mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7556
mod_vvisit_counterHôm Qua7509
mod_vvisit_counterTuần Này51897
mod_vvisit_counterTuần Trước52699
mod_vvisit_counterTháng Này119885
mod_vvisit_counterTháng Trước193615
mod_vvisit_counterTất cả12713808

We have: 104 guests, 1 members online
Your IP: 3.84.243.246
 , 
Today: Feb 15, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THU SAU VN25TN-B PDF Print E-mail

HOC HỎI- CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ - Thứ Sáu CN25TN-B

Bài Ðọc I: (Năm II) Gv 3, 1-11

"Vạn vật dưới bầu trời đều trải qua thời gian của chúng".

Trích sách Giảng Viên.

Mọi sự đều có thì giờ của chúng. Vạn vật dưới bầu trời đều trải qua thời gian của chúng. Có thời gian sinh, thì cũng có thời gian chết. Có thời gian trồng xuống, thì cũng có thời gian nhổ lên cái đã trồng. Có thời gian giết chết, thì cũng có thời gian chữa lành. Có thời gian phá huỷ, thì cũng có thời gian xây dựng. Có thời gian khóc lóc, thì cũng có thời gian cười vui. Có thời gian than van, thì cũng có thời gian nhảy múa. Có thời gian rải đá, thì có thời gian thu lượm lại. Có thời gian gần gũi, thì cũng có thời gian xa cách. Có thời gian thâu hoạch, thì cũng có thời gian tiêu tán đi. Có thời gian gìn giữ, thì cũng có thời gian loại bỏ. Có thời gian xé rách, thì cũng có thời gian vá lại. Có thời gian thinh lặng, thì cũng có thời gian nói năng. Có thời gian yêu thương, thì cũng có thời gian giận ghét. Có thời gian chinh chiến, thì cũng có thời gian hoà bình.

Con người còn được gì do công lao vất vả của mình? Tôi suy nghĩ về sự khổ cực mà Thiên Chúa đã để cho con cái loài người phải chịu đựng.

Chúa tác tạo vạn vật trong thời gian Chúa muốn, và trao phó thế gian cho loài người tranh giành, nhưng con người không hiểu được việc Thiên Chúa đã làm từ đầu đến cuối.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 143, 1a và 2abc. 3-4

Ðáp: Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa! (c. 1a)

Xướng: 1) Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa! Chúa là Tình Thương và là chiến lũy, là Ðấng phù trợ và giải phóng con. Chúa là khiên thuẫn, là chỗ con nương náu. - Ðáp.

2) Lạy Chúa, nhân loại là chi mà Chúa chăm nom, con người là chi mà Chúa thương nghĩ tới? Con người ta như hơi gió thoảng, đời người ta như bóng thoáng qua. - Ðáp.

Alleluia: Tv 94, 8ab

Alleluia, alleluia! - Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 9, 18-22

"Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa. Con Người phải chịu nhiều đau khổ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Việc xảy ra là khi Chúa Giêsu cầu nguyện riêng một nơi, và có các môn đệ ở với Người, thì Người hỏi các ông rằng: "Những đám dân chúng bảo Thầy là ai?" Các ông thưa rằng: "Người thì bảo là Gioan Tẩy giả, kẻ khác lại cho là Êlia, còn người khác thì cho là một trong các tiên tri thời xưa, đã sống lại". Người lại hỏi các ông rằng: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?" Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa". Và Người ngăn cấm các ông không được nói điều đó với ai mà rằng: "Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại".

Ðó là lời Chúa.

Related image

Suy Nghiệm Lời Chúa

Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay, Thứ Sáu Tuần XXV Thường Niên, trùng với bài Phúc Âm của Thánh ký Marco của Chúa Nhật XXV đầu tuần vừa rồi, cũng như trùng với bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu cho Thứ Năm Tuần XVIII Thường Niên.

Cả 3 bài Phúc Âm đều thuật lại sự kiện dân chúng nói chung và các môn đệ nói riêng cảm nhận về căn tính của Chúa Giêsu: "Phần các con, các con bảo Thày là ai?". Ở Phúc Âm của Thánh ký Marco thì câu trả lời của vị đại diện tông đồ đoàn bấy giờ là Thánh Phêrô đã thưa ngắn nhất: "Thày là Đức Kitô" (8:29), và ở Phúc Âm của Thánh ký Mathêu câu trả lời của ngài lại dài nhất: "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (16:16), còn ở bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay câu trả lời của ngài vừa phải, hòa hợp giữa 2 câu trả lời ngắn dài trên đây: "Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa".

Câu trả lời tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô được 3 Phúc Âm trong bộ Phúc Âm Nhất lãm thuật lại hơi khác nhau về văn tự, nhưng nội dung vẫn như nhau. Ở chỗ "Thày là Đức Kitô" (Phúc Âm Thánh Marco), cho dù "Đức Kitô" ấy "của Thiên Chúa" (Phúc Âm Thánh Luca) hay là "Con Thiên Chúa hằng sống" (Phúc Âm Thánh Mathêu). Bởi vì, tự bản chất "Đức Kitô" phải là Con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai Cứu Thế, bằng không, không phải là "Đức Kitô".

Tuy nhiên, theo mạc khải thần linh, "Đức Kitô" này, "Đức Kitô" được chung dân chúng cảm nhận như là một vị đại tiên tri, như Gioan Tẩy Giả hay như Elia, cũng như được riêng các tông đồ tuyên xưng đúng như căn tính của Người, đúng như sự thật nơi nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét này, lại có một dung nhan lưỡng diện, chẳng những có mặt phải mà còn có cả mặt trái nữa.

Vậy nếu mặt phải của dung nhan lưỡng diện này của "Đức Kitô" là gì, nếu không phải là "Con Thiên Chúa hằng sống" (Phúc Âm Thánh Mathêu), thì mặt trái của dung nhan Người là gì, nếu không phải là Đấng Vượt Qua, như cả 3 Phúc Âm Nhất lãm này cho thấy, hay trong bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay thuật lại: "Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại".

Chính mặt trái nơi dung nhân của "Đức Kitô" này đã khiến cho chung dân Do Thái, đặc biệt là thành phần thày dạy lề luật của họ là luật sĩ và biệt phái, nhất là Hội Đồng Đầu Mục Do Thái lãnh đạo trong dân, thậm chí bao gồm cả thành phần môn đệ thân tín nhất của "Đức Kitô" là các tông đồ, tất cả đều vấp phạm vì Người, tức không nhận ra Người, đến độ phản nộp Người, chối bỏ Người, lên án Người, thách đố nhạo báng Người xuống khỏi thập giá để họ tin Người quả thực là Đấng Thiên Sai (xem Mathêu 27:39-42; Marco 15:29-32; Luca 23:35).

Thật vậy, làm sao dân Do Thái nói chung và các tông đồ môn đệ của Người nói riêng có thể nhận ra Người và chấp nhận Người được, nếu qua lời tiên báo về cuộc vượt qua của Người lần thứ nhất này trở thành hiện thực, khi mà một "Đức Kitô" khôn ngoan giảng dạy và quyền năng chữa lành ấy lại có một dung nhan thật trái khuấy, hoàn toàn bị biến dạng trông vô cùng ghê rợn, đến độ Người không còn dung nhan hình hài gì nữa (xem Isaia 52:14), thậm chí Người còn trở nên như sâu bọ đất không còn là người (xem Thánh Vịnh 22:7), một sự thật quá ư là phũ phàng và vô cùng bất xứng với danh phận vô cùng uy nghi cao cả và thiện hảo của một Đấng Thiên Sai, "Con Thiên Chúa hằng sống".

