mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay394
mod_vvisit_counterHôm Qua5412
mod_vvisit_counterTuần Này11699
mod_vvisit_counterTuần Trước42988
mod_vvisit_counterTháng Này72627
mod_vvisit_counterTháng Trước269154
mod_vvisit_counterTất cả9852386

We have: 127 guests online
Your IP: 54.234.247.118
 , 
Today: Dec 13, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 421 - DUC BAC AI KITO GIAO PDF Print E-mail

ĐỨC BÁC ÁI KITÔ GIÁO LÀ GÌ, VÀ QUAN TRỌNG RA SAO ?

Hỏi :
Xin cha giải thich rõ đức ái ( đức mến) quan trọng và cần thiết ra sao cho sự cứu rỗi của con người.
Trả lời:
Thiên Chúa là tình yêu, nên ai yêu thương thì ở trong Thiên Chúa ngay từ đời này chứ không cần phải chờ đến sau khi chết mới được sống hạnh phúc với Chúa trên Nước Trời, là nơi đầy yêu thương, an bình và vui sướng vĩnh cửu.
Vì thế, thật là cần thiết cho mọi người có niềm tin Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành phải thi hành cách cụ thể và sống động điều răn yêu thương mà Chúa Kitô đã trả lời cho một kinh sư xưa kia đến hỏi Chúa về điều răn nào lớn nhất.. Chúa nói:
" Điều răn đứng đầu là , Nghe đây : hỡi Israel, Đức Chúa Thiên Chúa của chúng ta, là Thiên Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mên Thiên Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là : ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào trọng hơn các điều răn đó." ( Mc 12 : 29-31; Mt 22: 34-40)
Có thể nói : Đạo thánh hay Tin Mừng mà Chúa Kitô mang xưống từ trời để dạy cho muôn dân được cứu rỗi và hưởng hạnh phúc vĩnh cửu có thể được thâu tóm trong hai điều răn quan trọng nói trên. Ai mến yêu Chúa thì yêu mến sự thiện, sự lành, và do đó, biết xa tránh sự dữ, sự gian ác và mọi tội lỗi, vì Thiên Chúa chê ghét mọi tội lỗi và những gì nghịch cùng bản chất thiện hảo, thánh thiện, yêu thương của Người.
Vì Chúa là tình thương tuyệt đối, nên yêu thương tha nhân ,hay bác ái với mọi người nghèo khó là tiêu chuẩn, là thước đo Thiên Chúa sẽ dùng để'phán đoán con người là loài có lý trí và tự do bao lâu còn sống trên đời này. Đó là lý do vì sao Thánh Phaolô đã nói với các tín hữu Cô-Rin-Tô xưa kia như sau:
" Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến (đức ái)
Cả ba đều tồn tại
Nhưng cao trọng hơn cả là đức mến". ( 1 Cor 13: 13)
Đức mến cao trọng hơn cả vì nó chính là bản chất của Thiên Chúa , Đấng đã vì yêu thương vô vị lợi, mà đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Kitô, Đấng cũng vì yêu thương mà đã vui lòng xuống trần gian, trở nên Con Người thật về mọi phương diện, trừ tội lỗi để tự hiến mình làm hy tế dâng lên Thiên Chúa Cha để đền tội thay cho nhân loại đáng phải phạt vì tội lỗi. Chúa Giêsu cũng đã nên gương mẫu cho chúng ta về đức ái khi Người yêu thương và cầu nguyện cho cả những kẻ đã sỉ nhục và đóng đinh Người.trên thập giá, như ta đọc thấy trong Tin Mừng Thánh Luca :
" Lậy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm." ( Lc 23: 34)
Đó là lời cầu xin thiết tha của Chúa Giê su dâng lên Chúa Cha khi Người còn đang bị treo trên thập giá. Chúa xin Chúa Cha tha cho những kẻ đóng đinh Người và còn biện hộ thay cho chúng là chúng không biết việc chúng làm !..Như thế chứng tỏ Chúa yêu thương, tha thứ cho cả kẻ thù đến mức ngoài sự tưởng tượng của con người .
, Cũng vì yêu thương mà trong suốt ba năm đi rao giảng Tin Mừng Cứu độ, Chúa Giêsu đã chữa lành cho biết bao bệnh nhân, những người người câm, điếc, đui, mù, què và bị quỷ ám. Chúa cũng đã làm phép lạ biến bánh và cá ra nhiều cho trên năm ngàn người ăn no nê, khi họ đi theo Chúa để nghe Người giảng dạy mà không có của ăn cuối ngày.. Đặc biệt, Chúa đã chữa cho 10 người phong cùi được lành, nhưng chỉ có một người ngoại trở lại cám ơn Chúa.! ( Lc 17: 11-18)
Chúa nêu gương yêu thương, bác ái để dạy các môn đệ xưa kia và tất cả chúng ta ngày nay là những kẻ tin yêu Người, phải yêu thương và cầu nguyện cho cả kẻ thù nữa, vì có như vậy thì mới xứng đáng là " con cái của Cha anh em , Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất lương." ( Mt 5: 45)
Như Thế, có thể nói đức mến hay đức ái là thước đo chính xác của đức tin. Nghĩa là, .Ai yêu mến nhiều thì có đức tin mạnh và chân thật hơn kẻ dửng dưng hay coi thường, khinh chê người khác. Chân lý này thật đúng khi áp dụng vào đời sống người tín hữu Chúa Kitô., Đấng "đã hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người". ( Mt 20:28)
Do đó, là tín hữu Chúa Kitô, chúng ta được mời gọi không những sống đức tin mạnh mẽ, đức cậy vững vàng mà nhất là thực thi đức ái cách sâu đậm để " người khác thấy những công việc tốt đẹp anh em làm mà tôn vinh Cha của anh em Đấng ngự trên Trời."( Mt 5: 16)
Thực thi đức ái không những đòi hỏi phải yêu người khác như yêu chính mình mà còn phải thể hiện tình thương đó bằng việc bác ái cụ thể như Thánh Gia-cô-bê đã khuyên dạy như sau:
"Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân, và không đủ của ăn hàng ngày mà có ai trong anh em lại nói với họ :" hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no" nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần thì nào có ích gì ?( Bc 2 :15-16)
Câu "có thực mới vực được Đạo" được áp dụng thích đáng trong trường hợp này. Nghĩa là đức ái phải có việc làm đi kèm để chứng minh. Chúa Giêsu cùng vì muốn chứng tỏ lòng yêu thương con cái loài người tội lỗi mà đã hy sinh, vui lòng vác thập giá, chịu mọi khổ hình và chết nhục nhã trên thập giá để đền tội cho cả loài người và cho chúng ta hy vọng được sống hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa trên Nước Trời mai sau.
Phải nói có hy vọng thôi chứ không bảo đảm chắc chắn ngay từ bây giờ, vì con người còn có tự do để chọn lựa, hoặc sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng mình và làm những sự dữ đối nghich với tình thương, công bằng và thánh thiện của Thiên Chúa. Nói rõ hơn, dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho ta được cứu rỗi, nhưng nếu ta không cộng tác với ơn Chúa để quyết tâm sống Tin Mừng Cứu Độ là mến Chúa , yêu người và xa tránh mọi tội lỗ, thì công nghiệp cứu chuộc của Người sẽ trở nên vô ích,.. vì Chúa không thể cứu những ai thiếu thiện chí cộng tác đó.
Một trong những phương thế hữu hiệu để cộng tác vào ơn cứu độ của Chúa Kitô là thực thi đức ái cách nồng nàn theo gương Chúa Kitô, Đấng đã hy sinh cả mạng sống mình cho nhân loại, như Chúa đã nói với các môn đệ xưa " không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình." ( Ga 15: 13)
Chúa gọi chúng ta là bạn hữu nghĩa thiết của Người và Chúa đã chết cho tình thân đó.
Như vậy, về phần chúng ta, chúng ta phải làm gì để đề đáp lại tình thương quá cao vời đó của Chúa Cứu Thế Giêsu? Phải chăng chúng ta cũng phải yêu thương ,tha thứ như Chúa đã yêu thương và tha thứ cho chúng ta ?
Trong thời Cựu Ước, Ông Tôbia là người đã sống đức ái cách cụ thể là chuyên đi chôn xác kẻ chết và còn dạy con ông phải làm việc từ thiện , bố thí cho kẻ nghèo khó như sau:
" Đối với ai nghèo khổ, con đừng ngoảnh mặt làm ngơ, để rồi đối với con, Thiên
Chúa cũng sẽ không ngoảnh mặt làm ngơ.Tùy con có bao nhiêu hãy cho bấy
nhiêu...Thật vậy, việc bố thí cứu cho khỏi chết và không để rơi vào cõi âm ty. Vì
trước Nhan Đấng Tối Cao, của bố thí là một lễ vật quý giá cho những ai làm việc bố thí." ( Tb 4: 7-11
Trái ngược với gương bác ái của ông Tobia, Tin Mừng Thánh Luca kể cho chúng ta dụ
ngôn về người nghèo La-za-rô và người giầu có không có lòng bác ái.Người giầu có
hàng ngày ăn uống linh đình trong khi người nghèo La-za-rô ngồi ăn xin ở cửa mà
không được người giầu có kia bố thí cho chút của ăn dư thừa. Cuối cùng cả hai đều
chết. Nhưng người giầu có bị phạt xuồng âm phủ..còn Lâza rô được lên Thiên Đàng
bên Tổ Phụ Abraham.( Lc 16 : 19-23). Người giầu bị phạt không phải vì tội giầu có khi
còn sống trên trần gian mà bị phạt vì tội thiếu bác ái, không thương bố thí chút gì cho
người nghèo Lazarô hàng ngày ngồi ăn xin ở của nhà mình.
Cụ thể hơn nữa, Tin Mừng Thánh Matthêu, chương 25 nói về ngày Phán Xét chung
Khi Chúa sai Thiên Thần phân chia con người ra thành hai loại, như người mục tử tách
chiên ra khỏi dê.
Với những người đứng bên tay phải, Chúa sẽ nói với họ như sau:
" Nào những kẻ ChaTa chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc đã dọn
Sẵn cho các ngươi ngay từ thủa tạo thiên lập địa.Vì xưa Ta đói các người đã cho ăn,
Ta khát các ngươi đã cho uống. ..Ta đau yếu các người đã thăm nom.Ta ngồi tù
Các ngươi đã thăm viếng..."
Ngược lại, Với những người đứng bên trái, Chúa phán:
" Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta, mà vào lửa đời đời, nơi dành
sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó., vì xưa ta đói các ngươi không cho
ăn, Ta khát các ngươi không cho uống..." ( Mt 25 :34- 42)
Như vậy, rõ ràng cho thấy tiêu chuẩn để Chúa phán xét con người là đức ái, tức là
lòng thương yêu kẻ Khác như chính mình. Ai không yêu thương anh chị em mình và
giúp đỡ họ khi họ gặp gian nan khốn khó, thì Chúa coi như đã không bác ái với chính
Chúa, vì Người thực sự hiện diện nơi những anh chị em nghèo đói, đau yếu và bị tù
đầy như dụ ngôn trên đã chuyển một thông điệp cảnh báo cho chúng ta đang sống
trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, nơi có rất nhiều người sống ích kỷ , dửng dưng với những người nghèo khó, bệnh tật cần được giúp đỡ, thông cảm.
Chúa đang thách đố chúng ta nhìn thấy Người hiện diện nơi những anh chị em nghèo
đói, bệnh tật và kém may mắn đó,.để mở lòng thương giúp đỡ họ trong pham vi khả năng của mình.
Tóm lại, không thể mến Chúa cách đẹp lòng Người mà không yêu thương, thực thi
bác ái đối với anh chị em mình đang cần được thương giúp về mọi mặt, tinh thần
và vật chất, như cơm áo, nhà ở và thuốc men...
Vậy, ai là người dám sống và thực hành bác ái với mọi người không phân biệt chủng
tộc, ngôn ngữ và địa vị xã hội để nên nhân chứng tình yêu cho Chúa trước bao nhiêu
người chưa biết Chúa và dửng dưng với những người nghèo khó, bệnh tật và vô gia cư ở khắp nơi trong thế gian vắng bóng tình thương và lòng nhân đạo này?
Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
:

 
HOC HOI DE SONG DAO # 420= VUA HEROE PDF Print E-mail

 Thứ Năm 28-9

CON CÁO HERODE

Thứ Bảy Tuần XVII Thường Niên Giáo Hội đã chọn đọc bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu có nội dung về biến cố Tiền Hô Gioan Tẩy Giả bị chém đầu với lời mở đầu của quận vương Hêrôđê liên quan đến danh tiếng của Chúa Giêsu: Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần XVII Thường Niên. Hôm nay, Thứ Năm Tuần XXV Thường Niên, bài Phúc Âm của Thánh ký Luca cũng lập lại lời của vị quận vương này về danh tiếng của Chúa Giêsu liên quan đến cái chết của Tiền Hô Gioan Tẩy Giả.

Tuy nhiên, trong khi Phúc Âm Thánh Mathêu bao gồm cả tiến trình xẩy ra việc lấy thủ cấp của vị thánh này và chỉ nói vỏn vẻn đến cảm nhận của quận vương Hêrôđê, thì Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay lại không thuật lại tất cả diễn tiến xẩy ra biến cố ấy, nhưng bao gồm cả các cảm nhận khác cùng với cảm nhận của chính quận vương Hêrôđê về Chúa Giêsu:

"Khi ấy, quận vương Hêrôđê nghe biết tất cả các việc Chúa Giêsu đã làm thì phân vân, vì có kẻ nói rằng: 'Ông Gioan đã từ cõi chết sống lại'; còn kẻ khác lại nói: 'Ông Êlia đã hiện ra'; kẻ khác nữa nói rằng: 'Một tiên tri thời xưa đã sống lại'. Nhưng Hêrôđê thì nói: 'Ông Gioan trẫm đã chém đầu rồi. Ông này là ai mà trẫm nghe đồn làm những điều như thế?' và vua tìm cách gặp Người".

Trước hết, chúng ta thấy rằng, nhờ Phúc Âm của Thánh ký Luca chúng ta có thể suy ra là cảm nhận của quận vương Hêrôđe trong bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu có thể đã bị ảnh hưởng bởi cảm nhận của một vị quần thần nào đó của vua: "vì có kẻ nói rằng: 'Ông Gioan đã từ cõi chết sống lại'", và vua chỉ lập lại cảm nhận ấy như là cảm nhận của vua về Chúa Giêsu thôi: "Thời ấy, tiểu vương Hêrôđê nghe danh tiếng Đức Giêsu, thì nói với những kẻ hầu cận rằng: Đó chính là ông Gioan Tẩy Giả; ông đã từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ" (14:2)

Qua cảm nhận này của quận vương Hêrôđê, người ta có cảm tưởng là vị quận vương này vừa đánh trống vừa ăn cướp, đúng là một "con cáo" (Luca 13:32) muốn "tìm giết" cả Người nữa, như Người đã được một số người biệt phái mật báo cho biết sau này (xem Luca 13:31). Còn trong bài Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay, ông ta lại có vẻ khách quan hơn, thiện chí hơn và tỏ ra thân thiện hơn với Chúa Giêsu: "Khi ấy, quận vương Hêrôđê nghe biết tất cả các việc Chúa Giêsu đã làm thì phân vân... 'Ông Gioan trẫm đã chém đầu rồi. Ông này là ai mà trẫm nghe đồn làm những điều như thế?' và vua tìm cách gặp Người".

Ở đây, trong bài Phúc Âm của Thánh ký Luca, vị quận vương Hêrôđê này chỉ tỏ ra thắc mắc mà thôi, chứ không suy diễn rồi đi đến quả quyết chủ quan một cách hống hách ngang tàng như trong bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu, và chính vì thắc mắc nên ông mới muốn "tìm cách gặp Người".

