mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4835
mod_vvisit_counterHôm Qua5836
mod_vvisit_counterTuần Này18635
mod_vvisit_counterTuần Trước43250
mod_vvisit_counterTháng Này138634
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10279947

We have: 38 guests online
Your IP: 54.90.202.184
 , 
Today: Feb 20, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 109 = DE DUOC CUU ROI PDF Print E-mail

PHẢI LÀM GÌ ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI ?
Đây là vấn đề đã gây ra nhiều tranh cãi trong và ngoài Giáo Hội. Cụ thẻ, các giáo phái Tin Lành đều cho rằng con người được cứu độ là nhờ tin vào Chúa Kitô, chứ không phải nhờ cố gắng nào của cá nhân mình, vì tội Nguyên Tổ ( Original Sin ) đã phá hủy hoàn toàn khả năng hành thiện của con người, nên không ai có thể làm được gì đáng để được cứu rỗi ngoài tin vào Chúa Kitô. Mặt khác cũng có nhiều người Công Giáo và Tin Lành quá lạc quan cho rằng Thiên Chúa là Đấng giầu tình thương và tha thứ nên không cần phải đặt nặng vấn đề cứu rỗi vì Chúa Giêsu-Kitô đã chết thay cho mọi người rồi, cho nên chỉ cần nhờ cậy vào Chúa Kitô là được cứu rỗi, và không cần phải làm gì thêm về phía con người.
Cụ thể, có một số linh mục ( Viêt nam, Mỹ và Canada), cũng vì cho rằng Chúa Kitô đã đền thay cho mọi người có tội rồi, nên đã mời hết mọi người tham dự Thánh lễ lên rước Mình Máu thánh Chúa, không phân biệt họ là thành phần nào, có Đạo hay không, hoặc đang sống trong tình trạng ngăn trở như ly dị và chưa được tháo gỡ hôn phối cũ mà lại sống chung với người khác như vợ chồng. Lại nữa, có những giáo dân không bao giờ đi xưng tội, nhưng cứ lên rước Mình Thánh Chúa vì cho rằng Chúa đã tha hết mọi tội rồi.! Thêm vào đó, cũng có rất nhiều người Công giáo không muốn đến nhà thờ để tham dự Thánh lễ vì nghĩ rằng không cần thiết, chỉ cần ở nhà đọc Kinh Thánh là đủ !
Chúng ta phải nghĩ thế nào về những quan điểm nói trên ?
Trước hết, chúng ta tin có Chúa là Đấng đầy lòng thương sót đối với toàn thể nhân loại. Thánh Vịnh 30 đã ca tụng tình thương bao la của Thiên Chúa như sau:
" Người có nổi giận, giận trong giây lát
Nhưng yêu thương, thương suốt cả đời." ( TV 30(29) : 6)
Mặt khác , chúng ta không coi nhẹ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, và vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc bảo vệ, nuôi dưỡng đức tin và ban phát ơn cứu độ của Chúa Giê-su-Kitô cho đến ngày mãn thời gian.
Thật vậy, nếu chúng ta được cứu rỗi và có hy vọng được gặp Chúa là cội nguồn của mọi an vui hoan lạc, thì trước hết ta phải cậy nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4). Thêm vào đó, chúng ta phải cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, Đấng " đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28)
Sau nữa phải cần đến Giáo Hội là trung gian trong việc ban phát ơn cứu độ của Thiên Chúa cho con cái mình và cho những ai muốn gia nhập Giáo Hội để nhận lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng đã thiết lập Giáo Hội trên nền tảng các Tông Đồ để tiếp tục sứ vụ rao giảng, dạy dỗ và thánh hóa Dân Chúa được trao phó cho mình chăn dắt về mặt thiêng liêng.
Nhưng cho dù Thiên Chúa mong muốn cho mọi người được cứu độ và cho dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu đã quá đủ cho ta được cứu rỗi; dầu vậy Thiên Chúa vẫn đòi hỏi sự cộng tác của con người vào ơn cứu độ, vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng, để hoặc chọn sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo thế gian với "văn hóa của sự chết"để tự do tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất và tìm hưởng mọi thú vui vô luân vô đạo như thực trạng của biết bao triệu người trên khắp thế giới tục hóa ngày nay.
Thiên Chúa chỉ mời gọi con người yêu mến và sống theo đường lối của Chúa để được chúc phúc hay bị nguyền rủa như lời ông Mô-sê đã nói với dân Do Thái xưa, sau khi họ được giải phóng khỏi ách nô lệ thống khổ trên đất Ai Cập :
" Hãy xem, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn : hoặc được chúc phúc, hoặc bị nguyền rủa. Anh em sẽ được chúc phúc nếu vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em mà tôi truyền cho anh em hôm nay. Anh em sẽ bị nguyền rủa , nếu không vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA." ( Đnl 11: 26-28)
Khi phán những lời trên với Dân Do Thái, Thiên Chúa đã cho chúng ta thấy rõ là Người muốn con người dùng ý muốn tự do mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng để đáp trả tình yêu của Chúa và sống theo những thánh chỉ của Người để được cứu độ nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Nhưng nếu con người tự ý chọn sống theo thế gian và theo ý riêng mình để khước từ Thiên Chúa thì phải chịu hậu quả là không được hưởng nhờ công nghiệp của Chúa Kitô, như Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người xưa kia như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa,lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7:21)
Thi hành ý muốn của Chúa Cha có nghĩa là quyết tâm từ bỏ con đường gian tà, gian ác, bóc lột bất công, tham ô, giết người, khủng bố , giết thai nhi, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm vô cùng khốn nạn và tội lỗi, cùng với đam mê của cải, tiền bạc và mọi thú vui vô luân vô đạo, như bộ mặt thật của "văn hóa sự chết" đang thống trị tâm hồn của biết bao triệu con người ở khắp nơi trên thế giới duy vật , vô thần, vô luân, và tôn thờ khoái lạc ( hedonism) hiện nay.
Nếu người ta cứ sống như vậy, thì dù miệng có nói " tôi tin có Chúa" bao nhiêu lần thì cũng vô ích mà thôi. Và Chúa cũng không thể cứu họ được dù Người là tình thương vô biên và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá, đủ cho con người được cứu độ. Nhưng đủ ở đây không có nghĩa là người ta không cần phải làm gì thêm về phần mình, cứ việc sống cách nào tùy ý.
Ngược lại, Chúa vẫn đòi hỏi con người phải có thiện chí cộng tác vào ơn cứu độ qua quyết tâm sống theo đường lối của Chúa, xa tránh mọi tội và sự dữ, là những cản trở to lớn cho ai muốn vào Nước Trời để được sống hạnh phúc vinh cửu với Chúa sau khi chấm dứt hành trình trong trần thế này. Đó chính là cách thể hiện thực tâm yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân, thực thi công bằng và bác ái, yêu mến sự trong sạch, thánh thiện là những tiêu chuẩn căn bản để tỏ ra thiện chí " thi hành ý muốn của Chúa Cha , Đấng ngự trên Trời."như Chúa Giê su đã nói rõ.
Nói khác đị, là người có niềm tin Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, tin Chúa Giê-su Kitô là Đấng đã cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa qua nỗ lực qui hướng đời sống vào mục đích tối hậu là Thiên Chúa và Vương Quốc bình an và hạnh phúc của Người để dứt khoát khước từ mọi cám dỗ của thế gian -và nhất là của ma quỉ- kẻ thù của chúng ta, ví như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." Như Thánh Phêrô đã cảnh báo. ( 1 Pr 5: 8)
Nếu không có nỗ lực nói trên để cứ đi hàng hai là vẫn tin có Chúa nhưng đời sống và việc làm lại thuộc về thế gian và ma quỷ thì chắc chắn Chúa không thể cứu ai được, cho dù Chúa Kitô đã chết để đền tội thay cho con người, nhưng không bảo đảm rằng mọi người sẽ đương nhiên được cứu độ vì đã có công nhiệp cứu chuộc vô giá của Chúa. Công nhiệp này là điều kiện tiên quyết , nhưng con người vẫn phải có thiện chí đáp trả tình thương của Thiên Chúa qua nỗ lực bước đi theo Chúa Kitô là " con đường, là sự thật và là sự sống," ( Ga 14: 6). Nếu không thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa sẽ trở nên vô ích.
Đó cũng là lý do tại sao Chúa đã ngăn đe những ai "đi hàng hai" trong Sách Khải Huyền như sau:
" Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta. " ( Kh 3: 15-16)
Như thế, đủ cho thấy là không phải cứ nói " lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời" như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa. Ngược lại, vào hay không còn tùy thuộc cách con người sử dụng ý muốn tự do để hoặc sống theo Chúa hay theo thế gian và chiều theo những huynh hướng xấu còn tồn tại trong bản tính con người, như đam mê tiền của, ích kỷ , độc ác, chạy theo những quyến rũ về vui thú vô luân vô đạo,..Người có niềm tin Chúa mà sống như vậy thì chắc chắn đã khước từ Chúa bằng chính đời sống của mình, đã tự lên án mình, và tự tìm con đường đưa đến hư mất đời đời.
Sau hết, người tín hữu Chúa Kitô cũng không thể coi thường vai trò và sứ mệnh của Giáo Hội là Hiền thê và là Thân Thể nhiệm mầu ( Mystical Body) của Chúa Kitô, có mặt và hoạt động trong trần gian với mục đích chuyên chở ơn cứu độ của Chúa đến với những ai đã gia nhập Giáo Hội qua bí tích Rửa tội. Giáo Hội chính là Mẹ đang thay mặt và nhân danh Chúa là Cha để dạy dỗ con cái mình sống đúng với Tin Mừng cứu độ và ban phát ơn này qua các bí tích mà Chúa Cứu Thế Giê su đã thiết lập và trao cho Giáo Hội cử hành để thông ban ơn cứu độ của Người cho con cái cho đến thời cuối cùng. Vì thế, là chi thể của Giáo Hôi, mọi tín hữu phải yêu mến và vâng lời Giáo Hội dạy bảo mọi giáo lý về đức tin và luân lý, cũng như hiệp thông với Giáo Hội trong cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích- đặc biệt là bí tích Thánh Thể và Hòa giải- để được sung mãn trong đời sống thiêng liêng và bảo đảm ơn cứu độ. Do đó, ai coi thường và không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội thì không thể lãnh nhận được ơn thánh Chúa ban phát dồi dào qua Giáo Hội.
Tóm lại, Thiên Chúa là tình thương và hay tha thứ. Chúa Kitô đã hiến mạng sống mình "làm giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20: 28). Công nghiệp cứu chuộc này thực vô giá và đủ cho con người được cứu độ. Nhưng đây không phải là lý do để không làm gì về phần mình và không cần đến Giáo Hội để cứ buông thả sống theo những đòi hỏi bất chánh của bản năng, những lôi cuốn của thế gian chối bỏ Thiên Chúa và nhất là những cảm dỗ của ma quỷ, là kẻ thù luôn tìm mọi cách để kéo con người ra khỏi tình yêu của Chúa để làm nô lệ cho chúng và mất hy vọng được cứu độ. Ngược lại, phải cậy nhờ tình thương tha thứ của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, song song với quyết tâm sống cho Chúa và " hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết : có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không được ." ( Lc 13: 24) như Chúa Giêsu đã nói nói với dân chúng đến nghe Người giảng dạy xưa kia.
"Qua của hẹp mà vào" có nghĩa là không được đi vào cửa rộng thênh thang nơi nhiều người đang đi qua để tự do gian manh, lừa đào, tự do phá thai , tự do thay vợ đổi chồng, tự do buôn bán sách báo phim ảnh khiêu dâm đòi truy, tự do mở sòng cờ bạc và làm nghề mãi dâm để kiếm nhiều tiền của, là những cách sống và con đường chắc chắn dẫn đi nhanh đến chốn hư mất đời đời. Nhưng quá nhiều người lại đang nghênh ngang đi vào đó để thách đố hay chế nhạo những ai có niềm tin Thiên Chúa và thực tâm muốn sống niềm tin này cách cụ thể qua quyết tâm xa tránh tội lỗi do ma quỷ và thế gian cấu kết nhau xúi dục đêm ngày để mong xô con người xuống vực thẳm của sự chết trong linh hồn.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 108 = CHUONG PHAT GIAO PDF Print E-mail

VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA CÁC HỒNG Y TRONG GIÁO HỘI và Giải
thanhly
This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it
Jan 17 at 10:32 PM

Giải đáp phụng vụ: Được dùng chuông mõ Phật giáo trong phụng vụ không?

Nguyễn Trọng Đa

Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), Khoa trưởng Thần học và giáo sư phụng vụ của Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.

Hỏi: Tại giáo xứ của chúng tôi trong mùa Chay, người ta đánh chuông mõ Phật Giáo ở đầu Thánh lễ thay cho bài ca nhập lễ. Theo một nguồn phổ biến là Wikipedia, chuông mõ Phật giáo được "sử dụng như là một sự hỗ trợ cho chiêm niệm, đưa vào sự xuất thần và cầu nguyện". Trên mạng Internet, nhiều trang web khẳng định rằng chuông mõ Phật giáo cung cấp "năng lượng tích cực" và "liệu pháp mang lại lợi ích", vì "tiếng rung đặc biệt của chuông này... chạm vào các cơ quan năng lượng của chúng ta" (Sound Bliss). Tôi biết rằng các nhạc cụ phải đến từ nơi nào đó, nhưng nền tảng của âm thanh chuông mõ Phật giáo làm như thể nó giới thiệu một linh đạo khác với đạo Công Giáo. Vì vậy, tôi xin hỏi ý cha: liệu có thích hợp để dùng một chuông mõ Phật giáo hoặc nhạc cụ tương tự trong một Thánh Lễ Công Giáo không? – A. C., Texas, Mỹ.

Đáp: Chuông mõ Phật giáo, về mặt kỹ thuật, là một loại chuông, một dụng cụ đúc bằng đồng dùng dùi gỗ đánh khẻ vào miệng chuông để phát ra âm thanh. Nó được sử dụng nhiều trong truyền thống Phật giáo.

Về tính hợp pháp của nó trong phụng vụ Kitô giáo, trước tiên chúng ta phải nhớ rằng việc đưa các nhạc cụ mới vào phụng vụ là không dành cho ý thích của các nhạc công, hoặc thậm chí cha sở địa phương. Thẩm quyền chính thức về việc cho phép sử dụng nhạc cụ mới chính là Hội đồng Giám mục. Số 393 của Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma [GIRM] nói rõ:

"Phải chú ý đến vai trò cao cả của hát ca trong cử hành, như là thành phần cần thiết hay trọn vẹn của phụng vụ. Các Hội Ðồng Giám Mục có quyền phê chuẩn những giai điệu thích hợp, nhất là cho các bản văn phần Thường Lễ, cho các lời đáp và tung hô của giáo dân, và cho các nghi thức đặc biệt xảy ra trong năm phụng vụ.

Các Hội Ðồng Giám Mục cũng xét xem nên chấp nhận hình thức âm nhạc, giai điệu, nhạc cụ nào trong việc thờ phượng thánh, vì chúng thích hợp hay có thể thích hợp với việc sử dụng thánh" (bản dịch tiếng Việt của Lm. Phanxicô Xaviê Nguyễn Chí Cần, giáo phận Nha Trang)

Trong trường hợp của nước Mỹ, Hội đồng Giám mục nước này, trong khi tự hào là nơi sử dụng đại phong cầm, đã cho phép đưa một số nhạc cụ khác vào phụng vụ. Vì vậy, trong tài liệu "Sing to the Lord" (Hãy hát mừng Chúa), các Giám mục khẳng định:

"89. Tuy nhiên, từ thời Hòm Giáo Ước được rước đi trong tiếng chũm chọe, đàn hạc, đàn lia, và kèn, dân Thiên Chúa trong nhiều thời kỳ khác nhau đã sử dụng một loạt các nhạc cụ để hát lên chúc tụng Thiên Chúa. Mỗi nhạc cụ, phát sinh từ nền văn hóa và các truyền thống khác nhau của một dân tộc đặc biệt, đã hòa giọng vào một loạt các hình thức và phong cách khác nhau, mà qua đó tín hữu của Chúa Kitô hòa giọng của mình vào ca khúc hoàn hảo của lời ngợi khen chúc tụng của Người trên Thánh giá.

