mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay458
mod_vvisit_counterHôm Qua9688
mod_vvisit_counterTuần Này32217
mod_vvisit_counterTuần Trước55817
mod_vvisit_counterTháng Này144539
mod_vvisit_counterTháng Trước157742
mod_vvisit_counterTất cả9202846

We have: 175 guests online
Your IP: 54.224.202.184
 , 
Today: Sep 22, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 10= DUC KITO CO THUC SU CHET? PDF Print E-mail

CHÚA GIÊSU CÓ THỰC SỰ CHẾT NHƯ GIÁO HỘI DẠY HAY KHÔNG ?

Hỏi : nhân Tuần Thánh ( Holy Week) tưởng niệm sự chết và phục sinh của Chúa Kitô , xin cha giải thích ba câu hỏi sau đây :

1- Chúa Giê su có thực sự chết như Giáo Hội vẫn dạy hay không, vì có một Giám mục kia đả nói : " Chúa Giêsu đâu có chết. Đó chỉ là cách nói cho có vẻ bi thảm mà thôi" !

2- -Những người sinh ra và chết trước khi Chúa Giếsu ra đời và hòan tất công cuộc cứu chuộc - thì tất cả ở đâu và khi nào mới được vào Thiên Đàng ?

3- Những người không được biết Chúa Kitô và Phúc Âm của Chúa thì có được cứu rỗi hay không?

Trả lời:

1- Về câu hỏi thứ nhất, tôi không tin có một Giám mục hay Linh mục Công giáo nào lại dám nói như vậy Có chăng chỉ có những vị ở bên ngoài Giáo Hội Công Giáo hay Chính Thống Giáo mà thôi ( Eastern Orthodox Churches). Được biết, các gíáo phái ngoài Công Giáo như Anh giáo ( Anglican) Methodist, Lutheran, Epíscopal, Baptíst..v.v.. .đều có chức giám mục ( có cả nữ giám mục nữa !) nhưng họ không thuộc truyền thống Tông Đồ ( Apostolic succession) như các Giám mục trong Giáo Hội Công Giáo La Mã và Chính Thống Giáo Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) cho nên họ cũng không hiệp thông, vâng phục Giám Mục Rôma, tức Đức Giáo Hòang là Thủ lãnh Giám mục Đòan ( Head of College of Bíshops) và là Chủ Chăn tối cao của Giáo Hội Công Giáo hòan vũ.( Supreme Pastor of The Universal Catholic Church)

Vì thế , có thể có những "giám mục " ngoài Công Giáo đã dạy dỗ sai lầm hay mâu thuẫn với các Giám mục Công Giáo, hiệp thông với Đức Thánh Cha trong sứ vụ rao giảng Phúc Âm , bảo vệ chân lý, và đức tin Công Giáo tinh tuyền.

Trong niềm tin của Giáo Hội, dựa trên Kinh Thánh, Thánh Truyền ( Tradition) và Mặc khải ( revelation) thì Chúa Giêsu là" Thiên Chúa thật, đồng bản tính với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần"( Kinh Tin Kinh Nicene). Nhưng Ngài củng lá CON NGƯỜI thật, được Đức Trinh nữ Maria sinh ra nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Như thế, Chúa Giêsu có hai bản tính không hề tách biệt nhau : đó lá Thiên Tính và nhân tính.( divine and human nature) Ngài chính là " Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.( Jn 1:14.)

Nhưng tại sao Chúa Giêsu phải chịu chết trên thập giá năm xưa, một sự kiên kich sử mà không ai có thể chối cãi được ?

Chúa có thực chết hay " giả vờ" chết để bi thảm hóa sự viêc như có ai đã nói ?

Để trả lời câu hỏi này, trước hết, chúng ta cần nhớ lại rằng sự chết là hậu quả đương nhiên của tội lỗi mà con người đã mắc phạm như Thiên Chúa đã nói với Adam và Eva xưa: " ..ngáy nào ngươi ăn, (trái cấm) chắc chắn ngươi sẽ phải chết." ( St 2:17)

Thánh Phaolô cũng giải thích thêm như sau về nguyên nhân gây ra sự chết cho con người : "Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết ; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người , bởi vì mọi người đã phạm tội"(Rm 5:12)

Như thế ,mọi người phải chết vì đó là hậu quả của tội lỗi. Không ai có thể tránh được hậu quả này trừ Chúa Giêsu và Mẹ Maria, tuy mang thân xác con người nhưng không hề vướng mắc tội tổ tông và mọi tội cá nhân khác. Nhưng Chúa Giêsu đã chết trong thân xác con người của Chúa không phải vì hậu quả của tội lỗi như mọi người trong chúng ta, vì Chúa hòan toàn vô tội Người vô tội, nhưng đã tự hiến chịu chết thay cho kẻ tội lỗi như Thánh Phaolô đả nói rõ như sau Thiên Chúa đã sai chính Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi của chúng ta để đền tội chúng ta. Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình.." (Rm 8:3)

Đó là tất cả lý do vì sao Chúa Giêsu đã vui lòng vác thập giá , chịu mọi cực hình để cuối cùng i " đã phải nếm sự chết là để cho mọi người được cứu độ nhờ ơn Thiên Chúa"( Dt 2:9). Chính Chúa Giêsu cũng đã xác nhận điều này trong Sách Khải Huyền ( Revelation) như sau : " Ta là Đấng Hằng Sống. Ta đã chết và nay Ta sống muôn đời muôn thuở, và Ta giữ chìa khóa của Tử thần và Âm phủ " Kh1: 18)

Như thế, rõ rệt là Chúa Giêsu đã thực sự chết trong thân xác nhân loại của Ngài qua bằng chứng Kinh thánh nêu trên và giáo lý sau đây của Giáo Hội:

" Cái chết của Chúa Giêsu đã là một cái chết thực sự chấm dứt sự sống con người trần thế của Ngài. Nhưng vì sự hiệp nhất của thân xác Ngài với ngôi vị của Chúa Con, nên thân xác đó đả không trở thành một tử thi như những cái xác khác " vì thần lực của Chúa đã tránh cho thân xác Chúa Kitô khỏi bị thối nát" (Th. Toma, S.th 3,51,3). ( x.SGLGHCG số 627)

Chính vì thân xác của Chúa không bị hư nát qua sự chết như mọi xác con người nên ngày thứ nhất trong tuần khi các phụ nữ đến viếng Mộ Chúa, " họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mố. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài của Chúa đâu cả" ( Mt 24:3)

. Họ không thấy xác Chúa vì Ngài đã sống lại trong một thân xác sáng láng tốt lành khác thường đến nỗi Maria Mac -đa -la không nhận ra Chúa khi Người hiện ra, đứng bên cạnh bà, đang khóc vì tưởng ai đã lấy trộm xác Chúa.( Ga: 20:11-14)