Không ngờ, ước nguyện muốn được gặp Người của ông cuối cùng cũng đã được đáp ứng, khi tổng trấn Philatô, nghe biết Chúa Giêsu gốc gác thuộc về miền Galilêa là vùng thuộc thẩm quyền của ông, đã giải giao Người cho ông, và khi nghe thấy thế ông đã tỏ ra "hết sức vui mừng để gặp Người", nhưng ông đã hoàn toàn thất vọng khi gặp Người, bởi ông chỉ muốn "xem Người làm một phép lạ nào đó", mà không được toại nguyện nên ông cùng đám vệ binh của ông đã tỏ ra khinh chê nhạo báng Người (xem 23:6-12).

Phải chăng Kitô hữu chúng ta đôi khi cũng chỉ muốn "tìm cách gặp Người" như quận vương Hêrôđê này để được "xem Người làm một phép lạ nào đó", ở chỗ Người ban cho chúng ta những điều chúng ta xin Người, nhất là trong cơn gian nan khốn khó hoạn nạn của chúng ta, cần được cứu vớt nhanh bao nhiêu có thể, lạ bao nhiêu có thể theo lòng mong ước chủ quan thiển cận của chúng ta, nhưng xin mãi mà Người vẫn im lìm chẳng nhúc nhích gì, khiến chúng ta cảm thấy chán ngán Người, xa lánh Người và thậm chí chối bỏ Người cùng nguyền rủa Người?

Thái độ của quận vương Hêrôđê theo Phúc Âm của Thánh ký Luca hôm nay, và thái độ tương tự của không ít Kitô hữu trong chúng ta như thế, đã bị Thiên Chúa cảnh báo và khuyên giục qua Tiên Tri Haggai trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay thế này:

"Ðây Chúa các đạo binh phán: Dân này nói: 'Chưa đến lúc xây cất đền thờ Chúa'. Và có lời Chúa dùng tiên tri Haggai phán rằng: 'Chớ thì đến lúc các ngươi cư ngụ trong nhà ấm cúng, và để đền thờ này hoang vu sao?'. Giờ đây Chúa các đạo binh phán như thế này: 'Các ngươi hãy lưu tâm đến đường lối các ngươi. Các ngươi đã gieo nhiều mà thu vào ít: các ngươi đã ăn không no, đã uống không say, đã mặc không ấm, kẻ nhận tiền công lại bỏ vào túi lủng'. Chúa các đạo binh phán như thế này: 'Các ngươi hãy lưu tâm đến đường lối các ngươi: Hãy lên núi mang gỗ về xây cất đền thờ, như thế sẽ đẹp lòng Ta và Ta sẽ được tôn vinh'".

Bởi thế, chỉ có những ai thành tâm tìm kiếm Chúa, phụng sự Ngài bằng tất cả tấm lòng của mình, được tiêu biểu như việc xây đền thờ cho Ngài ngự trị trong lòng mình và để Ngài hoàn toàn làm chủ cuộc đời mình, mới có được những tâm tình của bài Đáp Ca hôm nay mà thôi:

1) Hãy ca mừng Chúa một bài ca mới, hãy vang lên lời khen ngợi trong công hội các tín đồ. Israel hãy mừng vui vì Ðấng tạo tác bản thân, con cái Sion hãy hân hoan vì vua của họ.

2) Họ hãy hoà nhạc để ngợi khen Người, hãy hát mừng Người với cây đàn cầm, với trống con, bởi vì Chúa yêu thương dân Người, và ban cho kẻ khiêm nhường chiến thắng vẻ vang.

3) Các tín đồ hãy mừng rỡ trong vinh quang, hãy hoan hỉ trong những nơi khu phố. Miệng họ hãy reo lên lời hoan hô Thiên Chúa. Ðó là vinh quang cho mọi tín đồ của Chúa.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO# 419 = CAC THIEN THAN PDF Print E-mail

> TAM VỊ TỔNG LÃNH THIÊN THẦN
>
> Tên các Tổng lãnh Thiên thần (TLTT) đều có tiếp vĩ ngữ "el": Michael (Việt ngữ là Micae), Raphael, Gabriel. "El" nghĩa là "trong Thiên Chúa" còn Angel là Thiên thần. Tổng lãnh Thiên thần có thể xuất hiện cùng lúc ở nhiều nơi. Trong các Tổng lãnh Thiên thần có 3 vị "nổi tiếng" là Micae, Raphael, và Gabriel được mô tả trong Kinh thánh. Thế kỷ VIII, Kitô giáo đã biết tôn sùng các Thiên thần.
>
1/ Micae nghĩa là "Người giống Thiên Chúa" hoặc "Giống như Thiên Chúa". Micae là Thiên thần đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng, là vị trưởng trong các TLTT, có nhiệm vụ bảo vệ, khuyến khích, về sức mạnh, sự thật và chính trực. TLTT Micae bảo vệ chúng ta về thể lý, tâm lý và tình cảm. Ngài cũng giám sát mục đích sống của chúng ta. Chức năng chính của ngài là loại bỏ những điều xấu. TLTT Micae cầm gươm lửa để bảo vệ chúng ta khỏi Satan và những điều tiêu cực. Khi có ngài ở bên, bạn có thể thấy lấp lánh ánh sáng xanh hoặc đỏ. Hãy cầu xin TLTT Micae nếu bạn thấy mình bị tấn công về tâm lý hoặc thiếu can đảm giữ lời hứa, thiếu động lực, thiếu lòng tin, thiếu can đảm, mất phương hướng, thiếu nghị lực, thiếu sức sống, thiếu tự tin, và cảm thấy bất xứng. TLTT Micae giúp chúng ta nhận biết mục đích sống và giúp bảo vệ.
>
> Micae đã chiến thắng Satan (thiên thần sa ngã), ở trong Vườn Địa Đàng để dạy cho Adam cách gieo trồng và chăm sóc gia đình, nói với Môsê trên Núi Sinai, và năm 1950 ngài được tôn vinh là Thánh Micae, "bổn mạng của cảnh sát", vì ngài giúp can đảm và anh dũng. Ngài cũng có "bí quyết lạ" về sửa các thiết bị điện và máy móc, kể cả máy tính và xe cộ. Nếu xe bị hư, hãy cầu xin TLTT Micae! Ngài giúp chúng ta hành động theo sự thật mà không thỏa hiệp với tính liêm chính và giúp chúng ta tìm ra bản chất và vẫn là chính mình. Ngài hay giúp đỡ nên khi gặp khó khăn trong công việc, khi bị chứng nghiện nào đó, khi bị bệnh, khi đau khổ, hoặc gặp ác mộng, hãy cầu xin TLTT Micae!
>
2/ Raphael nghĩa là "Sức mạnh Chữa lành của Thiên Chúa" hoặc "Thiên Chúa chữa lành". Chữ Rapha trong tiếng Do Thái nghĩa là "bác sĩ" hoặc "người chữa lành". TLTT Raphael giúp chúng ta mau lành bệnh về thể lý và tinh thần nếu chúng ta cầu xin ngài. Kinh thánh kể chuyện ông Abraham khỏi đau sau khi ông chịu phép cắt bì. Bạn cũng có thể cầu xin TLTT Raphael thay cho người khác. TLTT Raphael là người dễ gần gũi và vui vẻ nhất trong các Thiên thần. Ngài thường được vẽ là người vui vẻ nói chuyện với người khác. Ngài rất ngọt ngào, yêu thương, tử tế và hiền từ, khi bạn thấy những tia sáng xanh là ngài đang ở gần bạn. Ngài thường hoạt động với TLTT Micae để trừ các thực thể xấu và luôn "hộ tống" mọi người ở khắp nơi.
>
> Là người chữa lành, TLTT Raphael là "bổn mạng của các du khách" vì ngài đã giúp ông Tôbia trong cách hành trình. Hãy cầu xin TLTT Raphael khi bạn đi du lịch hoặc đi đây đi đó để được bình an trong chuyến đi. Ngoài ra, ngài còn giúp việc chuyên chở, cư trú và đồ đạc an toàn. Ngài cũng nâng đỡ các chuyến hành trình tâm linh, giúp tìm kiếm chân lý và hướng dẫn.
> TLTT Raphael dạy ông Tôbia cách làm hương liệu và dầu thơm bằng cá và đã chữa khỏi mù cho người cha của ông Tôbia. Ngài được cầu xin giúp các y bác sĩ, các thầy thuốc, các nhà trị liệu và các bác sĩ phẫu thuật. Hãy cầu xin ngài nếu bạn là sinh viên trường y hoặc đang học chữa bệnh và xin ngài giúp bạn học tập tốt. Ngài không chỉ giúp chữa lành về thể lý và tâm lý, mà ngài còn chữa lành các vết thương lòng từ quá khứ.
> Trong các lĩnh vực khác, TLTT Raphael còn giúp tìm lại những thứ bị thất lạc, giúp cai nghiện, giúp sáng suốt, tạo tình đoàn kết. Hãy cầu xin TLTT Raphael!


