mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1384
mod_vvisit_counterHôm Qua7179
mod_vvisit_counterTuần Này42132
mod_vvisit_counterTuần Trước45009
mod_vvisit_counterTháng Này121383
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10262696

We have: 146 guests online
Your IP: 54.242.94.204
 , 
Today: Feb 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG ĐAO - AI DUOC CUU ROI ? PDF Print E-mail

NHỮNG NGƯỜI KHÔNG GIA NHẬP GIÁO HỘI CÔNG GIÁO CÓ ĐƯỢC CỨU RỖI KHÔNG ?
Hỏi :
xin cha cho biết các tín hữu của các tôn giáo bên ngoài Giáo Hội Công Giáo , kể cả những người vô thần , có được cứu rỗi hay không ?
Trả lời :
Nói đến cứu rỗi là nói đến hạnh phúc Nước Trời dành cho những ai tin và yêu mến Thiên Chúa khi còn sống trân trần gian này, và cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu-Kitô.
Thật vậy, Thiên Chúa là tình yêu, là " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)
Đó là chân lý mà Thánh Phaolô Tông Đồ đã dạy không sai lầm từ trên 2000 năm qua.Thiên Chúa muốn cho mọi người không phân biết mầu da, ngôn ngữ và văn hóa được cứu độ, nên đã sai Con Một Người là Chúa Kitô đến trần gian cách nay trên 2000 năm để cứu chuộc cho con người khỏi chết đời đời vì tội.
Chúa Kitô đã hoàn tất công cuộc cứu chuộc này qua khổ hình thập giá, chết, sống lại và lên Trời ngự bên hữu Chúa Cha. Công nghiệp cứu chuộc này thật vô giá và vô cùng cần thiết cho những ai muốn được cứu rỗi để vui hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Nhưng, muốn được cứu rỗi thì nhất thiết phải tin Chúa Kitô và cậy nhờ công nghiệp cực trọng của Chúa. Nói rõ hơn, nếu Chúa Kitô không vâng phục Chúa Cha mà xuống trần gian làm Con Người, và " hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20:28) thì tuyệt dối không ai có thể làm được gì để xứng đáng được cứu rỗi, vì " ngoài Người ( Chúa Kitô) ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gần trời này , không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ." ( Cv 4: 12)
Như thế có nghĩa là tất cả loài người – kể cả Mẹ Maria, Thánh Cả Giuse, cao trọng trong thiên chức là Mẹ thật và là Cha nuôi Chúa Kitô, cùng các Thánh Tổ Tông, các Thánh Tiên tri (Ngôn sứ), các Thánh Tông Đồ... đều phải nhận công nghiệp cứu chuôc của Chúa Kitô để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa là Cha và cũng là Đấng cứu độ chúng ta nhờ Chúa Kitô.
Sở dĩ Danh Thánh và công nghiệp của Chúa Kitô cực kỳ quan trọng như vậy, vì
" chỉ có một Thiên Chúa
Chỉ có một Đấng trung gian
Giữa Thiên Chúa và loài người
Đó là một con người, Đức Kitô- Giêsu
Đấng đã tự hiến mình làm giá chuộc cho mọi người." ( 1Tm 2: 5-6)
Nghĩa là bất cứ ai được cứu độ từ trước đến nay và còn mài về sau cho đến ngày hết thời gian, thì đều phải nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá này của Chúa Kitô, Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người.
Từ chân lý này, Giáo Hội dạy chúng ta phải gia nhập Giáo Hội,được Chúa Kitô thiết lập trên nền tảng Tông Đồ và chịu Phép Rửa để được cứu rỗi nhờ công nghiệp của Chúa Kitô. Phải được rửa tội , tức là phải được tái sinh trong sự sống mới được mua bằng giá máu Chúa Kitô một lần đổ ra trên thập giá năm xưa để cho "ai tin và chịu phép rửa thì được cứu độ, ai không tin sẽ bị luận phạt." ( Mc 16: 16), như Chúa đã nói với các môn đệ trước khi Người về Trời, sau khi hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết, sống lại và lên Trời.
Chúa đã thiết lập Giáo Hội của Người trên nền tảng Tông Đồ Trưởng là Phêrô như phương tiện cần thiết để chuyên chở ơn cứu độ của Người đến hết mọi người trên trần gian cho đến ngày cánh chung – tức là ngày tận thế.
Giáo Hội này " tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các giám mục hiệp thông với ngài điều khiển.." ( LG. số 8).
Vì thế " những ai biết rằng Giáo Hội Công Giáo , được Thiên Chúa thiết lập nhờ Chúa Kitô, như phương tiện cứu rỗi cần thiết mà vẫn không muốn gia nhập hoặc không muốn kiên trì sống trong Giáo Hội này thì sẽ không thể được cứu rỗi." ( LG. số 14)
Nói khác đi, những ai biết Giáo Hội Công Giáo là phương tiện cứu rỗi cần thiết mà vẫn không muốn gia nhập, hoặc đã gia nhập qua Phép Rửa rồi mà lại không kiên trì sống đức tin, đức cậy, đức mến trong Giáo Hội này thì cũng sẽ không được cứu rỗi như Giáo Hội dạy trên đây.
Dầu vậy, đối với những người không vì lỗi của họ mà không được biết Chúa Kitô cũng như không được rửa tội vì không ai giúp họ về việc quan trọng này, Giáo Hội cũng dạy là nếu họ sống ngay lành và làm mọi việc theo sự hướng dẫn lành mạnh của lương tâm, thì họ vẫn có thể được cứu rỗi nhờ Danh Chúa Kitô và công nghiệp cứu chuộc của Chúa.( x SGLGHCG số 847; LG số 16)
Ngược lại, những người đã được biết Chúa qua đức tin và đã gia nhập Giáo Hội qua Phép Rửa, nhưng nếu họ không sống đức tin ấy và không thi hành những cam kết khi được rửa tội là mến Chúa trên hết mọi sự và xa trsnh mọi tội lỗi, để lao mình vào những con đường tội lỗi như giết người, hận thù, trộm cắp , bóc lột, bất công bạo tàn, dâm ô thác loạn, buôn bán phụ nữ và bắt cóc trẻ nữ để bán cho bọn bất lương hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn ...thì làm sao bọn này có thể được cứu rỗi, nếu chúng cứ tiệp tục con đường tội lỗi mà không kíp ăn năn , sám hối để xin Chúa thứ tha ? .
Trong trường hợp này, dù có ai trong bọn người này đã được rửa tội khi còn nhỏ, thì phép Rửa cũng hoàn toàn vô ích cho họ mà thôi.
Riêng đối với các tín hữu của các tôn giáo bên ngoài Giáo Hội Công Giáo, chúng ta cần phân biệt hai trường hợp sau đây :
1- Trước hết là các Tôn giáo có liên hệ ít nhiều về nguồn gốc với Công Giáo như các Giáo Hội Chinh Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches ) các nhánh Tin Lành ( protestanism) Anh Giáo ( Anglican Communon) và Do Thái Giáo ( Judaism) tức là những giáo phái không đang hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo, vì có những bất đồng về tín lý, Kinh Thánh , Phụng Vụ và nhất là về vai trò Đại Diện ( Vicar) Chúa Kitô của Đức Giáo Hoàng La mã.
Đối với các Giáo Hội chưa hiệp thông này, Giáo Hội Công Giáo vẫn tha thiết mời gọi sự hiệp nhất Kitô Giáo qua nỗ lực đai kết ( Ecumenism) mà Giáo Hội đã theo đuổi từ nhiều thập niên qua, nhưng cho đến nay, mới chỉ đạt được việc bỏ vạ tuyệt thông giữa hai Giáo Hội Công Giáo và Chính Thông Đông phương sau cuộc hội ngộ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Hy Lap Anathegoras I năm 1966.Vạ tuyệt thông ( Anathema) này đã xảy ra từ năm 1054 giữa hai Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La mã vì những bất đồng không thể hàn gắn được giữa hai Giáo Hội anh em này.
Gần đây có thêm một số khá đông giáo sĩ và giáo dân Anh giáo xin gia nhập Công Giáo và đã được hoan hỉ đón nhận. Ngoài ra chưa có tiến bộ nào trong việc hiệp nhất giữa Công Giáo và các nhánh Tin Lành, và Do Thái giáo , mặc dù Tòa Thánh vẫn có những liên hệ mật thiết với các giáo phái này và vẫn luôn hướng về các anh em còn ở bên ngoài Công Giáo này để cầu xin cho sự hiệp nhất được sớm thực hiện với thiện chỉ của các bên liên hệ.
Riêng các tín hữu của các Giáo hội chưa hiệp nhất này, Giáo Hội Công Giáo không hoài nghi ơn cứu rỗi dành cho họ, vì tin rằng, nếu họ sống đúng với niềm tin của họ vào Chúa Cứu Thế Giêsu để thành tâm yêu mến và thi hành ý muốn của Thiên Chúa, thì họ vẫn được hưởng nhờ ơn cứu chuộc của Chúa Kitô.
2- Đối với các Tôn giáo ngoài Kitô Giáo khác như Hồi Giáo,( Islam) Ấn Giáo ( Hinduism) Phật Giáo ( Buddhism) , Khổng Giáo ( Confucianism)
Thần Đạo ( Shinto) ( của người Nhật) , v.v, kể cả những người vô thần ( Atheists..tuy họ ở bên ngoài Công Giáo, và khong chia sẻ niêm tin có Chúa của Giáo Hội Công Giáo, nhưng Giáo Hội không hề dạy là họ sẽ không được cứu rỗi. Xa xưa trong thời sơ khai của Giáo hội, đã có giáo phụ dạy là không có ơn cứu độ ngoài Giáo Hội ( no salvation outside the Church).
Nhưng lời dạy trên không trở thành giáo lý vững chắc còn tồn tại trong Giáo Hội cho đến ngày hôm nay. Ngược lại, Giáo Hội , qua Công Đồng Vaticanô II với tuyên ngôn Nostra Aetate về mối liên lạc giữa Giáo Hôi và các Tôn giáo ngoài Kitô Giáo, đã minh xác như sau:
" Giáo Hội Công Giáo không hề phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó.Với lòng kính trọng chân thành.Giáo Hội xét thấy những phương thức hành động và lối sống , những huấn giáo và giáo thuyết kia tuy rằng có nhiều điểm khác với chủ trương mà Giáo hội duy trì, nhưng cũng thường đem lại ánh sáng của chân lý.Chân lý chiếu soi cho hết mọi người...vì thế, Giáo Hội khuyến khích con cái mình nhìn nhận , duy trì và cổ động cho những thiện ích thiêng liêng cũng như luân lý và những giá trị xã hội và văn hóa của các tín đồ thuộc các tôn giáo khác bằng con đường đối thoại và hợp tác cách thân trọng và bác ái đối với tín đồ tín đồ các tôn giáo ấy mà vẫn là chứng tá của đức tin và đời sống Ki tô giáo." ( Nostra Aetate số 2)
Như thế có nghĩa là Giáo Hội Công Giáo không phán đoán tiêu cực về bất cứ tôn giáo nào bên ngoài Giáo Hộ, và hơn thế nữa, còn kêu gọi người Công Giáo nên có thái độ thân thiện với các tín đồ các tôn giáo khác, trong khi vẫn trung thành với đức tin Kitô giáo và sống vai trò nhân chứng ( witnessing) của mình trước mặt người đời để mời gọi họ tin Chúa Kitô và gia nhập Giáo Hội của Chúa để được hưởng công nghiệp cứu chuộc của Người.
Nói rõ hơn, Giáo Hội không lên án ai chưa hiệp thông với mình trong đức tin và thờ lậy một Thiên Chúa với Ba ngôi vị khác nhau nhưng cùng một bản thể là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Giáo Hội chỉ cầu nguyện và cố gắng xích lại gần với mọi tôn giáo có hay không có nguồn gốc Kitô giáo.
Liên can đến vấn đề cứu rỗi , Giáo hội chỉ dạy con cái mình phải làm gì để được cứu độ cũng như phải xa tránh những gì có thể làm mất hy vọng cứu độ mà thôi.
Còn đối với những người chưa biết Chúa Kitô, kể cả những người vô thần ( Atheists), Giáo Hội phó thác họ cho Chúa là Đấng chí công, nhân từ và giầu lòng thương xót, để tùy Người phán đoán và hướng dẫn họ trên đường tìm chân lý và tôn thờ Đấng đáng phải tin. Chính trong chiều kích này mà biết đâu họ cũng sẽ gặp được Thiên Chúa là Thượng Đế mà họ đang kiếm tìm hay chưa có thiện chí muốn tìm kiếm. Nhưng, nếu họ vẫn sống ngay lành theo sự hướng dẫn của lương tâm lành mạnh, thĩ họ vẫn có thể được cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Trái lại, những người đã biết Chúa , đã chịu phép rửa, đã gia nhập Giáo Hội, mà nay lại chối bỏ Chúa bằng chính đời sống của họ để lao mình vào nhứng con đường tội lỗi, gian ác thì sẽ không được cứu rỗi, trừ khi họ muốn ăn năn chừa bỏ để xin tha thứ. Thiên Chúa gớm nghét mọi lỗi nhưng lại yêu thương người có tội biết sám hối , ăn năn và xin tha thứ. Chắc chắn Chúa sẽ tha thứ và ban ơn cứu độ cho họ vì công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.
Vì thế, chúng ta phải cầu xin cách riêng cho những anh chị em chưa biết Chúa để xin cho họ được mau nhận biết và tin Chúa là Đấng tạo dựng và cứu độ duy nhất của loài người, được Chúa yêu thương đến nỗi đã hy sinh Con của mình là Chúa Kitô, " Đấng đã hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người,"( Mt 20:28)
Tóm lại,Thiên Chúa là tình thương. Người mong muốn cho mọi người được cứu độ để sống hạnh phúc Thiên Đàng với Người trên Nước Trời mai sau.
Là người may mắn có niềm tin Chúa và đang sống đức tin trong Giáo Hội, mọi người tín hữu chúng ta đều được mong đợi quan tâm đến phần rỗi của người khác, cách riêng những người chưa nhận biết Chúa để cầu xin cho họ được đức tin như mình để cùng được cứu độ như lòng Chúa mong muốn.
Ước mong giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU TU -TUAN BAT NHAT GS PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Chúng con ca ngợi Chúa là Thiên Chúa; lạy Chúa, ca đoàn vinh quang của các tông đồ ca ngợi Chúa. - Alleluia.

