mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2485
mod_vvisit_counterHôm Qua11796
mod_vvisit_counterTuần Này2485
mod_vvisit_counterTuần Trước23895
mod_vvisit_counterTháng Này138412
mod_vvisit_counterTháng Trước353437
mod_vvisit_counterTất cả16628204

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THỨ NĂM CN2MC-C PDF Print E-mail

Thứ Năm CN2MC-C

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA

Bài Ðọc I: Gr 17, 5-10

"Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời; phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa".

Trích sách Tiên tri Giêrêmia.

Ðây Chúa phán: "Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời, họ nương tựa vào sức mạnh con người, còn tâm hồn họ thì sống xa Chúa. Họ như cây cỏ trong hoang địa, không cảm thấy khi được hạnh phúc; họ ở những nơi khô cháy trong hoang địa, vùng đất mặn không người ở. Phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa, và Chúa sẽ là niềm cậy trông của họ. Họ sẽ như cây trồng nơi bờ suối, cây đó đâm rễ vào nơi ẩm ướt, không sợ gì khi mùa hè đến, lá vẫn xanh tươi, không lo ngại gì khi nắng hạn mà vẫn sinh hoa kết quả luôn. Lòng người nham hiểm khôn dò, nào ai biết được? Còn Ta, Ta là Chúa, Ta thấu suốt tâm hồn và dò xét tâm can, trả công cho mỗi người tuỳ theo cách sống và hậu quả hành vi của họ".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 1, 1-2. 3. 4 và 6

Ðáp: Phúc thay người đặt niềm tin cậy vào Chúa (Tv 39, 5a).

Xướng: 1) Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác, không đứng trong đường lối những tội nhân, không ngồi chung với những quân nhạo báng, nhưng vui thoả trong lề luật Chúa, và suy ngắm luật Chúa đêm ngày. - Ðáp.

2) Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa; lá cây không bao giờ tàn úa. Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt. - Ðáp.

3) Kẻ gian ác không được như vậy; họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi, vì Chúa canh giữ đường người công chính, và đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ed 33, 11

Chúa phán: "Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống".

Phúc Âm: Lc 16, 19-31

"Con đã được sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng những người biệt phái rằng: "Có một nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy. Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các thiên thần đem lên nơi lòng Abraham. Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong hoả ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đằng xa có Abraham và Ladarô trong lòng Ngài, liền cất tiếng kêu la rằng:

"Lạy Cha Abraham, xin thương xót tôi và sai Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước để làm mát lưỡi tôi, vì tôi phải quằn quại trong ngọn lửa này. Abraham nói lại: "Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ. Vả chăng, giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn tự đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ đó qua đây được".

Người đó lại nói: "Ðã vậy, tôi nài xin cha sai Ladarô đến nhà cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo họ, kẻo họ cũng phải sa vào chốn cực hình này". Abraham đáp rằng: "Chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các Ngài". Người đó thưa: "Không đâu, lạy Cha Abraham! Nhưng nếu có ai trong kẻ chết về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải". Nhưng Abraham bảo người ấy: "Nếu chúng không chịu nghe Môsê và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu".

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm/ SỐNG VÀ CHIA SẺ

Sự Sống đức tin

Hôm nay, Thứ Năm trong Tuần 2 Mùa Chay, Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca về dụ ngôn Lazarô và người phú hộ, và theo chiều hướng của chung phụng vụ lời Chúa trong ngày, bao gồm cả Bài Đọc 1, thì Giáo Hội không phải chỉ muốn cảnh giác con cái mình về thái độ của nhà phú hộ mà còn kêu gọi họ sống thân phận theo tinh thần của một Lazarô bất hạnh nữa.

Trước hết, thái độ dửng dưng lạnh lùng của người phú hộ trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, và tinh thần sống nhẫn nhục của một Lazarô bất hạnh được Thánh ký Luca thuật lại theo lời Chúa Giêsu diễn tả như thế này:

"Có một nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy".

Tuy nhiên, dụ ngôn "Chúa Giêsu phán cùng những người biệt phái" ấy không phải chỉ cho thấy những gì xẩy ra ở trên trần gian này mà thôi, mà còn liên quan đến cả đời sau về hậu quả tai hại hay thành quả tốt đẹp của những gì con người đã làm trên đời này nữa:

"Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các thiên thần đem lên nơi lòng Abraham. Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong hoả ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đằng xa có Abraham và Ladarô trong lòng Ngài..."

Ở đây, số phận đời đời, một được rỗi là Lazarô và một bị hư đi là người phú hộ, bất khả cứu vãn, bất khả đổi thay, đúng như lời khẳng định của tổ phụ Abraham đã nói với người phú hộ đang ở trong hỏa ngục: "giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn tự đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ đó qua đây được".

Số phận đời đời vô cùng quan trọng này hoàn toàn là kết quả từ cuộc sống trên trần gian của từng người, như được tổ phụ Abraham cho người phú hộ biết như sau: "Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ".

Thế nhưng, số phận đời đời được rỗi của Lazarô hay hư đi của người phú hộ không phải chỉ ở chỗ "chịu khốn khổ" như Lazarô hay "được toàn sự lành" như người phú hộ. Bởi vì, thực tế cho thấy, không phải ai "được toàn sự lành" trên thế gian này đều hư đi như người phú hộ, và cũng không phải ai "chịu khốn khổ" trên đời này đều tự động được rỗi như Lazarô đâu, mà là ở chỗ họ, trong hoàn cảnh may lành hay khốn khổ của họ, có biết thực hiện nguyên tắc "đức tin thể hiện qua đức ái" (Galata 5:6) hay chăng!

Ở dưới hỏa ngục, nơi chỉ toàn là ghen ghét, giống hệt như tâm trạng bất di bất dịch của ma quỉ và nơi ma quỉ, là tác nhân chết chóc và là cha các thứ dối trá (xem Gioan 8:44), thì cả ma quỉ lẫn các linh hồn hư đi ở đó không muốn ai được cứu rỗi, trái lại, chỉ muốn cho tất cả mọi người xuống hỏa ngục với mình và như mình.

Thế mà, người phú hộ ở trong hỏa ngục bấy giờ hình như đã được biến đổi bản tính ghen ghét của hỏa ngục nơi mình, đến độ thay vì ghen ghét lại tỏ ra thương yêu các người thân yêu của mình còn sống trên trần gian này mà lên tiếng van xin cùng tổ phụ Abraham là cha của các kẻ tin (xem Roma 4:11) rằng: "tôi nài xin cha sai Ladarô đến nhà cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo họ, kẻo họ cũng phải sa vào chốn cực hình này... nếu có ai trong kẻ chết về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải".

Cho dù xẩy ra như thế đi nữa, nghĩa là cho dù các linh hồn bị hư đi trong hỏa ngục hay ma quỉ ở đó có biết thương yêu những người còn sống và chỉ muốn cho những người ấy được lên thiên đàng hơn là xuống hỏa ngục như họ và với họ, một sự kiện không thể nào có, không thể nào xẩy ra và không bao giờ xẩy ra chăng nữa, cũng không thể nào cứu được một con người còn sống trên thế gian này, nếu người còn sống ấy không tự mình sống đức tin: "Chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các Ngài... Nếu chúng không chịu nghe Môsê và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu".

Như thế có nghĩa là Lazaro được rỗi sau cuộc đời "chịu khốn khổ" trên đời này là nhờ Lazarô đã sống đức tin, và hình ảnh Lazarô ở trong "lòng Abraham" là cha của các kẻ tin đã chứng thực điều này. Bởi vậy, chúng ta đã không thấy chỗ nào trong dụ ngôn Chúa nói ở bài Phúc Âm hôm nay cho thấy một Lazarô kêu ca, than thân trách phận, hay nguyền rủa người phú hộ, trái lại vẫn cam chịu thân phận bị khinh rẻ và bỏ rơi, cho dù chỉ có một ước muốn vô cùng tầm thường song vẫn không được đáp ứng, đó là "ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy".

Về phần người phú hộ cũng thế, nếu Lazaro "chịu khốn khổ" được cứu rỗi nhờ đức tin của mình thì người phú hộ bị hư đi cũng là do không có đức tin, hay đúng hơn không sống đức tin, một "đức tin thể hiện qua đức ái" (Galata 5:6). Bài Phúc Âm không hề đề cập đến bất cứ một cử chỉ hay hành động nào lỗ mãng của người phú hộ đối với Lazarô, chẳng hạn như chửi bới hay đánh đuổi Lazarô đi, mà chỉ tỏ ra lãnh đạm dửng dưng không chịu giúp đỡ Lazarô là một con người hết sức khốn nạn đáng thương "nằm bên cổng nhà ông", không thể nào ông không thấy, và cho dù có thấy ông vẫn không hề động lòng thương, không hề bố thí cho Lazarô một tí nào, trong khi đó người phú hộ này quá ư là giầu sang hoan hưởng dư thừa: "vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình".

Bài Đọc 1 hôm nay chẳng những thích đáng với một Lazarô khốn khổ mà còn với cả người phú hộ hoan hưởng may lành trong Bài Phúc Âm hôm nay nữa.

Thật vậy, không phải hay sao, người phú hộ trong Bài Đọc 1 hôm nay là thành phần xuất hiện ở phần đầu với những diễn tả không sai về một con người giầu sang phú quí theo tự nhiên hoàn toàn không có đức tin:

"Khốn thay cho kẻ tin tưởng người đời, họ nương tựa vào sức mạnh con người, còn tâm hồn họ thì sống xa Chúa. Họ như cây cỏ trong hoang địa, không cảm thấy khi được hạnh phúc; họ ở những nơi khô cháy trong hoang địa, vùng đất mặn không người ở.

Trong khi đó, Lazarô xuất hiện ở phần thứ hai của Bài Đọc 1 này, những diễn tả rất chí lý và chính xác về đời sống của một con người sống đức tin trong cuộc đời bần cùng khốn khổ của mình:

"Phúc thay cho người tin tưởng vào Thiên Chúa, và Chúa sẽ là niềm cậy trông của họ. Họ sẽ như cây trồng nơi bờ suối, cây đó đâm rễ vào nơi ẩm ướt, không sợ gì khi mùa hè đến, lá vẫn xanh tươi, không lo ngại gì khi nắng hạn mà vẫn sinh hoa kết quả luôn. Lòng người nham hiểm khôn dò, nào ai biết được?"

Câu cuối cùng của Bài Đọc 1 cũng phản ảnh dụ ngôn có hậu, một cái hậu liên quan đến vấn đề thưởng phạt thích đáng và công minh của việc con người làm trên thế gian này, được Chúa Giêsu cảnh giác trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay: "Còn Ta, Ta là Chúa, Ta thấu suốt tâm hồn và dò xét tâm can, trả công cho mỗi người tuỳ theo cách sống và hậu quả hành vi của họ".

Bài Đáp Ca hôm nay cũng tấu lên cùng một lời ca và cùng một nhạc điệu như Bài Đọc 1 về hai thành phần sống trên trần gian này, một theo đức tin và một không theo đức tin, như trường hợp tiêu biểu điển hình là Lazaro và người phú hộ trong Bài Phúc Âm hôm nay:

1) Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác, không đứng trong đường lối những tội nhân, không ngồi chung với những quân nhạo báng, nhưng vui thoả trong lề luật Chúa, và suy ngắm luật Chúa đêm ngày.

2) Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa; lá cây không bao giờ tàn úa. Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt.

3) Kẻ gian ác không được như vậy; họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi, vì Chúa canh giữ đường người công chính, và đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

MC-TuanII-5.mp3

---------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - TAỊ SAO TÔI PHẢI XƯNG TÔI VỚI LM PDF Print E-mail

Tại sao tôi phải xưng tội với một linh mục? Giải thích của Đức Bênêđíctô thứ 16
Đặng Tự Do
19/Mar/2019
Ngày 18 tháng 12 năm 2011, Đức Thánh Cha Bênêđíctô thứ 16 thăm nhà tù Rebibbia của Rôma. Một tù nhân đã đưa ra câu hỏi: “Tại sao tôi phải xưng tội với một linh mục? Xưng tội thẳng với Chúa không tốt hơn sao?”.

Dưới đây là câu trả lời của ngài, được ghi lại trong tập chỉ dẫn việc cử hành 24 giờ cho Chúa được cử hành vào ngày 29 tháng Ba, 2019 của Hội Đồng Tòa Thánh Tái Truyền Giảng Tin Mừng.

Đức Bênêđíctô thứ 16 nói:

Đó là một vấn đề lớn. Có hai lý do cụ thể. Đầu tiên, tất nhiên, nếu tôi quỳ gối xuống và với tình yêu đích thực, khẩn khoản xin Chúa tha thứ cho tôi, thì Ngài sẽ tha thứ cho tôi. Theo giáo lý thường hằng của Giáo hội, những tín hữu nào với lòng sám hối thực sự, nghĩa là không chỉ đơn thuần là để tránh những đau khổ và khó khăn, nhưng vì tình yêu mến những điều thiện hảo và vì tình yêu dành cho Chúa, cầu xin tha thứ, họ chắc chắn sẽ nhận được sự thứ tha của Chúa. Do đó, nếu tôi thực sự thừa nhận rằng tôi đã làm sai, và trong tâm hồn tôi có lòng yêu mến những điều lành thánh và ý chí muốn làm điều tốt được tái sinh, thì Ngài ban cho tôi ơn biết ăn năn vì đã không hành động theo tình yêu này khi tôi đưa ra lời cầu xin Chúa tha thứ cho tôi.

Ngoài ra còn có một lý do thứ hai. Tội lỗi không chỉ là vấn đề “cá vị” của một người, không chỉ là vấn đề cá nhân giữa Chúa với tôi mà thôi. Tội lỗi luôn có chiều kích xã hội, chiều ngang. Cùng với tội riêng của mình, tôi cũng đã làm hỏng sự hiệp thông của Giáo hội. Tôi đã bôi bẩn nhân loại, cho dù có thể không ai biết đến. Và chiều kích xã hội, chiều ngang này của tội lỗi đòi hỏi nó phải được xá giải cả trên bình diện cộng đồng nhân loại, cộng đồng của Giáo hội, một cách gần như là thể lý.

Chiều kích thứ hai của tội lỗi, không chỉ chống lại Thiên Chúa, mà còn liên quan đến cộng đồng, vì thế cần đến Bí tích này. Bí tích Hòa Giải là một ân sủng tuyệt vời, trong đó, bằng cách xưng thú tội lỗi mình, tôi có thể giải thoát bản thân khỏi lỗi lầm này và thực sự nhận được sự tha thứ, cùng với cảm thức được tái hội nhập đầy đủ vào cộng đồng của Giáo hội sống động, là Thân thể của Chúa Kitô. Và, do đó, theo nghĩa này, ơn xá giải bởi một linh mục là cần thiết. Bí tích này không phải là một sự áp đặt nhằm giới hạn lòng nhân lành của Thiên Chúa, nhưng trái lại, là một biểu hiện sống động lòng nhân từ của Ngài bởi vì nó cũng cho tôi thấy một cách cụ thể, trong tình hiệp thông với Giáo hội, rằng tôi đã nhận được sự tha thứ và có thể bắt đầu lại.

Do đó, tôi muốn nói rằng TÍN HỮU nên ghi nhớ hai chiều kích này: chiều dọc, với Chúa và chiều ngang, với cộng đồng của Giáo hội và nhân loại. Ơn xá giải của linh mục là cần thiết để giải thoát tôi thực sự khỏi sự ràng buộc của tội lỗi và tái hòa nhập tôi hoàn toàn vào Giáo hội của Người, và cho tôi sự xác tín, gần như cụ thể rằng qua bí tích này Chúa tha thứ cho tôi và tiếp nhận tôi vào cộng đồng con cái của Ngài.

Tôi nghĩ rằng TIN HỮU phải học cách hiểu Bí tích Hòa giải theo nghĩa này: đó là một cơ hội để tìm thấy, một cách gần như là thể lý, sự nhân lành của Chúa, và sự chắc chắn được thứ tha.

-------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LỄ THÁNH GIUSE 19-3 PDF Print E-mail

HỌC HỎI - CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ LỜI CHÚA: LỄ THÁNH GIUSE 19-3

Bài Ðọc I: 2 Sm 7, 4-5a. 12-14a. 16

"Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu của Ðavít, tổ phụ Người".

Trích sách Samuel quyển thứ hai.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Nathan rằng: "Hãy đi nói với Ðavít tôi tớ Ta rằng: Khi ngày của ngươi đã viên mãn, ngươi sẽ yên nghỉ với các tổ phụ ngươi; sau đó, Ta sẽ cho miêu duệ ngươi lên kế vị và Ta sẽ làm cho triều đại người được vững bền. Chính người sẽ xây cất một ngôi nhà để kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngôi báu triều đại người được củng cố đến muôn đời. Ta sẽ là Cha của người, và người sẽ là con Ta. Nhà của ngươi và triều đại của ngươi sẽ vững chắc đến muôn đời trước mặt Ta, ngôi báu ngươi sẽ vững bền mãi mãi".

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 88, 2-3. 4-5. 27 và 29

Ðáp: Miêu duệ người tồn tại đến muôn đời (c. 37).

Xướng: 1) Tôi sẽ ca ngợi tình thương của Chúa tới muôn đời; qua mọi thế hệ, miệng tôi loan truyền lòng trung thành Chúa. Vì Ngài đã phán: "Tình thương của Ta đứng vững muôn đời"; trên cõi trời cao, Ngài thiết lập lòng trung tín. - Ðáp.

2) Ta đã ký minh ước cùng người ta tuyển lựa, Ta đã thề cùng Ðavít là tôi tớ của Ta rằng: "Cho tới muôn đời Ta bảo tồn miêu duệ của ngươi, và Ta thiết lập ngai báu ngươi qua muôn thế hệ". - Ðáp.

3) Chính người sẽ thưa cùng Ta: "Chúa là Cha con, và Thiên Chúa là Ðá Tảng cứu độ của con". Ðời đời Ta sẽ dành cho người lòng sủng ái, và lời ước Ta ký với người sẽ được mãi mãi duy trì. - Ðáp.

Bài Ðọc II: Rm 4, 13. 16-18. 22

"Mặc dầu tuyệt vọng, ông vẫn tin".

Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, không phải nhờ lề luật mới có lời hứa ban cho Abraham hay dòng dõi của ông trở nên kẻ thừa kế thế gian, nhưng là nhờ sự công chính của đức tin. Vì thế, do đức tin, được coi như là theo ân sủng, lời hứa cho mọi dòng dõi được vững bền, không phải chỉ cho kẻ sinh bởi lề luật, mà còn cho kẻ sinh bởi đức tin của Abraham, tổ phụ của mọi người chúng ta, (như có lời chép rằng: Ta đã đặt ngươi làm cha nhiều dân tộc) trước mặt Thiên Chúa, Ðấng ông đã tin, Ðấng cho kẻ chết sống lại, và kêu gọi cái không có như có. Mặc dầu tuyệt vọng, ông vẫn tin rằng mình sẽ trở thành cha nhiều dân tộc, như có lời đã phán với ông rằng: "Dòng dõi ngươi sẽ như thế". Vì vậy, ông đã được kể như sự công chính.

Ðó là lời Chúa.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Tv 83, 5

(Mùa Chay: bỏ Alleluia)

Alleluia, alleluia! - Lạy Chúa, phúc cho những ai ngụ nơi nhà Chúa, họ sẽ khen ngợi Chúa đến muôn đời. - Alleluia.

Phúc Âm: Mt 1, 16. 18-21. 24a

"Giuse đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Giacóp sinh Giuse là bạn của Maria, mẹ của Chúa Giêsu gọi là Ðức Kitô. Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần. Giuse bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, nên định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo. Nhưng đang khi định tâm như vậy, thì Thiên thần hiện đến cùng ông trong giấc mơ và bảo: "Hỡi Giuse con vua Ðavít, đừng ngại nhận Maria về nhà làm bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần; bà sẽ sinh hạ một con trai mà ông đặt tên là Giêsu: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội". Khi tỉnh dậy, Giuse đã thực hiện như lời Thiên thần Chúa truyền.

Ðó là lời Chúa.

- - - - - - - - - - - - - -

Hoặc: Lc 2, 41-51a

"Kìa cha Con và mẹ đây đã đau khổ tìm Con".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Hằng năm cha mẹ Chúa Giêsu có thói quen lên Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua. Lúc bấy giờ Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, cha mẹ Người đã lên Giêrusalem, theo tục lệ mừng ngày lễ Vượt Qua. Và khi những ngày lễ đã hoàn tất, hai ông bà ra về, trẻ Giêsu đã ở lại Giêrusalem mà cha mẹ Người không hay biết. Tưởng rằng Người ở trong nhóm các khách đồng hành, hai ông bà đi được một ngày đàng, mới tìm kiếm Người trong nhóm bà con và những kẻ quen biết. Nhưng không gặp thấy Người, nên hai ông bà trở lại Giêrusalem để tìm Người.

Sau ba ngày, hai ông bà gặp thấy Người trong đền thờ đang ngồi giữa các thầy tiến sĩ, nghe và hỏi các ông. Tất cả những ai nghe Người nói, đều ngạc nhiên trước sự hiểu biết và những câu Người đáp lại. Nhìn thấy Người, hai ông bà ngạc nhiên, và mẹ Người bảo Người rằng: "Con ơi, sao Con làm cho chúng ta như thế? Kìa cha Con và mẹ đây đã đau khổ tìm Con". Người thưa với hai ông bà rằng: "Mà tại sao cha mẹ tìm con? Cha mẹ không biết rằng con phải lo công việc của Cha con ư?" Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói. Bấy giờ Người theo hai ông bà trở về Nadarét, và Người vâng phục hai ông bà.

Ðó là lời Chúa.

Vị Quan Thày Lao Động và “Linh Đạo làm việc”

(ĐTC Biển Đức XVI)

1. Hôm nay chúng ta cử hành lễ trọng kính Thánh Giuse, vị hôn phu của Mẹ Maria (x Mt 1:24; Lk 1:27). Phụng vụ diễn tả Ngài là “cha” của Chúa Giêsu (x Lk 2:27,33,41,43,48), sẵn lòng thực thi các dự án thần linh, ngay cả khi những dự án này vượt quá tầm mức hiểu biết loài người. Nơi “người con Vua Đavít” (Mt 1:20; Lk 1:27) này, Sách Thánh được nên trọn và Lời Hằng Sống đã làm người, bởi quyền năng Thánh Linh, trong cung lòng của Trinh Nữ Maria. Thánh Giuse được Phúc Âm diễn tả như là “một con người công chính” (Mt 1:19), và Ngài là mẫu gương sống đức tin cho tất cả mọi tín hữu.

2. Chữ “công chính” nói lên tính cách cương trực về luân lý của Ngài, việc Ngài chân thành gắn bó với việc thực hành lề luật cũng như thái độ hoàn toàn cởi mở trước ý muốn của Cha trên trời. Ngay cả trong những lúc khó khăn, vào những lúc thảm cảnh, người thợ mộc khiêm hạ thành Nazarét này cũng không bao giờ chiếm cho mình thứ quyền thách đố dự án của Thiên Chúa. Ngài chờ đợi tiếng gọi từ trên cao và âm thầm tôn kính mầu nhiệm ấy, bằng cách để cho Chúa hướng dẫn. Một khi lãnh nhận công việc, Ngài thi hành với tất cả trách nhiệm thành tín: Ngài chuyên chú lắng nghe thiên thần khi được yêu cầu nhận Trinh Nữ Nazarét làm hiền thể của Ngài (x Mt 1:18-25), trong cuộc trốn sang Ai Cập (x Mt 2:13-15) cũng như trong cuộc trở về Do Thái (x Ibid 2:19-23). Qua một số giòng chữ, tuy ít nhưng quan trọng, các vị thánh ký đã cho thấy Ngài như là một vị bảo quản ân cần của Chúa Giêsu, một phu quân lưu tâm và trung tín, vị thi hành quyền bính của mình trong gia đình bằng một thái độ phục vụ liên lỉ. Sách Thánh không nói cho chúng ta biết hơn nữa về Ngài, nhưng trong cái câm nín này đã gói ghém chính kiểu cách sứ vụ của Ngài, đó là một cuộc hiện hữu được sống động trong âm thầm của cuộc sống hằng ngày, nhưng bằng một đức tin vững chắc vào Đấng Quan Phòng.

3. Hằng ngày Thánh Giuse phải cung ứng các nhu cầu của gia đình bằng việc làm chân tay khó nhọc của Ngài. Vì lý do này, Giáo Hội đã có lý để đặt Ngài là quan thày của thành phần lao động.

Bởi thế, lễ trọng hôm này cũng là một cơ hội rất thuận lợi để suy nghĩ về tầm quan trọng của việc làm trong đời sống con người, nơi gia đình cũng như ngoài cộng đồng.

Con người là chủ thể và là vai chính của việc làm, và theo chiều hướng của sự thật này, người ta có thể dễ dàng nhận thức được cái liên hệ trọng yếu hiện hữu giữa con người, việc làm và xã hội. Hoạt động của con người, theo Công Đồng Chung Vaticanô II, được phát xuất từ con người và qui hướng về con người. Theo ấn định và ý muốn của Thiên Chúa, nó phải phục vụ thiện ích thực sự của nhân loại và giúp cho “con người, là một cá nhân cũng như là một phần tử của xã hội, có thể vun trồng và thực thi ơn gọi toàn diện của mình” (x Vui Mừng Và Hy Vọng, 35).

Để làm trọn công việc này, cần phải vun trồng “một linh đạo thực sự của việc làm nhân bản” được sâu xa bắt nguồn từ “Phúc Âm làm việc”, và là một linh đạo các tín hữu được kêu gọi để loan truyền và làm chứng cho ý nghĩa việc làm theo Kitô Giáo trong các hoạt động nghề nghiệp khác nhau của họ (x Thông Điệp Laborens Exercens, 26).

4. Chớ gì Thánh Giuse, một vị thánh cao cả và khiêm hạ, trở thành một mẫu gương khiến thành phần lao động Kitô hữu noi theo bắt chước, kêu cầu Ngài trong hết mọi hoàn cảnh. Hôm nay đây, Tôi xin ký thác cho vị bảo quản ân cần Thánh Gia Nazarét này giới trẻ, thành phần đang sửa soạn cho một tương lai nghề nghiệp, thành phần thất nghiệp và những ai đang phải chịu khốn khó vì thiếu nghề nghiệp, các gia đình và toàn thế giới của việc làm cùng với những mong đợi và thách đố, những trục trặc và chiều kích của nó.

Xin Thánh Giuse, quan thầy chung của Giáo Hội, trông coi toàn thể cộng đồng giáo hội, và như một con người thực sự của hòa bình, cầu cho toàn thể nhân loại, nhất là cho những người đang bị đe dọa trong thời gian chiến tranh này đây, tặng ân thái hòa và bình an cao quí.

Anh Chị Em thân mến,

Thánh Giuse là vị chúng ta long trọng mừng lễ hôm nay đây, là gương mẫu sống đức tin. Là vị bảo vệ Thánh Gia, “con người công chính” (Mt 1:19) này là một con người lao động khiêm tốn, và là một phu quân và thân phụ trung thành. Đời sống của Ngài cho chúng ta thấy một lòng tin tưởng bất khả chuyên thay vào Đấng Quan Phòng thần linh.

Thánh Giuse sẵn sàng thực hiện dự án của Thiên Chúa giành cho Ngài cũng như cho Mẹ Maria, ngay cả khi dự án này dường như vượt trên mức độ hiểu biết của loài người.

*SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐÔNG: Giáo Hội cũng cử hành mừng Thánh Giuse là Quan Thày của Thành Phần Lao Động nữa. Trong một thế giới toàn cầu hóa hôm nay đây, TÔI cần phải nhắc nhở mình là phẩm vị của con người phải đóng vai trò quan trọng chính yếu nơi tất cả mọi thứ phát triển về xã hội cũng như kinh tế. Là một con người của hòa bình, BẠN hãy cầu với Thánh Giuse cho những ai đang bị de dọa bởi chiến tranh và kêu cầu tặng ân thái hòa cao quí cho toàn thể gia đình nhân loại.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch từ theo tài liệu của Tòa Thánh được Zenit phổ biến ngày 19/3/2003.

Nếu có thể xin nghe bài chia sẻ ở cái link dưới đây:

LeThanhGiuse.mp3

---------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - THỨ HAI CN2MC-C PDF Print E-mail

Thứ Hai CN2MC-C

HỌC HỎI- CẢM NGHIỆM SỐNG VÀ CHIA SẺ BÁNH SỰ SỐNG Lời Chúa

Bài Ðọc I: Ðn 9, 4b-10

"Chúng con đã phạm tội và đã làm điều gian ác".

Trích sách Tiên tri Ðaniel.

Lạy Chúa là Thiên Chúa cao cả và đáng kính sợ, Ðấng giữ lời giao ước và lòng từ bi đối với những ai kính mến Người và tuân giữ những giới răn của Người. Chúng con đã phạm tội và làm điều gian ác; chúng con đã bỏ các giới răn và lề luật Chúa. Chúng con đã không nghe lời các tiên tri tôi tớ Chúa, những người đã nhân danh Chúa nói với các vua chúa, thủ lãnh, cha ông và toàn dân trong xứ chúng con. Lạy Chúa, sự công chính thuộc về Chúa, còn phần chúng con là phải chịu hổ mặt như ngày hôm nay, chúng con là những người thuộc dòng dõi Giuđa, những dân cư ở Giêrusalem, toàn dân Israel, những kẻ gần xa, sống trong mọi nước mà Chúa đã phân tán họ tới đó, vì tội ác mà họ đã phạm nghịch cùng Chúa. Lạy Chúa, điều dành cho chúng con, các vua chúa, thủ lãnh, cha ông chúng con là phải chịu hổ mặt, vì đã phạm tội. Lòng từ bi và tha thứ thuộc về Chúa là Thiên Chúa chúng con, vì chúng con phản bội cùng Chúa. Chúng con đã không vâng theo tiếng Chúa là Thiên Chúa chúng con, để sống theo lề luật mà Chúa đã dùng các tiên tri, tôi tớ Chúa, rao giảng cho chúng con.

Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 78, 8. 9. 11 và 13

Ðáp: Lạy Chúa, xin đừng xử với chúng con như chúng con đáng tội (Tv 102, 10a).

Xướng: 1) Xin đừng nhớ lỗi tiền nhân để trị chúng con; xin kíp mở lòng từ bi đón nhận chúng con, vì chúng con lầm than quá đỗi! - Ðáp.

2) Ôi Thiên Chúa, Ðấng cứu độ chúng con, xin phù trợ chúng con vì vinh quang danh Chúa; xin giải thoát và tha tội chúng con vì danh Ngài. - Ðáp.

3) Xin cho tiếng tù binh rên siết vọng tới thiên nhan; xin ra tay thần lực giải thoát người mang án tử. Phần chúng con là thần dân Chúa, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi, chúng con sẽ ca tụng Chúa tới muôn đời; đời nọ sang đời kia, chúng con loan truyền lời ca khen Chúa. - Ðáp.

Câu Xướng Trước Phúc Âm: Ga 3, 16

Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một của Người; mọi kẻ tin Ngài, thì được sống đời đời.

Phúc Âm: Lc 6, 36-38

"Hãy tha thứ thì các con sẽ được thứ tha".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Ðấng nhân từ. Ðừng xét đoán thì các con khỏi bị xét đoán; đừng kết án thì các con khỏi bị kết án. Hãy tha thứ, thì các con sẽ được tha thứ. Hãy cho thì sẽ cho lại các con: Người ta sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo các con. Vì các con đong bằng đấu nào, thì cũng được đong trả lại bằng đấu ấy!"

Ðó là lời Chúa.

Suy niệm

Ngày Thứ Hai trong Tuần 2 Mùa Chay hôm nay, chủ đề "Tôi đã tự ý bỏ sự sống mình đi để lấy nó lại" (Gioan 10:17) cho toàn Mùa Chay bao gồm cả Tuần Thánh được phản ảnh trong phụng vụ lời Chúa trong ngày, ở chỗ nhờ việc Người "đã tự ý bỏ sự sống mình đi" bằng cuộc khổ nạn và tử giá của Người mà Người đã "lấy nó lại" nơi việc làm cho con người nhờ đó có thể nhận biết Lòng Thương Xót của Cha Người mà được "sự sống và là sự sống viên mãn hơn" (Gioan 10:10) của Người và với Người.

Thật vậy, trong Bài Phúc Âm hôm nay, "Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: 'Các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Ðấng nhân từ. Ðừng xét đoán thì các con khỏi bị xét đoán; đừng kết án thì các con khỏi bị kết án. Hãy tha thứ, thì các con sẽ được tha thứ. Hãy cho thì sẽ cho lại các con: Người ta sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc và đầy tràn mà đổ vào vạt áo các con. Vì các con đong bằng đấu nào, thì cũng được đong trả lại bằng đấu ấy!'"

Nội dung của Bài Phúc Âm hôm nay, cũng là những gì Chúa Giêsu muốn nói hay muốn dạy trong Bài Phúc Âm hôm nay, đó là huấn dụ các môn đệ của Người làm sao để cho thể sống "nhân từ như Cha các con là Ðấng nhân từ", một đời sống "nhân từ như Cha" được thể hiện hay được chứng tỏ ở những hành động, về phần tiêu cực: "Ðừng xét đoán ... đừng kết án", và về phần tích cực "hãy cho" đi một cách đầy đặn, một cách "tràn đầy", đến độ "như Cha các con là Ðấng nhân từ".

Đúng thế, để biết được mình có thật sự "nhân từ" hay "thương xót" chăng, và "nhân từ" hay "thương xót" đến đâu, có trọn vẹn và hoàn toàn chăng, cần phải căn cứ vào mẫu mực tối hậu của "nhân từ", của "thương xót" là chính "Cha các con là Ðấng nhân từ / thương xót".

Trước hết, về phần tiêu cực, liên quan đến việc "Ðừng xét đoán ... đừng kết án", nếu Thiên Chúa mà "xét đoán" và "kết án" thì chẳng có một tạo vật "nhân vô thập toàn" nào thoát khỏi ánh mắt vô cùng nghiêm minh thưởng phạt của Ngài, trái lại, Ngài đã "nhân từ", đã "thương xót" thành phần loài người vô cùng thấp hèn và khốn nạn trước nhan Ngài mà đã dám cả gan xúc phạm đến Ngài là Đấng vô cùng thánh hảo và uy nghi cao cả.

Và thực sự là thế, đến độ Thiên Chúa là "Cha thương xót" chẳng những không "đoán xét" và "kết án" con người chỉ là một tạo vật mà đã cả gan phạm thượng, ở chỗ đã dám nghe theo tên dối trá quay ra bất tuân ý muốn chân thật và thiện hảo tối thượng của Ngài, ngược lại, Ngài còn vô cùng cảm thương và cứu độ họ nữa, bằng cách, đã "kết án" chính Con Một của mình là Bản thân Ngài, ở chỗ, Ngài "đã không dung tha cho Con Một của mình, một đã phó nộp Người vì tất cả chúng ta" (Roma 8:32), đến độ "vì chúng ta Thiên Chúa đã làm cho Đấng không biết đến tội lỗi thành tội lỗi để trong Người chúng ta được trở nên chính sự thánh thiện của Thiên Chúa" (1Corinto 5:21).

Sau nữa, về phần tích cực, liên quan đến việc "cho" đi một cách đầy đặn bằng "đấu hảo hạng, đã dằn, đã lắc" còn một cách "đầy tràn", "Cha các con là Ðấng nhân từ / thương xót" cũng đã làm gương và đã thực hiện ở chỗ, chẳng những "đã yêu thế gian đến ban Con Một của mình, để những ai tin vào Người thì không phải chết nhưng được sự sống" (Gioan 3:16), mà nhất là ở chỗ ban Thánh Linh của Ngài cho Giáo Hội là Nhiệm Thể Con của Ngài, để nhờ Giáo Hội chứng nhân của Con Ngài mà "canh tân bộ mặt trái đất" (Thánh Vịnh 104:30) như Ngài mong muốn thành một "trời mới đất mới" (Khải Huyền 21:1).

Thiên Chúa là "Cha nhân từ / thương xót" đã ban Thánh Linh của Ngài cho chung Giáo Hội cũng như cho từng chi thể của Nhiệm Thể Giáo Hội. Ở chỗ, Chúa Cha đã ban Thánh Thần của Ngài qua việc Chúa Kitô Thăng Thiên từ Cha sai Thánh Thần đến với chung Giáo Hội của Người nơi biến cố Thánh Thần Hiện Xuống trên các vị tông đồ ở Giêrusalem vào ngày Lễ Ngũ Tuần (xem Tông Vụ 2:1-4; Gioan 15:26:).

Chúa Cha, nơi Phép Rửa được Giáo Hội thừa tác cử hành và ban phát các mầu nhiệm thánh, cũng đã ban Thánh Thần của Ngài cũng là của Chúa Giêsu Kitô đang ngự bên hữu Ngài cho từng Kitô hữu là phần thể của Nhiệm Thể Giáo Hội Chúa Kitô, ở chỗ: "tình yêu của Thiên Chúa được tuôn đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần là Đấng được ban cho chúng ta" (Roma 5:5).

Và chỉ nhờ Thánh Thần được "Cha nhân từ / thương xót" ban cho chung Giáo Hội cũng như cho riêng mỗi Kitô hữu mà Nhiệm Thể Chúa Kitô mới có thể được "Thần Chân Lý ... dẫn vào tất cả sự thật" (Gioan 16:13) là Chúa Kitô, nhờ đó Giáo Hội mới có thể được sâu xa hiệp thông thần linh với Cha và Con (xem Gioan 16:14) cùng nên một như Cha và Con (xem Gioan 17:21), và nhờ đó Giáo Hội mới có thể thông ban "sự sống viên mãn" của mình cho thế giới bằng chứng từ của mình về Chúa Kitô cho tới tận cùng trái đất (xem Gioan 15:26 và Tông Vụ 1:8).

Vị Thiên Chúa là "Cha nhân từ / thương xót" quả thực đã từng tỏ hiện bản chất "nhân từ / thương xót" này của Ngài ra nơi lịch sử cứu độ của dân Do Thái, như chính họ đã cảm nhận thấy thế trong Bài Đọc 1 được trích từ Sách Tiên Tri Đaniên hôm nay: "Lạy Chúa là Thiên Chúa cao cả và đáng kính sợ, Ðấng giữ lời giao ước và lòng từ bi đối với những ai kính mến Người và tuân giữ những giới răn của Người".

Và sở dĩ dân Do Thái cảm nhận được Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ "nhân từ / thương xót" là vì:

1- Trong khi họ phản bội Ngài và bất tuân lệnh Ngài:

"Chúng con đã phạm tội và làm điều gian ác; chúng con đã bỏ các giới răn và lề luật Chúa. Chúng con đã không nghe lời các tiên tri tôi tớ Chúa, những người đã nhân danh Chúa nói với các vua chúa, thủ lãnh, cha ông và toàn dân trong xứ chúng con".

2- Ngài vẫn "công chính" ở chỗ không bỏ họ, chứ không bất chính như họ ở chỗ họ bỏ Ngài, và chính vì họ bỏ Ngài mà họ đã phải gánh chịu hậu hoạn của việc họ làm:

"Lạy Chúa, sự công chính thuộc về Chúa, còn phần chúng con là phải chịu hổ mặt như ngày hôm nay, chúng con là những người thuộc dòng dõi Giuđa, những dân cư ở Giêrusalem, toàn dân Israel, những kẻ gần xa, sống trong mọi nước mà Chúa đã phân tán họ tới đó, vì tội ác mà họ đã phạm nghịch cùng Chúa. Lạy Chúa, điều dành cho chúng con, các vua chúa, thủ lãnh, cha ông chúng con là phải chịu hổ mặt, vì đã phạm tội".

3- Hơn thế nữa, trái lại, Ngài còn thương cảm và thương xót họ, bằng cách theo đuổi họ để đánh động họ và lôi kéo họ về với Ngài:

"Lòng từ bi và tha thứ thuộc về Chúa là Thiên Chúa chúng con, vì chúng con phản bội cùng Chúa. Chúng con đã không vâng theo tiếng Chúa là Thiên Chúa chúng con, để sống theo lề luật mà Chúa đã dùng các tiên tri, tôi tớ Chúa, rao giảng cho chúng con".

Nếu dân Do Thái tỏ ra nhận biết tội lỗi của mình trong Bài Đọc 1 hôm nay, thì trong Bài Đáp Ca cùng ngày này, họ đã bày tỏ tấm lòng tan nát khiêm cung của họ nhận biết Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ là vị Thiên Chúa "nhân từ / thương xót", vị Thiên Chúa cứu độ của họ, cứu họ vì danh của Ngài hơn là chấp tội họ, nên Ngài đáng muôn đời chúc tụng ngợi khen:

1) Xin đừng nhớ lỗi tiền nhân để trị chúng con; xin kíp mở lòng từ bi đón nhận chúng con, vì chúng con lầm than quá đỗi!

2) Ôi Thiên Chúa, Ðấng cứu độ chúng con, xin phù trợ chúng con vì vinh quang danh Chúa; xin giải thoát và tha tội chúng con vì danh Ngài.

3) Xin cho tiếng tù binh rên siết vọng tới thiên nhan; xin ra tay thần lực giải thoát người mang án tử. Phần chúng con là thần dân Chúa, là đoàn chiên Chúa chăn nuôi, chúng con sẽ ca tụng Chúa tới muôn đời; đời nọ sang đời kia, chúng con loan truyền lời ca khen Chúa.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL. Nếu có thể xin nghe chia sẻ theo cảm hứng hơn là đọc lại bài chia sẻ trên

MC.Tuan.II-2.mp3

-------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LM NGÔ TÔN HUẤN PDF Print E-mail

CON NGƯỞI CÓ CẦN PHẢI CỘNG TÁC VÀO ƠN CỨU ĐỘ ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI KHÔNG ?
Hỏi :
Xin cha cho biết tại sao chúng ta phải làm việc lành , xa tránh tội để được cứu rỗi. mặc dù Thiên Chúa là tình thương và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu là quá đủ cho con người được cứu rỗi.
Trả lời :
Vấn để cứu rỗi là vẫn đề vô cùng hệ trọng cho những ai có niêm tin Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành , Đấng đã tạo dựng con người và mọi loài mọi vật hữu hình và vô hình không phải vì lợi ích riêng nào của Chúa mà chỉ vì Người muốn chia sẻ hạnh phúc và niềm vui vĩnh cửu của Chúa cho con cái loài người mà thôi.
Đây là điều chúng ta phải tin chắc để không ai có thể nghĩ lầm là Thiên Chúa có lợi lộc gì khi tạo dựng con người trên trần thế này.
Thật vậy, Thiên Chúa là tình thương, là “ Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” Như Thánh Phaolô đã quả quyết.( 1 Tim 2 :4)
Dầu vậy, ơn cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu và tình thương của Chúa Cha không tự động ban phát cho con người mà không cần đòi hỏi xem con người có muốn lãnh nhận hay không và phải làm gì nữa về phía con người để xứng đáng nhận ơn cực trọng này. Sở dĩ thế, vì con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng riêng cho con người và luôn tôn trọng cho con người xử dụng để hoặc chọn sống, theo đường lối của Chúa và bước đi theo Chúa Kitô là “con Đường là Chân lý và là Sự Sống” ( Ga 14:6) hay khước từ Chúa để sống theo thế gian, chiều theo những khuynh hướng xấu của băn năng nhất là đầu hàng trước những cám dỗ tinh quái của ma quỉ , kẻ thù của chúng ta ví như “ sư tử rảo quanh tìm mồi cắn sé.” Như Thánh Phêrô đã cảnh báo ( 1 Pr) để làm những sự dữ như giết người, giết thai nhi, oán thù ,gây chiến, chém giết dân lành, trẻ em. hãm hiếp phụ nữ, dâm ô ,thác loạn ,thay chồng đổi vợ, và dửng dưng trước sự nghèo đói của những người kém may mắn hơn mình...thì chắc chắn những ai sống như vậy đã đi ngược lại tình thương và đường lối của Chúa và làm hư công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, “Đấng đã đến trần gian làm Con Người để hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” ( Mt 20: 28)
Nói rõ hơn, dù Thiên Chúa là tình thương và muốn cho mọi người được cứu độ, và dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là quá đủ cho con người được cứu độ. Nhưng nếu ai sống và làm những sự dữ nói trên ,mà không biết ăn năn sám hổi để xin tha thứ, thì đã công khai chối bỏ tình thương của Chúa Cha và làm hư công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu . Đó là lý do tai sao Chúa đã nói với các môn đệ Người xưa kia như sau :
“ không phải bất cứ ai nói với Thầy : lậy Chúa ! lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, mà chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi.” ( Mt 7: 21)
Làm theo ý của Chúa Cha có nghĩa cụ thể là yêu mến Chúa trên hết mọi sự, yêu anh chị em như chính mình và xa tránh mọi tội lỗi, mọi sự dữ, vì tội xúc phạm bản chất yêu thương, công bình và thánh thiện của Chúa.Tuy nhiên, đừng ai quên điều rất quan trọng này là Chúa ghét mọi tội lỗi nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết ăn năn sám hối và xin tha thứ.
Bằng chứng là lời sau đây của Chúa Giêsu nói với mấy người biệt phái đến hỏi Chúa xem có phải những người ở Ga-li-lê-a bị Tổng Trấn Philatô giết chết và tám người khác bị thác nước Si-lô- a đổ xuống đè chết, có phải vì họ là những người tội lỗi hơn người khác không , Chúa đã trả lời họ như sau:
“ không phải thế đâu.Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy.” ( Lk 13:5 )
Sám hối có nghĩa là thành thật nhìn nhận tội lỗi mình đã phạm và còn tin tưởng nơi lòng sót thương tha thứ của Chúa để chậy đến xin Người thứ tha,thì chắc chắn sẽ được Chúa thương tha thứ , trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần thì sẽ chẳng bao giờ được tha, như Chúa Giêsu đã phán dạy. Xin nhắc lại tội phạm đến Chúa Thánh Thần là tội hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và tình thương tha thứ của Người.Nhờ Chúa Thánh Thần ta nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, nên chối bỏ Thiên Chúa và tình thương của Chúa là xúc phạm đến Chúa Thánh Thần, và đây là tội không thể tha thứ được nữa. ( Mc 3: 28-29)
Thiên Chúa rất nhân từ, hay thuơng xót và tha thứ.Nhưng muốn được cứu rỗi để vào Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng, thì trước hết phải tin tưởng lòng thương xót của Chúa Cha , cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô và cộng tác với ơn này qua nỗ lực chừa bỏ mọi tội lỗi, vì chỉ có tội mới đẩy con người ra khỏi tình thương của Chúa và khiến cho công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô trở nên vô ích cho những ai một mặt cứ nói tin yêu Chúa trong khi mặt khác, lại quay lưng lại với Chúa để làm những sự dữ sự tội như căm thù, giết người, giết thai nhi, gian manh trộm cướp, hiếp dâm, ngoại tình, thay vợ đổi chồng, và dửng dưng trước sự đau khổ nghèo đói của biết bao người kém may mắn hơn mình ở khắp nơi trong xã hội và cộng đồng thế giới...Do đó, thực thi bác ái để thương giúp những người đói khổ này là thực thi bác ái với chính Chúa Giêsu đang hiện diện thực sự nơi những nạn nhân của bất công của xã hội,của thân phận con người và thách đố chúng ta thi hành bác ái đối với các nạn nhân này. ( xem dụ ngôn ngày phán xét cuối cùng trong Tin Mừng Thánh Matthêu, chương 25)
Như thế, nếu ai xử dụng ý muốn tự do ( free will) của mình để đi hàng hai là một đàng nói tin yêu Chúa , nhưng đàng khác lại có lối sống đi ngược lại với tình thương, công bình và thánh thiện của Chúa thì chắc chắn Chúa không thể cứu người đó được, mặc dù Chúa là tình thương ,công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là quá đủ cho con người được cứu độ.Những ai có lối sống như vậy, thì hãy nghe lại lời Chúa Kitô đã cảnh cáo trong Sách Khải Huyền như sau:
“ Ta biết các việc người làm: ngươi chẳng nóng mà cũng chẳng lạnh .Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi cứ hâm hâm,chẳng nóng
Chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta” ( Kh 3: 15-16)
Nghĩa là tình thương của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc cực trọng của Chúa Con không bao giờ là cái bình phong lá chắn để che chở cho ai lợi dụng để đi hàng hai và không có thiện chí cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa để không nỗ lực xa tránh hay từ bỏ mọi tội lỗi như Chúa đòi hỏi mọi người chúng ta:
“ Ai yêu mến Thầy, thì sè giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy...”(Ga 14:23)
Qua những lời trên đây, Chúa Giêsu đã đồng hóa việc yêu mến Chúa với việc tuân giử các lề luật của Chúa được tóm tắt trong hai điều răn quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người.Hai điều răn này cũng là điều kiện cho chúng ta được cứu độ để vào Nước Trời hưởng phúc Thiền Đàng. Thật là nghịch lý nếu ta muốn sống đẹp lòng Chúa và được cứu độ mà lại không thực hành hai điều răn quan trọng đó.
Nếu Chúa không đòi hỏi con người cộng tác vào ơn cứu độ để xa tránh tội lỗi và sống theo đường lối của Chúa, thì Chúa đã không quở trách dân Do Thái xưa như sau:
“ Suốt bốn mươi năm trường, dòng giống này làm Ta chán ngán
Chúng nào biết đến đường lối của Ta
Nên Ta mới thịnh nộ thề rằng
Chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Ta” ( Tv 95: 10-11)
Thiên Chúa quở trách dân Do Thái như trên vì họ đã dùng tự do để quay lưng lại với Chúa để sống trái ngược với đường lối của Người.
Như thế rõ ràng Chúa muốn con người phải cộng tác với ơn Chúa để được cứu độ mà vào hưởng phúc Thiên Đàng với Chúa trên Nước Trời vĩnh cửu.
Chúa mong muốn như vậy, nhưng không bắt buộc ai phải yêu mến Người và sống theo Đường lối của Người , vì con người có tự do để chọn Chúa và sống theo đường lối của Người hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng mình, đầu hàng ma quỉ và thỏa hiệp với thế gian để làm những sự dữ như giết người, giết thai nhi, căm thù chia rẽ, bất công tàn bạo, dâm ô, thay chồng đổi vợ...như thực trạng sống của biết bao con người trên thế gian vô luân tục hóa ngày nay.
Nếu họ cứ sống như vậy thì dù miệng có nói tin yêu Chúa cả trăm ngàn lần thì cũng vô ích mà thôi. Lời nói phải đi đôi với việc làm. Đức tin phải có hành động cụ thể tương xứng đi kèm để chuwsg minh thì mới có giá trị cứu rỗi. Nên nếu muốn bước đi theo Chúa Kitô “là Con Đường là sự Thật và là Sự Sống.”( Ga 14:6 )Thì nhất thiết phải có can đảm từ khước mọi mời mọc lôi cuốn của thế gian, nhất là những cám dỗ tinh quái của ma quỉ, kẻ thù nguy hiểm nhất cho phần rỗi của mọi người chúng ta. Thánh Phêrô đã ví ma quỉ như “những sư tử đói gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé”( 1 Pr 5:8 ) tức là cám đỗ cho chúng ta phạm tội để mất hy vọng được cứu rỗi, vì :
“ ai phạm tội thì là người của ma quỷ
Vì ma quỷ phạm tội từ lúc khởi đầu
Sở dĩ Con Thiên Chúa xuât hiện
Là để phá công việc của ma quỉ.” ( 1Ga 3: 8)
Cho nên, ai muốn thuộc về Chúa, yêu Chúa thật sự thì phải chống lại ma quỉ để không bị cám dỗ làm những sự dữ, sự tội như oán thù, giận dữ, giết người, giết thai nhi, ngoại tình, dâm ô thác loạn, bất công bạo tàn , kỳ thị chủng tộc ,gây chiến khiến cho dân lành vô tội bị giết và cướp tài sản của người khác...tất cả là những tội làm mất lòng Chúa và mất hy vọng được cứu rỗi để vào Nước Trời hưởng phúc Thiên Đàng vĩnh cửu với Chúa là cội nguồn của mọi vui thú, giầu sang và hạnh phúc bất diệt.
Ngược lại, hãy dùng tự do của mình mà chọn Chúa , sống theo đường lối của Người và bước đi theo Chúa Kitô là “ Con Đường, là sự Thật và là sự Sống.” ( Ga 14:6 ) thì chắc chắn sẽ được cứu độ để sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời là Vương Quốc của bình an, công bình và thánh thiện.
. Cuộc sống trên trần gian này là thời điểm cho người có niềm tin Chúa xử dụng ý muốn tự do ( free will) của mình để hoặc chọn Chúa và sống theo Đường Lối của Chúa , hay chối Chúa để sống theo thế gian với “Văn hóa sự chết” tôn thờ tiền bạc và khoái lạc vô luân ( hedonism) dẫn đến sự hư mất đời đời, là hậu quả vô cùng tai hại của sự chọn lựa sai lầm khi sống trên trần thế này. Chúa nói : “ ai có tai nghe, thì nghe.” (Mt 11:15; Mc 7:16; Lc 8: 8)
Chúng ta hay suy gẫm những lời Chúa trên đây để từ do rút ra quyết định đúng đặn cho đời sống đức tin của mình trên trần gian này trong khi chờ ngày được về với Chúa để hưởng phúc Thiên Đàng mà Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người khi sống trên trần thế này. Amen.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn, MA, MDiv, Dmin,
Houston,Texas,USA.

----------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 10 of 165