3/ Gabriel nghĩa là "Sức mạnh của Thiên Chúa" hoặc "Thiên Chúa là Sức mạnh của tôi".
> Chỉ có TLTT Gabriel được mô tả là nữ giới trong nghệ thuật và văn chương, ngài là "sứ giả" và là một trong các TLTT có tên trong truyền thống Do Thái, được coi là một trong hai Thiên thần cao cấp theo truyền thuyết Do Thái giáo và Hồi giáo. Ngoài TLTT Micae, TLTT Gabriel là Thiên thần duy nhất được nhắc đến trong Cựu ước. Ngài là TLTT quyền thế và mạnh mẽ, những ai kêu cầu ngài sẽ cảm thấy muốn hành động và sẽ có kết quả tốt.
>
> TLTT Gabriel là người đã truyền sứ điệp cho Thánh Êlidabét và Đức Mẹ Maria về việc thụ thai và sinh con, là Thánh Gioan Tẩy giả và Chúa Giêsu thành Nadarét. Nếu bạn sắp lập gia đình, hãy cầu xin TLTT Gabriel giúp bạn trong việc thụ thai, sinh sản và dạy dỗ con cái.
> TLTT Gabriel có thể giúp chúng ta về nghệ thuật và giao tiếp. Ngài sẽ hành động như một huấn luyện viên, gợi cảm hứng và kích thích các nghệ sĩ, các nhà báo và những người làm việc về truyền thông, ngài giúp hành động một cách can đảm và mau mắn.
>
> Ngài cũng giúp chúng ta nhận biết ơn gọi đích thực của mình. Hãy cầu xin ngài hướng dẫn nếu bạn đi không đúng đường tâm linh, nếu bạn muốn hiểu cuộc sống và mục đích sống. Nếu bạn dự định chuyển nhà, mua bán công to việc lớn hoặc muốn đổi nghề, hãy cầu xin TLTT Gabriel!
>
> Cũng hãy cầu xin ngài nếu cơ thể bạn bị ngộ độc hoặc đầu óc nghĩ về những chuyện xấu, ngài sẽ giúp bạn thanh tẩy hồn xác. Các phụ nữ bị hãm hiếp hoặc bị quấy rối tình dục, rồi cảm thấy mình ô uế, bị dằn vặt, hãy cầu xin TLTT Gabriel!
>
> Trầm Thiên Thu
> (Chuyển ngữ từ AngelFocus.com)


> Lạy Tổng Lãnh Thiên Thần Micae, xin hãy bênh vực che chở cho chúng con trong chốn chiến trường, cùng nên như thành lũy vững bền cho chúng con trông cậy, và chống trả các chước sâu độc ma qủy. Chúng con sấp mình xuống xin Đúc Chúa Trời ngăn cấm thần ngụy ấy. Lạy Tổng Lãnh Thiên Thần Micae là tướng quân cai quản cơ binh trên trời, kìa satan và thần dữ đang rảo khắp thiên hạ hòng làm hư loài người chúng con, xin người lấy phép Đức Chúa Trời mà xua đuổi chúng xuống hỏa ngục đời đời. Amen.
>-----------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 418 - CAC TONG DO PDF Print E-mail

12 TÔNG ĐỒ
CÁC NGÀI SỐNG Ở ĐÂU VÀ CHẾT NHƯ THẾ
NÀO SAU NGÀY CHÚA VỀ TRỜI

Trần Mỹ Duyệt

Những ngày xa xưa, buổi đầu của biến cố Tin Mừng được rao giảng.Chúa Giêsu đã đích thân tuyển chọn 12 người để cộng tác với Người trong việc rao truyền Tin Mừng cứu độ. Tin Mừng ghi:

"Trong những ngày ấy, Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, và suốt đêm, Người cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Sáng ngày, Người gọi các môn đệ và chọn mười hai vị mà Người gọi là Tông đồ: Ðó là Simon, mà Người đặt tên là Phêrô, và em ông là Anrê, Giacôbê và Gioan, Philipphê và Bartôlômêô, Matthêu và Tôma, Giacôbê con ông Alphê và Simon cũng gọi là Nhiệt Thành, Giuđa con ông Giacôbê và Giuđa Iscariốt là kẻ phản bội." (Luca 6:12-16)

Ngoại trừ một vài Tông Đồ được nhắc đến về số phận và cái chết của họ trong Tin Mừng như Phêrô, Gioan, ngay cả Giuđa, số còn lại ít ai được biết tới.Chúng ta muốn biết là sau khi Chúa Giêsu về trời thì số phận của họ như thế nào?!! Theo Thánh Kinh thì sau khi Chúa chịu chết, sống lại và về trời, đặc biệt, sau ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống thì đời sống của các Tông Đồ đã thay đổi hoàn toàn. Các ông không còn rụt rè, nhút nhát, sợ sệt, nhưng đã mạnh dạn, can đảm ra đi để làm chứng nhân cho Tin Mừng. Vậy họ đã làm gì? Sống và chết ra sao?

Sau khi Chúa Giêsu về trời, các tông đồ trở lại Giêrusalem và cầu nguyện 10 ngày như Chúa Giêsu đã căn dặn (Acts 1:4). Các ông nhận lãnh Thánh Thầntrong lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống (Acts 2).Lịch sử của Giáo Hội đã khai mở, nhưng ngoài những gì được ghi trong các Phúc Âm, trong Tông Đồ Công Vụ, trong các Thánh Thư, đặc biệt là những thư của Phaolô, chúng ta biết rất ít về số phận các tông đồ, mặc dù chúng ta vẫn tin tưởng rằng các ông đã đi rất xa tận cùng trái đất để rao giảng về Chúa Giêsu. Các ông đã đau khổ vì đức tin, và đã bị chết một cách đau đớn để trở thành những chứng nhân sống động cho Tin Mừng mà các ông rao giảng.

13 Tông Đồ gồm Matthias thay thế Giuđa, Phaolô, Tông đồ dân ngoại do Chúa Giêsu chọn trên đường đi Damas, đều được cho là đã hy sinh mạng sống mình vì danh Chúa Giêsu trong khi rao truyền danh thánh ấy cho muôn dân. Phaolôbị chặt đầu bằng gươm, vì ông có quốc tịch Rôma.Ông bị hành hình dưới thời hoàng đế Neron năm 33 AD.Cuộc đời của Phaolô, ơn gọi đặc biệt của ông, cuộc trở lại diệu kỳ của ông, hành trình truyền giáo của ông, cũng như những tư tưởng phi thường của ông đã được ghi rõ trong Tông Đồ Công Vụ và các thư do ông viết. Số còn lại:

1.Andrê - Ngư phủ từ Galilee, em của Phêrô. Nguyên thủy ông là môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Mark 1:16-18). Sau khi cùng anh là Phêrô bỏ nghề chài lưới theo Chúa, ông thuộc số những tông đồ đầu tiên của Người.

