mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay271
mod_vvisit_counterHôm Qua5412
mod_vvisit_counterTuần Này11576
mod_vvisit_counterTuần Trước42988
mod_vvisit_counterTháng Này72504
mod_vvisit_counterTháng Trước269154
mod_vvisit_counterTất cả9852263

We have: 67 guests online
Your IP: 54.234.247.118
 , 
Today: Dec 13, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY-CN28TN-A PDF Print E-mail

Phúc Âm: Lc 12, 8-12 - Thứ bày CN28TN-A

"Trong giờ ấy, Thánh Thần sẽ dạy các con phải nói thế nào".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Hễ ai xưng nhận Thầy trước mặt người đời, thì Con Người cũng sẽ xưng nhận nó trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa; nhưng ai chối bỏ Thầy trước mặt người đời, thì sẽ bị chối bỏ trước mặt thiên thần của Thiên Chúa. Và hễ kẻ nào nói phạm đến Con Người, thì nó sẽ được tha. Nhưng kẻ nào nói phạm thượng đến Thánh Thần, thì sẽ không được tha.

"Khi người ta điệu các con vào các hội đường, đến trước mặt vua quan và chính quyền, các con chớ lo lắng phải thưa làm sao, hay phải nói thế nào, vì trong giờ ấy, Thánh Thần sẽ dạy các con phải nói thế nào".

Tuyên xưng Con Người và phạm đến Con Người

Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca cho Thứ Bảy cuối Tuần XXVIII Thường Niên hôm nay vẫn cùng với Bài Đọc 1 cho năm lẻ trong ngày tiếp tục đề tài về đức tin công chính hay về người lành sống bởi đức tin.

Thật vậy, theo lời Chúa Giêsu khẳng định trong bài Phúc Âm, thì người lành sống bởi đức tin là người tỏ ra hiên ngang làm chứng cho sự thật, tức làm chứng cho Chúa Kitô, không sợ hãi khi bị bách hại, hay sợ hãi kẻ bắt bớ mình, trái lại, họ sống như đang ở trước nhan Thiên Chúa là Đấng ngự trong họ bằng Thánh Thần của Ngài, để Ngài có thể tỏ mình ra trong họ và qua họ ở vào chính những cơn gian nan thử thách cần đến đức tin bất khuất của họ.

Đó là tất cả ý nghĩa của những gì "Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: 'Hễ ai xưng nhận Thầy trước mặt người đời, thì Con Người cũng sẽ xưng nhận nó trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa; nhưng ai chối bỏ Thầy trước mặt người đời, thì sẽ bị chối bỏ trước mặt thiên thần của Thiên Chúa. Và hễ kẻ nào nói phạm đến Con Người, thì nó sẽ được tha. Nhưng kẻ nào nói phạm thượng đến Thánh Thần, thì sẽ không được tha. Khi người ta điệu các con vào các hội đường, đến trước mặt vua quan và chính quyền, các con chớ lo lắng phải thưa làm sao, hay phải nói thế nào, vì trong giờ ấy, Thánh Thần sẽ dạy các con phải nói thế nào'".

Trong đoạn "Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ" trên đây, có tất cả là 3 câu, nhưng hình như câu thứ hai hơi lạc đề, không dính dáng gì với câu trước và câu sau, đó là câu: "Và hễ kẻ nào nói phạm đến Con Người, thì nó sẽ được tha. Nhưng kẻ nào nói phạm thượng đến Thánh Thần, thì sẽ không được tha". Chẳng lẽ câu này Người có ý cảnh báo cho các môn đệ của Người về hai thứ tội: một tội có thể tha được là tội phạm đến Con Người và một tội không thể tha được là tội phạm đến Thánh Thần?

Có nghĩa là nếu các môn đệ của Người chẳng may vì yếu đuối sợ hãi quá hoặc đau đớn quá không dám làm chứng cho Người, "chối bỏ Thầy trước mặt người đời", thì tội của họ vẫn có thể được tha thứ, như trường hợp đã xẩy ra cho tông đồ Phêrô sau này, vị tông đồ đã chối Thày 3 lần nhưng vẫn được tha, bởi ngài vẫn tin tưởng vào Lòng Thương Xót Chúa sau khi ngài vừa chối lần thứ ba xong liền bắt gặp ánh mắt nhân hậu của Thày quay lại nhìn ngài (xem Luca 22:61).

Sở dĩ tội "phạm đến Con Người, thì nó sẽ được tha" là bởi vì, đối với chính Con Người là Chúa Giêsu Kitô, những ai phạm đến Người nhìn bề ngoài cũng chỉ là một con người tầm thường như họ, không thể nào là Thiên Chúa như họ nghĩ, đều là những con người hoàn toàn "lầm không biết việc mình làm" (Luca 23:34).

Thậm chí dân Do Thái nói chung và thành phần lãnh đạo dân chúng nói riêng, bề ngoài nhất định chối bỏ Người, cố ý lên án tử cho Người và cương quyết xin Tổng Trấn Philato giết Người cho bằng được, vẫn được vị tông đồ đã chối Thày 3 lần là Phêrô tỏ ra hoàn toàn cảm thông trong bài giảng ở Giêrusalem sau khi ngài chữa lành cho một người què ở Cửa Đẹp, như sau: "Thưa anh em, tôi biết rằng anh em đã tác hành một cách vô thức, như các vị lãnh đạo của anh em đã làm vậy" (Tông Vụ 3:17).

