mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5719
mod_vvisit_counterHôm Qua8689
mod_vvisit_counterTuần Này22988
mod_vvisit_counterTuần Trước75465
mod_vvisit_counterTháng Này210595
mod_vvisit_counterTháng Trước227630
mod_vvisit_counterTất cả9710161

We have: 232 guests online
Your IP: 54.198.108.19
 , 
Today: Nov 21, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO =PHAI CHANG GIUDA KHÔNG DUOC CUU? PDF Print E-mail

PHẢI CHĂNG GIUĐA KHÔNG ĐƯỢC CỨU RỖI ?

Nhân mùa Phuc Sinh , xin cha giải đáp hai câu hỏi sau đây:

1- Có phải Giuđa chắc chắn đã không được cứu rỗi ?

2- Phải chăng Đức Mẹ đã được Thiên Chúa cứu độ trước khi làm Mẹ Chúa Giêsu .?

Trả lời :

1-Về câu hỏi thứ nhất, xin được trả lời như sau :

Nói đến Giuđa thì trước hết, đây là điển hình cho loại người quá đam mê tiền của đến quên tinh quên ân nghĩa và phản bội. Đây cũng là gương xấu to lớn phải tránh cho mọi người có niềm tin nơi Chúa là Đấng đầy lòng thương xót , công bình và hay tha thứ. Người thương xót và hay tha thứ, nhưng chúng ta phải tin tưởng và chậy đến xin Người thứ tha cho dù tội lỗi đến đâu. Chí có một tội không thể tha thứ được : đó là tội phạm đến Chúa Thánh Thần , tức là tội hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và không còn tin tưởng gì nơi lòng thương xót của Người nữa. Đó là điều Chúa Giêsu đã nói rõ trong Tin Mừng như sau:

" Tôi bảo thật cho anh em : mọi tội của con cái loài người, kể cả tội nói phạm thượng , và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời. " ( Mc 3: 28-29)

Như thế, nếu Giuđa quả thực hết tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa đến nỗi đi thắt cổ tự tử thì có thể Giuđa đã phạm tội mà Chúa Giêsu nói trên đây. Nhưng điều này chỉ có một mình Thiên Chúa biết và phán đoán Giuđa chiếu theo lòng khoan dung vô lượng và công minh tuyệt đối của Người. Nghĩa là chúng ta không thể căn cứ vào sự kiện bề ngoài để đưa ra một phán đoán nào, vì chúng ta hoàn toàn không biết được Giuđa có thực sự mất hết tin tưởng nơi lòng thương xót tha thứ của Chúa, hay trong một phút trước khi chết, anh ta đã kịp ăn năn hối lỗi và được tha thứ như người trộm lành ?

Điều này chỉ một mình Chúa biết mà thôi.Do đó, Giáo Hội cũng không dám đưa ra một phán đoán chắc chắn nào về số phận đời đời của Giuđa.Nếu Giáo Hội mà không dám kết luận chắc chắn về phần rỗi của Giuđa thì chúng ta dựa vào đâu mà dám nghĩ rằng Giuđa đã sa hỏa ngục hay được cứu rỗi ?

Cũng vậy, đối với những người tự tử chết ngày nay, Giáo Hội vẫn cho phép cử hành lễ an táng cũng như cho chôn xác trong nghĩa trang công giáo, một điều không được phép làm trước Công Đồng Vaticanô II . Sở dĩ trước đây Giáo Hội cấm cử hành tang lễ cho người tự tử chết vì Giáo Hội lên án gương xấu này chứ không vì phán đoán rằng người tự tử đã sa hỏa ngục rồi nên không còn ích gì để cầu nguyện cho ai đã tự hủy hoại đời mình vì bất cứ lý do nào.

Như vậy, ta không nên phán đoán gì về trường hợp của Giuđa cũng như về những người đã tự tử chết, mặc dù đó là gương xấu và cũng là tội trọng phải tránh. Giuđa có tội rất lớn là đã tham tiền và cam tâm phản bội Chúa khi bán Người lấy 30 đồng bạc của bọn Thượng Tế Do Thái. Không ai có thể biện minh cho việc phản bội, tham tiền và thất vọng đi tự tử của Giuđa.

Chính Chúa Giêsu cũng lên án việc phản bội của Giuđa như sau :

" Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người : thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn !" ( Mc 14: 21)

Lại nữa trong lời cầu cùng Chúa Cha trước đêm bị trao nộp , Chúa Giêsu cũng than trách về Giuđa như sau :

"Khi còn ở với họ, con đã giữ gìn họ

Trong danh Cha mà Cha đã ban cho con

Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất

Trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời kinh Thánh." ( Ga 17: 12)

Đứa con " hư hỏng" vì đã phản bội chứ không có nghĩa là đã sa hỏa ngục. Nhưng việc Chúa phải chịu khổ hình và chết trên thập giá lại khác : không phải vì Giuđa phản bội, mà vì Chúa Giêsu muốn thi hành thánh ý Chúa Cha muốn Người hy sinh để đền tội cho cả loài người như Thánh Phaolô đã dạy:

" Đến như chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thẩy chúng ta." ( Rm 8:32)

Thánh Phêrô cũng quả quyết thêm như sau:

" Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi. Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa." ( 1 Pr 3 :18)

Cũng chính vì vâng ý Chúa Cha để chiu khổ hình thập giá và chết thay cho kẻ có tội là mọi người chúng ta, nên trước khi trút hơi thở cuối cùng, Chúa Giêsu đã phó linh hồn cho Chúa Cha với những lời thống thiết như sau :

" Lậy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.Nói xong Người tắt thở." ( Lc 23:46)

Lời cầu xin phó linh hồn trên đây của Chúa Giêsu đã được tiên báo trước trong Thánh Vinh 131:

Trước khi Chúa đến trần gian để thi hành thánh ý Chúa Cha:

" Trong tay Ngài con xin phó linh hồn con." ( Tv 131: 6)

Như thế, chứng tỏ Chúa Giêsu đã biết trước việc Người sẽ chết để đền tội cho nhân loại, đúng như Người đã nói với các môn đệ trong khi còn đi rao giảng Tin Mừng với họ:

" Này chúng ta lên Jerusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người. Họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại. " (Mc 10:33-34),

Do đó, không thể nói rằng nếu Giuđa không phản bội thì Chúa đã không chết.

