mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4527
mod_vvisit_counterHôm Qua9174
mod_vvisit_counterTuần Này4527
mod_vvisit_counterTuần Trước55111
mod_vvisit_counterTháng Này198717
mod_vvisit_counterTháng Trước231247
mod_vvisit_counterTất cả8235861

We have: 90 guests online
Your IP: 54.146.41.3
 , 
Today: Apr 30, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 308= ON TOAN XA - DAI XA PDF Print E-mail

ƠN TOÀN XÁ, HAY ĐẠI XÁ LÀ ƠN GÌ ?
Hỏi :
Nhân tháng cầu cho các linh hồn (tháng 11), Xin Cha giải thích rõ về ơn toàn xá
được hưởng để giúp các linh hồn còn đang được tinh luyện trong luyện tội.
Trả lời :

Nhưng trước khi trả lời câu hỏi trên, tôi cần nói lại một lần nữa giáo lý của Giáo Hội về
vấn đề tha tội và đền tội như sau:
1- Theo giáo lý của Giáo Hội, thì sau khi các tội đã được tha qua bí tích hoà giải, hối
nhân phải làm một việc gọi là "đền tội (penance)" để sữa chữa những xáo trộn
của tội đã được tha nhưng hậu quả còn để lại trong trong tâm hồn hối nhân. Vì
thế, những hậu quả này cần được thanh tẩy cho sạch để được vào Thiên Đàng
( đối với các linh hồn còn trong Luyện tội) (x. SGLCG, số 1459).
Các linh hồn này đang cần sự giúp đỡ của những người còn sống làm việc lành
cầu nguyện cho để được mau chóng vào hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên
Đàng. Một việc lành có giá trị tha hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) là ơn
toàn xá mà Giáo Hội ban trong những dịp đặc biệt như Năm Thánh để các tín hữu
còn sống lãnh nhận và nhường lại cho các linh hồn đang còn được thanh luyện
trong nơi gọi là Luyện tội, hay Luyện ngục ( Purgatory).
Năm Thánh lòng thương xót Chúa được mở ra trong Giáo Hội từ ngày 8-12-2015
Và sẽ chấm dứt ngày 20 tháng 11 năm nay, tức là còn gần 3 tuần nữa để giáo dân
làm các việc lành qui định trong đó có việc viếng một nhà thờ được giáo quyền
địa phương chỉ định để được hưởng ơn toàn xá cho mình hay nhường lại cho các
linh hồn trong luyện tội.
Các linh hồn thánh ở luyện tội là những người đã ly trần trong ơn nghĩa Chúa,
nhưng chưa thánh thiện đủ để vào ngay Thiên Đàng sau khi chết nên cần " tạm
trú" ở nơi đây một thời gian dài ngắn tùy theo mức hoàn hảo đòi hỏi.
Các linh hồn này đã hết thời giờ làm việc lành rồi, nên chỉ còn nhờ cậy các Thánh
trên Thiên Đàng nguyện giúp cầu thay cho, cũng như trông chờ thân nhân còn
sống cứu giúp bằng những việc lành như cầu nguyện, xin dâng Thánh Lễ hay lãnh
ơn xá để giúp cho họ được mau gia nhập hàng ngũ các Thánh đang vui hưởng
Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng. Tuy không còn thì giờ để làm việc lành cho
mình nữa, nhưng các linh hồn ở luyện ngục có thể cầu xin đắc lực cho các tín hữu
còn sống trên trần gian. Đó là nội dung tín điều các thánh thông công nói về sự
hiệp thông giữa các Thánh trên Thiên Đàng, các linh hồn thánh trong Luyện tội
và các tín hữu còn sống trên trần gian.
Các Thánh trên trời không cần ai giúp mình nữa vì đã thánh thiện đủ để đang
được hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng. Nhưng các Thánh có thề cứu
giúp hữu hiệu cho các linh hồn còn trong Luyện tội và cho các tín hữu còn sống
trên dương thế. Cứu giúp bằng lời nguyện giúp cầu thay trước Tòa Chúa cho các
1
linh hồn và các tín hữu còn sống. Các linh hồn còn trong Luyện nguc không thể
tự giúp mình được nữa, nên chỉ còn trông cậy vào các Thánh trên Trời và các tín
hữu còn sống giúp họ bằng lời cầu nguyện và việc lành dành cho họ mà thôi.
Các tín hữu còn sống có lợi điểm là còn thì giờ để lập công đền tội cho mình , và
cứu giúp các linh hồn thánh trong Luyện tội.
Như thế, chung qui chỉ vì tội mà con người phải xa tránh để sống đẹp lòng Chúa
ngay ở đời này và được cứu rỗi để vào Nước Trời mai sau.
Nói đến tội, thì tội nào cũng có thể được tha qua bí tích hòa giải , trừ tội phạm đến Đức
Chúa Thánh Thần, tức tội chối bỏ Thiên Chúa hoàn toàn thì không thể tha được như Chúa
Giêsu đã nói rõ trong Phúc Âm Thánh Marc-cô (Mc.3: 28-29).
Được tha qua ơn phép giải tội (absolution), nhưng mọi tội trọng hay nhẹ đều để lại
những hậu quả lớn nhỏ trong tâm hồn hối nhân cũng như trong tương quan với người
khác, nên cần được sửa chữa sau khi xưng tội. Thí dụ, tội lỗi phép công bằng (ăn cắp
tiền, tài sản của người khác, vu cáo làm thiệt hại danh dự, đời tư của ai ) đòi buộc hối
nhân phải đền bù thiệt hại tương xứng về vật chất hay tinh thần cho người mình đã làm
thiệt hại nhiều hay ít. Cụ thể, ăn cấp tiền bạc hay tài sản của ai thì không thể đọc năm ba
kinh hay lần chuỗi 50 để đền tội được, mà phải hoàn trả cho người ta số tiền mình đã
lấy vì phép công bằng giao hoán đòi buộc. Lại nữa, công khai mạ lỵ ai, thì cũng phải
công khai nhận lỗi và xin lỗi cá nhân hay tập thể mình đã xúc phạm chứ không thể âm
thầm đọc vài kinh đền tội là xong. Các tội khác như bỏ lễ ngày Chúa Nhật hoặc lễ
trọng, giận hờn, nói tục , phạm tội lỗi điều răn thứ sáu, thứ chín, v.v thì có thể làm
những việc đền tội cách kín đáo hơn do cha giải tội giao. Đó là tất cả ý nghĩa của việc
"đền tội" đòi hối nhân phải thi hành sau khi đã thành thật xưng các tội nặng nhẹ mình
lỡ phạm vì cố ý hay vì yếu đuối con người và được tha qua bí tích hòa giải.
Mục đích của việc đền tội này là để được tha hình phạt hữu hạn (temporal punishment)
tức là để sửa chữa những hậu quả của tội đã để lại trong tâm hồn hối nhân như đã nói ở
