mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4498
mod_vvisit_counterHôm Qua7708
mod_vvisit_counterTuần Này12206
mod_vvisit_counterTuần Trước52624
mod_vvisit_counterTháng Này115013
mod_vvisit_counterTháng Trước239272
mod_vvisit_counterTất cả11329702

We have: 142 guests online
Your IP: 54.162.123.74
 , 
Today: Jul 16, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 164 = CO DUOC XUNG TOI PDF Print E-mail

CÓ ĐƯỢC XƯNG TỘI VỚI CHÚA MÀ KHÔNG CẦN QUA TRUNG GIAN CỦA LINH MỤC KHÔNG ?

Hỏi : xin cha giải thích rõ :
1- Các mục sư Tin Lành cũng dạy phải ăn năn tội rồi xin Chúa tha thứ.Như vậy Chúa có tha mà không cần phải xưng tội qua một linh mục như Giáo Hội dạy hay không ?
2- Khi nào được phép xưng tội tập thể ?
Trả lời :
Như tôi đã có đôi lần nói rõ là chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mới có đầy đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu độ của Chúa cho những ai muốn lãnh nhận để được cứu rỗi.
Liên quan đến Bí Tích hòa giải ( penance= reconciliation) Chúa Kitô đã ban quyền tha tội cho các Tông Đồ và cho Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh Tông Đồ như sau :
" anh em tha cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." ( Ga 20: 23)
Như thế rõ ràng cho thấy là Chúa muốn cho con người phải chạy đến với những người trung gian thay mặt Chúa là các Tông Đồ xưa kia và các vị thừa kế các Tông Đồ ngày nay là các Giám Mục trong Giáo hội để nhận lãnh ơn tha thứ qua bí tích Hòa giải. Các giám mục lại ban quyền tha tội này cho các linh mục là những cộng sự viên thân cận trực thuộc cũng được chia sẻ Chức linh Mục đời đời của Chúa Kitô. ( Linh mục chia sẻ một phần, Giám Mục chia sẻ trọn vẹn Chức Linh Mục đó).
Nếu chỉ cần xưng tội trưc tiếp với Chúa mà không qua trung gian ai thì Chúa Giêsu đã không nói với các Tông Đồ những lời trên đây sau khi Người từ cõi chết sống lại và hiện ra với các ông, cũng như trước đó đã không phán bảo Phêrô những lời sau đây :
" Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên Trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều gì , trên trời cũng sẽ tháo gỡ như vậy." ( Mt 16: 19)
Với quyền to lớn trên đây, Giáo Hội- cụ thể là Đức Thánh Cha- có quyền ra hình phạt nặng nhất là vạ tuyệt thông ( ex-communication) và tháo gỡ vạ này.
Như vậy, muốn được ơn tha thứ của Chúa, thì buộc phải xưng tội cá nhân với một linh mục đã được chịu chức thành sự ( validly) và đang có năng quyền ( priestly Facultíe) được tha tội nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi). Sở dĩ thế, vì nếu một linh mục đang bị Giám mục của mình rút năng quyền - hay gọi nôm na là bị treo chén ( suspension. x. giáo luật số 1333)- thì tạm thời không được phép cử hành bí tích này và các bí tích khác cho đến khi được trao lại năng quyền đầy đủ .( trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục – dù đang bị "treo chén" vẫn được phép tha tội cho hối nhân đang lâm nguy mà không tìm được linh mục khác để xưng tội và lãnh phép lành sau hết. (x. giáo luật số 976).
Giáo lý và giáo luật của Giáo Hội cũng dạy phải xưng tội cá nhân với một linh mục như sau:
" Thú nhận tội lỗi của mình với vị linh mục là một điều chủ yếu của bí tích Giải tội.Khi xưng tội, các hối nhân phải kể ra tất cả các tội trọng mà mình biết đã phạm, sau khi xét mình cách nghiêm chỉnh, dù các tội này rất kín đáo và chỉ phạm đến hai giới răn sau cùng của bản thập giới; bởi vì các tội này làm cho linh hồn bị trọng thương hơn hết , và nguy hiểm hơn các tội ta phạm mà người khác biết rõ."( x, SGLGHCG số:1456; giáo luật số 960).
Như thế chắc chắn không thể nói như anh em Tin Lành là chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà không cần qua trung gian của ai. Dĩ nhiên Chúa tha tội khi ta thực tâm sám hối và xin Chúa thứ tha. Nhưng vẫn cần phải xưng tội với một linh mục thay mặt Chúa để tha tội, vì Chúa đã ban quyền ấy cho các Tông Đồ trước tiên và cho Giáo Hội ngày nay.
Nghĩa là khi Giáo Hội thi hành lời Chúa để cử hành các bí tích- cách riêng bí tích Hòa giải để tha tội cho con người nhân danh Chúa Kitô( in persona Christi), thì chúng ta phải nghe và tuân theo ý muốn của Giáo Hội, cũng là ý muốn của Chúa, là xưng tội với một linh mục để nhận lãnh ơn tha thứ của Chúa qua trung gian của các thừa tác viên con người là Giám mục và linh mục. Đây là điều các anh em Tin Lành không đồng ý với chúng ta nên họ dạy các tín đồ của họ chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.
Dĩ nhiên khi ta xưng tội với một linh mục, thì cũng xưng tội với Chúa để xin Người tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Và đây là ý muốn của Chúa Giêsu khi Người trao quyền tha tội cho các Tông Đồ xưa và cho Giáo hội ngày nay. Và đó là tất cả ý nghĩa lời Chúa dạy sau đây:
" ai nghe anh em là nghe Thầy.
Ai khước từ anh em là khước từ Thầy
Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)
Kinh nghiệm thiêng liêng của mỗi người chúng ta cho ta biết rằng mỗi khi xưng tội – đặc biệt là tội trọng- cách thành thật và với tinh thần sám hối , thì ta cảm thấy nhẹ nhõm và an vui trong tâm hồn, một cảm giác mới lạ của an vui sung sướng, khác hẳn với tâm tình sẵn có trước khi xưng tội. Điều này chứng minh cụ thể là Chúa đã tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Ngược lại, khi có tội trọng hay nhẹ mà chỉ xin Chúa tha thứ nhưng không đi xưng tội, thì không bao giờ cảm nghiệm được sự an vui nội tâm như khi xưng tội với một linh mục và nhận lãnh ơn tha thứ ( absolution).
Các anh em tin Lành không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, dù cho họ có ca tụng lòng thương xót của Chúa, có sám hối nội tâm và xin Chúa tha thứ mà không đi xưng tội như người Công giáo. Họ không đi xưng tội vì trước hết họ không công nhận vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc ban phát các ơn sủng của Chúa cho con người, cho nên họ chủ trương đi thẳng tới Chúa là vì vậy.
Vả lại, tất cả các nhánh Tin Lành và Anh Giáo ( Anglican Communion) đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nên không có chức linh mục và giám mục để cử hành hữu hiệu các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức dầu nệnh nhân và truyền Chức Thánh. Chính vì họ không có chức linh mục hữu hiệu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể và tha tội cho ai được. Đó là lý do tại sao họ giảng dạy chỉ cần xưng tội trực tiếp với Chúa vì họ cho rằng các thừa tác viên con người như linh mục và giám mục không có năng quyền tha tội cho ai như Giáo Hội Công Giáo tin và dạy..
Tóm lại, là người Công giáo, chúng ta phải nghe và thi hành những gì Giáo Hội là Mẹ dạy bảo thay mặt Chúa Kitô để bỏ ra ngoài tai những gì không phù hợp với giáo lý, tín lý, luân lý và phụng vụ của Giáo Hội.

