mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1154
mod_vvisit_counterHôm Qua9027
mod_vvisit_counterTuần Này52748
mod_vvisit_counterTuần Trước55459
mod_vvisit_counterTháng Này183252
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả7983650

We have: 125 guests online
Your IP: 54.163.117.182
 , 
Today: Mar 26, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 280 = THANH LE MISA PDF Print E-mail

THÁNH LỄ MISA ( TẠ ƠN) QUAN TRỌNG VÀ CẦN THIẾT RA SAO ?
Hỏi : xi n giải đáp hai điều sau đây:
1- Sự quan trong và cần thiết của Thánh Lễ Misa
2- Linh mục bất xứng cử hành Thánh Lễ có thành sự không ?
Trả lời :
Trong Phụng vụ Thánh ( Sacred Liturgy) của Giáo Hội, thì Thánh ễ Tạ Ơn
( Eucharist) là việc cao trọng nhất, có giá trị tiêng liêng cao nhất, cho nên Thánh
Công Đồng Vaticano II đã gọi Thánh lễ là " nguồn mạch và chóp đỉnh của tất cả
đời sống Kitô Giáo" (x. Lumen Gentium số 11)'
Sở dĩ thế, vì Thánh Lễ trước hết là việc diễn lại qua nghi thức phụng vụ Bữa ăn sau
hết của Chúa Kitô với Nhóm Mười hai Tông Đồ trước khi Chúa nộp mình cho
những kẻ thù nghịch đến bắt bớ, mượn cớ Giuda đã bán Chúa cho họ với giá 30
đồng bạc.Trong Bữa ăn lịch sử này, Chúa Kitô đã thiết lập hai Haí Tích rất quan
trong: đó là Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền Chức Thánh, để " anh em làm
việc này mà nhớ đến Thầy." ( Lc 22: 20; 1Cor 11:25).
Làm việc này để nhớ đến Thầy có nghĩa tiếp tục cử hành Bữa ăn của Chúa để có
Thánh Thể làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta trong cuộc lữ hành tiến về quê trời.
Hơn thế nữa, Thánh Lễ Tạ Ơn cũng đồng thời diễn lại cách bí tích Hy Tế thập giá
Chúa Kitô đã một lần dâng trên thập giá cách nay trên hai ngàn năm để xin Chúa
Cha tha tội cho toàn thể nhân loại đáng phải phạt vì tội. Hy Tế này thật vô cùng
quan trọng vì nếu không có, thì tuyệt đối không ai có thể được cứu độ để vào
Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng với Chúa, sau khi phải chết đi trong thân xác
có ngày phải chết đi này.
Nói rõ hơn Thánh Lễ Tạ Ơn không phải là hành động phung vụ nhằm kỷ niệm một
biến cố nào xảy ra trong quá khứ, mà mục đích là diễn lại cách bí tích Hy Tế thập
giá của Chúa Kitô trên bàn thờ ngày nay để xin ơn tha tôi và cứu độ cho chúng ta
bây giờ cũng thể thức và mục đích của Hy Tế thập giá Chúa Kitô đã một lần
dâng lên Chúa Cha trên thập giá năm xưa để xin ơn cứu độ cho con người khi ấy,
" mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó Chúa Kitô,
Chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế ( 1 Cor 5:7) thì công cuộc cứu chuộc
chúng ta được thực hiện.( LG số 3)
Từ trên hai ngàn năm nay, Chúa Kitô, qua tác vụ của Giáo Hội, vẫn liên tục dâng
hy tế cứu độ của Người lên Chúa Cha mỗi khi Thánh Lễ Misa được dâng trên bàn
thờ ở khắp nơi trong Giáo Hội ngày nay, để xin ơn tha thứ và cứu độ cho nhân loại
hôm nay cũng thể thức và mục đích của Hy Tế Chúa dâng trên thập giá năm xưa.
Chỉ khác ở chỗ là xưa trên thập giá, Chúa Kitô là Linh mục, là bàn thờ và là của Lễ
là chính máu Người thực sự đổ ra cũng với mọi khổ nạn Người đang chịu làm
của lễ dâng lên Chúa Cha để xin ơn cứu độ cho con người khi ấy. Nay trên bàn thờ
Chúa Kitô hiện diện cách bí tích và dùng miệng và tay thừa tác viên con người là
linh mục và Giám mục để dâng lại Hy Tế cũng đổ máu nhưng cách bí tích cho
cùng mục đích mà Người đã đổ máu thực sự một lần trên Thập giá xưa kia.
Cho nên, Thánh Lễ trở nên phương tiện cứu độ hữu hiệu nhất mà Giáo Hội cử hành
để vừa diễn lại Bữa Ăn của Chúa và nhất là Hy tế đền tội của Chúa để mưu ích
cho phần rỗi của mọi người tín hữu chúng ta. Chính vì tầm quan trọng này mà
Thánh Lễ trở nên suối nguồn và là đỉnh cao của đời sống Kitô Giáo nói chung và
của Giáo Hội nói riêng. (x.LG số 3) Nghĩa là không có việc đạo đức , hay cử hành
phụng vụ nào có giá trị thiêng liêng cao hơn và đẹp lòng Thiên Chúa Cha hơn
Thánh Lễ Tạ Ơn, vì đây là hy tế đền tội và cảm tạ đẹp lòng Chúa Cha hơn hết mà
Chúa Kitô đã một lần dâng trên Thập giá khi xưa và tiếp tục ngày nay trên bàn thờ
ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội.
Do đó, thật vô cùng cần thiết cho mọi người tín hữu chúng ta tham dự -hay hiệp
dâng Thánh Lễ, nếu không được mỗi ngày thì ít nhất cũng phải tham dự Lễ ngày
Chúa nhật và các ngày lễ trọng quanh năm. Vô cùng cần thiết vì khi tham dự
Thánh Lễ, chúng ta được thông phần sự sống của Chúa Kitô qua việc ăn và uống
mình máu Người hiện diện thực sự dưới hai hình bánh và rượu, là thần lương
nuôi linh hồn chúng ta trong cuộc lữ hành về Nhà Cha trên trời.
Hơn thế nữa, mỗi lần tham dự -hay hiệp dâng Thánh Lễ, chúng ta được lãnh nhận
ơn cứu độ của Chúa Kitô khi ta hiệp dâng hồn xác với mọi vui buồn sướng khổ
của mình cùng với Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha để xin ơn tha thứ và cứu độ của
Chúa Cha nhờ Chúa Kitô, Đấng "đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho
muôn người." ( Mt 20:28)
Nếu không có công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, một lần chịu đóng
đanh và dâng mọi khổ nạn lên Chúa Cha để đền tội thay cho cả loài người,
thì tuyệt đối không ai có thể làm được điều gì đáng được cứu độ. Cho nên, hiệp
thông với Chúa khi Người dâng lại Hy Tế thập giá xưa trên bàn thờ hôm nay ,
là tối cần thiết cho những ai muốn hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa để
vào Nước Trời ngay bây giờ, nếu Chúa gọi ai ra đi trong lúc này. Như thế, mọi
người có niềm tin đều được mời gọi chuẩn bị cách hữu hiệu và thiết thực nhất cho
sự ra đi không biết ngày giờ nào của mình, là siêng năng tham dự Thánh Lễ để
hiệp thông với Chúa Kitô khi Người dâng lại Hy Tế đền tội trên bàn thờ mỗi ngày
để xin ơn tha thứ và cứu độ cho những ai thành tâm muốn hưởng nhờ công nghiệp
này mà vào Thiên Quốc hưởng phúc Thiên Đàng với các Thánh và các Thiên Thần
đang hưởng Thánh Nhan Chúa.
Tóm lại, Thánh Lễ Tạ Ơn quả thật là suối nguồn ơn cứu độ cho mọi người tín hữu
chúng ta trong Giáo Hội, là hiền thê của Chúa Kitô và là Mẹ đang dẫn dắt con cái
mình là mọi người tín hữu chúng ta về nhà Cha, "Đấng cứu độ chúng ta, Đấng
muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý."( 1 Tm 2 :4)
2- Về câu hỏi thứ 2, xin được trả lời như sau:
Trước hết, xin hỏi lại : căn cứ vào đâu mà biết linh mục nào bất xứng ? Chỉ có
Chúa mới biết và phán đoán chính xác về mọi người mà thôi. Chúng ta không nên
phán đoán ai về bất cứ điều gì, vì Chúa Giêsu đã dạy : " anh em đừng xét đoán
để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, vì anh em xét đoán thế nào thì anh em cũng
bi xét đoán như vậy.." ( Mt 7: 1)
Tiếp đến, liên quan đến nội dung cầu hỏi về sự thành sự ( validity) của Thánh Lễ,
xin được trả lời như sau:.
Trước hết phải nói ngay là chỉ có linh mục và giám mục được phép cử hành Thánh
Lễ Tạ Ơn mà thôi. Ai không có chức linh mục thực sự, nghĩa là không được truyền
chức hữu hiệu (invalidly ordained, như các linh mục Anh giáo và Tin Lành), thì
không thể cử hành thành sự Thánh Lễ được. Phải nói rõ điều nay vì trước đây,
nghe nói ở một địa phương kia, có người đã mạo danh là linh muc để làm lễ cho
một công đoàn trong nhiều năm, và sau đó, đã bỏ trốn khi bị khám phá là linh mục
giả. Trong trường hợp này linh mục giả kia đương nhiện bị vạ tuyệt thông tiền kết