Trong đời sống tu đức cũng thế, theo bản tính và khuynh hướng tự nhiên, không ai trong loài người nói chung và Kitô hữu nói riêng lại yêu thích đau khổ thử thách, trái lại, còn tìm cách xa lánh và tiêu diệt nó bao nhiêu có thể. Bởi thế, ai cũng sung sướng khi được may lành và chúc phúc trong cuộc sống, cũng như nơi mọi việc mình làm, nhất là khi được ơn an ủi lúc mới bước chân vào đường trọn lành hay khi mới tĩnh tâm xong v.v. Thế nhưng khi đụng độ với đau khổ, tức khi giáp mặt với một "Đức Kitô" khổ nạn và tử giá đầy thương tích vô cùng khủng khiếp và ghê rợn, mới biết được cường độ đức tin của chúng ta mạnh mẽ tới đâu, mức độ đức cậy của chúng ta vững chắc tới chừng nào, và nhiệt độ đức mến của chúng ta sốt nóng tới bao nhiêu!

Đúng vậy, đúng như Sách Giảng Viên đã kết luận trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Con người không hiểu được việc Thiên Chúa đã làm từ đầu đến cuối", mà chính vì thế, cho dù các vị tông đồ nói chung và vị trưởng tông đồ đoàn Simon Phêrô nói riêng, cho dù đã tuyên xứng chính xác về căn tính của Thày mình "là Đấng Kitô của Thiên Chúa", các vị vẫn không thể nào tự mình có thể hiểu thấu và chấp nhận một sự thật hết sức phũ phàng đối với các vị, đó là sự thật: "Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại".

Chính vì thế, chính vì con người thuộc hạ giới, hạn hẹp, mà con người cần phải tin tưởng vào Thiên Chúa thuộc thượng giới là Đấng Tối Cao ở mọi nơi, trong mọi lúc và hết mọi sự, như là "Đá tảng của con" (câu họa của Bài Đáp Ca hôm nay), với tất cả ý thức về thân phận thấp hèn của mình là tạo vật trước nhan Thiên Chúa, Đấng chăm sóc cho tạo vật của mình và bao bọc chở che tạo vật của mình, như Bài Đáp Ca hôm nay cho thấy, cho dù loài tạo vật "nhân linh ư vạn vật" này chẳng những bất xứng mà còn tội lỗi nữa:

1) Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa! Chúa là Tình Thương và là chiến lũy, là Ðấng phù trợ và giải phóng con. Chúa là khiên thuẫn, là chỗ con nương náu.

2) Lạy Chúa, nhân loại là chi mà Chúa chăm nom, con người là chi mà Chúa thương nghĩ tới? Con người ta như hơi gió thoảng, đời người ta như bóng thoáng qua.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - YEU CHO ROI CHO VOT PDF Print E-mail

YÊU CON CHO ROI CHO VỌT

Trần Mỹ Duyệt

Chuyện yêu con bằng cách "cho roi cho vọt" vào thời điểm này tưởng như lỗi thời và thiếu văn hóa, nhất là tại các xứ tự do, họ coi việc sửa phạt trẻ em như những hành vi mang tính xâm phạm, gây tổn hại về tâm lý cũng như thể lý của trẻ. Nhưng mấy hôm nay tôi vẫn bị thôi thúc để viết về một điều mà tôi cho là có ích trong vấn đề giáo dục, đặc biệt, đối với những cha mẹ còn có chút quan tâm đến phẩm hạnh và tương lai con cái.

Không lẽ làm cha mẹ - những cha mẹ tốt, những cha mẹ biết quan tâm, lo lắng cho tương lai con cái - thời nay lại đành khoanh tay ngồi nhìn con mình muốn lớn lên như thế nào cũng mặc kệ? Không lẽ vì luật pháp ngăn cấm mà lại không sửa phạt, giáo dục con cái? Đối với những phụ huynh tránh né trách nhiệm, bỏ mặc con cái không quan tâm đến việc giáo dục, thì sẽ dễ dàng chấp nhận quan niệm dễ dãi và để mặc con cái, phó mặc con cái cho học đường, cho xã hội. Tuy nhiên, không quan tâm giáo dục con cái là một lỗi lầm nghiêm trọng đối với phụ huynh. Ca dao Việt Nam có câu: "Sinh con chẳng dạy chẳng răn. Thà rằng nuôi lợn ăn lòng còn hơn."

Như vậy, liệu phụ huynh có nên sửa phạt con cái trong tầm nhìn giáo dục không? Nếu có, phải như thế nào? Và ảnh hưởng của việc sửa phạt ấy sẽ như thế nào đối với tư cách, lối sống của con cái sau này?

Đã lâu rồi, trong một buổi hội thảo với các nhà tâm lý và giáo dục, một nhà tâm lý người Mỹ nhìn tôi đoán biết là người Việt Nam hoặc ít nhất cũng Á Châu, nên ghé tai hỏi:

- Người Việt Nam dạy con có "đánh" không?

- Có. Con nít hư thì phải đánh. Đánh vài roi tốt chứ có sao đâu!

Xem như đã đạt được điều mình muốn biết, nhà tâm lý này nói như mỉa mai:

- Chỉ ở những nước lạc hậu con nít mới bị đánh mà thôi. Thế anh là một nhà tâm lý, anh có đánh con anh khi dạy dỗ chúng không?

Câu chuyện giáo dục đến đây đã đến hồi gây cấn. Tự nhiên mình bị cho là thứ dân lạc hậu, và dĩ nhiên, có thể là một thứ tâm lý gia lạc hậu nếu giáo dục mà dùng đến hình phạt. Tôi tự nhủ, vậy thì cũng nên lợi dụng dịp này "giáo dục lại" mấy ông tiến sỹ tâm lý chỉ biết suy diễn "lý thuyết" mà thiếu kinh nghiệm thực hành. Nghĩ vậy, tôi liền nói với người đang hỏi mình những câu hỏi mà theo tôi, rất vớ vẩn mà cũng rất kém tâm lý thực hành sau:

- Này bạn. Nhìn ra vườn hoa bên ngoài hội trường. Nhiều hoa và cây cảnh đẹp, bạn có nghĩ là tự chúng những hoa lá, cây cảnh ấy được như vậy không?

- Dĩ nhiên là không? Chúng cần người làm vườn chăm sóc và tỉa cắt.

- Vậy công việc tỉa cắt ấy là những gì mà một phụ huynh phải làm với con cái dưới cái nhìn giáo dục. Nói nôm na là sửa phạt.

Sau câu trả lời của tôi, không thấy người bạn kia hỏi gì thêm, chỉ biết là những giờ phút sau đó trong suốt buổi hội thảo người này ngồi im lặng...

Cũng nhân câu truyện này, tôi muốn hỏi các bậc phụ huynh, các người làm cha mẹ là liệu chúng ta có muốn và có dám làm công việc của người làm vườn đối với cây hoa, cây cảnh tâm hồn của con chúng ta không? Nếu không, tôi dám tin rằng những cây cảnh non nớt kia sẽ phát triểm um tùm, và sẽ không có được những cây lá, bông hoa xinh tươi, đẹp đẽ. Tóm lại, là phụ huynh, là cha mẹ, chúng ta phải học hỏi, phải biết dành thời giờ, và phải biết tìm hiểu cách thức giáo dục con cái mình.

Câu hỏi mà tôi nhận được nhiều nhất và xem như cũng đang khiến nhiều phụ huynh băn khoăn nhất qua những buổi thuyết trình, hội thảo đó đây là những câu hỏi về con cái, về giáo dục. Và câu trả lời thoái thác mà nhiều cha mẹ trẻ thời nay vẫn dùng để trả lời khi có ai hỏi về con cái, đại khái, em có 1 con, hoặc chúng em có 2 con. Tại sao? Sinh nhiều tốn kém, nhất là giáo dục gặp khó khăn quá. Và vì con cái thời nay khó dạy. Nhưng quan niệm giáo dục của người xưa vô tình đã đúng trong trường hợp này. Theo Ca dao Việt Nam: "Có nhiều mà tốt, có một mà hư!" Đúng vậy, một hoặc hai con không bao đảm tính chất giá trị của giáo dục, nếu như cha mẹ không phải là người quan tâm đến việc giáo dục con cái.

