mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4746
mod_vvisit_counterHôm Qua6791
mod_vvisit_counterTuần Này22174
mod_vvisit_counterTuần Trước57178
mod_vvisit_counterTháng Này129609
mod_vvisit_counterTháng Trước157742
mod_vvisit_counterTất cả9187916

We have: 118 guests online
Your IP: 54.156.69.204
 , 
Today: Sep 20, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 32 = NAM DUC TIN 2 PDF Print E-mail

NĂM ĐỨC TIN :

CẦN THIẾT NGHE LỜI CHÚA VÀ LÃNH CÁC BÍ TÍCH

Năm Đức Tin sẽ chính thức mở ra trong toàn Giáo Hội từ ngày 11 tháng 10 năm 2012 đến ngày 24 tháng 11 năm 2013.

Trong Năm Đức Tin này, Đức Thánh Cha Bê-nê-đich-tô 16 đăc biệt nhấn mạnh đến việc tân phúc âm hóa để quảng bá đức tin Kitô-Giáo ( New Evangelization for the transmission of Christian Faith).

Tân Phúc Âm hóa có nghia là đọc lại lời Chúa cách thấu đáo hon để từ đó thêm biết sống niềm tin Kitô Giáo cách thiết thực và có sức thuyết phục nguời khác tin yêu Chúa để cùng huởng hạnh phúc Nuớc Trời nhu lòng Chúa mong muốn " cho mọi nguời đuợc cứu rỗi và nhận biết chân lý" ( 1 Tm 2 : 4)

Phúc Âm sự Sống ( Gospel Of Life) mà Chúa Kitô đã rao giảng trên 2000 năm truớc đây đang bị "văn hóa của sự chết" thách đố nặng nề, vì nó đang lôi cuốn đuợc nhiều nguời sống theo nó kể cả những nguời đa lãnh Phép rửa để đuợc tái sinh trong sự sống mới, nhung nay đang bị "văn hóa của sự chết" lôi kéo vào hố giệt vong vì thực chất vô luân vô đạo của trào luu tục hóa thế giới hiện nay.Hậu quả là có nhiều nguời Công giáo-cách riêng giới trẻ- đa không thực hành đức tin nhu tham dự Thánh lễ ngày Chúa nhật, xung tội, ruớc Mình Máu Chúa Kitô. Có nguời cò bỏ theo Tin Lành, Baptist, Methodist..

Do đó, cần thiết phải đuợc tái Phúc Âm hóa, nghia là đuợc nghe lại lời Chúa Kitô, vì chỉ có Nguời " mới có những lời đem lại sự sống đời đời" nhu Phêrô đa ttả lời Chúa một ngày kia sau khi nhiều môn đệ khác " đa rút lui, không còn đi với Nguời nữa." ( Ga : 6: 66, 68)

Họ rút lui vì cho là chuớng tai khi nghe Chúa nói Nguời là Bánh từ trời xuống cho những ai ăn thì sẽ đuợc sống đời đời.

Sự cần thiết phải nghe Lời Chúa:

Thiên Chúa đa nói với con nguời qua miệng các Ngôn sứ ( prophets) trong thời Cựu Uớc nhu ông Mô Sê đã nói với dân Do Thái xua nhu sau:

Đức Chúa phán với ông Mô-sê : Hãy ra lệnh cho con cái Israel và nói với chúng lời của Ta

: " Vào đúng thời đúng buổi, các nguoi sẽ chăm lo dâng lên Ta lễ vật , luong thực duới hình thức hỏa tế nghi ngút huong thom, làm thỏa lòng Ta."( Ds 28: 1-2)

Lại nữa, qua miệng ngôn sứ Ê-dê-kien ( Ezekiel) Thiên Chúa đã phán những lời cảnh cáo kẻ gian ác ở mọi thời đại và mọi noi trên mặt đất này nhu sau:

" phần nguoi, hởi con nguời. Ta đa đặt nguoi làm nguời canh gác cho nhà Israel

Nguoi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết. Nếu Ta phán

Với kẻ gian ác rằng : "hỡi tên gian ác chắc chắn nguoi phải chết" mà nguoi không chiu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đuờng xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó. Nhung Ta sẽ đoi nguoi đền nợ máu nó. Nguợc lại, nếu nguoi đã bảo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đuờng của nó mà trở lại, nhung nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn nguoi, nguoi sẽ cứu đuợc mạng sống mình." ( Ed 33: 7-9)

Thiên Chúa phán dạy dân Do Thái truớc tiên và cung nói cho mọi dân trên toàn thế giới biết Thánh Ý của Nguời để họ biết sống xứng đáng hầu đuợc cứu rỗi và vui huởng hạnh phúc Nuớc Trời. Hạnh phúc Nuớc Trời là đuợc chiêm nguỡng Thánh Nhan Chúa trên noi vinh hằng đô, sau khi mọi nguời phải trải qua cái chết trong thân sác vì hậu quả của tội lỗi.Những cái chết về thể lý không quan trọng bằng cái chết của linh hồn nếu trong cuộc sống trên trần thế này con nguời đa tự do chọn lựa con đuờng đua đến cái chết đáng sợ đó. Cứ nhìn vào thực trạng của con nguời sống hiện nay, ta có thể hình dung đuợc ai là nguời muốn sống hạnh phúc vinh cửu với Thiên Chúa trên Nuớc Trời và ai là những nguời đang tự ý khuớc từ hạnh phúc đó. Họ chính là những kẻ đang làm ngo hay từ chối lời mời gọi của Chúa vào dự Bàn Tiệc Nuớc Trời vì nhiều lý do riêng tu.Có những nguời đang mải mê tìm tiền bạc và mọi vui thú vô luân vô đạo để huởng thụ trong giây phút hiện tại mà không thắc mắc gì về số phận mai sau. Có những kẻ đang sống trong hận thù, ghen nghét, chia rẽ, chém. giết nguời khác về thể lý hay về tinh thần, dâm ô nhất là ấu dâm ( child prostitution), một tội ác rất nghê tởm và khốn nạn của con nguời thời nay.Đây là con đuờng đua đến sự chết đời đời nhung lại có nhiều nguời muốn đi và đang ung dung đi trên đó ở khắp mọi noi trên thế giới.

Truớc thực trạng đáng buồn này, là tín hữu Chúa Kitô, chúng ta phải sống đức tin có Chúa nhu thế nào để phân biệt chúng ta với những nguời không có niềm tin hay có mà đã đánh mất niềm tin ấy vì những cạm bẫy của văn hóa sự chết ?

Chúng ta có lắng nghe lời Thiên Chúa phán bảo qua các ngôn sứ thời Cựu Uớc và nhất là qua Chúa Giêsu vào thời sau hết hay không, vì Thiên Chúa đã " phán dạy chúng ta qua Thánh Tử.Thiên Chúa đã nhờ Nguời mà dựng nên vu trụ, và đã đặt Nguời làm Đấng thừa huởng muôn loài muôn vật." ( Dt 1 : 2)

Nghia là qua Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã mặc khải trọn vẹn Thánh Ý Nguời cho nhân loại,

Cho nên: " Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy

.......

Và lời anh em nghe đây

Không phải là của Thầy

Nhung là của Chúa Cha, Đấng đa sai Thầy." ( Ga 14 : 23, 24)

Chúa Giêsu đa chọn các Tông đồ và sai họ đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và chữa lành cho các bệnh nhân nhu ta đọc thấy trong Kinh Thánh Tân Uớc. Chúa đa trao cho các ông trọng trách thay mặt Chúa để đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ cho muôn dân để ai nghe các ngài thì cung nghe lời Chúa nhu Chúa đã quả quyết:

" Ai nghe anh em là nghe Thầy, và ai khuớc từ anh em là khuớc từ Thầy.

Mà ai khuớc từ Thầy là khuớc từ Đấng đa sai Thầy." ( Lc 10: 16)

Nhu thế, nghe lời dạy của các Tông Đồ xua và nghe Giáo Hội ngày nay là nguời kế vị các Tông Đồ dạy với Quyền Giáo Huấn ( Magisterium) là nghe chính Chúa Kitô. Mà nghe Chúa Kitô là nghe Chúa Cha, Đấng đa sai Chúa Kitô đến trần gian làm Con Nguời " để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn nguời." ( Mt 10: 45)

Do đó, đọc kỹ Kinh Thánh, chúng ta sẽ nghe lại Lời Chúa cách sâu sắc hon, để từ đó thêm xác tín vào Chúa Kitô, hiện thân của Chúa Cha khi Nguời đến trần gian đi rao giảng và dạy dỗ chân lý nhu Chúa đã trả lời Tổng Trấn Philatô xua nhu sau:

" Tôi đa sinh ra và đã đến thế gian vì điều này

Đó là để làm chứng cho sự thật

Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng Tôi.( Ga 18: 37

Sự thật mà Chúa Giêsu nói ở đây là sự thật có Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành muôn loài muôn vật hữu hình và vô hình- trong đó có con nguời đuợc Thiên Chúa yêu thuong đến nỗi đa trao nộp chính Con Một Nguời là Chúa Kitô để cho muôn nguời đuợc cứu độ nhờ máu Nguời đa đổ ra trên thập giá làm Hy Tế đền tội thay cho muôn dân. Đây là sự thật mà nguời tín hữu chúng ta phải tin và tuyên xung bằng hành động biết on thiết thực là yêu mến Chúa trên hết mọi sự và xa tránh mọi tội lỗi vì chỉ có tội mới cắt đứt tình thân giữa ta và Thiên Chúa. Và cung chỉ có tội mới đóng đanh Chúa Kitô một hay nhiều lần nữa trong tâm hồn chúng ta. Cho nên, sống cho sự thật này là sống đức tin có chiều sâu thực sự và có sức thuyết phục nguời khác.