2-Khi nào được xưng tội tập thể ( communal confessions) ?
Thông thường thì phải xưng tội cá nhân, nghĩa là xưng tội riêng với một linh mục sau khi đã xét mình nghiêm chỉnh và sám hối nội tâm.
Tuy nhiên, trong thực tế, có những hoàn cảnh mà linh mục không thể giải tội cá nhân cho nhiều người trong một thời lượng hạn chế. Thí dụ, khi có thiên tai, bão lụt, đắm tầu hay động đất gây nguy tử cho nhiều người ở một địa phương nào, khiến linh mục không thể có đủ giờ để nghe từng hối nhân muốn xưng tội trong những hoàn cảnh ấy,.
Lại nữa, trong những dịp trọng đại như Lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh là những dịp có rất nhiều người muốn xưng tội. Nhưng chỉ có một mình cha xứ phải làm mục vụ cho một giáo xứ lớn hay nhiều xứ nhỏ họp lại,thì không thể nào giải tội cá nhân cho một số lớn hối nhân trong một thời gian ngắn được. Do đó, vì nhu cầu mục vụ và vì lợi ích thiêng liêng của giáo dân, linh mục được phép cử hành bí tích hòa giải tập thể. Nghĩa là cho gom giáo dân lại và giúp họ xét mình, thống hối ăn năn, rồi ban phép tha tội tập thể cho họ. Nhưng việc này phải được phép trước của giám mục giáo phận. Vì thế, ở mỗi giáo phận, giám mục địa phận sẽ cho phép trường hợp nào có thể giải tội tập thể.Nghĩa là, linh mục không thể tự ý giải tội tập thể mà không có phép của giám mục giáo phận; trừ trường hợp nguy tử như đắm tầu, động đất, chiến tranh, khiến nhiều người- trong đó có người công giáo- có thể chết mà không kịp xưng tội cá nhân. Nên nếu linh mục có mặt, thì được phép giải tội tập thể cho các tin hữu công giáo trong cơn nguy tử đó. Nhưng dù được tha tội tập thể trong những trường hợp trên, nếu ai xét mình có tội trọng thì- sau khi qua cơn nguy biến- vẫn buộc phải xưng tội cá nhân sau đó với linh mục.( giáo luật số 961-62).
Ước mong giải đáp trên đây thỏa mãn những câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 158 = TONG DO SIMON VA GIUDA PDF Print E-mail

Nhị vị Tông đồ Simon và Giuđa

Ngày 28 tháng 10, Giáo hội kính nhớ hai Thánh Tông đồ Simon và Giuđa.