Tóm lại,, với Thiên tinh và địa vị là Thiên Chúa Ngôi Hai thì Chúa Giêsu không thể chết được. Nhưng với bản tinh nhân lọai và quả thực mang thân xác con người , thi Chúa đã thực sự chết thay cho nhân loại tội lỗi trên thập giá năm xưa như KINH THÁNH TÂN ƯớC Đẫ GHI CHÉP..Kinh Thánh còn cho biết thêm là sau khi linh hồn Ngài lìa khỏỉ xác, Chúa Giê su đã xuống nơi gọi là " Ngục Tổ Tông" hay Âm phủ để "rao giảng cho các vong linh bị giam cầm" ở đó ( 1 Pr 3: 19)

2-

.Các vong linh mà Chúa Giêsu đã đến để loan báo Tin Mừng Cứu Độ cho họ ở ngục Tổ Tông chính là các linh hồn của những người lành thánh đã chết trước khi Chúa Cứu Thế Giêsu xuống trần gian để thi hành Công Trình Cứu Chuộc nhân loại của Thiên Chúa.. Họ chưa được vào Thiên Đàng ngay vì Chúa Kitô chưa hòan tất công cuộc cứu chuộc của Ngài. Vì thế, sau khi Chúa đã hòan tất công trình ấy qua Hy Tế thập giá, Ngài đã xuống nơi họ đang bị giam cầm để loan báo Tin Mừng cứu độ cho họ và dẫn đưa họ vào Thiên Quốc hưởng vinh phúc đời đời với Thiên Chúa.

Về điểm này , Giáo lý của Giáo Hội cũng dạy rõ như sau:

" Tân Ước đã nhiều lần khẳng định rằng Chúa Giêsu " đã phục sinh từ cõi những người chết"( Cv 3,45; Rm 6,11; 1Cr 15,20). Điều này giả thiết rằng, trước khi sống lại, Ngài đã ở trong cõi những người chết (She'ol=Hades=Abode of the dead). Đó là ý nghĩa đầu tiên trong những lời giảng dạy của các Tông Đồ về việc Chúa Giêsu đã xuống âm phủ , (tức nơi cư ngụ của những người lành đã chết từ bao đời trước đó.).Chúa Giêsu đã chết như mọi người, và linh hồn của Ngài đã liên kết với họ tại cõi người chết này.Nhưng Ngài xuống đó với tư cách là Chúa Cứu Thế đến công bố Tin Mừng cho những vong linh đang bị giam cần ở đây.''. ( x.SGLGHCG, số 632; 1Pr 3: 18- 19) .

3--Về câu hỏi thứ ba, xin được trả lời như sau :

Trước hết , cẳn cứ và lời Chúa trong những câu Kinh Thánh sau đây :

a- "Chỉ có một Thiên Chúa

Chỉ có một Đấng trung gian

Giữa Thiên Chúa và lòai người

Đó là một con người, Đức Kitô Giê su

Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người ( 1Tm 2:5-6)

b- " Ngòai Người ( Chúa Giêsu) ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này,

không có một danh nào khác đã được ban cho nhân lọai, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ." ( Cv 4: 12)

Như thế có nghìa là tất cả những ai đã được cứu rỗi và muốn được cứu rỗi thì đều phải nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô-Giêsu, vì chỉ môt mình Ngài là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người trong việc mang lại ơn cứu độ này mà thôi..Nói rõ hơn, những ai đã sinh ra và chết đi trước khi Chúa Cứu Thế Giêsu sinh ra và hòan tất công cuộc cứu chuộc nhân lọai của Ngài qua Hy Tế thập giá, thì đều phải nhờ công ơn cứu chuộc vô giá này để được vào hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa trên Thiên Đàng. Điều này cũng áp dụng cho tất cả những ai sinh ra và chết đi sau Chúa Giêsu và cho đến ngày mãn thời gian, tức là cho đến tận thế. Tất cả đều phải nhờ Danh Chúa Kitô và công nghiệp cứu chuộc của Ngài để đựoc cứu độ.

Đó là chân lý đã được mạc khải cho chúng ta qua những câu kinh thánh trích trên đây.

Cũng liên quan đến câu hỏi thứ 3, về trường hợp những người không được biết Chúa Kitô, không được chịu phép rửa và không biết gì về Phúc Âm của Chúa thì sao ?

Nếu họ không biết Chúa, vì không có ai rao giảng cho họ biết, thì đó không phải là lỗi của họ. Nhưng nếu họ đã "ăn ngay ở lành" sống theo sự hướng dẫn của lương tâm để làm điều lương thiện và tránh sự dữ, sự gian ác, thì họ vẫn có thể được hưởng ơn cứu độ của Chúa.Kitô. Cụ thể, đó trường hợp cha ông chúng ta sinh ra và chết đi trước khi Đạo thánh Chúa được rao giảng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 16, thì dĩ nhiên các ngài không được biết Chúa và nghe Phúc Âm của Người.. Nhưng đó không phải vì lỗi của họ vì không có ai rao giảng cho họ biết.. Tuy nhiên, nếu họ đã cố gắng sống theo tiếng nói của lương tâm, và trong thâm sâu,vẫn ước mong tìm Chân lý tức là tìm gặp Chúa thì họ cũng có thể được cứu rỗi nhờ công nghiệp Chúa Kitô như Giáo Hội dạy. ( x SGLGHCG, số 847, Lumen Gentium số 16), .vì " Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" ( 1 Tm 2 :4)

Ngược lại, những người đã được rửa tội, đã gia nhập Giáo Hội, đã biết Chúa Kitô và Phúc Âm của Chúa, nhưng lại không quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và xa lánh mọi tội lỗi cùng mọi sự dữ, và gian ác thì sẽ không được cứu độ vì " không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa ! Lậy Chúa ! là được vào Nước trời cả đâu ! Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)

Thi hành ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa quyết tâm bước đi theo Chúa Kitô là Đường là Sự Thật và là sự Sống ( Ga 14: 6)) để hoàn toàn quay lưng lại với mọi quyến rũ của ma quỉ tinh quái, của thế gian với đầy rẫy gương xấu, và của xác thịt ươn hèn, luôn hướng chiều về sự xấu, sự tội trong bản thân mỗi người chúng ta cho đến hơi thở cuối cùng trên trần thế.Do đó, muốn được cứu độ thì phải hết sức cộng tác với ơn Chúa để yêu mến Người trên hết mọi sự và xa tránh mọi tội lỗi thì mới có hy vọng được cứu rỗi. Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai coi nhẹ việc quyết tâm sống cho Chúa và chừa bỏ mọi tội lỗi, vì chỉ có tội mới làm cho ta xa cách Thiên Chúa mà thôi.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

.

"

 
HOC HOI DE SONG DAO - BAI # 9= KINH THANH CA GIUSE PDF Print E-mail

KÍNH MỪNG THÁNH CẢ GIUSE ,QUAN THẦY GIÁO HỘI

Hôm nay Giáo Hội hân hoan mừng kính Thánh Cả Giuse, Cha nuôi Chúa Cứu Thế, bạn thanh sạch của Đức Trinh Nữ Maria và là Quan Thầy của Giáo Hội hoàn vũ và của riêng rất nhiều người trong chúng ta...

