mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay5160
mod_vvisit_counterHôm Qua9655
mod_vvisit_counterTuần Này5160
mod_vvisit_counterTuần Trước58891
mod_vvisit_counterTháng Này150071
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10654327

We have: 155 guests online
Your IP: 54.80.123.20
 , 
Today: Apr 22, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 151 = GIAI ĐAP THAC MAC PDF Print E-mail

Giải đáp thắc mắc :
1- Có Thánh lễ nào mà mục đích chỉ để kính riêng một mình Đức Mẹ hay Thánh Nam nữ nào không ?
2- Có thể lần chuỗi Mân Côi để kính Thánh Nam nữ nào được không ?
3- Có lễ nào chỉ dành riêng cầu cho một linh hồn hay cho một ý chỉ riêng nào không ?
Trả lời :
1- Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) là việc phụng vụ cao trọng nhất nhằm diễn lại cách bí tích trên bàn thờ ngày nay Bữa ăn sau hết của Chúa Giêsu-Kitô với 12 Tông Đồ và Hy Tế Chúa dâng lên Chúa Cha một lần trên thập giá năm xưa để đền tội thay cho nhân loại khỏi phải phạt và chết đời đời vì tội.
Phải nói là Lễ Tạ Ơn( Thanksgiving Mass) vì Chúa Kitô đã " dâng lời cảm tạ Chúa Cha, bẻ bánh và trao cho các môn đệ hiện diện ăn, rồi cũng cảm tạ và trao chén rượu nho đã biến thành máu Người cho các ông uống".
Vì thế, Thánh Lễ là hành động cảm tạ Chúa Cha cùng với Chúa Kitô và diễn lại Hy tế đền tội của Chúa, như Giáo Hội dạy trong Hiến Chế tín lý Lumen Gentium, là " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó " Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế ( 1 Cor 5: 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( LG số 3)
Như thế, mọi Thánh Lễ đều qui chiếu về mục đích thờ lậy, ngượi khen và cảm tạ Chúa Cha cùng với Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội dâng trên bàn thờ nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) để xin ơn tha tội cho chúng ta ngày nay cùng thể thức và mục đích mà Chúa Kitô đã một lần dâng trên thập giá để xin ơn tha tội cho toàn thể nhân loại.
Do đó, không có Thánh Lễ nào được dâng mà trọng tâm là để kính riêng một thánh nam nữ nào, kể cả Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse, vì trọng tâm của mọi Thánh Lễ đều phải qui chiếu về một mục đích duy nhất là ngượi khen, thờ lậy và cảm tạ Thiên Chúa nhờ Chúa Giê-su-Kitô, Đấng đã dâng mình tế lễ Chúa Cha trên thập giá như đã nói ở trên .
Tuy nhiên , Phụng vụ của Giáo Hội có dành lễ kinh Đức Mẹ trong nhiều dip quanh năm, kính Thánh Cả Giuse hai lần ( 19 tháng 3 và 1 tháng 5, Kinh Thánh Gioan Tẩy Giả 2 lần ( 24 tháng 6 và 29 tháng 8)
Các Thánh Tông Đồ ( Phêrô. Phaolô, Philiphê, Joan, Giacô- bê...) mỗi vị một lần trong năm. Nhưng dù là lễ trọng ( Solemnity) hay lễ kính ( Feast Day) Đức Mẹ, hoặc các Thánh Nam Nữ, thì trọng tâm của Thánh Lễ vẫn là để ngượi khen, thờ lậy và cảm tạ Chúa Cha , nhờ Chúa Kitô, chứ không bao giờ là chỉ để tôn kính riêng Đức Mẹ hay bất cứ Thánh Nam Nữ nào.
Có khác chăng là trong mọi lễ kinh Đức Mẹ , Thánh Cả Giuse , các Thánh Tông Đồ , các Thánh Nam Nữ ( 1-11) các Thánh Tử Đạo, các Thánh Trinh nữ và Tu Sĩ...và lễ cầu cho một tín hữu đã qua đời, thì tất cả đều có lời nguyện riêng mở đầu và kết thúc Thánh Lễ , cũng như có Kinh Tiền Tụng ( Preface) riêng cho mỗi lễ kính mà thôi.
Thí dụ, trong Lễ Kinh Đức Mẹ và các Thánh, Giáo Hội cảm tạ Chúa về hồng ân và những sự lạ lùng Chúa đã làm nơi Đức Mẹ và các Thánh. Cụ thể, trong Kinh Tiền Tụng Lễ Kinh Đức Mẹ, Giáo Hội nguyện cầu như sau:
....Trong ngày lễ ( sinh nhật Đức Mẹ, Đức Mẹ Mân côi, Mẹ lên trời cả hồn xác...) của Đức Maria diễm phúc trọn đời đồng trinh, chúng con cùng ca ngượi, chúc tụng và tung hô Chúa. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Đức Maria đã thụ thai Con Một Chúa, và đã chiếu giãi vào thế gian ánh sáng vĩnh cửu là Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng con..
Hoặc : Chúng con tuyên xưng Chúa là Đấng kỳ diệu trong việc Chúa tôn phong các Thánh. Nhất là khi kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, chúng con hiệp với lời ca tụng, tạ ơn của Người ( Mẹ Maria) mà tôn vinh lòng nhân hậu của Chúa...
Như thế, lễ kính Đức Mẹ trong mọi dịp chỉ có mục đích cảm tạ Thiên Chúa đã ban nhiều hồng ân cho riêng mình Mẹ, như được sinh ra mà không mắc tội Tổ Tông và các tội khác, trọn đời đồng Trinh và lên trời cả hồn xác.Ngượi khen và cảm tạ Chúa và chúc mừng Mẹ được diễm phúc hơn mọi thần thánh trên trời và mọi tạo vật dưới thế.Đó là tâm tình chúng ta phải có mỗi khi mừng lễ kinh Đức Mẹ.
Chinh Đức Mẹ và các Thánh Nam Nữ và các Thiên Thần cũng hiệp thông với Chúa Kitô và Giáo Hội khi Thánh Lễ Tạ Ơn được cử hành trên bàn thờ ngày nay để cùng ngượi khen và cảm tạ Chúa Cha , vì Người đã ban tặng cho nhân loại món quà quí giá nhất là Con Một của Người là Chúa Giê-su Kitô, Đấng đã đến trần gian và "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20 : 28)
Đức Mẹ - với địa vị cao sang là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, nên được tôn kính ở mức Hyperdulia trong phụng vụ thánh, nhưng không được tôn thờ ở mức Latria là mức chỉ dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi.Nghĩa là , trong mọi Thánh Lễ Tạ Ơn chỉ một mình Thiên Chúa được ngượi khen và tôn thờ, trong khi Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ khác, kể cả Thánh Giuse là bạn thanh sạch của Mẹ và là dưỡng phụ của Chúa Kitô, thì được tôn kính ( venerate) ở mức Hyperdulia ( Đức Mẹ) và Dulia ( các Thánh) mà thôi.
Cụ thể, ngay cả những lễ được gọi là lễ kính riêng Đức Mẹ như Mẹ Thiên Chúa ( Moher of God 1-1), Mẹ Vô nhiễm thai ( Immaculate Conception 8-12) Mẹ lên trời cả hồn xác ( Assumption 15-8) ... thì trọng tâm vẫn là để thờ lậy và cảm tạ Thiên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô . Chỉ có khác một điều khác là trong lễ kính Đức Mẹ thì có lời nguyện riêng mở đầu và kết thúc thánh lễ, có Kinh Tiền Tụng ( Preface, ) riêng, và được đặc biệt nhắc đến trong các Kinh Nguyện Thánh Thể ( Kinh Nguyện Tạ Ơn) như : "Chúng con kính nhớ trước hết là Đức Maria vinh hiển trọn đời đồng trinh, Mẹ của Chúa Giê su-Kitô ...( Kinh Nguyện Thánh Thể I) . Hay " Người ( Chúa Kitô) đã nhập thể bởi phép Chúa Thánh Thần và được Đức Trinh Nữ sinh ra...( Kinh Nguyện Thánh Thể II & IV)