HOC HỎI- SUY NIỆM - SỐNG Phúc Âm: Ga 20, 2-8

"Môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô và đến mộ trước ông".

Ngày thứ nhất trong tuần, Maria Mađalêna chạy đến gặp Simon Phêrô và môn đệ kia mà Chúa Giêsu yêu, bà nói: "Người ta đã lấy xác Chúa khỏi mộ rồi, chúng tôi không biết họ để đâu".

Bấy giờ Phêrô ra đi với môn đệ kia đến mộ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô và đến mộ trước ông. Cúi nhìn vào, người môn đệ đó thấy tấm khăn liệm xác hãy còn, nhưng không vào. Bấy giờ Simon Phêrô theo sau cũng đến, và đi vào trong mộ, thấy khăn liệm xác còn đó, và khăn che mặt để trên phía đầu Người, không để chung với khăn liệm xác, nhưng đã cuốn riêng để vào một chỗ.

Bấy giờ môn đệ đã đến trước cũng vào; ông đã thấy và đã tin.

Ðó là lời Chúa.

Suy Nghiệm - CHIA SẺ Lời Chúa

Bao giờ cũng thế, năm nào cũng vậy, theo sự sắp xếp đầy ý nghĩa của Giáo Hội, Lễ Thánh Gioan Tông Đồ luôn được Giáo Hội cử hành vào ngày 27/12 trong Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, một trong 5 thánh lễ Giáo Hội cố ý sắp xếp vào Tuần Bát Nhật Giáng Sinh: Lễ Thánh Stephano Tử Đạo ngày 26/12, ngày 27/12 Lễ Thánh Gioan Tông Đồ, 28/12 Lễ Các Thánh Anh Hài, Lễ Thánh Gia vào Chúa Nhật trong Tuần Bát Nhật (nếu không có Chúa Nhật này, như năm 2016, vì Chúa Nhật cuối Tuần Bát Nhật chính là ngày 1-1, Lễ Mẹ Thiên Chúa, thì mừng vào ngày 30/12), và Lễ Mẹ Thiên Chúa 1/1 ngày cuối cùng của Tuần Bát Nhật. Tất cả đều ở bậc Lễ Kính (có Kinh Vinh Danh), trừ Lễ Mẹ Thiên Chúa ở bậc lễ trọng buộc.

Vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao Lễ Thánh Gioan Tông Đồ lại được Giáo Hội sắp xếp vào Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, nhất là tại sao vị tông đồ tự nhận mình là "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" này (xem Gioan 13:23; 19:26; 20:2; 21:7), có nghĩa là gần gũi nhất hay thân mật nhất với Chúa Kitô như thế, mà Giáo Hội vẫn cử hành lễ kính ngài sau lễ kính Phó Tế Tử Đạo Tiên Khởi Stephano?