Thánh Matthêu và Thánh Máccô gọi Thánh Giuđa là Tađêô – vì trùng tên với Giuđa ở Iscariốt, nên Thánh Giuđa được gọi là Tađêô cho khỏi lộn. Phúc âm không đề cập riêng mà chỉ đề cập chung hai vị này trong 4 danh sách các tông đồ. Các học giả cho rằng Thánh Giuđa không là tác giả của Thư Giuđa.

Thánh Giuđa có biệt danh là "nhiệt thành" (Zealot). Thực ra Zealot là quá khích, đó là một giáo phái Do Thái đại diện cho chủ nghĩa ái quốc cuồng nhiệt của người Do Thái. Với họ, lời hứa trong Cựu ước có nghĩa là người Do Thái sẽ được giải phóng và độc lập.

Thiên Chúa là Vua của họ, và việc nộp thuế cho đế quốc La Mã là điều phỉ báng Thiên Chúa. Chắc chắn một số người quá khích là những người thừa kế của Macabê, thực hiện lý tưởng tôn giáo và độc lập. Nhưng nhiều người là bản sao của những kẻ khủng bố thời hiện đại. Họ tấn công và giết người, tấn công cả người hợp tác là ngoại bang. Trách nhiệm của họ là nổi loạn chống đế quốc La Mã, kết thúc bằng việc phá hủy Đền thờ Giêrusalem vào năm 70.

Có thể hai Thánh Simon và Giuđa đã rao giảng Tin Mừng ở Mesopotamia và Persia (Ba Tư), thực sự chúng ta không có gì chắc chắn hơn ngoài thông tin từ Tân ước cho biết nhị vị này là Tông đồ của Chúa Giêsu.

Thánh Simon là cháu thúc bá của Thánh Giuse, cha của Thánh Simon là ông Cleophas hoặc Alpheus, và là em họ của Chúa Giêsu. Thánh Giuđa là một trong số người được gọi là đồng bào của Chúa Giêsu. Chúng ta có thể biết qua Phúc Âm theo Thánh Gioan về một chi tiết quý giá liên quan Thánh Simon. Sau Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu nói: "Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy" (Ga 14:21). Ông Giuđa, không phải Giuđa Ítcariốt, nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, tại sao Thầy phải tỏ mình ra cho chúng con, mà không tỏ mình ra cho thế gian?" (Ga 14:22). Đức Giêsu đáp: "Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy. Ai không yêu mến Thầy, thì không giữ lời Thầy. Và lời anh em nghe đây không phải là của Thầy, nhưng là của Chúa Cha, Đấng đã sai Thầy" (Ga 14:23-24).

Thánh Simon là bổn mạng của những người thuộc da và thợ cưa. Thánh Giuđa là bổn mạng của những người thất vọng, những người bị bỏ rơi, và các bệnh viện. Phúc Âm theo Thánh Luca và sách Công vụ có nhắc đến Thánh Giuđa. Thánh Matthêu và Thánh Máccô gọi ngài là Tađêô. Trong các Phúc Âm, Thánh Giuđa không được đề cập riêng biệt, chỉ được đề cập chung với các tông đồ khác.

Thánh Simon năng nổ trong việc làm vinh danh Đại Sư Giêsu, và mạnh mẽ phản đối những người chỉ tuyên xưng đức tin bằng môi miệng, chỉ làm ô danh đức tin bằng cách sống không tuân thủ luân thường đạo lý. Phúc Âm có vẻ không nói gì hơn về ngài ngoài việc được Chúa Giêsu thu nhập ngài vào Tông Đồ Đoàn – Nhóm Mười Hai. Phần còn lại, ngài đón nhận các tặng phẩm kỳ lạ của Chúa Thánh Thần, và sau đó ngài thực hành với lòng nhiệt thành và trung tín.

Nếu ngài truyền giáo ở Ai Cập, Cyrene, và Mauritania, hẳn là ngài đã trở lại Đông phương. Trong sách "Các Vị Tử Đạo" của Thánh Giêrônimô, Bede, Ado và Usuard đã ghi ngài tử đạo ở Ba Tư, đó là thành phố Suanir, có thể là vùng Suani, một dân tộc ở Colchis, hoặc ở Sarmatia, rồi liên kết với người Parthian (Tây Á xưa) ở Ba Tư. Điều này có thể hợp với đoạn văn trong sách Công vụ của Thánh Anrê, nói rằng ở Cimmerian Bosphorus có một ngôi mộ trong tình trạng hư hỏng, có câu ghi rằng Thánh Simon đã được an táng ở đó. Người ta còn nói rằng ngài chịu chết bằng cách bị đóng đinh.

Được biết, Đền thờ Thánh Phêrô tại Rôma và Giáo đường Toulouse là nơi giữ phần thánh tích chủ yếu của hai Thánh Simon và Giuđa.

Lạy nhị vị Tông đồ, xin nguyện giúp cầu thay!

