Hoc Hoi De Song Dao
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2271
mod_vvisit_counterHôm Qua8536
mod_vvisit_counterTuần Này42445
mod_vvisit_counterTuần Trước48347
mod_vvisit_counterTháng Này126668
mod_vvisit_counterTháng Trước232383
mod_vvisit_counterTất cả11578754

We have: 132 guests online
Your IP: 54.196.5.6
 , 
Today: Aug 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO -TAI SAO TOI KHONG O LAI PHAT GIAO PDF Print E-mail

phung phung
Jul 4 at 7:38 AM


Tại sao tôi không ở lại với Phật giáo?
Tôi vào chùa tu học...
Từ khi còn bé tôi đã thắc mắc ₫ tại sao linh hồn người chết có thể về ăn đồ cúng? Tại sao khi sống thì người ta bất lực nhưng sau khi chết thì linh thiêng và có thể phù hộ hoặc gieo họa cho bà con thân quyến? Những thắc mắc này thúc đẩy tôi vào chùa tu học. Trong chùa có bàn thờ một vị Bồ tat có net mặt dữ tợn, cái lưỡi của ông dài hơn lưỡi rắn. Tên ông là Tiêu Diện Đại Sĩ. Theo giáo lý nhà chùa thì đây là vị thần cai trị các linh hồn vất vưởng đói rách không được ai cúng thức ăn. Mỗi buổi chiều nhà chùa cúng một bat cháo lỏng đặt ngay bàn thờ ông Tiêu Diện và tụng bài kinh Thí thực. Niềm tin này rất thích hợp với người bình dân Việt Nam.
Tôi đã học giáo lý đạo Phật để tìm giải đáp, nhưng càng học càng có thêm những thắc mắc khó giải thích hơn. Ví dụ có chùa chuyên làm bùa Quang Minh và bùa Hải hội, để giải oan cho những linh hồn "nghiệp nặng", chết nhầm vào "ngày xấu". Ngày nay nhiều chùa bói toán xin quẻ. Là một tu sĩ tôi phải học nhiều giới cấm. Càng nhiều giới cấm người ta càng dễ phạm giới, vì thế có một giới cấm đặc biệt là tu sĩ cấp dưới không được tò mò giới luật của tu sĩ cấp trên. Mỗi sáng thức dậy, ai quên đọc câu thần chú trước khi đặt chân xuống đất là mắc tội sat sanh, vì vô ý đạp chết côn trùng trong ngày đó. Hoặc quên đọc câu thần chú uống nước, là mắc tội ăn thịt 8 vạn bốn ngàn con vi khuẩn trong một ly nước. Cạo đầu mà không đọc thần chú cũng có tội. Ở chùa ăn nhiều rau, lắm lần tôi thấy sâu chết trong rau muống luộc. Luộc những nồi rau to tướng như thế là giết rât nhiều sinh vật, thế nhưng không ai học câu thần chú luộc rau cả. Ngày xưa Đức Phật cấm nam tu sĩ đứng tiển tiện, nhưng sau đó dân chúng tưởng rằng tât cả đệ tử của Phật là phụ nữ, Đức Phật phải hủy giới cấm ấy để tránh hiểu lầm.
Vì giới luật nhà tu quá chi li, nên không ai giữ được trọn vẹn một giới luật nào cả. Chẳng ai muốn tiết lộ sự phạm giới của mình. Đáng tiếc là đạo Phật không nhìn nhận một cách minh bạch về vấn đề tội lỗi. Để phá chấp người tu sĩ cấp cao, học về ý nghĩa của sự phi giới và cao hơn nữa là vô phi giới. Mỗi khi ăn cơm, người tu hành đọc ba câu thề nguyện mà không một ai tin mình làm được. Thậm chí người ta đọc quen đến nỗi không cần một ý niệm tha thiết chân thành.
Một là từ bỏ tất cả việc ac (nguyện đoạn nhất thiết ac)
Hai là làm trọn tẫt cả việc lành (nguyện tu nhất thiết thiện)
Ba là hóa độ tât cả chúng sanh (thề độ nhật thiết chúng sanh)
Khi học đến giáo lý cao siêu, tôi được dạy rằng không có tội lỗi, không ai tha tội cho ai, không có địa ngục, không có niết bàn, không ai dựng nên vũ trụ vạn vật mà chỉ do tâm con người tạo ra. Giáo lý nhà Phật không tin vào Đấng Tạo Hóa, không tin nguyên nhân khởi đầu, mà chỉ tin vào lý nhân duyên điệp trùng tiêp nối, khiến vạn vật lưu chuyển như là đang hiện hữu. Vạn vật vốn là vô thủy vô chung, không có cái gì vĩnh cửu (vô thường). Tâm con người châp vào đâu thì có vào đó, chứ thật ra chẳng có cái gì hiện hữu thật sự. Ngay cả tôi đây cũng không phải là tôi. Phần đông tín đồ Phật giáo không hiểu giáo lý của Phật, mà chỉ nghe theo cac vị tu sĩ.
Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ. Có tám nguyên nhân chính gây ra đau khổ. Sinh khổ. Lão khổ. Bịnh khổ. Tử khổ. Thương yêu mà không được gần nhau là khổ (ái biệt ly khổ). Ghet nhau mà phải gần nhau là khổ (oán tăng hội khổ). Ươc muốn không thành là khổ (cầu bât đăc khổ). Thân thể và tâm hồn mât thăng bằng là khổ (ngủ ấm thạnh khổ). Giáo lý quan trọng đầu tiên của đạo Phật là Chân Lý Của Sự Đau Khổ. Muốn diệt đau khổ thì phải diệt sanh sản (diệt dục), diệt gìa nua (diệt lão), diệt bịnh tật, diệt sự chêt. Nhưng chưa đủ, còn phải diệt thương yêu (ái nghiệp), diệt ham muốn (tham), diệt giận hờn (sân si). Muốn diệt khổ tuyệt đối thì phải diệt luôn cả ý muốn thành Phật (vì ai muốn thành Phật là còn tham). Đạo Phật tin vào luật qủa báo thiện ac, nhưng không châp nhận ai là đấng tạo ra luật qủa báo thiện ac công minh, cũng không giải thich luật nhân qủa công minh này từ đâu mà ra.

Tôi cần mẫn học từng bậc, đến khi tôt nghiệp trường đào tạo tăng tài Phật Học Viện Nha Trang và đại học Vạn Hạnh, tôi tự cảm thấy mình đi tu như thế vẫn không tiêu diệt bơt tội lỗi trong tôi. Chưa kịp tiêu diệt tội cũ, tội mới ló mặt ra trong tôi. Nếu có địa ngục, chăc tôi phải vào trươc nhât. Làm một ông thầy tu phải biêt che dấu tội lỗi để được cac đệ tử thờ lạy khi mình còn sống. Người tu hành sau khi đã lên đến bực Đại Đưc, thì khó hoàn tục vì được sự kính trọng qúa cao và hưởng nhiều ưu đãi quá lớn.

Tôi cởi áo Nhà Tu
Tự xet lấy mình tôi đã từng thât vọng trong con đường tu. Đã có khi tôi cảm thấy cần tìm một cái chêt tự thiêu, để giaỉ quyêt ngỏ bí trong tâm hồn mình. Sau khi đọc hai quyển sách của nhà văn Hermann Hesse: Narsiz and Goldmund và Siddhata, tôi liều lĩnh cởi bỏ chiêc áo thầy tu, để ra đời tìm hiểu nhữntg ý nghĩa mà tôi thắc mắc.
Nhưng sau 15 năm quen sống trong chiêc áo tu hành, tôi trở thành người thanh niên khờ khạo, vụng về, không thăng bằng và thât bại. Năm 1973, sau khi thôi tu chừng một năm, tôi cưới vợ, nhưng gia đình tôi bị đổ vỡ rât sớm. Tôi trở lại tu theo phap môn thiền định. Phap môn này, đã giup tôi có bản lĩnh để nhìn biêt một số phản ứng nội tâm, khi thân thể mình ngôì tĩnh lặng. Hơn hai năm tu thiền trươc 30.4.1975, tôi tiêp tục ngồi thiền chăm chỉ trong nhà tù cộng sản. Phap môn thiền định đã giup tôi gặp Phật, gặp Chúa, gặp ông Ghandi, và gặp vô số loài vật cũng như bà con thân thuộc của mình trong qúa khứ mù mờ. Hồi đó tôi nghĩ: hình như họ là kiêp trươc của tôi. Phái thiền Phap Hoa Hội Thượng gọi đó là mật phap. Nhiều bạn thiền của tôi cũng đạt đến kêt qủa như thế. Cũng có người cho đó là hư tưởng trong tạng thưc của mình. Càng ngôì thiền siêng năng tôi càng muốn rời bỏ thế gian để tìm hiểu cái gì sẽ xẩy ra sau khi mình chêt. Ý nghĩ tự tử càng dễ xuât hiện trong tôi. Nhưng trên thực tế, lắm khi tôi sống buông thả tệ hại.
Sau khi ra khỏi nhà tù cộng sản, tôi lại lập gia đình, nhưng không ngờ gặp nhiều điều ngang trái khac. Thế là gia đình tôi lại đổ vỡ lần nữa. (Xin quý vị đọc hai quyển sach: "Ai chêt cho ai? Ai sống cho ai?" và "Từ áo cà sa đến Thập tự gía" để thấy rõ những chi tiêt này hơn.)

