mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay931
mod_vvisit_counterHôm Qua9925
mod_vvisit_counterTuần Này38948
mod_vvisit_counterTuần Trước47282
mod_vvisit_counterTháng Này185947
mod_vvisit_counterTháng Trước231247
mod_vvisit_counterTất cả8223091

We have: 89 guests online
Your IP: 54.162.4.139
 , 
Today: Apr 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 30 = CAN NUOI DUONG NAM DUC TIN PDF Print E-mail

NHÂN NĂM ĐỨC TIN, CẦN NUÔI DƯỠNG VÀ SỐNG ĐỨC TIN THẾ NÀO ?

Như Đức Thánh Cha Bê-nê-đichtô 16 đã quyết định và loan báo, ngày 11 tháng 10 tới đây, Lễ khai mạc Năm Thánh sẽ được Đức Thánh Cha long trọng cử hành tại Công Trường Thánh Phêrô, Rôma. Năm Thánh sẽ chắm dứt ngày 24 tháng 11 năm 2013.

Nhân dịp này, Đại Hội Đồng Giám Mục Thế giới ( Assembly of the Synod of Bishops) sẽ họp phiên thứ 13 thường lệ với chủ đề" Tân Phúc Âm hóa để loan truyền Đức tin Kitô-Giáo".( New Evangelization for the Transmission of the Christian Faith).

Là người tín hữu Chúa Kitô sồng trong thế kỷ 21 này, chúng ta phải canh tân và sống đức tin cách nào để không những mưu ích cho chính mình mà còn mời gọi thêm những người khác chưa biết và tin Chúa Kitô được nhận biết Chúa để cùng hưởng Ơn cứu Chuộc đã mua bằng giá máu Chúa đổ ra trên thập giá năm xưa.

Thật vậy, Đức tin là một quà tặng nhưng không và vô giá ( gratuitous and invaluable) mà Thiên Chúa đã ban để giúp ta nhận biết Người là Cha Toàn năng, Đấng tạo dựng muôn loài muôn vật hữu hình và vô hình. Đặc biệt, Thiên Chúa tạo dựng con người " giống hình ảnh của mình" ( St 1 : 27) và muốn cho " mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1Tm 2 : 8) .

Thiên Chúa tạo dựng và mong muốn cho con người được hạnh phúc chỉ vì tình thương vô vị lợi của Người dành cho tất cả chúng ta, những con người được sinh ra trên trần thế này và có diễm phúc được biết Chúa qua ơn mặc khải mà Chúa Kitô đã cảm tạ Thiên Chúa Cha thay cho chúng ta về quà tặng đức tin quí giá này:

" Lậy Cha là Chúa Tể trời đất , Con xin ngợi khen Cha vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này,nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng lậy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha." ( Lc 10: 21 )

Như thế có nghĩa là nếu Thiên Chúa không tự mặc khải Người ( revealed Himself) cho ai thì không ai có thể tự mình nhận biết có Thiên Chúa và tin yêu Người.

Tại sao những bậc thông thái, khoa học gia biết cắt nghĩa sự hình thành của vũ trụ và mọi qui luật chi phối đời sống của con người và mọi loài động vật , thực vật, và thảo mộc, nhưng lại không khám phá ra được Thiên Chúa là chính Đấng dựng nên mọi loài mọi vật đó ?

Lý do duy nhất để trả lời câu hỏi này là vì họ không được Thiên Chúa mặc khải hay ban quà tặng đức tin vô giá nên họ không thể biết gì về Thiên Chúa với kiến thức tuy rộng lớn đối với con người nhưng lại quá hạn hẹp đối với Thiên Chúa là Đấng thượng trí vô song.

Vậy đối với những ai đã được điễm phúc biết Chúa nhờ đức tin thì phải bồi dưỡng và sống đức tin ấy ra sao đặc biệt trong Năm Đức Tin này ?

1- Trước hết, phải làm gì để bồi dưỡng đức tin cho lớn mạnh thêm nữa ?

Kinh nghiệm đơn sơ của bất cứ người làm vườn (gardener) nào đều cho biết là khi trồng một loại cây trái mới nào, người ta phải lựa giống tốt của cây đó. Nếu là hạt thì phải đặt vào nơi đất đã bón phân sẵn và chờ cho hạt đó nẩy mầm rồi tiếp tục nuôi dưỡng với nước và phân bón thích hợp.Nếu không chăm lo vun tưới đều đặn thì hạt sẽ chết khô trong lòng đất, dù là hạt của giống cây tốt.Nhưng từ lúc hạt nẩy mầm cho đến khi mọc thành cây và sinh hoa trái thì người làm vườn phải tốn nhiều thì giờ và công sức chăm bón mới có kết quả tốt để hưởng dùng.

Cũng tương tự như vậy, đức tin được gieo vào tâm hồn con người như hạt giống được gieo xuống đất.Một em bé , sau khi sinh một hai tháng, được rửa tội để được tái sinh trong sự sống mới.. Nhưng sau khi rửa tội, nếu cha mẹ và thân nhân sống gần em mà không giúp nuôi dưỡng đức tin đó cho em thì chắc chắn khi lớn lên em bé sẽ không thể tự biết gì về Chúa và tin yêu mến Ngài. Do đó, cha mẹ em phải là người trước hết trực tiếp nuôi dưỡng con mình không những về thể lý cho con lớn lên mạnh khỏe mà đặc biệt còn về mặt thiêng liêng để giúp con cái lớn lên trong đức tin đã lãnh nhận khi được rửa tội.Nghĩa là, trong gia đình cha mẹ phải là thầy dạy đức tin cho con mình bằng cách dạy cho con cái biết có Thiên Chúa là Cha nhân lành, yêu thương hết mọi người.Sau nữa, bằng gương sáng trong gia đình, cha mẹ dạy con cái biết đọc kinh, cầu nguyện và đem chúng đi dự lễ chung với mình các ngày Chúa Nhật để được nghe giảng về Chúa.Tiếp theo là cho con cái đi học các lớp giáo lý để lãnh các bí tích Thánh Thể, Hòa Giải và Thêm sức, giúp cho con cái lớn lên trong niềm tin có Chúa.

Khi trẻ đã lớn đủ và những người đã trưởng thành ý thức được mình có đức tin, tin có Thiên Chúa , có sự sống đời đời thì đó là lúc họ cần phải chứng tỏ ý muốn sống đức tin ấy bằng hành động cụ thể. Kinh nghiệm thực tế khác cũng cho biết là khi người ta đã có một kỹ năng( skill) nào như biết bơi, biết lái xe, hay biết chơi một loại nhạc cụ nào như đàn guitar hay piano thì muốn phát triển kỹ năng đó, người ta phải năng luyện tập để đạt mức hoàn hảo chuyên nghiệp.Nếu không thì kỹ năng đó sẽ mai một theo thời gian.Thí dụ, người biết bơi mà không tập luyện mỗi ngày hay mỗi tuần thì không những sẽ không bao giờ bơi giỏi được mà còn mất dần kỹ năng này theo thời gian nữa..

Cũng tương tự như vậy, tin có Chúa vì sinh ra trong một gia đình có Đạo, hay có cảm nghiêm riêng về Thiên Chúa, thì phải tiếp tục bồi dưỡng cho ánh sáng đức tin ban đầu đó được cháy sáng lên trong tâm hồn đến mức đủ soi sáng cho mình bước đi trên con đường dẫn đến sự sống đời đời. Nghĩa là phải bồi dưỡng đức tin ban đầu với cố gắng học hỏi thêm về giáo lý của Giáo Hội, đọc Kinh Thánh để hiểu và sống Lời Chúa và nhất là năng lãnh nhận các bí tích quan trọng như Thánh Thể và Hòa giải để được luôn sống trong tình thân với Chúa. Thêm vào đó, phải siêng năng cầu nguyện luôn, vì " Không có Thầy anh em sẽ chẳng làm gì được." ( Ga 15:5 ).

Không có Thầy nghĩa là không có ơn Chúa phù giúp nâng đỡ thì không ai có thể tự mình lớn lên trong đức tin và có đủ sức để chống lại những yếu đuối của bản năng, nhưng dịp tội đầy rẫy trong môi trường sống và nhất là những cám dỗ của ma quỷ , thù địch của chúng ta luôn ngày đêm rình rập như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." ( 1 Pr 5 : 8)

Vì thế, cẩn thiết phải bồi dưỡng đức tin bằng nỗ lực cá nhân như siêng năng cầu nguyện, đọc Kinh Thánh , giáo lý của Giáo Hội và năng lãnh nhận hai bí tích rất quan trọng là Thánh Thể và Hòa giải để được thánh hóa và lớn lên trong đức tin.

Nhưng cho được sống đức tin cách vững chắc và cụ thể, ta phải ý thức đầy đủ về nội dung và đòi hỏi của niềm tin là phải yêu mến Chúa trên hết mọi sự thể hiện qua quyết tâm xa tránh những gì mâu thuẩn hay đị ngược lại với đức tin có Chúa là cội nguồn của mọi sự tốt lành, thánh thiện, công bình, bác ái, nhân đạo, vị tha. Nghĩa là người có niềm tin nơi Chúa thì không thể cho phép mình làm những sự xấu, sự độc ác như giận ghét, căm thù ai, nói xẩu , vu cáo ai những điều vô bằng cớ, trộm cắp, gian tham, lừa đảo, thay vợ đỗi chồng, cờ bạc, dâm đãng nhất là thâm độc giết hại người khác về thể lý hay tinh thần... Đây là bộ mặt của sự trống vắng niềm tin, khinh chê mọi giá trị tinh thần, luân lý ,đạo đức. Đây là thực chất của xã hội vô luân, vô đạo, của "văn hóa sự chết"( culture of death) đang bành trướng ở khắp nơi trên thế giới ngày nay, đặc biệt là ở những quốc gia tự do quá trớn, tôn thờ chủ nghĩa khoái lạc ( hedonism) tôn thờ phái tính ( sex worship) tôn thờ vật chất, tiền bạc, và mọi vui thú phi luân, vô đạo như thực trạng ở các nước Âu Mỹ hiện nay.

