mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay121
mod_vvisit_counterHôm Qua11369
mod_vvisit_counterTuần Này24666
mod_vvisit_counterTuần Trước42573
mod_vvisit_counterTháng Này130034
mod_vvisit_counterTháng Trước198792
mod_vvisit_counterTất cả9393128

We have: 225 guests online
Your IP: 54.224.13.210
 , 
Today: Oct 19, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO- BAI# 8 = SƯ CAN THIET CUA BI TICH PDF Print E-mail

TẠI SAO CÁC BÍ TÍCH LÀ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN HỮU HIỆU CẦN THIẾT ĐỂ LÃNH ƠN CỨU CHUỘC CỦA CHÚA KITÔ .?

Chúa Cứu Thế Giêsu đã hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết ,sống lại và lên Trời cách nay đã trên 2000 năm.Nhưng công nghiệp cứu chuộc này vẫn được tiếp tục ban phát cho con người qua sứ mang của Giáo Hội, là Thân Thể Mầu nhiệm của Chúa trong trần gian này cho đến ngày cánh chung tức là ngày mãn thời gian.

Tuy nhiên, sau hơn 2000 năm Tin Mừng Cứu Độ được rao giảng , cho đến nay mới chỉ có 1/6 nhân loại được biết Chúa Kitô và gia nhập Giáo hội của Chúa qua Phép Rửa và Thêm sức.

Như thế còn đa số người chưa được nghe Tin Mừng của Chúa và tin yêu Người là Đấng đã đến trần gian làm Con Người để "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người"( Mt 20: 28).

Với những người chưa biết Chúa Kitô và nghe Phúc Âm của Người, Giáo Hội tiếp tục cầu nguyện và hăng hái thi hành sứ mạng Chúa đã trao phó trước khi Người về Trời: Đó là " anh em hay đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha , Chúa Con và Chúa Thánh Thần., dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em..(Mt 28: 19-20) .Đây là sứ mạng phúc âm hóa thể giới và giảng dạy chân lý mà Giáo hội đã và đang thi hành để mang Chúa Kitô và công nghiệp cứu chuộc của Người đến với những người chưa biết Chúa cũng như chưa được nghe Tin Mừng cứu độ của Người. Thật vô cùng cần thiết cho hết mọi người, mọi dân tộc trên khắp thế giới được nghe và sống Tin Mừng đó hầu được cứu rỗi vì Thiên Chúa"Đấng cứu độ chúng ta: Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" ( 1 Tm 2:4)

Sứ mạng phúc âm hóa thế giới không chỉ được rao phó riêng cho hàng Giáo Phẩm, giáo sĩ , tu sĩ mà còn là trách nhiệm chung của mọi người tín hữu đã nhận lãnh Phép Rửa và gia nhập Giáo Hội của Chúa. Nói rõ hơn, tất cả mọi thành viên trong Giáo Hội gồm giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân – tuy khác nhau về địa vị và trách nhiệm- nhưng đều có chung sứ mang loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho những ai chưa biết Chúa và nghe Phúc Âm của Người. Hàng giáo sĩ , tu sĩ thi hành sứ mạng này bằng việc rao giảng Phúc Âm của Chúa trong phạm vi thánh đường ( các linh mục Dòng nay đang phải coi sóc nhiều giáo xứ vì thiếu linh mục Triều hay giáo phận) và bằng đời sống chứng tá phản ảnh trung thực những giá trị của Phúc Âm trước mặt người đời. Người giáo dân, ngược lại, rao giảng Tin Mừng của Chúa bằng chính đời sống của mình trong khi làm việc hay sống chung với những người khác ở nhiều môi trường khác nhau.

Chính đời sống Kitô hữu phản ảnh trung thực những chân lý và giá trị của Phúc Âm như công bình , bác ái, yêu thương, thánh thiện, tôn trọng sự sống, đề cao sự thật, nhất là xa tránh mọi thói hư tật xấu của thế gian đang chìm sâu trong văn hóa của sự chết, sẽ có sức thuyết phục người khác nhận biết Chúa Kitô đang hiện diện nơi người chứng tá để mời gọi họ tin yêu Chúa như mình để cùng được hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa. Và để đạt mục đích đó, tất cả mọi thành viên của Giáo Hội đều được mong đợi phúc âm hóa bản thân và môi trường sống bằng chính đời sống chứng tá của mình để mời gọi người khác tin và yêu mến Chúa để được hưởng ơn cứu độ của Người

Chúa Kitô không những rao giảng, dạy dỗ chân lý, mà còn thiết lập các bí tích làm phương tiện cứu rỗi cần thiết cho những ai muốn lãnh ơn cứu chuộc của Chúa.

Thật vậy, trước hết, Chúa đã nói đến tầm quan trọng của bí tích Thánh Tẩy hay Rửa tội trong Tin Mừng Marcô và Gioan như sau :

" Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ ; còn ai không tin sẽ bị luận phạt ."( Mk 16: 16)

Hoặc :

" Không ai có thể được vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và

Thần Khí" ( Ga 3: 5)

Trước khi về Trời, Chúa đã ăn cần căn dặn các Tông Đồ như sau :

" Anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần..." ( Mt 28 : 19)

Như thể, đủ chứng minh rằng Bí Tích Rửa Tội là điều kiện tiên quyết để được cứu độ, vì tội nguyên tổ đã cắt đứt tình thân giữa Thiên Chúa và loài người. và đã "mang sự chết vào trần gian, vì một người đã phạm tội"như Thánh Phaolô đã dạy. ( Rm 5 :12).

Nhưng vì Thiên Chúa là Cha rất nhân từ và đầy lòng xót thương , cho nên dù :

" Người nổi giận, giận trong giây lát,

nhưng yêu thương, thương suốt cả đời.:( Tv 30 : 6)

Chính vì yêu thương và muốn tha thứ nên Thiên Chúa đã sai Con Một là Chúa Kitô xuống trần gian làm Con Người để " cứu cái gì đã hư mất." ( Mt 18:11)

Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu thực vô giá và đủ cho những ai muốn hưởng nhờ. Nhưng điều kiện trước tiên để được cứu rỗi là phải được tái sinh qua Phép Rửa như đã nói ở trên.

Vì tầm quan trọng của bí tích này nên, trước khi rửa tội cho ai ( người lớn) thì phải dạy cho họ biết mục đích và công dụng của bí tích này.Nghĩa là không thể đổ nước lên đầu là xong việc.Ngược lại, phải dạy cho người muốn lãnh bí tích này hiểu rõ vì sao cần được rửa tội để thay đổi con người cũ và trở thành tạo vật mới, " mặc lấy Chúa Kitô để bắt đầu một hành trình mới đưa đến ơn cứu độ.Nói rõ hơn, không phải rửa tội xong là đủ, không cần phải làm gì nữa.Trái lại, rửa tội mới là bước khởi đầu cần thiết cho một tiến trình đổi mới hay hoán cải ( conversion process) để đoạn tuyệt với con người cũ sinh ra trong tội và bắt đầu một đời sống mới theo Trần Khí hầu trở nên hoàn thiện như mục đích của Phép Rửa.

