mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5284
mod_vvisit_counterHôm Qua6286
mod_vvisit_counterTuần Này11570
mod_vvisit_counterTuần Trước42127
mod_vvisit_counterTháng Này66212
mod_vvisit_counterTháng Trước269154
mod_vvisit_counterTất cả9845971

We have: 129 guests online
Your IP: 54.163.210.170
 , 
Today: Dec 11, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 83 = TÔI TIN GIAO HOI DUY NHAT PDF Print E-mail

 

"Tôi tin Giáo Hội duy nhất"

Anh Chị Em thân mến,

Trong "Kinh Tin Kính" chúng ta đọc rằng "Tôi tin Giáo Hội duy nhất", tức là tuyên xưng rằng Giáo Hội là một và Giáo Hội tự mình là duy nhất. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào Giáo Hội Công Giáo trên thế giới lại thấy Giáo Hội có gần 3 ngàn giáo phận rải khắp các Châu Lục: với quá nhiều ngôn ngữ, quá nhiều văn hóa! Tuy nhiên, hàng ngàn cộng đồng Công Giáo làm nên sự hiệp nhất. Làm sao lại như thế được chứ?

Chúng ta thấy được câu trả lời tổng hợp ở Cuốn Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo trong đó Giáo Hội Công Giáo lan tràn khắp thế giới "chỉ có một đức tin, chỉ có một sự sống về bí tích, chỉ có một thừa kế tông truyền, chỉ có một niềm hy vọng, có cùng một đức ái" (khoản 161). Sự hiệp nhất trong đức tin, đức cậy, đức mến, sự hiệp nhất về các Bí Tích, về Thừa Tác Vụ: chúng là những trụ cột nâng đỡ và cùng nhau làm thành một lâu đài vĩ đại duy nhất Giáo Hội. Bất cứ đi đâu, ngay cả khi đến một giáo xứ nhỏ bé nhất, ở một hang cùng ngõ hẻm biệt lập nhất trên trái đất này cũng thấy Giáo Hội duy nhất ở đó; như đang ở nhà mình, như đang ở trong gia đình của mình, đang ở giữa anh chị em chúng ta. Và đó là đại tặng ân của Thiên Chúa! Giáo Hội là một cho tất cả mọi người. Không có vấn đề một Giáo Hội cho dân Âu Châu, một Giáo Hội cho dân Phi Châu, một Giáo Hội cho dân Mỹ Châu, một Giáo Hội cho dân Á Châu, một Giáo Hội cho những ai sống ở Đại Dương Châu, nhưng chỉ là một Giáo Hội duy nhất ở khắp nơi. Như xẩy ra trong gia đình: một gia đình có thể xa cách, sống rải rác khắp thế giới, thế nhưng những mối giây liên hệ sâu xa vẫn nối kết tất cả mọi phần tử của gia đình lại với nhau cách mạnh mẽ bất chấp khoảng cách ra sao. Tôi đang nghĩ đến cái kinh nghiệm về Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Rio de Janerio: trong đám đông vô vàn vô số giới trẻ ấy trên bờ vịnh Copacabana, rất ư là nhiều những thứ ngôn ngữ được nghe thấy, rất nhiều những nét mặt khác nhau được nhận thấy giữa họ với nhau, những thứ văn hóa khác nhau được gặp gỡ, thế mà vẫn chỉ có một mối hiệp nhất sâu xa, chỉ có một Giáo Hội duy nhất được hình thành, chỉ cảm thấy có một sự hiệp nhất. Tất cả chúng ta hãy tự hỏi mình rằng: tôi có cảm thấy mối hiệp nhất này hay chăng? Tôi có sống mối hiệp nhất này hay chăng? Hay tôi không cần vì tôi gắn liền với nhóm nhỏ của tôi hay với bản thân tôi? Tôi có phải là một trong những người 'riêng tư hóa' Giáo Hội cho riêng nhóm của tôi, cho quốc gia của tôi, cho bạn bè của tôi hay chăng? Khi tôi nghe thấy có rất nhiều Kitô hữu trên thế giới đang khổ đau, tôi có tỏ ra dửng dưng lạnh lùng hay như thể một người nào đó trong gia đình tôi đang khổ đau hay chăng? Tôi có cầu nguyện cho nhau hay chăng? Cần phải có cái nhìn vượt ra ngoài cái hạn hẹp của mình, để cảm thấy mình là Giáo Hội, là một gia đình duy nhất của Thiên Chúa!

2- Chúng ta hãy tiến thêm chút nữa và tự vấn rằng: có những vết thương đối với mối hiệp nhất này hay chăng? Chúng ta có thể làm tổn thương đến mối hiệp nhất này hay chăng? Tiếc thay, chúng ta thấy rằng trong giòng lịch sử, cả hiện nay nữa, chúng ta đã không luôn sống hiệp nhất. Đôi khi những hiểu lầm, những xung khắc, những căng thẳng, những chia rẽ đã gây ra thương tích ấy, thế rồi Giáo Hội không đương đầu như chúng ta mong ước, Giáo Hội không bày tỏ đức ái. Những gì Thiên Chúa muốn. Chúng ta là thành phần tạo nên những rách nát! Và nếu chúng ta nhìn vào những chia rẽ vẫn còn tồn tại nơi thành phần Kitô hữu, Công Giáo hữu, Chính Thống hữu, Tin Lành hữu... chúng ta cảm thấy cái công khó để mang lại mối hiệp nhất này là những gì hoàn toàn hiện tỏ. Thiên Chúa ban cho chúng ta sự hiệp nhất, thế nhưng chúng ta thường thấy khó mà thực hiện sự hiệp nhất này. Chúng ta cần phải tìm kiếm, xây dựng mối hiệp thông, và tự giáo huấn mình để sống hiệp thông, để thắng vượt những hiểu lầm và chia rẽ, bắt đầu từ gia đình, từ các thực thể Giáo Hội, bằng việc đối thoại đại đồng. Thế giới của chúng ta đang cần đến mối hiệp nhất, đến việc hòa giải, đến sự hiệp thông và Giáo Hội là Ngôi Nhà của mối hiệp thông. Thánh Phaolô đã viết cho Kitô hữu ở Êphêsô rằng: "Bởi thế, tôi, một tù nhân của Chúa, nài xin anh chị em hãy sống một cuộc đời xứng với ơn gọi mà anh chị em đã lãnh nhận, bằng tất cả tâm tình khiêm tốn và hiền lành, bằng lòng nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau trong yêu thương, thiết tha bảo tồn mối hiệp nhất của Thần Linh bằng mối liên kết an bình" (4:1-3). Sự khiêm nhượng, dịu dàng, cao thượng, yêu thương là những gì duy trì hiệp nhất! Rồi ngài tiếp: Chỉ có một thân thể, thân thể Chúa Kitô mà chúng ta lãnh nhận nơi Thánh Thể; chỉ có một Thần Linh, Vị Thánh Linh làm sinh động và liên lỉ tái tạo Giáo Hội; chỉ có một niềm hy vọng, một sự sống đời đời; chỉ có một đức tin, một Phép Rửa, một Thiên Chúa là Chúa của tất cả chúng ta (xem các câu 4-6). Sự phong phú của những gì hiệp nhất chúng ta! Hôm nay, mỗi một người cần phải tự hỏi mình rằng: tôi có hay chăng làm cho mối hiệp nhất gia tăng trong gia đình, trong giáo xứ, trong cộng đồng, hay tôi là một cớ gây chia rẽ, gây khó khăn? Tôi có khiêm nhượng để nhẫn nại hy sinh chữa lành các thương tích gây ra cho sự hiệp thông hay chăng?