Vì thế, để bồi duỡng cho đức tin ấy trong Năm Đức Tin này, mỗi nguời tín hữu chúng ta cần đọc lại và suy gẫm lời Chúa trong các Tin Mừng để biết Chúa yêu thuong chúng ta đến mức nào, để từ đó thêm quyết tâm sống đức tin, đức cậy và đức mến cách sống động hon nữa hầu chống lại những ảnh huởng tai hại của văn hóa sự chết đang lan tràn khắp noi và đầu độc biết bao nguời già trẻ, nam, nữ.

II-Sự cần thiết năng lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa Giải:

Ngoài việc chú tâm đọc lại lời Chúa để hiểu rõ hon thánh ý của Nguời cho mỗi nguời chúng ta, việc năng lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải cung quan trọng không kém trong Năm Đức Tin này.

Thật vậy, tình trạng sống Đạo của nhiểu nguời ở nhiều noi thật đáng buồn.Số nguời đi lễ ngày Chúa Nhật và xung tội chiều thứ bảy đa giảm sút đáng quan ngại. Rật nhiều nguời có du giờ đi du hí, nhẩy nhót, ăn uống vui choi thiếu lành mạnh cuối tuân, thâu đem, nhung lại không có giờ đi lễ, đi cầu nguyện ! Nhu thế làm sao chứng tỏ mình có đức tin giữa những nguời không tin ?

Ta không thể nói nhu một số nguời rằng đạo tại tâm, không cần thực hành bề ngoài.Lại nữa, có xung tội thì xung với Chúa chứ không cần qua linh mục.

Đây là những quan niệm rất sai lầm về việc sống Đạo của Nguời tín hữu Công giáo thời nay Chúa Kitô đa ban các Bí Tích cho chúng ta nhu phuong tiện cứu rỗi rất cần thiết , nên trong Năm Đức Tin này, cần phải đặc biệt nói đến hai Bi Tích quan trọng nhất là Thánh Thể và Hòa giải

Với Bí tích Thánh Thể, chúng ta truớc hết đuợc tham dự Hy tế của Chúa Kitô cử hành trên bàn thờ ngày nay cùng thể thức và mục đích của Hy Tế Chúa đa dâng lên Chúa Cha xua trên thập giá. Nên mỗi lần tham dự tích cực vào Thánh lễ, chúng ta cung hiệp dâng với Chúa Giêsu hiện diện bí tích noi thừa tác viên con nguời là Giám mục hay linh mục để dâng lại Hy Tế Nguời đa một lần dâng trên thập giá đễ xin on tha thứ và cứu chuộc cho toàn thể nhân loại.Cho nên tham dự Thánh Lễ cách tích cực là thể hiện đức tin cách sống động, vì không có việc đạo đức nào đẹp lòng Chúa hon là dâng và hiệp dâng Thánh Lễ Tạ On để cùng với Giáo Hội ca ngợi và cảm tạ Chúa Cha nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.

Khi tham dự Thánh lễ, ta đuợc nghe Lời Chúa và đuợc ăn Mình, uống Máu Chúa Kitô để đuợc sống đời đời nhu Chúa Giêsu đã hứa: " Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì đuợc sống muôn đời,, và Ta sẽ cho nguời ấy sống lại vào ngày sau hết." ( Ga 6: 54)

Liên quan đến việc chuẩn bị tâm hồn cho xứng đáng để ruớc Chúa vào lòng, Giáo Hội khuyên nhủ các tín hữu năng xung tội qua bí tích hòa giải để đuợc tha mọi tội năng và nhẹ đa mắc phạm vì yêu đuối con nguời.Nguời Công Giáo không thể nói nhu anh em Tin Lành là chỉ cần trực tiếp xung tội trực tiếp với Chúa, chứ không qua trung gian của ai. Nói thế là chối bỏ điều Chúa Giêsu đa nói rõ trong Phúc Âm Thánh Gioan nhu sau:

: anh em tha tội cho ai thì nguời ấy đuợc tha

Anh em cầm giữ ai thì nguời ấy bị cầm giữ." ( Ga 20: 22)

Truớc đó, Chúa cung đa trao cho Phêrô quyền tháo gỡ và cầm buộc ,tức là đuợc tha tội cho con nguời nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi):

" Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nuớc Trời : duới đất anh cầm buộc điều gì , trên trời cung sẽ cầm buộc nhu vậy; duới đất anh tháo gỡ điều gì ,trên trời cung sẽ tháo gỡ nhu vậy." ( Mt 16:19)

Nhu thế rõ ràng Chúa Kitô đa trao quyền tha tội cho các Tông Đồ truớc tiên và cho Giáo Hội ngày nay, cụ thể là cho các Giám mục và Linh mục đuợc quyền tha tội cho mọi hối nhân nhân danh Chúa.

Do đó, đi xung tội với một linh mục là nói lên niềm tin vào lời Chúa đa dạy trên đây.Cung cần nói thêm là linh mục, dù bất xứng ra sao truớc mặt nguời đời, nhung khi nhân danh Chúa Kitô để tha tội cho ai thì nguời ấy đuợc tha vì chính Chúa Kitô tha tội cho nguời ấy qua tay linh mục là thừa tác viên thay mặt Chúa. Cho nên, đừng ai nghi ngại việc này mà không năng đến với Chúa Kitô qua Bí tích hòa giải.Năng xung tội , năng ruớc Mình Thánh Chúa là phuong thế hữu hiệu nhất để trở nên giống Chúa và có hy vọng chắc chắn đuợc cứu rỗi để sống hạnh phúc vinh cửu trên Nuớc trời mai sau.

Tóm lại, Năm Đức Tin là thời co thuận tiện cho chúng ta tái xác định lòng tin vững vàng vào Chúa , lòng mến yêu Nguời thiết tha và hy vọng chắc chắn đuợc "thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đa thoát khỏi cảnh hu đốn do dục vọng gây ra trong trần gian này." ( 1 Pr 1: 4).

Chúng ta cùng cầu xin cho sự thành công của Năm Đức Tin để canh tân đời sống đức tin của toàn thể dân Chúa trong Giáo Hội.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 31= GIAO LY RUA TOI TRE EM PDF Print E-mail

 

                        BÍ TÍCH THÁNH TẨY

   Giáo Lý Rửa Tội Trẻ em/Enfant Baptism

          ( Sách Giáo lý Công Giáo từ số 1213 đến 1284)

   Mỗi Tín hữu cần có một cuốn Kinh Thánh Tân Ước để học hỏi  Lời Chúa, trước khi lãnh nhận phép Rửa tội, Thêm sức và Hôn phối.

                                         ------*****------

 

   I- Định nghĩa: Bí tích Thánh Tẩy là bước đầu tiên trong hành trình gia nhập Kitô giáo. Đời sống Kitô hữu chỉ thực sự bắt đầu với Bí tích Thánh Tẩy. Bởi vỉ Bí tích Thánh Tẩy là nền tảng toàn bộ Kitô giáo, là cửa dẫn vào đời sống thần linh và các Bí tích khác.

1- Lời Chúa dạy: Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, là, phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần . (x. Mt 28, 19-20).

Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh lại bởi ơn trên. (x. Ga 3, 3-8)

2- Nguồn gốc: Tên gọi “Thánh Tẩy” bắt nguồn từ nghi thức chính yếu như sau: người dự tòng được “dìm xuống nước”, ngụp lặn trong nước hay đổ nước lên đầu, nói lên ý nghĩa được mai táng với Đức Giêsu trong cái chết và được sống lại với Người. (x. 2 Cor 5, 17) . Đây cũng là “Phép Rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh và đổi mới” (x. Tt 3, 5), họ trở thành con cái ánh sáng (x. Tx 5, 4-5).

 

II- Bí tích Thánh Tẩy trong công cuộc cứu rỗi:


1- Đêm Vọng Phục Sinh: Trong đêm vọng Phục sinh, Hội Thánh nhắc lại những biến cố lớn trong lịch sử cứu độ báo trước Bí tích Thánh Tẩy. Ngay từ buổi đầu sáng thế, Thần Khí Chúa bay lượn trên nước, để ban cho nước có khả năng phát sinh sự sống (x. St 1, 1-2).

Nước đại hồng thủy vừa hủy diệt tội lỗi, vừa cứu thoát gia đình ông No-e báo trước ơn cứu độ, nhờ Bí tích Thánh Tẩy. Nước Biển đỏ đã giết chết dân tội lỗi, và giải thoát dân Thiên Chúa (x. Xh 14, 1-31).

Chúa đả giải thoát con cháu Abraham khỏi vòng nô lệ, mà dẫn qua biển đỏ ráo chân, để họ tượng trưng cho một dân tộc mới, là những người được Thánh tẩy sau này. (Vọng Phục Sinh, làm phép nước).

