mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1009
mod_vvisit_counterHôm Qua5687
mod_vvisit_counterTuần Này1009
mod_vvisit_counterTuần Trước50576
mod_vvisit_counterTháng Này183471
mod_vvisit_counterTháng Trước245784
mod_vvisit_counterTất cả8672514

We have: 115 guests online
Your IP: 54.225.37.159
 , 
Today: Jun 26, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 327 = MUAN CHAY - LE TRO PDF Print E-mail

Mùa Chay là thời điểm phụng vụ cử hành mầu nhiệm "vượt qua sự chết mà vào sự sống"

Vì Mùa Chay kéo dài 40 ngày, tiêu biểu cho 40 ngày chay tịnh của Chúa Giêsu trong hoang địa, cũng như cho 40 năm dân Do Thái băng qua sa mạc, một biểu hiệu cho hành trình đức tin của họ, "vượt qua sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24), từ vùng đất nô lệ Ai Cập biểu hiệu cho vùng đất của sự chết tiến về miền Đất Hứa tự do biểu hiệu cho vùng đất của sự sống, hay cũng tiêu biểu cho 40 ngày Moisen ở trên Núi Sinai để lãnh nhận Lề Luật của Chúa (xem Xuất Hành 34:38), hoặc cho 40 ngày hành trình của Tiên Tri Isaia tiến lên Núi Horeb để gặp gỡ Thiên Chúa (xem 1Kings 19:8), nên Mùa phụng vụ này cần phải bắt đầu từ Thứ Tư trước Chúa Nhật I Mùa Chay và mở đầu cho thời khoảng 5 tuần lễ Mùa Chay, và thời điểm Thứ Tư mở màn cho Mùa Chay này lại bao gồm cả nghi thức xức tro, nên được gọi là Thứ Tư Lễ Tro, một nghi thức dọn lòng cho tín hữu hiệp thông với Chúa Kitô là Đấng "tự ý bỏ sự sống mình đi".
Thật vậy, là Kitô hữu, qua Phép Rửa, họ đã được hiệp thông với Cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô và với Chúa Kitô (xem Roma 6:3-5), Đấng đã "tự ý bỏ sự sống mình đi và có quyền lấy nó lại", vì thế và nhờ thế, "con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Ki-tô, tức là con người do tội lỗi thống trị đã bị hủy diệt để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa" (Roma 6:6), trái lại, "chúng ta được sống một đời sống mới" (Roma 6:4).
Chính vì Mùa Chay là thời điểm phụng vụ cử hành Mầu Nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, mầu nhiệm "vượt qua sự chết mà vào sự sống" của Người (Gioan 5:24 và xem Gioan 12:24), một mầu nhiệm theo nguyên tắc liên quan đến chính Phép Rửa Kitô giáo như vậy, và trên thực tế liên quan đến đời sống của những ai lãnh nhận Phép Rửa như thế, mà thành phần dự tòng mới được lãnh nhận Phép Rửa vào chính Đêm Vọng Phục Sinh để được tháp nhập vào Nhiệm Thể Chúa Kitô, nhờ đó, nhờ được hiệp thông với Cuộc Vượt Qua của Người, thành phần tân tòng Kitô hữu này mới có thể cùng với toàn thể Giáo Hội trở thành chứng nhân của Người và cho Người, cho đến khi Người lại đến.
Trong Mùa Chay, một thời điểm có thể nói như Thánh Phaolô trong Bài Đọc 2 hôm nay, "là cơ hội thuận tiện... là ngày cứu thoát", Kitô hữu sống lại cái cảm nghiệm khổ nạn và tử giá của Chúa Kitô và với Chúa Kitô, bằng những việc làm cụ thể, bao gồm cả con người của họ, cả linh hồn và thân xác của họ, bởi họ được Chúa Kitô cứu độ trọn vẹn bản tính của họ, bao gồm cả thân xác sẽ phục sinh của họ khi Người lại đến trong vinh quang, một việc làm cụ thể chứng tỏ họ thực sự cảm nghiệm khổ nạn và tử giá của Chúa Kitô và với Chúa Kitô.
Việc làm cụ thể nhất Kitô hữu cần làm trong Mùa Chay liên quan đến cuộc khổ nạn và tử giá của Đấng "tự ý bỏ sự sống mình đi" cho phần rỗi của chung nhân loại và của từng Kitô hữu môn đệ của Người, không phải chỉ là những việc làm bề ngoài liên quan đến bộ ba hành vi tu đức Mùa Chay là bố thí, cầu nguyện và chay tịnh, như được liệt kê trong Bài Phúc Âm hôm nay, mà nhất là nhận biết tình yêu thương vô cùng nhân hậu của Thiên Chúa, và có thực hành bộ ba tu đức này Kitô hữu cũng phải thi hành làm sao với tất cả tinh thần nhận biết của mình.
Đó là lý do qua miệng Tiên Tri Joel ở Bài Đọc 1 hôm nay, Thiên Chúa đã nhắc nhở dân Ngài bao gồm cả thành phần Kitô hữu chúng ta rằng: "Các ngươi hãy thật lòng trở về với Ta trong chay tịnh, nước mắt và than van. Hãy xé tâm hồn, chớ đừng xé áo các ngươi. Hãy trở về với Chúa là Thiên Chúa các ngươi, vì Người nhân lành và từ bi, nhẫn nại, giầu lòng thương xót và biết hối tiếc về tai hoạ".
Trong câu vừa nhắc nhở vừa kêu gọi này, Thiên Chúa chẳng những đề cập đến những gì là hình thức bề ngoài như "chay tịnh, nước mắt và than van", nhưng các việc này phải bắt nguồn từ bên trong với thái độ "thật lòng trở về với Ta", một thái độ chứng thực con người nhận biết "Chúa là Thiên Chúa ... nhân lành và từ bi, nhẫn nại, giầu lòng thương xót và biết hối tiếc về tai hoạ".
