mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay361
mod_vvisit_counterHôm Qua5966
mod_vvisit_counterTuần Này10956
mod_vvisit_counterTuần Trước56369
mod_vvisit_counterTháng Này197829
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả7998227

We have: 115 guests online
Your IP: 54.147.232.40
 , 
Today: Mar 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 293 =LOI CHUA CN17TN-C PDF Print E-mail

Chủ Nhật 17 Thường Niên, Năm C

HỌC HỎI  ĐỂ SỐNG ĐẠO - Bài đọc: Gen 18:20-32; Col 2:12-14; Lk 11:1-13.

KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:

1/ Bài đọc I: Abraham cầu xin cho dân thành Sodom.

1.1/ Trách nhiệm hỗ tương giữa người và người trong điều thiện cũng như trong tội lỗi:

Đây là một trong những trình thuật viết bởi truyền thống J: gọi Thiên Chúa là Jahveh và mô tả sự thân mật giữa Thiên Chúa và con người. Tuy là Thiên Chúa, nhưng vì tình bạn đối với Abraham, Ngài muốn tỏ cho Abraham biết những gì Ngài sắp làm.

Hai đặc tính quan trọng của Thiên Chúa là công bằng và nhân từ. Nhiều người, trong đó có tác giả của Sách Sáng Thế Ký và Abraham, thắc mắc: đặc tính nào Thiên Chúa sẽ dùng để xét xử và luận phạt con người? Ông Abraham muốn xin Thiên Chúa thương xót và tha thứ cho dân thành Sodom, nên ông tiến lại gần lại gần Ngài và thưa: "Chẳng lẽ Ngài tiêu diệt người lành một trật với kẻ dữ sao? Giả như trong thành có năm mươi người lành, chẳng lẽ Ngài tiêu diệt họ thật sao? Chẳng lẽ Ngài không dung thứ cho thành đó, vì năm mươi người lành trong đó sao? ... Giết chết người lành một trật với kẻ dữ, coi người lành cũng như kẻ dữ, chắc không được đâu! Đấng xét xử cả trần gian lại không xét xử công minh sao?"

Qua lời van xin của Abraham, tác giả của Sách muốn nhấn mạnh tội lỗi và sự thánh thiện không chỉ có tính cá nhân, mà còn mang tính cộng đồng: một người làm lành mọi người đều hưởng; một người làm ác mọi người đều phải chịu lây. Thiên Chúa cũng đồng ý như vậy khi Ngài chấp nhận lời khẩn cầu đầu tiên của Abraham.

1.2/ Thiên Chúa công bằng và nhân từ trong việc luận phạt.

Abraham muốn khêu gợi lòng nhân từ của Thiên Chúa, vì sự thiện của một nhóm người, để xin Thiên Chúa ân xá cho dân thành Sodom, trong đó có cháu của ông là Lot và gia đình của ông này. Abraham thương lượng với Thiên Chúa: bắt đầu từ 50 và giảm dần cho tới 10, nhưng ông không thể giảm tới con số nhỏ hơn 10. Vì thế, Sodom đã bị tiêu diệt bởi lửa diêm sinh từ trời, chỉ có ông Lot và gia đình của ông thoát nạn.

Đâu là tiêu chuẩn Thiên Chúa dùng để phán xét và luận phạt con người? Mặc dù không tìm được câu trả lời rõ ràng; nhưng tác giả cho thấy cách phán xét của Thiên Chúa: không quá khắt khe đến độ không thể cầu nguyện hay thương lượng cho được và cũng không quá dễ dàng đến độ hễ cầu xin là được nhận lời.

2/ Bài đọc II: Đức Kitô là người bầu chủ cho chúng ta trước Thiên Chúa.

2.1/ Bí tích Rửa Tội hoàn hảo hơn phép cắt bì.

Nhiều người Do-thái tin tưởng phép cắt bì là dấu họ thuộc về Thiên Chúa, là dân riêng của Ngài. Tuy nhiên, nhiều ngôn sứ đã đả phá quan niệm này và chứng minh việc cắt bì xác thịt không đủ để Thiên Chúa bảo vệ. Họ phải cắt bì cả đôi tai để lắng nghe lời Thiên Chúa, và cắt bì cả lòng trí để vâng phục và làm theo ý của Ngài.

Thánh Phaolô nhắc nhở cho các tín hữu Colossê sự quan trọng của bí tích Rửa Tội: "Trước kia, anh em là những kẻ chết vì anh em đã sa ngã, và vì thân xác anh em không được cắt bì, nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Kitô: Thiên Chúa đã ban ơn tha thứ mọi sa ngã lỗi lầm của chúng ta."

Thần học của thánh Phaolô về bí tích Rửa Tội giải thích: khi một tín hữu bị dìm mình trong nước Rửa Tội, mọi tội lỗi của người đó bị cuốn trôi đi vì cái chết và mai táng của Đức Kitô; để khi trồi lên khỏi nước, họ là một con người mới trong Đức Kitô. Họ cùng được trỗi dậy và cùng sống với Ngài. Sự sống của người tín hữu từ nay gắn liền với sự sống của Đức Kitô, đến nỗi họ có thể thốt lên như thánh Phaolô: "Từ nay tôi sống, nhưng không còn là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi." Qua cái chết của Đức Kitô, Thiên Chúa đã xóa bỏ mọi tội lỗi cho con người, và nhờ đó, con người được hòa giải với Thiên Chúa.

2.2/ Người đã huỷ bỏ sổ nợ của chúng ta đi, bằng cách đóng đinh nó vào thập giá.

Sổ nợ (cheirógraphon) là chữ chỉ được dùng một lần ở đây trong toàn Tân Ước. Danh từ này có nghĩa là những gì viết bằng tay trên giấy trắng mực đen. Trong thương mại, nó có nghĩa là những gì một người có bổn phận phải trả cho chủ nợ. Trong Lề Luật, nó có nghĩa là những tội lỗi của một người.

Con người đã nợ Thiên Chúa rất nhiều về mọi phương diện. Ở đây, thánh Phaolô có lẽ muốn nhấn mạnh đến sổ nợ của con người theo Lề Luật. Mỗi lần con người không thi hành Luật, con người phạm một tội, hậu quả của tội nặng và cố tình là sự chết. Cái chết là hình phạt của sự không vâng phục (Gen 2:17; Deut 30:19). Nếu xét như thế, mỗi người đã phải chết bao nhiêu lần rồi!

Trong Thư Rôma, thánh Phaolô giải thích rõ ràng hơn làm thế nào Đức Kitô giải thoát con người khỏi Lề Luật, tội lỗi, và sự chết (Rom 6-8). Trong Ephesians 2:15, Phaolô cũng cắt nghĩa lý do của sổ nợ là những Lề Luật. Tất cả sổ nợ của con người bị hủy diệt đi, khi Đức Kitô đại diện cho toàn thể nhân loại, gánh mọi hình phạt của tội trên Ngài, khi Ngài tình nguyện đóng đinh vào Thập Giá.

3/ Phúc Âm: Chúa Giêsu dạy các môn đệ cách cầu nguyện và thái độ phải có.

3.1/ Lời cầu nguyện lý tưởng nhất: Con người không biết cách cầu nguyện làm sao cho đúng, vì điều cần cầu xin nhất lại không cầu xin, mà chỉ chú tâm đến điều phụ thuộc; hay cầu xin những gì không có lợi cho mình trong tương lai, chẳng hạn xin giầu có hay chức tước, để rồi dần dần lún sâu trong tội và sống xa Chúa.

Khi các môn đệ xin Chúa Giêsu dạy cho biết cách cầu nguyện, Ngài dạy cho các ông Kinh Lạy Cha. Kinh này được Giáo Hội coi là kinh quan trọng nhất, vì nó phát xuất từ Đức Kitô, Đấng duy nhất biết và thi hành trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa.

Có hai sự khác biệt giữa kinh Lạy Cha của Luke và Matthew: Thứ nhất, trình thuật của Luke thiếu câu "ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời." Thứ hai, trình thuật của Luke cũng thiếu câu "xin cứu chữa chúng con khỏi sự dữ."

Cả hai trình thuật đều đặt sự quan trọng của việc cầu xin cho Danh Chúa được cả sáng và Nước Chúa được trị đến, trước khi hướng tới những nhu cầu căn bản của con người. Lương thực hằng ngày, sự tha thứ, và sức mạnh để vượt qua mọi cơn cám dỗ là ba điều quan trọng trong đời sống thường nhật của một Kitô hữu.

