mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6316
mod_vvisit_counterHôm Qua12284
mod_vvisit_counterTuần Này48292
mod_vvisit_counterTuần Trước53544
mod_vvisit_counterTháng Này169509
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả7969907

We have: 310 guests online
Your IP: 54.204.129.35
 , 
Today: Mar 24, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 295 = GIAO HOI CAN THIET... PDF Print E-mail

GIÁO HỘI CẦN THIẾT CHO PHẦN RỖI CỦA CON NGƯỜI RA SAO ?
Hỏi:
Xin cha giải thích : nếu Chúa Giêsu đã chết để đền tội thay cho toàn thể nhân
loại rồi, thì con người đâu còn cần gì đến Giáo Hội nữa?
Trả lời:
Đúng, Chúa Giê-su Kitô đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho nhân loại.
Công nghiệp cứu chuộc này thật vô cùng quan trọng, quí giá và cần thiết, vì nếu
không có, thì tuyệt đối con người không ai thể làm được gì để xứng đáng được
cứu rỗi mà vào Nước Trời, sau khi phải chết đi trong thân xác có ngày phải chết đi
này.
Nhưng điều này không có nghĩa là tất cả mọi người đều đương nhiên được bảo
đảm phần rỗi của mình, vì Chúa Kitô đã chết để đền tội cho mọi người rồi , nên
không ai còn phải lo lắng gì về phần rỗi của mình nữa.
Trái lại, dù có công nghiệp cứu chuộc cực trọng của Chúa Cứu Thế Giêsu, mọi
người vẫn không đương nhiên ( automatically) được vào Nước Trời. Lý do là con
người còn có tự do ( free will) để nhận công nghiệp ấy hay khước từ để chọn con
đường khác mà hậu quả sẽ dẫn đưa đến hư mất đời đời.
Thật vậy, Thiên Chúa là tình thương và giầu lòng thương xót, là " Đấng cứu độ
chúng ta , Đấng muốn cho mọi gười được cứu độ và nhận biết chân lý."
( 1Tm2:4)
Nhưng đây chỉ là điều Chúa mong muốn , ví như nhà vua kia mở tiệc cưới cho
con mình và sai gia nhân đi mời khách khắp nơi đến dự tiệc. Nhưng có biết bao
người được mời đã viện lý do này, lý do khác để từ chối lời mời của nhà vua. (Mt
22: 1-8)
Củng tương tự như vậy, Thiên Chúa cũng mời gọi mọi người vào bàn tiệc Nước
Trời, đã dọn sẵn với " thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế" ( Is 25: 6).Nhưng có

có biết bao người đã viện đủ mọi lý do để từ chối tham dự. Nếu họ không muốn
tham dự, thì Chúa không thể bắt buộc họ phải vào dự tiệc được, vì Chúa còn phải
tôn trong ý muốn tự do ( free will) của mọi người.
Những người không muốn tham dự bàn tiệc Nước Trời gồm có:
- những kẻ đã và đang sống trong hận thù, đang cầm quyền cai trị; và để bảo vệ
ách thống trị của mình để bóc lột dân và để vơ vét của cải tiền bạc, làm giầu cho
bản thân và phe nhóm mình, nên họ đã giết hại hàng triệu dân lành vô tội hay
những người dám chống đối, đòi tự do dân chủ, tự do tín ngưỡng. Đây là thực
trạng ở các nước cộng sản độc tài còn lại trên thế giới.
- Đó là những kẻ nhân danh tôn giáo để tiêu diệt , chặt đầu những người chúng
cho là thù địch như bọn quá khích hồi giáo ( ISIS) đang làm ở Syria, Irak, Iran và
Afghanistan
-đó là những kẻ gian tham, gian manh lũng đoạn thị trường dầu hỏa và chứng
khoán thế giới để vơ vết của cải làm giầu cho tập đoàn tài phiệt vô lương tâm, bất
kể hậu tai hại cho đa số người lao động và tiêu thụ trên toàn thế giới.
-đó là tập đoàn tài phiệt buôn bán súng đạn ở Mỹ,(RNA) đã dùng tiền để mua
chuộc các nhà lập pháp và hành pháp để độc quyền tiếp tục buôn bán súng đạn
bất chấp hậu quả là có biết bao người dân vô tội đã bị giết oan vì những kẻ có
súng đạn.
-đó là những kẻ đang hành nghề phá thai, ủng hộ phá thai và buôn bán các bào thai
bị giết, núp dưới danh nghĩa "pro- choice" và danh xưng Planned Parenthood ở
Mỹ, kể cả bọn dung dưỡng cho chúng hành nghề vô luân vô đạo này.
-Đó là những kẻ đang buôn người , buôn bán phụ nữ và bắt cóc trẻ nữ để cung
cấp cho bọn ma cô tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và vô lương
tâm ở khắp nơi trong thế giới tục hóa này.Tất cả bọn buôn và bám dâm đều đáng
bị lên án về tội ô uế ,vô luân của chúng.
-Sau hết, đó là những Kitô hữu đã gia nhập Giáo Hội qua Phép Rửa, nhưng nay đã
chối bỏ đức tin để chậy theo những lôi cuốn của thế gian tục hóa về tiền bạc, hư
danh trần thế, và những vui thú vô luân vô đạo, khiến không còn muốn sống đức
tin, muốn đi lễ, cầu nguyện và xưng tội, rước lễ nữa.!
Nếu những thành phần trên đây không kíp từ bỏ những con đường đang đi để sám
hối ăn năn thay đổi kip thời , thì chắc chắn công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô
sẽ trở nên vô ích cho họ.Và cho dù Chúa Kitô đã chết một lần trên thập giá, hay có
chết thêm nhiều lần nữa, thì cũng không giúp ích gì cho những kẻ cứ lợi dụng tình
thương và công nghiệp của Chúa để phạm tội, làm những sự dữ mà không biết ăn
năn từ bỏ để xin tha thứ.
Chúa Kitô chết một lần trên thập giá xưa đủ để đền tội cho con người, những
điều này không hề có nghĩa là mọi người không còn phải làm gì nữa và đương
nhiên được vào Nước Trời sau khi chết.
Nếu thế, thi Chúa Giêsu đã không nói những lời sau đây với các môn đệ Người:
" không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa !, Lậy Chúa ! là được vào
Nước Trời cả đâu, mà chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên
Trời mới được vào mà thôi." ( t 7:21)
Chúa nói như trên trước hết có nghĩa là con người , muôn được cứu rỗi, thì phải
cậy nhờ lòng thương xót của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa
Con là Chúa Giê su-Kitô, "Đấng đã hy sinh mạng sống làm giá chuộc cho muôn
người" ( Mt20:28)
Tiếp đến, phải cộng tác vào tình thương và công nghiệp cứu chuộc nói trên bằng
quyết tâm sống theo đường lối của Thiên Chúa và bước đi theo Chúa Kitô là "con
Đường, là sự Thật và là sự Sống." như Chúa nói với môn đệ Tô-ma xưa. ( Ga
14:6).Sống theo đường lối của Chúa và bước đi theo Chúa Kitô thì không thể thỏa
hiệp với thế gian và đầu hàng ma quỷ để làm những sự dữ như thù hận, giết người,
giết thai nhi, gian manh,trộm cướp, bóc lột, bất công bạo tàn, dâm ô thác loạn, tôn
thờ tiền của và dửng dưng trước sự nghèo đói đau khổ của người khác...
Không sống theo thế gian để làm những sự dữ nói trên chính là cách cụ thể để
chứng minh thiện chí muốn thi hành ý muốn của Cha trên trời để được cứu độ mà
vào Thiên Quốc sau khi chấm dứt hành trình con người trên trần thế này.
Cho mục đích đó, người tín hữu Chúa Kitô phải cần đến Giáo Hội là phương tiện
cứu rỗi cần thiết mà Chúa Kitô đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ để chuyên chở
ơn cứu độ của Người đến với hết mọi người,không phân biệt mầu da, tiếng nói và
văn hóa ở khắp mọi nơi trên trần thế cho đến ngày mãn thời gian.