Bài Đọc 2 hôm nay cũng thế, Thánh Phaolô Tông Đồ đã "nhân danh Đức Kitô" kêu gọi Kitô hữu Corintô trong Thư 2 của ngài "hãy làm hòa cùng Thiên Chúa". Tại sao vậy? Lý do duy nhất và chính yếu cũng xuất phát từ việc Kitô hữu nhận biết Vị "Thiên Chúa ... nhân lành và từ bi, nhẫn nại, giầu lòng thương xót và biết hối tiếc về tai hoạ", Vị Thiên Chúa vô cùng nhân hậu đến độ, như Thánh Phaolô cảm nhận và khẳng định trong Bài Đọc 2 hôm nay: "Ðấng không hề biết đến tội lỗi thì Thiên Chúa đã biến Người thành tội lỗi vì chúng ta, để trong Người, chúng ta được trở nên sự công chính của Thiên Chúa".
Nếu Kitô hữu quả thực nhận biết Thiên Chúa, nhận biết tình yêu vô cùng nhân hậu của Ngài, Đấng "nhân lành và từ bi, nhẫn nại, giầu lòng thương xót và biết hối tiếc về tai hoạ", Đấng "đã biến (Đức Kitô vô tội) thành tội lỗi vì chúng ta", họ mới có được một tâm tình ăn năn thống hối tuyệt vời về những gì họ đã chẳng những phạm đến Ngài mà còn bất xứng với tình yêu đầy lòng xót thương của Ngài nữa, một tâm tình của Thánh Vương Đavít trong Thánh Vịnh 50 ở Bài Đáp Ca hôm nay:
1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác.
2) Vì sự lỗi con, chính con đã biết, và tội con ở trước mặt con luôn; con phạm tội phản nghịch cùng một Chúa.
3) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.
4) Xin ban lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Lạy Chúa, xin mở môi con, để miệng con sẽ loan truyền lời ca khen.
Việc Kitô hữu nhận biết Thiên Chúa là Đấng "nhân lành và từ bi, nhẫn nại, giầu lòng thương xót và biết hối tiếc về tai hoạ", Đấng "đã biến (Đức Kitô vô tội) thành tội lỗi vì chúng ta" không phải chỉ ở chỗ ăn năn thống hối về mặt tiêu cực mà thôi, còn cần phải được tỏ hiện bằng những việc tích cực thích hợp chứng thực việc nhận biết thần linh của họ nữa, những việc được chính Chúa Kitô nói đến trong Bài Phúc Âm hôm nay, cũng là những việc được Giáo Hội cho rằng rất thích hợp với Mùa Chay mà Kitô hữu không thể nào không thi hành, những việc chúng ta có thể gọi là bộ ba tu đức Mùa Chay, thứ tự là bố thí, cầu nguyện và chay tịnh, cả 3 đều phải làm hoàn toàn chỉ vì "Đấng thấu suốt mọi bí ẩn" mà thôi.
"Bố thí" là việc làm đầu tiên trong bộ ba hành vi tu đức Mùa Chay, một hành động mà Kitô hữu cần làm trước hết và trên hết, bởi vì "bố thí" liên quan hết sức mật thiết với Lòng Thương Xót Chúa, một Lòng Thương Xót Chúa mà Kitô hữu đã được hoan hưởng một cách hoàn toàn nhưng không, nên họ cũng phải cho đi nhưng không, cũng phải san sẻ chính những gì họ cảm nghiệm thấy về Lòng Thương Xót Chúa này, như thể họ được Lòng Thương Xót Chúa đoái nhìn đến thân phận thấp hèn tội lỗi của họ thế nào thì họ cũng phải thương xót tha nhân như vậy.
"Cầu nguyện" là việc thứ hai, sau "bố thí" và trước "chay tịnh", mà Kitô hữu cần phải làm. Bởi vì, nhờ cầu nguyện mà họ mới cảm nghiệm được Lòng Thương Xót Chúa đã được tỏ ra cho họ trong đời sống của họ, để nhờ đó và từ đó họ mới có thể "bố thí", mới có thể yêu thương như họ được thương yêu, và cũng chỉ nhờ cầu nguyện là giao tiếp với Thiên Chúa là thần linh trong tinh thần và chân lý họ mới có thể sẵn sàng hiến mình cho Lòng Thương Xót Chúa như giá trả cho phần rỗi vô giá của các linh hồn tội nhân đáng thương bằng việc "chay tịnh".
"Chay tịnh" là việc thứ ba trong bộ ba tu đức Mùa Chay mà Kitô hữu cần phải thực hiện để chứng tỏ mình nhận biết tình yêu vô cùng nhân hậu của Thiên Chúa đối với họ, một việc "chay tịnh" như là thành quả của việc "cầu nguyện" và là chứng thực cho việc "bố thí", một việc "bố thí" cao cả nhất và quí giá nhất và khẩn thiết nhất, đó là "bố thí" chính bản thân mình, đến độ có thể sẵn sàng "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho nhiều người" (Mathêu 20:28) như Chúa Kitô, nghĩa là họ đạt tới tầm mức hiệp nhất nên một với chính Lòng Thương Xót Chúa!
Căn cứ vào ý nghĩa sâu xa của bộ ba hành vi tu đức Mùa Chay và mối liên hệ bất khả phân ly của bộ ba hành vi tu đức này, có thể nói bộ ba hành vi tu đức Mùa Chay ấy cũng chính là linh đạo Kitô giáo. Linh đạo Kitô giáo nhắm đến đức ái trọn hảo và thể hiện đức ái trọn hảo (bố thí), ở chỗ "yêu nhau như Thày đã yêu thương các con", "thí mạng sống mình vì người mình yêu" (xem Gioan 13:34;15:12,13), một đức ái trọn hảo xuất phát từ mối hiệp thông thần linh (cầu nguyện), ở chỗ "hiệp nhất nên một như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha" (Gioan 17:21), đến độ, "không phải tôi sống nữa (chay tịnh) mà là Chúa Kitô sống trong tôi" (Galata 2:20), nhờ đó tôi mới có thể sống đức ái trọn hảo yêu nhau như Chúa yêu đến thí mạng sống mình cho nhau (bố thí).

