mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5710
mod_vvisit_counterHôm Qua16592
mod_vvisit_counterTuần Này35156
mod_vvisit_counterTuần Trước100691
mod_vvisit_counterTháng Này100092
mod_vvisit_counterTháng Trước419088
mod_vvisit_counterTất cả22452663

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - TỘI PHẠM ĐẾN THÁNH THẦN PDF Print E-mail

nguyenthi leyen

TỘI PHẠM ĐẾN CHÚA THÁNH THẦN

Tội phạm đến Chúa Thánh Thần là tội mang nội dung sau đây:

- Hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa là Cha nhân lành giầu lòng xót thương và tha thứ

- Từ khước ơn cứu chuộc của Chúa Kitô

- Phủ nhận Chân Lý mà Thần Khí Chúa đã mặc khải cho con người

- Không còn nhìn nhận tội lổi để xin được tha thứ

Tội nào cũng có thể được tha thứ nếu người ta còn tin tưởng vào lòng xót thương của Thiên Chúa. Vậy, nếu nhờ Thần Khí Chúa mà ta nhận biết Người là Cha nhân lành để chạy đến xin tha thứ mọi lỗi phạm vì yếu đuối, vì lầm lạc, thì điều kiện để được tha thứ là phải nhìn nhận tội lỗi của mình và còn tin tưởng vào lòng thương xót, thứ tha này của Chúa. Nếu chối từ Thiên Chúa, thất vọng hoàn toàn về tình thương tha thứ của Người cũng như không còn tin và yêu mến Người nữa là xúc phạm nặng nề đến chính Chúa Thánh Thần là Đấng đã giúp ta nhận biết Thiên Chúa là Cha nhân hậu, nhận biết công trình cưú chuộc vô giá của Chúa Kitô, và giúp ta nhìn nhận tội lỗi đã phạm. Chúa Thánh Thần cũng là Đấng đã nung lửa yêu mến Thiên Chúa trong lòng tín hữu. Do dó, xúc phạm đến Chúa Thánh Thần là bác bỏ mọi công việc Người đã làm trong linh hồn ta và trong Giáo Hội của Chúa Kitô.

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã dạy: "ai nói phạm đến Con Người (tức Chúa Giêsu) thì được tha, nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần sẽ chẳng được tha, cả đời này lẫn đời sau" (Mt 12: 32).

Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, trong Tông Thư "Dominum et Vivificantem" (Chúa là Đấng ban sự sống) cũng nói như sau về tội phạm đến Chúa Thánh Thần: "Tội phạm đến Chúa Thánh Thần không phải chỉ đơn thuần xúc phạm đến Người bằng lời nói mà hệ tại sự chối từ nhận lãnh ơn cứu chuộc mà Thiên Chúa ban cho con người qua Chúa Thánh Thần hoạt động qua quyền lực của Cây Thập Giá" (cf. ibid. no. 46.3).

Tóm lại, tội phạm đến Chúa Thánh Thần không thể tha thứ được vì kẻ xúc phạm đã hoàn toàn khước từ Thiên Chúa và tình thương tha thứ của Người. Nếu đã không còn tin Chúa để chạỵ đến xin Người tha thứ tội lỗi thì làm sao thứ tha được nữa? (Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn)

Lạy Chúa xin cho con biết tin tường vào lòng thương xót của Chúa để con được đón nhận ơn tha thứ, xin cho anh chị em của con trên toàn thế giới được cảm nhận tình yêu tha thứ cảu Chúa ngay khi họ biết mở lòng để đón nhận ơn cứu độ của Chúa.

Thứ Bảy Tuần XXVIII Thường Niên
Lời Chúa:
Lc 12, 8-12
8 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Hễ ai xưng nhận Thầy trước mặt người đời, thì Con Người cũng sẽ xưng nhận nó trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa; 9 nhưng ai chối bỏ Thầy trước mặt người đời, thì sẽ bị chối bỏ trước mặt thiên thần của Thiên Chúa. 10 Và hễ kẻ nào nói phạm đến Con Người, thì nó sẽ được tha. Nhưng kẻ nào nói phạm thượng đến Thánh Thần, thì sẽ không được tha.
11 "Khi người ta điệu các con vào các hội đường, đến trước mặt vua quan và chính quyền, các con chớ lo lắng phải thưa làm sao, hay phải nói thế nào, 12 vì trong giờ ấy, Thánh Thần sẽ dạy các con phải nói thế nào".
(Nguồn: Uỷ ban Thánh Kinh / HĐGMVN)
http://tgpsaigon.net/suy-niem/20151016/32478

-------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

CỘNG TÁC VỚI ƠN CHÚA QUAN TRỌNG RA SAO CHO MỤC ĐÍCH ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ HƯỞNG THÁNH NHAN CHÚA TRÊN NƯỚC TRỜI ?
Khi tạo dựng con người có nam có nữ trên trần thế này, Thiên Chúa đã ban cho con người hai quà tặng quí giá đó là lý trí ( intelligence)và ý muốn tự do ( Free will) nhờ lý trí, con mgười quan sát vũ trụ hữu hình và nhận ra phải có Đấng Tạo Hóa đã tạo dựng muôn loài muôn vật hữu hình và vô hình.

