mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1047
mod_vvisit_counterHôm Qua9027
mod_vvisit_counterTuần Này52641
mod_vvisit_counterTuần Trước55459
mod_vvisit_counterTháng Này183145
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả7983543

We have: 91 guests online
Your IP: 54.163.117.182
 , 
Today: Mar 26, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 285 = VINH DU THAP GIA PDF Print E-mail

VINH DỰ THẬP GIÁ.jpg

THAP GIA.jpg

TẠI SAO NGƯỜI TIN LÀNH KHÔNG DÙNG THÁNH GIÁ CÓ HÌNH CHÚA GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH?

Kristie Phan chuyển

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Sau bài trả lời của chúng tôi ngày 10-5 về hình Chúa Kitô Phục Sinh và cây thánh giá, một độc giả viết: "Tôi xin hỏi tại sao người Tin Lành nói là phải dùng cây Thánh giá không có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh, vì Chúa đã sống lại rồi?"
Đáp: Có nhiều câu trả lời cho câu hỏi này. Không phải tất cả người Tin Lành từ chối việc sử dụng cây Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh. Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh cũng được sử dụng bởi nhiều Giáo Hội Đông phương, mặc dù ít hơn so với người Công Giáo La tinh chúng ta.
Như chúng ta đã thấy trong bài viết trước, cả cây Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh và cây thánh giá thường đã được sử dụng từ thế kỷ thứ V trở về sau, và không có khó khăn lớn trong việc sử dụng cả hai th��nh giá.

Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng đinh phục vụ như là một sự nhắc nhở về sự hy sinh và đau khổ của Ngài; thánh giá không có tượng Chúa, đặc biệt là khi được trang trí phong phú, phục vụ như là một sự nhắc nhở về chiến thắng của Chúa thông qua thập giá. Như Thánh Phaolô đã viết: "Nhưng chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh, điều mà người Do Thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ" (1 Cr 1:23, bản dịch Việt ngữ của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ).

Cả cây Thánh giá có hình Chúa Kitô chịu đóng ��inh và cây thánh giá không có hình Chúa đều không phủ nhận việc Chúa sống lại - ít nhất cũng giống như việc sử dụng Máng Cỏ Noel không có ý nói là Chúa không lớn lên thành người lớn. Thật vậy, việc sử dụng hai hình dạng Thánh giá sẽ không có ý nghĩa nếu không có việc Chúa sống lại, vì chính sự sống lại biến đổi biểu tượng của thánh giá thành dấu hiệu của sự chiến thắng. Một lần nữa, Thánh Phaolô tuyên bố: "Nếu Đức Kitô đã không trỗi dậy, thì lòng tin của anh em thật hão huyền, và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi của anh em" (1 Cr 15:17, bản dịch như trên). (Zenit.org 31-5-2016)

Nguyễn Trọng Đa
(Nguồn: VietCatholic

---------------------------

-----------------------------------
Moi Tham WebSite
www.ChiaSeLoiChua.com
Pho Te Dinh

Reply, Reply All or Forward | More
Click to Reply, Reply All or Forward

 
HOC HOI DE SONG DAO # 284=NHUNG KHAC BIET PDF Print E-mail

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO
VÀ TIN LÀNH
Hỏi: Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về
nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.v
Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.
Trả lời:
vâng, như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo
Thánh của Chúa Kitô gọi chung là Kitô Giáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có
những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms ) hoặc những cải cách tôn giáo
(reformations) đáng tiếc xảy ra trong thế kỷ 16, khiến cho KitôGiáo bị phân chia thành 3 Nhánh
chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Communion) do vua
Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước
Anh, tách khỏi Giáo Hội Công Giáo Rôma,chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement
VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.
Cho đến nay, mới chỉ có một số khá đông giáo sĩ và tín đồ Anh Giáo và Tin Lành trở về với Giáo
Hội Công Giáo, còn các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông trọn vẹn được với Giáo Hội Công
Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có rất nhiều, nhưng giới hạn trong
câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên
đây mà thôi.
I-Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?
Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos-
doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng" (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này
được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn Kitô Giáo đã tham dự các Công Đồng đại
kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã
đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh
tuyền của KitôGíáo được truyền lại từ các Thánh Tông Đồ để chống lại những gì bị coi là tà thuyết
hay lạc giáo (heresy)
Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để chỉ các giáo đoàn có chung lập trường
bảo vệ các chân lý tinh tuyền của Kitô Giáo để đối nghịch với lý thuyết của cá nhân hay của nhóm
nào bị coi là lạc giáo hay tà giáo .
Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople( tượng trưng
cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông
cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius,
Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo hoàng Leo IX, vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần
học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy
Lạp ở Constantinople đã ly khai không còn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã nữa . Sau
này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ
nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia,
Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này đều có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về
mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ
có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách
khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)
1
Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được
coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông
Phương.Cách nay 6 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 ( đã về hưu) đã sang thăm Đức Thượng
phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo
Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần
lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" các tín hữu Chính
Thống nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã năm 1991, tạo điều kiện thuận lợi
cho Giáo Hội Chính Thông Nga công khai hành Đạo.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo Đông-Tây năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương
( The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi
phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh
Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng
đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong em ngài, Thánh Anrê (Andrew)
sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó trong phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ
(Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma
đều có chung nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession) -và do đó- có các Bí tích hữu
hiệu như nhau.
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây
1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở
Constantinople- bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm
vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà
ra".
Giáo Hội Chính Thông Đông Phương chỉ muốn nói : Chúa Cha Chúa Con và Chúa Thánh Thần
đồng bản thể trong Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi ( Holy Trinity) là điều Giáo Hội Công Giáo
cũng tuyên xưng, nhưng Chính Thống Đông Phương chỉ không đồng ý với Công Đồng Nicêa
tuyên xưng :" Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha và Chúa Con mà ra".
Ngoài ra , Giáo Hội Chính Thống cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai
(Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là
Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức
Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ
(Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng
Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và
Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa
Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople là Athenagoras I năm
1966.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì
họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống
mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để
vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống
mới, mặc lấy Chúa Kitô.
2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp
khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và
tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín
hữu trên thế giới.
2
3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được
kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc
trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo
La Mã.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính
Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích
và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính
thống, sự hiêp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có
thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).
II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.
Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công
Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ
xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và
các nước Bắc Âu và bắc Mỹ sau đó.
1-Ở góc độ thần học,
Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về
bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại việc ban ân
xá ( indulgences) và vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa
qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh
(Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh
Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội,
thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng
hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi, hay nhờ ân xá để được tha
các hình phạt hữu hạn đều vô ích và vô giá trị.Họ chủ trương chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa
Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).
Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để
được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương
xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có
thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không,
Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ: "không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy
Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha
Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải cứ rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ.
Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi
được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa
thôi sẽ ra vô ích.
Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng
Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi
trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình,
vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình
bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ
3

