mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6992
mod_vvisit_counterHôm Qua16592
mod_vvisit_counterTuần Này36438
mod_vvisit_counterTuần Trước100691
mod_vvisit_counterTháng Này101374
mod_vvisit_counterTháng Trước419088
mod_vvisit_counterTất cả22453945

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - PDF Print E-mail


Wed, Aug 4 at 6:07 PM

NGHI LỄ CŨ NHƯỜNG NGHI LỄ MỚI

Trần Mỹ Duyệt

"Et antiquum documentum. Novo cedat ritui." (Nghi lễ cũ nhường nghi lễ mới). Trong kinh Tantum Ergo được hát trước khi ban phép lành Thánh Thể, Thánh Tôma Aquinas đã ca tụng nghi lễ hiến tế Thánh Thể thay cho các nghi lễ trong Cựu Ước. Chúa Giêsu đã trở nên tâm điểm của mọi nghi lễ. Trong Thánh Thể, Ngài là lễ vật và là Đấng tế lễ.

Nhưng một trong những thay đổi gần đây có liên quan tới Phụng Vụ của Giáo Hội đang gây nhiều tranh cãi là việc Đức Giáo Hoàng Phanxicô, ngày 16 July 2021 đã ban hành Tông Thư dưới dạng Tự Sắc Traditionis Custodes - Những người bảo vệ truyền thống - nhằm thống nhất và hệ thống hóa việc cử hành thánh lễ theo Công Đồng Trent (1545 và 1563) đã được Đức Bênêđíctô XVI trước đây cho phép.

Trong số những người tỏ ý bất bình với quyết định của Giáo Hoàng gồm hồng y, tổng giám mục, giám mục và giáo sỹ. Tôi không thuộc thành phần giáo phẩm, giáo sỹ. Tôi cũng không phải là một nhà thần học, một giáo sư phụng vụ hay lịch sử Giáo Hội. Những gì tôi trình bày ở đây thuộc cảm nghiệm của một người đã từng có trải nghiệm về cả hai hình thức Thánh lễ: Thánh lễ Công Đồng Trent và Thánh Lễ Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI, cũng được gọi là thánh lễ theo nghi thức Roma sau công đồng Vaticanô II (1962-65).

Nhớ lại khoảng 70 năm trước, mỗi khi đi lễ, một hành động bị coi như bắt buộc, miễn cưỡng và không mấy thích thú, vì không đi là bị bố đánh đòn. Thánh lễ thời đó được cử hành bằng tiếng Latin, linh mục quay lưng về phía giáo dân. Đến với nhà thờ bằng tâm thức miễn cưỡng lại không hiểu cha đọc gì, nói gì, làm gì mà còn phải ngồi nghe một bài giảng dài, thường thì hay ít giở nhiều, nên tham dự thánh lễ kiểu đó đúng với nghĩa là đi xem lễ. "Đi xem lễ" hợp với cách diễn tả của phần đông các linh mục khi nói về việc cử hành thánh lễ là "đi làm lễ". Chỉ tiếc một điều là việc làm ấy được nhiều vị lập đi, lập lại thường xuyên một cách rất nhàm chán. Với suy nghĩ non nớt của tôi lúc bấy giờ, thà ở nhà ngủ còn sướng hơn!

Nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, sau Công Đồng Vaticanô II, thánh lễ và các nghi thức phụng vụ kể cả các bí tích được canh tân và chuyển qua thành tiếng địa phương (tiếng mẹ đẻ), nên ít nhất ngoài phần giảng giải ra, tôi cũng còn nghe và hiểu lơ mơ về các lời cầu, nhất là các bài đọc trong đó có Phúc Âm để biết Chúa nói gì, làm gì, và những gì Ngài đã thực hiện cho phần rỗi của tôi và của nhân loại. Thích nhất là phần thánh ca với những bài thánh ca hoàn toàn bằng tiếng Việt nghe đến đâu hiểu đến đó. Nó khác hẳn với phần thánh nhạc trước đó hát bằng tiếng Latin mà người hát cũng như người nghe chẳng biết nó như thế nào? Trong tinh thần đổi mới này, tôi thấy mình không phải miễn cưỡng đi lễ và không nhàm chán xem lễ, nhưng ít nhất là được cùng với linh mục, giáo dân dâng lễ, hay hiệp dâng thánh lễ.

