mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6210
mod_vvisit_counterHôm Qua8283
mod_vvisit_counterTuần Này60235
mod_vvisit_counterTuần Trước63979
mod_vvisit_counterTháng Này40693
mod_vvisit_counterTháng Trước249791
mod_vvisit_counterTất cả18425180

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

TẠI SAO THIÊN CHÚA LẠI GIẾT CÁC CON ĐẦU LÒNG CỦA NGƯỜI AI CẬP ?

Hỏi :
Xin cha vui lòng giải thích vì sao trước đây Thiên CHúa đã giết các con đầu lòng của người Ai Cập trong khi Chúa dạy không được giết người trong Điều Răn thứ Năm của Chúa ?
Trả lời :
THiên Chúa là tình yêu, chậm bất bình và hay tha thứ. Đó là điều chúng ta phải tin chắc không chút hoài nghi.


Về câu hỏi tại sao Thiên Chúa lại giết các con đầu lòng của dân Ai Cập, chúng ta không quên sự kiện vua Pharra-ô của Ai Cập đã không chịu cho dân Do Thái rời đất Ai Cập trở về quê hương của họ như ông Mô-se yêu cầu theo lệnh truyền của Thiên Chúa .Nhưng Pha a ô ,vua Ai Cập đã ngoan cố không muốn cho dân Do Thái hồi hương. Vì thế, Thiên Chúa đã gửi những tai hạ đến cho Ai Cập trong đó có tai ương các con đầu lòng của Ai Cập đã bị giết như ta đọc thấy trong Sách Xuất Hành 11&12.Đây là tai họa thứ mười Thiên Chúa giáng xuông Ai Cập để buộc vua Phar a –ô buông tha cho dân Do Thái được hồi hương dưới sự lãnh đạo của ông Mô-sê. Kết quả là cuối cùng Phar a-ô đã phải nhượng bộ để cho dân Do Thái rời khỏi Ai Cập trở về quê quán của họ.
Tuy nhiên, qua tai họa mà Thiên Chúa giáng xuống dân Ai Cập để giải thoát dân Do Thái cho họ trở về quê hương, chúng ta thấy THiên Chúa đã tha phép cho việc giết các con đầu lòng của dân Ai Cập. Tại sao Thiên Chúa lại giáng tai họa này xuống cho Ai Cập để cứu dân Do Thái đang sống nô lệ thống khổ trên đất Ai Cập dược trở về quê quán của họ sau bao nhiêu năm phải làm nô lệ trên đất Ai Cập ?
Thiên Chúa làm như vậy có trái với giới răn cấm giết người mà Thiên Chúa đã truyền cho con người phải tuân giữ hay không ?
Đây quả thật là một vấn nạn khó hiểu cho con người ở khắp mọi nơi từ xưa đến nay.
Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ Kinh Thánh Cựu Ước thì chúng ta có thể hiểu tại sao Thiên Chúa đã hành động xem ra khó hiểu như vậy trong hoàn cảnh cụ thể nói trên, khi Người đã giết các con đầu lòng của dân Ai Cập kể cả con đầu lòng của vua Ai Cập là Phara ô để buộc vua này cho người Do Thái được trở về quê hương của họ như Thiên Chúa đã truyền cho ông Mô-Sê mệnh lệnh sau đây :
"...Bây giờ ngươi hãy đi. Ta sai ngươi đến với Phara – Ô để đưa dân Ta là con cái Ít-ra-el ra khỏi Ai Cập." ( Xh 3: 10)
Nhưng vì Pharra ô không chịụ cho dân Do Thái rời Ai Cập để về quê hương của họ như Thiên Chúa đã truyền cho ông Mô-sê, nên để làm nản lòng Pha ra ô Thiên Chúa đã giáng mười tai họa xuống Ai Cập trong đó có tai họa các con đầu lòng của Ai Cập bị giết.kẻ cả con đầu lòng của vua Phar a ô. Và với tai họa thứ mười này, Pharra ô đã phải nhượng bộ để cho Dân Do Thái được rời khỏi Ai Cập mà trở về quê hương dưới sự lãnh đạo của ông Mô-sê
Như thế Thiên Chúa đã dùng một sự dữ nhỏ là giết các con đầu lòng của Ai Cập để đạt mục đich to lớn hơn là giải phóng cho toàn dân Do Thái khỏi ách nô lệ thống khổ bên Ai Cập khiến họ đã kêu cứu Thiên Chúa giải thoát họ khỏi nỗi thống khổ trên.THiên Chúa đã phán như sau:
" tiếng rên siết của con cái It-ra el đã thấu tới Ta. Ta cũng đã thấy cảnh áp bức chúng phải chịu vì người Ai Cập." ( Xh 3: 9)
Vì thế, để cứu họ, Thiên Chúa đã sai ông Mô-sê đẫn đưa con cái It=ra- El rời Ai Cập để về chiếm ngự " một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miền đất tràn trề sữa và mật , xứ sở của người Ca na an.." ( Sđd 3:8)
Sứ mệnh của ông Môsê nói trên cũng tiên báo Sứ Mệnh của Chúa Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa được sai xuống trần gian làm CON NGƯỜI để "hy sinh mạng sống mình làm giá chụộc cho muôn người. " ( Mt 20:28) khỏi chết đời đời vì tội . Thi hành Sứ Mệnh này, Chúa Kitô đã trở thành tân Adam và tân Mô Sê để cứu chuộc cho toàn thể nhân loại khỏi chết vf tội như Thánh Phaolô đã dạy như sau:
"Thật vậy, nếu vì một người duy nhất ( Adam) đã sa ngã mà muôn người phải chết, thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người."( Rm 5: 15)
Ân sủng đồi dào Thiên Chúa đã ban cho nhân loại nhờ Chúa Giêsu Kitô đã vui lòng vác thập giá để chịu đóng đanh và chết trên thập giá để cứu chuộc cho muôn người khỏi phải phạt và chết đời đời vì tội. Như thế Thiên Chúa đã chấp nhận cái chết của Con mình là Chúa Giêsu Kitô để cứu cho toàn thể nhân loại khỏi chết vì tội.Nói rõ hơn, Chúa Giêsu đã hy sinh chịu chết trên thánh giá cho muôn người được sống. Người đã xin Chúa Cha cất chén đắng tức là cất cho Người khỏi phải chịu đau khổ và chết , nhưng Chúa đã xin vâng Ý Chúa Cha chứ không muốn theo ý của riêng mình,Và Chúa Cha đã chấp nhận sự hy sinh cao cả của Chúa Con làm của lễ đẹp lòng Chúa Cha nhất cho mục đích xin ơn tha tội cho cả nhân loại.
Trong tinh thần và ý nghĩa cao cả đó, Chúa Giêsu đã trở thành " Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" .như Thánh Gioan Baptist đã tuyên xưng một ngày kia khi thấy Chúa Giêsu tiến lại với ông ( x.Ga 1 : 29)
Con chiên, trong Nghi lễ Cựu Ước, bị giết và vị tư tế đã lấy máu của con chiên để rẩy trên bàn thờ và trên các tín hữu có mặt để tha tội cho họ nhờ máu con chiên đã chịu sát tế trong nghi lễ toàn thiêu ( Holocaust) theo truyền thống Cựu Ước.
NHững gì đã xẩy ra trong thời Cựu Ước đều đã được thực hiện trong Thời Tân Ước khi Chúa Kitô đến trong trần gian để thi hành Chương Trình cứu độ nhân loại của Chúa Cha, " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý" ( 1Tm 2: 4),
Để thi hành Chương Trình Cứu Độ của Chúa CHA, Chúa Kitô đã vui lòng vác thập giá và chịu chết treo trên đó "để làm giá cứu chuộc cho muôn người," ( Mt 20:28)
Như thế việc sát tế , dù là con chiên trong thời Cựu Ước hay chính cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá sau này đều có giá trị tha tội và cứu rỗi cho những ai tin và muốn được cứu độ nhờ Công Nghiệp Cứu Chuộc vô giá của Chúa Giêsu Kitô.
Thiên Chúa Cha -trong Bản Thập giới-, đã cấm việc giết người ( Điều Răn Thứ Năm)
Nhưng lại chấp nhận cái chết của Con mình là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chịu sát tế như Con Chiên vẹn sạch để cứu chuộc cho cả loài người tội lỗi đáng phải phạt và chết đời đời vì tội.
Xưa kia trong thời Cựu Ước, để cứu toàn dân Do Thái khỏi ách thống khổ trên đất Ai Cập, Thiên Chúa đã giáng Mười tai họa- trong đó có tai họa giết các con đầu lòng của Ai Cập để làm nản lòng vua Phara- ô ngoan cố không chịu cho dân Do Thái rời khỏi Ai Cập; như Thiên Chúa đã thông cảm nỗi thống khổ của dân Do Thái nên đã sai ông Mô sê dẫn đưa họ về quê hương mà Thiên Chúa hứa ban là đất Ca-na-an "đầy sữa và mật".
Việc giết các "con đầu lòng" của người Ai Cập , mặt khác, cũng cho thấy Thiên Chúa trong thời Cựu Ước là Thiên Chúa công thẳng , là Thiên Chúa trừng phạt những kẻ làm sự dữ mà không biết sám hối ăn nan để được tha thứ.
Sách Sáng Thế đã kể cho chúng ta hai trường hợp Thiên Chúa phải đánh phạt con người vì những sự dữ con người đã làm mà không biết sám hối và từ bỏ để không bị đánh phạt. Đó là trận lụt " Hồng Thủy" thời ông NÔ-e và hai thành Gô-môra và Sô-đôm bị thiêu rụi thời ông Apraham
Lý do Thiên Chúa phải trừng phạt nhẫn tiền với Trận lụt Hồng Thủy ( Deluge) vì ĐỨC CHÚA "thấy trên mặt đất sự gian ác của con người quả là nhiều , và suốt ngày lòng chúng nó chỉ toan tính những ý định xấu. ĐỨC CHÚA hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng. ( St 6: 5-6)
Vì thế. Thiên Chúa đã quyết định tiêu diệt con người và mọi sinh vật trên mặt đất trừ gia đình ông NÔ E và những sinh vật được ông đem lên Tầu trước khi mưa tuôn đổ bốn mươi đêm ngày xuống địa cầu và cuốn vào lòng đại dương mọi người và sinh vật bên ngoài con Tầu của ông NÔ Ê.Ông được coi là người công chính đã sống đẹp lòng Chúa nên ông và vợ con ông không bị tiêu diệt trong Trận Hồng Thủy nói trên .
Đến thời ông Apraham, Thiên Chúa lại đánh phạt hai thành SÔ ĐÔM và GOMORAH bằng lửa trên trời rơi xuống thiêu rụi mọi người và sinh vật trong hai thành tội lỗi trên đây.Thiên Chúa phán: " Tiếng kêu trách SÔ ĐÔM và GOMORAH thật quá lớn, tội lỗi của chúng quá nặng nề. Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta chăng. Có hay không Ta sẽ biết," (St 18: 20-21)
Ông Apraham, người công chính sống đẹp lòng Chúa, đã kêu xin Chúa tha trừng phạt cho hai thành đó. Ông đã xin với Chúa là nếu ông tìm được 50 người lành thì Chúa có vì họ mà tha chết cho những khác không. Chúa đồng ý tha, nếu ông tìm được 50 người tốt lành.Nhưng ông đã không tìm được . Ông lại rút xuống 45 người để xin Chúa Tha. Chúa cũng đồng ý nhưng ông cũng không tìm được . Ông lại rút xuống còn 30 người, rồi 20 người và cuối cùng là 10 người . Chúa vẫn kiên nhẫn chờ nhưng ông không tìm được ai là người công chính để xin Chúa tha tiêu diệt hai thành tội lỗi trên. Rốt cuộc ông và gia đình đành rời khỏi nơi đó trước khi Chúa cho lửa từ trời xuống thiêu hủy hai thành tội lỗi kia !
Sự kiện trên đã cho thấy là Thiên Chúa, dù Người là tình yêu và tha thứ, nhưng nếu con người cứ phạm tội ,cứ làm sự dữ mà không kíp sám hối để xin tha thứ thì Thiên Chúa sẽ giáng cơn thịnh nộ của Người xuống cho những ai lợi dụng lòng thương xót của Người để cứ làm sự dữ, sự tội mà không mau kíp ăn năn sám hối để xin tha thứ. Chúa ghét và ghê tởm mọi tội lỗi, nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết sám hối và xin tha thứ.
