mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay885
mod_vvisit_counterHôm Qua9655
mod_vvisit_counterTuần Này54740
mod_vvisit_counterTuần Trước45104
mod_vvisit_counterTháng Này145796
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10650052

We have: 99 guests online
Your IP: 54.162.173.119
 , 
Today: Apr 22, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - 28 CAU HOI VE MUA CHAY PDF Print E-mail

28 Câu Hỏi Về Mùa Chay

Mùa Chay là thời lỳ gồm 40 ngày, dành cho việc chuẩn bị mừng lễ Chúa Phục Sinh và là thời kỳ cao điểm của các anh chị dự tòng chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Rửa tội trong ngày lễ Phục Sinh.
28 Câu Hỏi Về Mùa Chay
GIẢI ĐÁP

1. Mùa Chay là mùa gì?

Mùa Chay là thời lỳ gồm 40 ngày, dành cho việc chuẩn bị mừng lễ Chúa Phục Sinh và là thời kỳ cao điểm của các anh chị dự tòng chuẩn bị lãnh nhận Bí tích Rửa tội trong ngày lễ Phục Sinh.

2. Người tín hữu sống Mùa Chay từ khi nào?

Bắt đầu từ thế kỷ thứ IV, người tín hữu đã bắt đầu sống Mùa Chay như là thời gian sám hối và đổi mới cho toàn Giáo Hội nhờ vào việc ăn chay và kiêng thịt. Việc làm này thực hiện một cách hiệu quả đối với các Giáo hội Đông Phương, còn đối với các Giáo Hội Tây Phương thì việc sám hối có phần nhẹ hơn, nhưng người tín hữu vẫn giữ chay theo tinh thần sám hối và hoán cải.

3. Tại sao lại có Mùa Chay trong Giáo Hội công giáo?

Hằng năm Giáo Hội liên kết bốn mươi ngày của Mùa Chay với mầu nhiệm của Chúa Giêsu trong sa mạc. (xem. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 540).

4. Thần Khí nào của Mùa Chay?

Đó như là một việc tĩnh tâm cộng đồng trong bốn mươi ngày mà Giáo Hội mời gọi các tín hữu noi theo gương Chúa Kitô trong thời gian Người ở sa mạc, để chuẩn bị cho việc cử hành trọng thể Lễ Vượt Qua, trong việc thanh tẩy tâm hồn, thực hành đức ái hoàn hảo trong cuộc sống của người kitô hữu và trong thái độ sám hối.

5. Sám hối là gì?

Từ « sám hối » theo bản dịch la tinh bắt nguồn từ một từ hy lạp Metanoia có nghĩa là « trở về » ( theo nghĩa bóng: thay đổi tư tưởng) của người tội, có nghĩa là toàn bộ những hành vi bên trong cũng như bên ngoài để sửa chữa tội lỗi đã phạm và tình trạng của sự việc là hậu quả của tội nhân.

Nghĩa đen là "thay đổi cuộc sống" có nghĩa là hành vi của các tội nhân trở về với Thiên Chúa sau khi đã lìa xa Ngài hoặc đã mất đức tin.

6. Những biểu hiện nào của việc sám hối?

Việc sám hối bên trong của người Kitô hữu có thể có những biểu hiện rất khác nhau. "Kinh Thánh và các Giáo Phụ nhấn mạnh trên tất cả ba hình thức: ăn chay, cầu nguyện và bố thí, mà thể hiện qua việc chuyển đổi trong mối quan hệ đối với chính mình, đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Cùng với sự thanh tẩy triệt để do Bí tích Rửa tội hoặc sự hy sinh mang lại, các tội nhân kể đó như là phương tiện để có được sự tha thứ tội lỗi, cố gắng hòa giải với tha nhân, nước mắt của sự hối cải, mối quan tâm cho sự cứu rỗi của những người khác, lời chuyển cầu của các thánh và thực hành bác ái phải "bao trùm tội nhân" (1 P 4.8) (Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, số 1434)

7. Người kitô hữu buộc phải làm việc sám hối?

"Tất cả các tín hữu, mỗi người tùy theo những cách khác nhau của họ, buộc phải theo luật của Thiên Chúa để làm việc sám hối. Tuy nhiên, để tất cả các tín hữu có cùng một việc đền tội, Giáo Hội đã đặt ra những ngày nhất định để trong thời gian này các tín hữu dâng hiến một cách đặc biệt cầu nguyện, làm các công việc đạo đức, bác ái, và quên mình trong việc hoàn thành nghĩa vụ riêng được trao một cách trung thành tuyệt đối, và nhất là tuân giữ việc ăn chay và kiêng thịt (Giáo luật, số 1249)

8. Có những ngày và giờ nào để sám hối?

"Trong Giáo Hội phổ quát, tất cả các buổi thứ sáu hàng năm và Mùa Chay là những ngày và thời gian để sám hối."(Giáo Luật, số 1250)

9. Người Kitô hữu phải làm gì trong những ngày thứ sáu hằng năm?

Để tưởng nhớ cuộc tử nạn của Chúa Giêsu Kitô trên Thập Giá", mỗi thứ sáu, trừ khi trùng hợp với lễ trọng, các tín hữu buộc phải kiêng thịt, hoặc bất kỳ thực phẩm khác theo qui định của Hội Đồng Giám Mục; các tín hữu phải ăn chay và kiêng thịt vào ngày thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh. "(Giáo Luật, số 1251)

10. Mùa Chay bắt đầu khi nào?

Mùa Chay bắt đầu vào ngày thứ Tư Lễ Tro và kết thúc ngay lập tức trước khi Thánh Lễ Tiệc Ly của Chúa (Thứ Năm Tuần Thánh). Trong suốt giai đoạn này được kể như là một sự thống nhất:

1) Thứ tư Lễ Tro,
2) Các Chúa Nhật, I-II ; III, IV, V ; và Chúa Nhật Lễ Lá,
3) Lễ Truyền Dầu.
4) Các ngày lễ.

11. Thứ tư Lễ tro là ngày nào?

Đây là sự khởi đầu của Mùa Chay, một ngày sám hối đặc biệt, trong đó người tín hữu hiển lộ lòng mong muốn cá nhân đế TRỞ VỀ với Thiên Chúa.

Bằng việc đón nhận việc xức tro trong các nhà thờ, người tín hữu chứng tỏ sự khiêm tốn và chân thành của con tim, mong muốn chuyển đổi và thực sự tin vào Tin Mừng.

12. Nguồn gốc của việc xức tro có từ khi nào?

Nguồn gốc của việc xức tro thuộc về khuôn khổ của việc sám hối chính thức. Nguồn gốc này bắt đầu bắt buộc đối với toàn bộ cộng đồng Kitô hữu từ thế kỷ thứ mười. Phụng vụ hiện nay vẫn giữ được yếu tố truyền thống xức tro và giữ chay nghiêm ngặt.

13. Nhận phép lành và việc xức tro được làm khi nào?

Phép lành và việc xức tro được ban trong Thánh Lễ sau bài giảng; trong trường hợp đặc biệt, các tín hữu có thể được lãnh nhận trong một buổi cử hành Lời Chúa. Các hình thức xức tro được lấy cảm hứng từ Kinh Thánh: 3 St,19 và Mac 1,15.

14. Tro lấy từ đâu?

Theo truyền thống từ thế kỷ thứ mười hai, Tro lấy từ những lá ô liu hoặc lá dừa được làm phép trong Chúa Nhật Lễ Lá của năm trước. Lời chúc lành nhắc nhớ lại tình trạng tội lỗi cho nhưng ai được nhận lãnh.

15. Có những biểu tượng nào của tro?

Các biểu tượng của tro là như sau:

a) tình trạng suy yếu và tự mãn của con người dẫn họ tiếp cận gần đến sự chết.
b) tình trạng tội lỗi của con người.
c) Cầu nguyện và khẩn nài tha thiết để Thiên Chúa đến trợ giúp.
d) Được sống lại, vì lẽ tất cả mọi người đều được kêu gọi tham dự vào chiến thắng của Chúa Kitô.

