mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5359
mod_vvisit_counterHôm Qua4887
mod_vvisit_counterTuần Này23242
mod_vvisit_counterTuần Trước58891
mod_vvisit_counterTháng Này168153
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10672409

We have: 79 guests online
Your IP: 54.81.116.187
 , 
Today: Apr 25, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO -CN3MC-B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 4, 4b
Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra.

Phúc Âm: Ga 2, 13-25
"Các ngươi cứ phá huỷ đền thờ này, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại".

Lễ Vượt Qua của dân Do-thái gần đến, Chúa Giêsu lên Giêru-salem. Người thấy ở trong Ðền thờ có những người bán bò, chiên, chim câu và cả những người ngồi đổi tiền bạc, người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ. Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ và bảo những người bán chim câu rằng: "Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán". Môn đệ liền nhớ lại câu Kinh Thánh: "Sự nhiệt thành vì nhà Chúa sẽ thiêu đốt tôi".
Bầy giờ người Do-thái bảo Người rằng: "Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy". Chúa Giêsu trả lời: "Các ông cứ phá huỷ đền thờ này đi, nội trong ba ngày Ta sẽ dựng lại". Người Do-thái đáp lại: "Phải bốn mươi sáu năm mới xây được đền thờ này, mà Ông, Ông sẽ dựng lại trong ba ngày ư?" Nhưng Người, Người có ý nói đền thờ là thân thể Người. Vì thế, khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại, các môn đệ mới nhớ lời đó, nên đã tin Kinh Thánh và tin lời Người đã nói.
Trong thời gian Người ở lại Giêrusalem mừng lễ Vượt qua, nhiều kẻ tin danh Người, vì mục kích những phép lạ Người làm. Nhưng chính Chúa Giêsu không tin tưởng họ, vì Người biết tất cả mọi người, và không cần ai làm chứng về người nào; Người biết rõ mọi điều trong lòng người ta.
Ðó là lời Chúa.

HOC HÒI-Suy Nhiệm -SỐNG Lời Chúa

Sai Bài Phúc Âm cho Chúa I Mùa Chay về biến cố Chúa Giêsu vào hoang địa chay tịnh cùng chịu cám dỗ, ám chỉ mầu nhiệm khổ giá của Người, và Bài Phúc Âm cho Chúa Nhật II Mùa Chay về biến cố Chúa Kitô biến hình trên núi cao của Chúa Kitô, ám chỉ đến mầu nhiệm Phục Sinh của Người, các bài Phúc Âm cho Chúa Nhật III tới hết Mùa Vọng là Chúa Nhật V hoàn toàn không theo Phúc Âm của Thánh Ký Marco mà là của Thánh ký Gioan, những bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan được Giáo Hội cố ý chọn vì trong đó chất chứa mầu nhiệm vượt qua của Người mà Phúc Âm Thánh ký Marco không có.

Ở chu kỳ Năm A theo Thánh ký Mathêu cũng thế, Giáo Hội cũng chọn 3 bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho Chúa Nhật III, IV và V Mùa Chay, còn chu kỳ Năm C theo Phúc Âm Thánh ký Luca, Giáo Hội chỉ chọn 1 bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho Chúa Nhật V Mùa Chay mà thôi. Tuy nhiên, trong ngày thường, nghĩa là không phải Chúa Nhật, mà là ngày trong tuần, Phúc Âm theo Thánh ký Gioan được Giáo Hội chọn đọc liên tục suốt tuần Thứ IV và tuần Thứ V Mùa Chay, những bài Phúc Âm cho thấy Chúa Kitô tự chứng về Người, nhưng các tự chứng của Người ấy lại khiến cho chung dân chúng và thành phần trí thức cùng lãnh đạo của dân không thể nào chấp nhận được, đến độ họ đã tìm cách giết Người là tên phạm thượng lộng ngôn, và chính tới lúc này Giáo Hội bắt đầu tiến vào Tuần Thánh cũng là Tuần Thương Khó với Tam Nhật Vượt Qua cuối tuần.

Thật vậy, Bài Phúc Âm theo Thánh ký Gioan đưoọc Giáo Hội chọn đọc cho Chúa Nhật III Mùa Chay chu kỳ Năm B hôm nay về sự kiện Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ, ở chỗ: "Người chắp dây thừng làm roi, đánh đuổi tất cả bọn cùng với chiên bò ra khỏi đền thờ. Người hất tung tiền của những người đổi bạc, xô đổ bàn ghế của họ và bảo những người bán chim câu rằng: 'Hãy đem những thứ này đi khỏi đây, và đừng làm nhà Cha Ta thành nơi buôn bán'".

Thế nhưng, việc thẳng tay thanh tẩy đền thờ của Chúa Giêsu chưa từng có như thế đã bị người Do Thái chất vấn về thẩm quyền của Người: "Ông hãy tỏ cho chúng tôi thấy dấu gì là ông có quyền làm như vậy", và để trả lời, Chúa Giêsu cho họ biết về một dấu lạ cả thể liên quan đến thẩm quyền của Người như sau: "Các ông cứ phá hủy đền thờ này đi, nội trong 3 ngày Ta sẽ dựng lại".

Ở đây chúng ta nên lưu ý là người Do Thái xin Chúa Giêsu một "dấu" (sign), dấu lạ hay dấu chỉ, chứ không phải là "phép lạ" (micracle), và Phúc Âm Thánh ký Gioan thường dùng từ ngữ dấu lạ thay vì phép lạ cho dù Chúa Giêsu thực sự làm phép lạ, như phép lạ Người hóa nước lã thành rượu ở tiệc cưới Cana (xem Gioan 2:11), hay khi Người chữa lành cho đứa con trai của viên sĩ quan cũng ở Cana (xem Gioan 4:54). Dấu chỉ hay dấu lạ đây chính là ý nghĩa ám chỉ việc Chúa Kitô làm nói chung và phép lạ Người làm nói riêng.

Đó là lý do, sau khi Chúa Giêsu trả lời cho yêu cầu của dân Do Thái xin Người một dấu chỉ nào cho thấy Người có quyền thanh tẩy đền thờ như vậy, thì Thánh ký Gioan đã chú giải ý nghĩa về câu tuyên bố này của Chúa Giêsu như sau: "Người cố ý nói đến đền thờ là thân thể Người". Tức là Chúa Giêsu tiên báo cho dân Do Thái biết rằng cái dấu chỉ mà họ xin Người làm để chứng tỏ thẩm quyền thanh tẩy đền thờ của Người đó là Người sẽ bị họ sát hại trong cuộc khổ nạn và tử giá của Người nhưng sau ba ngày Người sẽ sống lại từ trong kẻ chết.

Vấn đề đặt ra ở đây là mối liên hệ giữa bài Phúc Âm và hai bài đọc còn lại. Ở chỗ, nếu Phúc Âm trình thuật về biến cố Chúa Giêsu thanh tẩy đền thờ và lời tiên báo về cuộc vượt qua của Người, thì nội dung của bài phúc âm có liên hệ gì tới bài đọc 1 về 10 giới răn (Xuất Hành 20:1-17), và bài đọc 2 về giá trị tác dụng của thập giá Chúa Kitô (1Corinto 1:22-25) hay chăng? Nếu có thì ở chỗ nào?? Có thể nói phần đầu của bài Phúc Âm có liên quan tới bài đọc 1 và phần sau của bài Phúc Âm có liên quan tới bài đọc 2.

Đúng thế, nếu phần nhất của bài Phúc Âm trình thuật về sự kiện Chúa Kitô thanh tẩy đền thờ, mà bài đọc 1 về 10 giới luật của Chúa, tức là về những gì liên quan đến tâm hồn của con người là nơi Chúa ngự như là đền thờ của Ngài, một nơi nếu không tuân giữ lề luật của Chúa, tức theo đường lối của Chúa, chẳng khác gì đã bị biến thành hang trộm cướp hay nơi buôn bán, cần được thanh tẩy, thì cả hai bài đọc đã ăn khớp với nhau ở chỗ này. Bài Đáp Ca rất thích hợp với Bài Đọc I hôm nay như sau:
1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt.
2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt.
3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thực, công minh hết thảy.
4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng, ngọt hơn mật và hơn cả mật tàng ong.

