mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay8821
mod_vvisit_counterHôm Qua11024
mod_vvisit_counterTuần Này8821
mod_vvisit_counterTuần Trước79228
mod_vvisit_counterTháng Này98030
mod_vvisit_counterTháng Trước339420
mod_vvisit_counterTất cả17317822

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HỌC GỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THÁNH GIOAN PADUA PDF Print E-mail

ÔNG THÁNH ANTON PAĐUA HAY LÀM PHÉP LẠ

Người ta thường gọi thánh Antôn Pađua là "ông thánh hay làm phép lạ". Ngài là linh mục tiến sĩ Hội Thánh. Có lẽ, bạn đang đọc những dòng này, đã lần nào đó nhận được ơn lạ ngài ban sau khi khẩn cầu với Ngài. Tuy ngay lúc sinh thời Ngài đã làm rất nhiều phép lạ, nhưng Ngài một mực hạ mình khiêm nhu. Chính sự khiêm nhượng cộng với lòng mến Chúa yêu Ðức Mẹ say mê và thương người tha thiết của Ngài đã làm nên phép lạ.

Mở mắt chào đời vào năm 1195 tại Lisbon, thủ đô Bồ Ðào Nha, Ngài được đặt tên là Phênanđô. Thuộc dòng dõi sang trọng và đạo hạnh, Phênanđô được mẹ ân cần dậy dỗ ngay từ tấm bé. Giêsu Maria là những tiếng Phênanđô bập bẹ đầu tiên trong đời. Ngay từ nhỏ, Phênanđô đã khấn giữ mình đồng trinh theo gương Ðức Mẹ. Cậu đặc biệt yêu thương những kẻ khó nghèo. Lên 10 tuổi, Phênanđô được mẹ trao phó cho cha bác huấn luyện chữ nghĩa và đường đạo đức.

Một lần Phênanđô đang sốt sắng quì cầu nguyện trước Ðức Mẹ thì bị ma quỉ nổi cơn ghen lôi đình, hắn nhẩy lên vai và bóp cổ cậu cho chết. Cổ họng bị tắc nghẽn không sao kêu tên Giêsu Maria được. Phênanđô liền dùng ngón tay vẽ hình thánh giá trên bậc đá. Ma quỉ vô cùng khiếp sợ, hắn buông cậu ra, vội biến mất. Chúa đã làm phép lạ khiến đá ra mềm, in sâu hình Thánh Giá cậu vẽ vào bậc đá.

Năm 17 tuổi, Phênanđô từ giã thế gian, vào tu dòng thánh Augustinô tại Lisbon. Sau 2 năm, thầy xin đến một tu viện khác, xa nhà quê để dễ bề tu trì. Bề trên sai thầy tới Cônimbriga. Tại đây thầy học hành rất thông giỏi và nổi tiếng nhân đức. Nhưng thầy luôn xưng mình là vô dụng, và chỉ muốn làm những công việc hèn hạ.

Sau khi khấn dòng, nhiệm vụ của thầy Phênnanđô là coi sóc bệnh nhân. Thầy rất yêu thích nhiệm vụ này vì có dịp hãm mình và tỏ lòng yêu thương anh em. Một lần, nhân dịp Lễ Chúa Giáng Sinh, vì ngăn trở giúp bệnh nhân nên thầy không thể dự lễ chung với nhà dòng. Khi nghe chuông báo hiệu dâng Mình Thánh Chúa, thầy liền quì gối quay về phía nhà thờ. Bỗng nhiên bức tường ngăn cách giữa nhà thờ và phòng y tế nứt ra, dành chỗ cho thầy chiêm ngắm Mình Thánh Chúa trên bàn thờ.

Năm 25 tuổi, thầy Phênanđô trở thành một linh mục dòng Augustinô. Nhưng cha lại cảm mến gương lành và cuộc sống thánh thiện của thầy dòng Phanxicô lúc đó mới được thành lập, nhất là vô cùng cảm phục gương 6 thầy Phanxicô mới chết vì đạo. Ðược ơn trên soi dẫn, cha đến xin bề trên chuyển sang dòng Phanxicô. Bề trên chấp thuận sau khi biết rõ Thánh Ý Chúa. Trong dòng Phanxicô, cha Phênanđô được đổi tên là Antôn.

Thời gian đầu tại dòng Phanxicô, người ta chưa biết tiếng nhân đức và sự thông thái cha Antôn, nên cha được trao cho nhiệm vụ rửa bát đĩa và quyét nhà. Nhưng không bao lâu, danh tiếng cha được biết đến. Chính cha thánh Phanxicô sai cha đi giảng đạo khắp miền Bắc Ý rồi qua cả nước Pháp.

Thiên Chúa đã dùng cha Antôn làm nhiều phép lạ để xác nhận những chân lý và mầu nhiệm trong đạo Công Giáo.

Một người giầu có, nhưng sống đời hà tiện, tham lam của cải. Sau khi ông chết, cha Antôn trưng lời Chúa Kitô đã phán: "của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đo?, đồng thời sai người đi mở két vàng của người quá cố thì thấy một trái tim bằng thịt đang nằm chình ình trong két! Vàng bạc bạn ở đâu, con tim bạn cũng ở nơi đó!

Một lần cha Antôn giảng về mầu nhiệm Chúa Giêsu ngự thật trong Thánh Thể. Có người lạc đạo không tin, đến thưa với Ngài:

-Nếu xem thấy phép lạ, tôi mới tin!

Cha Antôn nói với anh:

-Hãy để con lừa của anh nhịn đói 3 ngày, rồi đem nó tới cửa nhà thờ, anh sẽ thấy phép lạ.

Ðúng ngày hẹn, người kia đem còn lừa đã nhịn đói ba ngày và thúng đồ ăn đến trước cửa nhà tờ, thấy thúng đồ ăn trước mắt, nó vội vàng chạy tới ăn lấy ăn để. Nhưng vừa lúc đó, cha Antôn kiệu Mình Thánh Chúa tới cửa nhà thờ. Lạ lùng thay, con lừa đột nhiên bỏ ăn, đến trước Thánh Thể Chúa: Nó quì gối, cúi đầu lậy ba lần. Người lạc đạo đã tin, và sau đó trở lại Công Giáo.

Lần khác, ngài giảng ngoài bãi biển. Nhiều người rối đạo cũng hiện diện, nhưng họ lấy tay bịt tai không nghe lời giảng. Cha Antôn liền quay ra biển: "loài người không thèm nghe lời giảng. Vậy các ngươi hãy đến đây mà nghe!"

Lập tức, muôn vàn cá lớn cá bé nhô đầu lên khỏi mặt nước để nghe lời Ngài. Cha Antôn nói với chúng:

-Các ngươi hãy cảm tạ Thiên Chúa đã gìn giữ và nuôi dưỡng các ngươi.

Bầy cá gật đầu tỏ dấu nghe lời Ngài. Sau đó cha ra hiệu cho bầy cá giải tán, chúng lần lượt chìm dần trong làn nước biển.

Một hôm, có người đến xưng tội với Ngài, nhưng vì quá xúc động, ông ta không thể nói lên lời. Cha Antôn bảo ông viết các tội vào giấy rồi đưa cho Ngài xem. Sau khi ban ơn Xá Giải, cha Antôn trao lại tờ giấy cho ông. Về tới nhà, ông đem tờ giấy đã viết tội đi đốt, nhưng lạ lùng thay, khi mở ra, chỉ còn là một tờ giấy trắng bóc! Trở lại gặp cha Antôn, ông thưa Ngài đầu đuôi câu truyện, Ngài nói với ông:

-Chúa đã làm phép lạ để chứng nhận quyền tha tội của các vị linh mục.

Ngày khác, ba của cha Antôn tại Lisbon bị cáo Gian về tội giết người. Dù dang ở xa quê hương, Thiên Chúa đã soi lòng cho cha biết giúp đỡ. Bỗng nhiên cha thấy mình có mặt tại Lisbon. Cha xin quan đem xác người chết tới công đường, rồi Ngài truyền cho xác chết sống lại và hỏi:

-Có phải ba tôi đã giết anh không?

Anh ta trả lời "không phải" rồi lại lăn đùng ra chết! Cùng lúc đó, cha Antôn thấy mình đang ở nhà dòng. Ba của Antôn đã được giải oan.

Có lần, cha Antôn vào trọ tại một gia đình. Giữa đêm, chủ nhà thấy phòng cha tự nhiên rực sáng. Ngó vào trong phòng, ông bỡ ngỡ thấy cha đang ẵm bế Chúa Hài Nhi, âu yếm hôn kính và thưa truyện với Ngài.

