mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5588
mod_vvisit_counterHôm Qua2804
mod_vvisit_counterTuần Này11239
mod_vvisit_counterTuần Trước36531
mod_vvisit_counterTháng Này106945
mod_vvisit_counterTháng Trước189436
mod_vvisit_counterTất cả9002025

We have: 115 guests online
Your IP: 54.146.59.51
 , 
Today: Aug 22, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 360 =CHUA NHAT LE LA PDF Print E-mail

- PVLC Chúa Nhật Thương Khó 9-4-2017

"Đấng nhân danh Chúa mà đến"

- "Khi nào Tôi được treo lên..."

Chúa Nhật Lễ Lá - Mở Màn Tuần Thánh và Tam Nhật Vượt Qua

PHẦN NGHI THỨC RƯỚC LÁ TRƯỚC LỄ

Ngày thứ 40 của Mùa Chay, thời điểm vừa kết thúc 40 ngày Mùa Chay vừa bắt đầu Tuần Thánh, là Chúa Nhật mà chúng ta gọi là Chúa Nhật Lễ Lá cũng là Chúa Nhật Thương Khó.

Bởi vì, phụng vụ của ngày Chúa Nhật giao điểm kết thúc Mùa Chay và bắt đầu Tuần Thánh này bao gồm 2 biến cố hoàn toàn có tính cách khác nhau, đúng hơn hoàn toàn phản nghịch nhau: về chính bản thân Chúa Kitô thì Người đã đạt đến tột cùng vinh quang nhưng đồng thời cũng xuống tới tận cùng khổ nhục trước mặt trần gian, còn về phía chung dân chúng và môn đệ của Người thì vui thật là vui nhưng đồng thời cũng buồn thật là buồn, buồn đến hoảng sợ và hoảng loạn.

Trước hết, về khía cạnh vinh quang và vui mừng cho Chúa Nhật giao điểm này, được Giáo Hội cử hành trước Thánh Lễ, ở ngoài nhà thờ, với nghi thức làm phép lá và rước lá. Bài Phúc Âm cho nghi thức rước lá này, cả 3 chu kỳ A-B-C, đều thật sự cho thấy Chúa Kitô đã đạt đến tột cùng vinh quang của Người trước mặt trần gian khi Người tiến vào Thành Thánh Giêrusalem là giáo đô của Do Thái giáo.

Bài Phúc Âm của chu kỳ Năm A được Thánh ký Mathêu thuật lại rằng: "Các môn đệ ra đi và làm theo lời Chúa Giêsu dạy bảo. Hai môn đệ dẫn lừa mẹ và lừa con về, trải áo lên mình chúng và đặt Chúa ngồi lên trên. Phần đông dân chúng trải áo xuống đường, kẻ khác thì chặt nhành cây trải lối đi. Dân chúng kẻ thì đi trước, người theo sau tung hô rằng: 'Hoan hô con vua Ðavit! Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời!' Khi Ngài vào thành Giêrusalem, thì cả thành phố náo động và nói rằng: 'Người đó là ai vậy?' Dân chúng trả lời rằng: 'Người ấy là Tiên tri Giêsu, xuất thân từ Nadarét, xứ Galilêa'".

Qua bài Phúc Âm này, chúng ta chẳng những thấy được tất cả lòng trọng kính, bái phục và tôn sùng của chung dân chúng cũng như môn đệ đoàn của Người, qua các việc họ "trải áo lên mình chúng và đặt Chúa ngồi lên trên. Phần đông dân chúng trải áo xuống đường, kẻ khác thì chặt nhành cây trải lối đi" và "kẻ thì đi trước, người theo sau tung hô rằng: 'Hoan hô con vua Ðavit! Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời'", những việc làm phải nói là chưa từng có cho bất cứ một ai (tiêu biểu và nổi tiếng nhất như tổ phụ Abraham, cứu tinh Moisen, tiên tri Elia, thánh vương Đavít, tiền hô Gioan v.v.) trong giòng lịch sử của dân Do Thái, mà còn thấy được cả cái bóng đen chập chờn bắt đầu xuất hiện, một chi tiết chỉ được một mình Phúc Âm Thánh Luca thuật lại ở cuối bài Phúc Âm cho phụng vụ phần rước lá Năm C như sau:

"Một vài người biệt phái trong đám đông nói cùng Người rằng: 'Thưa Thầy, xin hãy mắng các môn đệ Ngài đi'. Chúa Giêsu nói: 'Tôi bảo cho các ông biết: nếu họ làm thinh, thì những viên đá sẽ la lên'".

Hiện tượng tương phản này cũng đã được Thánh ký Gioan ghi nhận như thế này: "Những kẻ ở với Người chứng kiến thấy việc Người gọi Lazarô ra khỏi mồ và làm cho ông ấy sống lại từ cõi chết. Dân chúng họ đi đón Người, bởi họ nghe biết Người đã làm dấu lạ ấy. Những người biệt phái mới bảo nhau rằng: 'Các ông thấy không, các ông chẳng đi đến đâu rồi đó! Kìa, cả thế gian đã chạy theo hắn ta mất rồi!" (Gioan 12:17:19).

Trước thái độ có vẻ ghen tương đầy thành kiến và ác cảm ấy của những người biệt phái, Chúa Giêsu đã nhắc khéo họ rằng: "nếu họ làm thinh, thì những viên đá sẽ la lên". Nghĩa là Người muốn nhắn nhủ họ rằng chỉ có ai tin tưởng vào Người mới có thể tỏ ra long trọng nghênh đón Người như thế mà thôi. Qua câu này Người cũng muốn nhắc nhở họ lời Người đã cảnh báo họ về lòng tin của họ trước kia, (trong bài Phúc Âm Thánh Gioan Thứ Ba Tuần V vừa rồi): "Tôi nói cho quí vị biết quí vị sẽ chết trong tội lỗi của các vị; quí vị sẽ chết trong tội lỗi của quí vị trừ phi quí vị tin vào Tôi" (Gioan 8:24).