và mọi bí tích ông này làm đều vô hiệu (invalid) vì không có chức linh mục hữu
hiệu.( x giáo luật số 1378 & 2) )
Như vậy, nếu là linh mục thực sự thì mọi bí tích cử hành, như Rửa tội, Thêm sức,
Thánh Thể, giải tội, sức dầu bệnh nhân, đều thành sự (validly).
Nhưng nếu linh mục nào bị giám mục của mình tạm thời hay vĩnh viễn rút hết
năng quyền ( priestly faculties) - hay nôm na gọi là bị treo chén, thì không đươc
cử hành bất cứ bí tích nào ở đâu cho đến khi năng quyền trên được trao lại.
Nếu linh mục nào bị dư luân coi là "bất xứng" ( thí dụ lén lút có vợ con mà vẫn
dâng lễ..) thì khi dâng lễ sẽ mắc tội phạm thánh ( sacrilege) nhưng Thánh Lễ vẫn
thành sự, vì lý do " Ex Opera Operato", nghĩa là Thánh lễ hay bí tích thành sự vì
người cử hành có chức linh mục và cử hành đúng theo qui đinh phụng vụ của
Giáo Hôi, chứ không vì phẩm chất của người cử hành. Dầu vậy, giáo luật và giáo
lý của Giáo Hội cũng qui định rằng : ai đang mắc tội trọng thì không được làm
lễ nếu là linh mục và rước lễ nếu là giáo dân. ( x giáo luật số 916, SGGHCG số
1415)
Như thế, giáo dân cứ an tâm tham dự Thánh Lễ hay xưng tội với bất cứ linh mục
nào đang có năng quyền thi hành các tác vụ này, và bỏ ngoài tai những lời dị nghị
về linh mục này, linh mục kia.
Xin nhắc lại một lần nữa là khi linh mục, hay giám mục, và ngay cả Đức Thánh
Cha dâng Lễ thì chính Chúa Giêsu là Chủ Tế, còn các thừa tác viên con người chỉ
đóng vai phụ tế mà thôi. Cho nên sự hữu hiệu của Thánh Lễ không liên quan gì đến
phẩm chất của linh mục, giám mục hay Đức Thánh Cha, mặc dù dưới con mắt
người đời thì xem ra có sự khác biệt lớn giữa các thừa tác viên này.Thật ra, chỉ có
sự khác biệt về chức vụ, trách nhiệm và vai trò trong Giáo Hội, nhưng cùng được
chia sẻ Chức Linh Mục đời đời của Chúa Kitô, là Thượng Tế theo phẩm trật
Men-ki-xê-đê." ( Dt 5: 10)
Tóm lại, Thánh Lễ Tạ Ơn là sối nguồn ơn cứu độ và là phương tiện nuôi sống linh
hồn chúng ta, nhờ được ăn thịt và uống máu Chúa Kitô để được sống đời đời như
Chúa đã hứa. ( Ga 6:54)
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 278 = XAC NGUOI SONG LAI PDF Print E-mail

"Xác loài người ngày sau sống lại" – Là xác nào sống lại?
Apr 14 at 6:25 PM - Kristie Phan chuyển

