mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay913
mod_vvisit_counterHôm Qua9655
mod_vvisit_counterTuần Này54768
mod_vvisit_counterTuần Trước45104
mod_vvisit_counterTháng Này145824
mod_vvisit_counterTháng Trước172895
mod_vvisit_counterTất cả10650080

We have: 105 guests online
Your IP: 54.162.173.119
 , 
Today: Apr 22, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - KHAC NHAU CONG G. VA TIN LANH PDF Print E-mail

10 SỰ KHÁC BIỆT GIỮA ĐẠO CÔNG GIÁO VÀ ĐẠO TIN LÀNH.

Nếu so sánh Đạo Tin Lành và Công giáo về các phương diện như : Giáo lý, Luật pháp, Lễ nghi, và Tổ chức thì chúng ta thấy có những điểm tương đồng và những điểm dị biệt kể ra sau đây:
1. KINH THÁNH
Hai đạo đều lấy Kinh Thánh gồm Cựu Ước và Tân Ước làm nền tảng Giáo lý.
– Đạo Tin Lành không tin ưởng những điều nào ngoài Kinh Thánh.
– Công giáo cho rằng, ngoài Kinh Thánh còn có các văn bản khác không kém phần quan trọng là các Nghị quyết của các Công Đồng Chung, các Thông điệp và Sắc chỉ của Đức Giáo Hoàng.
2. VỀ PHƯƠNG DIỆN TỔ CHỨC
Đạo Tin Lành không lập ra một Tổ chức Giáo Hội Trung Ương như Công giáo, mà lại xây dựng nhiều Giáo hội riêng rẽ, độc lập và tự trị. Dưới Giáo Hội là các Chi Hội. Đại Hội các cấp của Giáo Hội Tin Lành được gọi là Đại Hội Đồng, có toàn quyền quyết định các công việc của toàn Giáo Hội.
3. ĐỨC MẸ MARIA
Đạo Tin Lành chỉ xem Mẹ Maria đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giê-su và chỉ coi bà là mẹ trần thế của Chúa Kitô, nên chỉ tôn trọng chứ không tôn kính Mẹ Maria như Công giáo.
4. CÁC TÔNG ĐỒ, THIÊN SỨ
Đạo Tin Lành tin có Thiên sứ, có Thánh Tông đồ, các Thánh Tử đạo, và các Thánh khác, nhưng không tôn kính họ như Đạo Công Giáo.
Đạo Tin Lành không thờ các tranh ảnh, hình tượng, không tôn sùng và thực hiện việc hành hương đến Thánh địa Jérusalem, Núi Sinai, Đền Thánh Phêrô và Phaolô.
5. LINH MỤC:
– Giáo sĩ của Đạo Tin Lành chỉ có 2 bậc: Mục Sư và Truyền Đạo (cũng gọi là Giảng Sư). Giáo sĩ Tin Lành được phép có vợ và con cái, xây dựng hạnh phúc gia đình bình thường như bao nhiêu người khác, không buộc phải giữ độc thân như các Linh Mục Công giáo.
Tín đồ Đạo Tin Lành, muốn lên làm Mục Sư, thì phải học đạo, qua thời gian tập sự rồi mới được bổ nhiệm chức Truyền Đạo. Một thời gian sau, nếu xét thấy có nhiều khả năng thì mới phong lên hàng Mục Sư.
Việc phong chức và bổ nhiệm 2 chức Truyền Đạo và Mục Sư do một Hội Đồng đặc biệt của Giáo Hội quyết định.
Các Mục Sư Tin Lành không có quyền thay mặt Thiên Chúa ban phước hay tha tội cho tín đồ, không phải là cầu nối trung gian giữa Thiên Chúa và tín đồ. Điều này hoàn toàn trái hẳn với các Linh Mục Công giáo La Mã.
6. LUẬT LỆ VÀ LỄ NGHI
Luật lệ và Lễ nghi của Đạo Tin Lành rất đơn giản so với Công giáo.