trên. Hình phạt này khác với hình phạt đời đời (eternal punishment) dành cho những ai
chết khi đang mắc tội trọng (mortal sin) mà không kịp ăn năn hay không muốn ăn năn
để xin Chúa thứ tha.( x. SGLCG,số 1033, 1472).Hoặc những ai đã chối bỏ Thiên Chúa
hoàn toàn để làm những sự dữ như giết người, giết thai nhi, trộm cướp, dâm ô thác loạn
mà không hề ăn năn cho đến khi chết.
Những người bị hình phạt đời đời thì không còn trông nhờ ai cứu giúp gì được nữa, vì
đã vĩnh viễn xa lià Thiên Chúa là tình thương rồi.
Vả lại, cũng không có sự hiệp thông nào giữa hỏa ngục và các Thánh trên trời, các linh
hồn trong Luyện tội và các tín hữu trên trần gian như Giáo Hội day ( X SGLGHCG số
1033-1037).Vì thế, các Thánh, các linh hồn và các tín hữu không thể giúp gì được nữa
cho những ai đang xa lìa Chúa trong nơi goi là hỏa ngục.
Cũng cần phải nói thêm là Thiên Chúa không tiền định cho ai và cũng không muốn phạt
ai xuống hỏa ngục vì Người là Cha đầy yêu thương, "Đấng cứu độ chúng ta, Đấng
muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2:4). Nhưng phải
có hỏa ngục vì người ta đã tự ý chọn nơi này qua cách sống chối bỏ Thiên Chúa
hoàn toàn để làm những sự dữ, sự tội mà không hề biết ăn năn sám hối để xin tha
2
thứ. Con người có tự do chọn lựa và Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người xử
dụng tự do đó để sống theo Chúa để được chúc phúc. hay theo thế gian và ma quỷ
để bị luận phạt. Nghĩa là nếu chọn sống theo ma quỷ và thế gian thì phải chịu mọi
hậu quả của chọn lựa này.
Ngược lại, với hình phạt hữu hạn, chúng ta có thể làm những việc lành để tự giúp
mình sửa chữa những hậu quả của tội trong khi còn sống. Nếu không làm hoặc làm chưa
đủ thì sau khi chết phải được thanh luyện trong nơi gọi là "Luyện tội" (Purgatory), tức
là nơi thanh luyện cuối cùng để linh hồn được hoàn toàn thánh thiện hầu xứng đáng vào
hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng..
Chính vì mục đích giúp các hối nhân còn sống hay các linh hồn đang chịu thanh luyện
trong Luyện tội được khỏi hình phạt hữu hạn mà Giáo Hội ban một đặc ơn gọi là Ân xá.
Vậy Ân xá là gì ?
2- Ân xá (Indulgence) là ơn sủng mà Giáo Hội lấy ra từ kho tàng công ơn cứu chuộc
của Chúa Kitô, công nghiệp của Đức Mẹ và các Thánh để xin Chúa tha các hình phạt
hữu hạn (temporal punishment ) cho hối nhân còn sống hay cho các linh hồn trong
Luyện tội.Nói khác đi, Ân xá giúp thanh tẩy những hậu quả của tội đã được tha.
Các tín hữu còn sống hay đã qua đời đều có thể lãnh nhận ân xá để được tha hình phạt
hữu hạn mình còn thiếu sót chưa đền đủ sau biết bao tội nặng nhẹ đã được tha qua bí
tích hoà giải.Như thế, ân xá cũng là ơn tha thứ của Thiên Chúa mà Giáo Hội, -với tư
cách là Người Quản Lý kho tàng Ơn Cứu Chuộc nhờ công nghiệp của Chúa Kitô - lấy
ra để phân phát cho con cái mình.
"Ân xá có thể là từng phần (partial) hay toàn phần (plenary) tức ơn toàn xá để tha từng
phần hay toàn phần hình phạt hửu hạn mà ta đáng phải chịu vì hậu quả của tội lỗi. Tín
hữu có thể lãnh ân xá cho mình hay nhường lại cho các người đã qua đời (Sđd, số
1471),nhưng không thể nhường cho người đang còn sống trên trần gian này
Giáo Hội ban ơn toàn xá đặc biệt trong Năm Thánh (Jubilee Year) như Năm
Thánh lòng thương xót Chúa đang diễn ra trong toàn Giáo Hội, hoặc trong những
dịp đặc biệt khác như kỷ niệm thành lập Giáo Phận, Nhà Dòng, Tu Hội, hành hương
kính Đức Me, viếng nghĩa trang trong dịp lễ cầu cho các linh hồn v,v.
Thí dụ, Năm Thánh 2010 được Tòa Thánh cho phép mở ra tại quê nhà để mừng kỷ
niệm 50 năm Hàng Giáo Phẩm Việt Nam được thành lập (1960-2010), đánh dấu sự
trưởng thành của Giáo Hội Việt Nam trong Giáo Hội hoàn vũ.
Muốn hưởng ơn toàn xá trong Năm Thánh , các tín hữu phải sốt sắng chuẩn bị tâm linh
cách chu đáo, như cầu nguyện, hãm mình, làm việc bác ái, đặc biệt suy niệm mầu
nhiệm và sứ mang của Giáo Hội trong trần thế. Đồng thời cũng phải thành tâm thống
hối mọi tội lỗi và quyết tâm cải thiện đời sống trong ánh sáng Tin Mừng Cứu Độ của
Chúa Kitô. Cần đi xưng tội để được hòa giải với Chúa và với Giáo Hội . Dĩ nhiên sau
đó là phải tham dự Thánh Lễ và rước Mình Máu Chúa Kitô và làm những việc lành qui
định như đọc kinh Tin Kinh, kinh Lậy Cha, kinh Kính Mừng, Kinh Sáng danh để cầu
nguyện theo ý Đức Thánh Cha. Sau hết phải đến viếng (hành hương) một Thánh Đường
được chỉ định là nơi hành hương trong Giáo Phận, thay vì phải sang Rôma để viếng
Đền Thánh Phêrô, quá xa xôi , tốn phí.
3
Tóm lại, ơn toàn xá là đặc ân mà Giáo Hội lấy từ kho tàng thiêng liêng của Chúa để ban
cho tín hữu còn sống hay đang chịu thanh luyện trong nơi Luyện tội để được sạch mọi
vết nhơ của tội hầu đạt mức thánh thiện hoàn toàn để hưởng Thánh Nhan Chúa trong
Nước Hằng Sống.
Nhưng xin giải thích rõ thêm là ân xá, dù là từng phần hay tòan phần (tức ơn toàn xá
hay còn gọi là ơn đại xá) đều không có mục đích tha bất cứ tội nặng hay nhẹ nào mà chỉ
chỉ có công dụng tha hình phạt hữu hạn như đã giải thích ở trên. Nghĩa là, khi ta biết
mình đã phạm tội năng hay nhẹ nào thì trước hết phải xin Chúa tha thứ qua bí tích hòa
giải tức là phải đi xưng tội chứ không thể ở trong tình trạng " có tội " đó mà lãnh ơn
toàn xá để xin tha tha tội được.Tóm lại, ai muốn hưởng ơn toàn xá, thì buộc phải đi
xưng tội, rước Mình Thánh Chúa và đọc các kinh qui định cùng viếng nhà thờ như đã
nói ở trên.
Ước mong những giải thích trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
4