Và nếu phần thứ hai của bài Phúc Âm nhắc lại lời Chúa Kitô tiên báo về cuộc vượt qua của Người, một cuộc vượt qua từ khổ nạn và tử giá ("phá đền thờ này đi") đến phục sinh ("nội trong 3 ngày Ta sẽ dựng lại") thì ở bài đọc 2 Thánh Phaolô nói về "một Chúa Kitô chịu đóng đinh trên thập giá, một cớ vấp phạm cho người Do Thái, một sự điên rồ đối với các người ngoại giáo, nhưng đối với những người được gọi thì Người là Đức Kitô, quyền năng của Thiên Chúa và sự khôn ngoan của Chúa Cha" ở nơi cuộc vượt qua của Người. "Vì sự điên rồ của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự khôn ngoan của loài người, và điều yếu đuối của Thiên Chúa thì vượt hẳn sự mạnh mẽ của loài người", mà đó mới là dấu lạ cho người Do Thái, đó mới thực sự "là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta" (Bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần này).

Như thế, theo tiến trình Mùa Chay, sau Chúa Nhật I với bài Phúc Âm Chúa Giêsu chay tịnh 40 ngày trong hoang địa, ám chỉ Người sẽ tiêu diệt vương quốc của ma quỉ, và bài Phúc Âm Chúa Nhật II với một Chúa Kitô biến hình trên núi ám chỉ cuộc phục sinh của Người, chiến thắng tội lỗi và sự chết (1Corinto 15:56-57) bằng "sự sống lại và sự sống" (Gioan 11:25), đến bài Phúc Âm Chúa Nhật III Mùa Chay này bắt đầu hướng về cuộc vượt qua của Người.
Nếu tột đỉnh của phụng niên là Tam Nhật Thánh hay Tam Nhật Vượt Qua, liên quan đến chẳng những Mầu Nhiệm Khổ Nạn và Tử Giá của Chúa Kitô mà còn đến Mầu Nhiệm Phục Sinh của Người nữa, vì Mầu Nhiệm Vượt Qua là tất cả mạc khải thần linh của Thiên Chúa và về Thiên Chúa, thì tất cả những gì Chúa Kitô nói và làm đều hướng về Mầu Nhiệm Vượt Qua này.

Chẳng hạn, biến cố Chúa Giêsu chay tịnh 40 đêm ngày trong sa mạc và chịu ma quỉ cám dỗ ở Phúc Âm Chúa Nhật I Mùa Chay là sự kiện báo trước việc Chúa Kitô chiến thắng Satan và bọn ngụy thần bằng cuộc khổ nạn của Người. Hay biến cố Chúa Giêsu biến hình trên núi ở bài Phúc Âm Chúa Nhật 2 Mùa Chay là sự kiện báo trước việc Chúa Kitô sống lại từ trong kẻ chết.

Các phép lạ Chúa Giêsu làm, như chữa lành bệnh nạn tật nguyền và khu trừ ma quỉ, đều là những biểu hiệu ám chỉ việc Người đến để gian để cứu con người khỏi tội lỗi (quỉ ám) và sự chết (bệnh tật), cứu con người cả về than xác (bệnh tật) lẫn linh hồn (quỉ ám), bằng cuộc vượt qua của Người.

Về lời nói, trong Phúc Âm Nhất Lãm, Người đã báo trước 3 lần cuộc vượt qua của Người cho các môn đệ biết. Nhưng trong Phúc Âm Thánh ký Gioan, Người chỉ nói trống vậy thôi, với chung dân chúng. Chẳng hạn Người còn nói đến mầu nhiệm vượt qua của Người khi nói với dân chúng về thân phận của hạt lúa miến gieo xuống đất cần phải mục nát đi mới sinh nhiều hoa trái (xem Gioan 12:24), hay khi Người phán: "Khi Tôi bị treo lên, Tôi sẽ kéo mọi người lên cùng tôi" (Gioan 12:32).

Trong bài Phúc Âm hôm nay, lần đầu tiên Người nói đến Mầu Nhiệm Vượt Qua này, khi Ngưới thách thức con người cứ phá đền thờ là thân thể của Người (khổ nạn và tử giá) nhưng Người sẽ dựng lại nó trong vòng 3 ngày (sống lại). Nghĩa là con người dù có gây ra sự dữ, có cố tình phạm đến Ngài chăng nữa thì Thiên Chúa vẫn có thể hoàn thành dự án thần linh vô cùng sâu nhiệm và toàn năng của Ngài trong việc yêu thương cứu độ họ và cho họ được hiệp thông thần linh với Ngài mà hoan hưởng sự sống toàn hảo viên mãn của Ngài và với Ngài, đúng như mục đích và chủ đích Ngài đã tạo dựng nên họ ngay từ ban đầu.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY-CN2MC-B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: 2 Cr 6, 2b

Ðây là lúc thuận tiện, đây là ngày cứu độ.

Phúc Âm: Lc 15, 1-3. 11-32 : *NGƯỜI CON QUYẾT TÂM TRỞ VỀ  CÙNG CHA*

"Em con đã chết nay sống lại".

Khi ấy, những người thâu thuế và những người tội lỗi đến gần Chúa Giêsu để nghe Người giảng. Thấy vậy, những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: "Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng". Bấy giờ Người phán bảo họ dụ ngôn này:

"Người kia có hai con trai. Ðứa em đến thưa cha rằng: "Thưa cha, xin cha cho con phần gia tài thuộc về con". Người cha liền chia gia tài cho các con. Ít ngày sau, người em thu nhặt tất cả tiền của mình trẩy đi miền xa và ở đó ăn chơi xa xỉ, phung phí hết tiền của. Khi nó tiêu hết tiền của, thì gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó mới hồi tâm lại và tự nhủ: "Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: "Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha". Vậy nó ra đi và trở về với cha nó. Khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy lại ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu. Người con trai lúc đó thưa rằng: "Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa". Nhưng người cha bảo các đầy tớ: "Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu; hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy". Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình. . . . . .

Ðó là lời Chúa.

HOC HỎI- Suy niệm- SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống hiệp thông

Hôm nay là Thứ Bảy, ngày cuối cùng của Tuần 2 Mùa Chay. Bài Phúc Âm về một dụ ngôn chỉ có trong Phúc Âm Thánh Luca vẫn được gọi là dụ ngôn người con hoang đàng, một dụ ngôn cũng liên quan đến chủ đề chung cho Mùa Chay bao gồm cả Tuần Thánh là: "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi (ở chỗ chia gia tài cho đứa con phung phá) để rồi lấy nó lại (khi đứa con phung phá trở về với cha của nó như chết mà sống lại)" (Gioan 10:17).

Trong tuần Thứ 2 Mùa Chay này, Giáo Hội cố ý chọn 3 dụ ngôn cho 3 ngày cuối tuần này: Thứ Năm với dụ ngôn Lazarô và người phú hộ vô tâm, Thứ Sáu với dụ ngôn vườn nho và bọn tá điền gian ác, và Thứ Bảy hôm nay với dụ ngôn phải được gọi là người cha thương xót hơn là dụ ngôn người con hoang đàng.

Thật vậy, theo chiều hướng chung của phụng vụ lời Chúa hôm nay, bao gồm cả Bài Đọc 1, thì Giáo Hội, qua dụ ngôn của Bài Phúc Âm trong ngày này, cố ý nhấn mạnh đến tấm lòng vô cùng nhân hậu của người cha chẳng những đối với người con hoang đàng, hơn là đến việc hoán cải trở về cùng cha của người con hoang đàng ấy, mà còn đến cả người con trưởng lầm lạc đáng thương nữa.

Đúng thế, ngay ở đầu bài Phúc Âm, câu Phúc Âm mở màn đã khiến chúng ta thấy ngay được vai chính của dụ ngôn sau đó là người cha hơn là người con, một người cha có 2 đứa con chứ không phải một, và đứa con nào cũng được ông hết tình xót thương, trong đó bao gồm cả người con lớn, đứa con tiêu biểu cho thành phần "những người biệt phái và luật sĩ lẩm bẩm rằng: 'Ông này đón tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ngồi ăn uống với chúng'", cũng chính là thành phần được Chúa Giêsu "phán bảo họ dụ ngôn này", một dụ ngôn bao gồm cả họ lẫn "những kẻ tội lỗi" là thành phần được tiêu biểu nơi người con thứ phung phá.

