mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4310
mod_vvisit_counterHôm Qua5966
mod_vvisit_counterTuần Này19680
mod_vvisit_counterTuần Trước60881
mod_vvisit_counterTháng Này201778
mod_vvisit_counterTháng Trước114752
mod_vvisit_counterTất cả8002176

We have: 125 guests online
Your IP: 54.161.217.24
 , 
Today: Mar 29, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 344 = THU SAU TUAN 2MC-A PDF Print E-mail

 Phụng Vụ Lời Chúa Thứ Sáu Tuần II Mùa Chay

Cái nạn nhân danh Thiên Chúa để sát hại, để khủng bố

Tuần 2 Mùa Chay được tiếp tục với ngày Thứ Sáu hôm nay, có Bài Phúc Âm về dụ ngôn liên quan hết sức chặt chẽ với chủ đề chung cho Mùa Chay bao gồm cả Tuần Thánh là: "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17).

Câu chính yếu của bài Phúc Âm hôm nay chứng thực chủ đề của Mùa Chay này đó là câu: "'Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta?' Bởi vậy, Ta bảo các ông: Nước Thiên Chúa sẽ cất khỏi các ông để trao cho dân tộc khác biết làm cho trổ sinh hoa trái".

Đúng thế, cả dụ ngôn trong Bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu nói về số phận của "viên đá bị bọn thợ loại ra" là chính bản thân Người, được hiện thân nơi người con một duy nhất của ông chủ vườn nho, một vườn nho đã được ông chủ này "rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh; đoạn ông cho tá điền thuê, rồi đi phương xa".

Chính vì "vườn nho của Chúa là nhà Israel" (Isaia 5:7) mà thành phần "tá điền" được "thuê" để làm vườn nho cho vị chủ vườn nho này chính là thành phần lãnh đạo của dân Do Thái, dọc suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, mà đại diện cho chung thành phần này bấy giờ đang nghe Chúa Giêsu nói về dụ ngôn ấy là "các trưởng tế và các kỳ lão trong dân", và vì thế mà cuối cùng họ mới có phản ứng tiêu cực được Phúc Âm ghi nhận như sau: "Các Trưởng tế và biệt phái nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là Tiên tri".

Các người "đầy tớ" được chủ vườn nho là Thiên Chúa sai "đến nhà tá điền để thu phần hoa lợi" đây là ai, nếu không phải là các vị tiên tri, các vị ngôn sứ của Thiên Chúa, để nhắc nhở họ về giao ước của Thiên Chúa, về lề luật họ cần phải tuân giữ, về tội tôn thờ ngẫu tượng và ngoại tình của họ mà họ cần phải từ bỏ hầu quay về với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ.

Thật ra, vườn nho là dân Do Thái này đã được Thiên Chúa "rào dậu chung quanh, đào hầm ép rượu và xây tháp canh", ở chỗ Ngài đã ban lề luật cho họ, như thể Ngài "rào dậu chung quanh" họ, Ngài đã thử thách đức tin của họ, như thể Ngài "đào hầm ép rượu" nơi họ, và Ngài đã liên tục tỏ mình ra cho họ bằng các cuộc thần hiển hay qua các sự lạ dấu kỳ, như thể Ngài "xây tháp canh" trên họ. Chưa hết, vườn nho này còn được canh tác bởi thành phần "tá điền" là thành phần lãnh đạo dân Do Thái được Ngài sử dụng để phục vụ cho lợi ích của vườn nho như Ngài mong muốn.

Thế nhưng, thành phần "tá điền", với tư cách chỉ là kẻ làm thuê cho chủ, chẳng những đã không chịu nộp phần hoa lợi cho chủ qua thành phần "đầy tớ" là các vị ngôn sứ đại diện được chủ sai đến thu hoa lợi, mà thậm chí lại còn "bắt các đầy tớ ông: đánh đứa này, giết đứa kia và ném đá đứa khác", hết đợt này đến đợt khác, chứ không phải một đợt đầu tiên: "Chủ lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước, nhưng họ cũng xử với chúng như vậy".

Tuy nhiên, vị chủ vườn nho vẫn nhân từ và đầy nhẫn nại, lại còn tỏ ra có vẻ hết sức ngây thơ đến độ điên cuồng dại dột dám sai cả đứa con trai cưng độc nhất của mình tới với bọn tá điền hung dữ tàn ác đầy sát máu này, với ý nghĩ quá ư là thành thực, tin tưởng hết cỡ vào thành phần "tá điền" được ông thuê mướn nhưng đã từng tỏ ra không coi ông ra gì khi ra tay sát hại bao nhiêu là đợt "đầy tớ" của ông, được ông sai đến với họ: "Họ sẽ kính nể con trai mình".

Quả thực không sai, bọn "tá điền" đang hăng máu đã thừa thắng xông lên, sẵn con mắt còn đang khát máu và bàn tay còn đang đẫm máu các đợt "đầy tớ" của chủ sai đến bị họ sát hại, nên đã tiến tới chỗ giết cả chính người con trai duy nhất vô cùng yêu quí của chủ vườn nho, theo tham vọng giết người cướp của, ở chỗ, theo họ, một khi họ giết được đứa con thừa tự của chủ thì tất cả gia tài của chủ mà họ đang nắm giữ trong tay là vườn nho họ đang canh tác tự nhiên sẽ thuộc về họ: "Ðứa con thừa tự kia rồi: Nào anh em! Chúng ta hãy giết nó đi và chiếm lấy gia tài của nó'. Rồi họ bắt cậu, lôi ra khỏi vườn nho mà giết".

