mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1388
mod_vvisit_counterHôm Qua7179
mod_vvisit_counterTuần Này42136
mod_vvisit_counterTuần Trước45009
mod_vvisit_counterTháng Này121387
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10262700

We have: 143 guests online
Your IP: 54.242.94.204
 , 
Today: Feb 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - DUC KITO GIAI THOAT PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Chúa và xin hướng dẫn con trong chân lý của Ngài. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 1, 21-28

"Ngài giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền".

(Ðến thành Capharnaum), ngày nghỉ lễ, Chúa Giêsu vào giảng dạy trong hội đường. Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ.

Ðang lúc đó, trong hội đường có một người bị thần ô uế ám, nên thét lên rằng: "Hỡi Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai: là Ðấng Thánh của Thiên Chúa". Chúa Giêsu quát bảo nó rằng: "Hãy im đi, và ra khỏi người này!" Thần ô uế liền dằn vật người ấy, thét lên một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy. Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: "Cái chi vậy? Ðây là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế, và chúng vâng lệnh Người". Danh tiếng Người liền đồn ra khắp mọi nơi, và lan tràn khắp vùng lân cận xứ Galilêa.

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI - Suy Nghiệm VÀ  SỐNG Lời Chúa

Đức Kitô giải thoát

Hôm nay, Thứ Ba trong Tuần 1 Thường Niên hậu Giáng Sinh, tiếp tục hôm qua, bài Phúc Âm của Thánh ký Marcô cho biết, sau khi kêu gọi 4 người môn đệ đầu tiên trong bài Phúc Âm hôm qua, rằng "Chúa Giêsu vào giảng dạy trong hội đường vào một ngày nghỉ lễ".

Theo chủ đề chung của Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh là "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" thì quả thực bài Phúc Âm hôm nay đã cho thấy rõ điều ấy, như ngay ở đầu và cuối của cùng bài Phúc Âm:

"Người ta kinh ngạc về giáo lý của Người, vì Người giảng dạy người ta như Ðấng có uy quyền, chứ không như các luật sĩ... Mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: 'Cái chi vậy? Ðây là một giáo lý mới ư? Người dùng uy quyền mà truyền lệnh cho cả các thần ô uế, và chúng vâng lệnh Người'".

Thật vậy, "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" này chẳng những làm cho con người bàng hoàng sửng sốt chưa từng thấy như thế mà còn gây cho cả ma quỉ cũng phải kinh hoảng không thể không nhận biết và xưng tụng Người nữa, khi chúng thấy mình gặp phải một siêu đối thủ hoàn toàn cao tay hơn sắp sửa ra tay triệt hạ chúng: "Hỡi Giêsu Nadarét, có chuyện gì giữa chúng tôi và ông? Ông đến để tiêu diệt chúng tôi sao? Tôi biết ông là ai: là Ðấng Thánh của Thiên Chúa".

Có lẽ trong các tác động được "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" thực hiện trước tột đỉnh sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế của mình là Cuộc Vượt Qua thì, so với các tác động khác như chữa lành người bệnh và hồi sinh người chết, tác động trừ quỉ chất chứa một ý nghĩa cứu độ có giá trị cao nhất. Tại sao?

Bởi vì, tác động trừ quỉ ám chỉ việc xuất hiện của Chúa Kitô nói chung và công cuộc cứu chuộc của Người nói riêng để thiết lập Vương Quốc của Thiên Chúa sẽ hoàn toàn và vĩnh viễn phá hủy vương quốc của ma quỉ (xem 1Gioan 3:8), một vương quốc đã được thiết lập ngay vừa khi xẩy ra nguyên tội.

Chính vì bị vương quốc của ma quỉ cai trị mà loài người, trước đó sống trong tình trạng công chính nguyên thủy, hoàn toàn ngây thơ vô tội và tự do an lành, đã bắt đầu một cuộc sống theo thân phận của thành phần nô lệ cho tội lỗi và sự chết là những gì gây ra bởi nguyên tội và do cơ mưu hết sức thâm độc của "tên sát nhân ngay từ ban đầu" (Gioan 8:44).

Phải chăng vì ý nghĩa và tác dụng chính yếu của sứ vụ Thiên Sai Cứu Thế là thiết lập Vương Quốc của Thiên Chúa bằng cách phá hủy vương quốc của ma quỉ như thế mà Thánh ký Marcô đã thuật lại sự kiện "Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" trừ quỉ đầu tiên trong và trước tất cả những hành động khác tỏ mình ra của Người?

Tuy nhiên, cho dù là thế, bài Phúc Âm còn cho thấy là trước khi trừ quỉ Chúa Kitô đã giảng dạy dân chúng trong hội đường vào ngày hưu lễ. Bởi vì, tự mình, Người là Ngôi Lời, và vì thế, lời của Người phản ảnh Người, như "ánh sáng chiếu trong tăm tối" (Gioan 1:5) và có tác dụng xua tan tối tăm chết chóc, như trường hợp Người trừ quỉ ám trong bài Phúc Âm hôm nay bằng lời truyền đầy quyền năng của Người: "Hãy im đi, và ra khỏi người này!"

Khi thấy "thần ô uế liền dằn vật người ấy, thét lên một tiếng lớn, rồi xuất khỏi người ấy", thì "mọi người kinh ngạc hỏi nhau rằng: 'Cái chi vậy? Ðây là một giáo lý mới ư?'". Họ không nói "đây là quyền năng mới ư" mà là "giáo lý mới ư", nghĩa là họ nhấn mạnh đến khía cạnh nguyên tác trừ quỉ là lời Chúa, là Đấng "đầy ân sủng và chân lý" đã xuất hiện trước mắt họ và đang ở cùng họ, Đấng họ đợi trông nhưng ma quỉ lại sợ hãi.

Lời Chúa trừ quỉ ám trong bài Phúc Âm hôm nay cho chúng ta thấy một quyền lực vốn được chất chứa nơi Lời Chúa và xuất phát từ Lời Chúa. Đó là lý do kinh nghiệm tu đức cho thấy như thế, và lịch sử Giáo Hội nơi các thánh nhân cũng chứng thực như vậy. Ở chỗ, Lời Chúa đã có một mãnh lực biến đổi cuộc đời của Kitô hữu, từ một tội nhân thành thánh nhân, từ tìnht rạng sống tầm thường nên phi thường, chỉ bằng một lời nào đó trong Phúc Âm.

"Người Con đến từ Cha ... đầy ân sủng và chân lý" trừ thần ô uế ám trong bài Phúc Âm hôm nay, hướng đến Ơn Cứu Độ tối hậu, còn mang ý nghĩa giải phóng con người nô lệ đang sống quằn quại trong vương quốc của ma quỉ khỏi mọi gian nan khốn khổ trên đời gây ra bởi tội lỗi và tột đỉnh là sự chết nữa, một cuộc giải phóng xuất phát từ lòng yêu thương của Thiên Chúa, như Ngài đã tỏ mình ra nơi trường hợp của Bà Anna trong Bài Đọc 1 hôm nay, khi Ngài đã "nhớ đến bà", "nhìn đến nỗi khổ của nữ tỳ Chúa", để giải thoát bà khỏi cảnh son sẻ và ô nhục của bà, bằng cách đã cho bà "có thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Samuel".