"90. Nhiều nhạc cụ khác cũng làm phong phú cho cuộc cử hành Phụng Vụ, chẳng hạn các đàn gió, đàn dây và nhạc cụ gõ theo cách sử dụng lâu đời của địa phương, miễn là chúng thực sự thích hợp, hoặc có thể thích hợp với việc sử dụng thánh".

Có lẽ, do sự phong phú lớn của các truyền thống đạo và văn hóa Công Giáo hiện nay tại Mỹ, các Giám mục đã quyết định không lập ra một danh sách các nhạc cụ được chấp thuận dùng trong phụng vụ".

Tuy nhiên, tiêu chuẩn "cách sử dụng lâu đời của địa phương" không cung cấp một chuẩn mực tốt cho việc đánh giá sự chấp thuận sử dụng một nhạc cụ. Dựa trên nguyên tắc này, người ta khuyên nên tham khảo ý kiến của Văn phòng phụng vụ hữu quan, trước khi đưa vào sử dụng một nhạc cụ mới, như trường hợp chuông mõ Phật giáo này.

Nguyên tắc thứ hai - đó là các nhạc cụ "thích hợp, hoặc có thể thích hợp với việc sử dụng thánh" - cũng mời gọi sự thận trọng và khôn ngoan trước khi hành động. Một lần nữa, cha xứ cần phải tham khảo ý kiến của giáo quyền hữu quan, về sự thích hợp hoặc sự thích đáng của việc này, trước khi đưa vào sử dụng một nhạc cụ mới.

Trong khi nhạc cụ có thể tự chúng là trung tính, ý nghĩa xã hội và tôn giáo của chúng cung cấp cho các Giám mục các yếu tố để đánh giá tính thích hợp để sử dụng chúng trong phụng vụ.

Ví dụ, một nhạc cụ được xác định cách mạnh mẽ là gắn với âm nhạc thế tục hay tình huống đời thường, chẳng hạn khiêu vũ hay nhà hát, sẽ có thể bị loại trừ, nếu việc sử dụng nó trong phụng vụ đã gợi lên một cách tự phát các sự nối kết tinh thần kém thánh thiêng trong cộng đoàn.

Các nhạc cụ liên quan đến các tôn giáo ngoài Kitô giáo cần được đánh giá cẩn thận, để tránh bất kỳ nguy cơ giải thích việc sử dụng chúng, trong ý nghĩa của thuyết tương đối tôn giáo hay chủ nghĩa chiết trung tôn giáo.

Ví dụ, trong trường hợp của chuông mõ Phật giáo, trong bối cảnh ban đầu của nó, âm nhạc này có một chức năng tôn giáo chính xác, vốn có thể được đánh giá là xa lạ với bản chất của việc cầu nguyện Kitô giáo.

Tôi không có đủ kiến thức để tự mình khẳng định rằng đây là trường hợp ấy. Nhưng quan điểm của tôi là rằng các vấn đề này cần được nghiên cứu cẩn thận, trước khi đưa ra quyết định.

Tài liệu các Giám mục Mỹ cũng đưa ra một số lời khuyên về việc sử dụng nhạc cụ cách thích hợp:

"91. Mặc dù các nhạc cụ được sử dụng trong việc thờ phượng Kitô giáo để chủ yếu dẫn dắt và nâng đỡ việc hát của cộng đồng, ca đoàn, người hát Thánh vịnh, người lĩnh xướng, chúng có thể hòa tấu khi thích hợp. Âm nhạc nhạc cụ này có thể giúp cộng đoàn chuẩn bị việc thờ phượng trong hình thức của khúc dạo đầu. Nó có thể hòa giọng vào tâm tình của tâm hồn con người qua các bài hát trong Phụng vụ, và sau Phụng vụ. Các nhạc công cần phải nhớ rằng Phụng vụ mời gọi vài khoảnh khắc có ý nghĩa cho sự suy tư thinh lặng. Nhưng sự thinh lặng này không cần phải luôn luôn được giữ đầy đủ.

"92. Các nhạc công được khuyến khích chơi các bản nhạc trong kho tàng thánh nhạc của các nhạc sĩ của nhiều thời đại khác nhau và các nền văn hóa khác nhau. Ngoài ra, các người này được khuyến khích nâng cao tài năng và sự tập luyện của mình..."

Một lần nữa, việc sử dụng một chuông mõ Phật giáo sẽ không có khả năng được coi là một phần của "kho tàng thánh nhạc", để được sử dụng trong việc thờ phượng Kitô giáo.

Cuối cùng, độc giả của chúng tôi cho biết rằng chuông mõ Phật giáo này được dùng trong Mùa Chay - chính xác là mùa mà nhạc cụ được chơi mà không có tiếng hát đi kèm là bị loại trừ cách rõ ràng. Như số 313 của Qui chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma [GIRM] nói rõ: "Trong Mùa Chay, tiếng phong cầm và các nhạc cụ khác chỉ để giúp hát mà thôi, trừ Chúa Nhật Laetare (IV Mùa Chay), lễ trọng và lễ kính" (bản dịch tiếng Việt, như trên). (Zenit.org 14-1-2014)

Nguồn: Vietcatholic News

NÓI LẠI VỀ VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA CÁC HỒNG Y TRONG GIÁO HỘI.

LM. Phanxicô Xaviê Ngô tôn Huấn

Nhân việc Đức Thánh Cha Phanxicô vừa công bố bổ nhiệm thêm 19 tân Hông Y cho Giáo Hội, tôi xin được trả lời chung những câu hỏi của nhiều đôc giả về vai trò và trách nhiệm của tước vị Hồng Y trong Giáo Hội Công Giáo La Mã như sau:

Trước hết, về ngữ căn (etymology), từ Hông Y (Cardinal) xuất phát từ nguyên ngữ Latin CARDO có nghĩa là "cái bản lề" (hinge) tức bộ phân then chốt để giừ cho cánh cửa được đứng vững trong khung cửa. Từ ý nghĩa tượng trưng này, các Hồng Y được mệnh danh là "những vị Hoàng tử (princes) của Giáo Hội với 2 chức năng rất quan trọng sau đây:

1- Là cố vấn để đóng góp ý kiến (kiến thức và khôn ngoan) cho Đức Thánh Cha trong việc điều hành và cai tri Giáo Hôi Công Giáo hoàn vũ.

2- Khi vào Mật nghị (Conclave) để bầu Giáo Hoàng mới, tất cả các Hông Y đủ điều kiện theo luật bầu cử – nghĩa là dưới 80 tuổi – đều đương nhiên là các ứng viên (potential candidates có thể được bầu chứ không ra ứng cử) và cũng là những người được quyền bỏ phiếu chọn (elector) Giáo Hoàng mới, khi đương kim Giáo Hoàng qua đời (hay đột nhiên từ nhiệm như trường hợp cá biệt của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong tháng 2 năm 2013 vừa qua.). (x. Giáo luật số 349)

Theo Luật bầu Giáo Hoàng hiên hành, áp dụng từ nhiều năm qua, thì khi tròn 80 tuổi, các Hồng Y không còn được tham dự Mật nghị để bầu Giáo Hoàng mới hay tham dự bất cứ mật hội nào do Đức Thánh Cha triệu tập và chủ tọa để bàn thảo về một vấn đề quan trọng nào của Giáo Hội. Thêm nữa, khi các Hồng Y đến tuổi 75, và hiện đang coi sóc các Tổng Giáo Phận hay các Bộ hoặc Cơ quan trọng yếu trong Giáo Triều Roma thì cũng phải xin từ chức, để tùy Đức Thanh Cha quyết định chấp nhận hay cho lưu nhiệm thêm. Thí dụ, trường hợp Đức cựu Giáo Hoàng.Biển Đức XVI, khi đang còn làm Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã xin nghỉ hưu năm ngài 75 tuổi nhưng đã được Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II yêu cầu tiếp tục nhiệm vụ thêm thời gian nữa, nên ngài vẫn đảm trách chức vụ Tổng Trưởng trên cho đến khi ngài được bầu lên ngôi Giáo Hoàng ngày 19 tháng 4 năm 2005 (x.giáo luật số 354).