Đạo Tin Lành là một tôn giáo đề cao lý trí trong Đức Tin, cho rằng sự siêu rỗi chỉ đến bởi Đức Tin và không quan trọng nghi lễ.
7. PHÉP BÍ TÍCH
Trong 7 Phép Bí tích của Công giáo, Đạo Tin Lành chỉ thừa nhận 2 Bí tích sau đây:
– Bí tích Rửa tội (Baptême)
– Bí tích Thánh thể.
vì họ cho rằng, trong Kinh Thánh Tân Ước chỉ có ghi 2 Bí tích đó mà thôi.
Nghi lễ Baptême của Đạo Tin lành được tiến hành theo lối cổ như Thánh Gioan rửa tội cho Chúa Jésus trên sông Jordan bằng cách dìm cả người xuống nước, chớ không cải biến dội một ít nước lên đầu một cách tượng trưng như Đạo Công giáo.
– Đạo Công Giáo nhận phép biến thể trong lễ Thánh thể (bánh mì, rượu nho biến thành Mình Chúa và Máu Chúa), Đạo Tin Lành không công nhận thuyết biến thể trong phép Tiệc Thánh và cho rằng đó là kỷ niệm về cái chết của Chúa Kitô, bánh và rượu chỉ tượng trưng cho Mình Chúa và Máu Chúa.
8. CHUỘC TỘI
Đạo Công giáo cho rằng, con người không những phải làm việc thiện mà còn phải hãm mình để chuộc tội.
Đạo Tin Lành quan niệm việc chuộc tội cho loài người đã có Chúa Jésus làm trọn rồi, nên con người làm việc thiện là để tỏ ra xứng đáng với Thiên Chúa và được Thiên Chúa cứu vớt.
9. XƯNG TỘI
Tín đồ Công giáo xưng tội trong phòng kín với Linh Mục, là hình thức chủ yếu; còn Đạo Tin Lành thì tín đồ chỉ xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa mà thôi.
10. SỰ KHÁC BIỆT VỀ NHÀ THỜ ĐẠO CÔNG GIÁO VÀ ĐẠO TIN LÀNH :
Nhà Thờ Công Giáo được xây dựng qui mô và rất tốn kém, kiến trúc theo lối cổ, bài trí công phu và cho rằng đây là nơi Chúa ngự một cách linh thiêng, đặc biệt, trong và ngoài Nhà Thờ đều treo nhiều ảnh tượng, Chúa Giêsu có nói đây là nhà của Cha ta.
Nhưng trái lại, Nhà Thờ Tin Lành thường theo kiến trúc hiện đại, đơn giản, không treo tượng ảnh. Bên trong nhà Thờ chỉ có đặt một cây Thập tự giá biểu tượng Chúa chịu nạn.
Sự giống nhau là:
Hai đạo đều tôn thờ Thiên Chúa (Đức Chúa Trời), tin thuyết Chúa 3 Ngôi : Ngôi 1 là CHA, Ngôi 2 là CON, Ngôi 3 là Thánh Thần. Tin Chúa tạo dựng ra Trời Đất, Vũ trụ và vạn vật, tin con người do Thiên Chúa tạo ra, có Tội Tổ Tông, tin có Ngôi Hai là Đức Chúa Jésus Christ giáng trần chịu nạn chết trên Thánh giá để chuộc tội cho loài người, tin có ngày Phục Sinh và Ngày Phán Xét cuối cùng.
Vì đây là một vấn đề khá rộng nên những điều nêu trên đây là một số điểm cơ bản sự Khác nhau giữa Đạo Công Giáo và Tin Lành. Bài viết có gì sai xót xin quí vị thông cảm và mong được đóng góp thêm !
(Sưu tầm).