Trước hết,Chúng ta cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo Hội nói chung và cho tất cả tín hữu chúng ta nói riêng một Đấng Thánh là mẫu gương sáng ngời cho chúng ta về đức tin mạnh mẽ , lòng khiêm nhu hiếm có và tinh thần nghèo khó đích thực của Phúc Âm

Kinh Thánh cho chúng ta biết rất ít về Thánh Cả Giuse, trừ một chi tiết rất nhỏ trong Tin Mừng Matthêu nói về Ngài " là người công chính" ( Mt 1:19).Là người công chính nên Thánh Cả Giuse đã không muốn xét đoán gì về Mẹ Maria, bạn người, khi biết Mẹ đang mang thai trước khi hai ông bà về chung sống. Chính vì không hiểu lý do tại sao Maria lai mang thai, nên Giuse " mới định tâm bỏ bà cách kín đáo". Nhưng khi được Sứ Thần Chúa báo tin trong giấc ngủ, Giuse đã bỏ ngay ý đình âm thầm ra đi và đã mau mắn thi hành lời Sứ Thần truyền cho ngài là " ..đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt ten cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ" ( Mt 1:20-21)

Thánh Giuse đã nêu gương công chính khi Ngài không xét đoán Maria dù không hiểu được lý do mang thai của bạn mình.Gương công chính này của Thánh Cả Giuse đáng cho mọi người chúng ta nói chung và cho những ai là chồng trong mọi gia đình nhân lọai ngày nay noi theo để bảo vệ hạnh phúc gia đình

Thật vậy, có biết bao gia đình đã tan vỡ chỉ vì vợ chồng nghi ngờ nhau không có lý do xác đáng. Nếu mọi người chồng biết noi gương Thánh Cả Giuse không xét đoán vợ mình khi không có bằng cớ hay lý do vững chắc, thì đã cứu cho nhiều cặp vợ chồng khỏi ly thân, ly dị hay gây án mang chỉ vì quá nghen tương không kiềm chế được.

Mặt khác, gương đức tin của Thánh Cả cũng dạy ta bài học tín thác hoàn toàn nơi sự quan phòng khôn ngoan của Thiên Chúa. Thánh Giuse, dù chỉ được báo mộng về Thánh Ý của Thiên Chúa nhưng ngài đã tuyệt đối thi hành không chút do dự. Như thế chứng tỏ Thánh Cả đã có một đức tin mạnh mẽ giúp ngài thực thi Ý Chúa trong những hoàn cảnh khó khăn đầy thử thách.

Chưa hết, Thánh Cả còn là mẫu gương sáng chói về đức khiêm nhường và khó nghèo nữa. Đức khiêm nhu của ngài thể hiên cách cụ thể qua thái độ im lặng hoàn toàn trong suốt cuộc đời tại thế.Thánh Kinh không hề ghi lại lời nói nào của Thánh cả Giuse.

Tục ngữ Việt Nam có câu : " đa ngôn đa quái". Nghĩa là nói nhiều thì sinh nhiều chuyện không hay. Do đó, Thánh cả Giuse đã dạy chúng ta bài học im lặng để trước hết biết lắng nghe lời Chúa và sau nữa tránh làm mất lòng người khác vì tật đa ngôn.

Trong giắc mơ, Thánh Cả đã biết Chúa Giêsu là ai. Vậy mà Ngài không hề đi khoe khoang với người nào về vinh dự lớn lao được là Cha nuôi Chúa Cứu Thế, từ khi Chúa giáng sinh trong hang lừa máng cỏ và sau này trong thánh gia thất, nơi Người âm thầm làm nghề thợ mộc để nuội Chúa Hài Nhi cùng với Mẹ Maria trong xóm nghèo Nazaret thủa xưa..Thánh Giuse đã nêu gương khó nghèo đích thực của Phúc Âm khi chuyên cần làm nghề thợ mộc , một nghề không giúp ai trở nên giầu có được từ xưa đến nay. Người quả thực sống khó nghèo, nhưng khi được ẵm Chúa Hài nhi Giêsu trên tay, người đã thực sự ôm lấy không những mọi kho tàng giầu sang phú quí của Nước Trời mà còn ôm lấy chính nguồn ơn cứu độ và hy vọng được sống đời đời bên Chúa trên Nước Trời, là nơi Chúa Giêsu " vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." ( 1 Cor 8:9) Như thế, Thánh Giuse quả thực đã giầu sang phú quý hơn mọi người trần gian khi được ẵm Chúa Hài nhi trên tay và được sống bên Chúa cho đến ngày Thánh Cả lìa đời, một chi tiết không được nói đến trong các Tin Mừng..

Vinh phúc được sống bên Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa thật, đã làm cho Thánh Cả Giuse trỗi vượt về ơn phúc hơn tất cả mọi thánh nam nữ khác , trừ Mẹ Maria, vi sự kiện hiển nhiên là:

" Các thánh khác, khi linh hồn ra khỏi xác đoạn, mới được về cùng Đức Chúa Trời, nhưng mà ông Thánh Giuse khi còn ở thế gian đã được ở cùng Đức Chúa Giêsu là Chúa trời thật, thì phúc Người rất trọng là dường nào." ( Kinh kính Thánh Giuse của Địa Phận Hà nội)

Lời kinh trên đây đả đủ nói lên vinh phúc của Thánh cả Giuse ngay khi Ngài còn sống trên trần gian này, và chắc chắn nay đang cùng Mẹ Maria và các Thánh Nam nữ khác vui hưởng Thánh nhan Chúa trên Thiên Đàng và đang cầu thay nguyện giúp đắc lực cho chúng ta trước Tòa Chúa.

Ngoài những nhân đức và vinh phúc nói trên, còn điều quan trọng hơn hết là Thánh cả Giuse đã âm thầm đóng một vai trò khiêm tốn nhưng quan trọng trong Chương trình cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa nhờ Chúa Giê su-Kitô, Đấng mà Thánh Cả được vinh phúc là "người Cha" dưỡng nuôi trước mặt người đời cùng với bạn thanh sạch là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ thật của Chúa.Nói rõ hơn, nều không có Thánh Giuse đóng vai trò là "Chồng" của Mẹ Maria, thì làm cách nào cho Mẹ được an toàn với lề luật của xã hội Do Thái thời đó, khi Mẹ sinh con mà không có ai là chồng. Chính vì lý do quan trọng này mà Thiên Chúa đã sai Sứ Thần đến báo cho Giuse trong giắc mơ là không được bỏ đi và phải nhận lấy Maria làm vợ và đặt tên Giêsu cho con trai mà Maria sẽ sinh ra.

Như vậy, chúng ta phải cảm tạ Chúa về sự quan phòng đầy khôn ngoan của Người khi xui khiến cho có cuộc hôn nhân thánh thiên giữa Giuse và Maria để hợp thức hóa trước mặt người đời về việc Mẹ Maria mang thai và sinh con bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, một sự kiện không thể chứng minh cho người đời hiểu được. Trong mục đích đó, chúng ta cũng hết lòng cám ơn Thánh Giuse về vai trò quan trọng của Ngài cùng với Mẹ Maria đã cộng tác trong chương trình cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô, " Đấng đã tự hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.".