Đối với người có niềm tin có Chúa thì Đấng Tạo Hóa đó chính là Thiên Chúa Ba Ngôi ( The Holy Trinity) Đấng trọn tốt trọn lành , đầy yêu thương, công bình và thánh thiện.Người tạo dựng con người vì yêu thương và muốn chia sẻ hạnh phúc của Chúa cho con người chứ tuyệt đối không vì lợi lãi nào của riêng Chúa khiến Người phải làm như vậy. Xin nhớ kỹ điều này để không ai lầm tưởng rằng Chúa có lợi lộc gì mà phải tạo dựng lên con người trên trần thế này. Thiên Chúa yêu thương và mong đợi con người đáp trả tình yêu vô vị lợi đó của Chúa bằng hành động tương xứng thể hiện qua sự chọn lựa vâng phục Thánh ý Chúa như Người phán bảo như sau :
" hết mọi trái cây trong vườn ngươi cứ ăn; nhưng trái của cây cho biết điều thiện ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn , chắc chắn ngươi sẽ phải chết." ( St 2: 16-17)
Cái chết mà Thiên Chúa nói trên không phải là cái chết về phần xác, mà là cái chết của linh hồn vì sẽ phải lìa xa Chúa đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục.Chính vì hiểu theo nghĩa đen,và muốn phỉnh gạt Eva, nên con rắn Satăng đã nói với bà như sau:
" Không có chết chóc gì đâu.Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện ác," ( St 3: 4-5)
Hậu quả túc khắc là sau khi hai ông bà ăn trái cấm đó, thì mắt họ mở ra và thấy mình trần truồng, nên họ phải lấy lá cây che thân và không dám ra gặp Thiên Chúa như mọi ngày khi ông bà không biết xấu hổ vì mình trần truồng, nên cứ vui vẻ dạo chơi với Chúa trong vườn đia đàng.
Sự xấu hổ của Adam và Eva sau khi ăn trái cấm đã cho thấy là họ đã mất tình trạng ân phúc gọi là sự "ngây thơ hay công chính ban đầu Original innocence and Justice", một tình trạng ơn phúc đặc biệt đã giữ cho họ được đứng vững trước mọi sa ngã vì tội. Nhưng họ đã phạm tội vì đã sử dụng ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và tôn trọng cho họ được sử dụng.
Chúa Kitô xuống trần gian để cứu chuộc cho con người khỏi chết vì tội, nhưng Chúa không trả lại cho con người tình trạng ngây thơ công chính ban đầu đó, cho nên con người vẫn hoàn toàn yếu đuối và dễ sa ngã sau khi được tái sinh qua Phép Rửa.
Về điểm này, Giáo lý của Giáo Hội cũng dạy rằng: " Tuy nhiên,nơi mọi người đã được rửa tội, một số những hậu quả của tội lỗi vẫn còn tồn tại , như những đau khổ , bệnh tật, sự chết, hoặc những yếu đuối gắn liền với sự sống như những yếu đuối về tình tình...nhất là sự hướng chiều về tội lỗi mà Truyền thống gọi là tình dục, và theo ẩn dụ, được gọi là " lò phát sinh ra tội ( fomes percati) được để đó cho chúng ta phải chiến đấu với nó..." ( x SGLGHCG số 1264)
Chính vì những yếu đuối còn để lại trong bản chất con người cộng với ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và hoàn toàn tôn trọng cho con người sử dụng, nên con người xưa và nay dễ sa phạm rất nhiều tội, dù đã được một lần tha thứ hết mọi tội cá nhân và tội Nguyên tổ qua Phép rửa.
Như thế Phép Rửa cũng không bảo đảm cho con người khỏi sa ngã vì tội.
Kinh nghiệm bản thân của mỗi người chúng ta cho thấy là chúng ta luôn sống trong sự giằng co giữa sự thiện và sự dữ, giữa xấu và tốt, giữa mời gọi bước đi theo Chúa để được sống vĩnh cửu hay,ngược lại, khước từ Chúa để sống theo ma quỷ và thế gian khiến mất hy vọng được cứu rỗi và phải chết đời đời vì tội.
Chính vì hậu quả nói trên của Tội Nguyên tổ mà con người xa xưa trong thời cựu ước đã phạm nhiều tội nghiêm trọng khiến Thiên Chúa đã hai lần phải đánh phạt con người cách nhãn tiền.
Lần thứ nhất xẩy ra trong thời ông Nô-E, một tôi tớ sống đẹp lòng Chúa , nên Chúa đã sai ông đóng một con tầu để chở gia đình ông và mọi sinh vật được ông mang lên con tầu này.Thiên Chúa đã phán bảo ông như sau:
" Ta đã quyết đinh giờ tận số của xác phàm, vì tại chúng mà mặt đất đầy bạo lực : này Ta sắp tiêu diệt chúng cùng với đất." ( St 5: 13).
Thiên Chúa muốn tiêu diệt mọi người trên mặt đất- trừ gia đình ông No-E và các sinh vật ,mỗi loại 2 con mà ông Noe đã mang lên tầu để thoát nạn lụt hông thủy (deluge). Sở dĩ Thiên Chúa đã bất đắc dĩ phải làm như vậy, vi " trên mặt đất sự gian ác của con người quả là nhiều , và suốt ngày lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu." ( St 5: 5)
Vì thể, để trừng phạt con người, Thiên Chúa đã cho mưa từ trời cao tuôn đổ xuống trên khắp địa cầu trong suốt 40 đêm ngày, và đã cuốn vào lòng đại dương tất cả người và mọi sinh vật , trừ gia đình ông No E và các sinh vật được ông đem lên tầu trước khi mưa đổ xuống.( x St 6-7)
Đây là lần đánh phạt nặng nề nhất của Thiên Chúa đối với những người đã phạm nhiều tội mà không hề biết ăn năn từ bỏ. Sau lần đánh phạt cả thể này, Thiên Chúa lại phải đánh phạt dân ở hai thánh Sô-dôm và Gômora trong thời ông Abraham, một người công chính sống đẹp lòng Chúa vì đã dám hy sinh con mình là Isaac để chứng mình lòng tin yêu phi thường của ông đối với Thiên Chúa.
Dân hai thành Sôdôm và Gômora bị đánh phạt vì ĐỨC CHÚA phán: " tiếng kêu trách Sôdôm và Gômora quá lớn ! tội lỗi của chúng quá nặng nề. Ta phải xuống xem thật sự chúng có làm như tiếng kêu trách đã thấu đến Ta không.." ( St 18: 20-21)
Thiên Chúa đã cho Ông Abraham biết ý đinh của Người, nên ông đã nài van Chúa tha chết cho họ, nếu ông tìm được 50 người lành, hay chỉ được 45 người , rồi 30 người hoặc chỉ được 20 và cuối cùng là 10 người thôi, thì Chúa có vì mấy người lành này mà tha chết cho cả dân các thành tội lỗi đó không. Chúa đồng ý tha, nhưng ông Abraham cuối cùng đã không tìm được người công chính nào hết, nên đã phải ngậm ngùi rời khỏi thành Sôdôm cùng với gia đình trước khi lửa từ trời xuống thiêu rụi các thành tội lỗi đó.( x St 19)
Hai sự kiện đánh phạt nói trên xảy ra trong thời cựu ước đã cho thấy là dù Thiên Chúa là tình yêu, khoan dung và hay tha thứ, nhưng nếu con người cứ làm sự dữ, cứ phạm tội mà không biết ăn năn sám hối chừa bỏ, thì Thiên Chúa sẽ đánh phạt cách nhãn tiền như ta thấy đã sảy ra trong thời các ông No-E và Abraham nói trên.