Giáo Hội mà Chúa Kitô đã thiết lập trên Đá Tảng Phêrô là Giáo Hội duy nhất" và
Giáo Hội này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các
giám mục hiệp thông với ngài điều khiển." (x, LG số 8)
Giáo Hội có đủ các Bí Tích cần thiết để thông ban ơn cứu độ của Chúa cho những
ai muốn lãnh nhận để vào Nước Trời.
Cụ thể, Chúa Giê su nói với các môn đệ và dân Do Thái xưa như sau
" Ta là bánh hằng sống từ trời xuống
Ai ăn bánh này . sẽ được sống muôn đời
Vì bánh Ta sẽ ban tặng
Chính là thit Ta đây
Để cho thế gian được sống
.....................................

"Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta
Thì được sống muôn đời
Và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết".(Ga 6:51,54)

Nhưng ở đâu có Bánh đó để mà ăn ?
Câu trả lời đúng nhất là Chúa Giê su đã thiết lập Bí Tích Thánh Thể trong Bữa ăn
sau cùng của Người với Nhóm Mười Hai Tông Đồ. Chúa đã cầm bánh và
chén rượu nho dâng lời cảm tạ Chúa Cha, làm phép và trao cho các Tông Đồ
hiên diện và nói : anh em cầm lấy mà ăn,vì đây là Mình Thẫy
Chúa lại trao Chến rượu cho các ông và nói : anh em cầm lấy mà uống
Đây là chén máu Thầy ( Lc 22: 19-20; 1Cor 11: 23- 26)

LM NGÔ TÔN HUẤN

 
HOC HOI DE SONG DAO # 294= KINH CAU CAC THANH PDF Print E-mail

Vài nét về kinh Cầu Các Thánh

Vài nét về kinh Cầu Các Thánh
Trong Hội Thánh, có tới khoảng 190 Kinh Cầu khác nhau. Tuy vậy, chỉ có 5 Kinh Cầu được sử dụng phổ biến hơn cả. Đó là: Kinh Cầu Loreta (còn gọi là Kinh Cầu Đức Bà); Kinh Cầu Thánh Danh; Kinh Cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu; Kinh Cầu Ông Thánh Giuse; Kinh Cầu Các Thánh. Trong số này, Kinh Cầu Các Thánh được xem là lời kinh cổ xưa nhất, long trọng nhất và là kiểu mẫu cho các kinh cầu khác.

Trong Hội Thánh, có tới khoảng 190 Kinh Cầu khác nhau. Tuy vậy, chỉ có 5 Kinh Cầu được sử dụng phổ biến hơn cả. Đó là: Kinh Cầu Loreta (còn gọi là Kinh Cầu Đức Bà); Kinh Cầu Thánh Danh; Kinh Cầu Trái Tim Đức Chúa Giêsu; Kinh Cầu Ông Thánh Giuse; Kinh Cầu Các Thánh. Trong số này, Kinh Cầu Các Thánh được xem là lời kinh cổ xưa nhất, long trọng nhất và là kiểu mẫu cho các kinh cầu khác.

Gọi là "Kinh Cầu Các Thánh" bởi vì kinh nguyện này gồm những lời khẩn cầu một số các thánh cũng như Đức Mẹ Maria - Nữ vương các thánh. Thật ra, chúng ta không cầu xin các thánh. Chúng ta chỉ xin các thánh chuyển cầu cho chúng ta trước mặt Chúa. Điều này diễn tả lòng tin cậy của Giáo hội vào sự chuyển cầu của các thánh. Đây là sự hiệp thông vốn kết hợp Giáo hội của Giêrusalem trên trời với Giáo hội lữ hành dưới thế.1

I. LỊCH SỬ

Chúng ta không rõ Kinh Cầu Các Thánh được ai soạn ra và soạn ra khi nào. Chỉ biết rằng, bên Đông phương, Kinh Cầu Các Thánh đã được hát lên ngay từ thế kỷ III (năm 270). Bên Tây phương, năm 590, Đức Giáo Hoàng Grêgôriô Cả (540-604) yêu cầu hát kinh này trong cuộc rước công khai để xin Thiên Chúa chấm dứt cơn dịch tàn phá Rôma. Ngài cũng quy định hát Kinh Cầu Các Thánh vào ngày 25 tháng Tư trong nghi thức Cầu mùa. Quãng đầu thế kỷ VII, bản văn Kinh Cầu Các Thánh rất ngắn: chỉ vỏn vẹn kêu cầu Đức Kitô, Đức Trinh nữ Maria, 4 Thánh tông đồ (Phêrô, Phaolô, Anrê, Giacôbê) và 2 Thánh tử đạo (Stêphanô và Lôrensô).
Kinh cầu các thánh được cất lên trong thánh lễ truyền chức

