mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7902
mod_vvisit_counterHôm Qua6723
mod_vvisit_counterTuần Này37981
mod_vvisit_counterTuần Trước54956
mod_vvisit_counterTháng Này186112
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11150705

We have: 102 guests online
Your IP: 54.225.31.188
 , 
Today: Jun 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO -THU NAM- CN9TN-B PDF Print E-mail

THỨ NĂM - CN9TN-B

Suy Niệm - Cảm Nghiệm - SỐNG LỜI CHÚA

Tin Yêu Lẽ Sống

Phụng vụ Lời Chúa cho Thứ Năm của Tuần IX Thường Niên hôm nay bao gồm bài Phúc Âm của Thánh ký Marco (12:28b-34) và bài đọc 1 trích từ Sách Tobia (6:10-11a; 7:1,9-17; 8:4-10) cùng với bài Đáp Ca trích từ Thánh Vịnh 127 (1-2,3,4-5), tất cả đều phản ảnh ý nghĩa của chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh ở một khía cạnh nào đó.

Trước hết, lời Chúa Giêsu trong bài Phúc Âm đã cho thấy "sự sống" thần linh là ở chỗ kính mến Thiên Chúa hết bản thân mình: "hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức", cùng yêu thương tha nhân như bản thân mình: "hãy yêu mến tha nhân như chính mình ngươi".

Giới răn thứ hai "yêu tha nhân như bản thân mình" là giới răn gắn liền bất khả phân ly với giới răn thứ nhất và là giới răn bất khả châm chước. Đến độ, Chúa Giêsu đã khẳng định với vị luật sĩ hỏi Người "trong các giới răn, điều nào trọng nhất?" về cả 2 giới răn bất khả phân ly này rằng: "Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó", một câu trả lời chí lý khiến nhà thông luật đặt vấn nạn đã phải công nhận một cách rất chính xác rằng: "Yêu mến Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức mình, và yêu tha nhân như chính mình thì hơn mọi lễ vật toàn thiêu và mọi lễ vật hy sinh", một nhận thức tuyệt vời chỉ cần thực hành nữa là trọn vẹn nên vị luật sĩ đã được Chúa Giêsu vừa khen tặng vừa phấn khích rằng: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa bao nhiêu".

Thế nhưng, vấn đề được đặt ra ở đây là tại sao "Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó"? Phải chăng "yêu thương là hoàn trọn lề luật" (Roma 13:10)!? Và phải chăng yêu thương mới làm cho con người hiệp thông thần linh với Thiên Chúa, ở chỗ tác động yêu thương chính là tác động con người nhận biết Ngài là "Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất", chỉ có Ngài là đáng yêu trước hết mọi sự và trên hết mọi sự, Đấng "đã yêu chúng ta trước" (1Gioan 4:19), như Ngài đã tự tỏ mình ra đúng là như thế trong Lịch Sử Cứu Độ của dân Do Thái: Ngài đã yêu thương dân của Ngài tuyển chọn một cách nhưng không, đã yêu thương một cách trọn lành, đã yêu thương một cách thủy chung, bất chấp dân này phản bội Ngài và liên lỉ gian dâm ngoại tình với tà thần ngoại bang cùng ngẫu tượng của họ.

Vì Chúa Kitô "xuất hiện lần thứ hai là để mang ơn cứu độ đến cho những ai thiết tha trông đợi Người" (Do Thái 9:28), tức "bền đỗ cho đến cùng" 24:13) bằng lòng tin tưởng mãnh liệt vào Người, mà "đức tin thể hiện qua đức ái" (Galata 5:6), một đức ái chính là hoa trái của đức tin, là tầm vóc viên mãn của đức tin. Bởi thế, trong cuộc chung thẩm, để được sự sống đời đời hay bị luận phạt, con người sẽ bị Vị Thẩm Phán Giêsu phán xét theo tiêu chuẩn đức ái về hành động đối với tha nhân - yêu thương nhau như bản thân mình, mà thật ra là đức tin về tinh thần đối với Thiên Chúa - kính mến Thiên Chúa hết mình (xem Mathêu 25:37-39,44).

Cảm Nghiệm

"Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó", ở chỗ con người phải kính mến Chúa hết mình và yêu tha nhân như mình, cả hai có thể được hội tụ và phản ảnh nơi một tâm hồn đã đạt tới tột đỉnh của con đường nhân đức trọn lành, khi được hiệp nhất nên một với Thiên Chúa, có một tâm tình và đời sống như Chúa Kitô và với Chúa Kitô, đến độ sẵn sàng hy sinh bản thân mình cho phần rỗi tha nhân, như gương của Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Con thân mến, con hãy nhớ rằng Chúa Giêsu Kitô bởi dòng dõi Ðavít đã từ cõi chết sống lại, theo như Tin Mừng cha rao giảng. Vì Tin Mừng đó mà cha phải đau khổ đến phải chịu xiềng xích như một kẻ gian ác, nhưng lời của Thiên Chúa đâu có bị xiềng xích. Vì thế, cha cam chịu mọi sự vì những kẻ được tuyển chọn, để họ được hưởng ơn cứu độ cùng với vinh quang trên trời trong Ðức Giêsu Kitô".

Hành động hiến thân hy sinh bản thân mình cho phần rỗi của anh chị em mình như thế chắc chắc là hoa trái của một đời sống nội tâm đã đạt tới độ thần hiệp về tu đức, một đời sống đầy những xác tín bất khuất và bất khả đổi thay, tràn đầy hy vọng và gia tăng thần lực, như những xác tín vững chắc được Vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô đã nhắc nhủ môn đệ Timothêu của ngài trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Ðây cha nói thật: Nếu chúng ta cùng chết với Người, thì chúng ta cùng sống lại với Người. Nếu chúng ta kiên tâm chịu đựng, chúng ta sẽ cùng thống trị với Người. Nếu chúng ta chối bỏ Người, thì Người cũng sẽ chối bỏ chúng ta. Nếu chúng ta bất trung với Người thì Người vẫn trung thành, vì Người không thể chối bỏ chính mình Người".

Những điều xác tín của Thánh Phaolô trong Bài Đọc 1 trên đây đều phản ảnh nhận thức thần linh của Thánh Vịnh gia về đường lối của Thiên Chúa như đượcv bày tỏ trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Lạy Chúa, xin chỉ cho con đường đi của Chúa, xin dạy bảo con về lối bước của Ngài. xin hướng dẫn con trong chân lý và dạy bảo con, vì Chúa là Thiên Chúa cứu độ con.

2) Chúa nhân hậu và công minh, vì thế Ngài sẽ dạy cho tội nhân hay đường lối. Ngài hướng dẫn kẻ khiêm cung trong đức công minh, dạy bảo người khiêm cung đường lối của Ngài.