Tôi đọc Kinh Thánh

Tôi đi tu, đã tình nguyện tự thiêu, đã ra đời lấy v���, tu thiền và thât bại....Một cuộc đời răc rối đầy rủi ro và thât bại như thế thì chẳng có gì đáng sống nếu theo con măt phàm tục. Nhưng trong hoàn cảnh bi đat ấy, tôi đã được nhà thơ Bùi Giáng khuyên đọc Kinh Thánh.
Luc đầu tôi không có thiện cảm với Kinh Thánh, nhưng lạ thay, càng đọc Kinh Thánh, tôi càng thấy lời dạy của Chúa là rõ ràng và thực tế hơn giáo lý nhà Phật. Kinh Thánh nói về sự sáng tạo vũ trụ và Đấng Sáng Tạo, trong khi đạo Phật dạy rằng không ai dựng nên vũ trụ mênh mông vô lượng này cả, mà chỉ do tâm con người châp có nên mới có. Kinh Thánh dạy rằng Chúa là tình yêu, trong khi đạo Phật dạy rằng yêu là một sự cảm thọ, là ái nghiệp. Chúa dạy về tội lỗi, nguồn gôc của tội lỗi, quyền năng tha tội và cach giải quyêt vấn đề tội lỗi tận gôc để chiến thắng điều ac. Nhưng đạo Phật dạy rằng tội bổn tánh không (tội lỗi vốn là không), không ai tha tội cho ai, con người phải tự mình thăp đuôc lên mà đi. Chúa dạy phải hiếu kính cha mẹ khi họ còn sống với mình, còn đạo Phật dạy cat ái từ sở thân (lìa bỏ tình thương cha mẹ) như Đưc Thich Ca đã lìa bỏ cha mẹ vợ con, nhưng lại thờ cúng cha mẹ sau khi họ đã qua đời. Chúa dạy chúng ta lấy thân thể mình làm đền thờ Ngài, nhưng Phật giáo dạy sự thờ phụng hình tượng trên bàn thờ gỗ, đá, xi măng. Chúa dạy con người dâng lời cầu nguyện để mở lòng tương giao với Chúa, nhưng Phật giáo dạy dâng nhan đèn, trầm hương lễ vật lên hình tượng, để bày tỏ lòng thành. Chúa mặc khải ơn cứu rỗi để giải phóng con người ra khỏi bản tính tội lỗi trươc, rồi sẽ học làm điều lành sau; nhưng Phật giáo dạy rằng con người phải giữ giới cấm, để tự làm cho mình trở nên toàn thiện, không cần ơn thiên thượng.
Trên thực tế, con người dễ làm ac, khó làm điều lành. Có những tu sĩ thật tâm tu niệm, họ tự cấm khẩu hàng tháng trời, cũng có vị tự nhập thât giam mình hàng tháng trong phòng kín để ngồi thiền hoặc tụng kinh. Nhưng bản chât của tội lỗi trong con người không thể xóa sạch bằng hành vi hãm mình khổ hạnh. Lắm khi vì hãm mình khổ hạnh, người tu sĩ vâp phải những tội lỗi "kỳ cục" hơn người ngoài. Trong giới tu sĩ Phật giáo có nhiều người tôt, nhưng người tôt chưa hẳn là người chiến thắng tội lội của mình. Thậm chí có người biêt mình tu không được, đã từng đôt từng ngón tay để thề nguyện, quyêt tâm tu; hoặc tự chặt đưt bộ phận kín của mình, nhưng sau đó vẫn phạm giới rât thê thảm. Chỉ có người quyêt chí đi tu mới phải đau lòng khi thấy mình không làm sao tu được. Nhưng đa số tu sĩ khó rời chiêc áo, vỉ quyền lợi của một bậc tu hành trong Phật giáo qúa lớn. Người Phật tử phải thờ ba ngôi Tam bảo : Phật bảo (tât cả cac Đưc Phật), Phap bảo (tât cả giáo lý nhà Phật), Tăng bảo (hàng ngũ tu sĩ). Hồi đó tôi sợ nhât là mình được xêp vào hàng ngũ đáng tôn thờ, vì tôi nghĩ đây là lý do khiến tôi dễ vào địa ngục nhât. Khi ngồi trên cao cho hằng trăm người khac lạy, làm sao người ta thể hiện đưc khiêm nhường và vô ngã trong thâm tâm?

Cầu nguyện Chúa có kêt qủa, tôi phải Tin...
Khi đọc Kinh Thánh, tôi thấy lời Chúa dạy rõ ràng và đơn giản. Nếu mình thật lòng thực hành là có thể thấy kêt qủa đúng hay sai. Luc đầu tôi chỉ làm thử; nếu đúng tôi tin, nếu sai tôi bỏ Kinh Thánh. Sau khi tôi đã thử cầu nguyện âm thầm một mình, theo lời dạy của Chúa trong sach Giăng: 13:13,14. Chúa đã ban cho tôi những phep lạ thật kỳ diệu và thật là cụ thể. Bươc đầu tiên tôi không dám tin lắm, nhưng nhiều lần cầu nguyện có kêt qủa tôi phải tin. (Xem thêm hai quyển sach nói trên). Ngày nay tôi sống trong Đưc Tin của Chúa, sự cầu nguyện và kêt qủa của sự cầu nguyện chẳng khac gì mình thụ hưởng thưc ăn điều độ và hit thở khí trời trong lành, ăt phải có sưc khẻo tôt cho mình mà thôi.
Sau khi trở về trong Chúa, tôi được Chúa thay đổi bản tính tội lỗi, để được mặc vào bản tính mới: tự do, nhẹ nhàng, khoan khoái thật là tuyệt vời. Chúa cho tôi đăc thắng tội lỗi mà không kiêu ngạo và Chúa cũng cho tôi thấy cái vực thẳm giữa sự thánh khiêt và tội lỗi là rât mong manh, nhưng hai thế giới ấy cach xa nhau lắm.
Mỗi ngày sống trong Chúa qủa thật là qúy báu. Dù bị thế gian băt bớ hiểu lầm, bị xuyên tạc, tôi vẫn là một người hạnh phuc và yêu qúy mọi người. Không thât vọng, không nghi ngờ, tôi vui thỏa từng giờ, từng ngày. Đó là sự bình an, sự yên nghỉ mà Chúa hứa ban cho bât cứ ai muốn đi theo Ngài. Tôi tiêp tục sống với Lời Chúa và nhận đư��c những kêt qủa vô cùng lớn lao. Khi cầu nguyện linh hồn tôi bình tịnh, tỉnh táo, nhẹ nhàng, khiêm hạ và thực tế chứ không mù mờ như khi ngồi thiền trươc đây. Bổn tánh nhân từ thánh khiêt của Chúa, được bồi đăp thêm trong con người mới của tôi mỗi ngày rât cụ thể. Đây là những kêt qủa qúy báu, để làm bằng chứng về nươc Thiên đàng mai sau như lời Chúa hứa.