16. Giáo Hội mời gọi người tín hữu điều gì trong Mùa Chay?

Giáo Hội mời gọi chúng ta làm cho Mùa Chay trở nên một thời gian tĩnh tâm tinh thần trong đó việc cố gắng chiêm niệm và cầu nguyện phải là một nỗ lực lâu dài của cá nhân , tùy thuộc vào lòng quảng đại của mỗi tín hữu.

17. Có những hậu quả nào của một Mùa Chay Thánh?

Nếu chúng ta sống tốt Mùa Chay, chúng ta phải có một sự chuyển đổi cá nhân thực sự và sâu sắc, và với thái độ này, Mùa Chay giúp chúng ta chuẩn bị tham dự vào đại lễ quan trọng nhất trong năm đó là Chúa Nhật Lễ Phục Sinh.

18. Hoán cải là gì?

Hoán cải là muốn hòa giải với Thiên Chúa, xa rời sự ác, để thiết lập một mối quan hệ thân thiện với Đấng Tạo Hóa.

Điều này có nghĩa là mong muốn ăn năn và xưng thú tất cả các tội lỗi của chúng ta.

Sau khi trở lại trong ân sủng (không còn tội trọng), chúng ta phải thay đổi từ bên trong (thái độ) bất cứ điều gì không làm hài lòng Thiên Chúa.

19. Tại sao người ta nói rằng Mùa Chay là thời kỳ quan trọng và là thời kỳ sám hối?

"Thời gian và ngày sám hối trong năm phụng vụ (Mùa Chay, mỗi thứ sáu trong việc tưởng nhớ sự chết của Chúa) là những khoảnh khắc quan trọng của việc sám hối trong Giáo Hội. Thời gian này là đặc biệt thích hợp cho việc tập luyện các bài tập thiêng liêng, cử hành phụng vụ sám hối, các cuộc hành hương như là dấu hiệu của sự ăn năn, tự nguyện ăn chay, làm phúc bố thí, và chia sẻ tình huynh đệ (các công việc từ thiện và truyền giáo) ". (Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, số 1438).

20. Lòng mong muốn hoán cải cụ thể của tôi thế nào?

Trong nhiều cách khác nhau, nhưng vẫn còn thực hành việc sám hối, chẳng hạn như:

1. Đón nhận Bí Tích Hòa Giải (Bí tích giải tội hoặc xưng tội) và làm tốt việc xưng thú tội: rõ ràng, ngắn gọn, cụ thể và đầy đủ.

2. Xóa bỏ những sự chia rẽ thông qua sự tha thứ, và phát huy tinh thần huynh đệ.

3. Thực hành những công việc của lòng thương xót.

21. Các công việc của lòng thương xót là gì?

Các công việc tinh thần của lòng thương xót là:

– Giảng dạy cho người không hiểu biết.
– Khuyên nhủ những người cần lời khuyên.
– Sửa chữa những người lạc đường
– Tha thứ cho những người nguyền rủa.
– An ủi kẻ buồn sầu.
– Kiên nhẫn chịu đựng những nghịch cảnh và yếu đuối của tha nhân.
– Cầu nguyện cho kẻ sống và kẻ chết.

Những việc phúc đức về thể xác :

– Thăm viếng bệnh nhân.
– Cho kẻ đói ăn.
– Cho kẻ khát uống.
– Cứu kẻ bị giam cầm.
– Cho kẻ rách rưới ăn mặc.
– Cho khách đỗ nhà.
– Chôn xác kẻ chết.

22. Các nghĩa vụ của một người Công Giáo trong Mùa Chay là gì?

Người công giáo phải thực hiện sắc chỉ ăn chay vào ngày thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh và phải kiêng thịt mỗi thứ sáu cũng như việc xưng tội rước lễ.

23. Ăn chay là gì?

Ăn chay là ăn một bữa trong một ngày, với một chế độ ăn uống thanh đạm vào buổi sáng và buổi tối. Không nên ăn ngoại bữa, ngoại trừ trường hợp bệnh tật.

24. Ai buộc phải giữ chay?

Luật giữ chay là bắt buộc đối với các vị thành niên cho đến 59 tuổi. (x. CIC, số 1252)

25. Kiêng thịt là gì?

Kiêng thịt là việc khước từ ăn các loại thịt (đỏ, trắng).

26. Ai buộc phải kiêng thịt?

Luật kiêng thịt buộc tất cả những ai có đủ 14 tuổi tròn (x.CIC, n° 1252).

27. Các tín hữu có thể thay đổi việc giữ chay và kiêng thịt?

Các tín hữu không phải ăn chay hay kiêng cữ như việc áp đặt nhưng như là một phương tiện cụ thể mà Giáo Hội mời gọi các tín hữu lớn lên trong tinh thần thực sự sám hối.

28. Những khía cạnh mục vụ nào cần nhấn mạnh trong Mùa Chay?

Mùa Chay là mùa cao điểm của phụng vụ, trong đó toàn thể Giáo Hội chuẩn bị cho việc cử hành Lễ Phục Sinh. Lễ Vượt Qua của Chúa, Bí tích Rửa tội và lời mời hòa giải, thông qua bí tích giải tội, đó là những mối tương quan quan trọng.

Nên sử dụng phương tiện mục vụ như:

1) Việc dạy Giáo Lý về mầu nhiệm Phục sinh và các Bí tích;
2) Tiếp cận và cử hành thường xuyên Lời Chúa
3) Nếu có thể được, nên tham gia hàng ngày các phụng vụ mùa

Mùa Chay, cử hành sám hối, và nhất là việc tiếp nhận bí tích giải tội.

4) Các kỳ Linh thao, các cuộc hành hương như là một dấu hiệu của sự ăn năn, sự tự nguyện ăn chay, làm phúc bố thí, các công việc từ thiện và truyền giáo.

Theo Catholique.org- Thiệu Chuyên Chuyển Dịch

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - CN2 MC - B PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Mt 17, 5

Từ trong đám mây sáng chói, có tiếng Chúa Cha phán rằng: "Ðây là Con Ta yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người".

Phúc Âm: Mc 9, 1-9

"Ðây là Con Ta rất yêu dấu".

Khi ấy, Chúa Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê, và Gioan đi riêng với Người lên núi cao, và Người biến hình trước mặt các ông, và áo Người trở nên chói lọi, trắng tinh như tuyết, không thợ giặt nào trên trần gian có thể giặt trắng đến thế. Rồi Êlia và Môsê hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu. Bấy giờ Phêrô lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng: "Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia". Phêrô không rõ mình nói gì, vì các ông đều hoảng sợ. Lúc đó có một đám mây bao phủ các Ngài, và từ đám mây có tiếng phán rằng: "Ðây là Con Ta rất yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Người". Bỗng nhìn chung quanh, các ông không còn thấy ai khác, chỉ còn một mình Chúa Giêsu với các ông. Và trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai những điều vừa xem thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại. Các ông tuân lời căn dặn đó, nhưng vẫn tự hỏi nhau: "Từ trong cõi chết sống lại nghĩa là gì?"

Ðó là lời Chúa.

Image result for MARK 9, 1-9

HOC HOI-Suy Nghiệm SỐNG Lời Chúa

Hy tế Người Con biến hình

Hôm nay, Chúa Nhật 2 Mùa Chay Năm B, điểm qui tụ của cả 3 bài đọc trong phụng vụ lời Chúa đều tập trung vào hy tế của Người Con Duy Nhất. Thật vậy, cho dù bài Phúc Âm được Thánh ký Marco (9:1-9) thuật lại biến cố biến hình trên "núi cao" của Chúa Giêsu, một biến cố hoàn toàn ngược lại với biến cố Người chay tịnh 40 đêm ngày trong hoang địa trong bài Phúc Âm tuần 1 Mùa Chay vừa rồi, nhưng theo chiều hướng của bài đọc 1 (Khởi Nguyên 22:1-2,9a,10-13,15-18) và bài đọc 2 (Roma 8:31b-34) thì cốt lõi của cả 3 bài đọc đều qui về hy tế của Người Con Duy Nhất này.