Vậy tại sao ở các nước Âu Mỹ, ngày nay lại có một số thành phần cứ đòi cho được cử hành thánh lễ cổ điển theo tinh thần công đồng Trent? Tôi thực sự không biết, nhưng có lẽ nó phát xuất từ quan điểm của Tổng Giám Mục Marcel François Marie Joseph Lefebvre người Pháp. Ông là nghị phụ tham dự công đồng Vaticanô II, nhưng rồi cũng chính ông đã phản đối quyết định của công đồng trong việc canh tân thánh lễ. Dĩ nhiên, phong trào nào cũng vậy, quan điểm của ông cũng thu hút được một số người theo ông. Năm 1970 ông lập Huynh Đoàn Thánh Piô X để quyết tâm duy trì thánh lễ Latin. Sinh hoạt này đã gây ra nhiều phiền toái cho Giáo Hội. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II và Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI đã cố gắng đối thoại với nhóm này nhưng vẫn không kết quả.

Tại Việt Nam không có cái cảnh đòi hỏi này nên Giáo Hội Việt Nam xem ra nhẹ nhõm, nhưng ở các nước Âu Mỹ thì không phải vậy, nên vẫn có những thánh lễ quay lên và bằng Latin ở một số địa điểm, một số nơi, thu hút một số người. Kinh nghiệm của tôi về thánh lễ kiểu này bỗng sống lại khoảng thời gian gần đây khi tham dự thánh lễ an táng của mẹ một người bạn sinh hoạt cùng nhóm. Bà này thuộc thành phần bảo thủ theo nhóm Lefebvre nên quyết định phải được làm lễ qui lăng (lễ an táng) trong một nhà thờ có cử hành thánh lễ Latin và theo nghi thức cũ. Tham dự thánh lễ (đúng hơn là xem lễ) hôm đó mọi người nữ phải trùm đầu bằng khăn choàng đen. Thánh lễ được cử hành bằng tiếng Latin, linh mục quay lưng về phía giáo dân. Ký ức quay về thời xa xưa và thật sự hôm đó tôi phải giục lòng tin nhiều hơn mới cầm lòng, cầm trí mà "xem" cho hết ván lễ (tiếng người xưa vẫn gọi là thánh lễ). Dĩ nhiên cuối cùng thì cũng xong, ra về và không hiểu, không biết gì hết. Tôi tự hỏi, như vậy thì có ích gì? Làm như vậy để làm gì?

Theo tôi, so sánh với Thánh lễ Tridentine cũng được gọi là Thánh Lễ Latin Truyền Thống, được cử hành theo nghi lễ trong Giáo Hội Công Giáo theo sách lễ Roma từ năm 1570 đến 1962, và thánh lễ được cử hành từ năm 1962 tới giờ thì thánh lễ vẫn là thánh lễ. Chúa Giêsu vẫn là Đấng Tế Lễ và là Của Lễ. Hy lễ thập giá năm xưa vẫn tái hiện trên bàn thờ. Người tham dự kể cả linh mục lẫn giáo dân đều được nuôi dưỡng bằng bàn tiệc thiên đình gồm Lời của Chúa và Thánh Thể. Tuy nhiên, nếu được hỏi ý kiến, tôi vẫn thấy thánh lễ được cử hành như hiện nay gần gũi, dễ hiểu, và hấp dẫn người tham dự hơn. Bởi thế, tôi dùng từ tham dự hay dự lễ thay cho từ đi lễ hoặc xem lễ.

-Phẩm phục linh mục nhẹ nhàng hơn, không nặng nề, hình thức và hoa văn rườm rà như trước đây mỗi khi tôi thấy linh mục từ trong phòng thánh bước ra.

-Có tính cách cộng đồng hơn khi chủ tế cùng quay xuống, hòa đồng và cùng dâng lễ với cộng đoàn giáo dân tham dự. Thánh lễ mà chỉ có chủ tế thì thầm gì với Chúa, quay lưng về phía giáo dân thì như xa lạ, chia cách và thiếu tính cách hiệp thông cộng đoàn.

-Giáo dân tham dự được chia sẻ qua các bài đọc, lời nguyện, lời ca tiếng hát. Nhờ được cử hành bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, thánh lễ dưới hình thức này như tôi đã trình bày, thu hút được sự chú tâm, hiệp ý và tạo điều kiện cho người tham dự kết hợp, sống thánh lễ và thực hành thánh lễ trong đời sống.

-Câu hỏi tôi vẫn suy nghĩ mà sợ nói ra bị mang tiếng xúc phạm, đó là có mấy linh mục am hiểu, đọc thông, viết thạo, và nói rõ ràng tiếng Latin như tiếng mẹ đẻ? Nếu vậy, có nên nêu lên nghi vấn về những gì họ đọc và những gì họ làm không?

