mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5070
mod_vvisit_counterHôm Qua7908
mod_vvisit_counterTuần Này43057
mod_vvisit_counterTuần Trước54956
mod_vvisit_counterTháng Này191188
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11155781

We have: 142 guests online
Your IP: 54.158.30.219
 , 
Today: Jun 22, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 201= LAM DAU THANH GIA PDF Print E-mail

Dấu Thánh Giá là gì?

Làm Dấu Thánh Giá là tuyên xưng Đức Tin, tuyên xưng Chúa Ba Ngôi. Trong số kinh nguyện Công giáo phổ biến nhất là Dấu Thánh Giá. Vào bất kỳ nhà thờ Công giáo nào trên thế giới bạn đều thấy ai vào nhà thờ cũng làm Dấu Thánh Giá. Mỗi ngày chúng ta đều làm Dấu Thánh Giá ngay từ khi thức dậy buổi sáng, và làm nhiều lần trong ngày.

Bước vào nhà thờ Công giáo ở bất cứ nơi nào trên thế giới, người ta đều thấy những người bước vào làm Dấu Thánh Giá, cả trước và sau mỗi bữa ăn. Trong cuốn "Nói Về Các Bí tích", Lm Arthur Tonne kể một câu chuyện hồi thế chiến II về một ngôi làng ở Đức bị lính Mỹ chiếm đóng. Dân làng không biết sẽ bị đối xử thế nào nên lo lắng về sự an toàn. Nhưng người ta tin rằng sẽ bình an khi chứng kiến hai binh sĩ Mỹ đứng trước Thánh Giá, bỏ mũ xuống, và làm Dấu Thánh Giá.

Từ khi sinh ra, trẻ em Công giáo để ý cha mẹ đưa tay làm Dấu Thánh Giá và đọc: "Nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần". Khi bệnh hoặc nửa mê nửa tỉnh, người Công giáo vẫn thường cố gắng làm Dấu Thánh Giá khi cầu nguyện. Chúng ta được đóng dấu ấn thánh này khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, ấn tín này ghi đậm suốt cuộc đời, và tuyên xưng khi sắp qua đời.

Hằng ngày, khi đi ngủ, khi thức dậy, khi tham dự Thánh lễ, khi đi qua nhà thờ, khi cầu nguyện, và nhiều trường hợp khác, chúng ta đều làm Dấu Thánh Giá. Chúng ta dùng Dấu Thánh Giá để ca tụng và kêu xin Chúa Giêsu bất cứ lúc nào trong cuộc sống. Lời cầu này không mới lạ. Năm 211, trong cuốn The Chaplet (chuỗi hạt, tràng hạt), thần học gia và tác giả Công giáo Tertullian nói về việc làm Dấu Thánh Giá như nhiệm vụ hằng ngày: "Trước khi di chuyển, đi xa hoặc đi đâu đó, khi mặc quần áo, khi tắm, khi ngồi vào bàn ăn, khi thắp đèn, hoặc khi làm bất kỳ hành động nào trong cuộc sống đời thường, chúng ta vẫn vẽ Dấu Thánh Giá trên trán".

Nhiều tác phẩm của các tác giả Kitô giáo từ thế kỷ II, III, và IV – như Thánh Cyprian, Thánh Cyril thành Jerusalem, Thánh Hippolytus thành Rôma, và Origen, đều nói rõ rằng các Kitô hữu thường làm Dấu Thánh Giá ở mọi nơi. Năm 287, Thánh nữ Fides (cũng gọi là Thánh Faith hoặc Thánh Fay – theo Việt ngữ là Tín) chịu tử đạo để tuyên xưng đức tin. Câu chuyện về việc bà bị hành hạ được lan truyền trong các nhóm Kitô hữu, nói rằng bà đã làm Dấu Thánh Giá trên trán, miệng, và ngực trước khi chết. Qua nhiều thế kỷ, Giáo Hội vẫn tôn kính cho rằng không có phép lành nào trọn vẹn nếu không làm Dấu Thánh Giá.

