mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay633
mod_vvisit_counterHôm Qua10757
mod_vvisit_counterTuần Này44833
mod_vvisit_counterTuần Trước45104
mod_vvisit_counterTháng Này135889
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10640145

We have: 104 guests online
Your IP: 54.162.173.119
 , 
Today: Apr 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THU HAI -5-3-2018 PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 129, 5 và 7

Con trông cậy Chúa, con mong đợi lời hứa của Chúa, vì nơi Chúa sẵn có lòng từ bi và chan chứa ơn cứu độ.

Phúc Âm: Lc 4, 24-30

"Như Elia và Elisêô, Chúa Giêsu không phải chỉ được sai đến người Do-thái mà thôi đâu".

(Khi Chúa Giêsu đến thành Nadarét, Ngài nói với dân chúng tụ họp trong hội đường rằng): "Quả thật, Ta bảo các ngươi, chẳng có một tiên tri nào được tiếp đón tử tế ở quê hương mình. Ta bảo các ngươi, chắc hẳn trong thời Elia có nhiều bà goá ở Israel, khi trời hạn hán và một nạn đói lớn hoành hành khắp nước suốt ba năm sáu tháng, nhưng Elia không được sai đến với một người nào trong bọn họ, mà chỉ được sai đến với một bà goá ở Sarépta xứ Siđôn thôi. Cũng có nhiều người phong cùi trong Israel thời tiên tri Elisêô, nhưng không một người nào trong bọn họ được chữa lành, mà chỉ có Naaman, người Syria".

Vừa nghe đến đó, mọi người trong hội đường đều đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, đẩy Người ra khỏi thành và dẫn Người đến một triền đồi, nơi họ xây thành, để xô Người xuống vực. Nhưng Người tiến qua giữa họ mà đi.

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI - Suy niệm - SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống thiên sai

Hành trình Mùa Chay 40 ngày tiếp tục và đã tiến vào tuần lễ Thứ Ba, và hôm nay là Thứ Hai trong Tuần Ba Mùa Chay này, chủ đề "Tôi tự bỏ mạng sống của mình đi để rồi lấy lại" (Gioan 10:17) cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, vẫn phản ảnh qua ý nghĩa của chung phụng vụ lời Chúa hôm nay, nhất là Bài Phúc Âm.

Thật vậy, trong bài Phúc Âm hôm nay, hình như chúng ta chỉ thấy được nửa phần đầu của chủ đề Mùa Chay là "Ta tự ý bỏ sự sống của mình đi", chẳng thấy đâu là "để rồi lấy nó lại". Bởi vì, Thánh ký Luca trình thuật lại trong Bài Phúc Âm được Giáo Hội cố ý chọn đọc cho ngày hôm nay là sự kiện "mọi người trong hội đường đều đầy phẫn nộ. Họ đứng dậy, đẩy Người ra khỏi thành và dẫn Người đến một triền đồi, nơi họ xây thành, để xô Người xuống vực".

Tại sao "mọi người trong hội đường đều đầy phẫn nộ" đến độ muốn sát hại Người, bằng cách "xô Người xuống vực" như thế? Phải chăng vì họ đã bị Chúa Giêsu ngấm ngầm chê là thiếu đức tin, ở chỗ không chịu tin vào Người, một con người rất tầm thường đã từng sống trong khu làng của họ và với họ trước kia, giờ đây đã dám cho mình như hai vị đại tiên tri Thời Cựu Ước là Elia và Elise nữa, như lời Người đã nói với họ và về họ khi họ đặt vấn đề về sự khôn ngoan và quyền năng khác thường của Người:

"Quả thật, Ta bảo các ngươi, chẳng có một tiên tri nào được tiếp đón tử tế ở quê hương mình. Ta bảo các ngươi, chắc hẳn trong thời Elia có nhiều bà goá ở Israel, khi trời hạn hán và một nạn đói lớn hoành hành khắp nước suốt ba năm sáu tháng, nhưng Elia không được sai đến với một người nào trong bọn họ, mà chỉ được sai đến với một bà goá ở Sarépta xứ Siđôn thôi. Cũng có nhiều người phong cùi trong Israel thời tiên tri Elisêô, nhưng không một người nào trong bọn họ được chữa lành, mà chỉ có Naaman, người Syria".

Hai trường hợp được Chúa Giêsu dẫn chứng trên đây cho thấy cả hai nạn nhân được chữa lành đều là thành phần dân ngoại nhưng lại tin vào các vị tiên tri của dân Do Thái và nhờ đó họ đã có được một cảm nghiệm thần linh về Vị Thiên Chúa của dân Do Thái, Đấng hằng ở cùng dân tộc được tuyển chọn này và tỏ mình ra cho dân Do Thái dọc suốt giòng lịch sử cứu độ của họ.

Bài Đọc 1 hôm nay chỉ liên quan đến trường hợp thứ hai: "có nhiều người phong cùi trong Israel thời tiên tri Elisêô, nhưng không một người nào trong bọn họ được chữa lành, mà chỉ có Naaman, người Syria". Sách Các Vua Quyền Thứ 2 đã cho biết là viên quan bị phong cùi này, vì muốn khỏi bệnh nên tin người tớ gái Do Thái, và đã tìm sang đất Do Thái.

"Trong những ngày ấy, Naaman, tướng đạo binh của vua xứ Syria, là người có uy thế đối với vua và được tôn trọng, vì Chúa đã dùng ông mà cứu dân Syria; ông còn là người hùng mạnh và giàu có, nhưng lại mắc bịnh phong cùi. Lúc bấy giờ một vài toán dân Syria bắt một thiếu nữ ở đất Israel dẫn về để hầu hạ bà Naaman. Cô ta nói với bà chủ: 'Chớ chi ông chủ tôi đến gặp vị tiên tri ở Samaria, chắc chắn vị tiên tri ấy sẽ chữa ông khỏi phong cùi'. Naaman đến tâu vua rằng: 'Cô nhỏ xứ Israel đã nói thế này thế này'. Vua xứ Syria liền nói: 'Khanh hãy đi, trẫm sẽ gởi cho vua Israel một bức thơ'. Naaman ra đi, mang theo mười lạng bạc, sáu ngàn nén vàng và mười bộ áo".

Nhưng sau khi đến gặp Tiên Tri Êlise, ông đã hoàn toàn thất vọng đến độ tức giận bất mãn bỏ đi, vì ông thấy ông là một vị quan có thế giá với nhà vua Syria mà bấy giờ lại bị một vị tiên tri Do Thái coi thường, chẳng những không thèm ra mặt tiếp ông, lại còn truyền ông phải làm một việc quá ư là tầm thường, ai làm cũng được và làm ở đâu cũng được, chứ không xuất hiện để trực tiếp chữa lành cho ông một cách uy nghi trang trọng giống như ở trong các nghi thức có tính cách cung đình:

"Naaman lên xe ngựa đi, và dừng lại trước cửa nhà Êlisêô. Tiên tri nói với Naaman rằng: 'Ông hãy đi tắm bảy lần ở sông Giođan, thì da thịt ông sẽ được lành sạch'. Naaman nổi giận bỏ đi nói rằng: 'Tôi tưởng ông ấy ra đón tôi và đứng trước tôi kêu cầu danh Chúa là Thiên Chúa của ông, rồi đặt tay lên chỗ phong cùi của tôi và chữa tôi lành mạnh. Các con sông Abana và Pharphar ở Ðamas không sạch hơn các con sông ở Israel để tôi tắm và được lành sạch hay sao?' Ông trở về lòng đầy tức giận".