Quả thực qua dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy được người cha có hai người con trai này nhân hậu biết là chừng nào, một tình nhân hậu đúng là "như Cha trên trời là Đấng xót thương" (Luca 6:36), một tầm mức xót thương vô cùng trọn lành và cao cả, không một người cha người mẹ trần gian nào có thể đạt được hay vươn tới hoặc làm nổi, và vị nghĩ ra dụ ngôn này cũng phải là một vị Thần Linh mới có thể nói về một thực tại thần linh hoàn toàn siêu việt không thể nào xẩy ra trên trần gian này như thế.

Trước hết, lòng thương xót vô cùng siêu việt của người cha trong dụ ngôn được Thánh ký thuật lại trong bài Phúc Âm hôm nay đối với người con thứ hoang đàng phung phá. Ở chỗ, trước hết, sẵn sàng chia gia tài cho nó, dù biết rằng nó đòi chia gia tài cho nó là để nó bỏ đi, không muốn sống với ông nữa. Vì nếu nó còn ở nhà với ông như người con trưởng anh nó thì đâu cần phải chia gia tài cho nó mà làm gì.

Và ông biết chắc rằng gia tài ông chia cho nó để nó bỏ ông mà đi như thế sẽ bị tan hoang hết thôi. Nhưng ông vẫn không can ngăn nó, không nói năng gì, cứ sẵn sàng đáp ứng yêu cầu tuy chính đáng của nó nhưng nguy hiểm cho nó và thiệt hại đến cả ông nữa. Hình như ông muốn để cho xẩy ra như vậy để cho đứa con dại khờ của ông sau khi hoang đàng trở về sẽ thấy được tất cả tấm lòng ông thương nó, bằng không, tình thương của ông không thể nào thi thố hết cỡ như với nó vậy.

Nhưng ông làm sao có thể biết được là đứa con hoang đàng phung phá này của ông, một khi đã trở nên cùng cực, sẽ trở về với ông như một thân tàn ma dại:

"Khi nó tiêu hết tiền của, thì gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu. Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo. Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho. Bấy giờ nó mới hồi tâm lại và tự nhủ: 'Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa, xin cha đối xử với con như một người làm công của cha'".

Đó là cái bí mật của lòng thương xót nơi ông, cái nghệ thuật siêu đẳng làm cha của ông, ở chỗ, ông biết con ông hơn chính nó biết nó, và thương nó hơn chính nó thương nó, đến độ, ông không sợ mất nó, sẵn sàng để nó đi, vì ông biết rằng nó sẽ không thể nào tìm được hạnh phúc thật và sự sống thật ngoại trừ trở về với cha của nó, sống với cha nó, và chỉ ở trong nhà của cha nó tiêu biểu cho mối hiệp thông với cha mới có sự sống mà thôi.

Không phải hay sao: 1- "Khi nó tiêu hết tiền của": ám chỉ linh hồn phạm tội trọng bị mất Ơn Nghĩa Chúa, mất Thánh Sủng, như trong trường hợp Kitô hữu Công giáo; 2- "thì gặp nạn đói lớn trong miền đó và nó bắt đầu cảm thấy túng thiếu": ám chỉ tình trạng linh hồn mất Ơn Nghĩa Chúa cũng đồng thời thiếu ơn Chúa để có thể sống tốt lành; 3- "Nó vào giúp việc cho một người trong miền, người này sai nó ra đồng chăn heo": ám chỉ linh hồn trọng tình trạng tội trọng đang làm tôi cho ma quỉ và "người trong miền" mà linh hồn làm tôi là ma quỉ này bao giờ cũng xui khiến họ sống theo xác thịt đê hèn như loài "heo"; 4- "Nó muốn ăn những đồ heo ăn cho đầy bụng, nhưng cũng không ai cho": ám chỉ linh hồn thèm khát những gì con heo xác thịt tìm kiếm như đồ ăn bẩm sinh bất khả thiếu của nó là thế gian, nhưng không thỏa mãn...

Thế gian cùng với các thứ hào nhoáng thu hút của nó vô cùng thích hợp với bản tính tự nhiên của con người dù sao vẫn không thể nào hoàn toàn và tận tuyệt thỏa mãn con người, bởi tâm hồn của con người, dù tội lỗi đến đâu cũng đã được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa cao cả nên chỉ có thể được thỏa mãn nơi những gì chân thật thiện hảo xứng hợp với nó mà thôi... Do đó, như một khả năng được "build-in" - sẵn có nơi lòng của con người, đứa con hoang đàng từ đó và do đó, khi đã xuống tới đáy vực thì bật lên hay dội lại. Vì thế dụ ngôn mới được tiếp ngay đến chi tiết đứa con hoang đàng phung phá bật lên hay dội lại như thế này: "Bấy giờ nó mới hồi tâm lại và tự nhủ: 'Biết bao người làm công ở nhà cha tôi được ăn uống dư dật, còn tôi, tôi ở đây phải chết đói! Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi..."

Phải chăng đó là lý do cho dù có thương con đến thế nào chăng nữa, người cha cũng vẫn chẳng cần đi tìm đứa con dại hoang đàng phung phá của mình, mà chỉ cần ở nhà chờ nó trở về với ông, bằng tất cả tấm lòng bao dung tha thứ sẵn sàng của ông, bởi ông đã tha cho nó ngay từ khi nó xin ông chia gia tài cho nó để nó bỏ ông mà đi theo đam mê dục vọng đê hèn của nó, coi đam mê dục vọng của mình hơn tình phụ tử cao vời của ông với nó?!

Chính vì người cha đã tha cho con mình ngay từ đầu, và thấu hiểu con mình hơn ai hết như thế, mà "khi nó còn ở đàng xa, cha nó chợt trông thấy, liền động lòng thương; ông chạy lại ôm choàng lấy cổ nó và hôn nó hồi lâu. Người con trai lúc đó thưa rằng: 'Lạy cha, con đã lỗi phạm đến Trời và đến cha; con không đáng được gọi là con cha nữa'. Nhưng người cha bảo các đầy tớ: 'Mau mang áo đẹp nhất ra đây và mặc cho cậu; hãy đeo nhẫn vào ngón tay cậu, và xỏ giầy vào chân cậu. Hãy bắt con bê béo làm thịt để chúng ta ăn mừng, vì con ta đây đã chết, nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy'. Và người ta bắt đầu ăn uống linh đình".

Người cha chẳng những đã vui mừng vì đứa con hoàng đàng phung phá trở về và đã tự động mau mắn tha thứ cho nó trước khi nó lên tiếng xin lỗi ông, mà còn phục hồi lại cho nó tất cả những gì nó đã tự đánh mất khi xa ông trong đời sống bê tha hoang đàng bất xứng, đó là chức làm con, được tiêu biểu nơi việc "mặc" "áo đẹp nhất", nghĩa là được có cùng huyết nhục của cha và với cha; quyền làm con, được tiêu biểu nơi việc "đeo nhẫn vào ngón tay cậu", nghĩa là được quyền thay mặt cha khi cha còn sống và thừa hưởng phần gia tài của cha sau khi cha qua đời; và phận làm con, được tiêu biểu nơi "giầy ở chân cậu", nghĩa là ở vai trò làm chủ của thành phần nô lệ và tôi tớ trong nhà, thành phần theo văn hóa bấy giờ lúc nào cũng đi chân không.

Tình của người cha xót thương đứa con hoang đàng phung phá này đã khiến cho người con trưởng cảm thấy bất mãn và ghen tức với cả người cha lẫn người em của hắn, đến độ, hắn "nổi giận và quyết định không vào nhà", một thái độ tiêu biểu cho việc tuyệt tình và tuyệt giao của hắn với cả cha hắn với em hắn, không còn muốn hiệp thông liên hệ gì với họ nữa, cho dù cả hai đều là ruột thịt của hắn.

Đến đây chúng ta mới thấy tình thương của người cha không phải chỉ giành riêng cho đứa con hoang đàng phung phá mà còn cho cả đứa con ở nhà với ông nữa. Có thể nói ông tỏ ra thương người con trưởng hơn cả người con thứ nữa. Ở chỗ, trong khi ông không đi tìm người con thứ hoang đàng phung phá, thì ông lại đi tìm người con trưởng của ông, vì nó ở gần ông đấy nhưng lại hoàn toàn lạc mất ông và chẳng hiểu ông bằng người con thứ hoang đàng phung phá.