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 326=LE MINH THANH CHUA PDF Print E-mail

Việc thành lập Lễ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA
(CORPUS CHIRSTI)
Liège, Nước Bỉ 1374
"Mặc dù Thánh Lễ được cử hành long trọng hàng ngày, có một ngày đặc biệt để thờ kính Mình Thánh Chúa Kitô. Chúng ta có thể thờ phượng Chúa với hết cả tâm trí và thần trí bất cứ lúc nào, nhưng chỉ có thể cảm nhận được sự Hiện Diện Thực Sự của Chúa qua cách chầu Thánh Thể. Chúa Giêsu thực sự ở đó với chúng ta. Chúa Kitô Phục sinh đã phán trước ngày Thăng Thiên: "Thầy sẽ ở với các con cho đến ngày tận thế" (Mt 28: 20)... Chúa sẽ còn ở lại với họ bằng chính Thân Xác của Ngài."
(Theo Đức Giáo Hoàng Urban IV - TRANSITUS DE HOC MUNDO)

Vào thế kỷ 13 ở tại nước Bỉ, Chân phước Juliana ở Cornillon đã được Chúa cho thấy một thị kiến. Bà thấy một vầng trăng tròn có một điểm màu đen trong đó. Bà còn nghe một giọng nói bí mật thiêng liêng cho biết vầng trăng là biểu hiện của Giáo hội vào thời điểm ấy, và chấm đen thể hiện một lễ Kính Mình Máu Chúa vẫn còn thiếu sót trong lịch phụng vụ của Giáo hội. Chân phước Juliana liền báo cáo thị kiến này lên thẩm quyền giáo hội là Phó Giám mục của thành phố Liège tên là Jacques Panteléon, người sau này trở nên Đức Giáo Hoàng Urban IV.
Năm 1246 Đức Giám mục Liège là cha Roberto của xứ Thourotte đã thiết lập trong địa phận của ngài Lễ Kính Mình Máu Thánh Chúa, và Lễ này được cử hành lần đầu tiên là vào ngày 5 tháng 6 năm 1249.
Đến năm 1264, Đức Giáo Hoàng Urban Đệ Tứ (nguyên Phó Giám mục Liège, người mà thánh Juliana đã báo cáo về thị kiến bà thấy) đã ban hành sắc lệnh Tòa thánh cho cử hành Lễ Kính Mình Máu Thánh Chúa khắp nơi trong giáo hội hoàn vũ. Ngài cũng đã chỉ định cho thánh Tôma Aquinô đặt ngày lễ này vào Niên Lịch Thánh Lễ và sách Giờ Kinh.

http://www.vietcatholic.net/News/Html/85495.htm

-----------------------

Châm ngôn Sống: ANH HÃY LÀ TÂM BÁNH BẺ RA - TÔI CÂN ĂN- NHAI VÀ NUỐT LỜI CHÚA.

KRISTIE PHAN

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 324 =BAI GIAO LY DTC-BAI 10 PDF Print E-mail

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GIÁO LÝ VỀ NIỀM TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG

BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 8-2-2017

Bài 10

"Những ai tin tưởng cậy trông là thành phần hằng ngày trải qua thử thách,

trải qua những gì là bấp bênh cùng với cái hạn hẹp của mình".

Xin chào anh chị em thân mến!

Thứ Tư vừa rồi, chúng ta đã thấy rằng, ở bức Thư Thứ Nhất gửi cho Giáo đoàn Thessalonica, Thánh Phaolô đã khuyên là hãy vững vàng trong niềm tin tưởng cậy trông vào sự phục sinh (xem 5:4-11), bằng những lời đẹp đẽ này: "chúng ta sẽ luôn ở với Chúa" (4:17). Theo cùng chiều hướng ấy, vị Tông Đồ này cho thấy rằng niềm tin tưởng cậy trông Kitô giáo không phải chỉ có chiều rộng theo tính cách cá nhân riêng tư, mà còn có tầm vóc giáo hội hiệp thông. Tất cả chúng ta đều hy vọng, tất cả chúng ta cũng đều có hy vọng một cách hiệp thông nữa.