Đến đây chúng ta mới thấy đâu là biên giới giữa tự nhiên và siêu nhiên, giữa người sống theo tự nhiên và người sống theo đức tin và sống bằng đức tin. Đức tin nơi viên quan Naaman người Syria bị phong cùi này là ở chỗ thắng vượt bản tính tự nhiên và khuynh hướng tự nhiên của ông, để làm theo những gì vượt lên trên sự khôn ngoan và hiểu biết hạn hẹp của ông, nhất lạ biết hạ mình xuống lắng nghe sự thật, dù sự thật đó xuất phát từ thành phần tôi tớ tầm thường của ông:

"Các đầy tớ của ông đến nói với ông rằng: 'Thưa cha, vị tiên tri có yêu cầu cha làm một việc lớn lao thì cha cũng phải làm. Phương chi bây giờ người bảo cha: 'Hãy đi tắm, thì được sạch'. Naaman xuống tắm bảy lần ở sông Gio-đan như lời tiên tri, người của Thiên Chúa dạy, da thịt ông lại trở nên tốt như da thịt của đứa trẻ, và ông được sạch".

Chỉ có đức tin mới làm được những gì bản tính tự nhiên và khả năng trần thế của con người không thể nào làm được, dù họ có chức vị, khôn ngoan và quyền lực đến đâu chăng nữa, như bản thân của viên quan Naaman người Syria trong Bài đọc 1 hôm nay. Và cũng chỉ có đức tin mới làm cho con người cảm thấy được thực tại thần linh siêu việt ở bên trên họ nhưng lại ở ngay cõi lòng họ và trong cuộc sống của họ, như đã xẩy ra cho viên quan người Syria bị phong cùi được chữa lành:

"Sau đó ông và đoàn tùy tùng trở lại gặp người của Thiên Chúa. Ðến nơi, ông đứng trước mặt người của Thiên Chúa và nói: 'Thật tôi biết không có Thiên Chúa nào khác trên hoàn vũ, ngoài một Thiên Chúa ở Israel'".

Cho dù Chúa Giêsu trong trình thuật của Bài Phúc Âm hôm nay có vẻ không được thành công như Tiên Tri Elisa trong Bài Đọc 1, nhưng Người, Đấng bị dân làng Nazarét của Người muốn sát hại Người, vẫn có thể tỏ mình ra cho thành phần không tin Người biết rằng:

1- Chính vì họ không tin mà họ không thấy phép lạ Người làm ở nơi họ và giữa họ như họ đã từng nghe thấy Người làm ở các nơi khác, nhất là ở Carphanaum;

2- Cho dù họ có muốn sát hại Người mà cũng không được như ý muốn, bởi "Người tiến qua giữa họ mà đi", cho họ thấy rằng Ngưòi quả là Đấng quyền năng, là Đấng được Tiên Tri Isaia nói đến như chính Người đã minh định với họ.

Trong trường hợp này, Chúa Giêsu đã "lấy lại sự sống" của mình khi Người bị dân chúng sát hại, không phải chỉ ở chỗ "Người tiến qua giữa họ mà đi", ở chỗ họ không làm gì được Người, mà chính là ở chỗ Người tỏ mình ta cho họ thấy được những gì Tiên Tri Isaia nói về Người đã thực sự được ứng nghiệm, ứng nghiệm nơi chính đám dân chúng muốn sát hại Người, vì đám dân làng Nazarét bấy giờ quả thực tiêu biểu cho các thành phần được Thiên Chúa gửi Vị Thiên Sai được xức dầu Thần Linh và đầy Thần Linh là Chúa Kitô đến cho họ, vì họ "nghèo khổ" về đức tin, "bị giam cầm" bởi cứng lòng, "mù lòa" bởi thành kiến, và "ngục tù" trong tội lỗi (xem Luca 4:18).

Nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét bị dân làng Nazarét trong Bài Phúc Âm hôm nay mưu toan sát hại Người, nhưng không làm gì được Người, trái lại, chính họ lại trở thành chứng cớ hiển nhiên về vai trò Thiên Sai của Chúa Kitô, Đấng được Thiên Chúa tiên báo qua Tiên Tri Isaia, một Vị Thiên Sai nơi các thành phần cần được Người "loan báo cho Năm Hồng Ân của Chúa" (Luca 4:19), và chính vì thế mà ai nhận ra Người bằng đức tin sẽ có được một cảm nghiệm thần linh như thánh vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa, Chúa Trời ôi!

2) Hồn con khát Chúa Trời, Chúa Trời hằng sống, ngày nào con được tìm về ra mắt Chúa Trời?

3) Xin chiếu giãi quang minh và chân thực của Chúa, để những điều đó hướng dẫn con, đưa con lên núi thánh và cung lâu của Ngài.

4) Con sẽ tiến tới bàn thờ Thiên Chúa, đến cùng Thiên Chúa làm cho con được hoan hỉ, mừng vui. Với cây cầm thụ con sẽ ca ngợi Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa của con.
Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - TIM HIEU -SONG CN3MC-B PDF Print E-mail

Hong Nguyen
Bcc: This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Mar 2 at 7:45 PM

HỌC HOI - GỢI Ý SUY NIỆM- SỐNG  LỜI CHÚA

Chúa Nhật 3 Mùa Chay năm B

Lời Chúa : Ga 2,13-25

Chúa Giêsu vào Đền Thờ Giêrusalem và đuổi những người buôn bán trong sân Đền Thờ. Một hành động lạ thường và nguy hiểm vì Ngài đụng chạm đến Đền Thờ và quyền lợi của các tư tế.

Đối với người Do thái, Đền Thờ là nơi Chúa ngự, là bất khả xâm phạm. Ai xúc phạm đến Đền Thờ sẽ bị ném đá ngay. Chúa Giêsu tuyên bố : " Các ngươi hãy phá Đền Thờ nầy đi ; nội trong ba ngày tôi sẽ xây dựng lại". Tuyên bố như thế là tự kết án tử cho mình. Sau nầy, trước tòa án Caipha, họ đã nhắc lại câu nói nầy để lên án tử hình cho Chúa.

Đuổi những người buôn bán trong sân Đền Thờ là chạm đến quyền lợi của các tư tế vì những người buôn bán phải nộp thuế cho Đền Thờ và các ông cũng hưởng lợi trong đó.

Chúa Giêsu bất chấp tất cả, uy danh của Cha Ngài là trên hết. Đối với Ngài, Đền Thờ là nhà cầu nguyện, là nhà của Cha Ngài, không thể biến nó thành nơi buôn bán, nơi để làm kinh tế. Đó cũng là lập trường cố hữu của người Do thái, và họ gắn bó với Đền Thờ một cách rất tha thiết. Đó là trung tâm của cuộc sống tinh thần của họ. Mỗi năm họ hành hương lên Đền Thờ và xem đó như một niềm vui của tâm hồn. Họ cũng xem Đền thờ là nơi Chúa ngự giữa dân Ngài và họ mong Chúa ban cho họ nhiều hồng ân khi đến cầu khẩn Danh Ngài.