Thực tế cho thấy xẩy ra đúng như vậy, thành phần lãnh đạo dân Do Thái đã nhân danh Thiên Chúa, hay đã bênh vực vinh quang của Thiên Chúa, mà lên án tử cho chính Con Thiên Chúa mà họ cho rằng nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét chỉ thuần túy là một con người như họ mà đã dám cả gan lộng ngôn phạm thượng, xưng mình là Con Thiên Chúa, ngang hàng với Thiên Chúa (xem Mathêu 26:63-66 và Gioan 10:33). Bởi thế không lạ gì lịch sử đã cho thấy ngày xưa trong Giáo Hội đã xẩy ra hiện tượng nhân danh Thiên Chúa (chân lý / tín điều) mà sát hại, và ngày nay có một số phần tử Hồi giáo cực đoan quá khích cũng tiếp tục đường lối nhân danh Thiên Chúa để khủng bố bất cứ một kẻ thù nào mà họ coi là thành phần bội giáo.

Thế nhưng, vị chủ vườn nho này không quá ngu dại và điên cuống như đám "tá điền" gian ác tham lam ấy tưởng tí nào cả, trái lại, chính những mưu đồ xấu xa và việc làm quái gở của họ, hoàn toàn theo tính toán khôn ngoan nhất của họ, theo tự do đến độ lộng hành của họ, mà lại trở thành cơ hội vô cùng thuận lợi cho ý định cứu độ của Ngài, đúng như Con của Ngài đã tiên báo cho thành phần lãnh đạo đang nghe Người bấy giờ biết: "Chính viên đá bọn thợ loại ra, đã trở nên viên đá góc; đó là việc Chúa làm và là việc lạ lùng trước mắt chúng ta?"

Thậm chí cho dù biết như thế đấy, ở chỗ "nghe dụ ngôn đó, thì hiểu Người ám chỉ về mình. Họ liền tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì thiên hạ đều tôn Người là Tiên tri", thành phần lãnh đạo dân Do Thái ấy nhất định vẫn không chấp nhận Người, vẫn muốn tình nguyện bất đắc dĩ trở thành "bọn thợ" nhúng tay vào việc "loại ra" "chính viên đá" theo thiên định chắc chắn sẽ "trở nên viên đá góc".

Hình ảnh và số phận của "viên đá" bị "loại ra đã trở thành viên đá góc" là Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay đã được báo trước nơi số phận của tổ phụ Giuse, một trong 12 anh em trai của tổ phụ Giacóp, và được bố Giacóp thương nhất trong số các con của ông, nên đứa con trai thứ 11 này của ông, cùng cha khác mẹ với 10 người anh, đã bị các anh ghen ghét đến độ muốn sát hại, chẳng những cho bõ ghen tức mà còn để phá vỡ mộng mị của đứa em lên mặt này của họ.

Giuse là đứa em được bố tổ phụ Giacóp thương nhất, đến độ Giuse đã trở thành cái gai trước mắt các anh mình: "Israel mến thương Giuse hơn mọi đứa con khác, vì ông sinh ra Giuse trong lúc tuổi già. Ông may cho Giuse một chiếc áo nhiều mầu. Các anh của Giuse thấy cha mình thương Giuse hơn mọi đứa con, nên sinh lòng ghen ghét và không thể nói chuyện thân mật với Giuse".

Tuy nhiên, không phải vì thương Giuse nhất mà bố tổ phụ Giacóp không thương những đứa con còn lại, trái lại, ông vẫn quan tâm đến mọi đứa con của ông, như có lần ông sai Giuse đến với các anh của chàng: "Khi các anh Giuse đi chăn những đoàn chiên của cha mình tại Sikem, thì Israel nói với Giuse: 'Có phải các anh con đang chăn chiên ở Sikem không? Con hãy lại đây, cha sai con đi tìm các anh con'".

Không ngờ cơ hội tốt đã đến, các anh của người con cưng của cùng một người cha khác mẹ với họ đã lọt vào tay họ một cách ngon lành, để họ nhờ đó có thể dễ dàng thực hiện ý đồ gian ác của họ là sát hại đứa em vô tội của họ, rồi bỏ xác của nó xuống một cái giếng cạn để phi tang tung tích của nó, nhưng sau theo gợi ý có lý của người anh thứ tư là Giuđa, họ đã chuyển mưu đồ giết em thành bán em của họ cho đám lái buôn đang đi sang Ai Cập.

"Giuse đi tìm các anh mình và gặp các anh tại Ðôtain. Khi các anh thấy Giuse từ đằng xa tiến lại gần, họ liền âm mưu tìm cách giết Giuse. Họ nói với nhau rằng: 'Này thằng chiêm bao đến kia rồi, anh em hãy lại đây, chúng ta bắt giết nó, ném xác nó xuống một cái giếng cạn và nói nó bị thú dữ ăn thịt, rồi xem các điềm chiêm bao của nó sẽ ra sao?'"

"Ðang khi các ông ngồi ăn bánh, thì thấy một đoàn người Ismael từ Galaad tiến về Ai-cập, các con lạc đà của họ chở đầy hương liệu, nhựa thơm và dầu thơm. Giuđa nói với các anh em rằng: "Chúng ta giết em chúng ta và giấu máu nó đi, thì có ích lợi gì? Tốt hơn là chúng ta đem bán nó cho người Ismael và tay chúng ta không phải vấy máu, vì Giuse là em ruột thịt chúng ta". Các anh em nghe theo lời Giuđa, nên khi các người lái buôn từ Mađian đi ngang qua đó, các ông kéo Giuse lên khỏi giếng và đem bán cho các người Ismael với giá hai mươi đồng bạc, và họ dẫn Giuse sang Ai-cập".

Thế nhưng, cũng như bọn "tá điền" trong dụ ngôn của Bài Phúc Âm hôm nay, hoàn toàn tự do mưu tính và hành động theo sự khôn ngoan nhất của mình, thế mà Vị Thiên Chúa toàn năng quan phòng tất cả mọi sự như chủ tể lịch sử loài người vẫn có thể hoàn tất được tất cả những gì Ngài định liệu, bằng chính những âm mưu ác độc xấu xa và việc làm gian ác hung dữ của họ, như Bài Đáp Ca hôm nay chứng thực:

1) Chúa đã gọi cảnh cơ hàn về trên đất nước, và rút đi mọi sự nâng đỡ bằng cơm bánh. Ngài đã sai một người đi trước họ: Giuse đã bị bán để làm nô lệ.