Sự thật phải tin là Chúa Giêsu đến trần gian làm Con Người để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, trong Chương Trình Cứu Độ nhân loại của Chúa Cha, như ngôn sứ Isaia đã loan báo từ 8 thế kỷ trước khi Chúa Giêsu sinh xuống trần gian :

" Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn

Giơ má cho người ta giật râu

Tôi không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ." ( Is 50: 6)

Hoặc :

" Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội

Bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm

Người đã chịu sửa trị để cho chúng ta được bình an

Đã mang lấy thương tích cho chúng ta được chữa lành. " ( Is 53 :5)

Như vậy, đủ cho thấy rõ là Chúa Cha đã dự liệu những khổ hình mà Chúa Kitô sẽ phải chịu để cứu chuộc cho nhân loại khỏi bị án phạt vì tội. Người chính là " Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" như Gioan Tiền Hô đã tuyên xưng một ngày kia. Chúa Giêsu cũng đã xác nhận những điều đã được tiên báo về Người trong đêm bị nộp khi Chúa quở mắng Phêrô vì đã chém. đứt tai một đầy tớ của Thượng tế Do Thái:

" Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần. Nhưng như thế thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được ?"( Mt 26: 53-54)

Hay rõ hơn nữa , khi Chúa bảo Phêrô " Hãy xỏ gươm vào bao. Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ? " ( Ga 18: 11)

Chén đắng đây chính là việc Người bị trao nộp, bị đánh đập, nhạo báng, phỉ nhổ và cuối cùng bị đóng đanh và chết trên thập giá.Như vậy, tuyệt đối không có vấn đề giả sử Giuđa đừng phản bội thì Chúa đã không phải chết. Đây là chén đắng Chúa Cha đã định liệu cho Người uống để chuộc tội cho nhân loại trong chương trình cứu độ của Chúa Cha

Và Chúa Kitô đã vui lòng uống " chén đắng" đó khi Người không kêu cứu Chúa Cha sai đạo binh thiên thần đến giải thoát cho Người khỏi bị bắt và điệu đi hành hình.

Dầu vậy, Giuđa vẫn có lỗi lớn là đã bán Chúa lấy 30 đồng bạc của các thượng tế và kỳ mục Do Thái. Và vì không ngờ việc bán Thầy lại trùng hợp với việc Chúa Giêsu vâng ý Chúa Cha để vui lòng chiu tử nạn, nên y đã quá thất vọng đi tự tử, tức là phạm thêm một tội trọng nữa là tự hủy hoại mang sống mình. Nhưng như đã nói ở trên, ta không biết được Giuđa có còn kịp sám hối trước khi chết hay không, nên không thể kết luận được gì về phần rỗi của y. Việc này Chỉ có Chúa biết mà thôi.

2- Đức Mẹ được cứu chuộc trước khi Chúa Kitô ra đời ?

Có thể nói vắn gọn là điều này không đúng, vì bằng chứng Kinh Thánh sau đây :

a- " Chỉ có một Thiên Chúa

Chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người

Đó là một con người : Đức Kitô- Giêsu

Đấng đã tự hiến làm giá chuộc cho mọi người." ( 1 Tm 2 : 5-6)

b-

" Ngoài Người ( Đức Kitô) ra, không ai đem lại ơn cứu độ vì dưới gầm trời này

Không có một danh nào khác đã ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào

Danh đó mà được cứu độ." (Cvtđ 4: 12)

Đức Trinh Nữ Maria được diễm phúc không mắc tội tổ tông và mọi tội khác, được trọn đời đồng trinh dù đã sinh Chúa Giêsu với quyền năng của Chúa Thánh Thần, cũng như được về trời cả hồn xác.Nghĩa là Mẹ không phải trải qua cái chết trong thân xác như mọi con người sinh ra trong trần thế này. Hơn thế nữa, Mẹ còn được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos) vì là Mẹ thật của Chúa Giêsu, cũng là Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi Một Thiên Chúa ( The Holy Trinity).

Nhưng dù với địa vị cao trọng làm vậy, Mẹ cũng không cùng bản thể với Thiên Chúa hay cao hơn Chúa, là Đấng được tôn thờ ở mức Latria trong khi Mẹ được tôn kính đặc biệt ở mức Hyperdulia, các Thánh Nam Nữ khác ở mức Dulia trong phụng vụ thánh của Giáo Hội. Đó là những điều chúng ta cần biết, tin và thực hành như Giáo Hội dạy.

Nhưng Giáo Hội chưa hề dạy rằng Mẹ Maria được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Thiên Chúa trước khi làm Mẹ Ngôi Hai. Thiên Chúa có Chương Trình cứu chuộc loài ngoài, và đã nhờ Chúa Kitô thi hành Chương Trình này và Chúa đã hoàn tất Công Trình đó qua khổ nạn thập giá, chết , sống lại và lên trời . Đó là nội dung Mầu Nhiệm Vượt qua ( Paschal Mystery) của Chúa Kitô mà Giáo Hội cử hành mỗi năm trong Tuần Thánh với cao điểm là Lễ Phục Sinh, tuyên xưng Chúa Kitô đã sống lại sau khi phải chiu khổ nạn và thực sự chết trên thập giá và được mai táng 3 ngày trong Mồ đá.

Như thế, trước khi Chúa Kitô hoàn tất Chương Trình cứu độ của Chúa Cha qua Mầu Nhiệm Vượt qua thì công nghiệp cứu chuộc đó chưa có để ban phát cho ai, -dù là riêng cho Mẹ Maria- vì Chúa Giêsu chưa "uống chén đắng" mà Chúa Cha muốn trao cho Người.

Chính vì ơn cứu độ chưa sẵn có, nên những người lành thánh chết từ bao đời trước khi Chúa Giêsu hoàn tất công nghiệp cứu chuộc của Người , thì đều phải ở nơi gọi là "Ngục tổ tông=Abode of the Dead" đợi chờ Chúa " đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm" ở đây. Vì thế, sau khi Chúa chết trên thập giá, Người đã xuống nơi này với tư cách là Đấng Cứu Thế để loan báo Tin mừng cứu độ cho họ và dẫn đưa họ vào Thiên Đàng ( x.1 Pr 3: 19; SGLGHCG số 632)

Do đó, không thể nói rằng Chúa Cha đã ban ơn cứu độ riêng cho Mẹ Maria, Người đầy ơn phúc., vì đã sinh Con Chúa Trời và cộng tác tích cực vào việc thi hành Chương Trình cứu chuộc nhân loại của Chúa Giêsu-Kitô.Nghĩa là mọi người - kể cả Đức trinh Nữ Maria- dù vẹn toàn vì không mắc tội tổ tông và mọi tội cá nhân- đều phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô để vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Chúa là hạnh phúc của các Thánh và các Thiên Thần. Lý do là chỉ có một mình Chúa Kitô là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người trong việc cứu độ nhân loại như lời Kinh Thánh trích trên đây.Cho nên, khi Người chưa hoàn tất công cuộc cứu chuộc loài người qua Hy Tế Thập giá, thì ơn cứu độ đó chưa sẵn có để ban cho ai.Vả lại, nếu ơn đó đã sẵn có, thì Chúa Kitô đã không cần phải đến trần gian để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người và trở thành Đấng Cứu Chuộc duy nhất cho nhân loại ( Human Savior).