3.2/ Thái độ phải có khi cầu nguyện

(1) Kiên trì: Ví dụ Chúa Giêsu đưa ra có mục đích đòi hỏi con người phải có thái độ kiên khi cầu nguyện. Truyền thống Do-thái rất hiếu khách, nhất là những khách từ xa tới. Người kêu xin bị đặt trong thế kẹt: một là chịu thất lễ với khách, hai là chịu làm phiền hàng xóm, anh đã chọn giải pháp thứ hai để bảo vệ sự sống cho người bạn mình.

Nhà của người Do-thái ngày xưa không rộng mà nhân số trong nhà lại đông, nên cả gia đình thường ngủ chung dưới sàn trên chăn chiếu. Vì thế, nếu một người phải thức và ra mở cửa sẽ làm cho những người khác phải thức theo. Đó là lý do người hàng xóm từ chối lúc đầu; nhưng khi anh bạn có khách cứ gõ và nói mãi, anh phải chỗi dậy lấy bánh cho mượn, không phải vì tình bạn; nhưng vì sự lỳ lợm của anh. Lúc này, chắc những người trong gia đình đang ngủ chung cũng đã thức dậy hết!

(2) Tin tưởng: Thái độ này còn quan trọng hơn cả thái độ kiên trì, vì nó là động lực giúp con người chạy đến với Thiên Chúa. Hầu như trong tất cả các phép lạ, Chúa Giêsu chỉ làm khi Ngài nhận thấy có dấu chỉ của niềm tin. Ngài từ chối không làm bất cứ phép lạ nào khi chỉ thấy sự cứng lòng hay thử thách.

Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ so sánh người Cha trên trời với các người cha dưới đất: "Ai trong anh em là một người cha, mà khi con xin cá, thì thay vì cá lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc nó xin trứng lại cho nó bò cạp? Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?"

ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:

- Chúng ta có bổn phận cầu xin Thiên Chúa cho những người tội lỗi được ăn năn trở lại, vì đó là điều đẹp lòng Thiên Chúa.

- Đức Kitô là căn nguyên của tha thứ, hòa giải, và mọi ơn lành. Để lời cầu nguyện chúng ta được Thiên Chúa lắng nghe, chúng ta phải cầu xin nhờ danh và công nghiệp của Ngài.

- Để lời cầu nguyện có hiệu quả, chúng ta cần có thái độ tin tưởng và kiên trì nơi Thiên Chúa. Chúng ta cứ việc cầu xin mọi sự đẹp ý Thiên Chúa, nhưng phải sẵn lòng để chấp nhận thánh ý của Ngài.
Kính Chuyển:
Hồng
-----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO #292= DUC TIN KHONG VIEC LAM PDF Print E-mail