 
HOC HOI DE SONG DAO # 307 = CAC THANH LA AI? PDF Print E-mail

Các Thánh là ai vậy?
31-10-2016 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ĐỌC  VÀ SỐNG TIN MỪNG Mt 5, 1-12a : PHUC THẬT TÁM MỐI)

Chúng ta hôm nay mừng kính trọng thể Các Thánh Nam Nữ ở trên Trời. Có thể nói, hôm nay là ngày hội lớn, ngày vui mừng của mọi thành phần con cái trong đại gia đình Hội Thánh. Mừng kính Các Thánh, là mừng kính những người đang sống sự sống của Thiên Chúa, những vị đang hưởng phúc vinh quang tràn đầy trước tòa cao sang của Chúa Ba Ngôi trên thiên đàng.

Hỏi : Thiên đàng là gì ?

Thưa : Thiên đàng là nơi đầy dẫy những sự vui vẻ vô cùng, mà phúc nhất trên thiên đàng là xem thấy mặt Đức Chúa Trời liên (Sách Bổn Hà Nội tr. 21).

Thiên đàng là cùng đích tối hậu, nơi ấy khát vọng sâu xa nhất của con người trở thành hiện thực, đó là tình trạng hạnh phúc cao nhất và vĩnh cửu (x. GLCG số 1023-1025), nơi người ta yêu thương nhau, là nơi chỉ còn tình yêu là đáng kể, nơi có Thiên Chúa là Cha và mọi người là anh em với nhau, nơi không còn chết chóc, chiến tranh, hận thù và nước mắt. Trái lại, chỉ có hòa thuận và thương yêu, Các Thánh là những người đã đạt tới hạnh phúc đó.

Hỏi : Các Thánh là ai vậy ?

Là những người không bằng lòng với sự kém cỏi; với những biện pháp nửa vời. Các Thánh là những người đói và khát sự công chính, theo ngôn ngữ Kinh Thánh là khát khao sự thánh thiện. Vì khao khát, nên Thiên Chúa đã cho các ngài thỏa chí toại lòng đúng như Chúa Giêsu công bố : "Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả" (Mt 5, 6).

Chi tiết trong bài đọc I của ngày lễ giúp chúng ta hiểu thêm Các Thánh là ai. Các Thánh là "những người giặt áo và tảy áo trắng trong máu Con Chiên" (Kh 7,14). Như thế, sự thánh thiện mà các ngài có được là từ Chúa Kitô. Trong Cựu Ước, làm thánh có nghĩa là "tách biệt" khỏi tất cả những gì ô uế. Chữ "thánh" có nghĩa chung là "kitô hữu", hợp thành cộng đoàn qui tụ chung quanh Đức Giêsu làm thành Dân thánh. Sự thánh tách khỏi sự phàm tục. Các Thánh tràn đầy sự thánh, còn người phàm mang đầy sự phàm. Các Thánh là những người đã được Thiên Chúa làm gia nghiệp.

Hỏi : Các Thánh làm gì trên thiên đàng?

Câu trả lời cũng được tìm thấy trong Bài đọc I: "Họ đứng trước ngai vàng và trước mặt Con Chiên, mình mặc áo trắng tinh, tay cầm nhành lá thiên tuế. Họ lớn tiếng tung hô rằng: "Kính lạy Thiên Chúa chúng tôi, Đấng ngự trên ngai vàng, và Con Chiên". Ca đoàn các ngài được Đức Mẹ Maria hướng dẫn, Mẹ tiếp tục thánh thi ca ngợi của Mẹ trên trời, " Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa..." (Lc 1, 46). Chính trong sự ca ngợi này mà Các Thánh gặp được hạnh phúc và niềm vui , "Thần trí tôi hơn hở vui mừng trong Chúa Đấng Cứu Độ tôi" (Lc 1, 47). Vinh quang và hạnh phúc của Thiên Chúa ngập tràn các ngài.

Hỏi : Các Thánh mặc áo gì?

Các Thánh mặc áo chùng trắng, giặt áo mình trong máu Con Chiên. Các Thánh mạc áo đỏ, mặc áo theo con đường tử đạo của Đức Kitô. Các Thánh mạc áo xanh vì đã xây dựng hòa bình, yêu thương và phục vụ công bình đạo lý. Các Thánh mạc áo vàng khi tham dự vào chức huy hoàng của Đức Kitô, và hy vọng vào Thiên Chúa.