Năm 1231, cha Antôn thấy mình yếu sức, nên xin về thành Pađua dọn mình chết. Ngài lìa bỏ đời này cách êm ái ngay năm đó, sau khi đã sốt sắng chịu các Phép và hớn hở hát bài ca ngợi khen Ðức Mẹ. Ngài chết khi mới được 36 tuổi. Người ta lũ lượt tới viếng xác ngài ba ngày ba đêm liên tục. Sau đó ngài được an táng trong nhà thờ thành Pađua.

Chúa đã làm vô vàn phép lạ do công nghiệp và lời bầu cử của cha Antôn, nên chỉ một năm sau khi qua đời, Giáo hội đã phong thánh cho ngài. Chính ngày phong thánh cho cha Antôn, chuông các nhà thờ thành Lisbon tự nhiên đồng loạt kêu vang, mặc dù không có ai kéo. Hai mươi ba năm sau, người ta cải mộ Ngài đưa vào nhà thờ mới. Lúc đó, lưỡi Ngài vẫn còn tươi tốt như khi còn sống, chiếc lưỡi Ngài đã dùng để rao giảng lời Chúa và cứu giúp anh em đồng loại. Hằng năm Giáo Hội mừng kính Ngài vào ngày 13 tháng 6.

Chính lòng khiêm nhượng, yêu Chúa, mến Ðức Mẹ và thương người của cha Antôn đa biến Ngài thành vị đại thánh, một vị thánh hay làm phép lạ.
Lm. Raymond Thư, CMC