Hai tai họa Lụt Hồng Thủy và tiêu diệt hai thành SÔ ĐÔM và GÔ MÔ RAH mà Thiên Chúa đã giáng xuống trên con người trong thời ông NÔ Ê và ông Apraham đã cho ta thấy thái độ cứng rắn của Thiên Chúa đối với những sự dữ ,sự tôi con người làm ở khắp nơi trên trần gian này mà không biết sám hối, ăn năn để xin tha thứ. Đây là hình ảnh của Thiên Chúa trong thời CỰU ƯỚC qua đó chúng ta thấy Thiên Chúa là Đấng nhân lành nhưng lại dễ nổi cơn thịnh nộ để thẳng tay trừng phạt những sự dữ và những kẻ làm những gì xúc phạm đến bản chất yêu thương , thánh thiện và công bằng của Chúa.
Nhưng nếu Thiên Chúa của CỰU ƯỚC là hình ảnh của một người CHA nghiêm khắc dễ thịnh nộ và trừng phạt thẳng tay con cái loài người , thì THIÊN CHÚA của Chúa Kitô-Giêsu trong thời TÂN ƯỚC lại là hiện thân của lòng thương xót ,khoan hòa và thứ tha không bờ bến.
Thật vậy, THIÊN CHÚA của CHÚA GIÊSU là THIÊN CHÚA tha không chỉ giới hạn đến 7 lần mà đến 70 lần 7 . Hơn nữa, còn là Thiên Chúa tha thứ và cầu nguyện cho cả kẻ thù , chứ không giới hạn cho người thân ,người bạn của mình.Cụ thể , Chúa Giêsu đã tha cho mọt phụ nữ phạm tội ngoại tình bị bọn Biệt phái bắt gặp và dẫn đến để xin Chúa cho ném đá theo luật của ông Môsê, nhưng Chúa Giêsu đã nói với chị kia : "...Tôi không lên án chj đâu ! Thôi chị cứ về đi và từ nay đừng phạm tội nữa."( Ga 8: 11).Cụ thể hơn nữa, qua dụ ngôn về Đứa con hoang đàng hay Người Cha nhân hậu" Chúa Giêsu đã dạy mọi người chúng ta bài học quí giá về lòng quảng đại tha thứ của Chúa đối với những người tội lỗi biết sám hối để xin tha thứ. Chúa nói : Ta không đến để kêu gọi những người công chính , mà để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn."( Lc : 5-22).
Cũng vậy, Chính vì muốn tha thứ hơn là trừng phạt thẳng tay, nên Chúa Giêsu đã nói với mấy người thuộc nhóm Biệt Phái đến hỏi Chúa xem có phải những người bị Tổng Trấn Phi-la-tô giết và mười tám người khác bị thác Si-lô-a đổ xuống đè chết có phải họ là những người tội lỗi hơn người khác không, Chúa đã trả lời họ như sau:
" Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu.Nhưng nếu các ông không chịu sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy," ( Lc 13: 5)
Lại nữa , nhân có mấy người Biệt Phái xầm xì với nhau về việc Chúa đến dùng bữa với mấy người thu thuế màị họ coi là quân tội lỗi, Chúa Giêsu đã trả lời họ như sau : " người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần ...Ta không đến để kêu goi người công chinh, mà đến để kêu gọi người tội lỗi."
( Mt 9 :13) . Như thế, Thiên Chúac của Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa của sự khoan dung và tha thứ, là Thiên Chúa kiên nhẫn chờ đợi kẻ tội lỗi ăn năn sám hối để được tha thứ chứ không muốn trừng phạt không chút khoan nhượng.Điều này đã thể hiện cụ thể khi Chúa Giêsu còn đang bị treo trên thánh giá . Chúa đã cầu xin cho những kẻ đã đóng đanh và sỉ nhục Người , thay vì lên án và muốn thẳng tay trừng phạt như sau :
" Lậy Cha ,xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm."( Lc 23:34)
Qua lời cầu nguyện trên, Chúa Giêsu đã bào chữa cho những kẻ tử thù của Người khi xin Đức Chúa Cha tha tội cho chúng mặc dù chúng quả thật phải biết việc chúng làm là đã kết án Chúa cách vô lý đầy bất công.Nhưng Chúa không chấp khi tha tội và còn cầu nguyện cho chúng nữa.
Và đối với người gian phi cùng chịu đống đanh nhưng biết sám hối, Chúa đã nói với anh ta như sau: " Tôi bảo thật anh : hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng."( Lc 23: 43)
Anh gian phi này đã một đời sống trong tội lỗi, đã làm biết bao tội ác và sự dữ đáng bị đóng đanh trên cây thập tự cùng với một gian phi nữa và cùng chung với Chúa Kitô, Người lành vô tội.Nhưng chỉ một phút ăn năn sám hối nhận biết mình là kẻ có tội thì lập tức Chúa đã tha hết mọi tội cho anh và cho anh được vào Thiên Đàng với Chúa , một vinh phúc mà các Thánh Nam Nữ khác đã một đời sống đẹp lòng Chúa trên trần thế, đã hy sinh chịu chết vì đức tin như các Thánh Tử Đạo, hoặc chấp nhận mọi gian nan bách hại khi đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa như các Thánh truyền giáo. Các ngài xứng đáng được vào Nước Trời sau khi đã hoàn tất hành trình đức tin trên trần gian này.
So với anh trộm lành bị đóng đanh, đã sám hối và được Chúa cho vào Thiên Đàng cùng với Người, thì các Thánh Nam Nữ kia cũng đã chiu nhiều đau khổ và khó khăn biết bao mà cũng chỉ được hưởng vinh phúc Thiên Đàng như anh trộm lành kia, đã đi đường tắt mà được vào Thiên Đàng trong khi các Thanh Nam Nữ khác đã phải đi qua những con đường dài đầy trông gai trở ngại mới đạt được phần thưởng đích đáng là được hưởng Thánh Nhan Chúa trên cõi vĩnh hằng.
Như thế, đi đường tắt như anh trộm lành hay đường dài như các Thánh Nam Nữ thì cuối cùng đều được vào Thiên Đàng vui hưởng Thánh Nhan CHÚA là quá đủ hạnh phúc cho họ rồi, vì lý tưởng hay mục đích của họ là được chiếm ngự Nước Trời để vui hưởng Thánh Nhan Chúa là Nguồn an vui , hạnh phúc và bình an đích thực. Đó cũng là lý tưởng và mục đích của mọi người tín hữu chúng ta đang sống đức tin có Thiên Chúa là CHA cực tốt cực lành, Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc chúng ta nhờ Chúa Cứu Thế Giê su, " Đâng đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.( Mt 20:28) Tóm lại, Thiên Chúa là tình yêu, dù Người phải đánh phạt con người cách nhãn tiền như ta đọc thấy trong Kinh Thánh thời Cựu Ước. Thiên Chúa đã đánh phạt con người cách nhãn với trận lut Hồng Thủy thời ông NO E và tàn phá hai thành SÔ ĐÔM và GOMORAH thời ông Apraham cũng như đã giết các con đầu lòng của người Ai Cập để làm nản lòng vua Phara-ô là kẻ đã ngoan cố ngăn cản không cho dân Do Thái đang nô lệ bên Ai Cập được trở về quê hương của họ. Thiên Chúa đã truyền cho ông Môsê sứ mệnh dẫn đưa dân Do Thái rời Ai Cập về chiếm ngự đất mới " đầy sữa và mật" là đất Canaan.
Nhưng Thiên Chúa của Chúa Kitô trong thời Tân Ước lại tỏ ra nhẫn nại và khoan hòa với kẻ tội lỗi mặc dù Người chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ như giết người, giết thai nhi, thù hận, chia rẽ , gây chiến tranh giết hại dân lành, trộm cướp, ngoại tình, dâm ô thác loạn, nhất là buôn bán phụ nữ và trẻ nữ cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm ( Child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi như thực trang sống của biết bao người trong thế giới tục hóa , vô luân vô đạo ngày nay.
Thiên Chúa chưa đánh phạt họ và thiêu hủy các thành phố của bọn làm những sữ dữ trên như Chúa đã thiêu hủy hai thành SÔ ĐÔM và GOMORAH trong thời Cựu Ước đã cho ta thấy là Thiên Chúa còn nhẫn nại và khoan hòa với những kẻ lâm sự dữ sự tội xúc phạm nặng nề đến bản chất yêu thương thánh thiện và an hòa của Thiên Chúa, Đấng chậm bất bình và hay thương xót.Chậm bất bình để cho kẻ tội lỗi có thêm thời giờ ăn năn sám hối, từ bỏ con đường tội lỗi dẫn đưa đến hư mất đời đời.Nhưng không phải thấy Chúa khoan dung mà lợi dụng lòng thương xót của Chúa để không cố gắng từ bỏ tội lỗi mà sống theo đường lối của Chúa hầu được cứu độ để vào Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng với các Thánh và các Thiên Thần. Ai có thái độ sống lợi dụng như vậy thi hãy nghe lời Chúa nghiêm khắc cảnh cáo như sau trong Sách Khải Huyền :
" Ta biết các việc ngươi làm,.Ngươi chẳng nóng mà cũng chẳng lạnh.Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi cứ hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sặp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." ( Kh3 : 15-16)
Tuy Chúa nghiêm khắc cảnh cáo như vậy, nhưng Người vẫn nhẫn nại và khoan dung chờ đợi kẻ có tội ăn năn sám hối để khỏi bị trừng phạt, vì Thiên Chúa là " Đấng cứu độ chúng ta , Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1Tim 2: 4)
Như vậy, còn tình thương và khoan hòa nào lớn hơn tình Chúa yêu thương và khoan dung với mọi người chúng ta ,con cái loài người ?
Tóm lại, Thiên Chúa quả thật là tình thương như Thánh Gioan Tông Đồ đã quả quyết :
" Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa
Vì Thiên Chúa là tình yêu," ( 1Ga 4:8)
Thiên Chúa là tình yêu trong mọi hoàn cánh dù phải đánh phạt con người như ta đọc thấy trong Kinh Thánh Cựu Ước , hay khoan hòa đại lượng với con người như Thiên Chúa của Đức Giêsu-Kitô trong thời Tân Ước.
Chính vì yêu thương con người tội lỗi, nên Thiên Chúa đã sai Con Một của Người là Chúa Giêsu Kitô xuông trần gian làm Con Người để "hy sinh mạng sống của mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20 :28)
Trong Chúa Cứu Thế Giêsu, chúng ta thấy rõ Thiên Chúa là CHA khoan dung, nhẫn nại, nhân từ, chậm bất bình và hay tha thứ. Nếu Thiên Chúa không nhẫn nại khoan hòa và tha thứ thì không ai có thể làm được điều gì xứng đáng để vào Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng. Nhờ Chúa Giêsu đã dâng mình tế lễ đền tội cho nhân loại , mà Chúa Cha đã tha thứ hết cho con người tội lỗi và hứa sẽ không còn nhớ những việc xâu sa họ đã làm nữa:, như Người đã phán :
" Ta sẽ không còn nhớ đến
Lỗi lầm và việc gian ác của chúng nữa'" ( Dt 10: 17).
Vậy, chúng ta hãy cảm tạ Chúa muôn vàn về tình thương tha thứ quá rộng lượng của Chúa dành cho mọi người chúng ta trong Chúa Giêsu Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, Đấng đã hỏa giải con người với Chua CHA qua sự vâng phục và vui lòng chịu chết trên thập giá năm xưa để cứu chụộc cho muôn người được sống. Amen.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm. P.X Ngô Tôn Huấn