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO- BAI# 8 = SƯ CAN THIET CUA BI TICH PDF Print E-mail

TẠI SAO CÁC BÍ TÍCH LÀ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN HỮU HIỆU CẦN THIẾT ĐỂ LÃNH ƠN CỨU CHUỘC CỦA CHÚA KITÔ .?

Chúa Cứu Thế Giêsu đã hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết ,sống lại và lên Trời cách nay đã trên 2000 năm.Nhưng công nghiệp cứu chuộc này vẫn được tiếp tục ban phát cho con người qua sứ mang của Giáo Hội, là Thân Thể Mầu nhiệm của Chúa trong trần gian này cho đến ngày cánh chung tức là ngày mãn thời gian.

Tuy nhiên, sau hơn 2000 năm Tin Mừng Cứu Độ được rao giảng , cho đến nay mới chỉ có 1/6 nhân loại được biết Chúa Kitô và gia nhập Giáo hội của Chúa qua Phép Rửa và Thêm sức.

Như thế còn đa số người chưa được nghe Tin Mừng của Chúa và tin yêu Người là Đấng đã đến trần gian làm Con Người để "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người"( Mt 20: 28).

Với những người chưa biết Chúa Kitô và nghe Phúc Âm của Người, Giáo Hội tiếp tục cầu nguyện và hăng hái thi hành sứ mạng Chúa đã trao phó trước khi Người về Trời: Đó là " anh em hay đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha , Chúa Con và Chúa Thánh Thần., dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em..(Mt 28: 19-20) .Đây là sứ mạng phúc âm hóa thể giới và giảng dạy chân lý mà Giáo hội đã và đang thi hành để mang Chúa Kitô và công nghiệp cứu chuộc của Người đến với những người chưa biết Chúa cũng như chưa được nghe Tin Mừng cứu độ của Người. Thật vô cùng cần thiết cho hết mọi người, mọi dân tộc trên khắp thế giới được nghe và sống Tin Mừng đó hầu được cứu rỗi vì Thiên Chúa"Đấng cứu độ chúng ta: Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" ( 1 Tm 2:4)

Sứ mạng phúc âm hóa thế giới không chỉ được rao phó riêng cho hàng Giáo Phẩm, giáo sĩ , tu sĩ mà còn là trách nhiệm chung của mọi người tín hữu đã nhận lãnh Phép Rửa và gia nhập Giáo Hội của Chúa. Nói rõ hơn, tất cả mọi thành viên trong Giáo Hội gồm giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân – tuy khác nhau về địa vị và trách nhiệm- nhưng đều có chung sứ mang loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho những ai chưa biết Chúa và nghe Phúc Âm của Người. Hàng giáo sĩ , tu sĩ thi hành sứ mạng này bằng việc rao giảng Phúc Âm của Chúa trong phạm vi thánh đường ( các linh mục Dòng nay đang phải coi sóc nhiều giáo xứ vì thiếu linh mục Triều hay giáo phận) và bằng đời sống chứng tá phản ảnh trung thực những giá trị của Phúc Âm trước mặt người đời. Người giáo dân, ngược lại, rao giảng Tin Mừng của Chúa bằng chính đời sống của mình trong khi làm việc hay sống chung với những người khác ở nhiều môi trường khác nhau.

Chính đời sống Kitô hữu phản ảnh trung thực những chân lý và giá trị của Phúc Âm như công bình , bác ái, yêu thương, thánh thiện, tôn trọng sự sống, đề cao sự thật, nhất là xa tránh mọi thói hư tật xấu của thế gian đang chìm sâu trong văn hóa của sự chết, sẽ có sức thuyết phục người khác nhận biết Chúa Kitô đang hiện diện nơi người chứng tá để mời gọi họ tin yêu Chúa như mình để cùng được hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa. Và để đạt mục đích đó, tất cả mọi thành viên của Giáo Hội đều được mong đợi phúc âm hóa bản thân và môi trường sống bằng chính đời sống chứng tá của mình để mời gọi người khác tin và yêu mến Chúa để được hưởng ơn cứu độ của Người

Chúa Kitô không những rao giảng, dạy dỗ chân lý, mà còn thiết lập các bí tích làm phương tiện cứu rỗi cần thiết cho những ai muốn lãnh ơn cứu chuộc của Chúa.

Thật vậy, trước hết, Chúa đã nói đến tầm quan trọng của bí tích Thánh Tẩy hay Rửa tội trong Tin Mừng Marcô và Gioan như sau :

" Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ ; còn ai không tin sẽ bị luận phạt ."( Mk 16: 16)

Hoặc :

" Không ai có thể được vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và

Thần Khí" ( Ga 3: 5)

Trước khi về Trời, Chúa đã ăn cần căn dặn các Tông Đồ như sau :

" Anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần..." ( Mt 28 : 19)

Như thể, đủ chứng minh rằng Bí Tích Rửa Tội là điều kiện tiên quyết để được cứu độ, vì tội nguyên tổ đã cắt đứt tình thân giữa Thiên Chúa và loài người. và đã "mang sự chết vào trần gian, vì một người đã phạm tội"như Thánh Phaolô đã dạy. ( Rm 5 :12).

Nhưng vì Thiên Chúa là Cha rất nhân từ và đầy lòng xót thương , cho nên dù :

" Người nổi giận, giận trong giây lát,

nhưng yêu thương, thương suốt cả đời.:( Tv 30 : 6)

Chính vì yêu thương và muốn tha thứ nên Thiên Chúa đã sai Con Một là Chúa Kitô xuống trần gian làm Con Người để " cứu cái gì đã hư mất." ( Mt 18:11)

Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu thực vô giá và đủ cho những ai muốn hưởng nhờ. Nhưng điều kiện trước tiên để được cứu rỗi là phải được tái sinh qua Phép Rửa như đã nói ở trên.

Vì tầm quan trọng của bí tích này nên, trước khi rửa tội cho ai ( người lớn) thì phải dạy cho họ biết mục đích và công dụng của bí tích này.Nghĩa là không thể đổ nước lên đầu là xong việc.Ngược lại, phải dạy cho người muốn lãnh bí tích này hiểu rõ vì sao cần được rửa tội để thay đổi con người cũ và trở thành tạo vật mới, " mặc lấy Chúa Kitô để bắt đầu một hành trình mới đưa đến ơn cứu độ.Nói rõ hơn, không phải rửa tội xong là đủ, không cần phải làm gì nữa.Trái lại, rửa tội mới là bước khởi đầu cần thiết cho một tiến trình đổi mới hay hoán cải ( conversion process) để đoạn tuyệt với con người cũ sinh ra trong tội và bắt đầu một đời sống mới theo Trần Khí hầu trở nên hoàn thiện như mục đích của Phép Rửa.

Tiến trình đó đòi hỏi người đã được rửa tội phải quyết tâm yêu mến Chúa và xa tránh mọi tội lỗi vì phép rửa không tiêu diệt hết mọi mầm mống của tội cũng như không thay đổi hoàn toàn nhân tính để con người trở nên giống các Thiên Thần ngay trên trần thế này.