Có thể nói người con trưởng mới là con chiên lạc, đến độ người cha đã phải bỏ 99 con đang linh đình dự tiệc mừng người con hoang đàng phung phá trở về ở trong nhà mà đi tìm con chiên lạc loài một mình đang sống cô lập bên ngoài mối hiệp thông cha con và huynh đệ, bằng cách người cha đã "ra xin anh vào". Nghĩa là trong khi người con thứ hoang đàng phung phá tìm về với người cha, không cần người cha đi tìm nó, thì người cha lại đi tìm người con trưởng để mang nó về đàn với em của nó.

Người con trưởng quả thực là con chiên lạc cần được người cha tìm về hơn người con thứ. Bởi vì trong khi người con thứ biết thân phận làm con của mình vì hoang đàng phung phá đã không còn xứng nữa nên chỉ xin làm đầy tớ cho cha và của cha, miễn là được cha chấp nhận cho về sống với cha và trong nhà của cha, thì người con trưởng ở nhà với cha lại chỉ muốn làm đầy tớ của cha và cho cha, chứ không muốn làm con của cha, vì hắn làm gì cũng tính công, cũng đòi công như thành phần đầy tớ: "Cha coi, đã bao nhiêu năm con hầu hạ cha, không hề trái lệnh cha một điều nào, mà không bao giờ cha cho riêng con một con bê nhỏ để ăn mừng với chúng bạn".

Chính vì tinh thần làm công như một tên đầy tớ của cha và cho cha như thế mà người con trưởng đã không nghĩ rằng "tất cả của cha là của con", bao gồm cả đứa em của hắn, một đứa em còn quí báu hơn tất cả gia tài vật chất của người cha nữa, đến độ, người cha không thể nào không ăn mừng khi thấy đứa con hoang đàng phung phá tự động trở về với tấm lòng thương xót bất khả chống cưỡng của ông đối với nó: "Nhưng phải ăn tiệc và vui mừng, vì em con đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy".

Người cha trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay chính là hình ảnh về một Vị Thiên Chúa vô cùng nhân hậu, đã tỏ mình ra cho dân được Ngài tuyển chọn như vị mục tử chăn dắt họ là đàn chiên của Ngài, vị mục tử được tiên tri Mica cảm nhận trong Bài Đọc 1 hôm nay như sau:

"Lạy Chúa, với cây trượng của Chúa, xin chăn dắt dân Chúa, chăn dắt những con chiên thuộc quyền sở hữu của Chúa, sống lẻ loi trong rừng, ở giữa núi Carmêlô. Tất cả được chăn dắt ở Basan và Galaad như ngày xưa. Như ngày ra khỏi Ai-cập, xin tỏ cho chúng con thấy những việc lạ lùng".

Lịch sử cứu độ của dân Do Thái đã cho thấy không phải là dễ dàng gì mà chăn dắt họ. Bởi họ là một dân tộc rất ngang tàng bướng bỉnh, bất chấp có được Vị Thiên Chúa của cha ông họ tỏ mình ra cho thấy Ngài là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ "nhiều lần bằng nhiều cách" (Do Thái 1:1).

Bởi thế, họ là cả một đàn chiên lạc chứ không phải chỉ lạc có một con, và vị mục tử của họ không thể nào chăn dắt họ nếu không nhẫn nại với họ, nếu cứ chấp tội họ, nếu không luôn đi tìm họ, không theo đuổi họ hơn là họ theo đuổi ngài, một vị Thiên Chúa đúng như cảm nhận và xác tín của tiên tri Mica trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Có Chúa nào giống như Chúa là Ðấng dẹp tan mọi bất công, và tha thứ mọi tội lỗi của kẻ sống sót thuộc về Chúa? Chúa không khư khư giữ mãi cơn thịnh nộ của mình, vì Chúa ưa thích lòng từ bi. Chúa còn thương xót chúng tôi, còn dày đạp những bất công của chúng tôi dưới chân Chúa, và ném mọi tội lỗi chúng tôi xuống đáy biển. Chúa ban cho Giacóp biết sự trung thành của Chúa và cho Abraham biết lòng từ bi mà Chúa đã thề hứa với tổ phụ chúng tôi từ ngàn xưa".

Phải, chỉ có ai cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa, ở chỗ cho dù mình có là một tội nhân nhưng đã được và hằng được Thiên Chúa vô cùng yêu thương nhận hậu tha thứ, hơn là đối xử với mình đáng tội của mình, mới có được những cảm nhận và tâm tình của Bài Đáp Ca và như Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, toàn thể con người tôi, hãy chúc tụng thánh danh Người. Linh hồn tôi ơi, hãy chúc tụng Chúa, và chớ khá quên mọi ân huệ của Người.

2) Người đã tha thứ cho mọi điều sai lỗi, và chữa ngươi khỏi mọi tật nguyền. Người chuộc mạng ngươi khỏi chỗ vong thân; Người đội đầu ngươi bằng mão từ bi, ân sủng.

3) Người không chấp tranh triệt để, cũng không đời đời giữ thế căm hờn. Người không xử với chúng tôi như chúng tôi đắc tội, và không trả đũa điều oan trái chúng tôi.

4) Cũng như trời xanh cao vượt trên trái đất, lòng nhân Người còn siêu việt hơn thế trên kẻ kính sợ Người. Cũng như từ đông sang tây xa vời vợi, Người đã ném tội lỗi xa khỏi chúng tôi.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

Giáo Hội Hiện Thế: Thứ Sáu Thương Xót (Mercy Friday)
ĐTC Phanxicô vẫn tiếp tục lệ Thứ Sáu Thương Xót này từ Năm Thánh Thương Xót 2016.
Thật vậy, mỗi tháng 1 lần, thường vào Thứ Sáu Đầu Tháng, ngài đến thăm một nơi nào có những người anh chị em hèn mọn nhất của Chúa Kitô đang trú ngụ và được phục vụ ở khu vực thành phố Roma.
Thứ Sáu ngày 2-3-2018, ngài đã bất ngờ đến viếng thăm "Casa di Leda", một nhà phục vụ cho 5 người mẹ cùng con cái của họ, vào lúc 4 giờ chiều, chính lúc họ sắp sinh hoạt bình thường với nhau.
Trong vòng 1 tiếng đồng hồ, ĐTC đã hỏi thăm từng người và chơi với con cái của 5 người mẹ từ 25 đến 30 tuổi này.
Các cháu đã hô hoán khi được ngài tặng cho món quà là những Quả Trứng Phục Sinh to (large Easter eggs), ngược lại các cháu đã đơn sơ mời ngài dùng snacks (bữa xẹp ban chiều) với các cháu.
Ngài cũng tặng cho mỗi một người mẹ một tấm giấy da có chữ ký của ngài để kỷ niệm lần ngài đến thăm họ.

-------------------------------

 

 
HOC HOI DESONG DAO - THU SAU-CN2MC-B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 94, 8ab

Hôm nay các ngươi đừng cứng lòng, nhưng hãy nghe lời Chúa phán.

Phúc Âm: Mt 21, 33-43. 45-46

"Ðứa con thừa tự kia rồi, nào anh em, chúng ta hãy giết nó".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các thượng tế và các kỳ lão trong dân rằng: "Các ông hãy nghe dụ ngôn này: Có ông chủ nhà kia trồng được một vườn nho. Ông rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh; đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa. Ðến mùa nho, ông sai đầy tớ đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi. Nhưng những người làm vườn nho bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác. Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy. Sau cùng chủ sai chính con trai mình đến với họ, vì nghĩ rằng: Họ sẽ kính nể con trai mình. Nhưng bọn làm vườn vừa thấy con trai ông chủ liền bảo nhau: "Ðứa con thừa tự kia rồi: Nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó". Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết. Vậy khi chủ về, ông sẽ xử trí với bọn họ thế nào? Các ông trả lời: "Ông sẽ tru diệt bọn hung ác đó và sẽ cho người khác thuê vườn nho để cứ mùa nộp phần hoa lợi". Chúa Giêsu phán: "Các ông chưa bao giờ đọc thấy trong Kinh Thánh sao:

"Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta?" Bởi vậy, Ta bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái".