Nếu chúng ta trở về trong lịch sử dân Chúa, chúng ta thấy rằng Đền thờ chỉ có thời vua Salômôn mà thôi. Trước kia, thời ông Môsê, Chúa ở giữa dân Ngài nơi Hòm Bia và đi tới đâu, Hòm Bia vẫn được dựng lên giữa trại và Chúa vẫn ở đó. Ông Môsê đến đó để gặp Chúa và nhận những chỉ thị và truyền lại cho dân. Dân Do Thái xem Hòm

Bia như một bảo đảm cho cuộc sống của họ vì chính Chúa ở giữa dân để bảo vệ và che chở họ.

Khi vua Đavít vững chắc trên ngai vàng, ông đã muốn dựng cho Chúa một Đền Thờ xứng đáng, nhưng chính vua Salômon mới xây cất Đền Thờ và từ đó mọi việc thờ phượng chính thức đều được cử hành tại Đền Thờ với tất cả những lễ nghi huy hoàng và trang trọng.

Nhưng từ từ, lòng đạo đức của dân Chúa bị xoái mòn do những gương mù của vua Salômon và của các vua sau nầy, việc thờ phượng chỉ còn là những lễ nghi không hồn và các tiên tri đã lên tiếng phản đối những việc thờ phượng giả dối đó và sau cùng Đền Thờ bị phá hủy vì sự sa đọa của dân Chúa và dân Do thái bị lưu đày suốt bảy mươi năm tại Babilon.

Cuộc lưu đày đã giúp cho dân Do thái ý thức hơn về sự trung thành với Chúa. Lúc đó họ mới thấy rằng bỏ Chúa là một tai họa và Chúa không cần một nơi nào để ngự trị. Ngay khi bị tản mát ở xứ người, dân Chúa mới biết rằng họ cần đến Chúa, cần trở về với Chúa và Chúa vẫn nâng đỡ họ mà không cần một Đền Thờ nào. Họ vẫn có thể cầu nguyện với Chúa mà không cần đến một nơi nào.

Tuy nhiên, dân Chúa vẫn cần một Đền Thờ để quy tụ chung quanh Chúa của họ. Chúa cho họ trở về và xây lại Đền Thờ thứ hai sau cuộc lưu đày. Đó là Đền Thờ thứ hai. Nhưng sau nầy Đền Thờ cũng bị phá hủy do sự cứng lòng của người Do thái.

Chúa Giêsu vẫn tôn trọng Đền Thờ như mọi người Do thái đạo đức. Ngài vẫn đến cầu nguyện và gọi là nhà Cha Ta, là nhà cầu nguyện. Nhưng Ngài lên án tất cả những gì là lạm dụng,là giả hình, là phô trương. Ngài đòi hỏi phải thờ phượng Chúa trong tinh thần và sự thật. Ngài đòi phải phá hủy Đền Thờ nầy đi vì nó trở thành một nơi ô uế vì tiền bạc, vì trục lợi, vì tham lam.

Chúng ta phải thờ phượng Chúa trong tinh thần và sự thật, phải phá hủy tất cả những đền thờ giả tạo của chúng ta, tất cả những nơi chúng ta không thờ Chúa mà chỉ thờ những thần tượng đê hèn của chúng ta. Hãy làm như Chúa Giêsu đã làm là đuổi tất cả những gì làm ô uế Đền Thờ của Chúa. Phải biến tất cả thành tôn thờ đích thực.

Khi Chúa bảo phải phá những đền thờ bị lạm dụng Ngài sẽ xây lại trong ba ngày một Đền Thờ không do thay người làm ra. Thánh Gioan đã giải thích Đền Thờ đó chính là thân xác của Ngài. Chỉ có một Đền Thờ duy nhất xứng đáng để thờ phượng Cha Ngài là chính thân xác của Ngài, thân xác sẽ chết đi để ba ngày sống lại vinh hiển. Chính Ngài mới là Đền Thờ và là Con Chiên bị sát tế và hiến dâng làm của lễ đẹp lòng Cha trên trời.

Ngài vừa là của lễ vừa là của ăn. Sát tế để tôn vinh Cha Ngài, nhưng cũng để nuôi dưỡng chúng ta là con của Chúa Cha, vì chúng ta đã được cứu chuộc và thánh hóa nhờ của lễ duy nhất của Ngài. Chỉ nhờ Ngài, với Ngài, và trong Ngài mà mọi danh dự và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời, vì chúng ta chỉ là tro bụi. Chỉ trong Ngài, chúng ta mới tìm được sự sống và trở nên Đền Thờ sống động để tôn vinh Chúa Cha.

Lm Trầm Phúc

KÍnh chuyển:

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO -CN3MC-B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4, 4b
Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

Phúc Âm: Ga 2, 13-25
"Các ngươi cứ phá huỷ đền thờ này, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại".

Lễ Vượt Qua của dân Do-thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giêru-salem. Người thấy ở trong Ðền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc, người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ. Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ và bảo những người bán chim câu rằng: "Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán". Môn đệ liền nhớ lại câu Kinh Thánh: "Sự nhiệt thành vì nhà Chúa sẽ thiêu đốt tôi".
Bầy giờ người Do-thái bảo Người rằng: "Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy". Chúa Giêsu trả lời: "Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại". Người Do-thái đáp lại: "Phải bốn mươi sáu năm mới xây được đền thờ này, mà Ông, Ông sẽ dựng lại trong ba ngày ư?" Nhưng Người, Người có ý nói đền thờ là thân thể Người. Vì thế, khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, các môn đệ mới nhớ lời đó, nên đã tin Kinh Thánh và tin lời Người đã nói.
Trong thời gian Người ở lại Giêrusalem mừng lễ Vượt qua, nhiều kẻ tin danh Người, vì mục kích những phép lạ Người làm. Nhưng chính Chúa Giêsu không tin tưởng họ, vì Người biết tất cả mọi người, và không cần ai làm chứng về người nào; Người biết rõ mọi điều trong lòng người ta.
Ðó là lời Chúa.

HOC HÒI-Suy Nhiệm -SỐNG Lời Chúa

Sai Bài Phúc Âm cho Chúa I Mùa Chay về biến cố Chúa Giêsu vào hoang địa chay tịnh cùng chịu cám dỗ, ám chỉ mầu nhiệm khổ giá của Người, và Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật II Mùa Chay về biến cố Chúa Kitô biến hình trên núi cao của Chúa Kitô, ám chỉ đến mầu nhiệm Phục Sinh của Người, các bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III tới hết Mùa Vọng là Chúa Nhật V hoàn toàn không theo Phúc Âm của Thánh Ký Marco mà là của Thánh ký Gioan, những bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan được Giáo Hội cố ý chọn vì trong đó chất chứa mầu nhiệm vượt qua của Người mà Phúc Âm Thánh ký Marco không có.

Ở chu kỳ Năm A theo Thánh ký Mathêu cũng thế, Giáo Hội cũng chọn 3 bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho Chúa Nhật III, IV và V Mùa Chay, còn chu kỳ Năm C theo Phúc Âm Thánh ký Luca, Giáo Hội chỉ chọn 1 bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho Chúa Nhật V Mùa Chay mà thôi. Tuy nhiên, trong ngày thường, nghĩa là không phải Chúa Nhật, mà là ngày trong tuần, Phúc Âm theo Thánh ký Gioan được Giáo Hội chọn đọc liên tục suốt tuần Thứ IV và tuần Thứ V Mùa Chay, những bài Phúc Âm cho thấy Chúa Kitô tự chứng về Người, nhưng các tự chứng của Người ấy lại khiến cho chung dân chúng và thành phần trí thức cùng lãnh đạo của dân không thể nào chấp nhận được, đến độ họ đã tìm cách giết Người là tên phạm thượng lộng ngôn, và chính tới lúc này Giáo Hội bắt đầu tiến vào Tuần Thánh cũng là Tuần Thương Khó với Tam Nhật Vượt Qua cuối tuần.

