mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay619
mod_vvisit_counterHôm Qua6290
mod_vvisit_counterTuần Này32448
mod_vvisit_counterTuần Trước48712
mod_vvisit_counterTháng Này160411
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10301724

We have: 91 guests online
Your IP: 54.196.215.69
 , 
Today: Feb 24, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG ĐAO # 104 = LINH MUA-DUC KITO THU HAI? PDF Print E-mail

LINH MỤC, ĐỨC KITÔ THỨ HAI ( ALTER CHRISTUS) , PHẢI LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO ?
Trong phạm vi bài viết này, tôi không muốn đề cập nhiều đến những lý thuyết hay nền tảng thần học cũng như giáo lý của Giáo Hôi về vai trò và sứ mạng của linh mục trong Giáo Hội, vì thiết nghĩ các linh mục và rất nhiều giáo dân ngày nay đều biết rõ.
Điều tôi muốn nói ở đây là trong thực tế, linh mục phải hành xử thế nào để xứng đáng là hiện thân của Chúa Kitô xuyên qua chính đời sống, lời nói và việc làm của mình trước mặt người khác; trước hết là các tín hữu được trao phó cho mình săn sóc và phục vụ về mặt thiêng liêng- và đặc biệt sau nữa- là trước những người chưa biết Chúa Kitô để cảm hóa và mời gọi họ nhận biết và tin Chúa Kitô qua gương sống chứng nhân của mình. .
Với tư cách là cộng sự viên đắc lực, thân cận của Giám mục, linh mục thi hành sứ vụ rao giảng, dạy dỗ và cai trị trong giáo hội địa phương ( tức giáo xứ, giáo Phận) với tất cả thành tâm , thiện chí và xác tín về chức năng và vai trò của mình được nhận lãnh từ bí tích Truyền Chức Thánh cho phép linh mục được chia sẻ Chức Linh Mục đời đời của Chúa KItô, "Thầy Cả Thượng Phẩm..theo phẩm trật Men-ki-xê-đê" (Dt 5: 10)
Trong hoàn cảnh thế giới tục hóa ngày nay, đặc biệt là ở các nước Âu Mỹ, người ta không những bị lôi cuốn bởi chủ nghĩa vật chất vô luân ( immoral materialism) mà đặc biệt còn bị ảnh hưởng ngày một nghiêm trọng bởi trào lưu tục hóa (secularization) đưa đến thực hành vô thần (practical atheism) , chối bỏ Thiên Chúa , "hạ bệ Kitô hóa" (de-christionization). và dửng dưng với mọi tôn giáo nói chung ( Indifference to religions).
Thực trạng này đã và đang là một thách đố to lớn cho những ai muốn sống niềm tin có Thiên Chúa tốt lành, đã yêu thương và tha thứ cho con người nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.
Để đối phó với trào lưu nguy hại nói trên, ngày 12 tháng 10 năm 2012, Tòa Thánh đã công bố quyết định mới của Đức Thánh Cha Bê-nê-đích-tô 16 ( nay đã về hưu) cho thiết lập một Văn Phòng hay Hội Đồng mới của Tòa Thánh ( New Pontifical Council) với chức năng Tân Phúc Âm hóa ( New Evangelization) như một nỗ lực nhằm chống lại khuynh hướng tục hóa ở các quốc gia Âu Châu và Mỹ châu nói chung. Hội Đồng này do Đức Tổng Giám Mục Rino Fisichella làm Chủ Tịch.
Sự kiện trên cho thấy là Đức Thánh Cha đã tỏ ra rất quan tâm về nguy cơ tục hóa đang đe dọa những giá trị và chân lý của Phúc Âm cũng như đời sống luân lý, đạo đức của con người nói chung, và cách riêng, của người tín hữu Chúa Kitô đang sống trong hoàn cảnh suy đồi đạo đức của thế giới ngày nay.
Đặc biệt, Đức Thánh Cha đương kim Phanxicô cũng đã lưu ý toàn Giáo Hội về thực trạng "tôn thờ tiền bạc" ( cult of money) của thế giới, là nguyên nhân chính của mọi bất công xã hội và thống khổ của con người đang sống dưới quyên cai trị của những kẻ tham tiền, tham quyên cố vị để vơ vét của cải vật chất hầu hưởng thụ và làm giầu, trong khi dửng dưng trước sự nghèo đói và bất công của xã hội dưới quyền cai trị vô lương tâm của họ..
Riêng đối với hàng giáo sĩ tu sĩ , Đức Thánh Cha Phanxicô không những khuyên mà còn làm gương cụ thể cho mọi người về đức khó nghèo của Phúc Âm và của Thánh Phanxicô Khó khăn mà Đức Thánh Cha đã chọn làm thánh hiệu cho triều đại Giáo hoàng của ngài. Cụ thể, mới đây Đức Thánh Cha Phanxicô đã ngưng chức một giám mục Đức vì đã phung phí tài sản của Địa Phân để xây biệt thự lộng lẫy cho mình, trái với lời khuyên khó nghèo của Phúc Âm.
Mới đây nữa , nhân dịp gặp gỡ các nhân viên của các tổ chức từ thiện và và các tù nhân tại thành phố Cagliari ( Ý) Đức Thánh Cha Phan xicô đã nói với họ như sau:
"Một số người đã muốn làm nổi bật việc làm tốt của họ. Họ không ngừng nói về người nghèo, nhưng sau đó lại lợi dụng những người nghèo khó này để trục lợi cho cá nhân mình....Đó chắc hắn không phải là ý muốn của Chúa Giê-su . Tôi đi xa hơn nữa để nói đó là một tội nghiêm trọng. Đó là lợi dụng những người nghèo khó , những người là hiện thân của Chúa Giê-su để tô điểm cho chính mình. Đây là một tội nghiêm trọng."
Như thế , linh mục phải là người nêu gương sáng trước tiên về đức khó nghèo của Chúa Kitô, " Người vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được giầu có." ( 2 Cor 8:9) .
Cụ thể, Linh mục cần thiết phải:
I- Tách mình ra khỏi mọi dính díu với quyền lực và tham vọng trần thế để không vô tình hay cố ý làm tay sai cho một chế độ chính trị nào để cầu lợi cá nhân và nhiên hậu gây thương tổn nặng nề cho chức năng (competence) và vai trò của mình là linh mục của Chúa Kitô.
Trong điễn từ đọc tại Nhà Thờ Chánh Tòa Đức Mẹ Lên Trời ở Parlemo ( Italia) trước hàng trăm Giám mục, Linh mục, và Tu sĩ nam nữ ngày 3 tháng 10 năm 2012, Đức Thánh Cha Bê-nê-đich-tô 16 ( đã về hưu ) đã nói riêng với các linh mục hiện diện như sau " chính Chúa Kitô, chứ không phải thế gian -đã thiết lập cương vị cho linhmục"...Và với cương vị đó, linh mục phải luôn chú tâm đến ơn cứu độ và Vương Quốc của Thiên Chúa." ( Christ establishes the priest's status, not the world... as a priest, he must be always with a view to salvation and the Kingdom of God.( cf.L' Osservatore Romano. Oct 6, 2010). Hơn nữa, linh mục " không thể là thừa tác viên của Chúa Kitô nếu không là chứng nhân và là người ban phát một đời sống khác với đời sống thế tục" ( cf. Presbyterium Ordinis.no.3)
