mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4099
mod_vvisit_counterHôm Qua6358
mod_vvisit_counterTuần Này10457
mod_vvisit_counterTuần Trước58891
mod_vvisit_counterTháng Này155368
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10659624

We have: 124 guests online
Your IP: 54.198.134.104
 , 
Today: Apr 23, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 159 = AN SUNG THANH LE PDF Print E-mail

>>> ƠN SỦNG KHI THAM DỰ THÁNH LỄ
>>>
>>> 1. Thánh Lễ là biến cố Cal-vê nối dài.
>>> 2. Mỗi Thánh Lễ đáng giá như cuộc hiến tế sự sống, sự đau khổ và sự chết của Chúa chúng ta.
>>> 3. Thánh Lễ là sự đền tội lỗi của chúng ta mạnh mẽ nhất.
>>> 4. Trong giờ chết, những Thánh Lễ mà chúng ta đã dự sẽ là sự an ủi lớn nhất của chúng ta.
>>> 5. Mỗi Thánh Lễ sẽ theo chúng ta tới tòa phán xét và xin xá tội cho chúng ta.
>>> 6. Tuỳ theo lòng sốt mến, Thánh Lễ có thể làm giãm nhiều hay ít hình phạt tạm do những tội lỗi của chúng ta.
>>> 7. Khi tham dự Thánh Lễ với hết tâm tình, chúng ta mang lại cho nhân loại của Chúa một của Dâng cao nhất.
>>> 8. Ngài sẽ bù đáp cho chúng ta những gì chúng ta sơ suất và thiếu xót.
>>> 9. Ngài sẽ tha thứ những tội nhẹ mà chúng ta chưa xưng. Quyền lực của Satan trên chúng ta sẽ được giãm thiểu.
>>> 10. Chúng ta có thể giúp giãi thoát cho các linh hồn nơi luyện ngục một cách hữu hiệu nhất.
>>> 11. Một Thánh Lễ chúng ta tham dự khi còn sống mang lại ơn ích nhiều lần hơn nhiều Thánh Lễ dâng cho chúng ta sau khi chết.
>>> 12. Chúng ta được bảo vệ khỏi những nguy hiểm và bất hạnh có thể xảy đến cho chúng ta. Chúng ta sẽ được giãm bớt thời gian nơi lữa luyện tội.
>>> 13. Mỗi Thánh Lễ nâng vị trí chúng ta lên cao hơn trên Thiên Ðàng.
>>> 14. Chúng ta nhận lãnh phúc lành của Chúa từ Thiên Ðàng thông ban qua vị linh mục.
>>> 15. Chúng ta quỳ giữa vô số thiên Thần tôn kính thờ lạy Hy Lễ.
>>> 16. Chúng ta được chúc lành về vật chất và công việc làm trong đời sống tại thế.
>>>
>>> (Vì lợi ích cho đời sống vĩnh cửu, chúng ta nên nhận thức tuyệt đối rằng tham dự Thánh Lễ mỗi ngày là việc rất nên đáng làm.)
>>> Tại sao ta phải đi dự Thánh Lễ mỗi ngày?'Thánh Lễ là một thể thức cầu nguyện tuyệt hảo nhất!'(Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI)
>>>
>>> - Mỗi Thánh Lễ mà chúng ta tham dự với lòng sùng kính, Chúa sẽ ban cho chúng ta một vị Thánh để an ủi chúng ta trong giờ lâm tử.
>>> (Chúa Giêsu mặc khải với Thánh Gertrude Cả)
>>>
>>> - Thánh Padre Pio, một linh mục được mang dấu Thánh Chúa, nói rằng: "Mỗi Thánh Lễ chúng ta tham dự với lòng sốt mến sẽ tạo trong linh hồn chúng ta những hiệu quả kỳ diệu, những ân sủng tâm linh và vật chất dư đầy mà chúng ta không biết. Trái đất này có thể tồn tại dễ dàng nếu không có mặt trời hơn là không có Thánh Lễ."
>>> - Thánh Gioan Vianney nói, "nếu chúng ta biết được giá trị của Thánh Lễ chúng ta có thể chết vì sung sướng."
>>> - Một tiến sĩ Hội Thánh, Thánh Anselm, tuyên bố rằng: "Một Thánh Lễ dâng cho một người khi họ còn sống thì đáng giá hơn gấp ngàn lần Thánh Lễ cùng ý chỉ đó dâng cho họ sau khi họ qua đời." Thánh Leonard của Port Maurice cũng đồng ý với câu đó đã nói rằng: "Một Thánh Lễ trước khi chết thì sinh nhiều ơn ích hơn là nhiều Thánh Lễ dâng sau khi chết."
>>>
>>> - "Thánh Lễ sẽ mang lại nhiều ơn ích nếu người ta dâng lên khi họ còn sống hơn là Thánh Lễ dâng lên để cầu cho linh hồn họ khi họ đã qua đời."
>>> (Ðức Giáo Hoàng Benedict XV)
>>>
>>> - Một lần nọ, Thánhh Theresa được tràn đày ơn Chúa, đã hỏi Chúa, "Con phải làm gì để cảm tạ Ngài?" Chúa đáp: "Hãy tham dự một Thánh Lễ."
>>> - Có một lần Ðức Mẹ nói với Alain một tôi tớ đầy trung thành: "Ðấng Con của Mẹ rất yêu mến những ai tham dự Hy Tế trong Thánh Lễ, nếu cần Ngài sẽ chết cho họ thêm bấy nhiêu lần mà họ đi tham dự Thánh Lễ."
>>> (trang 107, đoạn cuối của 'explication Du Saint Sacrifice De La Messe' parle R.P. Martin de Cochem Friere - Mineur Capuchin)
>>>
>>> Lời Khuyên về Cách Cầu nguyện
>>>
>>> Lời cầu nguyện của bạn mạnh mẽ nhất là lúc truyền phép Thánh hóa bánh và rượu trong Thánh Lễ. (Nâng Bánh và Chén Thánh)
>>> Mỗi lần chúng ta nhìn ngắm Bí Tích Thánh Thể, thì địa vị của chúng ta trên Thiên Ðàng cũng được nâng lên mãi. (Chúa đã mặc khải cho Thánh Nữ Gertrude Cả)
>>>
>>> thanhcavn.net
>>>

 
HOC HOI DE SONG DAO # 159 = CAU NGUYEN LA GI ? PDF Print E-mail

CẦU NGUYỆN LÀ GÌ, VÀ CẦU NGUYỆN CÁCH NÀO CHO ĐƯỢC ĐẸP LÒNG CHÚA ?
Đây là câu hỏi cần được trả lời dưới ánh sáng của đức tin lành mạnh.