Trước hết, về lý do tại sao Lễ Thánh Gioan Tông Đồ lại được Giáo Hội sắp xếp vào Tuần Bát Nhật Giáng Sinh là bởi vì vị tông đồ này, vị tông đồ khẳng định rằng thành phần "không công nhận Chúa Kitô sinh ra bởi xác thịt" (2Gioan 7) là phản kitô, đã tin Chúa Kitô Phục Sinh ngay vừa khi thấy dấu chứng phục sinh, so với tông đồ Phêrô, như được chính ngài thuật lại trong bài Phúc Âm hôm nay:

"Bấy giờ Phêrô ra đi với môn đệ kia đến mộ. Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô và đến mộ trước ông. Cúi nhìn vào, người môn đệ đó thấy tấm khăn liệm xác hãy còn, nhưng không vào. Bấy giờ Simon Phêrô theo sau cũng đến, và đi vào trong mộ, thấy khăn liệm xác còn đó, và khăn che mặt để trên phía đầu Người, không để chung với khăn liệm xác, nhưng đã cuốn riêng để vào một chỗ. Bấy giờ môn đệ đã đến trước cũng vào; ông đã thấy và đã tin".

Tin Chúa Kitô phục sinh từ trong kẻ chết, từ trong một thân xác đã thật sự chết như chính mắt ngài đã chứng kiến thấy khi được đứng kề thập giá Chúa Kitô với Mẹ Chúa Giêsu (xem Gioan 19:25), chính là tin "Chúa Kitô đã đến trong xác thịt". Và chỉ có duy một mình người môn đệ được Chúa Giêsu yêu này (trong tất cả tông đồ đoàn) mới đích thân thấy được, nếu không muốn nói được tham dự một phần nào vào Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, một cuộc vượt qua từ cõi chết (trên Đồi Canvê) sang cõi sống (trong ngôi mộ trống), mà cũng chỉ có mình ngài mới có thể minh chứng và loan truyền Tin Mừng Sự Sống là những gì chính ngài đã viết trong đoạn mở đầu Phúc Âm của ngài ở Bài Đọc 1 hôm nay rằng:

"Ðiều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống. Quả vậy, sự sống đã trở nên hữu hình, Chúng tôi đã thấy và làm chứng, chúng tôi loan báo cho anh em sự sống đời đời: sự sống ấy vẫn hướng về Chúa Cha và nay đã được tỏ bày cho chúng tôi. Ðiều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Ðức Giêsu Kitô, Con của Người".

Sau nữa, về lý do tại sao vị tông đồ tự nhận mình là "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" này (xem Gioan 13:23; 19:26; 20:2; 21:7), có nghĩa là gần gũi nhất hay thân mật nhất với Chúa Kitô như thế, mà Giáo Hội vẫn cử hành lễ kính ngài sau lễ kính Phó Tế Tử Đạo Tiên Khởi Stephano, là vì được sắp xếp sau không có nghĩa là kém hơn, như trường hợp loài người được tạo dựng sau cùng vào ngày thứ sáu trong 6 ngày tạo dựng chẳng những không phải là loài kém nhất mà lại là loài nhất đẳng tạo vật được Thiên Chúa dựng nên.

Thế nhưng, nếu Thánh Gioan Tông Đồ, theo vai trò của ngài liên quan đến Mầu Nhiệm Giáng Sinh của Chúa Kitô thật sự là hơn Thánh Stephano Phó Tế Tử Đạo Tiên Khởi thì hơn ở chỗ nào?

Vẫn biết Phó Tế Stephano Tử Đạo Tiên Khởi không phải là tông đồ như Thánh Gioan nhưng tự việc tử đạo của ngài cũng cho thấy về tinh thần ngài quả thực là tông đồ của Chúa Kitô, vì tông đồ theo nghĩa Hy Lạp là làm chứng. Vị phó tế này tuy không được đích thân chứng kiến thấy Chúa Kitô khổ giá và tử nạn như Thánh Gioan Tông Đồ, nhưng nếu ngài không hiệp nhất nên một với Chúa Kitô thì ngay trước khi chết ngài sẽ không được thị kiến thấy nhân tính của Chúa Kitô nơi hình ảnh "Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa", và đồng thời ngài cũng khôngthể nào có một tác động giống hệt Chúa Kitô trước khi chết bởi tay kẻ thù mình là tác động xin tha cho kẻ thù của mình, như Bài Đọc 1 ở Sách Tông Vụ hôm qua cho thấy.

Tuy nhiên, dầu sao vị phó tế tử đạo tiên khởi này cũng chỉ được xem thấy và làm chứng cho một Chúa Kitô đến trong xác thịt bằng chính máu của mình, còn Thánh Gioan Tông Đồ được hơn ở chỗ tham dự vào chính biến cố Vượt Qua, đến độ, có thể nói chính vì đã tử đạo vì yêu với tất cả đớn đau đến tột cùng trước cuộc khổ giá của Thày vào chính lúc được thông phần ấy mà chỉ một mình ngài trong tông đồ đoàn là không tử đạo bằng máu của bản thân mà thôi.

Chưa hết, Thánh Gioan Tông Đồ còn hơn vị phó tế tử đạo tiên khởi ở chỗ người môn đệ được Chúa Giêsu yêu này đã thị kiến thấy, qua thị kiến Khải Huyền, vương quốc của Thiên Chúa trị đến, như được chính Chúa Giêsu ám chỉ về ngài qua câu nói: "có mấy người trong các con ở đây sẽ không chết cho tới khi thấy Con Người đến trong vương quốc của Người" (Mathêu 16:28; xem Marco 9:1; Luca 9:27).

Căn cứ vào nội dung của Phúc Âm thứ tư, so với bộ Phúc Âm Nhất Lãm 3 cuốn trước đó, thì phải nói rằng tác giả của cuốn Phúc Âm thứ tư này thật sự đã được chiêm nghiệm thần tính của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu Kitô, một thần tính được Chúa Kitô là "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), "hằng ở cùng Cha tỏ Cha ra" (Gioan 1:18), như "ánh sáng thế gian... ánh sáng sự sống" (Gioan 8:12).

Tuy nhiên, theo dự án thần linh cứu độ của Thiên Chúa thì tất cả đều bổ túc cho nhau. Bởi thế, có thế nói, Thánh Gioan Tông Đồ và Thánh Stephano Phó Tế Tử Đạo Tiên Khởi được Giáo Hội sắp xếp về phụng vụ như thể song song với nhau và bổ túc cho nhau. Lễ kính Thánh Stephano là vị tử đạo làm chứng cho một Chúa Kitô đến trong xác thịt, còn Thánh Gioan Tông Đồ là người môn đệ làm chứng cho "Lời hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta, và chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người, vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14).

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

--------------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THANH TEPHANO TU DAO PDF Print E-mail

26/12

Lễ Thánh Stephano Tử Đạo

Lời Chúa

Bài Ðọc I: Công vụ 6, 8-10

"Kìa tôi xem thấy trời mở ra"

Trong những ngày đó, Têphanô đầy ân sủng và sức mạnh, làm nên những điều kỳ diệu và những phép lạ cả thể trong dân.

Bấy giờ, có nhóm người kia, thuộc Hội đường, mệnh danh là "của những người Tự Do, người Xirênê và Alexandria", và những người khác từ xứ Cilicia và Á đông, đã nổi dậy.

Họ tranh luận với Têphanô, nhưng họ không thể đương đầu với sự khôn ngoan và Thánh Thần vẫn giúp cho ông nói.

Nghe ông nói, họ phát điên lên trong lòng, và họ nghiền răng phản đối ông.

Nhưng Têphanô, đầy Thánh Thần, nhìn lên trời, đã xem thấy vinh quang của Thiên Chúa, và Ðức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa.

Ông đã nói rằng:

"Kìa, tôi xem thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa".

Bấy giờ họ lớn tiếng kêu la và bịt tai lại, và họ nhất tề xông vào ông.

Khi lôi ông ra ngoài thành, họ ném đá ông.

Và các nhân chứng để áo của họ dưới chân một người thanh niên tên là Saolê.

Rồi họ ném đá Têphanô, đang lúc ông cầu nguyện rằng:

"Lạy Chúa Giêsu, xin đón nhận tâm hồn tôi".

Thế rồi ông quì gối xuống, lớn tiếng kêu lên rằng:

"Lạy Chúa, xin đừng trách cứ họ về tội lỗi nầy".

Nói xong câu đó, ông đã an giấc trong Chúa.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv. 30,3cd 4, 6ab và 8a, 17 và 21ab

Ðáp: Lạy Chúa, tôi xin phó mạng sống tôi trong tay Chúa.