2) Thiên hạ đã lấy xiềng để trói chân người, và cổ người bị cột bằng xích sắt, cho tới khi ứng nghiệm lời tiên đoán của người, lời của Chúa đã biện minh cho người.

3) Vua đã sai cởi trói cho người, Chúa của chư dân cũng đã giải phóng người. Vua đã tôn người làm chủ của mình, và làm chúa trên toàn diện lãnh thổ.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 342 = BAI GIAO LY 14 PDF Print E-mail

Giáo Hội không phải chỉ muốn cảnh giác con cái mình về thái độ của nhà phú hộ

mà còn kêu gọi họ sống theo tinh thần của một Lazarô bất hạnh nữa.

Hôm nay, Thứ Năm trong Tuần 2 Mùa Chay, Bài Phúc Âm của Thánh ký Luca về dụ ngôn Lazarô và người phú hộ, và theo chiều hướng của chung phụng vụ lời Chúa trong ngày, bao gồm cả Bài Đọc 1, thì Giáo Hội không phải chỉ muốn cảnh giác con cái mình về thái độ của nhà phú hộ mà còn kêu gọi họ sống thân phận theo tinh thần của một Lazarô bất hạnh nữa.

Trước hết, thái độ dửng dưng lạnh lùng của người phú hộ trong dụ ngôn của bài Phúc Âm hôm nay, và tinh thần sống nhẫn nhục của một Lazarô bất hạnh được Thánh ký Luca thuật lại theo lời Chúa Giêsu diễn tả như thế này:

"Có một nhà phú hộ kia vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người hành khất tên là Ladarô, nằm bên cổng nhà ông đó, mình đầy ghẻ chốc, ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy".

Tuy nhiên, dụ ngôn "Chúa Giêsu phán cùng những người biệt phái" ấy không phải chỉ cho thấy những gì xẩy ra ở trên trần gian này mà thôi, mà còn liên quan đến cả đời sau về hậu quả tai hại hay thành quả tốt đẹp của những gì con người đã làm trên đời này nữa:

"Nhưng xảy ra là người hành khất đó chết và được các thiên thần đem lên nơi lòng Abraham. Còn nhà phú hộ kia cũng chết và được đem chôn. Trong hoả ngục, phải chịu cực hình, nhà phú hộ ngước mắt lên thì thấy đằng xa có Abraham và Ladarô trong lòng Ngài..."

Ở đây, số phận đời đời, một được rỗi là Lazarô và một bị hư đi là người phú hộ, bất khả cứu vãn, bất khả đổi thay, đúng như lời khẳng định của tổ phụ Abraham đã nói với người phú hộ đang ở trong hỏa ngục: "giữa các ngươi và chúng tôi đây đã có sẵn một vực thẳm, khiến những kẻ muốn tự đây qua đó, không thể qua được, cũng như không thể từ đó qua đây được".

Số phận đời đời vô cùng quan trọng này hoàn toàn là kết quả từ cuộc sống trên trần gian của từng người, như được tổ phụ Abraham cho người phú hộ biết như sau: "Hỡi con, suốt đời con, con được toàn sự lành, còn Ladarô gặp toàn sự khốn khổ. Vậy bây giờ Ladarô được an ủi ở chốn này, còn con thì chịu khốn khổ".

Thế nhưng, số phận đời đời được rỗi của Lazarô hay hư đi của người phú hộ không phải chỉ ở chỗ "chịu khốn khổ" như Lazarô hay "được toàn sự lành" như người phú hộ. Bởi vì, thực tế cho thấy, không phải ai "được toàn sự lành" trên thế gian này đều hư đi như người phú hộ, và cũng không phải ai "chịu khốn khổ" trên đời này đều tự động được rỗi như Lazarô đâu, mà là ở chỗ họ, trong hoàn cảnh may lành hay khốn khổ của họ, có biết thực hiện nguyên tắc "đức tin thể hiện qua đức ái" (Galata 5:6) hay chăng!

Ở dưới hỏa ngục, nơi chỉ toàn là ghen ghét, giống hệt như tâm trạng bất di bất dịch của ma quỉ và nơi ma quỉ, là tác nhân chết chóc và là cha các thứ dối trá (xem Gioan 8:44), thì cả ma quỉ lẫn các linh hồn hư đi ở đó không muốn ai được cứu rỗi, trái lại, chỉ muốn cho tất cả mọi người xuống hỏa ngục với mình và như mình.

Thế mà, người phú hộ ở trong hỏa ngục bấy giờ hình như đã được biến đổi bản tính ghen ghét của hỏa ngục nơi mình, đến độ thay vì ghen ghét lại tỏ ra thương yêu các người thân yêu của mình còn sống trên trần gian này mà lên tiếng van xin cùng tổ phụ Abraham là cha của các kẻ tin (xem Roma 4:11) rằng: "tôi nài xin cha sai Ladarô đến nhà cha tôi, vì tôi còn năm người anh em nữa, để ông bảo họ, kẻo họ cũng phải sa vào chốn cực hình này... nếu có ai trong kẻ chết về với họ, thì ắt họ sẽ hối cải".