Trước đó, trong thư Thứ Năm Tuần Thánh gủi cho các linh mục, Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II ( sắp được tôn phong hiển thánh ngày 27-4 năm nay) đã lưu ý các linh mục như sau:
" Những nỗ lực nhằm biến linh mục thành người thường dân là làm hại Giáo Hội. Điều này không có nghĩa là một cách nào đó, linh mục phải thờ ơ không quan tâm gì đến những âu lo của người giáo dân ( thường dân=laity); ngược lại, phải rất gần gũi họ theo gương Thánh Maria Gioan Vianney, và trong chiều kích lo cho phần rỗi của họ ( giáo dân) và cho sự mở mang Vương Quốc Thiên Chúa.Linh mục là chứng nhân và là người ban phát một đời sống khác với đời sống thế tục.Đây là điều căn cốt của Giáo Hội nhờ đó căn tính của linh mục được bảo vệ ở chiều dọc. Đời sống và nhân cách của "cha xứ họ Ars" ( Cure' of Ars) đặc biệt là hình ảnh rõ nét sáng ngời về đời sống và nhân cách của linh mục theo chiều kích nói trên." ( James P. Socias Scepter Publishers and Midwest Theological Forum, pp147-148)
Nói khác đi, linh mục chỉ có một vai trò và chức năng quan trọng nhất là rao giảng Tin Mừng cứu độ của Chúa Kitô và làm chứng cho Chúa trong mọi hoàn cảnh để phục vụ hữu hiệu cho các linh hồn đang cần đến Chúa và mong lãnh nhận ơn cứu độ của Người. Do đó, linh mục tuyệt đối không có chức năng chính trị hay xã hội nào để tự nguyện làm tay sai phục vụ, tâng bấc, ca tụng hay chống đối một chế độ nào vì lý do thuần chính trị
Nhưng, nếu chế độ nào, không tôn trọng nhân quyền ( human rights), - không phải nhân quyền của thần học giải phóng, là thứ nhân quyền cổ võ đấu tranh giai cấp, tạo ra những "đàn kéc" chỉ biết ca tụng bợ đợ chế độ để an thân trục lợi- mà là những quyền căn bản của con người, như quyền tự do phát biểu, quyền tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, quyền hành Đạo trong đó bao gồm việc tổ chức, đào tạo,và bổ nhiệm các chức sắc lãnh đạo trong các giáo hội địa phương. Nếu chế độ nào không tôn trọng những quyền căn bản này cũng như dung dưỡng cho những sa dọa, suy thoái về luân lý, đạo đức trong xã hội cai trị, thì linh mục -và nhất là Giám mục - phải có can đảm lên tiếng đòi hỏi chế độ phải tôn trọng những tư do căn bản và thiêng liêng của con người, cũng như mạnh mẽ lên án thực trạng suy thoái đạo đức và luân lý của xã hội để đòi nhà cầm quyền dân sự phải có biện pháp thích đáng để lành mạnh xã hội hầu tạo môi trưởng thuận lợi cho sự phát triển lành mạnh đời sống tinh thần và đạo lý của người dân.
Xã hội vô luân, vô đạo và đầy bất công đang xô nhanh người dân xuống hố diệt vong vì thiếu nền tảng tinh thần cần thiết để giúp phân biệt con người với mọi loài cầm thú chỉ có bản năng và vô lương tri.
Như thế, làm ngơ hay nhắm mắt bịt tai trước những vi phạm về quyền thiêng liêng của con người và tụt hậu về luân lý, đạo đức, sẽ trở thành đồng lõa với chế độ, với xã hội làm phát sinh mọi tội ác vì thiếu căn bản đạo làm người.
II- Trong lãnh vực giảng dạy chân lý và cử hành các Bí tích,
Không linh mục nào được phép dạy và thực hành giáo lý , bí tích riêng của mình mà phải dạy cũng như thực hành đúng giáo lý( doctrines), tín lý ( dogmas) và kỷ luật bí tích của Giáo Hội,
Cụ thể, Giáo Lý và Kinh Thánh của Giáo Hội nhìn nhận sự kiện có tội Tổ Tông (Original sin) do Nguyên Tổ loài người là Adam và Eva vấp phạm khiến con người mất ơn nghĩa với Thiên Chúa. Nhưng chính tội bất trung này của Nguyên Tổ loài người lại được Giáo Hội sau này ca ngợi là "Tội sinh ơn phúc" ( Felix culpa) vì bởi tội này mà Thiên Chúa đã sai Con Một của Người là Chúa Kitô đến trần gian để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội. Ơn cứu chuộc và tha thứ này của Thiên Chúa còn lớn lao hơn tội bất trung của Nguyên Tổ rất nhiều như Thánh Phaolô đã dạy : " Nhưng sự sa ngã của Adam không thể nào sánh được với ân huệ của Thiên Chúa...Thật vậy, nếu vì một người duy nhất đã sa ngã mà muôn người phải chết thì ân sủng của Thiên Chúa ban nhờ một người duy nhất là Đức Giêsu Kitô còn dồi dào hơn biết mấy cho muôn người." (Rm 5: 15).
Như thế ai phủ nhận hay đặt vấn đề "tội Tổ Tông" dưới ánh sáng tâm lý học là đã đi ngược lại với giáo lý hiện hành của Giáo Hội về vấn đề rất hệ trọng này.( x.SGLGHCG,số 402-407)
Mặt khác, cũng vì tội Nguyên Tổ đã gây ra " sự chết của linh hồn" như Công Đồng Trentô đã dạy ( DS 1512), mà Giáo Hội cử hành bí tích Rửa Tội để xỏa hết mọi hậu quả của tội nguyên tổ mà còn tha một lần tất cả mọi tội cá nhân con người đã phạm cho đến lúc lãnh nhận Phép Rửa.. . Nhưng phép Rửa không trả lại cho con người tình trạng ơn phúc mà Adam và Eva được hưởng trước khi phạm tội. Nghĩa là sau khi được rửa rội, con người vẫn còn " những yếu đuối " và khuynh hướng nghiêng chiều về sự xấu, sự tội trong bản năng để cho con người phải cố gắng chiến đấu với ơn Chúa nâng đỡ để vươn lên trên đường hoàn hảo hầu được cứu rỗi. Do đó, linh mục không thể dạy sai lầm là phép rửa đã tha hết mọi tội nên không cần phải xưng tội nữa, cứ tự nhiên rước Minh Thánh Chúa ! Phép Rửa tha một lần hết mọi tội, nhưng sau đó, người ta vẫn còn có thể phạm tội nhiều lần nữa chứ , vì bản chất yêu đuối và vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) để chống lại cám dỗ hay buông mình chiều theo sự xấu, sự tội để làm những sự dữ như giết người, cướp của, dâm ô trụy lạc...Đây là thực tế mà không ai có thể chối cãi được.
Liên quan đến bí tích Thánh Thể, không có giáo lý, giáo luật nào dạy mọi người tham dự Thánh Lễ đều được rước Minh, Máu Thánh Chúa, vì cho rằng đây là bữa tiệc Chúa mời mọi người tham dự ăn và uống không phân biệt Công Giáo hay Tin lành, trẻ em đã rước lễ lần đầu hay chưa. Ngược lại, giáo lý và giáo luật nói rõ : ai mắc tội trọng ,chưa kịp đi xưng tội thì không được làm lễ ( linh mục) và rước Minh Thánh Chúa ( giáo dân). ( x, giáo luật số 916; SGLGHCG số 1415).