Xướng 1) Xin Chúa nên núi đá tôi nương náu, và nên thành trì cứu thoát tôi, bởi Chúa là núi đá và là thành trì của tôi, vì danh Chúa, xin dẫn đàng chỉ lối cho tôi. - Ðáp.

2) Tôi phó mạng sống tôi trong tay Chúa, Lạy Chúa là Thiên Chúa trung tín, xin cứu thoát tôi.

3) Còn tôi, tôi trông cậy nơi Chúa, tôi hân hoan vui mừng vì lòng từ bi Chúa. - Ðáp.

4) Xin Chúa tỏ mặt nhân lành với tôi tớ Chúa, và lấy lòng thương xót Chúa cứu thoát tôi. Chúa che chở những ai nấp dưới nhan thánh Chúa khỏi mưu chước của loài người. Chúa giấu họ trong nhà Chúa khỏi miệng lưỡi gian ngoa. - Ðáp.

Alleluia: Tv. 117, 26a và 27a

Alleluia, alleluia - Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến; Chúa là Thiên Chúa đã soi sáng chúng ta. Alleluia.

Phúc Âm: Mt 10,17-22

"Không phải chúng con nói, nhưng là Thánh Thần của Chúa Cha"

Ngày ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng:

"Chúng con hãy coi chừng người đời.

Họ sẽ nộp chúng con cho công nghị, họ sẽ đánh đòn chúng con nơi hội đường.

Vì Ta, chúng con sẽ bị điệu đến trước vua quan, để làm chứng trước mặt họ và các dân.

Nhưng khi người ta nộp chúng con, chúng con chớ lo lắng phải nói sao và nói gì, vì không phải chúng con nói, nhưng là Thánh Thần của Chúa Cha chúng con sẽ nói thay cho.

Anh sẽ nộp em cho người ta giết, cha sẽ nộp con, con cái chống đối cha mẹ và làm cha mẹ phải chết.

Vì Ta, chúng con sẽ bị mọi người ghét bỏ, nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, sẽ được cứu rỗi.

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy niệm- SỐNG LỜI CHÚA

Emmanuel Huyết Chứng

Theo lịch trình phụng niên, ngay sau Đại Lễ Giáng Sinh ngày 25/12 là Lễ Thánh Stephano Tử Đạo, 26/12, trước cả Lễ Tông Đồ Gioan 27/12 là "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" (Gioan 19:26; 20:2; 21:7,20).

Phải chăng 2 vị thánh này được Giáo Hội cố ý sắp xếp lễ kính vào hai ngày ngay sau Đại Lễ Giáng Sinh, căn cứ vào phụng vụ Lời Chúa cho mỗi lễ kính từng vị, bởi vì hai vị là hai nhân chứng liên quan đến Ngôi Vị có hai bản tính của Chúa Giêsu: Thánh Stephanô là nhân chứng về nhân tính của Chúa Kitô và Thánh Gioan Tông Đồ là nhân chứng về thần tính của Người.

Đúng thế, Sách Tông Vụ trong Bài Đọc 1 hôm nay đã thuật lại chẳng những lời chứng của vị phó tế tử đạo tiên khởi về nhân tính của Chúa Kitô, Vị Thiên Chúa Làm Người, là: "Kìa, tôi xem thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa", mà còn việc chứng của ngài nữa: "Lạy Chúa, xin đừng trách cứ họ về tội lỗi nầy", một hành động tha thứ cho kẻ sát hại mình như chính Chúa Kitô đã thực hiện trên cây thập tự giá (xem Luca 23:34).

Nếu Chúa Kitô giáng sinh làm người là "để tỏ Cha ra" (Gioan 1:18) nơi bản thân của Người là hiện thân đích thực của tình thương Thiên Chúa, qua lời nói và việc làm của Người, nhất là qua cuộc Vượt Qua của Người, thì Vị Phó Tế Tử Đạo tiên khởi Stephano trong lịch sử Kitô giáo được Giáo Hội kính ngay sau Đại Lễ Giáng Sinh đây thật sự là phản ảnh trung thực và sống động về Người.

Thị kiến của vị tử đạo trước cơn hận tức đến tột độ của thành phần đám đông đối phương và ngay trước khi ngài bị ném đá chết: "Kìa, tôi xem thấy trời mở ra, và Con Người đứng bên hữu Thiên Chúa" đã cho thấy ngài quả thực, đúng như Sách Tông Vụ trong Bài Đọc 1 hôm nay ghi nhận: "đầy ân sủng và sức mạnh, làm nên những điều kỳ diệu và những phép lạ cả thể trong dân" và "đầy Thánh Thần, nhìn lên trời, đã xem thấy vinh quang của Thiên Chúa, và Ðức Giêsu đứng bên hữu Thiên Chúa".

Tức là thánh nhân đã đạt đến tầm mức kết hiệp nên một với Chúa Kitô, Vị Thiên Chúa đã hóa thân làm người và đang ở bên hữu Cha, Đấng cũng đã sai Thánh Thần của Người từ Cha xuống trên Giáo Hội là chứng nhân của Người trên thế gian này cho tới tận cùng trái đất (xem Tông Vụ 1:8), qua các phần tử của Giáo Hội mà Vị Thánh Phó Tế Tử Đạo Stephano là chứng nhân tiêu biểu và tiên khởi.

Thế nhưng, để đạt tới trình độ thực sự trở thành chứng nhân trung thực và sống động của Chúa Kitô và cho Chúa Kitô, Vị Thiên Chúa đã hóa thân làm người, bất cứ một Kitô hữu môn đệ nào của Người nói chung và Thánh Stephanô nói riêng cũng cần phải tuyệt đối tin tưởng vào Người, tức để cho Người hoàn toàn chiếm đoạt và sống trong mình, như thể "sự sống mà tôi đang sống không phải là tôi sống nữa song Chúa Kitô sống trong tôi" (Galata 2:20), nhờ đó họ mới có cùng một tâm tình, tác hành và phản ứng như Chúa Kitô và với Chúa Kitô.

Lòng tin tưởng nơi các môn đệ của Chúa Kitô và của các môn đệ Người được tỏ ra rõ ràng nhầt và mãnh liệt nhất là khi các vị bị bách hại và sát hại nhưng vẫn cương quyết trung thành với Người cho đến cùng, theo đúng như những lời cảnh báo và trấn an của chính Chúa Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay:

"Chúng con hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp chúng con cho công nghị, họ sẽ đánh đòn chúng con nơi hội đường. Vì Ta, chúng con sẽ bị điệu đến trước vua quan, để làm chứng trước mặt họ và các dân. Nhưng khi người ta nộp chúng con, chúng con chớ lo lắng phải nói sao và nói gì, vì không phải chúng con nói, nhưng là Thánh Thần của Chúa Cha chúng con sẽ nói thay cho. Anh sẽ nộp em cho người ta giết, cha sẽ nộp con, con cái chống đối cha mẹ và làm cha mẹ phải chết. Vì Ta, chúng con sẽ bị mọi người ghét bỏ, nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, sẽ được cứu rỗi".

Bài Đáp Ca hôm nay là một tâm tình tin tưởng của thành phần chứng nhân như Thánh Stephano, Vị Tử Đạo tiên khởi của Giáo Hội Chúa Kitô:

1) Xin Chúa nên núi đá tôi nương náu, và nên thành trì cứu thoát tôi, bởi Chúa là núi đá và là thành trì của tôi, vì danh Chúa, xin dẫn đàng chỉ lối cho tôi.

2) Tôi phó mạng sống tôi trong tay Chúa, Lạy Chúa là Thiên Chúa trung tín, xin cứu thoát tôi.

3) Còn tôi, tôi trông cậy nơi Chúa, tôi hân hoan vui mừng vì lòng từ bi Chúa.

4) Xin Chúa tỏ mặt nhân lành với tôi tớ Chúa, và lấy lòng thương xót Chúa cứu thoát tôi. Chúa che chở những ai nấp dưới nhan thánh Chúa khỏi mưu chước của loài người. Chúa giấu họ trong nhà Chúa khỏi miệng lưỡi gian ngoa.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - GIANG SINH BAN NGAY PDF Print E-mail

Đại Lễ Giáng Sinh 25/12

Phụng Vụ Lời Chúa

Phúc Âm: Ga 1, 1-18 {hoặc 1-5. 9-14}

"Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng ta".

Bắt đầu Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thủy.

Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận sự sáng.

Có một người được Thiên Chúa sai đến, tên là Gioan. Ông đã đến nhằm việc chứng minh, để ông chứng minh về sự sáng, hầu cho mọi người nhờ ông mà tin. Chính ông không phải là sự sáng, nhưng đến để chứng minh về sự sáng.