----------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

TẠI SAO NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÔNG ĐƯỢC PHÉP BUÔN BÁN SÚNG ĐẠN, CẦN SA, MA TÚY, SÁCH BÁO DÂM Ô và CỜ BẠC ?
Nước Mỹ đang đứng trước một thảm họa. Đó là những cuộc bắn giết nhau trong gia đình, ở trường học , nơi buôn bán, hoặc ở các quán ăn và nơi giải trí. Sở dĩ có tai họa này là vì người dân Mỹ được phép mua súng đạn quá dễ dàng, khiến cho quá nhiều người có súng để tự vệ hoặc ( bọn lưu manh) để đi trộm cướp, hoặc trả thù thanh toán nhau giữa các băng đảng. Chính vì nhiều người có súng đạn nên tại nạn bắn giết người khác thường xảy ra ở nhiều nơi trên đất Mỹ. Đây là mối lo sợ của người dân lành vì không biết lúc nào mình có thể là nạn nhân của tai họa súng đạn khi ra ngoài đường phố hay ở trong các nơi ăn uống, giải trí..
Ngoài ra, nước Mỹ cũng là nước sản xuất phim ảnh và sách báo dâm ô nhiều nhất trên thế giới.
Vì thế, câu hỏi đặt ra riêng cho người Công Giáo là: ,
1-Người Công Giáo có được phép buôn bán súng đạn, cờ bạc cần sa, ma túy,
Sách báo phim ảnh dâm ô hay không ?
2- Người Công Giáo có được phép tham dự các nghi lễ của các giáo phái ngoài Công Giáo không ?
Xin trả lời như sau :
I- Về việc buôn bán súng đạn, ma túy, cờ bạc..
Điều răn Thứ Năm của Chúa cấm giết người, tức là phải tôn trọng sự sống của mình và của người khác, vì sự sống là quà tặng quí giá nhất của Thiên Chúa ban cho con người, được tạo dựng “ giống hình ảnh của Thiên Chúa.” ( St 1: 27) Thiên Chúa ban sự sống cho con người và chỉ một mình Ngài có quyền trên sự sống của loài người mà thôi. Vì thế Ngài đã truyền cho con người giới răn rất quan trọng là:
“ Ngươi không được giết người”. ( Xh 20: 13)
“ Ngươi không được giết các kẻ vô tội và người công chính, vì Ta không cho kẻ có tội được trắng án.” ( Xh 23: 7 )
Giết người có nhiều hình thức : giết về thể xác như đánh đập, đâm chém, bắn chết ai vì thù hằn cá nhân hay vì mục đích chính trị thâm độc muốn triệt hạ đối phương, vì tranh dành quyền lợi, tài sản, hay muốn độc quyền kinh doanh, buôn bán v.v
Mặt khác, làm hại người như đặt điều nói xấu , vu cáo , chứng gian để hạ nhục ai trước công luận cũng là hình thức giết người về mặt tinh thần mà con người ở khắp nơi thường mắc phạm.
Giáo lý của Giáo Hội đã liệt kê những tội nghích điều răn Thứ Năm như sau:
1- Về mặt thể lý : cấm cố sát hay giết người khác ( murder) tự sát ( suicide) phá thai ( abortion) Làm cho chết êm dịu ( Euthanasia).Đây là những hình thức giết người về mặt thể lý.
2-Vể mặt tinh thần, : phải tôn trọng danh dự và linh hồn của người khác, bằng cách không nêu gương xấu, dịp tội khiến cho người khác có thể sa ngã vì mình. Chúa Giêsu đã lên án kẻ gây ra gương xấu như sau:
“ Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã. Nhưng khốn cho kẻ làm cho
người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợị cho nó hơn
là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé nhỏ này vấp ngã.” ( Lc 17: 1-2)
Những cớ làm cho người ta vấp ngã là buôn bán hay giúp phổ biến các phim ảnh, sách báo dâm ô, trụy lạc, mở nhà điếm, sòng bạc, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) vô cùng khốn nạn , sản xuất phim ảnh bạo động , trồng và bán các loại cần sa, ma túy....Đây là những việc người Công Giáo không được phép làm vì bất cứ lý do nào. Riêng ở Mỹ, buôn bán súng đạn cũng được coi là tiếp tay với những kẻ khủng bố, lưu manh nguy hại cho sinh mang của người dân lành vô tội, như đã từng xảy ra ở khắp Nước Mỹ. Cụ thể trong tháng 11 năm 2012 ở Newtown , Connecticut, một kẻ đã mang súng vào trường bắn chết 20 học sinh tiểu học và 4 người lớn trong đó có mẹ của hung thủ và chính hung thủ cũng tự sát, sau khi giết hàng chục nạn nhân mà đa số là trẻ em từ 6 đến 10 tuổi. Tại nạn khủng khiếp vì súng đạn này vẫn còn làm kinh hoàng cho người dân Mỹ cho đến nay và khiến cho các nhà lập pháp Mỹ đang bàn cải về việc có nên cấm –hay hạn chế việc buôn bán súng đạn hay không. Bọn tư bản mại bản vô lương tâm thì cố bảo vệ quyền lợi buôn bán súng đạn để làm giầu, bất chấp hậu quả tai hại cho người dân vô tội, nạn nhân của các vụ bắn nhau bừa bãi vì quá nhiều người có súng hay có thể mua súng đạn dễ dàng ở khắp nước Mỹ. Trong ánh sáng điều răn Thứ Năm cấm giết người, việc buôn bán súng đạn là điều vi phạm giới răn này và người Công Giáo phải xa tránh để không vi phậm Điều Răn Thứ Năm cám giết người.
Nói rõ hơn, vì mối nguy hại của việc súng đạn có thể rơi vào tay những kẻ bệnh boạn tâm thần, hay lưu manh khủng bố, nên chắc chắn buôn bán súng đạn là một thương vụ nguy hại mà người tín hữu Chúa Kitô phải tránh xa, để không vì tiền mà tiếp tay cho những kẻ bất lương làm hại người khác. Đây là mối hiểm nguy rất to lớn cho sự an toàn sinh mạng của người dân sống trên đất nước tự do quá trớn này !
2-Có được phép cờ bạc không ?
Chắc chắn là không, vì cờ bạc, dưới bất cứ hình thức nào, cũng là điều phi luân vì nghich với điều răn Thứ Bảy cấm lấy của người khác.Không phải cứ vào nhà người ta ăn trộm tiền hay đồ vật mới là phạm tội nghịch điều răn Thứ Bảy. Ngược lại, ước muốn lấy vật gì thuộc sở hữu của người khác, hay đi đến nơi cờ bạc để mong kiếm tiền mà không phải lao động cân xứng thì cũng là tội nghịch điều răn thứ bảy cách chắc chắn. Lại nữa , không thể lấy lý do muốn giúp xây nhà thờ, tu viện, nhà Dòng, nhả nuôi trẻ mồi côi, xây trường học,...để biện minh cho việc cờ bạc vì mục đích tốt không thể biện minh cho phương tiện xấu được.( le but ne justifie pas le moyen= the purpose cannot justify the means)Tóm lại, cờ bạc là một điều lỗi phạm đức công bằng mà người tín hữu phải tránh vì cờ bạc sẽ dẫn đến gian manh, trộm cắp, mãi dâm, phản bội, và phá vỡ hạnh phúc gia đình...
3-có được phép buôn bán hay trồng các loại cần sa, thuốc phiện hay không?
Dùng cần sa, ma túy (drugs) nói chung, là một tội nặng vì hậu quả nguy hại cho sức khỏe con người.Do đó, trồng và buôn bán các loại cần sa ma túy là một gương xấu phải tránh vì hậu quả tai hại của các loại độc tố này cho sức khỏe của người khác mà mình phải tôn trọng theo giáo lý hiện hành của Giáo Hội.( x SGLGHCG số 2291).
II- Về việc tham dự các Nghi lễ của các giáo phái ngoài Công giáo:
Liên quan đến vấn đề này, xin được nói lại một lần nữa là chỉ có Giáo Hội Công Giáo và các Giáo hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) là có các bí tích hữu hiệu như Phép rửa,(Baptism) Thêm Sức (Confirmation) Hòa Giải ( Reconciliation) , Sức Dầu bệnh nhân ( Anointing of the Sick) , Truyền Chức thánh ( Holy Orders) và Hôn phối ( Matrimony), vì chỉ các Giáo Hội này mới có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) mà thôi.
Ngoài ra, tất cả các Giáo Phái Tin Lành, như, Baptist, Episcopal, Evangelical, Methodist. Presbyterian, Lutheran, Memonite, Church of Christ ,v.v và cả Anh giáo ( Anglican Comm)...đều không có nguồn gốc Tông Đồ, nên không có các bí tích hữu hiệu nói trên; trừ Phép Rửa ( Baptism) mà đa số họ có và được Giáo hội Công Giáo nhìn nhận, nếu họ cũng làm phép rửa với nước và Công thức Chúa Ba Ngôi.( Trinitarian Formula) Nhóm nào không làm với Công thức này – như nhóm Bahai Hullah, và Marmonite...- thì Phép Rửa của họ không thành sự ( Invalid),Do đó, nếu tín đồ của họ muốn gia nhập Công Giáo, thì họ phải được rửa tội lại.
Trong mục đích đại kết ( Ecumenism) mà Giáo Hội Công Giáo đã theo đuổi từ nhiều thập niên qua, nhằm tìm kiếm sự hiệp nhất giữa các Giáo Hội và tín hữu còn ly khai, các tín hữu Công Giáo, cũng được khuyến khích giao thiệp trong tình huynh đệ với các anh chị em cùng tin Chúa Kitô nhưng đang ở bên ngoài Giáo Hội Công Giáo, vì chưa thể hiệp nhất được trong cùng một giáo lý, tín lý ,Kinh Thánh. bí tích , phụng vụ, và tôn trọng vị Đại Diện ( Vicar) duy nhất của Chúa Kitô trên trần gian là Đức Thánh Cha, tức Giám Mục Rôma và cũng là Thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.
Đa số các giáo phái trên chỉ có giảng thuyết Kinh Thánh ( hiểu theo cách cắt nghĩa riêng của họ) và làm Phép rửa mà thôi. Một số như nhóm Episcopalian, Lutheran. First United Church... cũng có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho trong lúc hội họp và nghe giảng thuyết. Tuy nhiên vì họ không có chức Linh mục hữu hiệu nên dù các mục sư của họ có đọc lời Chúa Giêsu nói trong Bữa tiệc ly thì cũng không thể biến bản thể ( substance) của bánh và rượu trở nên mình máu Chúa Kitô được vì họ không có chức Linh mục hữu hiệu như đã nói trên.
Vì thế, nếu vì xã giao mà phải tham dự nghi lễ nào của anh em Tin Lành nói chung, thì người Công Giáo không được tham gia vào việc bẻ bánh và uống rượu với họ, vì làm như vậy có nghĩa là hiệp thông với họ trong niềm tin không có Chúa Kitô hiện diện thực sự trong Phép Thánh Thể như Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương tin. Họ bẻ bánh và uống rượu là để nhắc lại bữa Tiệc Ly của Chúa Giêsu với Nhóm Mười Hai Tông Đồ, như được ghi lại trong ba Phúc Âm của Matthêu. Mac-cô và Lu ca., chứ không phải là Thánh Lễ Misa cử hành trong Giáo Hội Công Giáo để dâng lại Hy Tế thập giá và diễn lại bữa ăn sau cùng của Chúa Kitô với Nhóm mười Hai..Và trong Bữa ăn sau cùng này, Chúa Kitô đã lập Phép Thánh Thể và Chức Linh mục để “ anh em làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy. “ như Chúa đã truyền cho các Tông Đồ hiện diện ( Lc 22 : 19; 1 Cor 11: 25).Anh em Tin Lành không tin có Chúa Kitô thực sự hiện diện ( real presence) trong hai chất thể bánh và rươu khi các Tư Tế ( Linh mục hay Giám mục) đọc lời truyền phép (Consecration) trong Thánh Lễ Tạ Ơn ( The Eucarist).
Nói rõ hơn, chỉ có Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương là có bí tích Truyền Chức thánh ( Holy Orders) hữu hiệu, nên các giám mục và linh mục mới được chia sẻ Chức Linh Mục đời đời của Chúa Kitô, là “ Thượng Tế đời đời theo phẩm trật Men-ki-xê-đê” ( Dt 6: 20). Chính nhờ có chức linh mục hữu hiệu, nên các tư tế Công Giáo và Chính thống ( giám mục, linh mục) mới có thể đọc lời truyền phép hữu hiệu ( valid consecration) để biến bản thể của bánh và rượu trở thành mình và máu của Chúa Kitô khi cử hành Thánh lễ Tạ Ơn ( Eucharist) ở khắp nơi trên bàn thờ ngày nay trong Giáo Hội ngày nay..
Vì các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương cũng có các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên người Công Giáo- trong trường hợp không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo- thì được phép tham dự nghi lễ phụng vụ ở một nhà thờ Chính Thống trong nơi mình cư ngụ và lãnh các bí tích Thánh Thể, hòa giải và sức dầu nơi các linh mục Chính thống.
Nhưng nếu vì xã giao hay có liên hệ gia đình mà phải tham dự nghi lễ hay tang lễ của anh em Phật Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo( Islam) Ấn giáo ( Hinduism) Thần giáo ( Shinto)... thì người Công giáo có thể đốt hương cho người quá cố, nhưng không được bái lậy các thần tượng của các tôn giáo bạn, vì chúng ta không cùng chia sẻ niềm tin với họ về Đấng mà họ tôn thờ..
Ngoài ra, người Công Giáo cũng được khuyến khích giao thiệp thân hữu với các anh chi em ngoài Công Giáo trong mục đích tìm sự hiệp nhất giữa các anh chị em đó với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất mà Chúa Kitô đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ để tiếp tục Sứ Mệnh rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng của Chúa cho mọi dân, mọi nước cho đến ngày mãn thời gian, tức là ngày tận thế khi không còn sự sống trên trần gian này nữa.
Giáo Hội trên của Chúa “ tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển,,” ( LG số 8)
Tuy nhiên, dù có giao thiệp trong tình huynh đệ với các anh em ngoài Công Giáo, chúng ta phải giữ vững đức tin Công Giáo, vâng phục và thi hành những gì Giáo Hội là Mẹ dạy dỗ chúng ta trong các lãnh vực giáo lý, tín lý, luân lý, phụng vụ và bí tích.
Chúng ta cũng cầu xin cho sự mau hiệp nhất (unity) và hiệp thông ( comm) của tất cả các giáo hội hay công đoàn đức tin đang còn ở bên ngoài Giáo Hội Công Giáo để “họ được nên một như chúng ta là một”. ( Ga 17: 22) như Chúa Giêsu đã tha thiết cầu xin cùng Chúa Cha trước giờ Người thọ nạn thập giá để cứu chuộc cho nhân loai khỏi chết vì tội.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm. Phanxicô .Xaviê Ngô Tôn Huấn. 6
Houston, Texas, USA.

--------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

TRONG GIÁO HỌI CÔNG GIÁO, TRUYỀN THỐNG KẾ VỊ TÔNG ĐỒ LÀ GÌ ?