Một câu truyện cười nhà đạo kể về khả năng Latin của các linh mục như sau. Trong lúc truyền phép Mình Máu Thánh Chúa, khi đọc lời truyền phép một vị linh mục thay vì đọc:

HOC EST ENIM CORPUS MEUM.

(Này là Mình Ta)

Do quên sót hay sốt sắng thế nào lại đọc chữ Corpus thành Corbus (con quạ), thế là một đàn quạ bay đầy nhà thờ. Không biết trong quá khứ có bao nhiêu lần các linh mục đã đọc nhầm lời truyền phép như thế này, và nếu có thì khi rước lễ giáo dân ăn thịt Chúa hay ăn thịt quạ?!

Tóm lại, thánh lễ là vô giá, nơi Thiên Chúa đối thoại, lắng nghe dân Ngài. Ngài ban Lời và Thịt Máu Ngài làm của ăn nuôi dưỡng linh hồn tín hữu trên đường về quê trời. Chúng ta được khuyến khích siêng năng tham dự thánh lễ. Ngoài ra, chủ tế cũng không nên dùng thánh lễ như những cơ hội để khoe áo mũ, gậy gộc. Càng không nên biến tòa giảng thành nơi khoa trương kiến thức, tài hùng biện, nơi kể truyện rông rài, hoặc kết án người này, người khác. Tòa giảng là tòa chân lý, nơi công bố Lời Chúa.

Như vậy không cần phải thánh lễ quay lên hay quay xuống, thánh lễ Latin hay thánh lễ tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp... Nếu thánh lễ được dâng với tinh thần cung kính, nghiêm trang và sốt sắng thì người tín hữu sẽ không coi việc tham dự thánh lễ là xem lễ, và chủ tế không còn coi đó là việc làm nhàm chán, miễn cưỡng mà là dâng thánh lễ.

-----------------------------------------------

"NẾU ANH EM ĐỂ CHO THẦN KHÍ HƯỚNG DẪN, THÌ ANH EM KHÔNG CÒN THUỘC LỀ LUẬT NỮA" (GALAT 5, 18)

-----------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - PDF Print E-mail