2- Ý nghĩa của nước: Nước tượng trưng cho sự sống, nhưng nước cũng tượng trưng cho sự chết. Bởi vậy, nước Thánh Tẩy có thể

tượng trưng cho Mầu Nhiệm Vượt Qua: được rửa tội là cùng chết với Đức Kitô và cùng sống lại với Người. (x. Rom 6, 3-11)

3- Đức Giêsu đã tự hạ mình: để cho ông Gioan làm phép rửa tại sông Gio-đan, hầu báo trước Bí tích Thánh Tẩy mà người sẽ thiết lập trong mầu nhiệm Phục sinh. Máu và nước từ cạnh sườn Chúa chịu đóng đinh trên thập giá ám chỉ Bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể. Và ngay từ giây phút ấy, chúng ta có thể sinh ra bởi nước và Thần Khí, để có thể được vào Nứớc Thiên Chúa. (x. Ga 3, 5)

4- Ngay từ ngày lễ Ngũ tuần: Hội Thánh đã cử hành Bí tích Thánh Tẩy. (x. Cv 2, 38). Sau đó các tông đồ và những cộng tác viên đã ban phép Thánh Tẩy cho tất cả những ai tin kính Đức Giêsu: người Do thái cũng như người ngoại giáo. (x. Cv 2, 41; 8, 12-13)

                                                                     

III- Sự cần thiết của Bí Tích Thánh Tẩy:

 

1- Để được cứu độ: Chính Đức Kitô đã khẳng định Bí tích Thánh Tẩy là cần thiề để được cứu độ. (x. Ga 3, 5) và Hội thánh cũng quả quyết theo Chúa mình. Vì Hội thánh không có phương thế nào khác ngoài Bí Tích Thánh Tẩy bảo đảm cho hạnh phúc đời đời.

2- Trách nhiệm cha mẹ: Cha mẹ Kitô giáo phải lo cho con cái sinh ra được rửa tội trong vòng một tháng. Thừa tác viên thông thường của Bí tích Thánh Tẩy là Giám mục, Linh mục và Phó tế. Trong trường hợp khẩn thiết thì bất cứ ai (kể cả người ngoại) cũng có thể rửa tội, miễn là có ý muốn làm điều Hội thánh làm khi rửa tội và xử dụng công thức rửa tội nhân danh Chúa Ba Ngôi: Người rửa tội nói:

____ RỬA CON: NHÂN DANH CHA (đổ nước trên trán lần thứ nhất) VÀ CON (lần thứ hai) VÀ THÁNH THẦN (lần thứ ba).

3- Chúa không bị Bí tích ràng buộc: Không chỉ có Thánh Tẩy bằng nước mới đứa đến ơn cứu độ: đây chỉ là đường lối thông thường. “Thiên Chúa đã liên kết ơn cừu độ với Bí tích Thánh Tẩy, nhưng chính Người không bị các Bí tích ràng buộc”. Thiên Chúa muốn cứu độ mọi người (x. 1Tm 2, 4), nên ai sống theo lương tâm và thi hành ý muốn của Thiên Chúa, cũng có thể được cứu độ (x. GH #16). Vì Chúa Kitô đã chết cho tất cả, vì mọi người chỉ có một ơn gọi cuối cùng là kết hợp với Thiên Chúa, nên ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Phục Sinh cách nào đó, chỉ có Chúa biết thôi”. (MV# 22)

4- Vì Đức tin, vì Ước muốn: Những người chịu chết vì đức tin mà chưa được rửa tội, thì được coi như Thánh Tẩy bằng máu. (các thánh Anh Hài). Những người ước muốn được Thanh Tẩy, dù chưa theo đạo hay đang kỳ dự tòng, mà chết trước khi được toại nguyện, được kể vào trường hợp Thanh tẩy bằng ước muốn. Riêng các trẻ em chết mà chưa kịp rửa tội, Hội Thánh tin tưởng phó thác các em cho lòng thương xót của Thiên Chúa. (x. Nghi thức an táng trẻ em)

 

IV- Ân sủng của Bí Tích Thánh Tẩy:


Khi chịu phép Thánh Tẩy, người Kitô hữu đã chết đi cho tội lỗi để sống cho Thiên Chúa là sinh lại trong Chúa Thánh Thần. (Ga 3, 5)

1- Được tha thứ tội lổi: Mọi tội lỗi đều đươc tha: tội nguyên tổ, mọi tội riêng cũng như mọi hình phạt do tội. Tuy nhiên vẫn còn đau khổ, bênh tật yếu và sự hướng chiều về tội lỗi. Vì thế, cuộc sống Kitô hữu là cuộc chiến đấu cam go và liên tục, chống lại tội lỗi và các khuynh hướng xấu.

2- Trở nên thụ tạo mới: Làm cho người rửa tội thành một con người mới (x. 2Cor 5, 17), thành nghiã tử của Chúa Cha (x. Galat 4, 5-7), được thông phần vào bản tính Thiên Chúa (x. 2Pr 1, 4) thành chi thể của Chúa Kitô (x. 1Cor 12, 4-11, thành Đền Thờ của Chúa Thánh Thần (x. 1Cor 6, 19). Thiên Chúa ban cho họ được ơn thánh hoá và ơn công chính hóa, cùng với ba nhân đức Tin, Cậy, Mến, các ân huệ Chúa Thánh Linh và các nhân đức khác.                             3- Tiếp nhận vào Hội Thánh: Là thân thể Chúa Kitô, là Hội Thánh, là những viên đá sống động…để xây nên Đền Thờ của Chúa Thánh Thần, xây dựng hàng tư tế Thánh (x. 1Pr 2, 5). Họ được tham dự vào ba chức Tư tế, Ngôn sứ và Vương đế của Chúa Kitô. Trở thành phần tử của Hội Thánh và liên kết với anh em. Họ được quyền lãnh nhận các các Bí tích sự sống khác, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa. Họ có bổn phận xây dựng bằng tình hiệp thông và phục vụ nhau trong Hội Thánh. (x. GH # 17)

                                                         

4- Hiệp nhất giữa các Kitô hữu: Cũng phải nói thêm là: Bí tích Thánh Tẩy không chỉ là mối giây hiệp nhất giữa những Tín hữu Công giáo, mà còn liên kết giữa các Kitô hữu khác như những anh em Tin lành, Chính Thống giáo và Anh giáo đã được rửa tội đúng phép; nhưng chưa hoàn tòan hiệp thông với Hội Thánh Công giáo.

5- Dấu ấn thiêng liêng : Nhờ phép Rửa, người Tín hữu được trở nên “đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô” (x. Rom 8, 29). Họ được ghi một dấu ấn thiêng liêng không thể tẩy xóa. Vì thế, mỗi người chỉ nhận Bí Tích Thánh Tẩy một lần. Dấu ấn này xác nhận họ thuộc về Chúa Kitô, hiến thánh họ để thi hành chức Tư tế Cộng đồng bằng việc tham gia vào việc phụng vụ của Hội thánh như học hỏi lắng nghe và thực hành Lời Chúa, là chứng nhân cho Tin Mừng.

 

V- Diễn tiến Cử hành Bí Tích Thánh Tẩy: (Rửa tội)

1- Nghi thức đón tiếp: LM, Ptế chào cha mẹ, người đỡ đầu, hỏi tên thánh em nhỏ, xin điều gì. Làm dấu thánh giá trên trán em nhỏ nói lên em thuộc về Chúa Kitô cứu chuộc nhân loại nhờ Thánh giá.

2- Chia sẻ Lời Chúa: LM, Ptế đọc một trong các đọan Phúc âm sau đây và chia sẻ ngắn gọn: - Mt 28, 18-20= Hãy ra đi… làm phép rửa cho họ; - Mc 1, 9-11= Chúa chịu phép Rửa; - Mc 10, 13-16= Trở nên trẻ nhỏ; - Ga 3,1-6= Sinh lại /Tái sinh để vào Nước Trời.

3- Lời nguyện giáo dân: LM, Ptế đọc Lời nguyện giáo dân.

4- Đọc Kinh cầu các thánh: Tất cả cùng thưa : Cầu cho chúng con.

5- Lời nguyện trừ tà và xức dầu dự tòng trên ngực em nhỏ: Nói lên em được giải thoát khỏi tội lỗi vào nơi ánh sáng của Nước Chúa.

Cử hành Nghi thức Rửa tội: (Thánh Tẩy)

6- Làm phép nước: Có những lời nguyện khác nhau: A/ Ngoài Mùa Phục sinh; B/ Trong Mùa Phục sinh.

7- Từ bỏ tà thần và tuyên xưng đức tin: LM hay Phó tế đọc lời kêu gọi. Mọi người thưa “Thưa con từ bỏ, - Thưa con tin”.

8- Nghi lễ Rửa Tội: Cha mẹ và người đỡ đầu tiến đến giếng rửa tội. LM hay Phó tế rửa tội cho em nhỏ: Đổ nước ba lần trên đầu em nhỏ nói lên việc chết đi cho tội lỗi, và bước vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi.