Khi làm Dấu Thánh Giá, các Kitô hữu tưởng nhớ chân tay Chúa Giêsu bị kéo dãn ra, chịu khổ nạn trên đồi Golgotha vì chúng ta. Chúng ta nhớ lại cách Ngài chết để cứu độ chúng ta và cách Ngài phục sinh, trao ban cho chúng ta sự sống đời đời. Chúa Ba Ngôi được tôn kính trong Dấu Thánh Giá khi chúng ta đặt tay lên trán (Chúa Cha), ngực (Chúa Con), và hai vai (Chúa Thánh Thần). Thánh Gioan Maria Vianney nói rằng làm Dấu Thánh Giá là "làm cho hỏa ngục run rẩy". Ngày nay, người Công giáo làm Dấu Thánh Giá bằng tay phải, các ngón tay thẳng ra, để nhận biết 5 vết thương của Chúa Giêsu.

Trong số các Kitô hữu thời sơ khai, Dấu Thánh Giá thường được làm trên trán và dùng một ngón tay, thường là ngón cái như khi chúng ta làm Dấu Thánh Giá trên trán, miệng, và ngực trước khi nghe Phúc Âm (gọi là Dấu Kép). Với những người đầu tiên theo Chúa Giêsu, Dấu Thánh Giá được làm trên đầu để nói lên rằng một người đã nhận biết sự hy sinh của Đức Kitô trên Thánh Giá, và nhận biết người làm Dấu Thánh Giá là người đã được rửa tội. Rồi như ngày nay, các Kitô hữu tin rằng Dấu Thánh Giá bảo vệ họ khỏi sự dữ, ma quỷ, và những cơn cám dỗ.

Việc dùng một ngón tay vẫn được tiếp tục cho tới thế kỷ V, khi nhóm dị giáo Monophysites tuyên bố rằng Đức Kitô chỉ có một bản tính – nghĩa là Ngài chỉ có thần tính chứ không có nhân tính. Để phản đối phái Monophysites, các Kitô hữu xác định Đức Kitô có hai bản tính, thiên tính và nhân tính, và họ bắt đầu làm Dấu Thánh Giá với hai ngón tay, ngón cái và ngón trỏ hoặc ngón trỏ và ngón giữa. Để nhấn mạnh niềm tin, họ làm Dấu Thánh Giá lớn hơn trước, và làm với chuyển động rõ ràng từ trán xuống ngực và hai vai.

Vài thế kỷ qua, đặc biệt là Giáo hội Đông phương, người ta chú trọng việc nhận biết Chúa Ba Ngôi và hai bản tính của Chúa Giêsu, họ dùng ba ngón tay.

Hơn 1.200 năm, đa số người Công giáo đều làm Dấu Thánh Giá theo cách đó – nghĩa là Giáo Hội Đông phương và Tây phương đều chạm trán, ngực, và hai vai, từ phải sang trái, với ba ngón tay. ĐGH Innocent III nói: "Dấu Thánh Giá được tạo thành bởi ba ngón tay, vì làm Dấu Thánh Giá để cầu khẩn của Chúa Ba Ngôi... từ trên xuống dưới, và từ phải sang trái vì Chúa Giêsu từ trời xuống thế gian và từ dân Do Thái tới dân ngoại".

Các lý do căn bản khác về việc chạm vai phải rồi vai trái là vì "Chúa Giêsu ngự bên hữu Chúa Cha" và bên phải biểu thị ánh sáng và điều tốt lành, còn bên trái biểu thị bóng tối.

Tuy nhiên, vào cuối thời Trung Cổ, người Công giáo Tây phương làm Dấu Thánh Giá dùng ngón giữa chạm vào vai trái rồi sang vai phải. Theo các nguồn tài liệu, cách này và các lý do căn bản là lòng sùng kính hồi thế kỷ XV được dùng bởi các nữ tu Dòng Brigittine Sion ở Isleworth (Anh quốc), cho rằng người ta nên bắt đầu dùng từ trán và chuyển xuống, rồi sang trái và sang phải. Điều này nói lên rằng Chúa Giêsu đến từ Chúa Cha (trán), sinh ra làm người (ngực), chịu khổ nạn trên Thánh Giá (vai trái), và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha (vai phải). Cách này trở thành tiêu chuẩn trong Giáo Hội Tây phương. Không hiểu tại sao có sự thay đổi này hoặc không biết tại sao lại bắt nguồn từ Giáo Hội Tây phương, tiếp tục dùng ba ngón tay để làm Dấu Thánh Giá và từ vai phải sang vai trái.