Đúng thế, trong bài Phúc Âm là bài đọc chính yếu, dù ở phần đầu là một Chúa Kitô "biến hình trước mặt các ông, và áo Người trở nên chói lọi, trắng tinh như tuyết", và ở phần giữa Người được Cha trên trời chứng nhận và tuyên dương: "Đây là Con Ta yêu dấu rất đẹp lòng Ta, các ngươi hãy nghe lời Người", thế nhưng, ở câu kết thúc của bài Phúc Âm, Người Con đẹp lòng Cha và biến hình rực rỡ rạng ngời này lại là "Con Người từ cõi chết sống lại", tức là phải chịu khổ nạn và tử giá, mới vượt qua từ cõi chết mà vào sự sống, nhờ đó mới "cho chiên được sự sống và là một sự sống viên mãn hơn" (Gioan 10:10).

Giáo Hội cố ý chọn đọc hai bài Phúc Âm cho Chúa Nhật I Mùa Chay và Chúa Nhật II Mùa Chay tương phản nhau, chay tịnh và biến hình, hai biến cố tiêu biểu là để báo trước cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, Đấng sẽ phải vượt qua từ khổ giá (được biểu hiện nơi sự kiện chay tịnh) tới phục sinh (được biểu hiện nơi sự kiện biến hình). Cả hai biến cố chay tịnh và biến hình đều liên quan trực tiếp đến thân xác của Người. Phúc Âm Thánh ký Marco cho Năm B hôm nay chỉ nói đến "Áo Người trở nên chói lọi, trắng tinh như tuyết", chứ không hề nói đến trước đó "mặt Người" cũng được biến đổi, như ở Phúc Âm Thánh Mathêu (17:2) và Luca (9:29). Nếu "mặt Người" biểu hiệu cho linh hồn của Người thì "áo Người" biểu hiệu cho thân xác của Người.

Thế nhưng, ngay trong biến cố biến hình đi nữa, cả 3 Phúc Âm Nhất Lãm đều có cùng một chi tiết giống nhau đó là có sự hiện diện của "Moisen và Elia". Chúng ta không biết tại sao tông đồ Phêrô chỉ là một hậu sinh trong giòng Lịch Sử Cứu Độ của Dân Do Thái, chưa hề sống ở thời Moisen và Elia, chưa biết mặt mũi hai vị tiền bối nổi tiếng này như thế nào, mà bấy giờ lại nhận ra hai vị và "lên tiếng thưa Chúa Giêsu rằng: 'Lạy Thầy, chúng con được ở đây thì tốt lắm. Chúng con xin làm ba lều, một cho Thầy, một cho Môsê, và một cho Êlia'". Phải chăng tông đồ Phêrô nói theo tác động Thần Linh, vì ngay sau đó Thánh Ký Marco ghi nhận thêm chi tiết: "Phêrô không rõ mình nói gì, vì các ông đều hoảng sợ", nghĩa là theo tự nhiên tông đồ Phêrô hoàn toàn không biết, nếu không được soi động.

Tại sao lại có sự kiện "Êlia và Môsê hiện ra và đàm đạo với Chúa Giêsu" ở sự kiện biến hình của Chúa Kitô, và các vị đã "đàm đạo với Chúa Giêsu" những gì, nếu không phải về cuộc Vượt Qua của Người, như chính Người sau này, sau khi sống lại từ trong kẻ chết đã chứng minh Người Vượt Qua bằng chính chứng từ Thánh Kinh Cựu Ước liên quan đến hai vị này như sau: "Hết mọi sự viết về Thày trong luật Moisen và các tiên tri cùng thánh vịnh đều đã được nên trọn" (Luca 24:44; xem cả 24:27). Như thế, biến cố biến hình của Chúa Kitô cũng bao gồm cả cuộc khổ giá của Người, một cuộc khổ giá đã được Người dọn mình và báo trước bằng sự kiện chay tịnh của Người.

Biến cố Vượt Qua của Chúa Kitô chẳng những được tiên báo trong Luật Moisen và các tiên tri mà còn ngay nơi sự kiện được Sáng Thế Ký thuật lại ở Bài Đọc 1 hôm nay, sự kiện tổ phụ Abraham sẵn sàng tuân theo ý định vô cùng oái oăm nghiệt ngã của một Thiên Chúa hứa ban cho vị tổ phụ này người con theo lời hứa, một người con là mầm mống của một dân tộc đông như sao trời cát biển (xem Khởi Nguyên 15:1-6), mà lại bắt vị tổ phụ ấy giết chết người con ấy đi "dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi".

Người con duy nhất của lời hứa này của tổ phụ Abraham là Isaac không phải là hình ảnh của một "Người Con duy nhất đến từ Cha đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14) hay sao? Và hy tế Isaac xẩy ra "trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi" đây không ám chỉ đến "núi sọ" Canvê của Con Thiên Chúa sau này hay sao? Nếu Abraham chỉ có một người con duy nhất theo lời hứa là Isaac cần phải được sát tế đi theo ý muốn của Thiên Chúa thì Chúa Giêsu Kitô cũng là Người Con duy nhất của Ngài là Cha trên trời, Đấng "đã không dung tha chính Con mình, nhưng lại phó nộp Con vì tất cả chúng ta" (Roma 8:32 – bài đọc 2).

Thế nhưng, Thiên Chúa là Cha trên trời không hy sinh Con Một của Ngài một cách vô ích, mà là để cứu chuộc loài tạo vật đã được Ngài ngay từ ban đầu dựng nên theo hình ảnh thần linh của Ngài và tương tự như Ngài (xem Khởi Nguyên 1:26-27), nhờ đó Ngài hoàn tất lời hứa với tổ phụ Abraham, trong bài đọc 1, về một giòng dõi "đông như sao trời cát biển... mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi", một miêu duệ được Ngài tuyển chọn để tỏ mình ra cho họ mà tột đỉnh mạc khải thần linh của Ngài là "vào thời điểm viên trọn / thời điểm ấn định Thiên Chúa đã sai Con của Ngài hạ sinh bởi một người nữ sinh ra theo lề luật để giải cứu những ai lệ thuộc lề luật, hầu chúng ta có được thân phận trở thành những dưỡng tử của Ngài" (Galata 4:4).

Phần Isaac, cho dù có thấy cha mình là "Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình", nhưng vẫn không chống cự và vùng vẫy cho khỏi bàn tay sát tế của cha mình, Chúa Kitô cũng vậy, cho dù biết trước số phận vô cùng đau thương khốn nạn của mình, Người vẫn âm thầm chấp nhận, nên "trong lúc từ trên núi đi xuống, Chúa Giêsu ra lệnh cho các ông đừng thuật lại cho ai những điều vừa xem thấy, trước khi Con Người từ cõi chết sống lại". Bài Đáp Ca hôm nay đã phần nào nói lên tâm nguyện của Isaac và của Chúa Kitô trong thân phận hy tế của một Người Con Duy Nhất cho phần rỗi muôn dân:

1) Tôi đã tin cậy ngay cả trong lúc tôi nói: "Tấm thân tôi trăm phần khổ cực!" Trước mặt Chúa thật là quý hoá cái chết của những bậc thánh nhân Ngài.

2) Ôi lạy Chúa, con là tôi tớ Chúa, con là tôi tớ Ngài, con trai của nữ tỳ Ngài, Ngài đã bẻ gãy xiềng xích cho con. Con sẽ hiến dâng Chúa lời ca ngợi làm sinh lễ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa.