3) Tất cả đường nẻo Chúa là ân sủng và trung thành, dành cho những ai giữ minh ước và điều răn Chúa. Chúa thân mật với những ai tôn sợ Chúa, và tỏ cho họ biết lời minh ước của Ngài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - NGÀY 06-6-2018 PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Con hy vọng rất nhiều vào Chúa, linh hồn con trông cậy ở lời Chúa. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 12, 18-27 - THỨ TƯ CN9TN-B

"Người không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống".

Khi ấy, có ít người phái Sađốc đến cùng Chúa Giêsu; phái này không tin có sự sống lại và họ hỏi Người rằng: "Thưa Thầy, luật Môsê đã truyền cho chúng tôi thế này: Nếu ai có anh em chết đi, để lại một người vợ không con, thì hãy cưới lấy người vợ goá đó để gây dòng dõi cho anh em mình. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ rồi chết không con. Người thứ hai lấy người vợ goá và cũng chết không con, và người thứ ba cũng vậy, và cả bảy người không ai có con. Sau cùng người đàn bà ấy cũng chết. Vậy ngày sống lại, khi họ cùng sống lại, thì người đàn bà đó sẽ là vợ của người nào? Vì cả bảy anh em đã cưới người đó làm vợ". Chúa Giêsu trả lời rằng: "Các ông không hiểu biết Kinh Thánh, cũng chẳng hiểu biết quyền phép của Thiên Chúa, như vậy các ông chẳng lầm lắm sao? Bởi khi người chết sống lại, thì không lấy vợ lấy chồng, nhưng sống như các thiên thần ở trên trời. Còn về sự kẻ chết sống lại, nào các ông đã chẳng đọc trong sách Môsê chỗ nói về bụi gai, lời Thiên Chúa phán cùng Môsê rằng: "Ta là Chúa Abraham, Chúa Isaac và Chúa Giacóp". Người không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống. Vậy các ông thật lầm lạc".

Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm - Cảm Nghiệm - SỐNG LỜI CHÚA

"Thiên Chúa kẻ sống"

Chủ đề "sự sống" của Mùa Phục Sinh trở lại một cách tỏ tường hơn 2 ngày đầu tuần này ở phụng vụ Lời Chúa hôm nay, Thứ Tư Tuần IX Thường Niên, qua lời Chúa Giêsu, trong bài Phúc Âm của Thánh ký Marco (12:18-27), xác quyết với "ít người phái Sađốc" là thành phần "không tin có sự sống lại" rằng: "Ngài không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống".

Một trong những chứng cứ được phái Sađốc căn cứ vào để phủ nhận sự kiện sống lại, đó là chính câu họ đặt ra chất vấn Chúa Giêsu:

"Thưa Thầy, luật Môsê đã truyền cho chúng tôi thế này: Nếu ai có anh em chết đi, để lại một người vợ không con, thì hãy cưới lấy người vợ goá đó để gây dòng dõi cho anh em mình. Vậy có bảy anh em: người thứ nhất cưới vợ rồi chết không con. Người thứ hai lấy người vợ goá và cũng chết không con, và người thứ ba cũng vậy, và cả bảy người không ai có con. Sau cùng người đàn bà ấy cũng chết. Vậy ngày sống lại, khi họ cùng sống lại, thì người đàn bà đó sẽ là vợ của người nào? Vì cả bảy anh em đã cưới người đó làm vợ".

Nghe như thế, Chúa Giêsu đã khẳng định với họ rằng: "các ông thật lầm lạc". Ở chỗ nào? Ở chỗ, như Người vạch ra cho họ thấy, trước hết về lý do họ lầm lạc: "Các ông không hiểu biết Kinh Thánh, cũng chẳng hiểu biết quyền phép của Thiên Chúa", sau nữa về chính vấn đề vợ chồng liên quan đến việc sống lại: "khi người chết sống lại, thì không lấy vợ lấy chồng, nhưng sống như các thiên thần ở trên trời. Còn về sự kẻ chết sống lại, nào các ông đã chẳng đọc trong sách Môsê chỗ nói về bụi gai, lời Thiên Chúa phán cùng Môsê rằng: 'Ta là Chúa Abraham, Chúa Isaac và Chúa Giacóp'".

"Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống" là một chân lý được chính Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa khẳng định trong bài Phúc Âm hôm nay.

Trước hết, "Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống" ám chỉ mầu nhiệm thân xác của con người sẽ được sống lại, dù họ là người lành hay kẻ dữ. Thật vậy, thân xác của loài người, sau nguyên tội và bởi nguyên tội, "đã từ đất bụi phải trở về với đất bụi" (Khởi Nguyên 3:19). Thế nhưng, nhờ "Lời đã hóa thành nhục thể" (Gioan 1:14) và Vượt Qua mà thân xác của con người đã được giải cứu khỏi sự chết về thể lý, nghĩa là sẽ được sống lại, trở thành thiêng liêng "như thiên thần", không còn vấn đề liên hệ xác thịt như trong đời sống vợ chồng nữa. Con người thực sự đã được Chúa Kitô cứu chuộc cả linh hồn lẫn thân xác chứ không phải chỉ nguyên một minh linh hồn bất tử mà thôi, nhờ đó, thân xác thiêng liêng mới có thể cùng với linh hồn vô hình tồn tại đến muôn đời muôn kiếp.

Sau nữa, "Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống" còn ám chỉ Ngài là Thiên Chúa của thành phần công chính sống theo đức tin, như 3 vị tổ phụ tiêu biểu của dân Do Thái là "Abraham, Isaac và Giacóp", thành phần nhận biết Ngài là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất nên đã chấp nhận ý muốn của Ngài và đáp ứng những gì Ngài muốn, cho dù tương lai có mù mịt không biết bỏ quê cha đất tổ đi về đâu, thậm chí cho dù có phải chính tay sát hại đứa con duy nhất của một giòng dõi đông như sao trời nhiều như cát biển theo lời Chúa hứa, như trường hợp của tổ phụ Abraham (xem Khởi Nguyên 12:1-4 và 22:15-18), cha của các kẻ tin (xem Roma 4:9-12).

Thật vậy, tất cả mọi xác phàm đều sống lại, nhưng chỉ có kẻ nào tin tưởng "nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Đức Giêsu Kitô" (Gioan 17:3) mới được "sự sống đời đời" (cùng đoạn vừa dẫn), với một thân xác phục sinh vinh hiển như thân xác phục sinh của Chúa Kitô (xem Philiphê 3:21). Tuy nhiên, kể cả thành phần bị hư đi trong hỏa ngục chăng nữa, thậm chí bao gồm cả Satan và ma quỉ, cho dù không muốn, bấy giờ, trong cõi đời đời, cũng vẫn "nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất và Đấng Cha sai là Đức Giêsu Kitô".