Đúng thế, trước hết phải nói lại rằng cầu nguyện là một nhu cầu tối thiết , không thể thiếu được trong đời sống của người tín hữu nói riêng và của Giáo Hội nói chung, vì chỉ có cầu nguyện mới đem ta lại gần Thiên Chúa, là Cha nhân từ đầy yêu thương và " muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1Tm 2: 4)
Hơn thế nữa, cầu nguyện cũng để nói lên niềm tin có Chúa là Cha nhân từ, luôn lắng nghe mọi lời con cái loài người cầu xin và rộng lòng ban ơn cứu giúp, mặc dù không ai có công trạng hay xứng đáng khiến Chúa phải ban ơn đền bù. .Do đó, dù không xem thấy Chúa bắng con mắt trần tục , nhưng càng siêng năng cầu nguyện thì càng gia tăng niềm tin yêu Chúa, yêu tha nhân và dễ xa lánh tội lỗi, do ma quỷ xúi dục và gương xấu dịp tội đầy rẫy trong môi trường xã hội.
Trong cầu nguyện có phần cầu xin ( petition) để qua đó chúng ta xin Chúa ban cho những ơn cần thiết hầu giúp cho sự thăng tiến siêu nhiên và cho những nhu cầu chính đáng của thân xác như có công ăn việc làm tốt để nuôi sống bản thân và gia đình, có sức khỏe tốt để sống và làm việc v.v
Chính vì sự cần thiết phải cầu nguyện và cầu xin mà Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa như sau:
" Thầy lá cây nho, anh em là cành
Ai ở lại trong Thầy
Và Thầy ở lại trong người ấy
Thì người ấy sinh nhiều hoa trái
Vì không có Thầy
Anh em chẳng làm gì được." ( Ga 15: 5)
" Không có Thầy anh em chẳng làm gì được" có nghiã là nếu không có ơn Chúa phù giúp thì ta chẳng làm được gì hứu ích cho phần rỗi của mình, cũng như có đủ sức để vượt qua mọi khó khăn, gian nan thử thách để sống vui sống khỏe trong trần thế này.
Như vậy , cầu xin Chúa cho được bình an, có công ăn việc làm tốt, và có sức khỏe để sống và làm việc là điều chính đáng không có gì phải chê trách.
Liên quan đến đến việc chữa lành cho khỏi bệnh tật, chúng ta nhớ ngay đến việc Chúa Giêsu, khi đi rao giảng Tin Mừng cứu độ, cũng đã chữa lành cho biết bao người phong cùi, câm điếc, mù què và bị quỷ ám, cũng như làm phép lạ để hóa bánh và cá ra nhiều cho hàng ngàn người đói ăn no nê. Chúa chữa lành cho các bệnh nhân nan y để nói lên Người là Thiên Chúa và có thể làm những việc con người không thể làm được như chữa lành cho những người đui mù, câm điếc và phong cùi, là những bệnh nan y mà ngày nay y khoa tân tiến cũng phải bó tay, nói chi cách nay trên 2000 năm. Chúa chữa cho họ được lành cũng để nói lên lòng thương xót, cảm thông nỗi đau khổ của những người kém may mắn đó.
Tuy nhiên, mục đích của Chúa đến trần gian không phải chỉ để chữa lành cho thân xác con người mà chủ yếu là để chữa lành cho tâm hồn của cả nhân loại đang bị vi trùng tội lỗi đục phá và đe dọa cho sự sống của linh hồn. Và đây chính là lý do khiến Chúa Giêsu đã hạ mình từ trời cao xuống trần gian làm Con Người để " hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người ." ( Mt 20: 28)
Đó là lý do tại sao Chúa đã không gọi và gom tất cả những ai bị bệnh tật trong thân xác đến để chữa lành hết cho họ mà chỉ chữa tượng trưng cho một số nào mà thôi, trong khi Người dành phần lớn thì giờ trong ba năm công khai rao giảng Tin Mừng Cứu độ để kêu gọi mọi người hãy " sàm hối và tin vào Tin Mừng" ( Mc 1 : 15) và hãy đi " qua cửa hẹp mà vào vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến giệt vong mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống , nhưng ít người tìm được lối ấy." ( Mt 7 : 13-14)
" Vào qua cửa hẹp và đường chật " có nghĩa là phải khép mình chống lại những khuynh hướng xấu còn tồn tại trong bản năng để yêu mến Chúa trên hết mọi sự và xa tránh tội lỗi vì chỉ có tội mới có thể làm cho con người phải chết đời đời, vì xa cách Thiên Chúa là nguồn an vui , hạnh phúc vĩnh cửu.
Do đó, chúng ta cần ơn Chúa để thực thi những gì Người đã rao giảng hầu được cứu độ như lòng Chúa mong muốn. Như thế, cầu nguyện là nhu cầu tốt cần thiết cho mọi người tín hữu muốn thêm lòng yêu mến Chúa và có đủ sức để sống đức tin , đức cậy và đức mến cách nồng nàn bao lâu còn sống trên trần gian này. Và như đã nói ở trên, cầu xin là một phần quan trọng của cầu nguyện. Nhưng khi cầu xin Chúa ban cho bất cứ ơn gì thì chúng ta phải noi gương Chúa Kitô, khi Người cầu xin cùng Chúa Cha trước giờ bị trao nộp và tử nạn như sau:
" Lậy Cha, nếu Cha muốn, xin cho Con khỏi uống chén này.Tuy vậy, đừng làm
Theo ý con, mà xin theo ý Cha." ( Lc 22: 42; Mt 26 : 39; Mc 14: 36)
Mặt khác, Chúa Giêsu cũng dạy các Tông Đồ xưa và tất cả chúng ta ngày nay phải cầu xin Chúa Cha nhân danh Chúa Con như sau :
" Thật Thầy bảo thật anh em: anh em mà xin Chúa Cha điều gì
Thì Người sẽ ban cho anh em nhân danh Thầy. " ( Ga 16: 23)
Như thế, cầu nguyện và cầu xin theo ý Chúa Cha, nhân danh Chúa Con là cách cầu nguyện đẹp lòng Chúa Cha và chắc chắn được Người ban ơn cho ta. Tuy nhiên, khi cầu xin bất cứ ơn gì, ta phải tránh hai thái cực sau đây:
1- Trông cậy Chúa cách thái quá hay mù quáng.
Thí dụ như không thận trọng lái xe mà cứ tin có Chúa che chở để lơ là khiến xẩy ra tai nạn. Xin Chúa gìn giữ che chở khi đi đường là điều tốt , nhưng về phần mình vẫn phải cố gắng lái xe cho cẩn thận, tuân giữ luật lưu thông để tránh tai nạn cho mình và cho người khác. Cũng vậy, không thể trông cậy có Chúa che chở để không đóng cửa nhà hay khóa xe cẩn thận khiến kẻ gian có thể đột nhập ăn trộm và giết hại chủ nhà. Đặc biệt, khi đau ốm thì phải tìm thầy thuốc, và uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ , vì chính qua các phương tiện con người này, mà Chúa ban ơn cho bệnh nhân cầu xin cho được lành khỏe. Như thế, ai đau yếu mà chỉ cầu xin cho được khỏe mà không dùng những phương tiện cần thiết sẵn có như thuốc men theo y khoa thì đó là trông cậy Chúa cách mù quáng chứ không phải là sống đức tin, đức cây cách trưởng thành và vững chắc..
Đây chính là tội mà tên quỷ đã càm dỗ Chúa Giêsu khi Người ăn chay trong rừng vắng.