TẠI SAO ĐỨC TIN KHÔNG CÓ VIỆC LÀM LÀ ĐỨC TIN CHẾT ?
Hỏi: xin cha giải thích rõ thêm thế nào là có đức tin và phải sống đức tin ấy ra sao trong
thực tế để mưu phần rỗi cho mình ?
Trả lời :
Đức tin là quà tặng nhưng không ( gratuitous gift) mà Thiên Chúa ban cho con người để giúp
con người nhận biết và tôn thờ Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa toàn năng, là Cha đầy lòng yêu
thương, tha thứ và cứu chuộc con người nhờ Chúa Cứu Thế Giê-su-Kitô
Nhưng có đức tin thì phải sống đức tin ấy cách xứng hợp, thì mới mong hưởng nhờ những ơn
ich thiêng liêng của đức tin.Sống xứng hợp có nghĩa phải thể hiện hay chứng minh đức tin bằng
hành động cụ thể trong đời sống của mỗi người tín hữu, căn cứ theo lời dạy sau đây của Thánh
Giacôbê Tông Đồ : " đức tin không có việc làm là đức tin chết" ( Gc2: 17)
Thật vậy, đức tin phải được chứng minh cụ thể bằng việc làm, chứ không thể nói suông ngoài
môi miệng được. Ông Abraham, Tổ Phụ của dân Do Thái, đã nêu gương sáng chói về đức tin qua
việc làm cụ thể của ông.. Ông chỉ có một người con trai duy nhất là Ísaac. Vậy mà một ngày kia
Thiên Chúa đã thử thách đức tin và lòng mến Chúa của ông bằng cách đòi ông hiến dâng con
mình làm lễ tòan thiêu dâng lên Chúa. Chắc ông phải buồn lòng lắm, vì ông chỉ có một con trai
duy nhất trong tuổi già. Nhưng đức tin và lòng mến Chúa của ông còn lớn hơn lòng thương yêu
con một của mình. Nên ông đã quyết định hy sinh con mình cho Chúa để chứng minh lòng tin và
yêu mến Chúa của ông.
Để thực hiện lòng vâng phục Thiên Chúa, ông đã dẫn con mình lên núi, thiếp lập bàn thờ và trói
con lại, đặt lên bàn đó và giơ dao lên định chém cổ con mình, thì Thiên Thần Chúa đã kip thời
can thiệp, sai Sứ Thần đến để cứu mang sống của Isaac. Sau đó Thiên Chúa đã phán bảo ông
qua miệng Sứ Thần như sau:
:"bởi vì ngươi dám làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta
sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao
trên bầu trời , như cát ngoài bãi biển ...mọi dân tộc trên mặt đất sẽ cầu chúc cho nhau được
phúc như dòng dõi ngươi, chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta." ( St 22: 15-18)
Abraham đã đẹp lòng Chúa vì dám hy sinh con mình cho Chúa. Vì thế ông đã trở thành cha của
những kẻ có niêm tin Chúa bằng hành động cụ thể. Các Thánh tử Đạo từ xưa đến nay cũng là
những người dám hy sinh mạng sống mình để tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô, dù phải chịu
muôn vàn khốn khó và cực hình bởi tay những kẻ bách hai đức tin Ki tô Giáo.
Chúng ta không được phúc chết cho niềm tin như các anh hủng tử đạo, nhưng vẫn có thể sống
đức tin bằng hành động tuân giữ các giới răn của Chúa căn cứ trên lời dạy của Thánh Gioan
Tông Đồ như sau:
" Nếu ai giữ các giới răn của Thiên Chúa
thì đó là dấu chỉ chúng ta đã nhận biết Thiên Chúa
Ai nói rằng mình biết Chúa mà không giữ các điều răn của Chúa
đó là kẻ nói dối, và chân lý không có trong kẻ ấy." ( 1Ga 2: 3-4)
Điều răn của Chúa là những điều gì ?
Đó là không được gian tham, trộm cắp, căm thù, giết người,giết thai nhi, li dị, gian dâm, thay vợ
đổi chồng, ham mê của cải vật chất, làm chứng gian, bóc lột người khác, dâm ô thác loan, và
dửng dưng trước sự nghèo đói, đau khổ của anh chị em đồng loại..
Cứ nhìn vào thực trạng sống của con người trên khắp thế gian tục hóa ngày nay thì đủ biết ai
đang tuân giứ các Điều răn của Chúa và ai đang ngoảnh mặt làm ngơ và chà đạp lên những gì
Thiên Chúa muốn con người phải làm để mặc sức sống theo ý muốn của riêng mình, chay theo
thế gian vô luân, vô đao, và làm nô lệ cho ma quỷ khiến mất hy vọng được cứu rỗi, nhờ công
nghiệp cứu chuộc cực trọng của Chúa Kitô " Đấng đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc
cho muôn người." ( Mt 20:28)
Chúa Kitô đến trần gian như ánh sáng để đánh tan bóng đen của tội lỗi và mọi sự dữ, và soi sáng
cho những ai đang ngồi trong đêm tối của tử thần để giúp họ thoát ra khỏi bóng đen của sự chết
như Chúa đã nói với các môn đệ Người và dân Do Thái xưa kia:
"Ta là ánh Sáng đến thế gian
Để bất cứ ai tin vào Ta
Thì không ở lại trong bóng tối." (Ga 12: 46)
Nhờ đức tin soi dẫn để đưa chúng ta ra khỏi bóng tối, trước hết có nghĩa là phải đoạn tuyệt với
tội lỗi vì "tội lỗi gây nên sự chết, như thế sự chết đã lan tràn tới mọi người vì một người đã
phạm tội" như Thánh Phaolô đã quả quyết. (Rm 5: 12). Bóng tối là nơi trú ẩn của mọi sự dữ,
sự gian tà, dâm đãng ô uế; và ma quỷ, kẻ thù của chúng ta, đang ẩn mình ở nơi đây để không
ngừng lôi kéo con người ra khỏi tình thương của Chúa để làm nô lệ cho chúng khiến mất ơn
nghĩa với Chúa và mất hy vọng được sống đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Ánh sáng đức tin là chính Chúa Kitô soi đường cho người có niềm tin bước đi theo Chúa là "
Con Đường, là sự Thật và là sự Sống" ( Ga 14:6)Ánh Sáng đó hướng dẫn con người đi trong
chân lý, trong đường ngay lành, lương thiện, để không làm những gì trái nghịch với đường lối
của Thiên Chúa khiến mất hy vọng được cứu rỗi. Nói khác đi, phải quyết tâm sống theo đường
lối của Chúa, xa tránh mọi sự dữ, sự tội để sống xứng đáng là người có niềm tin và thể hiện niềm
tin ấy từ trong tâm hồn ra ngoài hành động cụ thể trước mặt bao người không có hay chưa có đức
tin để:
"họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên
trời." (Mt 5: 16).
Thật vậy, cứ nhìn vào thực trạng con người đang sống ở khắp nơi trên thế giới ngày nay cũng đủ
cho ta thấy lằn ranh của ánh sáng đức tin và bóng tối của sự dữ, sự chết đang bao phủ biết bao
người sống trong đó.
Nếu ánh sáng đức tin đã soi dẫn cho những nhà truyền giáo quên thân mình để hy sinh đi mở
mang Nước Chúa ở các nơi xa xôi và nguy hiểm bên Phi Châu, Nam Mỹ và A Châu, thì ngược
lại bóng đen của sự dữ đang che mắt và lèo lái biết bao người khiến họ mù lòa không còn nhìn
rõ lan ranh giữa sự thiện và sự dữ, giữa sự sống và sự chết
Đó là những kẻ đang giết người vì tiền, vì cuồng tín ( bọn cuồng tín Hồi Giáo ISIS đang gây
thánh chiến Jihad để tiêu diệt các tôn giáo khác nhân danh Thượng Đế của chúng), hay vì muốn
bám lấy địa vi cai trị độc ác của mình nên đã ra tay sát hại bao trăm ngàn người đòi hỏi công
lý, dân chủ và tự do.ở nhiều nơi trên thế giới.
Đó là những kẻ đang giết chết hàng triệu thai nhi mỗi ngày trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Trung
Hoa lục địa, nơi trẻ nữ đã bị sát hại từ bao thế kỷ trước kia vì quan niệm trọng nam khinh nữ và
nay vì chính sách "một hay con cho mỗi gia đình" của nhà cầm quyền cộng sản.
Đó là những kẻ đang buôn bán phụ nữ và bắt cóc trẻ gái để bán cho bọn bất lương hành nghề
mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay. Sau cùng,
đó là những kẻ gian manh, trộm cướp, mở sòng cờ bạc, nhà điếm, sản xuất phim ảnh khiêu dâm
đồi trụy, trồng và bán các loại cần sa ma túy để làm giầu nhờ buôn bán các sản phẩm nguy hại
cho thể xác và đồi trụy tinh thần con người, đặc biệt là giới trẻ ở khắp nơi.
Tất cả những loại người trên đây đã và đang sống trong bóng đêm của sự chết, sự hư mất đời đời
nên cần được ánh sáng đức tin và Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô soi chiếu và giải thoát cho ra
khỏi bóng đêm đáng ghê sợ đó..
Nhưng bằng cách nào?
Đây là câu hỏi đặt ra cho mỗi người tín hữu chúng ta, những người có diễm phúc đã được biết
Chúa Kitô là chính Tin Mừng và là Ánh Sáng chiếu soi, nên có bổn phận và trách nhiệm
đem ánh sáng ấy chiếu vào những nơi tối tăm, sình lầy, nhơ uế của tục hóa, vô thần và vô luân
đang bao phủ và mê hoặc biết bao triệu người ở khắp nơi trên thế giới ngày nay.
Đây chính là trách nhiệm "phúc âm hóa môi trường sống" của người tín hữu Chúa Kitô bằng
đời sống chứng nhân của mình ở giữa những người chưa biết Chúa và đang bị bóng đêm của sự
chết bao phủ.
Thi hành vai trò chứng nhân nói trên đòi hỏi mọi tín hữu trong Giáo Hội – từ hàng Giáo Phẩm,
giáo sí, tu sĩ và giáo dân – trước hết phải thực sự sống Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô, để
minh chứng đức tin thực sự của mình. Đặc biết, hàng giáo sĩ- giám mục và linh mục- phải nêu
gương khó nghèo của Phúc Âm để không đôn đáo chay ra nước ngoài kiếm tiền cho nhưng nhu
cầu bất tận, trong đó có lòng tham mê tiền của của chính mình. Đặc biệt, không được tự hạ mình
để xưng "con hay em" khi tiếp xúc với giáo dân ở ngoại quốc để mong họ cho nhiều tiền như có
người đã làm ở Mỹ và ÚC.
Nếu sống phản chứng hay mâu thuẫn với niềm tin, thì sẽ không thuyết phục được ai tin những
gì mình muốn rao giảng cho họ, vì không ai có thể cho người khác cái mà chính mình không có.
Cụ thể, nếu mình rao giảng tinh thần nghèo khó, và khinh chê hư danh trần thế của Phúc Âm,
nhưng chính bản thân mình lại chạy theo thế quyền, ham mê tiền của, hơn là hăng say rao giảng
và làm chứng cho Tin Mừng thì làm sao có thể thuyết phục được ai tin và sống điều mình giảng
dạy nữa?
Nếu lời nói không đi đôi với việc làm thì không thể làm nhân chứng cho bất cứ điều gì được, vì
"Ai tin vào Con Thiên Chúa, thì có lời chứng ấy nơi mình
Ai không tin Chúa, thì coi Chúa là kẻ nói dối
Vì kẻ ấy không tin vào lời Thiên Chúa
Để làm chứng tá về Con của Người." (1 Ga: 5: 10)
Như thế, thật vô cùng cần thiết phải sống đức tin cách cụ thể để mời gọi người chưa có đức tin
được nhận biết có Chúa Kitô đang sống và hoạt động nơi mình để từ đó đời sống và lời rao
giảng của mình sẽ có sức thuyết phục người khác.
Cụ thể, nếu người Công giáo, người Tin hữu Chúa Kitô mà cũng ăn gian nói dối, lường đảo, hận
thù, thay chồng đổi vợ, bất công và thờ ơ với người nghèo khó, thì làm sao có thể thuyết phục
được ai tin có Chúa là Đấng nhân từ, công chính, yêu thương, nhịn nhục và tha thứ? Đó là lý
do tại sao Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã khuyên dạy như sau:
"Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động thì nào có ích gì?
....Thật thế, một thân xác không hơi thở là một xác chết. Cũng vậy, đức tin không có
hành động là đức tin chết.' (Gc 2: 14, 26)
Hành động mà thánh Gia-cô-bê nói trên đây là chính đời sống nhân chứng của người có niềm
tin nơi Chúa trước mặt ngưởi khác để họ thấy chiếu sáng qua đời sống của mình những giá trị
của Tin Mừng về công bằng, nhân ái, lương thiện, nhịn nhục và tha thứ đối nghịch với bất
công, gian ác, bất lương, dâm ô, thù hận, vô nhân đạo, vô luân vô đạo của thế gian tục hóa, trống
vắng niềm tin....

LM NGÔ TÔN HUẤN

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 291 =TRAO TAC VU LINH MUC PDF Print E-mail

CÓ NGHI THỨC NÀO GỌI LÀ "TRAO TÁC VỤ LINH MỤC" KHÔNG ?
Trước đây tôi đã có dịp nói qua về các nghi thức ( Rites) trong Giáo Hội Công
Giáo, đặc biệt về cái gọi là "trao tác vụ linh mục" như người ta đã gọi ở một vài
nơi bên ViệtNam. Nay tôi lại thấy xuất hiên trên một trang mạng điện tử cụm từ
trên đây , nên tôi thấy cần phải nói rõ lại một lần nữa như sau:
Trước Công Đồng Vaticanô II ( 1962-65), liên quan đến các chức Thánh ( Ordo=
Holy Orders)) được trao trong Giáo Hội Công Giáo thời đó, có các chức thánh sau
đây:
I- Bốn chức thánh nhỏ ( minor Orders) gồm có
1- Chức giữ và mở cửa nhà thờ ( Porter)
2- Chức đọc Sách Thánh ( Reader)
3- Chức trừ quỷ ( Exorcist)
4- Chức Giúp Lễ ( Acolyte)
Nhưng trước khi được trao các chức nhỏ nói trên, đại chủng sinh phải được lãnh
nghi thức cắt tóc ( Tonsure)
II- Các chức thánh lớn ( major Orders ) gồm có:
1- Chức Phụ Phó Tế ( Subdiaconate)
2- Chức Phó Tế ( diaconate)
3- Chức linh mục ( Presbyterate)
4- Chức Giám mục ( Episcopate)
Sau Công Đồng Vaticanô II, các chức thánh nhỏ nói trên đã được sửa đổi để chỉ
còn lại hai thừa tác vụ ( ministry) đọc sách và giúp lễ như sau:
1- Bãi bỏ nghi thức cắt tóc
2- Bải bỏ hai chức giữ và mở cửa nhà thờ ( Porter) và chức trừ quỷ
( Exorcist)
Hai chức thánh nhỏ đọc sách và giúp lễ được thay đổi thành hai thừa tác vụ
đọc sách và giúp lễ :
1- Ministry of Reader
2- Ministry of Acolyte
Bãi bỏ luôn chức Phụ Phó Tế ( Subdiaconate) để chỉ còn hai chức thánh lớn
(Major Orders) là Chức Phó Tế và Chức Linh mục .Nghĩa là, từ sau Công Đồng
Vaticanô II cho đến này , Giáo Hội chỉ còn ba chức Thánh sau đây:
1- Chức Phó Tế ( Diaconate)
2-Chức Linh mục ( Presbyterate)
3-Chức Giám mục ( Episcopate ) ( x Giáo luật số 1009&1)
Vì không còn là các chức thánh nhỏ nữa, nên chỉ có nghi thức trao tác vụ đọc sách
và giúp lễ. ( Ínstallation of ministries of Reader and Acolyte). Và vì không còn là
chức thánh nữa, nên các đại chủng sinh đã lãnh hai tác vụ nói trên vào cuối năm
thần I và II, sẽ không bị ràng buộc phải xin tháo gỡ ( dispensation) nếu không
muốn tiến lên lãnh nhận chức thánh Phó Tế và Linh mục. Và hiện nay, vì nhu cần
cho rước lễ và phụ giúp bàn thánh, giáo dân cũng được phép lãnh tác vụ giúp lễ để
phụ cho rước lễ và lau chùi ( purify) chén thánh sau khi cho rước lễ.
Các thừa tác viên bất thường cho rước lễ, hay còn gọi thông thường là các thừa tác
viên Thánh thể ( Extraordinay ministers for Holy Communion), nếu không có tác
vụ giúp lễ ( Ministry of Acolyte) thì chỉ được phép phụ giúp cho rước lễ, chứ
không được phép lau chùi chén thánh sau khi cho rước lễ.
Cũng cần nói thêm ở đây là các thừa tác viên Thánh Thể này chỉ được cần đến khi
không có đủ linh mục hay phó tế cho rước Lễ mà thôi. Nghĩa là khi có đông linh
muc đồng tế và phó tế phụ giúp Bàn Thánh, thì không cần đến các thừa tác viên
bất thường kia cho rước lễ nữa. Một điểm quan trọng nữa là các thừa tác viên bất
thường này không được phép tự ý lấy Mình Thánh từ trong Nhà Tạm
( Tabernacle) hay trên Bàn Thờ để bỏ vào các đĩa đựng Mình Thánh, hay lấy chai
đựng Máu Thánh để đổ ra các chén đựng Máu Thánh như nhiều nơi ở Mỹ đang
làm sai. Lại nữa, Thừa Thác viên Thánh Thể không có tác vụ giúp lễ thì không
được phép lau chùi các chén thánh sau khi cho rước lễ.Việc lau chùi ( purification)
này phải do chính linh mục, phó tế hay thừa tác viên giúp lễ được làm mà thôi.

Liên quan đến các Nghi Thức trao tác vụ đọc sách và giúp lễ , nhất là Lễ truyền
Chức thánh PhóTế , linh muc và Giám mục, Sách Nghi Lễ ( Rites) của Giáo Hội
Công Giáo do Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI ký ban hành ngày 15 tháng 8 năm
1972 thì chí có các Nghi Thức và Lễ Truyền Chức sau đây:
1-Nghi Thức trao tác vụ đọc sách ( Ínstitution of readers)
2-Nghi Thức trao tác vụ giúp lễ ( Institution of Acolytes)
3- Nghi Thức chấp nhận tư cách ứng viên để lãnh nhận Chức Thánh
Phó Tế và Linh mục ( Admission to Candidacy for Ordination as
Deacons and Priests)
4- Lễ truyền chức Phó Tế (Ordination of a deacon)
5- Lễ truyền chức linh mục ( Ordination of a Priest)
6- Lễ thánh hiến hay truyền chức Giám mục ( Consecration or
Ordination of a Bíshop)
Ngoài các Nghi Thức và Lễ truyền chức nói trên ra, tuyệt đối không có nghi thức
nào gọi là " trao tác vụ linh muc" cả. Do đó, ai tự ý tung ra cái gọi là "Nghi thức
trao tác vụ linh mục" này là đã không hiểu gì về truyền thống Giáo Hội liên quan
đến các Nghi Thức ( Rites) và các Lễ truyền chức thánh.Hơn thế nữa, còn lẵn lộn
giữa thừa tác vụ ( ministerium=ministry) và chức thánh (Ordo=holy Order).
Nói rõ hơn, phải có chức thánh cấp Phó Tế, thì mới được thi hành các tác vụ -hay
thừa tác vụ- Phó tế ( diaconal ministries) có chức thánh linh mục thì mới được thi
hành tác vụ linh mục ( priestly ministries) có chức thánh Giám mục thì mới được
thi hành các tác vụ Giám mục ( Episcopal ministries).
Cho nên, phải nói là lễ truyền chức Phó tế, Linh mục hay Giám mục trước khi
được thi hành các thừa tác vụ liên hệ.Các chức thánh này phải được trao trong
Thánh lễ truyền chức , nên phải nói là Lễ Truyền Chức Phó Tế, linh mục hay Giám
mục, chứ không được nói là Nghi Thức trao tác vụ Phó tế hay Linh mục như người
ta đã tự ý "phăng ra" một cách sai lầm. Phăng ra như vậy trước hết là không hiểu
sự khác biết giữa chức thánh và thừa tác vụ.Chức thánh thì được lãnh nhận trong
Thánh Lễ Truyền Chức ( Mass of Ordination), còn tác vụ thì được Giám mục liên
hệ trao cho Phó tế hay Linh mục sau khi đã được truyền chức.
Khi nói đến trao tác vụ là nói đến hai tác vụ đọc sách và giúp lễ. Vì đây không còn
là chức thánh mà chỉ là tác vụ, nên có thể đươc cử hành ngoài Thánh Lễ và người
trao tác vụ không buộc phải là Giám mục, mà có thể là Bề Trên Chủng viện hay
Bề Trên Dòng hay Tu Hội, trong khi chỉ có Giám mục mới được truyền các chức
thánh cấp Phó Tế, Linh muc hay Giám mục.
Lại nữa, một Phó tế hay Linh mục, sau khi được chịu chức thánh và muốn thi hành
thừa tác vụ của mình, thì phải được Giám mục mà mình trực thuộc trao cho năng
quyền ( Faculty) để thi hành tác vụ Phó Tế như phụ giúp Bàn Thánh, đọc và chia sẻ
lời Chúa trong Thánh Lễ ( với sự cho phép của cha Xứ nơi mình phục vụ) , chứng
hôn phối, rửa tội cho trẻ em ( nếu cha xứ yêu cầu) cử hành nghi thức an táng. Phó
tế không được rửa tội cho người lớn ( Adults) vì người lớn khi lãnh nhận bí tích
Rửa tội thì cũng được lãnh bí tích Thêm sức và Thánh Thể luôn, nên chỉ có linh
mục hay Giám mục rửa tội và thêm sức mà thôi, Tuy nhiên, nhiên trong trường
hợp khẩn cấp nguy tử, thì Phó tế hay bất cứ ai, kể cả người chưa được rửa tội, đều
được phép rửa tội cho người lớn và trẻ em, với điều kiện dùng nước và công thức
Chúa Ba Ngôi và làm theo ý Giáo Hội ( x SGLGHCG số 1256)
Muốn thi hành các tác vụ linh muc như cử hành Thánh Lễ ,giảng lời Chúa, Rửa tội,
Thêm sức, hòa giải, sức dầu bệnh nhân, chứng hôn... thì linh mục phải được giám
mục của mình trao cho các năng quyền tương ứng thì mới thi hành được các thừa
tác vụ này. Nghĩa là phải có chức linh muc trước, rồi Giám mục mà linh muc trực
thuộc mới trao cho năng quyền trong thư bổ nhiệm hay bài sai-. Sau đó linh muc
mới có thể thi hành hợp pháp các thừa tác vụ nói trên. Bài sai này không được trao
trước lễ Truyền Chức mà chỉ được trao cho linh mục sau khi đã được truyền chức.
Nếu không có bài sai với năng quyền này của Giám mục, thì không linh mục nào
được thi hành tác vụ của mình, dù cho có chức thánh linh muc.
Nếu vì lý do gì mà năng quyền trên bị rút ( hay còn gọi nôm na là bị treo chén) thì
linh mục tạm thời hay vĩnh viễn không được thi hành các tác vụ linh mục của
mình cho đến khi năng quyền trên được trao lại. Như thế càng chứng tỏ sự sai lầm
khi nói "lễ trao tác vụ linh muc", vì không hề có loại nghi thức này trong Giáo Hội
Công Giáo từ xưa đến nay.

