh khác, thế mà sau khi được "người ta nói cho Người biết bệnh tình của bà", thì Người cũng ân cần "tiến lại gần", sau đó, "Người cầm tay bà, và nâng đỡ dậy", một cử chỉ biểu lộ Người đầy "ân sủng", nhờ đó, "bà liền khỏi cảm sốt và đi tiếp đãi các Ngài".

Chưa hết, "ân sủng và chân lý" nơi "Người Con đến từ Cha" này dồi dào phong phú và mãnh liệt còn có thể bao trùm và thông ban cho cả một đám đông, với bao nhiêu là bệnh nạn tật nguyền khác nhau về phần xác nữa, kể cả những ai bị quỉ ám về tâm thần. Đó là lý do bài Phúc Âm hôm nay đã trình thuật tiếp:

"Chiều đến, lúc mặt trời đã lặn, người ta dẫn đến Người tất cả những bệnh nhân, tất cả những người bị quỷ ám; và cả thành tụ họp trước cửa nhà. Người chữa nhiều người đau ốm những chứng bệnh khác nhau, xua trừ nhiều quỷ, và không cho chúng nói, vì chúng biết Người".

Tuy nhiên, đối với 4 người môn đệ tiên khởi đang ở bên Người ấy thì "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" không phải chỉ ở chỗ thông ban ơn lành và chữa lành cho dân chúng, chung cũng như riêng, bằng các phép lạ của Người, những gì một người thường không ai có thể làm được ngoại trừ chỉ có Đấng xuất thân từ Thiên Chúa (xem Gioan 9:16,31-32), mà còn ở chỗ liên kết với Thiên Chúa bằng một đời sống âm thầm cầu nguyện nữa, như bài Phúc Âm hôm nay tiếp tục ghi lại:

"Sáng sớm tinh sương, Người chỗi dậy, ra khỏi nhà, đi đến một nơi thanh vắng và cầu nguyện tại đó. Simon và các bạn chạy đi tìm Người. Khi tìm được Người, các ông nói cùng Người rằng: 'Mọi người đều đi tìm Thầy'".

Hành động cầu nguyện từ "sáng sớm tinh sương" của Chúa Kitô, sau cả một ngày hôm trước bận bịu cứu giúp dân chúng và sau một đêm tạm nghỉ một chút cho đỡ mệt, được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại, cho thấy Người luôn kết hợp với Cha là Đấng đã sai Người, vì Cha là nguồn mạch "ân sủng và chân lý" của Người và cho Người để Người có thể tiếp tục vì Cha và thay Cha, với vai trò là một thừa tác viên của Cha, thông ban "ân sủng và chân lý" cho dân chúng đang trông chờ Đấng Thiên Sai là chính Người.

Để rồi, nhờ những giây phút cầu nguyện thân mật với Cha và sau những cuộc hội ngộ thần linh như thế, Người lại hăng say tiếp tục sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế của mình, trước hết, nơi cộng đồng xã hội Do Thái bấy giờ, trước khi vươn tới "tất cả mọi dân nước" (Mathêu 28:19) và "cho mọi tạo vật" (Marco 16:16) qua thành phần môn đệ chứng nhân tiên khởi của Người sau này. Bởi thế, bài Phúc Âm hôm nay đã kết thúc như hướng về một tương lai toàn cầu hóa tất cả "ân sủng và chân lý" của "Người Con Thiên Chúa đến từ Cha" này như sau:

"Simon và các bạn chạy đi tìm Người. Khi tìm được Người, các ông nói cùng Người rằng: 'Mọi người đều đi tìm Thầy'. Nhưng Người đáp: 'Chúng ta hãy đi đến những làng, những thành lân cận, để Ta cũng rao giảng ở đó nữa'. Và Người đi rao giảng trong các hội đường, trong khắp xứ Galilêa và xua trừ ma quỷ".