họp để nghe giảng kinh thánh. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng Kinh Thánh vì họ chỉ tin có
Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.
2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn
hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được
gọi ai dưới đất là cha là thầy vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời" mà thôi. Vì họ hiểu
câu này hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là 'lạc
giáo=heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý
này, Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium, đã dạy rằng; " Linh mục
phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng
liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu Kinh Thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh
Marcô kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người, thì Đức Mẹ cà các
môn đệ của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh
em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu
này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho
rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng
trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context)
trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách
hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.
Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành đều biệt lâp nhau và cùng không công nhận
Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người
trên trần thế.Và đây là trở ngại lớn cho việc hiệp thông (communion) và hiệp nhất (unity) với Giáo
Hội Công Giáo.
3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải,
Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic
succession) do đó, không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm này chỉ có phép rửa( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với
nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) thì không thành sự ( invalidly) . Do đó,
khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức
trên thì phải được rửa tội lại như người tân tòng.(catechumen). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ
phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.
Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn
hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết
(ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều thập niên qua.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa
Kitô nhưng đang không hiệp thông (communion) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất
Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng các Tông đồ.
Ước mong những giải thích trên thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
4

 
HOC HOI DE SONG DAO # 283 =THIEN TINH, THẦN TÍNH PDF Print E-mail

THIÊN TÍNH, THẦN TÍNH

Trong Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 245:

- Bản nguyên tác tiếng Pháp, 1983: L'Église reconnaît par là le Père comme "la source et l'origine de toute la divinité" [1].

- Bản nguyên tác La ngữ, 1992: Ecclesia Patrem agnoscit tamquam "fontem et originem totius divinitatis".

- Bản dịch của Dòng Don Bosco, 1993: Giáo Hội thừa nhận Chúa Cha là "nguồn mạch và nguồn gốc vĩnh cửu của tất cả thần tính".

- Bản dịch của TGP. Sài Gòn, 1997: Hội Thánh nhìn nhận Chúa Cha là "nguồn gốc và khởi thuỷ của tất cả thiên tính".

- Bản dịch của HĐGMVN, 2010: Hội Thánh nhìn nhận Chúa Cha như "nguồn mạch và cội nguồn của tất cả thần tính".

Như vậy, divinitas trong tiếng Latinh (Pháp: divinité; Anh: divinity) dịch sang tiếng Việt là thần tính hay thiên tính. Hai thuật từ Hán Việt này có gì khác biệt?

1. Nghĩa của các từ thiên, thần, tính

1.1. Thiên: có 21 chữ Hán: 千, 仟, 天, 靝, 篇, 偏, 遷, 拪, 迁, 扁, 阡, 韆, 搧, 芊, 扡, 犏, 羴, 羶, 膻, 釺 (钎). Ở đây là chữ天, nghĩa là: dt. (1) Ông Trời, đấng thiêng liêng tạo ra và ngự trị muôn loài: Bàn thiên, hoàng thiên, thiên bất dung gian, thiên hựu hạ dân (Ông trời phù hộ dân). Nghĩa rộng: (2) Bầu trời, nơi có màu xanh trên cao: Thiên không, hiệu thiên (trên cao). Nghĩa bóng: (3) Tự nhiên (do trời sinh): Thiên nhiên, thiên phú, thiên lý sử nhiên (lẽ trời khiến như vậy). (4) Ngày, thời tiết, mùa: kim thiên (hôm nay), tiết trong năm đông thiên lạnh lẽo, nhiệt thiên (trời nóng), xuân thiên (mùa xuân). (5) Cái gì không thể thiếu được: Thực vi dân thiên (ăn là thứ cần của dân). (6) Chỗ các thần linh ở: Thiên quốc. (7) Lương tâm: Thiên lương. (8) Đàn bà gọi chồng: Sở thiên. (9) Họ Thiên. tt. (10) Trên đỉnh: Thiên đài (sân thượng). (11) Từ tự nhiên: Thiên tai.