Hỏi : Các Thánh là bao nhiêu?

Sách Khải Huyền nói : "Số người được đóng ấn là một trăm bốn mươi bốn ngàn người, thuộc mọi chi tộc Israel" (Kh 7, 4). Tôn chỉ của họ là Tám Mối Phúc Thật. Phúc cho những ai hiền lành, nghèo khó; họ là những người khóc lóc nay tìm được sự ủi an ở nơi Thiên Chúa ; họ là những người biết thương xót người nay được Chúa xót thương ; họ là những người trong sạch nay được nhìn thấy Thiên Chúa; họ là những người xây dựng hòa bình nên được gọi là con Thiên Chúa; họ là những người bị bắt bớ, "họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến" (Kh 7, 14). Họ là các Tổ phụ, các Tiên tri, các Tông đồ, Tử đạo, các thánh Hiển tu, Ẩn tu, các thánh Đồng trinh thủ tiết, các thánh nam nữ.

Thánh Gioan đã nhìn thấy: "Đoàn người đông đảo không thể đếm được, họ thuộc đủ mọi nước, mọi chi họ, mọi dân tộc và mọi thứ tiếng" (Kh 7, 9). Họ thuộc đủ mọi thành phần và mọi tầng lớp trong xã hội. Ðó là lý do tại sao Giáo hội thiết lập ngày Lễ Các Thánh, để mừng kính chung Các Thánh gồm cả Các Thánh không tên tuổi, trong đó phải có tổ tiên, họ hàng gần xa của mỗi chúng ta.

Mừng kính Các Thánh, chúng ta cậy nhờ các ngài nguyện giúp cầu thay cho chúng ta bao lâu còn sống ở đời tạm nay, biết noi gương các ngài sống Hiến Chương Nước Trời, thực hành Tám Mối Phúc như Chúa Giêsu dạy, để mai sau cũng được Chúa ân thưởng thiên đàng.

Với niềm hy vọng, cùng với gương sáng và sự trợ giúp của Các Thánh, chúng ta cũng có thể làm thánh, và phải nên thánh bằng cách tự thánh hóa bản thân như Các Thánh đã làm, tức là sống theo tinh thần và mệnh lệnh của Tin Mừng là : hiền lành, bác ái, hòa thuận, trong sạch, với tâm hồn luôn hướng về những thực tại siêu nhiên, chịu đựng những vất vả, đau khổ tự nhiên hay do người khác mang đến, luôn tìm kiếm Chúa và cố gắng sống phù hợp với thánh ý Chúa.

Được như thế, chúng ta có thể "vui mừng hân hoan vì phần thưởng của chúng ta sẽ trọng đại ở trên trời như Các Thánh hiện nay là những anh em chúng ta đang ca tụng Chúa muôn đời" (Mt 5, 12a).

Lạy Các Thánh Nam Nữ của Thiên Chúa, xin cầu cho chúng con. Amen.

ĐẠO BINH ĐỨC MẸ

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 305= PDF Print E-mail

 Huấn Thị Bộ Giáo Lý đức tin về an táng và giữ tro hỏa táng.

VATICAN. Bộ Giáo Lý đức tin tái khẳng định lập trường của Giáo Hội cổ võ an táng người chết thay vì hỏa táng. Và trong trường hợp hỏa táng, phải giữ tro cốt người chết tại nghĩa trang hoặc tại nhà thờ và không được rải tro trong thiên nhiên.

Trên đây là nội dung Huấn Thị "Ad resurgendum cum Christo" (Để sống lại với Chúa Kitô), do Bộ giáo lý đức tin công bố sáng ngày 25-10-2016. Huấn thị gồm 8 đoạn, được ĐTC Phanxicô phê chuẩn ngày 18-3-2016 và truyền công bố. Huấn thị mang chữ ký ngày 15-8-2016 của ĐHY Tổng trưởng Gerhard Mueller và vị Tổng thư ký là Đức TGM Luis Ladaria S.I. Chính ĐHY cùng với 2 chuyên gia đã giới thiệu văn kiện này trong cuộc họp báo tại phòng báo chí Tòa Thánh.

Nội dung

Sau khi nhắc lại những lý do đạo lý khiến truyền thống của Giáo Hội cổ võ việc an táng người chết, nhưng không cấm hỏa táng trừ khi người ta thi hành việc này vì chống đối đạo lý của Hội Thánh, trong đoạn số 4, Bộ giáo lý đức tin khẳng định rằng: "Nơi nào vì lý do vệ sinh, kinh tế hoặc xã hội khiến người ta chọn hỏa táng, - sự chọn lựa này không được trái với ý muốn rõ ràng hoặc giả thiết một cách hữu lý là không trái ý người quá cố, - Giáo Hội không đưa ra những lý do đạo lý để cấm hỏa táng, vì việc hỏa táng không chạm tới linh hồn và không cản trở sự toàn năng của Chúa làm cho xác được sống lại, vì thế nó không phủ nhận khách quan đạo lý Kitô về sự bất tử của linh hồn và sự sống lại của thân xác. Giáo Hội tiếp tục ưa chuộng việc chôn cất thi hài vì qua đó Giáo Hội bày tỏ sự quí trọng hơn đối với người quá cố; tuy nhiên, việc hỏa táng không bị cấm, "trừ khi hành động này được chọn vì những lý do trái với đạo lý Kitô" (4).

- Trong đoạn 5, Huấn thị khẳng định rằng "tro người chết theo luật phải được giữ ở một nơi thánh, nghĩa là tại nghĩa trang, hoặc trong một thánh đường hay một khu vực được thiết định với mục đích ấy, theo qui định của nhà chức trách có thẩm quyền của Giáo Hội".

"Việc giữ tro tại một nơi thánh có thể góp phần giảm bớt nguy cơ lén lút đưa người chết ra khỏi kinh nguyện và ký ức của thân nhân và cộng đoàn Kitô. Ngoài ra, người ta cũng tránh được tình trạng người chết có thể bị quên lãng hoặc thiếu tôn trọng, điều này có thể xảy ra nhất là khi thế hệ thứ I qua đi, và do những đường lối thực hành không thích hợp hoặc mê tín".