Thế nhưng, sự "nhận biết" này ở trong cõi hư mất không phải bởi Thánh Linh của Thiên Chúa ở trong họ như khi họ chưa hư đi nữa, mà bởi họ không thể nào chối bỏ được sự thật bất diệt này, hay nói cách khác, bởi "Thiên Chúa là ánh sáng" (1Gioan 1:5) không thể nào không chiếu soi, cho dù con người có chấp nhận hay phủ nhận, một "ánh sáng thật" (Gioan 1:9): "Ánh sáng chiếu trong tăm tối, thứ tối tăm không thể nào át được ánh sáng" (Gioan 1:5).

Cảm Nghiệm

Chính vì "Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống" mà Ngài đã chẳng những tỏ mình ra cho riêng dân Do Thái qua suốt giòng lịch sử cứu độ của họ cho tới khi Ngài tỏ hết mình ra "vào thời viên trọn" (Galata 4:4) nơi Con của Ngài là Lời Nhập Thể Vượt Qua, mà còn cho chung loài người qua chứng từ của Giáo Hội Chúa Kitô, một Nhiệm Thể được cấu trúc liên hợp giữa Chúa Kitô là Đầu và các chi thể Kitô hữu của Người, nhất là những chi thể gắn bó với Người như cành nho dính liền với thân nho để nhờ đó họ có thể sinh nhiều hoa trái bằng chứng từ "đức tin thể hiện qua đức ái" của họ (xem Galata 5:6).

Nhờ kết hợp với Chúa Kitô như cành nho dính liền với thân nho mà Kitô hữu mới có thể được tràn đầy Thần Linh của Người mà làm chứng cho Người, theo đúng ơn gọi và sứ vụ tông đồ truyền giáo là bản tính của người môn đệ Chúa Kitô, như Thánh Phaolô Tông Đồ khuyên nhắc môn đệ Timothêu của ngài trong Bài Đọc 1 hôm nay:

"Thiên Chúa không ban cho chúng ta một thần trí nhát sợ, mà là thần trí dũng mạnh, bác ái và tiết độ. Vậy con, con chớ hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta... nhờ quyền năng của Thiên Chúa, Ðấng đã giải thoát và kêu mời chúng ta bằng ơn thiên triệu thánh của Người, không phải do công việc chúng ta làm, mà là do sự dự định và ân sủng đã ban cho chúng ta từ trước muôn đời trong Ðức Giêsu Kitô, nhưng bây giờ mới tỏ bày bằng sự xuất hiện của Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Chuộc chúng ta".

Chính bản thân của Thánh Phaolô, nhờ được "Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống" tỏ mình ra cho nơi Chúa Giêsu Kitô mà ngài đã thực sự trở thành tông đồ và sống trọn ơn gọi cùng sứ vụ tông đồ của mình cho đến cùng, bất chấp mọi sự, như chính ngài đã tự thú như nêu gương cho môn đệ Timothêu của mình ở cuối Bài Đọc 1 hôm nay: "Cha đã được đặt làm kẻ rao giảng, làm tông đồ và làm thầy dạy các dân ngoại. Cũng do đó, cha phải chịu những thử thách này, nhưng cha không hổ thẹn, vì cha biết cha tin vào Ðấng nào, và cha chắc chắn rằng Người có quyền phép gìn giữ kho tàng của cha cho đến ngày đó".

Một chứng nhân Phaolô Tông Đồ Dân Ngoại, hay bất cứ vị tông đồ hay thừa sai truyền giáo nào cũng thế, muốn trung thành với ơn gọi chứng nhân của mình, nhất là muốn cho sứ vụ tông đồ hay thừa sai của mình sinh hoa kết trái đều phải sống sự sống của Vị "Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa kẻ chết, mà là Thiên Chúa kẻ sống", nghĩa là họ cần phải hoàn toàn tin tưởng tín thác vào Ngài, để cho Ngài chiếm đoạt và tỏ mình ra qua họ và nhờ họ. Hình ảnh về họ và của họ đã được Thánh Vịnh gia diễn tả trong Bài Đáp Ca hôm nay như thế này:

1) Con ngước mắt nhìn lên Chúa, Ngài ngự trị ở cõi cao xanh. Kìa, như mắt những người nam tôi tớ nhìn vào tay các vị chủ ông.

2) Như mắt của những người tỳ nữ nhìn vào tay các vị chủ bà, mắt chúng tôi cũng nhìn vào Chúa là Thiên Chúa của chúng tôi như thế, cho tới khi Ngài thương xót chúng tôi.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - HON NHAN VA GIA DINH PDF Print E-mail

Loc Do
Jun 5 at 10:49 AM

Vào ngày 22:04 Thứ Hai, 4 tháng 6 2018, xuân bình lê đã viết:

Sứ vụ Truyền giáo của Hôn nhân và Gia đình
Mary Nguyễn 04.06.2018 công đồng vatican II, gia đình, truyền giáo
Công đồng Vaticanô II, được gọi là Công Đồng của Chúa Thánh Thần.