"Xác loài người ngày sau sống lại" – Là xác nào sống lại?
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
dongten.net
Xin cho con hỏi trong kinh Tin Kính, có tín điều "tôi tin xác loài người ngày sau sống lại". Cha xứ dạy chúng con rằng chúng ta sẽ không sống lại với thân xác hiện nay vì nó đã bị hoen ố bởi tội lỗi rồi nhưng thân xác sẽ phục sinh là một thân xác khác đang do chính Chúa Thánh Thần cất giữ. Xin cho con biết có đúng như thế không ạ?
Chào bạn,
Nhiều người trong chúng ta cho rằng chỉ có linh hồn ta là được về trời, còn thân xác là thứ nhơ nhuốc, đầy những xấu xa, nên không thể được cứu. Vào những thế kỷ đầu, có rất nhiều trường phái triết học cho rằng thân xác chính là tù ngục của linh hồn, là cái đã giam hãm linh hồn con người. Hồn lìa khỏi xác cũng hệt như một cuộc giải thoát. Bởi thế, việc phải trở lại kết hiệp với xác chẳng khác nào đưa hồn vào tù ngục. Chính vì lý do này mà thánh Phaolo đã thất bại khi rao giảng về việc người chết sống lại tại Aten, một thành phố đậm mùi triết coi thường thân xác và chỉ tin vào sự bất tử của linh hồn (x.Cv 17,16-34). Ngoài ra, thật khó để có thể tưởng tượng được là khi thân xác phục sinh thì nó sẽ thế nào. Thân xác phục sinh của tôi sẽ là thân xác lúc tôi bao nhiêu tuổi? Những người đã chết từ hàng ngàn năm trước, xương cốt đã thành tro, họ sẽ sống lại thế nào? Thậm chí, có những người đã chết không toàn thây, bị thú dữ ăn thịt, xé xác... thì phục sinh ra sao? Còn nữa, chẳng lẽ những người có thân hình xấu xí, bị thương tật, bị khiếm khuyết gì đó lại phải sống thân xác tồi tệ này khi phục sinh? Nếu thế thì thà chẳng phục sinh còn hơn!
Vậy tại sao Giáo Hội lại tin rằng thân xác cũng phải phục sinh? Là bởi vì chúng ta chỉ có thể là con người trọn vẹn khi có cả hồn (phần linh thiêng) và xác (phần vật chất). Nếu chỉ có hồn hoặc chỉ có xác thôi thì không phải là ta. Thân xác là một phần của ta, hay thậm chí có thể nói, nó chính là ta. Ta sẽ không thể nhận ra, tiếp xúc, đụng chạm với ai nếu người đó không có thân xác, và ngược lại. Trong khi đó, Đức Giêsu đến thế gian này là để cứu con người của ta một cách trọn vẹn, chứ không chỉ cứu linh hồn ta mà thôi. Nếu Ngài chỉ cứu linh hồn ta thì Ngài đang cứu "cái gì đó", chứ không phải là ta. Đấng Cứu Thế đã muốn mặc lấy xác phàm và trở thành một con người thực thụ chính là muốn cứu lấy cả "xác phàm", phần vật chất của con người, chứ không chỉ là phần thiêng liêng. Bởi thế, nếu thân xác không được phục sinh thì việc xuống thế làm người của Đấng Cứu Thế trở nên vô nghĩa. Tin vào sự phục sinh của thân xác chính là tin vào phẩm giá cao quý của thân xác và tin vào ơn cứu độ mà Thiên Chúa ban cho con người xét như một tổng thể đầy đủ của hồn và xác.
Nhưng phải làm sao để giải quyết những vấn đề khúc mắc ở trên liên quan đến thân xác? Hay nói cách khác, chúng ta cần phải hiểu như thế nào về sự phục sinh của thân xác? Dựa vào mặc khải của Kinh Thánh và dựa vào lý trí, chúng ta có thể tìm được câu trả lời dù rằng trong chúng ta, chưa ai trải nghiệm được điều này. Hơn hết, chúng ta có một mẫu gương rõ ràng và khả tín nhất là chính Đức Giêsu phục sinh. Căn cứ vào những gì Kinh Thánh nói với chúng ta về Đức Giêsu sau khi Ngài đã phục sinh, chúng ta có thể biết chắc hai điều:
Thứ nhất, thân xác được phục sinh phải là một thân xác đã chết vì nếu không chết thì cũng sẽ không có chuyện phục sinh. Đó cũng phải là thân xác mà ta đang sở hữu đây vì nếu hồn của ta kết hợp với một thân xác khác thì sẽ trở thành người khác, chứ không phải là ta. Nếu Thiên Chúa làm nên một cái xác khác hoặc sử dụng cái xác của ai đó để kết hợp với hồn của ta thì càng không phải là ta. Quả vậy, khi Đức Giêsu phục sinh, thân xác phục sinh của Ngài là chính thân xác Ngài đã sống trước đó, với tất cả những dấu đinh, vết sẹo (x. Lc 24,39). Thân xác Ngài phải như trước thì các môn đệ mới nhận ra Ngài được. Nếu Đức Giêsu phục sinh với một thân xác khác thì hẳn là xác chết của Ngài vẫn còn trong mộ. Nhưng thực tế là từ sau ngày phục sinh, không ai – kể cả những kẻ thù của Ngài – có thể tìm thấy xác Ngài. Ngoài ra, thân xác được phục sinh phải là thân xác mà ta có thể đụng chạm được cách cụ thể, chứ không phải là một cái bóng mờ mờ ảo ảo. Đức Giêsu cũng khẳng định với các môn đệ rằng Ngài vẫn "có xương có thịt", chứ không phải ma (x.Lc 24,39). Chính Tôma là người đã được Đức Kitô phục sinh cho đụng chạm vào cạnh sườn mình (x. Ga 20,27).
Thế nhưng – điều thứ hai và điều rất quan trọng – thân xác phục sinh là một thân xác được biến đổi theo một cách thức mà thánh Phaolo gọi là "mầu nhiệm" (1Cr 15,51), bởi vì "xác thịt và khí huyết không thể thừa hưởng Nước Thiên Chúa" (1Cr 15,50). Ngài còn nói thêm: "...tất cả chúng ta sẽ được biến đổi trong một giây lát... Cái thân phải hư nát này sẽ mặc lấy sự bất diệt và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử" (1Cr 15,52-53). Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolo nói: "Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người" (Pl 3,31). Ở đây, ta thấy thánh nhân nói rằng Đức Giêsu sẽ biến đổi "thân xác chúng ta" (chứ không phải một thân xác lạ lẫm nào khác), và thân xác được biến đổi ấy sẽ giống như "thân xác vinh hiển của Người", nghĩa là thân xác phục sinh của Đức Giêsu thế nào thì thân xác phục sinh của chúng ta cũng sẽ giống như vậy.
Như thế, thân xác phục sinh của chúng ta sẽ là một thân xác không còn bị huỷ hoại, không còn vết tích của sự dữ, không còn lệ thuộc vào thời gian không gian, không phải chịu một giới hạn nào, không bị lão hoá, không bệnh tật...Thân xác ấy sẽ như thân xác của Đấng Phục Sinh. Chúa sẽ thanh tẩy thân xác hư nát này của chúng ta thành một thân xác thanh thiết và ngập tràn ân sủng. Thân xác ấy trông như thế nào, chẳng ai trong chúng ta biết được, nhưng với mạch suy tư này, ta có quyền đi đến kết luận rằng vào lúc phục sinh, người khác nhìn vào ta thì sẽ thấy ta và nhận ra ta (vì ta có thân xác) và sẽ nhìn thấy nơi ta một sự sáng láng tuyệt đẹp, thanh khiết đến lạ kỳ (vì những hậu quả xấu xa của sự dữ và tội lỗi làm cho thân xác của chúng ta bị huỷ hoại và xấu đi đã bị ơn cứu độ của Đức Giêsu gỡ bỏ).
Thánh Phaolo cũng lấy hình ảnh hạt giống gieo vào đất và nảy mầm thành một cây mới để minh hoạ cho sự phục sinh này. Khi chẻ đôi một hạt lúa, ta không hề thấy trong đó có cây lúa nào. Vậy mà khi gieo xuống đất, tưới nước, bón phân, ta lại thấy chính tại nơi ta gieo hạt lúa nảy sinh một cây lúa. Cây lúa này chính là hạt lúa lúc trước chứ không phải từ một hạt gì khác, hay thậm chí là hạt lúa khác. Ta biết chắc rằng cây lúa này từ hạt lúa kia mà ra, nhưng ta không biết được là tại sao hạt lúa lại trở thành cái cây như vậy. Hạt lúa trước kia chính là cái cây mà ta đang thấy lúc này đây. Hạt lúc không còn nữa, chỉ còn lại cây lúa. Nói cách khác, hạt lúa ấy đã được biến đổi để trở nên một cái gì đó khác đi, hoàn hảo hơn, tràn đầy sức sống hơn.
Hình ảnh minh hoạ này giúp chúng ta hiểu về sự biến đổi thân xác diệu kỳ mà ơn phục sinh của Thiên Chúa sẽ thực hiện trên chúng ta. Chúng ta chỉ đang ở trong giai đoạn "hạt lúa", cần phải chết đi trong niềm tin vào Đấng Phục Sinh, để Đấng ấy làm nơi ta một sự biến đổi lạ thường chỉ "trong một giây lát, trong một nháy mắt, khi tiếng kèn cuối cùng vang lên." (1Cr 15,52).
Đề tài này vẫn còn nhiều chi tiết cần bàn đến nhưng hy vọng một vài gợi mở nhỏ bé này đã đủ để giải đáp thắc mắc của bạn cũng như khơi lên niềm hy vọng trong lòng bạn.
Thân ái,
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 277 = CHUA QUA THUONG XOT PDF Print E-mail