Ngược lại, vì hậu quả của tội nguyên tổ, con người vẫn hoàn toàn yếu đuối trong nhân tính, dễ nghiêng chiều về đường xấu và khó đứng vững trước mọi cảm dỗ của ma quỉ ví như " Sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." ( 1 Pr 5: 8) cùng với gương xấu và dịp tội đầy rẫy trong trần gian để lôi kéo con người vào con đương hư mất đời đời.

Do đó, nếu con người không cộng tác với ơn Chúa để cương quyết sống theo đường lối của Người và xa tránh tội lỗi thì ơn phép rửa , ơn tái sinh sẽ trở nên vô ích.Và Chúa cũng không thể cứu ai không có thiện chí bước đi theo Người và cương quyết xa tránh mọi quyến rũ của ma quí, thế gian và xác thịt là nhưng cản trở và hiểm nguy lớn lao cho con người muốn hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Cũng vì biết con người còn yếu đuối, khó đứng ững trước mọi thách đố và dịp tội, nên Chúa Kitô đã dự liệu sẵn những phương thế hữu hiệu là các bí tích để giúp con người chống đỡ và lấy lại tình thân với Chúa sau khi đã lỗi phạm tội nào vì yếu đuối của nhân tính và vì mưu chước thâm độc của ma quỉ cộng với gương xấu, dịp tội của thế gian hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ vật chất và nếp sống yêu chuộng mọi lạc thú vô luân vô đạo, như thực trạng con người ngày nay ở khắp mọi nơi. Người ta đang chối bỏ Thiên Chúa , khinh chê mọi giá tri tinh thần, luân lý và đạo đức là những căn bản để phân biệt con người có lương tri với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn.

Những bí tích mà Chúa ban cho Giáo Hội là những phương tiện cứu độ rất hữu hiệu và cần thiết cho những ai muốn được vào Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình đức tin một cách trung thực và can đảm trên trần thế này.

Thật vậy, với bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được rửa sạch một lần hậu quả của tội nguyên tổ và mọi tội cá nhân. Bí tích Thêm sức cho ta tri hiểu, sức mạnh và ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần để sống nhân chứng cho Chúa Kitô trong trần thế cũng như có sức để chống lại mọi nguy cơ cám dỗ của xác thịt, ma quỉ và thế gian. Bí Tích Thánh Thể không những cho ta của ăn thiêng liêng cần thiết trên đường tiến về quê trời với bao khó khăn và thách đố, mà quan trọng hơn nữa, bí tích Thánh thể còn làm sống lại cách bí nhiệm hy tế thập giá của Chúa Kitô xưa kia , vì " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ , nhờ đó "Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chiu hiến tế'' ( 1 Cor 5, 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( x.Lumen Gentium số 3).

Nghĩa là Thánh Lễ Tạ Ơn ngày nay diễn lại cách mầu nhiệm Hy Tế thập giá mà Chúa Kitô đã một lần dâng lên Chúa Cha trên núi Sọ năm xưa để đền tội thay cho nhân loại nhờ Chúa hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, như Giáo Hội tuyên xưng mỗi khi của hành Bí Tích Thánh Thể tức Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) để xin ơn cứu độ cho chúng ta ngày nay cùng thể thức mà ơn này được ban cho nhân loại lần đầu nhờ Hy tế Chúa Kitô hiến dâng một lần xưa kia trên thập giá.

Như thế, có thể nói Bí Tích Thánh Thể là Bí tích cứu độ mà Chúa Kitô đã thiết lập để tiếp tục ban ơn cứu chuộc của Người cho đến ngày mãn thời gian.Do đó, chúng ta được khuyến khích siêng năng tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Chúa Kitô là của ăn nuôi linh hồn ta và cho ta được sống đời đời vì " ai ăn thịt Ta và uống Máu ta thì được sống muôn đời và Ta sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết." như lời Chúa hứa ban( Ga 6 :54)

Tóm lại các bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể và Hòa giải là những bí tích tối cần cho ta được cứu rỗi và bảo đảm ơn cứu rỗi đó bao lâu còn lữ hành trên trần thế này. Các bí tích khác như sức dầu, Truyền Chức Thánh và Hôn phối là những bí tích giúp con người cộng tác với Chúa trong chương trình sáng tạo, ( bí tích hôn phối) tức là làm tăng số con cái Chúa trên trần gian này, cũng như chuẩn bị cho ta lìa đời trong ơn nghĩa Chúa ( bí tích sức dầu) .Sau hết, bí tích Truyền Chức Thánh dành cho một thiểu số người được ơn gọi đi rao giảng Lời Chúa và phục vụ cho những lợi ích thiêng liêng của dân Chúa ví như đàn chiên được trao phó cho các mục tử chăn nuôi và dẫn đưa về "Chuồng chiên mà Chúa Kitô là cửa vào duy nhất và cần thiết."( cf LG ,no.6)

Mặt khác, bí tích truyền chức thánh cũng được lập ra để phục vụ cách riêng cho bí tích Thánh Thể, là bí tích làm sống lại Hy Tế thập giá của Chúa Kitô xưa trên bàn thờ ngày nay mỗi khi Thánh lễ tạ ơn được cử hành như đã nói ở trên.Ngoài ra, Bí tích truyền chức thánh cũng được lập ra để phục vụ cho các bí tích thêm sức, hòa giải và sức dầu, vì các bí tích này đòi hỏi thừa tác viên phải có chức linh mục, là một trong ba chức thánh của Bí Tích Truyền Chức Thánh. Hai chức thánh kia là chức Phó Tế và Giám mục.

Chúng ta cảm tạ Chúa đã ban các bí tích như phương tiện hữu hiệu để giúp ta sống trong ơn nghĩa Chúa để nhiên hậu được cứu độ như lòng Chúa mong muốn cho mọi con cái loài người.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 7 = TOI: THUC THE VA HAU QUA PDF Print E-mail

                                      TỘI: THỰC THỂ và HẬU QỦA

Hỏi:  Nhân mùa chay tưởng niệm Chúa chịu khổ hình thập giá để đền tội thay cho nhân loại , xin cha giải thích rõ tội là gì, thực sự có tội đối với Chúa là Đấng giầu tình thương, quá nhân từ hay không?

Trả Lời : Thực trạng của thế giới ngày nay cho thấy quá nhiều người đã mất hết ý thức về tội, về sự xấu, sự dữ (sins, evils). Vì thế người ta đã cho phép mình làm những việc mà thực chất là sai trái về mặt đạo đức, luân lý. Thí dụ, người ta đã lấy lý do tôn trọng quyền quyết định của phụ nữ (pro-choice) mà cho phép hay ủng hộ việc phá thai, ngay cả trường hợp bào thai đã lớn 5, 6 tháng trong lòng mẹ (partial abortion); cũng như không biết hổ thẹn khi hai người cùng phái (same sex) dẫn nhau ra toà làm hôn thú và hôn nhau trước ống kính của TV, báo chí..! Bọn tài phiệt khắp nơi mặc sức tiến hành mọi thủ đoạn gian manh, quỷ quyệt để vơ vét của cải, làm giầu bất chấp lương tri và mọi ý thức đạo đức, công bằng.....Cũng vì tham tiền, coi nhẹ lương tâm và đạo lý, mà rất nhiều người đã và đang đầu tư khai thác kỹ nghệ cờ bạc, mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, kể cả mãi dâm con nít (child prostitution) rất đáng ghê tởm và phải lên án. Chưa kể những đàn ông đã ngoài 70 tuổi , còn bỏ hoặc ly dị vợ già để về ViệtNam cưới hay lừa gạt các cô gái trẻ đáng tuổi con cháu mình, mặc cho dư luận chê cười phỉ nhổ !