Thời gian trước Công đồng Vatican II, theo sách Nghi thức Rôma và Sách lễ Rôma, Kinh Cầu Các Thánh được sử dụng khi đi rước và trong một số nghi lễ.2

Hiện nay, như được quy định trong Lịch Phụng vụ Rôma (21-03-1969), Bộ Phụng tự duy trì hai phiên bản Kinh Cầu Các Thánh để sử dụng cho những trường hợp khác nhau:

1) Phiên bản dài: sử dụng trong trường hợp cầu khẩn trọng thể và đi rước như hát trong dịp Cầu mùa; cuộc rước kiệu trong mùa Chay; hay khi di chuyển thi thể người quá cố từ nhà tư đến thánh đường.

2) Phiên bản ngắn: sử dụng trong các trường hợp làm phép trọng thể và thánh hiến diễn ra trong thánh lễ: nghi thức làm phép nước Thánh Tẩy trong đêm Vọng Phục Sinh; nghi thức phong chức giám mục, linh mục và phó tế;3 nghi thức chúc phong viện phụ hay viện mẫu;4 nghi thức khấn dòng, thánh hiến trinh nữ;5

Ngoài ra, chúng ta còn có phiên bản cực ngắn, nghĩa là bản văn được bỏ đi nhiều phần cho thật đơn giản nhằm mục đích sử dụng khi: cử hành Bí tích Thánh Tẩy cho trẻ em;6 phó linh hồn cho người mới qua đời;7

Kinh Cầu Các Thánh còn được hát đang khi đoàn rước các ĐHY tiến vào nhà nguyện Sistine tham dự mật nghị Hồng y bầu Đức Giáo Hoàng; trong nghi lễ phong thánh; khi nhập lễ mừng kính Các Thánh Nam Nữ (01 tháng 11). Vào ngày 20 tháng Hai năm 1988, Bộ Phụng tự Thánh đề nghị sử dụng Kinh Cầu Các Thánh khi bắt đầu thánh lễ Chúa nhật thứ I mùa Chay nhằm tạo thêm một dấu khác biệt cho mùa này.8

II. CẤU TRÚC

Cấu trúc của Kinh Cầu Các Thánh như sau (theo bản Kinh Cầu Các Thánh mới):

1) Khẩn cầu Thiên Chúa Ba Ngôi (cộng đoàn đáp: Xin Chúa thương xót chúng con)

2) Khẩn cầu các Thánh (cộng đoàn đáp: Xin cầu cho chúng con)

3) Kêu cầu Đức Kitô. Phần này chia thành hai nhóm: i] Nhóm I: cầu xin được giải thoát khỏi những điều tiêu cực như: sự dữ; tội lỗi; án chết đời đời (cộng đoàn đáp: "Xin Chúa cứu chữa chúng con"), ii] Nhóm II: nài xin được giải thoát nhờ những biến cố trong cuộc đời cứu độ của Chúa Giêsu: giáng sinh, chịu chết và sống lại; đổ ơn Chúa Thánh Thần xuống (cộng đoàn đáp: "Xin Chúa cứu chữa chúng con" hoặc là "Xin Chúa giải thoát chúng con")

4) Những lời chuyển cầu cho những nhu cầu khác nhau (cộng đoàn đáp: "Xin Chúa nghe lời chúng con" hoặc "Xin Chúa nghe cho chúng con")

5) Những lời nguyện kết thúc.

----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 293 =LOI CHUA CN17TN-C PDF Print E-mail

Chủ Nhật 17 Thường Niên, Năm C

HỌC HỎI  ĐỂ SỐNG ĐẠO - Bài đọc: Gen 18:20-32; Col 2:12-14; Lk 11:1-13.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Abraham cầu xin cho dân thành Sodom.

1.1/ Trách nhiệm hỗ tương giữa người và người trong điều thiện cũng như trong tội lỗi:

Đây là một trong những trình thuật viết bởi truyền thống J: gọi Thiên Chúa là Jahveh và mô tả sự thân mật giữa Thiên Chúa và con người. Tuy là Thiên Chúa, nhưng vì tình bạn đối với Abraham, Ngài muốn tỏ cho Abraham biết những gì Ngài sắp làm.

Hai đặc tính quan trọng của Thiên Chúa là công bằng và nhân từ. Nhiều người, trong đó có tác giả của Sách Sáng Thế Ký và Abraham, thắc mắc: đặc tính nào Thiên Chúa sẽ dùng để xét xử và luận phạt con người? Ông Abraham muốn xin Thiên Chúa thương xót và tha thứ cho dân thành Sodom, nên ông tiến lại gần lại gần Ngài và thưa: "Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao? Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao? ... Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu! Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao?"

Qua lời van xin của Abraham, tác giả của Sách muốn nhấn mạnh tội lỗi và sự thánh thiện không chỉ có tính cá nhân, mà còn mang tính cộng đồng: một người làm lành mọi người đều hưởng; một người làm ác mọi người đều phải chịu lây. Thiên Chúa cũng đồng ý như vậy khi Ngài chấp nhận lời khẩn cầu đầu tiên của Abraham.

1.2/ Thiên Chúa công bằng và nhân từ trong việc luận phạt.

Abraham muốn khêu gợi lòng nhân từ của Thiên Chúa, vì sự thiện của một nhóm người, để xin Thiên Chúa ân xá cho dân thành Sodom, trong đó có cháu của ông là Lot và gia đình của ông này. Abraham thương lượng với Thiên Chúa: bắt đầu từ 50 và giảm dần cho tới 10, nhưng ông không thể giảm tới con số nhỏ hơn 10. Vì thế, Sodom đã bị tiêu diệt bởi lửa diêm sinh từ trời, chỉ có ông Lot và gia đình của ông thoát nạn.

Đâu là tiêu chuẩn Thiên Chúa dùng để phán xét và luận phạt con người? Mặc dù không tìm được câu trả lời rõ ràng; nhưng tác giả cho thấy cách phán xét của Thiên Chúa: không quá khắt khe đến độ không thể cầu nguyện hay thương lượng cho được và cũng không quá dễ dàng đến độ hễ cầu xin là được nhận lời.