Nghĩa Nôm: Bửng đậy quan tài: Ván thiên.

1.2. Thần: có 10 chữ Hán: 晨, 神, 臣, 辰, 脣, 唇, 娠, 宸, 漘, 茞, chúng ta tìm hiểu chữ神, nghĩa là: dt. (1) Phần hồn một con người: thất thần, tâm thần, tinh thần, xuất thần. (2) Vẻ linh hoạt của đông vật hay vật: cặp mắt hết thần; nét chữ có thần. (3) Khả năng hiểu biết: Tâm lãnh thần hội (hiểu biết bằng tinh thần). (4) Hệ thống truyền cảm giác về óc: Thần kinh. (5) Hồn các quan trung kiên hay người có công với nước, được vua sắc phong cho lập đàn thờ cúng: Cúng thần, đình thần, phong thần. (6) Đấng huyền bí thiêng liêng có thể ban phước hay giáng hoạ cho người: thần bếp, thần gió, long thần, thổ thần, thần minh. (7) Chúa tể vũ trụ: Chí thượng thần (thần tối cao). (8) Họ Thần. tt. (9) Siêu phàm, linh diệu, hay ho: Thần cơ diệu toán (tính toán siêu phàm), thần dược, đũa thần, phép thần.

1.3. Tính: Có 5 chữ Hán姓, 性, 并, 併, 倂, trong trường hợp này là chữ性, cũng đọc là tánh, nghĩa là dt. (1) Bản năng, bản chất tự nhiên trời phú bẩm cho con người: Bổn tính, bẩm tính, tính thiện. (2) Đặc điểm riêng của sự vật: Dược tính, hoá tính, phẩm tính. (3) Mạng sống: Tính mệnh. (4) Giới, phân biệt đực cái: Giới tính, lưỡng tính, dương tính. (5) Tính dục: Tính hành vi (giao hợp). (6) Lối phản ứng: Sử tính tử (nổi giận). (7) Phật Giáo gọi nguyên do của vạn vật.

Nghĩa Nôm: Thói nết: Tính ăn chơi.

2. Nghĩa của chữ thiên tính và thần tính

2.1. Thần tính

Theo các từ điển ngoài Công giáo, thần tính chính là cái hồn của con người ta, linh hồn, tinh thần hay cũng được gọi là "thần hồn" (esprit), ví dụ: Thần hồn nát thần tính (tức là hoảng sợ, tự huyễn hoặc, mình lại gây cho mình nỗi sợ hãi, do non gan yếu bóng vía, không tự chủ được mình).

Theo nghĩa Công giáo, thần tính có nghĩa là bản tính của Thiên Chúa (divinité, nature divine), ví dụ: Ta không thể thấu đạt được thần tính.

2.2. Thiên tính

Theo các từ điển ngoài Công giáo, thiên tính là tính vốn có, tính tự nhiên do trời phú cho, "tính chất tự nhiên" (caractère naturel), ví dụ: Anh ấy có thiên tính hiền lành.

Theo nghĩa Công giáo, thiên tính có nghĩa là bản tính của Thiên Chúa, đồng nghĩa với "thần tính".

2.3. Nhận xét

Trong tiếng Việt, thuật từ divinitas (trong Rm 1,20 và Cl 2,9) được dịch là "bản tính Đức Chúa Lời" (Cha Cố Chính Linh, 1916), "bổn tánh Đức Chúa Trời" (Phan Khôi, 1926). Mãi đến năm 1962 mới được cha Nhân (Gérard Gagnon, CSsR) dịch là "thiên tính" và sau đó cha Nguyễn Thế Thuấn dịch là "thần tính" (1976 ?). Các bản dịch Kinh Thánh sau này đều dùng từ "thần tính". Thực ra, "thần tính" đã được Đức ông Trần Văn Hiến Minh - người đầu tiên khởi xướng việc giảng dạy các môn học thánh ở đại chủng viện bằng Việt ngữ - cùng với các Cha giáo sư Trường Thần học Bùi Chu dùng dịch thuật từ "divinité" từ năm 1952 [2] để bước đầu giảng dạy thần học bằng tiếng Việt trong các chủng viện miền Bắc thời đó, đồng thời ngài cũng đã phổ biến thuật từ này khi biên soạn các sách giáo khoa thần học (Thượng Đế học, Kitô học...). Trong Từ điển Danh từ Triết học (1966), Đức Ông phân biệt rõ 2 nghĩa tâm lý và tôn giáo riêng biệt của thuật từ thần tính này.