Sau khi hoàn thành Sứ Mệnh cứu chuộc cho nhân loại, và trước khi về Trời ngự bên hữu Chúa Cha, Chúa Kitô đã thiết lập Giáo Hội của Chúa trên nền tảng Tông Đồ với Phê rô là Thủ Lãnh đầu tiên của Giáo Hội sơ khai với Sứ Mệnh “ Hãy chăn dắt chiên của Thầy .” ( Ga 21: 17 ). Chúa cũng truyền cho Phêrô và các Tông Đồ mệnh lệnh rất quan trọng này là “ hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo...” ( Mc 16:15) .
Giáo Hội được Chúa thiết lập trên đây “ tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển.” ( LG 8 )
Giáo Hội trên của Chúa là công giáo, thánh thiện và Tông truyền. : là Công giáo( Catholic) vì được dành cho hết mọi người, không phân biết màu da, tiếng nói và ngôn ngữ, tất cả đều được mời gọi gia nhập Giáo Hội này để lãnh ơn Cứu Chuộc của Chúa Kitô. “ Đấng đã đến để hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20: 28).Giáo Hội là thánh thiện( Holy) vì Đấng Sáng Lập ( Chúa Kitô) là THÁNH. Giáo Hội là Tông truyền Apostolic succession) vì được xây trên nền tảng Tông Đồ với Phêrô là Tông Đồ Trưởng,và Người kế vị Thánh Phêrô cho đến nay là Đức Thánh Cha,tức Giám Mục Roma, với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám mục Đoàn ( College of Bishops) là những người kế vị các Tông Đồ với Sứ Mệnh rao truyền Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho mọi dân mọi nước cho đến ngày cánh chung tức ngày tận thế.khi không còn sự sống trên trần gian này nữa.
Trong phạm vi bài này, tôi xin được nói qua về Truyền Thống Kế Vị Tông Đồ ( Apostolic Succession), một Truyền Thống mà chỉ có Giáo Hội Công Giáo Roma và các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) thừa hưởng để tuyển chọn các giám mục, đặc biệt là chọn Giám Mục Rôma cho Giáo Hội Công Giáo, tức Người kế vị Thánh Phêrô trong chức năng và địa vị Giáo Hoàng là Thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.
Các anh em Chính Thống Đông Phương vẫn còn bất đồng với Giáo Hội Công Giáo về vai trò Đại Diện ( Vicar) Chúa Kitô của Đức Thánh Cha, nên vẫn chưa thể hiệp nhất và hiệp thông trọn vện được với Giáo Hội Công Giáo mặc dù họ có chung Truyền thống Tông Đồ và có các bí tích hữu hiệu như Công Giáo.
Sách Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo nói như sau về Truyền thống kế vị Tông Đồ :
“ Cũng như Chúa Kitô đã được Chúa Cha sai đi, thì Ngài cũng sai các Tông Đồ của mình, đầy ơn Chúa Thánh Thần, để các ông giảng Phúc Âm cho mọi tạo vật ..Như vậy. Chúa Kitô phục sinh đã ban Chúa Thánh Thần cho các Tông Đồ và trao cho các ông quyền năng thánh hóa của Ngài. Các ông đã trở thành những dấu hiệu bí tích của Chúa Kitô.
Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần , các ông trao uy quyền này lại cho những người kế vị các ông. Sự kế vị Tông Đồ này là cơ cấu của toàn bộ sinh hoạt Phụng vụ của Giáo Hội. Nó có tính bí tích và được truyền lại qua Bí tích Truyền chức thánh. “ ( x . SGLGHCG số 1086-87)
Lời dạy trên đây của Giáo Hội bắt nguyền từ chính lời Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ xưa, khi Người hiện ra với các ông sau khi từ cõi chết sống lại:
“ Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em.” ( Ga 20: 22)
Chúa đã chọn và sai các Tông Đồ tiên khởi đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và làm phép rửa cho muôn dân cho đến tận cùng trái đất và cho đến ngày hết thời gian.Dĩ nhiên các Tông Đồ tiên khởi đó không thể sống mãi để thi hành Sự vụ được nhận lãnh, nên chắc chắn các ngài đã phải chọn người kế vị để tiếp tục Sứ Vụ mà Chúa Kitô đã trao phó cho các ngài, như Thánh PhaoLô đã nói rõ như sau:
“ Vậy hỡi anh ( Timôthê) người con của tôi, anh hãy nên mạnh mẽ trong ân sủng của Đức Kitô Giêsu. Những gì anh đã nghe tôi nói trước mặt nhiều nhân chứng, thì anh hãy trao lại cho những người tin cẩn, những người sẽ có khả năng dạy cho người khác.” ( 2 Tm 2: 1-2)
Các Tông Đồ đã truyền chức cho những người kế vị được chọn qua việc đặt tay :
“ Vì lý do đó, tôi nhắc anh ( Timôthê) phải khơi dậy đặc sủng của Thiên Chúa, đặc sủng mà anh đã nhận được khi tôi đặt tay trên anh.” ( 2Tm 1: 6)
Nơi khác, Thánh Phaolô cũng ân cần nhắc thêm cho Ti-mô-thê về ơn được chọn làm Tông Đồ :
“ Đừng thờ ơ với đặc sủng đang có nơi anh, đặc sủng Thiên Chúa đã ban cho anh nhờ lời ngôn sứ, khi hàng kỳ mục đặt tay trên anh. “ ( 1 Tm 4: 14)
Hàng “Kỳ mục” ( Overseers) mà Thánh Phaolô nói trên đây chính là các Giám mục đã được chọn và các ngài đã truyền chức lại cho những người kế vị để tiếp tục Sứ Vụ của Chúa Kitô trong Giáo Hội sơ khai thời đó.
Sách Công Vụ Tông Đồ của Thánh Luca cũng thuật rõ việc các Tông Đồ, sau khi Chúa Kitô về trời, đã hội họp, cầu nguyện và rút thăm để chọn người thay thế cho Giuđa phản bội đã treo cổ chết, và “ ông Matthia trúng thăm. Ông được kể thêm vào số mười một Tông Đồ.” ( Cv 1: 23-26).
Như thế đủ cho thấy là ngay từ đầu, các Tông Đồ, trước hết, đã chọn người thay thế cho đủ con số 12 Tông Đồ tiên khởi mà Chúa Giêsu đã tuyển chọn để tham gia vào Sứ Vụ rao giảng Tin mừng Cứu độ của Chúa.
Từ đó đến nay, trải dài trên 20 thế kỷ , Giáo Hội vẫn theo truyền thống trên để truyền các chức thánh Phó Tế, Linh mục và Giáo mục qua việc cầu xin ơn Chúa Thánh Thần và đặt tay trên các ứng viên được tuyển chọn, đặc biệt nhất là tuyển chọn Giám Mục Rôma, tức Đức Thánh Cha mà các Hồng Y dưới 80 tuổi họp Mật Nghị ( Conclave) để bầu Tân Giáo Hoàng, khi đương kim Giáo Hoàng từ trần hay về hưu ( Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nghỉ hưu từ ngày 28 tháng 2 năm 2913 vừa qua vì lý do sức khỏe ).
Chúng ta tin chắc Chúa Thánh Thần luôn hiện diện và hướng dẫn Giáo Hội để việc chọn lựa này được diễn ra đúng theo Kế hoăch của Thiên Chúa, chứ không do thế lực trần gian nào muốn áp đặt hay ảnh hưởng đến.
Có như vậy thì Hội Thánh của Chúa Kitô mới thực là Thánh thiện , Công giáo và Tông truyền.
Liên quan đến việc chọn người kế vị, Thánh Phaolô cũng cẩn thận nhắc cho môn đệ thân tín của ngài là Timothê phải hết sức thận trọng trong việc rất can hệ này để người được chọn phải là người Chúa muốn đặt lên để coi sóc và dạy dỗ dân của Người:
“ Anh đừng vội đặt tay trên ai, đừng cộng tác vào tội lỗi của người khác. Hãy giữ mình trong sạch.” ( 1Tm 5: 22)
Đừng vội đặt tay trên ai có nghĩa là đừng chọn và truyền chức cho ai vì thân quen, gửi gấm, mua chuộc hay vì áp lực nào của các phe nhóm bên ngoài Giáo Hội, như đã từng xẩy ra trong quá khứ xa xưa, là thời kỳ đen tối khi thần quyền ( divine power) còn dính bén đến thế quyền ( secular or worldly power) một thời trong Giáo Hội xưa.
Mặt khác, trong thư gửi cho Ti Tô, một môn đệ khác của ngài, Thánh Phaolô cũng trao cho môn đệ này trách nhiệm chọn lựa các giám mục như sau :
“Tôi để anh ở lại đảo Kê-ta chính là để anh hoàn thành công việc tổ chức , và đặt các kỳ mục trong mỗi thành như tôi đã truyền cho anh....Giám quản ( tức giám mục) phải là người không chê trách được., không ngạo mạn, ...không tìm kiếm lợi lộc thấp hèn; trái lại, phải hiếu khách, yêu chuộng điều thiện, chừng mục, công chính, thánh thiện, biết tự chủ. Người ấy phải gắn bó với lời đáng tin cậy và đúng đạo lý, để vừa có khả năng dùng giáo lý lành mạnh mà khuyên nhủ, vừa có khả năng bẻ lại những kẻ chống đối.” ( Tt 1: 5-9)
Ngoài ra, để nhận mạnh thêm về bản chất chức năng và tư cách của người được tuyển chọn để thi hành sứ vụ rao giảng và coi sóc dân Chúa, Thánh Phaolô cũng nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca như sau:
“ Không bao giờ chúng tôi tìm cách để được một người phàm nào tôn vinh, dù là anh em hay người khác, trong khi chúng tôi có thể đòi anh em phải trọng đãi, với tư cách là Tông Đồ của Đức Kitô.” ( 1 Tx 2 : 6-7)
Nghĩa là các Tông Đồ xưa và nay- khi thi hành Sứ Vụ- phải noi gương Chúa Kitô, “ Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20: 28).
Đây là sứ mệnh thiêng liêng cao cả mà Chúa Cứu Thế Giêsu đã trao cho các Tông Đồ tiên khởi thuộc Nhóm Mười Hai để tiếp tục Sứ Vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa cho đến thời viên mãn. Như thế, tất cả những ai được ơn gọi làm Tông Đồ cho Chúa Kitô, phải hết sức theo gương sống và phục vụ của Chúa để không dính bén vào mọi hình thức làm tay sai cho thế quyền nào để trục lợi cá nhân, phương hại đến Sứ vụ và uy tín của Giáo Hội, là Cơ Chế có mặt và hoạt động trong trần gian hoàn toàn vì mục đích siêu nhiên cứu độ mà thôi.
Lại nữa, nếu người Tông Đồ mà không có tinh thần nghèo khó để chạy theo tiền bạc và danh lợi phù phiếm, thì không thể giảng Phúc Âm hữu hiệu cho ai và làm nhân chứng đích thực cho Chúa Kitô , “Đấng vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cài nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có.” ( 2 Cr 8: 9).
Tóm lại, qua Truyền Thống Kế Vị Tông Đồ, và nhất là nhờ ơn soi sáng chỉ dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội tiếp tục tuyển chọn các tông đồ đảm trách các chức năng Phó, tế, Linh mục, Giám mục và Hồng Y, đặc biệt nhất là chức Giám Mục Rôma, tức Đức Thánh Cha là vị Đại diện ( Vicar) duy nhất của Chúa Giêsu trong vai trò và chức năng lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ với sự hiệp thông, cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám mục Đoàn,( College of Bishops) là những người kế vị các Thánh Tông Đồ xưa.
Chúng ta cùng tha thiết cầu nguyện cho Giáo Hội luôn trung thành với Truyền Thống Tông Đổ ( Apostolic Succession) để tuyển chọn các vị kế nghiệp các Tông Đồ,là các Giám Mục trong toàn Giáo Hội , cách riêng chọn người kế nghiệp Thánh Phêrô trong sứ mệnh và vai trò cai quản Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, tức là Đức Thánh Cha, Giám mục Roma. Người Đại Diện ( Vicar) duy nhất hợp pháp của Chúa Kitô trên trần thế.Amen
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn vấn đề được đặt ra.
Lm.Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