TRẦM THIÊN THU

Kính chuyển:

Hồng

------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 163 = THUONG PHAT DOI DOI PDF Print E-mail

CÓ THƯỞNG PHẠT ĐỜI ĐỜI KHÔNG ?
Nhân tháng các linh hồn sắp tới, xin cha cho biết:
1- Chúa có phạt ai xuống hỏa ngục không ?
2- Luyện ngục ,hỏa ngục khác nhau như thế nào ?
3- Tín điều các Thánh thông công là gì ?
Trả lời :
1- Chúa có phạt ai xuống hảo ngục không ?
Thiên Chúa là tình thương, Người chậm bất bình và hay tha thứ. Người tạo dựng con người chỉ vì yêu thương vô vị lợi và " muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4). Nghiã là Chúa muốn cho mọi người được vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Người trên Thiên Đàng, là nơi không còn đau khổ , bệnh tật, nghèo nàn, bất công và chết chóc nữa.
Hạnh phúc Thiên Đàng là hạnh phúc mà " mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe lòng người chưa hề nghĩ tới, đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Người." ( 1 Cor 2: 9) Như Thánh Phaolô đã viết.
Nhưng muốn hưởng hạnh phúc Thiên Đàng thì phải yêu mến Chúa và tuân giữ các giới răn của Người.
Tại sao ? tại vì Thiên Chúa là " tình thương" nên " ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa" ( 1 Ga 4 : 8)
Biết Thiên Chúa là tình thương , mà quả thật Người là tình thương thì lẽ tự nhiên ta phải yêu mến Người với tất cả tâm trí và nghị lực để đáp trả phần nào tình thương quá lạ lùng của Chúa dành cho con người. Vả Lại, yêu mến Chúa chỉ có lợi cho ta chứ Chúa không được lợi lộc gì vì Người đã quá đủ hạnh phúc , giầu sang nên không cần ai thêm gì cho Người nữa.
Tuy nhiên, vì Thiên Chúa tạo dựng con người với hai đặc tính độc đáo là có lý trí và ý muốn tự do ( intelligence and free will) và Thiên Chúa hoàn toàn tôn trọng cho con người sử dụng hai khả năng đó, nên vấn đề thưởng phạt mới được đặt ra cho riêng con người mà thôi.Nghĩa là nếu con người , qua lý trí, nhận biết có Thiên Chúa là Đấng tạo thành trời đất và muôn vật – trong đó có con người- thì con người phải sử dụng ý muốn tự do của mình để chọn yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người để được cứu rỗi và vui hưởng hạnh phúc Nước Trời, chiếu theo ánh sáng của lời Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa là:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa !, Lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 : 21)
Nhưng thế nào là thi hành ý muốn của Chúa Cha ?
Chúa Giê su đã chỉ rõ cho ta cách thi hành ý muốn của Chúa Cha như sau :.
" ai yêu mến Thầy , thì sẽ giữ lời Thầy
Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy
Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy." ( Ga 14: 23)
Giữ lời Thầy có nghĩa là thực thi những gì Chúa đã rao giảng và dạy bảo , cụ thể là hai Điều Răn quan trọng nhất, đó là mến Chúa và yêu người, như Chúa đã nói với một luật sĩ Do Thái xưa. ( Mt 22: 37-39)
Như vậy , thực thi hai Điều Răn đó là chứng minh cụ thể lòng yêu mến Chúa và xứng đáng được " Cha Thầy và Thầy đến ở" với ta như Chúa Giê su nói trên đây.
Là con người , ai lại không muốn hạnh phúc, sung sướng và bình an ? nên yếu mến Chúa là yêu mến chính nguồn hạnh phúc, an vui vĩnh cửu đó.Như thế, chỉ có lợi cho con người khi chọn yêu mến Chúa, chứ tuyệt đối không có lợi lộc gì cho Chúa hết. Chúng ta phải xác tín điều này, để đừng ai nghĩ rằng Thiên Chúa được lợi lộc gì khi ta yêu mến và tuân giữ các giới răn của Người. .
Đó là điều chắc chắn ta phải tin khi thi hành các Điều Răn của Chúa để không giết người, trộm cắp. gian dâm, thông dâm, mãi dâm, ấu dâm, phái thai, ly dị, thù oán người khác, kỳ thị chủng tộc, nói xấu , vu cáo làm hại danh dự và đời tư của người khác, bất công , bóc lột người làm công cho mình, và dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của anh chị em đồng loại.
Nếu ta tuân giữ các Điều Răn của Chúa để không làm những sự dữ hay tội lỗi nói trên, thì chúng ta đã yêu mến Chúa cách cụ thể để được " ở lại trong tình thương của Người" như Chúa Giêsu đã dạy trên đây. Ngược lại, nếu ai dùng " ý muốn tự do= free will để làm những sự dữ nói trên thì đã tự ý và công khai khước từ Thiên Chúa và tình thương của Người. Như thế họ phải lãnh chịu mọi hậu quả của việc mình làm vì tự do chọn lựa.
Chính vì con người có tự do để chọn lựa , hoặc sống theo đường lối của Chúa để được chúc phúc; hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng mình và chạy theo những lôi cuốn của thế gian , nhất là những cám dỗ của ma quỉ để tôn thờ tiền bạc, của cải vật chất và mọi thú vui vô luân vô đạo, như thực trạng sống của con người ở khắp nơi trong thế gian tục hóa ngày nay.Nếu ai chọn sống như vậy, thì cũng đã tự ý chọn nơi cư ngụ cuối cùng cho mình, sau khi phải chết trong thân xác có ngày phải chết đi này.Thiên Chúa yêu thương con người và đã cứu chuộc con người nhờ Chúa Kitô. Nhưng Thiên Chúa cũng gớm ghét mọi tội lỗi, vì tội lỗi và sự dữ đi ngược lại với bản chất yêu thương, công bình và thánh thiện của Người. .
Nhưng cho dù Thiên Chúa quá yêu thương con người như vậy, mà con người không cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và xa tránh mọi sự dữ và tội lỗi thì Chúa vẫn không thể cứu ai được. Lý do là Chúa không tiêu diệt hết mọi tội lỗi và vì con người còn có tự do để cộng tác với ơn cứu chuộc của Chúa , hay khước từ ơn cứu chuộc này để sống theo thế gian và làm nô lệ cho ma quỉ, kẻ thù của Thiên Chúa.