Chúa đánh phạt vì Người chê ghét mọi tội lỗi và sự dữ , vì nó xúc phạm nặng nề đến bản chất tốt lành và thánh thiện của Người.
Nhưng vì đâu có sự tội và sự dữ ?
Thánh Phaolô đã trả lời là : " vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội đã gây nên sự chết; như thế , sự chết đã lan tràn tới hết mọi người , bởi vì mọi người đã phạm tội." ( Rm 5: 12)
Người duy nhất đã phạm tội đó là Adam, người đã cùng vợ là Eva ăn trái cấm ,trái lệnh Thiên Chúa nên đã đem sự tội vào thế gian và gây nên sự chết cho cả loài người. Sự sa ngã của Adam và Eva đã đưa đến hậu quả trước tiên là họ đã đánh mất tình trạng ơn phúc ,gọi là sự ngây thơ, công chính ban đầu= Original Innocence and justice mà họ đã được hưởng trước khi phạm tội, như đã nói ở trên.
Hậu quả của sự mất ơn phúc đặc biệt này khiến Adam và Eva trở nên yếu đuối hoàn toàn trong bản tính, -và do đó- dễ sa phạm tội hơn trước ngày họ ăn trái cấm. Sự yếu đuối này cũng di truyền đến hết mọi người, giống hệt như hậu quả của tội Nguyên Tổ khiến tội và sự chết xâm nhập trần gian và lan ra đến hết mọi người trong nhân loại như Thánh Phaolô đã dạy.
Nghĩa là, con người ,từ sau ngày Nguyên Tổ phạm tội, đã phạm thêm những tội cá nhân như gian dối, gian manh, mê tín dị đoan, hận thù, nghen ghét, dâm ô, hiếp dâm, ngoại tình,trộm cướp, giết người, giết thai nhi, bất công, bóc lột , bỏ vạ cáo gian, chiến tranh, khủng bố, thay chồng đổi vợ, buôn bán phụ nữ ,bắt cóc trẻ nữ để bán cho bọn bất lương hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi như thực trạng thế giới vô luân vô đạo hiện nay.
Tội Nguyên Tổ và tội cá nhân đã khiến con người hoàn toàn xa cách Thiên Chúa là tình yêu, nhân hậu , công chính và thánh thiện. Do đó, các tội của loài người là điều nghê tởm, không thể chấp nhận được đối với Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành.
Nhưng vi Thiên Chúa là tình yêu, " Người có giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời, ( Tv 29: 30(29): 6) nên Người đã sai Con một là Chúa Giêsu Kitô đến trần gian cách nay trên 2000 năm để "hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người."( Mt 20:28)
Chúa Kitô đã hy sinh mạng sống mình qua khổ hình thập giá, chết đau thương và nhục nhã trên thập giá để đền tội thay cho loài người. Tội đó là tội Nguyên Tổ và mọi tội cá nhân con người đã phạm từ xưa đến nay và còn mãi mãi cho đến ngày hết thời gian.Tội Nguyên Tổ đã làm phát sinh mọi tội khác mà con người đã và đang phạm ở khắp nơi trên trần gian này.Các tội đó đủ làm cho con người hoàn toàn xa cách hay chống lại Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành. Các tội đó đã đóng đanh Chúa Kitô vào thập giá, là vòng gai nhọn quấn quanh đầu Chúa và là lưỡi gươm nhọn đâm vào cạnh sườn Chúa khi Người đang bị treo trên thập giá.,
Như thế, Chúa Kitô chết vì tội lỗi nhân loại.Các tội này bắt nguồn từ tội mà Nguyên Tổ loài người đã phạm khi ăn trái cấm trong vườn địa đàng như Kinh Thánh và giáo lý của Giáo Hội dạy.
Mặc dù Chúa Kitô đã chịu mọi đau khổ và chết trên thập giá để đền tội thay cho con người, nhưng Chúa không tiêu diệt hết mọi mầm mống của tội trong mỗi con người và trong trần gian để cho con người phải chiến đấu chống lại mọi cám dỗ của tội đến từ thế gian với đầy rẫy gương xấu, và nhất là từ ma quỷ, mà Thánh Phêrô đã vì như " sư tử đói , gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé. ( 1 Pr5:8) để mong cướp lấy linh hồn của con người bao lâu còn sống trong thân xác có ngày phải chết đi này.
Là những người có niềm tin Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi tích cực cộng tác với ơn cứu độ của Chúa để chiến đấu chống lại mọi kẻ thù đến từ bản chất yếu đuối luôn nghiêng chiều về đường tội, từ thế gian với bao gương xấu và dịp tội, và đặc biệt, đến từ ma quỷ, kẻ tử thù không bao giờ muốn cho chúng ta được cứu rỗi để hưởng Thanh Nhan Chúa trên Thiên Đàng, là nơi hạnh phúc mà quỷ Sa tăng và đồng bọn đã bị đánh bật ra ngoài vì tội kiêu căng,dám chống lại Thiên Chúa.
Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá (invaluable) và đủ cho con người được cứu độ để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa.Nhưng nếu ta không cộng tác với ơn Chúa để quyêt tâm xa tránh tội lỗi thì Chúa không thể cứu ai được , và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ ra vô ích cho những ai cứ sống trong tội, cứ làm sự dữ mà không có quyết tâm từ bỏ và ăn năn sám hối để xin Chúa tha thứ.
Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với mấy người biệt phái đến hỏi Chúa xem có phải mấy người Galilêa bị Tổng Trấn Philatô giết và 18 người khác bị thác Si –lô-a đổ xuống đè chết, có phải vì họ là những người tội lỗi hơn những người khác không, Chúa Giêsu đã trả lời họ như sau:
" Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu.Nhưng nếu các ông không chịu sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy." ( Lc 13: 5)
Phải sám hội để nhìn nhận tội mình đã phạm mà xin Chúa tha thứ, nếu không sẽ phải chết trong linh hồn và phải xa cách Chúa đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục.
Tóm lại, vị tội Nguyên tổ làm phát sinh ra muôn vàn tội khác khiến con người phải xa cách Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, nên Chúa Giêsu Kitô đã vâng lời Chúa Cha đến trần gian làm Con Người để hy sinh chịu chết trên thập giá để đền thay cho nhận loại khỏi phải chết đời đời vì tội.
Nhưng muốn được hưởng công nghiệp cứu chuộc vô giá này của Chúa Kitô, thì mọi người phải quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi để bước đi theo Chúa Kitô là " con Đường, là sự Thật và là sự Sống" ( Ga 14:6). Nếu không thì Chúa không thể cứu ai được. Chúa nói : "ai có tai nghe, thì nghe."(Mt 13: 43; Mc 4 23; Lc 8: 8)
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn. MDiv; MA; DMin( Doctor of Ministry)