LM NGÔ TÔN HUẤN

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 290=CHUAN BI NHAN CHUNG PDF Print E-mail

CHÚA GIÊSU CHUẨN BỊ NHÂN CHỨNG
CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN C
Is 66:10-14; Gl 6:14-18; Lc 10:1-12, 17-20
Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD


Chủ đề "Bình An" được nói tới trong cả 3 bài đọc hôm nay, nhưng đặc biệt bài đọc Isaiah (66:10-14c) và Luca (10:1-12) có liên hệ với nhau rõ ràng. Iasiah mừng sự trở về của dân Israel sau cuộc lưu đầy dài hạn và tưởng tượng một trở về khải hoàn trong vòng tay nuôi dưỡng của Jerusalem là Thị Trấn Thánh và là Thị Trấn Mẹ. Có sự song hành nhưng cũng có cảnh đối nghịch trong các bài Tin Mừng hôm nay. Cả bài đọc Isaiah và Tin Mừng Luca đều nói về nỗi vui mừng của dân Israel khi trở về Jerusalem và của các môn đệ sau khi thi hành sứ mạng thành công. Trong Tin Mừng Luca, Chúa Giesu cũng như dân Israel đều di hành đi về Jerusalem, lúc đầu Chúa được dân chúng đón tiếp nồng nhiệt nhưng rồi lại bị từ chối làm cho Chúa phải đau khổ.
Chính tại Jerusalem này, Chúa Giesu sẽ khánh thành tân vương quốc Thiên Chúa bằng cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa trên thập giá.
SỨ MẠNG CỦA BẢY MƯƠI HAI MÔN ĐỆ
Chỉ trong Tin Mừng Luca mới có hai giai đoạn chúa Giesu sai những người theo Chúa đi thi hành sứ mạng: Giai đoạn đầu (Lc 10:1-6) Luca dựa vào Marco (Mc 6:6b-13) kể lại việc chúa sai 12 tông đồ ra đi làm nhiệm vụ. Khi thuật lại câu chuyện (10:1-12), Luca lại dựa vào "Q"[1]và trở thành 72 người đi làm công tác truyền giáo. Giai đoạn này tiếp tục chủ đề chúa Giesu sửa soạn nhân chứng cho Chúa và cho sứ vụ của Chúa. Những nhân chứng này không phải chỉ có 12 vị tông đồ tiên khởi mà là 72 vị là những người có thể đại diện cho sứ mạng Kito giáo vào ngày đó của Luca. Những chỉ dẫn cho 12 tông đồ và 72 vị đều giống nhau. Những điều dặn dò 72 vị trong Luca 10:4 cũng được nói cho 12 vị trong Luca 22:35.
Chúa Giesu dặn mọi người khi đi thi hành sứ vụ đừng mang theo tiền bạc, vật dụng cá nhân, đừng chào hỏi ai dọc đường (Lc 10:4) là có ý nhấn mạnh đến sự cấp bách của sứ mạng và điều kiện đòi hỏi của người truyền giáo là tâm trí phải thanh thoát, không vướng bận bất cứ điều gì ngoài việc chú tâm chu toàn bổn phận Chúa trao. Vướng bận tiền bạc, của cải vật chất, tình cảm cá nhân cần phải tránh vì nó làm sao lãng bổn phận của người môn đệ.
RAO GIẢNG TIN MỪNG VÀ CHỮA LÀNH BỆNH
Luca cho thấy việc rao giảng Tin Mừng và chữa lành bệnh có liên hệ với nhau. Chúa kêu gọi các tông đồ và sai các ông đi làm công tác mục vụ chữa lành bệnh thể xác và tinh thần cho từng cá nhân, gia đình và cộng đồng. Chúa Giesu cũng sai 72 người là những vị tiền nhiệm của chúng ta với lời dặn: "Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón thì cứ ăn những gì người ta dọn cho mình, hãy chữa những người đau yếu và nói với họ 'Vương quốc Thiên Chúa đang đến gần quí vị (Lc 10:8-9)'".
Khi gửi 72 môn đệ đi, chúa Giesu quả quyết với các ông và những người tin theo và làm theo lời các ông thì bằng an của Chúa và tin lành "Vương quốc Thiên Chúa đang đền gần" cũng sẽ được công bố ban cho toàn thế giới. Khi họ trở về trong hân hoan, dù có lúc bị thiên hạ từ chối, chúa Giesu cũng vui mừng vì họ đã thành công nhân danh Chúa khuất phục được ma quỉ. Sứ điệp này không bao giờ ngừng, cũng chẳng bao giờ bị bỏ dở. Tuy nhiên thống hối là một phần của tuyên bố về Vương Quốc Thiên Chúa sẽ là cớ để phán xét những ai đã nghe mà từ chối. Khi Vương Quốc Thiên Chúa được hoàn thành thì ác quỉ dưới mọi hình thức cũng bị đánh tan và sự thống trị của satan trên loài người cũng kết thúc.
TUYÊN BỐ LỜI CHÚA VÀ BỆNH ĐƯỢC CHỮA LÀNH
Đối với Chúa Giesu, chữa lành không chỉ là chữa bệnh thể xác mà còn cả bệnh tâm hồn. Nó không chỉ làm cho thân xác được khỏe mạnh mà còn toàn thể tâm hồn được chữa lành và tội lỗi được tha thứ. Tuyên bố Lời Chúa có nghĩa là chữa lành. Nó không thể không nghĩ tới tha nhân. Khi chúng ta chia sẻ bữa ăn với người xa lạ, như 72 vị tông đồ tiền nhiệm đã làm, là chúng ta đã thiết lập tình liên đới với tha nhân, mối ưu tư của chúng ta về sức khỏe và hạnh phúc của mọi người đã trở nên xâu đậm và thắm thiết hơn. Khi chúng ta từ bỏ lợi ích cá nhân của mình và chú ý đến những nhu cầu chữa lành tha nhân là chúng ta nhắc lại giao ước của Chúa cho những người đã từ chối cơ hội được chữa lành.
Chữa lành luôn luôn là những ưu tư đặc biệt và liên tục của Giáo Hội. Sự liên hệ giữa hòa giải, chữa lành và cứu chuộc là những đề tài thường được lặp lại nhiều lần trong Tin Mừng Luca. Chúa Giesu đã kêu gọi những người theo Chúa phải thống hối và cải đổi tận gốc rễ thái độ và cách sống cũ thành nếp sống mới đầy tình liên đới và thái độ tốt lành đạo đức.
VUI MỪNG TRONG CHÚA THÁNH LINH
Luận giải về bài Phúc Âm hôm nay, Đức Gioan Phaolo II, trong tông thư 1986 Dominum et Vivificantem (Về Chúa Thánh Linh trong đời sống của Giáo Hội và Thế Giới) đã viết ở đoạn #20: "Vậy thánh sử Luca đã trình bày chúa Giesu như là'tổng thể Chúa Thánh Linh' và 'được Chúa Thánh Linh dẫn ...vào hoang địa' đã nói với chúng ta là, sau khi 72 môn đệ làm xong công tác Thầy mình trao phó trở về, trong lúc các ông vui mừng kể lại những thành tích của công việc mình làm, thì đồng thời Chúa Giesu cũng hân hoan vui mừng trong Chúa Thánh Linh và nói: "Thưa Cha là Thiên Chúa trên trời dưới đất, con cám ơn Cha, Cha đã che dấu những việc này với những người khôn ngoan hiểu biết, nhưng lại biểu lộ cho những trẻ thơ nhỏ bé. Thưa Cha, đó quả là vì ơn ý chí của Cha.'" Chúa Giesu vui mừng tình cha con của Thiên Chúa. Người vui mừng vì đã khám phá ra được tình cha con này. Sau cùng, Người vui mừng vì tình cha con của Thiên Chúa đã đổ tràn đầy trên những kẻ 'nhỏ bé'. Thánh sử đã diễn tả tất cả những điều này như là 'niềm vui mừng trong Chúa Thánh Linh.'"