Quỷ đã đưa Chúa lên một nơi cao và nói với Chúa : " Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy đứng đây mà gieo mình xuống đi, vì có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá." Bấy giờ Chúa Giêsu đáp lại : Đã có lời chép rằng : ngươi chớ thử thách Đức Chúa, là Thiên Chúa của ngươi." ( Mt 4 : 5-7; Lc 4 : 12)
Như vậy, rõ ràng cho thấy là không được cầu xin và cậy trông Chúa mà không làm gì về phần mình để công tác với ơn Chúa. Nghĩa là không thể khoán trắng cho Chúa làm hết mọi sự cho mình, mặc dù Chúa có thể làm hết, nhưng Chúa vẫn muốn ta phải tỏ thiện chí và làm hết sức mình trong niềm cậy trông ơn Chúa phù giúp thì đó mới là trông cậy Chúa cách đẹp lòng Người để đáng được nhậm lời ta cầu xin.. Nói rộng thêm nữa , công nghiệp của Chúa Kitô là quá đủ cho con người được cứu rỗi, nhưng nếu ai ỷ lại vào đây để cứ phạm tội, cứ sống theo thể gian và xác thịt thì chắc chắn Chúa không thể cứu người ấy được, như Chúa đã nói rõ với các môn đệ Người xưa kia như sau :
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)
Sau nữa, cũng cần nói thêm là ta không được trông cậy để cầu xin những ơn không cần thiết, không chính đáng và thiếu bác ái như : xin cho có sức mạnh để hạ đo ván đối thủ trên võ đài, xin cho mình được buôn bán phát đạt, mặc dù hàng hóa của mình có nhiều món làm giả mạo , hay thực phẩm mình bán có pha chế chất độc hai cho sức khỏe của thực khách, hoặc xin cho được trúng số, trúng " cá độ" để có nhiều tiền của danh vọng ở đời. Đây là những nhu cầu bất chính của lòng tham vô đáy, thiếu bác ái và lương tâm ngay chính. Cần nói lại là đấu võ ( boxing) là một trò chơi nguy hiểm mà Giáo Hội lên án vì có phương hại cho sự sống của mình và của người khác. Chúa sẽ không bao giờ ban những ơn không có ích cho phần hồn và phần xác của ai, cho dù người ta có xin và trông cậy đến đâu thì cũng vô ích mà thôi.
2- Thiếu trông cậy khi cầu xin:
Ngược lại, nếu ta cầu xin Chúa điều gì mà không thực sự có lòng trông cậy thì cũng không đẹp lòng Chúa vì thiếu lòng trông cậy có nghĩa là thiếu tin tưởng vào lòng nhân hậu và cảm thông của Chúa cho những nhu cầu chính đáng về phần rỗi của linh hồn và cho một đời sống xứng hợp với nhân phẩm như có của ăn, áo mặc, nhà ở, sức khỏe và bình an để sống và làm việc.
Tóm lại, cầu nguyện và cầu xin là nhu cầu tối cần cho mọi người tín hữu chúng ta, vì ta rất cần ơn Chúa để sống đức tin và sống xứng đáng thân phận con người trong trần thế này. Nhưng khi cầu xin bất cứ ơn gì, - mà phải là ơn thực sự cần thiết cho hồn xác của mình hay cho người khác - ta phải tránh hai thái cực nói trên. Nghĩa là không được cầu xin và trông cậy cách mù quáng như ốm đau mà không cần y khoa chữa trị dù sẵn có tiền bạc, mà chỉ cầu xin Chúa " làm phép lạ" cho khỏi bệnh. Hoặc chỉ trông cậy Chúa che chở mà không chú ý lái xe khiến gây tai nạn cho mình và cho người khác.. Hay không chịu khó học hành mà chỉ cầu xin cho được điểm cao và thi đậu. Chúa không bao giờ " làm phép lạ" cho những ai trông cậy cách mù quáng như vậy.
Ước mong giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 158 = CẦN PHẢI SONG DAO PDF Print E-mail

PHẢI SỐNG SỐNG ĐẠO THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI ?
Tôi cần phải nói lại một lần nữa về vấn đề rất hệ trọng này vì những lý do sau đây:
-1- Có nhiều người nghĩ rằng Thiên Chúa rất nhân hậu nên không cần thiết phải quan tâm đến việc cứu rỗi vì Chúa Giêsu đã chết thay cho mọi người rồi nên đương nhiên mọi người sẽ được cứu rỗi !
-2- Mặt khác, cũng có rất nhiều người cho rằng với sức riêng của mình thì chẳng ai có thể làm được điều gì đáng cho mình được cứu rỗi. Đây là quan điểm của đa số anh em Tin Lành, là những người chủ trương chỉ cần tin vào Chúa Kitô là đủ được cứu rỗi chứ không cần đòi hỏi thêm gì nữa về phía con người.!
chúng ta phải nghĩ thế nào cho quân bình và hợp lý về vấn đề cứu rỗi của mỗi người chúng ta ?
Để trả lời cho câu hỏi này, trước hết chúng ta phải xác tín vào những điều sau đây:
1-Trước hết, phải xác tín rằng Thiên Chúa là tình yêu, là Cha nhân hậu ,Đấng tạo dựng mọi loài mọi vật vô hình và hứu hình, cách riêng tạo dựng con người và " muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)
2-Con người đã phản nghịch Thiên Chúa từ đầu , nên đã mang tội lỗi và sự chết vào trần gian này.Nhưng Thiên Chúa là Cha nhân từ, " Người có giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời." ( TV 30 (29) : 6) ).Vì thế Người đã sai Con Một là Chúa Giêsu-Kitô đến trần gian làm Con Người để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội. Chúa Kitô đã cứu chuộc con người qua khổ hình thập giá : chết, sống lại và lên trời , ngự bên hữu Chúa Cha. Và sẽ trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Thật vậy, nếu Thiên Chúa không là tình yêu, thì không thể có con người sinh ra trên trần thế này được, vì Thiên Chúa tạo dựng con người chỉ vì tình yêu vô vị lợi cúa Ngài, chứ tuyệt đối Ngài không có lợi lộc gì - hay muốn tìm lợi lãi nào, mà phải tạo dựng con người trên trần gian này. Đây là điều chúng ta phải xác tín và không ngừng cảm tạ Chúa vì tình thương quá lạ lùng của Người khi tạo dựng và cứu chuộc nhân loại nhờ Chúa Cứu Thế Giêsu, Đấng cũng vì yêu thương con người mà đã vui lòng chịu mọi đau khổ, vác thập giá và chết trần trụi trên đó để "hiến mang sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28)
Như thế, nếu không cậy trông vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, thì không ai có thể được cứu rỗi sau khi kết thúc hành trình con người trên trần thế này với cái chết trong thân xác mà không ai có thể tránh được..
Tuy nhiên, dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho ta được cứu rỗi, nhưng Thiên Chúa vẫn đòi hỏi con người phải cộng tác vào ơn cứu độ này để xứng đáng được hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.