Kim Vu
>
>

> THÁNH GIOAKIM (JOACHIM) VÀ THÁNH ANNA (ANNE)
>
>
>
> Thánh Gioakim và Thánh Anna là song thân của Đức Mẹ, tức là Ông Bà Ngoại của Chúa Cứu Thế Giêsu. (Xin được mở ngoặc: Có một số người thường viết lộn hoặc đọc sai là Gioan-kim).
>
>
>
> Tên Gioakim được tạo bởi chữ YHWH (tiếng Do thái: יְהוֹיָקִים Yəhôyāqîm, tiếng Hy Lạp: Ἰωακείμ Iōākeím), nghĩa là "sự chuẩn bị của Gia-vê".
>
>
>
> Thánh Gioakim là Phu quân của Thánh Anna và là Thân phụ của Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ của Chúa Giêsu, theo truyền thống Công giáo Rôma, Chính Thống giáo, và Anh giáo. Câu chuyện về Thánh Gioakim và Anna xuất hiện lần đầu tiên ở ngụy thư Phúc Âm thánh Giacôbê. Thánh Gioakim và Thánh Anna không được nhắc tới trong Kinh Thánh.
>
>
>
> Hai Ông Bà được Giáo hội kính nhớ vào ngày 26 tháng Bảy hằng năm. Đây là ngày lễ của những người đã làm ông bà (nội hay ngoại). Lễ này nhắc nhớ quý ông bà nội ngoại về trách nhiệm xây dựng các thế hệ tương lai, phải tạo truyền thống gia phong lễ giáo như phần di sản đạo đức làm của hồi môn cho cháu chắt. Tuy nhiên, lễ này cũng là lời nhắn nhủ dành cho thế hệ trẻ: Phải tôn kính người lớn hơn mình, nhất là những người già, phải biết trải nghiệm, đánh giá cao cuộc sống chứ không được coi nhẹ hoặc làm ngơ.
>
>
>
> Gia phả của Chúa Giêsu trong Phúc Âm thánh Matthêu và Luca không nói rõ tên cha mẹ của Đức Maria, nhưng có liệt kê tên người cha của thánh Giuse, nhiều học giả trong nhóm của John ở Damascus (thế kỷ 8), và đặc biệt là các học giả Tin Lành, tranh luận rằng gia phả trong Phúc Âm theo thánh Luca mới đúng là phả hệ của Đức Mẹ, và Heli là cha. Để giải quyết vấn đề thánh Giuse có hai người cha – một thuộc dòng dõi Vua Salomom, hậu duệ của Nathan, con Vua Đa-vít, truyền thống từ thế kỷ 7 xác định rằng Heli là anh em họ đầu tiên của Thánh Gioakim.
>
>
>
> Theo truyền thống, Bà Anna sinh tại Belem, kết hôn với Ông Gioakim người Nadaret, cả hai đều là dòng dõi thánh vương Đa-vít. Trong Protoevanggelium của thánh Giacôbê, thánh Gioakim được mô tả là người giàu có và đạo đức, thường giúp đỡ người nghèo và tới Đền thờ tại Sepporis. Truyền thống nói rằng cha mẹ của Đức Maria mới đầu sống ở Galilê, sau đó định cư ở Giêrusalem. Tuy nhiên, Bà Anna là phụ nữ son sẻ, ông Gioakim bị các thầy thượng tế sa thải và từ chối lễ vật hy sinh của ông, vì việc Bà Anna không có con được hiểu là việc không đẹp lòng Chúa. Ông Gioakim rút vào hoang địa để ăn chay và đền tội 40 ngày. Lúc đó các thiên thần hiện ra hứa với Ông Bà Gioakim và Anna là sẽ có con nối dõi. Sau đó, ông Gioakim trở lại Giêrusalem và đón bà Anna tại cổng thành. Có niềm tin cổ cho rằng đứa con sinh bởi người mẹ già là đã được tiền định về điều gì đó kỳ lạ. Trong Cựu ước có trường hợp của Bà Hannah, Thân mẫu của Ngôn sứ Samuel.
>
>
>
> Truyền thuyết liên quan Ông Bà Gioakim và Anna có trong "Cổ Tích Vàng" (Golden Legend) và vẫn phổ biến trong nghệ thuật Kitô giáo cho tới khi Công đồng Trentô xác nhận đó là các sự kiện ngụy tạo.
>
>
>
> Phụng vụ theo lịch Tridentine không có lễ Thánh Gioakim. Lễ này được thêm vào Công Lịch Rôma từ năm 1584, mừng vào ngày 20-3, ngay sau lễ Đức Thánh Giuse Phu quân Đức Mẹ. Năm 1738, lễ này được chuyển sang Chúa nhật sau tuần bát nhật lễ Đức Mẹ Mông Triệu. Với nỗ lực để Phụng vụ các Chúa nhật được cử hành, Đức Giáo Hoàng Piô X đã chuyển lễ này sang ngày 16 tháng Tám, sau lễ Đức Mẹ Mông Triệu, để Thánh Gioakim được kính nhớ trong khi cử hành cuộc khải hoàn của Đức Mẹ. Trong lịch các thánh của Giáo hội Công giáo Rôma (năm 1969), lễ Thánh Gioakim được mừng chung với Thánh Anna vào ngày 26 tháng Bảy.
>
>
>
> Giáo hội Chính thống Đông phương và Công giáo Hy Lạp kính nhớ thánh Gioakim và thánh Anna vào ngày 9 tháng Chín. Thánh Gioakim và thánh Anna là thánh bổn mạng của các cha mẹ, các ông bà nội ngoại, những người kết hôn, những người đóng tủ và những người buôn vải. Có một số biểu tượng gắn liền với thánh Gioakim: Cuốn sách hoặc cuộn giấy tượng trưng người dệt vải, chiếc gậy chăn chiên tượng trưng chữ nghĩa của Kitô giáo, và cái rổ đựng đôi chim bồ câu tượng trưng sự hòa bình. Thánh Gioakim thường có trang phục màu xanh lá cây, màu của niềm hy vọng.
>
>
>
> Trong Kinh thánh, hai thánh sử Matthêu và Luca cung cấp gia phả của Chúa Giêsu, cho thấy rằng Chúa Giêsu là đỉnh cao của Giao ước (những lời hứa). Chúng ta không biết gì nhiều, ngay cả ông bà ngoại Gioakim và Anna cũng chỉ được nhắc tới sau khi Chúa Giêsu chịu chết được hơn 100 năm.
>
>
>
> Đức tính anh hùng và sự thánh thiện của các ngài được suy ra từ bầu khí gia đình liên quan Đức Maria trong Kinh thánh. Dựa vào truyền thuyết thời thơ ấu của Đức Maria hoặc suy đoán từ thông tin trong Kinh thánh, chúng ta thấy sự viên mãn của nhiều thế hệ của những con người cầu nguyện, chính Đức Mẹ đã say đắm cầu nguyện theo truyền thống tôn giáo.
>
>
>
 Tính cách mạnh mẽ của Đức Maria thể hiện khi quyết định "xin vâng" (Lc 1:38), liên lỉ cầu nguyện, tuân thủ luật đức tin, sự vững vàng khi gặp khủng hoảng, và tận tụy với những ngườ>i thân (Lc 1:39-45) – cho thấy gia đình gắn bó yêu thương, trông mong thế hệ kế tiếp duy trì những điều tốt đẹp nhất của quá khứ.
>
>
>
> Ông Bà Gioakim và Anna biểu hiện các thế hệ khá lặng lẽ khi trung thành thực hiện trách nhiệm, sống đức tin và thiết lập môi trường tốt lành cho Đấng Thiên Sai tới.
>
>
>
> Lạy Thánh Gioakim và Thánh Anna, xin cầu thay nguyện giúp cho chúng con. Amen.
>
>
>
> Nguồn: https://ditimchanly.org
>
----------------------------------------