Cái nhìn của Thánh Phaolô ngay sau đó được nới rộng đến tất cả mọi thực tại làm nên cộng đồng Kitô hữu, xin họ hãy cầu nguyện cho nhau và hãy nâng đỡ nhau - giúp đáp nhau. Thế nhưng, chẳng những giúp đáp nhau về các nhu cầu, nơi nhiều nhu cầu của cuộc sống hằng ngày, mà còn trợ giúp nhau về niềm tin tưởng cậy trông nữa. Không phải là tình cờ mà ngài thực sự bắt đầu nói đến những ai được ủy thác trách nhiệm và việc hướng dẫn về mục vụ. Các vị là thành phần đầu tiên được kêu gọi để nuôi dưỡng niềm tin tưởng cậy trông, và điều này, không phải vì các vị khá hơn những người khác, mà vì thừa tác vụ thánh đang diễn tiến tốt đẹp ngoài năng lực của các vị. Bởi thế, các vị càng cần được tất cả mọi người kính trọng, thông cảm và ưu ái nâng đỡ.

Thế rồi ngài chú trọng tới những người anh em đang gặp nguy cơ mất niềm tin tưởng cậy trông, nguy cơ trở nên thất vọng. Chúng ta luôn nghe thấy chuyện dân chúng cảm thấy thất vọng và làm những điều đáng sợ... Nỗi thất vọng dẫn họ tới rất nhiều điều đang sợ. Trường hợp này xẩy ra cho những ai cảm thấy không còn đủ can đảm, những ai cảm thấy mình yếu nhược, và những ai cảm thấy bị dằn vặt bởi gánh nặng của cuộc đời cũng như bởi gánh nặng về các lỗi lầm của mình là những gì không thể trút bỏ. Trong các trường hợp ấy thì việc gần gũi và tấm lòng nồng nàn của toàn thể Giáo Hội cần phải gia tăng và yêu thương hơn nữa, và cần phải thể hiện một hình thức cảm thương sâu đậm, một niềm cảm thương không phải là thương hại: niềm cảm thương là ở chỗ chịu khổ với người khác, chịu khổ với người khác, gần gũi với kẻ bị khổ đau: một lời nói, một vuốt ve, nhưng nó cần phải xuất phát từ cõi lòng; đó là niềm cảm thương, đối với người đang cần được xoa dịu và an ủi. Đây là tất cả những gì càng quan trọng hơn nữa, đó là niềm tin tưởng cậy trông của Kitô giáo liên quan đến một đức bác ái không kém chân thực và cụ thể. Trong Bức Thư gửi cho Giáo đoàn Roma, chính Vị Tông Đồ Dân Ngoại đã khẳng định bằng tất cả tấm lòng của ngài được nắm ở trong bàn tay của ngài rằng: "Chúng ta là những người khỏe mạnh, cần phải chịu đựng những sai xẩy của kẻ yếu đuối, và đừng thỏa mãn bản thân mình" (15:1) - chịu đựng, chịu đựng những yếu đuối của kẻ khác. Thế nên, chứng từ này không khép kín trong những khuôn khổ của cộng đồng Kitô hữu: nó cũng âm vang ra ngoài bằng tất cả sức mạnh của nó, nơi bối cảnh xã hội và dân sự, như là một lời kêu gọi đừng tạo nên những bức tường chắn mà là những cây cầu nối, đừng lấy ác trả oán, hãy thắng dữ bằng sự lành, thắng vấp phạm bằng thứ tha, - một cộng đồng không bao giờ, không bao giờ có thể nói rằng: hắn sẽ phải bù đắp lại điều ấy! Đó không phải là một cử chỉ của Kitô hữu; một vấp phạm được thắng vượt bằng lòng tha thứ -, sống hòa thuận với tất cả mọi người. Đó là Giáo Hội! Và đó là những gì mang lại niềm tin tưởng cậy trông Kitô giáo, khi nó áp dụng những hướng dẫn mạnh mẽ và đồng thời cả niềm êm ái dịu dàng của lòng yêu thương. Tình yêu thì mãnh liệt và mền mại; nó mỹ miều đẹp đẽ.

Rồi chúng ta biết rằng người ta không thể tự mình học biết tin tưởng cậy trông. Không ai có thể tự học biết tin tưởng cậy trông. Đó là điều bất khả. Để được nuôi dưỡng thì niềm tin tưởng cậy trông nhất thiết cần có một "cơ thể", trong đó các phần tử khác nhau nâng đỡ và phục hồi nhau. Vậy điều này có nghĩa là nếu chúng ta tin tưởng cậy trông đó là vì nhiều anh chị em của chúng ta đã dạy chúng ta tin tưởng cậy trông và đã bảo tồn niềm tin tưởng cậy trông của chúng ta. Nổi bật nhất trong số các phần tử này là những con người nhỏ bé, những người nghèo khổ, những người đơn sơ chất phác và những người ở bên lề xã hội. Đúng thế, vì người không biết tin tưởng cậy trông là kẻ khép kín vào phúc lợi của mình: chỉ hy vọng vào phúc lợi của mình thì không phải là hy vọng; người không biết tin tưởng cậy trông là kẻ khép mình vào cái thỏa mãn riêng tư, bao giờ cũng cho mình đúng...

Trái lại, những ai tin tưởng cậy trông là thành phần hằng ngày trải qua thử thách, trải qua những gì là bấp bênh cùng với cái hạn hẹp của mình. Chính những người anh em ấy cống hiến cho chúng ta chứng từ tuyệt vời nhất, mạnh mẽ nhất, vì họ kiên vững nơi việc họ phó mình cho Chúa, biết rằng, ở bên ngoài những gì là buồn thảm, đè nén và cái chết bất khả tránh, phán quyết cuối cùng sẽ là phán quyết của Chúa và sẽ là một thứ ngôn từ của lòng thương xót, của sự sống và của bình an. Ai hy vọng thì hãy hy vọng một ngay kia nghe được những lời sau này: "Hãy đến, hãy đến cùng tôi, hỡi người anh em; hãy đến, hãy đến cùng tôi, hỡi người chị em, mãi mãi muôn đời".