Như vậy, nếu Thiên Đàng là nơi dành cho những ai thực tâm yêu mến Chúa, tuân giữ các giới răn của Người và quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi, thì hỏa ngục phải là nơi dành cho những ai đã cố ý khước từ Chúa và tình thương của Người để sống theo ma quỷ và làm những sự dữ như giết người, hiếp dâm và bán con gái nhỏ dại cho bọn buôn người cung cấp cho bọn đi tìm thú vui man rợ cực kỳ khốn nạn là thú "ấu dâm", như đang diễn ra ở nhiều nơi trên thế giới trống vắng niềm tin này. Như thế, phải có hỏa ngục dành cho những kẻ gian ác đã tự ý chọn cho mình nơi ở vinh viễn xa lìa Thiên Chúa ngay từ ở đời này. Nghĩa là họ đã tự ý chọn hỏa ngục vì cách sống của họ, chứ không phải vì Thiên Chúa muốn phạt ai ở chốn này, vì Người là Cha đầy yêu thương và " không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải." ( 2 Pr 3 : 9).
2- Sự khác biệt giữa hỏa ngục và Luyên tội :
Chúa Giê su thường nói đến hỏa ngục là nơi lửa không bao giờ tắt ( Mt 5: 22).
Thánh Gioan Tông Đồ đã coi những kẻ sát nhân là những kẻ không có sự sống đời đời ,tức là phải xa lìa Thiên Chúa trong nơi gọi là hỏa ngục:
" Phàm ai ghét anh em mình, thì là kẻ sát nhân
Và anh em biết:
Không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó" (1 Ga: 15)
Nhưng cần phân biệt điều này: con người dù tội lỗi đến đâu, mà biết sám hối ăn năn thì vẫn được Chúa thương tha thứ. Cụ thể là Chúa Giêsu đã tha thứ cho người gian phi ( kẻ trộm lành) nhận biết tội mình và xin Chúa tha thứ:
" Tôi bảo thật anh, hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." ( Lc 23: 39-43) .
Ngược lại, chỉ những ai tội lỗi mà không hề sám hối để xin Chúa tha thứ , đặc biệt là tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức tội hoàn toàn từ chối lòng thương sót của Chúa cho đến chết , thì sẽ không bao giờ được tha thứ, như Chúa Giê su đã nói rõ trong Tin Mừng Thánh Marcô.( Mc 3: 29)
Lại nữa, những ai chết đang khi mắc tội trọng ( mortal sin) thì cũng chịu hình phạt hỏa ngục, căn cứ theo giáo lý của Giáo Hội. ( X SGLGHCG, số 1035) . Tuy nhiên , cần nói lại là Thiên Chúa không tiền định cho ai phải xuống hỏa ngục , hoặc muốn phạt ai trong nơi "lửa không hề tắt" này. Nhưng vì con người có tự do trong đời sống thiêng liêng, nên nếu ai dùng tự do này để xa lìa Chúa , để tự do làm những sự dữ mà không hề biết ăn năn, xin Chúa thứ tha thì đã tự ý chọn hỏa ngục làm nơi cư ngụ cuối cùng cho mình.
Trái với hỏa ngục , Luyên ngục hay Luyên tội ( Purgatory) là nơi các linh hồn thánh ( holy souls) được thanh luyện để đạt được sự thánh thiện cần thiết trước khi vào Thiên Đàng vui hưởng Thánh Nhan Chúa là nguồn vui hạnh phúc của các thánh và các thiên thần.Các linh hồn đang " tạm trú" ở đây là những người đã ra đi trong ơn nghĩa Chúa, tức là được bảo đảm về ơn cứu độ, nhưng vẫn cần được thanh luyện để đạt mức thánh thiện cân xứng trước khi gia nhập hàng ngũ các Thánh trên Thiên Quốc. Các linh hồn thánh này không thể làm thêm việc thiện, và cũng không thể phạm tội được nữa vì thời giờ đã mãn cho họ trên trần gian này. Vì thế, trong khi còn được thanh luyện ở nơi đây, các linh hồn mong đợi các Thánh trên Thiên Đàng và các tín hữu còn sống cứu giúp họ bằng lời cầu nguyện và các việc lành. Ngược lại, các linh hồn cũng có thể cầu xin đắc lực cho các tín hữu còn sống trên trần thế và trong Giáo Hội lữ hành. Nhưng các Thánh trên Trời, các linh hồn thánh trong Luyện ngục và các tin hữu còn sống không thể giúp gì cho các linh hồn đã lìa xa Chúa trong hỏa ngục, vì không có sự hiệp thông nào giữa nơi này với Thiên Đàng, Luyện ngục và Giáo Hội đang lữ hành trên trần thế.
3 – Tín điều các Thánh Thông Công ( communion of Saints )
Tín điều này dạy: chỉ có sự hiệp thông giữa Giáo Hội vinh thắng ( Triumphal Church) trên trời và Giáo Hội lữ hành ( Pilgrim Church) trên trần thế cùng với Giáo Hội đau khổ ( Suffering Church) trong Luyện Tội. Nghĩa là các Thánh trên Trời , các linh hồn thánh trong Luyện tội và các tín hữu còn sống và đang hiệp thông với Giáo Hội, cả ba thành phần này được hiệp thông với nhau trong cùng một niềm tin, tôn thờ Thiên Chúa , nhờ Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần.
Các Thánh nam nữ trên trời hiệp thông với các linh hồn thánh trong Luyện Tội và các tín hữu trên trần gian bằng lời nguyện giúp cầu thay đắc lực trước Tòa Chúa cho các linh hồn và các tín hữu còn sống. Các linh hồn trong Luyện tội không thể tự giúp mình được nhưng có thể cầu xin cho các tin hữu còn sống. Các tín hữu có thể làm việc lành như cầu nguyện. làm việc bác ái và xin lễ cầu cho các linh hồn trong Luyên Tội ( cách riêng trong tháng 11 là thánh dành cầu nguyện cho các linh hồn) được mau vào Thiên Đàng hưởng Thánh Nhan Chúa.
Đó là nội dung tín điều các Thánh thông Công giữa các Thánh trên Thiên Đàng, các linh hồn thánh trong Luyện Tội và các Tín hữu trên trần thế.
Như thế, chỉ có những ai đang xa lìa Chúa ở chốn hỏa ngục thì không được thông hiệp với các Thánh trên trời , các Linh hồn trong Luyện tội và các Tín hữu còn sống trên trần gian này.Do đó, không ai có thể làm gì để cứu giúp họ được nữa.
Vậy chúng ta hãy cố gắng làm việc lành trong tháng 11 này để cầu cho các linh hồn được mau hưởng Thánh Nhan Chúa.Chắc chắn các linh hồn sẽ biết ơn và cầu xin Chúa cách đắc lực cho chúng ta.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 162 = MỘT HÀI TÍCH PDF Print E-mail