Dấu Thánh Giá phản ánh mầu nhiệm cứu độ, là công khai tuyên xưng Đức Tin ở các thánh, những người tín trung và những người bình thường, cả người giàu và người nghèo. Cách đơn giản này là hành động đạo đức và là điều người Công giáo tin tưởng.

D. D. EMMONS
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Catholic Digest)

-----------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 200 = LE CHUA BA NGOI PDF Print E-mail

Lễ Chúa Ba Ngôi

Năm B − Ngày 31-05-2015)

HIỂU&SỐNG TIN MỪNG: Mt 28,16-20

1. «Hiệp nhất trong đa dạng»
nơi Ba Ngôi Thiên Chúa

Thiên Chúa theo quan niệm Kitô giáo là một Thiên Chúa duy nhất, nhưng lại gồm có Ba Ngôi khác biệt nhau. Cùng là Thiên Chúa, cùng một bản tính, nhưng mỗi Ngôi một vẻ, không Ngôi nào giống Ngôi nào. Khác biệt nhau, nhưng lại hoàn toàn bình đẳng, không Ngôi nào muốn Ngôi kia phải trở nên giống mình. Chính vì chấp nhận và tôn trọng sự đa dạng của nhau, mà Ba Ngôi sống hòa bình với nhau, hợp tác chặt chẽ với nhau, yêu thương nhau, và hiệp nhất với nhau chặt chẽ tới mức độ chỉ còn là một Thiên Chúa duy nhất.

2. Sự khác biệt và đa dạng trong vũ trụ vạn vật

Ba Ngôi khác biệt nhau và đa dạng như vậy, nên đã tạo dựng nên một vũ trụ cũng đầy khác biệt và đa hình đa dạng vô cùng. Ngài tạo dựng nên muôn loài khác biệt nhau, và loài nào cũng đều phân chia thành nhiều cấp độ khác nhau với những chủng loại khác nhau. Nhờ đó vũ trụ trở nên vô cùng phong phú, muôn hình muôn vẻ và hết sức tươi đẹp!

Giả như Thiên Chúa tạo dựng một vũ trụ trong đó vạn vật đồng dạng với nhau, nghĩa là chỉ có một loài duy nhất, loài này cũng chỉ có một chủng loại duy nhất thì vũ trụ sẽ buồn thảm biết bao!

Riêng xã hội con người, Thiên Chúa đã gầy dựng trong đó nhiều dân tộc với những nền văn minh, văn hóa, phong tục, nề nếp suy nghĩ khác nhau. Thiên Chúa cũng cho xuất hiện nhiều tôn giáo với những nghi thức, tín điều, với những cách gọi tên, cách quan niệm hay cách nhìn khác biệt nhau về Thực Tại Tối Hậu (mà Kitô giáo gọi là Thiên Chúa); v.v...

Thiên Chúa của chúng ta – gồm Ba Ngôi khác biệt, tuy đa dạng nhưng lại hiệp nhất – đã muốn như thế, chúng ta không nên đi ngược lại đường lối của Ngài!

3. Khuynh hướng «phản đa dạng»
của con người

Thế nhưng trên thế giới có biết bao nhiêu con người, bao nhiêu tập thể muốn đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa, muốn chống lại luật «vạn vật đa dạng» của Ngài. Họ muốn tất cả mọi người phải nghĩ giống như họ, làm giống như họ, chỉ theo một lập trường duy nhất là lập trường của họ, vì họ cho rằng chỉ có họ là nghĩ đúng, làm đúng, lập trường của họ là duy nhất đúng hoặc đúng hơn cả. Ai khác họ là họ khó chịu, bực bội, kết án, loại trừ. Họ muốn trên thế giới này chỉ có một bè đảng duy nhất là bè đảng của họ, một ý thức hệ duy nhất là ý thức hệ của họ, một tôn giáo duy nhất là tôn giáo của họ, một đoàn thể duy nhất là đoàn thể của họ... Và họ nỗ lực để biến thế giới đa dạng này thành độc dạng hay đồng dạng (uniforme), thậm chí với tất cả thiện chí hay lòng thành của họ. Biện pháp của họ là loại trừ tất cả những ai khác với họ. Ai chủ trương khác với họ thì bị coi là đối lập, là kẻ thù, cần phải tiêu diệt. Ai cũng có những «vũ khí» riêng của mình để ép buộc người khác theo mình, trung thành với mình, đồng dạng với mình. Bè đảng thì dùng vũ lực, âm mưu chính trị. Tôn giáo thì dùng những quyền lực thiêng liêng của mình. Đoàn thể thì dùng kỷ luật riêng của đoàn thể.