Ở bên kia thái cực, là bộ mặt của xã hội vô thần, vô tôn giáo, hay nói rõ hơn là thù địch của những ai có niềm tin vào Đấng toàn năng làm chủ vũ trụ và sự sống của con người và của mọi loài động vật, thưc vật và thảo mộc.Thực trạng ở đây còn đáng sợ hơn nữa vì người ta không tin có một Quyền lực thiêng liêng nào thưởng phạt , nên họ mặc sức làm những sự dữ như hà hiếp bóc lột , giết hại những ai chống đối, vơ vết tài sản công để làm giầu cho cá nhân và tập thể cai trị, trong khi quay lưng lại hay dửng dưng trước sự nghèo đói của người dân và suy thoái đạo đức nặng nề của xã hội.

Thêm vào đó, chế độ còn dung dưỡng cho các băng đảng của xã hội đen lộng hành để cướp bóc ,hãm hại người dân lành, cô thân, cô thế.Đây là tội ác mà xã hội dung dưỡng để chất thêm thống khổ lên đầu lên cổ người dân đã phải chịu nhiều tai ương khác của xã hội vô luân, phi nhân, vô đạo.

2- Phải sống đức tin cách nào đặc biệt trong Năm Đức Tin này ?

Sống trong xã hội với các thực trạng trên đây, người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo hơn bao giờ hết phải có can đảm tuyên xưng đức tin của mình bằng đời sống thực sự công bình, bác ái, thánh thiện, xa tránh mọi quyến rũ của xã hội vô luân vô đạo đang lôi kéo con người vào hố diệt vong vì đam mê của cải và mọi vui thú phi luân, nhắm mắt bịt tai trước sự đau khổ, nghèo đói của người khác.Trước thực trạng này, người có đức tin –và đặc biết sống đức tin ấy trong Năm Đức Tin này- cần nêu cao những giá trị của niềm tin vào Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian để vạch rõ con đường dẫn đến sự sống và con đường đưa đến hư mất đời đời , như Chúa đã dạy sau đây:

"Hãy qua cửa hẹp mà vào vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong mà nhiều người lại đi qua đó.Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy." ( Mt 7: 13-14)

Con đường rộng rãi thênh thang mà nhiều người muốn đi và đang đi là con đường của văn hóa sự chết, con đường đưa đến các sòng bạc, nhà điếm, nơi giải trí với mọi thú vui vô luân vô đạo, con đường tham nhũng , ăn cắp của công , bóc lột và bách hai người dân lành vô tội để làm giầu cho cá nhân và tập đoàn thống trị gian ác, đang vơ vét tiền của để gửi ra nước ngoài phòng thân. Đó cũng là con đường của bọn tài phiệt tư bản chuyên thao túng thị trường chứng khoán để vơ vét tài sản của bao người đầu tư và thua lỗ vì những kỹ thuật tinh vi của bọn cầm đầu kỹ nghệ xảo quyệt này.

Vì thế, đứng trước một thế giới gian tà từ Đông sang Tây hiện nay, người tín hữu Chúa Kitoo,-cách riêng người có sứ mạng rao giảng chân lý đức tin và tin Mừng Cứu Độ-hơn lúc nào hết phải có can đảm mạnh mẽ bênh vực cho sự thật, cho công bình xã hội và lành mạnh hóa con người để chống lại những suy thoái, tụt hậu của xã hội về mặt luân lý ,đạo đức.Nếu làm ngơ, - hay tệ hại hại hơn nữa- thỏa hiệp với kẻ cầm quyền để mưu cầu tư lợi cho mình và bịt tai nhắm mắt trước mọi bất công, sự dữ, thì đã tự đánh mất niềm tin và chức năng thiêng liêng của người ngôn sứ trong hoàn cảnh cụ thể của xã hội đương thời. Mặt khác, sống đức tin cách hữu hiệu và có sức thuyết phục người khác thì cũng không cần thiết phải xây thêm hay sửa sang nhà thờ, nhà xứ cho khang trang lộng lẫy khiến phải lặn lội đi xa một năm mấy lần để kiếm tiền. Điều tối cần và quan trọng là phải có và sống tinh thần nghèo khó của Phúc Âm để noi gương Chúa Kitô, "Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." ( 2 Cor 8: 9)

Người phục vụ cho Tin Mừng mà không noi gương Chúa Kitô trong cuộc sống thì không thể làm gương đức tin cho ai và thuyết phục được ai tin và thực hành những điều mình giảng dạy cho người khác nhân danh Chúa Kitô.

Về phần người tín hữu Chúa Kitô, người Công giáo chân chính cũng phải làm gì cụ thể để phân biệt mình với những kẻ không có niềm tin, chỉ biết sống với vui thú hiện tại và không thắc mắc gì về một tương lai mai hậu, khi mà mọi sự ở đời này sẽ mau chóng trôi qua kể cả sự sống của con người có hay không có niềm tin nào.

Nếu người có đức tin dám can đảm sống đức tin của mình cách dũng cảm là xa lánh mọi thói hư tật xấu của xã hội như cờ bạc, lường đảo, dâm ô và vui chơi sa đọa , nhẩy nhót, hút xách,.. thì đã nêu cao giá trị của niêm tin trước mặt người đời. Ngược lại, nếu người có đức tin mà cũng a dua với kẻ không có niềm tin để cùng nhau làm những việc vô luân ,vô đạo, như gian tham ,trộm cắp, lương gạt, bất công và bóc lột người khác, vô liêm sỉ , vô lương tâm bỏ vợ già để cưới vợ trẻ, "bồ nhí", thì chắc chắn họ đã chối bỏ đức tin của mình bằng chính đời sống cụ thể trước mặt người khác. Và như thế thì dù họ có kêu cầu ngoài môi miệng " Lậy Chúa, lậy Chúa! cả trăm ngàn lần thì cũng vô ích mà thôi ! đúng như lời Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa như sau:

" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : lậy Chúa !, Lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)

Trong mấy ngày qua, theo dõi tình hình thế giới, chúng ta thấy những người Hồi Giáo đã rầm rộ biểu tình chông Mỹ ở các quốc gia Hồi Giáo chỉ vì một cuốn phim chế riễu Mohammad được sản suất ở Mỹ và trình chiếu trên trang mạng Facebook, Youtube.Có thể chúng ta không đồng ý về cách thức phản kháng của anh em Hồi Giáo, nhưng chúng ta phải khen họ về thái độ hăng say bênh vực cho tôn giáo của họ , tuy đó là hình thức khá khích và bạo động không nên làm.

Anh em Hồi Giáo hăng say bảo vệ tôn giáo của họ như vậy, còn chúng ta thì sao ? Chắc chắn chúng ta không được mong đợi phải xuống đường để đánh phá những ai nhạo bang Thiên Chúa của chúng ta, nhưng chúng ta được mong phải đợi sống đức tin cách cụ thể bằng tư tưởng và hành động, bằng việc bác ái vị tha, và nhậy cảm (sensitive) trước sự đau khổ, nghèo đói của người khác. Đồng thời, phải xa tránh mọi điều gian ác, tội lỗi, xấu sa của những kẻ không có niềm tin hay có mà không dám sống niềm tin ấy trước mặt người đời.

Ai không có can đảm sống niềm tin của mình trước mặt người khác, thì hãy nghe lại Lời Chúa Giêsu đã nói với đám đông xưa như sau:

" Giữa thế hệ ngoại tình và tội lỗi này, ai hổ thẹn vì Ta và những lời Ta dạy, thì Con Người ( tức Chúa Giêsu) cũng sẽ hổ thẹn vì kẻ ấy, khi Người ngự đến cùng với các thánh thiên thần trong vinh quang của Cha Người." ( Mc 8: 38)

Như thế có nghĩa là chúng ta phải có can đảm tuyên xưng đức tin bằng chính đời sống của mình giữa bao người khác để làm nhân chứng đích thực cho Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian làm Con Người để hiến mạng sống mình "làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28)

Tóm lại, Năm Đức Tin là thời điểm thuận lợi để mỗi người tín hữu chúng ta dừng chân để nhìn lại cách sống đức tin của mình trong bao năm qua để canh tân lại những gì còn thiếu sót, cần đổi mới cho thích hợp.Cụ thể, nên học hỏi kỹ lời Chúa trong Kinh Thánh và các tài liệu giáo lý, tín lý, thần học của Giáo hội để bồi dưỡng thêm cho đức tin được vững mạnh thêm nữa hầu có sức để đương đầu với những thách đố của thời đại trống vắng niềm tin. Hơn thế nữa, đây cũng là thời gian thuận lợi để chúng ta lập lại quyết tâm sống đức tin vào Chúa Kitô cách cụ thể và sống động hơn nữa để giữa bao người không có đức tin và đang làm những sự xấu, sự gian ác, chúng ta phải sống sao cho phù hợp và xứng đáng với lời khuyên dạy của Thánh Phaolô sau đây:

" Như thế, anh em sẽ trở nên trong sạch , không ai chê trách được điều gì và sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa giữa một thế hệ gian tà sa dọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời." ( PL 2: 15)

Ước mong mọi người tín hữu chúng ta suy gẫm và thực hành lời dạy trên đây của Thánh Phaolô trong Năm Đức Tin này.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 29 = KINH THANH DANH CHUA PDF Print E-mail

ĐIỀU RĂN THỨ HAI : KÍNH THÁNH DANH CHÚA

Hỏi : xin cha giải thích rõ tội phạm điểu răn Thứ Hai của Chúa

Trả lời : Là người tín hữu Công giáo, ai cũng thuộc lòng điều răn thứ hai cấm kêu tên Chúa vô cớ. Tại sao như vậy ?