--------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - 05-5-19- LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

SỐNG ĐỨC TIN và CHU TOÀN MỌI GIỚI RĂN CỦA CHÚA QUAN TRỌNG RA SAO CHO PHẦN RỖI CỦA NGƯỜI TÍN HỮU CHÚNG TA ?
Đối với người tín hữu Kitô Giáo thì vấn đề cứu rỗi là vấn đề quan trọng nhất,vì được cứu rỗi có nghĩa là được vào Thiên Đàng vui hưởng Thanh Nhan Chúa đời đời trong Vương Quốc tình yêu, an bình và hạnh phúc của Chúa, sau khi hoàn tất hành trình con người trên trần thế này.Thiên Chúa là tình yêu là “Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý.”( 1Tm 2:4) như Thánh Phaolô đã quả quyết không sai lầm.


Nhưng muốn được cứu rỗi, con người phải cộng tác với ơn Chúa bao lâu còn sống trên trần gian này, vì con người có tự do để chọn Chúa và sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Người để sống theo bản năng tội lỗi, theo thế gian vô luân vô đạo và đầu hàng ma quỉ để làm những sự dữ, sự tội như oan thù, chia rẽ, giết người, giết thai nhi, đâm ô, thay chồng đổi vợ, ngoại tình. gian tham, trộm cướp, bất công bóc lột người khác...như thực trạng sống của biết bao người trong thế giới vô luân vô đạo ngày nay.
Trước thực tế đó, người tín hữu chúng ta công tác với ơn Chúa có nghĩa là sống đức tin có chiều sâu thực sự và thể hiện đức tin đó cách cụ thể qua quyết tâm thực hành những giới răn, lề luật của Chúa về công bình, bác ái, thương yêu tha thứ như Chúa yêu thương và tha thứ cho chúng ta. Đó là điều kiện cho ta được cứu rỗi để vào Nước Trời hương phúc Thiên Đàng với Chúa đời đời sau khi hoàn tất hành trình đức tin trên trần thế này.
Đức Thánh Cha Phanxicô I, sau khi lên ngôi, đã cho công bố Tông Thư đầu tiên của ngài nhan đề: Ánh Sáng Đức Tin (Lumen Fidei) để nhắc nhở mọi tín hữu trong Giáo Hội suy niệm thêm nữa về quà tặng đức tin mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta để giúp chúng ta vững tin có Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo dựng mọi loài vô hình và hữu hình, tin Chúa Kitô đã xuống thế làm Con Người để – qua khổ hình thập giá – cứu chuộc cho nhân loại khỏi bị án phạt đời đời vì tội.
Ánh sáng Đức Tin là ngọn đuốc soi sáng cho chúng ta vững chắc bước đi theo Chúa Kitô là “Con Đường, là sự Thật và là sự Sống.” (Ga 14: 6). Chúa Giêsu-Kitô chính là Ánh Sáng đã đến trong trần gian để soi sáng và giải phóng đúng nghĩa cho những ai đang ngồi trong bóng tối của tử thần, của tội lỗi và sự dữ, như Người đã nói với với các môn đệ và dân Do Thái xưa như sau:
“Ta là ánh Sáng đến thế gian
Để bất cứ ai tin vào Ta
Thì không ở lại trong bóng tối.” (Ga 12: 46)
Tin vào Chúa để không ở lại trong bóng tối, có nghĩa là đoạn tuyệt với tội lỗi vì “tội lỗi gây nên sự chết, như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người vì một người đã phạm tội” như Thánh Phaolô đã quả quyết. (Rm 5: 12). Bóng tối là nơi trú ẩn của mọi sự dữ, sự gian tà, dâm đãng ô uế, vì ma quỷ, kẻ thù của chúng ta, đang ẩn mình ở các nơi đây để không ngừng cám dỗ để lôi kéo con người ra khỏi tình thương của Chúa để làm nô lệ cho chúng khiến mất hy vọng được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, “Đấng đã hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20 : 28).
Ánh sáng đức tin không những soi đường cho người có niềm tin vững chắc bước đi trong chân lý, trong đường ngay lành, lương thiện mà còn chỉ cho ta biết những gì trái nghịch với đức tin vào một Thiên Chúa Ba Ngôi để từ đó thêm quyết tâm sống theo đường lối của Người, xa tránh mọi sự dữ, sự tội để sống xứng đáng là người có niềm tin và thể hiện niềm tin ấy từ trong tâm hồn ra ngoài hành động cụ thể trước mặt bao người không có hay chưa có đức tin để:
“họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời.” (Mt 5: 16).
Thật vậy, cứ nhìn vào thực trạng con người đang sống ở khắp nơi trên thế giới ngày nay cũng đủ cho ta thấy lằn ranh của ánh sáng đức tin và bóng tối của sự dữ, sự chết đang bao phủ biết bao người sống trong đó.
Nếu ánh sáng đức tin đã soi dẫn cho những nhà truyền giáo quên thân mình để hy sinh đi mở mang Nước Chúa ở các nơi xa xôi và nguy hiểm bên Phi Châu, Nam Mỹ và A Châu, thì ngược lại bóng đen của sự dữ đang che mắt và lèo lái biết bao người khiến họ mù lòa không còn nhìn rõ lan ranh giữa sự thiện và sự dữ nữa.
Đó là những kẻ đang giết người vì tiền, vì tin tưởng cuồng tín, như bọn Hồi giáo quá khích (ISIS) đang giết hại các Kitô hữu thiểu số,ở Afganishtan, Pakistan, Ân Độ, Iran ,Iraq, Ai cập.,và Syria,,Công Hòa Trung Phi. . hay vì muốn bám lấy địa vi cai trị độc ác của mình nên đã ra tay sát hại bao trăm ngàn người đang đòi hỏi công lý, dân chủ và tự do.ở nhiều nơi trên thế giới.
Đó là những kẻ đang giết chết hàng triệu thai nhi mỗi ngày trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Trung Hoa lục địa, nơi trẻ nữ đã bị sát hại từ bao thế kỷ trước kia vì quan niệm trọng nam khinh nữ và nay vì chính sách “một hay hai con cho mỗi gia đình” của nhà cầm quyền cộng sản.
Đặc biệt, đó là những kẻ đang buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay. Sau cùng, đó là những kẻ gian manh, trộm cướp, mở sòng cờ bạc, nhà điếm, sản xuất phim ảnh khiêu dâm đồi trụy, trồng và bán các loại cần sa ma túy để làm giầu nhờ buôn bán các sản phẩm nguy hại cho thể xác và đồi trụy tinh thần con người, đặc biệt là giới trẻ ở khắp nơi.
Tất cả những loại người trên đây đã và đang sống trong bóng đêm của sự chết, sự hư mất đời đời nên cần được ánh sáng đức tin và Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô soi chiếu và giải thoát cho ra khỏi bóng đêm đáng ghê sợ đó..
Nhưng bằng cách nào?
Đây là câu hỏi đặt ra cho mỗi người tín hữu chúng ta, những người có diễm phúc đã được biết Chúa Kitô là chính Tin Mừng và là Ánh Sáng chiếu soi, nên có bổn phận và trách nhiệm đem ánh sáng ấy chiếu vào những nơi tối tăm, sình lầy, nhơ uế của tục hóa, vô thần và vô luân đang bao phủ và mê hoặc biết bao triệu người ở khắp nơi trên thế giới ngày nay.
Đây chính là trách nhiệm “phúc âm hóa môi trường sống” của người tín hữu Chúa Kitô bằng đời sống chứng nhân của mình ở giữa những người chưa biết Chúa và đang bị bóng đêm của sự chết bao phủ.
Thi hành vai trò chứng nhân nói trên đòi hỏi mọi tín hữu trong Giáo Hội – từ hàng Giáo Phẩm, giáo sí, tu sĩ và giáo dân – trước hết phải thực sự sống Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô, để minh chứng đức tin thực sự của mình. Ngược lại, nếu sống phản chứng hay mâu thuẫn với niềm tin, thì sẽ không thuyết phục được ai tin những gì mình muốn rao giảng cho họ, vì không ai có thể cho người khác cái mà chính mình không có.
Cụ thể, nếu mình rao giảng tinh thần nghèo khó, và khinh chê hư danh trần thế của Phúc Âm, nhưng chính bản thân mình lại chạy theo thế quyền, ham mê tiền của, hơn là hăng say rao giảng và làm chứng cho Tin Mừng thì làm sao có thể thuyết phục được ai tin và sống điều mình giảng dạy nữa?
Nếu lời nói không đi đôi với việc làm thì không thể làm nhân chứng cho bất cứ điều gì được, vì
“Ai tin vào Con Thiên Chúa, thì có lời chứng ấy nơi mình
Ai không tin Thiên Chúa, thì coi Thiên Chúa là kẻ nói dối
Vì kẻ ấy không tin vào lời Thiên Chúa
Để làm chứng về Con của Người.” (1 Ga: 5: 10)
Như thế, thật vô cùng cần thiết phải sống đức tin cách cụ thể để mời gọi người chưa có đức tin được nhận biết có Chúa Kitô đang sống và hoạt động nơi mình để từ đó đời sống và lời rao giảng của mình sẽ có sức thuyết phục người khác.
Cụ thể, nếu người Công giáo, người Tin hữu Chúa Kitô mà cũng ăn gian nói dối, lường đảo, hận thù, thay chồng đổi vợ, bất công và thờ ơ với người nghèo khó, thì làm sao có thể thuyết phục được ai tin có Chúa là Đấng nhân từ, công chính, yêu thương, nhịn nhục và tha thứ? Đó là lý do tại sao Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã khuyên dạy như sau:
“Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động thì nào có ích gì?
....Thật thế, một thân xác không hơi thở là một xác chết. Cũng vậy, đức tin không có
hành động là đức tin chết.’ (Gc 2: 14, 26)
Hành động mà thánh Gia-cô-bê nói trên đây là chính đời sống nhân chứng của người có niềm tin nơi Chúa trước mặt ngưởi khác để họ thấy chiếu sáng qua đời sống của mình những giá trị của Tin Mừng về công bằng, nhân ái, lương thiện, nhịn nhục và tha thứ đối nghịch với bất công, gian ác, bất lương, dâm ô, thù hận, vô nhân đạo, vô luân vô đạo của thế gian tục hóa, trống vắng niềm tin.
Trong bối cảnh ấy, nếu người có niềm tin vững mạnh và sống niềm tin của mình cách cụ thể trước mặt người đời, thì “anh em sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa, giữa một thế hệ gian tà sa đọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời.” như Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Phi-lip-Phê (Pl 2: 15)
Mặt khác, sống trong ánh sáng đức tin, người tín hữu không thể coi nhẹ việc cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích tối cần như Thánh Thể và hòa giải, và tuân giữ những giới răn của Thiên Chúa như Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong Tông Thư “Ánh Sáng Đức Tin, số 40-46”.
Cần cầu nguyện để nói lên niềm tin có Chúa và tin thác vào ơn Chúa để có đủ sức vươn lên trong mọi chiều kích của đức tin và lòng mến yêu Chúa. Cầu nguyện cũng đem ta đến gần Chúa là nguồn ban phát mọi ơn cần thiết giúp ta luôn sống trong tình yêu của Chúa và có đủ sức để chông lại mọi cám dỗ của ma quỷ tinh quái, xác thịt yêu đuối và gương xấu, dịp tội đầy rẫy trong mọi môi trường sống ngày nay.
Mặt khác, tuân giữ các Giới Răn của Chúa trong Bản Thâp Điều (Decaloque) cũng mạnh mẽ nói lên niềm tin và mến yêu Chúa cách cụ thể, như lời Chúa Giêsu đã nói với các Tông Đồ xưa:
“Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy...” (Ga 14: 23)
Mười điều Răn của Chúa không phải là những đòi hỏi có tính tiêu cực mà là những chỉ dẫn cụ thể để giúp ta đáp trả tình yêu vô biên của Thiên Chúa, thể hiện qua Chúa Kitô, Đấng cũng vì yêu thương mà “hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” (Mt 20 : 8).
Nói khác đi, thực thi Mười Điều Răn của Chúa, được đúc kết trong hai điều răn quan trọng nhất mà Chúa Kitô đã nói với một kinh sư kia (Mc 12: 29-31) là cách biểu lộ cụ thể niềm tin và biết ơn của chúng ta đối với Chúa, là Đấng đã tạo dựng và cứu độ chúng ta, chỉ vì Người yêu thương chúng ta quá vô vị lợi, chứ tuyệt đối Người không được lợi lộc gì mà phải làm như vậy. Do đó, yêu mến Chúa và tuân thủ các giới răn của Người chỉ có lợi cho chúng ta mà thôi, đúng như lời ông Mô-sê đã nói với dân Do Thái xưa:
“Anh em hãy lo thực hành như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em, không đi trệch bên phải, bên trái. Anh em hãy đi đúng con đường mà ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em, để anh em được sống, được hạnh phúc và được sống lâu trên mặt đất mà anh em sẽ chiếm hữu.” (Đnl 5: 32-33)
Như thế rõ rệt cho thấy là đức tin phải được thể hiện cụ thể bằng việc làm mới có giá trị cứu độ để được hưởng hạnh phúc Nước Trời, hạnh phúc mà “mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa chưa hề nghĩ tới, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người.” (1 Cor 2: 9) như Thánh Phaolô đã nhắc lại cho tín hữu Cô-rin-tô.
Tóm lại, nhờ ánh sáng đức tin chiếu soi, chúng ta được thấy Chúa và tin có Người, dù chưa từng trông thấy Người bằng con mắt xác thịt. Lai nữa, nhờ ánh sáng đức tin, ta được nhìn rõ lằn ranh giữa sự thiện và sự dữ, sự gian tà và nhơ uế để từ đó quyết tâm chọn lựa con đường dẫn đến gặp Chúa, là nguồn an vui, hạnh phúc bất diệt.