Nhưng hễ phản lại ý muốn của Thiên Chúa thì chỉ gây rối loạn. Đáng lẽ con người phải tôn trọng sự khác biệt nhau như một hồng ân Thiên Chúa ban để bổ túc lẫn nhau, để hợp tác với nhau, và để nhờ đó mà dễ yêu thương nhau, dễ đi đến hiệp nhất. Hiệp nhất ở đây là thứ hiệp nhất trong đa dạng.

4. «Hiệp nhất trong đa dạng»
là ý muốn của Thiên Chúa

Ôi, chính cái ý chí muốn «thống nhất bằng đồng dạng» này đã gây nên biết bao cảnh «nồi da xáo thịt» trong các quốc gia, cảnh các «bè phái ly khai» trong các tôn giáo, cảnh chia rẽ nhau trong các đoàn thể. Đúng là chưa phát triển được ra bên ngoài thì đã bị chia rẽ bên trong. Thiết tưởng thế giới đã phải đau khổ rất nhiều, phải chịu biết bao cảnh đau thương tang tóc chỉ vì những tham vọng «thống nhất bằng đồng dạng» của các bè đảng, tôn giáo, đoàn thể. Nhưng thực tế hiện nay chứng tỏ rằng tham vọng đó càng ngày càng trở nên phi lý, phản tiến bộ và bất khả thi.

Vì thế, đã đến lúc các bè đảng, các tôn giáo, các đoàn thể phải nhận ra rằng càng muốn «thống nhất bằng đồng dạng» thì càng gây nên chia rẽ, xáo trộn, và đau khổ cho nhân loại, vì điều này chống lại luật tự nhiên của Thiên Chúa. Trái lại, càng muốn «hiệp nhất trong đa dạng» – nghĩa là đến với nhau trong tinh thần tôn trọng sự khác biệt và đa dạng – thì càng dễ đoàn kết, càng dễ gắn bó yêu thương nhau. Vì sự «hiệp nhất trong đa dạng» chính là ý muốn của Thiên Chúa. Và sự hiệp nhất của Ba Ngôi Thiên Chúa chính là gương mẫu toàn hảo nhất của sự «hiệp nhất trong đa dạng» mà chúng ta phải noi theo. Gia đình nào, dân tộc nào, tôn giáo nào, tập thể nào biết noi gương này thì sẽ càng ngày càng trở nên hạnh phúc, thịnh vượng và phát triển.

(Nguyễn Chính Kết)

 
HOC HOI DE SONG DAO # 199= DE SONG DOI DOI PDF Print E-mail

Phụng Vụ Lời Chúa Tuần 8 Thường Niên

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Thứ Hai

"Để được sống đời đời"

Chủ đề "Thày là sự sống" trong Mùa Phục Sinh quả thực đã kéo dài sang cả Mùa Thường Niên hậu Phục Sinh, như bài Phúc Âm của Thánh ký Marco (10:27-37) cho Thứ Hai Tuần 8 Thường Niên hôm nay cho thấy, qua câu hỏi của một người thành khẩn hỏi Chúa Giêsu: "Lạy Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sống đời đời?".

Qua câu trả lời của Chúa Giêsu, chúng ta thấy, trước hết, sự sống đời đời được chất chứa ngay trong Thập Giới, nghĩa là ai tuân giữ các giới răn, ít nhất tránh được những gì là tiêu cực thì cũng được rỗi, như Chúa Giêsu đã liệt kê: "đừng ngoại tình, đừng giết người, đừng trộm cắp, đừng làm chứng gian, đừng lường gạt, hãy thảo kính cha mẹ".

Ở đây, chúng ta chỉ thấy 7 điều trong Thập Giới mà thôi, từ điều 4 tới điều 10: điều 4 - "thảo kính cha mẹ", điều 5 - "chớ giết người", điều 6 và 9 - "chớ ngoại tình", điều 7 - "chớ lấy của người" hay "chớ lường gạt" cũng có nghĩa là "chớ tham của người", và điều 8 - "chớ làm chứng dối", hoàn toàn không thấy 3 điều đầu tiên liên quan đến Thiên Chúa đâu.