Tại sao phải như vậy ? lý do là con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người xử dụng, để hoặc chọn lựa sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng của mình và theo thế gian không tin có Chúa và sự thưởng phạt đời đời.
Nói khác đi, Thiên Chúa không bắt buộc ai phải yêu mến Người và bước đi theo Chúa Kitô là " Con đường là Sự thật và là Sự Sống." ( Ga 14: 6). Người chỉ mời gọi và tùy con người tự do đáp trả mà thôi.
Chính vì con người có tự do chọn lựa giữa Thiên Chúa và thế gian, giữa sự thiện và sự dữ, giữa gian tà và lương thiện, nên Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa và tất cả chúng ta ngày nay là :
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa ! Lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên cao mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)
Nghĩa là nếu con người không thực tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Chúa, mà chỉ hời hợt nói qua miệng lưỡi, chỉ mang danh Kitô hữu , nhưng đời sống lại mâu thuẫn với niềm tin đó thì dẫu có tuyên xưng trăm ngàn lần : Lậy Chúa !, Lậy Chúa !, Alleluia Alleluia ! thì cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.
Nhưng tại sao Cha trên trời lại muốn chúng ta thi hành ý muốn của Người, như Chúa Giêsu đòi hỏi ?
Câu trả lời chắc chắn trước hết là Cha trên trời không có lợi lộc gì khi muốn ta thi hành ý muốn của Người. Người mong muốn như vậy chỉ vì lợi ích đời này và nhất là đời sau khi ta chấm dứt hành trình con người trên trần thế này mà thôi.
Thật vậy, - trừ một số cha mẹ đã mất hết lương tri, đem bán con cái cho bọn bất lương hành nghề buôn người cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, như thực trạng đã và đang xảy ra ở bên nhà, nơi luân lý và đạo đức đã xuống cấp thê thảm, nhưng còn lại tất cả cha mẹ khác đều không ai có thể lại làm ngơ cho con cái mình đi vào con đường hư hỏng như bỏ học, gia nhập băng đảng trộm cắp, hút sách, hay làm nghề ma cô đưa đón khách đi tìm thú vui dâm đãng khốn nạn.
Cha mẹ không muốn con mình đi vào con đường tội lỗi trên là vì thương con cái và muốn cho chúng nên người tốt hữu ích cho xã hội và cho bản thân chúng sau này, chứ tuyệt nhiên không vì lợi ích nào của riêng cha mẹ.
Cũng vậy, Thiên Chúa là Cha trọn tốt trọn lành, yêu thương con cái loài người hơn bất cứ cha mẹ nào trên trần gian này.Người ban lề luật hay điều răn cho ta tuân giữ vì lợi ích của chúng ta, ngay trong cuộc sống trên đời này, trước khi được chiêm ngưỡng Thánh Nhan Ngài mai sau trên Nước Trời. Thiên Chúa tuyệt đối không được lợi lộc gì khi ta tuân giữ những thánh chỉ và giới răn của Người. Vì nếu không có lề luật của Chúa, để con người tự do giết người, trộm cắp, gian dâm, thay vợ đổi chồng, cờ bạc , gian tham, bóc lột và bất công với người khác, thì xã hội loài người sẽ đi về đâu ? Có lề luật hay các giới răn của Chúa mà con người ở khắp mọi nơi còn đã và đang làm những sự dữ như giết người, giết thai nhi, bán con cái cho bọn ma cô, tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn, như thực trạng ở rất nhiều nơi trong thế giới tục hóa, sa đọa ngày nay.
Như vậy, tuân giữ các giới răn của Chúa để sống công bằng, bác ái và trong sạch thì chỉ có lợi cho cá nhân, cho gia đình, cho xã hội và cộng đồng nhân loại chứ tuyệt đối không có lợi gì cho Chúa.
Riêng đối với người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, thì việc tuân giữ các giới răn của Chúa là cách cộng tác hữu hiệu vào ơn cứu chuộc của Chúa Kitô để xứng đáng được hưởng nhờ ơn này hầu cho được vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc bất diệt với Chúa trên cõi vĩnh hằng mai sau.
Chúa Kitô đã hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho con người, và công ơn cứu chuộc này đủ cho con người được cứu độ. Nhưng nếu con người không cộng tác với ơn cứu chuộc đó bằng quyết tâm từ bỏ tội lỗi do ma quỷ gây ra với sự tiếp tay đắc lực của thế gian, thì Chúa không thể cứu ai được. Nghĩa là công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ trở nên vô ích cho những ai ỷ lại vào công nghiệp này để không làm gì về phần mình - hay tệ hại hơn nữa- là cứ tiếp tục sống theo ý riêng mình và làm những sự dữ , những điều ghê tởm như giết người, phá thai, gian dâm , thay chồng đỗi vợ, gian manh, bất công, bóc lột người khác và dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của anh chị em đồng loại. Sở dĩ Chúa không thể cứu họ được vì họ đã sử dụng ý muốn tự do ( free will) để từ chối ơn cứu độ của Chúa và tự chọn con đường dẫn đến hư mất đời đời. Chính vì con người có tự do để chọn Chúa và ơn cứu độ của Người hay quay lưng lại với Chúa để sống đối nghịch với hạnh phúc Nước Trời, nên Chúa Giêsu, khi trả lời cho một người đến hỏi Chúa xem có phải rất ít người được cứu độ không , Chúa đã đáp như sau:
" Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào , vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được." ( Lc 13: 24)
Tại sao Chúa không nói : anh em đừng lo lắng gì về việc đó ( việc được cứu độ) và cứ tự do làm những gì anh em thích, khỏi cần phải chiến đấu , cố gắng thêm cho mệt ? Ngược lại, Chúa đòi hỏi phải chiến đấu để qua của hẹp mà vào, vì con người còn có tự do mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng. Cho nên, qua của hẹp mà vào có nghĩa là khép mình vào khuôn khổ những đòi hỏi của Chúa về một đời sống công bằng, bác ái, lương thiện và trong sạch để được cứu độ. Nói khác đi, là cộng tác với ơn cứu độ bằng quyết tâm xa tránh tội lỗi và bước đi theo Chúa Kitô như Người đòi hỏi là :
" Ai muốn theo Thầy thì phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo..Ai muốn cứu mang sống mình thì sẽ mất , còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. " ( Mt 16: 24-25)
Vác thập giá mình mà theo Chúa có nghĩa là thông phần đau khổ với Chúa để được tham dự vinh quang phục sinh với Người trong Nước Hằng Sống.
Tóm lại, Chúa nhân hậu và giầu tình thương, tha thứ. Cộng nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con người được cứu độ. Nhưng Chúa vẫn cần sự cộng tác hay thiện chí của mỗi người chúng ta muốn sống theo đường lối của Chúa và xa tránh mọi tội lỗi và sự dữ như đã nói ở trên. Nếu không có sự cộng tác hay thiện chí đó, thì Chúa không thể cứu ai được, vì con người còn có tự do để chọn Chúa hay chọn thế gian và ma quỷ để làm nô lệ cho tội lỗi và tự ý đi tìm sự hư mất đời đời. Những ai muốn sống như vậy thì Chúa sẽ tôn trọng tự do của họ và họ sẽ phải lãnh chiu hậu quả do việc họ chọn lựa để làm khi sống trên trần gian này..