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - PHAT VA TUYỆT THONG PDF Print E-mail

NÓI THÊM VỀ VẠ TUYỆT THÔNG ( Excommunicatio= Excommunication)


Nhân tin nghe được trên YouTuBe, nói về một linh mục thuộc Giáo Phận kia bên Việt Nam đã bị vạ tuyệt thông tiền kết do Giáo quyền ở đây tuyên phạt đã 4 năm nay mà không cho đương sự biết lý do của hình phạt này, tôi thấy cần phải nói thêm một lần nữa về hình phạt này theo giáo luật hiện hành của Giáo Hội Công Giáo như sau:
Trước hết, căn cứ vào lời phát ngôn của chính linh mục bị vạ tuyệt thông với một linh mục khác đến thăm và hứa sẽ khiếu nại thay cho linh mục nạn nhân với giáo quyền ở đây, tôi thấy đây là một trường hợp rất khó hiểu về lý do mà giáo quyền địa phương kia đã tuyên phạt vạ tuyệt thông tiền kết cho linh mục nạn nhân.
Trong Giáo Hội Công Giáo, căn cứ theo giáo luật , thì vạ tuyệt thông tiền kết hay hậu kết là hình phạt nặng nhất mà Giáo Hội bất đắc dĩ phải áp dụng cho một hay nhiều thành viên của Giáo Hội đã vi phạm một trong những điều ngăn cấm không được làm..Bị vạ tiền kết (latae sententiae) nếu vi phạm một trong những lỗi nặng được liệt kê trong giáo luật.
Thí dụ : hành hung Đức Thánh Cha, công khai chối Đạo ( apostasy) tà Đạo hay chối bỏ một trong những tín điều của đức tin (heresy) hay ly giáo ( schism) tức từ bỏ Giáo Hội Công Giáo để gia nhập hay thiết lập một giáo phái khác. Tất cả đây là những tội đương nhiên mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Đức Thánh Cha quyền tháo gỡ. ( x giáo luật số 1364&1 )
Như thế, khi ai mắc phạm một trong những điều bị cấm thì đương nhiên hay tự động mắc vạ tuyệt thông tiền kết ( automatically incurred) và hình phạt này phải được thẩm quyền của Giáo Hội địa phương hay hoàn vũ tuyên bố cho bị cáo với lý do xác đáng. Áp dụng vào trường hợp của linh mục trên, giáo quyền địa phương ( thẩm quyền của địa phận) chỉ gửi thư tuyên phạt mà không cho bị cáo biết rõ lý do phạt vạ.!!!. Nếu quả như vậy, thì giáo quyền kia đã không áp dụng đúng giáo luật khi tuyên phạt nạn nhân bị cáo. Đây không phải là vạ tuyệt thông tiền kết là vạ đương nhiên mắc phải khi vi phạm một trong những điều nghiêm cấm , và chỉ dành cho Tòa Thánh ( Đức Thánh Cha) quyền tháo gỡ mà thôi.
Tuy nhiên, riêng trường hợp phá thai hoặc giúp người khác phá thai có kết quả là tội bị phạt vạ tuyệt thông tiền kết,(x. giáo luật số 1398) trước đây chỉ dành cho Đức Thánh Cha quyền tháo gỡ. Nhưng nay Đức Thánh Cha đương kim Phanxicô đã cho phép các linh mục trong toàn Giáo Hội cũng được tha vạ này.
Trở lại trường hợp phạm pháp của linh mục kia, Giáo quyền địa phương chỉ có thể tuyên phạt vạ tuyệt thông hậu kết (ferendae sententiae) mà thôi. Nghĩa là nếu linh mục kia quả đã mắc phạm điều gì sai trái về đức tin,về việc rao giảng và dạy dỗ đức tin và luân lý, thì giáo quyền địa phương có bổn phận phải nói rõ cho đương sự biết về sự sai trái đó và cho đương sự quyền bào chữa hay giải thích việc làm của mình, và tỏ thiện chí muốn nhận lỗi ( nếu quả thật có lỗi) và hứa sửa đổi. Nhưng nếu đương sự ngoan cố không chịu nhìn nhận lỗi phạm, dù đã được cảnh cáo nhiều lần , thì cuối cùng mới phải áp dụng vạ tuyệt thông hậu kết cho đương sự. Đây phải là vạ hậu kết chứ không thể là tiền kết được, vì vạ tiền kết là vạ tự động hay đương nhiên thành vạ ( automatically incurred) khi vi phạm một trong những điều Giáo Hội nghiêm cấm trong giáo luật như đã nói ở trên.