Cho dù xẩy ra như thế đi nữa, nghĩa là cho dù các linh hồn bị hư đi trong hỏa ngục hay ma quỉ ở đó có biết thương yêu những người còn sống và chỉ muốn cho những người ấy được lên thiên đàng hơn là xuống hỏa ngục như họ và với họ, một sự kiện không thể nào có, không thể nào xẩy ra và không bao giờ xẩy ra chăng nữa, cũng không thể nào cứu được một con người còn sống trên thế gian này, nếu người còn sống ấy không tự mình sống đức tin: "Chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy nghe các Ngài... Nếu chúng không chịu nghe Môsê và các tiên tri, thì cho dù kẻ chết sống lại đi nữa, chúng cũng chẳng chịu nghe đâu".

Như thế có nghĩa là Lazaro được rỗi sau cuộc đời "chịu khốn khổ" trên đời này là nhờ Lazarô đã sống đức tin, và hình ảnh Lazarô ở trong "lòng Abraham" là cha của các kẻ tin đã chứng thực điều này. Bởi vậy, chúng ta đã không thấy chỗ nào trong dụ ngôn Chúa nói ở bài Phúc Âm hôm nay cho thấy một Lazarô kêu ca, than thân trách phận, hay nguyền rủa người phú hộ, trái lại vẫn cam chịu thân phận bị khinh rẻ và bỏ rơi, cho dù chỉ có một ước muốn vô cùng tầm thường song vẫn không được đáp ứng, đó là "ước được những mụn bánh từ bàn ăn rớt xuống để ăn cho đỡ đói, nhưng không ai thèm cho. Những con chó đến liếm ghẻ chốc của người ấy".

Về phần người phú hộ cũng thế, nếu Lazaro "chịu khốn khổ" được cứu rỗi nhờ đức tin của mình thì người phú hộ bị hư đi cũng là do không có đức tin, hay đúng hơn không sống đức tin, một "đức tin thể hiện qua đức ái" (Galata 5:6). Bài Phúc Âm không hề đề cập đến bất cứ một cử chỉ hay hành động nào lỗ mãng của người phú hộ đối với Lazarô, chẳng hạn như chửi bới hay đánh đuổi Lazarô đi, mà chỉ tỏ ra lãnh đạm dửng dưng không chịu giúp đỡ Lazarô là một con người hết sức khốn nạn đáng thương "nằm bên cổng nhà ông", không thể nào ông không thấy, và cho dù có thấy ông vẫn không hề động lòng thương, không hề bố thí cho Lazarô một tí nào, trong khi đó người phú hộ này quá ư là giầu sang hoan hưởng dư thừa: "vận toàn gấm vóc, lụa là, ngày ngày yến tiệc linh đình".

Bài Đáp Ca hôm nay cũng tấu lên cùng một lời ca và cùng một nhạc điệu như Bài Đọc 1 về hai thành phần sống trên trần gian này, một theo đức tin và một không theo đức tin, như trường hợp tiêu biểu điển hình là Lazaro và người phú hộ trong Bài Phúc Âm hôm nay:

TÔI CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA

1) Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác, không đứng trong đường lối những tội nhân, không ngồi chung với những quân nhạo báng, nhưng vui thoả trong lề luật Chúa, và suy ngắm luật Chúa đêm ngày.

2) Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa; lá cây không bao giờ tàn úa. Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt.

3) Kẻ gian ác không được như vậy; họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi, vì Chúa canh giữ đường người công chính, và đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

Đức Thánh Cha Phanxicô: Giáo Lý về Niềm Hy Vọng Cậy Trông - bài 14

-------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - NGHE LOI CHUA- DEN VOI THA NHAN PDF Print E-mail

 Chúa Nhật 2 MUÀ CHAY -  Năm A

TIN MỪNG MT 17, 1-9
Nghe Lời Chúa – Đến Với Tha Nhân
10-03-2017 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

"HÃY LUÔN MANG KINH THÁNH BÊN MÌNH, NHƯ BẠN MANG THEO ĐIỆN THOẠI DI ĐỘNG". (ĐTC Phanxico)

Chúng ta đang từng bước hành trình trong Mùa Chay Thánh, tiến về Tam Nhật Vượt Qua, tưởng niệm Cuộc Khổ Nạn và Cái Chết của Chúa Giêsu, dẫn đến Lễ Phục Sinh, chiến thắng của Chúa Giêsu Kitô trên sự chết. Phụng vụ Chúa II Mùa Chay năm A trình bày cho chúng ta biến cố Chúa Giêsu Biến hình. Ðây là giai đoạn thứ hai trong Mùa Chay: giai đoạn thứ nhất là những cám dỗ trong hoang địa (x.Mt 4, 1-11); giai đoạn thứ II là cuộc Biến hình (x.Mt 17, 1-9).

Chúa Giêsu "đã gọi Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông này, và Người đưa các ông tới chỗ riêng biệt trên núi cao. Người biến hình trước mặt các ông" (Mt 17,1). Mặc dù trong phụng vụ có một ngày lễ dành riêng cho sự kiện này (ngày 06 tháng tám), hôm nay chúng ta được mời gọi chiêm ngưỡng cảnh tương tự như một phần không thể thiếu trong Cuộc Khổ Nạn, Cái Chết và Phục Sinh của Chúa Giêsu.

Quả thật, Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu đã gần kề, sáu ngày sau khi từ trên núi xuống, Chúa Giêsu tuyên bố : "Người phải đi lên Giêrusalem và chịu khổ nhiều đau khổ do hàng niên trưởng và các thượng tế cùng ký lục, và bị giết đi, ngày thứ ba sẽ sống lại" (Mt 16,21).

Nhưng các môn đệ chưa sẵn sàng chứng kiến Chúa của họ, Đấng, luôn thể hiện lòng từ bi đối với người ốm đau bệnh tật, làm cho người phung hủi được lành, kẻ điếc nghe được, người mù thấy được, kẻ què đi được, người chết sống lại, nay "sẽ phải chịu khổ nhiều đau khổ". Thật, không thể! Không thể hiểu nổi!