Câu trả lời là chính Thiên Chúa đã truyền cho dân Do Thái qua miêng ông Mô-sê mệnh lệnh sau đây:

" Ngươi không được dùng danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi một cách bất xứng, vì Thiên Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người cách bất xứng." ( x Xh 20: 7 ; Đnl 5: 11)

Nhưng thế nào là dùng Danh Chúa cách bất xứng ?

Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cần nhớ lại sự kiện Thiên Chúa tỏ mình cho ông Mô-Sê từ bụi cây bốc cháy và truyền cho ông sứ mạng dẫn đưa dân Do Thái từ Ai Cập trở về quê hương sau bao năm sống nô lệ và thống khổ trên đất Ai Cập. Ông Mô Sê , trước hết, đã ngần ngại, không dám nhận làm việc đó, nên đã hỏi tên Chúa để có cớ nói với dân và Chúa đã trả lời ông như sau:

" Ta là Đấng Tự Hữu. Ngươi hãy nói với con cái Ỉsrael thế này: " Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Ap-ra ham, Thiên Chúa của I xa-ac, Thiên Chúa của Gia-cóp sai tôi đến với anh em. Đó là Danh Ta cho đến muôn thủa. Đó là Danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời này đến đời kia." ( x.Xh 3 : 14-15)

Như thế, Danh của Thiên Chúa là Đức Chúa, Đấng Tự hữu đã mặc khải cho ông Mô-Sê để nói lại cho dân Do Thái trước tiên và cho hết mọi người , mọi dân trên trần thế này được biết để tôn thờ, tôn kính đến muôn đời.

Tác giả Thánh Vinh 29 và 113 đã ca tụng Danh Thánh Chúa như sau :

" Hãy dâng Chúa vinh quang xứng Danh Người

Và thờ lậy Chúa uy nghiêm thánh thiện." ( Tv 29: 2)

Hoặc :

" Ha-lê-luia !

Hởi tôi tớ Chúa, hãy dâng lời ca ngợi'

Nào ca ngợi Danh thánh Chúa đi

Chúc tụng Danh thánh Chúa.

Tự bậy giờ cho đến mãi muôn đời." ( Tv 113: 1-2)

Do đó, tôn kinh Thánh Danh Chúa cũng thuộc về nhân đức thờ phượng Chúa trên hết mọi sự như nội dung điều răn Thứ Nhất dạy ta.

Giáo lý của Giáo Hội dạy như sau về việc kính Thánh danh Chúa:

" Trong số các lời của Mặc Khải, có một lời rất đặc biệt : đó là lời Mặc khải Danh Thánh của Thiên Chúa qua đó Thiên Chúa cho con người biết Danh của Ngài.Nghĩa là Thiên Chúa tự mặc khải mình cho những ai tin Người trong mầu nhiệm riêng tư về Người. Danh thánh của Thiên Chúa là một quà tặng tin cẩn và mật thiết. Danh của Người là thánh, vì thế con người không được lạm dụng Thánh Danh của Thiên Chúa, mà phải yêu mến tôn thờ trong tâm hồn, và chỉ nhắc đến Danh Thánh Chúa để cảm tạ, ngợi khen và tôn vinh Thánh danh đó mà thôi."( x SGLGHCG số 2143)

Cũng cần nói thêm nữa là Thánh Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đều phải được tôn thờ tôn kính như nhau, vì cùng là Một Thiên Chúa duy nhất mặc dù với Ba Ngôi Vị. Thêm vào đó, cũng phải kinh danh thánh của Đức Mẹ và các thánh Nam nữ , vì các ngài là vinh quang của Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng , thánh hóa và nâng đỡ để các ngài được bước lên bậc hiển thánh trên Nước Trời để cùng với các đạo binh Thiên Quốc ngày đêm chúc tụng, ngợi khen Thiên Chúa đến muôn đời.

Do đó, những hành động hay việc làm sau đây được coi là xúc phạm đến Thánh Danh Chúa :

1- Trước hết là phải có can đảm xưng danh Chúa trước mặt người đời và nhất là trước những kẻ muốn bách hại đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa, vào Chúa Kitô, Đấng đã đến trong trần gian làm Con Người để "cứu chuộc cho muôn người". Nghĩa là nếu không dám xưng mình là người tin có Thiên Chúa thì cũng được coi là chối Chúa và xúc phạm đến Danh Thánh của Người trước mặt người khác.Khi được rửa tội, chúng ta được rửa "nhân danh chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" ( Mt 28: 19) Do đó, Người tín hữu Chúa Kitô chân chính mang danh Chúa Ba Ngôi không thể nói ba phải là " Lậy Chúa, lậy Phật, lậy Đấng Mohammed...để muốn làm vui lòng người khác tín ngưỡng với mình. Ta tôn trọng niềm tin của họ nhưng phải có can đảm và hãnh diện tuyên xưng Thiên Chúa là Cha duy nhất của mình trong mọi hoàn cảnh.

2- Nếu nhân danh Chúa để thề hứa với ai điều gì thì phải tôn trọng và thi hành lời hứa đó vì đã lấy Danh Chúa mà hứa với họ. Nếu không tôn trọng lời hứa vì Danh Chúa thì đã coi Chúa là Người nói dối như Thánh Gioan đã dạy như sau :

" Nếu chúng ta nói là chúng ta đã không phạm tội

Thì chúng ta coi Người ( Thiên Chúa) là kẻ nói dối

Và lời của Người không ở trong chúng ta." ( 1 Ga 1 :10)

3- Nói phạm thánh ( blasphemy) là trực tiếp phạm điều răn thứ hai.Tội phạm thánh bao gồm những tư tưởng và lời nói xúc phạm đến Danh Thánh Chúa như những lời giận dữ , oán trách Chúa –hoặc ghê gớm hơn nữa- là nguyền rủa Thiên Chúa chỉ vì một bất mãn, hay tai họa chẳng may gặp phải , khiến mất niềm tin và kính trọng đối với Chúa, như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã nói như sau: '

" Chẳng phải họ nói xúc phạm đến Danh Thánh cao đẹp mà anh em được mang đó sao?" ( Gc 2: 7)

Đó là những kẻ mang danh Chúa, tự nhận mình là người có Đạo của Chúa Kitô nhưng lại làm hoặc tham gia vào những việc tỗi lỗi như ức hiếp, bóc lột tra tấn người khác, buôn bán dâm ô, cần sa ma túy, làm chứng gian cho người khác thay vợ đổi chồng, lường gạt trộm cướp...Người Kitô-hữu Công giáo mà làm những việc vô luân vô đạo này thì chắc chắn sẽ khiến cho người khác thù hận tôn giáo của mình và căm thù cả Đấng mà mình mang Danh Thánh là Chúa Kitô. Đây là tội phạm thánh rất nghiêm trọng phải tránh cho được xứng đáng là người tin yêu Chúa Kitô sống giữa những người không chia sẻ cùng niềm tin với mình, giữa những kẻ gian ác vì không có niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành, công bình và đầy yêu thương.

Cũng được kể là tội phạm thánh khi nói hay có hành động xúc phạm đến Đức Mẹ và các thánh như quăng ảnh tượng Đức Mẹ và thánh nam nữ nào vào thùng rác hay lấy chân đạp lên các thánh tượng đó.Đặc biệt ai lấy Mình Thánh Chúa đem về nhà để làm chuyện mê tín nào đó thì cũng là hành động phạm thánh nghiêm trọng.

4- Tội bội thệ ( perjury) là tội xúc phạm đến Thanh Danh Chúa vì cố ý tuyên thệ để làm chứng một việc gian dối hay phủ nhận một lỗi nặng của chính mình trước luật pháp xã hội. Bội thệ cũng cố ý hứa với ai điều gì nhưng cố ý không thi hành lời đã thề hứa nhân danh Chúa.Do đó, người "bội thệ" không những có lỗi nặng đối với luật pháp xã hội mà còn lỗi phạm đến Thiên Chúa là Đấng công bình và chân thật tuyệt đối nữa .

Chúa Giêsu đã ngăn cấm việc bội thệ như sau :

" Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: chớ bội thệ, nhưng hãy giữ trọn

Lời thề với Thiên Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : đừng thề chi cả.

....hễ có thì nói "có",không thì phải nói " không".Thêm thắt điều gì là do ác quỷ." ( Mt 5 : 33,37)

Như thế đủ cho thấy bội thệ là một tội trọng đối với người tín hữu Chúa Kitô vì đã lạm dụng Thánh danh Chúa để làm chứng cho việc gian dối, lỗi đức công bằng và bảo vệ chân lý .

mà mình phải tuân giữ để xứng đáng là người mang Thánh Danh Chúa như Thánh Chúa Kitô đã dạy

5-Thề gian ( false oaths) cũng là một hình thức bội thệ vì đã cố ý che dấu sự thật về việc mình hay kẻ khác đã làm để mong tránh hình phạt của xã hội . Người tín hữu Chúa Kitô ,khi giơ tay thề gian với ai, đã mang Thánh Danh Chúa ra làm chứng cho sự gian dối, hay tội đã phạm, cho nên đã xúc phạm đến Thánh Danh Chúa cách nghiêm trọng. Nhưng ngược lại, nếu lấy Danh Chúa mà thề để bênh vực cho sự thật , sự ngay chính của mình trước kẻ tố cáo gian vì tư lợi, tư thù thì đã nhân danh Chúa để bênh vực cho sự thật và lẽ phải , nên không có lỗi gì liên quan đến Điều răn thứ hai, cấm kêu tên Chúa vô cớ.