Sửa phạt và tâm lý:

Theo tâm lý học, sửa phạt cũng là một hình thức mang tính cách giáo dục. Đi vào chuyên môn, đó là lý thuyết giáo dục của nhà "nhân cách học" (behaviorists) Burrhus Frederic Skinner (B.F. Skinner), gồm Reinforcement, Punishment, và Extinction.

Reinforcement - một tiến trình như khen thưởng hoặc sửa phạt nhằm thay đổi kết quả nhờ do khích lệ (a procedure, as a reward or punishment, that alters a response to a stimulus). Khuyến khích hay khích lệ (reinforcement) với hai hình thức, tích cực (positive) và tiêu cực (negative). Khuyến khích tích cực gồm những lời khen, những lời khích lệ hay phần thưởng luôn đem lại kết quả là những việc làm tốt được lặp lại. Tâm lý giáo dục qua ca dao Việt Nam có câu: "Nói ngọt nó lọt vào xương". Khuyến khích tiêu cực là hình thức nhằm làm cho những gì xấu, những khuyết điểm ngày càng giảm đi, và sau cùng là chừa hẳn. Hình thức này thường được xem như đồng nghĩa với sửa phạt vì cả đều ảnh hưởng đến một hành vị, một thái độ đặc biệt cần phải loại bỏ, tuy nhiên, trên thực tế, không giống nhau. Tóm lại, một đàng khuyến khích làm điều tốt để cho những đức tính tốt ngày càng phát triển. Một đàng khuyên răn tránh những cái xấu để những tính xấu ngày càng giảm đi. Và một đàng ngăn chặn tính xấu, cùng lúc khích lệ những đức tính tốt.

Trở lại vấn đề "cho roi, cho vọt". Tâm lý học không hoàn toàn loại bỏ việc dùng roi vọt một cách có kiểm soát và hợp với lứa tuổi. Thánh Kinh cũng cho biết, chính Thiên Chúa cũng sửa phạt chúng ta để cho chúng ta nên tốt hơn: "Chúa sửa phạt người Ngài yêu" (Do Thái 12:6; Cách Ngôn 3:13).

Và tuổi lý tưởng nhất để cái roi có ảnh hưởng tốt đến giáo dục là lúc các em lên 3, lên 5. Tuổi mà thấy bố mẹ cầm cái roi nhấp nhấp là sợ, là khóc thút thít. Nhưng cũng là tuổi mà tuy khóc, sợ nhưng vẫn chạy lại với bố mẹ. Với tuổi này việc đánh nhẹ một vài roi để chừa thói lè nhè, thói dành ăn với em, hay thói làm biếng là điều nên làm. Bởi vì sự hoàn chỉnh về tâm lý đạo đức cũng có nền tảng từ sợ hãi, hoặc không muốn mình bị phạt, bị la mắng. Tâm lý này vẫn có ảnh hưởng ngay đối với nhiều người lớn tuổi, thí dụ, giữ đạo vì sợ sa hỏa ngục và để được lên Thiên đàng.

Vậy thế nào là sửa phạt?

Như vừa phân tích ở trên, giữa khen và khuyến khích là sửa phạt, một hành động nhằm giảm thiểu hoặc hạn chế những thái độ đặc biệt nào đó thường xuất hiện trong cung cách và lối sống cần phải xa tránh. Do đó, sửa phạt cũng được coi là một phần trong những phương pháp giáo dục khi mà những lời khuyên hoặc những răn đe không đem lại hiệu quả. Phụ huynh tùy từng trường hợp và tùy vào tâm tính của mỗi đứa con, cũng có thể cho vài roi các cô, các cậu ở tuổi mới lớn mà làm biếng học hành, ham chơi, gian dối, hoặc không vâng lời cha mẹ. Chúng ta nhiều người đã có kinh nghiệm này khi nhắc lại thời gian mới lớn của mình. Thí dụ, nhờ trận đòn của bố tôi mà tôi đã siêng học, và hôm nay tôi nên người. Hoặc tôi chừa được cái tính nói láo nhờ vào ba roi của mẹ tôi.

Một hình thức sửa phạt nữa cũng có tác dụng giáo dục, đó là cấm đoán (extinction) nhằm mục đích ngăn chặn, chấm dứt hành vi ngoài ý muốn và không tốt. Tuy nhiên, ảnh hưởng tiêu cực có thể là qua việc cấm đoán hay khắt khe của cha mẹ, con cái sẽ hành động bằng cách "tránh né, luồn lách" nếu kỷ luật đã ra mà không được theo dõi, thi hành, hoặc dẫn đến việc "bất tuân" nếu sự cấm đoán chỉ là một cách duy nhất mà cha mẹ dùng để khống chế, hoặc áp đặt trên con cái. Điều khó khăn ở đây là làm cách nào để phân biệt được giữa một hành động sửa phạt và một hành động khuyến khích tiêu cực (punishment and negative reinforcement.) Sau đây là một số những lỗi lầm thường mắc phải của cha mẹ và phụ huynh khi sửa phạt con cái:

-Tha nhưng không quên. Sửa phạt, nhưng luôn nhắc tới, hoặc làm cho đứa trẻ mặc cảm về quá khứ, về khuyết điểm của mình. Hậu quả là đứa trẻ sẽ dễ dàng tái phạm khi những lỗi lầm đó vẫn còn là lý do để bị sửa phạt, hoặc quên mà không bị phạt.

-Những hành động sửa phạt làm tăng sự căm hận, đe dọa - coi căm thù như một cách sửa sai những khuyết điểm. Coi con cái như kẻ thù. Đánh đập con cái nhằm thỏa mãn sự bực tức, khó chịu cá nhân của cha mẹ.

-Tạo sự sợ hãi để có thể làm tổng quát hóa giữa những hành động không mong muốn. Thí dụ, phụ huynh có thể khiến con cái sợ đến trường khi đưa ra những đòi hỏi quá khả năng của các em trong việc học. Đe dọa, cấm đoán, hoặc áp đặt hình phạt nặng nề gây hoang mang sợ hãi.

Phải sửa phạt như thế nào?

Trở lại vấn đề sửa phạt. Thánh Kinh đã đưa ra những thái độ bình tĩnh, tự kìm hãm, và khoan dung như:

-Chậm nóng giận "Slow to anger..." (Ps 86:15; Ps 103:8; Jonah 4:2)

-Nóng giận nhưng đừng phạm tội "In your anger do not sin." (Eph 4:26a) . Nếu cha mẹ hoặc phụ huynh đã nóng giận thì "đừng sửa phạt" con cái. Hầu hết những sửa phạt trong lúc nóng giận đều đem lại hậu quả "hối hận" sau này cho cả cha mẹ lẫn con cái.

-Vì sự nóng giận của con người không đem lại sự công chính mà Chúa mong muốn "Because human anger does not produce the righteousness that God desires." (Giacôbê 1:20)

Như vậy sửa phạt là việc nên làm trong sự bình tĩnh, biết tự chủ và kìm hãm sự giận dữ của cha mẹ hay phụ huynh.

Những hướng dẫn của Thánh Kinh đem lại một ứng dụng thực hành vừa nhân bản, và cũng vừa tâm lý. Không thể sửa phạt con cái bằng cách "Giận cá chém thớt", bằng cách "Cả vú lấp miệng em", hoặc bằng những trận đòn mà mỗi khi nhắc lại con cái không biết phải biết ơn hoặc giận hờn cha mẹ?! Do đó, roi vọt ở đây chỉ được hiểu như những hình thức áp dụng trong giáo dục một cách chừng mực, có kiểm soát.