Tuy nhiên, chúng ta phải có thiện chí muốn cho ánh sáng đức tin soi dẫn, và có can đảm để bước đi trong ánh sáng đó thì mới mong tới được cùng đích, hay chính đối tượng của đức tin là Thiên Chúa, Cha rất nhân từ đang ngự trên trời cao và muốn “đến cư ngụ trong những ai yêu mến Chúa Kitô và tuân giữ lời Chúa”, như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ trong diễn từ cáo biệt trước khi thọ nạn thập giá. (x Ga 14: 23)
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra. Amen
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

TẠI SAO CHÚA ĐÒI HỎI MỌI NGƯỜI TRONG GIÁO HỘI PHẢI CÓ VÀ THỰC THI TINH THẦN KHIÊM NHU, VÀ KHÓ NGHÈO NỘI TÂM, ĐỂ MỞ MANG NƯỚC CHÚA, VÀ MỜI GỌI THÊM NHIỀU NGƯỜI NHẬN BIẾT CHÚA QUA GƯƠNG SỐNG NHÂN CHỨNG CỦA MÌNH ?


Khó nghèo là một bất hạnh lớn cho người đời , vì xét theo khôn ngoan của con người , thì đa số chỉ biết quí trọng giầu sang về vật chất,và chỉ đi tìm danh lợi chóng qua ở đời này, nên người ta khinh thường mọi giá tri tinh thần và đạo đức trong đó có giá trị của sự khó nghèo nội tâm.