Hoặc: " Nguyện xin Chúa Thánh Thần làm cho chúng con trở nên của lễ muôn đời dâng lên Chúa, để chúng con được thừa hưởng gia nghiệp cùng với các người Chúa đã chọn, nhất là với Đức Trinh Nữ Maria , Mẹ Thiên Chúa...( Kinh Nguyện Thánh Thể III)
Tóm lại, không có Lễ nào chỉ dành riêng để kính Đức Mẹ, hay Thánh Nam nữ nào mà lại không có lời chúc tụng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa của Giáo Hội hiệp thông cũng với Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha khi cử hành ThánhLễ Tạ Ơn . Do đó, khi nói xin lễ tạ ơn Đức Mẹ, hay Thánh Giuse hoặc Thánh Nam Nữ nào, thì phải được hiểu là Lễ tạ ơn Chúa đã thương ban ơn qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ và các Thánh, vì chỉ có một mình Thiên Chúa ban phát mọi phúc lành cho chúng ta, nhờ công nghiệp Chúa Kitô và nhờ lời nguyện giúp cầu thay rất đắc lực của Đức Me, Thánh Cả Giuse, và các Thánh Nam nữ khác đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.
Đức Mẹ và các Thánh không ban ơn mà chỉ xin ơn Chúa cho chúng ta mà thôi.Dĩ nhiên chúng ta cũng phải cám ơn Mẹ và các Thánh đã cầu bầu thay cho chúng ta trước Tòa Chúa. Điều muốn nhấn mạnh trong bài viết này là chúng ta không được quên phải cảm tạ Chúa trước hết vì Người đã ban cho ta những ơn lành hồn xác, và cám ơn Đức Mẹ hay Thánh Nam Nữ nào đã nguyện giúp cầu thay cho chúng ta.
Xin nhớ kỹ điều này để trong thực hành khi vào nhà thờ cầu xin điều gì, thì không nên chạy thẳng đển nơi có thánh tượng Đức Mẹ hoặc Thánh Nam nữ nào để cầu xin như thể Đức Mẹ và các Thánh có thể ban phát mọi ơn lành cho chúng ta. Trái lại, phải đến thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện trong nhà tạm ( Tabernacle), trước khi chạy đến với Đức Mẹ , Thánh Giuse hay Thánh Nam Nữ nào khác. Phải thờ lậy Chúa Kitô, cũng là thờ lậy Ba Ngôi Thiên Chúa, vì ở đâu có Chúa Kitô thì ở đấy có Chúa Cha và Chúa Thánh Thần .
Đó là cách cầu nguyện đẹp lòng Chúa , Đức Mẹ và các Thánh mà chúng ta phải hiểu rõ và thực hành cho phù hợp với đức tin và phụng vụ.
2- Về câu hỏi thứ 2, xin nói rõ là Kinh Kinh Mừng là lời Sứ Thần Grabriel chào kinh Đức Trinh Nữ Maria và loan báo cho Trinh Nữ biết là Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần. Đó là nội dung phần đầu của Kinh Kính Mừng. Phần hai của Kinh là lời cầu xin Đức Maria của Giáo Hội cho con cái mình được những ơn phúc của Chúa nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria.
Như vậy, Kinh Kính Mừng chỉ dành riêng để kinh Đức Mẹ mà thôi.Do đó, không thể đọc kinh Kinh Mừng, hay lần chuỗi mân côi để kính bất cứ Thánh Nam Nữ nào, vì mục đích của Kinh không được soan ra để kinh Thánh Nam nữ nào mà chỉ để dành riêng kinh Đức Mẹ mà thôi.Thánh nào có kinh được soạn riêng thì đọc. Còn nếu không, thì tư ý cầu xin với Thánh đó là đủ, chứ không thích hợp để đọc kinh Lậy Cha,Kinh Kinh mừng và Sáng Danh khi cầu nguyện với Thanh Nam Nữ nào.Mà nếu có đọc thì phải đọc trong tâm tình kính Đức Mẹ, thờ lậy Chúa là Cha và vinh danh Chúa cùng các Thánh và các Thiên Thần để nhờ Thánh Nam nữ nào nguyện giúp cầu thay cho mình được những điều mong muốn.
Lại nữa, khi đọc Kinh Kinh Mừng ta phải đọc trong tâm tình mừng kinh vinh phúc của Mẹ được chọn làm Mẹ Ngôi Hai, và xin Mẹ nguyện giúp cầu thay cho ta được Chúa đoái thương ban cho những ơn ta đang cần đến trong cuộc sống trên trần thế này, chờ ngày về vui hưởng hạnh phúc cùng Mẹ trên Thiên Đàng.
3- Về câu hỏi thứ 3, xin trả lời là mục đích của Thánh Lễ là để ngượi khen, cảm tạ và thờ lậy Chúa như đã nói ở trên, nên không hề có lễ nào chỉ để cầu riêng cho một hay nhiều người còn sống hay đã qua đời. Nói xin lễ cầu bình an cho người còn sống hay cho người đã ly trần chỉ có nghĩa là chủ tế phải nhớ đến ý lễ mình dâng để được hưởng bổng lễ ( mass stipend) theo qui định của giáo luật. Nhưng ngay trong lễ có người xin để cầu cho một linh hồn đã ly trần, thì vẫn có lời nguyện cầu chung cho Đức Thánh cha, cho giám mục giáo phận và cho các tín hữu đã ly trần như ta đọc thấy trong mọi Kinh Nguyện Thánh thể đều có lời cầu chung như sau : " Xin Chúa cũng nhớ đến anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, và mọi người, đặc biệt là các bậc tổ tiên, ông bà cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã ly trần trong tình thương của Chúa.Xin cho hết thảy được vào hưởng ánh sáng tôn Nhan Chúa..( KNTT 1, 2, 3, 4)
Nếu có người xin lễ cầu cho một hay hai linh hồn, thì có thêm lời nguyện riêng như sau : " Xin nhớ đến tôi tá Chúa là....mà ( hôm nay) Chúa đã gọi ra khỏi đời này về với Chúa. Xin ban cho kẻ đã chết như Con Chúa, thì cũng được sống lại như Người."
Nhưng dù có lời nguyện riêng cho thân nhân ai xin lễ, thì vẫn có lời cầu xin chung cho các tin hữu còn sống cũng như đã ly trần như đã nói ở trên.
Như vậy, không có lễ nào chỉ dành để cầu riêng cho một hay nhiều linh hồn đã qua đời. Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai thắc mắc tại sao lễ mình xin cầu cho người thân đã ly trần mà vẫn thấy cha chủ tế cầu cho các người khác nữa. Phải cầu cho các người còn sống cũng như đã qua đời vì phụng vụ thánh qui đinh như vậy, và không ai có quyền thay đổi theo ý mình.
Chính vì thế mà cũng cần nói lại một lần nữa là không có linh hồn nào được coi là " mồ côi" ở trong chốn luyện hình, khiến phải xin cầu nguyện cho họ, vì trong các Thánh Lễ, Giáo Hội đều cầu xin cho " các tính hữu đã ly trần" mặc dù có hay không có ai xin lễ cầu riêng cho họ.
Tóm lại, là tín hữu trong Giáo Hội, chúng ta cẩn biết rõ ý nghĩa và mục đích của phụng vụ thánh, tức toàn bộ việc thờ phượng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, cũng nhờ ơn thông hiệp và cầu bầu của Đức Mẹ và các Thánh mà Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi).
Lm P. X Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 150 = VA TUYET THONG LA GI PDF Print E-mail