Được giải thoát cho khỏi cảnh son sẻ và ô nhục như thế, thân mẫu của bé Samuel là vị tiên tri tương lai tốt lành trong lịch sử dân Do Thái không thể nào không cảm thấy hân hoan vui sướng mà không ngợi khen cảm tạ Thiên Chúa bằng chính những lời lẽ của mình trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Tâm hồn tôi nhảy mừng trong Chúa, và sức mạnh tôi được gia tăng trong Thiên Chúa tôi; miệng tôi mở rộng ra trước quân thù, vì tôi reo mừng việc Chúa cứu độ tôi.

2) Chiếc cung những người chiến sĩ đã bị bẻ gãy, và người yếu đuối được mạnh khoẻ thêm. Những kẻ no nê phải làm thuê độ nhật, và những người đói khát khỏi phải làm thuê; người son sẻ thì sinh năm đẻ bảy, còn kẻ đông con nay phải héo tàn.

3) Chúa làm cho chết và Chúa làm cho sống, Chúa đày xuống Âm phủ và Chúa dẫn ra. Chúa làm cho nghèo và làm cho giàu có, Chúa hạ xuống thấp và Chúa nâng lên cao.

4) Từ nơi cát bụi, Chúa nâng người yếu đuối; từ chỗ phân nhơ, Chúa nhắc kẻ khó nghèo, để cho họ ngồi chung với các vương giả, và cho họ dự phần ngôi báu vinh quang.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - DTC CHIA SE LE HIEN LINH PDF Print E-mail

ĐTC Phanxicô: Lễ Hiển Linh - Giảng Lễ

"Chúng ta hãy bắt chước các vị Vương Sĩ: hãy ngước nhìn lên cao, hãy lên đường và hãy nhưng không trao ban các tặng phẩm của chúng ta".

Có 3 hành động của Các Vị Vương Sĩ giúp cuộc hành trình của chúng ta đến với Chúa, Đấng hôm nay tỏ mình ra như ánh sáng và ơn cứu độ cho muôn dân. Các Vị Vương Sĩ này nhìn thấy ngôi sao, họ lên đường và họ mang theo các tặng vật.

Nhìn thấy ngôi sao. Đó là điểm bắt đầu. Thế nhưng, chúng ta có thể hỏi là tại sao chỉ có các vị Vương Sĩ này thấy được ngôi sao? Có lẽ vì có ít người ngước mắt lên trời. Chúng ta thường thực hiện việc làm bằng cách nhìn xuống đất: chỉ cần có sức khỏe, có chút ít tiền bạc và có một chút vui chơi là đủ. Tôi nghĩ không biết chúng ta có còn biết nhìn lên trời hay chăng. Chúng ta có biết ước mơ, biết trông ngóng Thiên Chúa, biết mong đợi những gì mới mẻ Ngài thực hiện chăng, hay chúng ta để mình bị đời cuốn trôi, như các cành cây khô trước gió thổi vậy? Các vị Vương Sĩ không hài lòng với những gì có được chỉ mang tính cách trôi nổi. Họ đã hiểu được rằng để sống thực sự, chúng ta cần một đích nhắm cao vời và chúng ta cần phải biết nhìn lên.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần hỏi tại sao, trong số tất cả những ai nhìn lên trời, rất nhiều người khác không theo ngôi sao ấy, "ngôi sao của Người" (Mathêu 2:2). Có lẽ là vì ngôi sao này không bắt mắt (not eye-catching), không sáng hơn các vì tinh tú khác. Đó là một ngôi sao - Phúc Âm nói với chúng ta - rằng các vị Vương Sĩ đã thấy "mọc lên" (2:9). Ngôi sao của Chúa Giêsu không chói lọi hay áp đảo mà là mời gọi một cách dịu dàng. Chúng ta có thể tự hỏi đâu là ngôi sao chúng ta đã chọn để theo đuổi trong đời sống của mình. Một số vì tinh tú sáng ngời nhưng không soi đường chỉ lối. Bởi vậy nó chỉ liên quan đến những gì là thành đạt, là tiền bạc, là nghề nghiệp, là vinh dự và là khoái lạc khi những thứ ấy làm nên đời sống của chúng ta.

Chúng là những ngôi sao băng (meteors): chúng lóe lên trong chốc lát thế rồi vụt tắt và tan biến. Chúng là những ngôi sao bất chợt làm lạc hướng hơn là dẫn lối. Tuy nhiên, ngôi sao của Chúa không bao giờ lại rạng ngời áp đảo, nhưng lúc nào cũng có đó, hằng dịu dàng: nó dẫn dắt anh chị em trong cuộc đời và đồng hành với anh chị em. Nó không hứa hẹn những thứ phần thưởng vật chất, mà bảo toàn bình an và ban tặng, như với các vị Vương Sĩ, "niềm vui dạt dào trọng đại" (2:10). Thế nhưng nó cũng bảo chúng ta phải lên đường nữa.

Lên đường, điều thứ hai được các vị Vương Sĩ làm, là những gì thiết yếu nếu chúng ta cần phải tìm gặp Chúa Giêsu. Ngôi sao của Người đòi phải dứt khoát thực hiện cuộc hành trình và không ngừng tiến bước. Nó đòi chúng ta không bị ràng buộc bởi các thứ gánh vác vô bổ và những thêm thắt bất cần chỉ ngăn đường cản lối, và hãy chấp nhận những chướng ngại bất ngờ dọc theo tấm bản đồ cuộc sống. Chúa Giêsu để cho Người được gặp thấy bởi những ai tìm kiếm Người, thế nhưng để tìm gặp Người chúng ta cần phải đứng lên đi, chứ không ngồi đâu đó mà là dám liều thân, chứ không đứng yên, mà là lên đường. Chúa Giêsu thực hiện những đòi hỏi: Người nói với những ai tìm kiếm Người hãy bỏ lại những gì là tiện nghi thoải mái cùng với những gì là ấm áp an toàn nơi gia đình và nhà cửa. Việc theo Chúa Giêsu không phải là một thứ nghi thức xã giao cần phải tuân giữ, mà là một cuộc hành trình cần phải thực hiện.

Thiên Chúa, Đấng đã giải thoát dân của Ngài trong cuộc xuất hành và đã kêu gọi các dân tộc mới theo ngôi sao của mình, luôn ban tự do và niềm vui chỉ ở trong cuộc hành trình mà thôi. Nói cách khác, nếu chúng ta muốn gặp thấy Chúa Giêsu, chúng ta cần phải thắng vượt nỗi sợ hãi dám liều mình của chúng ta, thắng vượt cái khoái thú bản thân và thắng vượt việc chúng ta bất cần đến điều gì nữa cho đời sống. Chúng ta cần phải liều mình chỉ để được gặp gỡ một Con Trẻ. Thế nhưng, những cái liều ấy là nỗ lực hết sức xứng đáng, vì trong việc tìm gặp Con Trẻ này, trong việc khám phá thấy niềm êm ái dịu dàng và tình yêu thương của Người, chúng ta mới tái khám phá thấy chính bản thân mình.