Như vậy, không thể mời hết mọi người tham dự Thánh Lễ ở tư gia hay ở nhà thờ lên rước Mình Máu Thánh Chúa lấy lý do là Chúa đã tha hết mọi tội cho con người, như một số linh mục Việt Nam , Mỹ, và Cadada đã làm.( có nhân chứng kể lại). Chúa tha thứ tội lỗi cho con người. Đúng, nhưng người ta vẫn còn phạm tội trở lại vì bản tính yếu đuối , vì ma quỉ cám dỗ và vì ý muốn tự do như đã nói ở trên.
Lại nữa, linh mục cũng không được phép từ chối ban bí tích rửa tội, rước lễ lần đầu hay chứng hôn cho ai, vì cha mẹ của trẻ em hay người lớn không đóng đủ tiền cho giáo xứ như đã xẩy ra ở một địa phương kia bên nhà. Đáng nói hơn nữa, linh mục chánh xứ không được phép đe doa " rút phép thông công = ex-communication" cho ai vì bất cứ lý do gì. Chỉ có Giám mục Giáo phận mới có quyền ra vạ tuyệt thông hậu kết ( ferandae sententiae) cho ai ngoan cố không chịu sửa lỗi sau khi đã được cảnh cáo nhiều lần.
Chưa hết, linh mục không được " tham mê tiền của" để chỉ nhận dâng lễ với bổng lễ ( mass stipend) cao và từ chối lễ với bổng lễ thấp, đặc biết là không nên tổ chức mừng ngày thụ phong mỗi năm, hay mỗi 10 năm, 15 năm để lấy tiền mừng của giáo dân.Đây là một gương xấu phải tránh, chứ không phải là một truyền thống tốt đẹp phải thực hành.
Một điều quan trọng nữa là linh mục không được phép biến lễ tang ( Funeral mass) thành lễ cưới hay lễ Phong Thánh ( Canonization Mass) cho ai khi giảng rằng linh hồn này chắc chắn đã lên Thiên Đàng rồi, vì đã được sức dầu và lãnh Phép lành Tòa Thánh trước khi chết., cho nên phải vui mừng, không được thương khóc và để tang như một gia đình kia có con làm linh mục đã làm ! ( tôi là một nhân chứng )
Giáo lý và bí tích của Giáo Hội chỉ qui định việc sức dầu thánh, ban của ăn đàng (Viaticum) cũng như nghi thức phó linh hồn cho ai sắp ly trần, nhưng không hề dạy là nếu ai được sức dầu và lãnh Phép lành Tòa Thánh trước khi chết thì chắc chắn đã lên Thiên Đàng. Lên Thiên Đàng hay xuống hỏa ngục, hoặc đang còn ở nơi Luyện tội thì không ai có thể biết được. Chỉ có Chúa biết mà thôi. Do đó, Giáo Hội chỉ dạy cầu nguyện cho các linh hồn đã ly trần, dù là thường dân, hay linh mục, giám mục hoặc giáo hoàng
Giáo Hội có phong thánh cho ai thì cũng phải đòi hỏi thời gian và những điều kiện cần thiết theo giáo luật, chứ chưa hề tức khắc phong thánh cho ai ngay sau khi người đó chết, dù là các Đức Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám mục...
Mặt khác, với tư cách và cương vị là thừa tác viên và là hiện thân của Chúa Kitô trong trần thế, linh mục không thể coi nhẹ cương vị của mình để dễ dãi tham gia giúp vui trong những bữa tiệc cưới, đứng lên ca hát hoặc kể truyện tếu. Nói rõ hơn, linh mục không nên ôm cây đàn, ca hát và nhảy nhót với ai vì mục đích ca tụng quê hương, đất nước hoặc gây quỹ cho cá nhân hay cơ quan, đoàn thể nào. Làm như vậy, linh mục đã quên cương vị của mình khi tự cho phép hòa mình vào những sinh hoạt có tinh chất thế tục.
Sân khấu và nơi tổ chức ca hát, nhảy nhót của người đời, nên chắc chắn không phải là nơi tụ họp, giúp vui của linh mục. Chỗ đứng và nơi trình diễn của linh mục là bàn thánh, là giảng đài ( pulpit) là Tòa giải tội và giường bệnh nhân, tức là những nơi linh mục thi hành tác vụ thánh đã được lãnh nhận từ Bí Tích Truyền Chức Thánh và năng quyền thi hành từ giám mục mình trực thuộc để phục vụ cho những lợi ích thiêng liêng của giáo dân.
Đặc biệt, linh mục cũng không nên làm các nghề của người đời như bác sĩ, dược sĩ, kỹ sư v.v để quảng cáo kiếm thân chủ và kiếm tiền như những người làm các nghề chuyên môn này. Chỗ đứng và chức năng ( competence) của linh mục là rao giảng lời Chúa, dạy dỗ chân lý và thánh hóa mình và người khác qua việc cử hành các Bí Tích Thanh Tẩy, Thánh Thể, Hòa giải và sức dầu bệnh nhân, dạy giáo lý, Kinh Thánh..chứ không phải ở phòng mạch, nhà bán thuốc, văn phòng cố vấn pháp luật v .v. Đây là một khuyết điểm lớn của Tu Hội hay nhà Dòng nào cho phép tu sĩ linh mục của mình làm những ngành nghề nói trên để kiếm tiền cho nhà Dòng,Tu Hội. Chúng ta tin rằng mỗi người Chúa ban ơn gọi riêng và khả năng riêng để sống và phục vụ. Do đó, không thể vừa làm linh mục vừa làm ca sĩ hay bác sĩ y khoa, hay luật sư ( attorney) được.Tuy nhiên, cũng có trường hợp một số bác sĩ, luật sư, kỹ sư hay giáo sư đang hành nghề thì cảm thấy ơn goi đi tu làm linh mục. Nhưng sau khi trở thành linh mục, thì thôi không hành nghề chuyên môn kia nữa để dành tâm trí và thì giờ cho Sứ vụ linh mục ( priestly ministries), một " ngành nghề" không dính dáng gì đến việc bon chen để kiếm tiền, làm giầu như các ngành nghề khác trong xã hội.
Lại nữa, linh mục không thể đi làm quảng cáo cho một cơ sở thương mại nào, như một linh mục kia đã nằm dài trên ghế để quảng cáo cho một loại ghế xoa bóp trên truyền hình. Đây rõ ràng là một gương xấu, hoàn toàn không phù hợp với là chức năng và tư cách của linh mục, thừa tác viên thay mặt và nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) để dâng lại hy tế thập giá của Chúa trên bàn thờ, và cử hành các bí tích khác cũng như rao giảng lời Chúa và làm nhân chứng cho Chúa qua tác vụ và đời sống của mình trước mặt người đời.
Tóm lại, là hiện thân của Chúa Kitô giữa trần gian, đặc biệt trong hoàn cảnh xã hội khắp nơi ngày một thêm "tục hóa" vô lương tâm và vô luân hiện nay, mọi linh mục đều được mong đợi sống sao cho người đời, cách riêng cho người tín hữu dễ nhận ra Chúa Kitô, Đấng đến và trở nên Con Người không phải để đồng hóa với người phàm trong mọi chiều kích thế tục mà trở nên Con Người để cứu chuộc và thần linh hóa ( divinize) loài người hầu cho phép con người được sống hạnh phúc và " thông phần bản tính Thiên Chúa sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian" này, như Thánh Phêrô đã dạy. ( 2 Pr 1:4). Chúa nói : " ai có tai nghe thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 7 : 46; Lc 8: 8)
LM . Phanxiô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 103 = NIEM VUI PHUC AM PDF Print E-mail