3- Sau hết, điểm cuối cùng trong cái sâu sắc hơn nữa, đó là vấn đề ai là động cơ cho mối hiệp nhất này của Giáo Hội? Chính là Thánh Linh. Mối hiệp nhất không phải chính yếu là hoa trái của việc chúng ta ưng thuận, của việc nỗ lực để tiến đến chỗ đồng ý, mà là xuất phát từ Đấng làm cho mối hiệp nhất trong đa dạng này trở thành hòa hợp. Bởi vậy, cầu nguyện là những gì quan trọng, là linh hồn của việc dấn thân như những con người nam nữ của mối hiệp thông, của sự hiệp nhất.

Chúng ta hãy cầu nguyện cùng Chúa: xin hãy giúp cho chúng con có thể trở nên hiệp nhất hơn, đừng bao giờ trở thành dụng cụ gây chia rẽ; xin hãy làm cho chúng con biết dấn thân - như một kinh nguyện của Thánh Phanxicô - mang yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi xúc phạm, đem hiệp nhất đến nơi bất hòa.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo Zenit
http://www.zenit.org/en/articles/on-the-unity-of-the-church

 
OC HOI DE SONG DAO # 83 = DANG LE CHUA NHAT- NGHI THUC PDF Print E-mail

NGHI THỨC TRAO TÁC VỤ PHÓ TẾ VÀ LINH MỤC LÀ GÌ ?