Thế nhưng, một khi tình trạng "vô thức - ignorance" (Tông Vụ 3:17) ấy của con người, tình trạng "không biết - do not know" (Luca 23:34) ấy nơi con người, một tình trạng vẫn còn có thể được tha thứ, một tình trạng mà một khi đã được Thiên Chúa bù đắp cho bằng Thánh Thần của Ngài là Đấng thấu suốt mọi sự kể cả thâm tâm của Thiên Chúa (xem 1Corinto 2:10), để "Thánh Thần sẽ dạy các con phải nói thế nào", con người vẫn không dám làm chứng cho sự thật, vẫn không dám làm chứng cho Chúa Kitô, vẫn chối Chúa Kitô, thì bấy giờ mới là tội "phạm thượng đến Thánh Thần, thì sẽ không được tha".

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thánh Phaolô Tông Đồ vẫn tiếp tục gương của tổ phụ Abraham là người công chính sống bởi đức tin, đến độ ông tuyệt đối tin vào tất cả những gì Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất đã tự động hứa với ông, thậm chí ông được Ngài hứa cho làm cha của một dân tộc, đông như sao trời cát biển, qua đứa con được sinh ra khi vợ ông đã hết thời sinh sản, mà lại là đứa con chính Ngài đã bảo ông phải sát tế cho Ngài, ông vẫn sẵn sàng sống đức tin tuân phục.

Chính vì thế Thánh Phaolô đã viết về ông trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay rằng: "mặc dầu tuyệt vọng, ông vẫn tin rằng mình sẽ trở thành cha nhiều dân tộc, như có lời đã phán với ông rằng: 'Dòng dõi ngươi sẽ như thế'", một dòng dõi xuất phát Đấng Thiên Sai Cứu Thế là Chúa Giêsu Kitô, Đấng được các tông đồ và Giáo Hội của Người "làm chứng cho đến tận cùng trái đất" (xem Tông Vụ 1:8).

Bài Đáp Ca hôm nay kêu gọi thành phần con cháu của tổ phụ Abraham, cha của các kẻ tin hãy tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng đã tự ý thiết lập giao ước với vị tổ phụ này và sẽ tiếp tục trung thành hiện thực với giao ước của Ngài với con cháu của ông cho đến cùng:

1) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Ngài, hỡi con cháu Giacóp, những người được Ngài kén chọn, chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Ngài bao trùm khắp cả địa cầu.

2) Tới muôn đời Ngài vẫn nhớ lời minh ước, lời hứa mà Ngài đã an bài tới muôn thế hệ, lời minh ước Ngài đã ký cùng Abraham, lời thề hứa Ngài đã thề với Isaac.

3) Vì Ngài đã nhớ lời thánh thiện của Ngài, lời Ngài đã ban bố cùng Abraham là tôi tớ Ngài. Ngài đã đưa dân tộc Ngài ra đi trong niềm vui vẻ, đưa những kẻ Ngài kén chọn ra đi trong tiếng hân hoan.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