Tuy nhiên, một trong những cách thức sửa phạt hữu hiệu nhất vẫn là gương sáng của cha mẹ. Nếu những hành vi, ngôn ngữ của cha mẹ là một bài học tốt, là một gương sáng cho cách sống và cách cư xử của con cái, thì việc sửa phạt không còn là vấn đề roi vọt, chửi bới hoặc trách mắng. Người Việt Nam có một câu rất thích hợp trong cái nhìn tâm lý giáo dục, đó là: "Cha nào con nấy", hoặc "cha mẹ hiền lành để đức cho con". Còn Chúa Giêsu thì nói: "Thầy đã làm gương để các con noi theo mà bắt chước" (Gioan 15:13).

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU TU CN25TN-B PDF Print E-mail

Thứ Tư CN25TN-B

HỌC HỎI- CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: (Năm II) Cn 30, 5-9

"Xin chớ để con ăn mày và cũng đừng để con giàu có: xin chỉ ban cho con ăn dùng vừa đủ".

Trích sách Châm Ngôn.

Mọi lời Thiên Chúa như luyện trong lửa, là thuẫn che chở kẻ nương tựa vào Người. Ngươi chớ thêm điều gì vào lời Chúa, kẻo ngươi bị trách cứ và bị coi là kẻ gian dối. Con xin Chúa hai điều này và xin đừng từ chối trước khi con chết: Xin hãy loại xa con sự giả trá và lời gian dối. Xin chớ để con ăn mày và cũng đừng để con giàu có: xin chỉ ban cho con ăn dùng vừa đủ: kẻo khi no đầy, con bị mê hoặc mà chối Chúa rằng: Chúa là ai? Hoặc vì túng thiếu con đi ăn trộm và làm ố danh Thiên Chúa của con.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 118, 29. 72. 89. 101. 104. 163

Ðáp: Lời Chúa là đèn soi tỏ dưới bước chân con (c. 105a).

Xướng: 1) Xin đưa con xa cách con đường gian dối, và rộng tay ban luật pháp của Ngài cho con. - Ðáp.

2) Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn. - Ðáp.

3) Thân lạy Chúa, cho tới đời đời kiếp kiếp, lời Chúa vẫn còn đó như cõi trời cao. - Ðáp.

4) Con kiềm hãm con xa mọi điều gian ác, để giữ trọn những lời răn dạy của Ngài. - Ðáp.

5) Nhờ huấn lệnh Ngài con trở nên minh mẫn, bởi thế con ghét mọi đường lối gian tà. - Ðáp.

6) Con ghét và ghê tởm điều gian dối, con yêu chuộng luật pháp của Ngài. - Ðáp.

Alleluia: 1 Ga 2, 5

Alleluia, alleluia! - Ai giữ lời Chúa Kitô, thì quả thật tình yêu của Thiên Chúa đã tuyệt hảo nơi người ấy. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 9, 1-6

"Người sai các ông đi rao giảng nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu gọi mười hai Tông đồ lại, ban cho các ông sức mạnh và quyền năng trên mọi ma quỷ và được chữa lành các bệnh tật. Ðoạn Người sai các ông đi rao giảng nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân. Người bảo các ông rằng: "Khi đi đàng, các con đừng mang gì cả, chớ mang gậy và bị, bánh và tiền, cũng đừng mặc hai áo. Các con vào nhà nào, thì hãy ở lại đó, và đừng rời khỏi nơi ấy. Những ai không tiếp đón các con, thì khi rời bỏ thành đó, các con hãy giũ cả bụi chân lại, để làm chứng tố cáo họ". Các ông liền đi rảo khắp các làng mạc, rao giảng Tin Mừng, và chữa lành bệnh tật khắp nơi.

Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Tư Tuần XXV Thường Niên, không tiếp nối bài Phúc Âm hôm qua, mà bỏ qua hết 34 câu còn lại của đoạn 8 Phúc Âm Thánh ký Luca, một khúc phúc âm bao gồm 3 sự kiện chính yếu sau đây:

1- Chúa Giêsu dẹp yên bão tố khi được các môn đệ đáng thức lúc Người ngủ trên thuyền (câu 22-25), một sự kiện đã được Phúc Âm Thánh Mathêu thuật lại cho ngày Thứ Ba Tuần XIII Thường Niên;

2- Người ra tay trừ quỉ cho một người trần truồng ở Gerasene (câu 26-39), một sự kiện cũng đã được Phúc Âm Thánh Mathêu thuật lại cho ngày Thứ Tư Tuần XIII Thường Niên; và

3- Người chữa lành người đàn bà loạn huyết 12 năm và hồi sinh đứa con gái của vị trưởng hội đường (40-56), một sự kiện cũng đã được Phúc Âm Thánh Mathêu thuật lại cho ngày Thứ Hai Tuần XIV Thường Niên.

Bài Phúc Âm hôm nay bao gồm 6 câu đầu của đoạn 9 Phúc Âm Thánh Luca, liên quan đến biến cố Chúa Giêsu sai 12 tông đồ "đi rao giảng nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân", một biến cố cũng đã được Phúc Âm của Thánh ký Mathêu thuật lại cho Thứ Năm Tuần XIV Thường Niên.

Tuy nhiên, nếu bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu cho Thứ Năm Tuần XIV Thường Niên liên quan đến bài đọc 1 được trích từ Sách Khởi Nguyên (44:18-21,23-29;45:1-5): Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần XIV Thường Niên, thì bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay liên quan đến Sách Châm Ngôn.

Nguyên văn nội dung của bài Phúc Âm hôm nay như thế này: "Khi ấy, Chúa Giêsu gọi mười hai Tông đồ lại, ban cho các ông sức mạnh và quyền năng trên mọi ma quỷ và được chữa lành các bệnh tật. Ðoạn Người sai các ông đi rao giảng nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân. Người bảo các ông rằng: 'Khi đi đàng, các con đừng mang gì cả, chớ mang gậy và bị, bánh và tiền, cũng đừng mặc hai áo. Các con vào nhà nào, thì hãy ở lại đó, và đừng rời khỏi nơi ấy. Những ai không tiếp đón các con, thì khi rời bỏ thành đó, các con hãy giũ cả bụi chân lại, để làm chứng tố cáo họ'. Các ông liền đi rảo khắp các làng mạc, rao giảng Tin Mừng, và chữa lành bệnh tật khắp nơi".

Nguyên văn Bài Đọc 1 hôm nay về tâm nguyện được chất chứa trong Sách Châm Ngôn như sau: "Mọi lời Thiên Chúa như luyện trong lửa, là thuẫn che chở kẻ nương tựa vào Người. Ngươi chớ thêm điều gì vào lời Chúa, kẻo ngươi bị trách cứ và bị coi là kẻ gian dối. Con xin Chúa hai điều này và xin đừng từ chối trước khi con chết: Xin hãy loại xa con sự giả trá và lời gian dối. Xin chớ để con ăn mày và cũng đừng để con giàu có: xin chỉ ban cho con ăn dùng vừa đủ: kẻo khi no đầy, con bị mê hoặc mà chối Chúa rằng: Chúa là ai? Hoặc vì túng thiếu con đi ăn trộm và làm ố danh Thiên Chúa của con".

Đâu là ý nghĩa liên kết giữa bài Phúc Âm và Bài Đọc 1 hôm nay? Ý nghĩa liên kết giữa bài Phúc Âm và Bài Đọc 1 cho năm chẵn hôm nay là ở chỗ hãy tin tưởng vào Chúa trong mọi sự, nhất là khi được tuyển chọn và sai đi làm việc của Người, Đấng sẽ đích thân lo hoàn tất việc của mình, bằng đường lối và vào thời điểm của Người, qua những con người thừa sai được Chúa Giêsu trong Bài Phúc Âm hôm nay khuyên: 'Khi đi đàng, các con đừng mang gì cả, chớ mang gậy và bị, bánh và tiền, cũng đừng mặc hai áo", một tinh thần bần cùng nghèo khó hoàn toàn tin tưởng phó thác vào chính Đấng sai đi, đã được tác giả Sách Châm Ngôn trong Bài Đọc 1 hôm nay phản ảnh một phần nào, khi vị tác giả này bày tỏ ước nguyện của mình chỉ muốn sống vì Chúa và lo sợ mất lòng Chúa như thế này: "Xin chớ để con ăn mày và cũng đừng để con giàu có: xin chỉ ban cho con ăn dùng vừa đủ: kẻo khi no đầy, con bị mê hoặc mà chối Chúa rằng: Chúa là ai? Hoặc vì túng thiếu con đi ăn trộm và làm ố danh Thiên Chúa của con".