Tiến trình đó đòi hỏi người đã được rửa tội phải quyết tâm yêu mến Chúa và xa tránh mọi tội lỗi vì phép rửa không tiêu diệt hết mọi mầm mống của tội cũng như không thay đổi hoàn toàn nhân tính để con người trở nên giống các Thiên Thần ngay trên trần thế này.

Ngược lại, vì hậu quả của tội nguyên tổ, con người vẫn hoàn toàn yếu đuối trong nhân tính, dễ nghiêng chiều về đường xấu và khó đứng vững trước mọi cảm dỗ của ma quỉ ví như " Sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." ( 1 Pr 5: 8) cùng với gương xấu và dịp tội đầy rẫy trong trần gian để lôi kéo con người vào con đương hư mất đời đời.

Do đó, nếu con người không cộng tác với ơn Chúa để cương quyết sống theo đường lối của Người và xa tránh tội lỗi thì ơn phép rửa , ơn tái sinh sẽ trở nên vô ích.Và Chúa cũng không thể cứu ai không có thiện chí bước đi theo Người và cương quyết xa tránh mọi quyến rũ của ma quí, thế gian và xác thịt là nhưng cản trở và hiểm nguy lớn lao cho con người muốn hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Cũng vì biết con người còn yếu đuối, khó đứng ững trước mọi thách đố và dịp tội, nên Chúa Kitô đã dự liệu sẵn những phương thế hữu hiệu là các bí tích để giúp con người chống đỡ và lấy lại tình thân với Chúa sau khi đã lỗi phạm tội nào vì yếu đuối của nhân tính và vì mưu chước thâm độc của ma quỉ cộng với gương xấu, dịp tội của thế gian hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ vật chất và nếp sống yêu chuộng mọi lạc thú vô luân vô đạo, như thực trạng con người ngày nay ở khắp mọi nơi. Người ta đang chối bỏ Thiên Chúa , khinh chê mọi giá tri tinh thần, luân lý và đạo đức là những căn bản để phân biệt con người có lương tri với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn.

Những bí tích mà Chúa ban cho Giáo Hội là những phương tiện cứu độ rất hữu hiệu và cần thiết cho những ai muốn được vào Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình đức tin một cách trung thực và can đảm trên trần thế này.

Thật vậy, với bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được rửa sạch một lần hậu quả của tội nguyên tổ và mọi tội cá nhân. Bí tích Thêm sức cho ta tri hiểu, sức mạnh và ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần để sống nhân chứng cho Chúa Kitô trong trần thế cũng như có sức để chống lại mọi nguy cơ cám dỗ của xác thịt, ma quỉ và thế gian. Bí Tích Thánh Thể không những cho ta của ăn thiêng liêng cần thiết trên đường tiến về quê trời với bao khó khăn và thách đố, mà quan trọng hơn nữa, bí tích Thánh thể còn làm sống lại cách bí nhiệm hy tế thập giá của Chúa Kitô xưa kia , vì " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ , nhờ đó "Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chiu hiến tế'' ( 1 Cor 5, 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( x.Lumen Gentium số 3).

Nghĩa là Thánh Lễ Tạ Ơn ngày nay diễn lại cách mầu nhiệm Hy Tế thập giá mà Chúa Kitô đã một lần dâng lên Chúa Cha trên núi Sọ năm xưa để đền tội thay cho nhân loại nhờ Chúa hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, như Giáo Hội tuyên xưng mỗi khi của hành Bí Tích Thánh Thể tức Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) để xin ơn cứu độ cho chúng ta ngày nay cùng thể thức mà ơn này được ban cho nhân loại lần đầu nhờ Hy tế Chúa Kitô hiến dâng một lần xưa kia trên thập giá.

Như thế, có thể nói Bí Tích Thánh Thể là Bí tích cứu độ mà Chúa Kitô đã thiết lập để tiếp tục ban ơn cứu chuộc của Người cho đến ngày mãn thời gian.Do đó, chúng ta được khuyến khích siêng năng tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Chúa Kitô là của ăn nuôi linh hồn ta và cho ta được sống đời đời vì " ai ăn thịt Ta và uống Máu ta thì được sống muôn đời và Ta sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết." như lời Chúa hứa ban( Ga 6 :54)

Tóm lại các bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể và Hòa giải là những bí tích tối cần cho ta được cứu rỗi và bảo đảm ơn cứu rỗi đó bao lâu còn lữ hành trên trần thế này. Các bí tích khác như sức dầu, Truyền Chức Thánh và Hôn phối là những bí tích giúp con người cộng tác với Chúa trong chương trình sáng tạo, ( bí tích hôn phối) tức là làm tăng số con cái Chúa trên trần gian này, cũng như chuẩn bị cho ta lìa đời trong ơn nghĩa Chúa ( bí tích sức dầu) .Sau hết, bí tích Truyền Chức Thánh dành cho một thiểu số người được ơn gọi đi rao giảng Lời Chúa và phục vụ cho những lợi ích thiêng liêng của dân Chúa ví như đàn chiên được trao phó cho các mục tử chăn nuôi và dẫn đưa về "Chuồng chiên mà Chúa Kitô là cửa vào duy nhất và cần thiết."( cf LG ,no.6)

Mặt khác, bí tích truyền chức thánh cũng được lập ra để phục vụ cách riêng cho bí tích Thánh Thể, là bí tích làm sống lại Hy Tế thập giá của Chúa Kitô xưa trên bàn thờ ngày nay mỗi khi Thánh lễ tạ ơn được cử hành như đã nói ở trên.Ngoài ra, Bí tích truyền chức thánh cũng được lập ra để phục vụ cho các bí tích thêm sức, hòa giải và sức dầu, vì các bí tích này đòi hỏi thừa tác viên phải có chức linh mục, là một trong ba chức thánh của Bí Tích Truyền Chức Thánh. Hai chức thánh kia là chức Phó Tế và Giám mục.

Chúng ta cảm tạ Chúa đã ban các bí tích như phương tiện hữu hiệu để giúp ta sống trong ơn nghĩa Chúa để nhiên hậu được cứu độ như lòng Chúa mong muốn cho mọi con cái loài người.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 7 = TOI: THUC THE VA HAU QUA PDF Print E-mail

                                      TỘI: THỰC THỂ và HẬU QỦA

Hỏi:  Nhân mùa chay tưởng niệm Chúa chịu khổ hình thập giá để đền tội thay cho nhân loại , xin cha giải thích rõ tội là gì, thực sự có tội đối với Chúa là Đấng giầu tình thương, quá nhân từ hay không?