Niem Vui Phuc Am - Boi Canh Lich Su
Tinh Cao
Jan 13 at 5:10 PM

Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm

phân tích, tuyển hợp và chuyển dịch

http://www.vatican.va/holy_father/francesco/apost_exhortations/documents/papa-francesco_esortazione-ap_20131124_evangelii-gaudium_en.html.

Niềm Vui Phúc Âm - Bối Cảnh Lịch Sử

Vẫn biết văn kiện đầu tay của Đức Thánh Cha Phanxicô không phải là Tông Huấn "Niềm Vui Phúc Âm - Evangelii Gaudium" ban hành ngày Lễ Chúa Kitô Vua bế mạc Năm Đức Tin 24/11/2013, mà là Thông Điệp "Ánh Sáng Đức Tin - Lumen Fidei" được ký ban hành vào ngày Lễ Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô 29/6/2013.

Tuy nhiên, Thông Điệp Ánh Sáng Đức Tin hầu như của ĐTC Biển Đức XVI hơn là của ngài, vì bức thông điệp này, như ngài xác nhận ở đoạn 7 là chính vị giáo hoàng tiền nhiệm của ngài "đã hầu như hoàn tất bản nháp đầu tiên cho bức thông điệp về đức tin", còn ngài chỉ "tiếp tục văn kiện hay ho này và góp thêm một ít phần của mình vào đó".

Còn Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm, tuy là đóng góp của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ lần thứ 13 trong thời đoạn từ 7-28/10/2012 về chủ đề "Việc Tân Truyền Bá Phúc Âm Hóa để Truyền Đạt Đức Tin Kitô Giáo", thế nhưng người đọc vẫn thấy được những nét độc đáo của chính Đức Giáo Hoàng Phanxicô, qua giọng điệu của ngài, chủ trương của ngài cũng như cách sử dụng từ ngữ của ngài, những gì ngài đã bày tỏ qua các cuộc phỏng vấn công khai trước đó.

Công Đồng Chung Vaticanô II là một mốc điểm lịch sử quan trọng nhất cho Giáo Hội ở vào hậu bán thế kỷ 20 trước khi tiến vào ngàn năm thứ 3 Kitô giáo, một công đồng kéo dài 3 năm 2 tháng (11/10/1962 - 8/12/1965), ban hành 16 văn kiện, 4 hiến chế (constitutions), 9 sắc lệnh (decrees) và 3 tuyên ngôn (declarations), trong đó có hai văn kiện tiêu biểu nhất cho công đồng thứ 21 này của Giáo Hội, đó là Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội "Ánh Sáng muôn dân - Lumen gentium" (21/11/1964) và Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội "Vui mừng và hy vọng - Gaudium et spes" (7/12/1965).

Sau công đồng này, ngoại trừ vị giáo hoàng 33 ngày là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I (26/8-28/9/1978), có 3 vị giáo hoàng hậu công đồng cho tới nay: Nếu Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II (16/10/1978 - 2/4/2005), một triết gia nhân bản, và Đức Thánh Cha Biển Đức XVI (19/4/2005-28/2/2013), một thần học gia về chân lý đức tin, là hai vị giáo hoàng, qua các văn kiện và chiều hướng hoạt động của mình, tiêu biểu cho một Giáo Hội là "ánh sáng muôn dân", thì Đức Thánh Cha Phanxicô, qua đời sống bình dân và tinh thần từ ái của ngài, là vị giáo hoàng tiêu biểu cho một Giáo Hội thực hiện sứ vụ mang "vui mừng và hy vọng" đến cho loài người, nhất là cho thành phần nghèo khổ và tội lỗi trong một thế giới càng văn minh con người càng bạo loạn và diệt vong.

Không phải hay sao, chính hai văn kiện được Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành: Thông Điệp "Ánh Sáng Đức Tin" và Tông Huấn "Niềm Vui Phúc Âm" đã đủ nói lên chiều hướng của Công Đồng Chung Vaticanô II: Giáo Hội là "Ánh Sáng muôn dân" để mang "Niềm Vui và hy vọng" đến cho thế giới tân tiến ngày nay? Bức Thông Điệp "Ánh Sáng đức tin", hầu như tác giả là Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, nếu được coi là tiêu biểu cho một Giáo Hội "Ánh Sáng muôn dân", thì cũng có thể là tiêu biểu cho hai vị Giáo Hoàng uyên bác về kiến thức đã tham dự Công Đồng Chung Vaticanô II, đó là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, một nghị phụ chính thức của Công Đồng này, và Đức Thánh Cha Biển Đức XVI là cố vấn thần học cho một nghị phụ của Công Đồng này. Bức Tông Huấn "Niềm Vui Phúc Âm", nếu được coi là tiêu biểu cho một Giáo Hội mang "Niềm Vui và hy vọng" đến cho nhân loại, thì cũng có thể là tiêu biểu cho vị Giáo Hoàng đã công khai khẳng định rằng ngài mong muốn có được "một Giáo Hội sống nghèo và là một Giáo Hội cho người nghèo" (Tông Thư Niềm Vui Phúc Âm khoản 198).

Và nếu di sản Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II để lại cho chung Giáo Hội trong ngàn năm thứ ba Kitô giáo được gói ghém trong Tông Thư "Mở Màn Ngàn Năm Mới - Novo Milennio Ineunte" ban hành ngày 6/1/2001 để bế mạc Đại Năm Thánh 2000, đó là "duc in altum - nước sâu thả lưới" (Luca 5:4), thì vị Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã được sai đến trong vòng gần 8 năm ngắn ngủi, (cho đến khi ngài tự ý từ nhiệm), là để dẫn Giáo Hội đến chỗ "nước sâu" và Đức Thánh Cha Phanxicô đang được sai đến là để "thả lưới".