3) Tôi sẽ giữ trọn lời khấn xin cùng Chúa, trước mặt toàn thể dân Ngài, trong nơi hành lang nhà Chúa, ở giữa lòng ngươi, Giê-rusalem hỡi!

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

 
HOC HOI DE SONG DAO - CAC BI TICH THANH SU... PDF Print E-mail

CÁC BÍ TÍCH THÀNH SỰ HAY HỮU HIỆU VÌ YẾU TỐ NÀO ?
Xin cha giải đáp các thắc mắc sau đây:
1- Linh mục bất xứng làm lễ có thành hay không ?
2- Có cần cầu nguyện cho các thai nhi, và các linh hồn mồ côi không ?
3- Có được chứng hôn, hay tham dự tiệc cưới của các cặp hôn nhân đồng tính hay không ?
Trả lời:
1- Thế nào là linh mục bất xứng ?
Tôi không hiểu rõ ý của người hỏi về câu này. Chắc muốn nói đến linh mục nào không tôn trọng kỷ luật độc thân của Giáo Hội ? hay sách nhiểu tình dục trẻ em ?( Sexual abuses of children) ? hay không có chức linh mục mà dám làm lễ và giải tội ?
Nhưng dù câu hỏi là thế nào, thì cũng xin được giải thích rõ thêm như sau :
Trước hết, dựa vào ý nghĩa của cụm từ Latinh Ex opere Operato áp dụng vào việc cử hành các bí tích ( sacramental celebrations ) thì bí tích thành sự hay hữu hiệu ( validly) vì được cử hành đúng theo Nghi thức bí tich ( Sacramental Rites) và làm theo ý của Giáo Hội, chứ không thành sự vì phẩm chất hay xứng đáng ( worthiness) của thừa tác viên cử hành ( minister)
Nghĩa là, khi cử hành bất cứ bí tích nào, như rửa tội, thêm sức, Thánh Thể, hòa giải, sức dầu bệnh nhân .v.v Thừa tác viên con người như linh mục và Giám mục phải cử hành nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) chứ không nhân danh cá nhân mình bao giờ. Như thế, chính Chúa Kitô rửa tội, thêm sức, cử hành Thánh lễ Tạ Ơn ( Eucharist), giải tội và sức dầu .. qua tay thừa tác viên con người. Vì thế ,bí tích thành sự vì chính Chúa Kitô làm chứ không phải là linh mục hay giám mục làm.
Đây là nền tảng thần học của Giáo Hội về việc cử hành các bí tích .
Tuy nhiên, dù nhân danh Chúa Kitô , thừa tác viên vẫn phải theo đúng nghi thức mà Giáo Hội đã qui định. Thí dụ, bí tích rửa tội chỉ thành sự khi thừa tác viên dùng nước và công thức Chúa Ba Ngôi ( Trinitarian format). Không có nước để đổ trên đầu hay trên trán trẻ em hay người lớn và đọc đúng công thức trên thì bí tích sẽ không thành sự dù thừa tác viên là Phó tế, Linh mục hay giám mục
Cũng vậy, nếu không có chức linh mục thực sự thì không thể cử hành thành sự các bí tích Thánh Thể, Hòa giải, Thêm sức và Sức dầu bệnh nhân. Phải nói lại điều này vì nghe đồn có người kia đã giả danh linh mục để cử hành thánh lễ cho một Công Đoàn VN và giải tội trong nhiều năm cho đến khi bị phát giác và bỏ trốn !
Trở lại với câu hỏi đặt ra, thì xin trả lời là cho dù bất xứng đến đâu theo nhãn quan của người đời, linh mục đã được chịu chức thành sự, vẫn cử hành thành sự các bí tích khi áp dụng đúng Nghi thức bí tích và Phụng vụ của Giáo Hội. Nếu linh mục " bất xứng " hiểu theo cách suy diễn của giáo dân, thí dụ đang sống chung hay giao du thân mật với phụ nữ, ăn cắp tiền của giáo xứ, cờ bạc, làm gương xấu... thì khi cử hành bí tích nhất là bí tích Thánh Thể, sẽ mắc thêm tội " phạm thánh= Sacrilege" vi phạm giáo luât số 916 cấm không được làm lễ ( linh mục ) và rước lễ ( giáo dân) những ai đang có tội trọng.Tuy nhiên bí tích vẫn thành sự như đã nói ở trên, vì linh mục cử hành nhân danh Chúa Kitô chứ không danh danh cá nhân mình.
Như vậy, giáo dân cứ an tâm đi xưng tội hay tham dự Thánh lễ do các linh mục cử hành, cho dù biết linh mục nào "bất xứng" theo nhãn quan con người.
Vị nào thật sự "bất xứng" thì đã có Chúa phán xét không sai lầm. Chúng ta chỉ nên cầu nguyện cho các linh mục , đặc biệt cho linh mục nào bị coi là "bất xứng" theo phán đoán của dư luận mà thôi, chứ không nên rỉ tai nhau để làm xấu, mất danh dự cho nạn nhân.
2- Có nên cầu nguyện cho các thai nhi, và các linh hồn mồ côi hay không ?
Chắc câu hỏi này liên quan đến các bào thai bị giết trong bụng mẹ tức là bị phá thai ( abortion) như thực trạng đang sảy ra ở khắp nơi trên thế giới hiện nay.. Đây là một tội ác, một trọng tội xúc phạm nặng nề đến Thiên Chúa là nguồn mạch của mọi sự sống của con người và vạn vật trong vũ trụ hữu hình này.
Nhưng tiếc thay, không những ở các quốc gia vô thần, mà ngay ở các quốc gia có truyền thống Kitô Giáo lâu đời như Pháp ,Ý, Đức, Tây Ban Nha, Canada và nhất là ở Hoa kỳ, việc phá thái đã được công khai cho phép, khiến hàng triệu thai nhi đã bị giết ở Mỹ mỗi năm. Đây là một sỉ nhục cho niềm tin Kitô Giáo mà đa số người Mỹ vẫn tự nhận mình là Christians, là tín đồ của các giáo phái Tin lành, Chính Thống và Công Giáo La Mã, nhưng có rất nhiều phụ nữ đã phá thai hay phụ giúp vào việc này.
Liên quan đến các bào thai bị giết khi còn đang phát triển trong lòng mẹ, chúng ta phải tin chắc rằng các bào thai này hoàn toàn vô tội vì chưa được sinh ra mà đã bị giết nên, không thể được rửa tội để được tha hậu quả của tội nguyên tổ ( original sin). Còn tội cá nhân, thì chúng chưa được sinh ra nên cũng không thể có tội cá nhân được. Vì thế , chúng ta không cần phải cầu nguyện cho chúng vì chúng hòan toàn vô tội, và xứng đáng được Chúa nhân lành đón nhận vào Nước Hằng Sống. Các bào thai này thực đáng thương vì bị tước mất quyền sống bởi chính cha mẹ và xã hội vô luân ,vô tín ngưỡng.
Như vậy, có cầu xin thì phải cầu cho những ai đã hay sắp phá thai hoặc giúp cho việc phá thai được thành tựu, để họ nhận biết tính chất nghiêm trọng của việc sai trái này mà từ bỏ cũng như ăn năn sám hối vì vô tình hay cố ý phạm tội sát nhân này.
Mặc khác, liên quan đến việc cầu nguyện cho các linh hồn "mồ côi",như thực hành ở các giáo xứ Việt Nam, xin trả lời một ần nữa như sau:
Khi nói linh hồn mồ côi có nghĩa là linh hồn không có ai cầu nguyện cho,sau khi qua đời.
Những thực tế hoàn toàn không phải vậy, vì trong mỗi Thánh Lễ , Giáo Hội đều cầu trước tiên cho linh hồn các tín hữu đã ly trần, dù không có ai xin lễ cầu riêng cho. .Sau đó mới cầu cho linh hồn các bậc tổ tiên và thân bằng quyến thuộc. Nếu có ai xin lễ, thì có thêm lời nguyện cho linh hồn đó. Nhưng dù không có ai xin lễ , thì Giáo Hội vẫn cầu cho các tín hữu đã ly trần, như ta nghe đọc thấy trong các Kinh Nguyện Thánh Thể ( Tạ Ơn) của mọi Thánh Lễ.
Như vậy làm gì có linh hồn nào bị coi là "mồ côi", hiểu theo nghĩa là không có thân nhân cầu cho, khiến phải xin lễ cầu riêng cho họ ?.
Nhưng nếu vì bác ái, muốn cứu các inh hồn trong nơi Luyện Tội, thì cứ xin lễ cầu chung cho họ, nhưng không thể coi linh hồn nào là "mồ côi"khiến phải cầu riêng cho họ như giáo dân Việt Nam vẫn quen làm ở các giáo xứ. Các cha xứ cũng cần giải thich thêm cho giáo dân biết để cầu nguyện cho đúng cách.
Tóm lại, không có lý do gì phải xin lễ cầu xin cho các thai nhi bị giết trong các vụ phá thai cả, vì các thai nhi này hoàn toàn vô tội trước mặt Chúa của lòng thương xót vô biên.Và cũng không có linh hồn nào là "mồ côi" khiến phải xin lễ cầu riêng cho họ vì lý do đã nói ở trên.
3- Có được phép chứng hôn, hay tham dự tiệc cưới của các cặp hôn nhân đồng tính không ?
Đây là một vấn đề đang gây nhức nhối cho những ai biết tôn trọng và bảo vệ truyền thống hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Đây không những là truyền thống tốt đẹp của mọi nền văn hóa nhân loại từ xưa đến nay, mà trên hết, còn là một định chế linh thiêng ( sacred institution) được chính Thiên Chúa thiết lập từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữ. Và Adam và Eva là cắp hôn phối đầu tiên Thiên Chúa đã se kết và truyền cho họ "hãy sinh sôi nảy nở cho thật nhiều , cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất." ( St 1: 28)
Nghĩa là hôn nhân chỉ được thành lập giữa một người nam và một người nữ cho mục đích " sinh sôi nẩy nở" như Thiên Chúa đã truyền cho Adam và Eva.
Nhưng đáng buồn thay là một số quốc gia trên thế giới- đặc biệt là Hoa Kỳ- người ta đang muốn định nghĩa lại hôn nhân để cho phép các người đồng tính ( gay & lesbian) kết hôn như những người bình thường khác.
Giáo Hội không lên án hay chỉ trích những người có khuynh hướng bất thường về phái tính ( Abnormally sexual tendency), nhưng chắc chắn không thể công nhận hôn nhân của những người này được vì trái tự nhiên( unnatural) và vô luân ( immoral).
Giáo luật số 1096, triệt 1 qui định rằng: " Để có sự ưng thuận kết hôn, điều cần thiết là hai người kết hôn phải biết ít ra rằng hôn nhân là đời sống chung vinh viễn giữa người nam và người nữ, nhằm đến việc sinh sản con cái bằng việc giao hợp sinh lý cách nào đó."
Giáo lý của Giáo Hội cũng dạy rằng : " Giao ước hôn nhân nhờ đó một người nam và một người nữ làm thành một cộng đoàn cho cả cuộc đời , tự bản chất nó hướng tới lợi ích của những người phối ngẫu cũng như hướng tới việc sinh sản và giáo dục con cái . Giao ước này đã được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích giữa những người đã nhận lãnh phép Rửa tội." ( SGLGHCG ,số 1601)
Như thế không thể có hôn nhân giữa hai người nam hay hai người nữ được vì không có luật nào của Giáo Hội cho phép việc này. Chắc chắn như vậy.
Mặc dù các xã hội " bệnh hoạn và mỵ dân" đã công nhận hôn nhân của những người đồng tính, nhưng những cặp hôn nhân này không thể xin hợp thức hóa hôn nhân của họ trong Giáo Hội Công Giáo được vì những lý do nêu trên. Tuy chưa có giáo luật mới ngăn cấm việc này, nhưng để bảo toàn định chế hôn nhân mà Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu và được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích, thì trong thực hành mọi linh mục cũng phải hiểu rằng Giáo Hội sẽ không bao giờ nhượng bộ trào lưu tục hóa của thế giới mà cộng nhân hôn nhân đồng tính, vì việc này đi ngược lại mục đích của hôn nhân như giáo lý và giáo luật hiện hành của Giáo Hội qui định.
Sau hết, nếu không thể chứng hôn cho các cặp hôn nhân đồng tính ( same sex marriage ) thì người Công Giáo cũng không nên tham dự tiệc cưới của một cặp hôn nhân đồng tính nào, vì tham dự như vậy sẽ có nghĩa là công nhân việc kết hôn của họ là hợp pháp trong Giáo Hội.
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn những câu hỏi được đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