Trước năm 1917 tức là năm ban hành bộ Giáo luật cũ, (giáo luật mới 1983 thay giáo luật cũ 1917) các Hồng Y có thể là những thường dân không có chức linh mục hay giám mục được Giáo Hoàng ban cho tước vị này, vì những lý do riêng tư. Nhưng với Giáo luật năm 1917, thì người thường dân không còn được chọn nữa, mà chỉ dành cho các linh mục hay giám mục xuất sắc mà thôi. Đến thời Đức cố Giáo Hoàng Gioan XXIII, thì ai được phong tước Hông Y cũng phải được thụ phong Giám mục nếu vị đó chưa là giám mục. Sở dĩ thế vì cho đến nay, thì tước Hồng Y vẫn còn được trao cho một số linh mục xuất sắc, từng giữ các chức vụ quan trọng trong Tòa Thánh hoặc là những thần học gia nổi tiếng như các linh mục Yves M.J Congar (O.P), Henri de LuBac và Allen Dulles (SJ) (đều đã qua đời). Trong đợt Hồng Y mới được công bố ngày 06 tháng 1 năm 2012, cũng có 3 linh mục xuất sắc, từng phục vụ đắc lực trong Giáo Triều Roma được chọn làm Hồng Y.

Cũng cần nói thêm là khác với thông lệ trong quá khứ khi Hông Y được chọn từ những gia đình quí tộc ỏ Âu Châu hoặc những người được Giáo hoàng ưu đãi, thưởng công riêng, các Hồng Y ngày nay phần lớn xuất thân từ những gia đình đạo đức, bình dân, phải là nam giới và ít nhất là người có chức linh mục và "trỗi vượt về đạo lý, tác phong, đạo đức và khôn ngoan" (x. giáo luật số 351 & 1). Nhưng thường là các giám mục xuất sắc về đức độ và khả năng để có thể trở thành Giáo Hoàng cai quản Giáo Hội trong tương lai. Lại nữa, vì Hồng Y có thể là linh mục , nên nếu vị này được đắc cử Giáo Hoàng thì phải được Hồng Y niên trưởng tấn phong chức Giám Mục trước khi đăng quang. Nếu Hồng Y niên Trưởng vắng mặt thì Hồng Phó niên trưởng sẽ làm việc này. Nếu vị này cũng vắng mặt, thì Hồng Y cao niên nhất thuộc đẳng Giám mục sẽ truyền chức Giám mục cho tân Giáo Hoàng chưa có chức Giám mục. (x.giáo luật số 355, &1) .

Tuy nhiên việc này chưa từng xẩy ra vì các Hồng Y từ nhiều thập niên qua đều là những vị có chức Giám mục hay đã được tấn phong giám mục sau khi được phong tước Hồng Y. Nghĩa là không có trường hợp môt Hồng Y chỉ có chức linh mục mà được bầu làm Giáo Hoàng từ nhiều thập niên qua. Cho nên không thể nói cách chung chung là các Giám mục hay linh mục có thể được bầu làm Giáo Hoàng. Phải nói cho đúng là cho đến nay, chỉ có các Hồng Y có chức giám mục và dưới 80 tuổi mới đủ điều kiện để đi bầu Giáo Hoàng mà thôi, vì tất cả các Hông Y trong Giáo Triều Rôma hiện nay đều có chức Giám mục, chứ không có vị nào còn là linh mục., cho dù mỗi lần tấn phong thêm Hồng Y, đều có một vài ba Linh mục được chọn.. Nhưng các vị này đều đã quá 80 hay gần 80 tuổi rồi nên không có triển vọng được bầu làm Giáo Hoàng.

Theo danh sách các tân Hồng Y vừa được Đức Thánh Cha Phanxicô công bố trong giờ kinh nguyện sáng Chúa Nhật 12-1- 2014 vừa qua, thì không có linh mục nào được chọn trong đợt này. Tất cả 19 tân Hồng Y đều có chức Giám mục.

Như thế cho thấy chức Giám mục là chức thánh quan trọng nhất của Giáo Hội, vì Giám mục là những người kế vị các Thánh Tông Đồ trong chức năng và sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cứu độ, dạy dỗ chân lý và cai trị Giáo Hội. Chúa Giêsu xưa chỉ chọn các nam Tông Đồ, mà người kế vị các ngài là các Giám mục ngày nay trong Giáo Hội. Hồng Y không phải là một chức thánh mà chỉ là tước vị (Title) do Giáo Hội đặt ra vì nhu cầu chọn người kế vị Thánh Phêrô, tức Đức Thánh Cha cũng là Giám mục Rôma và là Thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.

Các Hồng Y họp lại thành Hồng Y Đoàn riêng biệt (College of Cardinals) do một vị làm niên trưởng (Dean)

Có 3 đẳng cấp Hồng Y sau đây.

1- Hồng Y Giám mục (Cardinal bishops) là những giám mục từng coi sóc những giáo phận chung quanh Rôma nhưng nay là những Hồng Y thâm niên làm việc trọn thời gian (full-time) trong Giáo Triều Roma. (Roman Curia).

2- Hồng Y Linh mục (Cardinal Priests) là những Hồng Y hoăc làm việc trong Giáo Triều hoặc đang coi sóc các Tổng Giáo Phận ngoài Roma tức là các Tổng Giáo phận ở Ý hay ở các quốc gia trên thế giới như Paris, New York, Sydney, Houston, Saigon, Manilla v.v...

3- Hồng Y Phó Tế (Cardinal Deacons) từng là những Giám mục hiệu tòa (Titular Bishops) tức là không coi sóc Giáo phận nào và đang làm việc trọn thời gian trong Giáo Triều.

Khi các Hồng Y họp kín để bầu Giáo Hoàng mới, Hồng Y Trưởng đẳng Phó tế sẽ công bố danh tánh vị được đắc cử và có thể thay thế Đức Thánh Cha để trao dây Pallium cho các tân Tổng Giám mục hoặc cho người đại diện các vị vắng mặt. (x. giáo luật số 355, & 2)

Thêm nữa, tất cả các Hồng Y, khi được Đức Thánh Cha chọn và trao tước vị này, đều được chỉ đinh tước hiệu (Title) của một thánh đường trong hoặc ngoài Rôma. Với tước hiệu đó, tân Hông Y đến thánh đường được chỉ định để nhận tòa nhưng không có quyền quản trị nào về hành chánh, nhân sự cũng như tài sản của thánh đường đó, mà chỉ hiệp thông để hỗ trợ về mặt tinh thần mà thôi. (giáo luật số 357 &1)

Sau hết, tất cả các Hồng Y, nếu không đảm nhận chức vụ Tổng Giám Mục để coi sóc các Tổng giáo phận ở đâu trên thế giới, thì đều phải cư trú ở Rôma hoặc phải trở về Giáo đô khi Đức Thánh Cha triệu tập để họp bàn việc gì quan trọng của Giáo Hội (giáo luật số 356).

Chúng ta hãy cầu nguyện nhiều cho các Tân Hồng Y sắp được trao mũ đỏ trong tháng 2 sắp tới đây để các ngài chu toàn nhiệm vụ và trách nhiệm được trao phó để phụ giúp Đức Thánh Cha trong việc cai quản Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ'.

__._,_.___

 
HOC HOI DE SONG DAO # 107 = DONGTEN 400 NAM TAI VN PDF Print E-mail

January 14, 2014

Phóng viên ucanews.com, Việt Nam

Hành trình 400 năm tu sĩ Dòng Tên ở Việt Nam thumbnail
Bức họa tiết về cuộc tử đạo của Chân phước Anrê Phú Yên do họa sĩ người Ý Giacinto Brandi vẽ

Những cử hành đánh dấu kỷ niệm 400 năm các nhà truyền giáo đầu tiên của Dòng Tên đến Việt Nam đã được ấn định khởi đầu bằng Thánh Lễ vào ngày 18 tháng 1, tại Vương Cung Thánh Đường Đức Bà, Sài Gòn.