, or

 
HOC HOI DE SONG DAO - LM NGO TON HUAN PDF Print E-mail

LINH MỤC CÓ ĐƯỢC CỬ HÀNH HAY ĐỒNG TẾ HƠN MỘT THÁNH LỄ TRONG NGÀY KHÔNG ?
Hỏi :
1- xin cha cho biết luật phụng vụ về cử hành Thánh Lễ và đồng tế của linh mục
2- có nhiều linh mục đồng tế thì được ích lợi thiêng liêng ra sao ?
3- có được phép gom nhiều ý lễ trong một Thánh Lễ hay không?
4- có nên cầu cho các thai nhi không ?
5- có được phép đi dự tiệc cưới của các cặp hôn nhân đồng tính không?
Trả lời:
1- Những ai sống ở Mỹ thì đều nhận thấy rõ điều này là chỉ có ở các giáo xứ hay công đoàn Viêt nam ( Cali, Houston, Dallas, New Ỏrleans...) mới có hiện tương nhiều linh mục đến đồng tế trong các lễ tang hay lễ cưới. Đây là điều bên Việt Nam cấm, và ngay cả các giáo xứ Mỹ, Hispanic, Phi, Đại Hần cũng không có , mà chỉ ở các giáo xứ hay Cộng Đoàn dành riêng cho giáo dân Viêt Nam mới có mà thôi.
Tại sao lại có hiện tượng các linh mục đồng tế nhiều như vậy ở các giáo xứ Viêt Nam ở Mỹ ?
Trước khi trả lời cho câu hỏi trên, tưởng cũng cần nói rõ thêm một lần nữa là theo giáo luật , linh mục chỉ được phép cử hành MỘT Thánh Lễ mỗi ngày mà thôi, trừ trường hợp có nhu cầu mục vụ chính đáng, như có đông giáo dân dự lễ trong các ngày Chúa Nhật và lễ buộc. Trong trường hợp này, Đấng bản quyền địa phương- cụ thể là Giám mục địa phận, có thể cho phép các linh mục trực thuộc làm 2 hay 3 lễ trong ngày để thỏa mãn nhu cầu mục vụ của giáo Xứ. ( x ,Giáo luật số 905).
Linh mục cử hành Thánh Lễ mà không được phép làm 2, hay 3 Lễ trong ngày , trừ trường hợp ngoại lệ đã nói ở trên, thì linh mục đến đồng tế cũng phải theo luật này để không được đồng tế 2, hay 3 lễ trong ngày mà hoàn toàn vì lý do riêng, chứ không phải là vì nhu cầu mục vụ đòi buộc.Nghiã là không có luật ngoại lệ nào cho phép đồng tế nhiều lần như vậy trong ngày.Chỉ có luật cấm linh mục Công Giáo dồng tế với các thừa tác viên của các giáo đoàn chưa hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo mà thôi, ( x. giáo luật số 908)
Liên can đến câu hỏi 1, Thực tế mà nói thì sở dĩ có nhiều linh mục đồng tế trong các dịp lễ tang hay lễ cưới ở Mỹ là vì hai lý do sau đây:
a- Linh mục có thân nhân hay hay bạn bè quen biết có người qua đời hay lễ cưới của con em họ, nên vì tình gia đình hay quen biết mà phải đi đồng tế.
b- Ngoài lý do nêu trên, có nhiều linh mục đi đồng tế vì được người ta mời cho có đông linh mục trong các dịp lễ tang hay lễ cưới, vì thân nhân muốn được hãnh diện hay khoe khoang với giáo xứ hay công đoàn.Tôi đã có lần chứng kiến trong một lễ có đông linh mục đồng tế, thân nhân của gia đình có lễ tang, đã cầm phong bì đến hỏi tôi xem cha đó là ai để trao phong bì ! Như vậy rõ ràng linh mục kia được ai mời đến cho đông, chứ không phải vì là thân nhân hay quen biết của gia đình có tang lễ .
Một điều đáng nói thêm là ở địa phương kia nơi có nhiều linh mục bên Viêt Nam qua Mỹ du học và cư ngụ trong lãnh thổ giáo xứ. Nên mỗi dịp có lễ tang hay lễ cưới thì đa số các linh mục này đều đến đồng tế , mặc dù không có liên hệ họ hàng hay bạn bè với gia đình có lễ tang hay lễ cưới ! Họ đến vì được mời, chứ không phải vì liên hệ gia đình hay quen biết. Lại nữa cũng ở địa phương khác, các linh mục đã thi nhau đi đồng tế cuối tuần với 2, 3 lễ tang hay lễ cưới ở các giáo xứ quanh vùng.Vì các linh mục phải chạy từ xứ này sang xứ kia cho kịp giờ lễ, nên người ta đã nói " các cha đi sô ( show) cưối tuần như các ca sĩ đi show trình diễn hết chỗ này đến chỗ khác !
Một điều thông thường khó coi là thân nhân các lễ tang hay lễ cưới thường hay tặng phong bì cho các cha trước hay sau Thánh lễ. Nếu thật sự vì thân quen thì không cần thiết phải tặng phong bì, một tệ trạng mà linh mục cần tránh để khỏi mang tiếng là " đi Sô" để kiếm thêm thù lao không cần thiết cho đời sống linh mục ở Mỹ nói riêng. Không cần thết vì đời sống vật chất của linh mục ở Mỹ đã được cung cấp đầy đủ hơn các linh mục ở Âu Châu hay ở Viêt Nam rất nhiều, nên kiếm thêm tiền nhờ đi đồng tế để làm gì ?
có nhiều tiền thì làm sao sống tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô, " Người vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tư ý trở nên khó nghèo vì anh em , để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." ( 2 Cor 8: 9)
Có sống đích thực tinh thần khó nghèo này của Chúa Kitô thì linh mục mới có sức thuyết phục khi giảng dạy cho giáo dân về tinh thần nghèo khó của Phúc Âm, mà hơn ai hết linh mục phải là nhân chứng sống động bằng chính đời sống của mình trước mặt người đời. Linh mục mà ham tiền, ham của cải và phương tiện vật chất sa hoa, thì không thể sống gương khó nghèo của Chúa Kitô , " Đấng không có chỗ tựa đầu, trong khi con chồn có hang, chim trời có tổ"(Mt 8: 20 ).
Chúa nói : " ai có tai nghe, thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 7: 16; Lc 8: 8)
2- Có nhiều linh mục đồng tế thì được ích lợi thiêng liêng ra sao ?
Tôi đã có dịp nói đôi lần về vấn đề này. Nay xin được nhắc lại một lần nữa là ơn thánh Chúa ban cho ai còn sống hay đã qua đời hoàn toàn là nhưng không ( gratis=gratuitous) nghĩa là không thể mua được bằng tiền bạc, hay của cải vật chất nào. Cũng không lệ thưộc vào việc có nhiều hay ít linh mục đồng tế .
Sự thật phải tin là. nếu một người, khi còn sống đã hoàn toàn qui hướng đời mình về với Chúa, đã thực tâm yêu mến Chúa và cố gắng sống theo đường lối của Người, thì khi chết dẫu không có ai dâng lễ và đồng tế cầu nguyện cho, thì cũng không hề thiệt thòi gì, vì đời sống của mình đã đủ để Chúa đoái thương ban phúc trường sinh sau khi chết.