Tuy nhiên, bất chấp sự hiểu lầm của họ, Chúa Giêsu biết lý do tại sao Người đi vào thế giới. Người biết mình phải mang lấy tất cả sự yếu đuối và lầm than của nhân loại để thánh hóa họ, cứu họ ra khỏi vòng vây của tội lỗi và sự chết. Người cứu họ bằng cách nào ? Thưa, bằng cách chiến thắng sự chết, để sự chết không còn làm gì được con người là hình ảnh của Thiên Chúa nữa.

Đó là lý do tại sao Biến hình là một biểu tượng của ơn cứu rỗi thể hiện nơi thân xác vinh quang Phục Sinh của Chúa Giêsu. Vì thế, khi loan báo cho các môn đệ Cuộc Khổ Nạn của mình, Chúa thấy rõ sự lo lắng trong các tông đồ, và vẻ rực rỡ về thần tính của Chúa. Chúa khẳng định với họ niềm hy vọng và loan báo cho họ niềm vui Phục Sinh, thậm trí, cả lúc Phêrô, Gioan và Giacôbê không biết rõ ... phục sinh từ trong cõi chết nghĩa là gì ! (x. Mt 17,9). Họ cần phải có thời gian.

Nếu trong Sứ điệp Mùa Chay 2017 năm nay với chủ đề : "Lời Chúa là một hồng ân. Tha nhân là một hồng ân". Khi trưng dẫn đoạn Tin Mừng Luca (16,19-31), Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta hữu lắng nghe Lời Chúa, để nhận ra và phụng sự Chúa trong tha nhân, nhất là nơi những người nghèo khổ, vì tha nhân là hồng ân. Thì hôm nay, có tiếng Chúa Cha tuyên bố Chúa Giêsu là Con yêu dấu của Ngài và mời gọi chúng ta: "Các ngươi hãy nghe lời Người" (Mt 17,5).

Đúng thật là một hồng ân, bởi có biết bao nhiêu lời chúng ta đã nghe, nhưng hiếm khi nghe được tiếng Chúa Cha. Chúa Cha đã nói với các Tông đồ và qua Giáo hội Chúa nói với chúng ta ngày hôm nay nữa: "Hãy nghe Chúa Giêsu, vì Người là Con yêu dấu của Chúa Cha". Chúa Giêsu là Hồng Ân vô giá do Chúa Cha tặng ban cho chúng ta. Nay Ngài mời gọi chúng ta tuân giữ Lời Người. Lời Chúa Giêsu ban lại sự sống đời đời há chẳng phải là một hồng ân sao ?

Trong tuần này, chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa và cất giữ trong trí. Vì lời ấy không phải là lời của loài người, nhưng là Thiên Chúa Cha, nói với tất cả chúng ta! Lời ấy như một trợ lực để tiến bước trên con đường Mùa Chay. Chúng ta nghe lời Chúa Giêsu nhưng phải bước theo Người. Cũng như các môn đệ, sau khi nghe được lời Chúa Cha ban tặng, các ông không thể cứ ở mãi trên núi, nhưng phải theo Chúa Giêsu xuống núi dõi theo hành trình Thương Khó của Chúa và làm chứng cho Tin Mừng Phục Sinh.

* SUY TƯ VÀ HÀNH ĐỘNG : Mùa Chay Thánh việc cần phải làm là : ăn chay, cầu nguyện, và bố thí. Ba việc này diễn tả ba chiều kích, ba mối tương quan giữa đương sự với Thiên Chúa và với anh em. Tương quan với Thiên Chúa là cầu nguyện, với tha nhân là bố thí và với chính mình là ăn chay. Nhưng chúng ta không thể ở lại đó! Cần phải xuống núi gặp gỡ tha nhân. Họ là anh chị em chúng ta đang bị vất vả cơ cực, bệnh tật, bất công, dốt nát, nghèo khổ vật chất và tinh thần đè nặng, để chia sẻ với họ ân thánh đã nhận được . Ðây là sứ mạng của TÔI lắng nghe lời Chúa Giêsu và trao tặng Chúa cho người khác.

TÔI CẦU NGUYỆN VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN : Lạy Chúa Thánh Thần, xin dạy chúng con biết nghe Lời Chúa, chuyên cần tham dự Thánh lễ, nguyện gẫm và sống tình bác ái với tha nhân. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 241-TIEN TRI GIONA PDF Print E-mail

 LTHN Thứ Tư Tuần 1 MC (2)

Vị tiên tri "Giona" hoàn toàn là một con người xa lạ đối với dân thành Ninive ấy, thậm chí là kẻ ác cảm với dân thành này, nhưng lại "đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê" về Lòng Thương Xót Chúa

Hôm nay, Thứ Tư trong Tuần 1 Mùa Chay, đề tài cho chung Mùa Chay, bao gồm cả Tuần Thánh, là "Tôi tự ý bỏ sự sống mình đi để rồi lấy nó lại" (Gioan 10:17), được phản ảnh nơi "điềm lạ về tiên tri Giona" trong bài Phúc Âm trong ngày này.

Thật vậy, "điềm lạ về tiên tri Giona" được Chúa Giêsu nói đến khi Người "thấy dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại" đây ám chỉ cuộc Vượt Qua của Người, một cuộc "vượt qua từ sự chết mà vào sự sống" (Gioan 5:24), từ tử giá đến phục sinh cho phần rỗi các linh hồn. Chính Chúa Giêsu cũng đã công nhận "điềm lạ về tiên tri Giona" này ám chỉ về Người trong Bài Phúc Âm hôm nay như sau:

"Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona. Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy. Ðến ngày phán xét, nữ hoàng phương nam sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì bà đã từ tận cùng trái đất mà đến nghe sự khôn ngoan của Salomon. Nhưng ở đây còn có người hơn Salomon. Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa".

Và Bài Đọc 1 được trích từ chính Sách Tiên Tri Giona đã thuật lại "điềm lạ về tiên tri Giona" thứ tự như thế này.