-------------------------------------------------------------------

*MỜI QUÝ VỊ VÀ CAC BẠN VÀO NỘI DUNG # 12, 13 VÀ 21 TRONG TRANG WEB:

www.ChiaseLoiChua.com

ĐỌC THÊM ĐỂ SỐNG CHIA SẺ&CẦU NGUYỆN TÍCH CỰC CHO MỌI NGƯỜI TRƯỚC ĐẠI DỊCH NÀY. 

-----------------------------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - TÀ GIÁO - BỘI GIÁO-LY GIÁO- PDF Print E-mail

 TÀ GIÁO, BỘI GIÁO , Và LY GIÁO LÀ NHỮNG TỘI GÌ PHẢI TRÁNH ĐỂ ĐƯỢC HIỆP THÔNG TRỌN VẸN VỚI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO ?
Hỏi :
xin chagiải thích rõ thế nào là Tà giáo, Bội giáo và Ly giáo trong Giáo Hội
Trả lời:
Lịch sử Giáo Hội trên 2000 năm qua đã trải qua nhiều khó khăn và thách đố đến từ bên trong cũng như từ bên ngoài. Con Thuyền Phê rô đã nhiều phen bị chao đảo vì sống gió tứ bề nổi lên uy hiếp. Nhưng ơn Chúa vẫn đủ để giúp đứng vững ,và quyền lực của tử thần sẽ không thắng nổi " như Chúa Giêsu đã hứa khi Người thiếp lập Giáo Hội trên nền tảng Tông Đồ và trao quyền lãnh đạo cho Phêrô. ( Mt 16: 18) là Giáo Hoàng tiên khởi của Giáo Hội. với sứ mệnh "chăn dắt các chiên của Thầy" ( Ga 21:17)
Những khó khăn lớn từ bên ngoài đưa tới là những cuộc bách đạo ngay từ thế kỷ đầu của Giáo Hội sơ khai cho đến ngày nay, khiến cho hầu hết các Tông Đồ và rất nhiều giáo hữu đã được phúc tử đạo, vì đã kiên cường bảo vệ và sống đức tin Kitô Giáo trước mọi thế lực thù nghịch muốn tiêu diệt Đạo Thánh của Chúa Kitô.
Cụ thể, trên quê hương Việt Nam, hàng trăm ngàn giáo dân và giáo sĩ đã bỏ mình vì đức tin Kitô Giáo trong thời các vua Nhà Nguyễn ( Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức) nhất là trong thời Tây Sơn và phong trào Văn Thân vào thế kỷ 19 là thời điểm bách Đạo Công Giáo dữ dội nhất ở VN. Nhưng nhờ máu các anh hùng tử đạo đổ ra mà hạt giống đức tin đã đâm bông, phát sinh hoa trái xum xuê ở khắp mọi nơi đặc biệt trên cánh đồng truyền giáo VN, khiến cho Giáo Hội không những đứng vững mà còn tăng trưởng mạnh mẽ về mọi mặt cho đến ngày nay.
Ngoài những khó khăn trên, Giáo Hội –qua thời gian- còn phải đương đầu với những tà thuyết , như thuyết vô ngộ,( Gnosticism) thuyết tương đối ( Relativism) , thuyết vô thần( Atheism), thuyết cộng sản ( communism), chũ nghĩa vật chất ( materialism) chủ nghiã chuộng khoái lạc ( hedonism) chủ nghĩa tục hóa( secularism) cùng với "văn hóa của sự chết" ( culture of death)...tất cả đều thách đố và nguy hại cho niềm tin Kitô Giao mà Giáo Hội có bổn phạm phải chống đỡ để hướng dẫn con cái mình giữ vững đức tin trước mọi thách đô của thế giới tục hóa xưa và nay.
Và để giữ vững đức tin KitôGiáo , Giáo Hội còn phải đương đầu với ba tà thuyết xuất phát từ bên trong , đó là Tà giáo ( heresy) bội giáo ( Apostasy) và Ly giáo ( Schism).
1-Tà giáo là tội gì ?
Tà giáo ( heresy) hay lạc giáo tức rối đạo , là chối hay nghi ngờ một chân lý đức tin đã được mặc khải mà Giáo Hội tin và giảng dạy cho con cái mình phải tin và tuân giữ cho được rỗi linh hồn. Thí dụ tín điều về Thiên Chúa Ba Ngôi, Ngôi thứ Hai xuông thế làm Người sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Tín điều Đức Mẹ trọn đời đồng trinh và lên trời cả hồn xác, Tin điều các Thánh Thông Công, tin xác loài người ngày sau sống lại v.v..
Như vậy , nếu ai chối bỏ hay hoài nghi một trong những điều phải tin nói trên thì mắc tội rối đạo hay tà giáo, đặc biệt là những ai dạy điều gì trái với niềm tin Kitô Giáo.
Giáo luật của Giáo Hội cũng nói rõ tà giáo hay lạc giáo là " cố chấp phủ nhận hay nghi ngờ một chân lý phải tin, sau khi được chịu phép Rửa tội ...( x giáo luật số 751)
Trong thời Tân Ước, Thánh Phao lô đã tố cáo những kẻ mượn danh Tông Đồ để giảng dạy những điều sai lạc về Đức tin như sau:
" Điều tôi làm, tôi sẽ tiếp tục làm, để những kẻ muốn có cơ hội tự phu là những người ngang hàng với chúng tôi, không còn có cơ hội đó nữa. Vì những kẻ đó là tông đồ giả , là thợ gian xảo, đội lốt tông đồ của Chúa Kitô." ( 2 Cor 11: 12=13)
Thánh Phê rô cũng đã lưu ý tín hữu về sự xuất hiện của những tiên tri giả, nhừng thầy dạy sai lầm, khiến gây hoang mang cho giáo hữu thời sơ khai như sau:
" Trong dân cũng đã xuất hiện những ngôn sứ giả; giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả hiêu; đó là những kẻ sẽ lén lút đưa vào nhừng tà thuyết đẫn tới diệt vong..." ( 2 Pr 2)
Thánh Gioan cũng nói về nguy cơ có những thầy dạy không thuộc hàng ngũ Tông Đồ. Đó là các kẻ phản Kitô vì chúng sẽ dạy những điều sai lầm, sai lạc giáo lý của Chúa:
"Chúng xuất thân từ hàng ngũ chúng ta. Nhưng không phải là người của chúng ta . Vì nếu là người của chúng ta, chũng đã ở lại với chúng ta.Nhưng như thế mới rõ: Không phải ai ai cũng là người của chúng ta. 1 Ga 2: 19)
Sau đây là một vài điển hình về những người đã dạy sai lạc giáo lý đức tin, trong mấy thế kỷ đầu của Giáo Hội. Đó là Arius,Nestorius và Pelagius :
Arius là một linh mục ở Alexandria, đã dạy sai lầm là Chúa Giê su không cũng bản thể và uy quyền với Chúa Cha, khi xuống trần gian làm Con Người , sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria. Tà thuyết này đã bị Công Đồng Nicaea năm 325 lên án và bác bỏ vì sai lạc hoàn toàn với giáo lý của Giáo Hội về Ba Ngôi Thiên Chúa cùng một bản thể ( substance) và oai quyền ( dignity) như nhau.
Cùng chia sẻ sai lầm với Arius là Nestorius, một linh mục khác ở Antioch năm 428 A,D cũng phân biệt thần tính ( divine nature ) và nhân tính ( human nature) của Chúa Kitô, và dạy rằng Mẹ Maria chỉ là Mẹ về mặt nhân tính của Chúa Kitô mà thôi.!
Tà thuyết này đã bị Công Đồng Ephesus lên án năm 431 vì đã dạy sai lầm về hai hai bản tính không hề tách rời nhau của Chúa Kitô như Giáo Hội tin và dạy không sai lầm. Từ đó Công Đông cũng tuyên bố Mẹ Maria là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos= God bearer) vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, là Ngôi Hai cùng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi Một Thiên Chúa. (Holy Trinity= Three Persons =One God))Từ đó, Giáo Hội cũng dạy phải kính Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa trong ngày đầu năm dương lịch mỗi năm.
Cùng bị lên án với Nestorius là Pelarius , một luân lý gia nghiêm khắc đã phủ nhận tội Nguyên tổ original sin) với lập luận sai lầm là linh hồn con người do Chúa tạo dựng nên không thể vướng mắc tội được. Do đó, chỉ những người lớn( adults) mới cần rửa tội, còn trẻ con thì không cần, vì chúng chưa biết phạm tội.
2- Bội giáo hay chối Đạo ( Apostasy)
Đây là tội rất nghiêm trọng mà một người đã được rửa tội, đã tuyên xưng đức tin nhưng sau đó đã chối bỏ hoàn toàn đức tin về Thiên Chúa và về quyền bính của Giáo Hội. Tác giả Thư Do Thái đã nói như sau về tội này:
" Quả thật, những kẻ đã một lần được chiếu sáng, đã được nếm thử ân huệ bởi trời , đã được thông chia Thánh Thần, đã được thưởng thức Lời tốt đẹp của Thiên Chúa...những kẻ ấy mà sa ngã, thì không thể được đổi mới một lần nữa để sám hối ăn năn vì họ đã tự đóng đanh Con Thiên Chúa vào thập giá một lần nữa và đã công khai sỉ nhục Người..." ( Dt 6: 4-8)
Trong thời Cựu Ước, Dân Do Thái mỗi lần bất trung với Thiên Chúa , họ đã phạm tội này như ngôn sứ Giê rê mia đã nói rõ như sau:
" Sự gian ác của ngươi phải sửa trị ngươi
Hành vi phản bội của ngươi sẽ trừng phạt người
Ngươi phải biết, ngươi phải thấy rằng
Lìa bỏ ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của ngươi
Không còn kính sợ Người, thì thật là xấu xa và cay đắng" ( Gr 2: 19)
Tác giả Sách Giô-suê ( Joshua) cũng nói như sau về tội bội giáo:
" ĐỨC CHÚA, Thần các thần, chinh Người biết và It-ra-en cũng phải biết: nếu đó là một cuộc nổi loạn hay là một tội bất trung đối với ĐỨC CHÚA, thì xin Người đừng cứu chúng tôi hôm nay," ( Joshua 22: 22)
Thánh Phaolô sau này cũng cảnh giác các tín hữu về nguy cơ chối Đạo như sau:
" Trước đó phải có hiện tượng chối Đạo, và người ta sẽ phải thấy xuất hiện người gian ác, đứa hư hỏng." ( Tx 2: 3)
Giáo luật của Giáo Hội cũng nói rõ " bội giáo là chối bỏ toàn bộ đức tin Kitô giáo." ( Giáo luật số 751)
Như thế, sau khi được rửa tội để gia nhập Giáo Hội, ai công khải chối Đạo, bỏ Đạo, tức chối bỏ mọi niềm tin Kitô Giáo thì mắc tội bội giáo nói trên. ( x giáo luật số 751)