Oct 21 at 7:49 PM

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II - Một Hài Tích còn sót
Kỷ niệm Đăng Quang Giáo Hoàng 34 năm (22/10/1978-2014) và bị ám sát chết hụt 33 năm (1981-2014)
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Hầu như ai cũng biết Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã bị ám sát tại Quảng Trường Thánh Phêrô nhưng không chết vào ngày 13/5/1981. Tôi đã được hân hạnh thấy được những dấu tích của biến cố mà tôi thường gọi là "tiếng súng lệnh báo hiệu cộng sản Âu Châu sụp đổ" này. Đó là khẩu súng bắn ngài và chiếc áo của người vệ sĩ dính máu của ngài, tại bảo tàng viện Gioan Phaolô II ở Balan. Khẩu súng lục bằng thiếc bóng loáng được đặt ở một cái lỗ dưới sàn nhà có kính đậy bên trên để khách thăm viếng dẵm lên cũng không sao. Chiếc áo của người vệ sĩ dính máu của ngài thì được treo ở trong một cái tủ kính đứng.

Bảo tàng viện chất chứa biết bao nhiêu là kỷ vật và di tích lịch sử của vị giáo hoàng "đến từ một xứ sở xa xôi" (lời ngài ngỏ khi trình diện với thế giới và cộng đồng dân Chúa sau cuộc bầu giáo hoàng ngày 16/10/1978) là Balan cộng sản thời bấy giờ này, khi tôi đến, Thứ Bảy Đầu Tháng ngày 3/5/2014, mới khai trường được 2 tuần lễ. Bảo tàng viện này có 4 tầng, trong đó có cả 3 gian phòng của gia đình hai bố con ngài ngày xưa ở, vì khu nhà ngài ở đã hoàn toàn biến thành bảo tàng viện, ngay bên cạnh ngôi nhà thờ ngài đã được rửa tội, rước lễ và thêm sức, và rất gần với ngôi trường tiểu học ngài đã cắp sách đến trường khi còn thiếu nhi. Tất cả khu vực bao gồm 3 cơ sở chính yếu này đều nằm ở trong một khu vực được gọi là Quảng Trường Gioan Phaolô II.