Vẫn có sự sáng thực, sự sáng soi tỏ cho hết mọi người sinh vào thế gian này. Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo, và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra.

 

Hoặc đọc bài vắn này: Ga 1, 1-5. 9-14

"Ngôi Lời đã làm Người và ở cùng chúng ta"

Bắt đầu Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Từ nguyên thuỷ đã có Ngôi Lời, và Ngôi Lời vẫn ở với Thiên Chúa, và Ngôi Lời vẫn là Thiên Chúa. Người vẫn ở với Thiên Chúa ngay từ nguyên thủy.

Mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không tiếp nhận sự sáng.

Vẫn có sự sáng thực, sự sáng soi tỏ cho hết mọi người sinh vào thế gian này. Người vẫn ở trong thế gian, và thế gian đã do Người tác tạo, và thế gian đã không nhận biết Người. Người đã đến nhà các gia nhân Người, và các gia nhân Người đã không tiếp nhận Người. Nhưng phàm bao nhiêu kẻ đã tiếp nhận Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa, tức là cho những ai tin vào danh Người. Những người này không do khí huyết, không do ý muốn xác thịt, cũng không do ý muốn của đàn ông, nhưng do Thiên Chúa mà sinh ra.

Và Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý.

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI- Suy Nghiệm - Lời Chúa

Emmanuel Giáng Sinh

Nếu Đại Lễ Phục Sinh được bắt đầu vào Lễ Vọng Phục Sinh cũng là Lễ Đêm Phục Sinh, thì Đại Lễ Giáng Sinh cũng chính thức được bắt đầu với Lễ Đêm Giáng Sinh, thời điểm vừa kết thúc Tuần Bát Nhật trước Đại Lễ Giáng Sinh đồng thời cũng bắt đầu Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, từ chính Đại Lễ Đêm Giáng Sinh kéo dài tới hết Lễ Mẹ Thiên Chúa 1/1, thời điểm mở đầu cho một năm mới.

Nếu Đại Lễ Phục Sinh, ngoài Lễ Vọng Phục Sinh hay Lễ Đêm Phục Sinh còn có Lễ Sáng và Lễ Chiều, mỗi lễ đều có một bài Phúc Âm thích hợp cho từng thời điểm trong ngày của lễ, thì Đại Lễ Giáng Sinh, ngoài Lễ Đêm Giáng Sinh, cũng có Lễ Rạng Đông và Lễ Ban Ngày nữa.

Nếu Tuần Bát Nhật Phục Sinh từ chính Đại Lễ Phục Sinh, hay từ Lễ Vọng cũng là Lễ Đêm Phục Sinh, có chung một chủ đề "Thày là sự sống lại" (Gioan 11:25), thì Tuần Bát Nhật Giáng Sinh từ chính Đại Lễ Giáng Sinh, hay từ Lễ Đêm Giáng Sinh, cũng có chung một chủ đề "Lời... ở cùng chúng ta" (Gioan 1:14).

Nếu cả Mùa Vọng và Mùa Giáng Sinh có chủ đề "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14), và chung Mùa Vọng đã theo chủ đề "Lời đã hóa thành nhục thể" thì chung Mùa Giáng Sinh (thậm chí kéo dài hết Mùa Thường Niên Hậu Giáng Sinh, từ 5 đến 9 tuần), bắt đầu từ Tuần Bát Nhật Giáng Sinh, phụng vụ lời Chúa sẽ theo chủ đề "Lời ... ở cùng chúng ta".

Thật vậy, phụng vụ Lời Chúa, bao gồm cả các Bài Đọc 1 và 2, nhất là các Bài Phúc Âm, của các Lễ Nửa Đêm, Lễ Rạng Đông và Lễ Ban Ngày, đều nói lên chủ đề "Lời ... ở giữa chúng ta", Đấng đã được chung phụng vụ Lời Chúa và riêng các Bài Phúc Âm trong Tuần Bát Nhật trước Giáng Sinh đã nói đến.

Trước hết, ở các bài Phúc Âm cho các Lễ của Đại Lễ Giáng Sinh này, chủ đề "Lời... ở cùng chúng ta" được trình thuật lại thứ tự như sau.

Trong bài Phúc Âm Lễ Nửa Đêm: "Sự việc xảy ra trong lúc ông bà đang ở đó, là Maria đã tới ngày mãn nguyệt khai hoa, và bà đã hạ sinh con trai đầu lòng. Bà bọc con trẻ trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ, vì hai ông bà không tìm được chỗ trong hàng quán".

Trong bài Phúc Âm Lễ Rạng Đông: "Khi các thiên thần biến đi, thì các mục tử nói với nhau rằng: 'Chúng ta sang Bêlem và coi xem sự việc đã xảy ra mà Chúa đã cho chúng ta được biết'. Rồi họ hối hả tới nơi và gặp thấy Maria, Giuse và Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ".

Trong bài Phúc Âm Lễ Ban Ngày: "Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể, và Người đã cư ngụ giữa chúng tôi, và chúng tôi đã nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang Người nhận được bởi Chúa Cha, như của người Con Một đầy ân sủng và chân lý".

Sau nữa, ở các Bài Đọc 1 cho các Lễ của Đại Lễ Giáng Sinh này, chủ đề "Lời... ở cùng chúng ta" được trình thuật lại thứ tự như sau.

Trong Bài Đọc 1 Lễ Nửa Đêm: "Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, và một người con đã được ban tặng chúng ta. Người đã gánh nhận vương quyền trên vai, và thiên hạ sẽ gọi tên Người là 'Cố Vấn Kỳ Diệu, Thiên Chúa Huy Hoàng, Người Cha Muôn Thuở, Ông Vua Thái Bình'. Người sẽ mở rộng vương quyền, và cảnh thái bình sẽ vô tận; Người sẽ ngự trên ngai vàng của Ðavít, và trong vương quốc Người, để củng cố và tăng cường, trong sự công minh chính trực, ngay tự bây giờ và cho đến muôn đời. Lòng ghen yêu của Chúa thiên binh sẽ thực thi điều đó".

Trong Bài Đọc 1 Lễ Rạng Đông: "Này đây Ðấng Cứu Ðộ ngươi đến. Người đem theo phần thưởng với Người và sự nghiệp trước mặt Người. Những người được Chúa cứu chuộc, người ta sẽ gọi họ là dân thánh. Còn ngươi, ngươi sẽ được gọi là thành quý chuộng, thành không bị bỏ rơi".

Trong Bài Đọc 1 Lễ Ban Ngày: "Chính mắt họ sẽ nhìn xem, khi Chúa đem Sion trở về. Hỡi Giêrusalem hoang tàn, hãy vui mừng, hãy cùng nhau ca ngợi! Vì Chúa đã an ủi dân Người, đã cứu chuộc Giêru-salem. Chúa đã chuẩn bị ra tay thánh thiện Người trước mặt chư dân; và khắp cùng bờ cõi trái đất sẽ nhìn xem ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta".

Sau hết, ở các Bài Đọc 2 cho các Lễ của Đại Lễ Giáng Sinh này, chủ đề "Lời... ở cùng chúng ta" được trình thuật lại thứ tự như sau.

Trong Bài Đọc 2 Lễ Nửa Đêm: "Ân sủng của Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ chúng ta, đã xuất hiện cho mọi người..."

Trong Bài Đọc 2 Lễ Rạng Đông: "Ðấng Cứu Thế, Chúa chúng ta, đã tỏ lòng từ tâm và nhân ái của Người..."

Trong Bài Đọc 2 Lễ Ban Ngày: "Thuở xưa, nhiều lần và dưới nhiều hình thức, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các tiên tri. Trong những ngày sau hết đây, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Người Con mà Ngài đã đặt làm vị thừa kế vạn vật, và cũng do bởi Người Con mà Ngài đã tác thành vũ trụ".

So với Bài Phúc Âm của từng thời điểm Lễ Giáng Sinh (Nửa Đêm, Rạng Đông và Ban Ngày) thì Bài Đọc 1 và Bài Đọc 2 không rõ nét cho lắm về chủ đề "Lời... ở cùng chúng ta". Vì hai Bài Đọc 1 và Bài Đọc 2 được Giáo Hội chọn đọc hợp với Bài Phúc Âm của từng Lễ, cũng như Bài Đáp Ca ngay sau Bài Đọc 1 thường được Giáo Hội chọn đọc hợp với nội dung của Bài Đọc 1 hơn Bài Đọc 2 và hơn cả Bài Phúc Âm.