- Đoạn 6 của Huấn thị khẳng định rằng: "Vì những lý do nói trên, việc giữ tro người chết tại tư gia là điều không được phép. Chỉ trong những trường hợp hệ trọng và đặc biệt, do những hoàn cảnh văn hóa của địa phương, vị Bản Quyền (Đức Giám mục giáo phận hoặc vị Tổng Đại diện), thỏa thuận với HĐGM hoặc với Hội đồng của các Giáo Hội Công Giáo Đông phương, có thể cho phép giữ tro ở nhà tư. Nhưng tro hỏa táng không được chia sẻ giữa những người thân trong gia đình với nhau và luôn luôn phải đảm bảo sự tôn trọng và những điều kiện thích hợp để bảo tồn tro".

- Trong đoạn 7, Huấn thị dạy rằng "để tránh mọi thứ mơ hồ phiếm thần, duy thiên nhiên hay duy hư vô, không được phép tung tro trong không khí, trên mặt đất hoặc trong nước, hoặc theo một cách thức khác, hay giữ tro trong các đồ kỷ niệm, trong một nữ trang hoặc các vật dụng khác, cũng để ý rằng không thể chấp nhận các phương thức tiến hành như thế dựa vào những lý do vệ sinh, xã hội hoặc kinh tế có thể khiến người ta chọn lựa hỏa táng".

- Sau cùng, trong trường hợp người quá cố đã công khai yêu cầu hỏa táng mình và tung tro của mình trong thiên nhiên, vì những lý do trái ngược với đức tin Kitô, thì không thể cử hành lễ an táng đương sự, chiếu theo luật (n.8).

Họp báo

- Trong cuộc họp báo, ĐHY Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, Mueller, bày tỏ hy vọng "Huấn Thị mới này có thể góp phần để các tín hữu Kitô ý thức hơn nữa về phẩm giá của họ là con cái Thiên Chúa (Rm 8,16). Chúng ta đang đứng trước một thách đố mới đối với công cuộc loan báo Tin Mừng về sự chết. Chấp nhận con người là thụ tạo của Thiên Chúa không trở thành hư vô, đòi phải nhìn nhận Thiên Chúa là nguyên ủy và là vận mạng của cuộc sống con người: chúng ta xuất thân từ đất chúng ta và sẽ trở về đất, trong khi chờ đợi sống lại. Vì thế cần loan báo theo tinh thần Tin Mừng về ý nghĩa sự chết dươi ánh sáng niềm tin nơi Chúa Kitô Phục Sinh, là lò tình yêu nồng cháy, thanh tẩy và tái tạo, trong khi chờ đợi người chết sống lại và sự sống trong thế giới mai hậu (Xc n.2). Như Tertulliano đã viết: "Sự sống lại của người chết chính là niềm tin của các Kitô hữu: khi tin nơi sự sống lại chúng ta là Kitô hữu" (De resurrectione carnis, 1,1).

- Đức ông Angel Rodriguéz Luno, Cố vấn Bộ giáo lý đức tin, cho biết sở dĩ Huấn thị cấm "tung tro trong thiên nhiên", là để tránh mọi sự lẫn lộn về đạo lý.. "Thực vậy, sự chọn lựa tung tro thường xuất phát từ ý tưởng với cái chết toàn con người bị hủy diệt, đi tới độ hòa với thiên nhiên, như thể đó là định mệnh chung cục của con người. Đôi khi nó cũng xuất phát từ một sự hời hợt, từ ý muốn che dấu hoặc riêng tư hóa khi nói về cái chết, hoặc từ sự phổ biến sở thích không đúng".

Về vấn nạn: việc giữ tro hỏa táng của một người thân (cha, mẹ, vợ chồng, con cái) ở trong tư gia có thể là do ước muốn gần gũi và thảo hiếu, giúp dễ tưởng nhớ và cầu nguyện. Đó không phải là động lực thường xuyên, nhưng trong một số trường hợp có lý do ấy. Nhưng có nguy cơ việc giữ tro ở tư gia như thế có thể tạo nên sự quên lãng và thiếu tôn trọng, nhất là khi thế hệ thứ I qua đi (Xc. n.5), hoặc có thể dẫn đến những thứ tang chế không lành mạnh. Nhưng nhất là phải để ý rằng các tín hữu qua đời là thành phần của Giáo Hội, là đối tượng kinh nguyện và tưởng nhớ của người sống, nên điều tốt đẹp là di tích của họ được Giáo Hội đón nhận và gìn giữ với lòng kinh trọng, qua dòng thời gian, tại những nơi mà Giáo Hội đã làm phép với mục đích ấy, không đưa họ ra khỏi ký ức và kinh nguyện của người thân và cộng đoàn" (SD 25-10-2016)

G. Trần Đức Anh OP

--------------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 304 = HONG Y LA AI ? PDF Print E-mail