Thật vậy, Bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan đưoọc Giáo Hội chọn đọc cho Chúa Nhật III Mùa Chay chu kỳ Năm B hôm nay về sự kiện Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ, ở chỗ: "Người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ. Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ và bảo những người bán chim câu rằng: 'Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán'".

Thế nhưng, việc thẳng tay thanh tẩy đền thờ của Chúa Giêsu chưa từng có như thế đã bị người Do Thái chất vấn về thẩm quyền của Người: "Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy", và để trả lời, Chúa Giêsu cho họ biết về một dấu lạ cả thể liên quan đến thẩm quyền của Người như sau: "Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội trong 3 ngày Ta sẽ dựng lại".

Ở đây chúng ta nên lưu ý là người Do Thái xin Chúa Giêsu một "dấu" (sign), dấu lạ hay dấu chỉ, chứ không phải là "phép lạ" (micracle), và Phúc Âm Thánh ký Gioan thường dùng từ ngữ dấu lạ thay vì phép lạ cho dù Chúa Giêsu thực sự làm phép lạ, như phép lạ Người hóa nước lã thành rượu ở tiệc cưới Cana (xem Gioan 2:11), hay khi Người chữa lành cho đứa con trai của viên sĩ quan cũng ở Cana (xem Gioan 4:54). Dấu chỉ hay dấu lạ đây chính là ý nghĩa ám chỉ việc Chúa Kitô làm nói chung và phép lạ Người làm nói riêng.

Đó là lý do, sau khi Chúa Giêsu trả lời cho yêu cầu của dân Do Thái xin Người một dấu chỉ nào cho thấy Người có quyền thanh tẩy đền thờ như vậy, thì Thánh ký Gioan đã chú giải ý nghĩa về câu tuyên bố này của Chúa Giêsu như sau: "Người cố ý nói đến đền thờ là thân thể Người". Tức là Chúa Giêsu tiên báo cho dân Do Thái biết rằng cái dấu chỉ mà họ xin Người làm để chứng tỏ thẩm quyền thanh tẩy đền thờ của Người đó là Người sẽ bị họ sát hại trong cuộc khổ nạn và tử giá của Người nhưng sau ba ngày Người sẽ sống lại từ trong kẻ chết.

Vấn đề đặt ra ở đây là mối liên hệ giữa bài Phúc Âm và hai bài đọc còn lại. Ở chỗ, nếu Phúc Âm trình thuật về biến cố Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ và lời tiên báo về cuộc vượt qua của Người, thì nội dung của bài phúc âm có liên hệ gì tới bài đọc 1 về 10 giới răn (Xuất Hành 20:1-17), và bài đọc 2 về giá trị tác dụng của thập giá Chúa Kitô (1Corinto 1:22-25) hay chăng? Nếu có thì ở chỗ nào?? Có thể nói phần đầu của bài Phúc Âm có liên quan tới bài đọc 1 và phần sau của bài Phúc Âm có liên quan tới bài đọc 2.

Đúng thế, nếu phần nhất của bài Phúc Âm trình thuật về sự kiện Chúa Kitô thanh tẩy đền thờ, mà bài đọc 1 về 10 giới luật của Chúa, tức là về những gì liên quan đến tâm hồn của con người là nơi Chúa ngự như là đền thờ của Ngài, một nơi nếu không tuân giữ lề luật của Chúa, tức theo đường lối của Chúa, chẳng khác gì đã bị biến thành hang trộm cướp hay nơi buôn bán, cần được thanh tẩy, thì cả hai bài đọc đã ăn khớp với nhau ở chỗ này. Bài Đáp Ca rất thích hợp với Bài Đọc I hôm nay như sau:
1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt.
2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt.
3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thực, công minh hết thảy.
4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng, ngọt hơn mật và hơn cả mật tàng ong.

Và nếu phần thứ hai của bài Phúc Âm nhắc lại lời Chúa Kitô tiên báo về cuộc vượt qua của Người, một cuộc vượt qua từ khổ nạn và tử giá ("phá đền thờ này đi") đến phục sinh ("nội trong 3 ngày Ta sẽ dựng lại") thì ở bài đọc 2 Thánh Phaolô nói về "một Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do Thái, một sự điên rồ đối với các người ngoại giáo, nhưng đối với những người được gọi thì Người là Đức Kitô, quyền năng của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Chúa Cha" ở nơi cuộc vượt qua của Người. "Vì sự điên rồ của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự khôn ngoan của loài người, và điều yếu đuối của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự mạnh mẽ của loài người", mà đó mới là dấu lạ cho người Do Thái, đó mới thực sự "là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta" (Bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần này).

Như thế, theo tiến trình Mùa Chay, sau Chúa Nhật I với bài Phúc Âm Chúa Giêsu chay tịnh 40 ngày trong hoang địa, ám chỉ Người sẽ tiêu diệt vương quốc của ma quỉ, và bài Phúc Âm Chúa Nhật II với một Chúa Kitô biến hình trên núi ám chỉ cuộc phục sinh của Người, chiến thắng tội lỗi và sự chết (1Corinto 15:56-57) bằng "sự sống lại và sự sống" (Gioan 11:25), đến bài Phúc Âm Chúa Nhật III Mùa Chay này bắt đầu hướng về cuộc vượt qua của Người.
Nếu tột đỉnh của phụng niên là Tam Nhật Thánh hay Tam Nhật Vượt Qua, liên quan đến chẳng những Mầu Nhiệm Khổ Nạn và Tử Giá của Chúa Kitô mà còn đến Mầu Nhiệm Phục Sinh của Người nữa, vì Mầu Nhiệm Vượt Qua là tất cả mạc khải thần linh của Thiên Chúa và về Thiên Chúa, thì tất cả những gì Chúa Kitô nói và làm đều hướng về Mầu Nhiệm Vượt Qua này.

Chẳng hạn, biến cố Chúa Giêsu chay tịnh 40 đêm ngày trong sa mạc và chịu ma quỉ cám dỗ ở Phúc Âm Chúa Nhật I Mùa Chay là sự kiện báo trước việc Chúa Kitô chiến thắng Satan và bọn ngụy thần bằng cuộc khổ nạn của Người. Hay biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi ở bài Phúc Âm Chúa Nhật 2 Mùa Chay là sự kiện báo trước việc Chúa Kitô sống lại từ trong kẻ chết.

Các phép lạ Chúa Giêsu làm, như chữa lành bệnh nạn tật nguyền và khu trừ ma quỉ, đều là những biểu hiệu ám chỉ việc Người đến để gian để cứu con người khỏi tội lỗi (quỉ ám) và sự chết (bệnh tật), cứu con người cả về than xác (bệnh tật) lẫn linh hồn (quỉ ám), bằng cuộc vượt qua của Người.