Có người cho rằng: "Chữ thiên riêng lẻ một chữ thì có nghĩa là chúa tể vạn vật, nhưng khi đứng chung với một chữ khác, làm thành một từ ghép thì không nhất thiết có nghĩa đó, nhiều khi chỉ có nghĩa là trời (thiên không) mà thôi. Như: thiên tử là con của trời, không nói về trời, mà nhấn mạnh ở tính chất của người con. Hay thiên tài là tài năng trời cho, nhấn mạnh ở tài năng. Thậm chí Thiên Chúa, chữ thiên cũng không có nghĩa là chúa tể. Thiên Chúa chỉ có nghĩa là Chúa ở trên trời mà thôi. Nên thiên tính hoàn toàn không có nghĩa là bản tính của Chúa, mà chỉ có nghĩa là bản tính trời phú cho, tính vốn có".

Thực ra, như đã nói ở trên về nghĩa chữ thiên: Thiên trước hết chỉ về Ông Trời, Đấng Chủ Tể vạn vật, sau đó mới đến nghĩa rộng chỉ về bầu trời (thiên không, khoảng trời xanh) và nghĩa bóng chỉ về tự nhiên (naturel) [3], "do trời sanh ra" như thiên nhiên (la nature, tức trời đất vũ trụ bên ngoài con người), thiên phú (infus), thiên tài (talent)... Vì vậy, "thiên tính" có nghĩa rộng rãi trong toàn dân là tính vốn có, tính tự nhiên do trời phú cho. Trong đó, chữ thiên hiểu theo nghĩa bóng là "do trời sinh ra". Còn "thiên tính" theo nghĩa "bản tính của Thiên Chúa" thì chữ thiên hiểu theo nghĩa hẹp là "Ông Trời", và trong từ ghép thiên tính, chữ tính là chính và chữ thiên là phụ vậy.

Cũng thế, chữ thần cũng có tính chất như chữ thiên, khi ghép chung với một từ khác đôi khi cũng không có nghĩa là vị chúa tể vũ trụ, như thần đồng nghĩa là đứa trẻ có năng lực phi thường, hay thần kỳ nghĩa là việc rất thần bí. Thần học thì nghĩa là môn học về Thần (Thiên Chúa). Trong từ ghép thần tính, chữ tính là chính và chữ thần là phụ vậy.

3. Kết luận

Trong bản dịch Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo của Dòng Don Bosco (1993) và của TGP. Sài Gòn (1997) thì dùng cả 2 từ thần tính và thiên tính, còn bản dịch của HĐGMVN (2010) chỉ dùng từ thần tính mà thôi. Thực tế, hai thuật từ này đã được các tác giả Công giáo sử dụng rộng rãi với ý nghĩa chỉ về bản tính của Thiên Chúa, như chúng ta có thể thấy trong các sách về thần học tín lý.

Hai thuật từ thần tính và thiên tính được sử dụng với ý nghĩa tôn giáo như đã nêu ở trên rất là thích hợp, vì trong tiếng Việt, chúng ta thấy cũng có trường hợp tương tự như từ thần minh vừa có nghĩa là vị thần (nghĩa tôn giáo) vừa có nghĩa là tinh thần của con người (nghĩa tâm lý).

------------------------------

[1] Công đồng Tôlêđô VI - 638: DS 490.

[2] Ban Giáo sư Trường Thần học Bùi Chu, DANH TỪ THẦN HỌC VÀ TRIẾT HỌC, Tủ sách Liên Chủng Viện, Bùi Chu, 1952.

[3] Lê Văn Đức, TỪ ĐIỂN VIỆT NAM, NXB. Khai Trí, Sài Gòn, 1970, tr. 1563.

Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ

Nguồn: truyenthongconggiao.org

--------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 282 =CO NHUNG SU DU PDF Print E-mail