Tuy nhiên, phụng vụ Lời Chúa được Giáo Hội chọn đọc cho từng thời điểm của Lễ Giáng Sinh lại rất ăn khớp với nhau, và phụng vụ Lời Chúa của cả 3 thời điểm của Lễ Giáng Sinh cũng hết sức mật thiết liên hệ với nhau.

Trước hết là phụng vụ Lời Chúa Thánh Lễ Giáng Sinh Nửa Đêm: "Một hài nhi đã sinh ra cho chúng ta, và một người con đã được ban tặng chúng ta" (Bài Đọc 1), đó là "Ân sủng của Thiên Chúa, Ðấng Cứu Ðộ chúng ta, đã xuất hiện cho mọi người..." (Bài Đọc 2), dưới hình thù của "con trẻ trong khăn vải và đặt nằm trong máng cỏ" (Bài Phúc Âm).

Sau nữa là phụng vụ Lời Chúa Thánh Lễ Giáng Sinh Rạng Đông: "Ðấng Cứu Ðộ ngươi đến" (Bài Đọc 1), vì Người là "Chúa chúng ta, đã tỏ lòng từ tâm và nhân ái của Người" (Bài Đọc 2), và Người đến để "tỏ lòng từ tâm và nhân ái của Người" ra cho chúng ta thấy như một "Hài Nhi mới sinh nằm trong máng cỏ" (Bài Phúc Âm).

Sau hết là phụng vụ Lời Chúa Thánh Lễ Giáng Sinh Ban Ngày: "Chúa đã chuẩn bị ra tay thánh thiện Ngài trước mặt chư dân; và khắp cùng bờ cõi trái đất sẽ nhìn xem ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta" (Bài Đọc 1), chứ không phải chỉ riêng dân Do Thái, bằng cách, "trong những ngày sau hết đây, Ngài đã phán dạy chúng ta qua Người Con mà Ngài đã đặt làm vị thừa kế vạn vật, và cũng do bởi Người Con mà Ngài đã tác thành vũ trụ" (Bài Đọc 2), Người Con này chính là "Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể" (Bài Phúc Âm), Đấng mà "mọi vật đều do Người làm nên, và không có Người, thì chẳng vật chi đã được tác thành trong mọi cái đã được tác thành. Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không lấn át được sự sáng" (Bài Phúc Âm).

Cuối cùng, căn cứ vào phụng vụ Lời Chúa của từng lễ, phụng vụ Lời Chúa ở cả 3 thời điểm Nửa Đêm, Rạng Đông và Ban Ngày của Lễ Giáng Sinh cũng có một liên hệ chặt chẽ với nhau như thế này: "Ơn cứu độ xuất phát từ những người Do Thái" (Gioan 4:22), theo ý nghĩa phụng vụ Lời Chúa Lễ Nửa Đêm và Lễ Rạng Đông, nhưng lại là một ơn cứu độ phổ quát cho chung nhân loại và toàn thể vũ trụ, như ý nghĩa của phụng vụ Lời Chúa Lễ Ban Ngày. Đó là lý do diễn tiến của 3 Bài Phúc Âm từ dân Do Thái tới dân ngoại như sau:

Ở bài Phúc Âm Lễ Đêm biến cố "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14) xẩy ra ở Do Thái: bao gồm thời gian (thời Hoàng Đế Rôma Cêsa Augustô đang cai trị cả dân Do Thái), đến không gian (tại quê quán của Vua Đavít là Bêlem Xứ Giuđêa) cũng như đến nhân gian (là các mục đồng canh đêm được Thiên Thần báo tin).

Ở bài Phúc Âm Lễ Rạng Đông, biến cố Giáng Sinh bắt đầu tỏ rạng hơn nữa, nhờ thành phần chứng nhân Do Thái mục đồng: "Và tất cả những người nghe, đều ngạc nhiên về điều các mục tử thuật lại cho họ... Những mục tử trở về, họ tung hô ca ngợi Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và xem thấy, đúng như lời đã báo cho họ" cho dân chúng quanh vùng.

Ở bài Phúc Âm Lễ Ban Ngày, biến cố Giáng Sinh trở thành phổ quát rạng ngời sáng tỏ như ban ngày: "Ở nơi Người vẫn có sự sống, và sự sống là sự sáng của nhân loại; sự sáng chiếu soi trong u tối, và u tối đã không át được sự sáng... Ánh sáng thật sáng soi mọi người đã đến trong thế gian".

Chiều hướng Ơn Cứu Độ xuất phát từ dân Do Thái đến toàn thế giới và vũ trụ theo phụng vụ Lời Chúa của 3 thời điểm cử hành Lễ Giáng Sinh đều được phản ảnh hết sức rõ ràng nơi chung 3 Bài Đáp Ca và riêng 3 câu đáp:

"Hôm nay Ðấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta, Người là Ðức Kitô, Chúa chúng ta (Lc 2, 11)" (Lễ Nửa Đêm), "Hôm nay sự sáng chiếu giãi trên chúng ta, và Chúa đã giáng sinh cho chúng ta" (Lễ Rạng Đông), "Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta" (Lễ Ban Ngày).

Hai câu Đáp Ca tiêu biểu nhất cho chiều hướng Ơn Cứu Độ phổ quát đã xuất phát từ dân Do Thái theo phụng vụ Lời Chúa cho 3 thời điểm khác nhau của cùng một Đại Lễ Giáng Sinh đã thực sự được tóm gọn trong câu thứ 2 và thứ 3 của Bài Đáp Ca Lễ Ban Ngày như sau:

"Chúa đã công bố ơn cứu độ của Người; trước mặt chư dân, Người tỏ rõ đức công minh. Người đã nhớ lại lòng nhân hậu và trung thành để sủng ái nhà Israel" (câu 2)

"Khắp nơi bờ cõi địa cầu đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta. Toàn thể địa cầu hãy reo mừng Chúa, hãy hoan hỉ, mừng vui và đàn ca!" (câu 3).

Là Kitô hữu, chúng ta đã thực sự lãnh nhận Ơn Cứu Độ bởi Mẹ Giáo Hội nơi Phép Rửa thanh tẩy tái sinh, chúng ta đã sống Ơn Cứu Độ này như thế nào?

Kitô hữu chúng ta có cảm thấy niềm vui vì mình đã được cứu độ hay chăng, có cảm thấy niềm vui vì mình đã được Thiên Chúa đoái thương cứu độ nơi Con của Ngài hay chăng??

Nếu chưa thì tại sao: bởi chưa thấy được tất cả ý nghĩa thiết yếu và giá trị vô cùng cao quí của Ơn Cứu Độ, hay bởi chưa cảm nghiệm được tất cả hay phần nào tình yêu vô cùng nhân hậu của Thiên Chúa đối với chung nhân loại cũng như đối với từng người chúng ta???

Nếu rồi thì Kitô hữu chúng ta, nhờ được gặp gỡ Chúa Kitô nơi Phép Rửa, nơi Bí Tích Hòa Giải, nơi Bí Tích Thánh Thể, nơi cảm nghiệm thần linh trong cuộc đời của mình, bằng một đời sống nội tâm như Mẹ Maria trong Bài Phúc Âm Lễ Rạng Đông: "ghi nhớ tất cả những sự việc đó, và suy niệm trong lòng", mà nhờ cuộc gặp gỡ thần linh này bản thân của chúng ta được biến đổi, đến độ chúng ta không thể nào không loan báo Tin Mừng Giáng Sinh như các mục đồng trong Bài Phúc Âm cũng của Lễ Rạng Đông: "tung hô ca ngợi Chúa về tất cả mọi điều họ đã nghe và xem thấy" hay chăng?

Thế nhưng làm sao để có được cảm nghiệm thần linh "Emmanuel - Thiên Chúa ở giữa chúng ta" (Mathêu 1:23; xem Gioan 1:14)?

Nếu Thiên Chúa là Đấng đã biết rằng loài người tạo vật vô cùng thấp hèn chúng ta không thể nào tự mình lên trời để biết được Ngài là ai và như thế nào, nhờ đó chúng ta có thể được hiệp thông thần linh với Ngài đúng như ý định tạo dựng của Ngài đối với chúng ta, nên Ngài đã phải hạ giáng xuống với chúng ta nơi Lời Nhập Thể của Ngài, Đấng "tỏ Cha ra" (Gioan 1;18), thì loài người chúng ta không cần phải vươn mình lên trời để tìm Ngài nữa, mà là cần phải hạ mình xuống, "hoán cải và trở nên như trẻ nhỏ" (Mathêu 18:3), mới có thể gặp được Ngài nơi Con Người Giêsu Kitô.