Ông giảng đạo cho người Scythians và Thracians. Bị đóng đinh và an táng tại Patrae (Hy Lạp). Theo Hippolytus, Andrê giảng đạo tại Georgia/Bulgaria ngày nay, phần đất nối liền với Hắc Hải gần Thổ Nhĩ Kỳ. Ông bị đóng đinh tại Achaia, treo trên một cây Olive tại Patrae, thành Achaia, Hy Lạp và được an táng tại đây.Eusebius trong lịch sử của Giáo Hội đã dùng tài liệu của Origen để xác định rằng Andrê giảng đạo tại Scythia. Trong Chronicle of Nestor thêm rằng, ông giảng đạo dọc theo Hắc Hải (Black Sea) và sông Dnieper tới mãi tận Kiev, và từ đó di chuyển đến Novgorod. Do đó, ông trở thành Bổn Mạng của nước Ukraine, Romania và Nga. Theo tương truyền, ông lập tòa ở Byzantium (Constantinople và Istanbul sau này) năm 38 AD, mà sau này biến thành tòa thượng phụ Constantinople, và đã đặt Stachys là Giám Mục. Cả Andrê và thánh Stachys đều được coi là quan thầy của Tòa Thượng Phụ.

Andrê được miêu tả là bị đóng đinh ở Patras (Patrae) thuộc Achaea. Những tài liệu trước đó trong Công Vụ của Andrê (Acts of Andrew) như Gregory of Tours đã cho rằng ông bị trói chứ không phải bị đóng bằng đinh vào một loại thập giá gọi là thập giá Latin có hình chữ X. Cái chết của ông, theo nhà sử học thuộc thế kỷ 15, là Dorman Newman, khi ở Patras thuộc đông Hy Lạpnăm 69 AD, vị Tổng Đốc Rôma là Aegeates ở đây đã tranh luận với ông về tôn giáo. Aegeates đã cố gắng thuyết phục Andrê từ bỏ Kitô giáo để tránh bị tra tấn và xử hình.Cuối cùng ông bị đánh đòn và sau đó bị đóng đinh.Ông đã sống thoi thóp trên thập giá 2 ngày, và không ngừng rao giảng Tin Mừng cho những người qua lại.Tại Hy Lạp gần Ethiopia vẫn còn dấu tích mộ của ông.

Ngoài ra, Scots cũng cho rằng Andrê cũng đã đến giảng đạo tại Picts (vì vậy họ dùng cây thập giá của Thánh Andrê trên quốc kỳ của họ).

2.Bathôlômêô -Ông là người từ Cana, Galilee với tên gọi Nathanael. Trong Lịch Sử Hội Thánh của Eusebius, sau khi Chúa về trời, Barthôlômêô sang truyền giáo tại Ấn Độ. Cũng có một truyền thuyết khác nói rằng ông đã truyền rao Tin Mừng tại Ethiopia, Mesopotania, Parthia, và Lycaonia. Nhưng phần đông vẫn cho rằng ông giảng đạo tại Ấn Độ, và sau này đến Greater Armenia.

Theo truyền tụng đại chúng của người Armenians, Tông Đồ Jude (Thaddaeus) là người đầu tiên đến truyền giảng Tin Mừng trong vùng này từ năm 43-66 AD. Năm 60 AD, Barthôlômêô đã đến cùng truyền đạo với ông. Khi đến nơi, ông đã mang theo Phúc Âm của Mátthêu, và đã dịch Phúc Âm này sang tiếng địa phương. Barthôlômêôtử đạo tại Albanopolis, Armenianăm 68 AD.

Nhiều tài liệu khác nhau về cái chết của ông, một số cho rằng ông bị chém đầu. Một số khác thì ông bị lột da sống và chịu đóng đinh ngược đầu do lệnh truyền của Astyages. Lý do vì ông đã cải đạo Polymius em của Astyages, vua xứ Armenia.
3.Giacôbê-Con của Alphaeus chứ không phải là con của Zebedee, và do đó, ông cũng không phải là anh em với Gioan. Tên của ông được xuất hiện trong Mt 10:1-3, Mark 3:14-19, Luca 6:13-16, và Acts 1:13. Mẹ của ông là Maria, một trong những phụ nữ ra viếng mộ Chúa Giêsu và thấy mộ trống trong buổi sáng Phục Sinh. Ông được gọi là Giacôbê Trẻ hay Giacôbê Hậu để phân biệt với Giacôbê Tiền hay Giacôbê Cả là anh của Gioan.
Cũng vì cha ông là Alphaeus, nên ông thường bị cho là anh em với Matthêu.

Sau khi Chúa về trời, ông truyền rao Tin Mừng trong phạm vy Giêrusalem.Ông là một trong những vị Tông Đồ sống lâu nhất, có lẽ còn hơn cả Gioan.Ông qua đời năm 94 tuổi.Trước hết bị đánh đòn, và bị ném đá.Sau đó bị đánh vào đầu bằng một cây gậy. Tuy nhiên, theo Hippolytus, thì ông bị người Do Thái ném đá tại Giêrusalem. Và ông được mai táng bên cạnh đền thờ năm 62 AD.

4.Giacôbê - Con của Zebedee người làng Bethsaida, và là anh của Gioan. Ông và em ông là anh em họ với Chúa Giêsu. Để phân biệt với Giacôbê con ông Alphaeus, ông được gọi là Giacôbê Cả. Tên của Ông không rời xa tên em Ông là Gioan trong Mark 1:19-20; Mt 4:21), và Luca 5:1-11). Ông là Tông Đồ đầu tiên bị tử đạo năm 44 AD.
Là ngư phủ sinh sống quanh Bethsaida, Capernaum và Giêrusalem. Ông cùng em đã bỏ chài lưới đi theo Chúa Giêsu khi Người gọi hai ông, lúc hai ông đang vá lưới dưới thuyền với cha mình. Ông và em ông được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh là con sấm sét.

Rao giảng tại Giuđêa và bị quận vương Herod Agrippa chém đầu và được an táng ở Giuđêa(Tông Đồ Công Vụ 12:2). Hippolytus xác nhận cái chết của Ông.Eusebius đã diễn tả chi tiết hơn.Đầu tiên là Stêphanô bị ném đá, rồi tiếp đến là Giacôbê bị chém đầu.

Lý do ông bị chết vì Herod Agrippa, quận vương mới của Judea muốn chứng tỏ mình trung thành với người Rôma bằng cách bắt bớ những thủ lãnh các tôn giáo. Sau khi Giacôbê bị bắt và bị dẫn đi hành hình, người tố cáo ẩn danh ông đã xúc động do lòng can đảm của ông, nên không những đã xin theo đạo, mà còn xin được chết chung cùng với Giacôbê. Đề nghị đã được chấp thuận và cả hai đã bị chém đầu.
5.Gioan - Em của Giacôbê con ông Zebedee. Ông và anh mình được Chúa Giêsu đặt cho biệt danh "Boanerges", có nghĩa là con Sấm Sét, khi hai ông xin Chúa cho lửa bởi trời xuống thiêu hủy dân làng Samaritanvì đãkhông đón tiếp Ngài (Luca 9:51-54) và tham vọng do người mẹ của hai ông muốn sắp xếp chỗ ngồi bên phải, bên trái Chúa (Mark 10:35-37). Nhưng ông cũng là người được Chúa Giêsu yêu cho dựa đầu vào ngực Chúa trong bữa tiệc ly, và trối Đức Mẹ lại trước khi Ngài tắt thở trên thập giá: "Này là mẹ con" (Gioan 19:24-27).
Theo Hippolytus, trong cuộc bách hại của Domitian và giữa năm 90, ông bị lưu đày qua đảo Patmos. Bị lưu đày tại đảo Patmos, nhưng ông qua đời ở tuổi già tại Ephesus khoảng 100 AD.Ông viết Phúc Âm và viết 3 lá thơ.Cũng trong thời gian lưu đày ở đảo Patmos, ông đã viết sách Khải Huyền là cuốn sau cùng chấm dứt bộ Tân Ước.