TIẾP TỤC SUY NIỆM VỀ ĐẤT THÁNH
Sau công đồng Nicea năm 325, Palestine bắt đầu phát triển với những thánh đường nguy nga lộng lẫy của Constantine, đặc biệt ở ba địa danh rất đáng kính là Nhà Mồ Thánh và đồi Calvary ở Jerusalem, Vương Cung Thánh Đường Eleona tọa lạc tại địa danh truyền thống đồi Olives là nơi Chúa Giesu từng giảng thuyết và Hang Đá nơi Chúa Giáng Sinh ở Bethlehem. Một số công trình này đã được điều khiển bởi chính từ mẫu Helena.
Đối với những người hành hương Palestine vào thế kỷ IV, những địa danh này là những trung tâm được ưa thích nhất. Những thánh địa này đã trở nên rất phổ thông và được mọi người ưa thích đến độ Jerusalem, nhất là đồi Golgotha, một trong những thánh địa truyền thống Kito giáo, đã trở thành trung tâm thế giới được ghi trên nhiều bản đồ Đất Thánh cổ xưa từ thời kỳ đó. Năm 333, một Kito hữu đã thực hiện một cuộc hành hương bằng đường bộ từ Bordeaux đi Jerusalem. Để lưu niệm, và có lẽ vì lợi ích cho khách hành hương trong tương lai nhiều hơn, ông ta đã thu thập mọi chi tiết về những trạm dừng chân và chiều dài đường đi và đường về rồi ghi lại trong một tập tài liệu quan trọng của ông gọi là Lộ Trình Hành Hương Bordeaux.
BÊN TRONG THỊ TRẤN JERUSALEM
Thánh Cyril, giám mục Jerusalem (349-384 A.D.) đã được một đặc ân duy nhất là đứng đầu hội thánh ở Jerusalem ngay sau khi hoàn thành tòa nhà mới đã được khởi công xây cất từ thời Constantine. Địa vị của Cyril lúc đó đã là một ước mơ của tất cả các giám mục, mục tử, linh mục, hội đồng hàng xứ, hội đồng tài chánh, thừa tác viên mục vụ. Hãy thử tưởng tượng cảm giác bạn sẽ thế nào khi bước vào một tòa nhà rộng lớn, đẹp đẽ huy hoàng tráng lệ tuyệt vời vừa mới xây xong mà không có vốn cũng không phải vận động xin tiền! Cyril đã giảng một bài tuyệt vời ngay tại nơi Chúa Kito chịu chết và sống lại. Ngài nói về Calvary: "Những người khác chỉ nghe nói, nhưng chúng ta vừa nhìn thấy lại sờ vào được nữa." Cyril viết: "Ở đây, trong thị trấn Jerusalem này, Thần Linh Chúa đã đổ tràn đầy ơn xuống cho Giáo Hội. Ở đây, Chúa Kito đã bị đóng đanh trên thập giá. Ở đây, quí vị thấy biết bao nhiêu là nhân chứng hiển hiện ngay trước mặt quí vị, địa danh nơi Chúa phục sinh và ngọn đồi Olives về hướng Đông nơi Chúa lên trời."
Trong nhật ký, bà Egeria (Etheria), một phụ nữ giầu có người Y Pha Nho đã ghi lại những diễn biến cuộc hành hương của bà đi về Đất Thánh khoảng giữa những năm 381-384. Lộ trình hành hương gồm có Sinai, Ai Cập, thung lũng Jordan và xuyên suốt cả vùng Jordan. Chúng ta đọc thấy không chỉ những cảm tưởng sống động bà ta ghi lại về những địa danh kinh hánh còn nguyên vẹn, mà cả những quan sát sống động của bà về những nghi thức phụng vụ được thi hành ở các đền thánh. Bà đã tả rất chi tiết những buổi lễ Chúa Nhật và ngày thường qua suốt cả năm phụng vụ, đặc biệt bà chú trọng đến những lời kinh trong Tuần Thánh mà chính bà đã tham dự tại Jerusalem. Qua bản lộ trình hành hương của bà, chúng ta cũng được biết bà đã tận hưởng các cuộc tiếp đãi rất nồng hậu và thân ái của những Kito hữu địa phương. Họ giúp bà tất cả mọi nhu cầu cần thiết cho một người hành hương, chỉ cho biết những chỗ có liên hệ đến kinh thánh, hướng dẫn những cử chỉ thờ lạy thích hợp ở từng nơi, đi theo bà, tiếp đãi, giúp đở và cố vấn bà những điều cần thiết. Những kinh nghiệm tích cực của bà Egeria có thể là những kinh nghiệm rất quí được chia sẻ bởi đa số những người hành hương vào cuối thế kỷ IV và của những người hành hương thời nay đã có may mắn được tiếp xúc với người dân địa phương nơi Đất Thánh.

NHỮNG NGƯỜI MUỐN ĐỊNH CƯ TẠI ĐẤT THÁNH
Chúng ta cũng nhận thấy có một hành động đạo đức rất thực tế liên quan đến những cuộc hành hương Đất Thánh. Một số khách hành hương đã quyết định về Đất Kinh Thánh đề sống, hoặc trong thời gian tạm lưu tại đó đã đổi ý nhất định ở lại luôn. Đây là trường hợp thánh Jerome và những người bạn gái của ông. Sau khi đã đến Palestine vào năm 386, ông đã thiết lập một cộng đồng tại Bethlehem. Jerome đã hùng hôn viết trong bài viết của ông: "Ở đây, Người đã được bọc trong tấm vải thô. Ở đây, những kẻ chăn chiên đã được nhìn thấy Người. Ở đây, Người đã được tỏ lộ ra qua các vì sao. Ở đây, Người đã được ba vua đến thờ lạy." Jerome sau này đã viết cho bạn gái của ông là Paula ở Rome, thúc dục bà hãy về Đất Thánh sống. Thánh nhân viết: "Tất cả màu nhiệm niềm tin của chúng ta đều được nảy sinh ra tại xứ này và thị trấn này."
Thực không có gì khác ngoài kinh nghiệm Kito giáo có thể khiến thánh nhân thốt ra những lời tâm huyết như vậy. Không cần biết đã bao nhiêu thế kỷ qua đi, không cần biết Kito Giáo đã được lan truyền sâu rộng thế nào, người Kito hữu quả đã kết hợp với Đất Thánh là nơi nảy sinh ra Chúa Kito và Kito Giáo.
Fleming Island, Florida
June 29, 2016
NTC