Việc lên đường không phải là chuyện dễ. Phúc Âm cho chúng ta thấy điều này bằng một thứ phối trí các nhân vật. Nào là một Hêrôđê, hoảng sợ trước việc hạ sinh của một vị vua đe dọa đến quyền lực của ông. Bởi vậy ông triệu tập các phiên họp và sai người đi thu thập tin tức, thế mà chính ông lại không nhúc nhích gì; ông vẫn cứ giam mình nơi lâu đài của mình. Thậm chí "tất cả Giêrusalem" (câu 3) đều sợ hãi: sợ hãi về những điều mới lạ đang được Thiên Chúa thực hiện. Họ muốn hết mọi sự vẫn cứ thế thôi - tức là cứ theo cách thức bình thường - không ai có can đảm để lìa bỏ. Khuynh hướng của các vị tư tế và luật sĩ mới càng quái dị hơn nữa, ở chỗ, họ biết đich xác nơi chốn để nói cho Hêrôđê biết, trích dẫn lời tên tri xưa.

Họ biết đấy, nhưng chính họ lại không đến Bêlem. Khuynh hướng của họ là khuynh hướng của những ai thường là các tín hữu: họ có thể nói nhiều về đức tin mà họ biết rất rõ, thế nhưng họ lại không dám liều mình cho Chúa. Họ nói, nhưng họ không cầu nguyện; họ than trách, nhưng lại không hành thiện gì hết. Các vị Vương Sĩ, trái lại, nói ít hành trình nhiều. Không biết về các chân lý đức tin, họ vẫn đầy lòng mong ngóng và lên đường. Bởi vậy mà Phúc Âm đã nói với chúng ta rằng họ "đã đến bái thờ Người" (câu 2); "họ lên đường; họ bước vào và phục xuống tôn thờ Người; họ trở về" (các câu 9,11,12). Họ cứ luôn di chuyển.

Mang theo các tặng vật. Khi đến với Chúa Giêsu sau một cuộc hành trình dài, các vị Vương Sĩ thực hiện như Người làm, ở chỗ họ mang theo các tặng vật. Chúa Giêsu ở đó để cống hiến sự sống của Người; họ hiến dâng cho Người các tặng phẩm quí giá của họ là vàng, nhũ hương và mộc dược. Bài Phúc Âm trở nên thực hữu khi cuộc hành trình cuộc sống được kết thúc bằng việc trao ban. Trao ban một cách nhưng không, vì Chúa, mà không mong được đền đáp: đó là một dấu hiệu chắc chắn chứng tỏ chúng ta đã gặp được Chúa Giêsu.

Vì Người phán: "Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy trao ban nhưng không" (Mathêu 10:8). Việc hành thiện mà không tính toán, ngay cả khi không được yêu cầu, ngay cả khi anh chị em không kiếm được gì từ đó, ngay cả khi nó là những gì khó chịu. Đó là những gì Thiên Chúa muốn. Ngài, Đấng đã trở thành nhỏ mọn vì chúng ta, xin chúng ta hãy cống hiến một điều gì đó cho người anh chị em hèn môn nhất của Người. Họ là ai? Họ là những người chẳng có gì để đền đáp, họ là thành phần túng bấn, thành phần đói khổ, thành phần khách lạ, thành phần tù nhân, thành phần nghéo khổ (xem Mathêu 25:31-46).

Chúng ta cống hiến một món quà hài lòng Chúa Giêsu khi chúng ta chăm sóc cho một người bệnh, chúng ta bỏ giờ ra với một con người khó tính, chúng ta giúp đáp người đang cần cứu trợ, hay tha thứ cho những ai làm chúng ta nhức nhối. Đó là những tặng ân được trao ban cách nhưng không, những việc không thể nào thiếu vắng trong cuộc đời của Kitô hữu. Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng nếu chúng ta chỉ yêu thương những ai thương yêu chúng ta thì chúng ta làm như dân ngoại làm vậy thôi (xem Mathêu 5:46-47). Hôm nay, chúng ta hãy nhìn vào bàn tay của mình, quá thường trống rỗng yêu thương, và chúng ta cố gằng nghĩ về một tặng vật nhưng không nào đó chúng ta có thể cống hiến mà không mong lấy lại gì. Điều ấy sẽ làm hài lòng Chúa. Chúng ta hãy hỏi Người: "Lạy Chúa, xin cho con biết tái khám phá thấy niềm vui của việc trao ban".

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy bắt chước các vị Vương Sĩ: hãy ngước nhìn lên cao, hãy lên đường và hãy nhưng không trao ban các tặng phẩm của chúng ta.

http://www.vaticannews.va/en/p ope/news/2018-01/pope-francis- epiphany-mass-homily-full- text-6-january0.html
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề .

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LE HIEN LINH - BA VUA PDF Print E-mail

Alleluia: Mt 2, 2

Alleluia, alleluia! - Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đã đến để triều bái Người. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 2, 1-12

"Chúng tôi từ phương Ðông đến thờ lạy Ðức Vua".

Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Ðông phương tìm đến Giê-rusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Ðức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Ðấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta".

Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người". Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Ðông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình.

Ðó là lời Chúa.

HOC HỎI- Suy niệm- SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Emmanuel Đông Phương

Hôm nay, Chúa Nhật sau Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, tức sau Lễ Mẹ Thiên Chúa 1/1, ở Hoa Kỳ cũng như ở hầu như các giáo phận trên thế giới, vì lý do mục vụ cho nhiều giáo dân có thể tham dự, đều mừng Lễ Hiển Linh, tột đỉnh của Mùa Giáng Sinh, vào Chúa Nhật này.

Thật vậy, Lễ Hiển Linh là tột đỉnh của Mùa Giáng Sinh là vì nếu "Lời đã hóa thành nhục thể và ở cùng chúng ta" (Giona 1:14) như một Đấng Thiên Sai Cứu Thế, Đấng Thiên Sai của dân Do Thái đúng như đã được tiên báo trong lịch sử cứu độ của họ, và vì thế Người cũng là Đấng Cứu Thế của chung nhân loại, như đã được Thiên Chúa hứa ban ngay sau nguyên tội (xem Khởi Nguyên 3:15), thì sự kiện ba chiêm vương gia đông phương theo ngôi sao lạ tìm đến với Người sau khi Người giáng sinh đã bắt đầu hiện thực dự án cứu độ của Thiên Chúa.