 
HỌC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - GIEO SUY NGHĨ TỐT PDF Print E-mail

Chi Tran

GIEO SUY NGHĨ TỐT
GIẢI ĐÁP THẮC MẮC CHO NGƯỜI TRẺ CÔNG GIÁO

Câu hỏi:

*Con thấy mình hay có những suy nghĩ mang ý hướng phạm tội, làm thế nào loại bỏ suy nghĩ đó?

Trả lời:

Khi Đức Giêsu chữa lành người bại liệt, các Kinh sư và Biệt phái liền nghĩ xấu về Người, nhưng Đức Giê-su biết ý nghĩ của họ, liền nói : "Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy." (Mt 9,4).

Thiên Chúa nhìn thấy mọi bí mật sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Thiên Chúa là một vị quan toà nghiêm khắc, và sẵn sàng trừng phạt mỗi khi chúng ta có suy nghĩ xấu. Theo Giáo Lý, ý nghĩ xấu tự nó không phải là tội. Một suy nghĩ xấu sẽ trở thành tội khi ta ưng thuận với suy nghĩ đó. Thánh Augustinô dạy rằng, ở đâu không có sự đồng thuận, ở đó không có tội.[1]

Bạn thân mến,

Các thánh cũng bị cám dỗ, cũng có những suy nghĩ xấu và tiêu cực. Thánh Phaolô đã thừa nhận, mặc dù nhận được ơn hoán cải và trở nên một với Đức Ki-tô, nhưng thân xác ngài như "bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Xa-tan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại." (Cr 12,7). Thánh nhân đã ba lần cầu nguyện với Thiên Chúa để được giải thoát khỏi cám dỗ này. Thiên Chúa trả lời rằng, ân sủng của Thiên Chúa thì đủ cho thánh nhân: "Ơn của Thầy đã đủ cho anh, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối" (Cr 12,8-9). Thiên Chúa cho phép tôi tớ Ngài bị cám dỗ cũng như bị thử thách. Những thử thách ấy giúp tôi luyện ý chí và cải thiện sự bất toàn của họ.

Tuy nhiên, trong trường hợp bị cám dỗ về những suy nghĩ xấu, nếu chúng ta đồng thuận với suy nghĩ đó, thì chúng ta đã phạm tội. Hội Thánh gọi đó là tội trong tư tưởng. Một tư tưởng xấu với sự ưng thuận là một tội vì điều gì chúng ta không được phép làm, thì chúng ta cũng không được phép ao ước. Ao ước điều xấu cũng là một tội phạm đến Chúa, với tha nhân và với chính mình. Tội trong hành động khiến chúng ta lìa xa Thiên Chúa thế nào, thì suy nghĩ xấu, với sự ưng thuận, cũng khiến ta lìa xa Thiên Chúa thế ấy. Sách Khôn Ngoan dạy ta rằng: "Những suy nghĩ quanh co khiến con người lìa xa Thiên Chúa" (Kn 1,3). Vả lại, "Thiên Chúa quán thông, mọi hành vi, chính Người xét xử" (1 Sm 2,3).

Tuy nhiên, theo thánh Anphongsô Maria, giống như thần học luân lý chia tội thành hai loại. Chúng ta có thể chia suy nghĩ xấu làm ba loại:

- Tư tưởng chợt đến.

- Những tư tưởng mà ta đã thích thú đón nhận.

- Và thứ ba là sự đồng thuận với tư tưởng đó.