Thật vậy, Vị tiền nhiệm Biển Đức XVI của ngài, với bản chất thâm trầm nội tâm và kiến thức thần học uyên bác, đã dẫn Giáo Hội đến chỗ "nước sâu" qua hai văn kiện của 2 Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới, một vào năm 2005 về Thánh Thể và một vào năm 2008 về Lời Chúa, đó là Tông Huấn "Bí Tích Yêu Thương - Sacramentum Caritatis" ban hành ngày 22/2/2007, và Tông Huấn "Lời Chúa - Verbum Domini" ban hành ngày 30/9/2010. Ngoài ra, ngài còn ban bố 3 bức thông điệp cũng có tính chất tu đức và nội tâm, thứ tự như sau: "Thiên Chúa là tình yêu - Deus caritas est" (25/12/2005), "Niềm hy vọng cứu độ - Spe salvi" (30/11/2007), và "Yêu thương trong chân lý - Caritas in veritate" (29/6/2009). Chưa hết, vị giáo hoàng tiền nhiệm này còn mở Năm Đức Tin (11/10/2012 - 24/11/2013), và gần hoàn tất bức thông điệp thứ 4 về đức tin của ngài (như được đề cập đến trên đây).

Về phần mình, với kinh nghiệm mục vụ rất già giặn và đầy thực tế, vị giáo hoàng từ một miền đất "tận cùng trái đất" (cụm từ được ngài sử dụng lần đầu tiên khi ngỏ lời với dân chúng ở Quảng Trường Thánh Phêrô tối ngày 13/3/2013 trong tư cách là một tân giáo hoàng mới được tuyển bầu), miền đất nghèo khổ Mỹ Châu Latinh ở Á Căn Đình được sai đến với ngai tòa Phêrô để đại diện Chúa Kitô, dẫn Giáo Hội tiếp tục từ chỗ "nước sâu" đến sứ vụ "thả lưới". Phải nói rằng bức Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm là phản ảnh sống động nhất và trung thực nhất về tinh thần và đường hướng của Đức Thánh Cha Phanxicô. Nguyên nhan đề của bức Tông Huấn có từ ngữ "niềm vui" đã đủ hiện lên gương mặt luôn tươi cười đầy phấn khởi của ngài cũng như chiều hướng của ngài rất thiết tha muốn mang "vui mừng và hy vọng - gaudium et spes" đến cho thế giới ở vào thời điểm lịch sử hết sức buồn thương và khẩn trương hiện nay.

Riêng tôi, càng đọc Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm, tôi càng tự nhiên cảm thấy dường như đang ứng nghiệm lời Chúa Giêsu tiên báo về ngày tận thế như sau: "Vì sự dữ gia tăng mà lòng mến nơi hầu hết đã trở nên nguội lạnh... Tin mừng về Vương Quốc này sẽ được loan báo khắp thế giới như là một chứng từ cho tất cả mọi dân tộc. Chỉ sau đó mới đến ngày cùng tháng tận" (Mathêu 24:12,14).

Qua câu tiên báo này của Chúa Giêsu về thời điểm trước ngày cùng tháng tận, chúng ta thấy:

1- vào chính lúc con người trở nên nguội lạnh thì tin mừng lại được rao giảng khắp thế giới, tức là cả thế giới đã trở thành nguội lạnh, thiếu bác ái yêu thương, sống hận thù sát hại nhau, cần phải được Trời Cao nhắc nhở qua sứ vụ truyền bá phúc âm hóa của Giáo Hội;

2- và chỉ sau khi tin mừng cứu độ được rao giảng khắp nơi rồi thì mới tới ngày cùng tháng tận, tức là việc rao giảng tin mừng khắp thế giới, như việc rao giảng của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả cho dân Do Thái xưa, là để dọn đường cho Chúa Kitô tái giáng "để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ vô cùng bất tận".

Lịch sử đã xẩy ra như thể ứng nghiệm lời tiên báo này của Chúa Kitô về thời tận thế "Tin mừng về Vương Quốc này sẽ được loan báo khắp thế giới như là một chứng từ cho tất cả mọi dân tộc": ở chỗ, chưa bao giờ thấy trong lịch sử Giáo Hội có các vị giáo hoàng thực hiện các chuyến tông du khắp thế giới, bắt đầu từ ngay trong Công Đồng Chung Vaticanô II, qua chuyến tông du lịch sử đầu tiên của Đức Thánh Cha Phaolô VI ở Thánh Địa trong thời khoảng 4-6/1/1964. Sau 11 chuyến tông du của Đức Thánh Cha Phaolô VI tới 104 chuyến tông du của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong vòng 26 năm rưỡi, tức trung bình 4 chuyến 1 năm, và 24 chuyến tông du của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI trong vòng 8 năm, tức trung bình 3 chuyến một năm.

Công cuộc và sứ vụ truyền bá phúc âm hóa này càng khẩn trương hơn nữa, khi thế giới loài người mỗi ngày mỗi trở nên lạc loài hơn bao giờ hết, với tình trạng khủng hoảng đức tin trong Giáo Hội, cùng với hiện tượng của một xã hội loài người đang bị phá sản luân lý chưa từng thấy bởi thứ văn hóa chết chóc gây ra bởi nọc độc tương đối chủ nghĩa.

Sự kiện trùng hợp ở đây là văn kiện đúc kết của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới thường lệ lần thứ XIII năm 2012 về việc tân truyền bá phúc âm hóa lại do chính vị giáo hoàng năng nổ truyền giáo Phanxicô ban hành, nhan đề "Niềm Vui Phúc Âm", trong đó, các nghị phụ của Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới này nói chung và Đức Phanxicô nói riêng muốn nhắm đến chính tác nhân truyền bá phúc âm hóa, hơn là đến đối tượng được truyền bá phúc âm hóa, như trong Tông Huấn "Evangelii Nuntiandi - Loan Báo Phúc Âm" (8/12/1975) của Đức Thánh Cha Phaolô VI, văn kiện đúc kết Thượng Nghị Giám Mục Thế Giới Thường Lệ lần thứ III năm 1974, cũng như hơn là đến chính sứ vụ truyền giáo, như trong Thông Điệp "Sứ Vụ Cứu Chuộc - Redemptoris Missio" (7/12/1990) của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

Đó là lý do Tông Huấn này đã mở đầu (đoạn 1) bằng câu bao gồm chính tinh thần và chiều hướng của nó như sau: "Niềm vui Phúc Âm là những gì tràn đầy tâm can và đời sống của tất cả những ai gặp gỡ Chúa Giêsu. Những ai chấp nhận việc Người cống hiến ơn cứu độ cho thì được giải phóng khỏi tội lỗi, buồn đau, trống rỗng nội tâm và lẻ loi cô quạnh. Niềm vui luôn được tái sinh nơi Chúa Kitô. Trong Tông Huấn này, tôi muốn phấn khích tín hữu Kitô giáo hãy khai mào một giai đoạn mới của một việc truyền bá phúc âm hóa được đánh dấu bằng niềm vui này, trong khi vạch ra những đường lối mới cho cuộc hành trình vào những năm trước mắt của Giáo Hội".