Đó là tất cả những điều người tín hữu Chúa Kitô phải tin và thực hành để hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo là Mẹ, thay mặt Chúa là Cha để dạy dỗ con cái mình không sai lầm những gì thuộc phạm vị đức tin và luân lý.

Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO = CON DUONG HY VONG PDF Print E-mail



EMMAUS, CON ĐƯỜNG HY VỌNG

Nguyễn Tiến Cảnh,MD

Chúng ta thường nghe nói con đường Emmaus, nhưng ít khi suy nghĩ tường tận xem con đường đó ám chỉ những gì. Dựa vào tông thư của ĐTC Biển Đức XVI Spe Salvi facti summus (Trong Hy Vọng, chúng ta được cứu rỗi), chúng ta thử tìm hiểu ý nghĩa câu chuyện hai môn đệ của Chúa Kitô trên đường Emmaus. (Luca 24: 13-35).

Chuyện kể rằng, sau ngày Sabbath, tức ba ngày sau khi Chúa Giêsu chịu chết trên thập giá và chịu táng trong mồ, hai môn đệ quá buồn phiền chán nản bèn rời Jerusalem đi về một làng nhỏ gần đó tên là Emmaus.

Trên đường đi, Chúa sống lại đã hiện ra, cùng đi và trò chuyện với hai ông, nói về cả kinh thánh, việc Chúa Giêsu chịu chết....nhưng hai ông đã không nhận biết ra Chúa. Tin Mừng thánh Luca thuật lại rằng, Chúa thấy hai môn đệ buồn nản, chẳng còn lòng dạ nào nữa, than van rằng Chúa Giêsu, thày mình đã chịu cực hình, rồi chết và trở về trời trong vinh quang của Người. Khi tới nơi, Chúa vào nhà cùng với hai môn đệ, ngồi xuống bàn với họ, làm phép bánh và bẻ bánh với họ....Lúc đó nhờ cung cách bẻ bánh, các ông mới nhận ra Chúa chính là người lữ khách đồng hành đã nói chuyện với các ông trên đường Emmaus. Nhưng lúc đó Chúa lại biến hình khỏi tầm nhìn của các ông. Các ông quá ngỡ ngàng và kinh ngạc về sự hiện diện của Chúa. Cử chỉ bẻ bánh, một dấu hiệu Chúa hiện diện.

Ngay lập tức sau đó, hai ông liền trở về lại Jerusalem và kể tất cả những gì đã xẩy ra mắt thấy tai nghe cho các môn đệ và bạn bè...

Địa danh làng Emmaus thì không được xác định rõ ràng nó nằm ở đâu. Mặc dù có nhiều giả thuyết khác nhau, nhưng chắc chắn nó cho chúng ta một suy tư chiêm nghiệm rất phong phú đầy ý nghĩa. Emmaus có thể là bất cứ chỗ nào. Con đường dẫn đến Emmaus tức là đoạn đường tượng trưng cho cuộc hành trình đời sống của mỗi con người nói chung, của mỗi một người tín hữu Kitô giáo nói riêng ở trần thế này. Xuyên suốt đoạn đường hành trình này, Chúa Kitô phục sinh luôn luôn là người bạn đường đồng hành với chúng ta. Người đốt lửa tâm hồn chúng ta. Người nung ấm đức TIN, đức CẬY / HY VỌNG của chúng ta và BẺ BÁNH HẰNG SỐNG cùng chúng ta mỗi ngày.

Trong câu chuyện đàm thoại giữa hai tông đồ và người lữ hành xa lạ, thánh Luca đã kể rằng một trong hai môn đệ đã nói: "Lúc đó chúng tôi đă hy vọng...." (Luca 24: 21). Như vậy có nghĩa là lúc đó chúng tôi ĐÃ TIN, chúng tôi ĐÃ THEO, chúng tôi ĐÃ HY VỌNG....nhưng bây giờ, hiện nay thì những hành động, cử chỉ, ý nghĩ đó tất cả đã qua đi rồi, không còn nữa. Ngay cả Đức Giêsu thành Nazaret là một ngôn sứ đầy quyền năng trong hành động cũng như lời nói đối với tất cả mọi người cũng đã thất bại và chúng tôi thất vọng.

Thảm trạng này của các môn đệ trên đường Emmaus phản ảnh tình trạng của nhiều người trong chúng ta hiện nay. Đôi khi chúng ta đã đánh mất đức tin của chúng ta. Chúng ta không còn tin tưởng vào Chúa, có cảm tưởng Chúa bỏ rơi chúng ta vì những kinh nghiệm chua chát tiêu cực trong cuộc sống, vì những thất bại trong mưu toan dự tính của chúng ta.

Tình trạng buồn nản và thất vọng của hai môn đệ này cũng tượng trưng cho các môn đệ thời nay khi họ tự mình xa rời Jerusalem, nơi Chúa bị chết treo trên thập giá và sống lại lúc mà họ không còn tin tưởng vào quyền năng và sự hiện diên sống động của Chúa. Vấn đề ma quỉ, đau khồ, cực hình, vấn đề đàn áp, bất công và lạm dụng, vấn đề sợ hãi người này người kia, những người anh em nôi bộ của mình, những người từ ngoài đến, từ những vùng xa xôi xâm nhập nôi bộ mình, đe dọa khủng bố mình làm mình phải kinh sợ.

Nhưng con đường dẫn đến Emmaus này chính là con đường HY VỌNG có thể giúp chúng ta thanh tẩy tâm hồn, tin tưởng vào Chúa một cách hăng say mạnh mẽ và trưởng thành hơn nhờ có Chúa đồng hành với chúng ta, cũng như hai môn đệ trên đường Emmaus, vì được gặp Chúa đồng hành hướng dẫn nên đã từ tâm trạng mất niềm tin vào Người và vấp ngã vì thập giá (câu 18 , 21), các ông tìm lại được niềm tin nhờ thông hiểu lời kinh thánh (câu 25-27 và 32). Chúng ta tin tưởng hy vọng rằng Chúa sẽ giải thoát chúng ta khỏi ác quỉ, tội lỗi, đau khổ, cực hình, sợ hãi và bất công..

Ngày nay, mỗi khi chúng ta cầu nguyện, chuyện vãn với Chúa, lắng nghe lời Chúa là chúng ta đang đi trên đường Emmaus. Mỗi khi chúng ta tham dự thánh lễ là Chúa bẻ bánh và ban cho chúng ta bánh thánh tức chính máu và thịt Chúa đã tu sửa con mắt Đức Tin chúng ta để chúng ta nhìn mọi sự và mọi người bằng con mắt của Chúa, dưới ánh sáng Tình Yêu của Chúa.