Cứ nhìn vào thực trạng sống của con người ở khắp nơi ngày nay thì đủ cho ta biết ai đang muốn được cứu rỗi và ai đang từ chối ơn cứu độ của Chúa bằng chính đời sống của họ.
Vậy, là người có niềm tin Chúa, chúng ta nghĩ sao về tự do của mình trong ước muốn được cứu độ để được sống hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa trên Nước Trời mai sau ?
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 157= GIA DAP THAC MAC PDF Print E-mail

Hỏi :
1- xin cha cho biết vì sao trong quá khứ Tòa Thánh lại ở Avignon, Nước Pháp?
2- Cuộc ly giáo Tây Phương xảy ra trong Giáo Hội vì nguyên do nào ?
Trả lời :
1- Trong lịch sử Giáo Hội, đây là thời kỳ duy nhất Tòa Thánh La Mã phải "di cư" sang Pháp, đóng tại thành phố Avignon trong một thời gian khá lâu dài là 68 năm, kể từ năm 1309 đến năm 1377 . Các sử gia đã gọi thời kỳ này là " cuộc lưu đầy Babilone của Ngôi vị Giáo Hoàng (The Babilonian captivity of the papacy) .
Nguyên nhân của " cuộc lưu đầy" này có thể được tóm tắt như sau :
Thời kỳ cuối thế kỷ cuối 12 và trong thế kỷ 13 , các phe phái chính trị và tôn giáo ở Ý và Pháp muốn tranh dành ảnh hưởng đối với Giáo Hội Công Giáo La Mã, nên đã là nguyên nhân chính khiến Ngai Tòa Phêrô bị di chuyển từ Rôma sang Avignon, Pháp, từ năm 1309 dưới triều Đức Giáo Hoàng Clement V ( người Pháp ) ( 1305- 1316).
Ngài được Hồng Y đoàn bầu lên năm 1309 với hy vọng làm dịu bớt căng thẳng giữa các phe người Pháp và Ý đang muốn dành ảnh hưởng đối với Giáo Hôi sau những năm sóng gió dưới triều Đức Giáo Hoàng Boniface VIII ( 1294- 1303).
Vì là người Pháp, nên Đức Clement V đã mang Tòa Thánh từ Rome về Avignon, một thành phố phía nam nước Pháp, năm 1309 để tránh phải đương đầu với gia đình Colonna, đầy quyền lực ở Ý , đang muốn nắm quyền cai trị về mọi phương diện chính trị, xã hội và tôn giáo ở Rôma thời đó. Ngài được Hồng Y đoàn bầu lên ngôi Giáo Hoàng năm 1309 như một nhượng bộ nhằm hòa giải giữa hai phe người Ý và Pháp đang có ảnh hưởng lớn trong Giáo Hội Công Giáo Tây phương lúc bấy giờ, nhưng đã không đạt được mục đích mong muốn .Vì thế, Đức Giáo Hoàng Clement V đã mang Tòa Thánh về Avignon để tránh áp lực của các thế lực người Ý đang muốn dành quyền chi phối Giáo Hội trong gian đoạn khó khăn đó.
Tuy nhiên, khi cư trú trên đất Pháp, thì 7 Giáo Hoàng kế tiếp nhau lên ngôi ở đây cũng không tránh được bị chi phối và ảnh hưởng cúa các nhà vua trị vì Nước Pháp trong suốt thời kỳ đó. Dầu vậy, truyền thống Tông Đồ ( Apostolic succession) vẫn được tôn trọng trong việc chọn Giáo Hoàng cũng như sứ vụ tông đồ vẫn được tiếp tục theo truyền thống trong việc cai quản Giáo Hội, mặc dù có bị thế quyền Pháp chi phối phần nào do việc Giáo Hội nằm trên lãnh thổ của Nước Pháp trong suốt 68 năm, với 7 Giáo Hoàng được bầu lên cách hợp pháp và có tên sau đây :
1- Clement V ( 1305-1316)
2- Joan XXII ( 1316-1334)
3- Benedict XII ( 1334-1342)
4- Clement VI ( 1342-1352
5- Innocent VI ( 1352-1362)
6- Urban V ( 1362-1370)
7- Gregory XI ( 1370- 1378)
Đức Gregory XI là Giáo Hoàng cuối cùng tại Avigon, đã quyết định mang Tòa Thánh trở lại Rôma năm 1377, do công khởi thủy của Đức Giáo Hoàng Urban V ( 1362- 13700) và đặc biệt thể theo lời khẩn khoản nài van của nữ tu bí nhiệm Dòng ĐaMinh ( Mystic Dominican Sister) mà sau này đã trở thành Thánh Nữ Catherine thành Sienna.
Nhưng dù Tòa Thánh được mang trở lại Rôma với Đức Giáo Hoàng Gregory XI , Giáo Hội vẫn chưa an vị được ở Rôma, mà còn xảy ra cuộc ly giáo Tây phương ( Western Schism) giữa những người cùng hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã về phía Tây phương vì lý do sau đây:
2- Ly Giáo Tây Phương( Western Schism)
Từ ngữ ly giáo ( schism) xuất phát từ nguyên ngữ Hy lạp " schisma" có nghĩa là xé rách ra ( tear).Do đó, từ ngữ này được dùng để chỉ một tình trạng hay sự kiện rạn nứt trong sự hiệp nhất của Giáo Hội ( Unity in the Church) .Nhưng khác với tà giáo hay lạc giáo ( heresy) và bội giáo ( Apostacy) , ly giáo ( schism)không nhằm chối bỏ một chân lý nào của Kitô Giáo, hay đặt lại vấn đề về một tín lý nào,( dogma) mà chỉ là gương xấu đưa đến hậu quả làm mất sự hiệp thông ( communion) và hiệp nhất ( unity ) trong Giáo Hội do một vài phe nhóm chủ xướng mà thôi.
Cụ thể, quyết định mang Tòa Thánh trở lại Rôma của Đức Giáo Hoàng Gregory XI đã bị các Hồng Y và thế quyền Pháp chống đối, nên sau khi Đức Gregory XI qua đời ngày 27 tháng 3 năm 1378, Đức Urban VI được bầu lên kế vị ở Rôma , thì các Hồng Y người Pháp ở Avignon lại bầu một ngụy Giáo Hoàng (antipope) lên ngôi và lấy danh hiệu là Clement VII để tranh ngôi Giáo Hoàng với Đức Urban VI ở Rôma . Và đây là nguyên nhân gây ra cuộc ly giáo Tây Phương trong Giáo Hội, kéo dài từ năm 1378 cho đến năm 1417 với hai Giáo Hoàng tại chức , một ở Avignon và một ở Roma; và sau này có thêm một Giáo Hoàng nữa do Công Đồng Pisa bầu lên, như sẽ nói sau đây.