Đối chiếu Phật Học và Kinh Thánh

Đối chiếu Phật Học và Kinh Thánh, nhất là kinh nghiệm tu hành theo đạo Phật với kêt qủa kỳ diệu trong Đưc Tin Chúa ban cho tôi, tôi nhận thấy rằng Thái tử Tât Đạt Đa là một người thiêt tha tìm con đường giải thoat, sau bốn lần ra khỏi cung vua để nhìn thấy cuộc đời toàn là đau khổ. Với bản tính một người Ấn Độ, thái tử đã suy niệm sâu xa về sự huân tập đưc tánh xấu trong con người, nhưng thái tử chưa thấu đạt nguyên nhân của sự huân tập ấy, là tội lỗi của con người như Kinh Thánh đã nói rõ. Vì thế thái tử cho là nghiệp lực thay vì là tội lỗi.
Tiếc thay thời đó Kinh Thánh Cựu Ươc chưa được truyền qua Ấn Độ, mặc dù thái tử đã học nhiều tôn giáo khac nhau. Là một người thông minh vượt bực, lại có lương tâm nhạy bén, thái tử Tât Đạt Đa không thỏa mãn với những luồng tư tưởng và tôn giáo nặng thần bí theo văn hóa Ấn Độ. Sáu năm đầu sau khi từ bỏ hoàng cung để quyêt chí tu học, thái tử đã thât bại với phap môn khổ hạnh đầu đà. Rôt cuộc thái tử Tât Đạt Đa cương quyêt ngồi thiền bên bờ sông Ni Liên. Ngài thề rằng "Nếu ta không tìm ra chân lý thà chêt chứ không đứng dậy khỏi chổ này". Khi ngồi thiền, thái tử đã thấy những hiện tượng nội tại như ngày nay nhiều người ngồi thiền cũng đã thấy. Từ đó Ngài nghĩ rằng mình đã thành Phật. (Ngày nay nhiều người ngồi thiền cũng đã tự xưng mình đã thành Phật).. Giáo lý của Ngài đã bị cac thế hệ sau thêm thăt qúa nhiều, khiến cho mẫu thuẫn và bị mê tín hóa. Ví dụ Phật giaó Việt Nam có nhiều điều không bà con gì với Phật giáo Ấn độ. Cac bộ kinh của Phật chỉ được truyền khẩu qua nhiều thế kỷ, trươc khi được ghi lại bằng trí nhớ của môn đệ. Đó là lý do khiến kinh Phật bị thât bản và bị thêm thăt thành "thiên kinh vạn quyển" khiến nhiều người học đạo đã lạc đường rồi mà vẫn chưa hay biêt gì cả, hoặc có biêt phần nào cũng cam chịu nhắm măt đưa chân.
Phần đông người ta không đủ can đảm để tự hỏi đâu là chân lý ngoài cac nghi thưc cố châp và triêt lý mơ hồ. Vì không có chân lý, những mâu thuẫn sờ sờ cũng không ai màng che đậy.
Ví dụ nghi thưc quy y thì có ba câu thề nguyện, câu đầu là "Qui y Phật, tôi thề sẽ không quy y, trời, thần, quỷ vật, nhưng câu nói đầu tiên ở cửa miệng người ta là "Cầu Trời, khẩn Phật"
Nghĩa là cầu Trời trước, khẩn Phật sau. Còn thờ lạy thì thờ lạy đủ cac loại thần mà họ không biêt, kể cả thần Quan Công, thần Hộ Phap, thần chú, thần hoàng thổ địa, thần cô hồn các đảng.

Kinh nghiệm theo Chúa của Tôi
Sau hơn hai mươi năm theo Chúa, mọi thăc măc của tôi đã được Kinh Thánh giải đap cả ba mặt: thân thể, tâm trí và tâm linh. Tôi đã nhận được nhiều phep lạ lớn lao. Bản thân tôi được Ngài chữa lành bịnh đau bao tử, bịnh trầm uât. Con trai tôi đã bị sôt xuât huyêt tăt thở, được Chúa chữa lành đang khi cầu nguyện. Những thói hư tật xấu của tôi được loại bỏ, để được thay thế vào những đưc tánh mới mẻ, nhân từ, thánh khiêt từ Đưc Chúa Trời mà tôi không cần phải khổ công tu luyện như trươc đây.
Giải đáp lớn nhât đối với tôi là sự hiện diện của Chúa Thánh Linh trong con người vốn tầm thường yếu đuối của tôi, để làm cho tôi nên mạnh mẽ...Chúa đã cho tôi thấy nhiều giâc mơ tuyệt diệu, nhưng riêng tư và thực tế đến nỗi khó tả cho ai biêt. Tôi giữ chứng cớ Ngài trong lòng một cach kín nhiệm và hạnh phuc hân hoan. Chúa cho tôi chứng cớ của Ngài một cach thực tế đến nỗi ai phịa ra lời chứng dối là khó che dấu được với Ngài trong tôi, giống như ai đã biêt ba tôi và nói với tôi rằng đã gặp, đã quen, đã sống với ông cụ là tôi biêt ngay người đó nói thật đến mưc độ nào. Chúa đã cho tôi kinh nghiệm sống để biêt Kinh Thánh là Lời sống trong năng quyền của Đưc Thánh Linh chứ không phải là lý thuyêt suông. Để mạc khải ơn tha thứ, trươc hêt Ngài đã tha tội cho tôi. Để mạc khải tình yêu thiêng liêng, trươc hêt Ngài đã yêu tôi và gánh chịu tội lỗi cho tôi trên thập gía.
Tình yêu của Chúa là một bản tính thực tế đầy hiệu năng trong cuộc sống thường nhật, chứ không chỉ là một sự diễn tả bằng lời nói hay chữ viêt. Với những bằng chứng thực tế này, tôi qủa quyêt tiêp tục vui mừng và tin cậy Chúa như những gì Ngài dạy trong Kinh Thánh, dù hôm nay tôi chưa nhìn thấy hêt. Chúa Giêsu phán: "Vì ngươi thấy ta nên ngươi tin; phươc cho kẻ chẳng từng thấy mà đã tin". Ôi Lời Chúa thật là tuyệt vời! Cảm tạ Chúa.
Kinh Thánh nói: "Tiền công của tội lỗi là sự chêt; nhưng sự ban cho của Đưc Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đưc Chúa Jesus Christ, Chúa chúng ta (Roma 6:23)". Chúa dạy rằng tội lỗi di truyền trong dòng dõi loài người sau khi tổ tiên của chúng ta đã phạm tội. Chúng ta có thể tu và sửa cái phong cach bề ngoài cho tôt đẹp, nhưng bản tính tội lỗi bên trong thì không thể nào tự sửa chữa được. Vì thế Ngài ban Con Một của Ngài đến thế gian để gánh cái ach tội lỗi cho chúng ta.
Điều đáng tiếc là còn nhiều người đang khươc từ ơn cứu rỗi của Chúa. Ai muốn giải quyêt nguồn gôc tội lỗi thì phải quay về với Đấng dựng nên chúng ta. Ngài có quyền xét đoán chúng ta và cũng có quyền tha thứ cho chúng ta. Ngài ban cho chúng ta Ảnh Tượng của Ngài, nhưng chúng ta phạm tội nên đã đánh mất Ảnh Tượng thiêng liêng của Ngài. Kinh Thánh nói "Vì mọi người đều đã phạm tội, nên đã thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Roma 3:23)
Đức Chúa Trời yêu con người dù con người đã phạm tội. Nhưng Đức Chúa Trời không châp nhận tội lỗi, nên Ngài đã lập kế hoạch giải cứu con người ra khỏi tội lỗi. Giải pháp của Ngài có hai phần chính: tha thứ tất cả các vi phạm đã qua từ trong bản chất đến hành vi, và dẫn dắt chúng ta vào sự sống mới để thắng tội lỗi. Tất cả giải pháp của Ngài đều đặt trong Con Một của Ngài là Chúa Cứu Thế Jesus Christ. Chúa Jesus Christ xác nhận rằng "Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Ngài, hầu hể ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời" (Giăng 3:16)
Chúa Jesus Christ đã hiện đến thế gian suốt 2000 năm qua. Ngài đã chết trên thập tự giá để sự chết cứu chuộc của Ngài là nơi mà chúng ta đem tội l��i mình đến để đặt vào bằng tấm lòng ăn năn và tin cậy. Ai tin vào ơn cứu chuộc của Ngài, thì tội lỗi người ấy bị đóng đinh để đồng chết với Ngài trên thập tự giá. Nhưng Ngài là Đấng đến từ Đức Chúa Trời, nên Đưc Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại. Quyền năng sống lại của Ngài đem đến cho kẻ tin Ngài sức sống phục sinh mới mẻ. Nhờ sức sống phục sinh mới mẻ này, con người chúng ta biết được Ảnh Tượng của Đưc Chúa Cha trong chúng ta vốn bị tội lỗi che lâp. Ảnh Tượng của Ngài được tái dựng trong chúng ta, để chúng ta tái sở hữu bằng chứng của địa vị làm con Đưc Chúa Trời.
Nếu chúng ta không trở về với Chúa, nghĩa là chúng ta vẫn để tội lỗi cai trị chúng ta và tội lỗi ngăn cách tình cha con của Đức Chúa Trời và chúng ta. Nếu khước từ ơn tha tội của Chúa, chúng ta sẽ vào địa ngục sau khi chết phần xác. Ví dụ một đứa con từ bỏ cha mẹ, dù nó ăn chay trọn đời vẫn mang tội bất hiếu. Một người từ chối Đấng tạo nên mình, dù có tự đặt ra cho mình bao nhiêu giới tu, vẫn là một người có tội với Trời. Trước phải quay lòng về với Chúa, sau đó mới nói tới chữ tu theo sự dắt dẫn của Ngài.