TẠI SAO CÓ NHỮNG SỰ DỮ NHƯ ĐỘNG ĐẤT, THIÊN TAI, BÃO LỤT, BỆNH TẬT,
NGHÈO ĐÓI , BẤT CÔNG XÃ HỘI, KHỦNG BỐ, CHIẾN TRANH ?
Hỏi: , xin cha giải thích lại vì sao có sự khốn khó xẩy ra cho con
người ở khắp nơi từ xưa đến nay và tại sao những kẻ bất lương, làm
sự dữ mà không bị trừng phạt ?
Trả lời:
Một thực tế không ai có thể chối cãi được đó là những sự khốn khó như thiên
tai, bão lụt ,đông đất, bệnh tật, nghèo đói, bất công xã hội, chiến tranh.. , tất
cả đều gây đau khổ cho con người ở khắp mọi nơi, và mọi thời đại.
Tại sao có những sự dữ trên, thì tôi đã có dịp giải thích một lần là sự dữ, nói
chung, là một bí nhiệm (mystery) mà không ai có thể giải thích thỏa
đáng lý do được. Những sự dữ đó vẫn thường xảy ra cho con người ở
khắp mọi nơi từ xưa đến nay, và người ta không có cách nào để ngăn
ngừa, và tránh thiệt hại về nhân mạng và tài sản mỗi khi có thiên tai
như bão lụt, động đất, bệnh tật , nhất là khủng bố và chiến tranh .xảy
ra.
Thánh Augustinô (454-430) cũng đã suy nghĩ nhiều về sự kiện này, nhưng
cuối cùng ngài cũng phải thú nhân như sau: "Tôi cố tìm xem do đâu mà
có sự dữ, sự ác. Và tôi đã không tìm được câu giải đáp." (Confessions
7: 7,11)
Thánh Phaolô cũng nhìn nhận như sau: "Thật vây, bí nhiệm của sự gian
ác đang hoành hành." (2 Tx 2: 7)
Đúng thế, sự dữ, sự ác, nghèo đói, bệnh tật và thiên tai như bão lụt, động
đất, sóng thần (Tsunami) vẫn tiếp tục gây đau khổ cho con người ở khắp mọi
nơi. Một thực tế trái ngược và khó hiểu nữa là những kẻ gian ác, giết người,
cờ bạc, sống vô luân, vô đạo vẫn cứ nhởn nhơ sung túc, trong khi biết bao
người lành, người lương thiện lại gặp những đau khổ, như nghèo đói, bệnh
tật, tai nạn xe cộ, thiên tai v.v. Cụ thể tháng 8 năm 2008, một xe buýt chở
mấy chục người Công giáo ở Houston, Texas đi dự Đại Hội Thánh Mẫu ở Dòng
Đồng Công (Carthage, Misouri) đã gặp tai nạn kinh hoàng khiến hàng chục
người chết và bị thương nặng!
Tại sao họ đi làm việc đạo đức mà lại gặp tai nạn khủng khiếp như vậy,
trong khi các xe buýt khác hàng ngày chở người đi đánh bạc ở Las Vegas,
Lake Charles... hoặc phi cơ chở người di du hí tội lỗi ở Cancun (Mexico ) và
Jamaika...thì lại chưa lần nào gặp tai nạn tương tự?
Lại nữa, phụ nữ sinh con thì dễ mắc bệnh ung thư ngực hay tử cung, nhưng
các nữ tu sống độc thân thì có người cũng mắc chứng nan y này! Người uống
rượu và hút thuốc nhiều thì dễ bị ung thư phổi hay bệnh bao tử, nhưng
nhiều linh mục, tu sĩ không hút thuốc, không nghiện rượu vậy mà có người
cũng bị ung thư phổi, bệnh bao tử!
Thật là điều quá khó hiểu xét theo lý trí và khôn ngoan của con
người.
Xưa kia, người Do Thái thường cho rằng những đau khổ như bệnh tật, nghèo
đói, đui, mù, què câm điếc v,v là hậu quả của tội con người đã phạm. Ví thế.
khi thấy một anh mù từ khi mới sinh, các môn đệ Chúa Giêsu đã hỏi Chúa
xem có phải vì tội của anh này hay tội của cha mẹ anh, Chúa đã trả lời như
sau :"Không phải anh ta, cũng không phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng
chuyện đó xảy ra để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh." (Ga 9: 3)
Việc của Thiên Chúa được tỏ hiện là Chúa đã cho anh mù được trông thấy
để anh vui sướng đi ca tụng Chúa đã chữa cho anh khỏi mù lòa về thể lý,
đồng thời cũng giúp mở mắt thiêng liêng cho anh được biết Chúa là Đấng
Thiên Sai (Messiah) khi anh trả lời Chúa Giêsu: "Thưa Ngài, tôi tin" (Ga 9 :
38).
Như thế, đủ cho ta thấy rằng không thể cắt nghĩa những tai họa xẩy ra ở
khắp nơi như động đát, bão lụt, sóng thần..v.v theo nhãn quan con người
được. Nói rõ hơn, không thể suy đoán là Thiên Chúa đã phạt dân này, nước
kia vì tội họ đã phạm mất lòng Chúa nên phải chịu những tai họa đó.
Cụ thể, cách nay 16 năm một cơn sóng thần đột nhiên xẩy ra ở các bờ biển
chạy dài từ Thái Lan đến Nam Dương quần đảo khiến cho hàng trăm ngàn
người bị nước cuốn đi cùng với nhà cửa, tài sản vào lòng biển cả. Lại nữa
trong tháng 3 năm 2011 , một trận động đất dữ dội cũng gây ra sống thần ở
Nhật Bản khiến hàng chục ngàn người bị giết hay mất tích cùng với nhà cửa,
tài sản của họ.
Mới đây nhất là trận "siêu bão Haiyan" đánh vào Phi Luật Tân năm 2013
khiến hàng chục ngàn người phải thiệt mạng và hàng triệu người khác bị
lâm vào cảnh màn trời chiếu đất vì nhà cửa của họ đã bị bảo cuốn đị hay
phá đổ.
Trước những thảm họa nói trên,.có người đã vội kết luận là vì Nhật Bản gây
nhiều tội ác với các dân Trung Hoa, Triều Tiên và cả ViệtNam trong thời kỳ đệ
nhị thế chiến trước đây, nên bây giờ phải trả nợ máu! Cũng chung một lập