Trang chủ Sống Đạo Vạ Tuyệt Thông Là Gì?
Vạ Tuyệt Thông Là Gì?

Để trả lời cho câu hỏi "Vạ tuyệt thông là gì?", chúng ta cần tìm hiểu tín điều "Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế nầy, các thánh thông công" (kinh Tin Kính các Tông Đồ), thì mới hiểu "Vạ tuyệt thông" được rõ ràng hơn.

1. Các thánh thông công.

Trên nguyên tắc, tất cả những ai được rửa tội, đều là thánh, vì đã được sạch tội tổ tông và tội riêng (từ khi sinh ra cho tới lúc lãnh nhận bí tích rửa tội, nếu là người lớn), được gia nhập vào Nhiệm Thể của Chúa Kitô. Trong Nhiệm Thể nầy, mỗi chi thể thông hiệp với nhau, vì cùng chung một Nhiệm thể của Chúa Kitô, Người là Đầu (x.GLCG. 92, 947). Nên:

Tất cả các tín hữu còn sống hay đã qua đời - đã được lên thiên đàng hay còn đang ở luyện tội - đều có thông hiệp mật thiết. Đó là tín điều Các Thánh thông công.

- Các tín hữu còn sống làm thành Giáo hội lữ hành.

- Các Thánh trên thiên đàng làm thành Giáo hội khải hoàn.

- Các linh hồn trong luyện tội làm thành Giáo hội thanh luyện.

Các tín hữu tôn kính, cầu xin Các Thánh. Còn Các Thánh cầu bầu cho các tín hữu trước mặt Thiên Chúa.

Các tín hữu làm việc lành phúc đức cầu cho các linh hồn. Còn các linh hồn cầu bầu cùng Chúa cho các tín hữu còn đang sống.

Các tín hữu đều thông công với nhau: mỗi người đều có quyền hưởng nhờ lời cầu nguyện và công nghiệp của tất cả những người khác (x. SGL CG 92, 946-959). Hiểu như vậy, từ đây, chúng ta đi sang phần vạ tuyệt thông.

2. Vạ tuyệt thông.

Vạ tuyệt thông (hay dứt phép thông công, rút phép thông công) là một hình phạt của Giáo hội Công giáo hoàn vũ dành cho những giáo sĩ và giáo dân phạm trọng tội và ngoan cố không chịu sửa đổi hay sám hối. Khi một người bị tuyên án vạ tuyệt thông thì về bản chất, người đó bị tách rời ra khỏi sự "hiệp thông" với những tín hữu khác trong Giáo hội, về hình thức là bị khai trừ khỏi tổ chức Giáo hội.

Theo Giáo luật có hai hình thức vạ tuyệt thông:

Vạ Tuyệt thông tiền kết và Vạ Tuyệt thông hậu kết.

1. Vạ tuyệt thông tiền kết: được ấn định cho một số tội. Ngay sau khi phạm, đương sự lập tức bị vạ (ipso facto), không cần Giáo hội phải ra công bố, nhưng nếu có công bố thì đó là một tội phạm công khai, để ngăn chặn những hệ luỵ xấu đi kèm. Theo Bộ Giáo luật hiện hành, hiện nay chỉ còn bảy loại vi phạm bị chế tài Vạ tiền kết. Các vạ đó là:

1. Người bỏ đạo, rối đạo hay ly khai khỏi Giáo hội, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết (đ.1364§1).

2. Ai ném bỏ Mình Máu Thánh Chúa, lấy hoặc giữ với mục đích phạm thánh, bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa thánh (đ. 1367).

3. Người nào hành hung Đức Giáo hoàng sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa thánh (đ.1370§1).

4. Người phá thai trực tiếp (đ.1398), hay người đồng lõa: như chỉ chỗ, giúp phương tiện và việc phá thai có kết quả (đ.1329§2), sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết.

Những tội mà một giáo sĩ có thể vi phạm:

5. Giải tội cho người đồng phạm chiếu theo điều 977, sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa thánh (đ.1378§1).

6. Cha giải tội nào vi phạm trực tiếp ấn bí tích, phải bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa thánh (đ.1388§1).

7. Giám mục nào không có ủy nhiệm thư Giáo hoàng mà phong chức Giám mục cho người khác, cũng như người nào được thụ phong do Giám mục ấy sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa thánh (đ.1382).

Trong bảy qui định vạ trên đây, có năm loại vạ tuyệt thông chỉ được giải do chính Tòa thánh (2, 3, 5, 6 và 7), còn hai loại vạ kia (1 và 4) có thể được giải do Giám mục giáo phận hay những linh mục được ủy thác.

2. Vạ tuyệt thông hậu kết: được ấn định cho một số tội sau khi vi phạm, đương sự chưa lập tức bị vạ. Đương sự chỉ bị vạ sau khi Giáo hội ra công bố hay phán quyết.

3. Quyền phạt và tha vạ tuyệt thông

1. Vạ tuyệt thông hậu kết chỉ ràng buộc phạm nhân sau khi vạ được tuyên án. Một Giám mục có thể ra vạ tuyệt thông hậu kết cho người ngoan cố không chịu sửa lỗi nặng đã được cảnh cáo. Nếu chịu hối lỗi thì Giám mục có thể tha vạ này.

2. Vạ tuyệt thông tiền kết nghĩa là đương nhiên bị vạ này khi phạm một trong những tội hay lỗi nghiêm trọng ghi trên đây, chỉ có Giáo hoàng hay những người được luật quy định mới giải vạ này.