Tuy nhiên, trong bảo tàng viện này, hay bất cứ bảo tàng viện nào trên thế giới lưu giữ đủ mọi di tích của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II vẫn không thể nào có được một di tích bất khả thiếu của ngài liên quan đến biến cố ngài bị ám sát không chết ấy. Di tích ấy đang được trân quí lưu giữ tại một nơi duy nhất không phải là bảo tàng viện, đó là "Regina Mundi" House của Dòng Nữ Tử Bác Ái Thánh Vincent de Paul ở nội thành Vatican. Thật vậy, đó là chiếc áo khoác bằng vải bông (cotton vest) của vị thánh giáo hoàng này. Tại sao di tích quí báu này lại bị bỏ sót nơi các bảo tàng viện chính thức lưu giữ các di tích của ngài? Xin thưa, tại vì:

Vào ngày 13/5/1981, ngay sau khi vị giáo hoàng xuất thân từ một nước cộng sản của chúng ta bất ngờ bị một tín đồ Hồi giáo người Thổ Nhĩ Kỳ là Mehmet Ali Agca mưu sát vào lúc 5 giờ 19 phút chiều ở Quảng Trường Thánh Phêrô, ngài đã được cấp tốc đưa vào bệnh viện "Agostino Gemelli" là nơi đang chờ để giải phẫu gấp cho ngài sau khi được khẩn báo, dưới quyền điều khiển của Giáo Sư Francesco Crucitti. Tại phòng mổ, vào lúc 5 giờ 55 phút chiều, để cấp cứu nhanh bao nhiêu có thể, ngài đã được lột trần ra, bao gồm cả chiếc áo vest của ngài bị cắt bỏ không thương tiếc, (thay vì mất công và mất giờ phải khó khăn lắm mới cởi ra được), và chiếc áo bị bỏ rơi ngay xuống sàn nhà.

Thấy thế, cô y tá vốn làm việc ở phân bộ giải phẫu hằng ngày trong bệnh viện này là Anna Stanghellini liền âm thầm và cẩn thận cất vào tủ đồ của mình trong nhà thương, rồi sau đó mang về nhà giữ cho đến Đại Năm Thánh 2000 thì quyết định trao cho Tỉnh Dòng Nữ Tử Bác Ái Thánh Phaolô là hội dòng người nữ y tá này đã một thời tu trì từ năm 1964 như là một tập sinh. Tuy không còn tu và theo nghề y tá, người nữ y tá ấy vẫn gắn bó với hội dòng, nhất là sau khi về hưu năm 1996 đã dọn đến ở gần hội dòng và qua đời vào năm 2004.

Nhận được bảo vật này từ cô y tá Anna Stanghellini ấy, vị nguyên giám tỉnh là Mẹ Beatrice tỏ ra rất trân quí và cất giữ bên trong một tủ kính đàng hoàng. Sau khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời ngày 2/4/2005, mẹ bề trên này cho Đức Tổng Giám Mục Piero Marini bấy giờ đang phụ trách về Lễ Nghi của Tòa Thánh thấy, và vị này tin tưởng vào tính chất chân thực của bảo vật, bởi có kèm theo cả một chứng thư do chính người nữ y tá nhân chứng Anna viết bảo đảm. Tuy nhiên, vị tổng giám mục này đã yêu cầu để bảo vật ấy ở trong Tòa Thánh Vatican. Các nữ tu lấy làm tiếc vì tưởng chẳng bao giờ lấy lại được nữa thì mấy ngày sao vị tổng giám mục gọi mẹ đến lấy lại mang về.

Ngày 1/5/2011 là ngày bảo vật này đã thực sự chính thức trở thành di tích thánh, vì hôm ấy Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II được Giáo Hội tôn phong Chân Phước hay Á Thánh cũng vậy. Từ đấy di tích thánh này của vị tân chân phước đã được để ở một trong các ô bàn thờ nhỏ trong nhà thờ lớn của hội dòng.

Tấm áo vest trở thành di tích thánh này có thể thấy, qua khung kính, bị xẻ ở cả hai bên, có những vết máu đen ở khoảng bụng và 3 lỗ như đã bị các viên đạn bắn xuyên qua áo mặc, và trên cổ có hai mẫu tự tắt "JP" được thêu đỏ. Chưa hết, chung quanh tấm áo vest bảo vật thánh này, còn được các nữ tu treo những mảnh báo có hình của vị giáo hoàng nạn nhân vào lúc bị mưu sát, hìng ngài ở trên giường nhà thương sau giải phẫu, cũng như hình của tay sát thủ Ali Agca và của nữ y tá Anna Stanghellini. Ngoài ra còn có cả chứng thư của người nữ y tá chứng nhân này v.v.