Chỉ có những ai biết kính sợ Thiên Chúa, ở chỗ chẳng những hết sức xa tránh tất cả những gì là gian ác của trần gian, mà còn hết lòng trân quí những huấn lệnh chân thiện tối thượng của Thiên Chúa, mới có được những tâm tình và ước nguyện lành thánh của Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Xin đưa con xa cách con đường gian dối, và rộng tay ban luật pháp của Ngài cho con.

2) Ðối với con, luật pháp do miệng Chúa đáng chuộng hơn vàng bạc châu báu muôn ngàn.

3) Thân lạy Chúa, cho tới đời đời kiếp kiếp, lời Chúa vẫn còn đó như cõi trời cao.

 

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BA CN25TN- B PDF Print E-mail

HOC HỎI-CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: (Năm II) Cn 21, 1-6. 10-13

"Những câu Cách Ngôn khác nhau".

Trích sách Châm Ngôn.

Lòng vua ở trong tay Chúa, như những dòng nước chảy, Người muốn hướng nó về đâu tuỳ ý Người. Mọi đường lối của người ta đối với họ là ngay thẳng, nhưng Chúa cân nhắc tâm can. Thực hành công bình và bác ái, thì đẹp lòng Chúa hơn là hy lễ. Mắt tự cao là lòng kiêu ngạo: đèn kẻ gian ác là tội lỗi. Toan tính người cần mẫn luôn dẫn tới sự dồi dào, còn mọi kẻ biếng nhác luôn gặp nghèo khó. Ai dùng lưỡi gian dối thu tích kho tàng, là người hư hốt vô tâm, nó sẽ rơi vào lưới sự chết.

Tâm hồn người tội ác mơ ước sự dữ, nó không thương xót người lân cận. Khi kẻ hung bạo bị sửa phạt thì người bé nhỏ sẽ khôn ngoan hơn, và nếu nó theo người khôn ngoan, nó sẽ được thông minh. Người công chính nhìn xem lòng kẻ tội ác, để cứu nó thoát khỏi tai hoạ. Ai bịt tai không nghe tiếng người nghèo khó, thì lúc chính nó kêu cầu, cũng chẳng ai nghe.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 118, 1. 27. 30. 34. 35. 44

Ðáp: Lạy Chúa, xin hướng dẫn con vào đường lối chỉ thị Ngài (c. 35a).

Xướng: 1) Phúc đức những ai theo đường lối tinh tuyền, họ tiến thân trong luật pháp của Chúa. - Ðáp.

2) Xin cho con am hiểu đường lối huấn lệnh của Chúa, để con suy gẫm các điều kỳ diệu của Ngài. - Ðáp.

3) Con đã chọn con đường chân lý, con quyết tâm theo các thánh chỉ của Ngài. - Ðáp.

4) Xin dạy con, để con vâng theo luật pháp Ngài, và để con hết lòng vâng theo luật đó. - Ðáp.

5) Xin hướng dẫn con vào đường lối chỉ thị Ngài, vì chính trong đường lối này con sung sướng. - Ðáp.

6) Con sẽ tuân giữ luật Pháp Chúa luôn luôn, cho tới muôn ngàn đời và mãi mãi. - Ðáp.

Alleluia: Tv 118, 18

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin giáo huấn con, để con tuân cứ luật pháp của Chúa và để con hết lòng vâng theo luật đó. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 8, 19-21

"Mẹ và anh em Ta là những người nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, mẹ và anh em Chúa Giêsu đến tìm Người, nhưng vì đám đông, nên không thể đến gần Người được. Người ta báo tin cho Người rằng: "Có mẹ và anh em Thầy đứng ở ngoài muốn gặp Thầy". Người trả lời với họ rằng: "Mẹ và anh em Ta là những người nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành".

Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm Lời Chúa

Hôm nay, Thứ Ba Tuần XXV Thường Niên, bài Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc cũng rất ngắn ngủi, chỉ có 3 câu, tiếp ngay sau Bài Phúc Âm hôm qua về chiều hướng lời Chúa nơi con người thắp sáng trần gian, và có liên hệ với bài Phúc Âm hôm qua về ý nghĩa của nó, về mối liên hệ đích thực giữa Người với những ai giữ lời Chúa, đó là bài Phúc Âm trong đó Chúa Kitô khẳng định về mối liên hệ thiêng liêng với Người:

"Khi ấy, mẹ và anh em Chúa Giêsu đến tìm Người, nhưng vì đám đông, nên không thể đến gần Người được. Người ta báo tin cho Người rằng: 'Có mẹ và anh em Thầy đứng ở ngoài muốn gặp Thầy'. Người trả lời với họ rằng: 'Mẹ và anh em Ta là những người nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành'".

Đúng thế, qua câu khẳng định về tình nghĩa thiêng liêng với Người này, Chúa Giêsu chẳng những không phủ nhận mối liên hệ tự nhiên về huyết nhục, nhất là đối với Người Mẹ của Người, mà còn đề cao Mẹ của Người hơn nữa, như muốn nhấn mạnh rằng Mẹ Maria của Người chẳng những có phúc vì đã được thụ thai và cưu mang Người (xem Luca 11:27) là "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), là "Con Thiên Chúa", là "Con Đấng Tối Cao" (Luca 1:32,35), mà còn "có phúc vì đã tin" (Luca 1:45), tin phục những gì đã truyền đạt cho Mẹ.

Chính "đức tin tuân phục" (Roma 1:5) của Mẹ mới làm và đã làm cho Mẹ nên một với Con của Mẹ, mới làm cho Mẹ xứng đáng đồng công cộng tác vào công cuộc cứu chuộc của Con Mẹ và với Con Mẹ, nhất là khi Mẹ đứng kề bên Thánh Giá của Người (xem Gioan 19:25). Mẹ là đệ nhất môn đệ của Con Mẹ, là môn đệ tuyệt hảo nhất của Con Mẹ đúng như Con Mẹ mong muốn, ở chỗ Mẹ là "người nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành".

Mẹ không thể nào có thể "đem ra thực hành" lời Chúa nếu không "nghe lời Thiên Chúa", như khi Mẹ nghe thấy câu trả lời của Thiếu Nhi Giêsu Con Mẹ 12 tuổi trong đền thờ sau 3 ngày lạc mất, một lời mà Mẹ không nắm bắt được ý nghĩa của nó (xem Luca 2:50), nhưng Mẹ vẫn lấy "đức tin tuân phục" để "xin vâng" như trong Biến Cố Truyền Tin (xem Luca 1:38), hay như khi Mẹ chứng kiến thấy những dấu lạ Thiên Chúa thực hiện trong cuộc đời của Mẹ, nhưng Mẹ vẫn lưu giữ tất cả những sự ấy mà suy niệm trong lòng, chẳng hạn như sự kiện ba chiêm tinh vương gia đông phương đến bái thờ Hài Nhi Giêsu Con Mẹ (xem Luca 1:19).