Mà thật, đúng như những gì Người đã cảnh báo. Chính vì họ không tin mà họ đã thực sự chết trong tội lỗi của họ, khi họ càng trở nên mù quáng và điên cuồng lên án Người, vào chính lúc Người tỏ mình ra cho họ biết như họ nhân danh Thiên Chúa mà hỏi Người, và làm áp lực thẩm quyền đế quốc Roma để đóng đinh Người cho bằng được, dù vị tổng trấn Philatô này thấy Người vô tội và tìm cách tha Người. Chưa hết, trong cuộc khổ nạn và tử giá của Người, các môn đệ thân tín của Người cũng vì Người mà vấp phạm nữa. Không phải vì các vị không tin Người mà chính vì các vị tin rằng "Thày là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16).

Thật vậy, chính vì các vị tin rằng Vị Sư Phụ "đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14) của các vị chính là "Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" như thế mà các vị, qua lời can gián tiêu biểu của tông đồ Phêrô (xem Mathêu 16:22-23), đã cho thấy các vị không thể nào chấp nhận được sự kiện Đấng Thiên Sai Con Thiên Chúa vô cùng thiện hảo và toàn năng bị khổ nạn và tử giá như là một tên tử tội. Bởi thế, khi thấy Thày mình bị bắt và bị lên án tử các vị đã thật sự không thể nào không bị chao đảo đức tin!

Bài Phúc Âm trong Thánh Lễ hôm nay, dù theo chu kỳ A-B-C cũng đều thuật lại biến cố cứu độ vô cùng quan trọng này, một biến cố theo thời điểm xẩy ra vào Thứ Sáu trong tuần, nhưng lại là một biến cố cần phải long trọng cử hành vào Chúa Nhật cho mọi người môn đệ của Người được tham dự vào mầu nhiệm này. Đó là lý do Chúa Nhật Lễ Lá cũng là Chúa Nhật Thương Khó mở màn Tuần Thánh vậy.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Kính chuyển:

Hồng

-------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 359 = THY BAY CN5MC-A PDF Print E-mail

 PVLC Thứ Bảy Tuần V MC 8-4-2017 (2)

lạ lùng thay họ tưởng rằng họ đã thắng bằng quả banh họ chuyền nhau đã làm tung lưới đối phương là dự án cứu độ của Thiên Chúa, không ngờ lại là cú đá phản pháo đã phá lưới chính "cái gôn - đích nhắm, mưu đồ" của chính họ

Hôm nay là ngày áp chót của Mùa Chay, cũng có thể nói là ngày cuối cùng (trong tuần) của Mùa Chay, ngày Thứ Bảy Tuần V Mùa Chay, chủ đề "Tôi tự bỏ sự sống mình đi để rồi lấy lại" (Gioan 10:17) càng hiện lộ trong phụng vụ lời Chúa, cả ở Bài Phúc Âm lẫn Bài Đọc 1.

Cũng như Thứ Bảy tuần trước, bài Phúc Âm hầu như vắng bóng Chúa Giêsu, mà chỉ vang bóng của Người thôi, tức là về tình trạng dân chúng và thành phần lãnh đạo của họ chia rẽ nhau về Người, sau khi Người đã tự chứng về Người bằng ngôn từ hay bằng phép lạ.

Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy cái âm hưởng quá sức là mãnh liệt gây ra bởi phép lạ cả thể nhất Người làm, một phép lạ không được thuật lại trong bài Phúc Âm hôm nay, mà ở trong bài Phúc Âm cho Chúa Nhật Năm A (hay các Năm B và C nếu muốn thay thế các bài Phúc Âm theo chu kỳ Chúa Nhật) Tuần V Mùa Chay đầu tuần.

Đó là phép lạ Người hồi sinh cho người bạn thân Lazarô chết đã 4 ngày của Người, để chứng tỏ một thực tại thần linh về Người, một thực tại thần linh đúng như Người đã xác nhận và tuyên bố với Matta là chị của người quá cố: "Thày là sự sống lại và là sự sống" (Gioan 11:25), và phép lạ này cũng là một dấu chỉ thần linh báo trước về biến cố Vượt Qua của Người, biến cố Người vượt qua từ cõi chết mà vào cõi sống, chẳng những hoàn toàn chiến thắng tội lỗi và sự chết mà còn ban cho chung con người và riêng Giáo Hội của Người "sự sống và là sự sống viên mãn" (Gioan 10:10).

Trước một phép lạ cả thế như thế, Thánh ký Gioan đã cho biết thành quả là: "những người đến thăm Maria và đã chứng kiến việc Ngài làm, có nhiều kẻ đã tin vào Chúa Giê-su". Nhưng cũng chính vì phép lạ này, hay nói đúng hơn, chính vì tác dụng thần linh của phép lạ này nơi lòng tin của nhiều người được tận mắt chứng kiến thấy Đấng "là sự sống lại và là sự sống" tỏ mình ra bấy giờ, mà thành phần giáo quyền lãnh đạo không thể nào không chính thức ra tay can thiệp, như Thánh ký Gioan tường thuật như sau:

"Nhưng trong nhóm có kẻ đi gặp người biệt phái và thuật lại các việc Chúa Giêsu đã làm. Do đó, các thượng tế và biệt phái họp công nghị, và nói: 'Chúng ta phải xử trí sao đây? Vì người này làm nhiều phép lạ. Nếu chúng ta để mặc người ấy làm như thế, thì mọi người sẽ tin theo và quân Rôma sẽ kéo đến phá huỷ nơi này và dân tộc ta'. Một người trong nhóm là Caipha làm thượng tế năm đó, nói với họ rằng: 'Quý vị không hiểu gì cả! Quý vị không nghĩ rằng thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt'".

Ở đây chúng ta thấy rõ ràng là thành phần lãnh đạo Do Thái bấy giờ nói chung có thành kiến rất nặng về Chúa Giêsu, đến nỗi thành kiến đó đã làm cho họ trở thành mù quáng với đầy những ác cảm, đến độ họ bất chấp sự thật trước mắt họ, như họ cũng đã phải công nhận rằng: "người này làm nhiều phép lạ", chứ không phải là nhân vật tầm thường như họ, chẳng làm được phép lạ như Người, chẳng được dân chúng tin theo như Người.