HỒNG Y LÀ AI VÀ CÓ CHỨC NĂNG GÌ ?
Nhân viêc Đức Thánh Cha Phnxicô vừa chọn thêm 17 tân Hồng Y, tôi xin được trả lời chung
những câu hỏi của nhiều đôc giả về vai trò và trách nhiệm của tước vị Hồng Y trong Giáo Hội
Công Giáo La Mã như sau:
Trước hết, về ngữ căn ( etymology), từ Hông Y ( Cardinal) xuất phát từ nguyên ngữ Latin
CARDO có nghĩa là "cái bản lề.(hinge) "tức bộ phân then chốt để giừ cho cánh cửa được đứng
vững trong khung cửa. Từ ý nghĩa tượng trưng này, các Hồng Y được mệnh danh là "những vị
Hoàng tử ( princes) của Giáo Hội với 2 chức năng rất quan trọng sau đây:
1- Là cố vấn để đóng góp ý kiến (kiến thức và khôn ngoan) cho Đức Thánh Cha trong việc
điều hành và cai tri Giáo Hôi Công Giáo hoàn vũ
2- Khi vào Mật nghị (Conclave) để bầu Giáo Hoàng mới , tất cả các Hông Y đủ điều kiện
theo luật bầu cử- nghĩa là dưới 80 tuổi- đều đương nhiên là các ứng viên (potential
candidates có thể được bầu chứ không ra ứng cử) và cũng là những người được
quyền bỏ phiếu chọn (elector) Giáo Hoàng mới, khi đương kim Giáo Hoàng qua đời
( hay đột nhiên từ nhiệm như trường hợp cá biệt của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI
năm 2012 ( x. Giáo luật số 349)
Theo Luật bầu Giáo Hoàng hiên hành, áp dụng từ nhiều năm qua, thì khi tròn 80 tuổi,
các Hồng Y không còn được tham dự Mật nghị để bầu Giáo Hoàng mới hay tham dự
bất cứ mật hội nào do Đức Thánh Cha triệu tập và chủ tọa để bàn thảo về một vấn đề
quan trọng nào của Giáo Hội.Thêm nữa, khi các Hồng Y đến tuổi 75, và hiện đang coi
sóc các Tổng Giáo Phận hay các Bộ hoặc Cơ quan trọng yếu trong Giáo Triều Roma
thì cũng phải xin từ chức, để tùy Đức Thanh Cha quyết định chấp nhận hay cho lưu
nhiệm thêm. Thí dụ, trường hợp Đức Giáo Hoàng.Biển Đức XV! , khi đang còn làm
Tổng Trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã xin nghỉ hưu năm ngài 75 tuổi nhưng đã
được Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II yêu cầu tiếp tục nhiệm vụ thêm thời gian
nữa, nên ngài vẫn đảm trách chức vụ Tổng Trưởng trên cho đến khi ngài được bầu lên
ngôi Giáo Hoàng ngày 19-tháng 4 năm 2005 ( x.giáo luật số 354)
Trước năm 1917 tức là năm ban hành bộ Giáo luật cũ, (giáo luật mới 1983 thay giáo luật cũ
1917) các Hồng Y có thể là những thường dân không có chức linh mục hay giám mục được
Giáo Hoàng ban cho tước vị này, vì những lý do riêng tư. Nhưng với Giáo luật năm 1917, thì
người thường dân không còn được chọn nữa, mà chỉ dành cho các linh mục hay giám mục
xuất sắc mà thôi. Đến thời Đức cố Giáo Hoàng Gioan XXIII, thì ai được phong tước Hông Y
cũng phải được thụ phong Giám mục nếu vị đó chưa là giám mục.Sở dĩ thế vì cho đến nay,
thì tước Hồng Y vẫn còn được trao cho một số linh mục xuất sắc, từng giữ các chức vụ quan
trọng trong Tòa Thánh hoặc là những thần học gia nổi tiếng như các linh mục Yves M.J
Congar (O.P) Henri de LuBac và Allen Dulles (SJ) ( đều đã qua đời) ..Trong đợt Hồng Y mới
được công bố Chúa Nhật ngày 09 tháng 10 vừa qua,, cũng có 01 linh mục xuất sắc,đang là
Giám quản cũng được chọn làm Hồng Y..Đó là cha Ernest Simoni thuộc Tông Giáo Phận
Scutari, Abani, đã quá 80 tuổi nên không được đi bầu Giáo Hoàng nữa.
Cũng cần nói thêm là khác với thông lệ trong quá khứ khi Hông Y được chọn từ những gia đình
quí tộc ỏ Âu Châu hoặc những người được Giáo hoàng ưu đãi, thưởng công riêng, các Hồng Y
ngày nay phần lớn xuất thân từ những gia đình đạo đức, bình dân, phải là nam giới và ít nhất
là người có chức linh mục và " trỗi vượt về đạo lý, tác phong, đạo đức và khôn ngoan" ( x.
giáo luật số 351 & 1).Nhưng thường là các giám mục xuất sắc về đức độ và khả năng để có
thể trở thành Giáo Hoàng cai quản Giáo Hội trong tương lai. Lại nữa, vì Hồng Y có thể là linh