Ông là đầu của giáo hội tại Ephesus, và được diễm phúc phụng dưỡng Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu.Theo truyền thống Latin trước đó, ông được cho là đã thoát khỏi vạc dầu sôi sau khi bị vứt vào đó tại Rôma.

6.Matthêu-Matthêu hay cũng còn gọi là Levi, con của Alphaeus, vì thế ông bị cho là anh em với Giacôbê Trẻ. Trước khi được Chúa gọi, ông là người thu thuế ở Capernaum. Ông viết Phúc Âm cho người Do Thái. Với mục đích viết Phúc Âm cho người Do Thái, nên Phúc Âm của ông được viết bằng tiếng Do Thái. Ông chết tại Hierees, một thành của Parthia (Iran).Eusebius coi ông là giám mục Papias của Hierapolis, trước năm 110 A.D.

Cũng theo một truyền thuyết, ông giảng đạo và bị tử đạo tại Persia và Ethiopia. Ông bị đâm sau lưng bằng lưỡi đòng do một tên hành quyết được vua Hertacus cử tới bởi vì ông đã phê bình đời sống luân lý của vua.

7.Simon/Phêrô - Simon sinh tại Betsaida thuộc Galilee. Xuất thân ông là một ngư phủ chuyên nghiệp. Cha của ông cũng là ngư phủ chuyên nghiệp tên là Jona. Ông có người em là Andrê cũng là Tông Đồ trong nhóm 12 được Chúa Giêsu tuyển chọn.Căn nhà ông ở tại Capernaum vào thế kỷ thứ 5 người ta xây một thánh đường bao trên đó.

Sau 3 năm theo Thầy, và sau khi Chúa về trời, ông khởi đầu sứ vụ bằng bài giảng ngay trong ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống (Tông Đồ Công Vụ, Chương 2). Một bài giảng gây tiếng vang, và đã thu hút 3000 người xin chịu phép Rửa ngay ngày hồm đó. Ông chuyên chú vào người Do Thái, khác với Phaolô nhắm tới dân ngoại. Sau nhiều lần bị giam giữ tại Giêrusalem, ông đã tới Rôma, ở đó cùng với Maccô thư ký của ông đã biên Phúc Âm thứ nhất theo lời giảng của ông.Phần cá nhân, ông cũng viết 2 thư xuất hiện trong Tân Ước.

Ông được Chúa Giêsu đổi tên là Cephas (Phêrô) do lòng nhiệt thành của ông. Đó cũng là tên mà Chúa Giêsu nhắm tới việc xây dựng Giáo Hội của Ngài trên ông."Con là Cephas nghĩa là đá, trên đá này Thày sẽ xây Giáo Hội Thầy" (Mt 16:18).Irenaeus (c.180A.D) dựa theo truyền thống, cho rằng Phêrô và Phaolô đã xây dựng Giáo Hội ở Rôma. Ông là vị Giáo Hoàng tiên khởi của Hội Thánh Công Giáo.

Phêrô, theo Phaolô ghi lại trong thư gửi giáo đoàn Galatians, thì cũng đã một lần viếng thăm Antioch(Galatians 2:11) và có thể ở Corinth (1 Corinthians1:12). Cũng trong Tông Đồ Công Vụ, ông đã giảng đạo cho Cornelius ở Caesarea.Người đầu tiên được ông hướng dẫn mà không phải Do Thái (Acts 10).

Theo truyền thuyết, hoàng đế Rôma là Nero đã ra lệnh giết Phêrô năm 66 AD, sau 33 năm Chúa về trời. Ông bị đóng đinh ngược và được an táng dưới hầm vương cung thánh đường Thánh Phêrô hiện nay ở Rôma.

8.Philip - Philip người Bethsaida là một trong số những môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu. Rao giảng ở Phrygia, Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey).Ông bị đánh đòn, bỏ vào ngục và bị ném đá năm 80 AD tại Hierapolis, Thổ Nhĩ Kỳ.
Philip là người thứ sáu trong số 12 tông đồ được Chúa Giêsu tuyển chọn (Gioan 1:43).Liền sau khi trở thành môn đệ Chúa, ông đã đi giới thiệu Chúa Giêsu cho Nathanael (Bartholomew). Khi khi thấy Nathanael ngần ngại, nghi ngờ, ông đã bảo bạn mình: "Hãy tới mà xem" (Gioan 1:46).Và Nathanael cũng được Chúa tuyển chọn làm Tông Đồ. Nhưng ông được Phúc Âm nhắc đến nhiều ở biến cố Chúa làm phép lạ bánh hóa nhiều, khi Người muốn thử xem ông phải làm gì (Gioan 6:5-6). Phúc Âm cũng nói đến việc những người Hy Lạp Do Thái trong dịp lễ Vượt Qua (Passover) tại Giêrusalem nhờ ông giới thiệu họ với Chúa Giêsu (Gioan 12:20-22). Nhưng xúc động nhất là câu hỏi của ông trong Bữa Tiệc Ly, khi đó ông xin Chúa Giêsu cho được thấy Chúa Cha (Gioan 14:8-11).
Sau khi Chúa về trời Tông Đồ Công Vụ ghi, ông đã tới Samaria ở đó rao giảng Tin Mừng và thực hiện những phép là (Acts 8:4-6). Ông đã cải đạo được cho Simon phù thủy (Acts 8:9-13). Trong khi nhận được lời truyền từ thiên thần, ông đã gặp một người Ethiopia tại Gaza, một vị hoạn quan quyền thế dưới quyền hoàng hậu Candace, và đã rửa tội cho ông này (Acts 8:26-39). Sau cùng ông sống tại Caesarea (Acts 21:8), cũng theo Tông Đồ Công Vụ thì Philip có 4 người con gái sống đời đồng trinh và đã được ơn nói tiên tri (Acts 21:9).
9. Simon Nhiệt Thành - Giám mục Giêrusalem sau Giacôbê. Ông đến từ Cana và vì thế cũng được gọi là Simon người Canaanite, hoặc Simon Nhiệt Thành (nhưng không thuộc những người Do Thái nhiệt thành chống lại người Rôma). Ông là con của Clopas. Theo Hippolytus, ông là Giám Mục thứ hai của Giêrusalem kế vị Giacôbê. Thánh Demetrius thành Rostov đã xác nhận ông là Giám Mục thứ hai của Giêrusalem.
Ông qua đời hưởng thọ 120 tuổi. Ông được an táng tại Giêrusalem. Theo tài liệu thì ông đã bị đóng đinh như vị Giám Mục của Giêrusalem sau khi giảng Phúc Âm tại Samaria.Một tài liệu khác lại cho rằng khi truyền giáo tại Persia ông đã từ chối không dâng lễ vật cho thần mặt trời và đã bị giết.Cũng có tài liệu cho rằng ông bị cưa đôi khi ở Persia.
Nhưng các tài liệu không đồng nhất về những nơi nào ông đã rao giảng Tin Mừng. Có tài liệu nói là ông đã giảng đạo tại Anh.Cũng có tài liệu bằng tiếng Hy Lạp thì ông giảng đạo tại Hắc Hải (Black Sea), Ai Cập, và Bắc Phi. Nhưng tài liệu Latin "Passio Simonis et Judae", ông làm việc tại Persia, và tử đạo tại Suanir, nhưng nơi an táng của ông không ai biết.
Truyền thống sau này cho rằng sau khi giảng đạo tại Ai Cập, ông và Juđa cùng nhau giảng đạo tại Persia và Armenia, hoặc Beirut, Lebanon. Cả hai cùng tử đạo năm 65 AD.
Giáo Hội Tây Phương kính ông cùng với Jude (Thaddaeus).Ngược lại, ở Đông Phương hai ngài được kính riêng.Ông làm quan thầy những người thuộc da.