Các bạn thân mến, nếu - như chúng ta đã nói - nơi cư ngụ tự nhiên của niềm tin tưởng cậy trông là một "cơ thể" hỗ trợ, thì nơi trường hợp của niềm tin tưởng cậy trông Kitô giáo cơ thể này là Giáo Hội, nơi Thánh Linh là hởi thở sống, là hồn sống của niềm tin tưởng cậy trông này. Bởi vậy mới thấy được lý do tại sao cuối cùng Tông Đồ Phaolô mời gọi chúng ta hãy liên tục cầu khẩn cùng Thánh Linh. Nếu tin tưởng là những gì không dễ thì hy vọng lại càng không dễ. Hy vọng khó hơn là tin tưởng; khó hơn. Tuy nhiên, khi Thánh Linh ngự trong lòng của chúng ta thì chính Ngài làm cho chúng ta hiểu được rằng chúng ta không được sợ hãi, rằng Chúa ở gần chúng ta và chăm sóc cho chúng ta; và chính Ngài là Đấng khuôn đúc các cộng đồng của chúng ta, bằng một lễ Hiện Xuống trường kỳ, như là những dấu hiệu sống động của niềm tin tưởng cậy trông cho gia đình nhân loại. Xin cám ơn anh chị em.

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-hope-source-o f-mutual-comfort-peace/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 322=GIAO LY NIEM TIN-BAI 8 PDF Print E-mail

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GIÁO LÝ VỀ NIỀM TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG

BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 25-1-2017

Bài 8

Xin chào Anh Chị Em thân mến!

Nổi bật trong số các nhân vật nữ giới được Cựu Ước trình bày cho chúng ta thấy đó là vị đại anh hùng dân tộc Giu-Đích. Cuốn Sách Thánh Kinh mang tên của bà nói về một chiến dịch quân sự áp đặt của Vua Nebuchadnezzar, vị cai trị ở Ninive, đã nới rộng bờ cõi đế quốc của mình ra, bằng việc đánh bại và nô lệ hóa tất cả các dân tộc quanh mình. Độc giả hiểu rằng ông là một kẻ thù cả thể bất khả thắng đang gieo rắc chết chóc và hủy diệt, và đang tiến đến Đất Hứa, gây nguy hiểm cho sự sống của con cái Israel.

Thật vậy, quân đội của Nebuchadnezzar, dưới quyền lãnh đạo của Tướng Holofernes, đã vây hãm Bethulia, cắt nguồn tiếp nước và vì thế làm cho việc kháng cự của dân chúng yếu dần.

Tình trạng trở nên thê thảm cho đến độ dân cư trong thành phải đến với các vị kỳ lão yêu cầu các vị đầu hàng kẻ thù. Họ đã nói lên những lời tuyệt vọng như sau: "Giờ đây đâu có ai giúp chúng ta! Thiên Chúa đã bán đứng chúng ta cho chúng khiến chúng ta phải phơi xác trước mặt chúng, phải chết khát và bị tận diệt. Vậy giờ đây xin hãy mời họ tới mà trao toàn thể thành này cho quân quốc của Holofernes cũng như cho tất cả mọi lực lượng của ông ta cướp phá". (Giu-Đích 7:25-26). Không thể nào tránh khỏi cái chết; khả năng tin tưởng vào Thiên Chúa đã cạn kiệt. Biết bao nhiêu lần chúng ta đụng phải cái giới hạn của hoàn cảnh, lúc chúng ta thậm chí không còn cảm thấy khả năng để tin tưởng vào Chúa. Đó là một chước cám dỗ ghê rợn! Ngược ngạo thay, để thoát chết họ lại phải nộp mình cho những kẻ sát hại. Họ biết rằng những đám quân quốc ấy sẽ tiến vào cướp phá thành, bắt đàn bà làm nô lệ rồi giết chết tất cả những người khác.

Trước nỗi thất vọng như thế, vị lãnh đạo dân chúng cố gắng viện ra một cớ hy vọng đó là cố thủ thêm 5 ngày nữa để chờ đợi việc Thiên Chúa ra tay cứu độ. Thế nhưng, đó là một thứ hy vọng yếu ớt khiến ông ta kết luận rằng: "Nếu những ngày này qua đi mà chẳng thấy sự trợ giúp nào thì tôi sẽ làm những gì anh em nói" (7:31). Thật là một linh hồn đáng thương: ông ta không còn lối thoát. Thiên Chúa được ban cho 5 ngày - và đó là một thứ tội - năm ngày được ban cho Thiên Chúa để Ngài ra tay can thiệp; năm ngày chờ đợi, nhưng bấy giờ dân mang cái nhãn quan tận số. Họ ban cho Thiên Chúa năm ngày để cứu họ, thế nhưng họ biết rằng họ không tin tưởng cậy trông, họ đang mong đợi cái tệ hại nhất. Thật vậy, không ai trong dân chúng còn có thể hy vọng hơn nữa. Họ đã tuyệt vọng.