9- Xức Dầu Thánh trên đỉnh đầu em nhỏ: Sanctum Chrisma: là người “được xức dầu” bằng Chúa Thánh Thần, để tham dự vào chức Tư tế, ngôn sứ và Vương đế của Chúa Kitô.

10- Trao áo trắng: cho em nhỏ, tượng trưng “mặc lấy Chúa Kitô”, nghiã là: nói năng, phản ứng, hành động sẽ giống như Chúa.

11- Trao nến sáng: Được thắp từ cây nến Phục Sinh, biểu thị em bé, cha mẹ và người đở đầu hãy là ánh sáng của Chúa Kitô bằng đời sống gương mẫu qua lời nói và việc làm, là chứng nhân cho Chúa.

12- Kết thúc nghi lễ Rửa tội : Mọi người cùng hợp ý đọc Kinh Lạy Cha.

13-Lời nguyện, Phép lành: LM hay Pho tế đọc lời nguyện xin Chúa chúc lành cho người mẹ, cho người cha và mọi người đang hiện diện, rồi ban phép lành + nhân danh Chúa Ba Ngôi.

 

* Dâng em nhỏ cho Đức Me: LM hay Ptế nói vắn tắt về sự cần thiết dâng con cho Đức Mẹ bằng những kinh hay bài hát quen biết.

*   LM, Phó tế trao chứng chỉ Rửa tội cho cha mẹ.

                                  ***********

 

 
HOC HOI DE SONG DAO # 30 = CAN NUOI DUONG NAM DUC TIN PDF Print E-mail

NHÂN NĂM ĐỨC TIN, CẦN NUÔI DƯỠNG VÀ SỐNG ĐỨC TIN THẾ NÀO ?

Như Đức Thánh Cha Bê-nê-đichtô 16 đã quyết định và loan báo, ngày 11 tháng 10 tới đây, Lễ khai mạc Năm Thánh sẽ được Đức Thánh Cha long trọng cử hành tại Công Trường Thánh Phêrô, Rôma. Năm Thánh sẽ chắm dứt ngày 24 tháng 11 năm 2013.

Nhân dịp này, Đại Hội Đồng Giám Mục Thế giới ( Assembly of the Synod of Bishops) sẽ họp phiên thứ 13 thường lệ với chủ đề" Tân Phúc Âm hóa để loan truyền Đức tin Kitô-Giáo".( New Evangelization for the Transmission of the Christian Faith).

Là người tín hữu Chúa Kitô sồng trong thế kỷ 21 này, chúng ta phải canh tân và sống đức tin cách nào để không những mưu ích cho chính mình mà còn mời gọi thêm những người khác chưa biết và tin Chúa Kitô được nhận biết Chúa để cùng hưởng Ơn cứu Chuộc đã mua bằng giá máu Chúa đổ ra trên thập giá năm xưa.

Thật vậy, Đức tin là một quà tặng nhưng không và vô giá ( gratuitous and invaluable) mà Thiên Chúa đã ban để giúp ta nhận biết Người là Cha Toàn năng, Đấng tạo dựng muôn loài muôn vật hữu hình và vô hình. Đặc biệt, Thiên Chúa tạo dựng con người " giống hình ảnh của mình" ( St 1 : 27) và muốn cho " mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1Tm 2 : 8) .

Thiên Chúa tạo dựng và mong muốn cho con người được hạnh phúc chỉ vì tình thương vô vị lợi của Người dành cho tất cả chúng ta, những con người được sinh ra trên trần thế này và có diễm phúc được biết Chúa qua ơn mặc khải mà Chúa Kitô đã cảm tạ Thiên Chúa Cha thay cho chúng ta về quà tặng đức tin quí giá này:

" Lậy Cha là Chúa Tể trời đất , Con xin ngợi khen Cha vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này,nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng lậy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha." ( Lc 10: 21 )

Như thế có nghĩa là nếu Thiên Chúa không tự mặc khải Người ( revealed Himself) cho ai thì không ai có thể tự mình nhận biết có Thiên Chúa và tin yêu Người.

Tại sao những bậc thông thái, khoa học gia biết cắt nghĩa sự hình thành của vũ trụ và mọi qui luật chi phối đời sống của con người và mọi loài động vật , thực vật, và thảo mộc, nhưng lại không khám phá ra được Thiên Chúa là chính Đấng dựng nên mọi loài mọi vật đó ?

Lý do duy nhất để trả lời câu hỏi này là vì họ không được Thiên Chúa mặc khải hay ban quà tặng đức tin vô giá nên họ không thể biết gì về Thiên Chúa với kiến thức tuy rộng lớn đối với con người nhưng lại quá hạn hẹp đối với Thiên Chúa là Đấng thượng trí vô song.

Vậy đối với những ai đã được điễm phúc biết Chúa nhờ đức tin thì phải bồi dưỡng và sống đức tin ấy ra sao đặc biệt trong Năm Đức Tin này ?

1- Trước hết, phải làm gì để bồi dưỡng đức tin cho lớn mạnh thêm nữa ?

Kinh nghiệm đơn sơ của bất cứ người làm vườn (gardener) nào đều cho biết là khi trồng một loại cây trái mới nào, người ta phải lựa giống tốt của cây đó. Nếu là hạt thì phải đặt vào nơi đất đã bón phân sẵn và chờ cho hạt đó nẩy mầm rồi tiếp tục nuôi dưỡng với nước và phân bón thích hợp.Nếu không chăm lo vun tưới đều đặn thì hạt sẽ chết khô trong lòng đất, dù là hạt của giống cây tốt.Nhưng từ lúc hạt nẩy mầm cho đến khi mọc thành cây và sinh hoa trái thì người làm vườn phải tốn nhiều thì giờ và công sức chăm bón mới có kết quả tốt để hưởng dùng.

Cũng tương tự như vậy, đức tin được gieo vào tâm hồn con người như hạt giống được gieo xuống đất.Một em bé , sau khi sinh một hai tháng, được rửa tội để được tái sinh trong sự sống mới.. Nhưng sau khi rửa tội, nếu cha mẹ và thân nhân sống gần em mà không giúp nuôi dưỡng đức tin đó cho em thì chắc chắn khi lớn lên em bé sẽ không thể tự biết gì về Chúa và tin yêu mến Ngài. Do đó, cha mẹ em phải là người trước hết trực tiếp nuôi dưỡng con mình không những về thể lý cho con lớn lên mạnh khỏe mà đặc biệt còn về mặt thiêng liêng để giúp con cái lớn lên trong đức tin đã lãnh nhận khi được rửa tội.Nghĩa là, trong gia đình cha mẹ phải là thầy dạy đức tin cho con mình bằng cách dạy cho con cái biết có Thiên Chúa là Cha nhân lành, yêu thương hết mọi người.Sau nữa, bằng gương sáng trong gia đình, cha mẹ dạy con cái biết đọc kinh, cầu nguyện và đem chúng đi dự lễ chung với mình các ngày Chúa Nhật để được nghe giảng về Chúa.Tiếp theo là cho con cái đi học các lớp giáo lý để lãnh các bí tích Thánh Thể, Hòa Giải và Thêm sức, giúp cho con cái lớn lên trong niềm tin có Chúa.

Khi trẻ đã lớn đủ và những người đã trưởng thành ý thức được mình có đức tin, tin có Thiên Chúa , có sự sống đời đời thì đó là lúc họ cần phải chứng tỏ ý muốn sống đức tin ấy bằng hành động cụ thể. Kinh nghiệm thực tế khác cũng cho biết là khi người ta đã có một kỹ năng( skill) nào như biết bơi, biết lái xe, hay biết chơi một loại nhạc cụ nào như đàn guitar hay piano thì muốn phát triển kỹ năng đó, người ta phải năng luyện tập để đạt mức hoàn hảo chuyên nghiệp.Nếu không thì kỹ năng đó sẽ mai một theo thời gian.Thí dụ, người biết bơi mà không tập luyện mỗi ngày hay mỗi tuần thì không những sẽ không bao giờ bơi giỏi được mà còn mất dần kỹ năng này theo thời gian nữa..

Cũng tương tự như vậy, tin có Chúa vì sinh ra trong một gia đình có Đạo, hay có cảm nghiêm riêng về Thiên Chúa, thì phải tiếp tục bồi dưỡng cho ánh sáng đức tin ban đầu đó được cháy sáng lên trong tâm hồn đến mức đủ soi sáng cho mình bước đi trên con đường dẫn đến sự sống đời đời. Nghĩa là phải bồi dưỡng đức tin ban đầu với cố gắng học hỏi thêm về giáo lý của Giáo Hội, đọc Kinh Thánh để hiểu và sống Lời Chúa và nhất là năng lãnh nhận các bí tích quan trọng như Thánh Thể và Hòa giải để được luôn sống trong tình thân với Chúa. Thêm vào đó, phải siêng năng cầu nguyện luôn, vì " Không có Thầy anh em sẽ chẳng làm gì được." ( Ga 15:5 ).