Để công bố cho sự kiện này, Dòng Tên đã lập trang mạng loanbaotinmung.net.

Linh mục Giuse Phạm Thanh Liêm, Giám Tỉnh Dòng Tên Việt Nam cho biết: Để kỷ niệm sự kiện này các tu sĩ Dòng Tên Việt Nam "sẽ tổ chức Năm Thánh, tổ chức những cuộc hội thảo chuyên đề về truyền giáo và chữ quốc ngữ, tổ chức các cuộc hành hương về quê hương và nơi hành quyết chân phước Anrê Phú Yên."

Anrê Phú Yên là vị Chân Phước tử đạo tiên khởi của Việt Nam, ngài đã từng làm việc với các tu sĩ Dòng Tên thời đó và đã bị giết vào năm 1644. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phong chân phước cho ngài vào năm 2000.

Các tu sĩ Dòng Tên đầu tiên đã đặt chân đến Cửa Hàn, Đà Nẵng, miền trung Việt Nam vào ngày 18/1/1615 để nâng đỡ các Kitô hữu Nhật Bản di tản tránh cuộc bách hại tôn giáo tại Nhật.

Mặc dù không phải là các nhà truyền giáo đầu tiên ở Việt Nam – vì đã có các nhà truyền giáo đầu tiên đến trước đó vào năm 1533 và năm 1550 là các nhà truyền giáo Dòng Đa Minh – nhưng việc đến Việt Nam của các Tu sĩ Dòng Tên có một ý nghĩa cho sự khởi đầu của Giáo Hội Việt Nam và có ảnh hưởng lớn cho nền văn hóa cũng như những đóng góp quan trọng cho lịch sử công cuộc loan báo Tin Mừng.

Mục đích của việc cử hành Năm Thánh này là canh tân đời sống thiêng liêng của các tu sĩ Dòng Tên Việt Nam và tất cả những ai đã đón nhận linh đạo thánh Inhã thành Loyola.

Ước mong của việc canh tân này là cũng cố tinh thần truyền giáo của Giáo Hội Việt Nam, đồng thời giúp các kitô hữu Việt Nam biết một số điều về lịch sử truyền giáo trên quê hương mình.

Linh mục Giuse Liêm nói rằng một phần của Năm Thánh này sẽ là các cuộc hội thảo và diễn đàn nhằm "học biết và cổ võ cách thức loan báo Tin Mừng thích hợp với thế giới và con người ngày nay, qua việc nhìn lại lịch sử Loan Báo Tin Mừng tại quê hương Việt Nam. Những gì chúng ta có thể khám sẽ đưa ra những cách thức tốt hơn cho sứ mạng dấn thân với con người Việt Nam hôm nay."

Linh mục Dòng Tên, Alexandre de Rhodes, công trình của ngài đã giúp La tinh hóa tiếng Việt từ chữ Nôm, được gọi là chữ "Quốc ngữ ".

Trước khi các tu sĩ Dòng Tên đến, những cố gắng đơn lẻ trong việc truyền giáo đã xuất hiện trong suốt thế kỷ XVI. Năm 1533, một giáo sĩ phương Tây tên là "I-Ni-Khu" đến đất nước này, giảng đạo trong khu vực ở Nam Định.

Năm 1550, các tu sĩ Dòng Đa Minh, Luis Fonseca, Gregory La Motte và Gaspar de Santa Cruz từ Malacca đến tỉnh Hà Tiên.

Năm 1580, có thêm bốn tu sĩ Đa Minh từ Philippines đến tỉnh Quảng Nam ở miền Trung Việt Nam. Và 1584, bốn tu sĩ Dòng Phanxicô đến Hà Nội.

Sự xuất hiện của các tu sĩ Dòng Tên tại Việt Nam gồm hai lượt. Lượt đầu tiên tại Cửa Hàn, Đà nẵng gồm hai linh mục – François Busomi và Diego Carvalho – cùng với ba Kitô hữu Nhật Bản.

Các tu sĩ Dòng Tên khác không lâu sau đã đến gia nhập nhóm trên, gồm có các linh mục – François de Pina, Borri Christopho và đặc biệt là Alexandre de Rhodes, người nổi tiếng nhất trong số họ.

Bên cạnh việc đóng vai trò quan trọng trong phát triển chữ Quốc ngữ, thì nỗ lực trước hết của họ được dành để phát triển bộ giáo lý thích hợp cho người Việt.

Năm 1627, linh mục Alexandre de Rhodes chịu trách nhiệm truyền giáo ở Đàng ngoài. Ngài đến tỉnh Thanh Hóa, sau đó thành lập các cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên ở Hà Nội.

Tuy nhiên, với lệnh cấm Kitô giáo vào năm 1629, ngài bị trục xuất đến Macao năm 1630. Ngài trở lại Đàng trong năm 1640, và bị trục xuất lần nữa vào năm 1644.

Năm 1650, cha de Rhodes đề nghị với Thánh Bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide) ở Rôma gửi giám mục đến Việt Nam, đào tạo và truyền chức cho giáo sĩ người Việt bản địa.

Sáng kiến ​​này đã được Tòa Thánh thực hiện khi bổ nhiệm vị Đại Diện Tông Tòa đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1659, là Đức giám mục Pallu, người đứng đầu Giáo Hội mới ở Đàng ngoài, và Đức giám mục Lambert de la Motte, người nhận trách nhiệm lãnh đạo Giáo hội mới ở phía Nam của đất nước sau đó được gọi là Đàng trong.

Các giám mục đầu tiên này là thành viên Hội Thừa Sai Pari mới được thành lập.

 

 
hoc hoi de song dao # 106 =TRAN DAY THANH LINH PDF Print E-mail

Niem Vui Phuc Am - Tran day Than Linh
Tinh Cao

Tông Huấn

NIỀM VUI PHÚC ÂM - GAUDIUM EVANGELII

của

Đức Thánh Cha Phanxicô

ban hành ngày 24/11/2013

Phần Một

Thành phần tác nhân loan truyền Niềm Vui Phúc Âm

(tiếp - 5)

3- Niềm Vui Phúc Âm - một sứ vụ cần phải được tràn đầy Thần Linh mới có thể hoàn thành

(Chương Năm: Thành phần truyền bá phúc âm hóa tràn đầy Thần Linh; Mục I: Những lý do cho một động lực truyền giáo mới)

259- Thành phần truyền bá phúc âm hóa tràn đầy thần linh nghĩa là thành phần truyền bá phúc âm hóa hiên ngang cởi mở cho hoạt động của Thánh Linh ... Chúa Giêsu muốn thành phần truyền bá phúc âm hóa loan báo tin mừng chẳng những bằng lời nói mà trên hết bằng một đời sống được biến đổi bởi sự hiện diện của Thiên Chúa.

264- Lý do chính yếu cho việc truyền bá phúc âm hóa đó là tình yêu của Chúa Giêsu mà chúng ta đã lãnh nhận, một cảm nghiệm về ơn cứu độ là những gì thôi thúc chúng ta càng yêu mến Người hơn nữa....

265- Tất cả đời sống của Chúa Giêsu, đường lối Người đối xứ với người nghèo, các hành động của Người, tính chất nguyên tuyền của Người, các tác động quảng đại giản dị hằng ngày của Người, và sau cùng là việc Người hoàn toàn hy hiến bản thân mình, là những gì quí báu và cho thấy mầu nhiệm sự sống thần linh của Người... "Nhà truyền giáo tin tưởng rằng, nhờ hoạt động của Thần Linh, vẫn hiện hữu nơi cá nhân cũng như dân chúng một niềm mong đợi, cho dù là niềm mong đợi thiếu ý thức, trong việc nhận biết sự thật về Thiên Chúa, và về cách thức làm sao chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết. Lòng nhiệt thành của nhà truyền giáo trong việc loan truyền Chúa Kitô xuất phát từ niềm xác tín rằng Người đang đáp ứng niềm mong đợi ấy" [John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio (7 December 1990), 45: AAS 83 (1991), 292.]