Nói khác đi, lời thề chính đáng là sự kêu cầu danh Chúa để làm chứng cho sự thật. Nghĩa là chỉ được thề khi phải bênh vực cho lẽ phải và sự công chính mà mình muốn nhằm tới qua lời thề mà thôi.

Tóm lại, Danh Chúa là thánh.Danh Đức Mẹ và các Thánh cũng là thánh.Danh xưng là tín hữu Chúa Kitô, kể cả tên Thánh bổn mạng lãnh nhận khi được rủa tội cũng là thánh.

Do đó, khi xử dụng Danh Thánh của Chúa hay của Đức Mẹ và các Thánh kể cả danh xưng mình là tín hữu Chúa Kitô vào những mục đích bất xứng như đã kể trên đây thì đều lỗi phạm điều răn thứ hai cấm dùng Danh Thánh cách bất xứng.

Ước mong giải đáp này thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 28 = NGUOI TIN HUU CHUA KITO... PDF Print E-mail

NGUỜI TÍN HỮU CHÚA KITÔ PHẢI CÓ NHỮNG NHÂN ĐỨC NÀO ?

Hỏi : xin cha giải thích các nhân đức mà người Công giáo phải có để sống đức tin trước mặt người khác.

Đáp : Nói đến những nhân đức ( Virtues) mà người Công Giáo phải có để sống xứng đáng với địa vị của mình là Kitô hữu trước mặt người đời, chúng ta nhớ ngay đến lời Thánh Phaolô đã nói với tín hữu Phi-Lip-Phê xưa như sau :

"Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quí, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến, và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh (nhân đức) đáng khen, thì anh em hãy để ý. Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe , đã thấy nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em." ( PL 4 : 8-9)

Qua lời khuyên trên đây của Thánh Phaolô, chúng ta thấy tầm quan trọng phải trang bị cho mình những đức tính và những nhân đức cần thiết để xứng đáng là người Kitô hữu sống trong Giáo Hội và ngoài xã hội

Thật vậy, sở dĩ phải nói đến các nhân đức -nói chung - là vì Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con người trí hiểu biết và ý muốn tự do.(Intelligence and free will) Nhờ trí hiểu con người biết phân biệt giữa cái xấu và cái tốt, giữa sự lành, sự thiên hảo và mọi điều gian ác, nhơ nhuốc và sự dữ đầy rẫy ở khắp nơi trên trần thế này. Biết phân biệt ranh giới giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu sẽ đưa đến tự do chọn lựa để đứng về phía nào và chịu trách nhiệm về chọn lựa của mình trước Thiên Chúa là Đấng cực tốt, cực lành, nhưng rất gớm ghét mọi sự dữ, sự xấu , sự gian ác và ô uế, hư thân mất nết..

Do đó, sống xứng đáng là con người thôi cũng đòi hỏi đức hạnh để phân biệt mình với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn. Là người tín hữu , càng cần có nhân đức hay đức hạnh để sống đẹp lòng Chúa hơn. Đức hạnh là nét đẹp của tâm hồn không phải tự nhiên mà có.Trái lại, đó là kết quả luyên tập của lý trí và ý chí nhằm tô điểm cho mình những vẻ đẹp tinh thần không những để phân biệt mình với loài vật mà cả với những người không chú tâm tập luyện cho mình những nhân đức cao đẹp giúp nâng cao phẩm giá con người là thụ tạo có lý trí và ý muốn tự do..

Trong lãnh vực thiêng liêng, nhân đức là những vẻ đẹp của tâm hồn đưa ta đến gần Thiên Chúa là Chân Thiên Mỹ tuyệt đối, với ước muốn tha thiết là được trở nên giống Người và " được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian này." ( 2 Pr 1: 4) Nói khác đi, ta không thể sống đẹp lòng Chúa mà không cố gắng trở nên giống Chúa trong mọi sự, từ lời nói đến suy tư và cung cách hành động trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống con người trên trần thế này.

Giáo lý Giáo Hội phân chia ra hai loại nhân đức sau đây :

A- Nhân đức nhân bản hay đối nhân ( Human Virtues)

B- Nhân đức thần học hay đối Thần ( Theological Virtues).

A- Nhân đức nhân bản là những đức tính luân lý đã được tập thành do nhận thức được những gì là tốt đẹp, là xứng đáng với phẩm giá con người, khác xa thảo mộc và loài vật chỉ có bản năng mà không có lý trí và ý chí.Nhận thức rồi cố gắng tập luyện với quyết tâm của ý chí tự do để trở thành tập quán (habit) vững chắc chỉ đạo cho mọi hành vi con người qui hướng về những mục đích thiện hảo mà lý trí đã nhìn ra và thúc đẩy con người tiến tới.

Có 4 nhận đức gọi là nhân đức trụ ( Cardinal Virtues) vì vai trò quan trọng của nó trong việc hướng dẫn hành vi con người tiến đến mục đích tốt.

Bốn nhân đức trụ đó là khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ.

1- Nhân đức không ngoan ( Prudence) là nhân đức luân lý nhờ đó con người phân biệt điều thiện hảo và sự gian ác để từ đó, tự do chọn lựa điều thiện hảo trong thực hành để hành vi nhân linh của mình có giá trị luân lý, đạo đức.. Hành vi nhân linh ( Human act) thì khác xa với hành động của con người ( act of man) ở điểm căn bản là hành vi nhân linh mang tính luân lý,( morality) còn hành động của con người thì không. Thi dụ : đi, đứng, nói ,cười , nằm nghỉ , ăn, uống, hít thở không khí....là những hành động tự nhiên của con người, không mang tính luân lý. Trái lại,chửi bới, lăng mạ người khác, giơ tay chém giết người, chân bước đi tìm thú vui dâm ô, ngoại tình, hoặc đi đến các nơi cờ bạc và vui chơi thác loạn... là những hành vi nhân linh vì xuất phát từ ước muốn của tâm hồn, của lý trí và tự do chiều theo những đòi hỏi của các khuynh hướng ( tendencies) xấu trong bản năng nên mang tính luân lý. Về mặt đạo đức, con người chỉ chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về mọi hành vi nhân linh của mình mà thôi.

Nghĩa là, nếu con người sử dụng đức khôn ngoan khi hành động thì sẽ tránh được những tội lỗi , những nguy cơ đưa đến hành động xấu và gian ác, trái nghich với những đòi hỏi của luân lý , đạo đức

2- Đức công bằng ( Justice) là nhân đức luân lý xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng chí công vô tư. Chính Người đã truyền cho dân Do Thái xưa mệnh lệnh này: " ngươi không được trộm cắp." )Xh 20: 15; Đnl 5: 19, Mt 19: 18)

Đức công bằng đòi buộc con người tôn trọng tài sản, sinh mạng và danh dự của người khác như của chính mình khi sống chung trong cộng đồng xã hội.Nó cũng đòi buộc trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã nói bọn Biệt phái xưa kia: " của Xê-da ( Caesar) trả về cho Cê-da, của Thiên Chúa , trả về Thiên Chúa." ( Mt 22: 21; Mc 12: 17); Lc 20: 25).

Mỗi người chúng ta nhận lãnh từ Thiên Chúa một linh hồn và những tài năng trí tuệ khác nhau.Do đó, chúng ta phải trả lời Thiên Chúa về những gì mình đã làm cho linh hồn cùng những tài năng Chúa đã ban ; ví như chủ nhà kia đã trao cho các đầy tớ mỗi người một số nén vàng khác nhau, và cuối cùng chủ sẽ đỏi các đầy tớ đó tính sổ về những gì họ đã làm với những nén vàng họ đã nhận lãnh. ( x Mt 25: 14-30)

Liên quan đến đức công bằng, Thánh Phaolô đã khuyên tín hữu Cô-lô-xê như sau :

" Người làm chủ hãy đối xử công bằng và đồng đều với các nô lệ, vì biết rằng cả anh em nữa cũng có một Chủ ở trên trời." ( Cl 4: 1)

Chúa là Đấng chí công vô tư, nên Người sẽ phán đoán chúng ta theo lòng nhân từ và công bằng của Người.Vì thế, đừng ai lầm tưởng rằng cứ bỏ nhiều tiền ra xin lễ, mua lễ đời đời và mua "hậu" của những nơi buôn thần bán thánh, là chắc chắn sẽ được vào Nước Trời sau khi chết. Trái lại, phải biết khôn ngoan sắm lấy cho mình kho tàng không hư mất ở trên Trời, nơi "trộm cắp không bén bảng, và mối một không đục phá" ( Lc 12 :33), bằng quyết tâm yêu Chúa và sống theo đường lối của Người ngay từ bây giờ thì đó mới là bảo đảm vững chắc cho phần rỗi mai sau để vui hưởng hạnh phúc Nước Trời. Không có cố gắng cá nhân công tác với ơn Chúa, mà chỉ dựa vào người khác cầu nguyện cho thì sẽ không ích gì, vì không ai có thể "ăn hộ "cho người khác được no nê về mặt thiêng liêng và tự nhiên được.

3-Đức dũng cảm ( Fortitude) là nhân đức luân lý giúp con người cương quyết thi hành điều

thiên hảo mà lý trí đã nhận biết và thúc dục ý chí theo đuổi cho đến cùng, dù gặp nhiều khó

Khăn cản trở.Nó cũng giúp con người chống lại mọi cảm dỗ của xác thịt, của ma qủi và

gương xấu của thế gian, nhất là giúp con người dám chết cho niềm tin của mình như các

Thánh Tử Đạo, cha ông ta. Đây chính là điều Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa:

" Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó.

Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian." ( Ga 16: 33)

Như thế., nếu không có đức dũng cảm và nhờ ơn Chúa nâng đỡ thì khó lòng đứng vững trước mọi nguy cơ cám đỗ hướng về sự dữ, sự xấu và tội lỗi.

4-Đức tiết độ ( Temperance ) là nhân đức luân lý giúp ta chế ngự những đòi hỏi, lôi cuốn của vui thú bất chánh hoặc tham mê những của cải và vui thú xác thịt trái nghịch với đức công bằng và với luân lý, đạo đức mà người tín hữu phải tránh cho được sống đẹp lòng Chúa. Không có đức tiết độ, người ta sẽ dễ chiều theo những đòi hỏi hay đam mê của dục vọng, và tội lỗi.

Đó là lý do vì sao Thánh Phaolô đã khuyên môn đệ Ti Tô như sau :

" Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục , mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này." ( Tt 2: 12)

B- Nhân đức đối thần hay thần học:

là những nhân đức hay động lực giúp ta hướng về Thiên Chúa là cùng đích của đời mình.Các nhân đức này minh chứng cụ thể niềm tin yêu và hy vọng của chúng ta đặt nơi Thiên Chúa là Đấng vô hình nhưng chắc chắn có thật và đã mặc khải Người cách trọn vẹn và cụ thể cho ta nơi Chúa Kitô, là Đấng cứu chuộc nhân loại, đã mang xác phàm để cho ai " Thấy Thầy, thì cũng thấy Chúa Cha" như Chúa đã trả lời cho môn đệ Phi-lip Phê một ngày kia.( Ga 14:9)

Có 3 nhân đức đối thần là Tin, Cậy và mến.

1- Đức Tin ( faith): nhân đức đối thần này trước hết là một quà tặng ( gift) của Thiên Chúa ban nhưng không cho ta nhưng cũng đòi hỏi sự đáp trả của mỗi cá nhân bằng cố gắng cộng tác với ơn Chúa để đức tin được lớn lên theo thời gian trong chiều kích thiêng liêng. Khi được rửa tội, thì hạt giống đức tin này được gieo vào tâm hồn ta. Nhưng khi lớn lên, nếu không có sự giúp đỡ của cha mẹ và người đỡ đầu bằng gương sáng và lời giảng dạy về Thiên Chúa trong gia đình, và sau đó ở môi trường đức tin là giáo xứ hay công đoàn thì hạt giống đức tin kia không thể tự nó lớn lên được và sẽ không sinh hoa trái gì cho người nhận lãnh. Ngược lại nếu được hướng dẫn từ bé, lớn lên với niềm tin có Chúa và siêng năng cầu nguyện và lãnh các bí tích hòa giải và nhất là Thánh Thể thì sẽ giúp cho đức tin lớn lên đến mức trưởng thành. Sau đó, với quyết tâm của cá nhân cộng tác với ơn thánh để bước đi theo Chúa mỗi giây phút trong cuộc sống thì chắc chắc đức tin sẽ càng lớn mạnh nhờ đời sống đạo đức, vì " đức tin không có việc lành là đức tin chết." như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã quả quyết. ( Gc 5:6)

2- Đức Cậy : ( hope) là nhân đức đối thần giúp ta trông cậy vững vàng vào Chúa và hy vọng được vui hưởng Thánh Nhan Người một ngày kia sau khi kết thúc hành trình đức tin trong trần thế này.Dĩ nhiên phải nhờ cậy vào ơn thánh nâng đỡ để ta không nản chí, thất vọng khi gặp gian nan khốn khó trong cuộc sống và trong niềm tin có Chúa. Nếu ta bền chí trông cậy thì chắc chắn Chúa sẽ ban ơn nâng đỡ như Người đã hứa mà tác giả Thư Do Thái đã nhắc lại như sau:

" Chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, ví Đấng đã hứa là Đấng trung tín." ( Dt 10 :23)

3- Đức mến ( love, charity) là nhân đức đối thần rất quan trọng vì nhờ đó ta thể hiện cách cụ thể lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương anh em như chính bản thân mình. Thánh Phaolô đã coi đức mến ( đức ái) quan trọng hơn cả đức tin và đức cậy trong thư thứ nhất gửi tín hữu Coi-rin-tô như sau:

" Hiện nay đức tin , đức cậy, đức mến

Cả ba đều tồn tại

Nhưng cao trọng hơn cả là đức mến." ( 1 Cor 13: 13)

Đặc biệt hơn nữa là chính Chúa Giêsu đã gọi đức ái là một điều răn mới Chúa ban cho các Tông Đồ sống và thực hành để chứng minh họ là môn đệ của Chúa:

" Thầy ban cho anh em một điều răn mới

Là anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em

Ở điểm này , mọi người sẽ nhận biết: anh em là môn đệ của Thầy

Là anh em có lòng yêu thương nhau." ( Ga 14: 34-35)

Chính Chúa cũng vì yêu thương mà đã hy sinh mạng sống mình cho tất cả mọi người

Chúng ta được sống như Người đã nói với các môn đệ trước giờ tử nạn:

" Không ai có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh

Tính mạng vì bạn hữu của mình." ( Ga 15: 13)

Tóm lại, những nhân đức nói trên- nhân bản và đối thần- là những vẻ đẹp lỗng lẫy của mọi tâm hồn tín hữu Chúa Kitô sống trong Giáo hội và trong xã hội loài người để qua thực hành những nhân đức đó, người tín hữu sẽ là nhân chứng hùng hồn cho Chúa trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa và chưa ý thức được giá trị thiêng liêng của các nhân đức ấy.Ước mong mọi người tín hữu chúng ta cố gắng trang bị cho mình những nhân đức nói trên để cho người đời cứ dấu này " mà nhận biết chúng ta là môn đệ của Thầy" sống giữa họ. ( x. SGLGHCG số 1803- 1829)

Lm Phanxicô Xaviê Ngô tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 27 = THANH TRUYEN LA GI? PDF Print E-mail

THÁNH TRUYỀN LÀ GÌ ?

Hỏi : xin cha giải thích điều gọi là Thánh Truyền trong niềm tin của Giáo Hội.

Trả Lời : Theo giáo huấn của Giáo Hội thì Kinh Thánh ( Sacred Scripture) Thánh Truyền ( Sacred Tradition) hay còn gọi là Truyền Thống Tông Đồ ( Apostolic Tradition) và Mặc Khải ( Divine Revelation) là những nguồn suối đức tin cho ta biết có Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo dựng muôn loài muôn vật, có Chúa Con là Đấng Cứu Chuộc nhân loại đã đến trần gian rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và Chúa Thánh Thần là Thần Chân lý và là Đấng ban sự sống.

Đây là Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi mà chỉ những ai có niềm tin Thiên Chúa và vâng phục giáo lý của Giáo Hội mới có thể tin và chấp nhận được.

Theo Giáo Hội dạy thì Thánh Truyền là " mang lời của Thiên Chúa đã được Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần ủy thác cho các Tông Đồ và truyền đạt lời Chúa cách nguyên vẹn cho những người kế vị các Tông Đồ để các vị này gìn giữ, trình bày và truyền bá lời đó cách trung thành khi giảng dạy." ( x. SGLGHCG số 81)

Từ định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng lời Chúa là chính Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, mà các Tông Đồ đã được nghe trong suốt 3 năm theo Chúa đi rao giảng, dạy dỗ và chứng kiến Người làm nhiều phép lạ.Tuy nhiên, trong những năm cuối của thể kỷ thứ nhất, sau khi Chúa Kitô đã hoàn tất công trình Cứu Chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết, sống lại và lên Trời, Kinh Thánh Tân Ước chưa có, nên các Tông Đồ chỉ dạy truyền khẩu cho các tín hữu thời sơ khai đó những gì các ngài đã nghe được từ chính Chúa Giêsu là Nguồn Chân Lý đức tin và giáo lý tinh tuyền. Các ngài đã giảng dạy, gìn giữ kho tàng thiêng liêng đó nguyên vẹn để trao lại cho các vị kế tục sứ mạng Tông Đồ trong Giáo Hội như Thánh Phaolô đã nói với môn đệ ngài là Ti-mô-thê như sau về di sản thiêng liêng này :

" Anh Ti-mô-thê, hãy bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho anh, tránh những chuyện nhảm nhí, trống rỗng, và những vấn đề trí thức giả hiệu. Có những kẻ , vì chủ trương cái trí thức đó, nên đã lạc mất đức tin. Chúc anh em được ân sủng." ( 1 Tm 6 : 20-21)

Ngoài ra, trong thứ thứ hai gửi cho Ti-mô-thê, Thánh Phaolô cũng nói thêm với môn đệ này như sau :

" Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Kitô Giêsu, anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo Lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta. ( 2 Tm 1 : 12-14)

Như thế có nghĩa là- trước khi có Kinh Thánh Tân Ước làm tài liệu học hỏi và giảng dạy, các Thánh Tông Đồ chỉ dạy truyền khẩu những gì các ngài đã nghe từ chính Chúa Giêsu và truyền lại cho các vị kế nghiệp các ngài trong Giáo Hội để tiếp tục dạy dỗ không sai lầm những giáo thuyết mà Chúa Kitô đã giảng dạy cùng những việc Chúa đã làm như chữa lành cho biết bao bệnh nhân, trừ quỉ , làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều cho hàng ngàn người ăn no đủ, cũng như cho người chết sống lại. Các Tông Đồ đã ghi nhớ những việc Chúa làm và lời Người giảng dạy, nên sau này hai Tông Đồ Matthêu và Gioan đã cùng với Maccô và Luca ( môn đệ của Phaolô) đã viết thành 4 Phúc Âm cộng thêm những Thư mục vụ quan trọng ( Epistles) của các Thánh Phaolô, Phê rô, Gioan, Gia-cô-bê, Giuđa ghi lại những lời giảng dạy và những việc Chúa Giêsu đã làm để Giáo hội có thêm nguồn chân lý đức tin là Kinh Thánh Tân Ước để dạy cho dân Chúa, như chúng ta thấy ngày nay.