luân như vây, nên Vương quốc Ả Rập Saudite cách nay 16 năm đã từ chối
không trợ giúp nạn nhân các nước Thái Lan, Nam Dương, Ấn Độ bị sống thần
gây nhiều thiệt hại về nhân mang và tài sản, chỉ vì chọ cho rằng các vùng
bải biển bị sóng thần cuốn đi là những nơi ăn chơi tội lỗi của dân địa phương
và những du khách khắp nơi trên thế giới tìm đến để mua vui bất chính nên
đáng bị phạt!
Chúng ta phải nghĩ thế nào về những lập luận đó ?
Để trả lời cho câu hỏi này, ta cần đọc lại một trình thuật trong Tin Mừng
Thánh Luca nói về mấy người Ga-li-lê-a bị Tổng trấn Phila-Tô giết chết rồi
lấy máu hòa lẵn với máu tế vật, và mười tám người khác bị tháp Si-lô-a đổ
xuống đè chết. Trước những thảm họa này, có mấy người biệt phái đã đến
hỏi Chúa Giêsu xem có phải vì tội của họ mà những nạn nhân trên phải đền
phạt cách nhãn tiền hay không. Chúa đã trả lời như sau: "Tôi nói cho các
ông biết, không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không chịu sám
hối thì các ông cũng sẽ chết y như vậy." (Lc 13:5)
Câu trả lời trên của Chúa dạy chúng ta 2 điều quan trọng như sau:
1- Trước hết, không thể vội kết luận rằng những người gặp tai họa như động
đật, bão lụt, sống thần v.v. đều là những người tội lỗi hơn người khác và đáng
bị Thiên Chúa phạt cách nhãn tiền.
Cứ nhìn vào thực trạng thế giới ngày nay cũng đủ cho thấy là suy nghĩ như
trên không đúng
Đây là thực tế: có biết bao nhà độc tài, chế độ cai trị hà khắc, làm khổ người
dân chẳng may rơi vào ách thống trị độc ác của họ. Lại nữa, cũng đầy rẫy ở
khắp nơi những kẻ đang làm những việc vô đạo như giết người, cướp của, cờ
bạc, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho bọn vô lương tâm đang làm giầu với kỹ
nghệ mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) vô cùng khốn nạn và tội lỗi .
Dầu vậy, bọn người này và những nhà độc tài cùng với chế độ ác nghiệt
của họ vẫn tồn tại đã bao nhiêu năm qua, và những kẻ làm điều gian ác, tội
lỗi đó vẫn sống phây phây không biết đến bao giờ mới bị trừng phạt và lật
đổ ???
Tại sao Chúa chưa phạt nhãn tiền những kẻ gian ác này để giải phóng cho
bao triệu dân lành vô tội phải chịu ách thống khổ triền miên như vậy? Tại sao
những kẻ làm những việc vô luân vô đạo vẫn sống phây phây và sung túc để
thách đố những người lương thiện lại gặp gian nan, nghèo đói, bệnh tật đau
khổ?
2- Dầu vậy, tội lỗi cũng có thể gây nên tai họa tức khắc như lời Chúa nói trên
đây: "nếu không sám hối thì sẽ chết". Như thế có nghĩa là dù Chúa biết
và chê ghét tội lỗi của con người, nhưng còn khoan dung chờ kể gian ác, kẻ
có tội, sám hối, cải tà qui chánh để khỏi phải chết không nhữngvề thể xác
mà còn cả về mặt thiêng liêng, tức là phải vĩnh viễn xa lìa Thiên Chúa là
Nguồn an vui, hạnh phúc bất diệt.
Tin Mừng Thánh Gioan cũng kể lại một bênh nhân kia đã được Chúa Giêsu
chữa cho lành khỏi. Nhưng sau đó, khi Chúa gặp lại người này trong Đền
Thờ, Chúa đã nói với anh ta như sau: "Này, anh đã được khỏi bệnh.
Đừng phạm tội nữa kẻo lại phải khốn khó hơn trước." (Ga 5: 14). Như
thế có nghĩa là tội lỗi có thể tức khắc gây ra hậu quả tai hại cho con người
căn cứ theo lời Chúa nói trên đây.
Kinh nghiệm thực tế cũng chứng minh điều này: kẻ lưu manh đôt nhập vào
tư gia để ăn cắp có thể bị chủ nhà bắn chết tại chỗ ( ở Mỹ, đa số người dân
có súng đạn trong nhà để tự vệ). Gian dâm cũng có thể đưa đến án mạng
cho dâm phu hay dâm phụ và tan vỡ hạnh phúc gia đình vì nghen. Say mê
tốc độ để lái xe quá nhanh có thể gây tai nạn tử vong cho chính mình và cho
người khác. Đó là một vài thí dụ điển hình để minh chứng là tội lỗi có thể
gây hậu quả tai hại tức khắc cho những ai liều mình làm những việc sai
trái, tội lỗi.
Tuy nhiên, thường tình chúng ta thấy những kẻ làm điều gian ác độc dữ vẫn
sống nhởn nhơ ở khắp mọi nơi như thách đố những người lành, người lương
thiện đang bị nghèo đói, bệnh tật, bất công xã hội, tai nạn xe cộ v. v.
Nhưng, có lẽ lý do vững chắc để giải thích vì sao những kể gian ác chưa bị
trừng phạt nhãn tiền là vì Thiên Chúa còn khoan dung cho chúng cơ hội để
ăn năn hối cải trước khi Người bất đắc dĩ phải đánh phạt họ như Chúa đã
phán qua miệng ngôn sứ Ê-dê-ki-en như sau
"Ta chẳng vui gì khi kẻ gian ác phải chết, nhưng vui khi thấy nó thay
đổi đường lối để được sống, Hãy trở lại, hãy từ bỏ đường lối xấu xa
của các người mà trở lại." (Ed 33: 11)
Như thế, cho thấy rõ Thiên Chúa quả thực là người Cha nhân lành, đẫy lòng
thương xót và mong muốn cho kẻ tội lỗi thống hối ăn năn để được tha thứ
như Người đã nói........