--------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

CÁC BÍ TÍCH của GIÁO HỘI CÔNG GIÁO có nguồn gốc KINH THÁNH không ?

Sau đây là bằng chứng về Thánh Truyền và Quyền Giáo Huấn của Giáo Hội đã được ghi lại trong Kinh Thánh Tân Ước:
Thứ nhất về Quyền Giáo Huấn, Chúa Kitô đã trao cho các Tông Đồ trước khi Người về trời như sau :
"Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hay đi...và dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em..." ( Mt 28: 20)
Về Thánh Truyền, Thánh Phaolô đã truyền cho môn đệ ngài là Timôthê như sau:
" anh Timôthê, hãy bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho anh, tránh những chuyện nhảm nhí , trống rỗng , và những vấn đề tri thức giả hiệu. Có những kẻ , vì chủ trương cái trí thức đó, nên đã lạc mất đức tin. Chúc anh em được ân sủng." ( 1 Tm 6: 20-21)
Hay rõ hơn nữa:
" Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Kitô-Giêsu , anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo lý tốt đẹp đã trao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta." ( 2 Tm 1: 13-14)
Như thế đủ cho thấy là các Thánh Tông Đồ đã truyền lại cho các thế hệ nối tiếp cho đến ngày nay những giáo lý tinh tuyền của Kitô-Giáo, tức là của chính Chúa Kitô đã giảng dạy cho các Tông Đồ và cho dân chúng thời đó và được truyền lại cho chúng ta ngày nay qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu ( Mystical Body) của Chúa Kitô trong trần thế.
Riêng về các bí tích ,thì Giáo Lý của Giáo Hội đã nói rõ bảy Bí Tích mà Chúa Kitô đã ban cho Giáo Hội như phương tiện cứu rỗi cần thiết mà mọi tín hữu được mong đợi đón nhận với đức tin vững chắc và lòng mến nhiệt thành về những lợi ích thiêng liêng lớn lao của các bí tích này.(x SGLGHCG số 1210-1620)
Tất cả bẩy bí tích này đều có nguồn gốc Kinh Thánh như sau:
1-Bí Tích Thánh Tẩy ( rửa tội )
Trước hết, Chúa Giê su đã nói với một thủ lãnh Biệt phái tên là Ni-cô-đê-mô
đến thăm Chúa một đêm kia như sau:
Tôi bảo thật ông :
Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa
Nếu không được sinh ra bởi nước và thần khí." ( Ga 3:5)
Trước khi về Trời, sau khi hoàn tất công cuộc cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết,sống lại và lên Trời, , Chúa Kitô cũng truyền cho các Tông Đồ những điều quan trọng sau đây:
" Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép Rửa Cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.." (Mt 28:19)
Hoặc :
" Ai tin và chịu hép Rửa sẽ được cứu độ, còn ai không tin sẽ bị luận phạt." (Mc16:16)
2- Bí Tích Thêm Sức ( confirmation)
Khi hiện ra với các Tông Đồ sau khi Người sống lại từ cõi chết, Chúa
Giêsu đã thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh
Thần," ( Ga 20:22)
Lại nữa, hai Tông Đồ Phê rô và Gioan được cử đến miền Samari để gặp dân
mới theo Đạo ở đây. Khi đến nơi, " hai ông cầu nguyện cho họ, đặt tay trên
họ và họ nhận được Thánh Thần." ( Cv 8 : 17)
3-Bí Tích Hòa Giải ( penance, reconciliation)
Sau khi thổi hơi để ban Thánh Thần cho các Tông Đồ, Chúa Giêsu đã long trọng truyền cho họ thi hành thi hành mệnh lệnh sau đây :
" Anh em tha tội cho ai thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ" ( Ga 20: 23)
Lại nữa, trước khi chiu khổ hình thập giá chết và sống lại, Chúa Giê-su cũng đã trao cho Phêrô chiều khóa Nước Trời và quyền cầm buộc hay tháo gỡ như sau:
" Thầy sẽ trao cho anh chiều khóa Nước Trời: dưới đất anh cầm buộc
điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều
gì trên trời cũng sẽ thao gỡ như vậy." ( Mt 16: 19)
Quyền đó đã được trao lại cho các vị kế tục Phêrô cho đến ngày nay. Vì thế, Giáo Hội – qua Đức Thánh Cha là người kế vị Thánh Phê rô trong nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Chúa, có quyền ra vạ tuyệt thông= Anathema=Excomunication)
Và giải vạ này cho những ại bị vạ; cũng như ban ân xá ( indulgences) để tha hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) cho người còn sống hay cho các linh hồn đang được thanh luyện nơi Luyện tội ( purgatory).
Đây là điều các giáo phái Tin Lành không tin nên đã đả kích Giáo Hội Công Giáo cách vô căn cớ.
3- Bí tích Thánh Thể
Bí Tích quan trọng này đã được Chúa Giê su thiết lập trong Bữa ăn sau cùng với Mười hai Tông Đồ khi Người cầm bánh, dâng lời chúc tụng rồi bẻ ra trao cho các ông và nói: " anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy.Rồi Người cầm chến rượu, tạ ơn, trao cho các ông và nói : " Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu giao ước đổ ra cho muôn người được tha tội." ( Mt 26: 26-28; Mc 14: 22-24; Lc 22:19-20; Ga 6; 1 Cor 11: 23- 25)
Qua Bí Tích Thánh Thể, Giáo Hội tin có sự hiện diện thực sự ( real presence) của Chúa Kitô dưới hai chất thể là bánh và rượu nho.Đây là điều anh em Tin Lành không tin. Vã lại, vì họ không có Chức Linh Mục ( Priesthood) hữu hiệu nên họ không thể có Bí Tích Thánh Thể ( The Eucharist) và các Bí Tích Hòa Giải ( Reconciliation) , Sức dầu bệnh nhân ( Anointing of the sick) và Bí Tích Truyền Chức Thánh ( Holy Orders ) là những Bí Tích chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mà thôi; ngoài bí tích Rửa Tội mà đa số các giáo phái khác như Tin Lành và Anh Giáo ( Anglican) đều có.
Nhưng nếu nhóm nào –như giáo pháí Bahai Hullad), không làm Phép Rửa với nước và Công Thức Chúa Ba Ngôi ( The Trinitarian Formula) thì bí tích không thành sự ( invalidly) nên nếu giáo hữu của họ muốn gia nhập Giáo Hội Công Giáo thì phải được rửa tội lại.
5-Bí tích Sức dầu ( Anointing)
Bí Tích này được ghi trong Thư Thánh Gia-cô-bê như sau:
" Ai trong anh em đau yếu ư ? Người ấy hãy mời các kỳ mục của Hội Thánh đến; họ sẽ cầu nguyện cho người ấy sau khi sức dầu nhân danh Chúa." (Gc 5: 14)
6- Bí Tích Truyền Chức Thánh ( Hoy Orders)
Trong thư gửi cho môn đệ ngài là Timô-thê, Thánh Phaolô đã căn dặn như
Sau:
" Vì lý do đó, tôi nhắc anh phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa,
Đặc sủng anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh." ( 2 Tm 1: 6)
Như thế việc đặt tay để xin ơn Chúa Thánh Thần là điểm chính yếu trong
Nghi thức Truyền Chức Thánh Phó tê, Linh mục và Giám mục trong Giáo
Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương.
7- Bí Tích Hôn Phối ( Matrimony)
Chính Chúa Giê su đã nhắc lại cho các Tông Đồ - và đặc biệt- là nhóm Biệt phái như sau về bí tích này:
" Các ông không đọc thấy điều này sao: thủa ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán: "vì thế người ta sẽ lìa Cha mẹ mà gắn bó với vợ mình., và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp , loài người không được phân ly." (Mt 19: 4-6)
Thánh Phaolô cũng nhắc cho tín hữu Ê-phê-sô về bí tích hôn phối như sau:
" Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế , người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thực là cao cả.Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng." ( Ep 5: 31-33)
Tóm lại , tất cả bảy Bí Tích đều có nguồn gốc Kinh Thánh, tức là đều bắt nguồn từ ý muốn của Thiên Chúa cho con người thi hành để cộng tác với Chúa trong Chương Trình sáng tạo và cứu độ con người nhờ Chúa Kitô cho đến ngày mãn thời gian.
II-Chỉ nghe Lời Chúa không thôi có đủ cho con người được cứu độ không ?
Nghe lời Chúa qua Kinh Thánh là điều rất quan trọng và cần thiết cho mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội , vì " người ta sống không phải chỉ nhờ cơm bánh nhưng còn sống nhờ mọi lời từ miệng ĐỨC CHÚA phán ra." (Mt 4: 4 ; Lc 4: 4; Đnl 7: 3;)
Lời Chúa không những là thần lương nuôi sống linh hồn ta mà còn là đuốc sáng soi dẫn ta đi trên đường tìm kiếm Chúa và Vương Quốc bình an, hạnh phúc của Người, đúng như Phêrô đã tuyên xưng một ngày kia:
" Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai ? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời." ( Ga 6: 68)
Thánh Vinh 119, cũng ca tụng lời Chúa như sau:
" Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước
Là ánh sáng chỉ đường con đi". ( Tv 119: 105)
Như thế đủ cho thấy là việc nghe lời Chúa qua Kinh Thánh , qua Giáo Hội và trong chính lương tâm con người, là điều vô cùng cần thiết cho những ai muốn đi theo Chúa, muốn yêu mến Người và muốn được cứu rỗi để sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau: .
Tuy nhiên, chỉ nghe lời Chúa như anh em Tin Lành tin và quảng bá ( Sola Scriptura) thì chưa đủ để lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô..Muốn đầy đủ hơn thì cần thiết cho ta phải lãnh nhận các Bí Tích rất quan trọng như Thánh Thể, Hòa Giái và Sức Dầu bệnh nhân ... là những phương tiện thông ban ơn Chúa dồi dào cho những ai muốn lãnh nhận ơn cứu độ của Chúa Kitô nhờ Hy Tế đền tội mà Chúa đã dâng lên Chúa Cha trên thập giá năm xưa và nay còn tiếp tục dâng trên bàn thờ mỗi khi Thánh Lễ được cử hành.
Vì thế , khi tham dự Thánh lễ, chúng ta được lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô như Giáo Hội dạy trong Hiến Chế Lumen Gentium ( Ánh Sáng muôn dân ) sau đây:
" Mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó "Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế (1 Cor 5, 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( LG 3)
Đó cũng là lý do tại sao Thánh Lễ được coi là " nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả đời sống Kitô Giáo".Nghĩa là không thể sống trọn vẹn đời sống Kitô Giáo mà không tham dự Thánh Lễ để vừa được nghe lời Chúa và nhất là được ăn thịt và uống máu Chúa Kitô là bảo chứng cho ta được sống đời đời như Chúa đã hứa:
" Ai ăn thịt và uống máu Ta
Thì được sống muôn đời
Và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết." ( Ga 6: 54)
Mặt khác, là con người sống trên trần gian này, không ai có thể tránh được nguy cơ của tội lỗi đến từ ma quỉ, thế gian và xác thịt.Do đó, nếu không siêng năng chạy đến với Chúa qua bí tích hòa giải ( xưng tội) thì làm sao nối lại được tình thân với Chúa, sau khi lỡ sa ngã vì yêu đuối con người, vì ma quỷ và thế gian luôn cám dỗ với mọi dịp tội và gương xấu để lôi kéo ta ra khỏi thân tình với Chúa để làm nô lệ cho chúng và mất hy vọng được cứu rỗi ?
Chính vì biết con người còn yếu đuối và dễ sa ngã, nên Chúa Kitô đã dự trù sẵn phương thế hữu hiệu là ban cho chúng ta bí tích hòa giải để giúp ta trỗi dậy và lấy lại thân tình với Chúa mỗi khi lỡ sa phạm tội vì yếu đuối trong bản tính con người ,và nhất là vì ma quỷ cám dỗ cho ta phạm tội khiến mất tình thân với Chúa
Và mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu .
Thật vậy, ai dám nói là mình không bao giờ phạm tội để không cần phải xưng tội để được tha thứ ?
Cũng không thể trực tiếp xưng tội với Chúa không cần qua trung gian của ai ( linh mục) như anh em Tin Lành giảng dạy, vì Chúa Kitô đã trao quyền tha tội này cho các Tông Đồ mà người kế vị các ngài là các Giám mục và phụ tá của Giám mục là các linh mục trong toàn Giáo Hội.( Ga 20:23)
Do đó không thể cứ hát Alleluia và nghe lời Chúa không thôi như anh em Tin lành quảng bá thì sẽ thiếu đi phần quan trọng nữa là lãnh nhận các ơn ích thiêng liêng qua các bí tích mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu rỗi cho con người cho đến ngày mãn thời gian.
Anh em Tin Lành không biết các Bí Tích quan trọng như Thêm Sức, ( Confirmation) Thánh Thể ( Eucharist) , Hòa Giải (reconciliation) Sức Dầu bệnh nhân ( Anointing of the sick)..nên không biết những lợi ích thiêng liêng lớn lao của các Bí Tịch này.
Kinh nghiệm thiêng liêng cho mọi người tín hữu chúng ta biết rằng : phải siêng năng cầu nguyện, nghe lời Chúa và luôn chạy đến với hai bí tích rất quan trọng và cần thiết là Thánh Thể và Hòa giải để được ăn uống Mình Máu Chúa, là linh dược nuôi sống linh hồn và cho ta sức mạnh cần thiết để đứng vững trong ơn nghĩa với Chúa cũng như lấy lại ơn nghĩa này sau khi lỡ sa phạm tội nặng hay nhẹ , vì yếu đuối của bản năng, nhất là vì ma quỷ - ví như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" để mong sát hại linh hồn chúng ta, như Thánh Phê rô đã lưu ý.( 1 Pr 5: 8)
Tóm lai, muốn thăng tiến trong đời sống thiêng liêng, muốn lớn lên trong tình yêu Chúa, và muốn được cứu rỗi thì phải sử dụng mọi phương tiện cần thiết nói trên, như nghe lời Chúa, cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải là những phương tiện cứu rỗi vô cùng cần thiết mà Chúa Kitô đã ban cho chúng ta qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa trong trần gian, có mặt và hoạt động cho đến ngày mãn thời gian, tức là ngày cánh chung hay tận thế.Amen
Ước mong những giải đáp trên thả mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô .Xaviê Ngô Tôn Huấn.

----------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM CỬ HÀNH BÍ TÍCH PDF Print E-mail

LINH MỤC CÓ ĐƯỢC PHÉP CỬ HÀNH BÍ TÍCH THEO Ý RIÊNG MÌNH KHÔNG ?