Điều này cho thấy rằng, nếu một suy nghĩ xấu xuất hiện trong tâm trí thì tự bản chất, đó chưa phải là tội. Trái lại, nếu ta chống lại suy nghĩ đó thì ta sẽ nhận được ơn ích, như thánh Antoniô nhắc nhở ta rằng: "Khi con kháng cự, con sẽ nhận được mũ triều thiên."

Ý thức được tính nguy hiểm của tư tưởng xấu và ảnh hưởng xấu của nó đến đời sống thiêng liêng, nhiều người đã nỗ lực cố gắng để vượt thắng. Tiếc là không ít người thất bại. Vậy làm sao để chúng ta gạt bỏ những tư tưởng xấu? Và nếu nó cứ đến thì ta phải làm gì?

Để tránh như tư tưởng xấu, chúng ta cần phải làm chủ các giác quan. Người ta vẫn thường nói con mắt là cửa sổ tâm hồn. Điều này cũng đúng với các giác quan khác như thính giác, khứu giác, vị giác... Thông qua các giác quan, mọi hình ảnh, tư tưởng sẽ đi vào tâm trí chúng ta. Vì lẽ đó, chúng ta cần lưu tâm đến thể loại nhạc ta nên nghe, các chương trình truyền hình, các loại phim ảnh chúng ta nên xem, các loại sách hay tạp chí nào ta nên đọc. Chúng ta cần tự hỏi, bộ phim này ảnh hưởng tốt hay xấu đến đời sống thiêng liêng của tôi. Những hình ảnh tôi xem có tác động thế nào đến những suy nghĩ của tôi?

Trong truyền thống Giáo hội, đây được gọi là cách thế để tránh dịp tội, thường bao gồm hai loại: dịp tội xa và dịp tội gần. Thánh Phaolô dạy chúng ta rằng: "Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy lưu tâm đến." (Phl 4,8). Thánh nhân mời gọi chúng ta lưu tâm, suy nghĩ và dành thời gian cho những gì đem lại sức sống cho đời sống thiêng liêng của chúng ta.

Ngoài ra, theo kinh nghiệm nhiều bậc khôn ngoan trong Giáo Hội, chúng ta cần xưng tội và cho cha giải tội biết những cám dỗ và cạm bẫy mà ma quỷ vẫn hay bày ra trước mắt chúng ta. Thánh I-nhã ví ma quỷ như một một kẻ si tình lẳng lơ, muốn giữ bí mật để khỏi bị lộ. Trong sách Linh Thao, thánh nhân viết:

"Quả vậy, một người đàn ông đồi bại dùng lời xảo trá quyến rũ một thiếu nữ con nhà lành, hoặc vợ một người đứng đắn, thì muốn cho những lời dụ dỗ của hắn được giữ kín; trái lại hắn rất bất mãn khi thiếu nữ mách với cha, thiếu phụ mách với chồng những lời quyến rũ và ý xấu xa của hắn, vì hẵn dễ dàng suy ra rằng, không thể nào thành công được với chuyện hắn đã bắt đầu" (số 326).

Do đó, theo lời dạy của thánh nhân, chúng ta được mời gọi để xưng tội và nói cho cha giải tội hay các cha linh hướng biết về những suy nghĩ xấu chúng ta thường gặp phải.

Đừng quên chạy đến với Chúa mỗi khi ta bị cám dỗ. Khi đó chúng ta phải nhớ đến Chúa. Qua lời Thánh Vịnh, chúng ta biết rằng, trong cơn hoạn nạn Vua Đavít đã thưa lên với Chúa rằng: "Tôi kêu cầu Chúa là Ðấng xứng muôn lời ngợi khen, và tôi được cứu thoát khỏi quân thù." (Tv 17,4). Khi ma quỷ dùng một tư tưởng xấu tấn công, bằng cách lặp đi lặp lại một tư tưởng xấu trong tâm trí, ta có thể dùng một câu lời Chúa hay kêu cầu đến danh Chúa, chắc chắn Ngài sẽ đến và giải thoát ta.

Ví dụ, khi bị cám dỗ, chúng ta có thể thầm đọc trong miệng rằng: "Lạy Chúa Giê-su, xin thương xót con." Bằng cách lặp đi lặp lại lời này, chắc chắn chúng ta sẽ vượt thắng cám dỗ. Khi đó, tư tưởng xấu không những không thể hại ta, mà còn là dịp cho ta đến gần với Chúa, trở nên thiết thân hơn với Người.

Để tránh suy nghĩ xấu và tiêu cực, bạn cần chống lại nó. Truyền thống Giáo Hội gọi hành động này là "agere contra". Nghĩa là "làm ngược lại" với những suy nghĩ tiêu cực hay xấu xa mà ma quỷ gợi ra cho chúng ta. Bạn áp dụng phương pháp này thử xem.