Đó là một mầu nhiệm không phải ai trong dân Do Thái cũng có thể biết vào thời ấy, một dân tộc vốn coi thường dân ngoại, cho dân ngoại là những loại người tội lỗi xấu xa nhơ nhớp bởi họ tôn thờ những tà thần và ngẫu tượng nhân tạo giả trá, chứ không phải là vị Thiên Chúa chân thật duy nhất như dân Do Thái, cho dù Thánh Kinh và lịch sử cứu độ của dân Do Thái liên lỉ ám chỉ đến mầu nhiệm cứu độ phổ quát như vậy. Bởi thế, trong Bài Đọc 2 hôm nay, Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại, trong Thư gửi Giáo đoàn Epheso mới dám nói mà không sợ kiêu ngạo rằng:

"Thiên Chúa đã ban cho tôi việc phân phát ân sủng cho anh em, là theo ơn mạc khải cho tôi biết, tôi đã được thấu hiểu mầu nhiệm mà con cái loài người các thế hệ khác không được biết, nhưng nay đã mạc khải cho các thánh Tông đồ của Người, và cho các vị Tiên tri, nhờ Thánh Thần".

Phải, mầu nhiệm ấy là gì, mầu nhiệm được Thánh Thần chẳng những tỏ cho riêng vị tông đồ dân ngoại này mà còn tỏ cho các vị tông đồ của Tân Ước và các vị tiên tri trong Cựu Ước nữa, thành phần được sai đi rao giảng tin mừng cứu độ, nếu không phải, như đã cảm nhận và cũng đã được Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô xác định trong Bài Đọc 2 hôm nay: "Nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được nên đồng thừa tự, đồng một thân thể và đồng thông phần với lời hứa của Người trong Chúa Giêsu Kitô".

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, Ngôn Sứ Isaia cũng đã nói tiên tri về ơn gọi và vai trò được tuyển chọn của dân Do Thái theo dự án cứu độ của Thiên Chúa, một dự án cứu độ mà nhờ họ và qua họ Thiên Chúa muốn tỏ mình ra và ban ơn cứu độ cho chung nhân loại:

"Hãy đứng lên, hãy toả sáng ra, hỡi Giêrusalem! Vì sự sáng của ngươi đã tới, vì vinh quang của Chúa đã bừng dậy trên mình ngươi. Kìa tối tăm đang bao bọc địa cầu, vì u minh phủ kín các dân, nhưng trên mình ngươi Chúa đang đứng dậy, vì vinh quang của Ngài xuất hiện trên mình ngươi. Chư dân sẽ lần bước tìm về sự sáng của ngươi, và các vua hướng về ánh bình minh của ngươi".

Chưa hết, cũng trong Bài Đọc 1 hôm nay, vị ngôn sứ này còn nói rõ hơn nữa về mầu nhiệm cứu độ phổ quát này, như thể ám chỉ đến chính sự kiện ba chiêm vương gia đại diện cho dân ngoại tìm đến bái thờ Hài Nhi Giêsu, qua các hình ảnh ám chỉ như sau:

"Hãy ngước mắt lên chung quanh, và hãy nhìn coi: tất cả những người đó đang tập họp, đang tìm đến với ngươi; các con trai của ngươi tự đàng xa đi tới, và các con gái ngươi đứng dậy từ khắp bên hông. Bấy giờ ngươi sẽ nhìn coi, và ngươi trở nên rực rỡ, tim ngươi sẽ rạo rực và sẽ phồng lên. Bởi vì những kho tàng bể khơi tuôn đến với ngươi, nguồn phú túc của chư dân sẽ tới tay ngươi. Những con lạc đà tràn ngập vây phủ lấy ngươi, những lạc đà một bướu tự xứ Mađian và Epha; tất cả những ai từ Saba đi tới, đem theo vàng và nhũ hương, và họ sẽ tuyên rao lời ca ngợi Chúa".

Trước mầu nhiệm cứu độ phổ quát tuyệt vời ấy, Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay cũng không thể nào không hân hoan vang tiếng chúc tụng ngợi khen rằng: "Chúc tụng danh người đến muôn đời, danh người còn tồn tại lâu dài như mặt trời. Vì người, các chi họ đất hứa sẽ được chúc phúc, và các dân nước sẽ ca ngợi người".

Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu hôm nay là bài phúc âm duy nhất trong cả 4 phúc âm về biến cố ba chiêm vương gia đông phương tìm "đến để triều bái Người". Thế nhưng, việc tìm kiếm của ba vị chiêm vương gia được bắt đầu từ kiến thức tự nhiên thông thạo của họ về trời đất cùng với lòng khao khát thần linh và tìm chân lý của họ, tự bản chất của những khả năng nhân bản này, tuy tốt lành và cần thiết, vẫn chưa đủ để gặp được Thiên Chúa, nếu không được chính Ngài tỏ mình ra cho, qua Thánh Kinh của người Do Thái.

Bởi thế, mới xẩy ra sự kiện ngôi sao dẫn đường của họ và cho họ, trước khi dẫn họ đến chính chỗ "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1;14) thì đã biến mất ở ngay giáo đô Do Thái giáo là Thành Thánh Giêrusalem, nơi duy nhất có thể cho họ biết được đích xác đích điểm và đối tượng thần linh mà họ đang tìm kiếm. Đó là lý do phần đầu tiên của bài Phúc Âm hôm nay mới có đoạn sau đây:

"Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Ðông phương tìm đến Giê-rusalem. Các ông nói: 'Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người'. Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Ðức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: 'Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Ðấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta'".

Thật vậy, sự kiện kiến thức tự nhiên của ba chiêm vương gia này nhận biết các điềm trời đất để tìm kiếm chân lý, tìm kiếm Đấng Tối Cao của mình chỉ đạt tới một mức độ giới hạn nào đó thôi. Muốn biết một cách đích xác hơn, Thiên Chúa là ai và ở đâu, như thế nào, chính Thiên Chúa cần phải tự tỏ mình ra cho con người, như Ngài đã liên tục tỏ mình ra nơi lịch sử của dân Do Thái, qua các biến cố của họ cũng như qua các vị tiên tri được Ngài sai đến với họ. Nhờ mạc khải thần linh của Thiên Chúa, như là những dấu mốc hay cột mốc chính yếu bất khả thiếu, con người mới có thể gặp được Ngài, như ba chiêm vương gia trong bài Phúc Âm hôm nay, nhờ chỉ dẫn của Thánh Kinh, như Thánh ký Mathêu ghi lại như sau:

"Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: 'Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người'. Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Ðông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình".

Đúng thế, chỉ sau khi được Thánh Kinh chỉ dẫn, ba chiêm vương gia này mới thấy lại ngôi sao lạ, nhờ đó họ đến được tận nơi mà họ muốn tới, hay đúng hơn nơi mà họ được dẫn tới, vì ở nơi đó là một ngôi "nhà" chứ không phải là một dinh thự, chỉ có "Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người", chứ không phải một đức vua uy nghi lẫm liệt ngự trên ngai vàng cùng với hoàng thái hậu bên cạnh.