Hỏi :
xin cha giải thích vài thắc mắc sau đây liên can đến việc dạy dỗ và cử hành bí tích của một vài linh mục:
1- Có linh mục kia, khi dâng lễ ở tư gia, đã mời mọi người có mặt tham dự lên rước Mình Thánh Chúa, vì cho rằng Chúa đã tha hết mọi tội cho con người rồi nên không ai cần phải xưng tội nữa (dù có tội trọng) trước khi rước Mình Thánh Chúa ! Như vậy có đúng không ?
2- Cũng linh mục đó, khi vào nhà thương thăm một bệnh nhân, đã chứng hôn cho đôi vợ chồng đang "rối" về hôn phối, vì nể lời yêu cầu của bà mẹ đôi vợ chồng kia. Như vậy hôn phối đó có thành sự hay không ?
3- Một linh mục khác đã bảo Thừa tác Viên cho rước Lễ đổ thêm rượu nho vào chén Máu Thánh đã cạn,để cho giáo dân rước. Như vậy có được không ?
Trả lời :
1- Tôi thực kinh ngạc về những câu hỏi trên đây,vì nếu là linh mục được đào tạo đến nơi đến chốn, thì phải dạy đúng giáo lý của Giáo Hội cũng như cử hành các bí tích đúng theo Nghi Thức ( Rite) của Giáo Hội
Trước hết là việc linh mục mời mọi người lên rước Mình Thánh Chúa trong Thánh lễ dù là ở tư gia hay ở nhà thờ là điều không đúng và không được làm vì những lý do sau đây:
Đành rằng Thánh lễ, về một phương diện, là Bữa ăn cuối cùng mà Chúa Giêsu đã cùng ăn uống với Nhóm Mười Hai Tông Đồ buổi tối trước khi Người bị trao nộp cho những kẻ đến bắt bớ vì Giuda phản bội, bán Chúa cho nhóm thượng tế và luật sĩ Do Thái.
Vì thế, khi tham dự Thánh Lễ, mọi người cũng được mời ăn tiệc thánh là rước Mình Máu Chúa Kitô hiện diện thực sự dưới hai chất thể là bánh và rượu nho.
Tuy nhiên, việc rước Mình Máu Chúa Kitô trong Thánh Lễ hàng ngày hay ngày Chúa Nhật và Lễ Trọng không phải là điều bó buộc cho mọi người tham dự Thánh Lễ, mà chỉ là lời mời gọi cho những ai cảm thấy mình xứng hợp –hay không có gì ngăn trở-để rước Mình Máu Thánh Chúa mà thôi. Phải nói là không có gì ngăn trở, nghĩa là không đang có tội trọng, ( mortal sin), vì nếu ai có tội trọng thì không được làm lễ ( linh mục) và rước Mình Thánh Chúa ( giáo dân) (x. SGLGHCG số 1415 , giáo luật số 916).Như vậy, nếu có tội trọng, thì phải đi xưng tội để làm hòa với Chúa trước khi rước Mình Thánh Chúa trong Thánh Lễ.
Lại nữa, những trẻ em chưa rước lễ lần đầu, cũng không được rước lễ khi tham dự Thánh lễ cùng với cha mẹ, vì chưa được dạy giáo lý cần thiết về Phép Thánh Thể. Điều này cũng áp dụng cho những người thuộc các tôn giáo khác, vì xã giao đến tham dự lễ với người Công giáo. Không thể mời họ lên rước Mình Thánh Chúa được, vì họ không cùng hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo về niềm tin có Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hai chất thể bánh và rượu nho , nghĩa là không hiểu biết gì về bí tích Thánh Thể.
Sau hết, những người đang bị ngăn trở về hôn phối, như đã li dị ngoài tòa án dân sự nhưng chưa được Tòa án hôn phối của Giáo phận tháo gỡ hôn phối cũ mà lại sống chung với người khác như vợ chồng, thì cũng tạm thời không được lãnh nhận các bí tích hòa giải và Thánh Thể, cho đến khi tình trạng hôn phối của họ được giải quyết thỏa đáng theo giáo luật. Nghĩa là họ phải được tháo gỡ hôn phối cũ ( annulled), nếu đủ điều kiện theo giáo luật, rồi mới được tái kết hôn và lãnh nhận các bí tích hòa giải và Thánh Thể.
Như vậy, mời tất cả mọi người tham dự Thánh lễ ở tư gia hay ở nhà thờ lên rước Mình Thánh Chúa là sai hoàn toàn , vì biết đâu trong số những người tham dự Lễ có người đang mắc tội trọng, có người ngoài Công giáo hay đang bị ngăn trở về phép hôn phối. Không thể nói Chúa đã tha hết mọi tội cho con người rồi nên mọi người được rước MÌnh Thánh Chúa, bất kể họ đang ở tình trạng nào.Thiên Chúa tha tội cho con người nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô: đúng, nhưng con người vẫn có thể lại phạm tội nặng hay nhẹ nhiều lần nữa sau khi được rửa tội chứ, vì bản tính yếu đuối , vì ma quỉ cảm dỗ, vì gương xấu của thế gian và nhất là vì con người còn có tự do để tránh phạm tội hay cứ phạm tội vì ỷ lại vào tình thương tha thứ của Chúa. Ai không cố gắng chừa tội mà cứ ỷ lại vào lòng thương xót tha thứ của Chúa để phạm tội năng hay nhẹ, thì hãy nghe lời cảnh cáo nghiêm khắc sâu đây của Chúa Kitô trong Sách Khải Huyền:
" Ta biết các việc ngươi làm : ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng.
Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm, chẳng nóng, chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa người ra khỏi miệng Ta." ( Kh 3:15-16)
Tóm lạị việc rước Mình Máu Chúa Kitô trong Thánh Lễ là hoàn toàn tùy thuộc ý muốn của người tham dự Thánh Lễ. Không có luật nào buộc mọi người tham dự Lễ phải rước Mình Máu Thánh Chúa , mà chỉ có lời khuyên, lời mời cho những ai cảm thấy mình xứng hợp hay không có gì ngăn trở để rước Mình Máu Thánh Chúa mà thôi. Lại nữa ,về phần linh mục, nếu biết rõ ai không phải là người Công giáo, ai đang có ngăn trở về hôn phối mà lên rước Lễ, thì có quyền từ chối trao Mình Thánh Chúa cho những người ấy.Nếu họ thắc mắc, thì sau đó giải thích lý do cho họ hiểu.
2- Về câu hỏi thứ hai, xin được trả lời như sau :
Trước hết, muốn chứng hôn cho ai, linh mục phải biết rõ đôi hôn phối đó có hội đủ điều kiện để kết hôn trong Giáo Hội hay không. Thứ đến linh mục có thẩm quyền để chứng hôn nữa hay không. Nghĩa là đôi hôn phối đó có thuộc quyền coi sóc mục vụ của mình hay không, vì không ai được chứng hôn cho những người vô gia cư, hay không thuộc quyền coi sóc mục vụ của mình. ( giáo luật số 1071 & 1).
Nếu không thuộc quyền coi sóc mục vụ của mình thì, muốn chứng hôn thành sự ( validly) linh mục chứng hôn phải được ủy quyền về năng quyền chứng hôn của cha xứ coi sóc cặp hôn phối đó. ( x Giáo luật số 1111& 2).Ngoài ra, hai người kết hôn phải có hai người làm chứng ( witness) trước mặt đại diện của giáo quyền.
Sau hết, nhà thương hay tư gia không phải là nơi cho phép cử hành hôn lễ
Nghĩa là hôn lễ phải được cử hành ở nhà thờ hay nhà nguyện công do một linh mục hay phó tế chủ sự với sự có mặt chứng hôn của hai người làm chứng. ( giáo luật số 1116&2)
Như vậy, căn cứ theo câu hỏi trên đây, thì linh mục kia đã sai trái hoàn toàn khi chứng hôn cho một một đôi hôn phối ở nhà thương, thể theo lời yêu cầu của bà mẹ đang nằm điều trị ở đây mà không biết đôi hôn phối đó đang bị ngăn trở kết hôn vì lý do gì. Sai trái này khiến cho việc chứng hôn không thành sự và bất hợp pháp ( invalidly and llicitly ) vì đôi hôn phối không thuộc quyền coi sóc mục vụ của mình, hoặc không được thẩm quyền nào cho năng quyền ( faculty) để chứng hôn mà dám chứng hôn chỉ vì nể lời bà mẹ của một trong hai người nam hay nữ yêu cầu. Lại nữa, thiếu hai người làm chứng thì hôn phối cũng không thể thành sự được, cho dù thừa tác viên của bí tích hôn phối là hai người phối ngẫu tự do ưng thuân lấy nhau trước mặt đại diện của giáo quyền và hai người làm chứng.
Tôi không hiểu ông linh mục kia học về bí tích và giáo luật ở đâu mà dám liều lĩnh chứng hôn bừa bãi như vậy. Và chắc chắn việc chứng hôn này là vô hiệu quả và bất hợp pháp ( invalidly and illicitly) vì những lý do nêu trên.
Vậy ai biết việc này, thì xin nói cho bà mẹ và đôi hôn phối kia biết về việc kết hôn không thành sự của con bà vì lỗi của linh mục kia.
3-Về câu hỏi thứ ba :
Tôi vô cùng ngạc nhiên khi đoc câu hỏi này vì nếu đúng như vậy thì không biết linh mục kia đã học hành ra sao mà thực hành sai trái như vậy, Nếu học hành đúng về Bí Tích thì phải hiểu rằng bánh và rượu nho chưa được truyền phép ( unconsecrated) thì chỉ là bánh và rượu thôi. Chỉ khi được truyền phép ( consecrated) trong Thánh Lễ thì mới trở thành Mình và Máu Chúa Kitô thực sự hiện diện ( real presence) trong hai chất thể bánh và rượu nho.Do đó, không thể đổ rượu nho chưa truyền phép vào chén thánh đựng Máu Thánh (consecrated wine) để cho giáo dân rước được, vì đó chỉ là rượu nho chứ không phải là Máu Thánh Chúa Kitô thực sự hiện diện trong chất thể rượu nho sau khi được truyền phép trong Thánh Lễ. Như thế, linh mục kia đã lẫn lộn giữa rượu nho chưa được truyền phép với rượu đã được truyền phép để trở thành Máu Chúa Kitô thực sự hiện diện trong chất thể rượu nho.
Giáo dân cần nói cho linh mục kia biết về sự khác biệt cơ bản nói trên.Nếu linh mục đó không có thiện chí muốn nhận lỗi thì phải trình việc này cho Bề Trên địa phận ( Giám mục) biết để giúp linh mục kia sửa sai.Amen
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi nêu ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

--------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - SỐNG ĐẠO THỰC HÀNH PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Oct 1 at 12:26 AM

HỌC HỎI VÀ SỐNG ĐẠO

SỐNG ĐẠO THỰC HÀNH
---------------------------
Người CÔNG GIÁO phải SỐNG ĐẠO cách nào cho đích thực để MƯU CẦU PHẦN RỖI cho mình và giúp NGƯỜI KHÁC NHẬN BIẾT CHÚA qua gương SÔNG CHỨNG NHÂN của mình?
-----------------------------------------
CÓ ĐẠO và SỐNG ĐẠO là hai việc nhìn qua có vẻ giống nhau, nhưng thực rất khác nhau về mọi khía cạnh.

Thật vậy, có Đạo có nghĩa là mình đi theo một tôn giáo nào đang có mặt trên thế giới như Đạo Công Giáo (Roman Catholicism), Chính Thông Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) Đạo Do Thái (Judaism) Tin Lành (Protestants) Đạo Phật (Buddism), Đạo Ấn Giáo (Hinduism) Đạo Khổng, Đạo Lão, (Taoism) Thần Đạo (Shinto của Nhật bản) Hồi Giáo (Islam). v..v..

Tin đồ các tôn giáo trên ở khắp nơi trên thế giới.Nhưng đông đảo nhất là tín đồ Kitô Giáo thuộc các Giáo Hội Công Giáo La Mã, Chính Thông Giáo Đông Phương và các nhánh Tin Lành, và Anh Giáo (Anglican Comm).Trong các Giáo Hội và giáo phái này, thì tín hữu Công Giáo chiếm đa số với trên một tỉ người đã gia nhập Giáo Hội qua Phép Rửa.

Con số thì đông và cơ sở thì to lớn và đồ xộ với các Thánh đường nguy nga từ giáo đô La mã cho đến các điạ phương nghèo khó như các giáo xứ ở miền quê Việt Nam, nơi giáo dân phần nhiều còn sống khó khăn về mặt kinh tế nhưng cũng xây được các nhà thờ rộng lớn và khang trang với vật liệu mua từ nước ngoài như đá hoa cương, tháp chuông và bàn thờ, đèn nến...

Nếu chỉ nhìn qua những kiến trúc bề ngoài thì người du khách phải trầm trồ thán phục Giáo Hội Việt Nam về sức sống phong phú hơn nhiều nơi trong khắp Giáo Hội hoàn vũ.

Ở nước ngoài như Hoa Kỳ, Canada, và Úc Châu, người Công giáo Viêt Nam cũng xây được những nhà thờ nhà xứ to và đẹp hơn nhiều nhà thờ ở địa phương.