Thế mà, vì thành kiến và ác cảm đã biến thành ghen tị, đố kỵ và ghen ghét, họ đã tìm cách triệt hạ Người, tìm cách loại trừ Người cho bằng được, với lý do bề ngoài có vẻ tốt đẹp theo công ích, mị dân, như Thánh ký Gioan cho chúng ta thấy trong bài Phúc Âm hôm nay: "Nếu chúng ta để mặc người ấy làm như thế, thì mọi người sẽ tin theo và quân Rôma sẽ kéo đến phá hủy nơi này và dân tộc ta".

Lý do được viện ra này quả là tuyệt vời, hoàn toàn vừa che đậy được thành kiến, ác cảm, lòng ghen tị và ghen ghét của họ, vừa có tính cách lý tưởng cao cả cho toàn thể dân tộc của họ như thế, đã được vị có thẩm quyền nhất trong họ bấy giờ là thượng tế Caipha, như một tay túc cầu chuyên nghiệp ở hàng tiền đạo vừa được đồng bạn chuyền banh cho liền đá lọt lưới một cách ngoạn mục vào gôn (goal = đích) của đối phương:

"Một người trong nhóm là Caipha làm thượng tế năm đó, nói với họ rằng: 'Quý vị không hiểu gì cả! Quý vị không nghĩ rằng thà một người chết thay cho dân, còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt'".

Thế nhưng, lạ lùng thay họ tưởng rằng họ đã thắng bằng quả banh họ chuyền nhau đã làm tung lưới đối phương là dự án cứu độ của Thiên Chúa, không ngờ lại là cú đá phản pháo đã phá lưới chính "gôn - đích nhắm, mưu đồ" của chính họ, như lời dẫn giải của vị Thánh ký Gioan của bài Phúc Âm hôm nay ngay sau cú đá đầy ngoạn mục hết sức thần tình của vị thượng tế Caipha này:

"Không phải tự ông nói điều đó, nhưng với danh nghĩa là thượng tế năm ấy, ông đã nói tiên tri rằng Chúa Giêsu phải chết thay cho dân, và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát về một mối".

Tuy nhiên, về phía họ, họ vẫn tưởng rằng họ đã nắm chắc phần thắng trong tay, nên họ đã bắt đầu lấy quyền bính của mình để "ra lệnh rằng nếu ai biết Người ở đâu, thì phải tố cáo để họ bắt Người", để có thể đạt được cái "gôn" của mình là "họ quyết định giết Người" cho bằng được, để diệt trừ hậu hoạn cho toàn dân.

Chắc ai cũng biết được thượng lệnh bất tuân như thế, một thượng lệnh có lợi cho toàn dân đang bị quân đế quốc Rôma như vậy, nên đều tỏ ra hết sức quan tâm và muốn tuân hành, nhưng hình như chỉ ở giáo đô Giêrusalem thôi, chứ không bao gồm ở các nơi khác.

Bởi vậy mà Chúa Giêsu vẫn trở thành một nhân vật, cho dù "không còn công khai đi lại giữa người Do-thái nữa. Người đi về miền gần hoang địa, đến thành phố tên là Ephrem, và ở lại đó với các môn đệ", vẫn có sức thu hút dân chúng, có thể nói, chính sự vắng khuất của Người vào thời điểm quan trọng nhất trong năm lại càng khiến dân chúng chú ý đến Người hơn, như Thánh ký Gioan diễn tả cho thấy trong Bài Phúc Âm hôm nay:

"Khi đó đã gần đến Lễ Vượt Qua của người Do-thái. Có nhiều người từ các miền lên Giêrusalem trước lễ, để được thanh tẩy. Họ tìm Chúa Giêsu; họ đứng trong đền thờ và bàn tán với nhau: 'Anh em nghĩ sao? Người có đến hay không?'"

Câu phát ngôn tiêu biểu trên đây cho thấy thái độ như thể hào hứng trông mong của "nhiều người từ các miền lên Giêrusalem" và muốn "tìm Chúa Giêsu", để được gặp Người là Đấng họ cảm phục và trông đợi, nhưng lại là nhân vật, trái lại, như Thánh ký Gioan cho biết ở câu kết thúc của bài Phúc Âm hôm nay: "Còn các thượng tế và biệt phái đã ra lệnh rằng nếu ai biết Người ở đâu, thì phải tố cáo để họ bắt Người".

Đúng thế, chính vì "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy lại" (Gioan 10:17), chủ đề cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, mà cho dù giáo quyền của dân Do Thái bấy giờ có muốn tận diệt Người chăng nữa, một cách hết sức khôn ngoan và hoàn toàn tự do theo lòng ác cảm và ghen ghét của họ, họ chẳng những không làm gì được Người mà còn trở thành dụng cụ bất đắc dĩ của dự án thần linh trong công cuộc cứu độ trần gian, trong đó bao gồm cả dân tộc của họ, không phải chỉ thoát khỏi quyền lực chính trị và quân sự, mà là quyền lực tội lỗi và sự chết.

Dự án cứu độ thần linh vô cùng huyền diệu của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô đã được chính Thiên Chúa, qua miệng Tiên Tri Êzêkiên trong Bài Đọc 1 hôm nay, báo trước về một viễn tượng dân Do Thái thống nhất và duy nhất, đúng như ý Chúa muốn khi Ngài lập giao ước với tổ phụ Abraham của họ, một dân tộc bao gồm cả dân ngoại trong công cuộc cứu độ do Con của Ngài, Người Con về nhân tính thuộc giòng giống của họ thực hiện:

"Này Ta sẽ đem con cái Israel ra khỏi các dân tộc mà chúng đang cư ngụ; từ khắp nơi, Ta sẽ quy tụ chúng lại và đưa chúng về quê hương. Ta sẽ làm cho chúng trở nên dân tộc duy nhất sống trong đất của chúng, ở trên núi Israel; chỉ có một vua cai trị chúng; chúng sẽ không còn là hai dân tộc, cũng chẳng còn chia làm hai nước nữa".