Ngược lại, một người, khi còn sống, đã quay lưng lại với Chúa và khước từ lời Chúa mời gọi vào dự Bàn Tiệc Nước Trời,( Mt 22: 1-14), thì sau khi chết, dẫu có cả trăm linh mục, giám mục, Hồng Y và ngay cả Đức Thánh Cha dâng lễ cầu cho, thì cũng vô ích mà thôi. Ơn thánh Chúa ban không hề lệ thuộc vào có đông người làm lễ và cầu nguyện, mà căn cứ vào chính đời sống của một người cho đến ngày lìa đời.
Có thêm linh mục đồng tế và đông người cầu nguyện cho thì chỉ có ích khi linh hồn đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa, nhưng chưa được hoàn hảo đủ để vào ngay Thiên Đàng , mà còn cần được thanh luyện ít nhiều thời gian nơi Luyên Tội.( Purgatory). Chỉ các linh hồn thánh đang còn ở nơi đây mới cần các Thánh trên Trời và người thân còn sống cầu nguyện và làm việc lành để đền thay cho họ được sớm vào hưởng Thánh Nhan Chúa cùng các Thánh các Thiên Thần trên Thiên Đàng. Sở dĩ các linh hồn cần sự trợ giúp này , vì họ đã hết giờ làm việc lành để tự cứu mình rồi..( x SGLGHCG số 1030-1032)
Như thế, cần thiết phải sống ngay lành, mến Chúa và yêu người thực sự, cùng quyết tâm xa tránh tội lỗi trong suốt cuộc đời của mình trên trần thế, thì đó mới chính là bảo hiểm chắc chắn cho hy vọng được cứu độ và sống đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau.Cho mục đích đó, không ai có thể làm thay cho mình, kể cả việc bỏ nhiều tiền ra xin lễ đời đời trước ở các nơi buôn thần bán thánh, trong khi chính mình lại không tự cứu mình bằng đời sống hoàn toàn qui hướng về Chúa và bước đi theo Chúa Kitô là "con Đường, là sự Thật và là sự sống." ( Ga 14: 6), thì cũng vô ích mà thôi.
Nói rõ hơn, chính mình phải lo phần rỗi cho mình bao lâu còn sống trên trần gian này bằng đời sống tin, cậy, mến có chiều xâu thực sự .Còn nhờ người khác cầu nguyện thêm cho chỉ là phần phụ mà thôi. Nói khác đi, nếu nhờ người khác làm thay, như bỏ nhiều tiền ra xin lễ đời đời trước và nhờ các nhà Dòng cầu nguyện cho sau, mà được bảo đảm cho phần rỗi của mình, thì những người giầu có sẽ vào Thiên Đàng hết, và chỉ người nghèo không có tiền xin lễ hay nhờ người khác cầu nguyện cho thì bị thua thiệt hay sao ?
Chắc chắn không phải vậy, vì tình thương của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô không bao giờ có thể mua được bằng tiền bạc hay bất cứ vật quí giá nào ở đời này. Xin nhớ kỹ như thế.
3= Có được gom nhiều ý lễ trong một Thánh Lễ hay không ?
Ở các giáo xứ hay Công đoàn Việt Nam, người ta thường nghe rao trước lễ các ý lễ ( mass intentions) của người xin. Các ý lễ này có khi nhiều đến hai ba chục người xin.
Nói đến ý lễ - về một phương diện- là nói đến bổng lễ ( mass stipends) mà linh mục được hưởng khi dâng Thánh Lễ. Linh mục chủ tế hay đồng tế chỉ được hưởng một bổng lễ mà thôi, còn các bổng lễ khác phải nhường cho các mục đích của Giáo quyền sở tại.( x, giáo luật số 951). Nghĩa là dủ có nhiều ý lễ được rao trong Thánh lễ, linh mục cử hành không được phép hưởng tất cả bổng lễ của các ý lễ đó trong môt Thánh Lễ , vì mỗi Thánh Lễ, chỉ được hưởng một bổng lễ mà thôi, dù bổng lễ là ít hay nhiều. ( giáo luật số 948).
Nếu linh mục muốn hưởng hết các bổng lễ thì phải dâng lễ cho đủ số bổng lễ muốn hưởng,. Điều này linh mục phải giải thích rõ cho giáo dân biết để người ta khỏi hiểu lầm là linh mục đã gom các ý lễ trong một Thánh Lễ để hưởng hết mọi bổng lễ trong các ý lễ của người xin. Đây là vấn đề lương tâm công bằng mà mọi linh mục không thể bỏ qua để hưởng lợi theo ý riêng của mình.
Sau hết,cũng cần nó thêm là khi có người xin lễ đưa một số tiền to ( 100 hay 200 đô) mà chỉ nói là để xin lễ chứ không nói rõ là xin bao nhiêu lễ, thì linh mục cũng buộc phải làm lễ và hưởng bổng lễ theo qui định của giáo quyền sở tại ( tử 5 đến 10 đô cho mỗi ý lề tùy mỗi Địa phận qui đinh, ( x. Giáo luật số 950).
Nhưng nếu người xin đưa số tiền to và nói rõ nói là chỉ xin một lễ thì linh mục được hưởng số bổng lễ trên cách hợp lý.
4- cầu cho các hai nhi:
Các thai nhi hoàn toàn vô tội, nên nếu chúng bị giết ( phá thai) thì tội thuộc về kẻ đã phá thai hay giúp cho việc phá thai có kết quả. Do đó không cần phải xin lễ cầu cho các thai nhi như thực hành hiện nay ở các giáo xứ hay cộng đoàn Viet Nam ở Mỹ. Có chăng, các thai nhi chỉ chịu hậu quả của Tội Nguyên Tổ ( Original Sin) mà thôi.
Nhưng nếu không được rửa tội để tẩy sạch tội này thì lỗi đó vẫn thuộc về cha mẹ thai nhi và kẻ đã giúp đỡ cho việc phá thai có kết quả. Thiên Chúa nhân từ không thể bắt lỗi các thai nhi vì chúng không được rửa tội. Tóm lại, không cần xin lễ cầu cho các thai nhi , và linh mục cũng không nên nhận tiền xin lễ của ai cầu cho mục đích này, vì không hợp lý.
5- dự tiệc cưới của hôn nhân đồng tính.
Hôn nhân đồng tính ( same sex marriage) là điều trái tự nhiên, và vô luân ( immoral) nên Giáo Hội không bao giờ nhìn nhận loại hôn nhân này giữa hai người nam hay hai người nữ. Vì Giáo Hội không công nhận, nên người Công giáo cũng không được phép dự tiệc cưới của những cặp hôn nhân đồng tính vì bất cứ lý do nào, vì đi tham dự như vậy là vô tình tán thành việc kết hôn của họ, một điều trái tự nhiên và vô luân phải xa tránh.
Ước mong các giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO- THU TU-CN28TN-A PDF Print E-mail