Mặt khác, lại có những người quá lạc quan cho rằng Thiên Chúa là tình thương, giầu lòng từ bi, khoan dung nên Ngài không để ý hay không chấp điều gọi là "tội lỗi" của con người! Có chăng chỉ có những nhà đạo đức, luân lý và đặc biệt các tôn giáo đã quá đặt nặng vấn đề tội để đe dọa và làm mất "tự do" của con người mà thôi!

Chúng ta phải nghĩ thế nào cho đúng trước thực trạng này?

Là người tín hữu, trước hết, chúng ta phải dựa vào những giáo huấn của Giáo Hội và nhất là lời Chúa trong Kinh Thánh để hướng dẫn lương tâm và hành động của chúng ta trong vấn đề rất quan trọng này.

I- Nguồn gốc của tội:

Thánh Phaolô đã nói rõ nguyên nhân của tội như sau :

"Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian,và tội gây nên sự chết; như thế sự chết đã lan tràn đến mọi người, bởi vì một người đã phạm tội." (Rm 5:12)

Đây chính là tội của nguyên tổ loài người mà "mặc khải đã cho chúng ta niềm tin chắc chắn là toàn thể lịch sử nhân loại đã được đánh dấu bằng lỗi nguyên thủy do tổ phụ loài người đã tự do mắc phạm." SGLGHCG, số 390)

Giáo Hội định nghĩa tội là "sự xúc phạm chống lại Thiên Chúa, nên chỉ một mình Ngài có thể tha tội" (Sđd,số 431).

Ngoài tội của Nguyên Tổ nói trên, con người còn tự do phạm biết bao tội của riêng mình nữa .Thực tế này đã được Thánh Gio-an nói rõ như sau:

"Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội : chúng ta tự lừa dối mình. Và sự thật không ở trong chúng ta, Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi với Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính; Sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính." (1Ga 1:8-9)

Tác giả Thánh Vịnh 51 cũng nhìn nhận tội lỗi của mình như sau:

"Vâng con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm;

Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa.....(Tv 51: 5-6)

Hơn thế nữa, chính Chúa Giêsu cũng đã hứa sai Chúa Thánh Thần đến để chứng minh thế gian có tội:

"Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi,về sự công chính và việc xét xử." (Ga 16:8).

Như vậy, chúng ta không còn gì phải nghi ngờ, thắc mắc về thực thể tội lỗi của nhân loại trong trần gian này. Nghĩa là không phải các tôn giáo nói chung và Giáo Hội Công Giáo nói riêng đã "quá thổi phồng " thực trạng này để đòi hỏi người ta phải xa tránh hoặc sửa đổi.

Ngược lại, đây là một vấn đề rất nghiêm trọng có liên hệ trực tiếp đến sự cứu rỗi nhân loại mà Chúa Kitô đã phải trả giá đắt bằng chính mạng sống của mình trên thập giá xưa kia. Nói khác đi, chính tội lỗi nhân loại đã đóng đanh Chúa Giêsu vào thập giá, khiến Ngài đã phải chết để cứu chuộc cho con người, như Thánh Phaolô đã nói rõ: "Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là Đức Kitô đã chết vì tội chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh." (1 Cor 15 :3). Vì thế, thật cần thiết phải ý thức sâu xa về nguy hại của tội lỗi và quyết tâm xa tránh sự dữ này nếu ai muốn được hưởng công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô để được sống hạnh phúc đời đời trong Nước Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình thường và hay tha thứ. Đúng! Nhưng đố ai tìm được ở đâu Chúa đã nói: các con đừng lo lắng, bận tâm gì về những việc mình làm bây giờ. Cứ vui chơi thoả thích bao nhiêu tùy ý rồi mai sau Cha sẽ cho tất cả vào Thiên Đàng hưởng phúc trường sinh vì Cha là tình thương vô biên.."!

Ngược lại, chúng ta đọc thấy lời cảnh cáo nghiêm khắc sau đây của Chúa Giêsu:

"Khốn cho thế gian vì làm cớ cho người ta sa ngã. Tất nhiên phải có những

Cớ gây sa ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta sa ngã.

Nếu tay hoặc chân ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã thì hãy chặt mà ném đi;

Thà cụt tay chân mà được vào cõi sống còn hơn có đủ hai tay hai chân mà

bị ném vào lửa đời đời.." (Mt 18:7-8)

Như vậy, có thực thể (entity) tội lỗi và nguy cơ phạm tội trong trần gian này đe doa nghiêm trọng cho những ai muốn được sống hạnh phúc vĩnh cữu trong Nước Thiên Chúa.

II- Phân loại tội:

1- Tội tổ tông (orginal sin) liên quan đến sự sa ngã của Nguyên Tổ loài người như ta đọc thấy trong Sáng Thế Ký 3, và được giải thích trong Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo. (SGLGHCG, số 387- 390)

2- Tội cá nhân (personal sins): tức mọi tôi người ta đã phạm khi sử dụng ý chí tự do (free will) và cũng vì bản chất yêú đuối khi sống trong những hoàn cảnh dễ sa ngã bởi gương xấu và cám dỗ của ma quỉ. Các tội cá nhân này có hai mức nặng và nhẹ, và bao gồm tất cả những gì con người lỗi phạm trong tư tưởng, lời nói và hành động nghịch với tình thương và sự thiện hảo của Thiên Chúa là Chân Thiện Mỹ tuyệt đối.

Cụ thể :

a- về mặt cá nhân: đó là những tội nghịch các giới răn của Chúa về yêu thương, công bằng và thánh thiện như trộm cắp, cờ bạc, lường gạt, gian tham, thù oán, vu cáo, nói xấu, giết người, ngoại tình, dâm ô, ham mê tiền của và tôn thờ vui thú vật chất phi nhân ,phi nghĩa v,v