Không có Thầy nghĩa là không có ơn Chúa phù giúp nâng đỡ thì không ai có thể tự mình lớn lên trong đức tin và có đủ sức để chống lại những yếu đuối của bản năng, nhưng dịp tội đầy rẫy trong môi trường sống và nhất là những cám dỗ của ma quỷ , thù địch của chúng ta luôn ngày đêm rình rập như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." ( 1 Pr 5 : 8)

Vì thế, cẩn thiết phải bồi dưỡng đức tin bằng nỗ lực cá nhân như siêng năng cầu nguyện, đọc Kinh Thánh , giáo lý của Giáo Hội và năng lãnh nhận hai bí tích rất quan trọng là Thánh Thể và Hòa giải để được thánh hóa và lớn lên trong đức tin.

Nhưng cho được sống đức tin cách vững chắc và cụ thể, ta phải ý thức đầy đủ về nội dung và đòi hỏi của niềm tin là phải yêu mến Chúa trên hết mọi sự thể hiện qua quyết tâm xa tránh những gì mâu thuẩn hay đị ngược lại với đức tin có Chúa là cội nguồn của mọi sự tốt lành, thánh thiện, công bình, bác ái, nhân đạo, vị tha. Nghĩa là người có niềm tin nơi Chúa thì không thể cho phép mình làm những sự xấu, sự độc ác như giận ghét, căm thù ai, nói xẩu , vu cáo ai những điều vô bằng cớ, trộm cắp, gian tham, lừa đảo, thay vợ đỗi chồng, cờ bạc, dâm đãng nhất là thâm độc giết hại người khác về thể lý hay tinh thần... Đây là bộ mặt của sự trống vắng niềm tin, khinh chê mọi giá trị tinh thần, luân lý ,đạo đức. Đây là thực chất của xã hội vô luân, vô đạo, của "văn hóa sự chết"( culture of death) đang bành trướng ở khắp nơi trên thế giới ngày nay, đặc biệt là ở những quốc gia tự do quá trớn, tôn thờ chủ nghĩa khoái lạc ( hedonism) tôn thờ phái tính ( sex worship) tôn thờ vật chất, tiền bạc, và mọi vui thú phi luân, vô đạo như thực trạng ở các nước Âu Mỹ hiện nay.

Ở bên kia thái cực, là bộ mặt của xã hội vô thần, vô tôn giáo, hay nói rõ hơn là thù địch của những ai có niềm tin vào Đấng toàn năng làm chủ vũ trụ và sự sống của con người và của mọi loài động vật, thưc vật và thảo mộc.Thực trạng ở đây còn đáng sợ hơn nữa vì người ta không tin có một Quyền lực thiêng liêng nào thưởng phạt , nên họ mặc sức làm những sự dữ như hà hiếp bóc lột , giết hại những ai chống đối, vơ vết tài sản công để làm giầu cho cá nhân và tập thể cai trị, trong khi quay lưng lại hay dửng dưng trước sự nghèo đói của người dân và suy thoái đạo đức nặng nề của xã hội.

Thêm vào đó, chế độ còn dung dưỡng cho các băng đảng của xã hội đen lộng hành để cướp bóc ,hãm hại người dân lành, cô thân, cô thế.Đây là tội ác mà xã hội dung dưỡng để chất thêm thống khổ lên đầu lên cổ người dân đã phải chịu nhiều tai ương khác của xã hội vô luân, phi nhân, vô đạo.

2- Phải sống đức tin cách nào đặc biệt trong Năm Đức Tin này ?

Sống trong xã hội với các thực trạng trên đây, người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo hơn bao giờ hết phải có can đảm tuyên xưng đức tin của mình bằng đời sống thực sự công bình, bác ái, thánh thiện, xa tránh mọi quyến rũ của xã hội vô luân vô đạo đang lôi kéo con người vào hố diệt vong vì đam mê của cải và mọi vui thú phi luân, nhắm mắt bịt tai trước sự đau khổ, nghèo đói của người khác.Trước thực trạng này, người có đức tin –và đặc biết sống đức tin ấy trong Năm Đức Tin này- cần nêu cao những giá trị của niềm tin vào Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian để vạch rõ con đường dẫn đến sự sống và con đường đưa đến hư mất đời đời , như Chúa đã dạy sau đây:

"Hãy qua cửa hẹp mà vào vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong mà nhiều người lại đi qua đó.Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy." ( Mt 7: 13-14)

Con đường rộng rãi thênh thang mà nhiều người muốn đi và đang đi là con đường của văn hóa sự chết, con đường đưa đến các sòng bạc, nhà điếm, nơi giải trí với mọi thú vui vô luân vô đạo, con đường tham nhũng , ăn cắp của công , bóc lột và bách hai người dân lành vô tội để làm giầu cho cá nhân và tập đoàn thống trị gian ác, đang vơ vét tiền của để gửi ra nước ngoài phòng thân. Đó cũng là con đường của bọn tài phiệt tư bản chuyên thao túng thị trường chứng khoán để vơ vét tài sản của bao người đầu tư và thua lỗ vì những kỹ thuật tinh vi của bọn cầm đầu kỹ nghệ xảo quyệt này.

Vì thế, đứng trước một thế giới gian tà từ Đông sang Tây hiện nay, người tín hữu Chúa Kitoo,-cách riêng người có sứ mạng rao giảng chân lý đức tin và tin Mừng Cứu Độ-hơn lúc nào hết phải có can đảm mạnh mẽ bênh vực cho sự thật, cho công bình xã hội và lành mạnh hóa con người để chống lại những suy thoái, tụt hậu của xã hội về mặt luân lý ,đạo đức.Nếu làm ngơ, - hay tệ hại hại hơn nữa- thỏa hiệp với kẻ cầm quyền để mưu cầu tư lợi cho mình và bịt tai nhắm mắt trước mọi bất công, sự dữ, thì đã tự đánh mất niềm tin và chức năng thiêng liêng của người ngôn sứ trong hoàn cảnh cụ thể của xã hội đương thời. Mặt khác, sống đức tin cách hữu hiệu và có sức thuyết phục người khác thì cũng không cần thiết phải xây thêm hay sửa sang nhà thờ, nhà xứ cho khang trang lộng lẫy khiến phải lặn lội đi xa một năm mấy lần để kiếm tiền. Điều tối cần và quan trọng là phải có và sống tinh thần nghèo khó của Phúc Âm để noi gương Chúa Kitô, "Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." ( 2 Cor 8: 9)

Người phục vụ cho Tin Mừng mà không noi gương Chúa Kitô trong cuộc sống thì không thể làm gương đức tin cho ai và thuyết phục được ai tin và thực hành những điều mình giảng dạy cho người khác nhân danh Chúa Kitô.

Về phần người tín hữu Chúa Kitô, người Công giáo chân chính cũng phải làm gì cụ thể để phân biệt mình với những kẻ không có niềm tin, chỉ biết sống với vui thú hiện tại và không thắc mắc gì về một tương lai mai hậu, khi mà mọi sự ở đời này sẽ mau chóng trôi qua kể cả sự sống của con người có hay không có niềm tin nào.

Nếu người có đức tin dám can đảm sống đức tin của mình cách dũng cảm là xa lánh mọi thói hư tật xấu của xã hội như cờ bạc, lường đảo, dâm ô và vui chơi sa đọa , nhẩy nhót, hút xách,.. thì đã nêu cao giá trị của niêm tin trước mặt người đời. Ngược lại, nếu người có đức tin mà cũng a dua với kẻ không có niềm tin để cùng nhau làm những việc vô luân ,vô đạo, như gian tham ,trộm cắp, lương gạt, bất công và bóc lột người khác, vô liêm sỉ , vô lương tâm bỏ vợ già để cưới vợ trẻ, "bồ nhí", thì chắc chắn họ đã chối bỏ đức tin của mình bằng chính đời sống cụ thể trước mặt người khác. Và như thế thì dù họ có kêu cầu ngoài môi miệng " Lậy Chúa, lậy Chúa! cả trăm ngàn lần thì cũng vô ích mà thôi ! đúng như lời Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa như sau:

" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : lậy Chúa !, Lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)

Trong mấy ngày qua, theo dõi tình hình thế giới, chúng ta thấy những người Hồi Giáo đã rầm rộ biểu tình chông Mỹ ở các quốc gia Hồi Giáo chỉ vì một cuốn phim chế riễu Mohammad được sản suất ở Mỹ và trình chiếu trên trang mạng Facebook, Youtube.Có thể chúng ta không đồng ý về cách thức phản kháng của anh em Hồi Giáo, nhưng chúng ta phải khen họ về thái độ hăng say bênh vực cho tôn giáo của họ , tuy đó là hình thức khá khích và bạo động không nên làm.

Anh em Hồi Giáo hăng say bảo vệ tôn giáo của họ như vậy, còn chúng ta thì sao ? Chắc chắn chúng ta không được mong đợi phải xuống đường để đánh phá những ai nhạo bang Thiên Chúa của chúng ta, nhưng chúng ta được mong phải đợi sống đức tin cách cụ thể bằng tư tưởng và hành động, bằng việc bác ái vị tha, và nhậy cảm (sensitive) trước sự đau khổ, nghèo đói của người khác. Đồng thời, phải xa tránh mọi điều gian ác, tội lỗi, xấu sa của những kẻ không có niềm tin hay có mà không dám sống niềm tin ấy trước mặt người đời.