Lễ Kính Thánh Sử Luca 18/11

Thánh sử Luca là một trong các vị môn đệ của Thánh Phaolô. Ngài là một người dân ngoại chứ không phải dân Do Thái.

Nhờ ảnh hương thân học về ân sủng của Thánh Phaolô sư phụ, vị Tông Đồ Truyền Giáo cho dân ngoại, ngài viết Phúc Âm về Lòng Thương Xót Chúa cho dân ngoại (như Thánh ký Mathêu và Marco viết Phúc Âm cho dân Do Thái).

Bởi thế chỉ ở Phúc Âm Thánh Luca mới có các dụ ngôn về LTXC (như ở Phúc Âm Thánh Mathêu có các dụ ngôn về Nước Trời, Nước Thiên Chúa là thực tại đưoọc dân Do Thái trông đợi).

Ngoài ra, Thánh ký Luca còn đề cao nhấn mạnh đến vai trò của hai Đấng là Thánh Linh và Thánh Mẫu:

Thánh Linh là tác nhân truyền giáo, Đấng tỏ tường được thấy trong Phúc Âm của ngài (hơn Phúc Âm Thánh Mathêu và Marco), nhất là trong Sách Tông Vụ của ngài, vì Phúc Âm của ngài là phúc âm cho dân ngoại;

Thánh Mẫu Maria là Mẹ của Lời Nhập Thể, Đấng được Mẹ thụ thai bởi Thánh Linh, Đấng mặc lấy nhân tính của loài người nơi Mẹ, nên gia phả được ngài thuật lại trở về tới nguyên tổ Adong, chứ không phải chỉ tới tổ phụ Abraham như Phúc Âm Thánh ký Mathêu viết cho dân Do Thái.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

ĐTC PHANXICÔ - Bài Giáo Lý 35

Về chủ đề Niềm Tin Tưởng Cậy Trông Kitô Giáo

Thứ Tư ngày 4/10/2017

"Các Thừa Sai của Niềm Hy Vọng Ngày Nay"

Xin chào anh chị em thân mến!

Trong bài giáo lý này tôi muốn nói về đề tài "Các Thừa Sai của Niềm Hy Vọng Ngày Nay". Tôi hân hoan làm điều này vào lúc mở màn cho tháng này, tháng Giáo Hội đặc biệt cống hiến cho việc truyền giáo, và cũng nhân dịp lễ Thánh Phanxicô Assisi, vị đại truyền giáo của niềm hy vọng!

Thật vậy, Kitô hữu không phải là một ngôn sứ của những gì là u ám. Chúng ta không phải là những thứ tiên tri của niềm u ám. Yếu tính của việc họ loan truyền là những gì ngược lại, những gì ngược lại với u ám: đó là Chúa Giêsu, Đấng đã chết đi vì yêu thương và là Đấng đã được Thiên Chúa làm cho sống lại vào sáng ngày Phuc Sinh. Và đó là tâm điểm của đức tin Kitô giáo. Nếu các Phúc Âm chấm dứt ở chỗ an táng Chúa Giêsu, thì câu chuyện về vị tiên tri này sẽ là câu chuyện được thêm vào với nhiều tiểu sử của các nhân vật anh hùng đã sống chết cho một lý tưởng nào đó thôi. Phúc Âm như thế sẽ trở thành một cuốn sách xây dựng và an ủi nhưng không phải là một cuộc loan báo niềm hy vọng.

Tuy nhiên, các Phúc Âm không kết thúc ở Thứ Sáu Tuần Thánh, mà vươn dài hơn thế nữa; chính vì cái mảnh trải dài vươn rộng này đang biến đổi cuộc đời của chúng ta. Thành phần môn đệ của Chúa Giêsu đã bị chao đảo lao đao vào ngày Thứ Bảy sau biến cố đóng đinh của Người; tảng đá đươc lăn trước cửa mộ cũng đóng lại 3 năm hào hứng họ được sống với Vị Sư Phụ ở Nazarét này. Dường như mọi sự đã chấm dứt, và một số trong họ, bởi thất vọng và sợ sệt, đã rời bỏ Giêrusalem.

Thế nhưng Chúa Giêsu đã phục sinh! Biến cố không thể ngờ này lật ngược và làm đảo lộn tâm trí của các vị môn đệ, vì Chúa Giêsu đã không sống lại cho chính Bản Thân Người, như thể việc tái sinh của Người là một thứ đặc quyền cần phải được ganh ghen: Nếu Người lên cùng Cha của Người thì chính là vì Người muốn Cuộc Phục Sinh của Người được chia sẻ thông phần bởi hết mọi người, và đưa hết mọi tạo vật lên cao. Vào ngày Lễ Ngũ Tuần, hơi thở Thánh Linh đã biến đổi thành phần môn đệ. Các vị chẳng những nhận được tin mừng để loan báo cho tất cả mọi người, mà chính các vị cũng trở nên khác hẳn với trước đó, như thể được tái sinh vào một sự sống mới vậy. Biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu biến đổi chúng ta bằng quyền năng của Thánh Linh. Chúa Giêsu đang sống giữa chúng ta, Người đang sống và có quyền năng biến đổi đó.

Thật là tuyệt vời khi nghĩ rằng chúng ta là thành phần loan tin mừng Phục Sinh của Chúa Giêsu chẳng những bằng lời nói mà bằng các việc làm cũng như bằng chứng từ đời sống! Chúa Giêsu không muốn các vị môn đệ chỉ có khả năng để lập lại các thứ công thức thuộc lòng. Ngài muốn các chứng nhân: những con người gieo rắc niềm hy vọng bằng cách thức họ tiếp đón, tươi cười, yêu thương. Nhất là bằng yêu thương, vì quyền năng của Cuộc Phục Sinh cống hiến cho Kitô hữu khả năng yêu thương ngay cả khi tình yêu dường như mất đi lý do của nó. Có một thứ "hơn" nào đó ở nơi cuộc sống của Kitô hữu, và cái hơn đó không được dẫn giải thuần túy bằng quyền lực của tinh thận hay của tính chất lạc quan cao cả. Đức tin, niềm hy vọng của chúng ta không phải chỉ là những gì lạc quan; nó là một cái gì khác, một cái gì hơn thế nữa! Như thể tín hữu là những con người có hơn "một mảnh Trời" trên đầu, được kèm theo bởi môt sự hiện diện mà một số người thậm chí không thể trực giác thấy.

Bởi vậy mà công việc của Kitô hữu trên thế giới này là mở ra các vùng cứu độ, như các thứ tế bào được tái sinh có khả năng phục hồi bạch huyết. Là những gì tưởng rằng đã bị vĩnh viễn mất đi. Khi bầu trời toàn là mây thì ai có thể nói về mặt trời là một phúc lành. Đó, Kitô hữu đích thực là như thế: không than van và giận dữ nhưng bằng quyền năng của Cuộc Phục Sinh xác tín rằng chẳng có sự dữ nào là vô cùng bất tận, chẳng có đêm nào mà lại khôn cùng, chẳng có con người nào vĩnh viễn sai lầm, chẳng có hận thù nào mà lại bất khả thắng đối với tình yêu.

Đôi khi thành phần môn đệ chắc chắn phải trả một giá đắt đỏ nào đó về niềm hy vọng được Chúa Giêsu ban cho họ náy. Chúng ta nghĩ đến nhiều Kitô hữu không bỏ rơi dân của mình, khi xẩy ra thời kỳ bách hại. Họ ở đó, nơi họ thậm chí bất định về ngày mai, nơi không một thứ dự án nào có thể thực hiện, họ chỉ biết hy vọng nơi Thiên Chúa. Chúng ta nghĩ đến những người anh chị em của chúng ta ở Trung Đông đang cống hiến chứng từ hy vọng đồng thời cũng cống hiến sự sống của mình cho chứng từ này. Họ là những Kitô hữu đích thực! Họ ấp ủ Nước Trời trong cõi lòng của họ, biết nhìn xa vượt, bao giờ cũng vượt xa. Ai được ơn tha thiết gắn bó với Cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu thậm chí có thể hy vọng ở những gì ngoài dự tưởng. Các vị tử đạo của mọi thời đại, bằng lòng trung thành của mình với Chúa Kitô, nói với chúng ta rằng bất công không phải là phán quyết cuối cùng trong đời sống. Nơi Chúa Kitô phục sinh, chúng ta có thể tiếp tục hy vọng. Con người nam nữ có "lý do tại sao" sống chịu đựng hơn những người khác trong những lúc bất hạnh. Tuy nhiên, ai thực sự có Chúa Kitô bên mình thỉ không còn sợ bất cứ sự gì. Và vì thế mà các Kitô hữu này – thành phần Kitô hữu đích thực – không bao giờ là những con người dễ dãi xuề xòa. Tính cách hiền lành của họ không được lẫn lộn với một thứ cảm giác bất an và lụy phục. Thánh Phaolô đã thôi thúc người môn đệ Timothêu chịu khổ vì Phúc Âm như thế này: "Vì Thiên Chúa không ban cho chúng ta một thần trí sợ hãi mà là một thần trí mãnh lực và yêu thương cùng tự chủ" (2Timôthêu 1:7). Bị vấp ngã, họ luôn chỗi dậy.

Anh chị em thân mến, đó, anh chị em thấy được lý do tại sao Kitô hữu là một vị thừa sai của niềm hy vọng. Không phải bởi công trạng của họ mà là nhờ Chúa Giêsu, hạt lúa miến rơi xuống đất bị mục nát đi và đã sinh nhiều hoa trái.(xem Gioan 12:24).

https://zenit.org/articles/pop es-general-audience-on-mission aries-of-hope-today/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

--------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO- THU BA-CN28TN-A PDF Print E-mail

Suy Nghiệm Lời Chúa

Bài Ðọc I: (Năm I) Rm 1, 16-25

Ðáp Ca: Tv 18, 2-3. 4-5

Phúc Âm: Lc 11, 37-41

Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay, Thứ Ba Tuần XXVIII Thường Niên, tương tự như bài Phúc Âm của Thánh ký Marco cho Thứ Ba Tuần V Thường Niên về vấn đề rửa tay trước khi ăn.

Tuy nhiên, ở bài Phúc Âm Thánh ký Marco Tuần V Thường Niên, vấn đề không rửa tay trước khi ăn xẩy ra nơi một số môn đệ của Chúa Giêsu (xem Marco 7:2), trong khi ở bài Phúc Âm hôm nay lại xẩy ra với chính Chúa Kitô, như Thánh ký Luca thuật lại trong bài Phúc Âm hôm nay:

"Khi ấy, lúc Chúa Giêsu còn đang nói, thì có một người biệt phái mời Người dùng bữa tại nhà ông. Người đi vào và ngồi bàn ăn. Nhưng người biệt phái ngạc nhiên, nghĩ trong lòng rằng tại sao Người không rửa tay trước khi dùng bữa".