CHÚA QUÁ THƯƠNG XÓT THÌ CON NGƯỜI CÒN PHẢI LO GÌ NỮA ?
Hỏi : xin cha giải thích thắc mắc sau đây:
Chúa Giêsu từng nói : Ta đến để tìm người tội lỗi chứ không tìm người
công chính. Vậy người có tội đâu còn phải lo lắng gì nữa phải không, vì Chúa
đến để tìm họ mà ?
Trả lời:
Tôi đã nhiều lần giải thích rõ là Thiên Chúa quá yêu con người.Và chính vì tình
thương vô vị lợi này mà Thiên Chúa đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ
Chúa Giê-su Kitô, Đấng cũng vì yêu thương nhân loại tội lỗi nên đã vui lòng đến
trần gian làm Con Người để hy sinh mạng sống mình " làm giá chuộc cho muôn
người." ( Mt 20: 28)
Như thế, nếu không cậy nhờ lòng thương xót bao la của Chúa Cha, và công nghiệp
cứu chuộc vô giá của Chúa Con, thì không ai có thể tự sức mình làm được điều gì
đáng được cứu rỗi để vào Nước Trời hưởng phúc vĩnh cửu, sau khi phải chết đi
trong thân xác có ngày phải chết đi này.
Nhưng không phải vì Chúa Cha quá yêu thương và công nghiệp cứu chuộc quả đủ
của Chúa Cứu Thế Giêsu mà con người khỏi phải làm gì nữa và đương nhiên được
cứu rỗi để vào Thiên Đàng mai sau.Hay nói khác đi, Chúa Kitô đến để tìm và chết
cho người có tội, nhưng không phải vì thế mà con người cứ tự do sống trong tội,
cứ làm sự dữ rồi vẫn được cứu độ, vì đã có Chúa Kitô chết thay cho mình rồi , nên
không ai phải lo sợ gì nữa để cứ an tâm sống và làm những gì mình thích ?
Trái lại, vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa luôn tôn
trọng cho con người xử dụng, để hoặc chọn sống theo đường lối của Chúa và
bước đi theo Chúa Kitô là " Con Đường, là sự Thật và là sự Sống." ( Ga 14: 6).
Hay ngược lại, chọn sống theo ý muốn riêng của mình, chạy theo thế gian và đầu
hàng ma quỉ để làm những sự dữ như oán thù, nghen nghét, thâm độc, giết
người ,giết thai nhi, bạo động, khủng bố, trộm cướp, bất công và bóc lột người
khác, thay chồng đổi vợ, bắt cóc hãm hiếp, buôn bán phụ nữ và trẻ gái để bán cho
bọn bất lương hành nghề mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, như thực trạng sống của
biết bao con người ở khắp mọi nơi trên thề gian tục hóa, vô luân vô đạo hiện nay.
Nếu con người xử dụng tự do để làm những sự dữ nói trên mà không ý thức được
ác tính của các sự dữ mình làm, để sám hối ăn năn chừa bỏ, thì Thiên Chúa không
thể cứu ai được, dù Người là tình thương bao la và dù công nghiệp cứu chuộc của
Chúa Kitô là quá đủ cho con người được cứu rỗi.
Nói rõ hơn, lòng thương xót của Thiên Chúa và công nghiệp của Chúa Kitô không
bao giờ là bình phong lá chắn cho ai lợi dụng để cứ làm sự dữ, sự tội rồi lại nại đến
lòng thương xót thứ tha của Chúa mà không ăn năn, chừa bỏ để sống theo đường
lối của Chúa hầu được cứu độ để vào Nước Trời mai sau.
Đó là lý do tại sao Chúa Giê su đã nói với môn đệ xưa như sau :
" không phải bất cứ ai thưa với Thầy :Lậy Chúa! lậy Chúa ! là được vào
Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự
trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)
Thi hành ý muốn của Cha trên trời có nghĩa cụ thể là phải thực thi những gì Chúa
Giêsu đã dạy về mến Chúa yêu người, thực thi công bằng, bác ái để không bất
công và bóc lột ai, nhất là thương giúp người nghèo khó để không dửng dưng trước
sự đau khổ và bất hạnh của họ. Chúa Kitô thực sự đang hiện diện nơi những người
nghèo khó, bệnh tật, bị áp bức tù đầy và thách đố chúng ta thi hành bác ai đối với
họ. Và Chúa coi đây như thi hành bác ái đối với chính Chúa, như Người đã dạy
trong dụ ngôn về ngày phán xét sau hết trong Tin mừng Thánh Matthêu, chương
25.
Mặt khác , thi hành ý muốn của Cha trên trời cũng đòi hỏi chúng ta phải xa tránh
mọi tội lỗi vì chỉ có tội mới làm ngăn cách chúng ta với Chúa là Đấng trọn tốt trọn
lành. Chúa yêu thương con người chứ không yêu thương tội lỗi của con người.
Chinh vì tội lỗi của nhân loại mà Chúa Kitô đã phải trả giá rất đắt là khổ hình thập
giá kết thúc với cái chết thê thảm của Người trên thập giá năm xưa.
Vì thế, muốn hưởng công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa, thì nhất thiết đòi hỏi
mọi người tín hữu chúng ta phải thực tâm xa tránh mọi tội lỗi để không làm hư
công nghiệp cực trọng của Chúa. Đó cũng là lý do tại sao, sau khi tha tội cho một

phụ nữ phạm tội ngoại tình và bị bọn biệt phái dẫn đến xin Chúa cho ném đá, Chúa
đã nói với chị kia như sau :
" Tôi cũng vậy, Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi , và từ nay đừng
phạm tội nữa." ( Ga 8: 11)
Tại sao Chúa không nói : Ta là tình thương và hay tha thứ, nên các ngươi cứ an
tâm làm gì tùy ý. Nếu có phạm tội thì cứ đến Ta tha thứ cho. Trái lại, Chúa nói rõ :
Đừng phạm tội nữa.
Nơi khác, Chúa còn nhấn mạnh thêm như sau : "... Tôi nói cho các ông ( bọn Biệt
phái) biết: nếu các ông không sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết như
vậy."( Lc 13: 3)
Chúa nói những lời trên để trả lời mấy người biệt phải để hỏi Chúa xem có phải
mấy người bị Tổng Trấn Phi-la-Tô giết , cùng với 18 người khác bị thác Si-lô-a đổ
xuống đè chết có phải là những người tội lỗi hơn người khác hay không ,
Như thế đủ cho thấy là Chúa thương xót và tha thứ cho kẻ có tội, nhưng không
dung dưởng tội của con người. Do đó, chúng ta không được lầm tưởng tình
thương tha thứ của Chúa với sự dung dưỡng làm ngơ cho con người cứ sống
trong tội, cứ lợi dụng lòng thương xót của Chúa để không quyết tâm chừa bỏ tội
lỗi.
Bản chất con người là yêu đuối, dễ sa ngã trước những quyến rũ của thế gian, nhất
là những cám dỗ tinh quái của ma quỷ. Nhưng nếu ta nương nhờ ơn Chúa nâng đờ
thì vẫn có thể đứng vững và tiến trên đường hoàn thiện, để không phạm tội mất
lòng Chúa và nguy hại cho hy vọng được cứu rỗi.
Nói khác đi, ca tụng lòng thương xót của Chúa là điều chính đáng, phải đạo, vì thật
sự Chúa rất yêu thương con người và " muốn cho mọi người được cứu độ và
nhận biêt chân lý" ( 1Tm 2:4). Nhưng con người phải tỏ thiện chí muốn sống theo
đường lối của Chúa để không làm những sự dữ, sự tội, là những điều Chúa gớm
ghét vì nó xúc phạm nặng nề đến bản chất yêu thương, công bình và thánh thiện
của Người.
Phạm đến bản chất yêu thương của Chúa khi chứa chấp trong lòng những oán thù,
nghen ghét dẫn đưa đến trả thù, giết hại người khác về tinh thần cũng như thể lý,
khủng bố , bắt cóc, hãm hiếp, thủ tiêu, và chiến tranh giết hại người dân vô tội,
nhất là giết thai nhi và trẻ nữ như thực trạng đã và đang diễn ra ở Trung cộng và
Ấn Độ Riêng ở Mỹ, nạn phá thai đã giết hàng triệu thai nhi mỗi năm, và bọn làm
nghề này ( tổ chức Planned parenthood) còn đem bán các bộ phận cơ thể của thai
nhi như những món hàng thương mại mà có người đã quay được phim (Video)
đem chiếu cho quần chúng xem để tố cáo tội ác của bọn bất lương, đang dựa vào
luật cho phá thai để làm sự dữ nói trên.
Thứ đến, tội phạm đến đức công bình của Chúa như gian tham, trộm cắp, khai
gian, chứng gian để lãnh trợ cấp xã hội và bồi thường tại nạn lao động và xe cô,
bóc lột người làm công cho mình, làm hàng giả để kiếm lời to.v.v
Sau hết là tội phạm đến sự thánh thiện của Chúa như dâm ô, ( mua và bán dâm)
ngoai tình, ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nại của thời đại vô luân hôm nay
khiến cho biết bao trẻ nữ đã bị phá hoại cả tinh thần lẫn thể xác vì bọn bất lương,
vô luân vô đạo đã đi tìm thú vui rất khốn nạn này nơi các trẻ em còn ngây thơ
trong sạch. Nhưng chẳng may bị sa vào lưới ác độc của bọn buôn người vô lương
tâm ,vô luân đã bắt cóc hay mua bán chúng để cung cấp cho bọn mặt người, dạ thú
hành nghề mãi dâm và ấu dâm để kiếm tiền mua lò hỏa thiêu chúng đời đời mai
sau trong hỏa ngục.
Tóm lại, tất cả mọi sự dữ ,sự tội đều là điều Thiên Chúa chê ghét và không muốn
cho con người vấp phạm. Không muốn cho ai làm những sự dữ đó không phải vì
lợi ích nào của Chúa mà vì lợi ích của chính con người mà thôi.
Nói rõ hơn, không có cha mẹ nào yêu thương con cái mà lại làm ngơ hay cho phép
con cái làm những việc sai trái như bỏ học, đi theo bọn lưu manh, băng đảng , hút
sách, trộm cắp, bài bạc .v.v.Trái lại, cha mẹ nào cũng mong muốn cho con cái
ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành, tránh xa bọn du đãng ,băng đảng lưu manh đồi
trụy.
Thiên Chúa còn yêu thương con người hơn bất cứ cha mẹ nào yêu thương con
mình.Vì thế, Chúa cũng không muốn cho ai đi vào con đường dẫn đưa đến hư mất
đời đời. Phải tin chắc điều này để đừng ai nghĩ Thiên Chúa có lợi gì khi ngăn cấm
con người không được làm điều này, tránh việc kia. Vì thế, tất cả lề luật của Chúa...........