Ai không có can đảm sống niềm tin của mình trước mặt người khác, thì hãy nghe lại Lời Chúa Giêsu đã nói với đám đông xưa như sau:

" Giữa thế hệ ngoại tình và tội lỗi này, ai hổ thẹn vì Ta và những lời Ta dạy, thì Con Người ( tức Chúa Giêsu) cũng sẽ hổ thẹn vì kẻ ấy, khi Người ngự đến cùng với các thánh thiên thần trong vinh quang của Cha Người." ( Mc 8: 38)

Như thế có nghĩa là chúng ta phải có can đảm tuyên xưng đức tin bằng chính đời sống của mình giữa bao người khác để làm nhân chứng đích thực cho Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian làm Con Người để hiến mạng sống mình "làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28)

Tóm lại, Năm Đức Tin là thời điểm thuận lợi để mỗi người tín hữu chúng ta dừng chân để nhìn lại cách sống đức tin của mình trong bao năm qua để canh tân lại những gì còn thiếu sót, cần đổi mới cho thích hợp.Cụ thể, nên học hỏi kỹ lời Chúa trong Kinh Thánh và các tài liệu giáo lý, tín lý, thần học của Giáo hội để bồi dưỡng thêm cho đức tin được vững mạnh thêm nữa hầu có sức để đương đầu với những thách đố của thời đại trống vắng niềm tin. Hơn thế nữa, đây cũng là thời gian thuận lợi để chúng ta lập lại quyết tâm sống đức tin vào Chúa Kitô cách cụ thể và sống động hơn nữa để giữa bao người không có đức tin và đang làm những sự xấu, sự gian ác, chúng ta phải sống sao cho phù hợp và xứng đáng với lời khuyên dạy của Thánh Phaolô sau đây:

" Như thế, anh em sẽ trở nên trong sạch , không ai chê trách được điều gì và sẽ trở nên những con người vẹn toàn của Thiên Chúa giữa một thế hệ gian tà sa dọa. Giữa thế hệ đó, anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời." ( PL 2: 15)

Ước mong mọi người tín hữu chúng ta suy gẫm và thực hành lời dạy trên đây của Thánh Phaolô trong Năm Đức Tin này.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 29 = KINH THANH DANH CHUA PDF Print E-mail

ĐIỀU RĂN THỨ HAI : KÍNH THÁNH DANH CHÚA

Hỏi : xin cha giải thích rõ tội phạm điểu răn Thứ Hai của Chúa

Trả lời : Là người tín hữu Công giáo, ai cũng thuộc lòng điều răn thứ hai cấm kêu tên Chúa vô cớ. Tại sao như vậy ?

Câu trả lời là chính Thiên Chúa đã truyền cho dân Do Thái qua miêng ông Mô-sê mệnh lệnh sau đây:

" Ngươi không được dùng danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi một cách bất xứng, vì Thiên Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người cách bất xứng." ( x Xh 20: 7 ; Đnl 5: 11)

Nhưng thế nào là dùng Danh Chúa cách bất xứng ?

Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cần nhớ lại sự kiện Thiên Chúa tỏ mình cho ông Mô-Sê từ bụi cây bốc cháy và truyền cho ông sứ mạng dẫn đưa dân Do Thái từ Ai Cập trở về quê hương sau bao năm sống nô lệ và thống khổ trên đất Ai Cập. Ông Mô Sê , trước hết, đã ngần ngại, không dám nhận làm việc đó, nên đã hỏi tên Chúa để có cớ nói với dân và Chúa đã trả lời ông như sau:

" Ta là Đấng Tự Hữu. Ngươi hãy nói với con cái Ỉsrael thế này: " Đức Chúa, Thiên Chúa của cha ông anh em, Thiên Chúa của Ap-ra ham, Thiên Chúa của I xa-ac, Thiên Chúa của Gia-cóp sai tôi đến với anh em. Đó là Danh Ta cho đến muôn thủa. Đó là Danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời này đến đời kia." ( x.Xh 3 : 14-15)

Như thế, Danh của Thiên Chúa là Đức Chúa, Đấng Tự hữu đã mặc khải cho ông Mô-Sê để nói lại cho dân Do Thái trước tiên và cho hết mọi người , mọi dân trên trần thế này được biết để tôn thờ, tôn kính đến muôn đời.

Tác giả Thánh Vinh 29 và 113 đã ca tụng Danh Thánh Chúa như sau :

" Hãy dâng Chúa vinh quang xứng Danh Người

Và thờ lậy Chúa uy nghiêm thánh thiện." ( Tv 29: 2)

Hoặc :

" Ha-lê-luia !

Hởi tôi tớ Chúa, hãy dâng lời ca ngợi'

Nào ca ngợi Danh thánh Chúa đi

Chúc tụng Danh thánh Chúa.

Tự bậy giờ cho đến mãi muôn đời." ( Tv 113: 1-2)

Do đó, tôn kinh Thánh Danh Chúa cũng thuộc về nhân đức thờ phượng Chúa trên hết mọi sự như nội dung điều răn Thứ Nhất dạy ta.

Giáo lý của Giáo Hội dạy như sau về việc kính Thánh danh Chúa:

" Trong số các lời của Mặc Khải, có một lời rất đặc biệt : đó là lời Mặc khải Danh Thánh của Thiên Chúa qua đó Thiên Chúa cho con người biết Danh của Ngài.Nghĩa là Thiên Chúa tự mặc khải mình cho những ai tin Người trong mầu nhiệm riêng tư về Người. Danh thánh của Thiên Chúa là một quà tặng tin cẩn và mật thiết. Danh của Người là thánh, vì thế con người không được lạm dụng Thánh Danh của Thiên Chúa, mà phải yêu mến tôn thờ trong tâm hồn, và chỉ nhắc đến Danh Thánh Chúa để cảm tạ, ngợi khen và tôn vinh Thánh danh đó mà thôi."( x SGLGHCG số 2143)

Cũng cần nói thêm nữa là Thánh Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần đều phải được tôn thờ tôn kính như nhau, vì cùng là Một Thiên Chúa duy nhất mặc dù với Ba Ngôi Vị. Thêm vào đó, cũng phải kinh danh thánh của Đức Mẹ và các thánh Nam nữ , vì các ngài là vinh quang của Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng , thánh hóa và nâng đỡ để các ngài được bước lên bậc hiển thánh trên Nước Trời để cùng với các đạo binh Thiên Quốc ngày đêm chúc tụng, ngợi khen Thiên Chúa đến muôn đời.

Do đó, những hành động hay việc làm sau đây được coi là xúc phạm đến Thánh Danh Chúa :

1- Trước hết là phải có can đảm xưng danh Chúa trước mặt người đời và nhất là trước những kẻ muốn bách hại đức tin của chúng ta vào Thiên Chúa, vào Chúa Kitô, Đấng đã đến trong trần gian làm Con Người để "cứu chuộc cho muôn người". Nghĩa là nếu không dám xưng mình là người tin có Thiên Chúa thì cũng được coi là chối Chúa và xúc phạm đến Danh Thánh của Người trước mặt người khác.Khi được rửa tội, chúng ta được rửa "nhân danh chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" ( Mt 28: 19) Do đó, Người tín hữu Chúa Kitô chân chính mang danh Chúa Ba Ngôi không thể nói ba phải là " Lậy Chúa, lậy Phật, lậy Đấng Mohammed...để muốn làm vui lòng người khác tín ngưỡng với mình. Ta tôn trọng niềm tin của họ nhưng phải có can đảm và hãnh diện tuyên xưng Thiên Chúa là Cha duy nhất của mình trong mọi hoàn cảnh.

2- Nếu nhân danh Chúa để thề hứa với ai điều gì thì phải tôn trọng và thi hành lời hứa đó vì đã lấy Danh Chúa mà hứa với họ. Nếu không tôn trọng lời hứa vì Danh Chúa thì đã coi Chúa là Người nói dối như Thánh Gioan đã dạy như sau :

" Nếu chúng ta nói là chúng ta đã không phạm tội

Thì chúng ta coi Người ( Thiên Chúa) là kẻ nói dối

Và lời của Người không ở trong chúng ta." ( 1 Ga 1 :10)

3- Nói phạm thánh ( blasphemy) là trực tiếp phạm điều răn thứ hai.Tội phạm thánh bao gồm những tư tưởng và lời nói xúc phạm đến Danh Thánh Chúa như những lời giận dữ , oán trách Chúa –hoặc ghê gớm hơn nữa- là nguyền rủa Thiên Chúa chỉ vì một bất mãn, hay tai họa chẳng may gặp phải , khiến mất niềm tin và kính trọng đối với Chúa, như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã nói như sau: '

" Chẳng phải họ nói xúc phạm đến Danh Thánh cao đẹp mà anh em được mang đó sao?" ( Gc 2: 7)

Đó là những kẻ mang danh Chúa, tự nhận mình là người có Đạo của Chúa Kitô nhưng lại làm hoặc tham gia vào những việc tỗi lỗi như ức hiếp, bóc lột tra tấn người khác, buôn bán dâm ô, cần sa ma túy, làm chứng gian cho người khác thay vợ đổi chồng, lường gạt trộm cướp...Người Kitô-hữu Công giáo mà làm những việc vô luân vô đạo này thì chắc chắn sẽ khiến cho người khác thù hận tôn giáo của mình và căm thù cả Đấng mà mình mang Danh Thánh là Chúa Kitô. Đây là tội phạm thánh rất nghiêm trọng phải tránh cho được xứng đáng là người tin yêu Chúa Kitô sống giữa những người không chia sẻ cùng niềm tin với mình, giữa những kẻ gian ác vì không có niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành, công bình và đầy yêu thương.