Công đồng được Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII triệu tập trong bối cảnh Giáo Hội đang ở trong sự "an toàn" của một cơ cấu phẩm trật "cứng nhắc"; trong khi thế giới thì đang xảy ra những cuộc chiến tranh tàn khốc, cũng như con người chưa được nhìn nhận đúng với nhân phẩm của mình... Do đó, Công Đồng đã có sự "canh tân" khi cho thấy Giáo Hội cần phải "mở cửa," phải "đi ra" để đến với muôn dân nhằm xây dựng thực tại Nước Trời ngay ở trần gian là hòa bình, phẩm giá, bình an và hoan lạc... Thực tại ấy sẽ được thành toàn trong Đức Giêsu Kitô.
Xây dựng thực tại Nước Trời và đưa mọi người đến với Vương Quốc của Thiên Chúa tình yêu, chính là nội dung của Tin Mừng, là bản chất của sứ vụ truyền giáo mà Chúa Giêsu đã truyền cho các Tông Đồ là những vị đại diện cho Giáo Hội (x. Mt 28,19-20). Vừa là "thành phần" của Giáo Hội, vừa là "Giáo Hội thu nhỏ," bậc sống hôn nhân và gia đình đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội. Đây là "điểm son" trong các văn kiện cũng như trong các phương thế mục vụ kể từ Công đồng Vaticanô II đến nay, cách đặc biệt trong triều đại của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và hiện tại với Đức Phanxicô.
Càng ngày, vai trò của hôn nhân và gia đình trong sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội càng cần thiết và hiệu quả hơn, đó cũng là động lực để tôi chọn đề tài: "Sứ vụ truyền giáo của hôn nhân và gia đình trong thế giới hôm nay." Với đề tài này, tôi trình bày qua ba điểm sau: (1) Sứ vụ truyền giáo là gì? (2) Truyền giáo là bản chất của Giáo Hội, (3) Hôn nhân và gia đình thi hành sứ vụ truyền giáo trong thế giới hôm nay.
1. Sứ vụ truyền giáo là gì?
Trước khi trả lời cho câu hỏi trên, thiết nghĩ chúng ta nên tìm hiểu về thuật ngữ "truyền giáo." Trong tiếng Việt, từ "truyền giáo" thường được dùng đồng nghĩa với các từ như: truyền đạo, giảng đạo, truyền bá Tin Mừng, mở mang Nước Chúa... và ít nhiều ai cũng có thể hiểu được nghĩa của nó. Với ngôn ngữ Âu Châu, nghĩa của từ "truyền giáo" thì phức tạp hơn. Thông thường, người ta dịch từ truyền giáo từ chữ "mission" trong Anh ngữ và Pháp ngữ. Thế nhưng, từ "mission" lại không chỉ có nghĩa là truyền giáo mà còn có các nghĩa khác như: sứ mệnh, nhiệm vụ; đi công cán, công tác; phái đoàn; tòa công sứ, tòa đại sứ (Anh – Mỹ); sự truyền giáo, hội truyền giáo, khu vực truyền giáo; trụ sở của hội truyền giáo.1 Còn trong nguyên ngữ Latinh cũng như trong thần học, từ truyền giáo thường được dịch từ "missio" và được bắt nguồn từ động từ "mittere" có nghĩa là gửi đi, sai đi, phái đi. Do đó, từ truyền giáo có nghĩa là sứ vụ, sứ mạng.2
Cho dù còn nhiều tranh luận, nhưng Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tiếp tục theo Sắc lệnh Ad Gentes của Công đồng Vaticanô II, thể hiện trong Thông điệp Redemptoris Missio, đặt nền tảng của vấn đề truyền giáo xuất phát từ sứ vụ của Chúa Ba Ngôi, đến Giáo Hội và từng người tín hữu Kitô chúng ta.3 Mặc dù ở mỗi sứ vụ có sự khác biệt về hình thức, nhưng tựu trung sẽ không thay đổi về mục đích là: "phụng sự con người bằng việc tỏ ra cho họ tình yêu của Thiên Chúa được bộc lộ nơi Chúa Giêsu Kitô."4 Theo cách nói khác, truyền giáo chính là rao giảng và mở mang Nước Chúa (Vương Quốc của Thiên Chúa) trên trần gian này,5 vì "Vương Quốc của Thiên Chúa là trọn vẹn dự án cứu độ của Thiên Chúa được biểu lộ và thể hiện."6
Chính Đức Giêsu đã thiết lập Nước Thiên Chúa (Vương Quốc của Thiên Chúa) trên trần gian.7 Trong sứ vụ rao giảng, chính Đức Giêsu đã giới thiệu, mặc khải sự hiện diện và quang lâm của Nước Thiên Chúa cho dân chúng (x. Mc 1,15; Mt 4,17),8 không chỉ qua lời nói mà còn qua các dấu chỉ, Người cho thấy Nước Thiên Chúa đã đến (x. Lc 11,20; Mt 12,28).9 Điểm trọng tâm về bản chất của Nước Thiên Chúa là chính con người và sứ vụ của Đức Giêsu.10 Nên sau khi Đức Giêsu phục sinh và lên trời, sứ vụ rao giảng của các Tông Đồ không dừng lại ở Nước Thiên Chúa, mà luôn quy chiếu về chính Chúa Giêsu (x. Cv 2,22-39; 3,12-26; 4,9-12).11
Tóm lại, Nước Thiên Chúa (Vương Quốc của Thiên Chúa) ở đây phải được hiểu trong sự liên hệ với Đức Kitô và Giáo Hội, Nước ấy không phải là một khái niệm mơ hồ, một ý thức hệ, nhưng đó là một con người cụ thể được thể hiện qua lời nói, việc làm và sự hiện diện của chính Đức Giêsu Kitô (x. Mc 1,14-15; Lc 11,20;).12 Sứ vụ truyền giáo ấy, Giáo Hội đã nhận từ Đức Giêsu Kitô để tiếp tục rao giảng, đồng thời thiết lập về Nước Thiên Chúa trong mọi dân tộc.13
2. Truyền giáo là bản chất của Giáo Hội
Truyền giáo đóng vai trò quan trọng nhất trong sứ vụ của Giáo Hội, vì đó chính là ý muốn của Chúa Cha và là sứ vụ của Chúa Giêsu (x. Lc 4,43).14 Chính Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các Tông Đồ sau biến cố phục sinh và trước khi về trời là phải ra đi truyền giáo (x. Mt 28,19-20).15 Các Tông Đồ đã mau mắn thi hành sứ vụ sau khi được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, thúc đẩy và trợ lực vì Người chính là tác nhân chính của việc truyền giáo (x. Cv 1,8).16 Chính nhóm Tông Đồ mà Chúa Giêsu đã lập (x. Mc 3,13) là nền tảng của Giáo Hội, để qua Giáo Hội Chúa Giêsu muốn cho Nước Thiên Chúa được mở rộng đến với tất cả mọi dân tộc (x. Lc 4,43),17 cho mọi người được cứu độ (x. Lc 13,30; 1 Tm 2,4), nghĩa là được thông phần vào sự sống siêu việt của Ba Ngôi Thiên Chúa.18 Như vậy, sứ mạng truyền giáo chính là bản chất của Giáo Hội.19 Đó cũng chính là lý do cho sự hiện hữu của Giáo Hội, điều này cũng đồng nghĩa: "Nếu ngày nào Giáo Hội không truyền giáo thì đó không phải là Giáo Hội của Chúa Kitô."20
Giáo Hội luôn ý thức rằng chính những lời của Chúa Giêsu đã nói: "Tôi phải loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa" (Lc 4,43), cũng hoàn toàn áp dụng cho đời sống và sứ vụ của mình.21 Đó cũng chính là bổn phận và trách nhiệm của toàn thể con cái trong Giáo Hội mà trong đó phần lớn là giáo dân.22 Người giáo dân được "sinh ra" qua Bí tích Rửa tội, đó là lý do nền tảng để gia đình Kitô hữu trở thành môn đệ truyền giáo.23 Mặt khác, vì gia đình Kitô giáo vừa là "nền tảng của xã hội,"24 vừa là một Giáo Hội "thu nhỏ"25, nên hôn nhân và gia đình sẽ tích cực tham gia vào sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội như Đức Phaolô VI nhấn mạnh, "người ta không thể không nhấn mạnh đến tác động truyền bá Phúc Âm hóa của gia đình trong công cuộc tông đồ truyền bá Phúc Âm hóa của người giáo dân [...] gia đình phải là nơi truyền đạt Phúc Âm và chiếu tỏa Phúc Âm."26
Giáo Hội phải truyền giáo, người tín hữu Kitô phải truyền giáo, nên người sống bậc hôn nhân và gia đình cũng phải truyền giáo.
3. Hôn nhân và gia đình thi hành sứ vụ truyền giáo trong thế giới hôm nay
Hôn nhân và gia đình phải thi hành sứ vụ truyền giáo theo căn tính của mình giống như Giáo Hội mà Công đồng Vaticanô II đã khẳng định: "Gia đình Kitô giáo lớn tiếng loan truyền sức mạnh của Nước Thiên Chúa và niềm cậy trông vào một đời sống hạnh phúc. Như thế bằng gương lành và lời chứng, gia đình Kitô giáo thuyết phục thế gian về tội lỗi đồng thời soi sáng cho những ai đang kiếm tìm chân lý."27
Như vậy, hôn nhân và gia đình sẽ thi hành sứ vụ truyền giáo qua gương sáng đời sống và lời chứng (lời rao giảng) của mình trong môi trường sống hằng ngày, dù cả hai có sự phân biệt nhưng không tách biệt. Vì thế, hôn nhân và gia đình cũng sẽ thi hành sứ mạng như Kitô hữu được chia sẻ nơi Chúa Kitô là ngôn sứ, tư tế và vương đế.28
1/ Sứ mạng ngôn sứ của hôn nhân và gia đình
Vì tham dự vào đời sống và sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội, nên hôn nhân và gia đình sẽ thi hành sứ vụ ngôn sứ của mình qua việc "đón nhận và loan báo Tin Mừng Nước Trời."29Do đó, gia đình được mời gọi trở nên một cộng đồng tin và loan báo Tin Mừng.30
Đức Phaolô VI đã nói: "Giống như Giáo Hội, gia đình phải là nơi truyền đạt Phúc Âm và chiếu tỏa Phúc Âm. Trong một gia đình nhận thức được sứ vụ này, tất cả mọi phần tử cần phải truyền bá phúc âm hóa và cần được truyền bá phúc âm hóa. Cha mẹ chẳng những thông đạt Phúc Âm cho con cái của mình, mà bản thân họ còn nhận được từ con cái mình chính Phúc Âm họ hết sức sống theo nữa. Một gia đình như vậy trở nên một nhà truyền ba phúc âm hóa cho nhiều gia đình khác, và cho hàng xóm láng giềng chung quanh họ."31