Một trong cách thế để tránh suy nghĩ xấu nữa: chúng ta suy nghĩ về những điều tốt, về những lý tưởng sống và ước ao tốt đẹp trong đời sống chúng ta. Ai cũng có những ước mơ cần được nuôi dưỡng, để theo đuổi ước mơ và biến ước mơ thành hiện thực. Chúng ta cần có kế hoạch và hiện thực hoá kế hoạch đó. Một giấc mơ lớn trở thành hiện thực qua những bước nho nhỏ. Do đó, chúng ta hãy có những ước mơ lớn và hãy dành thời gian, tâm trí và sức lực để sống cho những ước mơ đó.

Đức Thánh Cha Phanxicô khuyên các bạn trẻ đừng đánh mất ước mơ của mình.[2] Hãy dám ước mơ và sống cho ước mơ của mình. Khi có những ước mơ đẹp, chúng ta sẽ không còn thời gian cho những suy nghĩ xấu. Thay vì dành thời gian chiến đấu với những điều xấu, tư tưởng xấu, ta hãy dành thời gian và năng lượng đó để ước mơ và sống cho những ước mơ của mình.

Cảm ơn bạn đã nêu câu hỏi mà hầu hết chúng ta đều vướng phải. Tư tưởng xấu không phải là một tội, nếu chúng ta chưa đồng thuận với tư tưởng đó. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là vô hại. Nó là virus, là mật ngọt chết ruồi, nên chúng ta cần để ý. Tư tưởng xấu có thể làm tổn hại đến đời sống thiêng liêng của chúng ta, làm chúng ta mất bình an và thường là một dịp dẫn đến tội.

   Để tránh tư tưởng xấu, chúng ta cần phải làm chủ giác quan của mình, siêng năng lãnh nhận bí tích hoà giải và sẵn sàng chia sẻ những cám dỗ với những vị hữu trách. Đồng thời, hãy dành thời gian và tâm trí để suy nghĩ về những điều tốt, về những ước mơ của mình.

Thân chào bạn!

Augustinô Nguyễn Minh Triệu, SJ

----------------------------------------------

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - NƯỚC THÁNH / NƯỚC PHÉP PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Sat, Jun 5 at 7:37 PM

NƯỚC PHÉP ÂN SỦNG TUYỆT VỜI
Nước Thánh hay nước phép là nước đã được Linh mục làm phép nhân Danh Thiên Chúa là nguồn mạch sự sống thể xác và linh hồn. Linh mục cầu xin Chúa ban phép lành cho nước để những ai tin tưởng mà dùng được Chúa ban ơn tha tội, được ơn chống lại bệnh hoạn và mưu kế ma quỉ (Lời nguyện khi làm phép nước). Khi giáo dân thành tâm tôn kính làm dấu Thánh giá nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần thì được ơn Tiểu xá Giáo hội ban (Tông huấn Ân xá, số 55).
Khi làm dấu Thánh giá với Nước thánh, giục lòng ăn năn tội thì được những ơn ích sau:

1. Được tha các tội mọn (do lòng ăn năn).
2. Được tha một số hình phạt tạm (do ân Tiểu xá).
3. Được sức khỏe phần xác theo Ý Chúa (do hiệu lực Nước thánh).
4. Được ơn chống cám dỗ (do hiệu lực Nước thánh).

Thánh Luca thuật lại dụ ngôn Chúa kể về người giàu và Lagiarô nghèo. Từ dưới Hỏa ngục người nhà giầu ngửa cổ lên van nài tổ phụ Abraham sai Lagiarô nhỏ xuống cho một giọt nước giải khát, nhưng tổ phụ Abraham nói là không được nữa, bởi đôi bên đang ở trong tình trạng khác, không còn giống như khi còn sống (Lc 16,24).

* Lịch sử Giáo hội Rôma cũng kể lại, nhờ rảy Nước thánh do Đức Giáo Hoàng Stephanô 6 làm phép đã giết được cả bầy châu chấu phá hại mùa màng.

* Linh mục Đắc Lộ (Alexander de Rhodes) kể rằng nhờ làm dấu Thánh giá bằng Nước thánh và rẩy Nước thánh mà các giảng viên giáo lý của ngài ở Việt nam đã được rất nhiều ơn lạ. Một lần ngài nhờ 6 giảng viên giáo lý đi thăm một làng có nhiều người bệnh, nhờ Nước thánh, họ đã chữa được 272 bệnh nhân (Charity p. 133).