-----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO -NGÀY 23-2-2018 PDF Print E-mail

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 11, 25a và 26

Chúa phán: "Ta là sự sống lại và là sự sống; ai tin Ta, sẽ không chết đời đời".

Phúc Âm: Mt 5, 20-26

"Hãy đi làm hoà với người anh em ngươi trước đã".

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Nếu các con không công chính hơn các luật sĩ và biệt phái, thì các con chẳng được vào Nước Trời đâu. Các con đã nghe dạy người xưa rằng: Không được giết người. Ai giết người, sẽ bị luận phạt nơi toà án. Còn Ta, Ta bảo các con: Bất cứ ai phẫn nộ với anh em mình, thì sẽ bị toà án luận phạt. Ai bảo anh em là "ngốc", thì bị phạt trước công nghị. Ai rủa anh em là "khùng", thì sẽ bị vạ lửa địa ngục. Nếu con đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với con, thì con hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ. Hãy liệu làm hoà với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa con ra trước mặt quan toà, quan toà lại trao con cho tên lính canh và con sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật cho con biết: Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!"

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI- Suy niệm- SỐNG LỜI CHÚA

Sự Sống hòa giải

Hôm nay, Thứ Sáu trong Tuần 1 Mùa Chay, vấn đề chính yếu của Phụng Vụ Lời Chúa cho ngày này đó là vấn đề hòa giải, hòa giải với nhau giữa loài người, (nội dung của Bài Phúc Âm), và hòa giải với Thiên Chúa, (nội dung của Bài Đọc 1), một vấn đề hòa giải vẫn phản ảnh chủ đề chung cho Mùa Chay về một Chúa Kitô "đã tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17) để mang lại sự hòa giải giữa con người với Thiên Chúa và với nhau.

Trước hết, trong Bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ của Người là thành phần mà Người muốn họ phải "công chính hơn các luật sĩ và biệt phái" thực hiện một hành động hòa giải thật là khó khăn, hoàn toàn trái với tự nhiên và đầy tính cách nhu nhược theo lập luận loài người, như sau:

"Nếu con đang dâng của lễ nơi bàn thờ mà sực nhớ người anh em đang có điều bất bình với con, thì con hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ".

Căn cứ vào lời khuyên dạy trên đây của Chúa Giêsu thì nạn nhân cần phải đi làm hòa cùng phạm nhân, chứ không phải ai có lỗi thì người ấy phải xin lỗi mới đúng, mới hợp tình hợp lý và mới hợp với phép công bình.

Đó là ý nghĩa sống trọn lành hơn, sống không theo tự nhiên như dân ngoại, không theo lập luận bình thường của trần gian, mà Chúa Giêsu mong muốn nơi các môn đệ của Người, thành phần muốn theo Người, Đấng đã tự động đến làm hòa với con người thụ tạo là thành phần đã phạm đến Cha của Người cũng như đến chính Người là Thiên Chúa của họ.