2/ Bài đọc II: Đức Kitô là người bầu chủ cho chúng ta trước Thiên Chúa.

2.1/ Bí tích Rửa Tội hoàn hảo hơn phép cắt bì.

Nhiều người Do-thái tin tưởng phép cắt bì là dấu họ thuộc về Thiên Chúa, là dân riêng của Ngài. Tuy nhiên, nhiều ngôn sứ đã đả phá quan niệm này và chứng minh việc cắt bì xác thịt không đủ để Thiên Chúa bảo vệ. Họ phải cắt bì cả đôi tai để lắng nghe lời Thiên Chúa, và cắt bì cả lòng trí để vâng phục và làm theo ý của Ngài.

Thánh Phaolô nhắc nhở cho các tín hữu Colossê sự quan trọng của bí tích Rửa Tội: "Trước kia, anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã, và vì thân xác anh em không được cắt bì, nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Kitô: Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta."

Thần học của thánh Phaolô về bí tích Rửa Tội giải thích: khi một tín hữu bị dìm mình trong nước Rửa Tội, mọi tội lỗi của người đó bị cuốn trôi đi vì cái chết và mai táng của Đức Kitô; để khi trồi lên khỏi nước, họ là một con người mới trong Đức Kitô. Họ cùng được trỗi dậy và cùng sống với Ngài. Sự sống của người tín hữu từ nay gắn liền với sự sống của Đức Kitô, đến nỗi họ có thể thốt lên như thánh Phaolô: "Từ nay tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi." Qua cái chết của Đức Kitô, Thiên Chúa đã xóa bỏ mọi tội lỗi cho con người, và nhờ đó, con người được hòa giải với Thiên Chúa.

2.2/ Người đã huỷ bỏ sổ nợ của chúng ta đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá.

Sổ nợ (cheirógraphon) là chữ chỉ được dùng một lần ở đây trong toàn Tân Ước. Danh từ này có nghĩa là những gì viết bằng tay trên giấy trắng mực đen. Trong thương mại, nó có nghĩa là những gì một người có bổn phận phải trả cho chủ nợ. Trong Lề Luật, nó có nghĩa là những tội lỗi của một người.

Con người đã nợ Thiên Chúa rất nhiều về mọi phương diện. Ở đây, thánh Phaolô có lẽ muốn nhấn mạnh đến sổ nợ của con người theo Lề Luật. Mỗi lần con người không thi hành Luật, con người phạm một tội, hậu quả của tội nặng và cố tình là sự chết. Cái chết là hình phạt của sự không vâng phục (Gen 2:17; Deut 30:19). Nếu xét như thế, mỗi người đã phải chết bao nhiêu lần rồi!

Trong Thư Rôma, thánh Phaolô giải thích rõ ràng hơn làm thế nào Đức Kitô giải thoát con người khỏi Lề Luật, tội lỗi, và sự chết (Rom 6-8). Trong Ephesians 2:15, Phaolô cũng cắt nghĩa lý do của sổ nợ là những Lề Luật. Tất cả sổ nợ của con người bị hủy diệt đi, khi Đức Kitô đại diện cho toàn thể nhân loại, gánh mọi hình phạt của tội trên Ngài, khi Ngài tình nguyện đóng đinh vào Thập Giá.

3/ Phúc Âm: Chúa Giêsu dạy các môn đệ cách cầu nguyện và thái độ phải có.

3.1/ Lời cầu nguyện lý tưởng nhất: Con người không biết cách cầu nguyện làm sao cho đúng, vì điều cần cầu xin nhất lại không cầu xin, mà chỉ chú tâm đến điều phụ thuộc; hay cầu xin những gì không có lợi cho mình trong tương lai, chẳng hạn xin giầu có hay chức tước, để rồi dần dần lún sâu trong tội và sống xa Chúa.

Khi các môn đệ xin Chúa Giêsu dạy cho biết cách cầu nguyện, Ngài dạy cho các ông Kinh Lạy Cha. Kinh này được Giáo Hội coi là kinh quan trọng nhất, vì nó phát xuất từ Đức Kitô, Đấng duy nhất biết và thi hành trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa.

Có hai sự khác biệt giữa kinh Lạy Cha của Luke và Matthew: Thứ nhất, trình thuật của Luke thiếu câu "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời." Thứ hai, trình thuật của Luke cũng thiếu câu "xin cứu chữa chúng con khỏi sự dữ."

Cả hai trình thuật đều đặt sự quan trọng của việc cầu xin cho Danh Chúa được cả sáng và Nước Chúa được trị đến, trước khi hướng tới những nhu cầu căn bản của con người. Lương thực hằng ngày, sự tha thứ, và sức mạnh để vượt qua mọi cơn cám dỗ là ba điều quan trọng trong đời sống thường nhật của một Kitô hữu.

3.2/ Thái độ phải có khi cầu nguyện

(1) Kiên trì: Ví dụ Chúa Giêsu đưa ra có mục đích đòi hỏi con người phải có thái độ kiên khi cầu nguyện. Truyền thống Do-thái rất hiếu khách, nhất là những khách từ xa tới. Người kêu xin bị đặt trong thế kẹt: một là chịu thất lễ với khách, hai là chịu làm phiền hàng xóm, anh đã chọn giải pháp thứ hai để bảo vệ sự sống cho người bạn mình.

Nhà của người Do-thái ngày xưa không rộng mà nhân số trong nhà lại đông, nên cả gia đình thường ngủ chung dưới sàn trên chăn chiếu. Vì thế, nếu một người phải thức và ra mở cửa sẽ làm cho những người khác phải thức theo. Đó là lý do người hàng xóm từ chối lúc đầu; nhưng khi anh bạn có khách cứ gõ và nói mãi, anh phải chỗi dậy lấy bánh cho mượn, không phải vì tình bạn; nhưng vì sự lỳ lợm của anh. Lúc này, chắc những người trong gia đình đang ngủ chung cũng đã thức dậy hết!

(2) Tin tưởng: Thái độ này còn quan trọng hơn cả thái độ kiên trì, vì nó là động lực giúp con người chạy đến với Thiên Chúa. Hầu như trong tất cả các phép lạ, Chúa Giêsu chỉ làm khi Ngài nhận thấy có dấu chỉ của niềm tin. Ngài từ chối không làm bất cứ phép lạ nào khi chỉ thấy sự cứng lòng hay thử thách.

Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ so sánh người Cha trên trời với các người cha dưới đất: "Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?"

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta có bổn phận cầu xin Thiên Chúa cho những người tội lỗi được ăn năn trở lại, vì đó là điều đẹp lòng Thiên Chúa.

- Đức Kitô là căn nguyên của tha thứ, hòa giải, và mọi ơn lành. Để lời cầu nguyện chúng ta được Thiên Chúa lắng nghe, chúng ta phải cầu xin nhờ danh và công nghiệp của Ngài.

- Để lời cầu nguyện có hiệu quả, chúng ta cần có thái độ tin tưởng và kiên trì nơi Thiên Chúa. Chúng ta cứ việc cầu xin mọi sự đẹp ý Thiên Chúa, nhưng phải sẵn lòng để chấp nhận thánh ý của Ngài.
Kính Chuyển:
Hồng
-----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO #292= DUC TIN KHONG VIEC LAM PDF Print E-mail

TẠI SAO ĐỨC TIN KHÔNG CÓ VIỆC LÀM LÀ ĐỨC TIN CHẾT ?
Hỏi: xin cha giải thích rõ thêm thế nào là có đức tin và phải sống đức tin ấy ra sao trong
thực tế để mưu phần rỗi cho mình ?
Trả lời :
Đức tin là quà tặng nhưng không ( gratuitous gift) mà Thiên Chúa ban cho con người để giúp
con người nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa toàn năng, là Cha đầy lòng yêu
thương, tha thứ và cứu chuộc con người nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su-Kitô
Nhưng có đức tin thì phải sống đức tin ấy cách xứng hợp, thì mới mong hưởng nhờ những ơn
ich thiêng liêng của đức tin.Sống xứng hợp có nghĩa phải thể hiện hay chứng minh đức tin bằng
hành động cụ thể trong đời sống của mỗi người tín hữu, căn cứ theo lời dạy sau đây của Thánh
Giacôbê Tông Đồ : " đức tin không có việc làm là đức tin chết" ( Gc2: 17)
Thật vậy, đức tin phải được chứng minh cụ thể bằng việc làm, chứ không thể nói suông ngoài
môi miệng được. Ông Abraham, Tổ Phụ của dân Do Thái, đã nêu gương sáng chói về đức tin qua
việc làm cụ thể của ông.. Ông chỉ có một người con trai duy nhất là Ísaac. Vậy mà một ngày kia
Thiên Chúa đã thử thách đức tin và lòng mến Chúa của ông bằng cách đòi ông hiến dâng con
mình làm lễ tòan thiêu dâng lên Chúa. Chắc ông phải buồn lòng lắm, vì ông chỉ có một con trai
duy nhất trong tuổi già. Nhưng đức tin và lòng mến Chúa của ông còn lớn hơn lòng thương yêu
con một của mình. Nên ông đã quyết định hy sinh con mình cho Chúa để chứng minh lòng tin và
yêu mến Chúa của ông.
Để thực hiện lòng vâng phục Thiên Chúa, ông đã dẫn con mình lên núi, thiếp lập bàn thờ và trói
con lại, đặt lên bàn đó và giơ dao lên định chém cổ con mình, thì Thiên Thần Chúa đã kip thời
can thiệp, sai Sứ Thần đến để cứu mang sống của Isaac. Sau đó Thiên Chúa đã phán bảo ông
qua miệng Sứ Thần như sau:
:"bởi vì ngươi dám làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta
sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao
trên bầu trời , như cát ngoài bãi biển ...mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được
phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta." ( St 22: 15-18)
Abraham đã đẹp lòng Chúa vì dám hy sinh con mình cho Chúa. Vì thế ông đã trở thành cha của
những kẻ có niêm tin Chúa bằng hành động cụ thể. Các Thánh tử Đạo từ xưa đến nay cũng là
những người dám hy sinh mạng sống mình để tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô, dù phải chịu
muôn vàn khốn khó và cực hình bởi tay những kẻ bách hai đức tin Ki tô Giáo.
Chúng ta không được phúc chết cho niềm tin như các anh hủng tử đạo, nhưng vẫn có thể sống
đức tin bằng hành động tuân giữ các giới răn của Chúa căn cứ trên lời dạy của Thánh Gioan
Tông Đồ như sau:
" Nếu ai giữ các giới răn của Thiên Chúa
thì đó là dấu chỉ chúng ta đã nhận biết Thiên Chúa
Ai nói rằng mình biết Chúa mà không giữ các điều răn của Chúa
đó là kẻ nói dối, và chân lý không có trong kẻ ấy." ( 1Ga 2: 3-4)
Điều răn của Chúa là những điều gì ?
Đó là không được gian tham, trộm cắp, căm thù, giết người,giết thai nhi, li dị, gian dâm, thay vợ
đổi chồng, ham mê của cải vật chất, làm chứng gian, bóc lột người khác, dâm ô thác loan, và
dửng dưng trước sự nghèo đói, đau khổ của anh chị em đồng loại..
Cứ nhìn vào thực trạng sống của con người trên khắp thế gian tục hóa ngày nay thì đủ biết ai
đang tuân giứ các Điều răn của Chúa và ai đang ngoảnh mặt làm ngơ và chà đạp lên những gì
Thiên Chúa muốn con người phải làm để mặc sức sống theo ý muốn của riêng mình, chay theo
thế gian vô luân, vô đao, và làm nô lệ cho ma quỷ khiến mất hy vọng được cứu rỗi, nhờ công
nghiệp cứu chuộc cực trọng của Chúa Kitô " Đấng đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc
cho muôn người." ( Mt 20:28)
Chúa Kitô đến trần gian như ánh sáng để đánh tan bóng đen của tội lỗi và mọi sự dữ, và soi sáng
cho những ai đang ngồi trong đêm tối của tử thần để giúp họ thoát ra khỏi bóng đen của sự chết
như Chúa đã nói với các môn đệ Người và dân Do Thái xưa kia:
"Ta là ánh Sáng đến thế gian
Để bất cứ ai tin vào Ta
Thì không ở lại trong bóng tối." (Ga 12: 46)
Nhờ đức tin soi dẫn để đưa chúng ta ra khỏi bóng tối, trước hết có nghĩa là phải đoạn tuyệt với
tội lỗi vì "tội lỗi gây nên sự chết, như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người vì một người đã
phạm tội" như Thánh Phaolô đã quả quyết. (Rm 5: 12). Bóng tối là nơi trú ẩn của mọi sự dữ,
sự gian tà, dâm đãng ô uế; và ma quỷ, kẻ thù của chúng ta, đang ẩn mình ở nơi đây để không
ngừng lôi kéo con người ra khỏi tình thương của Chúa để làm nô lệ cho chúng khiến mất ơn
nghĩa với Chúa và mất hy vọng được sống đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Ánh sáng đức tin là chính Chúa Kitô soi đường cho người có niềm tin bước đi theo Chúa là "