Cũng được kể là tội phạm thánh khi nói hay có hành động xúc phạm đến Đức Mẹ và các thánh như quăng ảnh tượng Đức Mẹ và thánh nam nữ nào vào thùng rác hay lấy chân đạp lên các thánh tượng đó.Đặc biệt ai lấy Mình Thánh Chúa đem về nhà để làm chuyện mê tín nào đó thì cũng là hành động phạm thánh nghiêm trọng.

4- Tội bội thệ ( perjury) là tội xúc phạm đến Thanh Danh Chúa vì cố ý tuyên thệ để làm chứng một việc gian dối hay phủ nhận một lỗi nặng của chính mình trước luật pháp xã hội. Bội thệ cũng cố ý hứa với ai điều gì nhưng cố ý không thi hành lời đã thề hứa nhân danh Chúa.Do đó, người "bội thệ" không những có lỗi nặng đối với luật pháp xã hội mà còn lỗi phạm đến Thiên Chúa là Đấng công bình và chân thật tuyệt đối nữa .

Chúa Giêsu đã ngăn cấm việc bội thệ như sau :

" Anh em còn nghe Luật dạy người xưa rằng: chớ bội thệ, nhưng hãy giữ trọn

Lời thề với Thiên Chúa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết : đừng thề chi cả.

....hễ có thì nói "có",không thì phải nói " không".Thêm thắt điều gì là do ác quỷ." ( Mt 5 : 33,37)

Như thế đủ cho thấy bội thệ là một tội trọng đối với người tín hữu Chúa Kitô vì đã lạm dụng Thánh danh Chúa để làm chứng cho việc gian dối, lỗi đức công bằng và bảo vệ chân lý .

mà mình phải tuân giữ để xứng đáng là người mang Thánh Danh Chúa như Thánh Chúa Kitô đã dạy

5-Thề gian ( false oaths) cũng là một hình thức bội thệ vì đã cố ý che dấu sự thật về việc mình hay kẻ khác đã làm để mong tránh hình phạt của xã hội . Người tín hữu Chúa Kitô ,khi giơ tay thề gian với ai, đã mang Thánh Danh Chúa ra làm chứng cho sự gian dối, hay tội đã phạm, cho nên đã xúc phạm đến Thánh Danh Chúa cách nghiêm trọng. Nhưng ngược lại, nếu lấy Danh Chúa mà thề để bênh vực cho sự thật , sự ngay chính của mình trước kẻ tố cáo gian vì tư lợi, tư thù thì đã nhân danh Chúa để bênh vực cho sự thật và lẽ phải , nên không có lỗi gì liên quan đến Điều răn thứ hai, cấm kêu tên Chúa vô cớ.

Nói khác đi, lời thề chính đáng là sự kêu cầu danh Chúa để làm chứng cho sự thật. Nghĩa là chỉ được thề khi phải bênh vực cho lẽ phải và sự công chính mà mình muốn nhằm tới qua lời thề mà thôi.

Tóm lại, Danh Chúa là thánh.Danh Đức Mẹ và các Thánh cũng là thánh.Danh xưng là tín hữu Chúa Kitô, kể cả tên Thánh bổn mạng lãnh nhận khi được rủa tội cũng là thánh.

Do đó, khi xử dụng Danh Thánh của Chúa hay của Đức Mẹ và các Thánh kể cả danh xưng mình là tín hữu Chúa Kitô vào những mục đích bất xứng như đã kể trên đây thì đều lỗi phạm điều răn thứ hai cấm dùng Danh Thánh cách bất xứng.

Ước mong giải đáp này thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 28 = NGUOI TIN HUU CHUA KITO... PDF Print E-mail

NGUỜI TÍN HỮU CHÚA KITÔ PHẢI CÓ NHỮNG NHÂN ĐỨC NÀO ?

Hỏi : xin cha giải thích các nhân đức mà người Công giáo phải có để sống đức tin trước mặt người khác.

Đáp : Nói đến những nhân đức ( Virtues) mà người Công Giáo phải có để sống xứng đáng với địa vị của mình là Kitô hữu trước mặt người đời, chúng ta nhớ ngay đến lời Thánh Phaolô đã nói với tín hữu Phi-Lip-Phê xưa như sau :

"Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quí, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến, và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh (nhân đức) đáng khen, thì anh em hãy để ý. Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe , đã thấy nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em." ( PL 4 : 8-9)

Qua lời khuyên trên đây của Thánh Phaolô, chúng ta thấy tầm quan trọng phải trang bị cho mình những đức tính và những nhân đức cần thiết để xứng đáng là người Kitô hữu sống trong Giáo Hội và ngoài xã hội

Thật vậy, sở dĩ phải nói đến các nhân đức -nói chung - là vì Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con người trí hiểu biết và ý muốn tự do.(Intelligence and free will) Nhờ trí hiểu con người biết phân biệt giữa cái xấu và cái tốt, giữa sự lành, sự thiên hảo và mọi điều gian ác, nhơ nhuốc và sự dữ đầy rẫy ở khắp nơi trên trần thế này. Biết phân biệt ranh giới giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu sẽ đưa đến tự do chọn lựa để đứng về phía nào và chịu trách nhiệm về chọn lựa của mình trước Thiên Chúa là Đấng cực tốt, cực lành, nhưng rất gớm ghét mọi sự dữ, sự xấu , sự gian ác và ô uế, hư thân mất nết..

Do đó, sống xứng đáng là con người thôi cũng đòi hỏi đức hạnh để phân biệt mình với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn. Là người tín hữu , càng cần có nhân đức hay đức hạnh để sống đẹp lòng Chúa hơn. Đức hạnh là nét đẹp của tâm hồn không phải tự nhiên mà có.Trái lại, đó là kết quả luyên tập của lý trí và ý chí nhằm tô điểm cho mình những vẻ đẹp tinh thần không những để phân biệt mình với loài vật mà cả với những người không chú tâm tập luyện cho mình những nhân đức cao đẹp giúp nâng cao phẩm giá con người là thụ tạo có lý trí và ý muốn tự do..

Trong lãnh vực thiêng liêng, nhân đức là những vẻ đẹp của tâm hồn đưa ta đến gần Thiên Chúa là Chân Thiên Mỹ tuyệt đối, với ước muốn tha thiết là được trở nên giống Người và " được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian này." ( 2 Pr 1: 4) Nói khác đi, ta không thể sống đẹp lòng Chúa mà không cố gắng trở nên giống Chúa trong mọi sự, từ lời nói đến suy tư và cung cách hành động trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống con người trên trần thế này.

Giáo lý Giáo Hội phân chia ra hai loại nhân đức sau đây :

A- Nhân đức nhân bản hay đối nhân ( Human Virtues)

B- Nhân đức thần học hay đối Thần ( Theological Virtues).

A- Nhân đức nhân bản là những đức tính luân lý đã được tập thành do nhận thức được những gì là tốt đẹp, là xứng đáng với phẩm giá con người, khác xa thảo mộc và loài vật chỉ có bản năng mà không có lý trí và ý chí.Nhận thức rồi cố gắng tập luyện với quyết tâm của ý chí tự do để trở thành tập quán (habit) vững chắc chỉ đạo cho mọi hành vi con người qui hướng về những mục đích thiện hảo mà lý trí đã nhìn ra và thúc đẩy con người tiến tới.

Có 4 nhận đức gọi là nhân đức trụ ( Cardinal Virtues) vì vai trò quan trọng của nó trong việc hướng dẫn hành vi con người tiến đến mục đích tốt.

Bốn nhân đức trụ đó là khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ.

1- Nhân đức không ngoan ( Prudence) là nhân đức luân lý nhờ đó con người phân biệt điều thiện hảo và sự gian ác để từ đó, tự do chọn lựa điều thiện hảo trong thực hành để hành vi nhân linh của mình có giá trị luân lý, đạo đức.. Hành vi nhân linh ( Human act) thì khác xa với hành động của con người ( act of man) ở điểm căn bản là hành vi nhân linh mang tính luân lý,( morality) còn hành động của con người thì không. Thi dụ : đi, đứng, nói ,cười , nằm nghỉ , ăn, uống, hít thở không khí....là những hành động tự nhiên của con người, không mang tính luân lý. Trái lại,chửi bới, lăng mạ người khác, giơ tay chém giết người, chân bước đi tìm thú vui dâm ô, ngoại tình, hoặc đi đến các nơi cờ bạc và vui chơi thác loạn... là những hành vi nhân linh vì xuất phát từ ước muốn của tâm hồn, của lý trí và tự do chiều theo những đòi hỏi của các khuynh hướng ( tendencies) xấu trong bản năng nên mang tính luân lý. Về mặt đạo đức, con người chỉ chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về mọi hành vi nhân linh của mình mà thôi.