Về lời nói, trong Phúc Âm Nhất Lãm, Người đã báo trước 3 lần cuộc vượt qua của Người cho các môn đệ biết. Nhưng trong Phúc Âm Thánh ký Gioan, Người chỉ nói trống vậy thôi, với chung dân chúng. Chẳng hạn Người còn nói đến mầu nhiệm vượt qua của Người khi nói với dân chúng về thân phận của hạt lúa miến gieo xuống đất cần phải mục nát đi mới sinh nhiều hoa trái (xem Gioan 12:24), hay khi Người phán: "Khi Tôi bị treo lên, Tôi sẽ kéo mọi người lên cùng tôi" (Gioan 12:32).

Trong bài Phúc Âm hôm nay, lần đầu tiên Người nói đến Mầu Nhiệm Vượt Qua này, khi Ngưới thách thức con người cứ phá đền thờ là thân thể của Người (khổ nạn và tử giá) nhưng Người sẽ dựng lại nó trong vòng 3 ngày (sống lại). Nghĩa là con người dù có gây ra sự dữ, có cố tình phạm đến Ngài chăng nữa thì Thiên Chúa vẫn có thể hoàn thành dự án thần linh vô cùng sâu nhiệm và toàn năng của Ngài trong việc yêu thương cứu độ họ và cho họ được hiệp thông thần linh với Ngài mà hoan hưởng sự sống toàn hảo viên mãn của Ngài và với Ngài, đúng như mục đích và chủ đích Ngài đã tạo dựng nên họ ngay từ ban đầu.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY-CN2MC-B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: 2 Cr 6, 2b

Ðây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ.

Phúc Âm: Lc 15, 1-3. 11-32 : *NGƯỜI CON QUYẾT TÂM TRỞ VỀ  CÙNG CHA*

"Em con đã chết nay sống lại".

Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này:

"Người kia có hai con trai. Ðứa em đến thưa cha rằng: "Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con". Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả tiền của mình trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ, phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của, thì gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó mới hồi tâm lại và tự nhủ: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: "Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha". Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy lại ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu. Người con trai lúc đó thưa rằng: "Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa". Nhưng người cha bảo các đầy tớ: "Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu; hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy". Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình. . . . . .

Ðó là lời Chúa.

HOC HỎI- Suy niệm- SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống hiệp thông

Hôm nay là Thứ Bảy, ngày cuối cùng của Tuần 2 Mùa Chay. Bài Phúc Âm về một dụ ngôn chỉ có trong Phúc Âm Thánh Luca vẫn được gọi là dụ ngôn người con hoang đàng, một dụ ngôn cũng liên quan đến chủ đề chung cho Mùa Chay bao gồm cả Tuần Thánh là: "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi (ở chỗ chia gia tài cho đứa con phung phá) để rồi lấy nó lại (khi đứa con phung phá trở về với cha của nó như chết mà sống lại)" (Gioan 10:17).

Trong tuần Thứ 2 Mùa Chay này, Giáo Hội cố ý chọn 3 dụ ngôn cho 3 ngày cuối tuần này: Thứ Năm với dụ ngôn Lazarô và người phú hộ vô tâm, Thứ Sáu với dụ ngôn vườn nho và bọn tá điền gian ác, và Thứ Bảy hôm nay với dụ ngôn phải được gọi là người cha thương xót hơn là dụ ngôn người con hoang đàng.

Thật vậy, theo chiều hướng chung của phụng vụ lời Chúa hôm nay, bao gồm cả Bài Đọc 1, thì Giáo Hội, qua dụ ngôn của Bài Phúc Âm trong ngày này, cố ý nhấn mạnh đến tấm lòng vô cùng nhân hậu của người cha chẳng những đối với người con hoang đàng, hơn là đến việc hoán cải trở về cùng cha của người con hoang đàng ấy, mà còn đến cả người con trưởng lầm lạc đáng thương nữa.

Đúng thế, ngay ở đầu bài Phúc Âm, câu Phúc Âm mở màn đã khiến chúng ta thấy ngay được vai chính của dụ ngôn sau đó là người cha hơn là người con, một người cha có 2 đứa con chứ không phải một, và đứa con nào cũng được ông hết tình xót thương, trong đó bao gồm cả người con lớn, đứa con tiêu biểu cho thành phần "những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: 'Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng'", cũng chính là thành phần được Chúa Giêsu "phán bảo họ dụ ngôn này", một dụ ngôn bao gồm cả họ lẫn "những kẻ tội lỗi" là thành phần được tiêu biểu nơi người con thứ phung phá.

Quả thực qua dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy được người cha có hai người con trai này nhân hậu biết là chừng nào, một tình nhân hậu đúng là "như Cha trên trời là Đấng xót thương" (Luca 6:36), một tầm mức xót thương vô cùng trọn lành và cao cả, không một người cha người mẹ trần gian nào có thể đạt được hay vươn tới hoặc làm nổi, và vị nghĩ ra dụ ngôn này cũng phải là một vị Thần Linh mới có thể nói về một thực tại thần linh hoàn toàn siêu việt không thể nào xẩy ra trên trần gian này như thế.

Trước hết, lòng thương xót vô cùng siêu việt của người cha trong dụ ngôn được Thánh ký thuật lại trong bài Phúc Âm hôm nay đối với người con thứ hoang đàng phung phá. Ở chỗ, trước hết, sẵn sàng chia gia tài cho nó, dù biết rằng nó đòi chia gia tài cho nó là để nó bỏ đi, không muốn sống với ông nữa. Vì nếu nó còn ở nhà với ông như người con trưởng anh nó thì đâu cần phải chia gia tài cho nó mà làm gì.

Và ông biết chắc rằng gia tài ông chia cho nó để nó bỏ ông mà đi như thế sẽ bị tan hoang hết thôi. Nhưng ông vẫn không can ngăn nó, không nói năng gì, cứ sẵn sàng đáp ứng yêu cầu tuy chính đáng của nó nhưng nguy hiểm cho nó và thiệt hại đến cả ông nữa. Hình như ông muốn để cho xẩy ra như vậy để cho đứa con dại khờ của ông sau khi hoang đàng trở về sẽ thấy được tất cả tấm lòng ông thương nó, bằng không, tình thương của ông không thể nào thi thố hết cỡ như với nó vậy.

Nhưng ông làm sao có thể biết được là đứa con hoang đàng phung phá này của ông, một khi đã trở nên cùng cực, sẽ trở về với ông như một thân tàn ma dại:

"Khi nó tiêu hết tiền của, thì gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó mới hồi tâm lại và tự nhủ: 'Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha'".

Đó là cái bí mật của lòng thương xót nơi ông, cái nghệ thuật siêu đẳng làm cha của ông, ở chỗ, ông biết con ông hơn chính nó biết nó, và thương nó hơn chính nó thương nó, đến độ, ông không sợ mất nó, sẵn sàng để nó đi, vì ông biết rằng nó sẽ không thể nào tìm được hạnh phúc thật và sự sống thật ngoại trừ trở về với cha của nó, sống với cha nó, và chỉ ở trong nhà của cha nó tiêu biểu cho mối hiệp thông với cha mới có sự sống mà thôi.

Không phải hay sao: 1- "Khi nó tiêu hết tiền của": ám chỉ linh hồn phạm tội trọng bị mất Ơn Nghĩa Chúa, mất Thánh Sủng, như trong trường hợp Kitô hữu Công giáo; 2- "thì gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu": ám chỉ tình trạng linh hồn mất Ơn Nghĩa Chúa cũng đồng thời thiếu ơn Chúa để có thể sống tốt lành; 3- "Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo": ám chỉ linh hồn trọng tình trạng tội trọng đang làm tôi cho ma quỉ và "người trong miền" mà linh hồn làm tôi là ma quỉ này bao giờ cũng xui khiến họ sống theo xác thịt đê hèn như loài "heo"; 4- "Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho": ám chỉ linh hồn thèm khát những gì con heo xác thịt tìm kiếm như đồ ăn bẩm sinh bất khả thiếu của nó là thế gian, nhưng không thỏa mãn...