Rõ ràng là câu mở đầu Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm trên đây bao gồm 2 yếu tố chính đó là tác nhân truyền bá phúc âm hóa và đường lối mới cho việc tân truyền bá phúc âm hóa. Bởi thế, để vừa ngắn gọn hơn mà vẫn không mất ý nghĩa của toàn văn kiện, vừa dễ dàng hơn trong việc nắm bắt ngay được hai ý chính cốt yếu làm nên văn kiện này, nhưng vẫn không vì thế mà coi thường các câu khác trong bản văn không được trích dịch (bởi những câu này chỉ phụ thuộc hay diễn giải thêm), người dịch ở đây sẽ thực hiện việc tuyển hợp những câu, những đoạn / những khoản nào của Bức Tông Huấn sát với hai ý tưởng chủ yếu nhất trong toàn văn kiện.

Sau đây bô cục tổng quan hai phần chính và những khoản tiêu biểu nhất của bức Tông Thư nên đã được người dịch chuyển dịch, trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh. Những tiểu đề theo bố cục và nội dung của bức Tông Thư này vì thế cũng đã được người dịch sắp xếp căn cứ vào câu chủ yếu đầu tiên của bức Tông Thư.

Phần Một: Thành phần tác nhân loan truyền Niềm Vui Phúc Âm

1- Niềm Vui Phúc Âm - một sứ vụ không chấp nhận khuynh hướng phản chứng nơi mục vụ viên

2- Niềm Vui Phúc Âm - một sứ vụ bất khả thiếu và bất khả châm chước của Kitô hữu

3- Niềm Vui Phúc Âm - một sứ vụ cần phải được tràn đầy Thần Linh mới có thể hoàn thành

Phần Hai: Đường lối mới loan truyền Niềm Vui Phúc Âm

1- Niềm Vui Phúc Âm – cần một cuộc hoán cải về mục vụ

2- Niềm Vui Phúc Âm - trước những thách đố của thế giới ngày nay

3- Niềm Vui Phúc Âm - những cách thức để truyền đạt

4- Niềm Vui Phúc Âm - đặc biệt cho người nghèo hèn

(còn tiếp)
Reply, Reply All or Forward | More

 
HOC HOI DE SONG DAO # 102 = PHEP RUA TUYET VOI PDF Print E-mail

Chua Giesu Chiu Phep Rua - Tuyet Voi Mau Nhiem
Tinh Cao
Jan 12 at 4:00 PM
Hôm nay Giáo Hội long trọng cử hành Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. Tất cả ý nghĩa của biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa này đã được Giáo Hội tóm gọn rất hay trong Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo khoản 536, như sau:

"Về phần Ngài, phép Rửa của Chúa Giêsu là sự Ngài chấp nhận và khai mạc sứ mạng người Đầy tớ đau khổ của Ngài. Ngài tự liệt mình vào số các tội nhân (xem Is 53,12), và Ngài đã là "Chiên con của Thiên Chúa xoá tội trần gian" (Ga 1,29). Ngài đã làm trước kỳ hạn cuộc "rửa" bằng cái chết đẫm máu của mình (xem Mc 10,38; Lc 12,50). Ngài đã đến để "thực hiện sự công chính toàn vẹn" (Mt 3,15), nghĩa là Ngài trọn vẹn vâng phục thánh ý của Cha Ngài: vì tình yêu, Ngài đã ưng nhận phép Rửa của sự chết để tha thứ tội lỗi của chúng ta (xem Mt 26,39). Đáp lại sự chấp nhận này của Chúa Giêsu, Chúa Cha đã lên tiếng nói rằng Ngài rất thoả lòng về Con của Ngài (xem Lc 3,22; Is 42,1). Và Thánh Thần mà Chúa Giêsu vẫn đã có đầy đủ từ khi được thụ thai, đã tới "đậu" trên Ngài (Ga 1,3233) (xem Is 11,2). Ngài sẽ là nguồn mạch Chúa Thánh Thần cho cả nhân loại. Khi Ngài chịu phép Rửa "các tầng trời đã mở ra" (Mt 3,16), vì trước đó đã bị đóng lại do tội của Ađam. Và dòng nước đã được thánh hoá do sự bước xuống nước của Chúa Giêsu và do sự Chúa Thánh Thần ngự xuống, khai mào cho một cuộc sáng tạo mới".

Tuy nhiên, nếu phân tích kỹ biến cố được kể như mở màn cho cuộc đời công khai của Chúa Giêsu vào năm Người khoảng 30 tuổi này (xem Luca 3:23), chúng ta còn thấy những điểm đặc biệt kỳ thú nữa sau đây:

1- Mục đích chính yếu của việc Chúa Giêsu chịu phép rửa là để tỏ mình ra Người là ai, như chính vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Người đã khẳng định: "Lý do tôi đến để làm phép rửa bằng nước là để Người có thể tỏ mình ra cho Dân Do Thái" (Gioan 1:31).

2- Thế nhưng, theo Phúc Âm Nhất Lãm, trong đó có Phúc Âm của Thánh Mathêu cho Chu Kỳ Phụng Vụ Năm A hôm nay, thì Chúa Giêsu "tỏ mình ra cho Dân Do Thái" một cách không công khai và trực tiếp, mà là qua vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả của Người, bởi thế chỉ có một mình vị làm phép rửa cho Người nhận biết Người mà thôi.

3- Sở dĩ Chúa Giêsu tỏ mình ra trước hết cho Tiền Hô Gioan Tẩy Giả là để chính vị tiền hô thuộc giòng dõi tư tế Lêvi này có thể lấy thế giá của mình mà làm chứng cho Người và về Người, như chính Người đã sử dụng chính chứng từ của vị này đối với dân Do Thái: "Quí vị đã sai đến với Gioan là vị đã làm chứng cho sự thật... Tôi nói đến những điều này là vì phần rỗi của quí vị" (Gioan 5:33-34).

4- Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả thuộc giòng dõi tư tế Lêvi này quả thực là vị có thế giá trước dân Do Thái, nên, như Phúc Âm Thánh Gioan thuật lại, "những người Do Thái đã sai các vị tư tế và Lêvi từ Giêrusalem đến hỏi 'Ông là ai?'" (1:19), và cả "những người được phái Pharisiêu sai đến cũng tiếp tục chất vấn thêm rằng: 'Nếu ngài không phải là Đấng Thiên Sai... thì tại sao ngài lại làm phép rửa chứ?'" (1:24-25).

5- Chỉ có duy một mình Phúc Âm Thánh Gioan mới không thuật lại chính biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa như Bộ Phúc Âm Nhất Lãm, liên quan đến vai trò hay chức vị bề ngoài của Thánh Gioan Tẩy Giả, mà nhấn mạnh đến sứ vụ làm chứng chính yếu của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả mà thôi. Phúc Âm Thánh Ký Gioan, từ đoạn 13 đến hết 17, cũng đã không thuật lại biến cố quan trọng Chúa Giêsu lập Bí Tích Thánh Thể mà chỉ nhấn mạnh đến tất cả sự thật của Bí Tích này và về Bí Tích này đó là yêu thương và hiệp nhất thôi, như tất cả những gì Người nói và làm trong Bữa Tiệc Ly, những gì liên quan tới Bánh hằng sống từ trời xuống... ban sự sống cho thế gian" (Gioan 6:51).