Hình ảnh về một dân Do Thái thống nhất và duy nhất tiêu biểu cho một dân tộc như sao trời cát biển bao gồm cả dân ngoại là tất cả những ai tin tưởng vào Chúa Kitô ấy, cũng đã được Thánh ký Gioan tiên báo trong bài Phúc Âm hôm nay: "Chúa Giêsu phải chết thay cho dân, và không phải cho dân mà thôi, nhưng còn để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mát về một mối", một lời dẫn giải hoàn toàn hợp với những gì Thiên Chúa phán trong Bài Đọc 1 hôm nay qua miệng Tiên Tri Đaniên:

"Và Ðavit, tôi tớ Ta, sẽ là vua của chúng đến muôn đời. Ta sẽ ký kết với chúng một giao ước hoà bình: Ðó sẽ là một giao ước vĩnh cửu đối với chúng. Ta sẽ gầy dựng chúng, sẽ cho chúng sinh sản ra nhiều và sẽ thiết lập nơi thánh Ta giữa chúng cho đến muôn đời. Nhà Tạm Ta sẽ ở giữa chúng. Ta sẽ là Chúa của chúng, và chúng sẽ là dân Ta. Các dân tộc sẽ biết rằng Ta là Chúa, Ðấng thánh hoá Israel, khi đã lập nơi thánh Ta ở giữa chúng đến muôn đời".

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa những tâm tình tràn đầy hy vọng và hoan hỉ như thể ơn cứu độ thực sự đã đến, một ơn cứu độ được hiện thực nơi Chúa Giêsu Kitô Thiên Sai Cứu Thế vào thời điểm viên trọn của Người, một biến cố Vượt Qua chẳng những được dân Do Thái cử hành hằng năm mà còn được chính chung Kitô giáo và riêng Giáo Hội Công giáo Roma cử hành vào Tuần Thánh, nhất là vào Tam Nhật Vượt Qua, bắt đầu từ ngày mai, Chúa Nhật Lễ Lá, kết thúc Mùa Chay và bắt đầu Tuần Thương Khó:

TÔI DỰA VÀO LỜI CHÚA CẦU NGUYỆN:

1) Hỡi các dân tộc, hãy nghe lời Chúa, hãy công bố lời Chúa trên các đảo xa xăm; hãy nói rằng: "Ðấng đã phân tán Israel, sẽ quy tụ nó lại, và sẽ gìn giữ nó, như mục tử chăn dắt đoàn chiên mình".

2) Vì Chúa đã giải phóng Giacóp, giờ đây với cánh tay mạnh mẽ hơn, Người cứu thoát nó. Chúng sẽ đến và ca hát trên núi Sion, chúng sẽ đổ xô về phía hạnh phúc của Người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 358 =THU SAU TUAN 5MC-A PDF Print E-mail

PVLC - Thứ Sáu 7-4-2017 Tuần V MC

Suy niệm

Đấng Thiên Sai không phải chỉ là Đấng được Thiên Chúa sai đến, như các vị tiên tri trong Cựu Ước, mà là chính Đấng từ Thiên Chúa mà đến, Đấng tự mình biết Thiên Chúa: "Ta biết Ngài"

Ngày thứ 38 của Mùa Chay hôm nay, Thứ Sáu Tuần V Mùa Chay, hành trình Mùa Chay dẫn chúng ta, cùng với Giáo Hội, qua phụng vụ lời Chúa nói chung và Bài Phúc Âm nói riêng, vào tới tận cùng của mầu nhiệm Chúa Kitô, một mầu nhiệm đã khiến Người bị loài người, qua các nhân vật lịch sử thời ấy, bao gồm cả dân Do Thái lẫn dân ngoại, sát hại, nhưng nhờ thế mầu nhiệm về Người là Đấng Thiên Sai Con Thiên Chúa càng trở nên rạng ngời sáng tỏ, đúng với chiều hướng thần linh của lịch sử cứu độ dân Do Thái, một mầu nhiệm làm nên tất cả lịch sử loài người.

Đúng thế, tận cùng của mầu nhiệm Chúa Kitô là gì, hay nói khác hơn, tột đỉnh của mầu nhiệm Chúa Kitô là chi, nếu không phải Người là Con Thiên Chúa. Trong bài Phúc Âm hôm qua, Chúa Kitô đã dẫn dân Do Thái, qua thành phần thính giả đại diện họ đang nghe Người bấy giờ, vào đến cung thánh mầu nhiệm về Người, thì qua bài Phúc Âm hôm nay, Người đã dẫn họ vào tận nơi cực thánh là chính bản tính Thiên Chúa của Người.

Hôm qua, theo bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan, Chúa Kitô đã sử dụng ngôn từ của Người để tỏ mình ra, khi dẫn dân Do Thái vào tới cung thánh của mầu nhiệm về Người, ở chỗ, Người đã tỏ mình ra cho họ thấy Người là Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa, Đấng Thiên Sai có trước tổ phụ Abraham: "Khi Abraham chưa sinh ra, thì Ta đã có rồi", Đấng mà chính vị tổ phụ là cha của tất cả những kẻ tin hướng về: "Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng".

Hôm nay, bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan tiếp tục cho thấy Chúa Giêsu từ đó, từ chỗ Người là Đấng Thiên Sai của Thiên Chúa, liên quan đến nhân tính của Người, dù trên trái đất này và trong xã hội Do Thái bấy giờ, Người chỉ là một con người lịch sử, Người vẫn là Đấng có trước cả tổ phụ Abraham và là Đấng chính tổ phụ Abraham phải hướng về ấy, Đấng cuối cùng đã dẫn dân Do Thái, qua thành phần thính giả của Người bấy giờ, vào tận nơi cực thánh của mầu nhiệm về Người là thần tính của Người.

Bởi vì, Đấng Thiên Sai như Người không phải chỉ là Đấng được Thiên Chúa sai đến, như các vị tiên tri trong Cựu Ước, mà là chính Đấng từ Thiên Chúa mà đến, Đấng tự mình biết Thiên Chúa: "Ta biết Ngài", như Người đã khẳng định 2 lần liền trong Bài Phúc Âm hôm qua, chứ kiến thức thần linh của Người không phải làm nên bởi những gì được Thiên Chúa tỏ mình ra bằng mạc khải thần linh của Ngài, như Ngài đã làm "bằng nhiều thể nhiều cách" với các vị tổ phụ Abraham, Isaac và Giacóp, hay với Moisen hoặc với các vị tiên tri xưa (xem Do Thái 1:1).