Trả Lời : Thực trạng của thế giới ngày nay cho thấy quá nhiều người đã mất hết ý thức về tội, về sự xấu, sự dữ (sins, evils). Vì thế người ta đã cho phép mình làm những việc mà thực chất là sai trái về mặt đạo đức, luân lý. Thí dụ, người ta đã lấy lý do tôn trọng quyền quyết định của phụ nữ (pro-choice) mà cho phép hay ủng hộ việc phá thai, ngay cả trường hợp bào thai đã lớn 5, 6 tháng trong lòng mẹ (partial abortion); cũng như không biết hổ thẹn khi hai người cùng phái (same sex) dẫn nhau ra toà làm hôn thú và hôn nhau trước ống kính của TV, báo chí..! Bọn tài phiệt khắp nơi mặc sức tiến hành mọi thủ đoạn gian manh, quỷ quyệt để vơ vét của cải, làm giầu bất chấp lương tri và mọi ý thức đạo đức, công bằng.....Cũng vì tham tiền, coi nhẹ lương tâm và đạo lý, mà rất nhiều người đã và đang đầu tư khai thác kỹ nghệ cờ bạc, mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, kể cả mãi dâm con nít (child prostitution) rất đáng ghê tởm và phải lên án. Chưa kể những đàn ông đã ngoài 70 tuổi , còn bỏ hoặc ly dị vợ già để về ViệtNam cưới hay lừa gạt các cô gái trẻ đáng tuổi con cháu mình, mặc cho dư luận chê cười phỉ nhổ !

Mặt khác, lại có những người quá lạc quan cho rằng Thiên Chúa là tình thương, giầu lòng từ bi, khoan dung nên Ngài không để ý hay không chấp điều gọi là "tội lỗi" của con người! Có chăng chỉ có những nhà đạo đức, luân lý và đặc biệt các tôn giáo đã quá đặt nặng vấn đề tội để đe dọa và làm mất "tự do" của con người mà thôi!

Chúng ta phải nghĩ thế nào cho đúng trước thực trạng này?

Là người tín hữu, trước hết, chúng ta phải dựa vào những giáo huấn của Giáo Hội và nhất là lời Chúa trong Kinh Thánh để hướng dẫn lương tâm và hành động của chúng ta trong vấn đề rất quan trọng này.

I- Nguồn gốc của tội:

Thánh Phaolô đã nói rõ nguyên nhân của tội như sau :

"Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian,và tội gây nên sự chết; như thế sự chết đã lan tràn đến mọi người, bởi vì một người đã phạm tội." (Rm 5:12)

Đây chính là tội của nguyên tổ loài người mà "mặc khải đã cho chúng ta niềm tin chắc chắn là toàn thể lịch sử nhân loại đã được đánh dấu bằng lỗi nguyên thủy do tổ phụ loài người đã tự do mắc phạm." SGLGHCG, số 390)

Giáo Hội định nghĩa tội là "sự xúc phạm chống lại Thiên Chúa, nên chỉ một mình Ngài có thể tha tội" (Sđd,số 431).

Ngoài tội của Nguyên Tổ nói trên, con người còn tự do phạm biết bao tội của riêng mình nữa .Thực tế này đã được Thánh Gio-an nói rõ như sau:

"Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội : chúng ta tự lừa dối mình. Và sự thật không ở trong chúng ta, Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi với Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính; Sẽ tha tội cho chúng ta và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính." (1Ga 1:8-9)

Tác giả Thánh Vịnh 51 cũng nhìn nhận tội lỗi của mình như sau:

"Vâng con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm;

Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa.....(Tv 51: 5-6)

Hơn thế nữa, chính Chúa Giêsu cũng đã hứa sai Chúa Thánh Thần đến để chứng minh thế gian có tội:

"Khi Người đến, Người sẽ chứng minh rằng thế gian sai lầm về tội lỗi,về sự công chính và việc xét xử." (Ga 16:8).

Như vậy, chúng ta không còn gì phải nghi ngờ, thắc mắc về thực thể tội lỗi của nhân loại trong trần gian này. Nghĩa là không phải các tôn giáo nói chung và Giáo Hội Công Giáo nói riêng đã "quá thổi phồng " thực trạng này để đòi hỏi người ta phải xa tránh hoặc sửa đổi.

Ngược lại, đây là một vấn đề rất nghiêm trọng có liên hệ trực tiếp đến sự cứu rỗi nhân loại mà Chúa Kitô đã phải trả giá đắt bằng chính mạng sống của mình trên thập giá xưa kia. Nói khác đi, chính tội lỗi nhân loại đã đóng đanh Chúa Giêsu vào thập giá, khiến Ngài đã phải chết để cứu chuộc cho con người, như Thánh Phaolô đã nói rõ: "Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là Đức Kitô đã chết vì tội chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh." (1 Cor 15 :3). Vì thế, thật cần thiết phải ý thức sâu xa về nguy hại của tội lỗi và quyết tâm xa tránh sự dữ này nếu ai muốn được hưởng công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô để được sống hạnh phúc đời đời trong Nước Thiên Chúa. Thiên Chúa là tình thường và hay tha thứ. Đúng! Nhưng đố ai tìm được ở đâu Chúa đã nói: các con đừng lo lắng, bận tâm gì về những việc mình làm bây giờ. Cứ vui chơi thoả thích bao nhiêu tùy ý rồi mai sau Cha sẽ cho tất cả vào Thiên Đàng hưởng phúc trường sinh vì Cha là tình thương vô biên.."!

Ngược lại, chúng ta đọc thấy lời cảnh cáo nghiêm khắc sau đây của Chúa Giêsu:

"Khốn cho thế gian vì làm cớ cho người ta sa ngã. Tất nhiên phải có những

Cớ gây sa ngã, nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta sa ngã.

Nếu tay hoặc chân ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã thì hãy chặt mà ném đi;

Thà cụt tay chân mà được vào cõi sống còn hơn có đủ hai tay hai chân mà

bị ném vào lửa đời đời.." (Mt 18:7-8)

Như vậy, có thực thể (entity) tội lỗi và nguy cơ phạm tội trong trần gian này đe doa nghiêm trọng cho những ai muốn được sống hạnh phúc vĩnh cữu trong Nước Thiên Chúa.

II- Phân loại tội:

1- Tội tổ tông (orginal sin) liên quan đến sự sa ngã của Nguyên Tổ loài người như ta đọc thấy trong Sáng Thế Ký 3, và được giải thích trong Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo. (SGLGHCG, số 387- 390)

2- Tội cá nhân (personal sins): tức mọi tôi người ta đã phạm khi sử dụng ý chí tự do (free will) và cũng vì bản chất yêú đuối khi sống trong những hoàn cảnh dễ sa ngã bởi gương xấu và cám dỗ của ma quỉ. Các tội cá nhân này có hai mức nặng và nhẹ, và bao gồm tất cả những gì con người lỗi phạm trong tư tưởng, lời nói và hành động nghịch với tình thương và sự thiện hảo của Thiên Chúa là Chân Thiện Mỹ tuyệt đối.