Gia đình là một cộng đồng tin và loan báo Tin Mừng từ nền tảng của Bí tích Rửa tội, Thêm sức và Hôn phối.32 Vì thế, mọi thành viên trong gia đình được khuyến khích không ngừng đào sâu chiều kích đức tin và dành ưu tiên cho một sự giáo dục liên tục về chính đức tin của mình, qua việc lắng nghe và đọc Lời Chúa, học hỏi giáo lý, huấn luyện thiêng liêng, giúp đỡ nhau trong việc đọc ý nghĩa và những biến cố cuộc đời dưới ánh sáng của Tin Mừng.33 Những việc làm ấy phải được thể hiện cách liên lỉ trong cuộc sống thường ngày, bởi sống đạo cũng đồng nghĩa với loan báo, đây chính là sự ưu tiên trong chính sứ vụ của Giáo Hội. Như Đức Phaolô VI đã nói: "Con người tân tiến mong nghe những chứng nhân hơn là những thầy dạy, và nếu họ có lắng nghe các thầy dạy là bởi vì các vị thầy này là những chứng nhân."34
Hơn nữa, bởi hôn nhân và gia đình được xây dựng trên nền tảng là tình yêu.35 Chính tình yêu giữa vợ chồng dành cho nhau trong hôn nhân tự nhiên là dấu chỉ giao ước giữa Thiên Chúa và dân người (x. Hs 2,21; Gr 3,6-13); cách riêng trong hôn nhân Kitô giáo, nó là dấu chỉ hay bí tích diễn tả tình yêu giữa Đức Kitô và Giáo Hội (x. Ep 5,21-34).36 Gia đình được xây dựng trên hôn nhân, chính tình yêu giữa vợ chồng với nhau và với con cái cũng như mọi thành viên trong gia đình phải trở nên sự phản ảnh của tình yêu giữa Ba Ngôi Thiên Chúa.37 Như vậy mỗi gia đình phải được nhìn nhận như một "cộng đồng thân mật của sự sống và tình yêu."38 Chính căn tính này đã cho thấy được vai trò và bổn phận của hôn nhân và gia đình trong sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội là không thể thay thế.39
Đầu tiên phải kể đến vai trò của vợ chồng, giữa vợ chồng phải thể hiện tình yêu cách hoàn toàn, trung thành, kiên định và trao ban sự sống như giao ước hôn nhân đòi buộc. Chính khi vợ chồng sống tình yêu ấy cách trọn vẹn thì cũng chính là lúc họ đang minh chứng cho tình yêu nhiệm mầu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội.40 Qua đó, mọi người sẽ nhận ra được dung mạo của Thiên Chúa tình yêu, khi đó vợ chồng đang là chứng nhân của Tin Mừng. Tình yêu giữa vợ chồng sẽ có sức mạnh loan báo Tin Mừng hơn nữa qua việc đón nhận, sinh sản và giáo dục con cái theo luật Đức Kitô và Giáo Hội.41 Là con cái trong gia đình, chúng phải có thái độ hiếu thảo, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ trong sứ vụ của các ngài... Nhờ đó, gia đình trở thành Phúc Âm sống động, một tổ ấm hạnh phúc mang lại niềm hy vọng cho mọi người.42
Không chỉ dừng lại trong môi trường gia đình, sứ vụ loan báo Tin Mừng phải được thể hiện ra bên ngoài qua tinh thần bác ái, hy sinh và phục vụ. Hôn nhân và gia đình phải tích cực tham gia vào các hoạt động khác của Giáo Hội và xã hội. Trong Giáo Hội, hôn nhân và gia đình ngoài việc chu toàn bổn phận người tín hữu Kitô, thì phải giúp đỡ cho các đôi bạn trẻ đang tiến tới hôn nhân gia đình, đồng hành với các gia đình trẻ, gia đình gặp bất trắc, dạy giáo lý cho trẻ em và cả người lớn, nuôi dưỡng và nâng đỡ các ơn gọi thừa sai...43Ngoài xã hội, hôn nhân và gia đình tích cực tham gia các hoạt động phù hợp với đức ái Kitô giáo, đồng thời cũng lên tiếng bảo vệ chân lý trước những gì đi ngược lại với nhân phẩm, với tự do, công lý và hòa bình...44 Tất cả với mục đích, hôn nhân và gia đình đang truyền đạt đức tin, thánh hóa và biến đổi xã hội hiện tại theo ý định của Thiên Chúa.45
2/ Sứ mạng tư tế của hôn nhân và gia đình
Như Giáo Hội là dân tư tế,46 gia đình được Chúa Giêsu mời gọi và lôi cuốn vào cuộc đối thoại với Thiên Chúa bằng các phương tiện của đời sống bí tích, của việc dâng hiến đời mình và kinh nghiệm thiêng liêng, trở thành của lễ và đền thờ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa (x. 1 Pr 2,5).47 Qua cuộc sống hằng ngày, hôn nhân và gia đình được mời gọi tự thánh hóa và thánh hóa cộng đồng Giáo Hội và thế giới.48
Ơn thánh hóa xuất phát từ Bí tích Rửa tội và được Bí tích Hôn phối lấy lại và chuyên biệt hóa, để nhờ mầu nhiệm tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô mà một lần nữa tình yêu vợ chồng được thanh tẩy và thánh hóa.49 Để ơn thánh hóa được hữu hiệu và kéo dài, gia đình phải không ngừng cầu nguyện, sống đời sống bí tích cách sâu xa và trung thành, nhất là qua Bí tích Hòa Giải50 và Thánh Thể.51 Gia đình cũng không được xem nhẹ vai trò của các giờ kinh nguyện, ưu tiên cho việc đọc và suy gẫm Lời Chúa, tham dự các cử hành phụng vụ và giáo dục con cái trong đức tin. Những việc làm đó phần lớn là những việc làm đạo đức bình dân, nhưng nó là nhân tính của người tín hữu Kitô53 và mang một ý nghĩa đặc biệt trong sứ mạng truyền giáo, là sự biểu lộ và nuôi dưỡng đời sống đức tin của cá nhân, gia đình và Giáo Hội.54 Nhờ chu toàn các việc làm trên gia đình sẽ chu toàn được mục đích thánh hóa con người, xây dựng Thân Thể Chúa Kitô, thờ phượng Thiên Chúa và góp phần vào việc biến đổi thế giới.55
Để thánh hóa Giáo Hội và thế giới, gia đình cũng phải thực thi công bình bác ái đối với tha nhân, và vì là chủ thể dâng lễ vật lên cho Thiên Chúa, nên các việc bác ái hy sinh của gia đình sẽ có giá trị khi họ tạo ấn tượng tốt đẹp trong môi trường sống, đồng thời xin ơn cứu độ của Chúa xuống trên nhân loại.56 Đó là tự bản chất trong sứ mạng vương đế đòi hỏi nơi bậc sống hôn nhân và gia đình.
3/ Sứ mạng vương đế của hôn nhân và gia đình
Ơn gọi của hôn nhân và gia đình là ơn gọi của tình yêu.57 Tiếp nối với Bí tích Rửa tội, Bí tích Hôn phối nêu lên một lần nữa luật tình yêu của Tin Mừng.58 Hơn nữa, trong sứ vụ của hôn nhân và gia đình vì được chia sẻ sứ mạng vương đế của Chúa Giêsu, nên hôn nhân và gia đình phải luôn ý thức về tinh thần hy sinh phục vụ trong tình yêu, như Chúa Giêsu đã nói: "Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mc 10,45).59 Qua đời sống và sứ vụ, Chúa Giêsu đã thực hiện mầu nhiệm tự hủy (kenosis) trong tình yêu cách tròn đầy (x. Pl 2,6-11). Chính Chúa Giêsu cũng đã khẳng định: "Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình" (Ga 15,13). Tất cả "chứng tá tình yêu ấy chính là chứng tá và loan báo chính đức ái của Thiên Chúa, bởi vì hôn ước được phát sinh từ tình yêu của Thiên Chúa vì nhân loại, của Đức Giêsu cho Giáo Hội và hôn ước ấy là sự tái diễn mang tính chất bí tích."60
Tuy nhiên, việc phục vụ con người từ phía hôn nhân và gia đình phải được thực hiện trước tiên từ trong chính đời sống của hôn nhân và gia đình mình, phải tạo nên dấu chỉ về Nước Trời trong môi trường gia đình.61 Điều đó được thể hiện qua tình yêu giữa vợ chồng, qua sự trung thành với hôn ước, chu toàn bổn phận làm cha, làm mẹ có trách nhiệm và quảng đại, chăm sóc và giáo dục con cái cách chu đáo.62 Hôn nhân và gia đình phải luôn ý thức và cố gắng chu toàn quyền lợi và trách nhiệm ấy vì, "gia đình là môi trường hoạt động và trường học tuyệt diệu cho việc tông đồ giáo dân. Từ gia đình Kitô giáo thấm nhập vào tất cả các tổ chức cuộc sống và dần dần biến đổi các tổ chức ấy; nơi gia đình, vợ chồng tìm thấy ơn gọi riêng của mình là làm chứng cho nhau và cho con cái lòng tin và tình yêu Chúa Kitô."63
Khi nào hôn nhân và gia đình sống dựa trên nền tảng là đức ái, thì khi đó hôn nhân và gia đình đang thi hành sứ mạng truyền giáo của mình như Chúa Giêsu đã ra lệnh truyền: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau." (Ga 13,34-35).
Hôn nhân và gia đình phải đóng một vai trò quan trọng trong sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội, bởi "tương lai của nhân loại sẽ đến qua gia đình."64 Vì thế, nếu hôn nhân và gia đình không được truyền giáo và không truyền giáo, đó quả là một sự thiếu sót trầm trọng trong sứ vụ truyền giáo của Giáo Hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội phức tạp như hiện nay như: tình trạng tục hóa, chủ nhĩa hưởng thụ, chủ nghĩa vô thần... đang gây ảnh hưởng rất nhiều đến hạnh phúc của hôn nhân và gia đình. Thế nhưng, chính trong thực trạng đó, bậc sống hôn nhân và gia đình càng được mời gọi để trở thành một cộng đồng yêu thương và hiệp nhất với nhau, trở thành một Giáo Hội thu nhỏ với việc chu toàn ba sứ vụ của Chúa Kitô là ngôn sứ, tư tế và vương đế. Qua đó, bậc sống hôn nhân và gia đình góp phần vào sứ mạng loan báo Tin Mừng Nước Trời mà Chúa Giêsu đã trao phó cho Giáo Hội.
Để kết thúc phần trình bày, tôi xin được trích lời của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, khi nói về hôn nhân và gia đình trong sứ vụ xây dựng Nước Chúa ở trần gian: "Gia đình kitô hữu xây dựng Nước Thiên Chúa trong lịch sử qua các thực tại thường nhật liên hệ tới điều kiện sống của họ và là đặc điểm của điều sống ấy: từ đó chính ngay trong tình yêu hôn nhân và gia đình – được sống trong những giá trị phong phú phi thường và với những đòi hỏi của một tình yêu toàn diện, chuyên nhất, trung thành và phong nhiêu."65
John Phạm
----------------------------------------