Nhưng như đã nói ở trên, trước khi có Kinh Thánh Tân Ứớc được viết ra với ơn linh ứng ( inspired) của Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ chỉ rao giảng và dạy truyền khẩu, nhưng chính xác các giáo lý mà Chúa Giêsu đã giảng dạy và truyền lại cho những người kế vị để dạy cho Giáo Hội trong buổi ban đầu đó. Những di sản thiêng liêng này được bảo tồn nguyên vẹn để truyền lại cho các thế hệ sau trong Giáo Hội tiếp tục sứ mạng Tông Đồ mà Chúa Kitô đã trao phó trước khi Chúa về trời ,là " anh em hãy đi khắp nơi , loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.." ( Mk 16: 15)

Thánh Tông Đồ Giuđa cũng nói thêm về Truyền Thống Tông Đồ như sau :

" anh em thân mến , tôi vẫn ước mong viết thư cho anh em về ơn cứu độ chung của chúng ta , thì nay lại bó buộc phải viết cho anh em, để khuyên nhủ anh em chiến đấu cho đức tin đã được truyền lại cho các thánh chỉ một lần là đủ. ( Gđa 3)

Nghĩa là chính các Thánh Tông Đồ đã một lần truyền lại giáo lý tinh tuyền, lành mạnh, đức tin vững chắc mà các ngài đã lãnh nhận từ Chúa Giêsu cho các vị kế nghiệp các ngài là các Giám mục trong Giáo Hội từ đầu cho đến ngày nay.Qua các Thư mục vụ có ơn linh ứng, chúng ta đọc được những lời các Thánh Tông Đồ khuyên nhủ các tín hữu ban đầu phải giữ gìn các truyền thống và giáo lý đã được các ngài dạy dỗ và truyền lại cách chính xác như Thánh Phaolô đã nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca như sau :

" Vậy thưa anh em, anh em hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống chúng tôi đã dạy cho anh em bằng lời nói hay bằng thư từ." (2 Th 2: 15)

Không những các Tông Đồ truyền lai những giáo huấn của Chúa Kitô mà còn truyền lại cả những chỉ thị hay tiêu chuẩn để chọn người thay thế các ngài như Thánh Phaolô đã căn dặn môn đệ ngài là Titô như sau :

" Tôi đã để anh ở lại đảo Kêta chính là để anh hoàn thành công việc tổ chức và đặt những kỳ mục ( Giám mục) trong mỗi thành như tôi đã truyền cho anh....Thật vậy , Giám quản , với tư cách là quản lý của Thiên Chúa, phải là người không chê trách được, không ngạo mạn, không nóng tính, không nghiện rượu, không hiếu chiến và không tìm lợi lộc thấp hèn...." ( Tt 1: 2-7)

Những lời căn dặn trên đây của Thánh Phaolô cho thấy các Tông Đồ của Chúa Kitô đã rất thận trọng trong việc chọn người kế vị các ngài để cai trị, dạy dỗ và thánh hóa dân Chúa trong Giáo Hội.

Ước mong sao các vị kế nghiệp các Thánh Tông Đồ ngày nay tuân giữ những chỉ thị trên khi chọn người thay thế mình trong sứ mạng Tông Đồ để không chọn lầm những người không xứng đáng vào vai trò lãnh đạo trong các Giáo Hội địa phương.( Giáo phận).

Qua dòng thời gian Thánh Truyền vẫn sống động và tiến triển nhờ Chúa Thánh Thần hỗ trợ và gìn giữ để kho tàng linh thánh tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội trong sứ mạng dạy dỗ, thánh hóa và cai trị dân Chúa thay mặt Chúa Kitô trên trần gian này.

Như thế, Thánh Truyền cũng là những lời giảng dạy đức tin vững chắc , giáo lý tinh tuyền cũng như chỉ thị về việc cắt đặt người cai quản, lên thay thế các ngài trong Giáo Hội từ khởi thủy cho đến ngày nay. Dựa vào Truyền Thống này ,Giáo Hội tiếp tục học hỏi cắt nghĩa và giảng dạy Lời Chúa được mặc khải qua Kinh Thánh và Thánh truyền để dạy đỗ không sai lầm những chân lý đức tin và nền tảng luân lý cho mọi tín hữu trong Giáo Hội Công Giáo, được Chúa Kitô thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ để chuyên chở ơn cứu Độ của Chúa đến hết mọi dân , mọi nước cho đến ngày mãn thời gian.

Sau hết, các Tông Đồ không những chỉ dạy dỗ các tín hữu thời sơ khai với giáo lý vững chắc và lành mạnh mà còn khuyên nhủ tín hứu phải chiến đấu để bảo vệ giáo lý đức tin đó, vì ngay trong buổi ban đầu đã có " những người đã len lỏi vào, những người từ lâu đã bị ghi trước vào danh sách những kẻ bị lên án. Những kẻ vô luân này đã biến ân sủng của Thiên Chúa chúng ta thành lý do biện minh cho lối sống dâm ô, họ chối bỏ Chúa chúng ta là Đức Giêsu-Kitô, vị Chúa Tể duy nhất." ( Gđa 4).

Giáo Hội dạy những giáo lý, tín lý , luân lý và lời Chúa với quyền Giáo Huấn ( Magisterium), một công cụ Chúa Thánh Thần dùng để giúp Giáo Hội dạy dỗ không sai lầm những chân lý đức tin và nền tảng luân lý được các Thánh Tông Đồ truyền lại cho các vị kế tục là các Giám mục trong Giáo Hội. Do đó ai nghe Giáo Hội là nghe các Thánh Tông Đồ và nghe các ngài là nghe chính Chúa Kitô đã gọi và sai họ đi rao giảng như Chúa đã nói rõ trong Tin Mừng Thánh Luca sau đây:

" Ai nghe anh em là nghe Thầy, và ai khước từ anh em là khước từ Thầy;

Mà khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)

Thánh Truyền có liên hệ mật thiết với Thánh Kinh vì cả hai đều xuất phát từ một Nguồn mạch là Thiên Chúa.Thánh Kinh là Lời Chúa đã được ghi chép lại bằng ngôn ngữ loài người dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần. Do đó, sách nào không được coi là có ơn linh ứng thì không được công nhận là Sách thánh. Như vậy chỉ có 45 Sách Cựu Ước và 27 Sách Tân Ước ( 4 Phúc Âm, Sách Tông Đồ công vụ và các thư Mục Vụ) được công nhân là có ơn Linh ứng mà thôi.Và đây là toàn bộ Kinh Thánh mà Giáo Hội Công Giáo đọc và giải thích Lời Chúa.

Thánh Kinh và Thánh truyền đều có chung một mục đích là loan truyền lời Chúa bằng văn tự hay truyền lại bằng lời nói những gì các Tông Đồ đã nghe từ Chúa Kitô trong suốt ba năm Người dạy dỗ họ và dân chúng, cũng như chứng kiến những việc Chúa làm để lưu truyền cho hậu thế.

Thánh Truyền, tức Truyền Thống Tông Đồ, khác với các truyền thống trong Giáo Hội như : truyền thống " thần học , kỷ luật, phụng vụ hoặc sùng đạo đã nảy sinh nơi các giáo hội địa phương qua dòng thời gian.Nhứng truyền thống này là những hình thức riêng biệt để đón nhận Truyền Thống ( Thánh Truyền) của Giáo Hội tại những địa phương khác nhau và ở những thời đại khác nhau.Dưới ánh sáng của Truyền Thống chung này, các truyền thống riêng biệt đã được duy trì , sửa đổi hoặc bị bãi bỏ dưới sự dẫn dắt của Huấn Quyền Giáo Hội." ( x SGLGHCG số 83)

Thí dụ cụ thể : trong nhiều giáo hội địa phương ở Viêt Nam và Phi luật Tân ( các giáo phận) có truyền thống tưởng niệm Tuần Thánh với những nghi thức đóng đanh Chúa,( ở Phi luật Tân và Mễ Tây Cơ, có nơi đã đóng đanh thật một người đóng vai Chúa ! Nhưng việc này đã bị Giáo quyền địa phương ngăn cấm gần đây) hạ xác Chúa và viếng xác Chúa trong ngày Thứ sáu Tuần Thánh. Đây là truyền thống địa phương chứ không phải là Thánh Truyền.

Thánh Truyền chỉ truyền lại sự kiện Chúa bị kết án, bị hành hạ và bị đóng đanh đề đền tội cho cả và loài người. Nhưng do lòng đạo đức, các thừa sai đã dạy cho các tín hữu ở nhiều địa phương làm sống lại các sự kiện trên với những nghi thức dân gian đặc biệt và trở thành truyền thống cử hành mỗi năm vào Mùa Chay và Tuần Thánh ở một số địa phương chứ không ở khắp nơi trong Giáo Hội.