Cụ thể :

a- về mặt cá nhân: đó là những tội nghịch các giới răn của Chúa về yêu thương, công bằng và thánh thiện như trộm cắp, cờ bạc, lường gạt, gian tham, thù oán, vu cáo, nói xấu, giết người, ngoại tình, dâm ô, ham mê tiền của và tôn thờ vui thú vật chất phi nhân ,phi nghĩa v,v

b- về mặt tập thể hay xã hội, Giáo Hội, quốc gia, quốc tế: đó là tội buôn thần bán thánh (simonia) và chạy theo thế quyền để mưu danh lợi, chức quyền. Đó là những bất công xã hội, tạo gương xấu hay dung dưỡng cho những sự dữ hoành hành. Cụ thể như phân chia gia cấp để cai trị và hưởng thụ, bóc lột người khác, cho phép mở sòng bạc, buôn bán phim ảnh khiêu dâm, mãi dâm, buôn bán phụ nữ như tệ trạng "hôn nhân ngoại quốc" đang ồn ào diễn ra ở Việt Nam nghèo đói hiện nay. Đó là tội của các tập đoàn tài phiệt cấu kết với giới cầm quyền để thao túng mọi hoạt động kính tế, doanh nghiệp và thương mại để vơ vết của cải, bất chấp hậu quả nghèo đói cùng khổ của biết bao người lao động, công nhân ở khắp nơi. Đặc biệt, đó là tội của các quốc gia giầu có nhưng không muốn chia sẻ và giúp các nuớc nghèo vươn lên thoát khỏi thảm cảnh nghèo nàn, lạc hâu. Đó cũng là tội rất lớn của các nước lớn, nước mạnh tự cho mình quyền võ trang, quyền có võ khí giết người hàng loạt nhưng lại nhân danh công lý một chiêù, đạo đức giả hiệu để đem quân đánh và ngăn cấm các quốc gia khác không được võ trang, dù để tự vệ! Đặc biệt, đó là tội lớn của những quân " khủng bố" nhân danh tôn giáo để giết hại những ai không về phe hay tán thành chủ tâm gây tội ác của chúng ở khắp nơi trên thế giới. Đó cũng là tội của những chế độ, hay cá nhân độc tài lâu năm cai trị người dân không may lọt vào ách thống trị hà khắc của chúng , thách đố luơng tâm nhân loại về quyền sống và tự do chân chính của con người, dù không cùng chung ý thức hệ. Sau hết, đó là tội dửng dưng, làm ngơ của cộng đồng thế giới trước nạn nghèo đói, bị bách hại của nhiều dân tộc trên thế giới.

Tóm lại, tội lỗi là một thực tế không ai chối cãi được trong đời sống cá nhân và cộng đồng.

Sự dữ này đang xô nhanh con người xuống hố tự tiêu diệt vì quá nhiều người đã mất hết ý thức về ác tính và hậu quả khốc hại của nó.

Trong niềm tin có Thiên Chúa là Đấng cực tốt cực lành, thì tội là cản trở duy nhất cho con người muốn sống tình thân và hạnh phúc với Chúa ngay trong cuộc sống này trước khi được huởng Nhan Thánh Ngài trong cõi vĩnh hằng.

Thiên Chúa giầu tình thương và tha thứ. Nhưng Chúa chê ghét mọi tội lỗi vì nó đi ngược với bản chất thiện hảo của Người. Tuy nhiên, Chúa lại yêu thương kẻ có tội biết ăn năn sám hối và muốn xin tha thứ, vì lòng nhân hậu của Người vẫn lớn hơn mọi tội lỗi của con người.

Nhưng chúng ta phải tránh hai cực đoan sau đây:

Một là ỷ lại hay cố tình lợi dụng tình thương, tha thứ của Chúa để đi hàng hai, cứ phạm tội, cứ làm sự dữ rồi mong được tha thứ. Ai có thái độ này, hãy nghe lời Chúa cảnh cáo sau đây:

"Ta biết việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng.

Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi.

Nhưng vì ngươi hâm hâm, chẳng nóng chẳng lạnh

Nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." (Kh 3: 15-16)

Hai là quá thất vọng hoặc khước từ hoàn toàn tình thương của Chúa để không còn muốn xin tha thứ nữa.Đó là trường hợp của Judas Escariot, người môn đệ đã bán Chúa và thất vọng đi treo cổ tự tử sau đó.

Đây chính là tội phạm đến Chúa Thánh Thần mà Chúa Giêsu đã nói rõ là không thể tha thứ được, vì không còn tin tưởng gì nơi lòng xót thương của Chúa để xin Người tha thứ. ( x. Mt 12 :32; Mc 3: 29; SGLGHCG, số 1864)

Ước mong mọi người chúng ta ý thức sâu xa về thực thể tội lỗi này và cố gắng xa tránh để được sống với Chúa là cội nguồn mọi hạnh phúc, vui sướng vĩnh cữu.

LM.Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 6 = GIUĐA-PHERO-TRÔM LANH DẠY BAI HOC GI? PDF Print E-mail

HOC GIUĐA PHẢN BỘI , PHÊRÔ CHỐI THẦY và NGƯỜI TRỘM LÀNH DẠY CHO CHÚNG TA NHỮNG BÀI HỌC GÌ ?

Hỏi: Nhân Mùa Chay, xin cha giải thích ý nghĩa việc Giuđa phản bội, người trộm lành sám hối và Phêrô chối Chúa như được ghi lại trong trong các Tin Mừng.

Trả lời: Mùa chay là thời điểm thuận lợi nhất để Giáo Hội mời gọi con cái mình suy niệm sâu xa hơn nữa về tình thương bao la của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi đau khổ, sỉ nhục và chết trên thập giá để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội và có hy vọng được sống hạnh phúc muôn đời với Thiên Chúa trên Nước Trời .

Mùa chay cũng là mùa sám hối, thúc dục mọi tín hữu nhìn nhận tội lỗi đã phạm để xin Chúa nhân lành khoan dung thứ tha vì Người "muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý". ( 1Tm 2:4)

Thiên Chúa là Cha rất nhân lành..Người "chậm giận và giầu tình thương". Vì thế, ai có lòng trông cậy và kêu xin thì dù cho tội lỗi đến đâu cũng sẽ được tha thứ.Chỉ có sự tuyệt vọng, không còn muốn xin Chúa thương xót tha thứ nữa mới làm bế tắc tình thương bao la của Thiên Chúa cho con người mà thôi

Sau đây là nhũng bài học ta có thể rút ra từ việc Phêrô chối Thầy, Giuđa bán Chúa và người trộm lành sám hối.

Tin Mừng Matthêu, Marcô, Luca và Gioan đều ghi lai sự kiên Phêrô chối Thầy, Giuđa Ít-ca-ri-ốt , một trong 12 môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu đã phản bội Thầy, bán Thầy và tuyệt vọng đến mức treo cổ tự tử sau đó. (Mt 27: 5)

Riêng Tin Mừng Luca ghi lại sự kiên "Người gian phi sám hối và được vào Thiên Đàng với Chúa Giêsu".

1- Trường hợp của Giuda

Giuđa tượng trưng cho lớp người quá say mê của cải vật chất ở đời này đến mức quên tình quên nghĩa để phản bội người khác, kể cả ân nhân. Giuđa là một trong Nhóm 12 Tông Đồ nòng cốt mà Chúa Giêsu đã chọn lựa cho tham gia vào sứ vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa từ lúc ban đầu. Giuđa đã được diễm phúc sống bên Chúa suốt 3 năm, đã được trực tiếp nghe lời giảng dạy của Chúa về Nước Trời, về tinh thần khó nghèo cũng như chứng kiến tận mắt đời sống khó nghèo của Chúa ở mứcỗ tựa "con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có ch đầu." (Mt 8: 20). Vậy mà Giuđa đã không được cảm hóa theo gương khó nghèo của Chúa. Vì thế Giuda đã cam tâm bán Chúa lấy 30 đồng bạc. Nhưng khi chứng kiến cảnh Thầy mình bị bắt và bị đánh đập tàn nhẫn, Giuđa đã hối hận đem tiền trả lại bọn thượng tế và kỳ mục Do Thái rồi đi thắt cổ chết. Hắn tự tử vì quá tuyệt vọng, không còn tin tưởng gì vào lòng xót thương, tha thứ của Chúa nữa. Đây là điều rất đáng buồn cho anh ta và là gương xấu cho người khác.

Thật vậy, Giuđa đã trở thành gương xấu không những vì tham mê tiền của, phản bội mà nhất là tuyệt vọng về lòng xót thương của Chúa. Đây là điều đáng nói nhất về người môn đệ phản bội này, vì y đã mất hết niềm tin vào Thiên Chúa nhân lành, sẵn lòng tha thứ hết mọi tội lỗi của con người trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội tuyệt vọng không còn tin tưởng gì vào lòng xót thương tha thứ của Chúa nữa.Giuđa đã phạm tội này khi tự tử chết.

Chúa Giêsu đã than thở như sau về sự phản bội của Giuđa:

"...Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời Kinh Thánh" ( Ga 17: 12)

lại nữa:

"...đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn" (Mt 26: 24; Mc 14: 21)

Dầu vậy, Giáo Hội cũng không dám kết luận chắc chắn về số phận đời đời của Giuđa. Việc này chỉ có một mình Thiên Chúa biết vì Người đã phán đoán Giuđa theo lượng từ bi và công bằng của Người.

Ngược lại , Giáo Hội chỉ lưu ý con cái mình về gương xấu của Giuđa mà thôi. Gương xấu vì Giuđa đã mê tiền của hơn yêu mến Thầy, nên đã phản bội Thầy khi bán Người lấy 30 đồng bạc của các Thượng Tế và kỳ mục Do Thái. Nhưng điều đáng nói nhất về Giuđa là sự tuyệt vọng của anh, khi không còn muốn sám hối để xin Chúa tha thứ nữa, để rồi đi treo cổ tự tử (cf. Mt 27:5). Đây là gương xấu mà mọi tín hữu phải xa tránh vì thực chất của nó là mất hết hy vọng vào lòng thương xót của Chúa, là Cha nhân từ luôn sẵn lòng tha thứ cho kẻ có tội biết sám hối và xin tha thứ.

2- Phêrô chối Chúa

Ngược lại với Giuđa là kẻ nêu gương xấu về tham tiền và tuyệt vọng, Phêrô lại dạy cho chúng ta bài học quý giá về lòng ăn năn sám hối.

Phêrô cũng có khuyết điểm là quá tự tin nơi mình khi tuyên bố lúc ban chiều trước khi Chúa Giêsu bị bắt: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy." ( Mt 26:35)

Nhưng đúng như lời Chúa đã nói trước là đêm đó gà chưa gáy sáng thì Phêrô đã chối Chúa ba lần. Nhưng chối xong và nhớ lại lời Chúa đã nói trước, Phêrô "ra ngoài khóc lóc thảm thiết" (cf. Mt 26: 75, ; Lc 22: 62). Ông khóc vì ăn năn hối hận đã hèn nhát chối Thầy trước những kẻ bắt bớ và hành hạ Người cách tàn nhẫn. Chính vì thật sự thống hối ăn năn mà Chúa đã tha cho Phêrô tội công khai chối Chúa và còn tín nhiệm trao phó cho Phêrô sứ mệnh "chăn dắt chiên con và chiên mẹ của Thầy" ( Ga 21: 15-16).

Như thế đủ cho ta thấy là dù tội lỗi con người có nặng đến đâu, nhưng nếu biết sám hối và chạy đến với lòng thương xót vô biên của Chúa thì chắc chắn sẽ được tha thứ và nối lại tình thân với Người, sau khi đã lỡ sa ngã vì yêu đuối của nhân tính do hậu quả của tội nguyên tổ còn để lại.

3- Người gian phi sám hối (Lc 23 : 40-42)

Tin Mừng Luca kể rõ hai tên gian phi cùng chịu đóng đanh với Chúa Giêsu, một đứa bên phải, một đứa bên trái, trong khi Matthêu nói đó là hai tên cướp ( Mt 27: 38). Chúng bị đóng đinh vì tội trôm cướp, và một trong hai tên gian phi này đã nhận biết tội của mình nên xin cùng Chúa Giêsu rằng: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của Ông xin nhớ đên tôi. Và Người nói với anh ta: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." (Lc 42-43)

Như thế, chỉ có lòng ăn năn sám hội thực sự là đáng kể vì là điều đẹp lòng Chúa, và Người sẽ tha hết mọi tội lỗi cho những ai nhận biết mình có tội và xin Chúa thứ tha. Người gian phi sám hối hay còn được gọi là "kẻ trộm lành" đã vào Thiên Đàng bằng đường tắt nhanh chóng chỉ vì biết ăn năn sám hối và chạy đến với lòng thương xót vô biên của Chúa để xin tha thứ.

Người trộm lành này đã từng đi đàng tội lỗi không biết là bao nhiêu năm, nên bị đóng đanh vì những trọng tội mà xã hội Do Thái phải trừng phạt bằng cực hình đóng đanh. Nhưng Chúa đã tha thứ cho anh mọi tội, từ tội nguyên tổ cho đến mọi tội cá nhân anh đã phạm cho đến ngày bị đóng đanh chung với Chúa, là Người lành vô tội, nhưng đã cam lòng chiu khổ hình thập giá để đền thay cho nhân loại đáng phải phạt vì tội.

Dĩ nhiên chúng ta không thể bắt chước "người trộm lành" bằng cách cứ sống tội lỗi rồi cuối cùng sám hối xin Chúa tha thứ để được vào Nước Trời. Ta chỉ có thể noi gương tốt của anh về lòng sám hối và tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa để xin Người tha thứ mọi tội cho ta đã lỡ sa phạm vì yếu đuối của bản chất và vì ma quỉ cám dỗ. Nhưng ta không thể bắt chước anh ta làm những việc sai trái hay đối nghịch với tình thương, sự thánh thiện và công bằng của Chúa để chờ xin tha thứ vào phút chót. Không ai có thể biết ngày giờ nào mình phải ra đi, nên không thể liều mình sống trong tội chờ ngày sám hối được. Cố ý sống như vậy là lợi dụng lòng thương xót, tha thứ của Chúa. Và nếu ai cố ý liều lĩnh như vậy thì hãy nghe lời Chúa cảnh cáo nghiêm khắc sau đây:

"Ta biết các việc ngươi làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn đi, nhưng vì người hâm hâm, chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." (Kh 3: 15-16)

Tóm lại, điều thiết yếu là ta phải cố gắng xa tránh mọi tội lỗi vì chỉ có tội là cản trở duy nhất cho ta sống đẹp lòng Chúa mỗi giây phút của đời mình trên trần thế này. Tuy nhiên, vì bản chất yếu đuối do hậu quả của tội Nguyên tổ, nhất là vì ma quỉ luôn rình rập để lôi kéo ta vào vòng tội lỗi, nên cần thiết cho ta phải xin ơn Chúa giúp sức để có thể đứng vững, sống theo đường lỗi của Chúa để được an vui ngay trên đời này trước khi được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 5 = CO DUOC CUNG VAI... CUNG VAI ? PDF Print E-mail

CÓ ĐƯỢC CÚNG VÁI, DÂNG ĐỒ ĂN ĐỒ UỐNG CHO NGƯỜI CHẾT KHÔNG?

HỎI: Nhân tháng cầu cho các linh hồn,(tháng 11) xin cha vui lòng giải đáp thắc mắc mắc sau đây :

1-Người Công giáo phải làm gì để giúp các linh hồn đã ly trần?

2-Có được phép mang đồ ăn, đồ uống như rượu bia và trái cây ra đặt ở mộ thân nhân chôn ngoài nghĩa trang, hay bày đồ ăn trên bàn thờ ông bà, cha mẹ nhân ngày giỗ, tết không?

TRẢ LỜI: Những người theo Đạo thờ ông bà (Tổ tiên) hay các tôn giáo khác thì tin là vong hồn những người chết có thể về với con cháu sau khi chết. Vì thế, con cháu thường mang theo đồ ăn, đồ uống ra đặt ngoài nghĩa trang nơi an nghỉ của người quá cố. Đặc biệt, đến ngày giỗ, Tết, con cháu thường làm một mâm cỗ với của ngon vật lạ để dâng lên bàn thờ người quá cố cùng với nhang đèn để cúng vái, trước khi hạ cỗ cho con cháu hưởng chung. Đây là tục lệ có từ lâu đời trong xã hội ViệtNam. Là người Công giáo, chúng ta tôn trọng, và không dám phê bình niềm tin của người khác.

Tuy nhiên, là tín hữu Chúa Kitô, thì ngược lại, chúng ta không tin có sự trở về của linh hồn người quá cố để ăn uống chung vui cách vô hình nào đó với con cháu, anh em còn sống. Giáo lý Công giáo dạy rõ như sau về số phân của một người sau khi chết :

"Mỗi người lãnh nhận trong linh hồn bất tử của mình phần trả công muôn đời cho mình. Ngay sau khi chết, trong một cuộc phán xét riêng, chiếu theo cuộc sống của mình hướng về Chúa Kitô, để hoặc sẽ trải qua một cuộc thanh luyện, hoặc lập tức bước vào hưởng diễm phúc trên trời, hoặc lập tức bị án phạt đời đời." (x. SGLGHCG, số 1022)

Như vậy, theo lời dạy trên của Giáo Hội , thì linh hồn của một người đã chết có thể được vào ngay Thiên Đàng để vui hưởng Thanh Nhan Chúa, hoặc phải xa lìa Chúa đời đời trong nơi gọi là hoả ngục (hell). Hay phải "tạm trú" một thời gian trong nơi gọi là "Luyện tội = Purgatory" để được thanh luyện cho sạch khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi đã được tha qua bí tích hòa giải nhưng hậu quả còn để lại mà chưa đền bù cho đủ khi còn sống, nên cần được tinh luyện cho sạch trước khi được vào hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.

Như thế rỏ ràng cho thấy là không có trường hợp nào linh hồn những người quá cố còn có thể về chung vui cách vô hình đời sống con người trên trần thế với con cháu được nữa.Lại càng vô lý hơn nữa , khi có người cho rằng các linh hồn có thể trở về xin Rửa tội vì đã không được lãnh nhận bí tích này khi còn sống. Điều này hoàn toàn trái với giáo lý của Giáo Hội trích dẫn trên đây.

Từ xưa đến nay và ở khắp mọi nơi, người ta đã nói nhiều về những hiện tượng "ma quái" quấy phá trong nhà sau khi có người chết, hoặc linh hồn người chết hiện về với thân nhân trong giấc mơ để van xin điều này, hoặc cảnh cáo con cháu việc khác v.v. Trước sự kiện này, Giáo Hội cho đến nay vẫn giữ thái độ im lặng, không đưa ra một giáo lý nào để giải thích ý nghĩa của những sự kiện khác thường đó, mà chỉ dạy giáo hữu phải cầu nguyện, làm việc lành, hoặc xin lễ cầu cho các linh hồn, cách riêng trong tháng 11 mà thôi. Đây là việc bác ái có giá trị cứu giúp các linh hồn đang ở nơi luyện tội để giúp họ mau chóng được tha hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc được chiêm ngưỡng Thánh Nhan Chúa cùng với các thánh nam nữ ở đây.

Nhưng chắc chắn là Giáo Hội không dạy hay khuyến cáo chúng ta phải mang đồ ăn, đồ uống ra nghĩa trang đặt nơi mộ phần của thân nhân đã qua đời, hay dâng mâm đồ ăn trên bàn thờ người quá cố trong những ngày giỗ tết.

Tuy nhiên, vì lòng thảo kính, thương nhớ, giáo dân ngày nay được phép đốt nhang, đèn, nến và trưng hoa trước bàn thờ tổ tiên hay nơi mộ phần của thân nhân để nói lên lòng yêu mến, tôn kính và thương nhớ đối với những người thân đã ly trần.

Nhưng tuyệt đối phải tin rằng:

1- Những linh hồn đã được hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng không cần sự trợ giúp nào của người còn sống trên trần thế. Họ đã gia nhập hàng ngũ các Thánh và đang hưởng hạnh phúc Nước Trời với Thiên Chúa, là hạnh phúc của các Thánh, các Thiên Thần. Ngược lại, các Thánh trên Thiên Đàng có thể cầu xin đắc lực với Chúa cho những người còn sống trên trần gian và những linh hồn trong luyện ngục.

2- Chỉ có các linh hồn trong luyện ngục mới cần sự trợ giúp của các thánh trên Thiên Đàng và của những người còn sống đang hiệp thông với Giáo Hội trên trần thế mà thôi. Các linh hồn đang còn ở luyện ngục không thể tự giúp gì cho họ được nữa vì thời giờ đã mãn cho họ làm việc lành hay phạm tội gì thêm nữa. Đó là lý do tại sao Giáo Hội dạy và khuyến khích các tín hữu cầu nguyện, làm việc lành và nhất là xin lễ cầu cho các linh hồn thánh (holy souls) còn đang được thanh luyện trong luyện ngục. Ngược lại, các linh hồn ở nơi này có thể cầu xin hữu hiệu cho các tín hữu còn sống trên trần thế, nơi mọi người còn thì giờ để làm thêm việc lành, phúc đức hay phạm tội thêm mất lòng Chúa.

Tóm lại, các Thánh trên Thiên Đàng, các linh hồn nơi luyện ngục và các tín hữu còn sống trên trần gian đều có thể hiệp thông cầu nguyên và giúp ích cho nhau như đã nói ở trên.Đây là tín điều các thánh thông công như Giáo Hội dạy.

3- Sau hết, các linh hồn đang xa cách Chúa đời đời trong nơi gọi là hoả ngục thì các Thánh trên trời , các linh hồn nơi luyện tội và các tín hữu trên trần thế, không ai có thể cứu giúp gì cho họ được nữa, vì không có sự hiệp thông nào (communion) giữa nơi này ( hỏa ngục ) với Thiên Đàng, luyện ngục và các tín hữu còn sống đang hiệp thông trong Giáo Hội lữ hành trên trần thế.. Cũng cần nói thêm là những ai đang ở hỏa ngục thì đó không phải là vị họ bị Chúa trừng phạt hay trả thù mà chính vì họ, khi còn sống, đã tự chọn nơi cư ngụ đáng sợ này khi tự do làm những điều gian ác, tội lỗi và không hề xám hối xin Chúa thứ tha vì họ cũng hoàn toàn khước từ Thiên Chúa và tình thương của Người, là " Đấng muốn cho mọi người được cửu rỗi và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)

Tóm lại, dù ở nơi nào, Thiên Đàng, Luyện ngục hay hoả ngục, linh hồn những người đã ly trần không thể trở về trần thế để "ăn uống" gì với thân nhân còn sống được nữa. Vì thế, người công giáo không nên đem bất cứ đồ ăn của uống gì ra đặt nơi mộ phần của những người đã chết ngoài nghĩa trang hay trưng bày trên bàn thờ trong những dịp giỗ tết để "mời các vong hồn" về chung vui, thưởng thức với con cháu còn sống. Làm như vậy là vô tình đi ngược lại với giáo lý của Giáo Hội về số phận của những người đã chết như đã nói ở trên.

Chúng ta chỉ có thể bày tỏ lòng mộ mến, gắn bó, thương xót những thân nhân đã ly trần bằng cách cầu nguyện, làm việc lành và xin dâng thánh lễ cầu cho họ để nói lên những tâm tình này mà thôi. Và chắc chắn đó cũng là những gì các linh hồn mong đợi nơi con cháu, thân nhân còn sống nhớ đến mình sau khi họ lìa khỏi thân xác qua sự chết, và còn đang được thanh luyện nơi luyện ngục.

Vậy chúng ta hãy tha thiết cầu xin cho các linh hồn trong tháng 11 này.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 4 = CHUA CO LEN AN NGUOI GIAU KHONG? PDF Print E-mail

CHÚA CÓ LÊN ÁN NGƯỜI GIẦU KHÔNG?

Trong Tin Mừng Thánh Mathêu, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ như sau:

"Thầy bảo thật anh em: người giầu có khó vào Nước Trời. Thầy còn nói cho anh em biết: Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giầu vào Nước Thiên Chúa" (Mt 19: 23-24; Mc 10:25).

Chúng ta hiểu thế nào cho đúng về lời Chúa trên đây?

Chúa đã nói với các môn đệ những lời trên đây trong hoàn cảnh một thanh niên giầu có đến gặp Chúa nhưng đã buồn rầu bỏ đi vì không thể nghe theo Lời Chúa muốn anh bán hết tài sản của mình để cho người nghèo vì anh có nhiều của cải (Mc 10: 17-22). Chính vì anh không thể từ bỏ sang giầu ở đời này để đổi lấy kho tàng phú quí vĩnh cửu trên Trời, nên Chúa mới nói thêm với các môn đệ như sau: "Những người giầu có thì khó vào Nước Thiên Chúa biết bao!" (cf Mc 10:23)

Như vậy có phải Chúa lên án những người giầu có ở thế gian này không?

Trước khi trả lời câu hỏi này, thiết tưởng cần nói qua về lợi ích của tiền bạc và của cải vật chất trong đời sống của con người trên trần thế này.

Thật vậy, đời sống con người bao gồm cả hai mặt tinh thần và thể xác. Do đó, không thể chú trọng về mặt này mà bỏ quên mặt kia. Không thể chỉ đề cao đời sống tinh thần mà quên lãng hay lơ là nhu cầu của thân xác, đòi hỏi có cơm ăn, áo mặc nhà ở và phương tiện di chuyển. (Ở Mỹ, người đi rửa chén, hầu bàn ăn trong các nhà hàng cũng phải có xe hơi để đi làm, không riêng gì những công tư chức đi làm ở các công sở). Do đó, thỏa mãn những nhu cầu trên là điều chánh đáng và phù hợp với đạo đức. Nhưng muốn giải quyết thì phải có tiền và những phương tiện vật chất cần thiết cho một đời sống hợp với nhân phẩm. Do đó, không có gì là sai trái khi mọi người phải làm việc, hoặc buôn bán để kiếm tiền nuôi sống bản thân và gia đình. Giáo Hội cũng cần tiền để chi phí cho những nhu cầu thiêng liêng và mục vụ như phúc âm hóa thế giới, đào tạo chủng sinh, trợ giúp các xứ truyền giáo, các địa phận nghèo ở Phi Châu và Á Châu v.v...

Như thế, không ai có thể ngây thơ nói rằng chỉ cần tinh thần chứ không cần tiền hay của cải vật chất. Sự thật phải nhìn nhận là con người nói chung và Giáo Hội nói riêng đều cần có tiền và phương tiện vật chất tối thiểu để chi phí và sử dụng cho những nhu cầu rất cần thiết.