Hỏi : xin cha giải thích 2 thắc mắc sau đây :
1- Đi chơi xa có buộc xem lễ ngày Chúa nhật không ?Xem Lễ trên Truyền
Hình có thay được lễ ngày Chúa nhật hay không. ?
2- Nghi Thức trao tác vụ Phó Tế và Linh mục là nghi thức nào ?
Trả lời :
1- Luật xem lễ ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ buộc quanh năm là luật tòng nhân ( personalis) nghĩa là đi bất cứ nơi nào trong Giáo hội thì vẫn buộc phải thi hành.
Trái lại, luật tòng thổ (Territorialis) chỉ buộc phải thi hành ở nơi có luật mà thôi. Thí dụ, tham dự Thánh Lễ Ngày Chúa Nhật, Rước Mình Thánh Chúa trong Mùa Phục Sinh, xưng tội ít là một lần mỗi năm, v.v là luật tòng nhân
được áp dụng ở khắp nơi trong Giáo Hội. Do đó, đi du lịch xa nhà, xa giáo xứ của mình thì vẫn buộc phải tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật và các ngày Lễ buộc như Lễ Giáng Sinh, lễ Đức Mẹ hồn xác lên Trời ( 15-8), Lễ các Thánh Nam Nữ ( 1-11), Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai ( 9-12) v.v
Nhưng nếu đi chơi xa mà nơi đó không có nhà thờ Công Giáo khiến không thể chu toàn luật buộc thì có thể được miễn thi hành vì lý do bất khả kháng, nhưng phải làm việc lành bù lại như lần chuỗi Mân Côi .v.v
Luật tòng thổ chỉ áp dụng nơi nào có luật. Thí dụ ở Mỹ không có luật buộc phải ăn chay kiêng thịt ngày thứ sáu quanh năm hay trong Mùa chay mà chỉ buộc ăn chay kiêng thịt ngày Thứ tư lễ tro và Thứ sáu Tuần Thánh mà thôi ( trong mùa chay chỉ có lời khuyên kiêng thịt chứ không có luật buộc).. Do đó nếu giáo dân ở Mỹ đi đến nơi nào có luật buộc ăn chay kiêng thịt các ngày thứ sáu trong mùa chay thì phải thi hành luật ở nơi đó.( luật tòng thổ)
Cũng vậy, ở Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục cho phép cử hành Lễ trong các ngày Tết của dân tộc ( Tết Nguyên Đán) với phụng vụ dành riêng cho 3 ngày Tết. Nhưng ở ngoại quốc nói chung, và ở Mỹ nói riêng, thì các linh mục coi xứ Việt Nam không được tự tiện áp dụng Phụng vụ ngày Tết bên Viet Nam, mà phải theo Phụng vụ chung của địa phận nơi mình cư trú. Muốn làm lễ Tết theo phụng vụ VN thì phải xin phép Giám mục địa phương, chứ không được tự tiện làm; vì theo luật, các giáo hữu Việt Nam ở ngoại quốc thì nay thuộc quyền chăm sóc mục vụ của giáo quyền nơi mình sinh sống chứ không còn thuộc quyền coi sóc của Giám mục nào bên Việt nam nữa..
Vì thế, .khi một Giám mục bên nhà có sang thăm " con chiên cũ"ở Mỹ hay ở bất cứ quốc gia nào ngoài Viêt Nam, thì chỉ thăm với tính cách thân hữu xã giao, chứ không thăm với tư cách " mục vụ" vì giáo dân cũ nay đang thuộc quyền mục vụ của Giám mục địa phương nơi họ đang sinh sống. Cần nói rõ điều này vì có nhiều người ở Mỹ vẫn nói Giám mục này hay Giám mục kia đến thăm mục vụ con chiên cũ của mình đang ở Mỹ.
Nói vậy là sai luật tòng thổ và trách nhiệm mục vụ của Giáo Hội.
Lại nữa, cũng cần nói thêm để mọi giáo dân đang sống ở Mỹ được biết rằng Tổ chức Liên Đoàn Công Giáo VN ở Mỹ chỉ là một tổ chức tư nhân với mục đích thân hữu giữa các linh mục và giáo dân VN sống ở Mỹ , chứ không phải là một hệ thống giáo quyền nào đối với các linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam. Các linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam ở Mỹ nay thuộc quyền coi sóc và điều khiển của giáo quyền địa phương –tức là các Giáo phận- nơi mình đang sinh sống và làm việc.
Về vấn đề xem lễ trên Truyền hình, thì mục đích của việc này là để giúp cho các bệnh nhân không thể đi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ trong ngày Chúa Nhật. Nhưng phải nói rõ ngay là nếu đang đau ốm ở nhà hay ở nhà thương, thì bệnh nhân không còn bị buộc phải đi lễ bất cứ ngày nào nữa.Xem lễ trên truyền hình chỉ cốt giúp cho các bệnh nhân được thông công cầu nguyện , tôn thờ và cảm tạ Chúa cùng với Giáo Hội trong ngày Chúa Nhật mà thôi, chứ không có mục đích thay thế việc đi đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh lễ cùng với những người khỏe mạnh.
Tóm lại, bệnh nhân – và cả người săn sóc bệnh nhân- không buộc phải đi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ bất cứ ngày nào. Người khỏe mạnh không được phép xem lễ trên Truyền hình để thay cho việc phải đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật. Lễ trên Truyền hình chỉ giúp cho bệnh nhân, và người già yếu thông công cầu nguyện chứ không nhằm thay thế Lễ ngày Chúa nhật cho nhũng người khỏe mạnh.
2- Nghi thức trao tác vụ Phó Tế và Linh mục là gì ?
Trước đây tôi đã có lần giải thích là trong các Nghi thức ( Rites) được Giáo Hội công bố cho thi hành ( x The Rites, Volume Two ) thì tuyệt dối không có Nghi thức nào gọi là Nghi Thức Trao tác vụ Phó tế, hay Linh mục cả Ngược lại , chỉ có Nghi thức về Lề Truyền Chức Phó tế , Lịnh mục hay Giám mục mà thôi.
Cũng theo Sách Nghi Thức nói trên thì chỉ có 2 Tác Vụ đọc Sách ( Lector) và Giúp Lễ ( Acolyte) mới được trao trong nghi thức gọi là:
1- Institution of readers (được phép đọc Sách Thánh trong Thánh Lễ)
2- Institution of Acolytes( được phép giúp bàn thánh như cho rước Lễ và
Sau đó lau chùi chén thánh ( purification of Chalice or Communion sets)
Đây là hai tác vụ ( Ministry) được trao cho các đại chủng sinh vào cuối năm Thần học I ( Tác vụ đọc sách) và cuối năm Thần học II ( tác vụ giúp lễ).
Ngày nay giáo dân cũng được trao cho tác vụ đọc sách thánh và phụ cho Rước Lễ với tư cách là Thừa tác viên bất thường cho Rước Lễ ( Extraordinary Ministers of Holy Communion)
Các đại chủng sinh và ứng viên Phó tế vĩnh viễn phải lãnh 2 tác vụ trên trước khi được lãnh chức thánh Phó Tế và chức Linh mục ( dành cho phó tế chuyển tiếp= Transitional deacons).
Như thế chỉ có nghi thức trao tác vụ đọc sách và giúp lễ mà thôi.Đây là tác vụ chứ không phải là chức thánh ( Holy Order) nên không cần phải tháo gỡ ( dispensation) khi chủng sinh không muốn , hay không được gọi tiến lên lãnh chức thánh Phó tế trước khi được chịu chức Linh mục..
Đành rằng mọi công việc thánh vụ của Phó tế , của Linh mục hay Giám mục được gọi là tác vụ Phó tế ( diaconal ministries) tác vụ linh mục ( priestly ministries) và tác vụ của Giám mục ( Episcorpal ministries) .Nhưng muốn thi hành các tác vụ này thì buộc phải có chức thánh cấp Phó Tế, cấp Linh mục và cấp Giám mục. Các Chức thánh này phải được một Giám mục truyền cho trong Thánh Lễ gọi là :
- Lễ Truyền chức Phó tế ( Mass of Ordination of a deacon (s)
- Lễ truyền chức Linh mục( Mass of Ordination of a priest ( s)
- Lễ truyên chức Giám mục ( Mass of ordination or consecration of a bishop)
Phó tế và Linh mục phải chịu chức rồi thì Giám mục mình trực thuộc mới bổ nhiệm ( hay còn gọi nôm na là bài sai) về một giáo xứ với năng quyền ( Faculties) được làm như cử hành Thánh Lễ và các bí tích trừ bí tích truyền chức thánh, nếu là linh mục.. Riêng phó tế thì cũng được bổ nhiệm về một giáo xứ dưới quyền
điều khiển trực tiếp của cha xứ ( pastor ). Nếu không có sự bổ nhiệm trên của Giám mục thì không linh mục hay phó tế nào được thi hành tác vụ của mình, mặc dù có chức Phó tế hay Linh mục.Giám mục có thể tạm hay vĩnh viễn thu hồi những năng quyền đã trao cho linh mục hay phó tế, vì lý do bất đắc dĩ nào đó.Và khi đã bị thâu hồi năng quyền, thì linh mục và phó tế đều không được phép thi hành tác vụ của mình cách công khai nữa. Nghĩa là không được phép công khai làm mục vụ ở đâu nữa cho đến khi được giám mục tái bổ nhiệm để thi hành những năng quyền được ban cho.
Như thế, Tuyệt đối không có Nghi thức nào gọi là Nghi thức trao tác vụ Phó Tế hay Linh mục trong Giáo Hội Công Giáo từ xưa đế nay.
Trước Công Đồng Vaticanô II, Giáo Hội còn duy trì và trao các chức thánh nhỏ ( Minor Orders) như Mở của nhà thờ ( Porter) trừ quỉ ( Exocism) Đọc sách ( Lector) và giúp lế ( Acolyte). Các chức thánh nhỏ này cũng được trao chung trong Thánh Lễ gọi là Lễ Truyền chức thánh , trong đó, một số chủng sinh được trao các chức nhỏ, một số lãnh chức Phó tế, và một hay vài phó tế được lãnh chức Linh mục.
Sau Công Đồng Vaticanô II, thì 4 chức nhỏ trên được bãi bỏ để chỉ còn lại 3 chức thánh là chức Phó tế, chức Linh mục và chức Giám mục mà thôi.( x giáo luật số 1009 & 1)
Vì không còn là Chức thánh nên 2 tác vụ đọc sách và giúp lễ có thể do linh mục , trao cho trong khi các Chức Phó tế, Linh mục và Giám mục phải do một Giám mục truyền trong Thánh lễ gọi là Lễ Truyền Chức. thánh ( Mass of Ordination)
Nghĩa là cả 3 chức thánh trên đây phải được truyền cho trong Thánh lễ gọi là Lễ truyền chức Phó tế, linh mục hay Giám mục, theo đúng qui định trong Sách Nghi thức ( Rites) được Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI ký ban hành cho áp dụng trong toàn Giáo Hội từ ngày 15 tháng 8 năm 1972 cho đến nay.
Như vậy ai "phăng ra "cái gọi là Lễ hay Nghi thức trao tác vụ phó tế hay Linh mục là không hiểu gì về sự khác biệt giữa tác vụ (ministerium) và Chức thánh ( Ordo) cũng như đã tự ý sửa đổi Sách Nghi Thức nói trên, một điều không ai –dù là Giám mục, Hồng Y – được phép làm nếu còn muốn hiệp thông với Giáo Hội trong mọi lãnh vực, giáo lý, tín lý, luân lý, phụng vụ, kỷ luật bí tích và giáo luật.
Nói rõ hơn,, mọi thành viện trong Giáo Hội đều có bổn phận phải áp dụng và thi hành nghiêm túc những gì đã được quy định trong Sách Giáo Lý, Giáo luật, luật Phụng vụ và Nghi Thức Phụng vụ của Giáo hội để không ai được phép "phăng" ( Fantaisie) ra luật hay nghi thức nào của riêng mình khiến gây hoang mang cho giáo dân.
Tóm lại, chỉ có Lễ truyền Chức Phó tế, Linh mục hay Giám mục, mà thôi( x. Giáo luật số 1010) chứ không có Nghi thức trao tác vụ Phó tế, Linh mục hay Giám mục như ai đã tự ý nói sai.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 82 = THAP DAI THANH CONG PDF Print E-mail