Thần tính của nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét, trong bài Phúc Âm hôm nay, đã được chính Người tự chứng bằng ngôn từ của Người như sau: "Ta đã nói Ta là Con Thiên Chúa". Và chính vì chủ trương này của Người, vì lời tuyên bố mà đối với người Do Thái có vẻ vô cùng bậy bạ đầy ngạo mạn ngông cuồng ấy, mà Người đã bị họ ném đá, như Thánh ký Gioan cho chúng ta biết chi tiết này ở đầu bài Phúc Âm hôm nay:

"Khi ấy, người Do-thái lượm đá để ném Chúa Giêsu. Người lên tiếng hỏi rằng: 'Ta đã cho các ngươi thấy nhiều việc tốt lành bởi Cha Ta. Vậy vì việc nào mà các ngươi muốn ném đá Ta?' Người Do-thái trả lời: 'Chúng tôi muốn ném đá ông không phải vì việc lành, nhưng vì một lời lộng ngôn, bởi vì ông chỉ là người mà lại tự cho mình là Thiên Chúa'".

Tuy nhiên, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục nhẫn nại nhấn mạnh đến yếu tố then chốt nhất mà Người đã từng sử dụng để chứng thực về Người quả là "Đấng Thiên Sai", và cũng chính là "Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16), ở chỗ, như Người tiếp tục dẫn chứng Người không bao giờ làm theo ý của Người mà là ý của Cha là Đấng đã sai Người:

"Nếu Ta không làm những việc của Cha Ta, thì các ngươi đừng tin Ta. Nhưng nếu Ta làm những việc đó, thì dầu các ngươi không muốn tin Ta, cũng hãy tin vào các việc đó, để các ngươi biết và tin rằng: Cha ở trong Ta, và Ta ở trong Cha".

Chứng từ Người tự chứng về Người thực sự vừa là Đấng Thiên Sai và vì thế cũng là Con Thiên Chúa ở chỗ chỉ làm theo ý Cha là Đấng đã sai Người đã gây một tác dụng trái chiều, ở chỗ tự chứng ấy của Người đã khiến cho một số là thành phần thính giả bấy giờ vẫn không tin và không thể nào tin được, còn một số khác, ở nơi khác, lại tin vào Người, như phần kết của bài Phúc Âm hôm nay cho thấy:

"Bởi đó họ tìm cách bắt Người, nhưng Người thoát khỏi tay họ. Người lại qua bên kia sông Giođan, nơi trước kia Gioan đã làm phép rửa. Và Người ở lại đó. Có nhiều kẻ đến cùng Người. Họ nói: 'Gioan đã không làm một phép lạ nào. Nhưng mọi điều Gioan nói về người này đều đúng cả'. Và có nhiều kẻ tin Người".

Sở dĩ còn "có nhiều kẻ tin Người" là vì lòng họ còn cởi mở, còn tha thiết với sự thật, còn muốn biết tất cả sự thật hoàn toàn khách quan về một nhân vật mà trước khi nhân vật ấy xuất hiện, họ đã từng được nghe Tiền Hô Gioan Tẩy Giả là vị họ coi như tiên tri nói tới là "Đấng đến sau tôi, nhưng hơn tôi vì Người có trước tôi..." (Gioan 1:30). Họ đã chấp nhận chứng từ của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả về Đấng cao cả đến sau ngài mà họ nhờ đó đã có thể tin vào chính Đấng đến sau đó.

Mầu nhiệm thần linh về một Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa, như được chính Chúa Kitô tỏ ra cho dân Do Thái biết vào "thời điểm viên mãn" (Galata 4:4), thời điểm "sau hết" (Do Thái 1:1) của Người bấy giờ, một mầu nhiệm đã trở thành nguyên cớ cho cuộc khổ nạn và tử giá của Người, từ chỗ "họ tìm cách bắt Người" trong bài Phúc Âm hôm nay, đến chỗ "họ quyết định giết Người" trong bài Phúc Âm ngày mai, đã được chính Người, qua miệng Tiên Tri Giêrêmia, trong Bài Đọc 1 hôm nay, thốt lên có vẻ thảm não như sau:

"Tôi đã nghe nhiều người thoá mạ và chế nhạo rằng: 'Người này gieo khủng bố khắp nơi. Chúng ta hãy tố cáo nó, chúng ta hãy tố cáo nó'. Tất cả bạn hữu tôi rình tôi vấp ngã mà nói rằng: 'Ước gì nó bị lừa dối để chúng ta thắng nó và sẽ trả thù nó'. Nhưng Chúa ở cùng tôi như người lính chiến hùng dũng; vì thế, những kẻ bắt bớ tôi sẽ ngã quỵ và kiệt sức. Chúng sẽ thất bại bẽ bàng, chuốc lấy sự hổ nhục muôn đời, không bao giờ quên được. Còn Chúa, lạy Chúa các đạo binh, Ðấng xét xử người công chính, thấu suốt tâm can, lạy Chúa, ước gì con sẽ được thấy Chúa trả thù chúng cho con, vì con đã tỏ bày công việc con cho Chúa".

Tuy nhiên, chính vì "Tôi tự bỏ sự sống mình đi để rồi lấy lại" (Gioan 10:17), chủ đề cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, mà Người sẵn sàng chấp nhận những gì xẩy ra cho Người, vì Người là Đấng Thiên Sai, Đấng chỉ đến để làm theo ý Cha là Đấng đã sai Người, dù ý của Ngài có khiến Người phải vô cùng khốn khổ đến đâu chăng nữa.

Nhưng cuối cùng Người vẫn có thể "lấy lại sự sống" của Người, nghĩa là sự sống vô giá của Người không phải là đồ bỏ hay có thể bị tận diệt, mà là cái giá quí báu duy nhất bất khả thiếu để cứu chuộc nhân loại và để trở thành sự sống đời đời vô giá cho loài người nói chung và những ai tin Người nói riêng.

Đó là lý do cuối Bài Đọc 1 hôm nay, qua miệng Tiên Tri Giêrêmia, Người đã tỏ ra hân hoan phấn khởi mà vang lên những lời lẽ đầy hứa hẹn như sau: "Hãy hát mừng Chúa, hãy ca tụng Chúa, vì Người đã cứu thoát mạng sống người bất hạnh khỏi tay kẻ dữ".