Trước hết, vị tiên tri đây được lệnh Thiên Chúa sai đến Thành Ninivê để rao giảng thống hối cho thành này: "Hãy chỗi dậy và đi đến Ninivê, một thành phố lớn, và rao giảng cho nó điều Ta sẽ nói cho ngươi". Vậy điều vị tiên tri này được Thiên Chúa bảo "sẽ nói cho người biết" đây là gì, xin đọc tiếp...

Sau nữa, vị tiên tri này đã làm theo đúng như lệnh truyền của Thiên Chúa: "Giona chỗi dậy và đi đến Ninivê theo lời Chúa dạy. Ninivê là một thành phố lớn, rộng bằng ba ngày đàng. Giona tiến vào thành phố, đi một ngày đàng, rồi rao giảng rằng: 'Còn bốn mươi ngày nữa, Ninivê sẽ bị phá hủy'".

Đó, điều vị tiên tri này được Thiên Chúa bảo đó là cảnh báo cho dân thành này về hình phạt họ sẽ phải chịu trong vòng 40 ngày nữa nếu họ không biết ăn năn thống hối? Vậy trước lời cảnh báo nghiêm trọng đầy nguy biến ấy họ có đáp ứng hay chăng? Xin hãy theo dõi tiếp...

Sau hết, toàn thể thành Ninive, từ vua tới dân đều mau mắn tích cực đáp ứng một cách chân thành không thể nào ngờ được lại có thể xẩy ra như thế nơi thành phần dân ngoại, ở chỗ, họ chẳng hề biết đến vị tiên tri này là ai, có đáng tin hay chăng, trong khi đó vấn đề từ bỏ con đường tội lỗi rất ư là khó khăn, đâu phải là chuyện dễ, một sớm một chiều, hay overnight là xong, nhất là hiện tượng từ bỏ tội lỗi một cách tập thể và đồng lòng với nhau như họ đã thực hiện, lại càng không thể nào xẩy ra được như chuyện lạ bốn phương, không tin cũng phải tin, một chuyện hoàn toàn thần tiên đã thật sự xẩy ra theo trình thuật của Bài Đọc 1 hôm nay:

"Vua thành Ninivê nghe điều đó, liền bỏ ngai vàng, cởi áo cẩm bào, mặc áo nhặm và ngồi trên đống tro. Trong thành Ninivê, người ta rao sắc lệnh sau đây của nhà vua và các vương hầu: 'Người, vật, bò, chiên, không được nếm, không được ăn uống gì hết; người và vật phải mặc áo nhặm, phải kêu to lên cùng Chúa và phải cải thiện đời sống, phải bỏ đàng tội lỗi và những điều bất chính đã phạm. Biết đâu Chúa sẽ đổi ý thứ tha, nguôi giận và chúng ta khỏi chết?'"

Phải, cái lạ là ở chỗ đó, ở chỗ vị tiên tri "Giona" hoàn toàn là một con người xa lạ đối với dân thành Ninive ấy, thậm chí là kẻ ác cảm với dân thành này, nhưng lại "đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê" về Lòng Thương Xót Chúa, như chính Chúa Giêsu khẳng định trong Bài Phúc Âm hôm nay. Ở chỗ, qua lời cảnh báo của vị tiên tri này, "dân thành tin tưởng nơi Chúa; họ công bố việc ăn chay và mặc áo nhặm, từ người lớn đến trẻ nhỏ", nhờ thế mà "Chúa thấy việc họ làm, vì họ bỏ đời sống xấu xa, Chúa đổi ý định phạt họ, và Người không thực hiện điều đó".

"Điềm lạ về tiên tri Giona" là ở chỗ đấy, chứ không phải ở chỗ vị tiên tri đây ban đầu bất tuân lệnh Chúa, tìm hết cách trốn tránh sứ vụ rao giảng cho dân mà ông được Thiên Chúa sai đến, nhưng ông vẫn không thể nào thoát được lưới trời lồng lộng, vẫn bị Thiên Chúa vô cùng khôn ngoan quan phòng hết mọi sự theo ý định bất biến của Ngài chặn bắt bằng một cơn bão tố, để rồi sau đó ông bị đám thủy thủy trên tầu với ông bất đắc dĩ vứt xuống biển, nơi ông bị cá mập nuốt vào bụng 3 ngày 3 đêm mới nhả ông ra trên bờ biển (xem Giona đoạn 1 và 2).

Sở dĩ trong Bài Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu nhắc đến Tiên Tri Giona là vì dân Do Thái nói chung và thành phần "dân chúng từng đoàn lũ tụ tập lại" chung quanh Người bấy giờ nói riêng, cứ đòi phải thấy một điềm lạ nào đó từ Người mới tin vào Người, nhưng Người đã vừa trách móc họ thiếu lòng tin lại đồng thời cũng hứa chiều lòng họ như sau: "Dòng giống này là dòng giống gian ác. Chúng đòi điềm lạ, nhưng sẽ không ban cho chúng điềm lạ nào, ngoài điềm lạ của tiên tri Giona".

Điều Chúa Giêsu hứa với chung dân Do Thái qua thành phần đám đông đang ở với Người bấy giờ đó là lời hứa liên quan đến chính bản thân Người, ở chỗ, như Người đã cho họ biết rõ thêm như sau: "Vì Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy".

Có nghĩa là cho dù dân thành Ninive vẫn tỏ ra ăn năn thống hối sau khi nghe lời cảnh báo của một nhân vật lạ hoắc là tiên tri Giona, không cần phải cứ thấy điềm lạ mới chịu tin như dân Do Thái, một dân tộc có một bản chất cố hữu bất khả thiếu và bất khả thay đổi của họ đó là thích điềm lạ và cái gì cũng căn cứ vào điềm lạ, hoàn toàn ngược với dân Hy Lạp thiên về lý trí và triết học, vì điềm lạ đối với dân Do Thái như là dấu chỉ thần linh, dấu chỉ thần hiển của Thiên Chúa, dấu chỉ chắc chắn nhất và bảo đảm nhất cho niềm tin tưởng siêu nhiên của họ.