 

Sent: Monday, September 23, 2013 6:17 PM
Subject: I. Thập Ðại Thành Công: - 8. Ánh sáng định hướng cuộc đời chúng ta là gì? - Niềm Vui Sống Ðạo - Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

I. Thập Ðại Thành Công:
8. Ánh sáng định hướng
cuộc đời chúng ta là gì?
Ánh sáng định hướng đời tôi là Hy vọng. Lời kinh phụng vụ hát: Kính chào Thánh giá là Hy vọng "độc nhất của chúng tôi" (o crux ave spes unica). Thánh giá đem lại Hy vọng vì Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào đó để cứu rỗi nhân loại, người lại Phục sinh để đưa nhân loại vào thiên đàng.
Giữa thế gian đầy tội ác, bất công, đói khổ hôm nay, Chúa Giêsu bảo chúng ta làm gì?
Và Chúa Giêsu dạy chúng ta phải tránh:
Thánh Phaolô hằng khuyên nhủ giáo dân đừng sống như những người không hy vọng (ÐHV. 951).
Ngài cũng phân tích cho chúng ta thấy những hạng người công giáo khác nhau, và chọn cho mình hướng đi đúng:
Có hạng "công giáo đợi chờ", khoanh tay mong đợi niềm hy vọng đến.
Có hạng người "công giáo thụ động", "trốn tránh, vô trách nhiệm".
Họ chỉ biết "nhìn lên" đi kêu cứu, mà không biết "nhìn tới" để tiến, "nhìn quanh" để chia sẽ, gánh vác.
Niềm hy vọng đang ở giữa họ, mà họ không hay! (ÐHV. 966)
Làm một cuộc cách mạng: Ðừng đem đời người công giáo xa lìa môi trường, để quây quần quanh cái việc thiêng liêng. Ðẩy người công giáo mang niềm hy vọng của mình xâm nhập môi trường (ÐHV. 966).
- Không thể quan niệm được một Kitô hữu không mê say đem hy vọng ngập tràn thế giới (ÐHV. 972).
Ánh sáng ấy sẽ chiếu soi giúp ta vượt những thử thách,
- Con hy vọng luôn luôn, đừng chán nản vì những sự khó khăn nôi bộ, ngay trong việc tông đồ.
Như Thánh Phaolô: "Kẻ thì rao giảng Ðức Kitô vì lòng mến, bởi biết rằng tôi đã được chỉ định lo bênh đỡ Tin mừng. Kẻ thì lại giảng truyền Ðức Kitô vì ganh tị, ý định không tinh truyền, tưởng làm vậy sẽ gây thêm khổ cực cho cảnh lao tù của tôì. Cần chi! Dù sao đi nữa, bởi ý lành hay ý xấu, miễn là Ðức Kitô được rao truyền thì tôi vui mừng và tôi cứ vui mừng luôn!" (ÐHV. 976).
Và đời ta sẽ là một đời hy vọng
- Chấm nầy nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài.
Phút nầy nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.
Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp,
Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.
Ðường hy vọng do mỗi chấm hy vọng
Ðời hy vọng do mỗi phút hy vọng (ÐHV. 978)
Hướng đến năm 2000, Ðức Thánh cha Gioan Phaolô II gửi cho giới trẻ thế giới sứ điệp: Tuổi trẻ là chứng nhân của hy vọng.
Tôi xin tóm lược nội dung của cuộc sống chứng nhân, niềm hy vọng đó qua sơ đồ tóm lược sau đây, dựa vào mấy chữ đầu của tiếng La tinh SPES (= hy vọng); và tôi chuyển dịch qua tiếng Việt bằng bốn công tác dấn thân bắt đầu bằng chữ P.
Khi chọn danh từ Hy vọng, tôi đã nghĩ đến 4 P nầy, vì nó là chương trình hành động, cho chúng ta hôm nay; thực hiện đúng, nó sẽ thành hy vọng.
Muốn rõ thêm chi tiết tư tưởng và hành động đúng một chiến sĩ, mời các bạn nghiên cứu thật kỹ hiến chế Mục vụ của Công đồng Vatican II, có tên là Vui-mừng và Hy-vọng, mà tôi đã chọn làm khẩu hiệu và chương trình lúc tôi được chọn làm giám mục (1967).
Sau đây tôi giải thích 4 P ấy:
* Phục vụ
Công đồng Vatican II đã cho chúng ta thấy Hội thánh hôm nay phải là "một Hội thánh phục vụ" - Khiêm tốn và làm ích cho trần gian như "Men trong bột" như "Muối dưới biển" như "Ánh sáng", rất thinh lặng, người ta cũng chẳng để ý đến nhưng không thể thiếu cho sự sống được.
Chúa Giêsu nói: "Tôi không đến để được người ta hầu hạ, nhưng để phục vụ". Và Ngài nói tiếp để giải thích sự phục vụ của Ngài: "Cha hiến mạng sống vì người khác".
"Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau" (Gioan 13, 14).
Hy vọng hoàn thành nhân cách, hy vọng trở thành người Kitô hữu theo gương Chúa Kitô, hy vọng để kiến tạo một nước Việt Nam hoà bình, hạnh phúc, một giáo hội qui tụ những người con Thiên Chúa... sẽ không dựa trên ước mơ đề cao, tự phụ về mình, đoàn thể mình; không sử dụng cường lực, bắt ép; không đòi hỏi mình được tôn vinh và đặc quyền náo đó cho mình; cho cộng đồng mình...; nhưng "rửa chân cho nhau", làm kẻ phục vụ tôn trọng, yêu thương: đó là con đường hy vọng, hằng ngày canh tân cuộc sống cá nhân, tạo bầu khí lành thánh cho xã hội và giáo hội.
* Phát triển
Ðức Giêsu bảo: "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy lo cho họ ăn" (Mt 14, 16).
Chúa Giêsu Kitô, con Thiên Chúa mang thân xác làm người, thức tỉnh chúng ta biết giá trị cao cả của thân xác con người chúng ta. Làm sao có thể thực hiện tình yêu thương người bên cạnh, khi có kẻ thừa thải cơm áo, tiền của dư đầy, nắm hết tiện nghi của cải và quyền lực, bên cạnh đa số người anh em lâm cảnh đói rách, bị đối xử bất công, bị tước bỏ quyền sống, quyền được tự do...