Kính thưa qúy vị,
Khả năng con người có giới hạn, đặc biệt khả năng làm điều lành của con người thì qúa it ỏi và rất chủ quan. Chúng ta chỉ học theo ý tưởng của loài người để làm lành, nhưng chúng ta vô tình vẫn làm những điều ac mà mình không biết hết. Vậy điều lành đúng nhất là điều lành trong Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng ra vũ trụ và loài người. Các vĩ nhân như Khổng tử, Lão tử, Đức Thich Ca đều là người như chúng ta, vì thế những tư tưởng và đạo lý của họ vẫn có giới hạn nhất định, điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả. Kinh Thánh ghi rằng ý tưởng của Đức Chúa Trời là vô cùng cao siêu không giống như ý tưởng của loài người. Và chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời , là Đấng dựng nên tất cả, là Đấng tha tội cho ai ăn năn, là Đấng xét đoán bất cứ ai cứng lòng và vô tín. Dù chúng ta chấp có hay chấp không, Chúa cũng đã dựng nên tất cả rồi...
Hơn 20 năm trở về trong Chúa, tôi được Ngài giải đap tât cả những thăc măc nội tâm, được Ngài tái sinh thành con người mới trong tâm linh, được sống hạnh phuc thỏa lòng trong tình yêu siêu thoát của Ngài. Tôi kinh nghiệm được quyền năng và sức sống phục sinh của Chúa Jesus Christ. Bất cứ ai quay lòng về với Chúa Jesus Christ đều được Ngài tái lập làm con Đức Chúa Trời, được nếm trải tình yêu thiêng liêng của Ngài và được sống hạnh phúc thỏa lòng. Kinh nghiệm sống hạnh phúc và đắc thắng tội lỗi là vô cùng tuyệt vời.
Mặc dù hơn 20 năm qua bị thử thách, bị bắt bớ, bị hiểu lầm trong xã hội Việt Nam, nhưng tôi vẫn là một người hạnh phúc, không thất vọng, không oán than như ngày trước. Những thất bại, những thiệt thòi của tôi ngày trước đều được Chúa ban lại những thành công thiêng liêng đầy hạnh phúc hôm nay. Khi ở trong Chúa, cuộc đời chúng ta thật là đáng quý, đáng được hưởng những phước hạnh trần gian và phước hạnh thiêng liêng. Đạo Phật nói đời là bể khổ. Giáo lý này chỉ đúng trên mặt tiêu cực của những người không tiếp nhận đức tin Con Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus Christ mà thôi. Thật ra đời còn nhiều điều đáng hưởng, vì thế ai cũng thích sống lâu. Trong Chúa Jesus Christ cuộc đời rất đẹp quý vị ạ.
Có thể một vài anh em trong hàng ngũ Phật giáo cực đoan, cảm thấy khó chịu khi đọc bài làm chứng này. Nhưng đó là bản tính con người bình thường, vừa tốt vừa xấu, vừa đúng vừa sai trong mỗi chúng ta. Tội lỗi rất tinh vi, nó khiến chúng ta ưa phân rẽ, ưa hận thù vì những khác biệt về tôn giáo, văn hóa, dân tộc...Mọi tôn giáo, văn hóa và dân tộc giữa thế gian này đều tạm bợ. Vì thế gian là cõi tạm. Thế gian có quá nhiều tín ngưỡng. Tín ngưỡng này thờ khỉ, tín ngưỡng kia thờ bò, tín ngưỡng nọ thờ chuột, tín ngưỡng ấy thờ hình tượng, lại có tín ngưỡng thờ vĩ nhân, thờ bình vôi, thờ ông táo, thờ cây đa...nhưng thảy đều thờ những tạo vật hữu hạn hoặc vô tri. Kinh Thánh dạy chúng ta phải hết lòng, hết ý thờ phượng Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên chúng ta. Chúa Jesus Christ đến từ Đức Chua Trời để mạc khải Đức Chúa Trời cho chúng ta.
Tôi thành tâm tha thiết kêu gọi anh chị em từ mọi tôn giáo, văn hóa và dân tộc nên mạnh dạn trở về trong Chúa Jesus Christ để nhận ơn tha tội, để được tái sinh, để được sống đời đời và được nhận lại bản tính nhân lành của Cha thiêng thượng. Bất cứ ngày nào còn sống, tôi muốn nói lên chân lý này, và bất cứ lúc nào lìa khỏi xác thân để về với Chúa là tôi được hưởng nước trời vĩnh cửu.
Gặp Chúa là vô cùng hạnh phúc, không ai có thể ngậm miệng, không ai nỡ mặc nhiên châp nhận những ý kiến chung chung cho rằng "đạo nào cũng tốt, đạo nào cũng dạy làm lành lánh dữ". Thế gian có nhiều tôn giáo mê tín sai lầm, cũng có tôn giáo dạy điều sai lạc; nếu không dứt khoá́t trở về trong Chúa, con người chúng ta không thể giải quyết được vấn đề tội lỗi của mình và chỉ tiêp tục sống trong mù mờ tăm tối cho đến khi linh hồn hư mất trong tối tăm
Kính mong anh chị em sớm trở về trong Chúa Jesus Christ để được hưởng tiên vị thiên đàng ngay hôm nay. Muốn thật hết lòng.
Nguyễn Huệ Nhật

-------------------------------------------

 
HOC HOI SE SONG DAO - THU HAI CN13TN- B PDF Print E-mail

Thứ Hai - TUẦN 13TN-B

Bài Ðọc I: (Năm II) Am 2, 6-10. 13-16

"Chúng sẽ dập đầu kẻ cùng khổ xuống bùn đất".

Trích sách Tiên tri Amos.

Ðây Chúa phán: "Vì ba tội ác của dân Israel, và vì bốn tội, Ta sẽ không rút lại quyết định của Ta nữa: vì chúng sẽ bán người công chính để lấy tiền, sẽ buôn kẻ nghèo khó để kiếm một đôi giầy! Chúng đã dập đầu kẻ khốn cùng nghèo khó xuống bùn đất, chặn lối người hèn hạ. Vì cả cha con chúng cùng tìm đến một cô gái để xúc phạm thánh danh Ta. Chúng nằm lên đống y phục thế nợ gần mỗi bàn thờ, chúng uống rượu của kẻ chúng đã bắt nộp phạt ngay trong ngôi chùa vị thần chúng thờ.

Ta đã tiêu diệt dân Amorrhê trước mặt chúng, dân ấy cao lớn như cây bá hương, và cường tráng như cây sồi. Ta đã tiêu diệt từ hoa trái trên cao đến tận gốc rễ dưới thấp. Chính Ta đã dẫn các ngươi ra khỏi đất Ai-cập, dẫn dắt các ngươi suốt bốn mươi năm trong sa mạc, để các ngươi chiếm lấy đất Amorrhê.

Này, Ta sẽ đè nặng trên các ngươi, làm cho các ngươi rên siết như tiếng rít của một chiếc xe chở đầy cỏ bị kẹt. Người mau lẹ cũng sẽ không trốn thoát được, kẻ mạnh sức cũng không dùng được sức mình, kẻ can trường cũng không thoát chết; người mang cung nỏ cũng không đứng vững, kẻ lanh chân cũng chẳng chạy thoát, người kỵ mã cũng hết đường trốn tránh; kẻ can đảm nhất trong muôn người can đảm, trong ngày đó, cũng sẽ phải trốn thoát mình trần".

Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Tv 118, 27

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 8, 18-22

"Con hãy theo Ta".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đám đông dân chúng vây quanh Người, thì Người ra lệnh sang qua bờ bên kia. Một luật sĩ đến thưa Người rằng: "Lạy Thầy, bất cứ Thầy đi đâu, con cũng xin theo Thầy". Chúa Giêsu trả lời: "Con chồn có hang, chim trời có tổ, Con Người không có chỗ gối đầu". Một môn đệ khác thưa Người rằng: "Thưa Thầy, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã". Chúa Giêsu trả lời: "Con hãy theo Ta, và hãy để kẻ chết chôn kẻ chết".

Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm VÀ CHIA SẺ

"kẻ chết chôn kẻ chết"

Bài Phúc Âm cho ngày trong tuần hôm nay rất ngắn gọn, chỉ bao gồm 2 câu trả lời của Chúa Giêsu cho 2 trường hợp khác nhau. Trường hợp thứ 1 về "Một kinh sư tiến đến thưa Người rằng: 'Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo'" , và trường hợp thứ 2 về "Một người khác là người môn đệ thưa với Người: 'Thưa Ngài, xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã.'"

Chúa Giêsu đã trả lời cho vị kinh sư rằng "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu", và trả lời cho người môn đệ rằng: "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ".

Trước hết, chúng ta thấy nơi 2 câu Chúa Giêsu trả lời như thế này: câu thứ nhất cho vị kinh sư hoàn toàn có tính chất khách quan, thách đố và mời gọi, để vị kinh sư này suy nghĩ xem có thể theo Người là một tôn sư homeless vô gia cư để rồi tự quyết định lấy.

Trái lại, câu trả lời thứ hai của Người (hình như) cho một trong thành phần môn đệ đã theo Người ngỏ lời xin phép Người cho về nhà lo phần an táng thân phụ của mình, có tính cách chủ quan, cương quyết và nghiêm ngặt, như thể đã theo Người thì không được coi ai hơn Người, dù là thân nhân ruột thịt của mình, và vì thế đừng lo chuyện thế gian, hãy để cho thế gian lo chuyện thế gian, "phần con, hãy theo Thày" (Gioan 21:22).

Cả 2 câu trả lời này đều phản ảnh Bài Giảng Trên Núi về các Phúc Đức Trọn Lành mà Người đã huấn dụ các môn đệ của Người. Câu trả lời thứ nhất liên quan đến mối phúc đức trọn lành "ai có lòng khó khăn ấy là phúc thật, vì chưng Nước Chúa Trời là của họ" (Mathêu 5:3), và câu trả lời thứ hai liên quan đến lời huấn dụ của Người: "Trước hết hãy tìm Nước Chúa và sự cống chính của Ngài, còn tất cả mọi sự khác sẽ được ban cho sau" (Mathêu 6:33).