Tuy nhiên, trong trường hợp nguy tử thì bất cứ linh mục nào cũng được phép tha mọi tội và giải vạ tuyệt thông tiền hay hậu kết.

Giáo luật nói rõ những hậu quả của vạ tuyệt thông như sau:

- Không được cử hành hay lãnh nhận mọi bí tích kể cả á bí tích của Giáo hội.

- Đối với giáo sĩ và tu sĩ: không được hành xử mọi chức vụ, tác vụ hay bất cứ nhiệm vụ nào cũng như bị cấm hưởng dùng các đặc ân đã được ban cấp trước đó.

Người mang vạ tuyệt thông là người tự tách mình ra khỏi mọi hiệp thông với Giáo hội. Cho nên, chính họ không được lãnh nhận hay cử hành mọi bí tích là nguồn cội của sự thông hiệp vào Nhiệm Thể Chúa Kitô trong yêu thương và hiệp nhất. Vì thế, họ tạm thời ở bên ngoài Giáo hội cho đến khi vạ được tha bởi người có thẩm quyền trong Giáo hội.

Hình phạt chỉ là biện pháp sau cùng, sau khi đã sửa sai trong tình huynh đệ, đã cảnh cáo.... nhưng vẫn không có kết quả nên phải áp dụng hình phạt. Khoản Giáo Luật 1341 cũng nói rằng: Đấng bản quyền Giáo phận là Đấng có thẩm quyền để áp dụng hình phạt nhằm: tái tạo công bình - hàn gắn hậu quả những tai hại và hoán cải phạm nhân.

Vạ tuyệt thông, dù là hình phạt nặng nhất của Giáo hội, nhưng không có nghĩa là lời kết án vĩnh viễn cho ai phải ra khỏi sự hiệp thông với cộng đồng Dân Chúa. Mà chỉ là hình phạt dược hình (phương thuốc chữa bệnh). Nghĩa là Giáo hội vẫn mở rộng cửa để đón nhận trở lại những ai phạm tội có thiện chí ăn năn, và xin được tha tội. Vì thế, theo Giáo hội hình phạt này chỉ tạm thời cho những người ngoan cố không chịu ăn năn, sửa lỗi.