Nhưng với người có niềm tin Thiên Chúa, tin có sự giầu sang vĩnh cửu trên Nước Trời, thì khó nghèo lại là một nhân đức cần phải có để xứng đáng là những môn đệ lớn nhỏ của Chúa Kitô, Đấng đã thực sự sống khó nghèo từ khi sinh ra trong hàng bò lừa cho đến khi chết trần trụi trên thập giá.
Thế giới ngày nay đang chìm đắm trong đam mê về tiền bạc và của cải vật chất,tôn thờ khoái lạc ( hedonism) khiến dửng dưng – hay lãnh cảm ( numb, insensitive) trước sự đau khổ, nghèo đói của biết bao triệu người là nạn nhân của bóc lột và bất công xã hội, đầy rẫy ở khắp nơi trong thế giới tôn thờ vật chất, tục hóa và suy thoái thê thảm về luân lý, đạo đức và lòng nhân đạo..
Đức Thánh Cha Phanxicô, trong một diễn từ , đã thẳng thắn nói rõ là thế giới hiện nay đang sống với thảm trạng “ tôn thờ tiền bạc ( cult of money ) và dửng dưng với bao triệu người nghèo đói ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia Phi Châu và Á Châu.
Không nói gì đến các nước vốn nghèo sẵn ở Á và Phi Châu, ngay ở Hoa Kỳ là nước được coi là giầu có nhất nhì thế giới mà cũng có biết bao người vô gia cư ( homeless) nghèo đói, sống vất vưởng trên hè phố ở các đô thị lớn như Los Angeles, Houston, Chicago, Nữu Ước... Họ nghèo đến nỗi không có nhà để ở và hàng ngày phải đến xin ăn ở các cơ sở từ thiện, trong khi những người triệu phú , tỉ phú không hề quan tâm đến họ. Chính quyền liên bang cũng như tiểu bang , cho đến nay, vẫn không có biện pháp tích cực nào để giúp những người nghèo vô gia cự này.Nhưng mỉa mai và nghịch lý là chánh quyền Mỹ cứ thi nhau đem tiền ra giúp các nước như Irak. Afghanistan, Pakistan, Ai Cập, Syria...vì quyền lợi chiến lược của Mỹ, chứ không phải vì thương giúp gì dân nghèo , nạn nhân của bóc lột và bất công xã hội ở các quốc gia đó; nhưng đáng buồn hơn nữa là dân các nước nói trên vẫn chống Mỹ và muốn đuổi quân đội Mỹ ra khỏi đất nước họ ! ( Irak và Afghanistan)!
Trước thực trạng trên của Thế giới, Đức Thánh Cha Phanxicô, từ ngày lên ngôi Giáo Hoàng, đã tỏ mối quan tâm sâu xa đối với người nghèo khó ở khắp nơi trên thế giới và luôn kêu gọi Thế giới nói chung và Giáo Hội nói riêng phải làm gì cụ thể để thương giúp những người nghèo khó mà Chúa Kitô đang đồng hóa với họ và thách đố chúng ta nhận ra Chúa nơi những người xấu số này để thương giúp họ cách thich hợp theo khả năng của mình.( x Mt 25)
Đức Thánh Cha đã nghiêm khắc phê phán thế giới “tôn thờ tiền bạc”vì người thấy rõ sự chênh lệch quá to lơn giữa người quyền thế giầu sang và người nghèo cô thân cô thế ở khắp nơi trên thế giới tục hóa này.Nên khi lên ngôi Giáo Hoàng ngày 13 tháng 3 năm 2013, ngài đã chọn danh hiệu “Phanxicô” cho triều đại Giáo Hoàng ( Pontificate) của mình để nói lên ước muốn sống tình thần nghèo khó của Thánh Phan xicô khó khăn Thành Assisi, và nhất là tình thần và đời sống khó nghèo thực sự của Chúa Giêsu Kitô, “ Đấng vốn giầu sang phú quí nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có.” ( 2 Cor 8:9)
Như thế, gương khó nghèo của Chúa Kitô mà Đức Thánh Cha Phanxicô muốn thực hành phải là gương sáng cho mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hôi noi theo, đặc biệt là hàng giáo sĩ và tu sĩ, là những người có sứ mạng và trách nhiệm rao giảng và sống Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô để nên nhân chứng dích thực cho Chúa , “Đấng đã đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20: 28).
Đặc biệt trong thư gửi cho các Tân Hồng Y ngày 13 tháng 1năm 2014 , Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh như sau :
“ cái mũ đỏ không có ý nghĩa là được thăng thưởng( promotion) một danh dự hay hào nhoáng bề ngoài( decoration) mà chỉ đơn thuần là một hình thức phục vụ đòi hỏi mở rộng tầm nhìn và con tim...do đó xin quí chu huynh nhận sự bổ nhiệm mới này với lòng khiêm cung, giản dị và vui mừng, nhưng vui mừng không theo cách người đời hay bất cứ cách mừng vui nào xa lạ với tinh thần của Phúc Âm về sự khắc khổ ( austerity) tiết độ ( sobriety) và khó nghèo ( poverty)”.
Tai sao phải sống khiêm nhu và khó nghèo ?
Trước hết, phải nói ngay là khó nghèo ở đây không có nghĩa là phải đói khát rách rưới, vô gia cư, lang thang đầu đường xó chợ thì mới được chúc phúc. Ngược lại, phải lo cho mình và cho người trong gia đình có phương tiện sống cần thiết tối thiểu như nhà ở, cơm ăn áo mặc, phương tiện di chuyển như xe cộ ,vì ở Mỹ không ai có thể đi bộ hay xe đạp để đi làm hay đi học được..Nghĩa là không nên “lý tưởng thiếu thực tế” để chỉ chú trọng đến đời sống tinh thần mà coi nhẹ hay sao nhãng đời sống vật chất đúng mức cho phù hợp với nhân phẩm.
Nhưng điều quan trọng nhất là phải có nhân đức khiêm nhường và thực sự sống tinh thần nghèo khó mà Chúa Kitô đã dạy các môn đệ và dân chúng xưa là “ Phúc cho ai có tinh thần (tâm hồn) nghèo khó vì Nước Trời là của họ. ( Mt 5:3; Lc 6 : 20)
Sự nghèo khó mà Chúa muốn dạy ở đây không có nghĩa là phải đói khát , rách rưới về phần xác như đã nói ở trên mà chỉ có nghĩa là không được ham mê tiền bạc và của cải vật chất, tiện nghi sa hoa, danh vọng phù phiếm chóng qua ở đời này đến độ vô tình làm nô lệ cho chúng khiến không còn chú tâm vào việc mở mang Nước Thiên Chúa trong tâm hồn của chính mình và nơi người khác; cụ thể là các giáo dân được trao phó cho mình phục vụ và săn sóc về mặt thiêng liêng.
Người tông đồ mà không có nhân đức khiêm nhu và khó nghèo, để khinh chê tiền bạc , của cải vật chất và danh vọng hào nhoáng ở đời , thì không thể rao giảng sự khó nghèo của Phúc Âm cho ai được. Không có và không sống khiêm nhu và khó nghèo thực sự , mà lại rao giảng nhân đức khó nghèo và khiêm tốn thì sẽ làm trò cười mỉa mai cho người nghe mà thôi. Chắc chắn như vậy.
Mặt khác, sự thành công của sứ mệnh rao giảng Tin Mừng không căn cứ ở những giáo đường, nhà xứ , Tòa Giám mục được xây cất sang trọng , lộng lẫy để khoe khoang với du khách mà cốt yếu ở chỗ xây dựng được đức tin và lòng yêu mến Chúa vững chắc trong tâm hồn của mọi tín hữu để giúp họ sống đạo có chiều xâu thực sự, chứ không phô trương bề ngoài với số con số đông tân tòng được rửa tội mỗi năm, đông người đi lễ hàng tuần, đi rước ầm ỹ ngoài đường phố, trong khi rất nhiều người ( giáo sĩ, tu sĩ) vẫn sống thiếu bác ái và công bình với nhau và với người khác.
Lại nữa,, người tông đồ lớn nhỏ - nam cũng như nữ- mà ham mê tiền bạc , thì sẽ không bao giờ có thể sống và thực hành được tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô, Đấng đã sống lang thang như người vô gia cư đến nỗi có thể nói được về mình là “ con trồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.” ( Mt 8: 20)
Thử hỏi Chúa có đóng kich “ khó nghèo” từ khi sinh ra trong hang bò lừa cho đến khi chết trần trụi trên thập giá hay không ?
Ai dám nói là có ? Nếu vậy, thì Chúa quả thực đã sống khó nghèo trong suốt cuộc đời tại thế để nêu gương nghèo khó trong tâm hồn và trong cuộc sống cho hết mọi người chúng ta. Nghĩa là các tông đồ của Chúa nói riêng và toàn thể dân Chúa nói chung phải thi hành lời Chúa để đi tìm và “ tích trữ cho mình những kho tàng ở trên trời nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được.” ( Mt 6: 20)
Nếu người tông đồ mà chỉ chú trọng đi tìm tiền của và xây dựng nhà cửa cho sang trọng, thay vì xây dựng cho mình và cho những người mình phục vụ một lâu đài nội tâm hoành tráng, thì mọi lời rao giảng về khó nghèo của Phúc Âm sẽ trở nên trống rỗng và không có sức thuyết phục được ai tin và thực hành, nếu không muốn nói là làm trò cười cho người nghe..
Muốn thuyết phục thì chính mình phải sống và xa tránh hay chống lại những cám dỗ về tiền bạc và của cải vật chất để không đôn đáo đi tìm tiền, làm thân với người giầu có để trục lợi.Và nhiên hậu, cũng sẽ không hơn gì bọn Biệt phái và luật sĩ xưa kia, là những kẻ chỉ dạy người khác sống nhưng chính họ lại không sống điều họ dạy bảo người khác, khiến Chúa Giêsu đã nhiều lần phải nghiêm khắc lên án họ là :“quân giả hình”, bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta , nhưng chính họ lại không buồn động ngón tay vào.”( Mt 23: 4).
Nói rõ hơn, giảng tinh thần khiêm nhu và khó nghèo của Chúa cho người khác, mà chính mình lại sống phản chứng bằng cách chạy theo tiền của, dùng những phương tiện di chuyển sang trọng như đi các loại xe đắt tiền như Lexus, BMW, Mercedes, Ìnfinity, Volvo... đeo đồng hồ longines, Omega ...làm thân với người giầu, không nhận dâng lễ cho người nghèo,vì có bổng lễ thấp, mà chỉ nhận lễ có bổng lễ cao, nhất là bày chuyện “lễ đời đời”, một hình thức buôn thần bán thánh (simonia), để lấy nhiều tiền của giáo dân không am hiểu về giá trị thiêng liêng của việc xin lễ..
Dĩ nhiên đây không phải là cách sống của tất cả mọi linh mục, giám mục nhưng dù chỉ có một thiểu số nhỏ, thì cũng đủ gây tai tiếng cho tập thể nói chung vì “ con sâu làm rầu nồi canh” như tục ngữ Việt Nam đã dạy.
Như vậy, Giáo Hội của Chúa phải thực sự khiêm nhu và nghèo khó theo gương Mẹ Maria , Thánh Giuse và nhất là Chúa Giêsu, Người đã thực sự sống và chết cách khiêm nhu nghèo khó để dạy mọi người chúng ta coi khinh , coi thường sự sang giầu, danh vọng phù phiếm ở đời này, để đi tìm sự giầu sang, vinh quang đích thực là chính Thiên Chúa, cội nguồn của mọi vinh phúc giầu sang vĩnh cửu mà tiền bạc, của cải và hư danh ở đời này không thể mua hay đổi chác được.
Chỉ có nghèo khó, và khiêm nhu thực sự trong tâm hồn, thì Giáo Hội mới có thể để lách mình ra khỏi mãnh lực của đồng tiền, của cải vật chất,danh vọng trần thế, để không làm tay sai cho thế quyền mà trục lợi cá nhân. Lại nữa, nếu quá yêu chuộng tiền bạc và hào nhoáng bề ngoài, để nay tổ chức mừng 10 năm,mai 15 năm, ngày khác 20 năm thụ phong.., để kiếm tiền mừng của giáo dân. Mà Kiếm để làm gì mới được chứ ? Cách riêng linh mục làm việc ở Mỹ,được ưu đãi về lương bổng nhiều hơn các linh mục làm việc ở Á ,Âu Châu, nhất là ở ViệtNam, nên không cần thiết phải kiếm thêm tiền bằng cách chỉ nhận làm lễ với bổng lễ cao, nhất là tổ chức mừng sinh nhật, mừng kỷ niệm thụ phong 5 năm, 10 năm, 15 năm nhiều lần như vậy để kiếm tiền mừng của giáo dân, nhưng lại là một trở ngại cho linh mục sống tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô-và mặt khác-làm phiền cho giáo dân cứ phải mừng cha xứ, cha phó trong những dịp như vậy !
Tóm lại, muốn thi hành có hiệu quả sứ mệnh thiêng liêng của mình là rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô, thì người Tông đồ lớn nhỏ phải là mẫu gương sáng chói về sự chê nghét của cải và hư danh trần thế , để cứ dấu này “ người ta sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy,( Ga 13: 35) như Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa.
Nước Thiên Chúa mà Giáo Hội có sứ mệnh mở mang trên trần thế này, không hề phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm tiền bạc , danh vọng trần thế và của cải vật chất hư hèn, mà chỉ cho mục đích hướng dẫn con người đi tìm kiếm hạnh phúc và bình an vinh cửu trên Nước Trời mà thôi. Lại nữa, không có giáo sĩ và tu sĩ nào có lời khấn sang giầu vật chất mà chỉ có lời khấn khó nghèo, vì Có khó nghèo thực sự trong tâm hồn thì mới dễ vươn mình lên cùng Chúa là chính nguồn vui, và vinh quang hạnh phúc vĩnh cửu . Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với anh thanh niên giầu có kia là “ hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo , anh sẽ được một kho tàng trên trời , rồi hãy đến mà theo tôi.” ( Mc 10: 21)


*Lời Chúa trên đây phải là đèn sáng soi cho mọi người tín hữu trong Giáo Hội- cách riêng cho hàng giáo sĩ và tu sĩ- bước đi qua bóng tối đen dầy đặc của tiền bạc, của cải vật chất,và danh vọng trần thế hư hão, là những quyến rũ đã và đang mê hoặc con người ở khắp nơi, khiến họ say mê đi tìm kiếm và tôn thờ, thay vì tìm kiếm và tôn thờ một mình Thiên Chúa là cội nguồn của mọi phú quý giầu sang và vinh quang đích thực mà thôi.
Chúa nói: “ ai có tai nghe thì nghe” ( Mt 13:43; Mc 4: 23; Lc 8:8)
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 8 of 166