Với hành động đó, qua sự tiếp cận với Chúa Kitô phục sinh, chúng ta ngày nay có thể có được một đức tin thực sự và sâu đậm hơn, có thể nói, được vun trồng bởi lửa phục sinh. Đức tin này rất vững mạnh, được nuôi dưỡng không phải bởi tâm tư ý nghĩ của con người mà chính bởi Lời Chúa và sự Hiện Diện của Chúa trong bí tích Thánh Thể.

Đoạn Phúc Âm kỳ diệu này đã tóm gọn toàn bộ cấu trúc của thánh lễ Misa: Phần đầu thánh lễ là phần nghe lời Chúa qua các đoạn sách thánh; phần hai là phần nghi thức Thánh Thể và hiệp lễ / rước mình thánh Chúa với sự hiện diện của chính Chúa Ktô trong bí tích Thịt và Máu thánh Chúa.

Được nuôi dưỡng tại bàn tiệc thánh lễ có hai phần như vậy, Giáo Hội luôn luôn được xây dựng bồi đắp và tân trang cải tiến từng ngày một trong đức TIN, đức CẬY / HY VỌNG và đức MẾN. Qua sự cầu bầu của Đức Trinh Nữ Maria cực thánh, chúng ta mỗi người Kito hữu, mỗi cộng đoàn, cộng đồng hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta làm hồi sinh lại, tái diễn quang cảnh hai môn đệ đi trên đường Emmaus hầu làm sống lại ân sủng đã được gặp Chúa Kitô phục sinh.

Chúa đã sống lại, đồng hành với các môn đệ của người, đốt cháy tâm hồn họ bằng lời Chúa đối thoại, biểu hiện ra với họ qua cung cách bẻ bánh.

Trong Chúa Giêsu, chúng ta thấy lòng can đảm hơn khả dĩ làm cho chính ta và những người xung quanh ta mạnh mẽ lên nhờ gương sáng của Chúa Giêsu Kito, môt tặng phẩm của cả nhân loại

Hãy đi và làm chứng tá ân sủng về lòng thương xót của Chúa, nguồn HY VỌNG cho mỗi người chúng ta và cho cả thế giới. Hãy đặt Chúa Kitô vào trung tâm điểm đời sống của chúng ta. Hãy thiết lập lầu đài thân xác và tâm hồn của chúng ta luôn luôn hiện diện trong Người.

Chúa đã phục sinh. Hy vọng sự sống đời đời.

NTC

 
HOC HOI DE SONG DAO = SUY NIEM CN PHUC SINH -C PDF Print E-mail

SUY NIỆM PHÚC ÂM CHÚA NHẬT PHỤC SINH 2013

Một lần nữa, Giáo Hội lại long trọng mừng kỷ niệm Chúa Kitô sống lại từ cỗi chết , một biến cố vô cùng quan trọng cho đời sống KitôGiáo.

Thật vậy , cách nay trên 2000 năm Chúa Giêsu-Kitô đã sống lại sau ba ngày nằm trong Mồ Đá đúng như lời Người đã nói trước với các môn đệ khi còn đi rao giảng Tin Mừng cứu Độ :

Người bảo họ rằng: " Con Người phải chịu đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế và kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ chỗi dậy." ( Mt 19 : 18-19; Mc'9 : 31; Lc 9: 22)

Mặc dù cho đến nay, vẫn có kẻ không tin việc Chúa sống lại, nhưng chúng ta , những người có diễm phúc được đức tin, chúng ta không một chút nghi ngờ về điều Kinh Thánh đã mặc khải và giáo lý vững chắc của Giáo Hội dạy về sự Phục Sinh của Chúa Kitô, sau khi Người bị đóng đanh và chết trên thập giá ngày thứ sáu trong tuần.Niềm tin này thật vô cùng quan trọng và cần thiết vì như Thánh Phaolô đã nói :

" Nếu Đức Kitô đã không chỗi dậy , thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng ,và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng." ( 1 Cor 15: 14).

Nghĩa là nếu không tin Chúa Kitô đã sống lại, thì hy vọng sống đời đời của chúng ta cũng sẽ tiêu tan, vì không có cơ sở nào để tin " xác loài người ngày sau sống lại" như Giáo hội dạy trong Kinh Tin Kính.Nhưng chính vì Chúa Kitô đã thực sự chết và sống lại, " bởi thế, cũng như Người đã sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới." như Thánh Phaolô đã dạy. ( Rm 6: 4)

Đây là niềm tin và hy vọng chắc chắn của mỗi người tín hữu chúng ta mỗi khi cùng với Giáo Hội cử hành Lễ Chúa Kitô Phục Sinh là một trong hai cao điểm của chu kỳ Phụng Vụ Thánh

Đối với chúng ta, vấn đề không phải là đi tìm bằng cớ về sự kiện Chúa đã sống lại mà quan trọng là sống tin mừng Chúa đã phục sinh để từ đó thêm quyết tâm " sống không còn cho chính mình nữa mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình." theo lời dạy của Thánh Phaolô ( 2 Cr 5: 15).

Thật vậy, sự phục sinh của Chúa không những củng cố đức tin của chúng ta mà còn cho chúng ta hy vọng chắc chắn vào sự sống lại của mỗi người chúng ta sau khi mọi người đều phải chết trong thân xác do hậu quả của tội, như Thánh Phaolô đã quả quyết : " Vì một người duy nhất (Adam), mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian và tội lỗi gây nên sự chết; như thế , sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội." ( Rm 5: 12)

Nhưng cái chết về thể xác không quan trọng bằng cái chết trong linh hồn vì phải vĩnh viễn xa cách Thiên Chúa là nguồn mọi an vui, và hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Trời .Chính vì muốn cho con người được sự sống vĩnh cửu đó – nghĩa là được cứu rỗi- mà Chúa Giêsu, Ngôi Hai Thiên Chúa, đã xuống thế làm Con Người để " hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20: 28).

Như thế, công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu-Kitô thực vô giá và đủ cho con người được cứu độ vì Thiên Chúa " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4).

Tuy nhiên, dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá ( invaluable) và đủ cho con người được cứu độ, Thiên Chúa vẫn cần sự cộng tác của mỗi người chúng ta vào ơn cứu chuộc đó. Lý do là con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng; để hoặc yêu mến Chúa và muốn được cứu rỗi hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng mình. Nói rõ hơn, Thiên Chúa không ép buộc ai phải yêu mến và sống theo đường lối của Ngài để được hạnh phúc Nước Trời. Nếu con người quay lưng lại với Thiên Chúa và chọn cách sống đi ngược lại với tình yêu, sự công chính và thánh thiên của Chúa, thì con người phải lãnh nhận hậu quả của sự chọn lựa đó. Và đây là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa như sau:

" Không phải bất cứ ai thưa với Lậy Chúa ! lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" ( Mt 7: 21)

Thi hành ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa là sống và thực thi Sứ Điệp Cứu Độ của Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, Đấng đã đến trong trần gian làm Con Người để thi hành Chương Trình Cứu Độ nhân loại của Chúa Cha qua khổ hình thập giá, sống lại từ cõi chết và lên Trời vinh hiển như Giáo Hội long trọng mừng kính năm nay là năm thứ 2013.