Nhưng đấy chỉ là bề nổi, bề ngoài của việc sống đạo, và vẻ đẹp bề ngoài này không hẳn đã phản ảnh trung thực bề sâu và mặt chìm của lòng mộ đạo sâu sắc, nghĩa là sống Đạo cách đích thực có chiều sâu trước mắt người đời"để cho thiên hạ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên Trời."Như Chúa Giê su đã dạy các môn đệ và dân chúng xưa kia. (Mt 5: 16)

Đây chính là trách nhiệm"Phúc âm hóa thế giới"tức rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Giêsu mà mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội phải thi hành để mời thêm nhiều người nữa nhận biết và tin yêu Chúa Kitô nhờ gương sống chứng nhân của mình giữa bao người chưa có được niềm tin như mình. Và đây là điểm chính tôi muốn đề cập trong bài viết này.
-------------------------------------

Thật vậy, có tên là người Công giáo phải đi đôi hay gắn liền với lòng tin yêu Chúa cách sâu đậm thì mới có giá trị thuyết phục và hy vọng được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn cho hết mọi người chúng ta, vì"Thiên Chúa Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý." (1Tm 2: 4)

Trong hoàn cảnh thế giới tục hóa (vulgarism) ngày nay, chủ nghĩa vô thần, vô luân, tôn thờ tiền bạc và ham mê khoái lạc (hedonism) đang chi phối mạnh mẽ để lôi kéo con người ra khỏi mọi niềm tin tôn giáo, nhất là niêm tin có Thiêm Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành, đầy yêu thương và giầu lòng tha thứ. Chính vì Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành nên Người gớm ghét mọi tội lỗi và sự dữ như giết người, dâm ô, trộm cướp, gian ác, thù nghịch, chia rẽ...

Do đó, muốn sống niềm tin cho có chiều sâu thực sự, thì người tín hữu phải quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi sự dữ và những lối sống của người đời không có niềm tin, hay có mà không sống niềm tin ấy cách cụ thể. Phải xa tránh tội lỗi và những cách sống thiếu niềm tin của biết bao người khác để nói lên lòng yêu mến Chúa thực sự, tức yêu mến sự thiện, sự tốt lành, sự trong sạch, sự khôn ngoan, sự công chính... là những đặc tính cản bản của Thiên Chúa cực tốt cực lành. Cụ thể, yêu mến Chúa thực sự đòi hỏi mọi người tin có Chúa trước hết phải tuân giữ mọi Điều Răn của Chúa như Chúa Giê su đã dạy:

"Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong người ấy." (Ga 14: 23)

Hay rõ hơn nữa: "Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, Anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy. Như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy, và ở lại trong tình thương của Người," (Ga 15: 10)

Giữ lời Thầy có nghĩa là thực thi hai điều răn lớn và quan trọng nhất là yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương người khác như chính mình, như Chúa Giê su đã nói với một luật sĩ kia. (Mc 12: 28-31).

Tuân giữ các điều răn của Chúa không phải để làm lợi gì cho Chúa mà vì những lợi ích của chính con người mà thôi.Chúa tuyệt đối không được lợi lộc gì khi ta tuân giữ các giới răn của Người. Chắc chắn như vậy.

Nói khác đi, nếu ai cũng được tự do cướp vợ giật chồng của nhau, tự do chiếm đoạt tài sản của người khác, tự do ăn gian nói dối và tự do giết người và dâm đãng thì thử hỏi thế giới này sẽ đi về đâu?

Xã hội có luật pháp và người tín hữu Chúa Kitô có các giới luật của Thiên Chúa, vậy mà vẫn còn đầy rẫy những tội lỗi và sự dữ như giết người, oán thù, giết thai nhi, trộm cướp, bóc lột, gian dâm và hiếp dâm, bạo động và chiến tranh...Như vậy, thì thử hỏi: nếu không có luật pháp xã hội và các giới răn của Thiên Chúa thì đời sống con người và xã hội sẽ thê thảm đến mức nào? Vì thế, tuân giữ luật pháp của xã hội và các giới răn của Chúa chỉ có lợi cho con người chứ không có lợi lộc gì cho Chúa hết.Cho nên, ta phải cảm tạ Chúa vì Người đã ban lề uật cho ta tuân giữ để được hạnh phúc ngay từ đời này, và nhất là đời sau.

Nói cách khác, nếu ai cũng biết tôn trọng mạng sống và danh dự của mình và của người khác, không ai thay vợ đổi chồng vì ham vui bất chính, không ai lường gạt, bóc lột người khác, không ai tham tiền để mở sòng bạc, nhà điếm, trông cây thuộc phiện và cần sa, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm (chid prostitution) rất khốn nạn, không ai gian ác để giết người, giết thai nhi...thì bộ mặt của thế giới này đã không quá tồi tệ và ghê sợ như thực trạng hiện nay.

Vậy, là người Công giáo – tức người tin Chúa Kitô- nếu muốn sống đức tin cách cụ thể và có sức thuyết phục người khác, thì phải tuân giữ các giới răn về mến Chúa, yêu người, yêu sự thiện và công bình, không gian dâm, trộm cắp, không oán thù và làm chứng gian, là những thói hư tật xấu của biết bao người không có niềm tin Thiên Chúa, hay có mà không sống niềm tin ấy cách cân xứng.

Sống giữa những người này, người tin hữu Công giáo phải cố thực hành điều Thánh Phao lô đã khuyên dạy tin hữu Phi-lip-phê xưa như sau: "...anh em hãy làm mọi vệc mà đừng kêu ca hay phản kháng. Như thế, anh em sẽ trở nên trong sạch, không ai chê trách được điều gì, và sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà, sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời." (Pl 2: 14-15)

Thế gian với quá nhiều gương xấu, quá nhiều quyến rũ về tiền bạc của cải vật chất, danh vọng và mọi thú vui vô luân vô đạo, là một thách đố to lớn cho những ai muốn chọn Chúa làm gia nghiệp để coi khinh, coi thường những lợi lãi và danh lợi chóng qua ở trần gian này.

Với những ai đang ham mê chạy theo những lôi cuốn đó của thế gian, thì Lời Chúa sau đây là một cảnh cáo và thức tỉnh cho họ và cũng cho tất cả những ai có niềm tin Chúa: "Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống (mất linh hồn) thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình? (Mt 16: 26; Mc 8: 36-37; Lc 9: 25)

Thử hỏi: có ai được cả thế giới này làm lợi lãi đâu? nhưng cho dù có chiếm được tất cả danh vọng và tiền bạc của trần thế này, mà mất mạng sống tức mất linh hồn thì được ích gì? và lợi lãi kia có thể mua được phần rỗi của linh hồn hay không? Đó là câu hỏi mà Chúa muốn mỗi người tín hữu chúng ta phải suy nghĩ và hành động cho thích hợp.

Cũng cần nói thêm là, sống trên trần gian này, ai cũng phải lo cho mình và người thân của mình có được đời sống ấm no cho phù hợp với nhân phẩm. Trong mục đích và giới hạn này, Chúa không dạy chúng ta phải nghèo đói, rách rưới và vô gia cư thì mới được chúc phúc và cứu độ. Nghĩa là Chúa không cấm chúng ta đi tìm tiền bạc cho những nhu cầu chính đáng của thân xác và giúp thực thi bác ái với anh chị em kém may mắn vì nghèo túng.

Nhưng là người có niềm tin Thiên Chúa và coi trọng phần rỗi của linh hồn mình, chúng ta được khuyến khích"hãy sắm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bến bảng, mối mọt cũng không đục phá." (Lc 12: 33) như Chúa Giêsu dạy không hề sai lầm. Nghĩa là tiên vàn ta phải tìm kiếm"Nước Thiên Chúa, còn các thứ kia Người sẽ thêm cho" (Lc 12: 31). Các thứ kia là cơm ăn, áo mặc, nhà cửa, xe cộ, bảo hiểm sức khỏe... là những thứ cần thiết cho đời sống con người bao lâu còn sống trên trần gian này. Và cầu xin Chúa ban cho những phương tiện sống cần thiết đó là điều chính đáng và đẹp lòng Chúa.

Nhưng điều cần thiết và quan trọng hơn là phải để hết tâm trí vào việc sống đạo cho có chiều sâu thực sự, thể hiện cụ thể qua việc siêng năng cầu nguyện để nâng lòng trí lên với Chúa là cội nguồn của mọi vinh phúc và giầu sang vĩnh cửu. Tiếp đến, phải siêng năng lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải tức là năng tham dự Thánh lễ để tâm hồn được nuôi dưỡng bằng lời Chúa và Mình Máu Chúa Kitô, là suối nguồn thông ban ơn cứu độ của Chúa cho ta qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm mầu của Chúa Kitô trong trần gian.

Sau nữa, cũng cần thiết phải luôn chạy đến với Chúa qua bí tích Hòa giải để được tha thứ mọi tội lỗi vì yếu đuối con người, trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và tình thương của Người. (Mc 3: 29)

Thêm vào đó, phải hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội thể hiện qua việc tuân thủ mọi giáo lý cúa Giáo Hội về hai lãnh vực rất quan trọng là tín lý và luân lý. Tín lý như tin có một Thiên Chúa với Ba Ngôi Vị, tin Chúa Ngôi Hai có hai bản tính là Thiên Chúa và là Con Người thật..Luân lý như cấm phá thai, cấm thụ thai nhân tạo, và không được ly dị, không được mê tín dị đoan cờ bạc và mãi dâm...

Nếu không cầu nguyện và siêng năng lãnh nhận các lợi ích thiêng liêng lớn lao qua các Bí Tích Thánh Thể và Hòa giải và thi hành giáo lý của Giáo Hội, thì đời sống đức tin sẽ không thể tăng trưởng được. Và từ đó, cũng không giúp gia tăng lòng yêu mến Chúa và khao khát những sự trên trời mà hậu quả là chỉ còn mù quáng chậy theo những quyến rũ của trần gian với đam mê tiền của và mọi thú vui vô luân vô đạo, là bộ mặt thật của"văn hóa sự chết"đang chi phối biết bao triệu con người ở khắp nơi trên thế giới tục hóa, phi luân và phi nhân hiện nay.

Tóm lại, là người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, tất cả đều được mong đợi sống đức tin, đức cậy và đức mến cách thực sự có chiều sâu để nói lên quyết tâm chọn Chúa làm gia nghiệp, là ưu tiên nhất cho cuộc sống trên đời này để chống lại mọi quyến rũ về tiền bạc, danh lợi và vui thú bất chính của trần gian hầu được cứu độ, được sống hạnh phúc vĩnh cửu và được"thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian này."Như Thánh Phêrô đã khuyên dạy. (2 Pr 1: 4).
----------------------------------------
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - ĐẶT TAY CHỮA BỆNH PDF Print E-mail

NGHI THỨC ĐẶT TAY LÀ GÌ VÀ AI ĐƯỢC PHÉP ĐẶT TAY ?