Bởi thế, Mẹ thật sự là Mẹ của Chúa Kitô, Lời Nhập Thể cả về phương diện thể lý lẫn phương diện thiêng liêng. Nếu về phương diện tự nhiên, Mẹ đã hạ sinh nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét thuộc giòng dõi Đavít, thì về phương diện siêu nhiên, nhờ đức tin tuân phục của Mẹ, Mẹ đã thụ thai Lời Nhập Thể và Lời Nhập Thể đã chiếm đoạt Mẹ, biến Mẹ thành phương tiện thông ban ơn cứu độ, một ơn cứu độ trước tiên được thông ban cho thai nhi Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, qua lời chào đầy Thánh Linh của Mẹ (xem Luca 1:41-44), và sau đó, cũng nhờ lời chuyển cầu thần thế của Mẹ, bằng vai trò trung gian môi giới, Chúa Giêsu lần đầu tiên đã tỏ mình ra cho các môn đệ của Người ở tiệc cưới Cana làm cho các vị tin vào Người (xem Gioan 2:1-11).

Chính nhờ tâm hồn của đầy "đức tin tuân phục" của Mẹ mà chẳng những tâm hồn đầy ân phúc của Mẹ thực sự là Đền Thờ cho Chúa Thánh Thần ngự trị, mà nhờ đó cả thân xác trọn đời trinh nguyên của Mẹ nữa cũng đã hoàn toàn trở thành Đền Thờ vô cùng xứng đáng cho Lời Nhập Thể ẩn ngự trong suốt 9 tháng mở đầu cho cuộc sống trần gian của Người.

Phải chăng tấm lòng "đầy ơn phúc" của Mẹ Maria đã được Sách Châm Ngôn trong Bài Đọc 1 hôm nay ám chỉ là "lòng vua", một tấm lòng chẳng những làm chủ được mình (như làm "vua" bản thân mình) mà còn nhất là nhờ đó trở nên dễ dạy là tác động được cuốn sách Cựu Ước này diễn tả "như những dòng nước chảy", đến độ hoàn toàn được Thiên Chúa chiếm đoạt và làm chủ: "Người muốn hướng nó về đâu tùy ý Người". Thế nhưng, "hướng" mà những ai ngoan ngoãn sống đức tin tuân phục để được Chúa dẫn dắt như thế là hướng về những ai bị khuyết tật về luân lý, tới nỗi những tâm hồn công chính này có thể thấu suốt được tâm trạng đáng thương của những con người ấy hầu kịp thời ra tay giải cứu họ, đúng như Sách Châm Ngôn nhận định về thành phần công chính này ở câu áp cuối: "Người công chính nhìn xem lòng kẻ tội ác, để cứu nó thoát khỏi tai hoạ".

Bài Đáp Ca hôm nay chẳng những mở đầu bằng lời khen tặng "Phúc đức những ai theo đường lối tinh tuyền, họ tiến thân trong luật pháp của Chúa", mà còn bao gồm cả tâm tình thiết tha của chính bản thân họ được bày tỏ bằng chính cuộc sống chỉ biết gắn bó với Chúa qua các huấn lệnh, lề luật và đường lối của Chúa:

1) Phúc đức những ai theo đường lối tinh tuyền, họ tiến thân trong luật pháp của Chúa.

2) Xin cho con am hiểu đường lối huấn lệnh của Chúa, để con suy gẫm các điều kỳ diệu của Ngài.

3) Con đã chọn con đường chân lý, con quyết tâm theo các thánh chỉ của Ngài.

4) Xin dạy con, để con vâng theo luật pháp Ngài, và để con hết lòng vâng theo luật đó.

5) Xin hướng dẫn con vào đường lối chỉ thị Ngài, vì chính trong đường lối này con sung sướng.

6) Con sẽ tuân giữ luật Pháp Chúa luôn luôn, cho tới muôn ngàn đời và mãi mãi.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL.

---------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - BI TICH GIAI TOI PDF Print E-mail

BÍ TICH HÒA GIẢI QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT RA SAO ?

Hỏi:
1- xin Cha giải thích rõ tầm quan trọng của bí tích Hòa Giải
2- Trường họp nào thì được xưng tội tập thể ?
3- Phải xưng tội cách nào để đáng được Chúa tha thứ?
Trả lời:
I- Bí Tích Hòa Giải là gi ?
Là con người sống trên trần thế này, không ai có thể nói là mình không có tội,không có khuyết điểm nào hết. Ngược lại, ai cũng phải thú nhận là mình có tội nhiều hay ít mà thôi. Chính vì tội của con người mà Chúa Kitô đã đến tràn gian làm Con Người để hy sinh mạng sống mình "làm giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20:28).
Mặt khác, Vì biết rõ con người sẽ còn phạm tội nhiều lần nữa sau khi được tái sinh trong sự sống mới qua Phép Rửa, nên Chúa đã thiết lập Bí Tích Hòa Giải để giúp con người lấy lại tình thân với Chúa, sau khi đã lỡ phạm tội vì bản tính yếu đuối, vì gương xấu dịp tội đầy rẫy trong môi trường sống và nhất là vì ma quỉ, kẻ tử thù cua chúng ta, luôn cám dỗ để lôi kéo con người ra khỏi tình thương của Chúa để làm nô lệ cho chúng và mất hy vọng được cứu rỗi để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc Thiên Đàng với Chúa là chính nguồn vui và hạnh phúc vinh cửu..
Vì vậy, là người tin hữu sống đức tin trong Giáo Hội Công Giáo, mọi người chúng ta đều được mời gọi năng chậy đến với Bí Tích Hòa Giải để được tha thứ mọi tội lỡ phạm mất lòng Chúa, mất lòng người khác trong đời sống của người tín hữu chúng ta.
Do đó, xưng tội hay cử hành bí tích Hòa Giải là việc đạo đức không thể thiếu được trong đời sống của người tín hữu. Phải xưng tội vì là con người không ai có thể tránh được những những việc làm hay tư tưởng tự nó là tội, là điều trái với ý muốn của Thiên Chúa, là Cha cực tốt cực lành nên Người không thể chấp nhận những gì là trái ngược với bản chất thiện hảo và thánh thiện của Người.Vì thế, những hành vi như giết người, giết thai nhi, đánh đập đả thương người khác,gây thù oán,chia rẽ, bóc lôt bất công với người khác, gây chiến để tiêu diệt đối phương, hiếp dâm và buôn bán phụ nữ và trẻ nữ để bán cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi như thực trạng sống của biết bao người trong thế giới tục hóa, vô luân vô đạo ngày nay.
Chúa Kitô đã thực sự chết trên thập giá để cứu chuộc cho loài người khỏi chết vì tội. Nhưng Chúa không tiêu diệt hết mọi tội trong bản tính con người và trong trần gian, để cho con người phải chiến đấu chống lại tội lỗi để nói lên ý muốn sống đẹp lòng Chúa là tình yêu, công binh và thánh thiện.
Chính vì biết bản tính yếu đuối của con người luôn hướng chiều về sự xấu, sự tội, lại thêm gương xấu và dịp tội đầy rẫy trong trần gian và nhất là vì ma quỷ cám dỗ ,ví như " sư tử đói rảo quanh tìm mồi cắn xé" mà Thánh Phểrô đã cảnh cáo (1Pr 5:8), cho nên sau khi từ cõi chết sống lại và hiện ra với các Tông Đồ, Chúa Giêsu đã nói với các ông như sau :
" anh em tha tội cho ai, thì người đó được tha,
anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." ( Ga 20: 23)
Trên đây là nền tảng Kinh Thánh của Bí Tich Hòa Giải mà Chúa Giêsu đã thiết lập và ban cho các Tông Đồ trước tiên và cho Giáo Hội ngày nay là người thừa kế các Tông Đồ thi hành để tha tội cho con người ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội cho đến ngày mãn thời gian, tức là ngày tận thế.
Sở dĩ Chúa ban bí tích quan trọng này cho Giáo Hội thi hành vì Chúa biết rõ con người sẽ còn phạm tội cá nhân nhiều lần nữa sau khi được tái sinh qua Phép Rửa và được tha thứ một lần khỏi mọi tội lỗi cá nhân hay Nguyên Tổ. Vì biết trước như vậy nên Chúa đã dự liễu sẵn phương thuốc linh diệu giúp con người nối lại tình thương và tình thân với Chúa sau khi lỡ sa phạm tội vì yêu đuối con người, vì gương xấu và dịp tỗi của môi trường sống và nhất là vì cám dỗ tinh quái của ma quỉ, kẻ thù không muốn cho ai được cứu rỗi để hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng, sau khi kết thúc hành trình con người trên trần thế này, Vì thế thật quan trọng và cần thiết cho người tín hữu chúng ta phải siêng năng chạy đến với bí tích Hòa Giải để xưng các tội cá nhân đã vấp phạm vì yếu đuối trong bản tính đã bị băng hoại vì Tội Nguyên Tổ (Original sin ) nhất là vì ma quỉ cám dỗ vì chúng không muốn cho ai được cứu rồi để vào Nước Trời là nơi Satan và bè lũ là những thiên thần đã sa ngã và bị Tổng Lãnh Thiên Thần Mi-ca-e tổng ra ngoài Thiên Đàng vì đã nổi lên chống lại Thiên Chúa..
Tuy nhiên, trong thực tế, có những trường hợp khó khăn cho việc xưng tội cá nhân.Vì thế, trong những trường hợp này, gíáo hội địa phương ( các giáo phận) có thể cử hành nghi thức sám hối và hòa giải cộng đồng hay tập thể (rite of communal penance and reconciliation),trong các trường hợp sau đây:
I-Vào những dịp có đông người xưng tội như mùa Vọng (Advent) và mùa Chay (Lent), nhiều giáo xứ thường cử hành nghi thức sám hối cộng đồng (communal penance) trong đó giáo dân được tập trung lại trong nhà thờ để nghe các bài Kinh thánh nói về sự sám hối và ơn tha thứ của Chúa qua bí tích hòa giải (reconciliation). Linh mục chủ sự sẽ giảng qua về ý nghĩa sám hối và hòa giải để giúp mọi người hồi tâm xét mình và đọc kinh ăn năn tội chung (act of contrition). Sau đó mọi người sẽ đi xưng tội riêng với linh mục (individual confessions), nghe lời khuyên, nhận việc đền tội và lãnh ơn tha thứ (absolution) trong tòa giải tội. Sau đó cùng nhau tham dự phần kết thúc buổi sám hối chung và ra về. Dĩ nhiên cần có nhiều linh mục ngồi tòa trong những dịp này.
Đây là hình thức sám hối và hòa giải cộng đồng khá thông thường ngày nay trong nhiều giáo xứ ở Mỹ.
II-Xưng tội và tha tội tập thể (general confession and general absolution):
Tuy nhiên, có những trường hợp không cho phép hối nhân có thì giờ xưng tội riêng với linh mục. Thí dụ, trong vùng đang có chiến tranh khốc liệt diễn ra, hay trong những tai biến bất ngờ như đắm tầu, tai nạn phi cơ, động đất, sóng thần (tsunami) v.v khiến nhiều người lâm cơn nguy tử mà không còn kịp giờ để xưng tội riêng với linh mục, hay không đủ linh mục để giải tội riêng cho từng người được. Trong những trường hợp khẩn trương này, giáo luật cho phép như sau:
Luật số 961:
triệt 1: Không thể ban ơn xá giải chung một lần cho nhiều người khi chưa có xưng tội cá nhân trước, trừ trường hợp:
a-khi gần cơn nguy tử và một linh mục hay nhiều linh mục không có đủ thì giờ nghe từng hối nhân xưng tội.
b-khi có sự khẩn thiết trầm trọng, nghĩa là, khi có số đông hối nhân nhưng không có đủ cha giải tội để nghe từng người xưng tội hợp lệ trong một thời gian thích đáng đến nỗi hối nhân phải thiệt mất ơn xá giải hay không được rước lễ. Tuy nhiên không được coi là có sự khẩn thiết thực sự khi không có đủ linh mục giải tội chỉ vì có số đông người muốn xưng tội như trong các dịp đại lễ hay hành hương.