268- ... Để trở thành những viên truyền bá phúc âm hóa các linh hồn, chúng ta cần khai triển một thứ vị giác thiêng liêng về việc gần với đời sống của dân chúng cũng như cần phải khám phá ra rằng đó chính việc làm này là một nguồn vui hơn nữa. Sứ vụ truyền giáo vừa là một thứ say mê đối với Chúa Giêsu và là một thứ say mê đối với dân của Người...

269- ... Chính Chúa Giêsu là mô phạm của phương pháp truyền giáo này, một phương pháp đưa chúng ta đến chính tâm can của dân chúng. Tốt đẹp biết bao khi chúng ta chiêm ngưỡng thấy sự gần gũi Người tỏ ra đối với hết mọi người! Khi nói với ai thì Người ưu ái quan tâm nhìn vào mắt của họ: "Chúa Giêsu trìu mến nhìn anh ta, tỏ lòng ưu ái với anh ta" (Mk 10:21) ... Được đánh động bởi gương của Người, chúng ta tiến vào tầng lớp xã hội một cách trọn vẹn, bằng cách chia sẻ với đời sống của tất cả mọi người, bằng việc lắng nghe các quan tâm của họ, bằng việc giúp đỡ các nhu cầu về thể lý và thiêng liêng của họ, bằng việc vui với người vui khóc với người khóc; chung tay góp sức với nhau chúng ta dấn thân xây dựng một thế giới mới. ...

270- Đôi khi chúng ta thiên về một loại Kitô hữu giữ trong vòng tay mình các thương tích của Chúa. Thế nhưng Chúa Giêsu lại muốn chúng ta đụng chạm tới nỗi khốn cùng của nhân loại, đụng chạm tới xác thịt khổ đau của người khác. Người hy vọng rằng chúng ta sẽ thôi tìm kiếm các thứ hốc tường chung hay riêng là nơi có thể che khuất chúng ta khỏi vũng xoáy bất hạnh của con người, thay vào đó, tiến vào thực tại của đời sống dân chúng và biết được cái quyền lực của sự dịu dàng. Bất cứ khi nào chúng ta làm như thế thì đời sống của chúng ta trở thành phức hợp diệu vợi và chúng ta mạnh mẽ cảm thấy đâu là quần chúng, thuộc về quần chúng.

272- ... Nếu chúng ta thăng tiến trên đời sống thiêng liêng, thì chúng ta cần phải liên lỉ là thành phần thừa sai. Công việc truyền bá phúc âm hóa là những gì làm phong phú trí khôn và cõi lòng; nó làm cho chúng ta nhậy cảm mỗi ngày một hơn với các hoạt động của Thánh Linh, và nó mang chúng ta vượt ra ngoài những cấu trúc thiêng liêng hữu hạn của chúng ta ...

273- Sứ vụ truyền giáo của tôi nơi cõi lòng của dân chúng không phải chỉ là một phần đời của tôi hay chỉ là một thứ phù hiệu tôi có thể tháo cởi; nó không phải là một "thứ thêm thắt" hay chỉ là một lúc nào đó trong đời. Trái lại, nó là một cái gì đó tôi không thể nào làm bật gốc nó khỏi con người của tôi mà không hủy hoại chính bản thân tôi. Tôi là một sứ vụ (I am a mission) ở trên mặt đất này; đó là lý do tại sao tôi ở trên thế gian này...

275- Một số người không dấn thân cho sứ vụ truyền giáo là vì họ nghĩ rằng chẳng có gì sẽ đổi thay đâu nên cố gắng làm gì cho mất công. Họ nghĩ rằng: "Tại sao tôi lại phải tự bỏ đi những thoải mái và vui thú nếu tôi không thấy bất cứ một thành quả đáng kể nào chứ?" Thái độ này khiến họ không thể nào trở thành một nhà truyền giáo. Nó chỉ là một thứ che đậy độc địa để bám víu lấy những gì là thoải mái, biếng nhác, những bất mãn mơ hồ và cái vị kỷ trống rỗng. Nó là một thái dộ tự hủy, bởi vì "con người không thể sống mà không hy vọng: đời sống sẽ trở nên vô nghĩa và bất khả chịu đựng" (Second Special Assembly for Europe of the Synod of Bishops, Final Message, 1: L'Osservatore Romano, Weekly English-language edition, 27 October 1999, 5). ....

276- Cuộc phục sinh của Chúa Kitô không phải là một biến cố thuộc về quá khứ; nó chất chứa một quyền lực sống động đã thấm nhập vào thế giới này. Ở nơi đâu mà tất cả mọi sự dường như chết đi thì các dấu hiệu của sự phục sinh đột nhiên bừng nở. Nó là một thứ quyền lực bất khả chống cưỡng. Thường thì dường như Thiên Chúa không hiện hữu, ở chỗ tất cả mọi sự xẩy ra chung quanh mình chúng ta thầy toàn là bất công, sự dữ, lạnh lùng và tàn ác. Thế nhưng cũng rất thật nữa đó là ở giữa tăm tối thì một cái gì đó mới mẻ luôn xuất hiện cho đời, để rồi không sớm thì muộn sẽ sinh hoa kết trái. Sự sống nẩy lên ở một mảnh đất bị phá trơ trụi, một cách gan lì nhưng bất khả bại. Cho dù các thứ có đen tối đến đâu chăng nữa thì sự thiện bao giờ cũng tái diễn và lan tràn. Vẻ mỹ lệ được tái sinh từng ngày trên thế giới chúng ta đây, nó được biến đổi vươn lên qua các cơn bão tố lịch sử. Các thứ giá trị bao giờ cũng có khuynh hướng tái diễn dưới những dáng vẻ mới, và nhân loại từ thời này đến thời kia đã vươn lên khỏi những tình trạng dường như đã bị tàn tạ. Quyền lực của phục sinh là thế đó, và tất cả những ai truyền bá phúc âm hóa đều là dụng cụ của quyền lực ấy.

280- Việc giữ làm sao cho nhiệt tình truyền giáo của chúng ta sống động cần phải mạnh mẽ tin tưởng vào Thánh Linh, vì chính Ngài là Đấng "giúp chúng ta nơi nỗi yếu hèn của chúng ta" (Rm 8:26). Thế nhưng lòng tin tưởng lớn lao này cần phải được nuôi dưỡng, và vì thế chúng ta cần liên lỉ kêu xin Thần Linh. Ngài có thể chữa lành bất cứ những gì khiến chúng ta suy yếu đi nhiệt tình truyền giáo. Quả thực niềm tin tưởng vào đấng vô hình này có thể khiến cho chúng ta cảm thấy lạc hướng làm sao ấy: nó giống như bị nhận chìm xuống thẳm sâu và không biết đâu là những gì chúng ta tìm kiếm. Chính tôi cũng thường cảm nghiệm thấy điều này. Tuy nhiên, không còn tự do nào hơn là thứ tự do để cho mình được hướng dẫn bởi Thánh Linh, bỏ đi cái nỗ lực phác họa và kiểm soát hết mọi sự từng ly từng tí, trái lại, hãy để cho Ngài soi sáng, hướng dẫn và điều khiển chúng ta, dẫn chúng ta đến bất cứ nơi nào Ngài muốn. Thánh Linh biết rõ những gì cần thiết ở mọi lúc và mọi nơi. Đó là ý nghĩa của việc diệu huyền trổ sinh hoa trái vậy!