Tóm lại, qua hai câu trả lời này, Chúa Giêsu kêu gọi ai muốn theo Người thì phải sống trọn lành hơn, một sự sống như Người (câu trả lời 1) và với Người (câu trả lời 2), một sự sống nhờ đó mới có thể "nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành" (Mathêu 5:48).

Câu Chúa Giêsu huấn dụ người môn đệ nào đó "xin cho phép con về chôn cất cha con trước đã" rằng "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ" không phải là một thứ huấn dụ dạy con cái bất hiếu với cha mẹ của mình, trái lại, Người muốn thăng hóa và thánh hóa tình nghĩa xác thịt, như Người đã đối xử với chính Mẹ của người sau khi Mẹ Người tìm thấy Người trong đền thờ sau 3 ngày lạc mất Người (xem Luca 2:49), hay khi Mẹ Người và anh chị em họ của Người ở bên ngoài muốn gặp Người (xem Luca 8:20).

Bởi thế, phải hiểu cái "chết" trong câu Chúa Giêsu muốn nói đến ở đây không phải chỉ hoàn toàn về phần xác mà còn nhất là về phần hồn. Và vì thế lời khuyên của Chúa Giêsu ở đây có thể hiểu là ai muốn theo Người và muốn làm môn đệ đích thực của người thì phải làm sao sống vượt lên trên thế gian, đừng chiều theo khuynh hướng chết chóc của thế gian, khuynh hướng "chuộng tối tăm hơn ánh sáng" (Gioan 3:19), khuynh hướng thích đi vào con đường rộng dẫn đến diệt vong (xem Mathêu 7:13). Nhờ đó, họ chẳng những thoát khỏi cái chết của thế gian mà còn có thể cứu được thế gian nữa bằng thế giá thánh đức của họ trước nhan Chúa.

Cái chết được Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay và kêu gọi người môn đệ nào đó của Người "hãy để kẻ chết chôn kẻ chết", là cái chết về luân lý, như được Chúa đề cập đến qua miệng Tiên Tri Amos trong Bài Đọc 1 hôm nay: "Vì ba tội ác của dân Israel, và vì bốn tội, Ta sẽ không rút lại quyết định của Ta nữa: vì chúng sẽ bán người công chính để lấy tiền, sẽ buôn kẻ nghèo khó để kiếm một đôi giầy! Chúng đã dập đầu kẻ khốn cùng nghèo khó xuống bùn đất, chặn lối người hèn hạ. Vì cả cha con chúng cùng tìm đến một cô gái để xúc phạm thánh danh Ta. Chúng nằm lên đống y phục thế nợ gần mỗi bàn thờ, chúng uống rượu của kẻ chúng đã bắt nộp phạt ngay trong ngôi chùa vị thần chúng thờ".

Cái chết về luân lý này cũng được Thánh Vịnh gia nhắc tới trong Bài Đáp Ca hôm nay: "Gặp tên trộm cắp, ngươi liền bén gót chạy theo, và ngươi đồng lõa với những kẻ ngoại tình. Ngươi buông miệng để tha hồ nói xấu, và lưỡi ngươi thêu dệt những chuyện gian ngoa" (câu 2)

Đó là lý do trong Bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu đã khuyên một người môn đệ nào đó còn lo toan về cái chết của người thân trong gia đình này rằng: "Anh hãy đi theo tôi, cứ để kẻ chết chôn kẻ chết của họ". Còn trong Bài Đáp Ca, qua miệng Thánh Vịnh gia, Thiên Chúa đã vừa cảnh báo vừa kêu gọi những con người sống trong chết chóc của trần gian như thế rằng:"Ngươi làm thế mà Ta đành yên lặng? Ngươi đã tưởng rằng Ta giống như ngươi? Ta sẽ bắt lỗi, sẽ phơi bày trước mặt ngươi tất cả" (cảnh giác); "Hãy am hiểu điều đó, hỡi những người quên Thiên Chúa, kẻo khi Ta bắt mang đi, thì không ai giải thoát cho. Ai hiến dâng lời khen ngợi, người đó trọng kính Ta; ai đi đường ngay thẳng, Ta chỉ cho thấy ơn Thiên Chúa cứu độ." (kêu gọi)

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - LAM SAO DE DUOC CUU ROI PDF Print E-mail

LÀM SAO ĐƯỢC CỨU RỖI ĐỂ SỐNG ĐỜI ĐỜI VỚI CHÚA TRÊN NƯỚC TRỜI BÂY GIỜ VÀ MAI SAU ?
Hỏi :
Xin cha giải thích thêm về ván đề cứu rỗi để hưởng hạnh phúc Nước Trời
Trả lời :
Đây là vấn đề đã gây ra nhiều tranh cãi trong và ngoài Giáo Hội. Cụ thẻ, các giáo phái Tin Lành đều cho rằng con người được cứu độ là nhờ tin vào Chúa Kitô, chứ không phải nhờ cố gắng nào của cá nhân mình, vì tội Nguyên Tổ ( Original Sin ) đã phá hủy hoàn toàn khả năng hành thiện của con người, nên không ai có thể làm được gì đáng để được cứu rỗi ngoài tin vào Chúa Kitô.