mục , nên nếu vị này được đắc cử Giáo Hoàng thì phải được Hồng Y niên trưởng tấn phong
chức Giám Mục trước khi đăng quang.Nếu Hồng Y niên Trưởng vắng mặt thì Hồng Phó niên
trưởng sẽ làm việc này.Nếu vị này cũng vắng mặt, thì Hồng Y cao niên nhất thuộc đẳng Giám
mục sẽ truyền chức Giám mục cho tân Giáo Hoàng chưa có chức Giám mục. ( x.giáo luật số
355, &1) .
Tuy nhiên việc này chưa từng xẩy ra vì các Hồng Y từ nhiều thập niên qua đều là những vị có
chức Giám mục hay đã được tấn phong giám mục sau khi được phong tước Hồng Y.Nghĩa là
không có trường hợp môt Hồng Y chỉ có chức linh mục mà được bầu làm Giáo Hoàng từ
nhiều thập niên qua.Cho nên không thể nói cách chung chung là các Giám mục hay linh mục có
thể được bầu làm Giáo Hoàng. Phải nói cho đúng là cho đến nay, chỉ có các Hồng Y dưới 80
tuổi mới đủ điều kiện để đi bầu Giáo Hoàng mà thôi, vì tất cả các Hông Y trong Giáo Triều
Rôma hiện nay đều có chức Giám mục, chứ không có vị nào còn là linh mục., cho dù mỗi lần
tấn phong thêm Hồng Y, đều có một vài ba Linh mục được chọn, nhưng các vị này đều đã quá
80 hay gần 80 tuổi rồi nên không có triển vọng được bầu làm Giáo Hoàng.
Như thế cho thấy chức Giám mục là chức thánh quan trọng nhất của Giáo Hội, vì Giám mục là
những người kế vị các Thánh Tông Đồ trong chức năng và sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cứu
độ, dạy dỗ chân lý và cai trị Giáo Hội. Chúa Giêsu xưa chỉ chọn các nam Tông Đồ, mà người kế
vị các ngài là các Giám mục ngày nay trong Giáo Hội. Hồng Y không phải là một chức thánh mà
chỉ là tước vị (Title) do Giáo Hội đặt ra vì nhu cầu chọn người kế vị Thánh Phêrô, tức Đức
Thánh Cha cũng là Giám mục Rôma và là Thủ lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ.
Các Hồng Y họp lại thành Hồng Y Đoàn riêng biệt ( College of Cardinals) do một vị làm niên
trưởng ( Dean)
Có 3 đẳng cấp Hồng Y sau đây.
1- Hồng Y Giám mục ;( Cardinal bishops) là những giám mục từng coi sóc những giáo
phận chung quanh Rôma nhưng nay là những Hồng Y thâm niên làm việc trọn thời gian
(full-time) trong Giáo Triều Roma. ( Roman Curia)
2- Hồng Y Linh mục ( Cardinal Priests) là những Hồng Y hoăc làm việc trong Giáo Triều
hoặc đang coi sóc cácTổng Giáo Phận ngoài Roma tức là các Tổng Giáo phận ở Ý hay
ở các quốc gia trên thế giới như Paris, New York, Sydney, Houston, Saigon, Manilla v.v
3- Hồng Y Phó Tế ( Cardinal Deacons) từng là những Giám mục hiệu tòa ( Titular Bishops)
tức là không coi sóc Giáo phận nào,và đang làm việc trọn thời gian trong Giáo Triều.
Khi các Hồng Y họp kín để bầu Giáo Hoàng mới, Hồng Y Trưởng đẳng Phó tế sẽ công
bố danh tánh vị được đắc cử và có thể thay thế Đức Thánh Cha để trao dây Pallium cho
các tân Tổng Giám mục hoặc cho người đại diện các vị vắng mặt. ( x. giáo luật số 355, &
2)
Thêm nữa, tất cả các Hồng Y, khi được Đức Thánh Cha chọn và trao tước vị này, đều
được chỉ đinh tước hiệu( Title) của một thánh đường trong hoặc ngoài Rôma. Với tước
hiệu đó, tân Hông Y đến thánh đường được chỉ định để nhận tòa nhưng không có quyền
quản trị nào về hành chánh, nhân sự cũng như tài sản của thánh đường đó, mà chỉ hiệp
thông để hỗ trợ về mặt tinh thần mà thôi.( giáo luật số 357 &1)
Sau hết, tất cả các Hồng Y, nếu không đảm nhận chức vụ Tổng Giám Mục để coi sóc
các Tổng giáo phận ở đâu trên thế giới, thì đều phải cư trú ở Rôma hoặc phải trở về
Giáo đô khi Đức Thánh Cha triệu tập để họp bàn việc gì quan trọng của Giáo Hội (giáo
luật số 356)
Chúng ta hãy cầu nguyện nhiều cho các Tân Hồng Y mới được chọn để các ngài có đủ
ơn Chúa hầu chu toàn trách nhiệm được trao phó.
Tổng số Hồng Y của Giáo Hội hiện nay là 228 vị , trong đó chỉ có 121 vị dưới 80 tuổi, tức
là có điều kiện đi bầu Giáo Hoàng mới, khi có nhu cầu này mà thôi.
LM. Phanxicô Xaviê Ngô tôn Huấn