 
BANH SU SONG - THU HAI CN9TN-B PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Lời Chúa tồn tại muôn đời, đó là lời Tin Mừng đã rao giảng cho anh em. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 12, 13-17 - THU BA -CN9TN-B

"Các ông hãy trả cho Cêsarê cái gì thuộc về Cêsarê, và trả cho Thiên Chúa cái gì thuộc về Thiên Chúa".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi ấy, người ta sai mấy người thuộc nhóm biệt phái và đảng Hêrôđê đến Chúa Giêsu để lập mưu bắt lỗi Người trong lời nói. Họ đến thưa Người rằng: "Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là người chân thật không vị nể ai, vì Thầy chẳng xem diện mạo, một giảng dạy đường lối Thiên Chúa cách rất ngay thẳng. Vậy chúng tôi có nên nộp thuế cho Cêsarê không? Chúng tôi phải nộp hay là không?" Nhưng Người biết họ giả hình, nên bảo rằng: "Sao các ông lại thử Ta? Hãy đưa Ta xem một đồng tiền". Họ đưa cho Người một đồng tiền và Người hỏi: "Hình và ký hiệu này là của ai?" Họ thưa: "Của Cêsarê". Người liền bảo họ: "Vậy thì của Cêsarê, hãy trả cho Cêsarê; của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa". Và họ rất đỗi kinh ngạc về Người.