Mặt khác cũng có nhiều người Công Giáo và Tin Lành quá lạc quan cho rằng Thiên Chúa là Đấng giầu tình thương và tha thứ nên không cần phải đặt nặng vấn đề cứu rỗi vì Chúa Giêsu-Kitô đã chết thay cho mọi người rồi, cho nên chỉ cần nhờ cậy vào công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là được cứu rỗi, và không cần phải làm gì thêm về phía con người.
Cụ thể, có một số linh mục ( Viêt nam, Mỹ và Canada), cũng vì cho rằng Chúa Kitô đã đền thay cho mọi người có tội rồi, nên đã mời hết mọi người tham dự Thánh lễ lên rước Mình Máu thánh Chúa, không phân biệt họ là thành phần nào, có Đạo hay không, hoặc đang sống trong tình trạng ngăn trở như ly dị và chưa được tháo gỡ hôn phối cũ mà lại sống chung với người khác như vợ chồng. Lại nữa, có những giáo dân không bao giờ đi xưng tội, nhưng cứ lên rước Mình Thánh Chúa vì cho rằng Chúa đã tha hết mọi tội rồi.! Thêm vào đó, cũng có rất nhiều người Công giáo không muốn đến nhà thờ để tham dự Thánh lễ vì nghĩ rằng không cần thiết, chỉ cần ở nhà đọc Kinh Thánh là đủ !
Chúng ta phải nghĩ thế nào về những quan điểm nói trên ?
Trước hết, chúng ta tin có Chúa là Đấng đầy lòng thương sót đối với toàn thể nhân loại. Thánh Vịnh 30 đã ca tụng tình thương bao la của Thiên Chúa như sau:
" Người có nổi giận, giận trong giây lát
Nhưng yêu thương, thương suốt cả đời." ( TV 30(29) : 6)
Mặt khác , chúng ta không được coi nhẹ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, và vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc bảo vệ, nuôi dưỡng đức tin và ban phát ơn cứu độ của Chúa Giê-su-Kitô cho những ai thành tâm muốn được cứu rỗi để vào Nước Trời sau khi đã hoàn tất hành trình con người trên trần gian này..
Thật vậy, nếu chúng ta được cứu rỗi và có hy vọng được gặp Chúa là cội nguồn của mọi an vui hoan lạc, thì trước hết ta phải cậy nhờ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu rỗi và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4). Thêm vào đó, chúng ta phải cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, Đấng " đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28)
Sau nữa phải cần đến Giáo Hội là trung gian trong việc ban phát ơn cứu độ của Thiên Chúa cho con cái mình và cho những ai muốn gia nhập Giáo Hội để nhận lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng đã thiết lập Giáo Hội trên nền tảng các Tông Đồ để tiếp tục sứ vụ rao giảng, dạy dỗ và thánh hóa Dân Chúa được trao phó cho mình chăn dắt về mặt thiêng liêng.
Nhưng cho dù Thiên Chúa mong muốn cho mọi người được cứu độ và cho dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu đã quá đủ cho ta được cứu rỗi; dầu vậy Thiên Chúa vẫn đòi hỏi sự cộng tác của con người vào ơn cứu độ, vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng, để hoặc chọn sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo thế gian với "văn hóa của sự chết"để tự do tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất và tìm hưởng mọi thú vui vô luân vô đạo như thực trạng của biết bao triệu con người trên khắp thế giới tục hóa ngày nay.
Thiên Chúa chỉ mời gọi con người yêu mến và sống theo đường lối của Chúa để được chúc phúc hay bị nguyền rủa như lời ông Mô-sê đã nói với dân Do Thái xưa, sau khi họ được giải phóng khỏi ách nô lệ thống khổ trên đất Ai Cập :
" Hãy xem, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn : hoặc được chúc phúc, hoặc bị nguyền rủa. Anh em sẽ được chúc phúc nếu vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em mà tôi truyền cho anh em hôm nay. Anh em sẽ bị nguyền rủa , nếu không vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA." ( Đnl 11: 26-28)
Khi phán những lời trên với Dân Do Thái qua eejng ông MôSê, Thiên Chúa đã cho chúng ta thấy rõ là Người muốn con người dùng ý muốn tự do mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng để đáp trả tình yêu của Chúa và sống theo những thánh chỉ của Người để được cứu độ nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Nhưng nếu con người tự ý chọn sống theo thế gian và theo ý riêng mình để khước từ Thiên Chúa thì phải chịu hậu quả là không được hưởng nhờ công nghiệp của Chúa Kitô, như Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người xưa kia như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa ,lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7:21)
Thi hành ý muốn của Chúa Cha có nghĩa là quyết tâm từ bỏ con đường gian tà, gian ác, bóc lột bất công, tham ô, giết người, khủng bố , giết thai nhi, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm vô cùng khốn nạn và tội lỗi, cùng với đam mê của cải, tiền bạc và mọi thú vui vô luân vô đạo, như bộ mặt thật của "văn hóa sự chết" đang thống trị tâm hồn của biết bao triệu con người ở khắp nơi trên thế giới duy vật , vô thần, vô luân, và tôn thờ khoái lạc ( hedonism) hiện nay.
Nếu người ta cứ sống như vậy, thì dù miệng có nói " tôi tin có Chúa" bao nhiêu lần thì cũng vô ích mà thôi. Và Chúa cũng không thể cứu họ được dù Người là tình thương vô biên và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá, đủ cho con người được cứu độ. Nhưng đủ ở đây không có nghĩa là người ta không cần phải làm gì thêm về phần mình, cứ việc sống cách nào tùy ý.
Ngược lại, Chúa vẫn đòi hỏi con người phải có thiện chí cộng tác vào ơn cứu độ qua quyết tâm sống theo đường lối của Chúa, xa tránh mọi tội và sự dữ, là những cản trở to lớn cho ai muốn vào Nước Trời để được sống hạnh phúc vinh cửu với Chúa sau khi chấm dứt hành trình trong trần thế này. Đó chính là cách thể hiện thực tâm yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân, thực thi công bằng và bác ái, yêu mến sự trong sạch, thánh thiện là những tiêu chuẩn căn bản để tỏ ra thiện chí muốn " thi hành ý muốn của Chúa Cha , Đấng ngự trên Trời."như Chúa Giê su đã nói rõ trên đây..
Nói khác đị, là người có niềm tin Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, tin Chúa Giê-su Kitô là Đấng đã cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa qua nỗ lực qui hướng đời sống vào mục đích tối hậu là Thiên Chúa và Vương Quốc bình an và hạnh phúc của Người để dứt khoát khước từ mọi cám dỗ của thế gian -và nhất là của ma quỉ- kẻ thù của chúng ta, ví như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." Như Thánh Phêrô đã cảnh báo. ( 1 Pr 5: 8)
Nếu không có nỗ lực nói trên để cứ đi hàng hai là vẫn tin có Chúa nhưng đời sống và việc làm lại thuộc về thế gian và ma quỷ thì chắc chắn Chúa không thể cứu ai được, cho dù Chúa Kitô đã chết để đền tội thay cho con người, nhưng không bảo đảm rằng mọi người sẽ đương nhiên được cứu độ vì đã có công nhiệp cứu chuộc vô giá của Chúa. Công nhiệp này là điều kiện tiên quyết , nhưng con người vẫn phải có thiện chí đáp trả tình thương của Thiên Chúa qua nỗ lực bước đi theo Chúa Kitô là " con đường, là sự thật và là sự sống," ( Ga 14: 6). Nếu không thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa sẽ trở nên vô ích.
Đó cũng là lý do tại sao Chúa đã ngăn đe những ai "đi hàng hai" trong Sách Khải Huyền như sau:
" Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta. " ( Kh 3: 15-16)
Như thế, đủ cho thấy là không phải cứ nói " lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời" như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa. Ngược lại, vào hay không còn tùy thuộc cách con người sử dụng ý muốn tự do để hoặc sống theo Chúa hay theo thế gian và chiều theo những huynh hướng xấu còn tồn tại trong bản tính con người, như đam mê tiền của, ích kỷ , độc ác, chạy theo những quyến rũ về vui thú vô luân vô đạo,..Người có niềm tin Chúa mà sống như vậy thì chắc chắn đã khước từ Chúa bằng chính đời sống của mình, đã tự lên án mình, và tự tìm con đường đưa đến hư mất đời đời.
Sau hết, người tín hữu Chúa Kitô cũng không thể coi thường vai trò và sứ mệnh của Giáo Hội là Hiền thê và là Thân Thể nhiệm mầu ( Mystical Body) của Chúa Kitô, có mặt và hoạt động trong trần gian với mục đích chuyên chở ơn cứu độ của Chúa đến với những ai đã gia nhập Giáo Hội qua bí tích Rửa tội. Giáo Hội chính là Mẹ đang thay mặt và nhân danh Chúa là Cha để dạy dỗ con cái mình sống đúng với Tin Mừng cứu độ và ban phát ơn này qua các bí tích mà Chúa Cứu Thế Giêsu đã thiết lập và trao cho Giáo Hội cử hành để thông ban ơn cứu độ của Người cho con cái cho đến ngày cánh chung tức ngày tận thế. Vì thế, là chi thể của Giáo Hôi, mọi tín hữu phải yêu mến và vâng lời Giáo Hội dạy bảo mọi giáo lý về đức tin và luân lý, cũng như hiệp thông với Giáo Hội trong cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích- đặc biệt là bí tích Thánh Thể và Hòa giải- để được sung mãn trong đời sống thiêng liêng và bảo đảm ơn cứu độ. Do đó, ai coi thường và không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội thì không thể lãnh nhận được ơn thánh Chúa ban phát dồi dào qua Giáo Hội.
Tóm lại, Thiên Chúa là tình thương và hay tha thứ. Chúa Kitô đã hiến mạng sống mình "làm giá chuộc cho muôn người" ( Mt 20: 28). Công nghiệp cứu chuộc này thực vô giá và đủ cho con người được cứu độ. Nhưng đây không phải là lý do để không làm gì về phần mình và không cần đến Giáo Hội để cứ buông thả sống theo những đòi hỏi bất chánh của bản năng, những lôi cuốn của thế gian chối bỏ Thiên Chúa và nhất là những cảm dỗ của ma quỷ, là kẻ thù luôn tìm mọi cách để kéo con người ra khỏi tình yêu của Chúa để làm nô lệ cho chúng và mất hy vọng được cứu độ.Ngược lại, phải cậy nhờ tình thương tha thứ của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, song song với quyết tâm sống cho Chúa và " hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết : có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không được ." ( Lc 13: 24) như Chúa Giêsu đã nói nói với dân chúng đến nghe Người giảng dạy xưa kia.
"Qua của hẹp mà vào" có nghĩa là không được đi vào cửa rộng thênh thang nơi nhiều người đang đi qua để tự do gian manh, lừa đào, tự do phá thai , tự do thay vợ đổi chồng, tự do buôn bán sách báo phim ảnh khiêu dâm đòi truy, tự do mở sòng cờ bạc và làm nghề mãi dâm để kiếm nhiều tiền của, là những cách sống và con đường chắc chắn dẫn đi nhanh đến chốn hư mất đời đời. Nhưng quá nhiều người lại đang nghênh ngang đi vào đó để thách đố hay chế nhạo những ai có niềm tin Thiên Chúa và thực tâm muốn sống niềm tin này cách cụ thể qua quyết tâm xa tránh tội lỗi do ma quỷ và thế gian cấu kết nhau xúi dục đêm ngày để mong xô con người xuống vực thẳm của sự chết trong linh hồn. .
Tóm lại, Thiên Chúa mong muốn cho mọi người được cứu độ,Chúa Kitô đã chết trên thập giá năm xưa để cứu chuộc cho mọi người trong nhân loại từ xưa đến nay và cho đên ngày mãn thời gian Nhưng nếu con người không cộng tác với ơn cứu đô của Chúa để sống theo đường lối của Chúa và xa tránh tội lỗi thì Chúa không thể cứu ai được. chắc chắn như vậy.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hổi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn ( Houston, Texas, USA)

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY CN12TN-B PDF Print E-mail

Alleluia: 1 Sm 3, 9

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 8, 5-17

"Những người từ phương đông và phương tây sẽ đến trong nước trời".