Vậy chẳng lẽ không cần 3 điều đầu tiên và chính yếu hết sức quan trọng này thì cuối cùng cũng được rỗi, được sống đời đời hay sao?

Có thể, đối với Chúa Giêsu, 3 điều đầu tiên trong Thập Giới chưa được Người nhắc đến liên quan đến vấn đề thứ hai được Người đặt ra cho kẻ đặt vấn đề "được sống đời đời", đó là: "ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta".

Đúng thế, vấn đề thứ hai được Chúa Giêsu nêu lên sau khi liệt kê 7 điều tối thiểu trong Thập Giới thật sự là liên quan đến 3 điều đầu tiên của Thập Giới. Vì một khi thực hành được vấn đề thứ hai này thì con người ta nói chung và con người giầu có trong bài Phúc Âm nói riêng đúng là "thờ phượng và kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự".

Tuy nhiên, trong trường hợp của con người giầu có trong bài Phúc Âm này cũng rất đặc biệt, ở chỗ, cho dù không thể làm theo lời khuyên của Chúa Giêsu trên đây, (một trong 3 lời khuyên của Phúc Âm được áp dụng nơi Đời Thánh Hiến tu trì trong Giáo Hội, trong đó có hai trong ba vị thánh tu trì được Giáo Hội tưởng nhớ hôm nay - 25/5/2015 - là Thánh Bêđa và Thánh Maria Mađalêna Pazzi dòng Kín Carmêlô), để có thể sống trọn lành hơn, nhưng người này vẫn không tham lam quá độ, hay vì tham lam mà lường gạt và gian lận sản vật của ai, thậm chí coi tiền bạc hơn mạng người, hay giầu có mà sinh tật trai gái ngoại tình, hoặc khinh thường bất kính với cha mẹ v.v.

Đó là lý do, như Phúc Âm thuật lại, "Chúa Giêsu trìu mến nhìn người ấy", sau khi nghe người này cho biết là "Lạy Thày, những điều ấy tôi đã giữ từ nhỏ". Và đó cũng là lý do Chúa Giêsu mới nhắc nhở con người đã đủ điều kiện tối thiểu để "được sống đời đời" ấy rằng "Ngươi chỉ còn thiếu một điều", đó là sống trọn lành hơn, một đời sống trước hết mang đến cho chính bản thân của đương sự cái lợi đầu tiên đó là được bình an vui sống, chứ không còn cảm thấy băn khoan khắc khoải và bất an nữa, dù bản thân và đời sống của đương sự "có nhiều của cải", một tâm trạng mà đương sự đã không thể nào che giấu được ở ngay vấn đề được đương sự thoạt tiên đặt ra hỏi Chúa Giêsu "tôi phải làm gì để được sống đời đời", nhất là qua thái độ cuối cùng của đương sự "bỏ đi với nét mặt u buồn", sau khi nghe lời khuyên sống trọn lành của Người.

"Để được sống đời đời", đối với con người giầu có trong bài Phúc Âm hôm nay có thể đã hội đủ điều kiện tối thiểu để được thừa hưởng, một trường hợp phải nói là họa hiếm, còn đối với chung con người mang bản tính đã vướng mắc nguyên tội với đầy những đam mê nhục dục và tính mê nết xấu là những mầm mống tội lỗi và luôn xu hướng về tội lỗi thì vẫn phải trở về với Chúa bằng cách từ bỏ tội lỗi cùng với các đường lối gian tà bằng một tấm lòng tin tưởng nơi tình thương tha thứ của Ngài, như những lời khuyên dạy của Sách Huấn Ca (17:20-28) trong bài đọc 1 hôm nay cho Năm I - Năm Lẻ (như năm 2015 này), như sau:

"Hãy trở về với Thiên Chúa và hãy từ bỏ tội lỗi. Hãy kêu cầu trước tôn nhan Chúa, hãy chấm dứt những điều xúc phạm, hãy trở về cùng Chúa, hãy lánh xa những điều gian ác, và hãy chê ghét những điều xấu xa. Hãy nhận biết công minh và sự xét xử của Thiên Chúa. Hãy đứng vững và cầu xin với Thiên Chúa Tối Cao... Lòng nhân lành của Chúa và sự tha thứ của Người đối với những kẻ trở lại với Người thật lớn lao dường nào".