285- Chúa Giêsu lưu lại cho chúng ta Mẹ của Người để trở nên Mẹ của chúng ta. Chỉ sau khi làm thế Chúa Giêsu mới phán "mọi sự đã hoàn tất" (Jn 19:28). Dước chân thập tự giá, vào thời điểm tột đỉnh của việc tân tạo, Chúa Kitô đã dẫn chúng ta đến với Mẹ Maria. Người mang chúng ta lại cùng Mẹ vì Người không muốn chúng ta hành trình mà lại thiếu mẹ, và dân của chúng ta đọc thấy nơi hình ảnh mẫu thân này tất cả mọi mầu nhiệm của Phúc Âm. Chúa không muốn xa rời Giáo Hội mà lại thiếu vắng hình ảnh của vai trò người nữ này. Mẹ Maria, vị đã mang Người vào trần gian bằng một đức tin cao cả, cũng đồng hành với "phần giòng dõi còn lại của mình, những người tuân giữ mệnh lệnh của Thiên Chúa và làm chứng cho Chúa Giêsu" (Rev 12:17). Mối liên hệ chặt chẽ giữa Mẹ Maria, Giáo Hội và từng phần tử tín hữu, căn cứ vào sự kiện là mỗi phần hạ sinh Chúa Giêsu theo kiểu cách của mình, đã được Chân Phước Isaac Stella tuyệt vời diễn tả như sau: "Trong các Sách Thánh được linh ứng, những gì nói theo nghĩa phổ quát về người mẹ đồng trinh là Giáo Hội thì cũng được hiểu theo nghĩa cá thể về Trinh Nữ Maria... Một cách nào đó hết mọi Kitô hữu cũng được tin là hôn thê của lời Chúa, mẹ của Đức Kitô, nữ rử và chị em của Người, vừa trinh trắng vừa sinh sản... Chúa Kitô chín tháng đã ở trong nhà tạm là cung dạ của Mẹ Maria. Người cư ngụ cho đến tận thế nơi nhà tạm là đức tin của Giáo Hội. Người sẽ cư ngụ muôn đời nơi sự nhận biết và tình yêu của từng linh hồn tín hữu" (Isaac of Stella, Sermo 51: PL 194, 1863, 1865).

288- Có một "kiểu cách" Thánh Mẫu cho công cuộc truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội. Bất cứ ở đâu chúng ta nhìn vào Mẹ Maria, chúng ta tiến đến chỗ tin tưởng một lần nữa vào bản chất cách mạng của tình yêu và sự dịu dàng. Nơi Mẹ, chúng ta thấy rằng lòng khiêm nhượng và nỗi dịu dàng không phải là các nhân đức của người hèn yếu mà là của kẻ mạnh, thành phần không cần phải đối xử tàn tệ với người khác để tỏ ra quan trọng hóa bản thân mình. Khi chiêm ngưỡng Mẹ Maria, chúng ta nhận thấy rằng Mẹ là người đã chúc tụng Thiên Chúa vì Ngài "hạ kẻ quyền thế xuống khỏi ngai tòa của họ" và "biến người giầu có trở thành tay không" (Lk 1:52-53) cũng là Đấng mang lại hơi ấm gia đình cho việc theo đuổi công lý của chúng ta. Mẹ cũng là vị cẩn thận lưu giữ "tất cả những sự ấy mà suy niệm chúng trong lòng" (Lk 2:19). Mẹ Maria có thể nhận ra những dấu vết Thần Linh của Thiên Chúa nơi các biến cố lớn nhỏ. Mẹ liên lỉ chiêm ngưỡng mầu nhiệm của Thiên Chúa trên thế gian này, trong lịch sử loài người và trong đời sống hằng ngày của chúng ta. Mẹ là người nữ của nguyện cầu và làm việc ở Nazarét, và Mẹ cũng là Đức Bà Cứu Giúp, vị đã "vội vã" bỏ nhà lên đường (Lk 1:39) để phục vụ người khác. Việc tác động lẫn nhau giữa công lý và nỗi dịu dàng, giữa chiêm niệm và mối quan tâm cho kẻ khác, là những gì khiến cộng đồng giáo hội nhìn lên Mẹ Maria như là một mẫu gương của việc truyền bá phúc âm hóa. Chúng ta van xin lời chuyển cầu từ mẫu của Mẹ để Giáo Hội được trở nên một ngôi nhà cho nhiều người, một người mẹ cho tất cả mọi người, và để mở đường cho việc hạ sinh của một thế giới mới. Chính Chúa Kitô Phục Sinh là Đấng đã nói với chúng ta, bằng một quyền lực làm cho chúng ta tràn đầy tin tưởng và niềm hy vọng không lay chuyển rằng: "Này đây, Ta canh tân tất cả mọi sự" (Rev 21:5).

(còn tiếp)

 
HOC HOI DE SONG DAO # 105 = NIEM VUI PHUC AM PDF Print E-mail

Tông Huấn

NIỀM VUI PHÚC ÂM - GAUDIUM EVANGELII

của

Đức Thánh Cha Phanxicô

ban hành ngày 24/11/2013

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

phân tích, tuyển hợp và chuyển dịch

http://www.vatican.va/holy_father/francesco/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium_en.html.

Phần Một

Thành phần tác nhân loan truyền Niềm Vui Phúc Âm

(tiếp - 4)

2- Niềm Vui Phúc Âm - một sứ vụ bất khả thiếu và bất khả châm chước của Kitô hữu

(Chương Ba: Việc loan báo Phúc Âm; Mục I: Toàn Thể Dân Chúa loan báo Phúc Âm; Mục II: Bài Giảng - từ đoạn 135. Biệt chú: dường như chưa có một văn kiện nào của Đức Thánh Cha từ trước tới nay lại nói vừa dài vừa kỹ về vấn đề Bài Giảng và Soạn Giảng như trong Tông Huấn này, một vấn đề liên quan đến cả giảng thuyết viên lẫn cách thức giảng, bao gồm cả ngôn từ và hành vi cử chỉ v.v. Có những chỗ liên quan đến giảng thuyết viên, như ở dưới đây, trong phần đầu về tác nhân truyền bá phúc âm hóa, và có những chỗ liên quan đến chính bài giảng và soạn giảng là những gì thuộc về đường lối mới truyền bá phúc âm hóa thuộc phần thứ hai)

111- Việc truyền bá phúc âm hóa là công việc của Giáo Hội. Giáo Hội, với tư cách là một tác nhân của việc truyền bá phúc âm hóa, không phải chỉ là một tổ chức về cơ cấu và phẩm trật; trước hết và trên hết Giáo Hội là một dân đang tiến bước trên con đường hành trình về với Thiên Chúa...

112- Ơn cứu độ Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta là công cuộc của tình Ngài xót thương...

114- ... Giáo Hội cần phải trở thành một nơi của tình thương được tự do trao tặng, là nơi hết mọi người đều cảm thấy được đón nhận, yêu thương, tha thứ và phấn khích để sống một đời sống tốt lành của Phúc Âm.

120- Bởi phép rửa của mình, tất cả mọi phần tử thuộc Dân Chúa đã trở thành môn đệ thừa sai (cf Mt 28:19). Tất cả mọi người đã lãnh nhận phép rửa, ở bất cứ vị thế nào trong Giáo Hội hay ở bất cứ tầm mức kiến thức nào về đức tin của mình, đều là tác nhân của việc truyền bá phúc âm hóa, và thật là thiếu sót khi phác họa dự án truyền bá phúc âm hóa được thực hiện bởi các chuyên viên trong khi phần tín hữu còn lại chỉ là thành phần lãnh nhận thụ động. Việc tân truyền bá phúc âm hóa cần đến chuyện cá nhân tham gia về phía mỗi một người đã lãnh nhận phép rửa.... Hết mọi Kitô hữu đều là một vị thừa sai ở chỗ họ đã gặp gỡ tình yêu của Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô: chúng ta không còn nói rằng chúng ta là 'môn đệ' và là 'thừa sai', trái lại, chúng ta bao giờ cũng là 'môn đề thừa sai'. Nếu chúng ta vẫn chưa chịu thì hãy quan sát những môn đệ tiên khởi, thành phần ngay sau khi gặp gỡ ánh mắt của Chúa Giêsu liền hân hoan đi loan báo về Người: 'Chúng tôi đã gặp Đấng Thiên Sai' (Gioan 1;41). Người phụ nữ Samaritanô đã trở thành một nhà thừa sai ngay sau khi nói chuyện với Chúa Giêsu, và nhiều người Samaria đã tin vào Người 'vì chứng từ của người đàn bà này' (Gioan 4:39). Thánh Phaolô cũng thế, sau cuộc khi ngài gặp gỡ Đức Giêsu Kitô, 'liền loan truyền Chúa Giêsu' (Acts 9:20;cf 22:6-21). Vậy thì chúng ta còn chờ đợi gì chứ?