Chính trong hoàn cảnh ấy mà bà Giu-Đích đã xuất hiện. Một bà góa, một nữ nhân rất đẹp và khôn ngoan, bà nói với dân chúng bằng thứ ngôn ngữ của đức tin. Bà đã can đảm trách thẳng mặt dân chúng rằng: "Quí vị thử thách Đấng Toàn Năng, [...]. Đừng, anh em ơi, đừng trêu ngươi chọc giận Chúa là Chúa của chúng ta. Vì nếu Ngài không muốn giúp chúng ta trong vòng năm ngày, thì Ngài có quyền bảo vệ chúng ta bất cứ lúc nào Ngài muốn, hay thậm chí hủy diệt chúng ta ngay trước mặt kẻ thù của chúng ta. [...] Bởi thế, trong khi chúng ta chờ đợi việc giải phóng của Ngài, chúng ta hãy kêu cầu Ngài cứu giúp chúng ta, và Ngài sẽ nghe chúng ta, nếu đẹp lòng Ngài" (8:13,14-15,17). Đó là thứ ngôn từ của niềm tin tưởng cậy trông. Chúng ta gõ cửa lòng Thiên Chúa, Ngài là Cha, Ngài có thể cứu chúng ta. Người nữ này, bà góa này, liều mình cho người khác thấy mình là đồ xấu xa! Thế nhưng bà tỏ ra can đảm! Bà cứ làm! Theo ý nghĩ của tôi thì nữ giới can đảm hơn nam giới (Sảnh Đường vang tiếng vỗ tay).

Với sức mạnh của một vị tiên tri, bà Giu-Đích nhắc nhở thành phần nam nhân trong dân của bà để dẫn họ về lại với lòng tin tưởng vào Thiên Chúa; bằng một cái nhìn của một vị tiên tri, bà nhìn thấy vượt ra cả bên ngoài cái chân trời chật hẹp được đề ra bởi những vị lãnh đạo, một chân trời mà sợ hãi càng làm cho nó trở thành hạn hẹp hơn. Thiên Chúa chắc chắn sẽ ra tay hành động - bà khẳng định như thế - trong khi đó cái đề xướng 5 ngày chờ đợi là một cách thức thử thách Ngài và rút lui cho khỏi ý muốn của Ngài. Chúa là Vị Thiên Chúa cứu độ - bà tin như thế - bằng bất cứ hình thức nào. Đó là việc cứu độ được giải phóng khỏi kẻ thù và làm cho con người sống, thế nhưng trong các dự án khôn thấu của Ngài, nó cũng có thể là việc cứu độ bị trao nộp cho sự chết. Bà, một người nữ của đức tin, biết điều ấy. Bởi thế chúng ta biết được cái kết thúc, cách thức câu chuyện kết thúc: Thiên Chúa cứu độ.

Anh chị em thân mến, chúng ta đừng bao giờ đặt điều kiện với Thiên Chúa, trái lại, hãy để cho niềm tin tưởng cậy trông thống trị những nỗi sợ hãi của chúng ta. Tin tưởng Thiên Chúa nghĩa là tiến vào các ý định của Ngài mà không đòi hỏi bất cứ sự gì, cùng chấp nhận rằng việc cứu độ của Ngài và ơn trợ giúp của Ngài có thể vươn tới chúng ta bằng cách thức khác với những gì chúng ta mong đợi. Chúng ta xin Chúa cho sự sống, sức khỏe, cảm tình, hạnh phúc, và làm như vậy thì đúng, nhưng phải nhận thức rằng Thiên Chúa có thể rút tỉa sự sống từ cả sự chết, bình an có thể được cảm nghiệm thấy nơi cả bệnh hoạn, và vẫn có thể thanh thản khi quạnh hiu và cả phúc lộc khi khóc lóc. Chúng ta không phải là người dạy Thiên Chúa những gì Ngài phải làm, những gì chúng ta cần đến. Ngài biết thế hơn chúng ta, và chúng ta cần phải tin tưởng Ngài, vì đường lối của Ngài và tư tưởng của Ngài khác hẳn với của chúng ta.

Đường lối bà Giu-Đích muốn nói với chúng ta đó là cách thức tin tưởng, cách thức chờ đợi trong an bình, cách thức cầu nguyện và cách thức tuân phục. Nó là cách thức của niềm tin tưởng cậy trông, mà không dễ dàng thoái lui, làm hết mọi sự trong khả năng của chúng ta, nhưng luôn trung thành với đường lối của ý muốn Thiên Chúa, vì - chúng ta biết đấy - bà cầu nguyện rất nhiều, bà nói rất nhiều với dân chúng, và sau đó, bà đã can đảm ra đi để tìm đến với vị tướng quân và bà đã thành công trong việc lấy được thủ cấp của hắn. Bà can đảm trong đức tin và trong việc làm. Bà luôn tìm kiếm Chúa! Bà Giu-Đích thực sự có mưu đồ của mình, bà thực hiện nó một cách thành công và giúp cho dân chúng chiến thắng, thế nhưng bao giờ cũng bằng thái độ đức tin của một người chấp nhận hết mọi sự từ bàn tay Thiên Chúa, tin tưởng vào sự thiện hảo của Ngài.

Bởi vậy, một người nữ đầy đức tin và can đảm thì mang lại sức mạnh cho dân của mình trong mối nguy hiểm về luân lý và dẫn họ theo con đường của niềm tin tưởng cậy trông. Phần chúng ta, nếu chúng ta nhớ lại một chút, thì có bao nhiêu lần chúng ta đã nghe thấy những lời nói khôn ngoan can trường từ miệng những con người khiêm hạ, từ những người nữ hèn mọn mà người ta nghĩ - cho dù không khinh thường họ - là những kẻ chẳng biết gì... thế nhưng chúng lại là những lời lẽ cho thấy sự khôn ngoan của Thiên Chúa! những lời của ông bà... Biết bao nhiêu lần những người làm ông làm bà có thể nói lên điều hay lẽ phải.