Ở đây Chúa Giêsu đề cao đức bác ái hơn là lễ vật hiến dâng trên bàn thờ, đúng hơn, Người dạy chúng ta là thành phần môn đệ sống trọn lành hơn của Người là hãy dâng lễ vật bằng cả một tấm lòng yêu thương, chứ không phải với một tấm lòng còn đầy những hận thù và ghen ghét.

Bởi vì, có yêu thương họ mới xứng đáng dâng lễ vật lên chính Đấng đã "yêu thương thế gian đến ban Con Một của mình", đã "không dung tha cho Con Một của mình một đã phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Roma 8:32), và mới xứng đáng dâng lễ vật với Đấng "đã hiến mình làm giá chuộc cho nhiều người" (Mathêu 20:28), Đấng chỉ "cần lòng nhân lành hơn là lễ vật" (Mathêu 9:13).

Và hành động "hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ" đây không phải là, chẳng hạn, như vào lúc mở đầu Thánh Lễ, bắt đầu phần thống hối, chúng ta thấy chúng ta đang bất mãn và bực bội với một người anh chị em nào của chúng ta, vì họ đã xúc phạm đến chúng ta một cách nào đó, vô tình hay cố ý, bằng lời nói hay việc làm v.v., thì chúng ta cần phải ra khỏi nhà thờ, lái xe về gặp họ để làm hòa với họ, để gọi là "xin lỗi" họ, đúng như lời Chúa dạy theo nghĩa đen.

Hành động "hãy để của lễ lại trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em con trước đã, rồi hãy trở lại dâng của lễ" đây là ở chỗ chỉ cần ngay giây phút cộng đồng phụng vụ bấy giờ đang cử hành nghi thức thống hối đầu lễ, chúng ta hãy tự động bỏ qua cho phạm nhân của chúng ta, thế là đủ, thế là xong, thế là xứng đáng tham dự Thánh Lễ, xứng đáng dâng Thánh Lễ và xứng đáng lãnh nhận Thánh Thể là bí tích yêu thương và hiệp thông.

Nếu chúng ta là nạn nhân của thành phần phạm nhân của chúng ta không tự động làm hòa với họ, bằng cách tự động bỏ qua tha thứ cho họ, như chúng ta đã được Thiên Chúa giầu lòng thương xót liên lỉ thứ tha, không bao giờ cùng, chúng ta sẽ trở thành nạn nhân gấp đôi, nghĩa là chúng ta vừa là nạn nhân của họ vừa là nạn nhân của chính chúng ta nữa. Mà là nạn nhân của chính mình mới càng khổ hơn là nạn nhân của phạm nhân. Tại sao?

Tại vì chúng ta lúc nào cũng cảm thấy nặng lòng, cũng cảm thấy sợ ma ban ngày, không dám đến gần họ, thấy bóng họ ở chỗ này thì chúng ta tránh ngay đi chỗ khác, có họ thì không có chúng ta v.v. Họ có trong hội đoàn này thì chúng ta bỏ hội đoàn đó hay không tham gia vào cùng một hội đoàn với họ.

Họ làm được gì hay ho hoặc được khen tặng chúng ta cảm thấy ghen tương và tìm cách hạ họ xuống, vì họ là phạm nhân xấu xa của chúng ta làm sao xứng đáng như thế được v.v. Cho đến khi chúng ta thật lòng tha cho họ, chẳng cần họ phải đến xin lỗi chúng ta, và chẳng cần biết họ vô tình hay cố ý phạm đến chúng ta, bấy giờ chúng ta mới cảm thấy thật sự là nhẹ nhàng, như được giải phóng vậy.

Đó là lý do Chúa Giêsu đã khuyên chúng ta hết sức chí lý trong Bài Phúc Âm hôm nay, để nhờ đó chúng ta thoát được tình trạng trở thành nạn nhân gấp đôi, sống một cách hết sức khốn khổ, bất an, bất hạnh, chẳng khác gì như một tù nhân mất hết tự do, trong đời sống đạo, trong cuộc hành trình đức tin của mình với họ và như họ:

"Hãy liệu làm hoà với kẻ thù ngay lúc còn đi dọc đường với nó, kẻo kẻ thù sẽ đưa con ra trước mặt quan toà, quan toà lại trao con cho tên lính canh và con sẽ bị tống ngục. Ta bảo thật cho con biết: Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!"

"Hãy liệu làm hoà với kẻ thù": Chúng ta là nạn nhân phải đi "làm hòa với kẻ thù" của chúng ta, chứ không ngược lại, nghĩa là bỏ qua tha thứ cho "kẻ thù" của mình.

"Ngay lúc còn đi dọc đường với nó": Nghĩa là, trước hết, là "lúc" chúng ta với họ còn sống, chứ đừng chờ tới khi họ chết rồi mới chịu tha thứ một cách bất đắc dĩ, và sau nữa còn là "lúc" chúng ta và họ vẫn còn liên hệ với nhau, trong một gia đình, trong một hội đoàn, trong một giáo xứ, trong một trường học, trong một văn phòng v.v.

"Kẻo kẻ thù sẽ đưa con ra trước mặt quan toà", ở chỗ chính phạm nhân của chúng ta trở thành những gì làm cho chúng ta là nạn nhân của họ bị nhức nhối trong lương tâm, một lương tâm đóng vai "quan tòa" của chúng ta bấy giờ.

"Quan toà lại trao con cho tên lính canh và con sẽ bị tống ngục", ở chỗ nếu chúng ta không tự động bỏ qua tha thứ cho phạm nhân của chúng ta, thì "tên lính" tiêu biểu cho thái độ chấp nhấp nơi chúng ta sẽ "tống" chúng ta vào "ngục" thất hẹp hòi là chính cõi lòng vị kỷ bất vị tha của chúng ta.

"Con sẽ không thoát khỏi nơi ấy cho đến khi trả hết đồng bạc cuối cùng!", nghĩa là cho tới khi nào chúng ta là nạn nhân tự động tha thứ cho phạm nhân của mình thì bấy giờ, và chính vào lúc bấy giờ, chúng ta mới được thật sự tự do, mới thanh thoát mà bình an vui sống vươn lên, đúng như kinh nghiệm thực tế cho thấy đúng là như vậy!

Sau nữa, trong Bài Đọc 1 hôm nay, qua miệng Tiên Tri Êzêkiên, vấn đề hòa giải với Thiên Chúa là ở chỗ con người tỏ ra hoán cải trở về với Ngài, Đấng thật ra đã hòa giải với loài người tội nhân trước, ở chỗ, đã tự động hứa ban Đấng Cứu Thế cho loài người ngay sau nguyên tội của họ (xem Khởi Nguyên 3:15), vì Thiên Chúa dựng nên con người là để họ được hạnh phúc chân thực và vĩnh viễn, chứ không bao giờ lại mong muốn họ bị hư đi hay sống một cách khốn khổ: "Có phải Ta muốn kẻ gian ác phải chết, chớ không muốn nó bỏ đàng tội lỗi và được sống ư?"

Thế nhưng, ơn cứu độ của Ngài và hạnh phúc trường sinh của Thiên Chúa chỉ giành cho những ai xứng đáng lãnh nhận mà thôi, ở chỗ, cho dù tự bản chất con người vốn yếu hèn và tội lỗi, miễn là họ biết hoán cải bằng việc từ bỏ tội lỗi và sống công chính, như dân thành Ninive trong Bài Đọc 1 hôm kia, và như chính Ngài đã minh định trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Nếu kẻ gian ác ăn năn sám hối mọi tội nó đã phạm, tuân giữ mọi giới răn của Ta, và thực thi công bình chính trực, nó sẽ sống chớ không phải chết. Ta sẽ không nhớ lại mọi tội ác nó đã phạm: nó sẽ sống nhờ việc công chính mà nó đã thực hành!"