Khi ấy, Chúa Giêsu vào thành Capharnaum, thì có một đại đội trưởng đến thưa Chúa rằng: "Lạy Thầy, thằng nhỏ nhà tôi đau nằm ở nhà, nó bị tê liệt đau đớn lắm!" Chúa Giêsu phán bảo ông rằng: "Tôi sẽ đến chữa nó". Nhưng viên đại đội trưởng thưa Người rằng: "Lạy Thầy, tôi không đáng được Thầy vào dưới mái nhà tôi, nhưng xin Thầy chỉ phán một lời, thì thằng nhỏ của tôi sẽ lành mạnh. Vì chưng, cũng như tôi chỉ là người ở dưới quyền, nhưng tôi cũng có những người lính thuộc hạ, tôi bảo người này đi thì anh đi, tôi bảo người kia đến thì anh đến, tôi bảo gia nhân làm cái này thì nó làm!" Nghe vậy, Chúa Giêsu ngạc nhiên và nói với những kẻ theo Người rằng: "Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Israel. Ta cũng nói cho các ngươi biết rằng: nhiều người từ phương đông và phương tây sẽ đến dự tiệc cùng Abraham, Isaac và Giacóp trong nước trời. Còn con cái trong nước sẽ bị vứt vào nơi tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng". Ðoạn Chúa nói với viên sĩ quan rằng: "Ông cứ về, ông được như ông đã tin". Và ngay giờ ấy, gia nhân ông đã được lành mạnh.

Khi Chúa Giêsu vào nhà ông Phêrô, thấy bà mẹ vợ ông đang sốt rét liệt giường. Chúa chạm đến tay bà và cơn sốt biến đi. Bà chỗi dậy tiếp đãi các ngài.

Ðến chiều, họ đưa đến cho Chúa nhiều người bị quỷ ám: Chúa dùng lời đuổi quỷ, và chữa lành tất cả các bệnh nhân, để ứng nghiệm lời tiên tri Isaia nói rằng: "Người đã gánh lấy các bệnh tật của chúng ta, và đã mang lấy những nỗi đau thương của chúng ta".

Ðó là lời Chúa.

Giao ước sự sống

Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu (8:5-17) cho Thứ Bảy Tuần XII Thường Niên hôm nay tiếp tục bài phúc âm hôm qua, cả hai bài đều được vị thánh ký này ghi lại về 2 trường hợp chữa lành khác nhau, nhưng bài phúc âm hôm qua việc chữa lành của Người liên quan đến một người Do Thái, còn bài phúc âm hôm nay việc chữa lành của Người liên quan đến một người dân ngoại, đó là "một đại đội trưởng".

Thế nhưng, phải công nhận là viên đại đội trưởng Roma này có lòng bác ái yêu thương nên vừa nghe ông yêu cầu: "Lạy Thầy, thằng nhỏ giúp việc cho nhà tôi - my serving boy - đau nằm ở nhà, nó bị tê liệt đau đớn lắm!" nên đã được Chúa Giêsu đáp ứng liền: "Tôi sẽ đến chữa nó".

Đúng thế, viên đại đội trưởng Roma này đã tỏ ra chăm sóc cho cả thằng nhỏ đầy tớ giúp việc nhà cho ông, chứ không phải là con của ông. Nếu có máu đế quốc thì ông chẳng để ý đến nó làm gì, có thể đã bảo nó về nhà của nó để nghỉ ngơi cho đến khi nào khỏi bệnh thì trở lại.

Ngoài ra, có thể ông cũng biết nói cả tiếng Do Thái để sống với họ là thành phần sống dưới quyền đô hộ của đế quốc Rôma. Do đó, không thấy Thánh ký Mathêu nói có người thông dịch hay ông bảo ai nói thay ông. Thánh ký Luca, trong cùng câu chuyện, lại thuật rằng ông "sai một số vị trưởng lão Do Thái đến với Người" (7:3), chứ ông không đích thân đến như trong bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu hôm nay.

Ở Phúc Âm Thánh ký Luca, chúng ta còn thấy 1 chi tiết nữa cho thấy viên đại đội trưởng này sống bác ái yêu thương dân chúng bị đô hộ của mình nên được họ thương mến, đó là chi tiết được chính các vị trưởng lão do ông sai đến với Chúa Giêsu bày tỏ cho Người biết rằng: "Ông ta yêu thương dân chúng tôi, thậm chí xây dựng hội đường cho chúng tôi nữa" (Luca 3:5).

Tuy nhiên, không thể bác ái yêu thương nếu không có lòng khiêm nhượng. Viên đại đội trưởng này quả thực có cả một tấm lòng khiêm nhượng trong vai trò làm đại đội trưởng khá nhiều quyền lực trong vùng trách nhiệm của ông. Trước hết, theo Thánh ký Mathêu, chính ông có thể đã biết tiếng Do Thái (nhờ học hỏi giao tiếp) để sống hòa đồng với thành phần dân bị đế quốc ông đo hộ, chứ không cần nhờ người phụng dịch cho ông. Sau nữa, chính ông đích thân đến xin Chúa Giêsu chữa lành cho thằng nhỏ đầy tớ Do Thái của ông, chứ không sai bảo ai dưới quyền ông. Sau hết, chính ông đích thân bày tỏ cái cảm giác bất xứng trong việc được diễm phúc đón rước vào nhà của ông một vị ông rất coi trọng, ngưỡng phục và đầy lòng tin tưởng là Chúa Giêsu:

"Lạy Thầy, tôi không đáng được Thầy vào dưới mái nhà tôi, nhưng xin Thầy chỉ phán một lời, thì thằng nhỏ đầy tớ của tôi sẽ lành mạnh. Vì chưng, cũng như tôi chỉ là người ở dưới quyền, nhưng tôi cũng có những người lính thuộc hạ, tôi bảo người này đi thì anh đi, tôi bảo người kia đến thì anh đến, tôi bảo gia nhân làm cái này thì nó làm!"

Đó là lý do, không lạ gì, sau khi đối diện với viên đại đội trưởng này, nhất là sau khi nghe ông bày tỏ cả lòng bác ái lẫn khiên nhượng như vậy, Chúa Giêsu đã không ngớt lời khen tặng ông, như Thánh ký Mathêu đã ghi lại trong bài Phúc Âm hôm nay:

"Nghe vậy, Chúa Giêsu ngạc nhiên và nói với những kẻ theo Người rằng: 'Quả thật, Ta bảo các ngươi, Ta không thấy một lòng tin mạnh mẽ như vậy trong Israel. Ta cũng nói cho các ngươi biết rằng: nhiều người từ phương đông và phương tây sẽ đến dự tiệc cùng Abraham, Isaac và Giacóp trong nước trời. Còn con cái trong nước sẽ bị vứt vào nơi tối tăm bên ngoài, ở đó sẽ phải khóc lóc nghiến răng".

Lòng bác ái yêu thương và khiêm nhượng của viên đại đội trương dân ngoại Rôma này phát xuất từ một đức tin hữu thần, dù sống trong một thế giới vô thần, một đức tin còn mãnh liệt hơn cả dân Do Thái của Người, một đức tin được bày tỏ với chính vị Thiên Chúa Làm Người, Đấng đã "nói với viên sĩ quan rằng: 'Ông cứ về, ông được như ông đã tin'. Và ngay giờ ấy, gia nhân ông đã được lành mạnh".

Việc Chúa Giêsu chữa lành cho thằng nhỏ đầy tớ của viên đại đội trưởng dân ngoại Rôma cho thấy rằng Người đến không phải chỉ cứu dân Do Thái mà là để cứu chuộc cả loài người nói chung và những ai tin vào Người nói riêng. Bởi vì, Người tuy mang giòng máu Do Thái nhưng lại mặc lấy bản tính chung của loài người, một bản tính đã bị hư hoại bởi nguyên tội, và vì thế, đúng như câu cuối của bài Phúc Âm hôm nay trích lại lời tiên tri Isaia: "Người đã gánh lấy các bệnh tật của chúng ta, và đã mang lấy những nỗi đau thương của chúng ta".

"Chúng ta" đây nơi lời Tiên Tri Isaia trước hết ám chỉ riêng dân Do Thái, một dân tộc dầu sao cũng đã được Thiên Chúa tuyển chọn để chẳng những tỏ mình ra cho họ và qua họ cho cả dân ngoại nữa. Bởi thế, ngay trong giao ước với tổ phụ Abraham về đất hứa và về một dân tộc đông như sao trời như cát biển đã bao gồm cả dân ngoại rồi (xem Khởi Nguyên 22:17), một dân tộc xuất phát từ một người con sinh ra bởi lời hứa là Isaac chứ không phải theo xác thịt như Ismael từ người tỳ nữ Ai Cập Agar.

Bài đọc 1 hôm nay, được trích từ Sách Khởi Nguyên (18:1-15), đã cho thấy người con giao ước được hứa ban cho vị tổ phụ này trong lúc người vợ của ông là Sara đã hết thời sinh nở, như chính bà nghiệm thực như vậy, khi nghe 3 vị thiên sứ nói về việc bà thụ thai và sinh con:

"Sara đứng sau cửa lều nghe vậy thì bật cười, vì cả hai đã già nua tuổi tác: Sara đã qua thời kỳ sinh nở. Bà cười thầm rằng: 'Tôi đã già, ông nhà tôi đã lão, nào tôi còn tìm lạc thú nữa sao!'"