3- LY GIÁO ( Schism)
Theo ngữ căn ( etymology) Hy lạp thì từ "Schism" có nghĩa xé rách ra. Áp dụng vào đời sống của Giáo Hội, thì từ Schism=Ly giáo là hành vi cố ý rút ra khỏi mọi hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo, đặt dưới quyền chăn dắt của Đức Thánh Cha , là Đại Diện duy nhất thay mặt ( Vicar) Chúa Kitô trong Sứ mệnh lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ với sự hiệp thông và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn ( College of Bishops).
Lich sử Giáo Hội nghi nhận có hai cuộc ly giáo nghiêm trọng đã xẩy ra trong nội bộ Giáo Hội Công Giáo Phương Tây (Rome) ( Western Schism) và giữa Giáo Hội Phương Tây với một số Giáo Hội Chính Thống Đông phương ( Eastern Orthodox Churches) được tóm lược như sau:
A. Đại Ly giáo Tây Phương ( Great Western Schism)
Cuộc ly giáo này kéo dài từ năm 1378 cho đến năm 1417.
Nguyên nhân chính là do sự tranh chấp của một số phe phái trong Giáo Hội về ngôi Giáo Hoàng La Mã, sau khi Tòa Thánh, dưới triều Đức Giáo Hoàng Gregory XI rời đô trở lại Roma từ Avignon ( Pháp) năm 1377.
Thời gian này có ba Giáo Hoàng cũng tranh ngôi Giáo Hoàng La mã. Đó là
UrbanVI ở Rome, Clement VII ( Pháp) quay trở lại Avignon và Alexander V do Công Đồng Pisa bầu lên năm 1409 nhưng một năm sau (1410) thì được thay thế với Gioan XXIII .Nhưng vị này(GioanXXIII),sau đó, lại bị coi là ngụy Giáo Hoàng ( antipope) nên sau này , năm 1958 Đức Hông Y Roncali được bầu lên kế vị Đức Thánh Cha Piô XII qua đời , ngài đã lấy lai danh hiệu Gioan XXIII cho Giáo Hội.
Trở lại phần trên, Giáo Hội một lúc đã có ba Giáo Hoàng : Urban VI ở Rome, Clement VII ở Avignon và Gioan XXIII ( ngụy giáo hoàng).
Sau nhiều cố gắng điều đình giữa các phe tranh trấp, cuối cùng Công Đồng Constance ( 1414-18) đã bầu được Giáo Hoàng mới cho Giáo Hội . Đó là Hồng Y Oddo Colona, một giáo dân chưa có chức linh mục và giám mục. Nên sau khi được bầu, ngài đã được chịu chức linh mục và giám mục trước khi đăng quang để trở thành Giáo Hoàng Martin V ngày 21 tháng 11 năm 1417. Công Đồng cũng chấp nhận sự từ chức của hai giáo hoàng, một ở Avignon , một ở Rome và truất phế ngụy giáo hoàng Gioan XXIII, chấm dứt cuộc ly giáo Tây Phương kéo dài từ năm 1378 đến 1417 mà nguyên nhân chì vì có sự tranh chấp giữa các phe phái trong nội bộ Giáo Hội Tây Phương ( Rome) về ngôi vị Giáo Hoàng Rôma..
B- Ly giáo Đông Tây ( Eastern Schism)
Đây là vết thương to lớn và kéo dài lâu nhất từ năm 1054 cho đến nay mà vẫn chưa có cơ may hàn gắn.
Đó là cuộc ly giáo giữa Giáo Hội Công Giáo La Mã phương tây và một số các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương do Thượng Phụ Giáo Chủ ở Contantinople ( Hy Lạp) cầm đầu.Nguyên nhân thì có nhiều , nhưng điểm tín lý quan trọng bất hòa là từ ngữ Filioque ( and from the Son) trong Kinh Tin Kinh Nicene của Giáo Hội Công Giáo tuyên xưng Chúa Thánh Thần bới Chúa Cha và Chúa Con mà ra.Về mặt quyền bình, các Giáo Hội Đông Phương hiệp thông với Tòa Thượng Phụ Constantinople Hy Lạp không công nhận vai trò Đai Diên Chúa Kitô của Đức Giáo Hoàng La Mã trong việc lãnh đạo Giáo Hội, và đây là điểm khó hòa giải nhất giữa Contantinople xưa và Istanbul nay ( Thổ Nhĩ Kỳ) với Roma cho đến nay. Hai bên đã ra vạ tuyệt thông ( anathemas) cho nhau từ năm 1054. Nhưng vạ này đã được đôi bên tháo gỡ sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Thượng Phụ Giáo Chủ Chính thống Hy lạp là Athenagoras I và Đức Thánh Cha Phaolô VI năm 1966. Hai Giáo Hội Công Giáo La Mã và Chính Thông Đông Phương đều có chung nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) vì cũng là kết quả truyền giáo của hai Thánh Phêrô ( ở Tây phương) và Anrê em ngài ở Đông Phương. Vì thể cả hai Giáo hội đều có những bí tích hữu hiệu như nhau.
Ngoài các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương, còn có các giáo phái Tin Lành ( Protestantism) và Anh giáo ( Anglican Comm) là những nhóm Kitô Giáo đã tự ý tách khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã từ thế kỷ thứ 16 đến nay- qua biến cố mệnh danh là "' những cuộc cải cách tôn giáo religious reforms" do Martin Lurher chủ xướng năm 1517 ở Đứcvà cũng chưa trở lại hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo vì những bất đồng về quyền bính và một vài điểm tín lý, và phụng vụ.
Như vậy, ai đã gia nhập Giáo Hội qua Phép Rửa mà bỏ Đạo để quay sang một tôn giáo khác thì mắc tội ly giáo trên đây, kể cả những nhóm có ý tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hôi vì lý do riêng của họ.
Tuy nhiên, để tỏ thiện chí muốn hiệp nhất Kitô Giáo, Giáo Hội Công Giáo không lên án những anh em ly khai và luôn hướng về họ với ước mong đạt được sự hiệp nhất( unity) và hiệp thông trọn vẹn ( full comm) với các anh em cùng tin Chúa Kitô và giáo lý của Chúa nhưng đang ở bên ngoài Giáo Hội Cong Giáo.
Dầu vậy , các gương xấu như tà giáo, bội giáo và ly giáo vẫn bị coi là những tội mắc vạ tuyệt thông tiền kết ( đương nhiên mắc vạ) dành riêng cho Đức Thánh Cha quyền tháo gỡ.( x. giáo luật số 1364& 1)
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.Amen.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO -LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

nguyenthi leyen

Có Được Cầu Nguyện và An Táng Trong Nghĩa Trang của Xứ Đạo Những Ai Đã Chết Vì Tự Tử Không?

§ Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Trước khi trả lời câu hỏi trên, xin được nói qua về những thay đổi trong giáo lý của Giáo Hội về việc hỏa táng (cremation) và cầu nguyện cho những người đã tự tử chết.

Chắc mọi tín hữu còn nhớ là trước Công Đồng Vaticanô II (1962-65), Giáo Hội cấm việc hỏa táng xác người chết vì lý do có bè rối (heresy) kia đã chống lại niềm tin về sự sống lại của xác kẻ chết như giáo lý Giáo Hội dạy. Nhóm này đã hô hào đốt xác người chết để thách đố xem Giáo Hội còn gì nữa để tin vào sự sống lại của xác kẻ chết đã ra tro bụi.

Vì thế, Giáo Hội đã cấm các tín hữu không được thiêu xác người chết để không làm cớ cho những kẻ sai lầm nói trên huyênh hoang quảng bá tà thuyết của chúng.

Mặt khác, từ trước đến nay, Giáo Hội vẫn dạy rằng tự tử chết không những là tội nghich điều răn thứ Năm, mà còn là một gương xấu to lớn phải tránh. Cho nên, đã có thời Giáo Hội, đặc biệt ở Viêt Nam trước Công Đồng Vaticano II, đã cấm cử hành tang lễ cho người tự tử cũng như không cho an táng trong đất thánh của họ Đạo vì gương xấu tự sát.

Nhưng phải nói ngay là thời đó Giáo Hội cấm vì gương xấu của tội tự sát chứ không phải vì muốn phán đoán rằng người tự tử đã sa hỏa ngục rồi, nên không cần cầu nguyện cho họ nữa.

Rồi thời gian trôi qua, bè rối kia cũng tiêu tan, vì không ai tin theo họ cả, nên từ sau Công Đồng đến nay, Giáo lý mới của Giáo Hội, được Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II (nay là Chân Phước) ký ban hành ngày 11 tháng 10 năm 1992 có những lời dạy đáng chú ý như sau về việc hỏa táng và an táng kẻ chết vì tự tự.

1- Về việc hỏa táng (cremation) xác kẻ chết:

Giáo lý mới mới dạy rằng: "Giáo Hội cho phép hỏa táng, nếu việc này không động đến niềm tin vào sự sống lại của xác kẻ chết". (x. SGLGHCG, số 2301)

Nghĩa là theo Giáo Hội dạy, thì dù được chôn cất và bị tiêu tan trong lòng đất hay được hỏa thiêu thành tro bụi, xác kẻ chết vẫn được quyền năng của Thiên Chúa cho sống lại, kết hợp cùng với linh hồn để hoặc được vào an nghỉ muôn đời với Thiên Chúa trong Nước Hằng Sống hay bị xa lìa Thiên Chúa vĩnh viễn trong nơi gọi là hỏa ngục.

Do đó, người tín hữu ngày nay được phép hỏa táng thân nhân đã qua đời hay đem chôn cất ngoài nghĩa trang như tục lệ đã có từ lâu đời. Nhưng phải tôn trọng xác chết của thân nhân được mai táng hay được thiêu đốt thành tro bụi đựng trong các hộp để cất giữ trong gia đình hay ở nơi nhà thờ nào có nhận cất giữ các hộp tro này. Nghĩa là được hỏa táng nhưng phải tin xác dù đã ra tro bụi, vẫn sẽ được sống lại như Giáo Hội dạy. Do đó, phải cất giữ tro của xác được hỏa táng chứ không được đem ra trải ngoài sông, hồ hay biển cả như những người ngoài Công giáo đã làm. Vì như vậy, là vô tình chia sẻ niềm tin của những người này cho rằng con người là hư không nên phải trở về với hư vô, để tan biến trong thiên nhiên vũ trụ, và không còn hy vọng nào về sự sống lại nữa. Đây là điều nghich với niềm tin của Kitô Giáo dạy phải "tin xác loài người ngày sau sống lại" (dù được chôn cất hay hỏa thiêu), như chúng ta đọc trong Kinh Tin Kính mỗi ngày Chúa Nhật và Lễ trọng.

2- Về những người đã tự tử chết:

Giáo lý mới của Giáo Hội cũng dạy rằng: "Tự tử là nghịch với tình yêu của Thiên Chúa hằng sống... Nhưng không nên tuyệt vọng về ơn cứu độ của những người đã tự tử.Thiên Chúa có thể dành cho họ một cơ hội để sám hối bằng những con đường mà chỉ mình Ngài biết. Giáo Hội cầu nguyện cho những người đã tìm cách hủy hoại mạng sống mình". (x. SGLGHCG, số 2281, 2283).

Như thế rõ rệt cho thấy là, mặc dù lên án hành vi tự sát hay trợ giúp cho hành vi này, nhưng Giáo Hội không phán đoán gì về số phận đời đời của những người tự tử mà chỉ dạy phải cầu nguyện cho họ mà thôi. Có nghĩa là vẫn phải dành cho họ mọi nghi thức an táng như Thánh lễ ở nhà thờ hay cầu nguyện ngoài nhà quàn (Funeral Home) và được chôn cất như mọi tín hữu khác. (việc này các giáo xứ ở Mỹ đang làm. Khi có ai chết thì cha xứ phải làm lễ chọ họ theo lời yêu cầu của thân nhân, nhưng không được hỏi lý do chết và từ chối lễ an táng nếu người chết đã tự tử). Sở dĩ thế, vì không có khoản giáo lý, giáo luật nào cấm đem xác người tự tử vào nhà thờ để cầu nguyện hoặc cấm chôn cất xác đó ở nghĩa trang Công giáo.

Do đó, nơi nào cấm đoán như vậy là đã đi ngược lại với giáo lý của Giáo Hôi dạy phải cầu nguyện cho những người tự sát như đã trích dẫn ở trên. Cầu nguyện cho họ có nghĩa là mình không biết Chúa đã phán đoán họ ra sao, nên chỉ biết phó thác họ cho lòng nhân từ, khoan dung vô biên của Chúa mà thôi. Đây là quan điểm thần học quân bình hơn về phần rỗi của kẻ chết, và cách riêng của những người tự sát, vì chỉ một mình Thiên Chúa biết rõ lý do đã thức đẩy họ đến chỗ tự tử. Chúng ta tin tưởng lòng nhân từ và phán đoán công minh của Thiên Chúa dành cho những người chẳng may đã tự chọn hay bị thức đẩy vào con đường tự hủy hoại đời mình, nhất là thông cảm và nâng đỡ cho thân nhân nhân còn sống của những người đã tự tử chết. Trong tang lễ, linh mục cũng phải tránh không nên nói gì về nguyên nhân cái chết mà chỉ nhấn mạnh đến lòng thương sót vô biên và phán đoán công minh của Chúa để phó thác người đã chết cho lòng thương xót của Chúa mà thôi.

Tuy nhiên, giáo luật của Giáo Hội có cấm việc cử hành tang lễ theo nghi thức của Giáo Hội cho những ai rơi vào một trong những trường hợp sau đây:

1- Những người lạc giáo (heretics) tức những người cố chấp phủ nhận hay nghi ngờ một chân lý đức tin phải tin, sau khi đã được rửa tội trong Giáo Hội Công giáo

2- Những người bội giáo (apostates) là những người chối bỏ toàn bộ đức tin Kitô Giáo và ngoan cố không chịu thay đổi sai lầm của mình.