121- Tình trạng chưa trọn lành không được trở thành lý do từ chối; trái lại, sứ vụ truyền giáo là một kích tố liên tục không cho phép được tiếp tục sống tầm thường, trái lại phải tiếp tục tăng trưởng. Chứng từ đức tin mà mỗi một Kitô hữu được kêu gọi cống hiến dẫn chúng ta đến chỗ cùng với Thánh Phaolô mà rằng: 'Không phải tôi đã đạt tới điều ấy hay đã trọn hảo; thế nhưng tôi đang theo đuổi để chiếm lấy nó, vì Đức Giêsu Kitô đã biến tôi thành của Người' (Phil 3:12-13).

127- ... Là một người môn đệ có nghĩa là liên lỉ sẵn sàng mang tình yêu thương của Chúa Giêsu đến cho người khác, và điều này có thể xẩy ra bất ngờ và ở bất cứ nơi đâu: trên đường phố, ở công viên thành phố, trong khi làm việc, trong một cuộc hành trình.

135- ... Bài giảng là tiêu chuẩn thẩm định một vị mục tử có gần gũi và với dân chúng và có khả năng truyền đạt cho dân chúng hay chăng....

145- ... Một vị giảng thuyết không soạn dọn thì chẳng có gì là "thiêng liêng"; họ không trung thực và vô trách nhiệm với các tặng ân đã lãnh nhận.

149- Vị giảng thuyết "trước hết cần phải phát triển tính chất thật quen thuộc riêng tư với lời Chúa. Kiến thức về những khía cạnh ngôn ngữ học hay chú giải cho dù cần thiết vẫn không đủ... "Mức độ thánh thiện hơn kém của thừa tác viên mới có tác dụng thực sự nơi việc loan truyền lời Chúa" [John Paul II, Post-Synodal Apostolic Exhortation Pastores Dabo Vobis (25 March 1992), 25: AAS 84 (1992), 696].... Các bài đọc Chúa Nhật sẽ tỏa rạng hết sức rạng ngời nơi tâm can của tín hữu nếu trước hết chúng diễn ra như thế ở tâm hồn của vị mục tử.

150- Ai muốn giảng dạy thì cần phải là người đầu tiên để cho lời Chúa sâu xa tác động mình và để cho lời Ngài trở thành hiện thực trong đời sống hằng ngày của họ. Có thế thì việc giảng dạy mới nhất trí nơi hoạt động này, một việc giảng dạy rất mạnh mẽ và hiệu quả, đó là "truyền đạt cho người khác những gì mình đã chiêm ngắm" (Saint Thomas Aquinas, S. Th. II-II, q. 188, a. 6.). Vì tất cả những lý do đó mà trước khi soạn dọn những gì chúng ta thực sự nói khi giảng dạy, chúng ta cần để cho mình được thấm nhiễm những lời cũng sẽ thấm nhiễm người khác, vì nó là lời sống động và linh động, như một lươi gươm "xuyên cách hồn thiêng với tâm linh, xương tủy, và thấy rõ được những ý nghĩ và ý hướng của tâm can" (Heb 4:12).

151- Nếu họ không có giờ để cởi mở nghe lời Chúa, nếu họ không để cho lời Chúa chạm đến đời sống của họ, thách đố họ, thúc đẩy họ, và nếu họ không dành giờ để cầu nguyện theo lời Chúa, thì họ thực sự sẽ trở thành một ngụy ngôn sứ, một thứ lường gạt, một kẻ mạo danh nông cạn. Thế nhưng, bằng việc nhìn nhận tình trạng bần cùng của mình và mong muốn gia tăng trong việc dấn thân, thì họ bao giờ cũng có thể bỏ mình cho Chúa Kitô, lập lại lời của Thánh Phêrô: "Tôi chẳng có vàng bạc nhưng cái tôi có thì tôi hiến tặng cho anh" (Acts 3:6). Chúa muốn sử dụng chúng ta như là những con người sống động, tự do và sáng tạo, để cho lời của Người tiến vào tâm hồn của chúng ta trước khi truyền đạt sang cho người khác. Sứ điệp của Chúa Kitô cần phải thực sự thẩm thấu và chiếm hữu vị giảng thuyết, không phải chỉ về tri thức mà là toàn thể con người của họ.

153- Trước nhan Thiên Chúa, trong trầm tư xem bài đọc, cần phải đặt vấn đề, chẳng hạn, "Lạy Chúa, bài đọc này nói gì với con đây? Qua bài đọc này Chúa muốn đời sống của con thay đổi ra sao? Cái gì trong bài đọc làm tôi cảm thấy không ổn? Tại sao tôi không hào hứng gì nơi bài đọc này? Hay cũng có thể đặt vấn đề: Tôi cảm thấy hứng thú gì ở bài đọc ấy? Lời Chúa tác động nơi tôi những gì? Đâu là cái thu hút tôi? Tại sao nó lại lôi cuốn tôi?" Khi chúng ta cố gắng lắng nghe Chúa thì những chước cám dỗ thường xẩy ra. Một trong các chước cám dỗ đó là chỉ cảm thấy bất ổn hay nặng nề và muốn tránh né đi. Một chước cám dỗ thông thường nữa đó là nghĩ về ý nghĩa của bài đọc là để cho người khác, và vì vậy không áp dụng nó vào đời sống của chúng ta. Cũng có thể xẩy ra trường hợp là chúng ta tìm cách xóa bỏ ý nghĩa rõ ràng của bài đọc. Hay chúng ta có thể ngẫm nghĩ rằng Thiên Chúa dòi hỏi chúng ta quá nhiều, yêu cầu một quyết định mà chúng ta chưa sẵn sàng thực hiện. Điều này dẫn nhiều người đến chỗ thôi không thích gặp gỡ lời Chúa nữa; thế nhưng như vậy có nghĩa là chúng ta quên rằng không ai nhẫn nại bằng Thiên Chúa là Cha của chúng ta, không ai thông cảm và muốn đợi chờ hơn Ngài. Ngài luôn mời gọi chúng ta hãy bước từng bước một, chứ không đòi hỏi một đáp ứng trọn vẹn nếu chúng ta chưa sẵn sàng. Ngài chỉ yêu cầu chúng ta thành thật nhìn vào cuộc đời của chúng ta và chân tình ra trình diện trước nhan Ngài, và chúng ta muốn tiếp tục tăng triển, xin Ngài những gì chính chúng ta chưa thể đạt được.

154- Một vị giảng dạy cần phải chiêm niệm lời Chúa, nhưng đồng thời cũng phải chiêm ngắm con người nữa... Họ cần phải làm sao có thể liên kết sứ điệp của một bài đọc thánh kinh với hoàn cảnh của con người, với một thứ cảm nghiệm cần đến ánh sáng của lời Chúa... Những gì chúng ta cần tìm kiếm đó là "những gì Chúa cần phải nói ở trường hợp đặc biệt này nọ" [Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi (8 December 1975), 43: AAS 68 (1976), 33.]

155- ... Chúng ta cũng nên nhớ rằng chúng ta không bao giờ trả lời cho những vấn nạn không ai hỏi tới. Hay được cho rằng thích hợp để nói về các tin tức mới nhất hầu gây hứng cho dân chúng; chúng ta đã có các chương trình truyền hình về vấn đề ấy rồi. Tuy nhiên, vẫn có thể bắt đầu bằng một số sự kiện hay truyện trò để lời Chúa có thể âm vang một cách mạnh mẽ nơi việc kêu gọi hoán cải của lời này, kêu gọi tôn thờ, kêu gọi dấn thân cho tình huynh đệ và việc phục vụ v.v. Tuy nhiên, bao giờ cũng có một số người muốn lắng nghe những nhận định của vị giảng thuyết về các sự việc đang xẩy ra, trong khi đó họ lại không muốn mình bị rắc rối.

(còn tiếp)

 
<< Start < Prev 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Next > End >>

Page 82 of 113