Các Thượng tế và biệt phái nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là Tiên tri.

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI - Suy niệm -SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống cách mạng

Tuần 2 Mùa Chay được tiếp tục với ngày Thứ Sáu hôm nay, có Bài Phúc Âm về dụ ngôn liên quan hết sức chặt chẽ với chủ đề chung cho Mùa Chay bao gồm cả Tuần Thánh là: "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17).

Câu chính yếu của bài Phúc Âm hôm nay chứng thực chủ đề của Mùa Chay này đó là câu: "'Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta?' Bởi vậy, Ta bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái".

Đúng thế, cả dụ ngôn trong Bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu nói về số phận của "viên đá bị bọn thợ loại ra" là chính bản thân Người, được hiện thân nơi người con một duy nhất của ông chủ vườn nho, một vườn nho đã được ông chủ này "rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh; đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa".

Chính vì "vườn nho của Chúa là nhà Israel" (Isaia 5:7) mà thành phần "tá điền" được "thuê" để làm vườn nho cho vị chủ vườn nho này chính là thành phần lãnh đạo của dân Do Thái, dọc suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, mà đại diện cho chung thành phần này bấy giờ đang nghe Chúa Giêsu nói về dụ ngôn ấy là "các trưởng tế và các kỳ lão trong dân", và vì thế mà cuối cùng họ mới có phản ứng tiêu cực được Phúc Âm ghi nhận như sau: "Các Trưởng tế và biệt phái nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là Tiên tri".

Các người "đầy tớ" được chủ vườn nho là Thiên Chúa sai "đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi" đây là ai, nếu không phải là các vị tiên tri, các vị ngôn sứ của Thiên Chúa, để nhắc nhở họ về giao ước của Thiên Chúa, về lề luật họ cần phải tuân giữ, về tội tôn thờ ngẫu tượng và ngoại tình của họ mà họ cần phải từ bỏ hầu quay về với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ.

Thật ra, vườn nho là dân Do Thái này đã được Thiên Chúa "rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh", ở chỗ Ngài đã ban lề luật cho họ, như thể Ngài "rào dậu chung quanh" họ, Ngài đã thử thách đức tin của họ, như thể Ngài "đào hầm ép rượu" nơi họ, và Ngài đã liên tục tỏ mình ra cho họ bằng các cuộc thần hiển hay qua các sự lạ dấu kỳ, như thể Ngài "xây tháp canh" trên họ. Chưa hết, vườn nho này còn được canh tác bởi thành phần "tá điền" là thành phần lãnh đạo dân Do Thái được Ngài sử dụng để phục vụ cho lợi ích của vườn nho như Ngài mong muốn.

Thế nhưng, thành phần "tá điền", với tư cách chỉ là kẻ làm thuê cho chủ, chẳng những đã không chịu nộp phần hoa lợi cho chủ qua thành phần "đầy tớ" là các vị ngôn sứ đại diện được chủ sai đến thu hoa lợi, mà thậm chí lại còn "bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác", hết đợt này đến đợt khác, chứ không phải một đợt đầu tiên: "Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy".

Tuy nhiên, vị chủ vườn nho vẫn nhân từ và đầy nhẫn nại, lại còn tỏ ra có vẻ hết sức ngây thơ đến độ điên cuồng dại dột dám sai cả đứa con trai cưng độc nhất của mình tới với bọn tá điền hung dữ tàn ác đầy sát máu này, với ý nghĩ quá ư là thành thực, tin tưởng hết cỡ vào thành phần "tá điền" được ông thuê mướn nhưng đã từng tỏ ra không coi ông ra gì khi ra tay sát hại bao nhiêu là đợt "đầy tớ" của ông, được ông sai đến với họ: "Họ sẽ kính nể con trai mình".

Quả thực không sai, bọn "tá điền" đang hăng máu đã thừa thắng xông lên, sẵn con mắt còn đang khát máu và bàn tay còn đang đẫm máu các đợt "đầy tớ" của chủ sai đến bị họ sát hại, nên đã tiến tới chỗ giết cả chính người con trai duy nhất vô cùng yêu quí của chủ vườn nho, theo tham vọng giết người cướp của, ở chỗ, theo họ, một khi họ giết được đứa con thừa tự của chủ thì tất cả gia tài của chủ mà họ đang nắm giữ trong tay là vườn nho họ đang canh tác tự nhiên sẽ thuộc về họ: "Ðứa con thừa tự kia rồi: Nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó'. Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết".

Thực tế cho thấy xẩy ra đúng như vậy, thành phần lãnh đạo dân Do Thái đã nhân danh Thiên Chúa, hay đã bênh vực vinh quang của Thiên Chúa, mà lên án tử cho chính Con Thiên Chúa mà họ cho rằng nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét chỉ thuần túy là một con người như họ mà đã dám cả gan lộng ngôn phạm thượng, xưng mình là Con Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa (xem Mathêu 26:63-66 và Gioan 10:33).

Thế nhưng, vị chủ vườn nho này không quá ngu dại và điên cuống như đám "tá điền" gian ác tham lam ấy tưởng tí nào cả, trái lại, chính những mưu đồ xấu xa và việc làm quái gở của họ, hoàn toàn theo tính toán khôn ngoan nhất của họ, theo tự do đến độ lộng hành của họ, mà lại trở thành cơ hội vô cùng thuận lợi cho ý định cứu độ của Ngài, đúng như Con của Ngài đã tiên báo cho thành phần lãnh đạo đang nghe Người bấy giờ biết: "Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta?"

Thậm chí cho dù biết như thế đấy, ở chỗ "nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là Tiên tri", thành phần lãnh đạo dân Do Thái ấy nhất định vẫn không chấp nhận Người, vẫn muốn tình nguyện bất đắc dĩ trở thành "bọn thợ" nhúng tay vào việc "loại ra" "chính viên đá" theo thiên định chắc chắn sẽ "trở nên viên đá góc".

Hình ảnh và số phận của "viên đá" bị "loại ra đã trở thành viên đá góc" là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay đã được báo trước nơi số phận của tổ phụ Giuse, một trong 12 anh em trai của tổ phụ Giacóp, và được bố Giacóp thương nhất trong số các con của ông, nên đứa con trai thứ 11 này của ông, cùng cha khác mẹ với 10 người anh, đã bị các anh ghen ghét đến độ muốn sát hại, chẳng những cho bõ ghen tức mà còn để phá vỡ mộng mị của đứa em lên mặt này của họ.

Giuse là đứa em được bố tổ phụ Giacóp thương nhất, đến độ Giuse đã trở thành cái gai trước mắt các anh mình: "Israel mến thương Giuse hơn mọi đứa con khác, vì ông sinh ra Giuse trong lúc tuổi già. Ông may cho Giuse một chiếc áo nhiều mầu. Các anh của Giuse thấy cha mình thương Giuse hơn mọi đứa con, nên sinh lòng ghen ghét và không thể nói chuyện thân mật với Giuse".

Tuy nhiên, không phải vì thương Giuse nhất mà bố tổ phụ Giacóp không thương những đứa con còn lại, trái lại, ông vẫn quan tâm đến mọi đứa con của ông, như có lần ông sai Giuse đến với các anh của chàng: "Khi các anh Giuse đi chăn những đoàn chiên của cha mình tại Sikem, thì Israel nói với Giuse: 'Có phải các anh con đang chăn chiên ở Sikem không? Con hãy lại đây, cha sai con đi tìm các anh con'".

Không ngờ cơ hội tốt đã đến, các anh của người con cưng của cùng một người cha khác mẹ với họ đã lọt vào tay họ một cách ngon lành, để họ nhờ đó có thể dễ dàng thực hiện ý đồ gian ác của họ là sát hại đứa em vô tội của họ, rồi bỏ xác của nó xuống một cái giếng cạn để phi tang tung tích của nó, nhưng sau theo gợi ý có lý của người anh thứ tư là Giuđa, họ đã chuyển mưu đồ giết em thành bán em của họ cho đám lái buôn đang đi sang Ai Cập.

"Giuse đi tìm các anh mình và gặp các anh tại Ðôtain. Khi các anh thấy Giuse từ đằng xa tiến lại gần, họ liền âm mưu tìm cách giết Giuse. Họ nói với nhau rằng: 'Này thằng chiêm bao đến kia rồi, anh em hãy lại đây, chúng ta bắt giết nó, ném xác nó xuống một cái giếng cạn và nói nó bị thú dữ ăn thịt, rồi xem các điềm chiêm bao của nó sẽ ra sao?'"

"Ðang khi các ông ngồi ăn bánh, thì thấy một đoàn người Ismael từ Galaad tiến về Ai-cập, các con lạc đà của họ chở đầy hương liệu, nhựa thơm và dầu thơm. Giuđa nói với các anh em rằng: "Chúng ta giết em chúng ta và giấu máu nó đi, thì có ích lợi gì? Tốt hơn là chúng ta đem bán nó cho người Ismael và tay chúng ta không phải vấy máu, vì Giuse là em ruột thịt chúng ta". Các anh em nghe theo lời Giuđa, nên khi các người lái buôn từ Mađian đi ngang qua đó, các ông kéo Giuse lên khỏi giếng và đem bán cho các người Ismael với giá hai mươi đồng bạc, và họ dẫn Giuse sang Ai-cập".

Thế nhưng, cũng như bọn "tá điền" trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay, hoàn toàn tự do mưu tính và hành động theo sự khôn ngoan nhất của mình, thế mà Vị Thiên Chúa toàn năng quan phòng tất cả mọi sự như chủ tể lịch sử loài người vẫn có thể hoàn tất được tất cả những gì Ngài định liệu, bằng chính những âm mưu ác độc xấu xa và việc làm gian ác hung dữ của họ, như Bài Đáp Ca hôm nay chứng thực:

1) Chúa đã gọi cảnh cơ hàn về trên đất nước, và rút đi mọi sự nâng đỡ bằng cơm bánh. Ngài đã sai một người đi trước họ: Giuse đã bị bán để làm nô lệ.

2) Thiên hạ đã lấy xiềng để trói chân người, và cổ người bị cột bằng xích sắt, cho tới khi ứng nghiệm lời tiên đoán của người, lời của Chúa đã biện minh cho người.

3) Vua đã sai cởi trói cho người, Chúa của chư dân cũng đã giải phóng người. Vua đã tôn người làm chủ của mình, và làm chúa trên toàn diện lãnh thổ.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU NAM-CN2MC-B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ed 33, 11

Chúa phán: "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống".

Phúc Âm: Lc 16, 19-31

"Con đã được sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng những người biệt phái rằng: "Có một nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy. Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các thiên thần đem lên nơi lòng Abraham. Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong hoả ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đằng xa có Abraham và Ladarô trong lòng Ngài, liền cất tiếng kêu la rằng:

"Lạy Cha Abraham, xin thương xót tôi và sai Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước để làm mát lưỡi tôi, vì tôi phải quằn quại trong ngọn lửa này. Abraham nói lại: "Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ. Vả chăng, giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn tự đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ đó qua đây được".

Người đó lại nói: "Ðã vậy, tôi nài xin cha sai Ladarô đến nhà cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo họ, kẻo họ cũng phải sa vào chốn cực hình này". Abraham đáp rằng: "Chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các Ngài". Người đó thưa: "Không đâu, lạy Cha Abraham! Nhưng nếu có ai trong kẻ chết về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải". Nhưng Abraham bảo người ấy: "Nếu chúng không chịu nghe Môsê và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI- Suy niệm SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống đức tin

Hôm nay, Thứ Năm trong Tuần 2 Mùa Chay, Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca về dụ ngôn Lazarô và người phú hộ, và theo chiều hướng của chung phụng vụ lời Chúa trong ngày, bao gồm cả Bài Đọc 1, thì Giáo Hội không phải chỉ muốn cảnh giác con cái mình về thái độ của nhà phú hộ mà còn kêu gọi họ sống thân phận theo tinh thần của một Lazarô bất hạnh nữa.

Trước hết, thái độ dửng dưng lạnh lùng của người phú hộ trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, và tinh thần sống nhẫn nhục của một Lazarô bất hạnh được Thánh ký Luca thuật lại theo lời Chúa Giêsu diễn tả như thế này:

"Có một nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy".

Tuy nhiên, dụ ngôn "Chúa Giêsu phán cùng những người biệt phái" ấy không phải chỉ cho thấy những gì xẩy ra ở trên trần gian này mà thôi, mà còn liên quan đến cả đời sau về hậu quả tai hại hay thành quả tốt đẹp của những gì con người đã làm trên đời này nữa:

"Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các thiên thần đem lên nơi lòng Abraham. Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong hoả ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đằng xa có Abraham và Ladarô trong lòng Ngài..."

Ở đây, số phận đời đời, một được rỗi là Lazarô và một bị hư đi là người phú hộ, bất khả cứu vãn, bất khả đổi thay, đúng như lời khẳng định của tổ phụ Abraham đã nói với người phú hộ đang ở trong hỏa ngục: "giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn tự đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ đó qua đây được".

Số phận đời đời vô cùng quan trọng này hoàn toàn là kết quả từ cuộc sống trên trần gian của từng người, như được tổ phụ Abraham cho người phú hộ biết như sau: "Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ".

Thế nhưng, số phận đời đời được rỗi của Lazarô hay hư đi của người phú hộ không phải chỉ ở chỗ "chịu khốn khổ" như Lazarô hay "được toàn sự lành" như người phú hộ. Bởi vì, thực tế cho thấy, không phải ai "được toàn sự lành" trên thế gian này đều hư đi như người phú hộ, và cũng không phải ai "chịu khốn khổ" trên đời này đều tự động được rỗi như Lazarô đâu, mà là ở chỗ họ, trong hoàn cảnh may lành hay khốn khổ của họ, có biết thực hiện nguyên tắc "đức tin thể hiện qua đức ái" (Galata 5:6) hay chăng!

Ở dưới hỏa ngục, nơi chỉ toàn là ghen ghét, giống hệt như tâm trạng bất di bất dịch của ma quỉ và nơi ma quỉ, là tác nhân chết chóc và là cha các thứ dối trá (xem Gioan 8:44), thì cả ma quỉ lẫn các linh hồn hư đi ở đó không muốn ai được cứu rỗi, trái lại, chỉ muốn cho tất cả mọi người xuống hỏa ngục với mình và như mình.

Thế mà, người phú hộ ở trong hỏa ngục bấy giờ hình như đã được biến đổi bản tính ghen ghét của hỏa ngục nơi mình, đến độ thay vì ghen ghét lại tỏ ra thương yêu các người thân yêu của mình còn sống trên trần gian này mà lên tiếng van xin cùng tổ phụ Abraham là cha của các kẻ tin (xem Roma 4:11) rằng: "tôi nài xin cha sai Ladarô đến nhà cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo họ, kẻo họ cũng phải sa vào chốn cực hình này... nếu có ai trong kẻ chết về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải".

Cho dù xẩy ra như thế đi nữa, nghĩa là cho dù các linh hồn bị hư đi trong hỏa ngục hay ma quỉ ở đó có biết thương yêu những người còn sống và chỉ muốn cho những người ấy được lên thiên đàng hơn là xuống hỏa ngục như họ và với họ, một sự kiện không thể nào có, không thể nào xẩy ra và không bao giờ xẩy ra chăng nữa, cũng không thể nào cứu được một con người còn sống trên thế gian này, nếu người còn sống ấy không tự mình sống đức tin: "Chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các Ngài... Nếu chúng không chịu nghe Môsê và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu".

Như thế có nghĩa là Lazaro được rỗi sau cuộc đời "chịu khốn khổ" trên đời này là nhờ Lazarô đã sống đức tin, và hình ảnh Lazarô ở trong "lòng Abraham" là cha của các kẻ tin đã chứng thực điều này. Bởi vậy, chúng ta đã không thấy chỗ nào trong dụ ngôn Chúa nói ở bài Phúc Âm hôm nay cho thấy một Lazarô kêu ca, than thân trách phận, hay nguyền rủa người phú hộ, trái lại vẫn cam chịu thân phận bị khinh rẻ và bỏ rơi, cho dù chỉ có một ước muốn vô cùng tầm thường song vẫn không được đáp ứng, đó là "ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy".

Về phần người phú hộ cũng thế, nếu Lazaro "chịu khốn khổ" được cứu rỗi nhờ đức tin của mình thì người phú hộ bị hư đi cũng là do không có đức tin, hay đúng hơn không sống đức tin, một "đức tin thể hiện qua đức ái" (Galata 5:6). Bài Phúc Âm không hề đề cập đến bất cứ một cử chỉ hay hành động nào lỗ mãng của người phú hộ đối với Lazarô, chẳng hạn như chửi bới hay đánh đuổi Lazarô đi, mà chỉ tỏ ra lãnh đạm dửng dưng không chịu giúp đỡ Lazarô là một con người hết sức khốn nạn đáng thương "nằm bên cổng nhà ông", không thể nào ông không thấy, và cho dù có thấy ông vẫn không hề động lòng thương, không hề bố thí cho Lazarô một tí nào, trong khi đó người phú hộ này quá ư là giầu sang hoan hưởng dư thừa: "vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình".

Bài Đọc 1 hôm nay chẳng những thích đáng với một Lazarô khốn khổ mà còn với cả người phú hộ hoan hưởng may lành trong Bài Phúc Âm hôm nay nữa.

Thật vậy, không phải hay sao, người phú hộ trong Bài Đọc 1 hôm nay là thành phần xuất hiện ở phần đầu với những diễn tả không sai về một con người giầu sang phú quí theo tự nhiên hoàn toàn không có đức tin:

"Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời, họ nương tựa vào sức mạnh con người, còn tâm hồn họ thì sống xa Chúa. Họ như cây cỏ trong hoang địa, không cảm thấy khi được hạnh phúc; họ ở những nơi khô cháy trong hoang địa, vùng đất mặn không người ở.

Trong khi đó, Lazarô xuất hiện ở phần thứ hai của Bài Đọc 1 này, những diễn tả rất chí lý và chính xác về đời sống của một con người sống đức tin trong cuộc đời bần cùng khốn khổ của mình:

"Phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa, và Chúa sẽ là niềm cậy trông của họ. Họ sẽ như cây trồng nơi bờ suối, cây đó đâm rễ vào nơi ẩm ướt, không sợ gì khi mùa hè đến, lá vẫn xanh tươi, không lo ngại gì khi nắng hạn mà vẫn sinh hoa kết quả luôn. Lòng người nham hiểm khôn dò, nào ai biết được?"

Câu cuối cùng của Bài Đọc 1 cũng phản ảnh dụ ngôn có hậu, một cái hậu liên quan đến vấn đề thưởng phạt thích đáng và công minh của việc con người làm trên thế gian này, được Chúa Giêsu cảnh giác trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay: "Còn Ta, Ta là Chúa, Ta thấu suốt tâm hồn và dò xét tâm can, trả công cho mỗi người tuỳ theo cách sống và hậu quả hành vi của họ".

Bài Đáp Ca hôm nay cũng tấu lên cùng một lời ca và cùng một nhạc điệu như Bài Đọc 1 về hai thành phần sống trên trần gian này, một theo đức tin và một không theo đức tin, như trường hợp tiêu biểu điển hình là Lazaro và người phú hộ trong Bài Phúc Âm hôm nay:

1) Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác, không đứng trong đường lối những tội nhân, không ngồi chung với những quân nhạo báng, nhưng vui thoả trong lề luật Chúa, và suy ngắm luật Chúa đêm ngày.

2) Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa; lá cây không bao giờ tàn úa. Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt.

3) Kẻ gian ác không được như vậy; họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi, vì Chúa canh giữ đường người công chính, và đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU TU -CN2MC -B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ge 2, 12-13

Chúa phán: "Vậy từ đây các ngươi hãy thật lòng quay về với Ta, vì Ta nhân hậu và từ bi".

Phúc Âm: Mt 20, 17-28

"Họ đã lên án tử cho Người". - TÔI CẦN SỐNG PHỤC VỤ ANH EM

Khi ấy, Chúa Giêsu đi lên Giêrusalem, đem riêng mười hai môn đệ đi theo. Dọc đường, Người nói với họ: "Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo Người lên thập giá, nhưng đến ngày thứ ba, Người sẽ sống lại".

Bấy giờ bà mẹ các con ông Giêbêđê cùng với hai con đến gặp Người. Bà sấp mình xuống lạy Người, có ý xin Người điều chi đó. Người hỏi: "Bà muốn gì". Bà ta thưa lại: "Xin Ngài hãy truyền cho hai con tôi đây được ngồi một đứa bên hữu, một đứa bên tả Ngài, trong Nước Ngài". Chúa Giêsu đáp lại: "Các ngươi không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có thể uống chén mà ít nữa đây Ta sắp uống chăng?" Họ nói với Người: "Thưa được". Người bảo họ: "Vậy các ngươi sẽ uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban, nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai, thì người ấy mới được". Nghe vậy, mười người kia tỏ ra bất bình với hai anh em: Chúa Giêsu gọi họ lại mà bảo: "Các con biết thủ lãnh của các dân tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thì hành quyền trên họ. Giữa các con thì không được thế. Trong các con, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai muốn cầm đầu trong các con, thì hãy làm tôi tớ các con. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI- Suy niệm- SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống vượt qua - MÙA CHAY CUỘC ĐỜI

Ngày Thứ Tư trong Tuần 2 Mùa Chay hôm nay, Bài Phúc Âm được Thánh ký Mathêu trình thuật lại 4 sự kiện liền, thứ nhất là sự kiện Chúa Giêsu tỏ ra cho riêng các môn đệ biết về cuộc vượt qua của Người, thứ hai là sự kiện bà mẹ của cặp anh em tông đồ Giacôbê và Gioan đến xin với Chúa Giêsu cho hai người con của bà một đặc ân, thứ ba là sự kiện Chúa Giêsu đáp lại lời yêu cầu xin đặc ân của ba mẹ con này, và thứ bốn là sự kiện Chúa Giêsu huấn dụ chung các tông đồ nhân biến cố xin đặc ân ấy.

Thứ nhất là sự kiện Chúa Giêsu tỏ ra cho riêng các môn đệ biết về cuộc vượt qua của Người, bài Phúc Âm hôm nay thuật lại rằng: "Này chúng ta lên Giêrusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo Người lên thập giá, nhưng đến ngày thứ ba, Người sẽ sống lại".

Thứ hai là sự kiện bà mẹ của cặp anh em tông đồ Giacôbê và Gioan đến xin với Chúa Giêsu cho hai người con của bà một đặc ân: "Bấy giờ bà mẹ các con ông Giêbêđê cùng với hai con đến gặp Người. Bà sấp mình xuống lạy Người, có ý xin Người điều chi đó. Người hỏi: 'Bà muốn gì'. Bà ta thưa lại: 'Xin Ngài hãy truyền cho hai con tôi đây được ngồi một đứa bên hữu, một đứa bên tả Ngài, trong Nước Ngài'".

Thứ ba là sự kiện Chúa Giêsu đáp lại lời yêu cầu xin đặc ân của ba mẹ con này: "Chúa Giêsu đáp lại: 'Các ngươi không biết điều các ngươi xin. Các ngươi có thể uống chén mà ít nữa đây Ta sắp uống chăng?' Họ nói với Người: 'Thưa được'. Người bảo họ: 'Vậy các ngươi sẽ uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban, nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai, thì người ấy mới được'".

Thứ bốn là sự kiện Chúa Giêsu huấn dụ chung các tông đồ nhân biến cố xin đặc ân ấy: "Nghe vậy, mười người kia tỏ ra bất bình với hai anh em: Chúa Giêsu gọi họ lại mà bảo: 'Các con biết thủ lãnh của các dân tộc thì thống trị họ và những người làm lớn thì hành quyền trên họ. Giữa các con thì không được thế. Trong các con, ai muốn làm lớn, thì hãy phục vụ các con, và ai muốn cầm đầu trong các con, thì hãy làm tôi tớ các con. Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người'".

Giáo Hội chọn bài Phúc Âm hôm nay, căn cứ vào chiều hướng chung của phụng vụ lời Chúa trong ngày, thì sự kiện nổi bật nhất trong 4 sự kiện ở bài Phúc Âm không phải là sự kiện việc yêu cầu của 3 mẹ con hai anh em tông đồ Giacôbê và Gioan, mà là sự kiện 1 và 4 liên quan đến chính số phận của Chúa Kitô, là Đấng, như Người khẳng định ở câu kết của bài Phúc Âm: "đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng để phục vụ và phó mạng sống làm giá chuộc cho nhiều người", đúng như lời Người tiên báo ở đầu bài Phúc Âm về bản thân Người: "Con Người sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo Người lên thập giá, nhưng đến ngày thứ ba, Người sẽ sống lại".

Đúng thế, chính vì "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17), chủ đề cho chung Mùa Chay bao gồm cả Tuần Thánh, mà Người "đã tự ý bỏ sự sống mình đi", ở chỗ, "Con Người sẽ bị nộp cho các vị thượng tế và luật sĩ. Người ta sẽ lên án tử cho Người, sẽ nộp Người cho dân ngoại để chúng nhạo báng, đánh đòn, rồi treo Người lên thập giá", không phải để hoàn toàn và vĩnh viễn bị hủy diệt, bị tiêu tan, bị sự dữ lấn át, trái lại "để lấy nó lại", ở chỗ: "nhưng đến ngày thứ ba, Người sẽ sống lại", tức để tỏ mình ra là Thiên Chúa hằng sống, bất diệt, Đấng đã hóa thân làm người và chiến thắng tội lỗi và sự chết, nhờ đó, qua nhân tính của mình, thông ban sự sống thần linh và Thánh Linh của Người, cho Giáo Hội "được sự sống và là sự sống viên mãn" (Gioan 10;10).

Giáo Hội được thừa hưởng sự sống viên mãn này của Chúa Kitô Phục Sinh, nhất là sau Biến Cố Thánh Thần Hiện Xuống ở Giêrusalem trong Ngày Lễ Ngũ Tuần mà các tông đồ là nền tảng của Giáo Hội (xem Epheso 2:20), vậy để có thể hoàn thành sứ vụ làm chứng nhân tiên khởi của mình, Giáo Hội nói chung, qua các tông đồ bấy giờ, cũng cần phải được thông phần vào cuộc vượt qua của Thày các vị và với Thày của các vị, bởi "tôi tớ không hơn chủ và môn đệ không hơn Thày. Môn đệ cần phải hân hoan được nên giống như Thày mình và tôi tớ được nên giống như chủ mình" (Mathêu 10:24-25).

Đó là lý do, bài Phúc Âm hôm nay còn bao gồm cả sự kiện 3 mẹ con của cặp anh em tông đồ Giacôbê và Gioan, những con người, cho dù sau khi nghe thấy Chúa Giêsu báo trước về cuộc vượt qua kinh hoàng khủng khiếp của Người, ngoài sức tưởng tượng và lòng mong ước của các vị cũng là của chính đại chúng Do Thái, đã dám dấn thân theo Người bằng việc sẵn sàng "uống chén" của Người và với Người, không sợ, nhờ đó hai vị tông đồ này đã hiện thực đúng như lòng mong ước của Chúa Giêsu: "Môn đệ cần phải hân hoan được nên giống như Thày mình và tôi tớ được nên giống như chủ mình" (Mathêu 10:25).

"Vậy các ngươi sẽ uống chén của Ta, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả, thì không thuộc quyền Ta ban, nhưng Cha Ta đã chuẩn bị cho ai, thì người ấy mới được". Lời Chúa Giêsu nói đây để đáp lại tinh thần dấn thân tham phần vào cuộc vượt qua của Người và với Người không phải chỉ là một lời có vẻ thoái thác quyền hạn của Người mà là, ở một nghĩa sâu xa nào đó, ám chỉ đến số phận đặc biệt của riêng hai vị tông đồ là "những đứa con sấm xét" này (xem Marco 3:17) đã được "Cha Ta chuẩn bị" rồi, để "Thày ở đâu các con cũng được ở đó với Thày" (Gioan 14:3).

Thật vậy, cuối cùng, cả hai vị tông đồ này đều được toại nguyện: Tông đồ Gioan là người môn đệ được ngồi bên phải Người khi vị này trở thành người môn đệ duy nhất được đứng dưới chân thập giá của Người (xem Gioan 19:26), và tông đồ Giacôbê là người môn đệ được ngồi bên tả Người khi vị này trở thành vị tử đạo đầu tiên trong các tông đồ và ở tại Giêrusalem như Người (xem Tông Vụ 12:2).

Số phận của Chúa Kitô, vị Ngôn Sứ chính yếu và tối hậu được Thiên Chúa sai đến trần gian nơi dân Do Thái, cũng như số phận làm ngôn sứ như Thày và với Thày của các tông đồ nói chung và của 2 người môn đệ là những đứa con sấm xét Giacôbê và Gioan trong bài Phúc Âm hôm nay nói riêng, đã được báo trước nơi các vị tiên tri, ngôn sứ ngày xưa trong lịch sử dân Do Thái, mà tiên tri Giêrêmia trong Bài Đọc 1 hôm nay là tiêu biểu điển hình, như chính vị tiên tri này bày tỏ:

"Thiên hạ nói rằng: 'Các ngươi hãy đến và chúng ta tìm cách chống lại Giêrêmia: vì tư tế không thiếu lề luật, người khôn ngoan không thiếu lời chỉ bảo, tiên tri không thiếu lời giảng dạy! Hãy đến, chúng ta hãy dùng lời nói mà tố cáo nó và đừng để ý đến các lời nó dạy'. Lạy Chúa, xin lưu tâm đến con, và nghe tiếng quân thù của con! Làm lành mà phải gặp dữ sao, vì họ đào lỗ chôn con? Xin Chúa hãy nhớ lại con đã đứng trước nhan thánh Chúa để biện hộ cho họ, Chúa đã nguôi giận họ".

Đúng thế, số phận của các vị ngôn sứ được Thiên Chúa sai đến để truyền đạt sự thật là ý muốn tối hậu của Ngài, bao gồm cả chính Con của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, như dụ ngôn của bài Phúc Âm Thứ Sáu tuần này sẽ cho thấy, đều cảm thấy số phận bất hạnh của mình, đó là "làm lành mà phải gặp dữ": "làm lành" ở chỗ "con đã đứng trước nhan thánh Chúa để biện hộ cho họ, Chúa đã nguôi giận họ", "mà phải gặp dữ" ở chỗ "họ đào lỗ chôn con".

Bởi thế, một trong những dấu hiệu chắc chắn nhất và chân thật nhất để thấy được ai là ngôn sứ thật sự của Thiên Chúa và được Thiên Chúa sai đến đó là số phận "làm lành mà phải gặp dữ" của họ, bởi họ loan truyền sự thật, một sự thật tự bản chất có sức giải phóng (xem Gioan 8:32) nhưng lại là sự thật phũ phàng làm mất lòng, gây phản kháng và trù dập, nhưng chính số phận bất hạnh này đã chứng thực cho vai trò ngôn sứ của họ cũng như cho sứ điệp cứu độ từ họ, chứ họ không phải là những thứ tiên tri giả, kitô giả, mị dân, sợ dân, sợ sự thật, nên không bao giờ bị hoạn nạn, trái lại, còn được quần chúng mộ mến, tôn sùng như thần tượng của thế gian!

Tuy nhiên, để có thể chu toàn vai trò ngôn sứ đích thực của mình, thành phần thiên sai cần phải có một niềm tin tưởng mãnh liệt vào chính Đấng đã sai mình, bằng những cảm nhận thần linh và tâm tình siêu nhiên như trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Chúa dẫn con xa lưới dò chúng ngầm trương ra để hại con, vì Ngài là chỗ con nương náu. Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa; lạy Chúa, lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con.

2) Con đã nghe thấy lũ đông bàn tán, nỗi sợ sệt gieo nặng khắp đôi nơi; cùng một lúc, chúng tụ họp phản đối con; chúng đã âm mưu sát hại mạng con.

3) Phần con, lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài, con kêu lên: Ngài là Thiên Chúa của con! Vận mạng con ở trong tay Ngài, xin cứu gỡ con khỏi tay quân thù và những người bách hại.

​Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 9 of 124