Trụ sở tỉnh dòng Nữ Tử Bác Ái Thánh Vincent de Paul ngày xưa nay đã trở thành "Regina Mundi" House, một dưỡng trí viện của các nữ tu lão thành và bệnh tật. Tuy nhiên, hiện nay nhà nguyện của hội dòng ở đây đã trở thành một trong những ngôi đền của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nơi mà sau mỗi buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư (general audience) hằng tuần với đức giáo hoàng ở Quảng Trường Thánh Phêrô, khách hành hương, ngoài việc tuốn vào Đến Thờ Thánh Phêrô để thăm mộ của ngài ở phía cuối đền thờ, cũng thường ghé đến kính viếng di tích bị bỏ sót này của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Tài liệu được lấy từ http://www.zenit.org/en/articles/the-unknown-relic-of-st-john-paul-ii

-----------------

 
HOC HOI DE SONG DAO #161 = 5 BI AN THU VI PDF Print E-mail

5 bí ẩn thú vị
NICK SQIRES (Rôma)

***
1. CHÉN CỰC THÁNH VÀ CHÉN THÁNH
Chén thánh (Holy Chalice) được coi là Chén Cực Thánh (Holy Grail) mà Chúa Giêsu đã dùng khi ăn Bữa Tiệc Ly với các môn đệ. Chén thánh tại Giáo đường Valencia ở Tây Ban Nha được coi là thánh tích của Chén Cực Thánh, nhưng Tòa Thánh chưa công nhận là chén mà Chúa Giêsu đã dùng.
2. HÒM BIA GIAO ƯỚC
Cựu Ước nói rằng Môsê được Thiên Chúa trao cho Mười Điều Răn trên Núi Sinai và nhận trọng trách đưa dân ra khỏi Ai Cập.
Mười Điều Răn được khắc trên bảng đá, rồi được đặt trong chiếc hộp bằng gỗ dát vàng, phía trên có hai thiên thần bằng vàng – gọi là Hòm Bia Giao Ước (Ark of Covenant).
Hòm Bia này đặt trong Đền thờ Solomon ở Giêrusalem nhiều thế kỷ qua. Cuộc truy tìm Hòm Bia như một truyền thuyết, được mô tả trong phim "Mất Hòm Bia" (Lost Ark) của đạo diễn Indiana Jones.
Tháng 5-2008, các nhà khảo cổ Đức tuyên bố rằng đã tìm thấy ở Ethiopia ó di tích dinh thự của Nữ hoàng Sheba từ thế kỷ thứ 10 trước công nguyên và một bàn thờ có lưu giữ báu vật. Truyền thuyết Ethiopia nói rằng Hòm Bia được Hoàng đế Solomon đưa tới dinh thự của Nữ hoàng Sheba sau khi ông "phải lòng" bà này.
3. THÁNH GIÁ THẬT
Các nhà thờ ở Âu châu đều nói rằng có sở hữu các mảnh gỗ của Thánh Giá mà Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh. Nhiều nhà thờ nói rằng đã được Thánh Helena đưa các mảnh gỗ Thánh Giá đó về từ Thánh Địa. Thánh Helena là mẹ của Hoàng đế Constantine, người đã hợp thức hóa Kitô giáo tại Đế quốc Rôma năm 313. Một số thánh tích nổi tiếng nhất được giữ tại Nhà thờ Thánh Giá ở Giêrusalem –Ý ngữ là Nhà thờ Santa Croce. Tại đây có 3 mảnh Thánh Giá thật, 1 cây đinh đã đóng Chúa Giêsu, và một xương ngón tay trỏ của Thánh Thomas Tông đồ.
4. KINH THÁNH BIỂN CHẾT
Được coi là một trong các phát hiện khảo cổ quan trọng của thế kỷ 20, Kinh Thánh Biển Chết (Dead Sea Scrolls) được một người chăn chiên phát hiện tại một hang động ở Qumran năm 1947, trên bờ Biển Chết.
Cuộn Kinh Thánh này đã 2.000 tuổi, có gần 1.000 bản văn bằng tiếng Do Thái cổ, tiếng Aram và tiếng Hy Lạp. Các bản văn này cho biết về Do Thái giáo thời kỳ đầu và nguồn gốc Kitô giáo. Đa số các học giả đều tin rằng các bản văn được ghi lại bởi giáo phái Essenes – một giáo phái thứ hai của Do Thái giáo. Kinh Thánh Biển Chết được giữ trong một phòng tối, có điều hòa nhiệt độ, tại Viện Bảo Tàng Israel ở Giêrusalem.
5. KHĂN OVIEDO
Theo La ngữ, sudarium nghĩa là "khăn lau mồ hôi". Khăn này được coi là khăn đã quấn quanh đầu Chúa Giêsu khi Ngài được an táng. Khăn này được giữ tại Nhà thờ San Salvador ở Oviedo (Tây Ban Nha) và mỗi năm được trưng bày mỗi năm ba lần cho người ta kính viếng.
Năm 1998, người ta đã xét nghiệm tấm khăn ở Oviedo và tấm khăn liệm ở Turin, thấy rằng máu ở hai khăn đều giống nhau, vải cũng giống nhau.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Telegraph.co.uk)
Kính chuyển:
Hồng

 
<< Start < Prev 91 92 93 94 95 96 97 98 99 100 Next > End >>

Page 94 of 137