Lại nữa và quan trọng hơn, Thánh Truyền tôn trọng nguyên tắc chỉ chọn người nam ( nam giới) vào các chức vu giám quản( giám mục) và phụ tá ( linh mục ) như Chúa Giêsu đã chọn các ngài.( Chúa không chọn phụ nữ nào làm Tông Đồ) Và cũng theo Thánh Truyền thì không có việc rửa chân cho phụ nữ, mà chỉ cho nam giới như Giáo Hội cử hành hàng năm tại Rôma trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh.( Chúa Giêsu cũng không rửa chân cho phụ nữ nào kể cả cho Đức Maria là Mẹ của Người).

Vậy , đòi cho phụ nữ làm linh mục hay rửa chân cho nữ giới là sai Truyền Thống Tông Đồ.

Tóm lại, Thánh truyền là di sản thiêng liêng được các Tông Đồ lưu trữ và truyền lại cho các vị kế tục trong Giáo hội để dạy dỗ chính xác các giáo lý đức tin mà Chúa Giêsu đã giảng dạy và làm gương sáng cho mọi thế hệ học hỏi và noi theo.

Chúng ta chân quý Thánh Truyền hay Truyền Thống Tông Đồ vì nhờ đó chúng ta được thêm vững tin trong chân lý của Đạo Thánh mà Chúa Kitô đã mang xuống từ Trời cho chúng ta tin và thực hành để được cứu độ như lòng Chúa mong muốn. ( cf 1 Tm 2 : 4).

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 26 = MAC KHAI LA GI ? THIEN CHUA... PDF Print E-mail

MẠC KHẢI LÀ GÌ ? THIÊN CHÚA MĂC KHẢI NGÀI CÁCH NÀO CHO CON NGƯỜI ?

I- Mặc khải là gì ?( Revelatio, revelation)

Sách Giáo lý Công Giáo giải thích về mac khải như sau:

" Trong sự khôn ngoan và lòng nhân hậu của Ngài, Thiên Chúa đã vui lòng đích thân tỏ mình ra và cho biết mầu nhiệm của thánh ý Ngài , nhân đó và nhờ Đức Kitô, Ngôi Lời nhập thể , con người có thể đến gần Đức Chúa Cha , trong Chúa Thánh Thần và được trở nên thông phân bản tính thần linh của Ngài." ( SGLGHCG, số 51)

Như thể, hiển nhiên có nghĩa là nếu Thiên Chúa không tự tỏ mình ra ( tự mạc khải) bằng nhiều cách mà chúng ta sẽ tìm hiểu sau đây, thì chắc chắn con người không có cách nào biết được Thiên Chúa là AI cũng như không thể hiểu được thánh ý của Chúa cho con người từ muôn thủa cho đến ngày nay và còn cho mãi đến ngày cánh chung tức là ngày hết thời gian.

Sở dĩ chúng ta không thể biết được Thiên Chúa vì Ngài quả thật siêu vượt ra khỏi mọi khả năng hiểu biết của trí tuệ con người.

Thật vậy , Thiên Chúa là Đấng "ẩn mình" như ngôn sứ I-saia đã nói :

" Lậy Thiên Chúa của nhà It-rael, Lậy Đấng cứu độ

Ngài quả thật là Thiên Chúa ẩn mình ( hidden)" (Is 45: 15)

Thánh Phaolô cũng được soi sáng để nhận biết Thiên Chúa là Đấng "ngự nơi ánh sáng không ai đến được", vì :

" Chỉ mình Người là Đấng trường sinh bất tử

Ngự trong ánh sáng siêu phàm

Đấng không một người nào đã thấy hay có thể thấy." ( 1 Tm 6: 16)

Không thể biết và không thể thấy đối với mọi khả năng trí khôn và giác quan của con người, cho nên, nếu Thiên Chúa không tự tỏ mình ra thì không bao giờ con người có thể biết được gì về Ngài .Đó là sự thật không ai có thể phủ nhận.

II- Vậy Thiên Chúa đã tự mạc khải hay tỏ mình ra cho con người biết phần nào về Ngài qua những phương cách nào ?

1- Trước hết , Thiên Chúa tỏ mình cho con người qua công trình Người sáng tạo trong vũ trụ thiên nhiên hùng vĩ mà con người có thể quan sát thấy:

" Tôi quả rõ, CHÚA thật là cao cả

Chúa chúng ta trỗi vược trên hết chư thần

Muốn làm gì là Chúa làm nên

Chốn trời cao cùng nơi đất thấp

Lòng biển cả và đáy vực sâu

Từ cùng tận địa cầu xa tắp

Chúa đẩy lên từng đám mây trời

Làm cho chớp giật mưa rơi

Mở kho thả gió khắp nơi tung hoành." ( Tv 135(134) : 5-7)

Hoặc :

" Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa

Không trung loan báo việc tay Người làm

Ngày qua mách bảo cho ngày tới

Đêm này kể lại với đêm kia

Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh

Mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu

Và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển." ( Tv 19 (18) : 2-5)

2--Qua các giấc mơ hay chiêm bao khi con người ngủ:

a- Cụ thể là trường hợp vua A-vi-ma-lec( Abimelech) đã sai người đến bắt bà Xa-ra ( Sarah), vợ ông Ap-raham. Nhưng ban đêm, khi vua A-vi-ma-lec ngủ, Thiên Chúa đã cảnh cáo ông trong giấc mơ là " Này ngươi sắp phải chết vì người đàn bà mà ngươi đã bắt, bởi người ấy có chồng."( St 20: 3). Vì lời cảnh cáo này của Chúa, vua A-vimalec đã trả bà Xa-ra về cho ông Ap-raham và được tha chết.

b-Đặc biệt là Giuse con ông Gia-cóp bị bán sang Ai Cập. Nhưng đã trở thành người cứu sống cho cả gia đình dòng họ sau này nhờ địa vị của ông trong triều đình vua Pharaon. Giuse có ơn giải mộng, nên một ngày kia vua Pharaon cho vời Giuse đến để giải mộng cho nhà Vua.Giuse đã nói với vua như sau : " Không phải tôi mà là Thiên Chúa sẽ cho câu trả lời đem lại bình an cho Pharaon."( St 41: 15-16)

c-Đặc biệt hơn nữa là Thánh Giuse, bạn thanh sạch của Đức Trinh Mữ Maria, đã được Thiên Chúa báo mộng trước hết là không được bỏ trốn khi biết Maria có thai, sau là phải đem Hài Nhi Giêsu và Mẹ Người trốn sang Ai Cập; và sau cùng là đem thánh gia thất về sống ở Nazaret.Tất cả những việc trên đều được báo mộng trước cho Thánh Giuse và Ngài đã hoàn toàn thi hành những gì đã được báo cho biết trong giấc mơ.Như thể đủ cho thấy Thiên Chúa cũng dùng giấc mơ để mạc khải cho con người biết về Chương Trình và Thánh Ý của Người.

3-Qua các Sứ ngôn ( Prophets) trong thời Cựu Ước và các Tông Đồ của Chúa Giêsu trong thời Tân Ước:

Đây là những người được Thiên Chúa đích thân kêu gọi để trao cho sứ mệnh loan truyền lại lời Chúa và thánh ý của Ngài cho con người ( cho dân Do Thái trước tiên, và cho các dân khác trên toàn thế giới sau này), như Ngôn sứ Amos đã nói rõ như sau:

" Vì Đức Chúa là Chúa thượng không làm điều gì

Mà không bày tỏ kế hoạch của Người cho các ngôn sứ của Người được biết." ( Am 3:7)

Ông Mô-sê cũng nói thêm về ơn gọi và vai trò của các ngôn sứ như sau :

" Từ giữa anh em , trong số các anh em của anh em, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi để giúp anh em. Anh em hãy nghe vị ấy." ( Đnl 18:15)

Lại nữa, qua miệng ngôn sứ E-de-kien( Êzekiel) Thiên Chúa đã nói với dân Israel như sau :

" Hỡi con người , hãy đi đến với nhà Israel và nói với chúng những lời của Ta...( Ez 2: 4)

Mặt khác, cũng có khi chính Chúa Cha mạc khải trực tiếp cho con người như Chúa Giêsu đã nói cho Phêrô biết rằng: " này anh Si-môn, con ông Giona, anh thật là người có phúc , vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh biết điều ấy ( biết Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống như Phêrô tuyên xưng (Mt 16: 16)) nhưng là Cha của Thầy Đấng ngự trên trời." ( Mt 16:17)

Vì thể, sau khi Adam và Eva phạm tôi và bị đưổi ra khỏi địa đàng, cho đến khi có đông đảo con người trên mặt đất cùng với các sinh vật khác. Nhưng con người đã dần dần sa đọa và làm những sự dữ trái với ý muốn tốt lành của Thiên Chúa, nên Người đã nổi giận và quyết định tiêu diệt hết mọi người và sinh vật trên mặt đất, trừ ông Noe là người sống đẹp lòng Chúa.Cho nên, Chúa đã truyền cho ông:" làm cho mình một chiếc tàu bằng gỗ bách" đủ sức chứa mọi loài sinh vật, mỗi loài một đôi cùng với gia đình con cái ông lên tầu, vì Thiên Chúa " sắp cho Hồng Thủy, nghĩa là nước lụt, xuống trên đất để tiêu diệt mọi xác phàm có sinh khí dưới gầm trời; mọi loài trên mặt đắt sẽ tắt thở." Thiên Chúa đã giáng tai họa nước lụt,vi Người " thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều và suốt ngày lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu"(St 6: 5) , nên Thiên Chúa đã tiêu diệt hết mọi loài, mọi vật , trừ những sinh vật và người trong gia đinh ông Nô-E đã lên tầu trước khi mưa tuôn đổ xuống địa cầu để cuốn đi mọi sinh vật bên ngoài con tầu này vào lòng đại dương.( St 6: 6- 22; 7: 1-5)