Tuy nhiên, Vị Thiên Chúa hóa thân làm người còn tiếp tục hội nhập văn hóa với loài người, với từng dân tộc, để tỏ mình ra cho họ, nhờ đó giúp cho họ có thể dễ dàng tin tưởng vào Người mà được cứu độ. Bằng không, họ sẽ bị trừng phạt xứng với tội lỗi của họ bởi họ không tin tưởng vào một Đấng còn cao trọng hơn cả Giona nữa, như Người cảnh báo họ trong Bài Phúc Âm hôm nay: "Dân thành Ninivê cũng sẽ đứng lên tố cáo và lên án dòng giống này, vì họ đã sám hối theo lời Giona giảng, nhưng ở đây còn có người hơn Giona nữa".

Đúng thế, "Giona đã nên điềm lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là điềm lạ cho dòng giống này như vậy". Ở chỗ nào? Ở chỗ, cho dù họ không chịu tin vào Người cho đến khi thấy được một điềm lạ nào đó từ Người, mà Người vẫn có thể làm cho họ tin vào Người, khi chính Người trở nên điềm lạ cho họ.

Điềm lạ về Chúa Giêsu Kitô cho giòng dõi gian ác này đây phải chăng là như thế này: cho dù Người có thể xuống khỏi thập giá nhưng Người vẫn không làm, trái lại, "tuy là con, nhưng Người đã biết tuân phục nơi những gì phải chịu để khi hoàn thành Người trở nên căn nguyên cứu độ cho tất cả những ai tín phục Người" (Do Thái 5:8-9).

Bởi vì, theo Người, chỉ còn một cách duy nhất đó thôi mới chứng thực Người là Đấng Thiên Sai của dân Do Thái, Đấng được Cha là Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của họ sai đến để giải thoát họ, không phải khỏi quyền lực chính trị mà khỏi quyền lực tội lỗi và sự chết. Đó là lý do Người đã khẳng định về bản thân Người là điềm lạ cho dân của Người như sau: "Khi nào quí vị treo Con Người lên, quí vị sẽ nhận ra Tôi là ai và biết rằng Tôi không tự ý làm gì hết" (Gioan 8:28).

Nếu lời giảng tiên khởi của Chúa Giêsu khi Người mới bắt đầu xuất thân tỏ mình ra là "Triều đại Thiên Chúa đã đến. Hãy hoán cải và tin vào phúc âm" (Marco 1:15), thì việc Chúa Giêsu tỏ mình ra cho dân Do Thái như là "Triều đại Thiên Chúa đã đến", đến như một điềm lạ trên thập tự giá, nhờ đó họ "hoán cải và tin vào Người", hay tin vào Người mà hoán cải cũng thế.

Bởi vậy, tác dụng đầu tiên của việc tỏ mình ra của Chúa Kitô cho dân Do Thái như một điềm lạ đó là làm cho họ thống hối ăn năn như dân Thánh Ninive về tội lỗi của họ bằng tất cả tâm hồn của họ. Và việc tỏ mình ra của Chúa Kitô như một điềm lạ trên thập tự giá là tác động Người "tự bỏ sự sống mình đi" nhưng Người đã "lấy nó lại" ở chỗ đã làm cho sự sống đó phát sinh nơi những ai "tín phục" Người, như tâm tình của Bài Đáp Ca sau đây bày tỏ:

TÔI CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA VÀ THỰC HÀNH LỜI TÔI CẦU XIN:

1) Lạy Chúa, nguyện thương con theo lòng nhân hậu Chúa, xoá tội con theo lượng cả đức từ bi. Xin rửa con tuyệt gốc lỗi lầm, và tẩy con sạch lâng tội ác.

2) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con.

3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát, lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Ngày 08: Thánh Gioan Thiên Chúa, tu sĩ lập dòng

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 340 =BUOC VAO MUA CHAY PDF Print E-mail

LỄ TRO
KHỞI ĐẦU MÙA CHAY THÁNH
Ge 2:12-18; 2Cr 5:20-6:2; Mt 6:1-6, 16-18
Bác sĩ Nguyễn Tiến Cảnh, MD

Thứ Tư Lễ Tro là ngày khởi đầu mùa Chay Thánh, cơ hội để người Kito hữu biểu lộ niềm tin của mình một cách rõ ràng và công khai. Nó phải được thể hiện ở mọi nơi, trong văn phòng, học đường, bệnh viện, trên xe bus, trạm xe lửa, chỗ xếp hàng mua thức ăn.

Dấu hiệu thánh giá được ghi bằng tro lên trán có một ý nghĩa rất quan trọng: Niềm tin không chỉ thể hiện ở trong nhà thờ nhưng mỗi ngày trong suốt cuộc sống nơi công cộng. Nó còn là biểu hiệu con người không là gì cả, chỉ là tro bụi, sẽ chết và trở về với tro bụi. Remenbo quia pulvis es et in pulverem reverteris. Amen.

Nghi thức phụng vụ và Tin Mừng ngày Lễ Tro không chỉ nhắc nhở chúng ta về tội lỗi và sự chết, mà còn kêu gọi mọi người phải lướt thắng tội lỗi trở về với chúa Kito và sửa soạn cuộc sống mới vào lễ Phục Sinh.

Chúng ta cũng suy niệm về việc hòa giải với Thiên Chúa như thánh Phaolo đã khuyên nhân danh sứ giả của Chúa (2Cr 5:20-21) và theo bài Tin Mừng hôm nay (Mt 6:1-6,16-18) Mathieu đã chỉ cho chúng ta cách thương người, làm phúc là phải kín đáo, không phô trương. Đức Phanxico đã kết thúc thông điệp Mùa Chay 2016 của ngài bằng câu: "Ta muốn lòng nhân chứ không cần tế lễ" (Mt 9:13).