(trích Nguyệt San Mục Vụ Giáo Phận Vĩnh Long tháng 6 năm 2014

 
HOC HOI DE SONG DAO # 149 = SONG NGHEO DE LAM CHUNG PDF Print E-mail

TẠI SAO PHẢI THỰC SỰ KHÓ NGHEO VÀ CÔNG BẰNG ĐỂ RAO GIẢNG CHÚA KITÔ CÁCH HỮU HIỆU ?
Đức Thánh Cha Phanxiô quả thực là người đã sống và rao giảng cách thuyết phục tinh thần khó nghèo của Phúc Âm nói chung và của Thánh Phanxicô khó khăn thành Assisi cách riêng.
Đây là môt gương sáng chói cho mọi người trong Giáo Hội noi theo để Giáo Hội của Chuá Kitô không chỉ rao giảng mà thực sự phải sống tinh thần khó nghèo của Chúa " Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà cho anh em trở nên giầu có." ( 2 Cor 8: 9) .
Nhưng nghèo khó ở đây không có nghĩa là phải đói rách, vô gia cư về mặt thể lý , mà cốt yếu là phải thực sự khinh chê của cải, tiền bạc và sa hoa vật chất cùng danh vọng phù phiếm ở đời này. Phải khinh chê để không chạy theo và làm nô lệ cho của cải , và tiền bạc , khiến sao nhãng việc trọng yếu hơn là rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô và sống điều mình rao giảng để trở nên nhân chứng đích thực cho Chúa và nhiên hậu thuyết phục được người khác tin và sống điều mình rao giảng cho họ.
Phải nói lại điều này một lần nữa, vì thực trạng sống của hàng giáo sĩ ở trong và ngoài nước quả có mâu thuẫn với tinh thần khó nghèo của Phúc Âm, của Chúa Kitô, Đấng thực sự khó nghèo đến nỗi " không có chỗ dựa đầu, trong khi chim trời có tổ và con chồn có hang." ( Mt 8: 20)
Ai dám nói là Chúa đã đóng kịch khó nghèo, hay dạy ta điều không thể thực hiện được ?
Nếu không, thì quả thật Chúa đã đích thực sống khó nghèo ngay từ khi sinh ra trong chuồng bò, lớn lên sống lang thang như người vô gia cư , và chết trần trụi trên thập giá để "hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20 : 28) được cứu độ để sống hạnh phúc, giầu sang phú quí với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Như vậy, rao giảng Chúa cho người khác thì không thể bỏ quyên nét đặc thù này trong đời sống của Chúa Kitô. Nghĩa là không phải chỉ nói suông, giảng mơ hồ về lý thuyết mà quan trọng là phải thực sự sống cái tinh thần khó nghèo của Chúa từ trong tâm hồn ra đến đời sống bên ngoài , thì lời giảng dạy của mình mới có sức thuyệt phục người nghe. Nói khác đi, là linh mục, nếu không sống tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô để ham mê tiền của, chỉ muốn đi đến các xứ giầu có để kiếm tiền, làm thân với người giầu để trục lợi cá nhân , chê lễ có bổng lễ ( mass stipend) thấp , hay không có bổng lễ , để chỉ nhận làm lễ có bổng lễ cao...thì làm sao nói được là sống "cái nghèo" của Chúa Kitô ? Và như thế, lời giảng dạy của mình về đức khó nghèo sẽ thuyết phục được ai nghe nữa ?
Liên quan đến việc này, phải nói thêm về thực trạng duy nhất chỉ có ở bên nhà.
Đó là các linh mục không được trả lương, khiến ít ai muốn đến phục vụ cho những xứ nghèo và ở xa xôi nơi miền quê. Ai cũng muốn đến những xứ giầu có ở thành thị để có được nhiều bổng lộc. Đây là một tệ trạng, bất công gây ra bởi giáo quyền từ bao đời nay đã không quan tâm giải quyết cách thỏa đáng vấn đề này để các linh mục được an tâm phục vụ , không bị chi phối với nhu cầu vật chất thiết thực như có của nuôi thân, có phương tiện chữa bệnh khi đau yếu, có chỗ an dưỡng khi về hưu.Câu ngạn ngữ " có thực mới vực được đạo" rất chính xác áp dụng vào trường hợp này .
Nếu cứ để tình trạng hiện này kéo dài, thì chinh giáo quyền đã và đang là nguyên nhân khiến cho một số linh mục phải bon chen tìm về những xứ giầu , chê xứ nghèo không có nguồn lợi vật chất. Đây là thực trạng phải nhìn nhận để giải quyết , chứ không phải là điều tưởng tượng nhằm phê phán.
Tại sao không thể làm được như các giáo hội Âu Mỹ là trả lương tối thiểu đồng đều cho các linh mục đi coi xứ hay làm việc trong giáo phận , còn tài sản của giáo xứ thì thuộc quyền quản trị của giáo xứ.? Nếu giáo xứ không đủ khả năng trả lương theo qui định của giáo quyền địa phương, thì địa phận liên hệ phải trả lương cho linh mục phục vụ ở các xứ nghèo, thiếu thốn kia.. Có làm được việc này, thì mới giải quyết được bất công trong việc bổ nhiệm linh mục đi phục vụ ở các xứ đạo trong toàn địa phận. Nói khác đi , nếu cứ duy trì tình trạng hiện nay, thì tệ trạng sẽ vẫn tiếp diễn là nếu giáo xứ giầu, thì cha xứ giầu, xứ nghèo thì cha xứ không có những phương tiện sống tối thiểu, khiến cứ phải chạy đi đó đâu để kiếm tiền, và sao lãng bổn phận thiêng liêng là rao giảng Tin Mừng và làm nhân chứng cho Chúa Kitô , " Đấng đến không phải để được người ta phục vu, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc cho muôn người." Mt 20: 28)
Phải chăng vì thế mà cho đến nay, vẫn còn nhiều linh muc và tu sĩ nam nữ thi nhau ra nước ngoài kiếm tiền cho những nhu cầu dường như bất tận ở bên nhà ?
Mặc dù ở Mỹ người ta đã cấm xin tiền từ lâu rồi , nhưng ở những nơi có đông người Công giáo Việt Nam như Houston , Dallas, New Orleans và California.. , mỗi Chúa Nhật, người ta vẫn thấy có các cha, các nữ tu đến gặp giáo dân ngoài cửa nhà thờ hay đi đến các tư gia để xin tiền !
Nhưng thử hỏi : tiền xin được đem về có ai biết được là bao nhiêu và dùng vào việc gì hay không ? Lại nữa, nếu người này đi và xin được nhiều tiền, thì sẽ lôi kéo người khác đi theo, và tình trạng này sẽ không bao giờ chấm dứt được chỉ vì hấp lực của đồng dollar, gây trở ngại lớn lao cho người tông đồ lớn nhỏ sống và thực thi tinh thần khó nghèo của Chúa Kitô. Đây là thực tế không thể chối cãi hay biện minh cách nào khác cho hợp lý được.
Chưa hết, còn tệ trạng này nữa : thông thường trong Giáo Hội, linh mục hay tu sĩ chỉ nên ghi nhớ kỷ niệm thụ phong hay khấn Dòng của mình được 25 năm ( ngân khánh) hay 50 năm ( Kim khánh) mà thôi. Chứ không bao giờ năm nào cũng kỷ niệm, hay cứ 10 năm, 15 năm, 35 năm, 40 năm lại mừng kỷ niệm để mời nhiều khách đến ăn ở nhà hàng hầu kiếm lợi cho mình và làm phiền cho nhiều người khác. Phải nói là làm phiền vì lâu lâu lại được mời đi dự kỷ niệm thụ phong, 25 năm 35 năm, 40 năm và sẽ 45 năm.. của ai không biết ngượng, khi cứ mời mãi mọi người quen biết đến dự kỷ niệm thụ phong của mình.Muốn mừng nhiều lần như vậy , thì sao không âm thầm mừng riêng trong gia đình mình thôi, mà lại phải ồn ào mời khách đến nhà hàng để họ phải mừng tiền cho mình làm giầu như vậy, thì làm sao sống được " cái nghèo" của Chúa Kitô ?
Dù sống ở Mỹ, Canada hay ÚC châu thì đời sống của giáo dân không phải ai ai cũng có dư tiền của để chi phí xã giao hay làm việc bác ái. Có nhiều gia đình đã than là mỗi tuần nhận được 3, 4 thiệp cưới nên không thể đi dự hết được. Dầu vậy vẫn phải gửi tiền mừng. Nếu mỗi tuần nhận được 2 thiệp cưới lại thêm thiệp mừng 35 năm , 40, 45 năm năm của linh mục nào nữa thì ngân sách gia đình có lợi tức thấp làm sao cung ứng cho đủ ??? mà nếu cứ phải đi mừng thì người ta có vui để làm việc này hay không ? Vậy, hãy đặt mình vào trường hợp đa số người có lợi tức thấp , hay những ông bà già sống bằng tiền già hay trợ cấp SSI thì mời họ đi dự tiệc của mình nhiều lần như vậy có phải là việc xã giao bác ái phải làm , hay chỉ là lợi dụng lòng tốt của người ta để kiếm lợi cho mình ???.
Thử hỏi với số khách mời trên dưới 1000 người và ăn ở nhà hàng sang trọng thì lợi tức thu về sẽ là bao nhiêu, và người tổ chức dùng số tiền khổng lồ này vào việc gì cho xứng đáng và phù hợp với tinh thần khó nghèo của Phúc Âm mà mình được mong đợi phải sống để làm gương và thuyết phục người khác tin điều mình rao giảng về đức khó nghèo cho họ.
Chúa nói " ai có tai nghe thì nghe." ( Mt 13: 43; Mc 7: 16; Lc 8: 8)
Chưa hết, ở bên Mỹ còn có tệ trạng này nữa , là các linh mục, ở một vài nơi có đông giáo dân VN, thường đua nhau đi "đồng tế" cuối tuần trong các lễ cưới, lễ tang để nhận phong bì của gia chủ.
Đi đồng tế vì thân quen với gia đình có đám cưới hay tang lễ thì không nói làm gì. Nhưng đi "đồng tế" chỉ vì được mời cho có đông linh mục để gia chủ được hãnh diện với công đoàn giáo xứ, thì đây là điều không nên làm. Không nên làm để tránh nhận phong bì của gia chủ , khiến cho mình khó sống tinh thần nghèo khó, vì linh mục ở Mỹ đều có lương của giáo xứ. Do đó, nếu mỗi cuối tuần kiếm thêm vài ba trăm nữa là điều không cần thiết cho nhu cầu của bản thân . Hơn nữa, còn làm cho các gia đình nghèo, không quen biết nhiều linh mục, buồn tủi vì lễ cưới hay lễ tang của gia đình họ không có nhiều cha đồng tế,
Liên quan đến việc này, tôi thấy cần phải nói lại một lần nữa là ơn Chúa ban xuống cho ai còn sống hay đã qua đời tuyệt đối không dính dáng gì đến việc có đông hay không có linh mục nào đồng tế.
Nếu sống mà không đi tìm Chúa, không yêu mến Chúa trên hết mọi sự, mà chỉ đi tìm những vui thú, lợi lãi tội lỗi ở đời này, thì khi chết dẫu có cả trăm linh mục , giám mục, hồng y dâng lễ và đồng tế thì cũng vô ích mà thôi.
Ngược lại, nếu đã thực tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người, thì khi chết, dẫu không có ai làm lễ an táng, hay không có linh mục nào đồng tế thì cũng không hề thiệt thòi gì về mặt thiêng liêng, vì đời sống của mình trên trần thế đã đủ để được Chúa đoái thương và ân thưởng phúc trường sinh. Đây là điều các linh mục phải dạy bảo cho giáo dân biết để không ai bị lừa dối chậy theo những vẻ hào nhoáng bề ngoài như đốt nhiều đèn nến trong nhà thờ , kéo chuông ầm ỹ và có nhiều linh mục đồng tế.
Chúa là tình thương và giầu lòng tha thứ. Tuy nhiên , con người cũng phải tỏ thiện chí muốn đáp lại tình thương của Chúa bằng quyết tâm từ bỏ ma quỉ và mọi quyến rũ của thế gian và ham muốn tội lỗi của xác thịt. Nếu cứ lấy cớ Chúa nhân từ để buông mình sống theo thế gian, gian tham lừa dối, thay chồng đổi vợ, - nhất là làm sự dữ vô cùng khốn nạn và ghê sợ là hiếp dâm con gái mới 4, 5 tuổi rồi bán chúng cho bọn buôn người vô nhân đạo; theo tin cho biết của một linh mục đang xả thân lo cho các trẻ em nạn nhân, thì Chúa không thể cứu những người đó được, dù họ có bỏ ra bao nhiêu tiền xin lễ, mời đông linh mục đồng tế khi chết thì cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.
Tóm lại, là người tín hữu Chúa Kitô sống trong thế giới tục hóa ngày nay, mọi người , từ hàng giáo phẩm , giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, đều được mong đợi sống nhân chứng cho Chúa về tinh thần khó nghèo, về đức công bằng, thực thi bác ái, giầu lòng nhân đạo và trong sạch để đẩy lui bóng đen của tội lỗi, của gian ác và sự dữ vô luân , vô đạo đang lộng hành ở khắp nơi trong và ngoài nước hiện nay.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 148 = GIAO HOANG TIEN KHOI PDF Print E-mail