Ở đây không thấy nói tới Thánh Giuse. Chắc có thể bấy giờ, ngay lúc ba chiêm vương gia này bất ngờ tiến vào nhà thì ngài đi đâu vắng hay bận làm gì đó. Nhưng hình ảnh Mẹ Maria bên cạnh Hài Nhi Giêsu trước mặt ba chiêm vương gia này đã chẳng những cho thấy Lễ Mẹ Thiên Chúa được Giáo Hội có lý để mà sắp xếp (vào ngày 1/1) trước Lễ Hiển Linh (6/1), mà còn ám chỉ công cuộc cứu chuộc trần gian, bao gồm cả dân Do Thái lẫn dân ngoại, được thực hiện bởi chính Người Con Thần Linh này cùng với sự đồng công cộng tác bất khả thiếu của Người Mẹ.

Tuy chỉ nhìn thấy "Hài Nhi và Mẹ Người" trong một ngôi "nhà" tầm thường, chẳng có gì là uy nghi cao cả, nguy nga lộng lẫy, hùng hậu triều thần v.v. như ở các cung đình khác trên thế gian này, ba chiêm vương gia vẫn tin tưởng Hài Nhi đó chính là "vua Do Thái mới sinh", Đấng mà họ đã bất chấp ngàn dặm xa xôi vất vả (có thể bất chấp cả những lời nhạo báng chê bai của những ai thân quen biết được ý định lên đường mù mịt mơ hồ của họ) để đến "bái thờ" với tất cả lòng thành kính và tin tưởng của mình: "khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược".

Ba chiêm vương gia đông phương này, so với thành phần mục đồng Do Thái cũng đã đến kính viếng Hài Nhi Giêsu trước đó trong chính Đêm Giáng Sinh, là thành phần thuộc hàng trí thức khôn ngoan và vương giả giầu có, mang theo họ những gì quí báu nhất để có thể xứng đáng bài thờ Hài Vương Giêsu, những món quà khác nhau và quí báu nhất của họ là "vàng, nhũ hương và mộc dược", ám chỉ 3 vai trò của Đấng Thiên Sai Cứu Thế là vương đế (được tiêu biểu nơi "vàng"), tư tế (được tiêu biểu nơi "nhũ hương") và ngôn sứ (được tiêu biểu nơi "mộc dược").

Ba món quà quí giá này còn tiêu biểu cho các nền văn hóa đa dạng của dân ngoại, tuy cao quí và tốt đẹp, nhưng vẫn cần phải được qui về Chúa Kitô là Đấng qui tụ lại hết mọi sự (Epheso 1:10) để được thăng hoa và thánh hóa "trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24). Ba món quà này, nếu tiêu biểu cho các nền văn hóa đa diện của các dân ngoại như thế, thì các nền văn hóa tiêu biểu nhất thời bấy giờ bao gồm 3 thứ văn hóa chính yếu khác nhau là: đạo giáo Đông phương (vàng), triết lý Hy Lạp (nhũ hương) và Luật pháp Rôma (mộc dược).

Thánh Thi Giờ Kinh Phụng Vụ Ban Mai Lễ Hiển Linh

Hỡi các bạn, người đi tìm Chúa,

Ngước mắt lên thẳng ngó trời cao,

Kìa xem điềm lạ ánh sao,

Hào quang rộng tỏa khắp bầu không trung.

Ngôi sao ấy ngời trong vẻ đẹp,

Ánh trời hồng nối kết trăng thanh,

Báo tin hội lớn hình thành,

Ki-tô Cứu Chúa mặc thân xác người.

Vịnh Ba-tư chân trời ngút mắt,

Bóng tà huy vừa tắt non đoài,

Trán cao biển rộng nhíu mày,

Ba người hiền sĩ tính ngày vua sinh.

Vị vua nào quyền linh cao cả,

Khiến bầu trời, run sợ oai nghiêm,

Muôn thiên thể chợt im lìm,

Thinh không ánh sáng dịu mềm nhường tơ?

Và điềm lạ chúng ta đương thấy,

Dấu miên trường trải mấy thời gian,

Trước hỗn mang trước vũ hoàn,

Cao siêu vô lượng vượt tầm trí khôn.

Ðây Thánh Chúa ngàn muôn dân nước,

Ðấng Ích-diên những ước cùng mong

Như lời Thượng Ðế hứa cùng

Áp-ram với cả giống dòng mai sau.

Quỳ dâng Chúa ngàn câu cảm tạ,

Ôi Giê-su, Ngài đã hiển linh,

Thánh Thần, Thánh Phụ uy danh,

Cùng xin chúc tụng hiển vinh muôn đời.

Lời nguyện các Giờ Kinh Phụng Vụ Lễ Hiển Linh

Lạy Chúa, hôm nay Chúa đã khiến ngôi sao chỉ đường mà mặc khải cho muôn dân nhận biết Con Một Chúa. Phần chúng con đã nhận biết Chúa nhờ đức tin dẫn lối đưa đường, xin dủ lòng thương đưa chúng con về chiêm ngưỡng Thánh Nhan vinh hiển. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con. Amen.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

--------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LAM SAO DE CUU ROI PDF Print E-mail

LÀM SAO ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI MÀ VÀO NƯỚC TRỜI HƯỞNG PHÚC THIÊN ĐÀNG VỚI THIÊN CHÚA LÀ CHA ?