Trong suốt ba năm đi rao giảng, Chúa Giêsu đã mặc khải Chúa Cha cho các môn đệ và nói rõ Người được Chúa Cha sai xuống trần gian để " cứu cái gì đã hư mất." ( Mt 18: 11). Cho nên:

" Ai không yêu mến Thầy thì không giữ lời Thầy

Và lời anh em nghe đây, không phải là của Thầy

Nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy." ( Ga 14: 24)

Lời Chúa Cha mà Chúa Giêsu công bố được tóm tắt trong hai Điều Răn quan trọng nhất, đó là phải " yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của các ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi,..và yêu mến người thân cận như chính mình." ( Mt 22: 37-39) như Chúa đã trả lời cho một người trong nhóm luật sĩ Do Thái xưa.

Như vậy, thực hành tốt hai Điều Răn nói trên là thi hành ý muốn của Chúa Cha, và nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giê-su-Kitô, chúng ta được cứu rỗi để sống hạnh phúc vĩnh cửu với Cha chúng ta ở trên trời, sau khi kết thúc hành trình đức tin, đức cậy và đức mến trên trần thế này.. Nhưng như đã nói ở trên, Thiên Chúa đòi hỏi sự cộng tác của con người vào ơn cứu độ vì con người còn có tự do để hoặc chọn Chúa và sống theo đường lối của Người, hay từ khước Chúa để sống theo thế gian với " văn hóa của sự chết" thể hiện rõ nét qua sự tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất, danh vọng phù phiếm, vui chơi sa đọa, dâm ô, gian manh, lừa đảo,trôm cắp, giết người, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm rất khốn nạn, như thực trạng ở khắp nơi trên thế giới duy vật, vô thần và tục hóa ngày nay.

Nếu con người dùng tự do để chọn nếp sống vô luân vô đạo nói trên, thì Thiên Chúa không ngăn cấm, nhưng con người phải chịu mọi hậu quả của sự chọn lựa này.

Nói khác đi, nếu con người không cộng tác với ơn Cứu Độ của Chúa Kitô để tự do sống theo ý muốn của riêng mình và làm những sự dữ sự tội, thì công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa sẽ trở nên vô ích và Chúa sẽ không thể cứu ai chọn cách sống đó, mặc dù Chúa là tình thương và hay tha thứ.Thương và tha thứ cho những ai còn tin tưởng nơi lòng nhân hậu của Chúa và muốn sống theo đường lối của Người, là đường đưa đến sự sống vĩnh cửu trên Nước trời mai sau..Giesu1

Tình thương vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô có thể được tạm ví như dòng sông nước chảy cuồn cuộn liên lỉ đêm ngày. Nhưng người đứng bên dòng sông đó sẽ vẫn chết khát, nếu không tự cúi mình xuống, múc nước lên mà uống. Vì nước không có chức năng phải nhảy lên từ dòng sông để chảy vào miệng ai đang khát ngồi trên bờ sông.Như vậy, cúi xuống mà múc nước lên là cố gắng của con người cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi và sống hạnh phúc đời đời với Chúa trong nơi Vĩnh Hằng mai sau.

Tóm lại, mừng Chúa Kitô phục sinh cũng là dịp thuận lợi để mỗi người tín hữu chúng ta trước hết cảm tạ Chúa một lần nữa về ơn cứu độ và hy vọng được hưởng Thánh Nhan Chúa là nguồn mọi vui sướng hoan lạc. Nhưng đồng thời cũng nhắc chúng ta về sự cần thiết phải cộng tác với ơn cứu chuộc vô giá đó bằng quyết tâm cải thiện đời sống, từ bỏ ma quỉ và thế gian là những kẻ luôn muốn đẩy chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, với những cảm dỗ về mọi giống tội lỗi và sự dữ, là nguyên nhân khiến Chúa Kitô đã phải chịu khổ hình thập giá để cứu chuộc cho chúng ta được hy vọng sống và " thông phẩn bản tính Thiên Chúa sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian" này như Thánh Phêrô đã dạy.( 2 Pr 1: 4)

Xin kinh chúc quí tín hữu và độc giả một Mùa Phục Sinh bình an, vui mừng , và hy vọng Alleluia ! Alleluia !

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO = LICH PHUNG VU THANG TU PDF Print E-mail

 

LỊCH PHỤNG VỤ THÁNG 4/2013

(Linh Mục Aphong Trần Đức Phương)

Trong tháng này, chúng ta sẽ mừng lễ các Chúa Nhật 2, 3, 4 và 5 Mùa Phục Sinh (Năm C); đồng thời chúng ta cũng kính đặc biệt Lễ Truyền Tin.

CHÚA NHẬT 2 MÙA PHỤC SINH (Ngày 7/4): Chúa Nhật hôm nay cũng được gọi là Chúa Nhật Lòng Chúa Thương Xót; đặc biệt để kính lòng Chúa thương xót chúng ta thật sâu xa đến nỗi đã sai Con Một Ngài xuống trần gian, mặc lấy thân phận con người để chia sẻ cuộc sống của chúng ta, để rao giảng Tình Chúa Thương Xót cho chúng ta, đã chịu nạn chịu chết trên Thánh Giá để cứu chuộc chúng ta, đã sống lại và về trời vinh hiển để mở đường về trời cho chúng ta (Xin nhớ lại lời đọc trong kinh Tin Kính). Tất cả là vì tình yêu thương đối với chúng ta, đúng như lời Thánh Gioan nói: "THIÊN CHÚA LÀ TÌNH YÊU!" (1 Gioan 4:8).

Các Bài Đọc: Chúng ta nên lưu ý, trong Mùa Phục Sinh, Bài Đọc 1 thường được trích trong Sách Tông Đồ Công Vụ là cuốn sách ghi lại các hoạt động truyền giáo của Các Tông Đồ, sau khi Chúa Giêsu đã lên Trời. Bài Đọc 2 thường được trích trong Sách Khải Huyền, là cuốn sách cuối cùng trong bộ Kinh Thánh, viết theo thể văn 'khải huyền' (thường thịnh hành vào thời đó), gồm những thị kiến tác giả đã được lĩnh nhận và ghi lại để an ủi các tín hữu đang bị bách hại vào thời các Thánh Tông Đồ. Bài Phúc Âm thường được trích trong Phúc Âm theo Thánh Gioan.