Con Đường, là sự Thật và là sự Sống" ( Ga 14:6)Ánh Sáng đó hướng dẫn con người đi trong
chân lý, trong đường ngay lành, lương thiện, để không làm những gì trái nghịch với đường lối
của Thiên Chúa khiến mất hy vọng được cứu rỗi. Nói khác đi, phải quyết tâm sống theo đường
lối của Chúa, xa tránh mọi sự dữ, sự tội để sống xứng đáng là người có niềm tin và thể hiện niềm
tin ấy từ trong tâm hồn ra ngoài hành động cụ thể trước mặt bao người không có hay chưa có đức
tin để:
"họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên
trời." (Mt 5: 16).
Thật vậy, cứ nhìn vào thực trạng con người đang sống ở khắp nơi trên thế giới ngày nay cũng đủ
cho ta thấy lằn ranh của ánh sáng đức tin và bóng tối của sự dữ, sự chết đang bao phủ biết bao
người sống trong đó.
Nếu ánh sáng đức tin đã soi dẫn cho những nhà truyền giáo quên thân mình để hy sinh đi mở
mang Nước Chúa ở các nơi xa xôi và nguy hiểm bên Phi Châu, Nam Mỹ và A Châu, thì ngược
lại bóng đen của sự dữ đang che mắt và lèo lái biết bao người khiến họ mù lòa không còn nhìn
rõ lan ranh giữa sự thiện và sự dữ, giữa sự sống và sự chết
Đó là những kẻ đang giết người vì tiền, vì cuồng tín ( bọn cuồng tín Hồi Giáo ISIS đang gây
thánh chiến Jihad để tiêu diệt các tôn giáo khác nhân danh Thượng Đế của chúng), hay vì muốn
bám lấy địa vi cai trị độc ác của mình nên đã ra tay sát hại bao trăm ngàn người đòi hỏi công
lý, dân chủ và tự do.ở nhiều nơi trên thế giới.
Đó là những kẻ đang giết chết hàng triệu thai nhi mỗi ngày trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Trung
Hoa lục địa, nơi trẻ nữ đã bị sát hại từ bao thế kỷ trước kia vì quan niệm trọng nam khinh nữ và
nay vì chính sách "một hay con cho mỗi gia đình" của nhà cầm quyền cộng sản.
Đó là những kẻ đang buôn bán phụ nữ và bắt cóc trẻ gái để bán cho bọn bất lương hành nghề
mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay. Sau cùng,
đó là những kẻ gian manh, trộm cướp, mở sòng cờ bạc, nhà điếm, sản xuất phim ảnh khiêu dâm
đồi trụy, trồng và bán các loại cần sa ma túy để làm giầu nhờ buôn bán các sản phẩm nguy hại
cho thể xác và đồi trụy tinh thần con người, đặc biệt là giới trẻ ở khắp nơi.
Tất cả những loại người trên đây đã và đang sống trong bóng đêm của sự chết, sự hư mất đời đời
nên cần được ánh sáng đức tin và Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô soi chiếu và giải thoát cho ra
khỏi bóng đêm đáng ghê sợ đó..
Nhưng bằng cách nào?
Đây là câu hỏi đặt ra cho mỗi người tín hữu chúng ta, những người có diễm phúc đã được biết
Chúa Kitô là chính Tin Mừng và là Ánh Sáng chiếu soi, nên có bổn phận và trách nhiệm
đem ánh sáng ấy chiếu vào những nơi tối tăm, sình lầy, nhơ uế của tục hóa, vô thần và vô luân
đang bao phủ và mê hoặc biết bao triệu người ở khắp nơi trên thế giới ngày nay.
Đây chính là trách nhiệm "phúc âm hóa môi trường sống" của người tín hữu Chúa Kitô bằng
đời sống chứng nhân của mình ở giữa những người chưa biết Chúa và đang bị bóng đêm của sự
chết bao phủ.
Thi hành vai trò chứng nhân nói trên đòi hỏi mọi tín hữu trong Giáo Hội – từ hàng Giáo Phẩm,
giáo sí, tu sĩ và giáo dân – trước hết phải thực sự sống Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô, để
minh chứng đức tin thực sự của mình. Đặc biết, hàng giáo sĩ- giám mục và linh mục- phải nêu
gương khó nghèo của Phúc Âm để không đôn đáo chay ra nước ngoài kiếm tiền cho nhưng nhu
cầu bất tận, trong đó có lòng tham mê tiền của của chính mình. Đặc biệt, không được tự hạ mình
để xưng "con hay em" khi tiếp xúc với giáo dân ở ngoại quốc để mong họ cho nhiều tiền như có
người đã làm ở Mỹ và ÚC.
Nếu sống phản chứng hay mâu thuẫn với niềm tin, thì sẽ không thuyết phục được ai tin những
gì mình muốn rao giảng cho họ, vì không ai có thể cho người khác cái mà chính mình không có.
Cụ thể, nếu mình rao giảng tinh thần nghèo khó, và khinh chê hư danh trần thế của Phúc Âm,
nhưng chính bản thân mình lại chạy theo thế quyền, ham mê tiền của, hơn là hăng say rao giảng
và làm chứng cho Tin Mừng thì làm sao có thể thuyết phục được ai tin và sống điều mình giảng
dạy nữa?
Nếu lời nói không đi đôi với việc làm thì không thể làm nhân chứng cho bất cứ điều gì được, vì
"Ai tin vào Con Thiên Chúa, thì có lời chứng ấy nơi mình
Ai không tin Chúa, thì coi Chúa là kẻ nói dối
Vì kẻ ấy không tin vào lời Thiên Chúa
Để làm chứng tá về Con của Người." (1 Ga: 5: 10)
Như thế, thật vô cùng cần thiết phải sống đức tin cách cụ thể để mời gọi người chưa có đức tin
được nhận biết có Chúa Kitô đang sống và hoạt động nơi mình để từ đó đời sống và lời rao
giảng của mình sẽ có sức thuyết phục người khác.
Cụ thể, nếu người Công giáo, người Tin hữu Chúa Kitô mà cũng ăn gian nói dối, lường đảo, hận
thù, thay chồng đổi vợ, bất công và thờ ơ với người nghèo khó, thì làm sao có thể thuyết phục
được ai tin có Chúa là Đấng nhân từ, công chính, yêu thương, nhịn nhục và tha thứ? Đó là lý
do tại sao Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã khuyên dạy như sau:
"Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động thì nào có ích gì?
....Thật thế, một thân xác không hơi thở là một xác chết. Cũng vậy, đức tin không có
hành động là đức tin chết.' (Gc 2: 14, 26)
Hành động mà thánh Gia-cô-bê nói trên đây là chính đời sống nhân chứng của người có niềm
tin nơi Chúa trước mặt ngưởi khác để họ thấy chiếu sáng qua đời sống của mình những giá trị
của Tin Mừng về công bằng, nhân ái, lương thiện, nhịn nhục và tha thứ đối nghịch với bất
công, gian ác, bất lương, dâm ô, thù hận, vô nhân đạo, vô luân vô đạo của thế gian tục hóa, trống
vắng niềm tin....