Những lời của niềm tin tưởng cậy trông, vì họ có kinh nghiệm về đời sống, họ đã chịu đựng rất nhiều, họ đã phó thác bản thân họ cho Thiên Chúa, và Chúa ban cho chúng ta tặng ân huấn dụ về niềm tin tưởng cậy trông này. Tiến bước theo những đường lối ấy chúng ta sẽ cảm thấy hân hoan và ánh sáng vượt qua để phó mình cho Chúa bằng những lời của Chúa Giêsu: "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin Cha hãy cất chén này cho Con; nhưng đừng theo ý Con, mà xin cho ý Cha được thực hiện" (Luca 22:42). Đó là lời cầu nguyện khôn ngoan, tin tưởng và hy vọng.

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-judith-the-co urage-of-a-woman-gives-courage -to-a-people/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 319 =GIA PHA DANG THIEN SAI PDF Print E-mail

Gia Phả của Đấng Thiên Sai Cứu Thế có đến
3 người nữ ngoại tình,
2 người nữ dân ngoại và
1 người nữ đồng trinh

Hôm nay, ngày 17 trong tháng 12 trong Tuần III Mùa Vọng, ngày đầu tiên của Tuần Bát Nhật trước đại lễ Giáng Sinh, một thời điểm sẽ kéo dài cho tới Đêm Vọng Phục Sinh 24/12.

Phụng niên của Giáo Hội chỉ có 2 đại lễ có Tuần Bát Nhật, đó là Đại Lễ Giáng Sinh và Đại Lễ Phục Sinh, được gọi là Tuần Bát Nhật Giáng Sinh và Tuần Bát Nhật Phục Sinh, kể từ chính ngày của 2 đại lễ này. Tuy nhiên, cũng chỉ có 2 đại lễ này mới có thêm một tuần bát nhật đặc biệt trước chính đại lễ nữa.

Đúng thế, nếu Đại Lễ Phục Sinh có Tuần Thánh, từ Chúa Nhật Lễ Lá mở màn cho Tuần Thương Khó và Tam Nhật Vượt Qua bao gồm cả chính Chúa Nhật Phục Sinh là 8 ngày, thì Đại Lễ Giáng Sinh cũng có tuần bát nhật trước, kể từ ngày 17/12 đến hết 24/12 hay đến Đêm Vọng Giáng Sinh.

Tuần Bát Nhật trước Đại Lễ Giáng Sinh là thời điểm sát với mầu nhiệm và biến cố Giáng Sinh, nên bao gồm những Bài Phúc Âm liên quan trực tiếp đến mầu nhiệm và biến cố Giáng Sinh, vừa hướng đến vừa dẫn đến Giáng Sinh, như chúng ta sẽ thấy. Chẳng hạn Bài Phúc Âm hôm nay về gia phả của Đấng Thiên Sai Cứu Thế Giêsu Kitô.

Bài Phúc Âm hôm nay, nghe đọc có vẻ buồn chán, vì trong đó chất chứa toàn là tên với tên, và rất ư là đơn điệu, cứ lập đi lập lại cùng một công thức ngoại trừ thay tên của các nhân vật theo thứ tự được liệt kê trong gia phả. Thế nhưng, về nội dung lại rất ư là quan trọng và bất khả thiếu? Tại sao - vì chính gia phả này là chứng cớ hiển nhiên và hùng hồn nhất cho thấy có một nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét thật, có cha mẹ và tổ tiên trần gian đàng hoàng, chứ không phải là một nhân vật hoang đường, do loài người tạo tĩnh như trong tiểu thuyết hoặc thuộc dã sử.

Có hai gia phả được hai thánh ký thuật lại, nhưng hoàn toàn ngược chiều nhau. Gia phả thứ nhất được Thánh ký Mathêu ghi lại, và vì Phúc Âm của ngài được viết cho dân Do Thái nên gia phả ngài ghi lại để mở đầu của cuốn Phúc Âm của ngài (1:1-17), tính từ tổ phụ Abraham trở xuống dưỡng phụ Giuse của Chúa Kitô, còn gia phả được Thánh ký Luca thuật lại (3:23-38), và vì Phúc Âm của ngài viết cho dân ngoại, nên tính ngược lại từ chính chúa Giêsu về tới Adong là tổ tông của chung loài người.

Sở dĩ Giáo Hội không chọn gia phả trong Phúc Âm Thánh Luca, cho dù là chu kỳ phụng vụ Năm C, là vì gia phả của vị thánh ký này được liệt kê ngay sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa, chứ không phải ngay từ đầu trước khi Chúa Kitô sinh vào trần gian như Thánh ký Mathêu. Vả lại, Chúa Giêsu tuy mặc lấy chung bản tính loài người nhưng lại sinh ra bởi giòng dõi Do Thái, nên cần phải căn cứ vào gia phả liên quan đến huyết thống của Người nơi dân Do Thái, từ tổ phụ Abraham và vương phụ Đavít của Người.