HÒA GIẢI VỚI THIÊN CHÚA VÀ MỌI NGƯỜI

Phụng vụ hôm nay giúp chúng ta cách hòa giải với Thiên Chúa. Hòa giải là một ơn phúc Chúa ban. Hòa giải phải thể hiện nơi tất cả mọi người: cá nhân, gia đình, quốc gia và cả dân tộc. Thánh Phaolo trong thư gửi tín hữu Corinto (2Cr 5:20-21) đã khuyên tín hữu hãy ý thức chính Thiên Chúa đã tự mình làm hòa với chúng ta qua đức Kito và ban cho chúng ta chức vụ hòa giải (2Cr 5:18). Phaolo cũng nói về một "thụ tạo mới trong đức Kito" (2Cr 5:17) và tiếp tục nói với chúng ta: "Trong đức Kito, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người. Người không còn chấp nhận tội nhân loại nữa và giao cho chúng tôi công bố lời hòa giải. Vì thế chúng tôi là sứ giả thay mặt đức Kito như chính Thiên Chúa dùng chúng tôi mà khuyên dạy. Vậy nhân danh đức Kito, chúng tôi nài xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa."(2Cr 5-19-20).

Khi nói hòa giải với Thiên Chúa, có nghĩa là bao gồm tất cả mọi người trong từng xã hội, cộng đồng, gia đình, cá nhân, nhóm, bộ lạc, quốc gia, dân tộc...Với sự quan phòng, Thiên Chúa đã làm hết giao ước này đến giao ước khác với nhân loại, Giao ước đầu tiên là giao ước trong vườn địa đàng với ông A Dong và bà Eva, giao ước với ông Noah sau trận đại hồng thủy và giao ước ông Abraham. Trong sách Joshua, chúng ta thấy giao ước với dân Israel khi ông Maisen dẫn dân Do Thái thoát cảnh nô lệ Ai Cập. Và bây giờ Thiên Chúa đã làm một giao ước cuối cùng với toàn thể nhân loại qua đức Kito là đấng đã hòa giải với tất cả mọi người ở mọi quốc gia trên thế giới bằng cuộc khổ nạn, cái chết và phục sinh của Người.

Tôn thờ bí tích Thánh Thể là thờ lạy màu nhiệm cứu chuộc của chúng ta và hòa giải hoàn toàn với Thiên Chúa. Qua cuộc khổ nạn, cái chết và phục sinh, chúa Giesu đã cứu rỗi nhân loại. Trước khi nhận mình và máu thánh Chúa, chúng ta đã chứng tỏ mình làm hòa với tất cả mọi người. Bí tích Thánh Thể chỉ được thờ lạy bởi một cộng đồng đã hòa giải với nhau rồi. Khi thánh lễ kết thúc, chúng ta được sai đi muôn phương để đem hòa bình và sứ điệp hòa giải ấy cho tất cả mọi người.

SỨ GIẢ CỦA THIÊN CHÚA

Khi chúng ta được ủy nhiệm đem sứ điệp hòa giải thì chúng ta là những sứ giả của chúa Kito (2Cr 5:20). Sứ mệnh chúng ta được giao phó là sứ mệnh cao cả. Vì là sứ giả, chúng ta phải trung thành với đấng đã sai chúng ta đi. Sứ giả phải có niềm tin và khả năng. Trung thành với Chúa Kito trong suốt hành trình cuộc sống là bằng cớ đáng tin cậy nhất.

Khi chúng ta hòa giải với Thiên Chúa, với chính mình và với tha nhân, lúc đó nếu chúng ta nuôi dưỡng được sự hòa giải của chúa Kito trong xã hội thì chúng ta có thể được gọi là sứ giả của Hoàng Tử Hòa Bình. Vì Thiên Chúa đã sai con một người đến để hòa giải với thế giới, thì người cũng muốn chúng ta tái tạo sự hòa hợp giữa một thế giới đổ vỡ và một Giáo Hội phân hóa.

Chúng ta có thể áp dụng cách hòa giải này vào trong xã hội hiện nay được không? Thực hành ngay trong gia đình, giữa bạn bè, các thành viên cộng đồng. Nếu thất bại, chúng ta có tiếp tục làm đến khi thành công mới thôi không? Thật đáng buồn khi mà hận thù cứ kéo dài, hai bên không chịu ngồi lại với nhau làm mất hòa khí vui vẻ. Phải chăng vì một lời nói hay cử chỉ đã làm phật lòng nhau từ lâu trong một hoàn cảnh nào đó mà giờ này cũng chẳng ai còn nhớ!

TỪ BỎ BẢN THÂN MÌNH

Thánh Mathieu đưa ra ba tiểu chuẩn để từ bỏ bản thân mình là: cầu nguyện, ăn chay và làm phúc (Mt 6:1-6,16-18). Trong những tác động này thì giả hình, khoe khoang muốn nguời ta khen là xấu, không phải là nhân đức Kito giáo (Mt 5:12,46; 10:41-42), không thể chấp nhận khi thực hành 3 việc trên.

Khi cầu nguyện "Hãy vào trong phòng riêng, đóng cửa lại và cầu nguyện cùng Cha của mình.." Khi ăn chay, "Đừng để cho ai biết ngoài Cha mình". Khi làm phúc, "đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, mà chỉ có Cha mình biết sẽ thưởng công cho"( 6:1-5). Vậy cầu nguyện, ăn chay và làm phúc là ba tiêu chuẩn chính tượng trưng cho 3 nhân đức đạo đức, tận hiến, chân thật mà Chúa mong đợi nơi người Kito hữu phải có trong mùa chay thánh này.

NTC

------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 77