Nước thánh mang lại ơn ích cho người đang sống và cũng là ân sủng cứu các linh hồn Luyện ngục. Một giọt Nước thánh nhiều khi có giá trị hơn một kinh dài, bởi nhiều khi đọc kinh dài, người ta khó cầm trí trọn vẹn được. Các linh hồn Luyện ngục khát khao Nước thánh lắm.

* Một người chết được chôn ở nghĩa địa thành Roma, nước Ý, đã chết 17 năm. Ông ta hiện về với Đấng Đáng kính Đaminh Giêsu Maria nài xin rảy Nước thánh cho mình để linh hồn ông ta được mát mẻ.

* Một thầy dòng Carmelô để sọ người trên bàn làm việc của thầy để dễ suy sự chết, một hôm thầy lấy Nước thánh rảy trên sọ ấy, liền nghe tiếng xin: "Rảy nữa! Rảy Nước thánh nữa!"

* Bà Đáng kính Mình Thánh Chúa thấy một sơ bạn đã qua đời thường hiện về xin rảy Nước thánh trên mộ mình để linh hồn được mát mẻ dưới Luyện ngục.

* Bà đáng kính Lindmayer đôi khi được Chúa nhắc cho rảy Nước thánh cho các người đã chết. Bà có thói quen rảy Nước thánh rồi mới đi ngủ. Một hôm bà vội vàng lên giường, quên rảy Nước thánh như thói quen thì nghe tiếng các linh hồn nài van, bà lập tức chỗi dậy rảy Nước thánh và không thấy tiếng kêu nài như trước (Charity 133).

Nếu các linh hồn Luyện ngục xin chúng ta một chút Nước phép để các ngài được mát mẻ, chúng ta đừng tiếc. Khi vào hay ra khỏi cửa nhà thờ đừng quên giơ tay chấm Nước phép làm dấu Thánh giá, giục lòng ăn năn tội, lãnh ân xá cầu cho các linh hồn.

Nhiều giáo dân đạo đức quen làm dấu Thánh giá bằng Nước phép trước khi ra khỏi nhà và khi trở về, khi rời khỏi phòng, trước khi đi ngủ, khi bị cám dỗ. Cha Mẹ nên dạy con cái năng dùng Nước phép để chúng được ơn phù hộ hồn xác và cứu giúp các linh hồn Luyện ngục.
vungtinvaochua

 
HOC HỎI ĐỂ SỐNG ĐẠO - LỄ MINH MÁU CHÚA PDF Print E-mail

nguyenthi leyen
Sat, Jun 5 at 9:12 PM

"Anh em hãy cầm lấy, đây là Mình Thầy" (Mc 14,22):
NGUỒN GỐC LỄ MÌNH THÁNH CHÚA


Vào năm 1263, một linh mục người Đức đang cử hành Thánh lễ tại một nhà thờ kinh thánh KÍT-XI-A-NA (Christiana), lúc bẻ bánh trước khi rước lễ, vị linh mục này đã trông thấy Mình thánh hình bánh đã biến thành Thân Mình Đức GIÊ-SU tử nạn. Trên thân xác Chúa, máu đang rịn ra qua các vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người.
Máu chảy ra làm ướt tấm khăn thánh và mấy lớp khăn phủ trên bàn thờ. Vị linh mục vội gấp các tấm khăn bàn thờ lại. Nhưng gấp tới đâu thì máu vẫn thấm ra tới đó. Cuối cùng máu thấm qua tới 25 lần vải khăn. Vừa cảm động lại vừa sợ hãi đến nỗi vị linh mục không thể tiếp tục dâng hết thánh lễ được.
Sau đó, ngài đến xin yết kiến Đức Giáo hoàng UR-BA-NÔ và tường trình sự kiện lạ lùng ấy. Đức Giáo hoàng liền sai một phái đoàn, đứng đầu là một Giám mục đến điều tra thực hư.
Sau khi xác định thực sự là phép lạ, vị Giám mục đã cho rước Mình Thánh Chúa cùng các khăn bàn thờ đã có thấm Máu Thánh kia về RÔ-MA, đặt tại một nhà thờ kính phép Mình Thánh, và mời gọi giáo dân đến chầu Mình Thánh Chúa liên tục 24/24.

Sau đó, vào ngày mồng 8 thánh 9 năm 1264, Đức Urbanô đã ra sắc dụ truyền thiết lập lễ kính Mình Máu thánh Chúa GIÊ-SU và truyền mừng trọng thể lễ này trong toàn thể Hội thánh.
Post by : Anh Ngoc Tran

------------------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 172