LM NGÔ TÔN HUẤN

--------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 276 = HOI GIAO XIN DUC ME PDF Print E-mail

Apr 5 at 8:42 PM

TẠI SAO TÍN ĐỒ HỒI GIÁO CẦU XIN ĐỨC MẸ ?

Fatima, Harissa, Damascus, Samalut, Assiut, Zeitun và nhiều nơi khác Đức Mẹ đã hiện ra trở thành điểm đến của những khách hành hương từ Lebanon, Syria, Ai Cập và Iran. Họ đến không chỉ xin chữa bệnh thể lý mà còn xin chữa bệnh tâm linh. Họ cầu nguyện tự phát, không còn theo "định dạng" của Hồi giáo. Những người bài trừ thánh tượng (Salafists) vẫn phá hủy những nơi hành hương hàng năm, nhưng lòng sùng kính Đức Mẹ vẫn phát triển, đầy những câu chuyện trong kinh Koran. Cuộc đối thoại tâm linh giữa các Kitô hữu và các tín đồ Hồi giáo hứa hẹn những điều khác ngoài vấn đề văn hóa, thần học hoặc chính trị.

Mỗi năm có hàng triệu tín đồ Hồi giáo hành hương tới các Đền Đức Mẹ của Công giáo. Họ không chỉ tới các đền lớn như Fatima ở Bồ Đào Nha hoặc Harissa ở Lebanon, mà còn tới các đền ở Ai Cập, Syria và Iran. Các tín đồ Hồi giáo, nhất là phụ nữ, tới để tạ ơn Đức Mẹ hoặc các thánh – như Thánh Charbel hoặc Thánh George.

Trong con mắt của nhiều người Tây phương, động thái này có vẻ khôi hài và không đúng, vì họ nói về những lần Đức Mẹ hiện ra, về việc cầu nguyện, nhưng rồi vẫn có những cuộc tàn sát, giết người, bạo lực nhân danh tôn giáo!

Dù thích hay không, hiện tượng tôn giáo vẫn sống động tại Mỹ châu Latin, Phi châu và Á châu. Khi bạn thấy hàng triệu tín đồ Ấn giáo xuống tắm nước dơ ở thánh giang (sông Hằng, dòng sông thánh), bạn thấy buồn cười. Nhưng đối với họ thì đó là thanh tẩy và cầu nguyện. Người Tây phương rộng lòng với các tôn giáo khác, nhưng thái độ đó đối với các Kitô hữu là quá nhỏ mọn (increasingly hypercritical). Tây phương không là hậu Ấn giáo hoặc hậu Hồi giáo, mà là hậu Kitô giáo!

Ở Tây phương, vấn đề siêu nhiên bị coi là lỗi thời, bị dán nhãn thần thoại, ảo giác, thay vì Tây phương mãi mãi tố giác những điều khó khăn mà sự lạ hoặc hành hương cũng không thể xóa bỏ. Nhưng ở các nơi khác trên thế giới, chiều kích tâm linh vẫn sống động. Tại Đông phương, cảm xúc tôn giáo rất mãnh liệt nơi các tín đồ Hồi giáo, Kitô giáo và các tôn giáo khác. Nhưng tại hầu hết Tây phương – nhất là ở giới trí thức – cảm xúc tôn giáo bị coi là "xưa rồi Diễm", là phi lý và ngây ngô. Phải nói rõ rằng đó là sai lầm!

LÒNG SÙNG KÍNH ĐỨC MẸ CỦA TÍN ĐỒ HỒI GIÁO

Tại Ai Cập, có ít nhất 12 nơi hành hương tôn sùng Đức Mẹ, tưởng nhớ việc Thánh Gia tới Ai Cập. Truyền thống rất phong phú trong các ngụy kinh (apocryphal texts) của thế kỷ IV và V.

Ngày 15- 8 hàng năm, lễ Mông Triệu (Dormition, Đức Mẹ Lên Trời), có ít nhất 1 triệu người hành hương tới nhiều Đền Đức Mẹ (như Việt Nam có Đức Mẹ La Vang, Tà Pao, Măng Đen, Trà Kiệu, Giang Sơn,...). Nơi nổi tiếng nhất là Jabal al-Tair, gần Samalut, thuộc thượng du Ai Cập (miền Nam), cách thủ đô Cairo khoảng 200 km. Lễ hội kéo dài 15 ngày, người ta tới để cầu nguyện, rửa tội trẻ em (tư tế Hồi giáo cũng có nghi thức rửa tội), và cử hành lễ nghi.

Về phía Nam, cách Cairo khoảng 380 km và cách Assiut 7 km, có nơi hành hương tại Deir Dronka, truyền thống cho rằng Thánh Gia đã lưu trú và Đức Mẹ đã nghỉ ngơi tại một hang động ở đó.

Gần đây có vài lần Đức Mẹ hiện ra:

– Ngày 22-1-1980, Đức Mẹ hiện ra với một phó tế (thầy sáu).

– Ngày 10-1-1988, Đức Mẹ hiện ra với một du khách Úc tại một nhà thờ, và Chúa Giêsu với chim bồ câu hiện ra với các những người lao động tại một tu viện.

– Ngày 7-8-1990, Đức Mẹ hiện ra với các tu sĩ, xung quanh đầy ánh sáng, tại một hang động của tu viện này.

Hành hương hàng năm vào thời gian "Đức Mẹ ăn chay" (7 tới 21 tháng 8, lễ Mông Triệu vào ngày 22 theo nghi lễ Giáo hội Ai Cập). Trong số hơn 500.000 người hành hương tới đây có 10.000 tín đồ Hồi giáo. Một trong các tu sĩ là "người đặc biệt", nghĩa là rửa tội, vì tu sĩ này có thể làm 36 dấu Thánh Giá trên cơ thể trẻ em trong vòng 1 phút. Các tín đồ Hồi giáo chiếm khá đông, ít nhất chiếm 1/4 số khách hành hương.

Tại Ai Cập, người ta hành hương tới Zeitun, gần Cairo, nơi Đức Mẹ hiện ra. Sự lạ xảy ra vào năm 1968, kéo dài 7 tháng. Nhiều nhà xã hội học (không có người Ai Cập) đã gọi hiện tượng này là một dạng đền bù cảm xúc, sự an ủi tâm lý đối với sự khắc nghiệt của cuộc sống. Nhưng những người đến đó, cả tín đồ Hồi giáo và Kitô hữu, vì họ thấy một hình trắng trên mái vòm của Nhà thờ Zeitun, họ cho đó là Đức Mẹ (Sittina Mariam). Thực sự rất khó giải thích, nhưng hàng ngàn người đã nhìn thấy và cũng có nhiều hình ảnh. Lần khác Đức Mẹ hiện ra được kính nhớ ở Imbaba, một vùng lân cận đông dân cư.

Từ năm 1982 tới nay, tại Damascus gần Soufanieh vẫn được kể lại những lần Đức Mẹ hiện ra. Dầu chảy trên tượng Đức Mẹ và trên tay của Myrna Nazzour, một cô gái 18 tuổi bình thường. Linh mục xứ lúc đó, mới đầu không tin, nhưng rồi trở nên rất nhiệt thành. Có rất nhiều tín đồ Hồi giáo và Kitô hữu đến đó.

Gần Damascus cũng có nơi để hành hương là lăng tẩm Settena Zainab, con gái của Ali và Fatima, người sáng lập Shiism (Hồi giáo phái Shiite, khác với phái Sunny). Đây là cuộc hành hương về cội nguồn. Nhưng khi bạn tới những nơi Đức Mẹ hiện ra, các lý do rất sâu xa. Nhiều năm qua, các phụ nữ Hồi giáo Iran đã tới Fatima (Bồ Đào Nha). Họ đến cầu nguyện với Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ chăn chiên. Lý do là Fatima chính là tên con gái của ông Muhammad và bà Ali Ibn Abi Talib.