Giáo lý của Giáo Hội cũng dạy rằng: "Trong những trường hợp có tính nghiêm trọng, thì có thể cử hành nghi thức hòa giải cộng đồng với việc xưng tội và tha tội tập thể (general confession and general absolution). Lý do nghiêm trọng này có thể là cơn nguy tử gần kề mà không có đủ thời giờ cho hối nhân xưng tội riêng với linh muc.Đó là trường hợp có chiến tranh, động đất, đắm tầu, rớt phi cơ..khiến hối nhân không còn đủ thời gian để xưng tội cá nhân với linh mục. Lý do nghiêm trọng cũng có thể là có quá nhiều người muốn xưng tội nhưng không có đủ linh mục để giải tội riêng trong một thời lượng hợp lý khiến cho nhiều hối nhân không được lãnh ơn bí tích và rước lễ trong một thời gian dài mà không vì lỗi của họ. Trong trường hợp này, việc lãnh ơn tha tội chung (tập thể) chỉ hữu hiệu với điều kiện hối nhân phải có ý muốn đi xưng các tội trọng ngay sau khi qua khỏi cơn nguy biến. Giám mục địa phận là vị thẩm phán quyết định những điều kiện nào cho phép tha tội tập thể. Con số đông tín hữu kéo đến nhân dịp các lễ trọng, hoặc trong các dịp hành hương, không được coi là trường hợp khẩn trương nghiêm trọng." (SGLGHCG, số 1483)
Nói rõ hơn, chỉ trong trường hợp thực sự khẩn trương như có tai nạn khiền nhiều người có thể nguy tử , hoặc trong một giáo xứ có quá đông người muốn xưng tội trong những dịp lễ Giáng Sinh , Phục Sinh mà một mình cha xứ không có đủ giờ để giải tội cá nhân cho từng người được thì có thể xin phép Đức Giám Mục đia phương để của hành nghi thức tha tội tập thể.
Nghĩa là việc xưng và tha tội tập thể chỉ được cử hành hợp pháp trong những hoàn cảnh mà giáo lý, giáo luật cho phép cùng với chỉ dẫn cụ thể của Giám mục giáo phận mà thôi. Nói khác đi, khi không có lý do chính đáng theo giáo luật và qui định của Đấng bản quyền địa phương, thì không ai được tự tiện cử hành thể thức bất thường này.Nghĩa là, không giáo xứ nào, dù là thuộc địa phận hay thuộc Dòng tu, hoặc cá nhân linh mục nào được tùy tiện gom nhiều người lại để cử hành bí tích hòa giải
tập thể ngoài những hoàn cảnh mà giáo lý, giáo luật cho phép như đã nói ở trên.
Điều quan trọng cần lưu ý là cho dù được tha tội chung hay tập thể (general absolution) trong một trường hợp khẩn trương hay nguy tử, nhưng nếu hối nhân biết mình có tội trọng đang khi lãnh ơn tha tội tập thể, thì vẫn buộc phải đi xưng tội riêng sau khi cơn nguy tử hay hoàn cảnh khẩn trương đã trôi qua (đọc kỹ câu giáo lý ghi trên)
Tóm lại, việc xưng tội cá nhân, nhất là xưng các tội trọng là việc cần thiết để được lãnh ơn tha thứ của Chúa qua tác vụ của Giáo Hội, thể hiện cụ thể qua tác vụ của linh mục có nặng quyền (faculty) tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi).
Giáo Hội nói rõ: "thú nhận tội mình với linh mục là một phần chủ yếu của bí tích giải tội. Khi xưng tội, hối nhân phải kể ra tất cả các tội trọng mà mình đã phạm sau khi xét mình cách nghiêm chỉnh, dù các tội này rất kín đáo và chỉ phạm đến hai giới răn sau cùng của bản Thập giới; bởi vì các tội này làm cho linh hồn bị thương tổn hơn hết và nguy hiểm hơn các tội ta phạm mà người khác biết rõ." (Sđd, số 1456).
Việc xưng tội và tha tội tập thể chỉ là trường hợp hạn hữu được phép cử hành trong những hoàn cảnh thật hạn hữu như đã giải thích ở trên mà thôi