Chắc chắn Chúa Kitô đã biết cái thói lệ thông thường không phải là luật Chúa này của dân Do Thái mà lại là những gì những ai thông luật và giữ luật như thành phần biệt phái vốn coi trọng, nhưng có lẽ Người chủ ý không làm như vậy, không rửa tay trước khi ăn, để nhân cơ hội này dạy cho họ một bài học về những gì cần thiết và quan trọng hơn cả những gì là bề ngoài được họ đặt nặng:

"Bấy giờ Chúa phán cùng ông ấy rằng: 'Này quí vị, những người biệt phái, quí vị lau rửa bên ngoài chén đĩa, nhưng nội tâm quí vị lại đầy những tham lam và gian ác. Hỡi những kẻ ngu dại, chớ thì Ðấng đã tạo thành cái bên ngoài, lại chẳng tạo thành cả cái bên trong sao? Thế nhưng nếu quí vị bố thí đi những gì quí vị có thì mọi sự sẽ được tẩy sạch cho quí vị'".

Đúng thế, qua câu giáo huấn chí lý nhưng hết sức thực tế này của Chúa Giêsu, chúng ta thấy rằng Người chú trọng đến nội tâm hơn hành động biểu hiện, đến tinh thần hơn hình thức bề ngoài. Cho dù vẫn cần đến hành vi cử chỉ bề ngoài và hình thức biểu hiệu đấy, nhưng chúng phải là những gì phản ảnh nội tâm, phản ảnh tinh thần, chứ không phải là những gì thuần hình thức và máy móc, bất xứng với con người là loài có tâm linh và ý thức.

Nếu bề ngoài dù có những hành vi cử chỉ tốt lành hay có những việc làm có vẻ đạo đức như "lau rửa bên ngoài chén đĩa, nhưng nội tâm các ông đầy tham lam và gian ác" thì tất cả chỉ là giả hình che mắt thiên hạ, làm để lấy tiếng khen... Cho đến khi họ bị hiểu lầm hay chống đối hoặc bị chê bai bởi chính những việc giả hình họ làm, họ liền lộ cái chân tướng đầy kiêu căng tự ái của họ, thậm chí họ còn có những hành vi cử chỉ chọc gậy bánh xe, chống phá, thơ nặc danh v.v., như đã từng xẩy ra ở các cộng đoàn Việt Nam từ trước đến nay.

Đó là lý do Chúa Giêsu đã dạy cho thành phần biệt phái cũng như cho chúng ta là thành phần môn đệ của Người, nhưng vẫn bị nhập nhiễm men giả hình giả tạo của họ, một nguyên tắc hay một đường lối làm cho chúng ta không còn sống giả hình mà là sống chân chính đúng như Thiên Chúa muốn, đó là hãy: "Bố thí đi những gì quí vị có thì mọi sự sẽ được tẩy sạch cho quí vị'".

Câu này của Chúa Giêsu có nghĩa là gì? Người khuyên chúng ta ra sao đây để có thể thực hành cho chính xác và có hiệu nghiệm?? Tại sao "bố thí đi những gì (mình) có" là phương cách duy nhất và hiệu nghiệm nhờ đó "mọi sự sẽ được tẩy sạch" cho chúng ta???

Phải chăng ở đây Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta rằng để mọi việc làm của chúng ta, để mỗi một và tất cả mọi hành vi cử chỉ được bày tỏ ra bề ngoài của chúng ta được chân thực, hoàn toàn không có gì là giả tạo, bôi bác, hình thức v.v. chúng ta cần phải sống hết mình, phải ý thức những gì mình làm, phải dứt khoát từ bỏ, như "bố thí đi những gì mình có", những ý hướng xấu xa vị kỷ ham danh hơn là sống hoàn toàn vì Chúa và cho tha nhân v.v.!?

Trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay, Thánh Tông Đồ Phaolô cũng cho chúng ta thấy chính vì con người chưa có đức tin, chưa nhận biết Thiên Chúa là những gì bề trong, nội tâm, thuộc tâm linh cao cả, như "Người công chính sống bởi đức tin", mà họ, cho dù theo tự nhiên vẫn có thể nhận biết sự hiện hữu của Thiên Chúa trong trời đất: "Từ khi sáng tạo thế gian, qua những loài thụ tạo, họ đã có thể nhìn nhận, hiểu biết những sự không trông thấy được của Thiên Chúa, nhất là quyền năng đời đời và thiên tính của Người, nên họ không thể chữa mình được", vẫn hướng hạ, vẫn không thể nào sống theo sự thật, hoàn toàn sống phản lại sự thật đến độ đã biến đổi sự thật theo ý họ:

"Vì dẫu họ biết Thiên Chúa, họ không tôn vinh, không cảm tạ Người cho xứng với Thiên Chúa, song họ đã lầm lạc trong những hư tưởng của họ, và tâm trạng ngu muội của họ đã ra mù tối. Họ tự khoe là khôn ngoan, nhưng họ đã hoá ra điên dại. Họ đã hoán đổi vinh quang của Thiên Chúa bất hủ ra giống như hình ảnh của loài người hay chết và của loài chim, loài thú bốn chân và rắn rết. Vì thế, Thiên Chúa để mặc cho họ buông theo lòng dục vọng tìm sự dâm ô, thậm chí làm ô nhục đến chính bản thân họ. Họ là những người đã hoán đổi sự chân thật".