"Hãy cho họ ăn", của ăn thân xác và tinh thần, bằng nổ lực đóng góp vào cuộc sống kinh tế, phát triển khoa học để phục vụ con người, đào sâu các giá trị văn hoá; bằng việc dấn thân tranh đấu cho công lý, hoà bình để nước Thiên Chúa là tình huynh đệ nhân loại mỗi ngày một thể hiện rõ nét hơn trên trần thế.
Hội thánh phục vụ bằng cách phát triển toàn diện con người. Trong những năm 60 thế giới bắt đầu nói rất nhiều đến "Phát triển", Ðức Thánh cha Phaolô VI đã công bố Thông điệp "Phát triển các dân tộc" - trong đó Ngài công bố thành lập Ủy ban Giáo hoàng sau nầy trở thành Hội đồng Toà thánh Công lý và Hoà bình. Hội thánh nhằm lo cho con người sống xứng đáng địa vị làm con Chúa.
Phát triển đây không có nghĩa kinh tế mà thôi - nhưng là phát triển con người toàn diện, thể lý, trí thức, tâm linh...
Một điều quan trọng ở đây là đánh tan lối suy nghĩ sai lạc: Hội thánh chỉ lo phần linh hồn thôi, không lo phần xác. Lối suy nghĩ đó đi xa sự thật lịch sử: trở lại ngàn năm nay, đâu đó Hội thánh tổ chức trường học, viện cô nhi, dưỡng lão, trại bài phung, bệnh viện từ vườn trẻ đến đại học.v.v...
- "Phát triển là danh hiệu mới của hoà bình" (Ðức Phaolô VI).
Mặc dù giúp đỡ anh em sung sướng bao nhiêu đi nữa, nếu con để họ thành" bộ máy tự động", con chưa làm cho họ phát triển thực sự (ÐHV. 586).
- Chấp nhận những người chỉ biết nằm, biết ngồi, chỉ muốn lẻo đẽo đi theo, muốn được giúp, được cứu, được cho, để con được làm ảnh tượng, được luôn luôn cần thiết, thực dễ vô cùng! Nhưng con hãy luyện những con người trách nhiệm, những con người muốn đứng, những con người đáng làm người (ÐHV. 592).
Thực là khó! Nhưng con phải quyết tâm giúp cho người khác:
Nói tóm lại, Hy vọng là sức mạnh thúc đẩy chúng ta làm chứng về nổ lực dấn thân phát triển con người toàn diện.
* Phúc âm
"Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" (Mt 28, 18).
- Hội thánh phục vụ bằng cách Phúc âm hoá chính mình để rồi Phúc âm hoá xã hội. Không phải để lôi kéo người ta vào đạo, nhưng để giá trị của Phúc âm soi rọi cho chúng ta sống tốt đẹp hơn.
Văn hào B. Pascal đã nói : "Khi tôi hiểu biết Thiên Chúa thì tôi cũng đã hiểu biết chính mình tôi". Vì sao? Vì ý Thiên Chúa dựng nên tôi làm con Ngài, cao sang tốt đẹp hơn muôn phần, và những con người khác quanh tôi cũng cao cả như vậy.
Phúc âm là Lời đem đến ơn phúc, lời từ Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. Lời đó, vâng theo ý Chúa Cha, để làm một việc là yêu thương con người, và yêu thương đến độ hy sinh mạng sống mình.
Kitô hữu chúng ta không có con đường nào để chọn, nguồn sinh lực nào để múc lấy, mẫu mực nào để bắt chước, mục tiêu nào để đạt được ngoài Ðức Giêsu Kitô, được trao lại cho chúng ta qua các nội dung của Phúc âm.
Ðức Giêsu Kitô là lời làm thân xác, ở giữa chúng ta, không phải là lời nói suông nhưng là một con người, một cuộc sống.
Ra đi rao truyền Phúc âm là nghĩa vụ thiết yếu của Kitô hữu và Giáo hội, trước hết là toả lan ánh sáng yêu thương, tinh thần hy sinh, phục vụ người anh em, kể cả kẻ thù mình, như Chúa Kitô đã thực hiện.
- Con chỉ có một Nội qui: Phúc âm. Ðó là hiến pháp trên tất cả mọi hiến pháp. Là Hiến pháp Chúa Giêsu đã để lại cho các tông đồ; không khó khăn, phức tạp, gò bó như các hiến pháp. Ngược lại linh động, nhân hậu, làm phấn khởi linh hồn con.
Một vị thánh ngoài Phúc âm là "thánh giả" (ÐHV. 986).
- Quả tim con phải rộng đủ để chức đựng và rung nhịp với tất cả chương trình Phúc âm hoá của Hội thánh (ÐHV. 331).
Khi chiếu sáng Phúc âm chung quanh ta là ta làm tông đồ.
- "Tông đồ bằng hy sinh và thinh lặng" như hạt lúa chôn vùi, nát thối để sinh muôn ngàn hạt khác nuôi nhân loại.
"Tông đồ bằng chứng tích". Lời quả quyết suông không đáng người ta tin tưởng mấy, dù ngọt ngào trau chuốt đến đâu.
Tang vật đáng tin hơn.
Hình ảnh chụp được, tiếng nói ghi âm được, càng dễ đánh động người ta hơn.
Nhưng chính con người sống động bằng xương thịt, nếu cả cuộc sinh hoạt, nếu cả một lớp người, một lớp gia đình cùng sống một lý tưởng, thì chứng tích ấy có một sức mạnh thuyết phục lớn lao biết chừng nào! (ÐHV. 332).
- Bí quyết công cuộc tông đồ trong thời đại ta:
Tông đồ giáo dân! (ÐHV. 335).
Thật thế, tại ngay Rôma nầy, trong ba năm qua, từng ngàn giáo dân tình nguyện làm "thừa sai đô thị", thăm viếng, mang tặng Phúc âm đến từng gia đình trong giáo phận.
- Ðường lối của tông đồ thời đại ta:
* Ở giữa trần gian
* Không do trần gian
* Nhưng cho trần gian
* Với phương tiện của trần gian (ÐHV. 340)
(Còn tiếp)
Kính chuyển
Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 81 = TOI LA MOT TOI NHAN PDF Print E-mail

 

 

From: Tinh Cao
To: tinh cao
Sent: Sunday, September 22, 2013 7:28 PM
Subject: DTC Phanxico - Toi la mot toi nhan...