Hỏi :
các nhóm Tin lành đều dạy : chỉ cần tin Chúa Kitô là đủ để được cứu rỗi . Xin cha giải thích rõ về điều này.
Trả lời :
Nói đến cứu rỗi ( salvation) là nói đến hy vọng được sống đời đời với Chúa trên Nước Trời, sau khi kết thúc hành trình con người trên trần thế này.
Nói đến cứu rỗi cũng nhắc nhở cho mọi tín hữu chúng ta công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Giê su-Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, Đấng đã đến trong trần gian làm Con Người, cách nay trên 2000 năm để " phục vụ và hiến dâng mang sống mình làm giá chuộc cho muôn người". ( Mt 20:28)
Cho mục đích đó, Chúa Kitô đã xuống trần gian để thi hành Chương Trình cứu chuộc nhân loại của Chúa Cha, " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý ." ( 1 Tm 2: 4)
Như thế đủ cho ta biết Thiên Chúa yêu thương con người đến mức quá bội và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô chính là giá máu cực trọng Chúa đã đổ ra trên thập giá năm xưa để cho con người được hy vọng cứu rỗi mà sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Thiên Quốc, nơi không còn đau khổ, bất công, bạo tàn và chết chóc nữa,
Phải nói là có hy vọng thôi chứ chưa bảo đảm 100% là được cứu rỗi ngay từ bây giờ vì lý do sau đây:
Thiên Chúa cứu chuộc chúng ta nhờ Chúa Kitô, Đấng đã hoan tất Chương Trình cứu độ nhân loại qua khổ hình thập giá, chết , sống lại và lên Trời ngự bên hữu Chúa Cha; và sẽ trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết , như Giáo Hội dạy cho con cái mình sống và hy vọng.
Nhưng công nghiệp cứu chuộc của Chúa không tự động áp dụng cho hết mọi người mà không cần đòi hỏi ai phải đóng góp gì để xứng đáng được hưởng nhờ công nghiệp ấy.
Phải đóng góp hay cộng tác với ơn Chúa thì mới được cứu độ. Cho mục đích này, con người phải cần đến Giáo Hội là phương tiện hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ để chuyên chở ơn cứu độ của Chúa cho con người ở khắp mọi nơi và trong mọi thời đại trên trần thế này, cho đến ngày mãn thời gian, tức là ngày tận thế..
Nhưng, cho được cứu rỗi để vào Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng, thì phải tin và cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu, cùng với thiện chí muốn cộng tác với ơn cứu chuộc này.
Tin Chúa Kitô có nghĩa là bước đi theo Chúa là " Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống" ( Jn 14 : 6) vì ngoài Chúa ra, không có con đường nào khác có thể dẫn ta đến hạnh phúc Nước Trời, là nơi không còn gian dối, trông đen, nói trắng , đau khổ, bệnh tật, bất công, bóc lột, nghèo đói và chết chóc nữa.
Nhưng tại sao phải cộng tác với ơn Chúa để mưu ích cho phần rỗi của ta?
Câu trả lời chính xác là tại vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và luôn tôn trọng cho con người sử dụng , để hoặc chọn Chúa và yêu mến Người để được cứu độ hay khước từ Chúa và lời mời vào dự Bàn Tiệc Nước Trời, để sống theo ý muốn của riêng mình, chạy theo thế gian vô luân vô đạo , và đầu hàng ma quỉ để làm những sự dữ, sự tội khiến mất hy vọng được cứu độ.
Dụ ngôn về " những người khách được mời xin kiếu từ" trong Tin Mừng Thánh Luca ( Lc 14: 24), và dự ngôn " tiệc cưới" trong Tin Mừng Thánh Matthêu ( Mt 22; 1-14) đủ chứng minh điều này.
Thật vậy, khi tạo dựng con người Thiên Chúa không cần hỏi kiến của ai, nhưng để cứu con người khỏi chết vì tội, Thiên Chúa cần sự cộng tác của con người vào công việc vô cùng quan trọng này.
Sở dĩ thế, là vì Thiên Chúa không tạo dựng con người như những bộ máy " Robots" chỉ biết hoạt động theo lệnh của người điều khiển, mà là những tạo vật có lý trí và y muốn tự do ( intelligence and free will). Có lý trí để hiểu biết và có tự do để chọn lựa.Vì thế , vấn đề thưởng phạt chỉ được đặt ra cho riêng con người mà thôi.
Nghĩa là, nếu con người chọn Chúa để sống theo đường lối của Chúa, thì sẽ được cứu độ. Ngược lai, nếu khước từ Chúa để sống theo ý muốn của riêng mình, sống theo thế gian vô luân vô đạo, và làm nô lệ cho ma quỷ,kẻ thù của Thiên Chúa và của những ai muốn yêu Chúa để được cứu rỗi, thì Thiên Chúa sẽ tôn trọng ý muốn đó và con người sẽ phải lãnh nhận mọi hậu quả của tự do chọn lựa này.
Chính vì con người có tự do để sống theo ý muốn của mình, và Thiên Chúa không can thiệp để ngăn cản, nên Thiên Chúa đã quở trách dân Do Thái xưa như sau:
" Suốt bốn mươi năm dòng giống này làm Ta chán ngán
Ta đã nói: đây là dân tâm hồn lầm lạc
Chúng nào biết đến đường lối của Ta
Nên Ta mới thịnh nộ thề rằng:
Chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Ta," ( Tv 95 (94) : 10-11)
Thiên Chúa quở trách như trên, vì dân Do Thái xưa và đa số con người ngày nay đã chọn sống theo ý muốn của mình, và làm những việc trái nghịch với ý muốn của Chúa, thay vì chọn Chúa để sống theo đường lối của Chúa, cho nên Người đã phải than trách họ như trên. Đó cùng là lời than trách con người thời đại hôm nay đang quay lưng lại với Chúa và làm những sự tội, sự dữ mà Chúa gớm ghét.
Cụ thể, sau này, khi Chúa Giêsu đến trần gian rao giảng Tin Mừng Cứu Độ , nhân việc có mười tám người bị thác Si-lô-a đổ xuống đè chết, Chúa đã nghiêm khắc cảnh cáo bọn Biệt phái xưa kia như sau:
" Các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả những người khác ở Jêrusalem chăng ? Không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không chịu sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy," ( Lc 13: 4-5)
Chúa đòi phải sám hối vì người ta đã tự do phạm tội, làm những sự dữ , sự tội là những việc Chúa gớm ghét như hận thù, gian ác, giết người, giết thai nhi,và lấy các bộ phận trong thân thể của thai nhi đem bán như món hàng thương mại để kiếm tiền, như bọn Planned Parenthood đã làm từ bao lâu nay ở Mỹ mà nay người ta mới phanh phui lên án.
Lại nữa, bọn cuồng tín Hồi giáo( ISIS) đang bắt cóc, chặt đầu con tin, hãm hiếp phụ nữ, bách hại các Kitô hữu thiểu số ở Trung Đông, cùng bọn buôn bán phụ nữa và bắt cóc trẻ gái bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn ở nhiều nơi trên thế giới tội lỗi ngày nay, thì thử hỏi những con người này đã và đang làm những sự dữ trên vì tự do chọn lựa hay bị ai ép buộc phải làm ?
Nếu chúng tự do hành động, thì chúng sẽ phải lãnh chịu mọi hậu quả do những việc gian ác, tội lỗi chúng đã và đang làm, gây đau khổ lớn lao cho các nạn nhân của chúng ở khắp nơi trên thế giới vô luân, vô đạo này.
Thiên Chúa nhân từ, hay tha thứ, và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con người được cứu độ. Nhưng tình thương của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô không thể bao che để cho ai cứ phạm tội và làm những sự dữ mà không biết ăn năn sám hối để từ bỏ và xin tha thứ.
Đây chính là phần đóng góp của con người vào ơn cứu độ mà Thiên Chúa đòi hỏi mọi người chúng ta , không phải vì Chúa không yêu thương đủ mà vì Người còn phải tôn trọng ý muốn tự do của mỗi người chúng ta nữa.
Anh em Tin lành không chia sẻ niềm tin này, vì họ quan niệm rằng con người đã mất hết mọi khả năng hành thiện sau khi Adam và Eva phạm tội, nên chỉ còn tin Chúa Kitô là được cứu độ mà thôi. Điều này chỉ đúng một phần là cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, nhưng sai ở điểm con người vẫn còn tự do để cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi, hay khước từ Chúa để bị luận phạt. Và đây là phần đóng góp của con người mà Thiên Chúa đòi hỏi để được hưởng công nghiệp cứu chuộc cực trọng của Chúa Kitô.
Nói khác đi , nếu chúng ta muốn được hưởng công nghiệp của Chúa Cứu Thế Giêsu, thì chúng ta phải tỏ thiện chí, muốn thực tâm yếu mến Chúa và sống theo đường lối của Người để cương quyết chống lại ma quỷ là kẻ thù duy nhất không muốn cho ai được cứu độ. Vì thế, chúng tìm mọi cách để cám dỗ con người xa lìa Thiên Chúa , và không bước đi theo Chúa Kitô là " con Đường, là sự Thật và là sự Sống." ( Ga 14:6)
Là con Đường vì ngoài Chúa Kitô ra, không có con đường nào khác dẫn con người đến nơi an nghỉ cuối cùng là Nước Trời hạnh phúc.
Là sự Thật vì thế gian là gian dối, sảo trá, nhìn đen nói trắng, hô hào công bình bác ái, nhưng thực chất lại làm những việc hoàn toàn bất công, gian ác và vô nhân đạo. như bóc lột, bất công xã hội,bao che cho bọn xã hội đen làm những sự dữ gây khổ đau cho người dân lành và dửng dưng trước sự nghèo đói của biết bao người
xấu số trong xã hội.
Là sự Sống, vì chỉ có Chúa mới có " lời ban sự sống đời đời" như Phêrô đã tuyên xưng một ngày kia.( Ga 6: 68)
Như thế, nếu sống theo ma quỷ và thế gian, thì chắc chắn sẽ dẫn đưa đến hư mất đời đời.
Thử hỏi những kẻ đang làm những sự dữ như hận thù chém giết, hiếp dâm, dâm ô trộm cướp , bài bạc , buôn bán phụ nữ và trẻ em, bất công và bóc lột người khác ,,, thì làm sao có thể được cứu độ để vào cõi sống vĩnh cửu, nếu chúng không mau kíp từ bỏ những việc làm tội lỗi, và sám hối để xin tha thứ ?
Và trong trường hợp này thì cứ nói tin Chúa Kiô liệu có ích lợi gì, nếu không muốn nói là hoàn toàn vô ích.?
Chúa đầy lòng thương sót, nhưng Người không bao giờ có thể chấp nhận những sự dữ đó,vì nó hoàn toàn đối nghịch với bản chất cực tốt cực lành của Người.
Và công nghiệp cứu chuôc vô giá của Chúa Kitô vẫn hoàn toàn vô ích cho những kẻ làm những sự dữ mà không biết ăn năn thống hối để xin Chúa tha thứ.
Như vậy không thể nói tin Chúa Kitô là đủ để được cứu rỗi, vì thế nào là tin Chúa Kitô ?
Chắc chắn không thể nói suông qua môi miệng mà không có việc làm cụ thể đi kèm để chứng minh, như Chúa Giê su đã nói rõ với các môn đệ xưa:
" Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy," ( Ga 14: 23 )
Giữ lời Thầy có nghĩa là thực thi những điều Chúa dạy được tóm tắt trong hai điều răn quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người. ( Mc 12: 28-31)
Mến Chúa thì phải yêu thich điều Chúa muốn.Nghĩa là không thể làm những sự dữ như căm thù, ghen ghét. bỏ vạ cáo gian, kỳ thị chủng tộc, giết người , giết thai nhi, bất công bóc lột người khác, khủng bố, bạo động , bắt cóc và chặt đầu con tin, gây chiến tranh để chiếm đoạt tài sản và quyền sống của người khác, ham mê tiền của, dâm đãng, mở nhà điếm , sòng bạc, thay vợ đổi chồng, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn...tất cả là những tội và sự dữ Chúa gớm ghét mà những ai yêu mến Chúa phải xa tránh để được đẹp lòng Chúa.
Nếu không xa tránh những tội lớn lao trên đây, thì dù có nói tin yêu Chúa cả trăm ngàn lần cũng vô ích mà thôi.Vì lời nói phải đi đôi với việc làm, đức tin phải có hành động cụ thể thích hợp đi kèm để chứng minh , nếu không sẽ là đức tin chết như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã dạy( Gc 2: 14-16).
Tóm lại, muốn được cứu rỗi thì trước hết phải cậy nhờ lòng thương xót của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, Đấng đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian làm Con Người để hy sinh chết thay cho mọi người tội lỗi được tha thứ để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc vĩnh cửu mai sau.
Nhưng về phần con người, Chúa vẫn cần thiện chí muốn được cứu độ thể hiện qua quyết tâm cải thiện đời sống sao cho phù hợp với đường lối của Chúa; xa tránh tội lỗi , chống lại mọi cám dỗ mời mọc của thế gian vô luân vô đạo, và nhất là những cám dỗ tinh quái của ma quỉ , thù địch của chúng ta, được ví như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" mà Thánh Phê rô đã cảnh giác.( 1Pr 5: 8)
Nếu không có quyết tâm trên, thì Chúa không thể cứu ai được, dù Người là tinh thương và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con người được cứu độ. Tình thương và công nghiệp này không tự động áp dụng cho ai mà không cần thiện chí muốn đón nhận của người đó.Xin nhớ kỹ điều này.Amen.
Ước mong những giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn,