Cuộc ly giáo trên đã xẩy ra vì có hai phe tranh giành ngôi vị Giáo Hoàng trong thời gian sóng gió đó. Trước hết phe các nước nói tiếng Latinh và Pháp ủng hộ Giáo Hoàng Clement VII ở Avignon , đối đầu với phe người Đức và Anh ủng hộ Giáo Hoàng Urban VI ở Rome..
Giáo Hoàng Clement VII mất năm 1394 và người kế vị được bầu lên thay là Benedict XIII, tiếp tục cai trị ở Avignon. Ở bên kia, Giáo Hoàng Urban VI cũng mất năm 1397, và người kế vị được bầu lên là Gregory XII, người Roman. Như vậy trong thời kỳ này có hai giáo hoàng cùng tranh ngôi , một ở Pháp và một ở Rôma
Để giải quyết tình trạng này, các Hồng y và nghị phụ đã họp Công đồng tại Písa ngày 29-3-1409 và bầu Giáo Hoàng mới lấy danh hiệu là Alexander V, nhưng ngài chưa kịp về Roma nhậm chức thì đã mất ở Bologna ngày 3-5-1410, và người kế vị được bầu lên ngày 17-5-1411 đã lấy danh hiệu là Gioan XXIII. Nhưng tân Giáo Hoàng này tỏ ra là người không có đủ tài đức và khả năng lãnh đạo Giáo Hội, lại được bầu lên nhờ áp lực và tham vọng cá nhân, nên bị coi là nguy giáo hoàng ( antipope), và buộc phải thoái vị.
Như vậy, Giáo Hội một lúc có tới ba Giáo Hoàng cùng tranh giành Ngôi Tòa Phê rô: Đó là Gioan XXIII do Công Đồng Pisa bầu lên ngôi ngày 17-5-1411, trong lúc có hai Giáo Hoàng nữa đang tại chức là Benedict XIII ở Avignon và Gregory XII ở Rome như đã nói ở trên.
Vì thế, để giải quyết tình trạng bế tắc và gây tai tiếng trên đây , theo sáng kiến của Hoàng Đế Rôma là Sigismund of Luxembourg, Công Đồng Constance được triệu tập ngày 1-11-1417 như một cố gắng cuối cùng để giải quyết tình trạng ly giáo do việc ba Giáo Hoàng trên cùng tranh nhau quyền cai trị Giáo Hội. Kết quả, Công Đồng đã thuyết phục được Giáo Hoàng Gregory XII từ chức, hạ bệ ngụy giáo Hoàng Gioan XXIII, và truất phế vắng mặt Giáo Hoàng Benedict XIII ở Avignon.( ông này đã bỏ chậy trốn khi biết không còn hy vọng ở yên trên ngôi vị Giáo Hoàng được nữa)
Sau đó, ngày 11-11-1417 Công Đồng Constance đã bầu được Giáo Hoàng mới là Oddo Colonna , một nghị phụ tham dự Công Đồng, lên ngôi với danh hiệu Martin V để chấm dứt cuộc ly giáo Tây Phương kéo dài từ năm 1378 đến năm 1417.
Martin V là một thường dân ( layman) trí thức, đạo đức nhưng không có chức linh mục và giám mục. Nên sau khi được bầu lên, ngài đã được truyền chức linh mục và giám mục trước khi đăng quang Giáo Hoàng với danh hiệu Marin V.
Như thế , Công Đồng Constance đã đạt được thành quả lớn : đó là chấm dứt cuộc ly giáo Tây phương kéo dài từ năm 1378 đến 1417. Cuộc ly giáo này xảy ra chỉ vì các phe nhóm có thế lực ở Âu Châu, cụ thể là Pháp và Ý, đã tranh dành ảnh hưởng để dành địa vị Giáo Hoàng của Giáo Hội La Mã. Có thể nói tắt một điều : đây là hậu quả của thời kỳ thế quyền và thần quyền lẫn lộn tranh giành quyền cai trị Giáo Hội nên đã gây ra cuộc ly giáo đáng tiếc nói trên.
Có một chi tiết đáng chú ý trong giai đoạn ly giáo này là sự kiện Giáo Hoàng Gioan XXIII , lên ngôi năm 1410, bị coi là ngụy giáo hoàng ( antipope) vì không được bầu lên cách hợp pháp , lại thêm kém tài đức và nhân cách.Vì thế, sau này, khi Đức Hông Y Roncali được bầu Giáo Hoàng ngày 28 tháng 10 năm 1958, để kế vị Đức Thánh Cha Piô XII qua đời ngày 9-10-1958, ngài đã lấy lại danh hiệu Gioan XXIII để cai trị Giáo Hội cho đến ngày qua đời. ( 3-6-1963)
Trên đây là đại cương nguyên nhân và diễn tiến cuộc ly giáo Tây Phương, một vết thương trong thân thể của Giáo, mặc dù chỉ kéo dài trong 38 năm., trong khi một vết thương khác lớn hơn và kéo dài hơn nữa cho đến nay : đó là cuộc ly giáo Đông Phương ( Eastern Schism) xảy ra giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Giáo Hội Chính Thống Constantinople ( Hy Lạp) bắt đầu từ năm 1054 cho đến nay. Và chưa biết đến bao giờ mới có thể chấm dứt vĩnh viễn để Giáo Hội của Chúa Kitô được hiệp thông và hiệp nhất trong cùng một sứ mệnh tuyên xưng đức tin Kitô Giáo và phúc âm hóa thế giới, để mang ơn cứu độ của Chúa Kitô đến với hết mọi người trên toàn thế giới, không phân biệt màu da, tiếng nói và văn hóa, cho đến ngày mãn thời gian.
Vấn đề này xin được nói trong một dịp khác.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho sự hợp nhất của Giáo Hội sớm được thực hiện qua cố lực đại kết ( ecumenism) mà cả hai Giáo Hội Công Giáo La Mã và Chính Thống Đông Phương đều đã có thiện chí theo đuổi trong mấy thập niên qua.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 157= GIA DAP THAC MAC PDF Print E-mail

Giải đáp thắc mắc :
1- Có Thánh lễ nào mà mục đích chỉ để kính riêng một mình Đức Mẹ hay Thánh Nam nữ nào không ?
2- Có thể lần chuỗi Mân Côi để kính Thánh Nam nữ nào được không ?
3- Có lễ nào chỉ dành riêng cầu cho một linh hồn hay cho một ý chỉ riêng nào không ?
Trả lời :
1- Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) là việc phụng vụ cao trọng nhất nhằm diễn lại cách bí tích trên bàn thờ ngày nay Bữa ăn sau hết của Chúa Giêsu-Kitô với 12 Tông Đồ và Hy Tế Chúa dâng lên Chúa Cha một lần trên thập giá năm xưa để đền tội thay cho nhân loại khỏi phải phạt và chết đời đời vì tội.
Phải nói là Lễ Tạ Ơn( Thanksgiving Mass) vì Chúa Kitô đã " dâng lời cảm tạ Chúa Cha, bẻ bánh và trao cho các môn đệ hiện diện ăn, rồi cũng cảm tạ và trao chén rượu nho đã biến thành máu Người cho các ông uống".