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy Niệm -Cảm Nghiệm SỐNG LỜI CHÚA

"Thần trí tác sinh"

"Sự sống" thần linh hay cái chết thiêng liêng nơi con người được tỏ hiện ở chỗ họ có "trả về cho Cesa những gì của Cesa và trả cho Thiên Chúa những gì của Thiên Chúa", như câu Chúa Giêsu trả lời cho "nhóm biệt phái và đảng Hêrôđê" là thành phần "lập mưu bắt lỗi Người trong lời nói".

Câu trả lời của Người dù đã làm cho"họ rất đỗi kinh ngạc về Người", như bài Phúc Âm kết thúc, thế nhưng, trước khi trả lời cho câu họ đặt ra: "Vậy chúng tôi có nên nộp thuế cho Cêsa không?", một câu hỏi thật hóc búa, Người trả lời đằng nào cũng chết, "có" thì theo đế quốc Roma phản dân tộc, còn "không" thì tỏ ra xui dân phản loạn với đế quốc này, Người đã phải căn cứ vào một vật thể, đó là "đồng tiền", vì vấn đề "nộp thuế cho Cêsa" liên quan đến "đồng tiền" của đế quốc Rôma.

Thế rồi sau khi "họ đưa cho Người một đồng tiền và Người hỏi: 'Hình và ký hiệu này là của ai đây?' Họ thưa: 'Của Cêsa'. Người liền bảo họ: 'Vậy thì của Cêsa, hãy trả cho Cêsa; của Thiên Chúa, hãy trả cho Thiên Chúa'".

Câu trả lời này của Chúa Giêsu không phải chỉ là một nguyên tắc cần phải áp dụng vào lãnh vực chính trị, ám chỉ phải tuân phục quyền bính thích hợp, mà còn có một ý nghĩa sâu xa hơn nữa, đó là dù có tuân phục quyền bính trần gian ("trả cho Cêsa") nhưng với một tinh thần đức tin siêu nhiên vì Chúa ("trả cho Thiên Chúa"), ở chỗ, vì Chúa là Đấng quan phòng làm chủ lịch sử hơn là vì sợ con người có quyền bính: "Đừng sợ kẻ chỉ giết được thân xác mà không thể nào hủy hoại được linh hồn. Đúng ra hãy sợ Đấng có thể hủy hoại cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục" (Mathêu 10:28).

Chưa hết "của Cesa trả cho Cesa, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa" còn có nghĩa là "người ta không sống nguyên bởi bánh mà còn bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra" (Mathêu 4:4). Cho dù cần phải "có thực mới vực được đạo", thế nhưng, vì con người được dựng nên để được sống đời đời chứ không phải chỉ sống trên thế gian mau qua tạm gửi này thôi, nên "chính thần trí mới cống hiến sự sống chứ xác thịt là thứ vô dụng" (Gioan 6:63): "cái gì sinh bởi xác thịt là xác thịt, cái gì sinh bởi Thần Linh là Thần Linh" (Gioan 3:6).

Bởi thế, trong Bài Giảng Phúc Đức Trọn Lành trên núi, Chúa Kitô đã khẳng định với thành phần môn đệ của Người là "Không ai có thể làm tôi hai chủ ... Các con không thể vừa làm tôi cho Thiên Chúa vừa làm tôi cho tiền của được" (Mathêu 6:24). Nghĩa là "của Cesa hãy trả cho cesa và của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa" là thế.

Nếu "hình và ký hiệu" trên đồng tiền được thành phần âm mưu bắt bẻ Người bảo là "của Cesa" ở đây và vì thế "của Cesa hãy trả cho Cesa", thì con người được nên theo hình ảnh của Thiên Chúa và tương tự như Thiên Chúa (xem Khởi Nguyên 1:26-27), có thể so sánh như một đồng tiền có giá trị có "hình và ký hiệu" của Thiên Chúa nên cần phải trả về cho Ngài những gì thuộc về Ngài. Đó là lý do Thánh Âu Quốc Tinh, sau cuộc đời vừa lạc giáo về tâm thần vừa trác táng về xác thể, đã có được một cảm nghiệm rất chí lý và xác thực là: "Chúa đã dựng nên con cho Chúa nên lòng con khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa" (Tự Thú I,1).

Cảm Nghiệm

Thật vậy, nếu con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa và tương tự như Thiên Chúa (xem Khởi Nguyên 1:26-27) thì quả thực chỉ có một mình Thiên Chúa là tất cả moị sự của con người và cho con người, là nguyên ủy và là cùng đích của họ, ngoài Ngài ra con ngưòi chắc chắn sẽ bị lầm lạc và chẳng bao giờ có hạnh phúc chân thật, trọn hảo và bất tận, nếu con người không tìm kiếm Ngài, nhận biết Ngài, chấp nhận Ngài và đáp ứng Ngài.

Đó là lý do, trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thánh Phêrô chẳng những không cảnh giác hay trấn an mà còn thúc giục Kitô hữu "hãy mong chờ và hối thúc ngày Chúa đến, ngày mà các tầng trời bốc cháy tiêu tan, và ngũ hành bị thiêu rụi. Nhưng theo lời Người hứa, chúng ta mong đợi trời mới đất mới, trong đó công lý sẽ ngự trị".