Thật vậy, Thiên Chúa dựng nên con người là để cho con người được thông phần sự sống thần linh của Ngài và với Ngài, chứ không phải để đầy đọa con người, để trừng phạt họ, cho dù họ tội lỗi đến đâu chăng nữa, miễn là họ nhận biết tình yêu của Ngài, chấp nhận và đáp lại tình yêu thương cứu độ của Ngài. Có như thế họ mới cảm nghiệm được thấm thía những câu Thánh Vịnh 31 được Giáo Hội chọn đọc ở phần Đáp Ca (nhất là câu 2 và 4) cho phụng vụ lời Chúa hôm nay:

2) "Tôi xưng ra cùng Chúa tội phạm của tôi, và lỗi lầm của tôi, tôi đã không che giấu. Tôi nói: 'Tôi thú thực cùng Chúa điều gian ác của tôi, và Chúa đã tha thứ tội lỗi cho tôi'" (Thánh Vịnh 31:5).

4) "Chúa là chỗ dung thân, Chúa giữ tôi khỏi điều nguy khổ; Chúa đùm bọc tôi trong niềm vui ơn cứu độ". (Thánh Vịnh 31:7).

----------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # CO CHUA CUNG HOAT DONG PDF Print E-mail

HIỂU & SỐNG TIN MỪNG

Lễ Chúa Giêsu về trời - Năm B

TIN MỪNG: Mc 16,15-20 : CÓ CHÚA CÙNG ĐI

Những lời cuối cùng của Đức Giêsu
trước khi Ngài lên trời

1. Lời trăn trối cuối cùng

Trước khi từ giã các môn đệ để về trời, Đức Giêsu đã nói về việc mà các môn đệ Ngài sẽ phải làm là «đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo» (Mc 16:15) để tiếp tục sự nghiệp mà Ngài đã khởi sự. Đó cũng chính là công việc phúc âm hóa và tái phúc âm hóa, để mọi người không chỉ biết Tin Mừng mà còn thật sự sống tinh thần Tin Mừng nữa.

Về lời trăn trối này, rất nhiều Kitô hữu chỉ hiểu một cách nông cạn, là chỉ nghĩ tới việc rao giảng cho người ta biết Thiên Chúa, biết Tin Mừng cứu độ của Đức Giêsu, và dừng lại tại đấy! Nhưng thử hỏi nếu chỉ biết thôi thì ích lợi gì? Chẳng hạn biết rõ sự cần thiết và ích lợi của thức để được mạnh khỏe mà lại không chịu ăn, thì sự biết rõ ấy có ích lợi gì? Nếu biết mà không sống điều mình biết, không đem nó ra áp dụng thì chẳng những vô ích mà còn phải chịu trách nhiệm về cái biết ấy nữa. Vì kẻ nhận 1 nén bạc thì chỉ phải làm lợi thành 1 nén khác thôi, nhưng kẻ nhận 5 nén thì có trách nhiệm làm lợi thành những 5 nén khác! (x. Mt 25,14-30; Lc 19,12-27).

Vì vậy, biết Tin Mừng mà không chịu sống Tin Mừng là tự làm cho mình bị kết án nặng hơn. Cũng vậy, rao giảng cho người ta biết Tin Mừng mà không giúp người ta sống Tin Mừng thì chỉ làm cho người ta bị kết án nặng hơn chứ chẳng đem lại lợi ích gì cho họ. «Đức tin chết» hay «đức tin không có việc làm» (Gc 2,17.26) đâu thể đem lại ơn cứu độ? Vì thế, việc rao giảng Tin Mừng cần phải đi xa hơn một chút là giúp người ta sống Tin Mừng, như thế sẽ làm lợi cho họ vô cùng.

Như vậy, điều quan trọng là chính chúng ta phải sống tinh thần Tin Mừng và làm cho mọi người cũng sống tinh thần Tin Mừng. Biết và sống Tin Mừng, hoặc làm cho người ta biết và sống Tin Mừng, hai thứ ấy phải đi đôi với nhau mới không có hại mà sinh ích lợi vô cùng cho mình và cho người. Nên đã biết Tin Mừng hoặc giúp ai về mặt Tin Mừng thì hãy biết hoặc giúp «tới nơi tới chốn», với tinh thần trách nhiệm. Đừng «đánh trống bỏ dùi», «đem con bỏ chợ», tức giúp nửa vời, rất tai hại!