1- Jorge Mario Bergoglio là ai?

Tôi hỏi thẳng Đức Giáo Hoàng Phanxicô rằng: "Jorge Mario Bergoglio là ai?" Ngài chăm chăm nhìn vào tôi một cách trầm lặng. Tôi hỏi ngài xem tôi có được hỏi ngài câu này hay chăng. Ngài gật đầu và trả lời rằng: "Tôi không biết phải diễn tả làm sao cho thích đáng nhất đây... Tôi là một tội nhân. Đó là một định nghĩa chính xác nhất. Nó không phải là một lời nói bóng gió, một thứ văn chương. Tôi là một tội nhân".

Đức Giáo Hoàng tiếp tục chia sẻ và tỏ ra tập trung vào vấn đề như thể ngài không ngờ về một câu hỏi như thế, như thể ngài bị bắt buộc phải chia sẻ thêm. "Đúng thế, có lẽ tôi có thể nói rằng tôi hơi khéo léo một chút, rằng tôi có thể thích ứng với các hoàn cảnh mà nói, thế nhưng tôi cũng thật sự là hơi ngây ngô thẳng thắn. Phải đấy, thế nhưng cái tóm gọn đúng nhất, cái xuất phát từ trong lòng và tôi cảm thấy đúng nhất là thế này: Tôi là một tội nhân được Chúa đoái thương". Và ngài lập lại rằng: "Tôi là một kẻ được Chúa đoái thương. Tôi luôn cảm thức được câu tâm niệm của mình, Miserando atque Eligendo (vì thương mà chọn) là những gì rất đúng với tôi".

Câu tâm niệm này được lấy từ các Bài Giảng của tác giả Bede the Venerable, vị viết trong phần dẫn giải của mình về câu truyện Phúc Âm liên quan đến việc Thánh Mathêu được Chúa Giêsu kêu gọi: "Chúa Giêsu đã trông thấy một người thu thuế, và vì Người nhìn anh ta bằng những cảm xúc yêu thương nên đã chọn anh ta, Người đã nói cùng anh ta rằng: 'Hãy theo Ta'". Đức Giáo Hoàng còn thêm: "Tôi nghĩ động danh từ Latinh miserando này không thể dịch sang cả tiếng Ý lẫn tiếng Tây Ban Nha. Tôi thích dịch nó bằng một động danh từ (gerund) khác vốn không có, đó là misericordiando ('mercy-ing' - việc thương xót)".

Đức Giáo Hoàng tiếp tục chia sẻ mà nói, khi nhẩy qua một đề tài khác: "Tôi không biết rõ về Rôma. Tôi biết một ít điều thôi. Những điều này bao gồm Đền Thờ Đức Bà Cả; tôi thường đến đó. Tôi biết Đền Thờ Đức Bà Cả, Đền Thờ Thánh Phêrô... thế nhưng khi tôi cần phải đến Rôma thì tôi bao giờ cũng ở (vùng lân cận) của Via della Scrofa. Từ đó, tôi thường viếng thăm Nhà Thờ Thánh Louis Pháp Quốc và tôi đến đó để chiêm ngưỡng bức họa liên quan đến 'Ơn Gọi của Thánh Mathêu' của Caravaggio.

"Ngón tay của Chúa Giêsu chỉ vào Thánh Mathêu. Tức là tôi. Tôi cảm thấy như ngài". Đến đây Đức Giáo Hoàng trở nên quyết liệt, như thể ngài cuối cùng đã thấy được hình ảnh ngài đã tìm kiếm: "Chính cử chỉ của Thánh Mathêu đã tác động tôi: Ngài giữ lấy tiền của ngài như muốn nói rằng 'Không, không phải là tôi! Không, tiền bạc này là của tôi'. Đấy, tôi đó, một tội nhân đã được Chúa hướng nhìn tới. Và đó là những gì tôi đã nói khi các vị hỏi tôi rằng tôi có chấp nhận được tuyển bầu làm giáo hoàng hay chăng". Bấy giờ vị giáo hoàng này đã thầm thỉ bằng tiếng latinh rằng: "Tôi là một tội nhân, nhưng tôi tin vào tình thương vô biên và nhẫn nại của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng tôi, và tôi chấp nhận bằng tinh thần thống hối".

2- Tại sao ngài lại trở thành một tu sĩ Dòng Tên?
Tôi tiếp tục: "Tâu Đức Thánh Cha, cái gì đã khiến ngài chọn gia nhập Dòng Chúa Giêsu? Cái gì đã đánh động ngài về Dòng Tên?" "Tôi đã muốn một cái gì hơn nữa. Thế nhưng tôi không biết đó là cái gì. Tôi đã nhập chủng viện của địa phận. Tôi thích anh em tu sĩ Dòng Đa Minh và tôi có bạn bè Đa Minh. Thế nhưng tôi đã chọn Dòng Chúa Giêsu là dòng tôi đã biết rõ vì chủng sinh được ủy thác cho các Cha Dòng Tên. Có 3 điều đặc biệt đánh động tôi về Dòng này, đó là tinh thần truyền giáo, cộng đồng và kỷ luật. Và đó mới là điều lạ, vì tôi là một con người thật thật là phi kỷ luật. Thế nhưng, kỷ luật của họ, cách thức họ điều hành giờ giấc của họ - những điều ấy đã đánh động tôi rất nhiều.

"Rồi còn một điều nữa thật sự là quan trọng đối với tôi, đó là cộng đồng. Tôi luôn luôn tìm kiếm một cộng đồng. Tôi không coi tôi như là vị linh mục một mình. Tôi cần một cộng đồng. Và cha có thể thấy điều này nơi sự kiện tôi ở Nhà Thánh Matta đây. Vào thời điểm mật nghị hồng y bầu giáo hoàng, tôi đã ở Phòng 207. (Phòng bè được phân chia bằng việc rút thăm). Phòng mà giờ đây chúng ta ở là một phòng khách. Tôi đã chọn sống ở đây, tại Phòng 201, vì khi tôi lấy căn giáo hoàng thất thì trong bản thân mình tôi đã nghe rõ một tiếng 'đừng'. Căn giáo hoàng thất ở Tông Dinh không sang trọng lộng lẫy gì. Nó cũ kỹ, được trang hoàng đẹp đẽ và rộng rãi, nhưng không sang trọng lộng lẫy. Thế nhưng, nó ở cuối giống như một cái phễu lộn ngược. Nó lớn và rộng rãi, thế nhưng lối vào lại thật là nhỏ. Người ta chỉ có thể đi vào từng ít một và buồn tẻ, và tôi không thể sống mà thiếu dân chúng. Tôi cần sống cuộc đời mình với những người khác".