Nghĩa là, nếu con người sử dụng đức khôn ngoan khi hành động thì sẽ tránh được những tội lỗi , những nguy cơ đưa đến hành động xấu và gian ác, trái nghich với những đòi hỏi của luân lý , đạo đức

2- Đức công bằng ( Justice) là nhân đức luân lý xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng chí công vô tư. Chính Người đã truyền cho dân Do Thái xưa mệnh lệnh này: " ngươi không được trộm cắp." )Xh 20: 15; Đnl 5: 19, Mt 19: 18)

Đức công bằng đòi buộc con người tôn trọng tài sản, sinh mạng và danh dự của người khác như của chính mình khi sống chung trong cộng đồng xã hội.Nó cũng đòi buộc trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã nói bọn Biệt phái xưa kia: " của Xê-da ( Caesar) trả về cho Cê-da, của Thiên Chúa , trả về Thiên Chúa." ( Mt 22: 21; Mc 12: 17); Lc 20: 25).

Mỗi người chúng ta nhận lãnh từ Thiên Chúa một linh hồn và những tài năng trí tuệ khác nhau.Do đó, chúng ta phải trả lời Thiên Chúa về những gì mình đã làm cho linh hồn cùng những tài năng Chúa đã ban ; ví như chủ nhà kia đã trao cho các đầy tớ mỗi người một số nén vàng khác nhau, và cuối cùng chủ sẽ đỏi các đầy tớ đó tính sổ về những gì họ đã làm với những nén vàng họ đã nhận lãnh. ( x Mt 25: 14-30)

Liên quan đến đức công bằng, Thánh Phaolô đã khuyên tín hữu Cô-lô-xê như sau :

" Người làm chủ hãy đối xử công bằng và đồng đều với các nô lệ, vì biết rằng cả anh em nữa cũng có một Chủ ở trên trời." ( Cl 4: 1)

Chúa là Đấng chí công vô tư, nên Người sẽ phán đoán chúng ta theo lòng nhân từ và công bằng của Người.Vì thế, đừng ai lầm tưởng rằng cứ bỏ nhiều tiền ra xin lễ, mua lễ đời đời và mua "hậu" của những nơi buôn thần bán thánh, là chắc chắn sẽ được vào Nước Trời sau khi chết. Trái lại, phải biết khôn ngoan sắm lấy cho mình kho tàng không hư mất ở trên Trời, nơi "trộm cắp không bén bảng, và mối một không đục phá" ( Lc 12 :33), bằng quyết tâm yêu Chúa và sống theo đường lối của Người ngay từ bây giờ thì đó mới là bảo đảm vững chắc cho phần rỗi mai sau để vui hưởng hạnh phúc Nước Trời. Không có cố gắng cá nhân công tác với ơn Chúa, mà chỉ dựa vào người khác cầu nguyện cho thì sẽ không ích gì, vì không ai có thể "ăn hộ "cho người khác được no nê về mặt thiêng liêng và tự nhiên được.

3-Đức dũng cảm ( Fortitude) là nhân đức luân lý giúp con người cương quyết thi hành điều

thiên hảo mà lý trí đã nhận biết và thúc dục ý chí theo đuổi cho đến cùng, dù gặp nhiều khó

Khăn cản trở.Nó cũng giúp con người chống lại mọi cảm dỗ của xác thịt, của ma qủi và

gương xấu của thế gian, nhất là giúp con người dám chết cho niềm tin của mình như các

Thánh Tử Đạo, cha ông ta. Đây chính là điều Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa:

" Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó.

Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian." ( Ga 16: 33)

Như thế., nếu không có đức dũng cảm và nhờ ơn Chúa nâng đỡ thì khó lòng đứng vững trước mọi nguy cơ cám đỗ hướng về sự dữ, sự xấu và tội lỗi.

4-Đức tiết độ ( Temperance ) là nhân đức luân lý giúp ta chế ngự những đòi hỏi, lôi cuốn của vui thú bất chánh hoặc tham mê những của cải và vui thú xác thịt trái nghịch với đức công bằng và với luân lý, đạo đức mà người tín hữu phải tránh cho được sống đẹp lòng Chúa. Không có đức tiết độ, người ta sẽ dễ chiều theo những đòi hỏi hay đam mê của dục vọng, và tội lỗi.

Đó là lý do vì sao Thánh Phaolô đã khuyên môn đệ Ti Tô như sau :

" Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục , mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này." ( Tt 2: 12)

B- Nhân đức đối thần hay thần học:

là những nhân đức hay động lực giúp ta hướng về Thiên Chúa là cùng đích của đời mình.Các nhân đức này minh chứng cụ thể niềm tin yêu và hy vọng của chúng ta đặt nơi Thiên Chúa là Đấng vô hình nhưng chắc chắn có thật và đã mặc khải Người cách trọn vẹn và cụ thể cho ta nơi Chúa Kitô, là Đấng cứu chuộc nhân loại, đã mang xác phàm để cho ai " Thấy Thầy, thì cũng thấy Chúa Cha" như Chúa đã trả lời cho môn đệ Phi-lip Phê một ngày kia.( Ga 14:9)

Có 3 nhân đức đối thần là Tin, Cậy và mến.

1- Đức Tin ( faith): nhân đức đối thần này trước hết là một quà tặng ( gift) của Thiên Chúa ban nhưng không cho ta nhưng cũng đòi hỏi sự đáp trả của mỗi cá nhân bằng cố gắng cộng tác với ơn Chúa để đức tin được lớn lên theo thời gian trong chiều kích thiêng liêng. Khi được rửa tội, thì hạt giống đức tin này được gieo vào tâm hồn ta. Nhưng khi lớn lên, nếu không có sự giúp đỡ của cha mẹ và người đỡ đầu bằng gương sáng và lời giảng dạy về Thiên Chúa trong gia đình, và sau đó ở môi trường đức tin là giáo xứ hay công đoàn thì hạt giống đức tin kia không thể tự nó lớn lên được và sẽ không sinh hoa trái gì cho người nhận lãnh. Ngược lại nếu được hướng dẫn từ bé, lớn lên với niềm tin có Chúa và siêng năng cầu nguyện và lãnh các bí tích hòa giải và nhất là Thánh Thể thì sẽ giúp cho đức tin lớn lên đến mức trưởng thành. Sau đó, với quyết tâm của cá nhân cộng tác với ơn thánh để bước đi theo Chúa mỗi giây phút trong cuộc sống thì chắc chắc đức tin sẽ càng lớn mạnh nhờ đời sống đạo đức, vì " đức tin không có việc lành là đức tin chết." như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã quả quyết. ( Gc 5:6)

2- Đức Cậy : ( hope) là nhân đức đối thần giúp ta trông cậy vững vàng vào Chúa và hy vọng được vui hưởng Thánh Nhan Người một ngày kia sau khi kết thúc hành trình đức tin trong trần thế này.Dĩ nhiên phải nhờ cậy vào ơn thánh nâng đỡ để ta không nản chí, thất vọng khi gặp gian nan khốn khó trong cuộc sống và trong niềm tin có Chúa. Nếu ta bền chí trông cậy thì chắc chắn Chúa sẽ ban ơn nâng đỡ như Người đã hứa mà tác giả Thư Do Thái đã nhắc lại như sau:

" Chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, ví Đấng đã hứa là Đấng trung tín." ( Dt 10 :23)

3- Đức mến ( love, charity) là nhân đức đối thần rất quan trọng vì nhờ đó ta thể hiện cách cụ thể lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương anh em như chính bản thân mình. Thánh Phaolô đã coi đức mến ( đức ái) quan trọng hơn cả đức tin và đức cậy trong thư thứ nhất gửi tín hữu Coi-rin-tô như sau:

" Hiện nay đức tin , đức cậy, đức mến

Cả ba đều tồn tại

Nhưng cao trọng hơn cả là đức mến." ( 1 Cor 13: 13)

Đặc biệt hơn nữa là chính Chúa Giêsu đã gọi đức ái là một điều răn mới Chúa ban cho các Tông Đồ sống và thực hành để chứng minh họ là môn đệ của Chúa:

" Thầy ban cho anh em một điều răn mới

Là anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em

Ở điểm này , mọi người sẽ nhận biết: anh em là môn đệ của Thầy

Là anh em có lòng yêu thương nhau." ( Ga 14: 34-35)

Chính Chúa cũng vì yêu thương mà đã hy sinh mạng sống mình cho tất cả mọi người

Chúng ta được sống như Người đã nói với các môn đệ trước giờ tử nạn:

" Không ai có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh

Tính mạng vì bạn hữu của mình." ( Ga 15: 13)

Tóm lại, những nhân đức nói trên- nhân bản và đối thần- là những vẻ đẹp lỗng lẫy của mọi tâm hồn tín hữu Chúa Kitô sống trong Giáo hội và trong xã hội loài người để qua thực hành những nhân đức đó, người tín hữu sẽ là nhân chứng hùng hồn cho Chúa trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa và chưa ý thức được giá trị thiêng liêng của các nhân đức ấy.Ước mong mọi người tín hữu chúng ta cố gắng trang bị cho mình những nhân đức nói trên để cho người đời cứ dấu này " mà nhận biết chúng ta là môn đệ của Thầy" sống giữa họ. ( x. SGLGHCG số 1803- 1829)

Lm Phanxicô Xaviê Ngô tôn Huấn.

 
<< Start < Prev 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Next > End >>

Page 84 of 90