Thế gian cùng với các thứ hào nhoáng thu hút của nó vô cùng thích hợp với bản tính tự nhiên của con người dù sao vẫn không thể nào hoàn toàn và tận tuyệt thỏa mãn con người, bởi tâm hồn của con người, dù tội lỗi đến đâu cũng đã được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa cao cả nên chỉ có thể được thỏa mãn nơi những gì chân thật thiện hảo xứng hợp với nó mà thôi... Do đó, như một khả năng được "build-in" - sẵn có nơi lòng của con người, đứa con hoang đàng từ đó và do đó, khi đã xuống tới đáy vực thì bật lên hay dội lại. Vì thế dụ ngôn mới được tiếp ngay đến chi tiết đứa con hoang đàng phung phá bật lên hay dội lại như thế này: "Bấy giờ nó mới hồi tâm lại và tự nhủ: 'Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi..."

Phải chăng đó là lý do cho dù có thương con đến thế nào chăng nữa, người cha cũng vẫn chẳng cần đi tìm đứa con dại hoang đàng phung phá của mình, mà chỉ cần ở nhà chờ nó trở về với ông, bằng tất cả tấm lòng bao dung tha thứ sẵn sàng của ông, bởi ông đã tha cho nó ngay từ khi nó xin ông chia gia tài cho nó để nó bỏ ông mà đi theo đam mê dục vọng đê hèn của nó, coi đam mê dục vọng của mình hơn tình phụ tử cao vời của ông với nó?!

Chính vì người cha đã tha cho con mình ngay từ đầu, và thấu hiểu con mình hơn ai hết như thế, mà "khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy lại ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu. Người con trai lúc đó thưa rằng: 'Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa'. Nhưng người cha bảo các đầy tớ: 'Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu; hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy'. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình".

Người cha chẳng những đã vui mừng vì đứa con hoàng đàng phung phá trở về và đã tự động mau mắn tha thứ cho nó trước khi nó lên tiếng xin lỗi ông, mà còn phục hồi lại cho nó tất cả những gì nó đã tự đánh mất khi xa ông trong đời sống bê tha hoang đàng bất xứng, đó là chức làm con, được tiêu biểu nơi việc "mặc" "áo đẹp nhất", nghĩa là được có cùng huyết nhục của cha và với cha; quyền làm con, được tiêu biểu nơi việc "đeo nhẫn vào ngón tay cậu", nghĩa là được quyền thay mặt cha khi cha còn sống và thừa hưởng phần gia tài của cha sau khi cha qua đời; và phận làm con, được tiêu biểu nơi "giầy ở chân cậu", nghĩa là ở vai trò làm chủ của thành phần nô lệ và tôi tớ trong nhà, thành phần theo văn hóa bấy giờ lúc nào cũng đi chân không.

Tình của người cha xót thương đứa con hoang đàng phung phá này đã khiến cho người con trưởng cảm thấy bất mãn và ghen tức với cả người cha lẫn người em của hắn, đến độ, hắn "nổi giận và quyết định không vào nhà", một thái độ tiêu biểu cho việc tuyệt tình và tuyệt giao của hắn với cả cha hắn với em hắn, không còn muốn hiệp thông liên hệ gì với họ nữa, cho dù cả hai đều là ruột thịt của hắn.

Đến đây chúng ta mới thấy tình thương của người cha không phải chỉ giành riêng cho đứa con hoang đàng phung phá mà còn cho cả đứa con ở nhà với ông nữa. Có thể nói ông tỏ ra thương người con trưởng hơn cả người con thứ nữa. Ở chỗ, trong khi ông không đi tìm người con thứ hoang đàng phung phá, thì ông lại đi tìm người con trưởng của ông, vì nó ở gần ông đấy nhưng lại hoàn toàn lạc mất ông và chẳng hiểu ông bằng người con thứ hoang đàng phung phá.

Có thể nói người con trưởng mới là con chiên lạc, đến độ người cha đã phải bỏ 99 con đang linh đình dự tiệc mừng người con hoang đàng phung phá trở về ở trong nhà mà đi tìm con chiên lạc loài một mình đang sống cô lập bên ngoài mối hiệp thông cha con và huynh đệ, bằng cách người cha đã "ra xin anh vào". Nghĩa là trong khi người con thứ hoang đàng phung phá tìm về với người cha, không cần người cha đi tìm nó, thì người cha lại đi tìm người con trưởng để mang nó về đàn với em của nó.

Người con trưởng quả thực là con chiên lạc cần được người cha tìm về hơn người con thứ. Bởi vì trong khi người con thứ biết thân phận làm con của mình vì hoang đàng phung phá đã không còn xứng nữa nên chỉ xin làm đầy tớ cho cha và của cha, miễn là được cha chấp nhận cho về sống với cha và trong nhà của cha, thì người con trưởng ở nhà với cha lại chỉ muốn làm đầy tớ của cha và cho cha, chứ không muốn làm con của cha, vì hắn làm gì cũng tính công, cũng đòi công như thành phần đầy tớ: "Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn".

Chính vì tinh thần làm công như một tên đầy tớ của cha và cho cha như thế mà người con trưởng đã không nghĩ rằng "tất cả của cha là của con", bao gồm cả đứa em của hắn, một đứa em còn quí báu hơn tất cả gia tài vật chất của người cha nữa, đến độ, người cha không thể nào không ăn mừng khi thấy đứa con hoang đàng phung phá tự động trở về với tấm lòng thương xót bất khả chống cưỡng của ông đối với nó: "Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy".

Người cha trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay chính là hình ảnh về một Vị Thiên Chúa vô cùng nhân hậu, đã tỏ mình ra cho dân được Ngài tuyển chọn như vị mục tử chăn dắt họ là đàn chiên của Ngài, vị mục tử được tiên tri Mica cảm nhận trong Bài Đọc 1 hôm nay như sau:

"Lạy Chúa, với cây trượng của Chúa, xin chăn dắt dân Chúa, chăn dắt những con chiên thuộc quyền sở hữu của Chúa, sống lẻ loi trong rừng, ở giữa núi Carmêlô. Tất cả được chăn dắt ở Basan và Galaad như ngày xưa. Như ngày ra khỏi Ai-cập, xin tỏ cho chúng con thấy những việc lạ lùng".

Lịch sử cứu độ của dân Do Thái đã cho thấy không phải là dễ dàng gì mà chăn dắt họ. Bởi họ là một dân tộc rất ngang tàng bướng bỉnh, bất chấp có được Vị Thiên Chúa của cha ông họ tỏ mình ra cho thấy Ngài là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ "nhiều lần bằng nhiều cách" (Do Thái 1:1).