Jun 27 at 4:39 PM

Giáo hoàng tiên khởi

Theo Tân ước và truyền thống Kitô giáo, Thánh Phêrô là một trong 12 Tông đồ của Chúa Giêsu và là vị lãnh đạo tiên khởi của Kitô giáo. Ngài "nổi bật" trong Phúc Âm và sách Công vụ, đồng thời được tôn kính là Thánh Giáo hoàng tiên khởi trong Giáo hội Công giáo, Giáo hội Đông phương, và Giáo hội Chính thống. Là con trai của ông Gioan (Ga 1:42) hoặc Giona, ngài người làng Bếtsaiđa, thuộc Galilê hoặc Gaulanitis. Em trai ông là Anrê cũng thuộc Nhóm Mười Hai.

Thánh Phêrô có công thành lập Giáo hội ở Antiôkia và cai quản Giáo đoàn này 7 năm. Đích thân hoặc qua thư từ, lời của ngài đã tới được Pontus, Galatia, Cappadocia, Tiểu Á và Bithynia, được người Do-thái và dân ngoại chấp nhận. Ngài tới Rôma vào năm thứ hai trong triều đại của Hoàng đế Claudius Germanicus, ngài đã lật đổ pháp sư Simon Magus.

Có hai thư được coi là của Thánh Phêrô. Phúc Âm theo Thánh Mác-cô đều cho thấy sự ảnh hưởng từ việc rao giảng của Thánh Phêrô. Vài sách khác mang tên ngài như Công vụ Thánh Phêrô, Phúc Âm theo Thánh Phêrô, Lời giảng của Thánh Phêrô, Khải huyền của Thánh Phêrô, và Phán quyết của Thánh Phêrô, nhưng tất cả các sách này không được Giáo hội Công giáo chấp nhận.

Chính ông Anrê, anh ông Simon Phêrô, là một trong hai người đã nghe ông Gioan nói và đi theo Đức Giêsu, rồi ông gặp em mình là ông Simon và nói: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia" (Ga 1:41). Sau đó ông dẫn em mình đến gặp Đức Giêsu. Đức Giêsu nhìn ông Simon và nói: "Anh là Simon, con ông Gioan, anh sẽ được gọi là Kêpha" (Ga 1:42). Kêpha nghĩa là Phêrô, tức là Đá tảng.

Khi Chúa Giêsu hỏi các môn đệ nhận biết Ngài là ai, Thánh Phêrô mạnh dạn tuyên xưng: "Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống" (Mt 16:16). Thật ngon lành! Và Chúa Giêsu khen ông và trao quyền: "Này anh Simon, con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" (Mt 16:17-19).

Thánh Phêrô là một trong ba nhân chứng trong cuộc biến hình của Chúa Giêsu. Thánh Phêrô như được xuất thần, khoái chí thưa ngay với Chúa Giêsu: "Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia" (Mt 17:4).

Thánh Phêrô còn được Chúa Giêsu cho "biểu diễn ngoạn mục" là bước đi trên mặt biển. Đêm hôm đó vào khoảng canh tư, Chúa Giêsu đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ. Thấy Ngài đi trên mặt biển, các ông hoảng hốt bảo nhau: "Ma đấy!", và sợ hãi la toáng lên. Thấy vậy, Đức Giêsu liền bảo: "Cứ yên tâm, chính Thầy đây, đừng sợ!". Ông Phêrô thấy Thầy đi trên nước ngon ơ, nhưng vẫn bán tín bán nghi: "Thưa Ngài, nếu quả là Ngài, thì xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến với Ngài" (Mt 14:28). Đức Giêsu bảo ông: "Cứ đến!". Ông Phêrô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước để đến với Đức Giêsu. Nhưng thấy gió thổi thì ông đâm sợ, chả biết thật hay đùa, ông càng nghi ngờ là ma chứ chắc gì là Thầy. Thấy mình cứ chìm dần, ông la hoảng: "Thưa Ngài, xin cứu con với!" (Mt 14:30). Đức Giêsu liền đưa tay nắm lấy ông và nói: "Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?" (Mt 14:31). Ông Phêrô một phen hú hồn hú vía!

Khi quân lính hùng hổ vào Vườn Ghếtsimani để tìm bắt Chúa Giêsu, Thánh Phêrô thấy "nóng gáy", sẵn thanh gươm trong tay, ngài liền vung lên chém đứt tai của Man-khô, một đầy tớ của vị Thượng tế (Ga 18:10). Thật can đảm khi dám hành động như vậy!

Thánh Phêrô từng tuyên bố chắc nịch như đinh đóng cột: "Dầu tất cả có vấp ngã đi nữa, thì con cũng nhất định là không" (Mt 14:29). Thậm chí ông còn quả quyết hơn: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy" (Mc 14:31). Thế nhưng sau đó không lâu, chỉ mấy đứa con gái là đầy tớ quèn bảo ông thuộc nhóm của Chúa Giêsu, ông liền giả nai, tỉnh bơ chối phăng 3 lần: "Tôi không biết" (Ga 18:17-27). Nói trước bước không qua. Tồi tệ thật, được báo trước mà vẫn không tránh khỏi!