6- Quả vậy, Phúc Âm Thánh Gioan đã nhấn mạnh đến sứ vụ làm chứng chính yếu này của Vị Tiền Hô Gioan Tẩy Giả khi thuật lại những gì xẩy ra ngay sau ngày Chúa Giêsu chịu phép rửa như thế này: "Ngày hôm sau khi Gioan chợt thấy Chúa Giêsu đến cùng mình thì đã kêu lên rằng: 'Kìa! Chiên Thiên Chúa đó, Đấng xóa tội trần gian! Chính Người là Đấng mà tôi đã nói rằng có người đến sau tôi song hơn tôi vì Người có trước tôi... Tôi đã thấy Thần Linh như bồ câu từ trời xuống đậu trên Người... Giờ đây chính tôi đã thấy và làm chứng Đây là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn'" (1:29-30,32,34).

7- Cũng chỉ có Phúc Âm Thánh Gioan, ở đầu đoạn 2, thuật lại một biến cố nữa liên quan một cách gián tiếp đến biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa để tỏ mình ra cho Dân Do Thái qua Tiền hô Gioan Tẩy Giả, đó là biến cố Tiệc Cưới Cana, một biến cố được Giáo Hội nhắc đến vào Chúa Nhật thứ 2 Thường Niên Chu Kỳ Phụng Vụ C, sau Chúa Nhật Chúa Giêsu chịu phép rửa. Tại sao? Tại vì biến cố Tiệc Cưới Cana này liên quan đến việc Chúa Giêsu tỏ mình ra lần đầu tiên cho các môn đệ tiên khởi, nhưng lần này lại qua môi giới Mẹ của Người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Xin đón coi trong tuần Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm rất hay và cần thiết của ĐTC Phanxicô được cùng tác giả đặc biệt phân tích, tuyển hợp và chuyển dịch đề cùng nhau học hỏi và áp dụng thực hành.
Reply, Reply All or Forward | More

 
HOC HOI DE SONG ĐAO # 101 = TINH YEU THUONG PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] TÌNH YÊU THƯƠNG KITÔ GIÁO
Anthony Quang Dinh

Jan 9 at 10:58 PM

TÌNH YÊU THƯƠNG KITÔ GIÁO KHÔNG PHẢI LÀ MÀN KỊCH QUẢNG CÁO
By Elise Harris
Vatican City, ngày 09-01-2014 /09:32 am (EWTN News/CN A)

Trong Thánh Lễ hôm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô trình bầy về tình yêu thương của Kitô giáo, giải thích rằng vấn đề ấy không phải là một hình thức chủ nghĩa lãng mạn ích kỷ, nhưng đúng hơn là một cái gì đó "cụ thể" nó đòi hỏi sự hy sinh.

Tình yêu mà Thánh Gioan nói đến không phải lọai tình yêu của những truỵên tầm phào! Không phải thế, đó là một cái gì khác. Tình yêu Kitô giáo có giá trị đặc bịêt : tính cụ thể." Đức thánh cha đã làm cho người ta chú ý trong bài giảng ngày 09 tháng 01, tham khảo những lời của thánh Gioan Tông đồ trong bài đọc thứ nhất.

Bắt đầu bằng sự suy nịêm về đọan văn trong thư thứ nhất của thánh Gioan trong đó người nói "Nếu chúng ta yêu mến nhau, Thiên Chúa ở trong chúng ta, và tình yêu của Người đã dẫn đến sự hòan hảo trong ta." Đức Thánh Cha Phanxicô đã làm nổi bật như thế nào về kinh nghịêm của đức tin được tìm thấy ở trong di tích trùng lắp này.

"Chúng ta ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong ta : đây là đời sống đạo Công giáo," Đức giáo hòang xác nhận, " không hịên dịên ở trong tinh thần thế gian, không hịên dịên ở trong tính nông cạn, không hịên dịên ở trong sự sùng bái tà thần, không hịên dịên ở trong tính phù hoa."

"Không có gì, không có gì, hịên dịên ở trong Chúa," người nhắc lại, thêm rằng "Người tráo đổi qua lại :Người ở trong ta. Nhưng mà trước hết Người hịên dịên ở trong ta rồi."

"Bíêt bao lần chúng ta đẩy Người ra ngòai và chúng ta không thể hịên dịên ở trong Người. Chính là Thần khí hịên dịên."

Sau khi kỉêm tra động cơ tinh thần này về sự ở trong thần khí, nó thúc đẩy tình yêu của những Kitô hữu, Đức Thánh Cha trở lại những suy nịêm vè làm thế nào để áp dụng tình yêu này, tục ngữ nói :"Ở trong tinh yêu của Thiên Chúa" không giống như một tình trạng ngây ngất ở trong tâm hồn một người hoặc một cảm giác dễ chịu.

"Tình yêu thương Kitô giáo có phẩm chất đặc bịêt :xác thực, cụ thể (sờ, nắn được), tình yêu Kitô giáo là cụ thể, Đức Thánh Cha nhận xét :Chính bản thân Đức Giêsu, khi Người nói về tình yêu, nói với chúng ta về những sự vật cụ thể : cho kẻ đói ăn, thăm víêng người bệnh, và rất nhìêu những vấn đề cụ thể khác.

"Và khi sự cụ thể này không có ở đấy, người ta có thể sống tính chất Kitô giáo ảo tưởng," người tíêp tục, bởi vì người ta không nhận bíêt chỗ nào là trung tâm đỉêm thông địêp của Đức Giêsu.."

Tình yêu này không xẩy đến ở con người cụ thể, nó là tình yêu ảo tưởng, tương tự như những ảo tưởng các môn đệ đã có, khi, nhìn ngắm Chúa Giêsu, họ nghỉ, Đức Giêsu là con ma," Đức Thánh Cha tíêp tục nói , nhớ lại rằng trong bài Phúc Âm theo ngày các tông đồ đã hỉêu lầm Đức Chúa Giêsu so với con ma khi Đức Giêsu đến với họ đi trên mặt nước.

Sự kinh ngạc của họ, Đức Thánh Cha suy nịêm, nổi lên từ sự vô tình của tâm hồn, bởi vì như đã nói trong Phúc Âm, "Họ đã không hỉêu" ý nghĩa sự sinh sản của những ổ bảnh mới xẩy ra trong chốc lát trước đó.

Nếu người ta có một trái tim cứng cỏi," Đức Thánh Chả giảng giải, "người ta không thể yêu thương, và người ta nghĩ rằng tình yêu là những vấn đề tưởng tượng, Không phải thế, tình yêu là cụ thể" người xác nhận, hơn nữa sự cụ thể này đã đặt trên nền tảng của hai tiêu chủân.