Tại Harissa, Lebanon, các phụ nữ Iran vẫn đến cầu nguyện với Đức Mẹ, tới mức mà linh mục quản lý đền này đã xây một nhà nguyện dành riêng cho họ, có ảnh tượng và kinh cầu Đức Mẹ ở Ba Tư, để thuận tiện cho lòng sùng kính của họ.

Tháng 5-2012, khi tôi tham dự Thánh lễ chiều tại Harissa, tôi thấy hàng trăm gia đình Hồi giáo – có thể thuộc phái Shiite – dừng lại nghe hát ca nhập lễ, sau đó họ đi. Khi ở Morocco, tôi thấy nhiều phụ nữ (đang mang thai và có con nhỏ) vẫn giữ "kỳ chay tịnh của Đức Mẹ" mà kinh Koran có nói tới.

ĐỨC MẸ TRONG KINH KORAN

Các tín đồ Hồi giáo tới các đền thờ đều biết rằng Đức Mẹ là một phụ nữ được ca tụng nhiều nhất trong kinh Koran, là phụ nữ duy nhất được gọi là "Siddīqah" (chân chính, tin tưởng, thánh thiện), một danh xưng dược dành cho nam giới (siddīq). Đức Mẹ là người duy nhất mà kinh Koran 2 lần nói rằng Thiên Chúa đã "chọn" (inna Allāh istafāqī), và Thiên Chúa đã yêu quý hơn các phụ nữ trên trái đất (wa-faddalaki 'ala nisā' al-'ālamīn), được thánh hiến (innī nadhartu mā fī batnī muharraran) từ trong lòng mẹ. Thật vậy, câu nói "đáng sợ" (được coi là của Muhammad nên được coi là chính xác) cho rằng mọi con trẻ sinh ra đều được Satan "chạm" vào, trừ Đức Mẹ và Con Trai của Đức Mẹ, câu nói này rất gần gũi với sự Vô Nhiễm.

Trong kinh Koran, Đức Maria là người "tinh tuyền nhất", vì Thiên Chúa đã làm cho Người tinh tuyền. Khi được truyền tin, trong 2 chương khác nhau, Đức Maria nói với Sứ thần: "Làm sao tôi có con khi tôi không biết đến người nam?". Như vậy, trong kinh Koran, Chúa Giêsu được gọi là "Giêsu Kitô, con của bà Maria" (al-Masīh 'Īsā Ibn Mariam). Trong tiếng Ả-rập chưa bao giờ có một người nào được gọi là "con của... (một phụ nữ)", mà luôn nói là "con của... (một đàn ông)". Vì thế, Chúa Giêsu sinh bởi một phụ-nữ-không-biết-đến-người-nam không thể gọi là "con của ông Giuse"!

Do đó, câu cuối cùng (12) của chương 66 (al-Tahrīm) trong kinh Koran nói: "Và Maria, con gái của Imran, người đã giữ gìn đức khiết tịnh của bà; bà làm chứng cho sự thật của Lời Chúa và Mặc Khải, là một người đạo đức".

Khi Đức Maria được nói tới trong Hồi giáo, "Alayhā l-salām" (bình an xuống trên bà) được thêm vào, một danh xưng không được trao cho bất kỳ vị thánh nào. Tước hiệu này cũng được các Kitô hữu dùng để tôn xưng Đức Maria. Có một dạng văn chương toàn vẹn về Đức Maria trong kinh Koran, được viết bởi Hồi giáo và Kitô giáo.

LÒNG SÙNG KÍNH PHỔ BIẾN Ở CÁC KITÔ HỮU ĐỐI VỚI CÁC THÁNH, NGAY CẢ TRONG HỒI GIÁO

Điều gì khiến người Hồi giáo hành hương như vậy? Trước hết, họ muốn tái khám phá niềm tin tinh túy, họ muốn canh tân đức tin. Theo sau đó này là ước muốn chữa lành thể bệnh. Nhưng ước muốn chữa thể bệnh mãnh liệt hơn. Điều này rất giống ý nghĩa của các Kitô hữu hành hương: Tôn sùng thì ít, cầu xin thì nhiều.

Phải nói rằng việc hành hương không có giá trị đối với Hồi giáo chính thống, trừ việc hành hương tới thánh địa Mecca (hajj). Với sự ngoại lệ của Mecca, họ coi việc hành hương là một dạng tôn thờ ngẫu tượng. Đây là lý do những người Hồi giáo cực đoan đã phá hoại những nơi hành hương, nhất là các ngôi mộ của các hiền nhân Hồi giáo (Sufi sages), nơi những nhà thần bí Hồi giáo (Muslim mystics) viếng thăm hàng năm. Sự phá hoại như vậy là điển hình của các Salafist – những người luôn tấn công bài trừ thánh tượng ở Tunisia, Libya, Ai Cập, Mali, Jordan, Pakistan, v.v...

Xu hướng này trong Hồi giáo cực đoan cũng gần giống với Tin Lành lúc đầu: Họ coi thường việc sùng kính của cộng đồng vì cho đó là quá ngây ngô và lệch lạc. Trong thực tế, người ta tìm kiếm Thiên Chúa qua mọi thứ hàng ngày, qua hiện tượng nào đó hoặc các chứng cớ. Điều đó không phân biệt Kitô giáo hoặc Hồi giáo.

Hàng ngày đều có các tín đồ Hồi giáo, thường là phụ nữ, hành hương tới Đền Thánh George ở Ai Cập, tới Đền Thánh Charbel Makhlouf ở Lebanon, tới Nhà Đức Mẹ ở Êphêsô. Họ đến xin ơn có con hoặc xin ơn khỏi bệnh. Luôn có người Hồi giáo tới những nơi của Kitô giáo.

NGƯỜI TRỪ QUỶ ĐỐI VỚI NGƯỜI HỒI GIÁO

Yếu tố tâm linh khác trong đức tin của người ta là sợ ma quỷ. Có thời gian tôi đã trải nghiệm nhiều năm khi tôi còn là một tu sĩ. Đây là điều quan trọng. Tôi học Đại học Hoa Kỳ tại Cairo, ra vào trường này nhiều lần. Có lần người gác cổng chặn tôi lại và xin tôi giúp: "Đứa con gái 16 tuổi của tôi bị quỷ ám". Đó là lần đầu tiên tôi nghe nói về quỷ ám. Ông này kể cho tôi nghe cách mà quỷ làm con gái ông ngã xuống đất, và làm nó bị thương. Ông nói thêm: "Tôi đưa con gái tới tư tế (imam, giáo sĩ Hồi giáo), nhưng họ chẳng làm được gì. Họ bảo tôi rằng chỉ có tu sĩ (Công giáo) mới trừ được quỷ". Ông ta xin tôi trừ quỷ cho con gái.

Tôi hứa sẽ cầu nguyện cho họ, nhưng tôi thấy ông ta thất vọng khi tôi nói vậy. Khi tôi kể lại chuyện này với các tu sĩ bạn, họ phê bình tôi, vì họ tin rằng tôi có thể trừ quỷ theo nghi lễ phụng vụ. Tôi phát hiện có nhiều tu sĩ được người Hồi giáo tới xin trừ quỷ cho gia đình họ. Việc này rất phổ biến.

Thường thì người Hồi giáo tới các tu sĩ hoặc tư tế Hồi giáo chính thông và việc trừ quỷ thường được làm công khai. Có lần tôi chứng kiến một người đang ở trước nhà ga tại Cairo (Bāb al-Hadīd), ngày nay gọi là Mīdān Ramsis, tay cầm nến và nước phép. Có một người đàn ông nằm trên đất, miệng nguyền rủa, nhưng một lúc sau đàn ông này nằm im.

Tháng 9-1994, một linh mục người Canada nổi tiếng về "làm sự lạ", và đã đến Lebanon. Đó là LM Emilien Tardif (1928-1999), Dòng Truyền Giáo Thánh Tâm (The Missionaries of the Sacred Heart). Có khoảng 10.000 người đã đến xin ngài giúp, trong đó có nhiều người Hồi giáo. Án xin phong chân phước cho ngài đang được tiến hành. Hiện tượng này tôi không thể giải thích, nhưng tôi nghĩ rằng Thiên Chúa đã trao tặng phẩm siêu nhiên cho một số người để phục vụ mọi người. Các tặng phẩm này chỉ được phân phát trong môi trường Kitô giáo, nhưng chúng được những người ngoài Kitô giáo chứng thực và công nhận.