III- Xưng tội cách nào cho xứng hợp để được ơn tha thứ ?
như đã giải tich ở trên, Bí Tich Hòa Giải là ân sủng Chúa ban để giúp ta lấy lại tình thân với Chúa sau khi tự cắt hay làm thương tổn tình thân này vị tội nặng hay nhẹ. Tội nhẹ ( venial sin) không cắt đức tình thân với Chúa nhưng cũng làm thương tổn phần nào tình thân ấy, trong khi tội trọng ( Mortal sin) tức khắc cắt đứt tình thân với Chúa, ,và nếu khong được tha thứ qua bí tich hòa giải, mà chết trong tình trạng tội này thì sẽ phải chiu hình phạt hỏa ngục.( SGLGHCG số 633, 1033- 1035)
Do đó, mọi tín hữu phải ý thức rõ điều này và phải cố gắng hết sức mình, với on Chúa phù giúp để tránh các tội nhẹ và nhất là tội trọng như giết người, giết thai nhi, trôm cướp, ngoại tình, dâm ô thác loạn, căm thù muốn hại người khác, bài bạc, buôn bán phụ nữ và trẻ nữ để bán cho bọn ma cô ,tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi như thực trạng sông của biết bao con người ở khắp nơi trên thế giới vô luân ,và tục hóa ngày nay,.
Nhưng Thiên Chúa là tình thương và tha thứ.
"Người giân, giận trong giây lát
Nhưng yêu thương, thương suốt cả đời" ( TV 30 :6)
Chúa Giêsu, Đấng xóa tội trần gian, đã vui lòng vác thập gia để chịu đóng đanh và chết trên thập giá cho con người được tha tội và lấy lại tình thân với Chúa Cha, Đấng đã cứu chuộc chúng ta nhờ Chúa Kitô.
Chúa Kitô đã thực sự chết cho tội lỗi của con người nhưng Chúa không tiêu diệt hết mội tội lỗi trong trần gian và trong bản tính đã bị băng hoại vì Tội nguyên tổ ( original sin) của con người, vì thế chúng ta còn phải chiến đấu không ngừng để chống lại mọi tội xuất phát từ bản tính yếu đuối nơi mỗi người chúng ta , đến từ thế gian với quá nhiều gương xấu và dịp tội, nhất là đến từ ma quỷ, kẻ tử thù mà Thánh Phêrô đã ví như " sư tử đói rảo quanh tìm mồi cắn xé."( 1 Pr 5: 8)) để mong cướp lấy linh hồn chúng ta khiến ta mất hy vọng được cứu rỗi để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc Thiên Đàng sau khi hoàn tất hành trình con\người trên trần thế này. Tội có mặt trên trần gian và trong bản tính yếu đuối của con người như Thánh Gioan Tông đồ đã nói:
Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội
Chúng ta tự lừa dối mình
Và sự thật không ở trong chúng ta.( 1 Ga 1: 8)
Chúa ghét mọi tội nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết sám hổi và xin tha thứ.Vì thế Người đã ban cho các Tông Đồ trước tiên và cho Giáo Hội là người kế vị các Tông Đồ Bí Tích Hòa Giải nhờ đó Giáo Hội tha thứ mọi tội cho ai có lòng sám hối và xin tha thứ mọi tội đã phậm, trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội chối bỏ hoàn toàn tình thuơng và tha thứ của Chúa ,thì không thể tha thứ được.Nghĩa là nếu còn tin nơi tình thương, tha thứ của Chúa,,thì còn có thể được tha thứ mọi tội đã phạm đến Chúa vì yếu đuối con người, vì gương xấu của thế gian và vì ma quỷ tinh quái cám đỗ ngày đêm.
Khi chậy đến với Bí Tích Hòa Giải tức là đi xưng tội thì mọi hối nhân phải nhớ kỹ điều này:
Trước hết phải sám hối và tin tưởng nơi lòng xót thương tha thứ của Chúa, Sau đó, phải xét mình cách ngay thẳng để nhìn nhận mọi tội minh đã phạm. Sau đó phải thành thật xưng các tội đã phậm nhất là tội trọng. Nếu cố ý che dấu tội nào hay cố ý nói quanh co để làm giảm bớt tính nghiêm trọng của tôi, thí dụ chỉ nói : con đánh người ta một,hay hai lần, ăn cắp ba lần, có tư tưởng xấu nhiều lân... Xưng một cách tổng quát như vậy thì đã tự ý làm giảm tính trầm trọng của mỗi tôi.
Muốn thành thật thì phải xưng rõ là đánh ai, đánh vợ con hay đánh cha mẹ, đánh người có chức thánh, có lời khấn ( Linh mục, Tu sĩ) ăn cắp cái gì và của ai ? ăn cắp tiền của cha mẹ, vợ con hay vào nhà thờ ăn cắp tiền dâng cúng trong nhà thờ,.. có tư tưởng xấu là thế nào ? ngoại tình, xem tranh ảnh dâm ô, thủ dâm, phạm tội lỗi điều răn thứ sáu một mình hay với vợ hay chồng của người khác...Phải xưng rõ như vậy thì mới xứng đáng được Chúa tha qua tay của linh mục đang có năng quyền giải tội.Nếu có ý dấu tội nào, nhất là tội trọng, thì việc xưng tội sẽ không thành mà còn phạm thêm tội là dấu tội nữa. Dấu tội thì cũng ví như đi khám bác sĩ mà không nói rõ bệnh của mình thì bác sĩ không thể chữa cho khỏi được.
Tóm lại, phải xưng các tội cách thành thật. không cần phải nói chi tiết nhưng cũng không được nói cách quá tổng quát khiến linh mục không biết được tôi muốn xưng., thí dụ phạm tôi ngoại tình mà chỉ xưng có tư tửởng và hành động xấu thì không ai biết đó là tội gì để tha.
Nên nhớ là khi ta xưng các tội của mình với linh mục ta xưng trực tiếp với Chúa hiện diện nơi linh mục và tha tội cho ta qua tay của linh mục, nên phải có lòng tin và thành thật xưng các tọi mính đã lỡ phạm đến Chúa vì yếu đuối, vì ma quỷ cám dỗ.../Tuyệt đối không được dấu tội nào dù nặng hay nhẹ, có như vậy mới đáng được Chúa tha thhứ và nhận lại tình thương của Chúa đã bị thương tổn hay đã bị phá hủy hoàn toàn vì tội. Phải tin Chúa Kitô thực sự hiện diện trong linh mục giải tội để không mắc cở hay sợ linh mục tiết lô cho ai biết tội của mình, vì không linh mục nào được phép tiết lộ cho ai biết điều gì mình đã nghe trong tòa giải tội, Đây là Ấn Tòa Giải Tội ( Seal of confessions) mà mọi linh mục đều phải tuyệt đối giữ kín mỗi khi ngồi tòa,
Vậy chúng ta hãy an tâm và hăng hái đi xưng tội sau khi đã xét minh cách ngay thẳng trước mặt Chúa trong tâm tình sám hối ăn năn muốn hối cải thực sự.
Sau hết, một điều quan trọng cần nhấn mạnh là hối nhân phải có quyết tâm từ bỏ tội sau khi xưng tội. .Nghĩa là, không thể cứ phạm mãi một tội rồi lại đi xưng tội. Làm như vậy là làm hư phép giải tôi. Cha giải tội có thể từ chối không ban phép tha tội cho hối nhân nào cứ xưng mãi một tôi mà không có quyết tâm hoán cải, hay chừa tội.
Ước mong những giải đáp trên thỏa các câu hỏi đặ ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 7 of 155