Tuy nhiên, sự sống đây là sự sống thần linh, sự sống công chính, sự sống chân thật, nên không thể nào nay còn mai mất, mà phải kéo dài và tồn tại mãi mãi nơi những ai sống công chính, bằng không, họ vẫn có thể gặp nguy hiểm vì họ còn đang làm chủ sự công chính chứ không phải sự công chính làm chủ họ. Và vì sự công chính chưa làm chủ họ mà họ vẫn có thể bị chết nếu họ bất trung vì tự họ đã làm mất đi sự công chính của họ:

"Còn nếu kẻ công chính bỏ đàng công chính, và phạm tội ác cách ghê tởm như người gian ác quen phạm, có phải nó được sống ư? Chẳng ai còn nhớ đến mọi việc công chính nó đã thực hiện, vì sự bất trung nó đã làm và tội lỗi nó đã phạm, nó sẽ phải chết".

Tuy nhiên, tự bản chất vừa mù quáng vừa yếu nhược của mình, con người không thể nào tự mình có thể nên công chính và tự mình có thể sống công chính mãi mãi đúng như ý muốn của Thiên Chúa, ngoại trừ tin tưởng cậy trông vào Chúa là Đấng duy nhất có thể cứu độ họ, là Đấng sẵn sàng tha thứ cho họ và tìm hết cách để thánh hóa họ, để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó, nhờ nhận biết Ngài mà họ được hiệp thông thần linh với Ngài, đúng như mục đích Ngài đã tạo dựng nên họ và cứu chuộc họ.

Bởi thế mà Bài Đáp Ca hôm nay mới chất chứa những cảm thức thần linh và tâm tình gắn bó đầy cậy trông tin tưởng của con người biết mình với Vị Thiên Chúa "rộng lượng từ bi, và rất giàu ơn cứu độ":

1) Từ vực sâu, lạy Chúa, con kêu lên Chúa. Lạy Chúa, xin nghe tiếng con cầu; dám xin Chúa hãy lắng tai, hầu nghe thấu tiếng van nài của con.

2) Nếu Chúa con nhớ hoài sự lỗi, lạy Chúa, nào ai chịu nổi được ư? Nhưng Chúa thường rộng lượng thứ tha, để cho thiên hạ tôn thờ kính yêu.

3) Tôi hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn tôi trông cậy ở lời Ngài. Linh hồn tôi mong đợi Chúa tôi, hơn người lính gác mong trời rạng đông.

4) Hơn lính gác mong hừng đông dậy, Israel đang mong đợi Chúa tôi: Bởi vì Chúa rộng lượng từ bi, và Chúa rất giàu ơn cứu độ. Và chính Ngài sẽ giải thoát Israelcho khỏi mọi điều gian ác.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------

 

 
HOC HOI DE SONG DAO - Ý NGHIA CỦA THANH GIA PDF Print E-mail


Thứ Hai, Ngày 20 tháng 2-2017
Ý nghĩa của Thánh giá,

LAN TUYẾT CHUYỂN
Ngày nay thanh niên nam nữ không tin Chúa Giêsu cũng mang thánh giá. Có khi thánh giá của họ còn to hơn thánh giá của đức giám mục ! Nhưng hầu như chỉ dừng lại ở ý nghĩa là món thời trang, đồ trang điểm thôi. Họ không mang thánh giá vì niềm hãnh diện như chúng ta. Họ cũng không có ý đeo thánh giá để diễn tả tình yêu, để bộc lộ sự khiêm nhường, hiền lành và biểu dương ơn cứu độ của Chúa Giêsu.

CAC BẠN hãnh diện, vui mừng thực sự vì thánh giá của Chúa Giêsu trong ý nghĩa cứu chuộc. Thánh Phaolô cũng đã từng nói lên cảm nghiệm này : "ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta! Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi, và tôi đối với thế gian"(Gl 6, 14). Thánh gi¸ trong ý nghĩa thực sự không làm cho chúng ta vui mừng hãnh diện hoàn toàn. Chính Chúa Giêsu ở trong vườn Cây Dầu nghĩ đến phải vác thập giá đã xin Chúa Cha : "Lạy Cha, nếu Cha muốn xin cất chén này xa con" (Lc 22, 42a).

Tại sao Thiên Chúa lại muốn dùng cây thập giá cắm trên mặt đất làm biểu tượng cho tình yêu vô biên của Ngài với nhân loại ? Chính Chúa Con chịu chết trên thập giá đã giải thích tất cả. Thập giá chỉ giá trị, chỉ là biểu tượng của tình yêu, chỉ đem lại ơn cứu độ khi có Chúa Giêsu bị treo trên đó. Nguồn suối ơn cứu độ và các nhân đức Kitô giáo đều phát xuất từ thập giá Đức Kitô ; thậm chí các bí tích của giáo hội cũng chỉ được chính thức khai mở khi cạnh sườn Chúa bị mở ra trên thập giá.

Thiên Chúa đã biến đổi dụng cụ độc ác tàn nhẫn của con người thành dụng cụ diễn tả tình yêu thương bao dung, tha thứ ; biến dụng cụ giết người thành dụng cụ giải thoát con người khỏi phải án chết đời đời ; biến dụng cụ chế nhạo của con người thành dụng cụ diễn tả chiến thắng vinh quang của Đức Kitô. Như thánh Phaolô đã nói :"Thật thế, lời rao giảng về thập giá là mt sự điên rồ đối với những kẻ đang trên đà hư mất, nhưng đối với chúng ta là những người được cứu độ, thì đó lại là sức mạnh của Thiên Chúa" (1Cr 1, 18) và lời xưa chép rằng : 'đáng nguyền rủa thay mọi kẻ bị treo trên cây gỗ".

Nhìn vào thánh giá ta thấy đau khổ bên ngoài và tình yêu Thiên Chúabên trong, sự chết của con ngừơi và sự sống lại của Thiên Chúa, bóng tối tội lỗi của trần gian và ánh bình minh cứu độ, sự ích kỷ của ta và sự hy sinh của Thiên Chúa, sự kiêu căng của ta và sự khiêm tốn của Thiên Chúa, sự bất lực của ta và sức mạnh vô song của Thiên Chúa, sự thù hận của con người và sự tha thứ của Thiên Chúa, sự hèn hạ của ta và sự cao cả của Thiên Chúa. Nhìn vào thánh giá ta thấy nhân tính và thiên tính của Chúa Giêsu Kitô.

ĐTC Gioan Phaolo II giảng (CN Lễ Lá) ngày quốc tế giới trẻ lần 16/2002 : "Hỡi các bạn trẻ yêu quý, qua việc tham dự chăm chỉ và nhiệt tình của các con vào việc cử hành trọng thể này, các con chứng tỏ các con không hổ thẹn vì thánh giá. Các con không sợ thánh giá Chúa Kitô. Ngược lại, các con yêu mến thánh giá và các con cung kính thánh giá, bởi vì thánh giá là dấu chỉ Đấng Cứu thế chết và sống lại vì chúng ta. Kẻ nào tin vào Chúa Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh thì ca tụng thánh giá, như bằng chứng chắc chắn Chúa là tình yêu" .

Trong các nghi thức trao và vác thánh giá ở các đại hội giới trẻ thế giới thấy các bạn vác thánh giá mt cách hăng say nhiệt thành, vui vẻ lắm. Có bạn xắn quần áo lên vác hùng hục. Ai cũng muốn dành quyền được vác thánh giá. Đấy chỉ là điều diễn ra trong nghi thức, còn trong thưc tế, thánh giá trong cuộc đời có tranh nhau vác hay là đẩy cho nguời khác? Đấy là điểm khác biệt rất lớn.