Vì thế, Thánh Lễ là hành động cảm tạ Chúa Cha cùng với Chúa Kitô và diễn lại Hy tế đền tội của Chúa, như Giáo Hội dạy trong Hiến Chế tín lý Lumen Gentium, là " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó " Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế ( 1 Cor 5: 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( LG số 3)
Như thế, mọi Thánh Lễ đều qui chiếu về mục đích thờ lậy, ngượi khen và cảm tạ Chúa Cha cùng với Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội dâng trên bàn thờ nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) để xin ơn tha tội cho chúng ta ngày nay cùng thể thức và mục đích mà Chúa Kitô đã một lần dâng trên thập giá để xin ơn tha tội cho toàn thể nhân loại.
Do đó, không có Thánh Lễ nào được dâng mà trọng tâm là để kính riêng một thánh nam nữ nào, kể cả Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse, vì trọng tâm của mọi Thánh Lễ đều phải qui chiếu về một mục đích duy nhất là ngượi khen, thờ lậy và cảm tạ Thiên Chúa nhờ Chúa Giê-su-Kitô, Đấng đã dâng mình tế lễ Chúa Cha trên thập giá như đã nói ở trên .
Tuy nhiên , Phụng vụ của Giáo Hội có dành lễ kinh Đức Mẹ trong nhiều dip quanh năm, kính Thánh Cả Giuse hai lần ( 19 tháng 3 và 1 tháng 5, Kinh Thánh Gioan Tẩy Giả 2 lần ( 24 tháng 6 và 29 tháng 8)
Các Thánh Tông Đồ ( Phêrô. Phaolô, Philiphê, Joan, Giacô- bê...) mỗi vị một lần trong năm. Nhưng dù là lễ trọng ( Solemnity) hay lễ kính ( Feast Day) Đức Mẹ, hoặc các Thánh Nam Nữ, thì trọng tâm của Thánh Lễ vẫn là để ngượi khen, thờ lậy và cảm tạ Chúa Cha , nhờ Chúa Kitô, chứ không bao giờ là chỉ để tôn kính riêng Đức Mẹ hay bất cứ Thánh Nam Nữ nào.
Có khác chăng là trong mọi lễ kinh Đức Mẹ , Thánh Cả Giuse , các Thánh Tông Đồ , các Thánh Nam Nữ ( 1-11) các Thánh Tử Đạo, các Thánh Trinh nữ và Tu Sĩ...và lễ cầu cho một tín hữu đã qua đời, thì tất cả đều có lời nguyện riêng mở đầu và kết thúc Thánh Lễ , cũng như có Kinh Tiền Tụng ( Preface) riêng cho mỗi lễ kính mà thôi.
Thí dụ, trong Lễ Kinh Đức Mẹ và các Thánh, Giáo Hội cảm tạ Chúa về hồng ân và những sự lạ lùng Chúa đã làm nơi Đức Mẹ và các Thánh. Cụ thể, trong Kinh Tiền Tụng Lễ Kinh Đức Mẹ, Giáo Hội nguyện cầu như sau:
....Trong ngày lễ ( sinh nhật Đức Mẹ, Đức Mẹ Mân côi, Mẹ lên trời cả hồn xác...) của Đức Maria diễm phúc trọn đời đồng trinh, chúng con cùng ca ngượi, chúc tụng và tung hô Chúa. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Đức Maria đã thụ thai Con Một Chúa, và đã chiếu giãi vào thế gian ánh sáng vĩnh cửu là Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng con..
Hoặc : Chúng con tuyên xưng Chúa là Đấng kỳ diệu trong việc Chúa tôn phong các Thánh. Nhất là khi kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, chúng con hiệp với lời ca tụng, tạ ơn của Người ( Mẹ Maria) mà tôn vinh lòng nhân hậu của Chúa...
Như thế, lễ kính Đức Mẹ trong mọi dịp chỉ có mục đích cảm tạ Thiên Chúa đã ban nhiều hồng ân cho riêng mình Mẹ, như được sinh ra mà không mắc tội Tổ Tông và các tội khác, trọn đời đồng Trinh và lên trời cả hồn xác.Ngượi khen và cảm tạ Chúa và chúc mừng Mẹ được diễm phúc hơn mọi thần thánh trên trời và mọi tạo vật dưới thế.Đó là tâm tình chúng ta phải có mỗi khi mừng lễ kinh Đức Mẹ.
Chinh Đức Mẹ và các Thánh Nam Nữ và các Thiên Thần cũng hiệp thông với Chúa Kitô và Giáo Hội khi Thánh Lễ Tạ Ơn được cử hành trên bàn thờ ngày nay để cùng ngượi khen và cảm tạ Chúa Cha , vì Người đã ban tặng cho nhân loại món quà quí giá nhất là Con Một của Người là Chúa Giê-su Kitô, Đấng đã đến trần gian và "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20 : 28)
Đức Mẹ - với địa vị cao sang là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, nên được tôn kính ở mức Hyperdulia trong phụng vụ thánh, nhưng không được tôn thờ ở mức Latria là mức chỉ dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi.Nghĩa là , trong mọi Thánh Lễ Tạ Ơn chỉ một mình Thiên Chúa được ngượi khen và tôn thờ, trong khi Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ khác, kể cả Thánh Giuse là bạn thanh sạch của Mẹ và là dưỡng phụ của Chúa Kitô, thì được tôn kính ( venerate) ở mức Hyperdulia ( Đức Mẹ) và Dulia ( các Thánh) mà thôi.
Cụ thể, ngay cả những lễ được gọi là lễ kính riêng Đức Mẹ như Mẹ Thiên Chúa ( Moher of God 1-1), Mẹ Vô nhiễm thai ( Immaculate Conception 8-12) Mẹ lên trời cả hồn xác ( Assumption 15-8) ... thì trọng tâm vẫn là để thờ lậy và cảm tạ Thiên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô . Chỉ có khác một điều khác là trong lễ kính Đức Mẹ thì có lời nguyện riêng mở đầu và kết thúc thánh lễ, có Kinh Tiền Tụng ( Preface, ) riêng, và được đặc biệt nhắc đến trong các Kinh Nguyện Thánh Thể ( Kinh Nguyện Tạ Ơn) như : "Chúng con kính nhớ trước hết là Đức Maria vinh hiển trọn đời đồng trinh, Mẹ của Chúa Giê su-Kitô ...( Kinh Nguyện Thánh Thể I) . Hay " Người ( Chúa Kitô) đã nhập thể bởi phép Chúa Thánh Thần và được Đức Trinh Nữ sinh ra...( Kinh Nguyện Thánh Thể II & IV)
Hoặc: " Nguyện xin Chúa Thánh Thần làm cho chúng con trở nên của lễ muôn đời dâng lên Chúa, để chúng con được thừa hưởng gia nghiệp cùng với các người Chúa đã chọn, nhất là với Đức Trinh Nữ Maria , Mẹ Thiên Chúa...( Kinh Nguyện Thánh Thể III)
Tóm lại, không có Lễ nào chỉ dành riêng để kính Đức Mẹ, hay Thánh Nam nữ nào mà lại không có lời chúc tụng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa của Giáo Hội hiệp thông cũng với Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha khi cử hành ThánhLễ Tạ Ơn . Do đó, khi nói xin lễ tạ ơn Đức Mẹ, hay Thánh Giuse hoặc Thánh Nam Nữ nào, thì phải được hiểu là Lễ tạ ơn Chúa đã thương ban ơn qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ và các Thánh, vì chỉ có một mình Thiên Chúa ban phát mọi phúc lành cho chúng ta, nhờ công nghiệp Chúa Kitô và nhờ lời nguyện giúp cầu thay rất đắc lực của Đức Me, Thánh Cả Giuse, và các Thánh Nam nữ khác đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.