"Thực vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự được sáng tỏ trong mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể. Bởi vì Adam con người đầu tiên đã là hình bóng của Adam sẽ đến, là Chúa Kitô. Chúa Kitô, Adam mới, trong khi mạc khải về Chúa Cha và tình yêu của Ngài, đã cho con người biết rõ về chính con người và tỏ cho họ biết thiên chức rất cao cả của họ... Là 'hình ảnh của Thiên Chúa vô hình' (Col 1,15), chính Người là con người hoàn hảo đã trả lại cho con cháu của Adam hình ảnh Thiên Chúa đã bị tội nguyên tổ làm sai lệch. Bởi vì nơi Người bản tính nhân loại đã được mặc lấy chứ không bị tiêu diệt, do đó chính nơi chúng ta nữa bản tính ấy cũng được nâng lên tới một phẩm giá siêu việt. Bởi vì, chính Con Thiên Chúa khi nhập thể, một cách nào đó đã kết hợp với tất cả mọi người. Người đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người. Sinh bởi trinh nữ Maria, Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi".

Lời Cầu và Lời Nguyện Phụng Vụ Giờ Kinh Sách Lễ Giáng Sinh

Ðức Kitô đã rời bỏ địa vị ngang hàng cùng Thiên Chúa, để mặc lấy phận làm nô lệ và chịu thử thách trăm bề như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi. Ta hãy tha thiết nguyện xin Người:

Chúa giáng sinh cứu chuộc loài người,

xin phù hộ chúng con.

Lúc vào đời, Chúa khai mạc một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên các ngôn sứ đã loan báo thuở xưa, - xin cho Giáo Hội Chúa luôn tươi trẻ, hầu thích nghi với mọi thời đại.

Chúa đã mang thân xác yếu hèn của nhân loại, - xin làm cho người mù được thấy, kẻ đau yếu mau lành, tâm hồn đau khổ được an vui.

Chúa sinh ra trong cảnh nghèo hèn, xin ủi an kẻ cơ bần đói rách.

Chúa giáng sinh đem hoan lạc đến cho mọi người vì phúc trường sinh Chúa đã hứa, - xin cho những ai đang hấp hối được vui mừng và hy vọng đạt tới quê Trời.

Chúa xuống trần gian để dẫn đưa mọi người về Thiên Quốc, - xin cho những kẻ đã qua đời được chung hưởng vinh quang với Chúa.

Lạy Chúa, hằng năm Chúa khơi dậy trong lòng chúng con niềm hoan hỷ trông chờ ơn cứu độ. Giờ đây, chúng con đang vui vẻ đón mừng Con Một Chúa đến cứu chuộc chúng con, thì ngày sau, khi thấy Người đến xét xử, xin cho chúng con khỏi run sợ hãi hùng. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CN4MV-B PDF Print E-mail

CN4MV-B

Alleluia, alleluia! - Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 1, 26-38

"Này Trinh Nữ sẽ thụ thai và sẽ sinh một con trai".

Khi ấy, thiên thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nadarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Ðavít, trinh nữ ấy tên là Maria.

Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: "Kính chào trinh nữ đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng trinh nữ". Nghe lời đó, trinh nữ bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.

Thiên thần liền thưa: "Maria đừng sợ, vì đã được ơn nghĩa với Chúa. Này trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận".

Nhưng Maria thưa với thiên thần: "Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?"

Thiên thần thưa: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ. Vì thế, Ðấng trinh nữ sinh ra sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave chị họ trinh nữ cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ gọi là son sẻ; vì không có việc gì mà Chúa không làm được".

Maria liền thưa: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền". Và thiên thần cáo biệt trinh nữ.

Ðó là lời Chúa.

HOC HỎI-Suy nghiệm VÀ SỐNG Lời Chúa

Hôm Nay là Chúa Nhật thứ IV cũng là Chúa Nhật cuối cùng của Mùa Vọng. Bài Phúc Âm cho chu kỳ phụng vụ Năm B hôm nay chính là bài phúc âm cho ngày 20/12, ngày thứ bốn trong tám ngày đặc biệt (17-24/12) hướng về Đại lễ Giáng Sinh, một thời doạn 8 ngày bao gồm những bài Phúc Âm trực tiếp hay gián tiếp về biến cố nhập thể và mầu nhiệm nhập thể.

Biến cố nhập thể và mầu nhiệm nhập thể này là những gì cần phải xẩy ra, cần phải ứng nghiệm đúng như lời hứa của Thiên Chúa ngay từ ban đầu sau nguyên tội, trong câu "Ta sẽ gây thù giữa ngươi và người nữ, giữa giòng dõi ngươi và giòng dõi người nữ. Người sẽ đạp nát đầu ngươi khi ngươi rình cắn gót chân Người" (Khởi Nguyên 3:15).

Lời hứa cứu độ này của Thiên Chúa còn được lập lại một số lần nữa, như qua các vị tổ phụ của dân Do Thái về một dòng dõi đông như sao trời như cát biển (xem Khởi Nguyên 15:5, 22:17, 26:4), hay qua chính Vua Đavít là vương tổ của nhân vật lịch sử thuộc "giòng dõi người nữ" thiên định, như đã được ghi lại trong Sách Samuel Quyển Hai ở Bài Đọc 1 hôm nay:"Chúa sẽ tạo lập cho ngươi một nhà. Nhà của ngươi và triều đại ngươi sẽ vững chắc đến muôn đời trước mặt Ta; ngôi báu ngươi sẽ vững bền mãi mãi".

Để rồi, khi "tới thời điểm viên trọn" (Galata 4:4), lời hứa ấy đã trở thành hiện thực, ở chỗ "Thiên Chúa đã sai Con Ngài đến, do một người nữ sinh ra" (Galata 4:4). Đúng thế, "người nữ" trong lời hứa cứu độ sau nguyên tội đây không ai khác hơn là nhân vật lịch sử được Thánh ký Luca nói tới trong Bài Phúc Âm hôm nay, đó là "một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Ðavít, trinh nữ ấy tên là Maria", và "giòng dõi người nữ" cũng ở trong lời hứa cứu độ này chính là "Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận", đúng như những gì đã được tiên tri Samuel nói trước ở Bài Đọc 1 hôm nay.

Cho dù theo Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái thì biến cố nhập thể này của Con Thiên Chúa hóa thân làm người trong cung dạ trinh nguyên của Trinh Nữ Maria là một sự kiện lịch sử, xẩy ra "vào thời điểm viên trọn" (Galata 4:4), nhưng tự bản chất của nó lại là một "mạc khải mầu nhiệm được giữ kín từ đời đời, nhưng nay được tỏ bày, và nhờ các tiên tri ghi chép theo lệnh của Thiên Chúa hằng hữu, được thông tri cho các Dân Ngoại, để dẫn đưa họ về vâng phục đức tin", như Thánh Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại cảm nhận và chia sẻ với Giáo đoàn Rôma ở Bài Đọc 2 hôm nay.

Biến cố nhập thể là sự kiện lịch sử hiện thực hóa lời hứa cứu độ ngay từ ban đầu của Thiên Chúa đã cho thấy Ngài quả thực là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của dân Do Thái, xứng với "danh xưng muôn đời của Ta" là "Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp" (xem Xuất Hành 3:15), Vị Thiên Chúa trung thành qua muôn thế hệ, Vị Thiên Chúa muôn đời yêu thương tạo vật của mình và tìm hết cách để ở cùng với họ nơi Con của mình, đúng như cảm nhận của Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Con sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời, qua mọi thế hệ, miệng con loan truyền lòng trung thành Chúa, vì Ngài đã phán: "Tình thương của Ta đứng vững muôn đời"; trên cõi trời cao, Ngài thiết lập lòng trung tín.

2) Ta đã ký minh ước cùng người ta tuyển lựa, Ta đã thề cùng Ðavít là tôi tớ của Ta rằng: "Cho tới muôn đời Ta bảo tồn miêu duệ của ngươi, và Ta thiết lập ngai báu ngươi qua muôn thế hệ".

3) Chính người sẽ thưa cùng Ta: "Chúa là Cha con, và Thiên Chúa là Ðá Tảng cứu độ của con". Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái, và lời ước Ta ký với người sẽ được mãi mãi duy trì.

Vị Thiên Chúa mang "danh cho tới muôn đời" là "Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacóp" liên lỉ trong suốt giòng Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái này,"khi tới thời điểm viên trọn", cũng chính là "Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta" (Mathêu 1:23), ở nơi "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta" (Gioan 1:14), mà trước hết và trên hết ở với đệ nhất tạo vật về ân sủng của mình là "người nữ" của lời hứa cứu độ ban đầu, cũng chính là Vị "Trinh Nữ được ơn nghĩa với Thiên Chúa" (Luca 1:30), được Thiên Sứ nghiêng mình kính cẩn chào là "đầy ơn phúc" (Luca 1:28), một danh xưng chính yếu của "người nữ", hợp với bản chất "đầy phúc" của một nữ nhân tạo vật "có phúc hơn mọi người nữ" (Luca 1:42), được Thiên Chúa tiền định tuyển chọn để thụ thai và hạ sinh "Con Đấng Tối Cao" (Luca 1:32), "Con Thiên Chúa" (Luca 1:35).