Nhưng thông cảm mà! Lúc đó ai mà không hoảng sợ chứ? Cả trung đội lính lăm le gươm giáo, đằng đằng sát khí, mặt mày bặm trợn, thấy mà té đái chứ đâu giỡn chơi. Kẻ thì chạy mất dép, kẻ thì chối leo lẻo, kẻ thì bỏ của chạy lấy người. Trong số đó có một cậu thanh niên bị bọn lính túm được áo, cậu ta liền chơi liều luôn: "Anh liền trút tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng" (Mc 14:52). Mác-cô nhà ta chứ ai trồng khoai đất này!

Khi Sư Phụ Giêsu đi ngang qua, Giáo hoàng tiên khởi Phêrô thấy ánh mắt Thầy tha thiết và bí ẩn quá, nhưng đầy lòng thương xót, ánh mắt ấy xoáy vào tâm khảm ông, rồi tự thấy mình thật đáng trách, quá xấu hổ và sám hối nên ông đã chạy ra ngoài "khóc lóc thảm thiết" (Mt 26:75; Lc 22:62).

Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã cúi xuống rửa chân cho Thánh Phêrô trước. Ông không chịu, nhưng sau khi được Chúa Giêsu giải thích, ông hớn hở như trẻ được quà: "Vậy, thưa Thầy, xin cứ rửa, không những chân mà cả tay và đầu con nữa" (Ga 13:9). Nhưng Đức Giêsu bảo: "Ai đã tắm rồi, thì không cần phải rửa nữa; toàn thân người ấy đã sạch. Về phần anh em, anh em đã sạch, nhưng không phải tất cả đâu!" (Ga 13:10).

Khi Chúa Giêsu phục sinh, Thánh Phêrô là người đầu tiên bước vào mộ Chúa Giêsu, dù các phụ nữ và Tông đồ Gioan đã biết trước (Ga 20:1-9). Trong chương cuối của Phúc Âm theo Thánh Gioan, Thánh Phêrô "bị" Chúa Giêsu hỏi 3 lần: "Anh có yêu mến Thầy không" (Ga 21:15-17). Đó là để "bù đắp" vào 3 lần Thánh Phêrô đã chối Chúa và cũng là để xác định vị thế của vị Giáo hoàng tiên khởi.

Sách Công vụ, chương 12, cho biết Thánh Phêrô bị vua Hêrôđê bỏ tù, nhưng ngài được Thiên thần giải cứu. Tại Công đồng Giêrusalem (khoảng năm 50), Thánh Phaolô và các vị lãnh đạo Giáo hội Giêrusalem đã quyết định tiếp nhận dân ngoại trở lại. Sách Công vụ phác họa chân dung Thánh Phêrô là người thành công trong việc chấn chỉnh người Pharisêu khi họ cứ khăng khăng bám vào phép cắt bì.

Thánh Phêrô bị xử tử dưới triều Hoàng đế Nero Augustus Caesar vào khoảng năm 64-67. Truyền thống cho biết rằng Thánh Phêrô xin được đóng đinh ngược vì cảm thấy không xứng đóng đinh xuôi như Thầy Giêsu. Truyền thống cũng xác minh rằng nơi Thánh Phêrô bị đóng đinh được người ta xây dựng Nguyện đường Clementine. Một số xương và hài cốt của Thánh Phêrô còn được lưu giữ tại hầm Confessio trong Đền thờ Thánh Phêrô, nơi mà ĐGH Phaolô VI đã cho khai quật năm 1968, đó là hầm mộ đầu tiên của Rôma. Từ năm 1736, cứ đến ngày 29-6 thì tượng Thánh Phêrô tại Đền thờ Thánh Phêrô lại được "trang điểm" với dây giáo hoàng, nhẫn ngư phủ, và trang phục giáo hoàng, như một phần nghi thức trong ngày lễ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô.

Thánh Phêrô vốn là ngư dân, bản tính chất phác, chân thật, có sao nói vậy, thẳng thắn nên nóng tính, không nên không phải thì "phang" liền. Con người của thánh nhân cũng tội lỗi, ăn năn, và hoàn thiện, đồng thời hoàn thành trách nhiệm được trao. Đó là hành trình của phàm nhân, những con người luôn mỏng dòn và yếu đuối, nhưng luôn được Thiên Chúa hải hà thương xót, thứ tha và thánh hóa.

Thật vậy, là phàm nhân nên ai cũng lần mò về Nhà Cha trên con đường tội lỗi và thứ tha. Thánh nhân nào cũng có một quá khứ, và tội nhân nào cũng có một tương lai. Không ai lại không phạm tội, nhưng hơn nhau là đứng dậy và trở về để dìm mình trong Dòng Tình Thương Xót của Thiên Chúa.

Lạy Thánh Phêrô, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con, những tội nhân đang cố gắng hoàn thiện từng ngày trên đường lữ hành trần gian. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Kính chuyển:

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # # 147 =TU TE-NGON SU-VUONG DE PDF Print E-mail