LM NGÔ TÔN HUẤN

 
HOC HOI DE SONG DAO # 281 = TIM HIEU HOA NGUC PDF Print E-mail

May 17 at 8:54 PM

KIẾN THỨC về HỎA NGỤC

Hỏa ngục hoặc địa ngục là tình trạng bị trừng phạt ở đời sau, nơi các linh hồn chết khi mắc tội trọng phải chịu đau khổ đời đời cùng với Ác thần và ma quỷ. Sự hiện hữu của hỏa ngục là một thực tế có thật, và là một giáo huấn không thể bác bỏ của Giáo hội Công giáo.

Theo Giáo lý Công giáo (GLCG), chúng ta không thể kết hiệp với Chúa nếu chúng ta không yêu mến Ngài. Nhưng chúng ta không thể yêu mến Chúa nếu chúng ta mắc tội trọng, vì tội trọng chống lại Thiên Chúa, chống lại tha nhân và chống lại chính chúng ta. Chết khi mắc tội trọng mà chưa ăn năn, chưa chấp nhận lòng thương xót của Chúa, nghĩa là chúng ta vẫn xa cách Ngài mãi mãi, lỗi tại chúng ta đã chọn cách đó. Tình trạng tự loại bỏ mình khỏi Thiên Chúa và đáng nguyền rủa như vậy được gọi là HỎA NGỤC.

Thiên Chúa không muốn ai xuống hỏa ngục. Tuy nhiên, con người có tự do – chúng ta tự do chọn Chúa hoặc từ khước Ngài. Những người từ khước Thiên Chúa trong cuộc sống này thì không thể kết hiệp với Ngài trên trời. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói: "Hỏa ngục không là hình phạt do Thiên Chúa bắt phải chịu mà là sự phát triển những tiền đề do con người sắp sẵn từ đời này".

Thiên Chúa không tiền định cho ai vào hỏa ngục. Vào hỏa ngục là "cố ý xa rời Thiên Chúa (tội trọng), và ngoan cố cho đến cùng" (GLCG).

TỘI TRỌNG LÀ GÌ?

Giáo hội Công giáo dạy rằng tội trọng chưa được ăn năn khi chết sẽ khiến người ta chết đời đời. Nhưng nghĩa chính xác của "tội trọng" là gì? GLCG dạy: "Tội trọng là vi phạm điều nghiêm trọng với ý thức đầy đủ và hoàn toàn ưng thuận".

GLCG giải thích: "Cẩn thận chọn lựa – nghĩa là biết và muốn – điều gì đó trái ngược với luật Chúa và giữ tới cuối đời là phạm tội trọng. Điều này hủy hoại sự nhân ái trong chúng ta mà không thể được phúc đời đời. Không ăn năn dẫn tới sự chết đời đời".

HỎA NGỤC LÀ ĐỜI ĐỜI?

Giáo hội xác định rõ ràng sự hiện hữu của hỏa ngục và tính chất đời của nói: "Ngay sau khi chết, linh hồn của những người chết trong tình trạng tội trọng đều vào hỏa ngục, nơi họ chịu hình phạt của hỏa ngục, lửa đời đời".

HỎA NGỤC VÀ ĐAU KHỔ Ở HỎA NGỤC THẾ NÀO?

Đau khổ khủng khiếp nhất trong hỏa ngục là linh hồn phải xa lìa Thiên Chúa. Chúng ta được tạo dựng cho Thiên Chúa. Sau khi chết, linh hồn hướng về Thiên Chúa với lực rất mạnh, như sao băng rơi xuống đất. Linh hồn khao khát Thiên Chúa, như cá rất cần nước khi nó bị bắt lên bờ. Những mơ ước của tâm hồn khiến chúng ta ray rứt suốt đời (tài sản, quyền lực, vinh dự, niềm vui, thành công,...) vội biến mất như ký ức xa xưa, tiêu tan như sương tan chảy trong ánh nắng.

Nhưng linh hồn phạm tội trọng nhận biết tình trạng của mình, lập tức bị Thiên Chúa phán xét và phải vào hỏa ngục: "Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó!" (Mt 25:41). Sự từ khước đó khiến chúng ta bị áp đảo – nó thiêu đốt chúng ta theo cách khủng khiếp nhất về thể xác mà không thể tái tạo.