Sau đại hồng thủy, Thiên Chúa lại tỏ mình cho ông Abraham, cũng là người sống đẹp lòng Chúa, đã dám hy sinh con mình là Isaac theo lời Chúa thử thách ông và ông đã toan giết con làm lễ vật dâng lên Thiên Chúa.Nhưng Chúa đã kịp thời can thiệp để cứu Isaac vì đã thấy lòng tin yêu đích thực của ông. Vì thế, Thiên Chúa đã phán bảo Abraham qua miệng Sứ Thần của Chúa như sau:

" Đây là sấm ngôn của ĐỨC CHÚA, Ta lấy chính danh Ta mà thề: bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi , sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển.."( St 22 : 16-17)

Nhưng đặc biết hơn hết trong thời các Tổ Phụ, sau Đại Hồng Thủy, là Thiên Chúa đã tỏ mình cho ông Mô-Sê qua hình ảnh Bụi gai bốc cháy và từ giữa bụi cây Thiên Chúa đã nói với ông những lời sau đây:

" Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Ap-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-Ác,Thiên Chúa của Gia-cóp.." (Xh 3: 2-6)

Thiên Chúa đã gọi Mô-sê ( Moses) để truyền cho ông sứ mạng dẫn đưa dân Do Thái đang làm nô lệ và thống khổ trên đất Ai Cập trở về quê hương. Đưa họ bằng an trở về , vì Thiên Chúa muốn chọn Israel làm dân riêng của Ngài, như ông Mô-sê đã truyền lại cho dân thánh chỉ sau đây của Thiên Chúa:

" Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ Giao Ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta.Vì toàn cõi đất là của Ta.Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh." ( Xh 19: 5-6)

Ngoài các ngôn sứ như Abraham và Môsê ra, Thiên Chúa còn gọi thêm nhiều ngôn sứ khác trong thời Cựu Ước như Joshua, Samuel, Isaiah, Jeremiah, Ezekiel, Daniel...để qua họ, Chúa nói với Dân Israel những điều Người muốn họ nghe và thi hành để được chúc phúc hoặc đe dọa trừng phạt nếu họ bất tuân thánh ý của Chúa và làm những điều sai trái, những sự dữ đáng phải phạt. Chúa đã truyền cho các Ngôn sứ không những phải nói lời của Người cho Dân mà còn phải ghi lại những thánh chỉ của Người cho hậu thế như ngôn sứ Isaia cho biết rõ như sau::

"Bấy giờ trước mặt chúng

Ngươi hãy viết điều ấy trên một tấm bảng và ghi vào hồ sơ

Để lưu lại mai sau làm bằng chứng đến muôn đời." ( Is 30:8)

Liên quan đến tệ trạng "hôn nhân đồng tính ( same sex marriage) đang được đòi hỏi và đã được cho phép ở một vài tiểu bang Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới, Thiên Chúa đã phán từ ngàn xưa với ngôn sứ Giê-rê-mia như sau :

Đức Chúa phán thế này :

" chúng tôi đã nghe tiếng kinh hãi

Báo hiệu khiếp đảm chứ không phải bình an

Cứ hỏi mà xem : có đàn ông nào đẻ con không ? ( Gr 30 : 5-6)

Vậy tạo sao lại cho hai đàn ông hoặc hai đàn bà kết hôn như người ta đang làm hiện nay ở Mỹ, Anh, Canada...? Thật là điều kinh tởm cho con người ngày nay sống trái với luật thiên nhiên , trái với trật tự mà Thiên Chúa đã qui định từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữ và truyền cho ho : " hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đát và thống trị mặt đất.( St 1: 28)

Như vậy, cho hai đàn ông hay hai đàn bà lấy nhau thì làm sao sinh sản, hỡi những kẻ mê muội đang nhắm mắt chiều theo đòi hỏi của những người bệnh hoạn tâm sinh lý kia ???Họ bệnh hoạn thì mặc kệ cho họ sống, không cần phải hợp thức hóa cho họ vì làm như thế là đảo lộn trật tự và mục đích của hôn nhân trong xã hội loài người.

Trên đây là một vài thí dụ minh chứng sự kiên Chúa đã tỏ mình hay tự mạc khải mình cho dân Do Thái trong thời Cựu Ước. Các Ngôn sứ lớn nhỏ là những phát ngôn viên của Thiên Chúa trong sứ mệnh truyền lại cho dân những gì Thiên Chúa muốn họ biết và thi hành để được chúc phúc và tránh phải phạt.Các ngôn sứ cũng cầu khẩn Chúa thay cho dân để xin Nguời tha thứ mọi lầm lỗi của họ như ông Mô-sê đã làm khi dân Do Thái còn sống lưu đầy trong sa mạc, sau khi từ Ai Cập trở về :

"Vậy xin Ngài tha thứ lỗi lầm cho dân này theo lượng cả ân nghĩa của Ngài, như Ngài đã từng chịu đựng dân này từ Ai Cập cho đến đây." ( Ds 14: 19)

Nhờ lời van xin tha thiết của ông Mô-sê thay cho dân mà Thiên Chúa đã nguôi cơn thịnh nộ định giáng xuống trên dân ngỗ nghịch đó khi Ngài phán với ông :

"Ta tha thứ như lời ngươi xin." ( Ds 14: 20)

Một thí dụ nữa về việc các ngôn sứ cầu xin Thiên Chúa thay cho dân. Đó là trường hợp con cái Israel nói với ông Samuel: " xin ông chớ ngưng cầu kêu lên Đức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi để xin Người cứu chúng tôi khỏi tay người Philitinh." ( 1 Sm 7: 8)

Ông Samuel đã dâng lễ toàn thiêu và cầu xin thay cho dân theo lời van xin của họ, và họ đã đánh bại quân Philitinh. ( cf. Sm 7: 9-11)

4- Qua Chúa Giêsu-Kitô:

Sau hết, ngoài những phương thế trên đây, đến thời sau cùng, Thiên Chúa đã tỏ mình cách đẩy đủ nhất cho nhân loại qua chính Con Một Người là Đức Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa , Đấng đã sinh xuống trần gian làm Con Người để thi hành Chương Trình Cứu Độ loài người đáng bị phạt vì tội lỗi như ta đọc thấy trong Thư Do Thái sau đây:

" Thủa xưa , nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ. Nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ và đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa." ( Dt 1 : 1-3)1

Là hình ảnh hay hiện thân trung thực nhất của Chúa Cha, nên Chúa Giêsu đã trả lời môn đệ Philiphê như sau :

" Ai thấy Thầy thì thấy Chúa Cha

Sao anh lại nói : xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha.?" ( Ga 14: 9)

Hoặc rõ hơn nữa:

" Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy

Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha của Thầy

Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người." ( Ga 14:7)

Là hiện thân của Chúa Cha, Chúa Giêsu đã mạc khải trọn vẹn những gì Chúa Cha muốn nói với con người qua những lời giảng dạy trong suốt 3 năm Người đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Nghĩa là : trong và qua Chúa Giêsu-Kitô, Thiên Chúa Cha đã mặc khải trọn vẹn thánh ý của Người cho nhân loại, và không còn nguồn mạc khải nào lớn và đầy đủ hơn nữa cho ai ngoài Chúa Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể. Do đó, ai nghe Chúa Kitô là nghe Chúa Cha, ai biết và đón nhận Chúa Con thì cũng biết và đón nhận Chúa Cha như Chúa Giêsu đã nói thêm với các môn đệ xưa như sau :

" Ai nghe anh em là nghe Thầy, ai khước từ anh em là khước từ Thầy;

Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)

Như thế, các Tông Đồ lớn nhỏ của Chúa Kitô cũng được ơn mạc khải của Thiên Chúa để dạy dỗ trung thực , không sai lầm những gì các ngài đã nghe từ Chúa Giêsu-Kitô và lưu truyền lại cho các người kế vị là các Giám mục trong Giáo Hội của Chúa cho đến ngày nay và mãi về sau.Do đó, nghe Giáo Hội là nghe các Thánh Tông Đồ và nghe các ngài là nghe chính Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, hiện thân của Chúa Cha.

Tóm lại, Thiên Chúa đã tự mạc khải hay tỏ mình ra cho con người từ thời Cựu Ước qua các sứ ngôn đến Tân Ước, đặc biệt là qua chính Chúa Kitô, để con người biết Thiên Chúa là Đấng đầy yêu thương, " Người có giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời." ( Tv 30(29) : 6).

Nói khác đi, chúng ta biết được Thiên Chúa là Cha nhân từ, quá yêu thương và hay tha thứ là nhờ ơn mạc khải mà Thiên Chúa đã tỏ mình trọn vẹn qua Chúa Giêsu-Kitô, Đấng Cứu Thế, đã đến trần gian làm Con Người để thi hành Chương Trình Cứu độ nhân loại của Chúa Cha.Do đó, ai tin và thực hành những lời giảng dạy của Chúa Kitô thì cũng tin va thực hành thánh ý của Chúa Cha để được sống hạnh phúc muôn đời với Chúa trên Nước Trời như Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người như sau:

" không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa,! lậy Chúa ! là được vào nước trời cả đâu; mà chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)

Chúng ta hết lòng cảm tạ Chúa đã cho chúng ta biết Người là Cha cực tốt cực lành,

Và cầu xin cho những người chưa biết Chúa được nhận biết Ngài là Đấng duy nhất đã vì yêu thương mà tạo dựng con người cùng mọi loài mọi vật, và quan trọng hơn hết, là " Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 8) để hưởng hạnh phúc Thiên Đàng sau khi chấm dứt hành trình đức tin trên dương thế này.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

"

 
<< Start < Prev 71 72 73 74 75 76 77 78 79 80 Next > End >>

Page 76 of 81