Nhưng căn cứ vào lời phân trần công khai trên mạng của chính đương sự, thì giáo quyền địa phương kia đã không hề cho đương sự biết việc sai trái mình đã làm, và cũng không cho đương sự cơ hội để trả lời cáo buộc hay giải thích việc sai trái đó ( nếu quả thật có sự sai trái theo giáo quyền), mà chỉ gửi văn thư ra vạ một cách độc đoán !. Như vậy giáo quyền kia đã không áp dụng đúng giáo luật về việc ra vạ tuyệt thông hậu kết cho linh mục kia từ 4 năm nay.( x.giáo luật số 1347&1)
Nếu quả đúng như vậy,thì đây là việc làm hết sức độc đoán và lạm quyền, vì khi áp dụng hình phạt vạ tuyệt thông hậu kết cho ai, thì giáo quyền phải cho đương sự biết việc sai trái đương sự đã làm cũng như cho đương sự quyền biện minh và thiện chí muốn sửa lỗi. Chỉ khi nào đương sự ngoan cố không chịu nhận lỗi dù đã được cảnh cáo nhiều lần, thì khi đó mới có thể áp dụng hình phạt vạ tuyệt thông hậu kết mà thôi.(giáo luật số 1347& 1)
Còn nhớ cách nay trên 20 năm, nhân vụ "lộn xộn" ở San Jose,bắc California, giáo quyền ở đây đã ngăm đe phạt vạ tuyệt thông hậu kết cho một số người bị coi là chủ chốt trong vụ lộn xộn đó, nếu các đương sự không chấm dứt hành động của mình.Nhưng sau đó, vụ rắc rối này đã được giải quyết êm đẹp nên giáo quyền ở đây đã không thi hành ý đinh ra vạ tuyệt thông hậu kết cho các đương sự kia.
Như thế, không cho linh mục kia biết việc sai trái của mình và cũng không cho đương sự cơ hội biện minh hay tỏ thiện chí muốn sửa đổi mà đã ra hình phạt thì đây quả thật là điều quá nghiêm khắc và độc đoán, nếu không muốn nói là sai giáo luật.. Điều này cũng trái với lòng thương xót của Chúa mà Giáo Hội phải tuyên xưng và sống cân xứng như Đức Thánh Cha Phanxicô đã đặc biệt chú trọng và cổ võ. Trong tinh thần đó, vạ nào cũng có thể được tháo gỡ và tội nào cũng có thể được tha, nếu ta còn cậy trông nơi lòng thương xót, tha thứ của Chúa.
Giáo Hội là phương tiện, là cơ năng Chúa dùng để thể hiện lòng thương xót của Chúa khi tha thứ cho con người mọi lỗi phạm. Chỉ có tội không thể tha thứ được : đó là tội hoàn toàn tuyệt vọng nơi vào lòng thương xót của Chúa để không còn chạy đến xin Người tha thứ nữa. Đây chính là tội phạm đến Đức Chúa Thánh Thần, và tội này mới không thể tha thứ được theo lời dạy của chính Chúa Giêsu ( Mk 3:29)
Tóm lại, giáo quyền địa phương không thể tự ý ra vạ tuyết thông tiền hay hậu kết cho ai mà không cho đương sự biết lý do và cơ hội để biện minh hay thiện chí muốn sửa lỗi. Nếu lỗi đó không là một trong những lỗi nặng đương nhiên mắc vạ tiền kết theo giáo luật , thì giáo quyền địa phương không thể ra vạ này cho ai một cách vô căn cớ được . Chí có thể ra vạ tuyệt thông hậu kết cho ai có lỗi mà không chịu nhìn nhận và cam kết sửa lỗi, dù đã được khuyến cáo ít là một lần mà vẫn không hối lỗi , thì khi đó mới có thể ra vạ hậu kết được.
Ước mong các vị có trách nhiệm trong giáo quyền địa phương kia làm sáng tỏ việc này để công lý được tôn trọng và tránh bất công cho ai bị coi là đã phạm lỗi.
LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn( