mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4946
mod_vvisit_counterHôm Qua7964
mod_vvisit_counterTuần Này12910
mod_vvisit_counterTuần Trước43250
mod_vvisit_counterTháng Này132909
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10274222

We have: 87 guests online
Your IP: 54.144.84.155
 , 
Today: Feb 19, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 113 = GIAO HO CAN NGHEO PDF Print E-mail

TẠI SAO GIÁO HỘI CẦN PHẢI NGHÈO ĐỂ RAO GIẢNG TIN MỪNG ?
Đức Thánh Cha Phanxicô, trong một diễn từ mới đây, đã thẳng thắn nói rõ là thế giới hiện nay đang sống với thảm trạng " tôn thờ tiên bạc ( cult of money ) và dửng dưng với bao triệu người nghèo đói ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các quốc gia Phi Châu.
Không nói gì đến các nước vốn nghèo sẵn ở Á và Phi Châu, ngay ở Hoa Kỳ là nước được coi là giầu có nhất nhì thế giới mà cũng có biết bao người vô gia cư ( homeless) nghèo đói sống vất vưởng trên hè phố ở các đô thị lớn như Los Angeles, Houston, Chicago, Nữu Ước. Họ nghèo đến nỗi không có nhà ở và hàng ngày phải xin ăn ở các cơ sở từ thiện, trong khi những người triệu phú , tỉ phú không hề quan tâm đến họ và chính quyền liên bang cũng như tiểu bang , cho đến nay, vẫn không có biện pháp tích cực nào để giúp những người nghèo vô gia cự này.Nhưng mỉa mai và nghịch lý là chánh quyền Mỹ cứ thi nhau đem tiền ra giúp các nước như Irak. Afghanistan, Pakistan, Ai Cập, Syria...vì quyền lợi chiến lược của Mỹ, mặc dù dân các nước trên vẫn chống Mỹ và muốn đuổi quân đội Mỹ ra khỏi đất nước họ ! ( Irak và Afghanistan)
Đức Thánh Cha phê phán thế giới "tôn thờ tiền bạc"vì người thấy rõ sự chênh lệch
quá to lơn giữa người quyền thế giầu sang và người nghèo cô thân cô thế ở khắp nơi trên thế giới tục hóa này.Nên khi lên ngôi Giáo Hoàng ngày 13 tháng 3 năm qua (2013), ngài đã chọn danh hiệu "Phanxicô" cho triều đại Giáo Hoàng ( Pontificate) của mình để nói lên ước muốn sống tình thần nghèo khó của Thánh Phan xicô khó khăn Thành Assisi và nhất là tình thần và đời sống khó nghèo thực sự của Chúa Giêsu Kitô, " Đấng vốn giầu sang phú quí nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." ( 2 Cor 8:9)
Như thế, gương khó nghèo của Chúa Kitô mà Đức Thánh Cha muốn thực hành phải là gương sáng cho mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hôi noi theo, đặc biệt là hàng giáo sĩ và tu sĩ là những người có sứ mạng và trách nhiệm rao giảng và sống Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô để nên nhân chứng cho Chúa , "Đấng đã đến không phải để được người ta phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28).
Đặc biệt trong thư gửi cho các Tân Hồng Y ngày 13 tháng 1 vừa qua ( 2014), Đức Thánh Cha Phanxicô đã nhấn mạnh như sau :
" cái mũ đỏ không có ý nghĩa là được thăng thưởng( promotion) một danh dự hay hào nhoáng bề ngoài( decoration) mà chỉ đơn thuần là một hình thức phục vụ đòi hỏi mở rộng tầm nhìn và con tim...do đó xin quí chu huynh nhận sự bổ nhiệm mới này với lòng khiêm cung, giản dị và vui mừng, nhưng vui mừng không theo cách người đời hay bất cách mừng vui nào xa lạ với tinh thần của Phúc Âm về sự khắc khổ ( austerity) tiết độ ( sobriety) và khó nghèo ( poverty)".
Tai sao phải sống khó nghèo ?
Khó nghèo ở đây không có nghĩa là phải đói khát rách rưới, vô gia cư,lang thang đầu đường xó chợ thì mới được chúc phúc. Ngược lại, phải lo cho mình và cho người mình có trách nhiệm coi sóc được có phương tiện sống cần thiết tối thiểu như nhà ở, cơm ăn áo mặc, phương tiện di chuyển như xe cộ, vì ở Bắc Mỹ và các quốc gia Âu châu , Úc châu thì linh mục phải có xe hơi thì mới làm mục vụ được, vì không thể đi bộ đến thăm bệnh nhân ở tư gia hay ở bệnh viện.Nghĩa là không "lý tưởng thiếu thực tế" để chỉ chú trọng đến đời sống tinh thần mà coi nhẹ hay sao nhãng đời sống vật chất đúng mức cho phù hợp với nhân phẩm.
Nhưng điều quan trọng nhất là phải thực sự sống tinh thần nghèo khó mà Chúa Kitô đã dạy các môn đệ và dân chúng xưa là " Phúc cho ai có tinh thần (tâm hồn) nghèo khó vì Nước Trời là của họ. ( Mt 5:3; Lc 6 : 20)
Sự nghèo khó mà Chúa muốn dạy ở đây không có nghĩa là phải đói khát , rách rưới về phần xác như đã nói ở trên mà chỉ có nghĩa là không được ham mê tiền bạc và của cải vật chất, tiện nghi sa hoa, danh vọng trần thế đến độ làm nô lệ cho chúng để không chú trọng vào việc mở mang Nước Thiên Chúa trong tâm hồn của chính mình và nơi người khác; cụ thể là các giáo dân được trao phó cho mình phục vụ và săn sóc về mặt thiêng liêng.
Sự thành công của sứ mệnh rao giảng Tin Mừng không căn cứ ở những giáo đường, nhà xứ , Tòa Giám mục được xây cất sang trọng , lộng lẫy để khoe khoang với du khách mà cốt yếu ở chỗ xây dựng được đức tin và lòng yêu mến Chúa vững chắc trong tâm hồn của mọi giáo dân để giúp họ sống đạo có chiều xâu thực sự, chứ không phô trương bề ngoài với số con số đông tân tòng được rửa tội, đi lễ, đi rước ầm ỹ ngoài đường phố trong khi rất nhiều người vẫn sống thiếu bác ái và công bình với nhau và với người khác.
Mặt khác, người tông đồ lớn nhỏ - nam cũng như nữ- mà ham mê tiền của để đôn đáo chạy đi khắp đó đây, đi ra nước ngoài nhiều hơn là đi thăm con chiên bổn đạo chỉ vì mục đích kiếm tiền cho những nhu cầu bất tận, thì sẽ không bao giờ có thể sống và thực hành tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô, Đấng đã sống lang thang như người vô gia cư đến nỗi có thể nói được về mình là " con trồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." ( Mt 8: 20)
Thử hỏi Chúa có đóng kich " khó nghèo" từ khi sinh ra trong hang bò lừa cho đến khi chết trần trụi trên thập giá hay không ? Ai dám nói là có ? Nếu vậy, thì Chúa quả thực đã sống khó nghèo trong suốt cuộc đời tại thế để nêu gương nghèo khó trong tâm hồn và trong cuộc sống cho mọi người chúng ta. Nghĩa là các tông đồ của Chúa nói riêng và toàn thể dân Chúa nói chung phải thi hành lời Chúa để đi tìm và " tích trữ cho mình những kho tàng ở trên trời nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được." ( Mt 6: 20)
Nếu chỉ chú trọng đi tìm tiền của và xây dựng nhà cửa cho sang trọng và không xa tránh những cám dỗ về tiền bạc và quan tâm đúng mức đến người nghèo khổ , thì chắc chắn sẽ không thể rao giảng Tin Mừng cách hữu hiệu được.Và cũng không thể làm nhân chứng cho Chúa Kitô về tinh thần nghèo khó của Phúc Âm mà Chúa đã nêu gương sáng từ khi Người sinh ra cho đến khi chết đi hoàn toàn trong khó nghèo và đau khổ để cho chúng ta được cứu rỗi và trở nên phú quí sang giầu trên Nước Trời mai sau.
Nói rõ hơn, giảng tinh thần khó nghèo của Chúa cho người khác, mà chính mình lại sống phản chứng bằng cách chạy theo tiền của, dùng những phương tiện di chuyển sang trọng như đi các xe đắt tiền loại Lexus, BMW, Mercedes... đeo đồng hồ longines, Omega ...làm thân với người giầu, không nhận dâng lễ cho người nghèo có ít tiền xin lễ, mà chỉ nhận lễ có bổng lễ ( stipends) cao.. thì chắc chắn sẽ không thuyết phục được ai tin và sống điều mình rao giảng cho họ, chỉ vì chính mình không sống điều mình rao giảng. Dĩ nhiên đây không phải là cách sống của tất cả mọi linh mục, giám mục nhưng dù chỉ có một thiểu số nhỏ cũng đủ gây tai tiếng cho tập thể nói chung vì " con sâu làm rầu nồi canh" như tục ngữ Việt Nam đã nói.
Tóm lại, Giáo Hội của Chúa phải thực sự nghèo khó theo gương Đấng sáng lập là Chúa Giê su-Kitô, Người đã thực sự sống và chết cách nghèo khó để dạy mọi người chúng ta coi khinh , coi thường sự sang giầu chóng qua ở đời này để đi tìm sự giầu sang đích thực là chính Thiên Chúa là cội nguồn của mọi vinh phúc giầu sang vĩnh cửu mà tiền bạc, của cải ở đời này không thể mua hay đổi chác được.
Chỉ có nghèo khó thực sự trong tâm hồn, thì Giáo Hội mới có thể để lách mình ra khỏi mãnh lực của đồng tiền, và của cải vật chất, để chú tâm vào việc thi hành sứ mệnh của mình là rao giảng Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô và chân lý của sự giầu sang đích thực là chính Thiên Chúa , Đấng đã chuẩn bị sẵn cho chúng ta hạnh phúc mà " mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe , lòng người chẳng hề nghĩ tới, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người. ( 1 Cr 2 : 9
Nghĩa là phải yêu mến Chúa hơn yêu mến tiền của và mọi sự sang trọng phú quí của trần này , thì mới có thể rao giảng Tin Mừng Cứu Độ cách hữu hiệu cho người khác.Nước Thiên Chúa mà Giáo Hội có sứ mệnh mở mang trên trần thế này không phục vụ cho nhu cầu tìm kiếm tiền bạc , danh vọng và của cải vật chất hư hèn mà cho mục đích kiếm tìm hạnh phúc và bình an vinh cửu trên Nước Trời. Và đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với anh thanh niên giầu có kia là " hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo , anh sẽ được một kho tàng trên trời , rồi hãy đến mà theo tôi." ( Mc 10: 21)
Lời Chúa trên đây phải là đèn soi cho mọi người tín hữu trong Giáo Hội bước đi qua bóng tối của tiền bạc và của cải vật chất, là những quyến rũ đã và đang mê hoặc con người ở khắp nơi, khiến họ say mê đi tìm kiếm và tôn thờ thay vì tìm kiếm và tôn thờ một mình Thiên Chúa là cội nguồn của mọi phú quý giầu sang đích thực mà thôi. Chúa nói: " ai có tai nghe thì nghe" ( Mt 13:43; Mc 4: 23; Lc 8:8)
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 112 = NGUA TRONG KINH THANH PDF Print E-mail

Ngựa trong Kinh Thánh
Wed, 08/01/2014 - 16:25
Tác giả:
Trầm Thiên Thu

Ngựa trong Kinh Thánh

Con Rắn vô cùng nham hiểm, nhưng nó không làm được gì con cái của Thiên Chúa. Nó đã từng cám dỗ Bà Eva bất tuân lệnh Chúa mà ăn trái cấm (St 3:4) và còn rình cắn gót chân người đàn bà vì Thiên Chúa đặt mối thù giữ nó và người đàn bà này (St 3:15). Nhưng rồi nó chẳng làm được trò trống gì ráo trọi!

Năm Quý Tỵ đã qua, tức là con Rắn đã phải trườn bò đi nhanh vì không làm được gì. NămGiáp Ngọ đến, tức là con Ngựa đang phi nước kiệu tới, càng lúc càng gần...

Ca dao, tục ngữ và thành ngữ nói nhiều về Ngựa. Người ta dùng Ngựa để ví von nhiều thứ. Về sự thẳng thắn: "Thẳng như ruột Ngựa"; về tình đoàn kết: "Một con Ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ"; về sự nhanh nhẹn: "Nhanh như Ngựa vía"; về sự bất lương: "Đầu Trâu, mặt Ngựa"; về sự phú quý: "Lên Voi, xuống Ngựa"; về sự không trung thành: "Thay Ngựa, đổi chủ"; về sự tham lam: "Được đầu Voi, đòi đầu Ngựa"; về sự may rủi: "Tái ông mất Ngựa"; về sự bền chí: "Muốn đi xa phải giữ sức Ngựa" (ngạn ngữ Pháp); về sự lãnh đạo: "Cầm cương, nảy mực"; về sự cẩn trọng: "Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy" (một lời nói ra, bốn Ngựa đuổi không kịp)...

Người ta cũng "rút" được kinh nghiệm này: "Ở đời có ba cái dại: Một là đứng trước con ngựa, hai là đứng sau con bò, ba là đứng bên cạnh đàn bà". Có thật vậy không? Phàm điều gì cũng vậy, có phần đúng và phần không đúng, tùy trường hợp.

Còn Kinh thánh nói gì về con Ngựa? Ngựa tốt hay xấu? Kinh thánh có nhiều chuyện về Ngựa, nhiều lần đề cập con Ngựa, chỉ riêng Chúa Giêsu lại không hề nhắc tới con Ngựa lần nào.

Sách Sáng Thế nói: "Người ta đưa các đàn vật của họ đến cho ông Giuse, và ông đã cho họ bánh, đổi lấy ngựa, lấy đàn chiên dê, đàn bò và lấy lừa. Năm đó, ông cung cấp bánh cho họ, đổi lấy tất cả những đàn vật của họ" (St 47:17).

Sách Xuất Hành cho biết: "Nếu ngươi không chịu thả cho chúng đi, mà cứ cầm giữ lại, thì này tay của Đức Chúa sẽ giáng ôn dịch rất nặng xuống trên súc vật của ngươi ở ngoài đồng, trên ngựa, lừa, lạc đà, bò bê và chiên cừu" (Xh 9:2-3).

Sách Đệ Nhị Luật kể lại: "Người cho nó phóng ngựa trên các vùng đất cao trong xứ, nó được ăn hoa màu đồng ruộng; Người cho nó nếm mật ong chảy ra từ hốc đá, nếm dầu từ tảng đá hoa cương" (Đnl 32:13).

Sách Giô-suê tường thuật: "Chúng ra đi, chúng và tất cả các binh sĩ của chúng, một đám dân đông đảo, nhiều như cát ngoài bãi biển, cùng với vô số ngựa xe" (Gs 11:4).

Về chiến thắng ở Mê-rôm, chính Thiên Chúa đã phán với ông Giô-suê: "Đừng sợ chúng, vì ngày mai cũng vào giờ này, Ta sẽ nộp thây của tất cả bọn chúng cho Ít-ra-en; ngươi sẽ chặt nhượng chân ngựa và phóng hoả đốt chiến xa của chúng" (Gs 11:6). Và Kinh thánh cho biết: "Ông Giô-suê xử với quân thù như Đức Chúa đã phán với ông: Ông đã chặt nhượng chân ngựa và phóng hoả đốt chiến xa" (Gs 11:9).

Sách Thủ Lãnh nói: "Vó ngựa vang rền trên mặt đất, đoàn thiên lý mã phi nhanh, phi thật nhanh" (Tl 5:22).

Khi dân xin một ông vua, Sa-mu-en nói: "Đây là quyền hành của nhà vua sẽ cai trị anh em. Các con trai anh em, ông sẽ bắt mà cắt đặt vào việc trông coi xe và ngựa của ông, và chúng sẽ chạy đàng trước xe của ông" (1 Sm 8:11).

Sách Sa-mu-en cho biết: "Vua Đa-vít bắt được của vua ấy một ngàn bảy trăm kỵ binh và hai mươi ngàn bộ binh; và vua Đa-vít đã cắt gân chân tất cả những con ngựa kéo xe, chỉ chừa lại một trăm" (2 Sm 8:4).

Sách Sa-mu-en tường thuật: "Áp-sa-lôm đóng cho mình một cỗ xe, với những con ngựa và năm mươi người hộ tống" (2 Sm 15:1). Áp-sa-lôm đã thưa với vua: "Xin cho phép con đi Khép-rôn để con giữ trọn lời đã khấn hứa với Đức Chúa, vì khi còn ở Gơ-sua miền A-ram, tôi tớ ngài đã có lời khấn hứa rằng: Nếu quả thực Đức Chúa cho con trở về Giêrusalem, thì con sẽ thờ phượng Đức Chúa" (2 Sm 15:7-8). Vua chúc y đi bình an. Y lên đường đi Khép-rôn nhưng đã tạo phản và lên ngôi tại Khép-rôn (2 Sm 15:10).

Hoàng tử A-đô-ni-gia, con của bà Khác-ghít, tự xưng vương mà rằng: "Ta sẽ làm vua!". Chàng sắm xe, ngựa, và kiếm được năm mươi người chạy đàng trước mình (1 V 1:5).

Sách các Vua cho biết: "Vua Sa-lô-môn có bốn ngàn ngăn chuồng cho ngựa kéo và mười hai ngàn con ngựa cưỡi" (1 V 5:6). Hoặc nhắc tới Ngựa theo cách khác: "Tất cả các thành làm kho dự trữ mà vua Sa-lô-môn sẵn có, các thành giữ xe trận, các thành nuôi ngựa và tất cả những gì vua Sa-lô-môn muốn xây cất ở Giêrusalem, ở Li-băng và trong toàn lãnh thổ thuộc quyền vua" (1 V 9:19).

Nói về xa mã của Vua Sa-lô-môn, sách các Vua cho biết: "Mỗi vị đều mang lễ vật: đồ bạc, đồ vàng, y phục, vũ khí, hương liệu, ngựa và lừa. Cứ thế từ năm này qua năm khác.26 Vua Sa-lô-môn tập trung xe và ngựa, xe có một ngàn bốn trăm cỗ, và ngựa có mười hai ngàn con. Vua để chúng ở các thành có xe, bên cạnh vua tại Giêrusalem" (1 V 10:25-26).

Và cũng nói tới giá mua Ngựa: "Ngựa của vua Sa-lô-môn được nhập từ Ai-cập và Cơ-vê. Các thương gia của vua đến tận Cơ-vê mua ngựa theo đúng giá. Một chiếc xe bán ra từ Ai-cập là sáu trăm se-ken bạc, và một con ngựa là một trăm năm mươi. Đối với tất cả các vua Khết và các vua A-ram, nhờ các thương gia làm trung gian mua vào, thì cũng thế" (1 V 10:28-29).

Sách Công Vụ cho biết: "Phải có sẵn ngựa cho ông Phaolô, để đưa ông ấy an toàn đến với tổng trấn Phê-lích" (Cv 23:24). Còn Thánh Gia-cô-bê dùng hình ảnh con Ngựa để nói về con người: "Nếu ta tra hàm thiếc vào miệng ngựa để bắt chúng vâng lời, thì ta điều khiển được toàn thân chúng. Nói về ngựa để nói về con người: "Anh em cũng hãy nhìn xem tàu bè: dù nó có to lớn, và có bị cuồng phong đẩy mạnh thế nào đi nữa, thì cũng chỉ cần một bánh lái rất nhỏ để điều khiển theo ý của người lái.5 Cái lưỡi cũng vậy: nó là một bộ phận nhỏ bé của thân thể, mà lại huênh hoang làm được những chuyện to lớn. Cứ xem tia lửa nhỏ bé dường nào, mà làm bốc cháy đám rừng to lớn biết bao!" (Gc 3:3-5).

Sách Khải Huyền nhắc tới Ngựa nhiều nhất trong các sách trọn bộ Kinh thánh:

1. "Tôi thấy một con ngựa trắng, và người cỡi ngựa mang cung. Người ấy được tặng một triều thiên và ra đi như người thắng trận, để chiến thắng" (Kh 6:2).

2. "Một con ngựa khác đi ra, đỏ như lửa, người cỡi ngựa nhận được quyền cất hoà bình khỏi mặt đất, để cho người ta giết nhau; người ấy được ban một thanh gươm lớn. Khi Con Chiên mở ấn thứ ba, thì tôi nghe Con Vật thứ ba hô: 'Hãy đến!'. Tôi thấy: kìa một con ngựa ô, và người cỡi ngựa cầm cân trong tay" (Kh 6:4-5).

3. "Tôi thấy một con ngựa xanh nhạt, và người cỡi ngựa mang tên là Tử thần, có Âm phủ theo sau" (Kh 6:8).

4. "Hình dạng châu chấu giống như ngựa sẵn sàng vào trận; trên đầu chúng có cái gì như thể triều thiên bằng vàng, còn mặt chúng thì như mặt người" (Kh 9:7).

5. "Ngực chúng khác nào áo giáp sắt, và tiếng cánh chúng đập, như tiếng xe nhiều ngựa kéo đang xông vào trận" (Kh 9:9).

6. "Trong thị kiến, tôi thấy ngựa và người cỡi ngựa như thế này: chúng mặc áo giáp màu lửa, màu huỳnh ngọc và diêm sinh; đầu ngựa như đầu sư tử, và mõm chúng phun ra lửa, khói và diêm sinh. Một phần ba loài người bị ba tai ương ấy giết, tức là lửa, khói và diêm sinh từ mõm ngựa phun ra. Quả thế, quyền phép của ngựa thì ở mõm và ở đuôi chúng, vì đuôi chúng như rắn, có đầu, và chúng dùng đầu ấy mà làm hại" (Kh 9:17-19).

7. "Người ta đạp nho trong bồn đặt ở ngoài thành, máu tự bồn trào ra ngập đến hàm thiếc ngựa và lan đến một ngàn sáu trăm dặm" (Kh 14:20).

8. "Hàng hoá đó là: vàng, bạc, đá quý, ngọc trai; vải gai mịn, vải đỏ tía, tơ lụa, vải đỏ thẫm; gỗ trầm, đồ bằng ngà, đồ bằng gỗ quý, bằng đồng, bằng sắt, bằng cẩm thạch; quế, sa nhân, hương thơm, mộc dược, nhũ hương; rượu, dầu, tinh bột, lúa mì, súc vật, chiên cừu, ngựa, xe, thân xác, và cả linh hồn người ta nữa" (Kh 18:12-13).

9. "Tôi thấy trời rộng mở: kìa một con ngựa trắng, và người cỡi ngựa mang tên là Trung thành và Chân thật, Người theo công lý mà xét xử và giao chiến" (Kh 19:11).

10. "Các đạo quân thiên quốc đi theo Người, họ cỡi ngựa trắng, mặc áo vải gai mịn trắng tinh" (Kh 19:14).

11. "Tôi lại thấy Con Thú và vua chúa trên mặt đất, cùng với các đạo quân của chúng, tụ tập lại để giao chiến với Đấng cỡi ngựa và đạo quân của Người" (Kh 19:19).

12. "Những người còn lại bị thanh gươm phóng ra từ miệng Đấng cỡi ngựa giết chết, và mọi loài chim được ăn no thịt của chúng" (Kh 19:21).

Nói về Ngựa trong Kinh thánh, có lẽ đặc biệt nhất là "cú ngã ngựa chí mạng và nhớ đời" của Thánh Phaolô, nhờ cú ngã ngựa đó mà ông "nên người". Khi ông hăng hái và hung hãn phi ngựa đi khắp nơi lùng bắt những người "cả gan" dám tin theo Chúa Giêsu, ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: "Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?" (Cv 9:4).

Thánh Phaolô kể lại: "Tất cả chúng tôi đều ngã nhào xuống đất, và tôi nghe có tiếng nói với tôi bằng tiếng Híp-ri: "Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta? Đá lại mũi nhọn thì khốn cho ngươi!" (Cv 26:14).

Thật may phước cho ông, vì ông được Thiên Chúa bảo vào thành và được ông Kha-na-ni-a đặt tay và nói: "Anh Sa-un, Chúa đã sai tôi đến đây, Người là Đức Giêsu, Đấng đã hiện ra với anh trên đường anh tới đây. Người sai tôi đến để anh lại thấy được và để anh được đầy Thánh Thần" (Cv 9:17).

Từ đó, một Sao-lê bạo ngược đã biến thành một Phaolô nhân chứng nhiệt thành của Đức Kitô. Và mỗi khi có thể, Thánh Phaolô vẫn vui vẻ hay nhắc lại "kỷ niệm" cũ: "Tôi ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với tôi: Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?" (Cv 22:1).

Lạy Thiên Chúa, xin biến đổi chúng con thành những "ngựa chiến" của Ngài, để chúng con luôn phi nước đại khi làm chứng về Ngài trên đường lữ hành trần gian, và cuối cùng sẽ phi thẳng về gặp Ngài nơi Thiên Quốc. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Xuân Giáp Ngọ – 2014

 
HOC HOI DE SONG DAO # 111 = NHUNG TIENG KEU LA PDF Print E-mail

Niem Vui Phuc Am - Nhung Tieng Keu La
tinh cao
Jan 24 at 10:19 AM

Tông Huấn

NIỀM VUI PHÚC ÂM - GAUDIUM EVANGELII

của Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành ngày 24/11/2013

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, phân tích, tuyển hợp và chuyển dịch

http://www.vatican.va/holy_father/francesco/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium_en.html.

Phụ Đề

Chia Sẻ Kiểm Nghiệm 2 - Những Tiếng Kêu La

"Quý vị hiện thực hóa nhiệm vụ nghe thấy tiếng kêu la của người nghèo khổ đó là tỏ ra sâu xa cảm kích trước khổ đau của người khác".

Gợi ý đầu:

1- Về ý nghĩa của câu đề tài
- Câu này nghe có vẻ như bình thường và đơn giản, chẳng có gì là đặc biệt, sâu xa và quan trọng cho lắm, thế mà lại liên quan đến phần rỗ đời đời của Kitô hữu chúng ta đó.
- Câu này có 2 phần rõ ràng: phần đầu là thái độ "nghe thấy tiếng kêu la của người nghèo khổ", và phần sau là phản ứng "sâu xa cảm kích trước khổ đau của người khác".
- "Tiếng kêu la của người nghèo khổ" có thể là hình ảnh trên TV về cảnh những trẻ em Phi Châu được trông thấy toàn thân chỉ là một bộ xương, hay là một mẫu tin tức về những người homeless bị chết lạnh, hoặc một lời nhắc khéo của ai đó về người nghèo khi thấy chúng ta tiêu xài có vẻ xa xỉ hoang phí v.v. Chúng ta có "nghe thấy" hay chăng? Nếu có thì phải tiến đến chỗ:
- "Sâu xa cảm kích trước khổ đau của người khác", bằng không, cho dù chúng ta có "nghe thấy" mà như không nghe, mà chỉ "nghe thấy" cái nhu cầu cá nhân của mình, chỉ "nghe theo" cái đòi hỏi thái quá và vị kỷ của mình, như trường hợp của người phú hộ trong Phúc Âm Thánh Luca 16:19-31).

2- Về tác hiệu của câu đề tài
- Bài Phúc Âm về Lazarô và người phú hộ cho thấy người phú hộ quả thực có "nghe thấy tiếng kêu la" của Lazarô, cho dù Phúc Âm không thuật lại một lời nào của Lazarô gì cả, nhưng sự kiện hiện diện của Lazarô "ở trước cổng" của nhà người phú hộ cũng đủ là một tiếng "kêu la" vang lừng rồi vậy, nếu người phú hộ có lòng thương yêu thật sự.
- Thế nhưng người phú hộ, "ăn mặc lụa là" và "yến tiệc linh đình" ấy vẫn không "sâu xa cảm kích trước khổ đau của người khác" là Lazarô, ở chỗ, cho dù Lazarô bần cùng đến độ thèm thuồng những mảnh vụn rơi xuống từ bàn tiệc của người phú hộ mà chẳng ai cho, trái lại, ông còn bị chó đến liếm ghẻ chốc ở trên thân thể của ông, thế mà người phú hộ vẫn IGNORE Lazarô, vẫn không thèm lưu ý tới, vẫn lạnh lùng dửng dưng "bay chết mặc bay".
- Bởi thế, mặc dù người phú hộ may mắn được giầu sang phú quí hơn Lazarô ấy chẳng hề chửi rủa và hất hủi đuổi Lazarô đi cho khuất mắt mình, thế mà, sau khi chết, người phú hộ này cũng bị hư đi đời đời, phải ở một nơi "không thể từ đây (nơi Lazarô đang hưởng phúc trong lòng Abraham) qua đó (nơi người phú hộ đang chịu cực hình) hay từ đó qua đây" được nữa.
- Quả đúng như tiêu chuẩn chung thẩm của Chúa Giêsu về cả chiên lẫn dê, như Phúc Âm Thánh Mathêu thuật lại ở đoạn 25, ở chỗ, những ai tỏ ra cố tình KHÔNG (= IGNORE / NEGLECT) với những người anh chị em hèn mọn của mình sẽ vĩnh viễn hư đi: KHÔNG cho ăn, KHÔNG cho uống, KHÔNG tiếp rước, KHÔNG cho mặc, KHÔNG an ủi, KHÔNG thăm viếng, chưa cần phạm những tội ác như phá thai, hiếp dâm, khủng bố, cướp phá v.v.
- Đó là lý do ngay từ đầu của mục chia sẻ mới có nhận định là câu "Chúng ta hiện thực hóa nhiệm vụ nghe thấy tiếng kêu la của người nghèo khổ đó là khi chúng ta tỏ ra sâu xa cảm kích trước khổ đau của người khác" liên quan đến phần rỗi đời đời của chúng ta vậy.

Chia Sẻ Chung:

1- Về những người anh chị em homeless:
Cho dù có những người sử dụng tiền bạc chúng ta cho họ để uống rượu hay hút thuốc, nhưng một số người vẫn cứ cho họ chỉ vì lương tâm của mình hơn là căn cứ vào một số người như vậy. Bởi vì đa số anh chị em nghèo khổ homeless này cũng chỉ vì bất đắc dĩ (hoặc vì một lý do đặc biệt nào đó mà mình không biết, chẳng hạn một trường hợp cụ thể Chi Hồng kể lại về người chị biết), và coi thường phẩm giá làm người của mình để mà đi ăn xin hay sống một cuộc đời bần cùng khốn khổ như vậy mà thôi. Biết đâu vì một cử chỉ được giúp đáp của chúng ta vì lòng bác ái mà vào một lần nào đó mà họ nhận biết Chúa trước khi họ qua đời hay sao v.v.

2- Về những gì để cho:
Không nên cho tiền mà là cho thực phẩm. Nhưng khi cho thực phẩm thì đừng cho họ những gì mình thích hay hợp với mình mà lại không hợp hay chưa chắc đã hợp với người và chưa chắc họ thích dù họ cần. Có trường hợp cho họ ăn cơm kiểu Việt Nam nhưng đã hoàn toàn thất bại. Cũng nên phòng hờ những nhu cầu bất thường không ngờ khác. Chẳng hạn trong chuyến tặng quà Giáng Sinh ở Downtown Los Angeles trước Giáng sinh 2013 vừa rồi của Nhóm TĐCTT, có một người nữ Việt Nam còn trẻ đến chẳng những nhận phần quà thực phẩm mà còn xin thêm cả băng vệ sinh đàn bà nữa...

3- Về việc phục vụ anh chị em nghèo khổ homeless:
Ở West Covina California, Nhà Thờ Saint Christopher, nơi có cộng đoàn Công Giáo Việt Nam Thánh Giuse, theo truyền thống từ mấy năm nay, hằng năm cứ vào dịp Thanksgiving, anh chị em homeless sẽ được ăn ở trong khu vực nhà xứ 3 tuần lễ liền cho tới cuối tháng 11, chưa kẻ được tắm rửa và được có xe chở đi chơi đây đó. Anh chị em trong cộng đoàn Việt Nam này cũng hợp tác với nhà xứ để phục vụ anh chị em homeless này tùy theo khả năng và hoàn cảnh của mình. Cũng tại khu vực gần nhà xứ này, ở ngay bên cạnh, cách 1 con đường, trong khu tiệm dịch vụ, có một bụi cây có một số anh chị em homeless chui rúc sống ở đó!

4- Về một số trường hợp homeless thiêng liêng:
Có hai trường hợp về hai tâm hồn (một Mễ một Việt) đã từng sống đời tội lỗi nay đang tìm về với Chúa qua việc tỏ lòng kính mến Đức Mẹ và đọc Sách Thánh (Mễ) hay thường xuyên tham dự Thánh Lễ mà chưa được Rước Lễ (Việt). Đây là những tâm hồn mà Chúa gần gũi nhất, gần gũi nhất không phải như những Kitô hữu có Ơn Thánh Sủng, mà vì được Chúa quan tâm đến hơn cả thành phần công chính tốt lành. Không phải Chúa hằng đi tìm kiếm từng con chiên lạc như họ, tức đến gần với họ, hơn là với những người thuộc về 99 con chiên không cần đi tìm hay sao?

5- Về vấn đề áp dụng thực hành về đề tài chia sẻ:
Điểm thứ nhất, chúng ta phải tạ ơn Chúa về tất cả những gì Ngài đã ban cho chúng ta cả hồn lẫn xác may lành hơn nhiều người. Điểm thứ hai, thế nhưng, theo ý định tối hậu và phổ quát của mình thì Thiên Chúa ban cho con người ân phúc là để chia sẻ và phục vụ ích chung chứ không phải để cho riêng một mình ai. Điểm thứ ba, bởi thế, chúng ta phải làm sao để vừa hưởng dùng tất cả những gì chúng ta có (tức được ban cho) theo đúng như ý Chúa, ở chỗ phải làm sao để "chúng ta hiện thực hóa nhiệm vụ nghe thấy tiếng kêu la của người nghèo khổ đó là khi chúng ta tỏ ra sâu xa cảm kích trước khổ đau của người khác".

(xin xem tiếp)

Chia Sẻ Kiểm Nghiệm 3: U Mê Ngu Ngốc

 
HOC HOI DE SONG DAO # 110 = LOAN TRUYEN PHUC AM PDF Print E-mail

Jan 21 at 2:47 PM

Tông Huấn

NIỀM VUI PHÚC ÂM - GAUDIUM EVANGELII

của

Đức Thánh Cha Phanxicô

ban hành ngày 24/11/2013

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

phân tích, tuyển hợp và chuyển dịch

http://www.vatican.va/holy_father/francesco/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium_en.html.

Phần Hai

Đường lối mới loan truyền Niềm Vui Phúc Âm
(tiếp 9)

3- Niềm Vui Phúc Âm - Những cách thức để truyền đạt

(Chương Ba: Việc loan truyền Phúc Âm; Mục I - Toàn thể dân Chúa loan báo Phúc Âm; Mục II - Bài Giảng, từ khoản 137)

115- ... Con người bao giờ cũng được định vị ở một nền văn hóa nào đó: "bản tính và văn hóa là những gì thân mật liên hệ" (Cf. Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution on the Church in the Modern World Gaudium et Spes, 36). Ân sủng là những gì giả định văn hóa, và tặng ân của Thiên Chúa hóa thành nhục thể nơi văn hóa của những ai lãnh nhận ân sủng.

116- Kitô giáo không chỉ thuần thể hiện một văn hóa nào, trái lại, "vẫn hoàn toàn trung thực với mình, kiên định trung thành với việc loan báo Phúc Âm và truyền thống của Giáo Hội, Kitô giáo cũng sẽ phản ảnh các khuôn mặt khác nhau về văn hóa và về con người mà nó được đón nhận và đâm rễ" [John Paul II, Apostolic Letter Novo Millennio Ineunte (6 January 2001), 40: AAS 93 (2001), 295.]... Nhờ việc hội nhập văn hóa, Giáo Hội "dẫn con người, cùng với văn hóa của họ, vào cộng đồng của mình" [John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 52: AAS 83 (1991), 300; cf. Apostolic Exhortation Catechesi Tradendae (16 October 1979) 53: AAS 71 (1979), 1321], vì "hết mọi nền văn hóa đều cống hiến những thứ giá trị và hình thức tích cực có thể làm phong phú đường lối rao giảng, hiểu biết và sống Phúc Âm" [John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Ecclesia in Oceania (22 November 2001), 16: AAS 94 (2002), 383].

117- ... Chúng ta sẽ không trung thực với lý lẽ của vấn đề nhập thể nếu chúng ta nghĩ về Kitô giáo như là những gì độc canh (monocultural) và độc điệu (monotonous). Thật sự là có một số nền văn hóa đã từng liên hệ chặt chẽ với việc rao giảng Phúc Âm và việc phát triển tư tưởng Kitô giáo, tuy nhiên sứ điệp mạc khải không được đồng hóa với bất cứ nền văn hóa nào như thế; nội dung của sứ diệp mạc khải là những gì xuyên văn hóa (transcultural). Bởi thế, trong việc truyền bá phúc âm hóa cho các nền văn hóa mới, hay các nền văn hóa chưa được lãnh nhận sứ điệp Kitô giáo, thì vấn đề thiết yếu là không áp đặt, cùng với Phúc Âm, một hình thức văn hóa riêng biệt nào, cho dù nền văn hóa ấy có đẹp đẽ hay cổ kính đến đâu chăng nữa. Sứ điệp chúng ta loan truyền bao giờ cũng mặc một thứ văn hóa nào đó, thế nhưng trong Giáo Hội đôi khi chúng ta lại rơi vào một thứ thần thánh hóa vô bổ nền văn hóa của chúng ta, và vì thế để lộ ra tính chất cuồng tín hơn là nhiệt tình thực sự truyền bá phúc âm hóa.

128- Trong việc rao giảng này, một việc rao giảng luôn tỏ ra trân trọng và dịu dàng, bước đầu tiên đó là việc đối thoại riêng tư, khi người khác nói và chia sẻ niềm vui, hy vọng và quan tâm của họ đối với những ai thân yêu hay đối với nhiều nhu cầu chân thành khác của họ. Chỉ sau đó mới có thể đề cập đến lời Chúa, có thể bằng việc đọc một câu Thánh Kinh hay kể một câu truyện, nhưng bao giờ cũng nhớ rằng sứ điệp cốt yếu đó là tình yêu bản vị của Thiên Chúa là Đấng đã hóa thân làm người, đã hiến mình cho chúng ta, đang sống và cống hiến cho chúng ta ơn cứu độ của Người và tình hữu nghị của Người. Sứ điệp này cần phải được chia sẻ một cách khiêm tốn như là một chứng từ nơi ai lúc nào cũng muốn học hỏi, ý thức rằng sứ điệp này quá phong phú và quá sâu xa đến độ nó bao giờ cũng vượt quá khả năng nắm bắt của chúng ta. Có lúc sứ điệp này có thể được trình bày một cách trực tiếp, có lúc bằng chứng từ hay cử chỉ riêng tư, hoặc bằng một cách nào đó được Thánh Linh gợi lên tùy từng hoàn cảnh. Tùy khôn ngoan và hoàn cảnh thích hợp, cuộc gặp gỡ huynh đệ và truyền giáo này có thể kết thúc bằng một lời nguyện ngắn liên hệ tới những quan tâm được người ấy đã bày tỏ. Nhờ đó họ cảm thấy mình được lắng nghe và cảm thông; họ sẽ thấy rằng trường hợp đặc biệt của họ đã được trình bày cùng Thiên Chúa và lời Chúa thực sự nói với cuộc đời của họ.

129- Tuy nhiên, chúng ta không được nghĩ rằng sứ điệp Phúc Âm bao giờ cũng cần phải được truyền đạt bằng những công thức ấn định không thay đổi thuộc lòng hay bằng những ngôn từ đặc biệt diễn tả một nội dung tuyệt đối bất khả đổi thay. Việc truyền đạt này diễn ra bằng rất nhiều cách thức khác nhau đến độ không thể diễn tả hay liệt kê hết tất cả được, và dân Chúa, với tất cả bao nhiêu là cử chỉ và dấu hiệu của mình, là chủ thể tổng hợp của nó. Nếu Phúc Âm được gắn vào một nền văn hóa nào đó thì sứ điệp này không còn được truyền đạt hoàn toàn từ người sang người nữa. Ở những xứ sở Kitô giáo chỉ là thiểu số thì, kèm theo việc phấn khích mỗi một người lãnh nhận phép rửa loan truyền Phúc Âm, các Giáo Hội riêng cần phải chủ động đề cao ít là những hình thức sơ khởi của việc hội nhập văn hóa. Mục đích tối hậu là ở chỗ Phúc Âm, khi được rao giảng theo những cung cách hợp với từng văn hóa, sẽ tạo nên một tổng hợp mới nơi nền văn hóa riêng biệt ấy. Điều này bao giờ cũng là một tiến trình chầm chậm và chúng ta có thể cảm thấy lo sợ thái quá về nó. Tuy nhiên, nếu chúng ta để cho những mối ngờ vực và sợ hãi làm nản chí can trường của chúng ta, thay vì trở nên sáng tạo, chúng ta sẽ bám víu lấy những gì là thoải mái và không đạt được bất cứ một tiến bộ nào. Trong trường hợp ấy, chúng ta sẽ không lãnh phần chủ động trong các tiến trình lịch sử mà trở thành những kẻ chỉ biết quan sát khi thấy Giáo Hội dần dần bị trì trệ.

137- ... Bài giảng có một tầm vóc quan trọng đặc biệt vì bối cảnh thánh thể của nó: nó vượt trên tất cả mọi hình thức về giáo lý như là một giây phút cao điểm trong cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài, một cuộc đối thoại dẫn đến việc hiệp thông bí tích...

138- Bài giảng không thể trở thành một hình thức giúp vui như những thứ giúp vui được truyền thông trình diễn, mà cần phải cống hiến sự sống và ý nghĩa cho việc cử hành. Nó là một thể loại chuyên biệt, vì việc giảng dạy được đặt vào trong cơ cấu của việc cử hành phụng vụ; bởi thế nó cần phải vắn gọn và tránh cái hình thức giống như một bài diễn văn hay một bài thuyết trình. Một nhà giảng thuyết có thể kéo chú ý của thành phần thính giả nghe mình nói cả một tiếng đồng hồ, thế nhưng, trong trường hợp này thì ngôn từ của họ trở thành quan trọng hơn là việc cử hành đức tin. Nếu bài giảng quá dài, nó sẽ gây ảnh hưởng đến hai yếu tố đặc biệt của việc cử hành phụng vụ đó là yếu tố quân bình của nó và nhịp độ của nó. Khi việc giảng dạy diễn ra trong bối cảnh phụng vụ thì nó là một phần của việc hiến dâng lên Cha và là một thứ dàn xếp của thứ ân sủng được Chúa Kitô tuôn đổ xuống trong việc cử hành này. Môi trường phụng vụ ấy cần đến việc giảng dạy phải làm sao hướng dẫn cộng đồng cùng với vị giảng thuyết đến một mối hiệp thông đổi đời với Chúa Kitô trong Thánh Thể. Điều ấy có nghĩa là những ngôn từ của vị giảng thuyết cần phải được thận trọng, để làm sao Chúa, hơn là thừa tác viên của Người, trở thành tâm điểm của sự lưu tâm chú ý.

140- Môi trường quen biết này, vừa có tính chất mẫu thân vừa có tính chất giáo hội, trong đó cuộc đối thoại giữa Chúa và dân Ngài diễn ra, cần phải được phấn khích bởi việc gần gũi của vị giảng thuyết, bởi cái nồng nàn nơi cung giọng của họ, bởi sự chân tình nơi cung cách nói năng của họ, bởi niềm vui nơi các cử chỉ của họ. Cho dù có những lúc bài giảng trở nên buồn tẻ làm sao ấy, nếu tinh thần mẫu thân và giáo hội này có đó, nó sẽ luôn luôn sinh hoa kết trái, giống như lời khuyên nhủ buồn tẻ của một người mẹ sinh hoa kết trái khi tới lúc của nó trong lòng của con cái vậy.

142- ... Trong bài giảng, sự thật đi liền với sự mỹ và sự thiện. Bài giảng chẳng những liên quan tới các sự thật trừu tượng hay những suy diễn lạnh lùng, mà còn truyền đạt sự mỹ của các thứ hình ảnh được Chúa dùng để phấn khích việc thực hành sự thiện. Ký ức của tín hữu, như ký ức của Mẹ Maria, cần phải tràn trề những điều lạ lùng do Chúa thực hiện. Tâm can của họ, gia tăng nơi niềm hy vọng từ việc hân hoan và cụ thể thực hành tình yêu họ đã lãnh nhận, sẽ cảm thấy rằng mỗi một lời Thánh Kinh là tặng ân trước khi nó trở thành một đòi hỏi.

157- ... Một trong những điều quan trọng nhất đó là biết làm sao sử dụng các hình ảnh trong khi giảng dạy, làm sao gợi óc tượng tượng. Đôi khi sử dụng những thí dụ để làm sáng tỏ một điểm nào đó, thế nhưng các thí dụ này thường chỉ thu hút trí khôn; trái lại, hình ảnh giúp dân chúng thấm thía hơn và chấp nhận sứ điệp được chúng ta truyền đạt. Một hình ảnh hấp dẫn làm cho sứ điệp dường như quen thuộc, gần gũi, cụ thể và liên hệ tới cuộc sống hằng ngày. Một hình ảnh tác hiệu có thể làm cho con người thưởng thức được sứ điệp, làm bừng lên ước muốn và thúc đẩy ý muốn hướng về Phúc Âm. Một bài giảng hay cần phải có "ý tưởng, cảm thức, hình ảnh".

158- ... Nếu chúng ta thích ứng ngôn ngữ của con người và vươn tới họ bằng lời Chúa, chúng ta cần phải tham phần vào đời sống của họ và ưu ái chú trọng tới họ. Tính chất giản dị và sáng tỏ là hai điều khác nhau. Ngôn ngữ của chúng ta có thể đơn giản nhưng việc giảng dạy của chúng ta có thể không được rõ ràng cho lắm. Nó có thể đi đến chỗ khó hiểu vì nó không được hệ thống hóa, thiếu tính chất triển khai hợp lý hay cố gắng nói nhiều điều một lúc. Vậy chúng ta cần làm sao để có thể bảo đảm là bài giảng có một sự thống nhất theo đề tài, rõ ràng thứ tự và ăn khớp với nhau giữa các câu cú, nhờ đó dân chúng mới có thể theo dõi vị giảng thuyết một cách dễ dàng và mới nắm bắt được chiều hướng lập luận của vị này.

159- Một đặc điểm khác về một bài giảng hay đó là tính chất tích cực của nó. Nó không quan tâm nhiều đến việc vạch ra những gì không được làm, mà là đến việc gợi ý những gì chúng ta có thể làm tốt đẹp hơn. Dù sao nếu nó cần phải lưu ý đến một cái gì đó tiêu cực thì nó cũng phải cố gắng nêu lên một giá trị tích cực và thu hút nào đó, kẻo nó bị lọ lem nơi những lời phàn nàn trách móc, những than vãn, những phê bình chỉ trích cùng những trách cứ. Việc giảng dạy một cách tích cực bao giờ cũng cống hiến niềm hy vọng, hướng đến tương lai, chứ không lưu lại những gì là tiêu cực lẩn quẩn nơi chúng ta. Tốt đẹp biết bao khi các vị linh mục, phó tế và giáo dân cùng nhau từng giai đoạn một khám phá ra những nguồn liệu có thể giúp cho việc giảng dạy trở nên hấp dẫn hơn!

(còn tiếp)

 
HOC HOI DE SONG DAO # 109 = DE DUOC CUU ROI PDF Print E-mail

PHẢI LÀM GÌ ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI ?
Đây là vấn đề đã gây ra nhiều tranh cãi trong và ngoài Giáo Hội. Cụ thẻ, các giáo phái Tin Lành đều cho rằng con người được cứu độ là nhờ tin vào Chúa Kitô, chứ không phải nhờ cố gắng nào của cá nhân mình, vì tội Nguyên Tổ ( Original Sin ) đã phá hủy hoàn toàn khả năng hành thiện của con người, nên không ai có thể làm được gì đáng để được cứu rỗi ngoài tin vào Chúa Kitô. Mặt khác cũng có nhiều người Công Giáo và Tin Lành quá lạc quan cho rằng Thiên Chúa là Đấng giầu tình thương và tha thứ nên không cần phải đặt nặng vấn đề cứu rỗi vì Chúa Giêsu-Kitô đã chết thay cho mọi người rồi, cho nên chỉ cần nhờ cậy vào Chúa Kitô là được cứu rỗi, và không cần phải làm gì thêm về phía con người.
Cụ thể, có một số linh mục ( Viêt nam, Mỹ và Canada), cũng vì cho rằng Chúa Kitô đã đền thay cho mọi người có tội rồi, nên đã mời hết mọi người tham dự Thánh lễ lên rước Mình Máu thánh Chúa, không phân biệt họ là thành phần nào, có Đạo hay không, hoặc đang sống trong tình trạng ngăn trở như ly dị và chưa được tháo gỡ hôn phối cũ mà lại sống chung với người khác như vợ chồng. Lại nữa, có những giáo dân không bao giờ đi xưng tội, nhưng cứ lên rước Mình Thánh Chúa vì cho rằng Chúa đã tha hết mọi tội rồi.! Thêm vào đó, cũng có rất nhiều người Công giáo không muốn đến nhà thờ để tham dự Thánh lễ vì nghĩ rằng không cần thiết, chỉ cần ở nhà đọc Kinh Thánh là đủ !
Chúng ta phải nghĩ thế nào về những quan điểm nói trên ?
Trước hết, chúng ta tin có Chúa là Đấng đầy lòng thương sót đối với toàn thể nhân loại. Thánh Vịnh 30 đã ca tụng tình thương bao la của Thiên Chúa như sau:
" Người có nổi giận, giận trong giây lát
Nhưng yêu thương, thương suốt cả đời." ( TV 30(29) : 6)
Mặt khác , chúng ta không coi nhẹ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, và vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc bảo vệ, nuôi dưỡng đức tin và ban phát ơn cứu độ của Chúa Giê-su-Kitô cho đến ngày mãn thời gian.
Thật vậy, nếu chúng ta được cứu rỗi và có hy vọng được gặp Chúa là cội nguồn của mọi an vui hoan lạc, thì trước hết ta phải cậy nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4). Thêm vào đó, chúng ta phải cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, Đấng " đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28)
Sau nữa phải cần đến Giáo Hội là trung gian trong việc ban phát ơn cứu độ của Thiên Chúa cho con cái mình và cho những ai muốn gia nhập Giáo Hội để nhận lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng đã thiết lập Giáo Hội trên nền tảng các Tông Đồ để tiếp tục sứ vụ rao giảng, dạy dỗ và thánh hóa Dân Chúa được trao phó cho mình chăn dắt về mặt thiêng liêng.
Nhưng cho dù Thiên Chúa mong muốn cho mọi người được cứu độ và cho dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu đã quá đủ cho ta được cứu rỗi; dầu vậy Thiên Chúa vẫn đòi hỏi sự cộng tác của con người vào ơn cứu độ, vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng, để hoặc chọn sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo thế gian với "văn hóa của sự chết"để tự do tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất và tìm hưởng mọi thú vui vô luân vô đạo như thực trạng của biết bao triệu người trên khắp thế giới tục hóa ngày nay.
Thiên Chúa chỉ mời gọi con người yêu mến và sống theo đường lối của Chúa để được chúc phúc hay bị nguyền rủa như lời ông Mô-sê đã nói với dân Do Thái xưa, sau khi họ được giải phóng khỏi ách nô lệ thống khổ trên đất Ai Cập :
" Hãy xem, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn : hoặc được chúc phúc, hoặc bị nguyền rủa. Anh em sẽ được chúc phúc nếu vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em mà tôi truyền cho anh em hôm nay. Anh em sẽ bị nguyền rủa , nếu không vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA." ( Đnl 11: 26-28)
Khi phán những lời trên với Dân Do Thái, Thiên Chúa đã cho chúng ta thấy rõ là Người muốn con người dùng ý muốn tự do mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng để đáp trả tình yêu của Chúa và sống theo những thánh chỉ của Người để được cứu độ nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Nhưng nếu con người tự ý chọn sống theo thế gian và theo ý riêng mình để khước từ Thiên Chúa thì phải chịu hậu quả là không được hưởng nhờ công nghiệp của Chúa Kitô, như Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người xưa kia như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa,lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7:21)
Thi hành ý muốn của Chúa Cha có nghĩa là quyết tâm từ bỏ con đường gian tà, gian ác, bóc lột bất công, tham ô, giết người, khủng bố , giết thai nhi, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm vô cùng khốn nạn và tội lỗi, cùng với đam mê của cải, tiền bạc và mọi thú vui vô luân vô đạo, như bộ mặt thật của "văn hóa sự chết" đang thống trị tâm hồn của biết bao triệu con người ở khắp nơi trên thế giới duy vật , vô thần, vô luân, và tôn thờ khoái lạc ( hedonism) hiện nay.
Nếu người ta cứ sống như vậy, thì dù miệng có nói " tôi tin có Chúa" bao nhiêu lần thì cũng vô ích mà thôi. Và Chúa cũng không thể cứu họ được dù Người là tình thương vô biên và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá, đủ cho con người được cứu độ. Nhưng đủ ở đây không có nghĩa là người ta không cần phải làm gì thêm về phần mình, cứ việc sống cách nào tùy ý.
Ngược lại, Chúa vẫn đòi hỏi con người phải có thiện chí cộng tác vào ơn cứu độ qua quyết tâm sống theo đường lối của Chúa, xa tránh mọi tội và sự dữ, là những cản trở to lớn cho ai muốn vào Nước Trời để được sống hạnh phúc vinh cửu với Chúa sau khi chấm dứt hành trình trong trần thế này. Đó chính là cách thể hiện thực tâm yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân, thực thi công bằng và bác ái, yêu mến sự trong sạch, thánh thiện là những tiêu chuẩn căn bản để tỏ ra thiện chí " thi hành ý muốn của Chúa Cha , Đấng ngự trên Trời."như Chúa Giê su đã nói rõ.
Nói khác đị, là người có niềm tin Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, tin Chúa Giê-su Kitô là Đấng đã cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa qua nỗ lực qui hướng đời sống vào mục đích tối hậu là Thiên Chúa và Vương Quốc bình an và hạnh phúc của Người để dứt khoát khước từ mọi cám dỗ của thế gian -và nhất là của ma quỉ- kẻ thù của chúng ta, ví như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." Như Thánh Phêrô đã cảnh báo. ( 1 Pr 5: 8)
Nếu không có nỗ lực nói trên để cứ đi hàng hai là vẫn tin có Chúa nhưng đời sống và việc làm lại thuộc về thế gian và ma quỷ thì chắc chắn Chúa không thể cứu ai được, cho dù Chúa Kitô đã chết để đền tội thay cho con người, nhưng không bảo đảm rằng mọi người sẽ đương nhiên được cứu độ vì đã có công nhiệp cứu chuộc vô giá của Chúa. Công nhiệp này là điều kiện tiên quyết , nhưng con người vẫn phải có thiện chí đáp trả tình thương của Thiên Chúa qua nỗ lực bước đi theo Chúa Kitô là " con đường, là sự thật và là sự sống," ( Ga 14: 6). Nếu không thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa sẽ trở nên vô ích.
Đó cũng là lý do tại sao Chúa đã ngăn đe những ai "đi hàng hai" trong Sách Khải Huyền như sau:
" Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta. " ( Kh 3: 15-16)
Như thế, đủ cho thấy là không phải cứ nói " lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời" như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa. Ngược lại, vào hay không còn tùy thuộc cách con người sử dụng ý muốn tự do để hoặc sống theo Chúa hay theo thế gian và chiều theo những huynh hướng xấu còn tồn tại trong bản tính con người, như đam mê tiền của, ích kỷ , độc ác, chạy theo những quyến rũ về vui thú vô luân vô đạo,..Người có niềm tin Chúa mà sống như vậy thì chắc chắn đã khước từ Chúa bằng chính đời sống của mình, đã tự lên án mình, và tự tìm con đường đưa đến hư mất đời đời.
Sau hết, người tín hữu Chúa Kitô cũng không thể coi thường vai trò và sứ mệnh của Giáo Hội là Hiền thê và là Thân Thể nhiệm mầu ( Mystical Body) của Chúa Kitô, có mặt và hoạt động trong trần gian với mục đích chuyên chở ơn cứu độ của Chúa đến với những ai đã gia nhập Giáo Hội qua bí tích Rửa tội. Giáo Hội chính là Mẹ đang thay mặt và nhân danh Chúa là Cha để dạy dỗ con cái mình sống đúng với Tin Mừng cứu độ và ban phát ơn này qua các bí tích mà Chúa Cứu Thế Giê su đã thiết lập và trao cho Giáo Hội cử hành để thông ban ơn cứu độ của Người cho con cái cho đến thời cuối cùng. Vì thế, là chi thể của Giáo Hôi, mọi tín hữu phải yêu mến và vâng lời Giáo Hội dạy bảo mọi giáo lý về đức tin và luân lý, cũng như hiệp thông với Giáo Hội trong cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích- đặc biệt là bí tích Thánh Thể và Hòa giải- để được sung mãn trong đời sống thiêng liêng và bảo đảm ơn cứu độ. Do đó, ai coi thường và không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội thì không thể lãnh nhận được ơn thánh Chúa ban phát dồi dào qua Giáo Hội.
Tóm lại, Thiên Chúa là tình thương và hay tha thứ. Chúa Kitô đã hiến mạng sống mình "làm giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20: 28). Công nghiệp cứu chuộc này thực vô giá và đủ cho con người được cứu độ. Nhưng đây không phải là lý do để không làm gì về phần mình và không cần đến Giáo Hội để cứ buông thả sống theo những đòi hỏi bất chánh của bản năng, những lôi cuốn của thế gian chối bỏ Thiên Chúa và nhất là những cảm dỗ của ma quỷ, là kẻ thù luôn tìm mọi cách để kéo con người ra khỏi tình yêu của Chúa để làm nô lệ cho chúng và mất hy vọng được cứu độ. Ngược lại, phải cậy nhờ tình thương tha thứ của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, song song với quyết tâm sống cho Chúa và " hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết : có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không được ." ( Lc 13: 24) như Chúa Giêsu đã nói nói với dân chúng đến nghe Người giảng dạy xưa kia.
"Qua của hẹp mà vào" có nghĩa là không được đi vào cửa rộng thênh thang nơi nhiều người đang đi qua để tự do gian manh, lừa đào, tự do phá thai , tự do thay vợ đổi chồng, tự do buôn bán sách báo phim ảnh khiêu dâm đòi truy, tự do mở sòng cờ bạc và làm nghề mãi dâm để kiếm nhiều tiền của, là những cách sống và con đường chắc chắn dẫn đi nhanh đến chốn hư mất đời đời. Nhưng quá nhiều người lại đang nghênh ngang đi vào đó để thách đố hay chế nhạo những ai có niềm tin Thiên Chúa và thực tâm muốn sống niềm tin này cách cụ thể qua quyết tâm xa tránh tội lỗi do ma quỷ và thế gian cấu kết nhau xúi dục đêm ngày để mong xô con người xuống vực thẳm của sự chết trong linh hồn.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Next > End >>

Page 81 of 113