Gia phả theo Thánh ký Mathêu trong Bài Phúc Âm hôm nay được chia làm 3 giai đoạn đều nhau, cứ 14 đời một giai đoạn, như chính bài Phúc Âm cho thấy: "Vậy, từ Abraham đến Ðavít có tất cả mười bốn đời, từ Ðavít đến cuộc lưu đày ở Babylon có mười bốn đời, và từ cuộc lưu đày ở Babylon cho đến Chúa Kitô có mười bốn đời".

Ngoài chi tiết về đặc điểm có 3 giai đoạn đều nhau này, gia phả theo Thánh ký Mathêu trong bài Phúc Âm hôm nay còn có một đặc điểm khác nữa đó là bao gồm cả nữ giới thay vì chỉ có nam nhân như trong gia phả theo Thánh ký Luca. Mà thành phần nữ giới 5 vị này không phải toàn tòng Do Thái và hoàn toàn thánh đức. Chẳng hạn như 4 trong 5 phụ nữ sau đây:

1- "Bà Thamar", vợ của Giuđa sinh ra Phares, đồng thời bà này cũng chính là con dâu góa chồng của tổ phụ Giuđa, đã đánh lừa để ăn nằm với chính bố chồng của mình vì ông không giữ lời hứa gả đứa con trai thứ ba cho cô (xem Khởi Nguyên 38:1-30);

2- "Bà Rahab", vợ của Salmon sinh ra Boaz, ông cố tổ của Vua Đavít, vốn là một con điếm thuộc dân ngoại, người đã từng cứu các thám tử của dân Do Thái dò tham Đất Hứa và đang bị truy lùng (xem Gioduệ 2:1-24);

3- "Bà Ruth", vợ của ông Boaz sinh ra Giobed là ông nội của Vua Đavít, là một người đàn bà xuất thân từ dân ngoại (xem Ruth 1:1-22);

4- "Vợ của Uria", vợ của Vua Đavít sinh ra Vua Solomon, người đàn bà đã ăn nằm với Vua Đavít khi chồng còn sống khi được vua triệu vào cung (xem 2Samuel 11:1-27).

Như thế, trong 5 người phụ nữ được liệt kê tên trong gia phả của Đấng Thiên Sai Cứu Thế này, 2 thuộc dân ngoại và 2 không trong sạch (ngoại tình), đúng hơn là 3 vì có một phụ nữ vừa dân ngoại vừa làm điếm nữa, chỉ có một mình Mẹ Maria là Mẹ của Chúa Giêsu trọn đời trinh nguyên. Chúng ta có thể đặt vấn đề là tại sao Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa lại được sinh ra bởi một giòng dõi bao gồm những người nữ chẳng những thuộc dân ngoại mà còn không trong sạch nữa?

Xin thưa, vì là giòng dõi loài người mắc nguyên tội không thể nào tránh khỏi những gì là xấu xa gây ra bởi mầm mống nguyên tội, và vì thế bản tính bị hư hoại bởi nguyên tội mới cần phải được cứu chuộc bằng việc chính Con Thiên Chúa làm người mặc lấy. Tuy nhiên, chính nhân tính của Người được sử dụng như phương tiện bất khả thiếu để cứu chuộc nhân loại lại hoàn toàn không bị ảnh hưởng huyết thống hư hoại tội lỗi này. Vì Người được thụ thai và hạ sinh bởi một trinh nữ và bởi quyền phép Thánh Linh chứ không phải bởi huyết nhục loài người.

Bài Đọc 1 hôm nay ghi lại lời tổ phụ Giacóp trước kia qua đời đã nói tiên tri về Giuđa là đứa con trai thứ tư trong 12 người con trai của ông, vì Đấng Thiên Sai Cứu Thế được xuất phát từ chi họ Giuđa này:

"Ngày ấy, Giacóp triệu tập con cái lại và nói rằng: 'Hỡi con cái Giacóp, hãy hợp lại và nghe cha đây. Hỡi nhà Israel, hãy nghe lời cha của các con. Giuđa, anh em con sẽ ca tụng con. Bàn tay con sẽ đè trên ót quân thù; con cái của cha con sẽ phục lạy con. Giuđa là sư tử con, hỡi con của cha, con đã chồm lên bắt mồi, con đã nằm xuống nghỉ ngơi, như giống sư tử đực, tựa nòi sư tử cái, ai dám khiêu khích nó? Phủ việt sẽ không cất khỏi Giuđa, gậy chỉ huy không rời khỏi chân nó, cho đến lúc Ðấng thiên sai ngự đến, là Ðấng chư dân đợi trông'".

Bài Đáp Ca hôm nay cũng hướng về Đấng Cứu Thế Thiên Sai được gọi là "hoàng tử", một vị hoàng tử hòa bình với một triều đại vô cùng bất tận:

1) Lạy Chúa, xin ban quyền xét đoán khôn ngoan cho đức vua, và ban sự công chính cho hoàng tử, để người xét đoán dân Chúa cách công minh, và phân xử người nghèo khó cách chính trực.

2) Núi non đem an hoà cho dân, và nổng đồi mang lại đức công chính. Người bênh chữa kẻ hèn trong dân, và cứu thoát con cái nhóm nghèo.

3) Sự công chính và nền hoà bình viên mãn sẽ triển nở trong triều đại người, cho đến khi mặt trăng không còn chiếu sáng. Và người sẽ thống trị từ biển nọ đến biển kia, từ sông cái đến tận cùng trái đất.

4) Chúc tụng danh người đến muôn đời, danh người còn tồn tại lâu dài như mặt trời. Vì người, các chi họ đất hứa sẽ được chúc phúc, và các dân nước sẽ ca ngợi người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 10 of 84