2. «Có Chúa cùng hoạt động» với người rao giảng Tin Mừng

Bài Tin Mừng kết thúc bằng một câu thật tuyệt vời, làm an lòng tất cả những ai đang rao truyền Tin Mừng: «Các Tông Đồ ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng» (Mc 16:20). Điều quan trọng nhất để việc loan báo Tin Mừng trở nên hữu hiệu, đó là «có Chúa cùng hoạt động với họ».

Họ có Chúa ở cùng vì họ thường xuyên ý thức sự hiện diện của Ngài, và luôn gắn bó với Ngài bằng tình yêu chân thành có khả năng thúc đẩy họ hy sinh, dấn thân thật sự. Nhờ đó, họ có «những dấu lạ kèm theo» xác nhận những gì họ rao giảng là chân lý. Dấu lạ quan trọng và căn bản nhất – có khả năng thuyết phục những người nghe họ – chính là họ đã thật sự sống được những điều họ rao giảng. Nhờ sống điều mình nói mà lời họ nói trở nên sống động, mạnh mẽ, đầy sức hấp dẫn, khiến người nghe luôn «tâm phục khẩu phục», đồng thời cảm nghiệm được sự hiện diện cụ thể của Thiên Chúa ở nơi họ.

Ước gì mọi người loan báo Tin Mừng đều luôn «có Chúa cùng hoạt động» như vậy!

(Nguyễn Chính Kết)

--------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 198 = TRA LOI TRE EM PDF Print E-mail

 ĐTC Phanxicô - Vấn Đáp với Trẻ Em
Tinh Cao

"Ở đâu không có công lý ở đấy không có hòa bình

Đức Thánh Cha Phanxicô - Vấn Đáp với Trẻ Em hôm Thứ Hai 11/5/2015

Hôm Thứ Hai ngày 11/5/2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp gỡ 7 ngàn trẻ em thuộc một hiệp hội Ý quốc là The Peace Factory ở Sảnh Đường Phaolô VI. Ngài đã ban huấn từ cho các em và trực tiếp trả lời 13 câu hỏi của 13 em, bao gồm cả những câu hỏi liên quan đến đời tư của ngài, chẳng hạn câu hỏi thứ nhất là ngài có bao giờ cãi nhau với anh chị em trong gia đình hay chăng? Tuy nhiên, trong 13 câu hỏi này, có 4 câu hỏi (câu 3, 4, 9 và 11) đặc biệt có tầm vóc quốc tế và phổ quát về nhân bản trực tiếp liên quan đến bình an hay hòa bình hơn, cần phải chú trọng, nên xin được chuyển dịch nguyên văn như sau:

3- Tâu Đức Thánh Cha, Đức Thánh Cha không cảm thấy mệt khi ở giữa rất nhiều người hay sao? Đức Thánh Cha có muốn được bình an ?

- Thường thì cha cũng muốn bình an chứ, cũng muốn được nghỉ ngơi một chút. Thật sự là thế. Tuy nhiên việc ở với dân chúng không làm mất đi sự bình an. Đúng thế, nếu trong trường hợp xẩy ra chuyện ồn ào, náo nhiệt, chuyện người ta di chuyển ..., thế nhưng nó vẫn không làm mất đi sự bình an. Cái làm mất bình an đó là chuyện chúng ta không yêu thương nhau. Điều ấy mới làm mất bình an mà thôi! Cái làm mất bình an đó là ghen tương đố kị, tham lam, ham lợi, chiếm lấy những cái của người khác: mới là những gì làm mất bình an. Thế nhưng việc ở với dân chúng là những gì tốt lành, không làm mất bình an! Nó làm cho người ta cảm thấy mệt mỏi, cha không phải là một con người trẻ trung... thế nhưng nó vẫn không làm mất bình an.

4- Đức Giáo Hoàng thân mến, chúng con (1 em trai người Ai Cập hỏi) ở các xứ sở nghèo khổ và chiến tranh. Nhà trường thương yêu chúng con. Tại sao những con người có quyền lực không giúp đỡ các học đường?