CHỨC VỰ TƯ TẾ, VƯƠNG ĐẾ VÀ NGÔN SỨ CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN LÀ GÌ ?
Qua Phép rửa, người tín hữu giáo dân được tham dự vào địa vị vương đế, chức vụ tư tế và ngôn sứ của Chúa Kitô.
Đây là một đặc ân cao quý và cũng là trách nhiệm của những ai đã gia nhập Giáo Hội của Chúa Kitô qua Phép Rửa.Các giáo phụ ( Church Fathers) xa xưa đã dạy rằng người tín hữu giáo dân là Đức Kitô thứ hai ( Alter Christus) nhờ Phép rửa cho phép họ được tham dự vào các chức vụ kia của Chúa Kitô.
Danh xưng Đức Kitô thứ hai sau này cũng được dùng để chỉ các tư tế phẩm trật ( ordained Ministers) như linh mục và giám mục, là những người thực sự thay mặt và nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) khi cử hành các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải Xức dầu và Truyền Chức Thánh ( dành riêng cho giám mục) Các Bí tích Rửa tội và Hôn phối thì phó tế có thể làm , kể cả giáo dân trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử. Hai người phối ngẫu có thể kết hôn thành sự với sự chứng kiến của hai nhân chứng trong trường hợp nguy tử, không tìm được linh mục hay phó tế chứng hôn.( x giáo luật số, 1116 &1)
Danh từ giáo dân( lay persons) được dùng để chỉ những người không có chức thánh ( giáo sĩ =clerics) hoặc tu sĩ có lời khấn Dòng ( religious life). Họ chính là thành phần dân Chúa đông đảo nhất trong Giáo Hội và tham dự vào chức vụ Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế của Chúa Kitô theo cách thức riêng của họ.
Thánh Công Đồng Vaticanô II , trong Hiến Chế Tin Lý Lumen Gentium, đã phân biệt chức linh mục thông thường của giáo dân.( the common priesthood of the laity) khác với chức vụ linh mục biệt tác của hàng giáo sĩ thừa tác ( extraordinary ministerial Priesthood of the clerics) như sau:
Hàng giáo sĩ thừa tác thì hành chức năng tư tế khi cử hành các bí tích , cách riêng bí tích Thánh Thể và Hòa giải nhân danh Chúa Kitô ( Personna Christi). Nghĩa là chính Chúa Kitô cử hành các bí tích qua tay các thừa tác viên con người là Phó tế, linh mục và giám mục.Vì thế, bí tích luôn thành sự ( valid) khi thừa tác viên nhân danh Chúa và cử hành đúng nghi thức ( rites) mà Giáo hội đã qui định.
Thí dụ, rửa tội phải có nước và đọc công thức Chúa Ba Ngôi. Nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì bí tích không thành sự, dù cho thừa tác viên là linh mục hay giám mục.Cũng vậy, khi cử hành bí tích Thánh Thể trong khuôn khổ Thánh Lễ Tạ Ơn, nếu thừa tác viên không dùng đúng chất thể là bánh không men và rượu nho đúng theo qui đinh của Giáo Hội, hoặc không đọc đúng kinh Nguyện Tạ Ơn và lời truyền phép ( consecration) theo chữ đỏ ( rubric) thì bí tích sẽ không thành sự . Ngược lại, nếu không có chức linh mục hữu hiệu hay thành sự, thì cho dù có đọc và làm đúng theo lễ qui vẫn không có bí tích được , và người cử hành sẽ bị vạ tuyệt thông tiền kết , vì không có chức linh mục mà dám cử hành Thánh Lễ hay giải tội cho ai.( x giáo luật số 1378 triệt 1 và 2).
Tiếp đến, hàng giáo sĩ thừa tác thi hành chức năng ngôn sứ của Chúa Kitô qua việc rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và giáo lý của Giáo hội cho giáo dân ở khắp nơi để giúp họ biết sống đức tin ,đức cậy và đức mến cách đích thực để được cứu rỗi theo lòng mong muốn của Thiên Chúa, "Đấng cứu chuộc chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 :4)
Mặt khác, hàng giáo sĩ và tu sĩ cũng được mong đợi sống phù hợp với lời mình rao giảng và dạy dỗ để làm chứng cho Chúa Kitô, "Đấng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20 28)
Đây là sứ mệnh mở mang Vương Quôc của Chúa Kitô, Vương Quốc của yêu thương, tha thứ, công bình và thánh thiện trong lòng người ở khắp mọi nơi trên thế giới
Trên đây là cách thức hàng giáo sĩ tham dự vào chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của Chúa Kitô, với tư cách là tư tế thừa tác ( ministerial sacerdoce)
Người giáo dân, nhờ bí tích Rửa tội, cũng tham dự vào các chức năng trên nhưng theo cách thức riêng của họ như sau:
Liên quan đến chức năng ngôn sứ, người giáo dân không rao giảng lời Chúa trong nhà thờ, nhà nguyện như các linh mục, giám mục, mà rao giảng bằng chính đời sống của mình trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa để giúp họ nhân biết và tin yêu Chúa nhờ gương sống đức tin của mình.
Nghĩa là, trong khi những người không có niềm tin, hay có mà không dám sống niềm tin ấy, nên họ ăn gian nói dối, cờ bạc , gian dâm, thay vợ đổi chồng, buôn bán gian lận, thù ghét người khác, phá thai , ly dị... thì người có niềm tin Chúa phải sống ngược lại với cách sống của những người vô đạo hay chối đạo kia để " họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm , mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên Trời." ( Mt 5 :16), như Chúa Giê su đã dạy các môn đệ xưa.
Đây chính là trách nhiệm " phúc âm hóa môi trường sống" của người tin hữu giáo dân, góp phần hứu hiệu với hàng giáo phẩm và giáo sĩ trong sứ mệnh "phúc âm hóa thế giới" để mở mang Nước Chúa trên trần thế.Chính nhờ gương sống chứng nhân của mình mà người giáo dân sẽ thuyết phục được nhiều người khác nhận biết và tin yêu Chúa . Vì thề, Công Đồng Vaticanô II đã dạy rằng:
" ...Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động trong những nơi và hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian." ( LG, số 33)
Nói khác đi, khi sống giữa những người khác tin ngưỡng hay vô tín ngưỡng, người tín hữu công giáo làm chứng cho Chúa Kitô và rao giảng Tin Mừng của Chúa bằng chính đời sống công bình, bác ái,vị tha, trong sạch để đối nghịch với lối sống vô luân, gian tham, xảo trá, gian manh, vô nhân đạo của người đời. Nghĩa là. Khi không hùa theo cách sống của họ và có can đảm sống theo đường lối của Chúa từ trong gia đình ra đến ngoài cộng đồng xã hội để không thay chồng đổi vợ, không ly dị, phá thai, không thù oán ai, không buôn bán gian lận, không lui tới những nơi tội lỗi như sòng bài và nhà điếm, thì người giáo dân đã chu toàn chức vụ ngôn sứ của mình là rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô cách hùng hồn bằng chính đời sống của mình cho những người sống vô luân vô đạo ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay.
Và đây mới chính là cách thi hành chức vụ ngôn sứ của người giáo dân trong Giáo Hội để góp phần mở mang Nước Chúa bằng lời nói và việc làm của mình trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa.
Nói khác đi, nếu người tín hữu Chúa Kitô- giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân- mà cũng ham mê tiền của, chạy theo những lôi cuốn về danh lợi với người đời thì sẽ trở thành phản chứng ( anti-witness) thay vì là nhân chứng ( witness) cho Chúa Kitô
" Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được trở nên giầu có." ( 2 Cor 8: 9)
Mặt khác, khi người tín hữu Chúa Kitô - giáo sĩ ,tu sĩ và giáo dân- sống công bình bác ái, trong sạch và vị tha, yêu thương, tha thứ từ trong gia đình ra đến cộng đồng xã hội thì cũng mang Vương Quốc của Chúa là Vương Quốc yêu thương, công bình, an vui và thánh thiện đến với những ai đang sống trong hận thù, bất công, bóc lột người khác, vô luân vô đạo và dửng dưng trước sự nghèo đói của biết bao anh chị em đồng loại sống quanh mình.
Sau hết, người tín hữu giáo dân thi hành chức năng tư tế của mình bằng cách dâng đời sống cá nhân hay gia đình với mọi vui buồn , sướng, khổ, thành công hay thất bại để hiệp thông với sự đau khổ của Chúa Kitô một lần dâng lên Chúa Cha trên thập giá , để đền tội thay cho nhân loại, và còn tiếp tục dâng trên bàn thờ ở khắp nơi trong Giáo Hội ngày nay.
Tóm lại, người tín hữu giáo dân thi hành các chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của mình theo cách thức đã trình bày trên đây, để thông hiệp cùng với hàng giáo sĩ thừa tác tế lễ, rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô để mở mang Vương Quốc yêu thương, công bình và thánh thiện của Người đến với mọi tâm hồn con người ở khắp mọi nơi, để đánh tan bóng đen tội lỗi của văn hóa sự chết, của chủ nghĩa tục hóa ( vulgarism) tôn thờ tiền bạc và mọi thú vui vô luân vô đạo, đang ngày một bành trướng ở khắp nơi trên thế giới trống vắng niềm tin này.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
<< Start < Prev 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Next > End >>

Page 84 of 123