Nhưng có tiền để chi dùng vào những mục đích chinh đáng thì khác xa với lòng ham mê tiền của hơn cả những giá trị tinh thần và nhất là hơn cả yêu mến Thiên Chúa là cội nguồn của mọi phú quý giầu sang vĩnh cửu. Người không có tín ngưỡng thì tiền bạc, của cải vật chất và danh vọng trở thành mục đích tôn thờ, yêu mến của họ. Người tín hữu Chúa Kitô, ngược lại, phải tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự, và chỉ coi tiền bạc, của cải vật chất kể cả danh vọng như phương tiện tốt để sống hữu ích cho bản thân và làm việc bác ái mà thôi. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã chúc phúc cho "những ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ." (Mt 5:3)

Có tâm hồn nghèo khó thì không làm nô lệ cho tiền của, cho sự giầu sang chóng qua ở trần gian này, đến nỗi quên mất hay coi thường kho tàng trên Trời "nơi mối mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch mà lấy đi được." (Mt 6: 20; Lc 12: 33)

Không phải chỉ người tín hữu giáo dân cần có tâm hồn nghèo khó, mà cách riêng, các giáo sĩ và tu sĩ phải là những người nêu gương sáng trước tiên về tinh thần khó nghèo của Phúc Âm để không còn thi nhau ra nước ngoài tìm tiền hết đợt này đến đợt khác, làm phiền rất nhiều cho giáo dân ở Mỹ, ÚC, Canada v.v... Cụ thể, tại sao Giám mục hay Bề Trên các Nhà Dòng, Tu Hội không ở nhà lo dạy dỗ, đào luyện và thăm viếng những xứ hay cộng đoàn nghèo mà cứ bỏ đi một năm mấy lần ra nước ngoài làm gì? Xin tiền? Nhưng mang nhiều tiền về làm gì? Để giúp người nghèo, giúp các nhà Dòng thiếu cả nước mắm cho các nữ tu dùng bữa hàng ngày, hay để sửa sang nhà ở cho thêm sang trọng, tiện nghi hơn để sống thoải mái cho cá nhân mình trong khi bao nhiêu giáo dân và giáo sĩ thuộc quyền coi sóc vẫn đang thiếu thốn về nhiều mặt??? Đây là một thực trạng đáng buồn mà vì lương tâm và lòng yêu mến Giáo Hội phải bất đắc dĩ nói thêm một lần nữa chứ không hề có ác ý đả phá ai để làm gì. Ai có tai thì nghe.

Trở lại vấn đề nghèo khó nội tâm, người có nhiều tiền bạc và của cải vật chất vẫn có thể sống nghèo khó vì không tôn thờ hay làm nô lệ cho tiền bạc. Trái lại, chỉ dùng tiền bạc và của cải vật chất làm phượng tiện sống hữu ích cho mình và thực thi bác ái với anh chị em kém may mắn; cụ thể là chia sẻ, giúp đỡ những người nghèo khó thực sự về vật chất như không đủ cơm ăn, áo mặc và vô gia cư. Sử dụng tiền của vào những mục đích này chắc chắn là điều đẹp lòng Chúa và mưu ích thiêng liêng cho những ai giầu có mà biết khôn ngoan dùng tiền của để mua lấy "Kho tàng Nước Trời" như Chúa Giêsu đã nói với người thanh niên giầu có trong Tin Mừng Marcô. ( Mc 10: 21)

Để chỉ rõ mối nguy hại của sự giầu có mà thiếu bác ái, Phúc Âm thánh Luca kể dụ ngôn về người giầu có bị phạt xuống hỏa ngục trong khi người nghèo La-z a-rô được vào Thiên Đàng bên Tổ Phụ Abraham (Lc 16: 19-26). Người giầu bị phạt không phải vì tội giầu có, phú quý khi còn sống mà bị phạt vì không có lòng bác ái, không chút thương người nghèo La-da-rô hằng ngày ngồi ăn xin trước cửa nhà mình mà không được bố thí cho chút của ăn dư thừa.

Cụ thể hơn nữa là Dụ ngôn ngày Phán xét chung trong Phúc Âm Thánh Matthêu, Chúa (Đức Vua) nói với những người ở bên trái như sau:

"Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó. Vì xưa Ta đói, các người đã không cho ăn; Ta khát các người đã không cho uống...Ta trần truồng các người đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom..." (Mt 25: 41-43)

Như thế rõ ràng cho thấy, về một phương diện, Chúa Kitô thực sự hiện diện nơi những người khèo khó, đói rách, bệnh hoạn và tù đầy. Và Người mong đợi những ai giầu có, sẵn phương tiện vật chất hãy mở lòng bác ái thương giúp những anh chị em xấu số, đang sống kiếp nghèo hèn trong mọi xã hội chuộng vật chất, ích kỷ, vô luân và phi nhân bản ở khắp nơi trên thế giới ngày nay.

Chúa đến trần gian để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội, nhưng Người không tiêu diệt hết tội, bệnh tật, tai ương và nghèo đói trong trần gian này. Những thực tại này còn tồn tại đó để cho con người phải chiến đấu chống lại tội lỗi mà lập công, cũng như có dịp tốt để thi hành bác ái đối với những người nghèo khó, đau yếu bệnh tật, hoặc gặp những tai biến như động đất, sống thần (Tsunami) bão lụt, hỏa hoạn...

Những người bị Chúa quở phạt trên đây là những kẻ, khi còn sống, có phương tiện vật chất dồi dào nhưng đã không biết chia sẻ, thương giúp những người nghèo khó. Cho nên sự giầu có đã trở thành trở ngại cho họ được vào Nước Trời để hưởng vinh phúc giầu sang bất diệt với Chúa.

Điều nguy hại lớn nhất của lòng ham mê tiền của và sang giầu ở đời này là khiến con người trở nên ích kỷ, lãnh cảm (numb) trước sự đau khổ vì nghèo đói của biết bao đồng loại ở khắp mọi nơi trên thế giới – và tệ hại hơn nữa – là bóc lột người khác cách tàn nhẫn để làm giầu cho mình. Ham mê tiền của cũng dẫn đưa con người đến chỗ phản bội, quên tình quên nghĩa với người khác kể cả ân nhân của mình. Đó là trường hợp của Giuđa It-ca-ri-ôt, một trong 12 môn đệ của Chúa Giêsu đã bán Thầy lấy 30 đồng bạc và thất vọng đi treo cổ tự tử sau đó. (Mt 27: 5)

Như vậy, ham mê của cải, tiền bạc ở trần gian này là mối nguy hại và là trở ngại lớn nhất cho những ai muốn tìm sự sang giàu trên Nước Trời.

Và chính vì mối nguy hại đó mà Chúa phải cảnh giác chúng ta chớ nên ham mê tiền của ở đời này đến nỗi không còn mong muốn tìm kiếm sự sang giầu đích thực của Nước Trời, nơi trộm cắp không thể lấy được. Nói khác đi, chỉ những ai giầu có mà không biết dùng của cải vào việc mưu ích cho phần rỗi của mình và giúp ích cho người khác thì mới đáng bị chê trách mà thôi. Ngược lai, nếu biết dùng tiền của như phương tiện hữu ích để thực thi đức ái thì chắc chắn không có gì phải phiền trách.

Tóm lại, Chúa không lên án những người giầu có chỉ vì họ giầu có mà vì có những người giầu làm nô lệ cho tiền của đến nỗi tôn thờ nó thay vì chỉ phải tôn thờ Chúa trên hết mọi sự, như Chúa đã dạy các môn đệ xưa: "Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được." (Mt 6: 24)

Xin Chúa cho chúng ta sự khôn ngoan của Phúc Âm để biết dùng tiền của và phương tiện vật chất để làm vinh danh Chúa và mưu ích cho mình và cho người khác.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 91 92 93 94 95 Next > End >>

Page 94 of 95