- Tại sao những con người có quyền lực không giúp đỡ các học đường? Câu hỏi này cũng có thể nới rộng một chút nữa như sau: tại sao rất ư là nhiều con người quyền lực không muốn bình an? Vì họ sống nhờ chiến tranh! Kỹ nghệ chế tạo các thứ vũ khí: đó là vấn đề nghiêm trọng! Thành phần quyền lực, có một số trong họ, kiếm chác bằng việc chế tạo các thứ vũ khí và họ buôn bán vũ khí cho xứ sở này để chống xứ sở kia, rồi họ lại bán vũ khí cho xứ sở kia để chống lại xứ sở này. Đó là một thứ kỹ nghệ chết chóc! Và họ kiếm chác. Các con biết đấy cái máu tham gây tai hại cho chúng ta rất nhiều: lòng ước mong cứ muốn có thêm tiền bạc nhiều hơn nữa. Khi chúng ta thấy xẩy ra hết mọi sự xoay quanh tiền bạc - hệ thống kinh tế xoay quanh tiền bạc chứ không phải xoay quanh con người, xoay quanh người nam, xoay quanh người nữ, mà là xoay quanh tiền bạc - đến độ hết mọi sự cần phải hy sinh và chiến tranh cần phải thực hiện để bênh vực tiền bạc. Vì thế mà nhiều người không muốn bình an. Nhờ chiến tranh mà kiếm chác nhiều hơn! Tiền bạc chiếm hưởng nhưng mạng sống mất đi, văn hóa tiêu tùng, giáo dục mất mát, rất ư là nhiều thứ bị mất đi. Chính vì điều này mà họ không muốn hòa bình. Một vị linh mục lão thành tôi đã gặp mấy năm trước đây đã nói rằng: ma quỉ đang đột nhập qua cuốn sách bỏ túi, qua lòng tham lam. Vì thế mà họ không muốn bình an.

9- Đức Giáo Hoàng thân mến, con lên 9 tuổi và con luôn nghe nói về hòa bình. Thế nhưng hòa bình là gì? Đức Thánh Cha có thể cắt nghĩ cho con nghe được không?...

- Tốt lắm! Bình an trước hết là không có chiến tranh, nhưng cũng bao gồm cả niềm vui nữa, bao gồm cả tình thân hữu giữa tất cả mọi người nữa, bao gồm việc hằng ngày tiến tới chỗ công lý, nhờ đó không còn tình trạng trẻ em bị chết đói, nhờ đó không còn trẻ em bị bệnh nạn mà không có cơ hội được giúp đỡ về sức khỏe của họ. Việc thực hiện tất cả những điều ấy là việc kiến tạo hòa bình. Hòa bình là một việc làm; nó không phải ở chỗ trầm lặng... Không, không phải thế! Bình an thực sự là việc làm, nhờ đó tất cả mọi người sẽ có được những giải quyết cho các vấn đề, cho các nhu cầu của họ ở miền đất họ sống, ở quê hương của họ, ở gia đình của họ, ở xã hội của họ. Đó là cách thức hòa bình được thực hiện - như cha đã nói - nó là "việc thành thạo".

11- "Thế nhưng, thưa Đức Giáo Hoàng, theo ngài thì một ngày kia tất cả chúng ta sẽ bình đẳng với nhau hay chăng?

- Câu hỏi này có thể được trả lời hai cách: tất cả chúng ta đều bình đẳng - tất cả mọi người! - thế nhưng sự thật này không được công nhận, quyền bình đẳng ấy không được nhìn nhận, và vì thế mà một số - chúng ta có thể nói bằng cách mở ngoặc kép - sung sướng hạnh phúc hơn người khác. Thế nhưng như thế không đúng! Tất cả chúng ta đều có được những quyền lợi như nhau! Khi điều này không được công nhận thì xã hội trở nên bất công. Nó không theo công lý. Và ở đâu không có công lý thì ở đó không thể nào có hòa bình. Các con hiểu không? Chúng ta hãy cùng nhau nói nhé, xem các con có khá không, cha muốn lập lại nó một lần nữa nghe... Chú ý này, câu ấy là: "Ở đâu không có công lý ở đấy không có hòa bình!" Nào tất cả các con....

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch (kèm theo nhan đề tự ý đặt ra)

http://www.zenit.org/en/articles/pope-s-audience-with-children-of-the-peace-factory

---------------------

 
<< Start < Prev 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Next > End >>

Page 82 of 133