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU TU NGÀY 03-1-2018 PDF Print E-mail

Ngày 3/1

Alleluia, Alleluia - Ngày thánh đã dọi ánh sáng trên chúng ta, hỡi các dân, hãy tới thờ lạy Chúa, vì hôm nay ánh sáng chan hòa đã tỏa xuống trên địa cầu. - Alleluia.

Phúc Âm: Ga 1,29-34

"Ðây Chiên Thiên Chúa"

Ngày hôm sau, Gioan thấy Chúa Giêsu đến với mình thì nói: Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian.

Ðây chính là Ðấng mà tôi đã nói rằng: Có người đến sau tôi, nhưng cao trọng hơn tôi, vì Người vốn có trước tôi.

Phần tôi, trước tôi không biết Người, nhưng tôi đã đến làm phép rửa bằng nước, để Người được tỏ mình ra trong Israel.

Và Gioan đã làm chứng rằng: Tôi đã thấy Thánh Thần như con chim bồ câu từ trời xuống ngự trên Người.

Và trước tôi không biết Người, nhưng Ðấng đã sai tôi làm phép rửa trong nước bảo tôi: Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì chính người đó là Ðấng làm phép rửa trong Thánh Thần.

Tôi đã thấy và làm chứng rằng: Người là Con Thiên Chúa.

Ðó là Lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy niệm - CHIA SẺ VÀ SỐNG LỜI CHÚA

"Chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người": "Người là Con Thiên Chúa"

Phụng Vụ Lời Chúa trong những ngày trước lễ Hiển Linh đều theo chiều hướng cứu độ phổ quát. Thật vậy, căn cứ vào ý nghĩa phụng vụ của cả phụng niên và của riêng Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh mở đầu cho toàn phụng niên, thì có thể nói, chủ đề cho cả Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh, một Mùa Giáng Sinh bao gồm cả Lễ Hiển Linh và lên đến tột đỉnh nơi Lễ Hiển Linh, một cử hành phụng vụ để tưởng niệm biến cố Hài Nhi Giêsu tỏ mình ra cho dân ngoại, là "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta, chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người: vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14).