Qua đoạn kết bài Phúc Âm hôm nay chúng ta thấy cho dù mới theo Chúa Kitô, nhưng 4 người môn đệ tiên khởi nói chung và nhân vật lãnh đạo tông đồ đoàn trong tương lai nói riêng: "Simon và các bạn", đã biết được Thày của mình một phần nào rồi, ở chỗ, cứ sáng sớm Người vẫn giành giờ cầu nguyện ở một nơi vắng vẻ, nên một khi không thấy Người đâu thì cứ chạy tìm đến những chỗ ấy là chắc chắn sẽ thấy, như bài Phúc Âm hôm nay rõ ràng chứng thực.

Thật vậy, Thiên Chúa vẫn tỏ mình ra cho con người một cách kín đáo và trong tĩnh lặng, để những ai biết lắng nghe Ngài có thể sống trong "ân sủng và chân lý", sống đúng với những gì Ngài mong muốn nơi họ và kêu gọi họ, như một trung gian thông ban "ân sủng và chân lý" của Ngài cho những ai được Ngài sai họ đến phục vụ.

Bài Đọc 1 hôm nay đã cho thấy một trẻ Samuel, người con trai được sinh ra bởi một người mẹ son sẻ, như Bài Đọc 1 hôm qua và hôm kia cho biết, một nhân vật được Thiên Chúa tuyển chọn để vừa làm tư tế vừa làm tiên tri của dân Do Thái, thay cho vị tiền nhiệm là Heli, vị lão thành "mắt đã loà và không còn thấy được", ở vào lúc giao thời giữa hai chế độ thần chủ và quân chủ, (như sẽ thấy ở Bài Đọc 1 ngày kia, Thứ Sáu tuần này), cũng là một con người gương mẫu trong việc lắng nghe tiếng Chúa như được Sách Samuel quyển nhất trong Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại:

"Ðèn chầu chưa tắt, Samuel ngủ trong đền thờ Chúa, nơi đặt hòm bia Thiên Chúa. Chúa đã gọi Samuel; cậu trả lời: 'Này con đây', rồi chạy đến Hêli và nói: 'Này con đây, vì thầy gọi con'. Hêli trả lời: 'Ta đâu có gọi, hãy trở về ngủ đi"... Hêli biết Chúa đã gọi Samuel, nên nói với Samuel: 'Hãy đi ngủ, và nếu Người còn gọi con, thì con nói rằng: Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe. Samuel trở về chỗ mình và ngủ lại. Chúa đến gần và gọi Samuel như những lần trước: 'Samuel! Samuel!' Và Samuel thưa: 'Lạy Chúa, xin hãy nói, vì tôi tớ Chúa đang nghe'".

Nhờ liên lỉ lắng nghe tiếng Chúa và đáp ứng tiếng Ngài như thế, chàng Samuel tuổi trẻ tài cao và đức cả này mới có thể: "ngày càng lớn lên. Chúa hằng ở cùng cậu, và cậu không để rơi mất lời nào của Chúa. Toàn dân Israel, từ Ðan tới Bersabê, đều nhận biết Samuel là tiên tri trung thực của Chúa".

Bài Đáp Ca hôm nay hoàn toàn phản ảnh tinh thần và đời sống của chẳng những chàng Samuel trong Bài Đọc 1 hôm nay, mà còn cả chính Đấng Thiên Sai Cứu Thế là "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" trong Bài Phúc Âm cùng ngày nữa, vì cả hai chỉ tìm làm theo ý của Thiên Chúa mà thôi:

1) Con đã cậy trông, con đã cậy trông ở Chúa, Ngài đã nghiêng mình về bên con, và Ngài đã nghe tiếng con kêu cầu. Phúc thay người đặt niềm tin cậy vào Chúa, không theo kẻ thờ thần tượng, không hướng về chuyện gian tà.

2) Hy sinh và lễ vật thì Chúa chẳng ưng, nhưng Ngài đã mở rộng tai con. Chúa không đòi hỏi hy lễ toàn thiêu và lễ đền tội, bấy giờ con đã thưa: "Này con xin đến".

3) Như trong quyển vàng đã chép về con: lạy Chúa, con sung sướng thực thi ý Chúa, và pháp luật của Chúa ghi tận đáy lòng con.

4) Con đã loan truyền đức công minh Chúa trong đại hội, thực con đã chẳng ngậm môi, lạy Chúa, Chúa biết rồi.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 6 of 112