LM NGÔ TÔN HUẤN

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 291 =TRAO TAC VU LINH MUC PDF Print E-mail

CÓ NGHI THỨC NÀO GỌI LÀ "TRAO TÁC VỤ LINH MỤC" KHÔNG ?
Trước đây tôi đã có dịp nói qua về các nghi thức ( Rites) trong Giáo Hội Công
Giáo, đặc biệt về cái gọi là "trao tác vụ linh mục" như người ta đã gọi ở một vài
nơi bên ViệtNam. Nay tôi lại thấy xuất hiên trên một trang mạng điện tử cụm từ
trên đây , nên tôi thấy cần phải nói rõ lại một lần nữa như sau:
Trước Công Đồng Vaticanô II ( 1962-65), liên quan đến các chức Thánh ( Ordo=
Holy Orders)) được trao trong Giáo Hội Công Giáo thời đó, có các chức thánh sau
đây:
I- Bốn chức thánh nhỏ ( minor Orders) gồm có
1- Chức giữ và mở cửa nhà thờ ( Porter)
2- Chức đọc Sách Thánh ( Reader)
3- Chức trừ quỷ ( Exorcist)
4- Chức Giúp Lễ ( Acolyte)
Nhưng trước khi được trao các chức nhỏ nói trên, đại chủng sinh phải được lãnh
nghi thức cắt tóc ( Tonsure)
II- Các chức thánh lớn ( major Orders ) gồm có:
1- Chức Phụ Phó Tế ( Subdiaconate)
2- Chức Phó Tế ( diaconate)
3- Chức linh mục ( Presbyterate)
4- Chức Giám mục ( Episcopate)
Sau Công Đồng Vaticanô II, các chức thánh nhỏ nói trên đã được sửa đổi để chỉ
còn lại hai thừa tác vụ ( ministry) đọc sách và giúp lễ như sau:
1- Bãi bỏ nghi thức cắt tóc
2- Bải bỏ hai chức giữ và mở cửa nhà thờ ( Porter) và chức trừ quỷ
( Exorcist)
Hai chức thánh nhỏ đọc sách và giúp lễ được thay đổi thành hai thừa tác vụ
đọc sách và giúp lễ :
1- Ministry of Reader
2- Ministry of Acolyte
Bãi bỏ luôn chức Phụ Phó Tế ( Subdiaconate) để chỉ còn hai chức thánh lớn
(Major Orders) là Chức Phó Tế và Chức Linh mục .Nghĩa là, từ sau Công Đồng
Vaticanô II cho đến này , Giáo Hội chỉ còn ba chức Thánh sau đây:
1- Chức Phó Tế ( Diaconate)
2-Chức Linh mục ( Presbyterate)
3-Chức Giám mục ( Episcopate ) ( x Giáo luật số 1009&1)
Vì không còn là các chức thánh nhỏ nữa, nên chỉ có nghi thức trao tác vụ đọc sách
và giúp lễ. ( Ínstallation of ministries of Reader and Acolyte). Và vì không còn là
chức thánh nữa, nên các đại chủng sinh đã lãnh hai tác vụ nói trên vào cuối năm
thần I và II, sẽ không bị ràng buộc phải xin tháo gỡ ( dispensation) nếu không
muốn tiến lên lãnh nhận chức thánh Phó Tế và Linh mục. Và hiện nay, vì nhu cần
cho rước lễ và phụ giúp bàn thánh, giáo dân cũng được phép lãnh tác vụ giúp lễ để
phụ cho rước lễ và lau chùi ( purify) chén thánh sau khi cho rước lễ.
Các thừa tác viên bất thường cho rước lễ, hay còn gọi thông thường là các thừa tác
viên Thánh thể ( Extraordinay ministers for Holy Communion), nếu không có tác
vụ giúp lễ ( Ministry of Acolyte) thì chỉ được phép phụ giúp cho rước lễ, chứ
không được phép lau chùi chén thánh sau khi cho rước lễ.
Cũng cần nói thêm ở đây là các thừa tác viên Thánh Thể này chỉ được cần đến khi
không có đủ linh mục hay phó tế cho rước Lễ mà thôi. Nghĩa là khi có đông linh
muc đồng tế và phó tế phụ giúp Bàn Thánh, thì không cần đến các thừa tác viên
bất thường kia cho rước lễ nữa. Một điểm quan trọng nữa là các thừa tác viên bất
thường này không được phép tự ý lấy Mình Thánh từ trong Nhà Tạm
( Tabernacle) hay trên Bàn Thờ để bỏ vào các đĩa đựng Mình Thánh, hay lấy chai
đựng Máu Thánh để đổ ra các chén đựng Máu Thánh như nhiều nơi ở Mỹ đang
làm sai. Lại nữa, Thừa Thác viên Thánh Thể không có tác vụ giúp lễ thì không
được phép lau chùi các chén thánh sau khi cho rước lễ.Việc lau chùi ( purification)
này phải do chính linh mục, phó tế hay thừa tác viên giúp lễ được làm mà thôi.