_______________________
[1] "Q" là tên tập tài liệu góp nhặt lại những lời được coi là Chúa Giesu nói đã được lưu truyền ở thế kỷ I và được Luca và Mathieu dùng. Giả thuyết Q đầu tiên được khai triển bởi những học giả người Đức như một thành tố của một lý thuyết có 2 nguồn gốc ở thế kỷ XIX, giải thích cho vấn đề của các phúc âm nhất lãm, trong đó Marco là Phúc Âm đầu tiên ( và có lẽ là đáng tin cậy nhất khi diễn tả mục vụ của chúa Giesu) và Q là nguồn những lời Chúa nói lúc sơ khởi. Tên Q là từ tiếng Đức Quelle có nghĩa là "nguồn". Giả thuyết Q cắt nghĩa: 1/Đồng ý có rất nhiều giảng huấn của Chúa Giesu thấy trong cả Mathieu lẩn Luca nhưng không thấy trong Marco (do đó đôi khi người ta gọi Q là "truyền thống nước đôi"). 2/Tại sao sự tiếp nối của lời Chúa trong Mathieu phần lớn lại đi theo Luca, và 3/Tại sao Mathieu đặc biệt lại có những lời nói 2 mặt td cùng một lời nói mà một thì lấy từ Marco, một từ Q. Cho đến nay có rất nhiều nghiên cứu về Q, nhưng cắt nghĩa thì có vẻ vẫn chưa đồng ý với nhau lắm, nhất là từ cuối thập niên 1960 khi có phong trào phê bình chỉ trích và khám phá ra Phúc Âm của Thomas vào năm 1947......

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 289=LM-DUC KITO THU HAI PDF Print E-mail

LINH MỤC – ĐỨC KITÔ THỨ HAI (ALTER CHRISTUS) – PHẢI
LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO?
Trong phạm vi bài viết này, tôi không muốn đề cập nhiều đến những lý thuyết hay nền tảng thần
họ, cũng như giáo lý của Giáo Hôi về vai trò và sứ mạng của linh mục trong Giáo Hội, vì thiết
nghĩ các linh mục và rất nhiều giáo dân ngày nay đều biết rõ.
Điều chủ yếu tôi muốn nói ở đây là trong thực tế, linh mục phải hành xử thế nào để xứng đáng là
hiện thân của Chúa Kitô xuyên qua chính đời sống, lời nói và việc làm của mình trước mặt
người khác. Đặc biệt hơn hết là các tín hữu được trao phó cho mình săn sóc và phục vụ về mặt
thiêng liêng – sau nữa – là trước những người chưa biết Chúa Kitô để cảm hóa và mời gọi họ
nhận biết và tin Chúa Kitô qua gương sống chứng nhân của mình.
Thật vậy, với tư cách là cộng sự viên đắc lực, thân cận của Giám mục, linh mục thi hành sứ vụ
rao giảng, dạy dỗ và cai trị trong giáo hội địa phương (tức giáo xứ, giáo phận) với tất cả thành
tâm, thiện chí và xác tín về chức năng và vai trò của mình được nhận lãnh từ bí tích Truyền Chức
Thánh cho phép linh mục được chia sẻ Chức Linh Mục đời đời của Chúa KItô, "Thầy Cả
Thượng Phẩm...theo phẩm trật Men-ki-xê-đê" (Dt 5: 10)
Trong hoàn cảnh thế giới tục hóa ngày nay, đặc biệt là ở các nước Âu Mỹ, người ta không những
bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa vật chất vô luân (immoral materialism) mà đặc biệt còn bị ảnh hưởng
ngày một nghiêm trọng bởi trào lưu tục hóa (secularization) đưa đến thực hành vô thần (practical
atheism), chối bỏ Thiên Chúa, "hạ bệ Kitô hóa" (de-christionization). và dửng dưng với mọi
tôn giáo nói chung (Indifference to religions).
Thực trạng này đã và đang là một thách đố to lớn cho những ai muốn sống niềm tin có Thiên
Chúa là Đấng cực tốt cực lành, đã yêu thương, tha thứ và cứu độ con người nhờ công nghiệp
cứu chuộc vô giá của Chúa Giêsu-Kitô.
Để đối phó với trào lưu nguy hại nói trên, ngày 12 tháng 10 năm 2012, Tòa Thánh đã công bố
quyết định mới của Đức Thánh Cha Bê-nê-đích-tô 16 ( đã tự ý về hưu từ năm 2012) cho thiết
lập một Văn Phòng hay Hội Đồng mới của Tòa Thánh (New Pontifical Council) với chức năng
Tân Phúc Âm hóa (New Evangelization) như một nỗ lực nhằm chống lại khuynh hướng tục hóa
ở các quốc gia Âu Châu và Mỹ châu nói chung. Hội Đồng này do Đức Tổng Giám Mục Rino
Fisichella làm Chủ Tịch.
Sự kiện trên cho thấy là Đức Thánh Cha đã tỏ ra rất quan tâm về nguy cơ tục hóa đang đe dọa
những giá trị và chân lý của Phúc Âm cũng như đời sống luân lý, đạo đức của con người nói