Cho dù chỉ là một phương tiện, là nguyên nhân đệ nhị trong việc thụ thai và sinh hạ Con Thiên Chúa làm người, Trinh Nữ Nazarét này cũng thực sự là Mẹ của Thiên Chúa, vì Người Con được Vị Trinh Nữ diễm phúc này thụ thai, cưu mang và hạ sinh theo bản tính loài người đây chính là Vị Thiên Chúa nhập thể, là một Ngôi Vị Thần Linh (one divine person) có hai bản tính (two natures) là thiên tính (divinity) và nhân tính (humanity): nhân tính xuất phát từ lòng dạ của "một Trinh Nữ" (Luca 1:26), một nhân tính được Ngôi Hiệp (hypostatic ) với thiên tính do bởi "quyền lực của Đấng Tối Cao" (Luca 1:35), và Ngôi Vị Thần Linh đây chính là "Lời ở với Thiên Chúa từ ban đầu... và là Thiên Chúa" (Gioan 1:1): "Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng thật bởi ánh sáng thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha" (Kinh Tin Kính).

Và Mầu Nhiệm Ngôi Hiệp này xẩy ra ngay giây phút nhập thể trong tử cung của "trinh nữ... Maria" Nazarét, nghĩa là ngày sau khi vị trinh nữ "có phúc hơn mọi người nữ" này thưa "xin vâng", chứ không phải nhân tính có trước rồi thần tính mới nhập vào sau, như nơi việc hình thành bản tính của con người khi mới thụ thai: thân xác có trước rồi sau đó linh hồn mới nhập vào. Bằng không, nghĩa là nếu nhân tính có trước rồi sau đó thần tính mới nhập vào thì Lời Nhập Thể sẽ có 2 ngôi vị, ngôi vị nhân loại và ngôi vị thần linh. Theo thần học và đức tin Kitô giáo thì Lời nhập thể chỉ có một ngôi vị duy nhất là Ngôi Vị Thần Linh, và Ngôi Vị Thần Linh này là chủ thể của một nhân tính được mặc lấy (assumed, chứ không bị absorbed) để nhờ đó nhân tính trở thành như một bí tích và là phương tiện cứu độ (xem Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khoản 468 và 470).

Trong bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay về biến cố Truyền Tin Lời Nhập Thể, có hai phần rõ ràng liên quan đến hai bản tính của Ngôi Vị Thần Linh nơi nhân vật lịch sử mang mang tên "Giêsu" này: phần trên liên quan đến nhân tính của Người - "Này trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận"; và phần dưới về thiên tính của Người: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ. Vì thế, Ðấng trinh nữ sinh ra sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa". Vì Lời Nhập Thể chỉ có một Ngôi Vị Thần Linh duy nhất nơi Mầu Nhiệm Ngôi Hiệp mà "trinh nữ ... Maria" Nazarét mới thực sự là Mẹ của Thiên Chúa (Theotokos / Mother of God - Công Đồng Chung Epheso năm 431), chứ không phải chỉ là Mẹ của Đức Giêsu, mẹ của một nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét về nhân tính mà thôi.

Cũng trong bài Phúc Âm hôm nay, lời chào của Thiên Sứ ngỏ cùng "một trinh nữ... tên Maria" là "đầy ơn phúc, Chúa ở cùng trinh nữ" có một ý nghĩa rất sâu xa và thật tuyệt vời. Ở chỗ, tên của "trinh nữ Maria" đây trước nhan Thiên Chúa là "đầy ơn phúc", vì tất cả những gì Thiên Chúa là và Thiên Chúa có, được gói ghém và chất chứa nơi tên của Ngài là "Yaweh - Chúa" đều ở nơi "trinh nữ Maria": "Chúa ở cùng trinh nữ". "Đầy ơn phúc" đây có nghĩa là "đầy" "Chúa", "đầy" mạc khải thần linh, mà tất cả mạc khải thần linh được Thiên Chúa tỏ ra cho loài người ở nơi Chúa Giêsu Kitô là Lời Nhập Thể, nên "trinh nữ... Maria" "đầy ơn phúc" đây còn có nghĩa là "đầy" "Lời hằng ở nơi Thiên Chúa và Lời là Thiên Chúa" (Gioan 1:1), đến độ ngay cả thân xác hữu hình và hữu hạn của "trinh nữ... Maria" này cũng "đầy ơn phúc" nữa, khi "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) ngay trong tử cung nữ giới của mình: "Trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên là Giêsu".

Như thế, "trinh nữ... Maria" "đầy ơn phúc" nghĩa là tất cả thực tại thần linh về Thiên Chúa và của Thiên Chúa được tỏ hiện lần đầu tiên nơi con người, là cuộc thần hiển của Thiên Chúa (theophany), là chính cuộc hội ngộ thần linh giữa Thiên Chúa và loài người nơi Lời Nhập Thể. Trong biến cố truyền tin Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của dân Do Thái trong giòng Lịch Sử Cứu Độ của họ lần đầu tiên tỏ mình ra một cách tỏ tường nơi "trinh nữ... Maria" Nazarét: trước hết Ngôi Cha - "Chúa ở cùng trinh nữ" (Luca 1:28), một người con của Ngài; sau đó là Ngôi Con "tên là Giêsu... Con Ðấng Tối Cao" mà trinh nữ Maria được làm mẹ; sau hết là Ngôi Ba: "Thánh Thần sẽ đến với trinh nữ và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm trinh nữ", một bạn tình của Ngài. Mầu Nhiệm Ba Ngôi đã tỏ hiện nơi Mầu Nhiệm Nhập Thể nơi "trinh nữ ... Maria" Nazarét trong biến cố truyền tin: Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất có 3 Ngôi là Cha, và Con và Thánh Thần đã phản ảnh nơi một con người "trinh nữ... Maria" duy nhất vừa là con, vừa là mẹ và vừa là bạn của Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất, một con người "đầy ơn phúc": "được ơn nghĩa với Thiên Chúa" (Luca 1:30).

Mầu nhiệm và biến cố Nhập Thể không phải chỉ liên quan đến Thiên Chúa mà còn liên quan đến con người nữa. Ở chỗ, con người luôn ngưỡng vọng đến lời hứa cứu độ của Thiên Chúa, một cách minh nhiên hay mặc nhiên, như Vua Đavít trong Bài Đọc 1 hôm nay, một ước vọng xây nhà cho Thiên Chúa, cho Hòm Bia Giao Ước, một đền thờ cho Thiên Chúa ngự một cách xứng đáng, hình ảnh nhân tính của Lời Nhập Thể, một nhân tính nói chung và thân xác của Người nói riêng đã được Người ví như Đền Thờ Giêrusalem sẽ bị bàn tay dân Do Thái phá hủy nhưng Người đã dựng lại trong vòng 3 ngày (xem Gioan 2:19). Như thế, Thiên Chúa nhập thể chẳng những là việc chứng tỏ Ngài là một Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất mà còn là việc Ngài đáp ứng ngưỡng vọng Đấng Thiên Sai nơi con người.

Biến cố và mầu nhiệm nhập thể chỉ trở nên hiện thực khi con người, chẳng những khát vọng và ngưỡng vọng Đấng Thiên Sai, tiêu biểu qua Vua Đavít trong Bài Đọc 1 hôm nay, mà còn, qua "trinh nữ ... Maria" trong bài Phúc Âm hôm nay, biết đáp ứng một cách thích đáng tác động nhập thể của Thiên Chúa nữa, một đáp ứng thần linh tương đáng đã thực sự nên trọn nơi Trinh Nữ Nazarét.

Vị Trinh Nữ đã hoàn toàn và tuyệt đối tin tưởng vào "Đấng toàn năng đã làm cho tôi những điều trọng đại" (Luca 1:49), Đấng "không có gì mà không làm được" (Luca 1:37), đúng như câu đáp ứng của Vị Trinh Nữ này, được Giáo Hội sử dụng làm câu xướng trước Phúc Âm hôm nay: "Alleluia, Alleluia. Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền. Alleluia". (Tôi noi gương khiêm tốn của Mẹ, luôn xưng mình là tôi tớ của Chúa, chứ không tự đặt cho mình một danh xưng khác)

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 112