Phép lạ xảy ra vì lợi ích của bất kỳ ai có niềm tin, chính đức tin này khiến Thiên Chúa làm phép lạ. Con người có những nhu cầu không thỏa mãn trong Hồi giáo, nhưng lại sống động trong Kitô giáo. Có nhu cầu về tâm linh, về thần bí và điều tốt đẹp được trao tặng bằng sự thoải mái trong thế giới Kitô giáo nhiều hơn so với trong Hồi giáo.

ĐỨC MẸ LÀ NHỊP CẦU GIỮA KITÔ GIÁO VÀ HỒI GIÁO

Chính lòng thành tín đã liên kết mọi người. Ví dụ điển hình là quyết định của Quốc hội Lebanon về việc thành lập ngày nghỉ toàn quốc là ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời. Đó là một quyết định thận trọng của các Kitô hữu và tín đồ Hồi giáo. Kinh Koran đã 2 lần nói tới việc Đức Mẹ mông triệu (chương 3 và 19), hầu như có cách nói giống Phúc Âm, với cách nói thanh tao và nghiêm túc hơn nhiều. Trong văn bản này, Đức Maria được mô tả là rất tuân phục Thiên Chúa và ngạc nhiên về những điều xảy ra với Đức Mẹ, chính Thiên Chúa đã an ủi Đức Mẹ.

Các kinh nghiệm này dẫn tới sự hợp tác quan trọng và hài hòa tâm linh với nhiều tín đồ Hồi giáo. Nếu điều này không được chấp nhận bởi sự cực đoan Hồi giáo – pha trộn tôn giáo và sức mạnh, tôn giáo và nhà nước, tôn giáo và chính trị – thì tín đồ Hồi giáo, cũng như các tín đồ khác, vẫn ấp ủ sự cởi mở đối với siêu nhiên và tâm linh. Nhưng phương diện này không được diễn tả thoải mái trong Hồi giáo: Tâm linh được hoạch định, việc cầu nguyện mỗi ngày 5 lần được định trước và phải thực hiện với những ngôn từ được soạn sẵn, nếu lỡ đọc sai, người ta phải đọc lại. Hồi giáo thiếu tính tự phát. Vì thế, khi một tín đồ Hồi giáo tìm kiếm điều gì thân mật hơn thì họ hướng tới Kitô giáo.

Lòng sùng kính tạo cảm giác thân thiện và không đối nghịch. Ở Tây phương, người ta thường nói rằng tôn giáo – nhất là các tôn giáo độc thần (monotheistic religions) – là nguyên nhân chiến tranh và phân rẽ. Luận điểm này sai từ quan điểm lịch sử và từ quan điểm về nội dung. Dĩ nhiên, chiến tranh đã được tiến hành với danh nghĩa tôn giáo. Nhưng con người cũng thúc đẩy chiến tranh với danh nghĩa của nhiều dạng ý thức hệ, chính tôn giáo không thúc đẩy chiến tranh. Chúng ta phải nghĩ tới chủ nghĩa dân tộc, sự phân rẽ và chiến tranh thế giới xảy ra tại Âu châu, chúng ta phải công nhận rằng chủ nghĩa dân tộc là nguyên nhân bạo lực tệ hại hơn bất kỳ tôn giáo nào, và các ý thức hệ vô thần (atheistic ideologies) của thế kỷ XX đã gây ra nhiều cái chết hơn các tôn giáo.

Ngay cả các cuộc chiến tranh tôn giáo xảy ra ở Âu châu cũng dựa trên hiện tượng chính trị đã lợi dụng tôn giáo ("cuius regio, eius religio"). Đó là quan điểm chung của thời đại, không là tầm nhìn của Phúc Âm đưa ra. Sự nối kết giữa chính trị và tôn giáo vẫn rất mạnh trong Hồi giáo và Do Thái giáo. Xác định một nhà nước với một tôn giáo và một nhóm dân tộc, phát sinh chủ nghĩa phục quốc Do Thái (Zionism), đã tạo ra phong trào bạo động được tôn giáo đổ dầu vào, và tạo ra các vấn nạn đối với nhiều người Do Thái không trở lại chính trị của Israel. Về phương diện Hồi giáo, nguyên nhân Palestine được xác định với Hồi giáo và đã tạo ra sự khó khăn tương tự, và có thể đó là lý do mà tiến trình hòa bình và hòa giải đã phải trì trệ.

Với tôi, có vẻ Kitô giáo là một tôn giáo tách biệt đức tin và chính trị, mặc dù không luôn luôn hoàn hảo... giống như "nhân vô thập toàn" vậy. ĐGH Bênêđictô XVI cũn đề cập điều này trong thư cổ vũ Trung Đông: "Mặt khác, tính thế tục lành mạnh giải phóng tôn giáo khỏi gánh nặng chính trị, và cho phép chính trị được phong phú hóa bởi sự đóng góp của tôn giáo, trong khi vẫn giữ khoảng cách cần thiết, sự phân định rạch ròi và sự hợp tác cần thiết giữa hai lĩnh vực" (Ecclesia in Medio Oriente, No. 29).

Thật vậy, với các tín đồ Hồi giáo, ngay khi nói tới Đức Maria, có sự thay đổi đáng kể trong thái độ: có không khí của sự sùng kính, sự im lặng, tình huynh đệ, như thể sau khi nói chuyện mọi điều, người ta vào nơi tôn thờ, và có sự im lặng.

Một số người có thể coi đây là một dạng hổ lốn (syncretism), bình dân gọi là "tạp-pí-lù" (hotchpotch). Nhưng trong thực tế, lòng sùng kính là một hiện tượng mở ra với mọi người. Thậm chí tại tây phương, các Đền Đức Mẹ không chỉ thu hút các Kitô hữu mà cả các tín đồ của các tôn giáo khác, kể cả những người đã rời bỏ Giáo hội và những người không có niềm tin tôn giáo. Khi cầu nguyện với Đức Mẹ, nếu tôi thấy một người Hồi giáo cầu nguyện gần bên tôi, liệu có vấn đề gì không? Không, đó là sự rất thoải mái vì lòng sùng kính là nền tảng rất vững chắc đối với mối quan hệ và tình huynh đệ hơn là về ý thức hệ, chính trị hoặc văn hóa. Những người nghĩ về đức tin Kitô giáo theo cách "độc quyền", như một số người Công giáo truyền thống (nệ cổ), thì chưa thực sự hiểu đúng Kitô giáo.

SAMIR KHALIL SAMIR

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ AsiaNews.it)

Kính chuyển:

Hồng

--------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 275 = NGƯỜI NGOẠI RUOC LE PDF Print E-mail