Trong thời gian qua ở nhiều nơi người ta đã dùng Nghi Thức Đặt Tay ,đặc biệt trong các Lễ gọi là "Lễ chửa lành hay kính Lòng Thương xót của Chúa để xin ơn chữa lành qua Việc đặt tay trên những người muốn xin chữa lành bệnh tật thân xác hay buồn phiền thất vọng. trong tâm hồn. Trong các dịp này người chủ sự đã đặt tay và mời những người có mặt cùng đặt tay trên các người muốn xin chữa lành
Thử hỏi : Việc đặt tay này có hợp lý theo Nghi Thức (Rites) của Giáo Hội, không ?
Để trả lời câu hỏi này, trước hết ta cần biết Nghi Thức đặt tay là gì và ai được phép đặt tay trong Nghi Thức này của Giáo Hội ?
Có thể nói vắn gọi là ,Ngihi thức đặ tay ( imposition of hands= Laying on of hands) là Nghi Thức xin ơn Chúa Thánh Thần khi cử hành ba bí Tich quan trọng là Thêm Sức, Sức Dầu Bệnh Nhân và Truyền Chức Thánh . Ngoài ra, tuyệt đối không có hoàn cảnh hay trường hợp nào được xử dụng Nghi Thức Đặt tay cách hợp pháp theo Nghi Thức của Giáo Hội.
Thật vậy, với Bí Tich Sức Dầu Bênh nhân, linh mục đặt tay xin ơn Chúa Thánh Thần xuống trên bệnh nhân , trước khi sức dầu trên trán và trên lòng hai bàn tay bệnh nhân. Vời Bí Tich Thêm Sức ( Confirmation) Đức Giám Mục hay Linh Mục được ủy nhiệm giơ hai tay trên đầu các úng viên để xin ơn Chúa Thánh Thần xuống trên các ứng viên này . Như thế chỉ có Giám mục hay Linh mục được ủy nhiệm được giơ tay hay đặt tay trên các ứng viên để xin ơn Chúa Thánh Thần t\xuống trên các ứng viên này mà thôi,Ngoai ra không ai được phép giơ tay hay ( đặt tay) trên các ứng viên trong trường hợp này.
Cũng vậy, trong Lễ Truyền Chức Thánh cấp Phó Tế, thì chỉ có một mình Giám mục chủ phong đặt tay trên các ứng viên mà thôi.Các linh mục hay phó tế hiện diện trong Thánh Lễ đều không được mời đặt tay . Nhưng trong Nghi Thức truyền chức Linh mục, thì sau khi Giám mục chủ phong đặt tay trên các ứng viên để xin ơn Chúa Thánh Thần xuống trên họ , thì các linh mục hiện diện cũng được phép đặt tay trên các ứng viên tiếp theo Giám mục chủ phong.
Ngược lại, trong Lễ Truyền Chức thánh cấp Giám mục thì chỉ có các Giám mục hiện diện được đặt tay trên ứng viên tiếp theo Giám Mục chủ phong và phụ phong đặt tay trước trên họ... Các linh mục hiện diện không được phép đặt tay trên ứng viên cùng với giám mục chủ phong..( x. Sách Nghi Thức (The RITES) của Giáo Hội Công Giáo ,quyển số 2 từ trang 49 -99)
Trên đây là tất cả thể thức đặt tay trong trường hợp cử hành các Bí Tich Sức Dầu Bệnh nhân, THêm Sức vầ trong Lễ Truyền Chức Phó tế, Linh mục và Giám mục. mà thôi. Ngoài ba trường hợp trên đây, không có trường hợp nào đòi hỏi việc đặt tay vì bất cứ lý do nào . Do đó ai bày thêm việc đặt tay trong trường hợp nào khác là hoàn toàn sai trái vì không có trong các Nghi Thức ( The RITES) của Giáo Hội ,và .Đây rõ ràng là sự sai trái phải tránh để tôn trọng các Nghi Thức chính thức và chánh đáng của Giáo Hội