Hãy tưởng tượng khi mẹ của chúng ta nói với chúng ta: "Đi cho khuất mắt tao, mày là đứa con mất dạy! Tao không bao giờ muốn thấy mặt mày nữa!". Hãy tưởng tượng nỗi đau của một người mẹ khi đứa con không nhìn nhận mình là mẹ. Chúng ta không thể chịu được những nỗi đau như vậy, và khiến nhiều người thất vọng. Hãy so sánh nỗi đau đó với nỗi đau bị Chúa từ khước, chúng ta sẽ cô đơn đến cùng cực, đó là nỗi đau khổ của các linh hồn sau khi chết phải vào hỏa ngục.................

LÀM SAO BIẾT CÓ HỎA NGỤC?

Chúng ta biết có hỏa ngục vì chính Chúa Giêsu đã xác định như vậy. Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật, chứ không chỉ là thánh nhân hoặc tiên tri. Ngài chứng tỏ thần tính của Ngài qua các phép lạ: Làm cho người chết sống lại, và làm những điều mà những người bình thường không thể làm. Đặc biệt là Ngài chứng tỏ thần tính của Ngài khi Ngài phục sinh – chỉ có Thiên Chúa mới khả dĩ làm vậy, kiểm soát cả sự sống và sự chết.

Các tông đồ và các môn đệ là những nhân chứng của sự kiện này, và Kinh Thánh đã ghi lại các chứng cớ đó. Liệu họ có bị lừa không? Họ có là những người nói dối và thêu dệt những chuyện chết đi rồi sống lại? Không thể như vậy, với lý do đơn giản là họ đã chết để làm chứng sự thật này. Liệu bạn có dám chết vì điều dối trá? Họ đã hết lòng tin vào sự phục sinh của Chúa Giêsu, và tin cho đến chết.

Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhiều lần Ngài đã nói rằng CÓ HỎA NGỤC, vì thế hỏa ngục phải có thật! Trong Kinh Thánh, Chúa Giêsu đã nói về hỏa ngục hơn 50 lần! Ngài nói cho chúng ta biết về "lò lửa", nơi người ta "phải khóc lóc nghiến răng" (Mt 13:42). Ngài nói với chúng ta về hỏa ngục với "lửa không hề tắt" (Mc 9:43). Ngài giải thích cho chúng ta biết rằng hỏa ngục là nơi đau khổ đời đời, không thể rút lại hoặc giảm bớt đau khổ, như trong dụ ngôn "phú hộ và Ladarô" (Lc 16:19-31)..............

TẠI SAO THIÊN CHÚA THƯƠNG XÓT LẠI TẠO HỎA NGỤC VỚI HÌNH PHẠT ĐỜI ĐỜI?

Hỏa ngục là nơi Thiên Chúa trừng phạt chúng ta vì tội lỗi chúng ta đã phạm. Đó là tình trạng đau khổ mà chính chúng ta đã tự do chọn lựa khi còn sinh thời: Chọn Chúa hoặc bỏ Chúa. Những người từ khước Chúa khi sinh thời và chết mà không ăn năn sám hối, tức là tự kết án mình và tự làm khổ mình vì quyết định riêng. Hỏa ngục không là hình phạt do Thiên Chúa bắt phải chịu, nhưng đó là ý muốn tự do của chúng ta mà thôi.

Thiên Chúa vô cùng tốt lành và nhân hậu. Ngài muốn chúng ta kết hiệp với Ngài trên trời. Thật vậy, thậm chí Ngài còn sai Con Một Giêsu đến thế gian chịu chết vì chúng ta, để chúng ta có cơ hội vào Nước Trời. Nhưng có điểm quan trọng phải ghi nhớ: Chúng ta hoàn toàn được tự do chọn lựa cách sống. Chúng ta tự do chọn Chúa hoặc bỏ Chúa. Thiên Chúa không nhẫn tâm, không hề muốn ném chúng ta vào lửa hỏa ngục.

Thật vậy, Thiên Chúa trở nên "yếu đuối" trước ý muốn tự do của chúng ta. Ngài không thể ép chúng ta yêu mến Ngài, phục vụ Ngài, và kết hiệp với Ngài trên trời. Chúng ta tự do từ bỏ Ngài. Chúng ta tự do muốn sống không cần Ngài – cả đời này và đời sau. Khi sống đối lập với Thiên Chúa, chúng ta tự kết án mình và tách rời khỏi Ngài trong đời sau.".

Cũng trong lần tiếp kiến chung đó, Thánh Gioan Phaolô II giải thích: "Do đó, sự kết án đời đời không do Thiên Chúa, vì với lòng thương xót vô biên, Ngài chỉ có thể muốn cứu độ các thụ tạo của Ngài. Đó là những thụ tạo gần gũi với tình yêu của Ngài. Sự kết án là do tách khỏi Thiên Chúa, nhân loại tự ý chọn và cố chấp tới lúc chết. Sự phán xét của Thiên Chúa xác nhận tình trạng này".....................

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ all-about-the-virgin-mary.com)

Kính chuyển:
Hồng

--------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 76