MỜI ĐỌC: RƯỚC LỄ VỚI NGƯỜI NGOẠI ĐẠO VÀ NGƯỜI LY DỊ

Kristie Phan chuyển

Hỏi : xin cha giải đáp 2 thắc mắc sau đây;
1. Đức Thánh Cha Phanxicô đã rửa chân cho hết mọi người, kể cả phụ nữ và người ngoại Đao, như vậy những người không phải là Công Giáo có được rước Lễ khi họ tham dự Thánh Lễ hay không ?
2. Những người li dị từ nay được rước lễ phải không ?
Trả lời:
1. Việc rửa chân và rước Mình Thánh Chúa là hai việc hoàn toàn khác nhau. Rửa chân chỉ là nghi thức nhắc lại việc Chúa Giêsu xưa đã rửa chân cho 12 Tông Đồ trong Bữa ăn sau cùng với họ, trước khi Chúa nộp mình cho những kẻ đến bắt bớ và hành hình Chúa ngày hôm sau. Đây không phải là việc cử hành một bí tích nào của Giáo hội đòi buộc tín hữu phải tham dự để được lãnh ơn cứu độ của Chúa.
Nghĩa là không có luật nào buộc phải tham dự nghi thức rửa chân cử hành trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm Chúa lập Phép Thánh Thể và Chức linh muc ngày Thứ năm tuần thánh. Tuy nhiên, nghi thức rửa chân cũng không buộc phải làm vào ngày Thứ năm Tuần Thánh. Phụng vu trong Tuần Thánh chỉ buộc phải cử hành Lễ Chúa lập Phép Thánh Thể và Chức linh mục cùng làm phép Dầu Thánh (Chrism) trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh mà thôi, Nhưng ở Tổng Giáo Phận Galveston-Houston, vì nhu cầu mục vụ, Lễ này được làm ngày Thứ ba Tuần Thánh, thay vì Thứ Năm và không có nghi thức rửa chân. Việc này được tùy nghi làm ở các giáo xứ.
Việc Đức Thánh Cha Phanxicô cho rửa chân cả phụ nữ và tội phạm (năm qua tại một nhà tù ở Ý) là sáng kiến riêng của ngài. Ngài có lý do để làm như vậy, chúng ta không dám có ý kiến. Nhưng ngài cũng không buộc Giáo Hội phải làm theo gương của ngài. Nơi nào muốn làm thì tùy ý.
Nhưng không thể suy luận là Đức Thánh Cha rửa chân cho mọi người, không phân biệt nam nữ và tôn giáo, để từ đây cho phép hết mọi người được rước Mình Thánh Chúa, không phân biệt họ có Đạo và đang sạch tội trọng hay không.
Việc rước Mình Thánh Chúa trong Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) là việc-tự bản chất- hoàn toàn khác biệt với việc rửa chân nói trên.
Rước Mình Máu Thánh Chúa Kitô là một việc đạo đức đòi hỏi phải có đức tin và sạch tội trọng. Phải có đức tin để tin rằng Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hai chất thể là bánh và rượu nho. Có tin như vậy thì việc rước Mình , Máu Thánh Chúa mới sinh ích thiêng liêng cho người lãnh nhận. Không tin thì không có ích lợi gì cho dù là người công giáo hay người ngoại.
Phải có đức tin cũng có nghĩa là người muốn lãnh nhận phải là tín hữu Công giáo đang hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội. Như thế, các Kitô hữu thuộc các giáo phái bên ngoài Giáo hội Công Giáo như các nhánh Tin Lành và Anh giáo ( Englican) kể cả tín đồ của các tôn giáo khác như Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Không Giáo, Hồi giáo... thì không được mời rước Mình, Máu Thánh Chúa Kitô, nếu họ vì xã giao đến tham dự Lễ với các tín hữu Công Giáo. Lý do là họ không cùng chia sẻ một niềm tin với Giáo Hội về Phép Thánh Thể nói chung và, cách riêng, về việc Chúa Kitô thực sự hiện diện trong hai chất thể bánh và rượu nho như Giáo Hội tin không sai lầm.
Đây không phải là sự kỳ thị nào đối với các tín hữu bên ngoài Giáo Hội, mà là vì kỷ luật bí tích của Giáo hội đòi buộc người tín hữu phải cùng chung niềm tin với Giáo Hội về Phép Thánh Thể, tức là tin có sự biến đổi bản thể (substance) của chất thể hay tùy thể (accident) là bánh và rượu nho thành bản thể Chúa Kitô. Các anh em Tin Lành và tín hữu các tôn giáo khác đều không chia sẻ niềm tin này, nên họ không thể được mời lãnh nhận MÌnh Máu Chúa Kitô - nếu họ đến tham dự Thánh Lễ với người Công Giáo hay Chính Thống Giáo Đông Phương. ( Eastern Orthodox Churches)
Mặt khác, muốn lãnh nhận Mình Máu Chúa Kitô cách xứng hợp, thì ngoài yếu tố phải là ngươì Công Giáo ra, còn yếu tố quan trọng nữa là phải đang sống trong tình trạng ơn phúc, tức là đang không có tội trọng (mortal sin), vì theo giáo lý và giáo luật thì: " ai đang có tội trọng thì không được làm lễ (linh mục) và rước Lễ (giáo dân). " ( x.SGLGHCG số, 1415; giáo luật số 916).
Như vậy, không thể trao Mình Thánh Chúa cho hết mọi người, không phân biệt tôn giáo và tình trạng tâm hồn được, vì bất cứ lý do nào.
Rửa chân cho người ngoài Công Giáo thì không vi phạm giáo lý hay tín lý nào của Giáo Hội, vì đó là hành động chủ yếu mang tính chất bác ái, và phục vụ; giống như bố thí cho người nghèo, thăm viếng người bệnh, thăm tù nhân thì không cần phân biệt tôn giáo, nam nữ hay đẳng cấp xã hội. Ngược lại rước Mình Máu Chúa Kitô thì phải là người Công Giáo đang sống trong tình trạng ơn phúc, nghĩa là không có tội trọng trong linh hồn như nói ở trên. Hai việc này hoàn toàn khác nhau về bản chất, nên không thể loại suy việc này để làm việc kia được.
2. Về câu hỏi thứ hai, cần phân biệt hai trường hợp đươc hay không được rước lễ của người ly dị như sau:
a. Nếu sau khi li dị ngoài tòa dân sự, mà không sống chung với người khác như vợ chồng thì không có gì ngăn trở họ đi xưng tội và rước Lễ.
b. Ngược lại, nếu sau khi li di ngoài tòa dân sự và trong khi chờ phán quyết xin tiêu hôn (annulment) nơi Tòa hôn phối (Tribunal) của Giáo Phận , mà lại chung sống với người khác như vợ chồng, thì tạm thời không được phép xưng tội và rước lễ, vì lý do sau đây:
Bao lâu hôn phối cũ chưa được tháo gỡ theo giáo luật, thì bấy lâu vợ chồng vẫn còn bị ràng buộc với hôn phối mà hai người đã thành hôn trong Giáo Hội. Nghĩa là việc li dị ngoài tòa án dân sự không có giá trị tiêu hôn cho hai người đã giao kết thành hôn ở nhà thờ. Do đó, bao lâu việc xin tiêu hôn (annulment) nơi tòa hôn phối của Giáo phận chưa được giải quyết thỏa đáng, thì bấy lâu hai vợ chồng vẫn bị ràng buộc với hôn phối cũ, dù hai người đã li dị ngoài tòa dân sự.
Do đó, trong khi chờ đợi phán quyết của tòa hôn phối Giáo phận, mà tự ý sống chung với người khác như vợ chồng thì tạm thời không được xưng tội và rước Lễ. Sở dĩ thế, vì khi tự ý sống chung với người khác kể cả việc tái kết hôn với người khác ở ngoài tòa dân sự sau khi li dị, thì bị coi là phạm tội ngoại tình (adultery) vì hôn phối cũ chưa được tháo gỡ nơi Tòa hôn phối giáo phận. Và đây mới là trở ngại cho việc xưng tội và rước lễ của người li dị. Phạm tội ngoại tình là tội trọng nên không được rước lễ theo giáo lý và giáo luật của Giáo Hội (x. giáo luật số 916, SGLGHCG số 1415).
Nói tóm lại, những người đã li dị ngoài tòa dân sự hay bỏ nhau để đi lấy người khác trong khi hôn phối cũ chưa được tiêu hôn (annulled), thì tạm thời không được xưng tội và rước lễ.
Gần đây, có dự luận cho là Giáo Hội muốn đón mời (welcome) những người li dị vào hiệp thông với Giáo Hội. Nghĩa là cho họ rước lễ như mọi người khác. Điều này không đúng, vì cho đến nay Tòa Thánh chưa hề nói gì về việc này, mà chỉ có chỉ thị mới cho các Tòa án hôn phối các giáo phận phải đơn giản hóa thủ tục xin tiêu hôn, để rút ngắn thời gian cứu xét tiêu hôn và có thể miễn hay giảm lệ phí cho các người xin tháo hôn phối. Ở Tổng Giáo Phận Galveston-Houston, thì lệ phí này đã được giảm từ 500 dollars xuống còn 100 dollars kể từ nay.
Sau hết, nếu hôn phối cũ chưa được thẩm quyền giáo phận cho tiêu hôn, thì tính bất khả phân ly (indissolubility) và thành sự (validity) của hôn phối cũ còn tồn tại và đang được cứu xét. Nên tự ý sống chung với người khác như vợ chồng, thì đã vi phạm tính bất khả phân này, và đó là tội ngoại tình như đã nói ở trên. Phạm tội này, thì không thể xưng tội để xin tha được. Muốn tha thì phải từ bỏ việc sống chung bất hợp pháp nói trên, bao lâu hôn phối cũ chưa được tháo gỡ bởi thẩm quyền giáo phận.
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.
Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 10 of 76