3- Những người ly giáo (schismatics) là những người không còn muốn tùng phục Đức Thánh Cha và những vị thay mặt ngài coi sóc tín hữu trong toàn Giáo Hội. Nghĩa là không còn muốn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo do Đức Thánh Cha là Chủ Chăn duy nhất có sứ mệnh dắt chăn "các chiên của Thầy" thay mặt cho Chúa Kitô trên trần thế này.

4- Những người chọn hỏa táng thi hài của mình vì những lý do nghịch với đức tin Kitô Giáo. (không tin xác ngày sau sống lại)

Nếu những người nói trên không tỏ dấu ăn năn thống hối nào trước khi chết thì phải từ chối an táng họ theo nghi thức của Giáo Hội. (x. giáo luật số 1184). Có nghĩa là không được cử hành lẽ tang theo nghi thức của Giáo Hội.

Ngoài những trường hợp trên, không có khoản giáo luật hay giáo lý nào cấm cử hành tang lễ cho người tự tử cũng như cấm chôn xác đó trong nghĩa trang công giáo.

Như vậy, ai cấm đoán như trên là đã tự ban hành luật riêng của mình, trái ngược với giáo lý và giáo luật của Giáo Hội.

Tại sao người ta lại tự dành quyền phán đoán số phận đời đời của kẻ chết ?

Tại sao không nghĩ rằng những người tự tử không hẳn là đã hoàn toàn chối từ Thiên Chúa, (mà có thì cũng không ai biết được, trừ một mình Chúa). Họ chọn cái chết có thể vì những hoàn cảnh vô cùng khó khăn gặp phải trong cuộc sống, hoặc những đau khổ vì bênh tật, vì nghèo đói, vì bất công xã hội hay vì hoàn cảnh éo le, tuyệt vọng trong gia đình... đã thúc đẩy họ chọn cái chết để tự giải thoát mà không biết đó là điều trái nghịch với tình thương của Chúa là Đấng duy nhất nắm quyền sinh tử của mọi người.

Hơn thế nữa, tại sao lại muốn giới hạn lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, "Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Tm 2 :4) để tự ý ban hành luật riêng của mình cấm cầu nguyện hay cho an táng người tự tử trong nghĩa trang của họ Đạo?

Sau hết, làm như vậy có giúp an ủi, nâng đỡ thân nhân người chẳng may đã tự sát, hay là bêu xấu họ cách công khai trong giáo xứ địa phương, và do đó, có thể làm mất đức tin của họ chỉ vì chủ chăn không biết cảm thương và thực hành giáo lý mới của Giáo Hội dạy phải cầu nguyện cho những người tự tử, nghĩa là không được phán đoán gì về số phận đời đời của họ như đã trích dẫn ở trên.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

----------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THAM DỰ TĨNH TÂM PDF Print E-mail

DM Tran

Wed, Mar 11 at 10:46 AM

THAM DỰ HỒI TÂM, NGHE GIẢNG VỚI TÂM LÝ NÀO?!

Trần Mỹ Duyệt

Trong những dịp đặc biệt như Mùa Vọng, Mùa Chay, mừng bổn mạng, mừng ngân khánh, kim khánh... các giáo xứ, các hội đoàn thường chuẩn BỊ bằng những buổi hồi tâm, tĩnh tâm, hội thảo. Trong những trường hợp này, người tham dự luôn luôn được nghe những bài giảng, bài nói chuyện với những chủ đề hấp dẫn, và dĩ nhiên, được trình bày do những thuyết trình viên, những nhà chuyên môn đạo đức, có bằng cấp, uy tín và địa vị.

Nguyên việc những dịp như vậy được gọi là đặc biệt, và nghe danh những thuyết trình viên, những nhà giảng thuyết tên tuổi, những đề tài hấp dẫn như vậy đã khiến cho tâm lý người nghe nổi lên nhiều háo hức, tò mò và mong được tham dự. Tâm lỳ ấy cũng tạo nên điểm tích cực trong việc đón nhận những nội dung được trình bày. Mặt khác nó cũng làm cho nhiều người có cảm giác ảo mộng về những gì mình được nghe, và từ đó dễ dẫn đến những điều tiêu cực.

Sau đây là một thí dụ, Mùa Vọng năm nay, giáo xứ chúng tôi mời được vị giảng thuyết từ Việt Nam qua. Trên tờ thông tin liên lạc của giáo xứ cả tháng trước đã giới thiệu tiểu sử của ngài, đề tài của 3 buổi tĩnh tâm. Trong các thánh lễ trước đó cũng đã được cha xứ, cha phó, các vị chủ tịch nhắc nhở, mời gọi, tạo nên không khí chờ đợi, mong ngóng. Giáo dân thì kháo láo với nhau về nhà giảng thuyết và đề tài qua những trao đổi, và nhận định khác nhau. Ngày khai mạc, vô tình tôi gặp một người bạn được cho là "trí thức" và cũng có đôi chút ảnh hưởng trong cộng đồng. Chúng tôi chào hỏi nhau theo cách thức bình thường, rồi ai nấy tìm cho mình một chỗ ngồi trong thánh đường. Hôm sau tôi không thấy anh, và hôm sau nữa cũng không thấy anh. Giáng Sinh tôi lại tình cờ gặp anh và hỏi tại sao không thấy anh tiếp tục tham dự hồi tâm Mùa Vọng. Anh mỉm cười và không trả lời. Nhưng tôi hiểu qua ánh mắt và nụ cười ấy anh muốn nói gì?!

Một hình ảnh khác, mới cách đây vào tuần trước, trong buổi gặp gỡ của một nhóm anh chị em trong sinh hoạt gia đình, một chị đã say sưa nói về cảm tưởng mà chị vừa trải qua trong buổi tĩnh tâm Mùa Chay. Chị cũng không ngớt lời ca tụng vị giảng thuyết: Thánh thiện, thông thái, và dễ mến. Chị còn chia sẻ thêm là từ đó (mới chỉ hơn hai ngày thôi), chị cầu nguyện sốt sắng hơn, nói chuyện với Chúa hàng giờ, và thấy được hạnh phúc, tâm hồn bình an, sung sướng. Chị thấy Chúa gần gũi, và đáng mến dường bao!

Hai thái độ trên, theo tôi, đã phản ảnh phần lớn tâm lý của nhiều người khi tham dự những buổi hồi tâm, thuyết trình, hội thảo hay diễn thuyết: 1) Có người tham dự vì mình. 2) Có người tham dự vì người khác. 3) Có người tham dự vì hiếu kỳ. Và 4) Có người tham dự vì đám đông.

1/ THAM DỰ VÌ MÌNH

Những người tham dự các buổi tĩnh tâm, hồi tâm, hội thảo hay thuyết trình vì mình hay cho mình thường bao giờ cũng mang tâm lý lạc quan, học hỏi, tìm hiểu. Họ là những người có tinh thần cầu tiến. Câu nói bình dân mà những người này thường áp dụng là: "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn". Dù họ là ai - người hiểu biết, học thức hay địa vị - họ vẫn đến tham dự những buổi tổ chức ấy bằng ý thức rất thật về mình: "Biển học mênh mông, cái biết của mình chỉ là giới hạn". Do đó, họ không phê bình, bắt bẻ, hoặc khắt khe chê bai thuyết trình viên hay các vị giảng thuyết mặc dù có những điều mà họ đồng ý hay không đồng ý; ngay cả trong những lãnh vực mà họ chuyên môn, thâm cứu hơn. Điều quan trọng họ muốn tìm hiểu là nội dung người trình bày muốn chuyên chở, mà họ là người nghe đang cần lúc này.