"Tiêu chủân thứ nhất, sự yêu mến và những hành động, không phải chỉ nói. Lời nói bị lấy đi mất bởi gió thổi! Hôm nay nó có ở đấy, ngày mai không còn nữa."

"Tiêu chủân thứ hai của sự cụ thể là: trong tình yêu cho đi quan trọng hơn là nhận lãnh," Đức Thánh Cha bộc lộ, hơn nữa "Một người yêu thương, ban phát...cho đi những vật dụng, cho đi sự sống, cho đi chính bản thân cho Thiên Chúa và tha nhân."

"Mặt khác (la) một người không bíêt yêu thương, là người vị kỷ, luôn luôn tìm để nhận lãnh, luôn luôn tìm để có những đồ vật, để có những thụân lợi ," khuýên khích những người hịên dịên "Hãy nâng đỡ với tấm long rộng mở,"

"Đừng giống như một số môn đệ, tâm hồn họ khép kín, họ không hỉêu bíêt bất cứ đìêu gì: ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong chúng ta; ở lại trong tình yêu."

QQ gõ xong 01092014/08:35pm

__._,_.___

 
HOC HOI DE SONG DAO# 100 = HAY NHO PHEP RUA PDF Print E-mail

[HocHoiKinhThanh] Bí tích rửa tội
Anthony Quang Dinh
Jan 8 at 8:00 PM

ĐTC KHUYEN KHÍCH TÍN HỮU HÃY NHỚ NÌÊM HY VỌNG HUY HÒANG CỦA PHÉP RỬA
By Elise Harris
Vatican city, ngày 09-01-2014/07:00 am (EWTN News/CN A)

Trong bủôi trìêu ýêt chung hàng tùân, Đức Thánh Cha Phanxicô đã suy nịêm về sự quan trọng của Bí tích Thanh Tẩy. nêu bật một ân sủng lien kết chúng ta vào với thân thể Đức Kitô và thúc giục ta rao giảng phúc âm.

"Anh chị em đừng bao giờ lãng quên một ân sủng trõng đại đã tíêp nhận ." Đức Thánh Cha Phanxicô đã xác nhận trong bủôi trìêu ýêt chung ngày 08-01, "Sự thanh tẩy đã làm bíên đổi ta, ban cho ta một nìêm hy vọng mới, vinh quang, và làm cho chúng ta có thể mang tình yêu thương cứu chụôc đến cho mọi người."

Đức Giáo Hòang đã chào mừng những khách hành hương đã tập trung tại Quảng trường Thánh Phêrô, công bố bắt đầu bài giáo lý mới về những phép Bí tích, trong thời gian người sẽ suy nịêm về từng bí tích trong số bẩy bí tích, khởi đầu với bí tích Thanh tẩy.

"Công đồng Vatican II nói với chúng ta rằng: Hội thánh là một bí tích," người giải nghĩa, "một ân sủng chứa đựng dấu hịêu tạo ra công vịêc cứu chụôc của Đức Kitô đưa ra trong lịch sử, nhờ quỳên năng của Chúa Thánh Thần.."

Như là bí tích thứ nhất trong bẩy bí tích của Hội Thánh, phép rửa làm cho ta tái sinh trong Đức Kitô," DTC nói, và phép rửa làm cho chúng ta những người chia sẻ mầu nhịêm tử nạn và phục sinh của Người, ban ơn tha thứ tội lỗi va đem cho ta sụ tự do mới như những con cái và những thành viên của Hội Thánh Thiên Chúa."

"Phép rửa là một bí tích trên đó đức tin của chúng ta được dựng lên và chúng ta là những thành viên sống động của Đức Kitô và của Hội Thánh Người," Đức thánh Cha nhấn mạnh. Nêu bật một vấn đề nó không chỉ là một nghi lễ đơn giản hay một hành động nghi thức quan trọng.."

"Vì Chúa, chúng ta nhào lặn vào trong ngùôn sống vô tận, chúng ta đến từ sự tử nạn của Đức Giêsu. Vì vậy chúng ta có thể có một đời sống mới lien kết với Thiên Chúa, và với anh chị em chúng ta."

Đức Thánh Cha ghi nhận rằng mặc dù có nhìêu người "không có một chút ký ức nào về bí tích này," Chúng ta tất cả "được mời gọi hàng ngày có khát vọng sống hướng thượng mà chúng ta nhận được trong Người."

Nếu quyý vị đi theo Đức Giêsu và vẫn còn ở trong Giáo Hội," Đức Thánh Cha đã nhận xét, "với giới hạn của chúng ta và tính mỏng dòn và tội lỗi của ta... sẽ trở nên những tạo vật mới và đã được che phủ trong Đức Kitô" nhờ Những Bí tích.

Suy ra sự lưu ý về sự hăng hái di truỳên giáo của Hội Thánh, Đức Thánh Cha giải nghĩa rằng "Phép rửa đã làm chúng ta thay đỏi, ban cho chúng ta nìêm hy vọng mới và vinh quang, và đã ban quỳên cho chúng ta mang tình yêu thương cứu độ đến cho mọi người, đạc bịêt là những kẻ nghèo, nơi họ chúng ta trông thấy dịên mạo của Đức Kitô."

Đức Thánh tíêp "Phép rửa của chúng ta cũng đã ban cho chúng ta sự chia sẻ nhịêm vụ truỳên bá phúc âm của Hội thánh, như các môn đệ, chúng ta cũng là những nhà truỳên giáo."

"Khi chúng ta mừng lễ Chúa chịu phép rửa vào chúa nhật này, chúng ta hãy cầu xin Người canh tân trong ta ân hụê của phép rửa và làm cho ta,, cùng với những anh chị em nên những con cái chân thực của Thiên Chúa và những thành viên sống động thân thể mầu nhịêm của Người : Hội Thánh."

Đức Thánh Cha kết lụân bài thuýêt trình hàng tùân bằng sự mời gọi nọi người học hỏi "trong đời sống hàng ngày ân hụê mà chúng ta nhận trong phép Rửa tội.\," và đã chào mừng những người đi hành hương hịên dịên từ nhìêu nước trên thế giới.

Trở lại những vấn đề ở Trung Đông, đặc bịêt là ở Syria, Đức Thánh Cha đã yêu cầu họ nhớ lại ngày lãnh nhận bí tích Rửa tội của họ và ăn mừng ngày ấy. bởi vì nhờ phép Bí tích này "tất cả chúng ta trở nên tạo vật mới trong Đức Kitô, nên đền thờ của Chúa Thánh Thần, con cái thừa tự của Đức Chúa Cha."

Quý vị "những thành viên của Hội Thánh, anh em rụôt thịt trong đức tin và là người công bố Phúc Âm," người xác nhận, ai mà "có năng lực tha thứ và yêu thương mọi người, ngay cả kẻ thù nghịch của chúng ta."

QQ gõ xong 01082014/05:30pm

Xem bài trong vịêt Catholic
http://www.vietcatholic.net/News/Html/120080.htm

__._,_.___

 
<< Start < Prev 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Next > End >>

Page 84 of 114