Bài Đọc 1 hôm nay (Cv 5:12-16) ghi lại công việc rao giảng của Thánh Phêrô tại Giêrusalem: "Số người tin vào Chúa ngày càng gia tăng", và Thánh Phêrô "làm nhiều phép lạ phi thường để chữa lành các bịnh nhân, cũng như các người bị quỷ ám." Bài Đọc 2 (Sách Khải Huyền 1:9-11,12-13,17-19) ghi lại những lời mở đầu về những thị kiến mà tác giả nhận được và viết ra. Bài Phúc Âm trích trong Phúc Âm theo Thánh Gioan (20: 19-31) ghi lại lần Chúa Giêsu Phục Sinh hiện ra với các Tông Đồ (mà không có ông Tôma ở đó), và Chúa Giêsu chúc bình an cho các ông rồi cho các ông xem "tay và cạnh sườn của Chúa" để củng cố niềm tin vào việc Chúa đã phục sinh; rồi Chúa Giêsu ban Chúa Thánh Thần cho các ông và ban quyền tha tội cho các ông "Các con tha tội cho ai thì người ấy được tha, các con cầm buộc ai thì người ấy bị cầm buộc"; tiếp theo là lần Chúa hiện ra có cả Tôma, và bảo ông "hãy xỏ ngón tay con vào đây và đừng cứng lòng nữa!" và Chúa Giêsu cũng nói "Hỡi Tôma, vì con trông thấy Thầy nên con mới tin; nhưng phúc cho những ai không thấy mà tin!" Đây là những lời thật an ủi chúng ta, vì chúng ta được Chúa thương ban Đức Tin cho chúng ta, và "chúng ta thật có phúc vì không thấy mà tin." Đó là điều chúng ta phải ghi nhớ luôn trong tâm trí và dâng lời cảm tạ Chúa, nhất là trong Năm Đức Tin này.

LỄ TRUYỀN TIN (Ngày 8/4): Thánh Lễ hôm nay để kỷ niệm một biến cố rất quan trọng, đó là việc Sứ Thần Gabrien được Thiên Chúa sai đến báo tin cho Đức Maria biết là Mẹ đã được Thiên Chúa chọn để chịu thai Đấng Cứu Thế bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, nên Mẹ vẫn còn đồng trinh trọn đời; và Đức Maria đã vâng theo Thánh ý Chúa và thưa lời "Xin Vâng", ngay lúc đó Ngôi Lời xuống Thế trong lòng Đức Maria (Bài Phúc Âm hôm nay: Luca 1: 26-38). Đây là giây phút thật quan trọng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa đối với nhân lọai, giây phút chia đôi cả lịch sử nhân loại, chia đôi thời gian Cựu Ước và Tân Ước. Giây phút nối kết trời và đất "Trời Đất giao hòa" (Thơ Hàn Mạc Tử). Vì thế trong Giáo Hội vẫn có thói quen giật chuông và nguyện kinh Truyền Tin mỗi ngày vào buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều, để chúng ta nhớ lại giây phút quan trọng đó (chúng ta nhớ đến kinh Truyền Tin). Trong Bài Đọc 1 (Isaia 7:10-14, 8:10), Tiên Tri Isaia được Thiên Chúa soi sáng cho biết trước việc "Một Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, và tên con trẻ sẽ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta." Trong Bài Đọc 2 (Thơ Do Thái: 10: 4-10), Thánh Phaolô nói đến của lễ Chúa Giêsu vâng theo thánh ý Đức Chúa Cha dâng trên Thánh Giá thay thế của lễ thời Cựu Ước, và nhờ đó chúng ta được lĩnh ơn Cứu Độ đời đời.

CHÚA NHẬT 3 MÙA PHỤC SINH (Ngày 14/4):

Bài Đọc 1 (Cv 5: 27-32,40-41) nói đến việc các Tông Đồ bị đe dọa và cấm không cho rao giảng Phúc Âm Tình Thương của Chúa; nhưng các Tông Đồ vẫn hiên ngang rao giảng. Khi bị đánh đòn, các Ngài lại lấy làm hãnh diện vì được chịu sỉ nhục vì danh Chúa Kitô." Bài Đọc 2 (Kh 5:11-14) nói đến thị kiến về ngai tòa cao sang của Thiên Chúa và việc "Chiên Con đã bị giết xứng đáng được lĩnh nhận quyền năng, phú quý,sự khôn ngoan, sức mạnh, danh dự, và lời chúc tụng." Bài Phúc Âm (Gioan 21: 1-19) ghi lại phép lạ Chúa Giêsu giúp các Tông Đồ đánh được một mẻ cá thật lớn. Sau đó Chúa Giêsu hỏi Thánh Phêrô 3 lần về lòng yêu mến Chúa của Thánh Phêrô và trao cho ông quyền thủ lãnh Giáo Hội trần gian, ngôi vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội; nhưng Chúa Giêsu cũng tiên báo cho ông về cuộc khổ nạn ông sẽ phải chịu vì danh Chúa.

Trong Thánh Lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu nguyện nhiều cho Giáo Hội, nhất là ở các nơi đang bị bách hại, cho Giáo Hội Việt Nam, cho Đức Giáo Hoàng và các vị chủ chăn trong Giáo Hội luôn được đầy ơn Chúa Thánh Thần để dẫn dắt đoàn chiên Chúa đi theo đường lối của Chúa.

CHÚA NHẬT 4 MÙA PHỤC SINH (Ngày 21/4): Chúa Nhật 4 mùa Phục Sinh thường được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành. Trong Bài Phúc Âm (Gioan10:27-30), Chúa Giêsu xác định "Ta và Chúa Cha là một" và Chúa Giêsu cũng nói "Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta..." Bài đọc 1 (Cv 13:14,43-52) ghi lại công việc truyền giáo của Thánh Phaolô và Barnaba tại Antiopia xứ Pisidia , nhiều người vui vẻ đón nhận Lời Chúa và tòng giáo, nhưng những người Do Thái đã tòng giáo ghen tức và đe dọa các Ngài và sau cùng trục xuất các Ngài đi khỏi đó. Bài Đọc 2 (Khải Huyền 7: 9,14-17) ghi lại thị kiến về "một đám đông không thể đếm được" mặc áo trắng dài và cầm cành lá vạn tuế, đang đứng trước Con Chiên. Các Ngài chính là các Thánh Tử Đạo đã chết vì đạo thánh Chúa và bây giờ được thưởng công trên Nước Chúa. Chúa Nhật hôm nay cũng được gọi là Chúa Nhật Chúa Chiên Lành, nhắc nhở chúng ta hãy dâng những hy sinh, hãm mình, và cầu nguyện hằng ngày cho Đức Giáo Hoàng và các vị chủ chăn. Chúng ta cũng cầu nguyện cho có nhiều ơn gọi nơi giới trẻ để hiến dâng cuộc đời cho Chúa và phục vụ Dân Chúa.

CHÚA NHẬT 5 MÙA PHỤC SINH (Ngày 28/4): Trong bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay (Gioan 13:31-35), trong khung cảnh thân thương giữa Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu tha thiết kêu gọi các Thánh Tông Đồ hãy thương yêu nhau. Chúa Giêsu nói: "Thầy ban cho các con một Giới Răn mới là các con hãy thương yêu nhau như Thầy yêu thương các con," và Chúa Giêsu nói tiếp "Mọi người sẽ nhận ra các con là môn đệ của Thầy khi họ thấy các con thương yêu nhau." Bài Đọc 1 (Cv. 14:21-27) tiếp tục nói về công cuộc truyền giáo của Thánh Phaolô và Barnaba tại các vùng Antiokia,Lystra,Icôniô,Pisidia,Pamphylia, Pergiê, và Atilia. Nhiều người ngoại được ơn trở lại Đạo Thánh Chúa. Các Ngài cầu nguyện cho họ và khuyến khích mọi người hãy giữ vững Đức Tin nơi Chúa, dù phải trải qua bao nhiêu gian truân, thử thách. Rồi các Ngài tổ chức các Cộng Đoàn và đặt các vị "Niên Trưởng" để thay mặt các Ngài coi sóc mỗi Cộng Đoàn. Rồi các Ngài tiếp tục đi các nơi khác để rao giảng Đạo Thánh Chúa. Trong Bài Đọc 2 (Kh 21:1-5), tác giả ghi lại thị kiến về "Thành Giêrusalem mới" nơi Thiên Chúa ngự giữa Dân Chúa và lau khô những giọt nước mắt của họ, không còn khóc than đau khổ nữa; đó thật là "Một Trời Mới Đất Mới," là hình ảnh Nước Thiên Đàng.

Trong Thánh Lễ hôm nay chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp chúng ta luôn giữ vững Đức Tin, vượt qua mọi gian nan khốn khó trên con đường tiến về Nước Chúa hưởng hạnh phúc đời đời. Xin Chúa cũng giúp chúng ta đoàn kết thương yêu nhau và tìm mọi dịp để đem Đức Tin đến cho mọi người chung quanh chúng ta, giữa gia đình, tại cộng đoàn, sở làm; đặc biệt trong năm Đức Tin này.

Xin Chúa, nhờ lời Đức Mẹ Maria, Thánh Giuse, và các Thánh chuyển cầu, ban muôn ơn lành cho chúng ta và gìn giữ chúng ta trong ơn nghĩa Chúa luôn. Chúng ta cũng cùng cầu nguyện cho tòan thể Giáo Hội, đặc biệt cho Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam và các nơi đang bị bách hại.

 
HOC HOI DE SONG DAO # MONG GI NOI TAN GIAO HOANG? PDF Print E-mail

CHÚNG TA MONG ĐỢI NHỮNG GÌ NƠI ĐỨC THÁNH CHA PHAN-XI-CÔ I ?

Toàn thể Giáo Hội nói riêng và toàn Thế giới nói chung đều hân hoan về tin Đức Tân Giáo Hoàng Phan-xi-cô được mật nghị Hồng Y chọn lên kế vị Thánh Phêrô ngày thứ tư 13-3 vừa qua. Có thể nói : trên toàn thế giới từ xưa đến nay, không có biến cố nào lại được mọi người – đặc biết là giới truyền thông- chú ý theo dõi cách đặc biệt như vậy. Con số 5600 nhà báo và hàng mấy chục cơ quan truyền thanh ,truyên hình đến từ nhiều quốc gia trên thế giới để săn tin đã nói lên tầm quan trọng có chiều kích toàn cầu của việc tuyển chọn vị Lãnh đạo tối cao của Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.

Riêng người tín hữu Công Giáo ở khắp nơi trong Giáo Hội, thì niềm hân hoan vui mừng vì có Chủ Chăn mới vẫn đang còn nóng hổi trong tâm hồn mỗi người. Tin vui mừng lớn lao ( gaudium magnum) này cũng xoa dịu nỗi buồn luyến tiếc về việc Đức Bê-nê đich tô 16 đột nhiên từ chức ngày 11 tháng 2 vừa qua vì lý do sức khỏe.

Trước hết, qua việc bầu Đức Tân Giáo Hoàng Phan-xi-cô, mọi người tín hữu chúng ta thêm xác tín có Chúa Thánh Thần hiện diện và hướng dẫn Giáo Hội của Chúa Kitô trong mọi phạm vi của đời sống Giáo Hội, nhất là việc chọn Giám mục Rôma tức Đức Thánh Cha, khiến cho mọi toan tính của con người, mọi áp lực thầm kín của những ai muốn áp đặt ảnh hưởng, kể cả mọi tin đồn vu vơ, đều đã thất bại thê thảm trước uy quyền và ơn soi sáng của Chúa Thánh Linh, khiến chúng ta thêm tin rằng Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội thật của Chúa Kitô..

Nói rõ hơn, chúng ta tin tưởng vững chắc là chính Chúa Thánh Thần đã chọn Đức Phan-xi-cô qua các Hồng Y cho Giáo Hội, để tiếp tục những công trình tốt đẹp của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II và Đức Biển Đức 16. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa về hồng ân này .

Với Đức Tân Giáo Hoàng, sự kiện ngài chọn Thánh hiệu Phan-xi-cô cho Triều đại Giáo Hoàng ( Pontificate) của ngài đã nói lên cách rõ nét linh đạo ( spirituality) và chiều kích Xứ Vụ mà ngài sẽ theo đuổi để rao giảng Tin Mừng Cứu Độ hay Phúc Âm sự Sống ( Gospel of Life) của Chúa Kitô cách xác tín hơn nữa hầu củng cố thêm đức tin cho mọi tín hữu trong Giáo Hội và mời gọi thêm nhiều người nữa đón nhận Tin Mừng, và nhiên hậu, đẩy lui nhanh bóng đen của "văn hóa sự chết" đang bao phủ thế giới hiện nay.

Thật vậy, khi chọn tên Thánh Phan-xi-cô thành Assisi làm tước hiệu, Đức tân Giáo Hoàng đã cho thấy ngài muốn chính mình và toàn thể Giáo Hội sống tinh thần nghèo khó của Chúa Kitô, " Đấng vốn giầu sang phú quý nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." ( 2 Cr 8: 9).

Đây chính là linh đạo của Thánh Phan-xi-cô khó khăn và Năm Dấu (1181- 12126), người đã khép mình trong nếp sống tu trì nhiệm ngặt với quyết tâm thực hành tinh thần khó nghèo, từ khước mọi lợị danh, ưu quyền, ưu đãi của thế gian, vì ngài muốn cùng nói với Thánh Phaolô là " Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Chúa Kitô-Giêsu, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rơm rác để được Đức Kitô, và được kết hợp với Người." ( Pl 3: 8).