Và họ cũng thường là những người đến đúng giờ, tham dự nghiêm chỉnh và ra về một cách thoải mái. Tóm lại, những người này đến để học hỏi, tìm kiếm một điểm gì tốt, thích hợp cho mình để suy nghĩ, và để sống. Đây là tâm lý tích cực. Nó luôn đem lại những kết quả tốt cho những ai đến các buổi hồi tâm, hội thảo, thuyết trình hay cấm phòng. Nó cũng là tâm tình "đến mà xem" đã được Chúa Giêsu trả lời cho hai môn đệ khi họ muốn tìm biết nơi Ngài ở.

2/ THAM DỰ VÌ NGƯỜI KHÁC

Trái ngược với tâm lý vì mình là vì người khác. Những người tham dự với tâm lý vì người khác họ đến để nghe, để xem cha giảng phòng, thuyết trình viên nói gì? Trình bày như thế nào? Những điều ấy có phù hợp với hiểu biết, quan điểm, phán đoán và cái nhìn của họ hay không? Nếu hợp ý họ, họ sẽ không ngớt lời ca ngợi. Nhưng nhất là những điều ấy có dùng được để khi về họ tố cáo chồng, vợ, cha, mẹ, con, cháu hoặc những người chung quanh hay không?

Trở lại câu chuyện mà tôi đã nêu lên ở trên về người chị em đã không ngớt lời khen cha giảng phòng: Đạo đức, duyên dáng, dí dỏm, tư tưởng mới lạ, hữu ích và chuyên môn. Nhưng theo tôi, không biết những điều này có giúp gì cho đời sống tâm linh và đổi mới tâm hồn của một người hay không? Trên thực tế, cá nhân tôi cũng từng được nghe những nhận xét tương tự mỗi khi thuyết trình ở đây đó. Trong những trường hợp như vậy, tôi thường thân mật trả lời: "Cám ơn! Tôi ước gì ở nhà bà xã tôi cũng lâu lâu khen tôi được một vài câu như vậy".

Cái nhìn ảo tưởng này còn dễ đem đến những kết luận tiêu cực. Nó thường là đề tài của những tranh chấp giữa vợ chồng, giữa những người thân trong gia đình. Thật ra, chính Chúa Giêsu cũng đã cảnh báo trước: "Hãy nghe những gì chúng nói, mà đừng bắt chước những gì chúng làm" (Mt 23:3). Và điều này cũng nhắc lại một câu truyện lý thú giữa hai vợ chồng đang ngồi trong rạp xinê. Cô vợ nhìn cảnh tình tứ trên màn ảnh, ghé vào tai chồng:

-Anh xem kìa, đôi tình nhân hôn nhau lãng mạn, tình tứ quá. Em ước gì cũng được anh hôn như vậy.

Người chồng không kém dí dỏm, thì thầm bên tai vợ:

-Em ơi! Thằng tài tử đó hôn nồng nàn, say đắm như thế vì không những được hôn miễn phí mà còn được trả tiền nữa!

Trên thực tế, những người tham dự các buổi hồi tâm, tĩnh tâm, cấm phòng, hay thuyết trình vì người khác là những người thường đến đó chỉ để nghe những gì mà họ muốn chồng, vợ, cha, mẹ, hay con cháu họ phải sửa đổi, phải thực hành. Nghe rồi để đó về nhà nếu thấy những ai đó làm sai ý mình, không như mình nghĩ liền đem ra so sánh, chì chiết, và chê bai: "Anh có nghe cha giảng phòng nói hôm đó là chồng phải thương yêu vợ không" Hoặc: "Em có nghe cha nhắc lại câu thánh kinh: "Chồng là đầu của vợ, như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh" (Eph 5:23) không?" Một sự so sánh thiếu chuẩn mực, không chính xác.

3/ THAM DỰ VÌ HIẾU KỲ

Trường hợp của người bạn tôi nhắc đến ở câu chuyện đầu có thể đến buổi cấm phòng lần đó vì hiếu kỳ? Nghe giới thiệu hấp dẫn. Đề tài mang nội dung chuyên môn, phong phú. Đến thử một lần xem có đúng như những gì thiên hạ đồn đãi không? Tự trong thâm tâm, người hiếu kỳ đã có sẵn những mặc cảm nghi kỵ, bắt bẻ, và phê phán. Do đó, những người này đến với những buổi hội thảo, hồi tâm, học hỏi thường bằng thái độ thờ ơ, nếu không muốn nói là "biết rồi khổ quá nói mãi" để mong phê phán, bắt bẻ hơn để học hỏi.

Với tâm trạng ấy, người thuyết trình viên, cha giảng phòng hoặc bất cứ nhà giảng thuyết nào dù thông thái, đạo đức, khôn ngoan và nhiều kinh nghiệm mấy đi nữa cũng không hài lòng những người này. Bởi vì, họ cho rằng tự mình họ, họ đã biết đủ, đã hiểu đủ, đến là để nghe thử, xem thử và coi thử có giống như thiên hạ đồn đại và giới thiệu hay không! Đến để nghe và để sửa sai người khác.

Tâm lý hiếu kỳ cũng mang sẵn tâm lý chối từ. Với tâm trạng đến để nghe cho biết, những người này sẽ loại bỏ, sẽ từ chối tất cả những tư tưởng, những ý kiến không phù hợp với họ. Họ thường ra về với đầu óc trống rỗng và thất vọng.

4/ THAM DỰ VÌ ĐÁM ĐÔNG

Có lẽ đây là thuộc về số đông. Người này đi, người kia đi, tôi cũng đi, Không đi sợ bị chê là mình khôn khan, nguội lạnh, thiếu đạo đức, thiếu tinh thần.

Những người tham dự hồi tâm, tĩnh tâm, hội thảo kiểu này thường đến trễ, về sớm. Họ không quan tâm đến những lời giảng giải. Thân xác ngồi đó mà tâm trí bay bổng, ngao du những nơi nào khác. Thấy người khác vỗ tay, mình vỗ tay. Người khác xụt xùi cảm động, mình cũng xụt xùi xúc động. Họ thường tránh né những câu hỏi, hoặc ngại ngùng khi phải trả lời do thuyết trình viên, giảng viên nêu ra.

Tuy nhiên ở một khía cạnh khác, họ thường lại là những người dễ bị tâm lý quần chúng tác dụng nhất. Khóc lóc, thổn thức và bừng bừng lửa mến như kiểu Phêrô trên núi lúc Chúa biến hình: "Lạy Thầy được ở đây thì tốt lắm" (Mt 17:4). Riêng trong lãnh vực đạo đức, để thảo mãn tâm lý này, nhiều cha giảng phòng thường dùng những câu truyện hài hước, những ví dụ rẻ tiền, thiếu thực tế mong tạo được tiếng cười, những giây phút thoải mái của người nghe. Nhưng đây là một thực hành tiêu cực rất đáng tiếc, vì sau những trận cười đó, ra về người nghe không học hỏi được gì.

KẾT LUẬN TỰ VẤN

4 trong số những người thường đến với các buổi hồi tâm, tĩnh tâm, chia sẻ, cầu nguyện, và hội thảo, bạn thuộc loại người nào? Mùa Chay cũng chỉ mới bắt đầu. Hãy chọn cho mình một mẫu người tham dự khi đến với những buổi hồi tâm, tĩnh tâm, cấm phòng hay hội thảo.

-----------------------------

 

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 8 of 172