b- về mặt tập thể hay xã hội, Giáo Hội, quốc gia, quốc tế: đó là tội buôn thần bán thánh (simonia) và chạy theo thế quyền để mưu danh lợi, chức quyền. Đó là những bất công xã hội, tạo gương xấu hay dung dưỡng cho những sự dữ hoành hành. Cụ thể như phân chia gia cấp để cai trị và hưởng thụ, bóc lột người khác, cho phép mở sòng bạc, buôn bán phim ảnh khiêu dâm, mãi dâm, buôn bán phụ nữ như tệ trạng "hôn nhân ngoại quốc" đang ồn ào diễn ra ở Việt Nam nghèo đói hiện nay. Đó là tội của các tập đoàn tài phiệt cấu kết với giới cầm quyền để thao túng mọi hoạt động kính tế, doanh nghiệp và thương mại để vơ vết của cải, bất chấp hậu quả nghèo đói cùng khổ của biết bao người lao động, công nhân ở khắp nơi. Đặc biệt, đó là tội của các quốc gia giầu có nhưng không muốn chia sẻ và giúp các nuớc nghèo vươn lên thoát khỏi thảm cảnh nghèo nàn, lạc hâu. Đó cũng là tội rất lớn của các nước lớn, nước mạnh tự cho mình quyền võ trang, quyền có võ khí giết người hàng loạt nhưng lại nhân danh công lý một chiêù, đạo đức giả hiệu để đem quân đánh và ngăn cấm các quốc gia khác không được võ trang, dù để tự vệ! Đặc biệt, đó là tội lớn của những quân " khủng bố" nhân danh tôn giáo để giết hại những ai không về phe hay tán thành chủ tâm gây tội ác của chúng ở khắp nơi trên thế giới. Đó cũng là tội của những chế độ, hay cá nhân độc tài lâu năm cai trị người dân không may lọt vào ách thống trị hà khắc của chúng , thách đố luơng tâm nhân loại về quyền sống và tự do chân chính của con người, dù không cùng chung ý thức hệ. Sau hết, đó là tội dửng dưng, làm ngơ của cộng đồng thế giới trước nạn nghèo đói, bị bách hại của nhiều dân tộc trên thế giới.

Tóm lại, tội lỗi là một thực tế không ai chối cãi được trong đời sống cá nhân và cộng đồng.

Sự dữ này đang xô nhanh con người xuống hố tự tiêu diệt vì quá nhiều người đã mất hết ý thức về ác tính và hậu quả khốc hại của nó.

Trong niềm tin có Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, thì tội là cản trở duy nhất cho con người muốn sống tình thân và hạnh phúc với Chúa ngay trong cuộc sống này trước khi được huởng Nhan Thánh Ngài trong cõi vĩnh hằng.

Thiên Chúa giầu tình thương và tha thứ. Nhưng Chúa chê ghét mọi tội lỗi vì nó đi ngược với bản chất thiện hảo của Người. Tuy nhiên, Chúa lại yêu thương kẻ có tội biết ăn năn sám hối và muốn xin tha thứ, vì lòng nhân hậu của Người vẫn lớn hơn mọi tội lỗi của con người.

Nhưng chúng ta phải tránh hai cực đoan sau đây:

Một là ỷ lại hay cố tình lợi dụng tình thương, tha thứ của Chúa để đi hàng hai, cứ phạm tội, cứ làm sự dữ rồi mong được tha thứ. Ai có thái độ này, hãy nghe lời Chúa cảnh cáo sau đây:

"Ta biết việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng.

Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi.

Nhưng vì ngươi hâm hâm, chẳng nóng chẳng lạnh

Nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." (Kh 3: 15-16)

Hai là quá thất vọng hoặc khước từ hoàn toàn tình thương của Chúa để không còn muốn xin tha thứ nữa.Đó là trường hợp của Judas Escariot, người môn đệ đã bán Chúa và thất vọng đi treo cổ tự tử sau đó.

Đây chính là tội phạm đến Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã nói rõ là không thể tha thứ được, vì không còn tin tưởng gì nơi lòng xót thương của Chúa để xin Người tha thứ. ( x. Mt 12 :32; Mc 3: 29; SGLGHCG, số 1864)

Ước mong mọi người chúng ta ý thức sâu xa về thực thể tội lỗi này và cố gắng xa tránh để được sống với Chúa là cội nguồn mọi hạnh phúc, vui sướng vĩnh cữu.

LM.Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 6 = GIUĐA-PHERO-TRÔM LANH DẠY BAI HOC GI? PDF Print E-mail

HOC GIUĐA PHẢN BỘI , PHÊRÔ CHỐI THẦY và NGƯỜI TRỘM LÀNH DẠY CHO CHÚNG TA NHỮNG BÀI HỌC GÌ ?

Hỏi: Nhân Mùa Chay, xin cha giải thích ý nghĩa việc Giuđa phản bội, người trộm lành sám hối và Phêrô chối Chúa như được ghi lại trong trong các Tin Mừng.

Trả lời: Mùa chay là thời điểm thuận lợi nhất để Giáo Hội mời gọi con cái mình suy niệm sâu xa hơn nữa về tình thương bao la của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi đau khổ, sỉ nhục và chết trên thập giá để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội và có hy vọng được sống hạnh phúc muôn đời với Thiên Chúa trên Nước Trời .

Mùa chay cũng là mùa sám hối, thúc dục mọi tín hữu nhìn nhận tội lỗi đã phạm để xin Chúa nhân lành khoan dung thứ tha vì Người "muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý". ( 1Tm 2:4)

Thiên Chúa là Cha rất nhân lành..Người "chậm giận và giầu tình thương". Vì thế, ai có lòng trông cậy và kêu xin thì dù cho tội lỗi đến đâu cũng sẽ được tha thứ.Chỉ có sự tuyệt vọng, không còn muốn xin Chúa thương xót tha thứ nữa mới làm bế tắc tình thương bao la của Thiên Chúa cho con người mà thôi

Sau đây là nhũng bài học ta có thể rút ra từ việc Phêrô chối Thầy, Giuđa bán Chúa và người trộm lành sám hối.

Tin Mừng Matthêu, Marcô, Luca và Gioan đều ghi lai sự kiên Phêrô chối Thầy, Giuđa Ít-ca-ri-ốt , một trong 12 môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu đã phản bội Thầy, bán Thầy và tuyệt vọng đến mức treo cổ tự tử sau đó. (Mt 27: 5)

Riêng Tin Mừng Luca ghi lại sự kiên "Người gian phi sám hối và được vào Thiên Đàng với Chúa Giêsu".

1- Trường hợp của Giuda

Giuđa tượng trưng cho lớp người quá say mê của cải vật chất ở đời này đến mức quên tình quên nghĩa để phản bội người khác, kể cả ân nhân. Giuđa là một trong Nhóm 12 Tông Đồ nòng cốt mà Chúa Giêsu đã chọn lựa cho tham gia vào sứ vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa từ lúc ban đầu. Giuđa đã được diễm phúc sống bên Chúa suốt 3 năm, đã được trực tiếp nghe lời giảng dạy của Chúa về Nước Trời, về tinh thần khó nghèo cũng như chứng kiến tận mắt đời sống khó nghèo của Chúa ở mứcỗ tựa "con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có ch đầu." (Mt 8: 20). Vậy mà Giuđa đã không được cảm hóa theo gương khó nghèo của Chúa. Vì thế Giuda đã cam tâm bán Chúa lấy 30 đồng bạc. Nhưng khi chứng kiến cảnh Thầy mình bị bắt và bị đánh đập tàn nhẫn, Giuđa đã hối hận đem tiền trả lại bọn thượng tế và kỳ mục Do Thái rồi đi thắt cổ chết. Hắn tự tử vì quá tuyệt vọng, không còn tin tưởng gì vào lòng xót thương, tha thứ của Chúa nữa. Đây là điều rất đáng buồn cho anh ta và là gương xấu cho người khác.