Nghĩa là , tuyệt đối không có trường hợp nào khác đòi hỏi phải có nghi thức đặt tay. Phải nhấn mạnh điều này vì trong thực tế ở nhiều nơi trong các Giáo phận, người ta đã tự ý đặt ra nghi thức đật tay trong các lễ "Chửa lành " cho các bệnh nhân. Hay hội họp cầu nguyện để xin ơn Chúa Thánh Thần. . Trong các dịp này, linh mục chủ tế, đã đặt tay và mời mọi người có mặt tham dự cùng giơ tay trên các ứng viên hay bệnh nhân xin ơn chửa lành.!Đây rõ rệt là sự lạm dụng "Nghi thức đặt tay" trong các lễ gọi là lễ chữa lành cho các bệnh nhân ở nhiều nơi trước đây ở trong và ngoài Việt Nam. Sự lạm dụng sai trái này cũng đưa đến một ngộ nhận tai hại về ơn Chúa Thánh Thần ban cho ai tham dự "lễ chữa lành " của một số linh mục làm trò ảo thuật bằng cách đặt tay cho một số người té ngã và găn cho Chúa Thánh Thần đã gây ra hiện tượng "té ngã"này .. Hậu quả là những người không được "té ngã" đâm ra chán nản, thất vọng vì lầm tưởng Chúa Thánh Thần không thương đến họ nên họ không được " té ngã và nói ú ớ như một số người khác được " té ngã và nói lẩm nhảm" trong các buổi cầu xin ơn Thánh Linh. kia! .Một nhân chứng của các buổi đặt tay chữa lành này đã nói với tôi là linh mục kia đã lấy ngón tay trỏ và dí mạnh vào trán những người đến xin chữa lành đó nên một số người đã ngã vì mất thăng bằng và "té ngã" .Nhân chừng nói là anh đã đứng với hai chân hình chữ V nên khi linh mục kia dí tay vào trán anh ,anh không thể ngã được trong thế đứng đó. Như vậy việc té ngã xảy ra vì linh mục kia dí tay mạnh vào trán họ khiến ho mất thăng bằng và ngã ra phía sau !Những người té ngã này đã tự ý nói ú ớ hay lãm nhảm nhừng gì không ai hiểu được ! Họ nói mà không ai hiểu thì ích lợi gì cho người nghe ???Nhưng người tổ chức đã cho rằng những người được "té ngã và nói ú ớ " kia là được ơn Chúa Thánh Thần !
Tôi dám quả quyết là Chúa THánh Thần không bao giờ lại làm cho ai "té ngã" trong các buổi cầu nguyện chữa lành của một số người mê hoặc người khác về công hiệu của việc đặt tay xin ơn Chúa Thánh Thần" trong các lễ "gọi là chữa lành" của họ
.Giáo lý lành mạnh của Giáo Hội dạy rằng Chúa Thánh Thần đến với ai cầu xin Người thì Người ban cho những ơn cần thiết để giúp sông đức tin Kitô Giáo như ơn khôn ngoan, ơn hiểu biết, ơn can đảm , ơn biết lo liệu ơn yêu mến và kính sợ Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành.. Cụ thể ta đọc thấy trong Sách Tông Đồ Công vụ về ngày Lễ Ngũ Tuần thuật lại sự kiện Chúa Thánh Thần hiện xuông trên các Tông Đồ của Chúa Kitô đang cầu nguyện trong nhà đóng kin cửa. Bỗng họ nghe " tiếng động như tiếng gió mạnh ùa vào đầy cả căn nhà nơi họ đang tụ họp.Rồi họ thấy xuất hiện những hình lưỡi giống lưỡi lửa tản ra đậu xuống từng người một. Và ai nấy đều được tràn đầy ơn Thánh Thần.Họ bắt đầu nói các thứ tiếng khác ,tùy theo khả năng Thánh Thần ban cho," ( Cv 2 1-4)
Trên đây là bằng chứng cụ thể về việc Chúa Thánh Thần đến với các Tông Đồ của Chúa Kito trong Ngày Lễ Ngũ Tuần, như được tường thuật đầy đủ trong Sách Công Vụ Tông Đồ.Đoc kỹ tường thuật này chúng ta hoàn toàn không thấy Chúa Thánh Thần " xô cho ai té ngã và nói ú ớ" khi Người ngự đến với các Tông Đồ như người ta thấy biểu diễn trong các "lễ chửa lành , đặt tay xin ơn Chúa Thánh Thần". Phải nói đó là trò biểu diễn lố lăng của những người mượn danh Chúa Thánh Thần để quảng cáo sai lầm về công việc của Chúa Thánh Thần.Người là Thần chân lý và là Đấng ban sự sống nên Người đến với ai thì Người ban ơn thánh của Người cách êm ái dịu dàng chứ không bao giờ lại "xô cho ai té ngã và nói ú ớ " như người ta đã biểu diễn trong các buổi đặt tay chữa lành khiến cho một số người đã ""té ngã, nói ú ớ" . Vì có người được " té ngã" nên những ai không được té ngã thì buồn lòng vì nghĩ rằng mình không được ơn Chúa Thánh Thần !.Đây là sự ngộ nhận tai hại vì với đức tin lành mạnh, chúng ta phải tin vững chắc là Chúa Thánh Linh không bao giờ đến với ai thì người đó phải " té ngã và nói ú ớ " như những người được " ơn biểu diễn nói trên trong những buổi chữa lành ở nhiều nơi trước đây ở trong và ngoài nước.
Trong Giáo Hội từ xưa đến nay , không có bằng chứng nào hùng hồn về ơn Chúa Thánh Thần cụ thể hơn bằng chứng Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các Tông Đồ của Chúa Kitô trong Ngày Lễ Ngũ Tuần như ta đọc thấy trong Sách Tông Đồ Công Vụ.
Ơn nói "tiếng lạ " mà Chúa Thánh Thần ban cho các Tông Đồ không phải là những " tiếng ú ớ, lảm nhảm" mà là những ngôn ngữ của các dân đang sống ở Giêrusa-lem thời đó. .Chúa Thánh Thần ban ơn ngôn ngữ này cho các Tông Đồ của Chúa Giêsu là để giúp họ dù không đi học ngày nào mà tự nhiên nói thông thạo được các ngôn ngữ của các dân như " dân Pac-ti-a, Mê-đi-a, Ê-lam, Mê-xô-pô—ta-mia, Giu-đê, CA-pa-đô-kia, Ponto, và A-xi a... đến nỗi dân ở đây đã nói với nhau rằng " NHững người đang nói đó không phải là người Ga-lil-lêa cả ư ? tại sao mỗi người chúng ta lại nghe họ nói tiêng mẹ đẻ của chúng ta ?" ( Cv 2: 7-8) Điều này cho thấy là Chúa Thánh Thần đã ban ơn ngôn ngữ cho các Tông Đồ của Chúa Giêsu để giúp họ thi hành Sứ Vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa cho mọi dân mọi nước trong buổi ban đầu đó.Tiếng "lạ" mà họ nói đây không phải là những tiếng "ú ớ" không ai hiểu được ,như một số người dự các buổi "đặt tay chữa lành" đã được té ngã và nói tiếng la !
Nhưng sự kiện họ đước "té ngã và nói ú ớ" chắc chắn không phải là ơn Thánh Linh mà họ đã nhận được như những người tổ chức các buổi đặt tay chữa lành đã quảng cáo., sai lầm về ơn thánh của Chúa Thánh Thần,
Điều này hoàn toàn sai lầm về Chúa Thánh Thần và về ơn thánh Người ban cho ai chạy đến kêu cầu Người nâng đỡ ủi an. Do đó, Sự thật phải tin là khi Chúa Thánh Thần ngự đến với ai , thì Người ban ơn thánh hóa, an ủi và bình an cho người cầu xin chứ không bao giờ lại làm cho ai "té ngã và nói lảm nhảm " những gì không ai hiểu được . Họ nói mà không ai hiểu thì ích gì cho người nghe ??? còn việc họ đước "té ngã " thì chắc do một động cơ tâm sinh lý nào thúc đẩy chứ hoàn toàn không phải họ được ơn Chúa Thánh Thần , như người ta đã quảng cáo sai lầm về ơn của Chúa Thánh Thần. Chắc chắn là sai lầm vì Chúa Thánh Thần không bao giờ lại làm chuyện lạ đời là xô cho một số té ngã và nói ú ớ những gì không ai hiểu được ! Đây là sai lầm rât lớn về thần học và giáo lý lành mạnh của Giáo Hội, vì họ đã biến Chúa Thánh Thần thành người biểu diễn ảo thuật., thay vì tôn thờ Người là Thiiên Chúa Ngôi Ba, là Thần Chân lý và là Đấng ban sự Sống. Chúa ban ơn thánh của Người trong ba hoàn cảnh đặt tay, là khi cử hành ba bí tich Sức Dầu Bệnh Nhân, bí tích Thêm Sức , và sau hết là Bí Tích Truyền Chức Thánh để chọn các ứng viên làm Phó Tế, Linh mục và Giám mục trong Giáo Hội Công Giáo..Như thế, chỉ với ba Bí Tich này thì nghi thức đặ t tay mới được thực hiện cách hợp pháp theo Nghi Thức của Giáo Hội.mà thôi.