Tâm tình của Chúa Kitô Thiên Sai trong Bài Đọc 1 hôm nay, phản ảnh Bài Phúc Âm cùng ngày, còn được tiếp tục âm vang ở Bài Đáp Ca trong ngày như sau:

1) Lạy Chúa là dũng lực con, con yêu mến Chúa, lạy Chúa là Tảng Ðá, chiến luỹ, cứu tinh.

2) Lạy Chúa là Thiên Chúa, là sơn động chỗ con nương mình, là khiên thuẫn, là uy quyền cứu độ, là sức hộ phù con. Con xướng ca khen ngợi cầu cứu Chúa, và con sẽ được cứu thoát khỏi tay quân thù.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 357 = TUAN GIU LOI CHUA PDF Print E-mail

 PVLC - Thứ Năm 6-4-2017 Tuần V MC (2

"AI TUÂN GIỮ LỜI TÔI, THÌ KHÔNG BAO GIỜ PHẢI CHẾT!"

                      *TIN MỪNG GIOAN 8, 51-59*

Hôm nay, Thứ Năm Tuần V Mùa Chay, chỉ còn đúng 3 ngày nữa là hết Mùa Chay, Chúa Nhật Lễ Lá, thời điểm bắt đầu Tuần Thánh cũng gọi là Tuần Thương Khó.

Đúng như hôm qua đã cảm nhận "chúng ta sẽ tiếp tục thấy được phản ứng của dân Do Thái ra sao, càng ngày càng dữ dội, càng điên tiết lên, cho đến khi họ bất chấp thủ đoạn miễn là làm sao có thể hoàn toàn triệt hạ được đối thủ ghê gớm vô cùng đáng ghét này của họ, và vì vậy, trong khi họ được Chúa Giêsu tiếp tục dẫn họ vào sâu hơn nữa nguồn gốc thần linh của Người, cho tới tận thẳm cung của mầu nhiệm thần linh của Người và về Người, so với tổ phụ Abraham (bài Phúc Âm Thứ Năm Tuần V Mùa Chay ngày mai)".

Trước hết, trong Bài Phúc Âm hôm nay, ở câu cuối, chúng ta đã thấy phản ứng dữ dội đầu tiên của người Do Thái đối với Người, như Thánh ký Gioan cho biết: "Bấy giờ họ lượm đá ném Ngài, nhưng Chúa Giêsu ẩn mình đi ra khỏi đền thờ".

Phải chăng trong Tuần V Mùa Chay xẩy ra sự kiện "Chúa Giêsu ẩn mình đi ra khỏi đền thờ" này mà kể từ Chúa Nhật V Mùa Chay đầu tuần, các nhà thờ Công giáo, cách riêng ở Hoa Kỳ, đã che phủ các ảnh tượng và Thánh Giá lại, cho đến sau cử hành nghi thức khổ nạn của Chúa Kitô Thứ Sáu Tuần Thánh mới bỏ khăn che Thánh Giá ra và cho tới Lễ Vọng Phục Sinh mới mở các tấm che các ảnh tượng khác ra?

Sự kiện theo truyền thống của Giáo Hội che đi các ảnh tượng và Thánh Giá vào thời điểm này còn có thể hiểu, hay tự nó mang một dụng ý là mầu nhiệm về Chúa Kitô, một mầu nhiệm thần linh liên quan đến cuộc khổ nạn tử giá của Người và đạt tới tột đỉnh của mình nơi biến cố Vượt Qua của Người, một mầu nhiệm thần linh con người nói chung và dân Do Thái nói riêng tự mình không thể nào hiểu được, dù có nghe thấy chính lời tự chứng của Chúa Kitô.

Tuy nhiên, mầu nhiệm thần linh vô cùng siêu việt về Chúa Kitô ấy sẽ hoàn toàn được tỏ hiện ở chính vào lúc con người, qua dân Do Thái bấy giờ, "treo Con Người lên cao" (Gioan 8:28) - đó là lý do tấm che Thánh Giá được mở ra sau nghi thức Thương Khó Thứ Sáu Tuần Thánh, nhất là cho đến khi Người từ trong kẻ chết sống lại là lúc Người hoàn toàn tỏ mình ra cho thấy tất cả sự thật về Người là "Đấng Thiên Sai, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mathêu 16:16) - đó là lý do các ảnh tượng được che đi sẽ hoàn toàn lộ ra vào đêm Vọng Phục Sinh.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy được lý do tại sao dân Do Thái đã không còn chịu được Chúa Giêsu nữa, họ đã tiến từ chỗ nói rằng "ông bị quỷ ám" sang hành động bạo lực là "lượm đá ném Ngài". Hành động "lượm đá ném Ngài" này cũng chưa nặng bằng hành động "họ tìm cách bắt Người" ở bài Phúc Âm ngày mai. Bởi vì, ở bài Phúc Âm hôm nay, Người mới nói đụng đến tổ phụ Abraham đáng kính của họ, còn ở bài Phúc Âm ngày mai, Người thậm chí còn dám nói chạm tới cả chính Thiên Chúa tối cao đáng tôn thờ của họ.

Thế nhưng, Chúa Kitô đã nói gì trong bài Phúc Âm hôm nay đụng đến tổ phụ đáng kính Abraham mà thành phần thính giả đại diện dân Do Thái bấy giờ nghe thấy đã không thể nào chịu nổi, đến độ đã ném đá Người như thế. Sau đây là nguyên văn câu Người nói được thánh ký Gioan ghi lại đã quả thực không thể nào không gây chấn động toàn thể con người của những ai nghe người nói, cả bên trong (tức giận) lẫn bên ngoài (ném đá):

"'Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng'. Người Do-thái liền nói: 'Ông chưa được năm mươi tuổi mà đã trông thấy Abraham rồi sao?' Chúa Giêsu trả lời: 'Quả thật, quả thật, Ta nói với các ngươi: Khi Abraham chưa sinh ra, thì Ta đã có rồi'".