Thật vậy, Giuđa đã trở thành gương xấu không những vì tham mê tiền của, phản bội mà nhất là tuyệt vọng về lòng xót thương của Chúa. Đây là điều đáng nói nhất về người môn đệ phản bội này, vì y đã mất hết niềm tin vào Thiên Chúa nhân lành, sẵn lòng tha thứ hết mọi tội lỗi của con người trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội tuyệt vọng không còn tin tưởng gì vào lòng xót thương tha thứ của Chúa nữa.Giuđa đã phạm tội này khi tự tử chết.

Chúa Giêsu đã than thở như sau về sự phản bội của Giuđa:

"...Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời Kinh Thánh" ( Ga 17: 12)

lại nữa:

"...đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn" (Mt 26: 24; Mc 14: 21)

Dầu vậy, Giáo Hội cũng không dám kết luận chắc chắn về số phận đời đời của Giuđa. Việc này chỉ có một mình Thiên Chúa biết vì Người đã phán đoán Giuđa theo lượng từ bi và công bằng của Người.

Ngược lại , Giáo Hội chỉ lưu ý con cái mình về gương xấu của Giuđa mà thôi. Gương xấu vì Giuđa đã mê tiền của hơn yêu mến Thầy, nên đã phản bội Thầy khi bán Người lấy 30 đồng bạc của các Thượng Tế và kỳ mục Do Thái. Nhưng điều đáng nói nhất về Giuđa là sự tuyệt vọng của anh, khi không còn muốn sám hối để xin Chúa tha thứ nữa, để rồi đi treo cổ tự tử (cf. Mt 27:5). Đây là gương xấu mà mọi tín hữu phải xa tránh vì thực chất của nó là mất hết hy vọng vào lòng thương xót của Chúa, là Cha nhân từ luôn sẵn lòng tha thứ cho kẻ có tội biết sám hối và xin tha thứ.

2- Phêrô chối Chúa

Ngược lại với Giuđa là kẻ nêu gương xấu về tham tiền và tuyệt vọng, Phêrô lại dạy cho chúng ta bài học quý giá về lòng ăn năn sám hối.

Phêrô cũng có khuyết điểm là quá tự tin nơi mình khi tuyên bố lúc ban chiều trước khi Chúa Giêsu bị bắt: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy." ( Mt 26:35)

Nhưng đúng như lời Chúa đã nói trước là đêm đó gà chưa gáy sáng thì Phêrô đã chối Chúa ba lần. Nhưng chối xong và nhớ lại lời Chúa đã nói trước, Phêrô "ra ngoài khóc lóc thảm thiết" (cf. Mt 26: 75, ; Lc 22: 62). Ông khóc vì ăn năn hối hận đã hèn nhát chối Thầy trước những kẻ bắt bớ và hành hạ Người cách tàn nhẫn. Chính vì thật sự thống hối ăn năn mà Chúa đã tha cho Phêrô tội công khai chối Chúa và còn tín nhiệm trao phó cho Phêrô sứ mệnh "chăn dắt chiên con và chiên mẹ của Thầy" ( Ga 21: 15-16).

Như thế đủ cho ta thấy là dù tội lỗi con người có nặng đến đâu, nhưng nếu biết sám hối và chạy đến với lòng thương xót vô biên của Chúa thì chắc chắn sẽ được tha thứ và nối lại tình thân với Người, sau khi đã lỡ sa ngã vì yêu đuối của nhân tính do hậu quả của tội nguyên tổ còn để lại.

3- Người gian phi sám hối (Lc 23 : 40-42)

Tin Mừng Luca kể rõ hai tên gian phi cùng chịu đóng đanh với Chúa Giêsu, một đứa bên phải, một đứa bên trái, trong khi Matthêu nói đó là hai tên cướp ( Mt 27: 38). Chúng bị đóng đinh vì tội trôm cướp, và một trong hai tên gian phi này đã nhận biết tội của mình nên xin cùng Chúa Giêsu rằng: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của Ông xin nhớ đên tôi. Và Người nói với anh ta: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." (Lc 42-43)

Như thế, chỉ có lòng ăn năn sám hội thực sự là đáng kể vì là điều đẹp lòng Chúa, và Người sẽ tha hết mọi tội lỗi cho những ai nhận biết mình có tội và xin Chúa thứ tha. Người gian phi sám hối hay còn được gọi là "kẻ trộm lành" đã vào Thiên Đàng bằng đường tắt nhanh chóng chỉ vì biết ăn năn sám hối và chạy đến với lòng thương xót vô biên của Chúa để xin tha thứ.

Người trộm lành này đã từng đi đàng tội lỗi không biết là bao nhiêu năm, nên bị đóng đanh vì những trọng tội mà xã hội Do Thái phải trừng phạt bằng cực hình đóng đanh. Nhưng Chúa đã tha thứ cho anh mọi tội, từ tội nguyên tổ cho đến mọi tội cá nhân anh đã phạm cho đến ngày bị đóng đanh chung với Chúa, là Người lành vô tội, nhưng đã cam lòng chiu khổ hình thập giá để đền thay cho nhân loại đáng phải phạt vì tội.

Dĩ nhiên chúng ta không thể bắt chước "người trộm lành" bằng cách cứ sống tội lỗi rồi cuối cùng sám hối xin Chúa tha thứ để được vào Nước Trời. Ta chỉ có thể noi gương tốt của anh về lòng sám hối và tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa để xin Người tha thứ mọi tội cho ta đã lỡ sa phạm vì yếu đuối của bản chất và vì ma quỉ cám dỗ. Nhưng ta không thể bắt chước anh ta làm những việc sai trái hay đối nghịch với tình thương, sự thánh thiện và công bằng của Chúa để chờ xin tha thứ vào phút chót. Không ai có thể biết ngày giờ nào mình phải ra đi, nên không thể liều mình sống trong tội chờ ngày sám hối được. Cố ý sống như vậy là lợi dụng lòng thương xót, tha thứ của Chúa. Và nếu ai cố ý liều lĩnh như vậy thì hãy nghe lời Chúa cảnh cáo nghiêm khắc sau đây:

"Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn đi, nhưng vì người hâm hâm, chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." (Kh 3: 15-16)

Tóm lại, điều thiết yếu là ta phải cố gắng xa tránh mọi tội lỗi vì chỉ có tội là cản trở duy nhất cho ta sống đẹp lòng Chúa mỗi giây phút của đời mình trên trần thế này. Tuy nhiên, vì bản chất yếu đuối do hậu quả của tội Nguyên tổ, nhất là vì ma quỉ luôn rình rập để lôi kéo ta vào vòng tội lỗi, nên cần thiết cho ta phải xin ơn Chúa giúp sức để có thể đứng vững, sống theo đường lỗi của Chúa để được an vui ngay trên đời này trước khi được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 81 82 83 84 85 86 87 88 89 90 Next > End >>

Page 89 of 90