Bởi thế, họ là cả một đàn chiên lạc chứ không phải chỉ lạc có một con, và vị mục tử của họ không thể nào chăn dắt họ nếu không nhẫn nại với họ, nếu cứ chấp tội họ, nếu không luôn đi tìm họ, không theo đuổi họ hơn là họ theo đuổi ngài, một vị Thiên Chúa đúng như cảm nhận và xác tín của tiên tri Mica trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Có Chúa nào giống như Chúa là Ðấng dẹp tan mọi bất công, và tha thứ mọi tội lỗi của kẻ sống sót thuộc về Chúa? Chúa không khư khư giữ mãi cơn thịnh nộ của mình, vì Chúa ưa thích lòng từ bi. Chúa còn thương xót chúng tôi, còn dày đạp những bất công của chúng tôi dưới chân Chúa, và ném mọi tội lỗi chúng tôi xuống đáy biển. Chúa ban cho Giacóp biết sự trung thành của Chúa và cho Abraham biết lòng từ bi mà Chúa đã thề hứa với tổ phụ chúng tôi từ ngàn xưa".

Phải, chỉ có ai cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa, ở chỗ cho dù mình có là một tội nhân nhưng đã được và hằng được Thiên Chúa vô cùng yêu thương nhận hậu tha thứ, hơn là đối xử với mình đáng tội của mình, mới có được những cảm nhận và tâm tình của Bài Đáp Ca và như Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng thánh danh Người. Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và chớ khá quên mọi ân huệ của Người.

2) Người đã tha thứ cho mọi điều sai lỗi, và chữa ngươi khỏi mọi tật nguyền. Người chuộc mạng ngươi khỏi chỗ vong thân; Người đội đầu ngươi bằng mão từ bi, ân sủng.

3) Người không chấp tranh triệt để, cũng không đời đời giữ thế căm hờn. Người không xử với chúng tôi như chúng tôi đắc tội, và không trả đũa điều oan trái chúng tôi.

4) Cũng như trời xanh cao vượt trên trái đất, lòng nhân Người còn siêu việt hơn thế trên kẻ kính sợ Người. Cũng như từ đông sang tây xa vời vợi, Người đã ném tội lỗi xa khỏi chúng tôi.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

Giáo Hội Hiện Thế: Thứ Sáu Thương Xót (Mercy Friday)
ĐTC Phanxicô vẫn tiếp tục lệ Thứ Sáu Thương Xót này từ Năm Thánh Thương Xót 2016.
Thật vậy, mỗi tháng 1 lần, thường vào Thứ Sáu Đầu Tháng, ngài đến thăm một nơi nào có những người anh chị em hèn mọn nhất của Chúa Kitô đang trú ngụ và được phục vụ ở khu vực thành phố Roma.
Thứ Sáu ngày 2-3-2018, ngài đã bất ngờ đến viếng thăm "Casa di Leda", một nhà phục vụ cho 5 người mẹ cùng con cái của họ, vào lúc 4 giờ chiều, chính lúc họ sắp sinh hoạt bình thường với nhau.
Trong vòng 1 tiếng đồng hồ, ĐTC đã hỏi thăm từng người và chơi với con cái của 5 người mẹ từ 25 đến 30 tuổi này.
Các cháu đã hô hoán khi được ngài tặng cho món quà là những Quả Trứng Phục Sinh to (large Easter eggs), ngược lại các cháu đã đơn sơ mời ngài dùng snacks (bữa xẹp ban chiều) với các cháu.
Ngài cũng tặng cho mỗi một người mẹ một tấm giấy da có chữ ký của ngài để kỷ niệm lần ngài đến thăm họ.

-------------------------------

 

 
HOC HOI DESONG DAO - THU SAU-CN2MC-B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 94, 8ab

Hôm nay các ngươi đừng cứng lòng, nhưng hãy nghe lời Chúa phán.

Phúc Âm: Mt 21, 33-43. 45-46

"Ðứa con thừa tự kia rồi, nào anh em, chúng ta hãy giết nó".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Các ông hãy nghe dụ ngôn này: Có ông chủ nhà kia trồng được một vườn nho. Ông rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh; đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa. Ðến mùa nho, ông sai đầy tớ đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi. Nhưng những người làm vườn nho bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác. Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy. Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: "Ðứa con thừa tự kia rồi: Nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó". Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết. Vậy khi chủ về, ông sẽ xử trí với bọn họ thế nào? Các ông trả lời: "Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó và sẽ cho người khác thuê vườn nho để cứ mùa nộp phần hoa lợi". Chúa Giêsu phán: "Các ông chưa bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh sao:

"Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta?" Bởi vậy, Ta bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái".

Các Thượng tế và biệt phái nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là Tiên tri.

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI - Suy niệm -SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống cách mạng

Tuần 2 Mùa Chay được tiếp tục với ngày Thứ Sáu hôm nay, có Bài Phúc Âm về dụ ngôn liên quan hết sức chặt chẽ với chủ đề chung cho Mùa Chay bao gồm cả Tuần Thánh là: "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17).

Câu chính yếu của bài Phúc Âm hôm nay chứng thực chủ đề của Mùa Chay này đó là câu: "'Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta?' Bởi vậy, Ta bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái".

Đúng thế, cả dụ ngôn trong Bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu nói về số phận của "viên đá bị bọn thợ loại ra" là chính bản thân Người, được hiện thân nơi người con một duy nhất của ông chủ vườn nho, một vườn nho đã được ông chủ này "rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh; đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa".

Chính vì "vườn nho của Chúa là nhà Israel" (Isaia 5:7) mà thành phần "tá điền" được "thuê" để làm vườn nho cho vị chủ vườn nho này chính là thành phần lãnh đạo của dân Do Thái, dọc suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, mà đại diện cho chung thành phần này bấy giờ đang nghe Chúa Giêsu nói về dụ ngôn ấy là "các trưởng tế và các kỳ lão trong dân", và vì thế mà cuối cùng họ mới có phản ứng tiêu cực được Phúc Âm ghi nhận như sau: "Các Trưởng tế và biệt phái nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là Tiên tri".

Các người "đầy tớ" được chủ vườn nho là Thiên Chúa sai "đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi" đây là ai, nếu không phải là các vị tiên tri, các vị ngôn sứ của Thiên Chúa, để nhắc nhở họ về giao ước của Thiên Chúa, về lề luật họ cần phải tuân giữ, về tội tôn thờ ngẫu tượng và ngoại tình của họ mà họ cần phải từ bỏ hầu quay về với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ.

Thật ra, vườn nho là dân Do Thái này đã được Thiên Chúa "rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh", ở chỗ Ngài đã ban lề luật cho họ, như thể Ngài "rào dậu chung quanh" họ, Ngài đã thử thách đức tin của họ, như thể Ngài "đào hầm ép rượu" nơi họ, và Ngài đã liên tục tỏ mình ra cho họ bằng các cuộc thần hiển hay qua các sự lạ dấu kỳ, như thể Ngài "xây tháp canh" trên họ. Chưa hết, vườn nho này còn được canh tác bởi thành phần "tá điền" là thành phần lãnh đạo dân Do Thái được Ngài sử dụng để phục vụ cho lợi ích của vườn nho như Ngài mong muốn.

Thế nhưng, thành phần "tá điền", với tư cách chỉ là kẻ làm thuê cho chủ, chẳng những đã không chịu nộp phần hoa lợi cho chủ qua thành phần "đầy tớ" là các vị ngôn sứ đại diện được chủ sai đến thu hoa lợi, mà thậm chí lại còn "bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác", hết đợt này đến đợt khác, chứ không phải một đợt đầu tiên: "Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy".