Lời khẳng định và công khai tuyên bố này của Chúa Kitô về nguồn gốc thần linh của Người, đúng như Người biết mình là Đấng "bởi trời", như Người đã khẳng định trước đó với họ trong bài Phúc Âm Thứ Ba tuần này, cũng là Đấng biết mình "từ đâu đến" và sẽ "đi đâu", như Người đã khẳng định trước đó với họ trong bài Phúc Âm Thứ Hai tuần này, nhưng đối với dân Do Thái, Người chỉ là một con người thuần túy như họ đã tỏ ra ngạo mạn hỗn láo, không thể nào chấp nhận được.

"Khi Abraham chưa sinh ra, thì Ta đã có rồi" chẳng những là câu Chúa Kitô đã tỏ nguồn gốc thần linh của Ngài ra, đồng thời cũng là câu Người trả lời cho họ khi họ hạch Người ở đầu Bài Phúc Âm hôm nay rằng: "Chẳng lẽ ông lại lớn hơn cha chúng tôi là Abraham sao? Ngài đã chết, các tiên tri cũng đã chết. Ông cho mình là ai?".

Như thế, Người là ai và nguồn gốc thần linh của Người có một liên hệ bất khả phân ly, Người là ai chính ở nơi nguồn ngốc thần linh của Người, và nguồn gốc thần linh của Ngài đã chứng tỏ cho thấy Người là ai. Cũng trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu đã chứng tỏ Người là ai có liên hệ mật thiết với nguồn gốc thần linh của Người, một nguồn gốc thần linh cho dù tổ phụ Abraham xưa kia cũng không bằng Người hay như Người. Tại sao? Nếu không phải tại vì:

"Nếu Ta tự tôn vinh chính mình, thì vinh quang của Ta sẽ không giá trị gì. Chính Cha Ta tôn vinh Ta. Ngài là chính Ðấng các ngươi xưng là Thiên Chúa của các ngươi. Vậy mà các ngươi không biết Ngài. Còn Ta, Ta biết Ngài. Nếu Ta nói Ta không biết Ngài, thì Ta cũng nói dối như các ngươi. Nhưng Ta biết Ngài, và Ta giữ lời Ngài. Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng".

Đúng vậy, nguồn gốc thần linh của nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét, nhân vật bị dân Do Thái bấy giờ cho Người là "bị quỉ ám" rồi bị họ "ném đá", là ở chỗ Người biết Thiên Chúa: "Ngài là chính Ðấng các ngươi xưng là Thiên Chúa của các ngươi. Vậy mà các ngươi không biết Ngài. Còn Ta, Ta biết Ngài". Kiến thức thần linh siêu việt này không phải là người ai cũng có, thậm chí tổ phụ Abraham cũng chẳng có, mà chỉ được mạc khải cho biết mà thôi. Thế nên, Chúa Kitô đã nói về vị tổ phụ này rằng: "Cha các ngươi là Abraham đã hân hoan, vì nghĩ sẽ được thấy ngày của Ta. Ông đã thấy và đã vui mừng".

..................

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa lời kêu gọi dân Do Thái là "miêu duệ Abraham" được Thiên Chúa "kén chọn" "hãy luôn tìm kiếm thiên nhan Chúa" là Đấng "muôn đời Ngài vẫn nhớ lời minh ước... Ngài đã ký cùng Abraham", như Bài Đọc 1 hôm nay thuật lại, và được chính Chúa Giêsu kín đáo nhắc lại trong Bài Phúc Âm cùng ngày:

TÔI DỰA VÀO LỜI CHÚA CẦU NGUYỆN:

1) Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Chúa, hãy tìm kiếm thiên nhan Chúa luôn luôn. Hãy nhớ lại những điều kỳ diệu Chúa đã làm, những phép lạ và những điều Ngài phán quyết.

2) Hỡi miêu duệ Abraham là tôi tớ của Ngài, hỡi con cháu Giacóp, những kẻ được Ngài kén chọn, chính Chúa là Thiên Chúa chúng ta, quyền cai trị của Ngài bao trùm khắp cả địa cầu.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 356 = BAI GIAO LY VE NIEM TIN PDF Print E-mail

> GIÁO LÝ VỀ NIỀM TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG
>
> BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 5-4-2017 - ĐTC PHANXICO
>
> Bài 17
>
> "Niềm hy vọng của chúng ta không phải là một quan niệm, không phải là một cảm tính, không phải là một thứ điện thoại di động, không phải là một thứ đầy những giầu sang! Niềm hy vọng là một Ngôi Vị, là Chúa Giêsu, Đấng chúng ta nhìn nhận đang sống động và hiện diện trong chúng ta cũng như nơi các người anh em, vì Chúa Kitô phục sinh...
>
> "Một con người không có niềm hy vọng thì cũng không thể tha thứ; họ không thể cống hiến niềm an ủi của lòng tha thứ cùng lãnh nhận niềm an ủi của sự thứ tha".

> Xin chào anh chị em thân mến!
>
> Bức Thư Thứ Nhất (đoạn 3) của Thánh Phêrô thật là phong phú. Chúng ta cần phải đọc nó một lần, hai lần, ba lần để hiểu được nội dung chất chứa đặc biệt của nó: nó đạt được việc mang lại niềm an ủi và an bình lớn lao.
>
> 1. Cái bí mật nằm ở chỗ bản văn này được trực tiếp bắt nguồn từ Phục Sinh, từ cốt lõi mầu nhiệm chúng ta sắp sửa cử hành, nhờ đó chúng ta mới thấy được tất cả ánh sáng và niềm vui xuất phát từ cái chết và cuộc phục sinh của Chúa Kitô. Chúa Kitô thực sự đã sống lại, và đó là một lời chào tốt đẹp chúng ta có thể trao cho nhau vào Lễ Phục Sinh: "Chúa Kitô phục sinh! Chúa Kitô phục sinh!", như nhiều người đã làm. Chúng ta hãy nhớ rằng Chúa Kitô phục sinh, Người đang sống giữa chúng ta, và ở với từng người chúng ta. Đó là lý tại sao Thánh Phêrô đã mạnh mẽ thôi thúc chúng ta hãy tôn thờ Người ở trong lòng mình (câu 16). Ở đó Chúa đã làm nên nơi cư ngụ của Người vào lúc chúng ta lãnh nhận Phép Rửa, và từ đó Người tiếp tục canh tân đổi mới chúng ta và cuộc đời của chúng ta, làm cho chúng ta tràn đầy tình yêu thương của Người cùng viên mãn Thần Linh.