Đón nhận màu nhiệm Chúa chịu đóng đinh và cùng chịu đóng đinh với Chúa thật là khó khăn trong xã hội tiêu thụ và hưởng thụ ngày nay. Trong khi ấy bóng thánh giá đã được thay thế bằng bóng tối của quyền lực, tiền của, danh vọng, lạc thú. Con người đang hiên ngang lao mình vào bóng tối bằng mọi giá, ngay cả lừa đảo, phản bội ngay cả với người thân yêu cuả mình. Thậm chí sẵn sàng sát hại đứa con trọng bụng, chối bỏ và chà đạp phẩm giá của người khác. Xã hội hôm nay cần phải được soi sáng bằng sự dẫn đường của cây thánh giá và mầu nhiệm sự chết của Chúa Giêsu thì mới hy vọng phá tan được những bóng tối của sự dữ ác đang hoành hành quanh ta.

Con người ngày nay, cách riêng các bạn trẻ vẫn luôn ngại ngùng hy sinh, gian khổ, khó chấp nhận từ bỏ, cho nên nói đến thập giá là điều có vẻ khó đón nhận ; vì thánh giá tuợng trưng cho sự vất vả, hy sinh gian khổ, gánh nặng đau thương, sự hiểu lầm bất công, sức nặng của tội lỗi, giới hạn của thân phận con người. Sức tự nhiên ai cũng tìm cách tránh né. Nhưng nếu không đón nhận thì không phải là đang yêu mến Thiên Chúa, không phải là môn đệ Chúa. Các thánh tử đạo Việt Nam cha ông chúng ta bị bắt bước qua thánh giá đã cương quyết từ chối. Giới trẻ ngày nay đang bị cám dỗ chối bỏ thập giá, bước qua thập giá để bỏ đạo, chối bỏ niềm tin ngang qua những hành động trái với lương tâm, lối sống phản đạo đức, cách cư xử xa lạ với giáo lý tin mừng của Chúa. Cho nên, Đức hồng y Px. Nguyễn Văn Thuận viết : "Quyết định của con theo Chúa không phải là mt chữ ký, không phải là mt lời tuyên thệ mà thôi, nhưng là một sự dâng hiến liên lỉ thực hiện trong cả cuộc sống".

Chiêm ngưỡng đấng bị treo trên thập giá chúng ta đón nhận lời mời gọi của Chúa là hãy rập theo khuôn mẫu của Ngài đã đón nhận yêu thương tha thứ cho chúng ta. Những lời nói ý nghĩa và tuyệt vời nhất được Đức Giêsu nói trên thánh giá. Chúng ta còn phải suy niệm và học hỏi tới cùng.

Mặt khác của cây thánh giá chính là biểu tượng của tình yêu thương, sự hy sinh cao cả nhất của Thiên Chúa dành cho con người. Cho nên người Kitô hữu dựng thánh giá, vẽ thánh giá, đeo thánh giá không có nghĩa là đi tố cáo tội ác người khác mà là để biểu dương công ơn cứu chuộc và minh chứng tình yêu của Chúa cho mọi người biết.

Nếu Chúa Giêsu đã bị xử tử, đóng đinh trên thập giá một cách bất công mà Ngi không trả thù, giận dữ, không kết án người ta ; thì con cái Chúa hôm nay cũng vậy : chúng ta sẵn sàng chịu xỉ nhục, bất công, đau khổ mà không kêu ca, trách móc, trả thù, kết án ai cả. Điều này khó lắm. Mang chung một số phận như Chúa Giêsu không phải là thất bại mà là mt thành công ở mức độ cao nhất trên mọi thành công ở đời. Sự toàn thắng trên cây thập giá của Chúa Giêsu cho thấy sức mạnh nhiệm mầu của Thiên Chúa trong sự yếu đuối. Sự thành công của Chúa Giêsu trên thập giá cho thấy điều phi lý trong cái nhìn bình thường của người đời. Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào thập giá là "quyền năng của Thiên Chúa và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Bởi vì sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người" (1Cr 1, 24 -25).

Dấu chỉ và biểu tượng tình yêu qua thập giá hôm nay vẫn đang mời gọi mỗi người chúng ta nhất là giới trẻ hãy thắp sáng lên cho đời bằng ngọn lửa tình yêu từ cây thập giá. Hãy tiếp tục nói lời khát yêu như Chúa Giêsu trước khi trút hơi thở.

Thánh Anrê, giám mục nói : "Ai có thánh giá là có một kho tàng ...thánh giá vừa cao cả vừa quý báu. Cao cả vì thánh giá đã sinh ra nhiều ơn ích, bởi lẽ Chúa Kitô càng làm nhiều phép lạ và chịu đau khổ bao nhiêu thì Người lại càng chiến thắng lẫy lừng bấy nhiêu. Quý báu, vì thánh giá vừa là sự đau khổ, vừa là chiến tích của Thiên Chúa. Là sự đau khổ, bởi vì Người đã tự nguyện chết trên đó; là chiến tích, bởi vì ma quỷ đã bị trọng thương và bị đánh bại ở đó, thần chết cũng đã bị thua cùng với nó; then sắt hoả ngục bị đập tan và thánh giá trở thành nguồn ơn cứu độ cho toàn thế giới" (trích bài giảng của thánh Anrê, giám mục Crêta).

Thánh giá biểu tượng tình yêu Thiên Chúa với con người, Chúa mời gọi chúng ta dùng để trao gửi yêu thương cho nhau. Chồng hồn vợ trong ý nghĩa là thánh giá Chúa gửi cho, cái hôn đó sao mà suớng thế ! Giuđa hôn Chúa để trao nộp cho người ta đem đóng đinh vào thập giá, cái hôn ấy cay đắng, phũ phàng dường nào.

Đôi trai gái yêu nhau sắp sửa cưới hỏi hay 'khai thác' tài sản của nhau. Bên nào cũng muốn biết xem người yêu của mình hiện nay có bao nhiêu vốn riêng, càng nhiều tiền vàng càng quý. Mà không hỏi nhau xem đã có thánh giá chưa?! Đây là vốn riêng quý giá lắm. Thánh giá bằng vàng thì còn quý về mặt kinh tế nữa. Và quyết định lấy nhau rồi thì hãy nhớ rằng lời thề hứa quan trọng trong lễ cưới " ...hứa sẽ giữ lòng chung thuỷ với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh nạn cũng như lúc mạnh khoẻ để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt cuộc đời". Ngày cưới nói câu ấy sao mà ngon lành, cảm động dễ thương thế. Nói như vậy là chấp nhận vác cây thập giá nặng vài chục kg suốt đời!

Chúng ta là những người tin Chúa nhưng chưa chắc đã theo Chúa, vì chưa can đảm và trung thành với thập giá Chúa trao. Làm sao dám khẳng định rằng mình theo Chúa qua việc vác thập giá hằng ngày. Về mặt lý thuyết, khuyên bảo người khác chịu đau khổ, bệnh nạn là vác thánh giá Chúa trao thì nói ngon xớt. Cuộc sống êm đềm, yên vui có khi lại không nhận ra dấu hiệu thập giá trong cuộc đời ; nên lúc thấy bóng dáng thập giá đến với mình thì tìm cách đẩy cho người khác qua những hành động : thoái thác, lẩn tránh trách nhiệm, đổ lỗi cho người ta khi mình thất bại, chỉ trích khi người khác thành công và những hành vi khác tệ hơn nữa.

SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG THEO LỜI CHÚA: Làm sao người kitô hữu hôm nay phải sống và nói được mt cách tích cực như thánh Phaolô khi ngài viết cho tín hữu Côlôsê rằng :"Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Chúa Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì ích lợi cho thân thể Người là hội thánh" (Cl 1, 24).

Sống được như thế thì việc đón nhận và vác thánh giá mới là một vinh dự đúng nghĩa, trở nên nhẹ nhàng và là niềm hãnh diện thực sự vì đem lại cho anh chị em của mình sự bình an và ơn cứu rỗi.

Lm Bùi Trọng Khẩn

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 10 of 123