Nếu "Lời đã hóa thành nhục thể" là đề tài cho chung Mùa Vọng và cho riêng tuần bát nhật trước lễ Giáng Sinh, và "Lời ở giữa chúng ta" là đề tài cho Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, thì "chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người" là đề tài cho Tuần Lễ trước Lễ Hiển Linh, và "vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" là để tài cho Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh, bắt đầu từ Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa cho tới áp Thứ Tư Lễ Tro mở màn cho Mùa Chay v.v.

Thật vậy, dường như chính vì đề tài của Tuần Lễ trước Lễ Hiển Linh là "chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người", một vinh hiển được xuất phát từ dân Do Thái, và được báo hiệu và biểu hiệu nơi ngôi sao lạ dẫn đường cho ba vua là những nhân vật tượng trưng cho dân ngoại sẽ đến bái thờ Người sau này, mà các câu Đáp Ca trước Lễ Hiển Linh cũng là Lễ Ba Vua đã bao gồm cả dân ngoại, như câu đáp ca hôm qua ngày 2/1, hôm nay ngày 3/1 và ngày mai ngày 4/1 đều giống ý như nhau: "Mọi dân trên khắp cùng bờ cõi trái đất, đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta", và ngày kia mùng 5/1, áp Lễ Hiển Linh (theo đúng ngày kính là 6/1 hằng năm theo phụng vụ) là "Toàn thể địa cầu, hãy reo mừng Thiên Chúa".

Theo chiều hướng "chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người" này, phụng vụ lời Chúa đã đọc lại Phúc Âm của Thánh ký Gioan về chứng từ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả liên quan đến Chúa Kitô, vị tiền hô cũng đã được phụng vụ lời Chúa nói đến suốt trong Mùa Vọng (3 tuần cuối) nhưng theo các vị Thánh ký của bộ Phúc Âm Nhất Lãm.

Tuy nhiên, Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả trong Mùa Vọng được các vị Thánh ký Mathêu (Năm A), Thánh ký Marcô (Năm B) và Thánh ký Luca (Năm C) thuật lại liên quan đến vai trò dọn đường cho Chúa Kitô là Đấng đến sau Người. Trong khi đó, nơi Phúc Âm của Thánh ký Gioan, ngài đóng vai trò chứng nhân của Người (Phúc Âm ngày 2/1) và giới thiệu Người cho chung dân chúng (Phúc Âm ngày 3/1) cũng như cho riêng các môn đệ của ngài (Phúc Âm ngày 4/1), để chính các môn đệ của ngài rủ bạn bè đến với Chúa Giêsu để trở thành các vị môn đệ đầu tiên của Chúa Kitô (Phúc Âm ngày 5/1) cho một Giáo Hội của muôn dân và cho muôn dân.

Câu Phúc Âm của bài Phúc Âm ngày 5/1 là ngày ngay trước Lễ Hiển Linh mùng 6/1 đã chứng tỏ cho thấy tất cả thời gian trước Lễ Hiển Linh (từ mùng 2/1 tới mùng 5/1) quả thực là thời điểm được phụng vụ nhấn mạnh đến đề tài: "Chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người", đó là câu được chính Chúa Kitô khẳng định về bản thân của Người: "Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và các Thiên Thần Chúa lên xuống trên Con Người".

Riêng trong bài Phúc Âm hôm nay, mùng 3/1, Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả là chứng nhân của Chúa Kitô, sau khi đã phủ nhận bản thân mình không phải là Đức Kitô với thành phần lãnh đạo dân Do Thái trong bài Phúc Âm 2/1, trong bài Phúc Âm hôm nay, ngày 3/1, đã giới thiệu cho chung dân Do Thái Đấng đến sau mình "nhưng chính Ðấng đó đã có trước tôi, và tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người". Bởi vì, như ngài chứng thực về Đấng Đến Sau cao trọng hơn ngài trong bài Phúc Âm hôm nay ở những điểm chính yếu như sau:

"Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian. Ðây chính là Ðấng mà tôi đã nói rằng: Có người đến sau tôi, nhưng cao trọng hơn tôi, vì Người vốn có trước tôi. Phần tôi, trước tôi không biết Người, nhưng tôi đã đến làm phép rửa bằng nước, để Người được tỏ mình ra trong Israel. Và Gioan đã làm chứng rằng: Tôi đã thấy Thánh Thần như con chim bồ câu từ trời xuống ngự trên Người. Và trước tôi không biết Người, nhưng Ðấng đã sai tôi làm phép rửa trong nước bảo tôi: Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì chính người đó là Ðấng làm phép rửa trong Thánh Thần. Tôi đã thấy và làm chứng rằng: Người là Con Thiên Chúa".

Đúng thế, Chúa Kitô chính là "Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa tội trần gian" chứ không phải tội của riêng dân Do Thái, và "Người là Con Thiên Chúa", Đấng đã "yêu thế gian (chứ không phải yêu riêng dân Do Thái) đến ban Con Một của Ngài để ai (thuộc bất cứ dân tộc nào trên thế giới, bao gồm cả dân Do Thái) tin vào Người thì không phải chết nhưng được sự sống đời đời" (Gioan 3:16).

Nguyên trong lời giới thiệu này của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả đã bao gồm chiều hướng dân ngoại, chiều hướng mà "chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người". Bài Đọc 1 trong những thời điểm trước Lễ Hiển Linh (2-5/1) này cũng được Giáo Hội trích từ Thư 1 của Thánh ký Gioan, một bức thư liên quan đến ơn cứu độ phổ quát nơi Chúa Kitô theo dự án thần linh của Vị Thiên Chúa là tình yêu vô cùng nhân hậu. Đó là lý do chúng ta đọc thấy những lời khẳng định của vị thánh ký này trong Bài Đọc 1 hôm nay như sau:

"Các con hãy coi: tình yêu của Chúa Cha đối với chúng ta thế nào, khiến chúng ta được gọi là con Thiên Chúa ("bất cứ ai tin nhận Người thì Người ban cho họ quyền làm con Thiên Chúa - Gioan 1:12) và sự thật là thế... Các con thân mến, hiện nay, chúng ta là con Thiên Chúa, còn chúng ta sẽ ra sao thì vẫn chưa được tỏ ra. Chúng ta biết rằng: khi được tỏ ra, thì chúng ta sẽ giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy như vậy ("Chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người, vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" - Gioan 1:14). ... Các con biết rằng: Người đã xuất hiện để hủy diệt tội lỗi chúng ta (vì Người là "Chiên Thiên Chúa, Ðấng xóa tội trần gian" như lời giới thiệu của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả trong bài Phúc Âm)".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

---------------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 7 of 112