Ngoải ra , không có trường hợp hay hoàn cảnh nào đòi hỏi việc đặt tay xin ơn Chúa Thánh Thần nữa.
Trước đây Có những người đã tổ chức " lễ chửa lành Và đặt tay trên các bệnh nhân có mặt để xin ơn chữa lành của Chúa Thánh Linh.. Trong các dịp này, người chủ sự đã dặt tay và mời mọi người tham dự cùng giơ tay trên các bệnh nhân,.Kết quá có một số người đã " té ngã và nói ú ớ " những gì không ai hiểu được, và người đã gán cho Chúa Thánh Thần là nguyên nhân gây ra "sự té ngã và nói ú ớ" của một số người kia !!
Như vậy , những ai không được ""té ngã và nói ú ớ " thì không được ơn Chúa Thánh Linh hay sao ?? Sự thật phải tin ngược lại là Chúa Thánh Thần không bao giờ xô cho ai té ngã và nói lảm nhảm nhừng gì không ai hiểu được khi họ cầu xin ơn thánh của Người. Sự kiện rõ ràng nhất là việc Chúa Thánh Thần đã làm trong Ngày Lễ Ngũ Tuân" như Sách Công Vụ Tông Đồ đã thuật lại trên đây, theo đó, Chúa Thánh Thần đã dùng hình ảnh các lưỡi lửa đậu xuông trên các Tông Đồ của Chúa Kitô đang cầu nguyện trong căn nhà đóng kín cửa. Dịp này Chúa Thánh Thần đã ban ơn ngôn ngữ , ơn can đẩm . khôn ngoan và sức mạnh cho các Tông Đồ của Chúa iKitô để giúp họ thi hành sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Chúa cho mọi dân mọi nước trong buổi ban đầu đó. Tuyệt nhiên, Chúa Thánh Thần không làm cho Tông Đồ nào "é ngã và nói lảm nhãm" như những người đi dự các buổi đặt tay cầu xin ơn Thánh linh và được "té ngã " và nói Ú Ở những gì không ai hiểu được .
Ngược lại, ơn nói tiếng lạ mà Chúa Thánh Thần ban cho các Tông Đồ trong Ngày Lễ Ngũ Tuần là các ngôn ngữ của nhiều sắc dân khác nhau đang sống ở Gierusalem thời đó, chứ không phải là những tiếng " ú ớ lảm nhảm " của một số người đi dự các buổi cầu xin ơn Thánh Linh và được té ngã và nói ú ớ nhừng gì không ai hiểu được !
Rất may là những buổi cầu xin kia đã chấm dứt để không ai còn bị lừa dối về ơn Chúa Thánh Thần ban cho những ai chạy đến cầu xin Người. Từ đó, cũng không thấy tái diễn việc đặ tay để cầu xin ơn Chúa Thánh Linh nữa. Cầu xin Chúa Thanhs Thần là việc đạo đức rất quan trọng đáng khich lệ phải làm trong đời sống đức tin của mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Hội. Phải tin rằng Chúa Thánh Thần đến với ai thì Người ban ơn thánh của Người cách êm ái dịu dàng chứ không bao giờ lại được thể hiện bằng cách " xô cho ai té ngã và nói ú ớ những gì không ai hiểu được "
Mặt khác , liên quan đến việc đặt tay khi cầu nguyện thì Căn cứ vào Sách Nghi Thức ( RITES) được Công Đồng Vatcanô II duyệt lại và được Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI ký ban hành cho xử dụng trong toàn Giáo Hội , thì không hề có Nghi Thức Đặt tay nào ngoài ba trường hợp cử hành Bí Tich Sức Dầu Bệnh Nhân bí tích Thêm Sức và Bí Tích Truyền Chức Thánh, Như thế, ai bày ra lễ chữa lành với nghi thức đặt tay trên các ứng viên để gây ra hiện tượng "té ngã và nói ú ớ " là hoàn toàn giả tạo và .sai trái về ơn Chúa Thánh Linh ban cho một số người tham dụ "Lễ chữa lành" nói trên Nói sai trái vì không bao giờ Chúa Thánh Thần là nguyên nhân gây ra việc té ngã và nói ú ớ" cho một số người tham dự các lễ chữa lành đó.
Đức tin lành mạnh và Giáo lý của Giáo Hội dạy ta rằng Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý, là Đâng an ủi dịu dàng là sức mạnh của ai yếu đuối chạy đến kêu cầu Người nâng đỡ ủi an. Do đó, ơn thánh Người ban không bao giờ thể hiện cách lố lăng như xô cho ai té ngã và nói ú ớ những gì không ai hiểu được như người ta biểu diễn trong những "lễ chữa lành đặt tay cho một số té ngã và nói ú ớ, Người ta đã sai lầm tin và loan truyền rằng Chúa Thánh Thần là nguyên nhân gây ra hiện tượng " té ngã và nói ú ớ" của một số người dự các buổi đặt tay chữa lành của nhóm Thánh Linh nào đó.
Điều này hoàn toàn sai llẫm vì Chúa Thánh Linh đến với ai thì Người ban ơn thánh bình an, khôn ngoan và mạnh sức thiêng liêng cho người ấy chứ không bao giờ lại xô cho ai ngã và nói lảm nhảm những gì không ai hiểu được, như người ta trình diễn trong các buổi lễ "chữa lành và xin ơn Thánh Linh.trước đây.
Tôi cần phải nói lại điều này để giúp cho giáo dân hiểu đúng về Chúa Thánh Thần và ơn thánh của Người ban cho ai chạy đến kêu cầu Người. Mọi người tín hữu chúng ta đều rất cần ơn Chúa Thánh Thần để giúp ta vượt qua những khó khăn thử thách trong đời sống. thiêng liêng khi sống đức tin trên trần gian này . đặc biết trong thế giới tục hóa tôn thờ vật chất và lạc thú ( hedonism) vô luân hiện nay..


Tóm lại, Nghi Thức đặt tay để cầu xin ơn Chúa Thánh Thần chỉ được dùng khi cử hành ba Bí Tích Sức Dầu Bệnh Nhân, bí Tich Thêm Sức và Bí Tích Truyền Chức Thánh mà thôi.Do đó , không ai được phép xử dụng bừa bãi việc đặt tay để xin ơn Chúa Thánh Thần ngoài ba Bí Tích nói trên. .Không ai được tự ý bày ra nghi thức đặt tay trong trường hợp nào khác . Cầu xin Chúa Thánh Thần là việc đạo đức rất đáng khen và thực hành trong đời sống của mọi thành phần Dân Chúa trong Giáo Hội.NHưng nên nhớ là Chúa Thánh Thần không bao giờ đến với ai qua những sự kiện khác thường, lố lăng như xô cho ai té ngã và nói lảm nhảm những gì không ai hiểu được . Điều này hoàn toàn không phù hợp với đức tiin về Chúa Thánh Thần là Thần chân lý, là Đấng ban sự sồng và an ủi dịu dàng cho bất cứ ai thành tâm cầu xin Người .Nghĩa là Chúa Thánh Thần luôn lắng nghe mọi tín hữu cầu xin Người trong mọi hoàn cảnh. Người không đòi hỏi ai phải đặt tay trên kẻ khác khi cầu xin Người..Việc đăt tay chỉ đòi hỏi khi cử hành ba Bí Tich Sức Dầu Bệnh Nhân, bí tich Thêm Sức và nhất là Bí Tich Truyền Chức Thánh mà thôi.
Ưỡc mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.Amen
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

---------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 7 of 167