Bài Đáp Ca hôm nay âm vang nội dung của Bài Đọc 1 hôm nay về vấn đề Thiên Chúa đã tỏ mình ra qua thiên nhiên tạo vật của Ngài để con người có thể nhận biết Ngài mà đến với Ngài và ca tụng Ngài, nhờ đó, họ được chân lý giải phóng mà sống trong chân thật, chứ không sống giả dối như thành phần cho dù giữ luật Chúa vẫn đầy những giả hình như những người biệt phái trong bài Phúc Âm hôm nay:

1) Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, thanh không kể ra sự nghiệp tay Người. Ngày này nhắc nhủ cho ngày khác, đêm này truyền tụng cho đêm kia.

2) Ðây không phải lời cũng không phải tiếng, mà âm thanh chúng không thể lọt tai. Nhưng tiếng chúng đã vang cùng trái đất, và lời chúng truyền ra khắp cõi địa cầu.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU HAI-CN28TN=A PDF Print E-mail

 Thứ Hai 16-10-2017

Chúa Giêsu Kitô - Điềm Lạ duy nhất cho những ai tin vào Người

TIN MỪNG LUCA 11, 29-32

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Hai Tuần XXVIII Thường Niên, LUCA 11, 29-32 cũng là bài Phúc Âm cùng một nội dung được Thánh ký Mathêu thuật lại và được Giáo Hội chọn đọc cho Thứ Hai Tuần XVI Thường Niên - Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần XVI Thường Niên.

Tuy nhiên, bài Phúc Âm cùng nội dung này của Thánh ký Mathêu cho Thứ Hai Tuần XVI Thường Niên được Giáo Hội chọn đọc chung với Bài Đọc 1 trong Cựu Ước, còn bài Phúc Âm cùng nội dung của Thánh ký Luca hôm nay được Giáo Hội chọn đọc chung với Bài Đọc 1 trong Tân Ước.

Nội dung của Bài Phúc Âm hôm nay liên quan đến điềm lạ Giona, một điềm lạ ám chỉ Chúa Kitô và cuộc vượt qua của Người là Đấng mà con người cần phải tin tưởng chấp nhận mới được cứu độ:

"Khi ấy, thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại, Chúa Giêsu phán rằng: 'Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona. Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Salomon. Nhưng ở đây còn có người hơn Salomon. Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa'".

"Điềm lạ của tiên tri Giona" là gì, nếu không phải, như Bài Đọc 1 cho năm lẻ của các ngày Thứ Hai, Thứ Ba và Thứ Tư tuần trước cho thấy, là điềm lạ vị tiên tri này sẵn sàng bị ném xuống biển để cứu sinh mạng của những con người ở trên một con tầu bấy giờ đang bị bão tố sắp bị nhận chìm, nhưng chính vị tiên tri này cũng không chết mà tiếp tục tục sống trong bụng cá 3 ngày 3 đêm cho đến khi được nó nhả ra trên bãi biển, một điềm lạ như báo trước cuộc vượt qua của Chúa Kitô, Đấng cũng nằm trong lòng đất cho đến ngày thứ ba thì phục sinh vinh hiển.

Phải, Chúa Kitô Vượt Qua chính là điềm lạ cho riêng dân Do Thái là thành phần dân riêng của Người, thành phần chẳng những không chấp nhận Người (xem Gioan 1:11) mà còn sát hại Người cho bằng được, nhưng họ chẳng làm gì được Người vì Người là Đấng Thiên Sai Con Thiên Chúa hằng sống bất từ không thể nào không sống lại để chiến thắng tội lỗi và sự chết, để làm chủ cả sự chết lẫn sự sống, để làm cho con người được sự sống và là một sự sống viên mãn hơn (xem Gioan 10:10).

Nếu Chúa Kitô thực sự là điềm lạ Giona cho chung nhân loại mọi thời và cho riêng thành phần dân của Người thì điềm lạ ấy chính là tin mừng cứu độ của nhân loại và cho nhân loại, nhất là của những ai và cho những ai tin vào điềm lạ Giona cũng là tin vào Tin Mừng cứu độ ấy, như Thánh Phaolô Tông Đồ đã nói đến ngay khi mở đầu thư Rôma trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Tin mừng mà Thiên Chúa đã hứa trước bằng lời các tiên tri trong Kinh Thánh về Con của Người; Người đã sinh ra theo huyết nhục bởi dòng dõi Ðavít, đã được tiền định là Con Thiên Chúa quyền năng theo Thánh Thần, đã sống lại từ cõi chết. Ðó chính là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, nhờ Người, chúng tôi đã nhận ân sủng và chức vụ tông đồ, để nhân danh Người, chúng tôi quy phục mọi dân tộc về Ðức Tin, trong đó có cả anh em là những người mà Chúa Giêsu Kitô đã kêu gọi".

Bài Đáp Ca hôm nay phản ảnh bài Phúc Âm và Bài đọc 1 về ơn cứu độ của Thiên Chúa từ bi nhân ái nơi Đức Giêsu Kitô Vượt Qua, một ơn cứu độ chẳng những cho dân Do Thái mà còn cho muôn dân:

1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, vì Người đã làm nên những điều huyền diệu. Tay hữu Người đã tạo cho Người cuộc chiến thắng, cùng với cánh tay thánh thiện của Người.

2) Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người; trước mặt chư dân Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel.

3) Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca!

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

---------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 7 of 101