Tuy nhiên, vị chủ vườn nho vẫn nhân từ và đầy nhẫn nại, lại còn tỏ ra có vẻ hết sức ngây thơ đến độ điên cuồng dại dột dám sai cả đứa con trai cưng độc nhất của mình tới với bọn tá điền hung dữ tàn ác đầy sát máu này, với ý nghĩ quá ư là thành thực, tin tưởng hết cỡ vào thành phần "tá điền" được ông thuê mướn nhưng đã từng tỏ ra không coi ông ra gì khi ra tay sát hại bao nhiêu là đợt "đầy tớ" của ông, được ông sai đến với họ: "Họ sẽ kính nể con trai mình".

Quả thực không sai, bọn "tá điền" đang hăng máu đã thừa thắng xông lên, sẵn con mắt còn đang khát máu và bàn tay còn đang đẫm máu các đợt "đầy tớ" của chủ sai đến bị họ sát hại, nên đã tiến tới chỗ giết cả chính người con trai duy nhất vô cùng yêu quí của chủ vườn nho, theo tham vọng giết người cướp của, ở chỗ, theo họ, một khi họ giết được đứa con thừa tự của chủ thì tất cả gia tài của chủ mà họ đang nắm giữ trong tay là vườn nho họ đang canh tác tự nhiên sẽ thuộc về họ: "Ðứa con thừa tự kia rồi: Nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó'. Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết".

Thực tế cho thấy xẩy ra đúng như vậy, thành phần lãnh đạo dân Do Thái đã nhân danh Thiên Chúa, hay đã bênh vực vinh quang của Thiên Chúa, mà lên án tử cho chính Con Thiên Chúa mà họ cho rằng nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét chỉ thuần túy là một con người như họ mà đã dám cả gan lộng ngôn phạm thượng, xưng mình là Con Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa (xem Mathêu 26:63-66 và Gioan 10:33).

Thế nhưng, vị chủ vườn nho này không quá ngu dại và điên cuống như đám "tá điền" gian ác tham lam ấy tưởng tí nào cả, trái lại, chính những mưu đồ xấu xa và việc làm quái gở của họ, hoàn toàn theo tính toán khôn ngoan nhất của họ, theo tự do đến độ lộng hành của họ, mà lại trở thành cơ hội vô cùng thuận lợi cho ý định cứu độ của Ngài, đúng như Con của Ngài đã tiên báo cho thành phần lãnh đạo đang nghe Người bấy giờ biết: "Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta?"

Thậm chí cho dù biết như thế đấy, ở chỗ "nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là Tiên tri", thành phần lãnh đạo dân Do Thái ấy nhất định vẫn không chấp nhận Người, vẫn muốn tình nguyện bất đắc dĩ trở thành "bọn thợ" nhúng tay vào việc "loại ra" "chính viên đá" theo thiên định chắc chắn sẽ "trở nên viên đá góc".

Hình ảnh và số phận của "viên đá" bị "loại ra đã trở thành viên đá góc" là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay đã được báo trước nơi số phận của tổ phụ Giuse, một trong 12 anh em trai của tổ phụ Giacóp, và được bố Giacóp thương nhất trong số các con của ông, nên đứa con trai thứ 11 này của ông, cùng cha khác mẹ với 10 người anh, đã bị các anh ghen ghét đến độ muốn sát hại, chẳng những cho bõ ghen tức mà còn để phá vỡ mộng mị của đứa em lên mặt này của họ.

Giuse là đứa em được bố tổ phụ Giacóp thương nhất, đến độ Giuse đã trở thành cái gai trước mắt các anh mình: "Israel mến thương Giuse hơn mọi đứa con khác, vì ông sinh ra Giuse trong lúc tuổi già. Ông may cho Giuse một chiếc áo nhiều mầu. Các anh của Giuse thấy cha mình thương Giuse hơn mọi đứa con, nên sinh lòng ghen ghét và không thể nói chuyện thân mật với Giuse".

Tuy nhiên, không phải vì thương Giuse nhất mà bố tổ phụ Giacóp không thương những đứa con còn lại, trái lại, ông vẫn quan tâm đến mọi đứa con của ông, như có lần ông sai Giuse đến với các anh của chàng: "Khi các anh Giuse đi chăn những đoàn chiên của cha mình tại Sikem, thì Israel nói với Giuse: 'Có phải các anh con đang chăn chiên ở Sikem không? Con hãy lại đây, cha sai con đi tìm các anh con'".

Không ngờ cơ hội tốt đã đến, các anh của người con cưng của cùng một người cha khác mẹ với họ đã lọt vào tay họ một cách ngon lành, để họ nhờ đó có thể dễ dàng thực hiện ý đồ gian ác của họ là sát hại đứa em vô tội của họ, rồi bỏ xác của nó xuống một cái giếng cạn để phi tang tung tích của nó, nhưng sau theo gợi ý có lý của người anh thứ tư là Giuđa, họ đã chuyển mưu đồ giết em thành bán em của họ cho đám lái buôn đang đi sang Ai Cập.

"Giuse đi tìm các anh mình và gặp các anh tại Ðôtain. Khi các anh thấy Giuse từ đằng xa tiến lại gần, họ liền âm mưu tìm cách giết Giuse. Họ nói với nhau rằng: 'Này thằng chiêm bao đến kia rồi, anh em hãy lại đây, chúng ta bắt giết nó, ném xác nó xuống một cái giếng cạn và nói nó bị thú dữ ăn thịt, rồi xem các điềm chiêm bao của nó sẽ ra sao?'"

"Ðang khi các ông ngồi ăn bánh, thì thấy một đoàn người Ismael từ Galaad tiến về Ai-cập, các con lạc đà của họ chở đầy hương liệu, nhựa thơm và dầu thơm. Giuđa nói với các anh em rằng: "Chúng ta giết em chúng ta và giấu máu nó đi, thì có ích lợi gì? Tốt hơn là chúng ta đem bán nó cho người Ismael và tay chúng ta không phải vấy máu, vì Giuse là em ruột thịt chúng ta". Các anh em nghe theo lời Giuđa, nên khi các người lái buôn từ Mađian đi ngang qua đó, các ông kéo Giuse lên khỏi giếng và đem bán cho các người Ismael với giá hai mươi đồng bạc, và họ dẫn Giuse sang Ai-cập".

Thế nhưng, cũng như bọn "tá điền" trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay, hoàn toàn tự do mưu tính và hành động theo sự khôn ngoan nhất của mình, thế mà Vị Thiên Chúa toàn năng quan phòng tất cả mọi sự như chủ tể lịch sử loài người vẫn có thể hoàn tất được tất cả những gì Ngài định liệu, bằng chính những âm mưu ác độc xấu xa và việc làm gian ác hung dữ của họ, như Bài Đáp Ca hôm nay chứng thực:

1) Chúa đã gọi cảnh cơ hàn về trên đất nước, và rút đi mọi sự nâng đỡ bằng cơm bánh. Ngài đã sai một người đi trước họ: Giuse đã bị bán để làm nô lệ.

2) Thiên hạ đã lấy xiềng để trói chân người, và cổ người bị cột bằng xích sắt, cho tới khi ứng nghiệm lời tiên đoán của người, lời của Chúa đã biện minh cho người.

3) Vua đã sai cởi trói cho người, Chúa của chư dân cũng đã giải phóng người. Vua đã tôn người làm chủ của mình, và làm chúa trên toàn diện lãnh thổ.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 8 of 123