chung, và cách riêng, của người tín hữu Chúa Kitô đang sống trong hoàn cảnh suy đồi đạo đức
và luân lý của thế giới ngày nay.
Đặc biệt, Đức Thánh Cha đương kim Phanxicô cũng đã lưu ý toàn Giáo Hội về thực trạng "tôn
thờ tiền bạc" (cult of money) của thế giới, là nguyên nhân chính của mọi bất công xã hội và
thống khổ của con người đang sống dưới quyên cai trị của những kẻ tham tiền, tham quyên cố
vị để vơ vét của cải vật chất hầu hưởng thụ và làm giầu, trong khi dửng dưng trước sự nghèo
đói và bất công của xã hội dưới quyền cai trị vô lương tâm của họ.
Riêng đối với hàng giáo sĩ tu sĩ, Đức Thánh Cha Phanxicô không những khuyên mà còn làm
gương cụ thể cho mọi người về đức khó nghèo của Phúc Âm và của Thánh Phanxicô Khó Khăn
mà Đức Thánh Cha đã chọn làm thánh hiệu cho triều đại Giáo hoàng của ngài. Cụ thể,năm 2014
Đức Thánh Cha Phanxicô đã ngưng chức một giám mục Đức vì đã phung phí tài sản của Địa
Phân để xây biệt thự lộng lẫy cho mình, trái với lời khuyên khó nghèo của Phúc Âm.
Mới đây nữa, nhân dịp gặp gỡ các nhân viên của các tổ chức từ thiện và các tù nhân tại thành
phố Cagliari (Ý) Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói với họ như sau:
"Một số người đã muốn làm nổi bật việc làm tốt của họ. Họ không ngừng nói về người
nghèo, nhưng sau đó lại lợi dụng những người nghèo khó này để trục lợi cho cá nhân
mình...Đó chắc hẳn không phải là ý muốn của Chúa Giê-su. Tôi đi xa hơn nữa để nói đó là
một tội nghiêm trọng. Đó là lợi dụng những người nghèo khó, những người là hiện thân
của Chúa Giê-su để tô điểm cho chính mình. Đây là một tội nghiêm trọng."
Như thế, linh mục và giám mục phải là những người nêu gương sáng trước tiên về đức khó
nghèo của Chúa Kitô, "Người vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì
anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được giầu có." (2 Cor 8:9)
Cụ thể, Linh mục cần thiết phải:
I- Tách mình ra khỏi mọi dính díu với quyền lực và tham vọng trần thế để không vô
tình hay cố ý làm tay sai cho một chế độ chính trị nào để cầu lợi cá nhân, và nhiên hậu gây
thương tổn nặng nề cho chức năng (competence) và vai trò của mình là linh mục của Chúa Kitô.
Trong điễn từ đọc tại Nhà Thờ Chánh Tòa Đức Mẹ Lên Trời ở Parlemo (Italia) trước hàng trăm
Giám mục, Linh mục, và Tu sĩ nam nữ ngày 3 tháng 10 năm 2012, Đức Thánh Cha Bê-nê-đich-
tô 16 (đã về hưu) đã nói riêng với các linh mục hiện diện như sau: "Chính Chúa Kitô, chứ
không phải thế gian – đã thiết lập cương vị cho linhmục...Và với cương vị đó, linh mục
phải luôn chú tâm đến ơn cứu độ và Vương Quốc của Thiên Chúa." (Christ establishes the
priest's status, not the world... as a priest, he must be always with a view to salvation and the
Kingdom of God. (cf. L'Observatore Romano. Oct 6, 2010). Hơn nữa, linh mục "không thể là
thừa tác viên của Chúa Kitô nếu không là chứng nhân và là người ban phát một đời sống
khác với đời sống thế tục" (cf. Presbyterium Ordinis.no.3)
Trước đó, trong thư Thứ Năm Tuần Thánh gủi cho các linh mục, Đức cố Giáo Hoàng Gioan-
Phaolô II (đãđược tôn phong hiển thánh ngày 27-4 vừa qua) đã lưu ý các linh mục như sau:
"Những nỗ lực nhằm biến linh mục thành người thường dân là làm hại Giáo Hội. Điều này
không có nghĩa là một cách nào đó, linh mục phải thờ ơ không quan tâm gì đến những âu
lo của người giáo dân (thường dân = laity); ngược lại, phải rất gần gũi họ theo gương
Thánh Maria Gioan Vianney, và trong chiều kích lo cho phần rỗi của họ (giáo dân) và cho
sự mở mang Vương Quốc Thiên Chúa. Linh mục là chứng nhân và là người ban phát một
đời sống khác với đời sống thế tục. Đây là điều căn cốt của Giáo Hội nhờ đó căn tính của
linh mục được bảo vệ ở chiều dọc. Đời sống và nhân cách của 'cha sở họ Ars' (Curé of Ars)
đặc biệt là hình ảnh rõ nét sáng ngời về đời sống và nhân cách của linh mục theo chiều kích
nói trên." (James P. Socias Scepter Publishers and Midwest Theological Forum, pp147-148)
Nói khác đi, linh mục chỉ có một vai trò và chức năng quan trọng nhất là rao giảng Tin Mừng
cứu độ của Chúa Kitô và làm chứng cho Chúa trong mọi hoàn cảnh để phục vụ hữu hiệu cho các
linh hồn đang cần đến Chúa và mong lãnh nhận ơn cứu độ của Người. Do đó, linh mục tuyệt
đối không có chức năng chính trị hay xã hội nào để tự nguyện làm tay sai phục vụ, tâng bốc, ca
tụng hay chống đối một chế độ nào vì lý do thuần chính trị.
Nhưng, nếu chế độ nào, không tôn trọng nhân quyền (human rights) – không phải nhân quyền
của thần học giải phóng, là thứ nhân quyền cổ võ đấu tranh giai cấp, tạo ra những "đàn kéc" chỉ
biết ca tụng bợ đợ chế độ để an thân trục lợi – mà là những quyền căn bản của con người, như
quyền tự do phát biểu, quyền tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, quyền hành Đạo trong đó bao
gồm việc tổ chức, đào tạo và bổ nhiệm các chức sắc lãnh đạo trong các giáo hội địa phương.
Nếu chế độ nào không tôn trọng những quyền căn bản này cũng như dung dưỡng cho những sa
dọa, suy thoái về luân lý, đạo đức trong xã hội họ cai trị thì linh mục – và nhất là Giám mục –
phải có can đảm lên tiếng đòi hỏi chế độ phải tôn trọng những tư do căn bản và thiêng liêng của
con người, cũng như mạnh mẽ lên án thực trạng suy thoái đạo đức và luân lý của xã hội ( cụ
thể là việc buôn bán phụ nữ và trẻ gái để cung cấp cho các ổ mãi dâm và ấu dâm (chid
prostitution) rất khốn nạn ở trong và ngoài nước, kể cả môi giới cho các đường giây mãi dâm và
nô lệ tình dục ở nước ngoài dưới chiêu bài hôn nhân).Phải đòi nhà cầm quyền dân sự có biện
pháp thích đáng để lành mạnh xã hội hầu tạo môi trưởng thuận lợi cho sự phát triển lành mạnh
đời sống tinh thần và đạo lý của người dân.
Xã hội vô luân, vô đạo và đầy bất công đã tạo ra những con người không còn nhân tín, mất hết
mọi ý thức về luân lý và nhân đạo, và xô nhanh người dân xuống hố diệt vong vì thiếu nền tảng
tinh thần cần thiết để giúp phân biệt con người với mọi loài cầm thú chỉ có bản năng và vô lương
tri.
Như thế, làm ngơ hay nhắm mắt bịt tai trước những vi phạm về quyền thiêng liêng của con
người và tụt hậu về luân lý, đạo đức, sẽ trở thành đồng lõa với chế độ, với xã hội làm phát sinh
mọi tội ác vì thiếu căn bản đạo làm người.

II- Trong lãnh vực giảng dạy chân lý và cử hành các Bí tích,
Không linh mục nào được phép dạy và thực hành giáo lý, bí tích riêng của mình mà phải dạy
cũng như thực hành đúng giáo lý (doctrines), tín lý (dogmas) và kỷ luật bí tích của Giáo Hội.
Cụ thể, Giáo Lý và Kinh Thánh của Giáo Hội nhìn nhận sự kiện có tội Tổ Tông (Original sin)
do Nguyên Tổ loài người là Adam và Eva vấp phạm khiến con người mất ơn nghĩa với Thiên
Chúa. Nhưng chính tội bất trung này của Nguyên Tổ loài người lại được Giáo Hội sau này ca
ngợi là "Tội sinh ơn phúc" (Felix culpa) vì bởi tội này mà Thiên Chúa đã sai Con Một của
Người là Chúa Kitô đến trần gian để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội. Ơn cứu chuộc và
tha thứ này của Thiên Chúa còn lớn lao hơn tội bất trung của Nguyên Tổ rất nhiều, như Thánh
Phaolô đã dạy: "Nhưng sự sa ngã của Adam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên
Chúa...Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã mà muôn người phải chết thì ân
sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô còn dồi dào hơn biết
mấy cho muôn người." (Rm 5: 15).
Như thế ai phủ nhận hay đặt vấn đề "tội Tổ Tông"với lâp luận "cam làm không thể bắt quýt
chiu" dựa trên tâm lý học, là đã đi ngược lại với giáo lý hiện hành của Giáo Hội về vấn đề rất hệ
trọng này. (x.SGLGHCG,số 402-407)
Mặt khác, cũng vì tội Nguyên Tổ đã gây ra "sự chết của linh hồn" như Công Đồng Trentô đã
dạy (DS 1512), mà Giáo Hội cử hành bí tích Rửa Tội để để tái sinh con người trong sự sống
mới, xỏa hết mọi hậu quả của tội nguyên tổ, cũng như tha một lần tất cả mọi tội cá nhân con
người đã phạm cho đến lúc lãnh nhận Phép Rửa.. . Nhưng phép Rửa không trả lại cho con người
tình trạng ơn phúc mà Adam và Eva được hưởng trước khi phạm tội. Nghĩa là sau khi được rửa
rội, con người vẫn còn "những yếu đuối" và khuynh hướng nghiêng chiều về sự xấu, sự tội trong
bản năng để cho con người phải cố gắng chiến đấu với ơn Chúa nâng đỡ để vươn lên trên đường
hoàn hảo hầu được cứu rỗi.
Do đó, linh mục không thể dạy sai lầm là phép rửa đã tha hết mọi tội nên không cần phải xưng
tội nữa, cứ tự nhiên rước Minh Thánh Chúa! Phép Rửa tha một lần hết mọi tội, nhưng sau đó,
người ta vẫn còn có thể lại phạm tội nhiều lần nữa chứ, vì bản chất yêu đuối và vì con người
còn có ý muốn tự do (free will) để chống lại cám dỗ hay buông mình chiều theo sự xấu, sự tội để
làm những sự dữ như giết người, cướp của, bóc lột bất công thù oán, dâm ô trụy lạ, thay chồng
đổi vợ, li dị phá thai....Đây là thực trạng mà không ai có thể chối cãi được.
Liên quan đến bí tích Thánh Thể, không có giáo lý, giáo luật nào dạy mọi người tham dự Thánh
Lễ đều được rước Minh, Máu Thánh Chúa, vì cho rằng đây là bữa tiệc Chúa mời mọi người
tham dự ăn và uống không phân biệt Công Giáo hay Tin lành, trẻ em đã rước lễ lần đầu hay
chưa. Ngược lại, giáo lý và giáo luật nói rõ: ai mắc tội trọng, chưa kịp đi xưng tội thì không
được làm lễ (linh mục) và rước Minh Thánh Chúa (giáo dân) . (x, giáo luật số 916;
SGLGHCG số 1415).

LM NGÔ TÔN HUẤN

----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 8 of 77