3- Một tu sĩ Dòng Tên làm Giám Mục Rôma có nghĩa là gì?

Tôi hỏi Đức Giáo Hoàng Phanxicô về sự kiện ngài là tu sĩ Dòng tên đầu tiên được chọn bầu làm giám mục Rôma rằng: "Đức Giáo Hoàng hiểu như thế nào về vai trò phục vụ giáo hội hoàn vũ mà ngài đã được kêu gọi để thực hiện theo chiều hướng của linh đạo I Nhã (Ignatio)? Việc một tu sĩ Dòng Tên được chọn làm giáo hoàng có nghĩa là gì? Yếu tố nào trong linh đạo I Nhã có thể giúp ngài sống thừa tác vụ của ngài?"

Ngài trả lời rằng: "Nhận thức. Nhận thức là một trong những điều đã tác động nội tâm của Thánh I Nhã. Đối với thánh nhân thì nó là một khí giới của một cuộc gắng gỏi để nhận biết Chúa và theo Người chặt chẽ hơn. Tôi luôn bị đánh động bởi một câu nói diễn tả cái nhãn quan của Thánh I Nhã, đó là câu: non coerceri a maximo, sed contineri a minimo divinum est ("không bị hạn chế bởi những gì vĩ đại nhất mà vẫn được chất chứa trong những gì bé mọn nhất - đó là thần linh"). Tôi đã nghĩ rất nhiều về câu này liên quan đến vấn đề các vai trò khác nhau trong việc quản trị giáo hội, về việc trở thành bề trên của một ai khác: vấn đề quan trọng ở đây là đừng bị hạn chế bởi một khoảng rộng lớn mà vẫn cần phải có thể ở trong những khoảng hạn hẹp. Nhân đức về những gì lớn nhỏ này là nhân đức cao thượng đại lượng. Nhờ cao thượng đại lượng chúng ta mới luôn có thể nhìn về chân trời từ vị trí chúng ta đang ở. Nghĩa là có thể thực hiện những điều ti tiểu hằng ngày bằng một con tim to lớn hướng về Thiên Chúa và về người khác. Nghĩa là có thể cảm nhận được những gì nhỏ bé bên trong những chân trời rộng lớn, những chân trời của vương quốc Thiên Chúa.

Đức Giáo Hoàng nói tiếp: "Câu tâm niệm này cống hiến cho chúng ta những yếu tố để có thể cho rằng mình nắm bắt được nhận thức, để nghe những gì về Thiên Chúa theo 'quan điểm' của Thiên Chúa. Theo Thánh I Nhã, những đại nguyên tắc cần phải được thể hiện nơi các hoàn cảnh về nơi chốn, thời gian và nhân sự. Theo cách thức riêng của mình, Đức Gioan XXIII đã thích ứng thái độ này với việc quản trị giáo hội, khi ngài lập lại câu tâm niệm 'Hãy nhìn xem tất cả mọi sự; hãy hướng con mắt mù lòa về phần đông; hãy điều chỉnh cái chút xíu'. Đức Gioan XXIII đã thấy tất cả mọi sự, thấy cái chiều kích tối đa, thế nhưng ngài chỉ muốn điều chỉnh một chút ít, chiều kích tối thiểu. Ông có thể có những đại dự phóng và thực hiên chúng bằng một chút những cái nhỏ mọn nhất. Hay ông có thể dùng phương tiện yếu kém tác hiệu hơn là những phương tiện hùng hậu, như Thánh Phaolô cũng đã nói ở trong Thư Thứ Nhất của ngài gửi Giáo Đoàn Corintô.

"Cái nhận thức này cần đến thời gian. Chẳng hạn, nhiều người nghĩ rằng các thứ thay đổi và canh tân cải cách có thể xẩy ra trong vòng một thời gian ngắn. Tôi tin rằng chúng ta luôn luôn cần thời gian để đặt nền móng cho các đổi thay thực sự hiệu nghiệm. Và đó là thời gian của việc nhận thức. Trái lại, đôi khi việc nhận thức thôi thúc chúng ta thực hiện chính xác những gì ông nghĩ ngay từ đầu ông cần phải làm gì sau đó. Và đó là những gì đã xẩy ra cho tôi trong những tháng vừa qua. Việc nhận thức bao giờ cũng cần phải thực hiện trước nhan Chúa, khi nhìn vào các dấu chỉ, khi lắng nghe những gì xẩy ra, cảm thấy dân chúng, nhất là người nghèo. Những chọn lựa của tôi, bao gồm những chọn lựa liên quan tới các khía cạnh sống hằng ngày, như việc sử dụng một cái xe bình dân, đều liên hệ tới một thứ nhận thức thiêng liêng có thể đáp ứng một nhu cầu nào đó xuất phát từ việc nhìn vào các sự vật, vào dân chúng cũng như từ việc thấy được các dấu chỉ thời đại. Việc nhận thức trong Chúa là những gì hướng dẫn tôi về đường lối tôi quản trị.

"Thế nhưng, tôi bao giờ cũng thận trọng về các quyết định vội vàng thực hiện. Tôi bao giờ cũng thận trọng về quyết định đầu tiên của mình, tức là về điều đầu tiên đến trong đầu của tôi nếu tôi cần phải đi đến quyết định. Đây thường là một điều sai lầm. Tôi cần phải chờ đợi và thẩm định, nhìn sâu xa vào bản thân mình, trong một thời gian cần thiết. Sự khôn ngoan của việc nhận thức là những gì bù đắp lại cho cái mập mờ cần thiết trong đời sống, và giúp cho chúng ta tìm thấy phương tiện thích đáng nhất, cái mà không phải bao giờ cũng trùng hợp với những gì có vẻ vĩ đại và hùng tráng".