Liên quan đến các Nghi Thức trao tác vụ đọc sách và giúp lễ , nhất là Lễ truyền
Chức thánh PhóTế , linh muc và Giám mục, Sách Nghi Lễ ( Rites) của Giáo Hội
Công Giáo do Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI ký ban hành ngày 15 tháng 8 năm
1972 thì chí có các Nghi Thức và Lễ Truyền Chức sau đây:
1-Nghi Thức trao tác vụ đọc sách ( Ínstitution of readers)
2-Nghi Thức trao tác vụ giúp lễ ( Institution of Acolytes)
3- Nghi Thức chấp nhận tư cách ứng viên để lãnh nhận Chức Thánh
Phó Tế và Linh mục ( Admission to Candidacy for Ordination as
Deacons and Priests)
4- Lễ truyền chức Phó Tế (Ordination of a deacon)
5- Lễ truyền chức linh mục ( Ordination of a Priest)
6- Lễ thánh hiến hay truyền chức Giám mục ( Consecration or
Ordination of a Bíshop)
Ngoài các Nghi Thức và Lễ truyền chức nói trên ra, tuyệt đối không có nghi thức
nào gọi là " trao tác vụ linh muc" cả. Do đó, ai tự ý tung ra cái gọi là "Nghi thức
trao tác vụ linh mục" này là đã không hiểu gì về truyền thống Giáo Hội liên quan
đến các Nghi Thức ( Rites) và các Lễ truyền chức thánh.Hơn thế nữa, còn lẵn lộn
giữa thừa tác vụ ( ministerium=ministry) và chức thánh (Ordo=holy Order).
Nói rõ hơn, phải có chức thánh cấp Phó Tế, thì mới được thi hành các tác vụ -hay
thừa tác vụ- Phó tế ( diaconal ministries) có chức thánh linh mục thì mới được thi
hành tác vụ linh mục ( priestly ministries) có chức thánh Giám mục thì mới được
thi hành các tác vụ Giám mục ( Episcopal ministries).
Cho nên, phải nói là lễ truyền chức Phó tế, Linh mục hay Giám mục trước khi
được thi hành các thừa tác vụ liên hệ.Các chức thánh này phải được trao trong
Thánh lễ truyền chức , nên phải nói là Lễ Truyền Chức Phó Tế, linh mục hay Giám
mục, chứ không được nói là Nghi Thức trao tác vụ Phó tế hay Linh mục như người
ta đã tự ý "phăng ra" một cách sai lầm. Phăng ra như vậy trước hết là không hiểu
sự khác biết giữa chức thánh và thừa tác vụ.Chức thánh thì được lãnh nhận trong
Thánh Lễ Truyền Chức ( Mass of Ordination), còn tác vụ thì được Giám mục liên
hệ trao cho Phó tế hay Linh mục sau khi đã được truyền chức.
Khi nói đến trao tác vụ là nói đến hai tác vụ đọc sách và giúp lễ. Vì đây không còn
là chức thánh mà chỉ là tác vụ, nên có thể đươc cử hành ngoài Thánh Lễ và người
trao tác vụ không buộc phải là Giám mục, mà có thể là Bề Trên Chủng viện hay
Bề Trên Dòng hay Tu Hội, trong khi chỉ có Giám mục mới được truyền các chức
thánh cấp Phó Tế, Linh muc hay Giám mục.
Lại nữa, một Phó tế hay Linh mục, sau khi được chịu chức thánh và muốn thi hành
thừa tác vụ của mình, thì phải được Giám mục mà mình trực thuộc trao cho năng
quyền ( Faculty) để thi hành tác vụ Phó Tế như phụ giúp Bàn Thánh, đọc và chia sẻ
lời Chúa trong Thánh Lễ ( với sự cho phép của cha Xứ nơi mình phục vụ) , chứng
hôn phối, rửa tội cho trẻ em ( nếu cha xứ yêu cầu) cử hành nghi thức an táng. Phó
tế không được rửa tội cho người lớn ( Adults) vì người lớn khi lãnh nhận bí tích
Rửa tội thì cũng được lãnh bí tích Thêm sức và Thánh Thể luôn, nên chỉ có linh
mục hay Giám mục rửa tội và thêm sức mà thôi, Tuy nhiên, nhiên trong trường
hợp khẩn cấp nguy tử, thì Phó tế hay bất cứ ai, kể cả người chưa được rửa tội, đều
được phép rửa tội cho người lớn và trẻ em, với điều kiện dùng nước và công thức
Chúa Ba Ngôi và làm theo ý Giáo Hội ( x SGLGHCG số 1256)
Muốn thi hành các tác vụ linh muc như cử hành Thánh Lễ ,giảng lời Chúa, Rửa tội,
Thêm sức, hòa giải, sức dầu bệnh nhân, chứng hôn... thì linh mục phải được giám
mục của mình trao cho các năng quyền tương ứng thì mới thi hành được các thừa
tác vụ này. Nghĩa là phải có chức linh muc trước, rồi Giám mục mà linh muc trực
thuộc mới trao cho năng quyền trong thư bổ nhiệm hay bài sai-. Sau đó linh muc
mới có thể thi hành hợp pháp các thừa tác vụ nói trên. Bài sai này không được trao
trước lễ Truyền Chức mà chỉ được trao cho linh mục sau khi đã được truyền chức.
Nếu không có bài sai với năng quyền này của Giám mục, thì không linh mục nào
được thi hành tác vụ của mình, dù cho có chức thánh linh muc.
Nếu vì lý do gì mà năng quyền trên bị rút ( hay còn gọi nôm na là bị treo chén) thì
linh mục tạm thời hay vĩnh viễn không được thi hành các tác vụ linh mục của
mình cho đến khi năng quyền trên được trao lại. Như thế càng chứng tỏ sự sai lầm
khi nói "lễ trao tác vụ linh muc", vì không hề có loại nghi thức này trong Giáo Hội
Công Giáo từ xưa đến nay.

LM NGÔ TÔN HUẤN

---------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 7 of 76