Thiên Chúa không phải chỉ là nguyên ủy và là cùng đích của con người mà còn là đường lối cho con người nữa, là phương thế cứu độ của con người nữa, để chính Ngài dẫn họ đến với Ngài, bằng không, tự mình, như chính kinh nghiệm sống đạo của họ cho thấy, họ sẽ không thể nào có thể đến được với Ngài dù Ngài đã đến với họ nơi Lời Nhập Thể, có thể nhận ra Ngài dù Ngài đã tỏ mình ra cho họ nơi Cuộc Vượt Qua của Con Ngài, và có thể hiệp thông thần linh với Ngài dù Ngài đã ban Thánh Thần cho họ khi họ lãnh nhận Phép Rửa nhất là Phép Thêm Sức.

Đó là lý do, cũng trong Bài Đọc 1 hôm nay, Thánh Phêrô đã nhắc nhở Kitô hữu rằng: "Anh em thân mến, bởi thế, trong lúc chờ đợi, (hãy gắng sao nên vô tì tích trước nhan Người, trong bình an. Và) anh em hãy coi lòng khoan dung của Thiên Chúa như là phương thế cứu rỗi". Nhất là khi con người sa ngã phạm tội, phải gánh chịu các hậu quả đau thương bất hạnh xẩy đến cho cuộc đời tưởng rằng tìm được hạnh phúc ngay trên đời này thì lại toàn là thất bại, thất vọng và thất lạc đáng tiếc và đáng thương.

Chính vì thông cảm với thân phận của con người Kitô hữu đang hành trình đức tin trần thế với đầy nhưng cạm bẫy sa ngã và trở ngại bỏ cuộc mà vị chủ chiên đầu tiên thay cho Chúa Kitô trên trần gian này đã phấn khích họ bằng những lời kết thúc bức thư thứ 2 của ngài ở Bài Đọc 2 hôm nay như sau:

"Vậy, anh em thân mến, được biết trước như thế, anh em hãy giữ mình, kẻo bị lôi cuốn theo sự lầm lạc của những kẻ vô luân mà sa đoạ, mất lòng trung kiên của anh em. Anh em hãy lớn lên trong ân sủng và trong sự hiểu biết Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Cứu Rỗi và là Chúa chúng ta. Nguyện (chúc) vinh quang cho Người bây giờ và đến muôn đời. Amen!"

Tâm hồn Kitô hữu nào sống trọn những lời khuyên dạy của Thánh Phêrô trong Bài Đọc 1 hôm nay thì cũng cảm nghiệm thấy thấm thía ý nghĩa của thân phận và đời sống trần gian của con người nơi những tâm tình của Thánh Vịnh gia trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Ôi Thiên Chúa, trước khi núi non sinh đẻ, trước khi địa cầu và vũ trụ nở ra, tự thuở này qua thuở kia, vẫn có Ngài.

2) Thực ngàn năm ở trước thiên nhan, tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. Chúa khiến con người trở về bụi đất, Ngài phán: "Hãy trở về gốc, hỡi con người!"

3) Thọ kỳ của chúng con số niên bảy chục, nếu khoẻ mạnh ra thì được tám mươi, nhưng đa số là những năm lầm than và phù phiếm, bởi chúng mau qua và chúng con cũng bay theo.

4) Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con. Xin cho các bầy tôi nhìn thấy sự nghiệp của Chúa, và cho con cháu họ được thấy vinh quang Ngài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL,

--------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO -NHUNG KHAC BIET KITO GIAO PDF Print E-mail

ĐÂU LÀ NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH ?

Hỏi:
Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.v
Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.

Trả lời:
như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra khiến KitôGiáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa
là Anh Giáo ( Anglican Comm) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh
chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.
Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I-Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn Kitô đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo.
Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople ( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã tách ra khỏi hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)
Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 6 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 ( đã về hưu năm 2012) đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo. Dầu vậy, một biến cố mới xẩy ra trong năm qua (2016) là Đức Thánh Cha Phanxicô đã gặp Thượng Phụ Giáo Hội Chính Thông Nga tại Mexico, nhưng kết quả của cuộc gặp gỡ lịch sử này giữa hai vi lãnh đạo Công Giáo và Chính Thống Nga không được công bố sau đó.Nhưng đây là một dấu chỉ tích cực giữa hai Giáo Hội anh em.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- đã bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".
Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I năm 1966.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.
Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu của Chính Thống nếu không tìm được nhà thờ Công Giáo hay linh mục Công giáo khi cần..

2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Viêt Nam.

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: các Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (permanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã ch đến nay.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).
Vì Chính Thống Giáo có đủ bảy bí tích hữu hiệu, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu ở nhà thờ và các linh mục Chính Thống, nếu không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo nơi mình cư ngụ.

II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó.Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism)nói trên. Một đặc điểm của các giáo phải Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Roma cho đến các giáo hội địa phương ở mỗi quốc gia.Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, nhân sự, tài chính và phương thức hành đạo.

1-Ở góc độ thần học,
Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị.Do đó, chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).
Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ:
"không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.
Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và Kinh Thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình
Là bí tích hòa giải mà các giám mục và linh mục Công Giáo được phép tha tội cho các hối nhân nhân danh Chúa Kito ( in persona Christi).
,
Lại nữa, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh., Nhưng đó không phải là cử hành Bí Tích Thánh Thể ( Eucharist) như trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông Phương.. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng kinh thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo Hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi Ai dưới đất là Cha, là Thầy .". anh em Tin Lành hiểu lời Chúa trong ngữ cảnh (context) câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là 'lạc giáo=heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô
kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ
của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.
Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện (Vicar) duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.
Chính vì không công nhận Đức Giáo Hoàng là Thủ Lãnh Giáo Hội duy nhất của Chúa Kito nên đây là trở ngại lớn cho các nhánh Tin Lành muốn hiệp nhất với Giáo Hội Công Giáo.

3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành và Anh Giáo đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession)- và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường ( Martin Luther, John Calvin..Henry XIII) chứ không phải là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của Chúa trên Đá Tảng Phêrô.( Mt 16: 18-19) và " Giáo Hội này tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phê rô và các Giám mục hiệp thông với Ngài điều khiển" như Thánh Công Đồng Vaticanô II đã nhìn nhận. ( x. LG. số 8). Cho nên các nhánh Tin Lành và Anh giáo đều không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm Tin Lành và Anh Giáo chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullah, thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự tòng.(catechumens). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội Công Giáo vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (comm) và hiệp nhất ( unity) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Tông đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Roma coi sóc và lãnh đạo với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn. (College of Bishops).
Ươc mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 133