(còn tiếp)

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tạp chí America của Dòng Tên

 
HOC HOI DE SONG DAO # 80 = TÔNG THU "CUA DUC TIN PDF Print E-mail

 

- PHẦN III NGÀY ĐÁNG GHI NHỚ - Cha Trầm Phúc

ĐỌC TÔNG THƯ TỰ SẮC "CỬA ĐỨC TIN"
(Porta Fidei)
PHẦN III
NGÀY ĐÁNG GHI NHỚ

Ngày 11.10.2012, Khai mạc Năm Đức Tin.
Kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng Vatican II,
Kỷ niệm 20 năm ngày ra đời của Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo.
Công đồng Vatican II và sách giáo lý của Hội thánh Công giáo:
· Là hai biến cố quan trọng của Giáo hội thế kỷ XX.
· Là kho tàng quý báu của Giáo hội cho thế hệ sau này. Chúng ta có dịp học hỏi sâu rộng hơn về hai kho báu này trong Năm Đức Tin.
· Trong năm 2012 còn một biến cố quan trọng khác đánh dấu một bước đường mới của Giáo hội là Thượng Hội đồng Giám mục nghiên cứu về đề tài: tái truyền giảng Tin Mừng để thông truyền đức tin Kitô.
Đức Thánh Cha xem đây như "một dịp thích hợp để toàn thể cộng đoàn Giáo hội tiến vào một thời điểm để:
· Đặc biệt suy tư
· Và tái khám phá đức tin (số 4)
Con cái của Giáo hội phải xem những biến cố này như một nhịp sống của gia đình mình, liên hệ đến đời sống và hạnh phúc của chính mình. Theo dõi và đồng nhịp học hỏi những gì có thể. Đây không phải là những gì của cấp trên mà là những biến cố gắn liền với cuộc sống của mình.
Năm Đức Tin 1967
Đức Thánh Cha nhắc lại Năm Đức Tin 1967 - kỷ niệm 1900 năm thánh Phêrô và Phaolô tử đạo do Đức Phaolô VI đề xướng, để chứng tỏ rằng Ngài tiếp nối công trình của Đấng tiền nhiệm.
Năm Đức Tin 1967 đã là một giai đoạn quan trọng sau Công đồng. Năm nay, 45 năm sau, công trình ấy được tiếp nối bằng một Năm Đức Tin nữa, để thấy rằng sự sống của Giáo hội vẫn là một, là một sự tăng trưởng được tiếp nối qua thời gian, không đứt đoạn.
Năm Đức Tin 1967
· Nhằm giúp toàn thể Giáo hội có một sự tuyên xưng đức tin một cách đích thực và chân thành "như hai thánh Phêrô và Phaolô đã tuyên xưng bằng cái chết của các ngài".
· Nhằm củng cố và tái ý thức chính xác về đức tin để làm cho đức tin được tái sinh động, và thanh tẩy để tuyên xưng đức tin" (số 4) trước thế giới.
Đức Phaolô VI "đã kết thúc Năm Đức Tin với Bản Tuyên Xưng Đức Tin của Dân Chúa để làm chứng rằng các nội dung thiết yếu (của đức tin) là gia sản của mọi tín hữu đang cần được
· Củng cố
· Hiểu biết
· Và đào sâu một cách ngày càng mới mẻ để làm chứng trong thế giới hôm nay. (số 4)
Tất cả hướng về việc làm chứng và tuyên xưng. Đây chính là một đòi buộc gắt gao đối với mọi tín hữu. Đức tin là một hồng ân, một gia sản cần được bảo vệ, củng cố và loan truyền. Hồng ân này không dành riêng cho một số người mà cho mọi người vì "ý muốn của Chúa Cha là cứu vớt hết mọi người". Lãnh nhận hồng ân đức tin là lãnh nhận một trách nhiệm lớn: "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" tức là không rao truyền đức tin.
Đức tin không là của riêng ai, mà của mọi người. Chúa đã thương ban cho chúng ta hồng ân tuyệt diệu đó, chúng ta không thể dành riêng cho mình, phải trao cho anh em chúng ta, những người chưa được hạnh phúc biết Chúa.
Dụ ngôn những nén bạc ông chủ trao cho các đầy tớ cho chúng ta hiểu rằng, nén bạc phải được sử dụng đúng mức, phải sinh lợi, không được đem chôn để giữ nó nguyên vẹn. Bao lâu chung quanh ta còn những người chưa biết Chúa, nghĩa vụ của chúng ta vẫn còn.
Tin vào Chúa một mình là một điều vô nghĩa. Muối phải tan đi để thấm vào thực phẩm. Ánh sáng phải được đặt trên giá đèn. Chúng ta, những kẻ tin có bổn phận "đào sâu" vào kho tàng đức tin. Kho tàng đức tin chính là Giêsu Kitô, niềm hy vọng và vinh quang của mọi kẻ tin. "Chúa Giêsu Kitô là trung tâm của vũ trụ, của lịch sử, của văn hóa, của vận mệnh nhân loại, của ơn cứu độ." (Phaolô VI)
"Chúa Giêsu Kitô ở chóp đỉnh của mọi ước vọng nhân loại, là điểm cuối cùng của niềm hy vọng và lời cầu nguyện của chúng ta." (Phaolô VI). Không ai có thể thay thế Ngài được chỉ có Ngài thôi. Đào sâu vào Ngài, vào Lời hằng sống của Ngài. Đó chính là nhiệm vụ cao đẹp nhất và là hạnh phúc của những kẻ tin. Gắn bó thực sự với Ngài, chúng ta mới có thể "tuyên xưng" Ngài một cách đúng đắn. Việc tuyên xưng của chúng ta mới chân thật. Đào sâu vào Chúa Kitô là công việc được thi hành trong Giáo hội, nhờ Giáo hội.
NĂM ĐỨC TIN 2012
Đức Thánh Cha Bênêdictô dẫn đưa chúng ta bước tới một bước mới trong Năm Đức Tin này là trao phó cho hai kho tàng cần phải khai thác: đó là "những văn kiện Công đồng Vatican II và sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo.
Những văn kiện Công đồng Vatican II, theo Đức Thánh Cha là một gia sản quý báu của Giáo hội, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Giáo hội và của mọi tín hữu. Gia sản ấy là món quà tuyệt hảo của Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội trong thế kỷ XX, nhưng là một món quà có tính cách bền vững qua thời gian, hướng dẫn Giáo hội hôm nay và mai sau. Gia sản này như Đức Thánh Cha nói: "không bị mất giá trị cũng như vẻ tươi sáng" (số 5), vì nó là sản phẩm của Chúa Thánh Thần: "Thánh Thần và chúng tôi quyết định..." (Cv 15, 28)
Đức Thánh Cha cũng nêu rõ; "Nếu chúng ta đọc và đón nhận Công đồng, với sự giải thích đứng đắn, thì Công đồng ngày càng có thể và trở thành sức mạnh lớn để thực hiện sự canh tân Giáo hội ngày càng cần thiết." (số 5)
Lm Trầm Phúc

Kính chuyển
Hồng

 
<< Start < Prev 71 72 73 74 75 76 77 78 79 80 Next > End >>

Page 76 of 101