Đức Mẹ và các Thánh không ban ơn mà chỉ xin ơn Chúa cho chúng ta mà thôi.Dĩ nhiên chúng ta cũng phải cám ơn Mẹ và các Thánh đã cầu bầu thay cho chúng ta trước Tòa Chúa. Điều muốn nhấn mạnh trong bài viết này là chúng ta không được quên phải cảm tạ Chúa trước hết vì Người đã ban cho ta những ơn lành hồn xác, và cám ơn Đức Mẹ hay Thánh Nam Nữ nào đã nguyện giúp cầu thay cho chúng ta.
Xin nhớ kỹ điều này để trong thực hành khi vào nhà thờ cầu xin điều gì, thì không nên chạy thẳng đển nơi có thánh tượng Đức Mẹ hoặc Thánh Nam nữ nào để cầu xin như thể Đức Mẹ và các Thánh có thể ban phát mọi ơn lành cho chúng ta. Trái lại, phải đến thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện trong nhà tạm ( Tabernacle), trước khi chạy đến với Đức Mẹ , Thánh Giuse hay Thánh Nam Nữ nào khác. Phải thờ lậy Chúa Kitô, cũng là thờ lậy Ba Ngôi Thiên Chúa, vì ở đâu có Chúa Kitô thì ở đấy có Chúa Cha và Chúa Thánh Thần .
Đó là cách cầu nguyện đẹp lòng Chúa , Đức Mẹ và các Thánh mà chúng ta phải hiểu rõ và thực hành cho phù hợp với đức tin và phụng vụ.
2- Về câu hỏi thứ 2, xin nói rõ là Kinh Kinh Mừng là lời Sứ Thần Grabriel chào kinh Đức Trinh Nữ Maria và loan báo cho Trinh Nữ biết là Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần. Đó là nội dung phần đầu của Kinh Kính Mừng. Phần hai của Kinh là lời cầu xin Đức Maria của Giáo Hội cho con cái mình được những ơn phúc của Chúa nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria.
Như vậy, Kinh Kính Mừng chỉ dành riêng để kinh Đức Mẹ mà thôi.Do đó, không thể đọc kinh Kinh Mừng, hay lần chuỗi mân côi để kính bất cứ Thánh Nam Nữ nào, vì mục đích của Kinh không được soan ra để kinh Thánh Nam nữ nào mà chỉ để dành riêng kinh Đức Mẹ mà thôi.Thánh nào có kinh được soạn riêng thì đọc. Còn nếu không, thì tư ý cầu xin với Thánh đó là đủ, chứ không thích hợp để đọc kinh Lậy Cha,Kinh Kinh mừng và Sáng Danh khi cầu nguyện với Thanh Nam Nữ nào.Mà nếu có đọc thì phải đọc trong tâm tình kính Đức Mẹ, thờ lậy Chúa là Cha và vinh danh Chúa cùng các Thánh và các Thiên Thần để nhờ Thánh Nam nữ nào nguyện giúp cầu thay cho mình được những điều mong muốn.
Lại nữa, khi đọc Kinh Kinh Mừng ta phải đọc trong tâm tình mừng kinh vinh phúc của Mẹ được chọn làm Mẹ Ngôi Hai, và xin Mẹ nguyện giúp cầu thay cho ta được Chúa đoái thương ban cho những ơn ta đang cần đến trong cuộc sống trên trần thế này, chờ ngày về vui hưởng hạnh phúc cùng Mẹ trên Thiên Đàng.
3- Về câu hỏi thứ 3, xin trả lời là mục đích của Thánh Lễ là để ngượi khen, cảm tạ và thờ lậy Chúa như đã nói ở trên, nên không hề có lễ nào chỉ để cầu riêng cho một hay nhiều người còn sống hay đã qua đời. Nói xin lễ cầu bình an cho người còn sống hay cho người đã ly trần chỉ có nghĩa là chủ tế phải nhớ đến ý lễ mình dâng để được hưởng bổng lễ ( mass stipend) theo qui định của giáo luật. Nhưng ngay trong lễ có người xin để cầu cho một linh hồn đã ly trần, thì vẫn có lời nguyện cầu chung cho Đức Thánh cha, cho giám mục giáo phận và cho các tín hữu đã ly trần như ta đọc thấy trong mọi Kinh Nguyện Thánh thể đều có lời cầu chung như sau : " Xin Chúa cũng nhớ đến anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, và mọi người, đặc biệt là các bậc tổ tiên, ông bà cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã ly trần trong tình thương của Chúa.Xin cho hết thảy được vào hưởng ánh sáng tôn Nhan Chúa..( KNTT 1, 2, 3, 4)
Nếu có người xin lễ cầu cho một hay hai linh hồn, thì có thêm lời nguyện riêng như sau : " Xin nhớ đến tôi tá Chúa là....mà ( hôm nay) Chúa đã gọi ra khỏi đời này về với Chúa. Xin ban cho kẻ đã chết như Con Chúa, thì cũng được sống lại như Người."
Nhưng dù có lời nguyện riêng cho thân nhân ai xin lễ, thì vẫn có lời cầu xin chung cho các tin hữu còn sống cũng như đã ly trần như đã nói ở trên.
Như vậy, không có lễ nào chỉ dành để cầu riêng cho một hay nhiều linh hồn đã qua đời. Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai thắc mắc tại sao lễ mình xin cầu cho người thân đã ly trần mà vẫn thấy cha chủ tế cầu cho các người khác nữa. Phải cầu cho các người còn sống cũng như đã qua đời vì phụng vụ thánh qui đinh như vậy, và không ai có quyền thay đổi theo ý mình.
Chính vì thế mà cũng cần nói lại một lần nữa là không có linh hồn nào được coi là " mồ côi" ở trong chốn luyện hình, khiến phải xin cầu nguyện cho họ, vì trong các Thánh Lễ, Giáo Hội đều cầu xin cho " các tính hữu đã ly trần" mặc dù có hay không có ai xin lễ cầu riêng cho họ.
Tóm lại, là tín hữu trong Giáo Hội, chúng ta cẩn biết rõ ý nghĩa và mục đích của phụng vụ thánh, tức toàn bộ việc thờ phượng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, cũng nhờ ơn thông hiệp và cầu bầu của Đức Mẹ và các Thánh mà Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi).
Lm P. X Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Next > End >>

Page 82 of 123