Để nên giống Chúa Kitô, Thánh Phan-xi-cô không những sống khó nghèo như Chúa mà còn học và thực hành gương khiêm nhu của Chúa như lời Người đã nói với các môn đệ xưa:

" Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và

Khiêm nhường.Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng, vì ách của tôi

Êm ái và gánh của tôi nhẹ nhàng." ( Mt 11: 29-30)

Như vậy, Tước hiệu Phan-xi-cô mà Đức Tân Giáo Hoàng chọn đã nói lên tất cả chiều kích khiêm nhường, khó nghèo, đơn sơ và thánh thiện mà thánh nhân đã sống, đã để lại gương mẫu cho Giáo Hội mà Đức Thánh Cha Phanxi-cô vừa lãnh sứ mệnh chăn dắt và đang được mọi tín hữu chúng ta mộ mến ngay từ buổi đầu.

Đức Tân Giáo Hoàng đã biểu lộ cụ thể tinh thần của Thánh Phan-xi-cô khi ngài ra mắt lần đầu tiên trước hàng trăm ngàn người đang bất chấp trời mưa giá lạnh tại công trường Thánh Phêrô tối thứ tư 13- tháng 3 vừa qua. Khác với mọi vị tiền nhiệm, Đức Phan-xi-cô đã cúi đầu xin công chúng cầu nguyện và chúc lành cho ngài trước khi ngài ban phép lành đầu tay cho mọi người có mặt và đang theo dõi ở khắp nơi trên thế giới.Cử chỉ này không những làm ngạc nhiên mà còn gây cảm kích xâu xa cho mọi người vì ai cũng cảm nghiệm ngay được nét đơn sơ, thánh thiện và đầy khiêm nhu của đức Tân Giáo Chủ, hình ảnh rõ nét của Thánh Phan-xi-cô khó nghèo, khiêm nhu và thánh thiện, đã giang tay ôm lấy Thập giá Chúa Kitô như báu vật cao quý nhất của đời mình trong suốt hành trình đức tin trên trần thế.

Đối với dư luận trong và ngoài Giáo Hội hiện nay, thì những đặc tính nói trên của Thánh Phan-xi-cô mà Đức Tân Giáo Hoàng đã chọn làm danh hiệu, quả là những khí giới sắc bén để chống lại lòng ham mê tiền bạc, của cải vật chất và hư danh trần thế, nhất là chống lại những độc hại của trào lưu tục hóa ( vulgarization) vật chất hóa ( materialization) vô thần ( atheism) và vô luân ( immorality) đang ngày một bành trướng ở khắp nơi trên thế giới hiện nay để mong xóa đi mọi niềm tin có Thiên Chúa, có sự thiện hảo và công chính tuyệt đối.

Từ những cảm nghiệm ban đầu này, mọi tín hữu chúng ta hy vọng Đức Tân Giáo Hoàng Phan-xi-cô sẽ dẫn dắt Giáo Hội đi xa hơn nữa trên đường phúc âm hóa thế giới ( evangelization of the world) để Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô được .đi sâu thêm vào lòng người của thời đại tục hóa hôm nay.Đồng thời, cũng lôi kéo những anh chị em đã xa lìa được quay trở về với Giáo Hội là Mẹ đang thay mặt Chúa là Cha trong sứ mệnh rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô để cứu rỗi cho mọi người như lòng Chúa mong muốn. ( 1 Tm 2: 4) . Giáo Hội không những rao giảng mà cần thiết hơn nữa là phải sống những gì mình giảng dạy cho người khác để cho Chúa Kitô được nhận diện rõ nét hơn nữa trong đời sống của mỗi người mang danh Kitô của Chúa trước mặt bao người còn chưa biết Chúa và Tin Mừng Sự Sống của Chúa.

Chúng ta có lý do vững chắc để tin rằng Đức Tân Giáo Hoàng Phan-xi-cô , với lòng khiêm cung, đơn sơ, thánh thiện và khó nghèo, sẽ hướng dẫn Giáo Hội bước theo Chúa Kitô, là ":Con đường , là sự Thật và là sự Sống"( Ga 14: 6) cách hiện thực và sống động hơn nữa để đánh tan những mê hoặc, sai lầm và tội lỗi của thế giới tục hóa, đầy bất công, thiếu tình người, và vô luân vô đạo hiện nay.

Giáo Hội đang bị thách đố bởi những kẻ không có niềm tin hay chỉ muốn sống niềm tin theo ý muốn của họ, thể hiện qua những đòi hỏi không có căn bản Phúc Âm như đòi cho phụ nữ làm linh mục, cho linh mục được kết hôn, hợp thức hóa hôn nhân đồng tính ( same sex marriage) tự do phá thai và ly dị ...là những đòi hỏi mà Giáo Hội không thể nhượng bộ được ở bất cứ mức độ nào. Chắc chắn Đức Tân Giáo Hoàng cũng sẽ không nhượng bộ vì ngài hiểu rõ hơn ai hết giáo lý của Chúa Kitô, là nền tảng của đời sống đức tin và luân lý cho mọi người sống và thực hành để được hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa.

Giáo Hội của Chúa Kitô có mặt và hoạt động trong trần gian, không phải là một tổ chức chính trị, một guồng máy cai trị, mà là một phương tiện cứu độ hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập trên nền tảng Tông Đồ mà Thánh Phêrô là Đá Tảng..Sứ vụ này ( Petrine Ministry) đã được nối tiếp trao cho người kế vị Thánh Phêrô là Đức Thánh Cha, tức Giám Mục Rôma, cũng là Thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.

Thi hành sư vụ Phêrô, Đức Thánh Cha , với sự hiệp thông, vâng phục và cộng tác trọn vẹn của hàng Giám mục, những người kế vị các Thánh Tông Đồ, có sứ mệnh " chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Thầy" như Chúa đã truyền cho Phêrô trước khi Người về Trời. ( Ga 20: 15-17)

Với Đức Tân Giáo Hoàng Phan-xi-cô, chúng ta càng hy vọng ngài sẽ được chăn dắt chúng ta , những chiên lớn nhỏ của Chúa, khỏi bị sói rừng là ma quỷ và thế giới tục hóa này sát hại.

Trong niềm hy vọng và vui mừng đó, chúng ta một lần nữa cảm tạ Chúa đã cho chúng ta một Mục Tử tốt lành, một gương mẫu khiêm cung, thánh thiện và khó nghèo, một Thầy dạy đức tin vũng chắc và can đảm trước những thách đố của thế giới tục hóa, vô luân vô đạo hiện nay.

Chúng ta cùng tha thiết cầu xin cho Đức Tân Giáo Hoàng được tràn đày ơn Thánh Linh để dẫn dắt Giáo Hội của Chúa qua mọi sóng gió, hiểm nguy.đang chờ sẵn để uy hiếp Con Thuyền Phêrô chở Giáo Hội của Chúa.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Next > End >>

Page 82 of 100