Bởi thế mà vị Tông Đồ này nhắc nhở chúng ta hãy nhìn nhận niềm hy vọng ở trong chúng ta (câu 16): niềm hy vọng của chúng ta không phải là một quan niệm, không phải là một cảm tính, không phải là một thứ điện thoại di động, không phải là một thứ đầy những giầu sang! Niềm hy vọng của chúng ta là một Ngôi Vị, là Chúa Giêsu, Đấng chúng ta nhìn nhận đang sống động và hiện diện trong chúng ta cũng như nơi các người anh em của chúng ta, vì Chúa Kitô phục sinh. Các sắc dân Slavic khi chào nhau thì thay vì nói rằng: "Good morning" hay "Good evening" vào những ngày lễ Phục Sinh, họ chào nhau bằng câu "Chúa Kitô phục sinh!". Họ nói với nhau rằng "Christos voskrese!", và họ hân hoan nói như vậy! Lời chào "Good morning" và "Good evening" họ cống hiến cho nhau đó là: "Chúa Kitô phục sinh!"
>
> 2. Bởi thế, chúng ta hiểu được rằng chúng ta không thể nào cống hiến lý do về niềm hy vọng này ở mức độ lý thuyết, mà trên hết bằng chứng từ của đời sống, cả trong cộng đồng Kitô hữu lẫn ngoài cộng đồng này. Nếu Chúa Kitô đang sống và ở trong chúng ta, trong cõi lòng của chúng ta, thì chúng ta cũng cần phải để cho Người trở thành hữu hình, chứ đừng che khuất Người, để cho Người tác hành trong chúng ta. Nghĩa là Chúa Giêsu cần phải càng ngày càng trở thành gương mẫu của chúng ta: gương mẫu của đời sống chúng ta và chúng ta cần phải học biết tác hành như Người tác hành. Hãy làm những gì Người bảo. Niềm hy vọng ở trong chúng ta, thế nên, nó không thể ẩn nấp trong chúng ta, trong tâm can của chúng ta, bằng không nó sẽ là một niềm hy vọng yếu kém, không có can đảm để vươn ra và tỏ mình ra; thế nhưng, niềm hy vọng của chúng ta, như rõ ràng ở Thánh Vịnh 33 được tông đồ Phêrô trích dẫn, cần phải hướng ngoại, mang hình thức dịu dàng, trân trọng và tốt lành một cách thanh cao và vững vàng đối với tha nhân của chúng ta, cho đến độ chúng ta có thể tha thứ cho những ai làm hại chúng ta.

Một con người không có niềm hy vọng thì cũng không thể tha thứ; họ không thể cống hiến niềm an ủi của lòng tha thứ cùng lãnh nhận niềm an ủi của sự thứ tha. Phải, vì đó là những gì Chúa Giêsu đã làm, và cứ thế Người tiếp tục thực hiện qua những ai giành chỗ trong tâm can của mình cùng đời sống của mình cho Người, với ý thức rằng sự dữ không thể nào bị tiêu tan bởi sự dữ mà là bởi sự khiêm tốn, bởi lòng thương xót và bởi sự êm ái dịu dàng. Thành phần Mafia nghĩ rằng sự dữ có thể bị khống chế bởi sự dữ, nên họ tìm cách trả thù và thực hiện tất cả những gì chúng ta đã quá biết. Thế nhưng họ không biết đến những gì là khiêm tốn, là thương xót, là êm ái dịu dàng. Tại sao thế? Vì thành phần Mafia này không có niềm hy vọng. Hãy nghĩ đến điều ấy.
>
> 3. Đó là lý do tại sao Thánh Phêrô khẳng định rằng "nếu là ý muốn của Thiên Chúa thì thà làm lành mà chịu khổ còn hơn là hành ác" (câu 17), điều này không phải việc chịu khổ là những gì tốt lành mà là khi chúng ta chịu khổ vì sự lành thì chúng ta được hiệp thông với Chúa, Đấng đã chấp nhận đau khổ và bị treo lên thập tự giá vì phần rỗi của chúng ta. Bởi vậy mà, trong những trường hợp nhỏ nhất hay lớn nhất của đời sống, chúng ta cũng cần chấp nhận khổ đau vì sự lành, như thể chúng ta gieo rắc những hạt giống của sự phục sinh, những hạt giống của sự sống quanh chúng ta, và làm cho ánh sáng Phục Sinh chiếu soi trong tăm tối. Bởi thế mà Vị Tông Đồ này thôi thúc chúng ta hãy luôn đáp ứng bằng "việc chúc phúc" (câu 9): chúc phúc không phải là một thứ hình thức, hay chỉ là một dấu hiệu thuần túy theo xã giao, mà là một đại tặng ân chúng ta là những người đầu tiên được lãnh nhận, và chúng ta có thể chia sẻ với anh em của chúng ta. Nó là việc loan báo tình yêu thương của Thiên Chúa, một tình yêu vô biên, một tình yêu vô tận, không bao giờ cạn kiệt và làm nên nền tảng thật sự cho niềm hy vọng của chúng ta.
>
> Các bạn thân mến, chúng ta cũng hiểu được lý do tại sao Tông Đồ Phêrô gọi chúng ta là "có phúc" khi cần phải chịu đau khổ vì công lý (câu 13). Nó không phải chỉ là một thứ lý do về luân lý hay khổ chế, mà vì mỗi lần làm như vậy là chúng ta chiếu sáng ra như là những dấu hiệu hy vọng rạng ngời và sống động, nhờ đó chúng ta trở thành dụng cụ của niềm an ủi và an bình, hợp với cõi lòng của Thiên Chúa. Có thế mới tiến bước một cách êm ái và dịu dàng, dễ thương và hành thiện ngay cả với những ai không muốn tốt hay những ai làm hại chúng ta. Hãy tiến lên!
>
> http://www.news.va/en/news/pop e-at-audience-gods-love-basis- of-our-hope
>
> Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

-----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 8 of 86