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 303 = TIEU SU THANH FAUSTINA PDF Print E-mail

TIỂU SỬ THÁNH NỮ FAUSTINA
TIỂU SỬ THÁNH NỮ FAUSTINA.jpg

KRISTIE PHAN  CHUYỂN
Thánh nữ maria faustina kowalska ngày nay được khắp thế giới biết đến với tước hiệu "Tông Đồ Lòng Thương Xót Chúa" là một vị thánh được các nhà thần học kể vào số những nhà thần bí trổi vượt trong Giáo Hội.
Chị là người thứ ba trong số mười người con của một gia đình nông dân nghèo khó nhưng đạo đức tại Glogowiec, một làng quê nằm giữa đất nước Ba Lan. Khi được rửa tội tại nhà thờ giáo xứ Swinice Warckie lân cận, chị đã được nhận tên "Helena." Ngay từ thời thơ ấu, Helena đã nổi bật với đời sống đạo hạnh, yêu thích cầu nguyện, chăm chỉ, vâng lời, và hết lòng thương cảm trước nỗi khổ đau của tha nhân. Helena được đi học trong thời gian chưa đầy ba năm, và đến năm 14 tuổi, chị đã phải rời bỏ mái ấm gia đình để mưu kế sinh nhai, giúp đỡ cha mẹ bằng công việc phụ giúp việc nhà tại thành phố Aleksandrow và Lodz kế cận.
Khi mới lên bảy tuổi (hai năm trước khi rước lễ lần đầu), Helena đã cảm nhận trong tâm hồn lời mời gọi theo đuổi đời sống tu trì. Sau đó, chị đã ngỏ ý muốn với cha mẹ, nhưng hai vị đều dứt khoát không đồng ý cho chị vào sống trong tu viện. Trước hoàn cảnh như thế, Helena đã cố bóp nghẹt lời mời gọi trong tâm hồn. Tuy nhiên, quá xao xuyến vì một thị kiến về Chúa Kitô tử nạn và những lời trách cứ của Người: "Cha còn phải chịu đựng con cho đến bao giờ, con còn phụ rẫy Cha cho đến bao giờ nữa đây?" (NK 9), Helena bắt đầu tìm cách để xin vào một tu viện. Chị đã gõ cửa không ít tu viện, nhưng không được nơi nào đón nhận. Cuối cùng, vào ngày 1 tháng 8 năm 1925, Helena đã được bước qua ngưỡng cửa của dòng Đức Mẹ Nhân Lành ở phố Zytnia tại Warsaw. Trong Nhật Ký, chị có viết: "Dường như tôi đã bước vào cuộc sống thiên đàng. Một lời kinh đã trào dâng từ tâm hồn tôi, một lời kinh tạ ơn" (NK 17).
Tuy nhiên, vài tuần lễ sau đó, chị bị cám dỗ mãnh liệt, muốn chuyển sang một dòng khác để có nhiều thời giờ hơn cho việc cầu nguyện. Chính lúc ấy, Chúa Giêsu đã tỏ cho chị thấy các thương tích và thánh nhan tử nạn của Người và phán: "Chính con gây cho Cha nỗi đau đớn này nếu như con rời bỏ tu viện. Đây là nơi Cha đã gọi con, chứ không phải một nơi nào khác; và Cha đã dọn sẵn nhiều ơn thánh cho con" (NK 19).
Khi vào dòng, Helena được nhận tên Maria Faustina. Chị đã sống thời kỳ năm tập tại Cracow, và cũng tại đây, trước sự chứng kiến của đức giám mục Stanislaus Rospond, chị đã tuyên lời khấn trọm lần đầu, và năm năm sau, tuyên giữ trọn đời ba lời khấn thanh tịnh, khó nghèo và vâng phục. Chị được cắt cử làm một số công tác tại các tu viện của dòng; hầu hết thời gian là ở Cracow, Plock, và Vilnius, với các công tác làm bếp, làm vườn, và coi cổng.
Tất cả những cái vẻ bên ngoài ấy không làm hiện lộ một cuộc sống thần hiệp phong phú ngoại thường nơi chị dòng Faustina. Chị sốt sắng chu toàn các phận sự, trung thành giữ trọn luật dòng, sống đời sống nội tâm và giữ thinh lặng, trong khi đó vẫn sống trong sự tự nhiên, vui tươi, đầy nhân ái và yêu thương người chung quanh một cách vô vị lợi.
Tất cả đời sống của chị được tập trung vào việc liên lỉ cố gắng đạt đến một cuộc kết hiệp ngày càng mật thiết hơn với Thiên Chúa và quên mình cộng tác với Chúa Giêsu trong công cuộc cứu rỗi các linh hồn. Chị đã viết trong Nhật Ký, "Chúa biết ngay từ những năm đầu tiên, con đã muốn trở nên một vị đại thánh; tức là yêu mến Chúa bằng một tình yêu vĩ đại như chưa từng có linh hồn nào đã yêu mến Chúa như thế" (NK 1372).
Chính quyển Nhật Ký của chị đã cho chúng ta thấy được những chiều sâu trong đời sống thiêng liêng của chị. Những tư liệu này - nếu được đọc chăm chú - sẽ làm hiện lên một bức tranh diễn tả mối thân tình hợp nhất cao độ giữa linh hồn chị với Thiên Chúa: sự khắng khít lạ lùng giữa Thiên Chúa với linh hồn chị, cũng như những nỗ lực và chiến đấu của chị trên con đường hoàn thiện Kitô Giáo. Chúa đã ban cho chị nhiều hồng ân phi thường: ơn chiêm niệm, ơn hiểu biết sâu xa về mầu nhiệm Lòng Thương Xót Chúa, các thị kiến, mặc khải, những dấu thánh tiềm ẩn, ơn nói tiên tri, ơn đọc được tâm hồn người khác, và ơn quí trọng bậc nhiệm hôn. Tuy được hoan hưởng những hồng ân ấy rất dồi dào, nhưng chị đã viết: "Không phải các ân sủng, các mặc khải, các lần ngất trí, hoặc các ân huệ làm cho linh hồn nên hoàn hảo, nhưng chính là sự kết hợp mật thiết giữa linh hồn với Thiên Chúa... Sự thánh thiện và hoàn hảo của tôi hệ ở việc kết hợp mật thiết giữa ý chí tôi với ý chí Thiên Chúa" (NK 1107).
Nếp sống khổ hạnh và những lần chay tịnh đến kiệt sức ngay cả trước khi vào dòng của chị đã làm suy sụp yếu nhược thể trạng của chị, đến nỗi ngay trong thời gian thỉnh tu, chị đã được đưa đi Skolimow gần Warsaw để phục hồi sức khỏe. Gần cuối năm đầu tiên trong thời kỳ nhà tập, chị còn phải trải qua những kinh nghiệm thần bí đớn đau lạ thường của giai đoạn vẫn được gọi là đêm tối giác quan, và sau đó là các đau khổ tinh thần và luân lý liên quan đến việc hoàn thành sứ mạng mà chị được nhận lãnh từ Chúa Kitô. Thánh nữ Faustina đã hy hiến cuộc đời cho các tội nhân, vì thế, chị đã chịu đựng những khổ đau tư bề để trợ giúp các linh hồn. Trong những năm tháng cuối đời của chị thánh, các đau khổ nội tâm của cái gọi là đêm thụ động của linh hồn và những bệnh nạn phần xác càng trở nên dữ dội hơn nữa. Căn bệnh lao của chị lan dần, tấn công những lá phổi và phần ruột non. Vì vậy, hai lần chị đã phải trải qua nhiều tháng điều trị ở bệnh viện phố Pradnik tại Cracow.
Tuy kiệt quệ về thể lý, nhưng chị Faustina đã đạt đến mức trưởng thành sung mãn trong đời sống thiêng liêng. Chị đã từ giã cõi trần khi chưa trọn 33 tuổi đời, giữa tiếng thơm thánh thiện, và được kết hiệp muôn đời với Thiên Chúa vào ngày 5 tháng 10 năm 1938, sau 13 năm trong cuộc sống tu trì. Thi hài của chị được an nghỉ tại ngôi mộ chung trong nghĩa trang tu viện tại Cracow-Lagiewniki. Năm 1966, trong khi thủ tục điều tra tôn phong chân phúc đang được xúc tiến, thi hài nữ tu Faustina đã được cải táng vào nhà nguyện của tu viện.
Chúa Giêsu đã ủy thác cho chị nữ tu đơn sơ, kém học, nhưng can trường và tín thác vô hạn này một sứ mạng cao cả là rao truyền sứ điệp Lòng Thương Xót của Chúa cho thế giới, Người đã phán với chị, "Cha sai con đem tình thương của Cha đến cho toàn thế giới. Cha không muốn đoán phạt, nhưng muốn chữa lành và ghì chặt nhân loại đau thương vào Trái Tim thương xót của Cha" (NK 1588). "Con là thư ký của Lòng Thương Xót Cha. Cha đã tuyển dụng con làm nhiệm vụ ấy trên đời này và ở đời sau" (NK 1605)... "Nhiệm vụ và công tác suốt đời con là tiếp tục làm cho các linh hồn được biết về Lòng Thương Xót lớn lao của Cha dành cho họ, và kêu gọi họ tín thác vào Lòng Thương Xót vô tận của Cha" (NK 1567).
(Trích Nhật Ký Lòng Thương Xót Chúa)
Nguồn: http://www.xuanha.net/

---------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 10 of 81