Thế nhưng, những gì con người không làm được thì không thành vấn đề với Thiên Chúa, và chính vì thế mới là việc của Ngài, và người con sinh ra ngoài khả năng tự nhiên của con người mới quả thực là người con thực sự của giao ước để thực hiện những gì Ngài hứa phải thành hiện thực:

"Chúa phán cùng Abraham rằng: 'Sao Sara lại cười mà rằng: Nào tôi đã già mà còn sinh nở được sao?' Đối với Chúa, có gì khó đâu? Theo đúng kỳ hẹn, độ này sang năm, Ta sẽ trở lại thăm ông, cả hai vẫn còn khoẻ mạnh, và Sara sẽ được một con trai".

Bài Đáp Ca hôm nay, được Giáo Hội lấy từ một số câu tiêu biểu trong Ca Vịnh Ngợi Khen của Mẹ Maria (Luca 1: 46-47,48-49,50 và 53,54-55), chẳng những liên quan đến vợ tổ phụ Abraham là bà Sara mà còn đến cả viên đại đội trưởng dân ngoại Rôma nữa:

1) Đức Maria đã nói: Linh hồn tôi ca ngợi Chúa, và thần trí tôi hoan hỉ vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ tôi.

2) Bởi Người đã nhìn đến phận hèn tôi tớ; thực từ đây, thiên hạ muôn đời sẽ khen rằng tôi phước đức, vì Đấng đã làm cho tôi những điều trọng đại, Người quyền năng và danh Người là Thánh.

3) Đức từ bi Người từ đời nọ tới đời kia dành cho những ai kính sợ Người. Kẻ đói khát, Người cho đầy thiện hảo; bọn giàu sang, Người đuổi về tay không.

4) Chúa đã nhận săn sóc Israel tôi tớ Chúa, bởi nhớ lại lòng từ bi của Người. Như Người đã hứa cùng tổ phụ chúng tôi, dành cho Abraham và miêu duệ ông tới muôn đời.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - NGÀY 26-6-2018 PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Xin Chúa cho con hiểu đường lối những huấn lệnh của Chúa, và con suy gẫm các điều lạ lùng của Chúa. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 7, 6. 12-14 - THỨ BA CN12TN-B

"Tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì hãy làm cho người ta".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Ðừng lấy của thánh mà cho chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con.

"Vậy tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế! Ðấy là điều mà lề luật và các tiên tri dạy.

"Các con hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy; cửa và đường đưa tới sự sống thì chật hẹp, và ít kẻ tìm thấy".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI-CẢM NGHIỆM SỐNG LỜI CHÚA: Con đường sự sống

Bài Phúc Âm cho Thứ Ba Tuần XII Thường Niên hôm nay vẫn tiếp tục Bài Giảng Trên Núi của Chúa Giêsu được Thánh ký Mathêu (7:6,12-14) ghi lại 3 nguyên tắc sống khôn ngoan sau đây:

Nguyên tắc thứ nhất: "Đừng lấy của thánh mà đem cho chó, và đừng vất ngọc trai trước mặt loài heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi quay lại cắn xé các con".

Tại sao vậy? Tại vì chó hay heo là loài thú vật chẳng biết giá trị của những gì loài người vốn trân quí. Bởi thế, "lấy của thánh mà đem cho chó, và vất ngọc trai trước mặt loài heo" là một hành động hoàn toàn ngu xuẩn, phí của và vô ích, thậm chí còn nguy hiểm đến bản thân nữa là đàng khác, ở chỗ chúng cứ tưởng là chúng bị tấn công bằng các viên ngọc trai chẳng khác gì những cục đá vậy, nên chúng có thể "quay lại cắn xé các con".

Ở đây, nếu chú ý chúng ta thấy được hai con thú tiêu biểu được Chúa Giêsu sử dụng trong bài Phúc Âm, đó là con chó và con heo: "chó" có vẻ tinh khôn hơn nên liên quan đến "của thánh" linh thiêng và đến động từ "cho" có vẻ trân trọng chứ không phải là động từ "quẳng" có vẻ khinh bỉ; còn "heo" có vẻ xác thịt hơn nên liên quan đến "ngọc trai" là những gì thuần vật chất và đến động từ "quẳng".

Nhưng dù tinh khôn như "chó" cũng chẳng biết "của thánh" là gì, cũng chẳng nhờ đó mà được linh thiêng hơn, và cho dù xác thịt như "heo" cũng chẳng cần trang điểm bằng "ngọc trai" cho đẹp hơn và hãnh diện hơn. Phải chăng ở đây Chúa Giêsu muốn nói với các môn đệ rằng giáo huấn của Người là những gì "thánh hảo" vô giá và quí báu hơn cả vàng bạc và "ngọc trai", được ban cho các vị để các vị mặc lấy và trang sức cho xứng với vai trò là môn đệ của Người?

Nguyên tắc thứ hai: "Vậy tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì chính các con hãy làm cho người ta như thế! Đấy là điều mà lề luật và các tiên tri dạy".

Nguyên tắc thứ hai này là nguyên tắc "tri kỷ tri bỉ - biết mình biết người", có vẻ tích cực hơn nguyên tắc của Khổng giáo: "đừng làm cho người khác những gì mình không muốn họ làm cho mình".

Nguyên tắc thứ hai này thường được gọi là luật vàng - golden rule, vì nó chất chứa trong tất cả "lề luật và các tiên tri dạy", vì nó phản ảnh giới luật bác ái "yêu người như thể thương thân - ái nhân như kỷ": yêu nhau như bản thân mình.

Nguyên tắc này thật sự là "của thánh", là viên "ngọc trai" quí báu đối với những ai kính sợ Chúa, nhưng lại là những gì quái gở đối với những kẻ gian ác bất chấp thủ đoạn trong mưu đồ thỏa mãn ý riêng và đam mê nhục dục của họ, dù giá phải trả cho những gì họ muốn chiếm đoạt chính là tha nhân.

Tổ phụ Abram trong bài đọc 1 hôm nay (Khởi Nguyên 13:2,5-18) đã áp dụng nguyên tắc "ái nhân như kỷ" này khi để cho Lot cháu của ông chọn trước phần đất nó thích, hơn là chính ông chọn trước để cho cháu phần ông không thích:

"Bác không muốn có sự bất bình giữa bác và cháu, giữa các người chăn chiên của chúng ta, vì chúng ta là anh em với nhau. Trước mặt cháu có cả một miền rộng rãi, xin cháu hãy lìa khỏi bác: nếu cháu đi bên tả, thì bác sẽ đi bên hữu; nếu cháu chọn phía tay phải, thì bác sẽ đi về phía tay trái".

Nguyên tắc thứ ba: "Các con hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến hư mất, và có nhiều kẻ đi lối ấy; cửa và đường đưa tới sự sống thì chật hẹp, và ít kẻ tìm thấy".

Đúng thế, muốn sống nguyên tắc thứ hai là yêu nhau như chính bản thân mình, con người cần phải bỏ mình đi, thậm chí cần phải coi người khác hơn mình. Như vậy thì chẳng khác nào con người cần phải "vào qua cửa hẹp", hoàn toàn đi ngược chiều với đa số phàm nhân luôn coi mình hơn tha nhân, không bao giờ chịu thua thiệt, nếu bị thua thiệt thì tìm cách triệt hạ đối phương hay lấy lại.

Thế nhưng, về phương diện siêu nhiên, chính vì "cửa và đường đưa tới sự sống thì chật hẹp" như thế mà những ai hiên ngang tiến bước mới gặp "sự sống", mới trở nên dồi dào, như trường hợp tổ phụ Abram nhờ nhường cho cháu mà được Chúa chúc phúc:

"Sau khi Lót đi rồi, Chúa phán cùng Abram rằng: 'Hãy ngước mặt lên và từ nơi ngươi đang ở, hãy nhìn tứ phía: đông tây nam bắc. Tất cả đất mà ngươi trông thấy, Ta sẽ ban vĩnh viễn cho ngươi và dòng dõi ngươi. Ta sẽ làm cho con cháu ngươi đông như bụi đất. Nếu ai có thể đếm được bụi đất thì mới có thể đếm được con cháu ngươi. Hãy chỗi dậy và đi khắp miền này, vì chưng Ta sẽ ban miền này cho ngươi'".

Thánh Vịnh 14 (2-3ab,3cd-4ab,5) ở Bài Đáp Ca hôm nay đã diễn tả về con người sống luật vàng như tổ phụ Abram này như sau:

1) Người sống thanh liêm và thực thi công chính, và trong lòng suy nghĩ điều ngay, và lưỡi không bịa lời vu khống.

2) Người không làm ác hại đồng liêu, cũng không làm nhục cho ai lân cận. Người coi rẻ đứa bất nhân, nhưng kính yêu những ai tôn sợ Chúa.

3) Người không xuất tiền đặt nợ thu lời, cũng không ăn hối lộ hại người hiền lương. Người thực thi những điều kể đó, thì muôn đời chẳng có lung lay.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

--------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 10 of 144