10.Thaddaeus/Judas -Con của Giacôbê. Rao giảng Tin Mừng tới Edessa gần sông Euphratesvà chung quanh khu vực Mesopotamian (Iraq, Syria, Turkey, Iran). Qua đời năm 72 AD.Ông bị bắn bằng tên tại Ararat.

Thánh Giêrônimô gọi Judas là "Trinomious" có nghĩa là người có 3 tên.Trong Mark 3:18 ông được gọi là Thaddeus.Trong Matthêu 10:3, ông được gọi là Lebbeus. Và tên Thaddeus (Trái tim được sưởi ấm).Trong Luca 6:16 và Tông Đồ Công Vụ 1:13, ông được xem như Juda anh em của Giacôbê.

Theo Hippolytus, sau khi Chúa về trời, ông ra đi rao giảng Tin Mừng cho người ở Edessa (bên trên Mesopotamica) và cả vùng Mesopotania. Qua đời tại Berytus (Lebanon, gần Syria và Thổ Nhĩ Kỳ), và được an táng tại đó.

Trong Tân Ước (John 14:22 NIV).Ông đã hỏi Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly, "Tại sao Chúa chỉ tỏ mình cho chúng con mà không cho thế giới".Qua câu hỏi này ông muốn cho mọi người được biết Chúa Kitô.
11.Thomas -Rao giảng Tin Mừng cho người Parthians/Medes/Hyrcanians (Iran), Bactrians (Afghanistan). Tử đạo bằng 4 mũi đòng đâm vào người. Ông đã bị 4 người lính dùng giáo đâm chết tại Mylapore, Ấn Độ ngày 21 tháng 12 năm 72 AD.

Thomas cũng gọi là Didymus. Có thể là một ngư phủ, thường được nhớ như Thomas đa nghi. Trong lúc Chúa Giêsu nói với các tông đồ trong Bữa Tiệc Ly, ông đã thẳng thắn hỏi Chúa: "Lạy Chúa, chúng con không biết Chúa đi đâu, thì làm sao biết được đường" (Gioan 14:5). Cũng trong Tin Mừng Gioan (20:25), khi nghe các Tông Đồ nói đã nhìn thấy Chúa sống lại, ông đã thẳng thừng từ chối, và cho rằng chỉ khi nào ông nhìn những vết đinh nơi tay Chúa, và thọc tay vào cạnh sườn Ngài, ông mới tin. Nhưng Chúa đã thỏa mãn sự nghi ngờ của ông và qua đó, chúc lành cho mọi người sau này không được diễm phúc nhìn thấy Chúa như ông nhưng vẫn tin: "Tôma vì con đã thấy thầy và đã tin. Nhưng phúc cho những ai không thấy mà tin" (Gioan 20:29).Cũng do thái độ hoài nghi của ông mà sau này mới được biết về cái chết và việc Đức Mẹ về trời cả hồn lẫn xác.

Theo Hippolytus, Thomas là một nhà rao giảng nhiệt thành. Ông được biết là đã rao giảng Phúc Âm cho người Parthians (Iran), Medes (Iran), Persians (Iran), Hyrcanians (Iran), Bactrians (Afghanistan), và Margians. Ông có lẽ năng động nhất ở đông Syria. Truyền thống cho là ông đã giảng dạy mãi xa tận Ấn Độ, mà những Kitô hữu Marthoma xa xưa đón nhận ông như đấng sáng lập, Theo sử sách ghi lại,Thômatử đạo tại Ấn Độ để lại một cộng đoàn ở đó cho đến khi người Bồ Đào Nha tới.

12.Matthias - Theo tiếng Hy Lạp, Matthias có nghĩa "Ân huệ của Giavê". Ông là một trong 70 môn đệ theo Chúa Giêsu từ đầu, lúc Người chịu phép rửa bởi Gioan Tiền Hô trên sông Jordan cho đến khi Người về trời (Acts 1:21-22).
Sau khi Chúa về trời, Phêrô đã triệu tập 11 Tông Đồ trên căn thượng lầu và đã bỏ phiếu giữa Matthias và Giuse còn gọi là Barsabus, người có tên họ là Justus. Matthias được chọn thay thế cho Giuđa Iscariot để nâng con số các Tông Đồ thành 12, nhưng ông là Tông Đồ không do chính Chúa Giêsu tuyển chọn.
Ông được coi là đã tới Syria cùng với Andrê. Theo Nicephorus (Historia eccl., 2, 40), Matthias đầu tiên giảng Tin Mừng ở Judaea, rồi sau đó ở Aethiopia (miền Colchis, thuộc Georgia ngày nay), và bị ném đá chết.
Một truyền thống khác cho rằng ông bị người Do Thái ném đá tại Giêrusalem, sau đó bị chém đầu. (cf. Tillemont, Mémoires pour servir à l'histoire ecclesiastique des six premiers siècles, I, 406-7). Cũng theoHippolytus, Matthias chết ở Giêrusalem năm 80 AD.Ông là Giám Mục Giêrusalem.Và một truyền thống khác cho rằng ông đã rao truyền Phúc Âm trên bờ biển Caspian và Cappadocia.
Những tin tức liên qua đến cuộc sống và cái chết của ông không rõ ràng. Theo Nicephorus (Lịch Sử Giáo Hội II.40), đầu tiên ông rao giảng Phúc Âm ở Judea, rồi tới Ethiopia, và ông bị đóng đinh. Theo Dorotheus thì Matthias rao giảng Tin Mừng cho những người man khai, mọi rợ ở trong Ethiopia, và hải cảng biển Hyssus, tại cửa sông Phasis. Ông qua đời tại Sebastopolis, và được an táng gần Đền Thờ Mặt Trời. Thánh Helena đã đem hài cốt của ông về Rôma.

Tài liệu tham khảo

--------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 417 - THU BA-CN25TN-A PDF Print E-mail

 Thứ Ba 26-9-2017

Phúc Âm: Lc 8, 19-21

"Mẹ và anh em Ta là những người nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành".

Khi ấy, mẹ và anh em Chúa Giêsu đến tìm Người, nhưng vì đám đông, nên không thể đến gần Người được. Người ta báo tin cho Người rằng: "Có mẹ và anh em Thầy đứng ở ngoài muốn gặp Thầy". Người trả lời với họ rằng: "Mẹ và anh em Ta là những người nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành".

Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm Cảm Nghiệm

Tình Nghĩa Thần Linh

Hôm nay, Thứ Ba Tuần XXV Thường Niên, bài Phúc Âm được Giáo Hội chọn đọc cũng rất ngắn ngủi, chỉ có 3 câu, tiếp ngay sau Bài Phúc Âm hôm qua về chiều hướng lời Chúa nơi con người thắp sáng trần gian, và có liên hệ với bài Phúc Âm hôm qua về ý nghĩa của nó, về mối liên hệ đích thực giữa Người với những ai giữ lời Chúa, đó là bài Phúc Âm trong đó Chúa Kitô khẳng định về mối liên hệ thiêng liêng với Người:

"Khi ấy, mẹ và anh em Chúa Giêsu đến tìm Người, nhưng vì đám đông, nên không thể đến gần Người được. Người ta báo tin cho Người rằng: 'Có mẹ và anh em Thầy đứng ở ngoài muốn gặp Thầy'. Người trả lời với họ rằng: 'Mẹ và anh em Ta là những người nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành'".

Đúng thế, qua câu khẳng định về tình nghĩa thiêng liêng với Người này, Chúa Giêsu chẳng những không phủ nhận mối liên hệ tự nhiên về huyết nhục, nhất là đối với Người Mẹ của Người, mà còn đề cao Mẹ của Người hơn nữa, như muốn nhấn mạnh rằng Mẹ Maria của Người chẳng những có phúc vì đã được thụ thai và cưu mang Người (xem Luca 11:27) là "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14), là "Con Thiên Chúa", là "Con Đấng Tối Cao" (Luca 1:32,35), mà còn "có phúc vì đã tin" (Luca 1:45), tin phục những gì đã truyền đạt cho Mẹ.

Chính "đức tin tuân phục" (Roma 1:5) của Mẹ mới làm và đã làm cho Mẹ nên một với Con của Mẹ, mới làm cho Mẹ xứng đáng đồng công cộng tác vào công cuộc cứu chuộc của Con Mẹ và với Con Mẹ, nhất là khi Mẹ đứng kề bên Thánh Giá của Người (xem Gioan 19:25). Mẹ là đệ nhất môn đệ của Con Mẹ, là môn đệ tuyệt hảo nhất của Con Mẹ đúng như Con Mẹ mong muốn, ở chỗ Mẹ là "người nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành".

Mẹ không thể nào có thể "đem ra thực hành" lời Chúa nếu không "nghe lời Thiên Chúa", như khi Mẹ nghe thấy câu trả lời của Thiếu Nhi Giêsu Con Mẹ 12 tuổi trong đền thờ sau 3 ngày lạc mất, một lời mà Mẹ không nắm bắt được ý nghĩa của nó (xem Luca 2:50), nhưng Mẹ vẫn lấy "đức tin tuân phục" để "xin vâng" như trong Biến Cố Truyền Tin (xem Luca 1:38), hay như khi Mẹ chứng kiến thấy những dấu lạ Thiên Chúa thực hiện trong cuộc đời của Mẹ, nhưng Mẹ vẫn lưu giữ tất cả những sự ấy mà suy niệm trong lòng, chẳng hạn như sự kiện ba chiêm tinh vương gia đông phương đến bái thờ Hài Nhi Giêsu Con Mẹ (xem Luca 1:19).

Bởi thế, Mẹ thật sự là Mẹ của Chúa Kitô, Lời Nhập Thể cả về phương diện thể lý lẫn phương diện thiêng liêng. Nếu về phương diện tự nhiên, Mẹ đã hạ sinh nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét thuộc giòng dõi Đavít, thì về phương diện siêu nhiên, nhờ đức tin tuân phục của Mẹ, Mẹ đã thụ thai Lời Nhập Thể và Lời Nhập Thể đã chiếm đoạt Mẹ, biến Mẹ thành phương tiện thông ban ơn cứu độ, một ơn cứu độ trước tiên được thông ban cho thai nhi Tiền Hô Gioan Tẩy Giả, qua lời chào đầy Thánh Linh của Mẹ (xem Luca 1:41-44), và sau đó, cũng nhờ lời chuyển cầu thần thế của Mẹ, bằng vai trò trung gian môi giới, Chúa Giêsu lần đầu tiên đã tỏ mình ra cho các môn đệ của Người ở tiệc cưới Cana làm cho các vị tin vào Người (xem Gioan 2:1-11).

Chính nhờ tâm hồn của đầy "đức tin tuân phục" của Mẹ mà chẳng những tâm hồn đầy ân phúc của Mẹ thực sự là Đền Thờ cho Chúa Thánh Thần ngự trị, mà nhờ đó cả thân xác trọn đời trinh nguyên của Mẹ nữa cũng đã hoàn toàn trở thành Đền Thờ vô cùng xứng đáng cho Lời Nhập Thể ẩn ngự trong suốt 9 tháng mở đầu cho cuộc sống trần gian của Người.

Đền Thờ ở tôn giáo nào cũng thế, cũng có tính cách linh thiêng. Đối với dân Do Thái, Đền Thờ chính là nơi Thiên Chúa ngự. Thế nhưng, vì tội lỗi của họ bất trung với Thiên Chúa, với những gì Ngài muốn, được thể hiện qua lề luật Ngài ban, mà Đền thờ Giêrusalem về thể lý đã bị tục hóa và phá hủy bởi dân ngoại, cho đến khi Thiên Chúa muốn tái thiết nó lại, qua trung gian của một vị vua chúa dân ngoại, như trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay cho thấy:

"Trong những ngày ấy, (Vua Ðariô viết thư cho các vị tư lệnh vùng ở bên kia sông Euphrate mà nói rằng:) 'Hãy để cho vị thủ lãnh người Do-thái và các kỳ lão của họ xây cất đền thờ của Thiên Chúa, để đền thờ của Thiên Chúa được xây cất chính nơi cũ. Ta cũng ra lệnh về việc các ngươi phải làm với các bậc Kỳ cựu Do-thái, để tái thiết nhà Thiên Chúa: là phải lấy của trong kho nhà vua, nghĩa là tiền nộp thuế của miền bên kia sông Euphrate, và cẩn thận phân phát cho những người ấy, để công việc không bị trì hoãn. Ta là Ðariô ra sắc chỉ này, ta muốn mọi người ân cần tuân giữ'".

Việc tái thiết Đền Thờ Giêrusalem theo ý định của Thiên Chúa được tiến hành một cách xuông sẻ nhờ sự hợp tác tích cực của dân Ngài, sau khi họ nhận biết lỗi lầm của họ mà trở về cùng Ngài là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ, bằng việc họ nhận biết những gì Ngài muốn và nhiệt thành hưởng ứng cùng chủ động đáp ứng ý muốn của Ngài, theo đúng như luật dạy, về tiêu cực, liên quan đến "lễ đền tội cho cả dân Israel", cũng như, về tích cực, liên quan đến việc "cắt đặt các thầy tư tế theo phẩm trật và các thầy Lêvi theo cấp bậc, để giúp việc đền thờ Thiên Chúa ở Giêrusalem", như Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy:

"Các kỳ lão người Do-thái xây cất đền thờ và công việc tiến hành nhanh chóng, nhờ lời sấm của tiên tri Haggai và tiên tri Giacaria, con ông Addo: họ xây cất và hoàn thành theo lệnh Chúa Israel truyền dạy, và theo lệnh các vua nước Ba-tư là Kyrô, Ðariô và Artaxerxê. Họ hoàn tất việc xây cất nhà Thiên Chúa ngày mồng ba tháng Ađar, năm thứ sáu triều vua Ðariô. Vậy con cháu Israel, các tư tế, các thầy Lêvi, và những người lưu đày còn sống sót, đều vui mừng hiến thánh nhà Thiên Chúa. Trong lễ cung hiến nhà Thiên Chúa, họ dâng một trăm con bò, hai trăm con cừu, bốn trăm con chiên, và để làm lễ đền tội cho cả dân Israel, họ cũng dâng mười hai con dê theo số các chi tộc Israel. Rồi họ cắt đặt các thầy tư tế theo phẩm trật và các thầy Lêvi theo cấp bậc, để giúp việc đền thờ Thiên Chúa ở Giêrusalem, như đã chép trong sách của Môsê. Những con cái Israel lưu đày về mừng lễ Vượt Qua ngày mười bốn tháng thứ nhất. Các thầy tư tế và Lêvi, tất cả như một, đều được thanh tẩy, tất cả đều trong sạch, để sát tế mừng lễ Vượt Qua cho toàn thể dân lưu đày và cho anh em tư tế của họ và chính mình họ".

Bài Đáp Ca hôm nay chất chứa tâm tình của dân Do Thái đối với Thành Thánh Giêrusalem, giáo đô của Do Thái giáo và là biểu tượng cho đức tin của dân Do Thái nơi Thiên Chúa, Đấng ngự trong Đền Thờ Giêrusalem là tâm điểm của thành này và làm nên chính thành này:

1) Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi: "Chúng ta sẽ tiến vào nhà Chúa". Hỡi Giêrusalem, chân chúng tôi đang đứng nơi cửa thành rồi.

2) Giêrusalem được kiến thiết như thành trì, được cấu tạo kiên cố trong toàn thể. Nơi đây các bộ lạc của Chúa tiến lên.

3) Theo luật pháp của Israel, để ngợi khen danh Chúa. Tại đây đã đặt ngai toà thẩm phán, ngai toà của nhà Ðavit.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-----------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 10 of 101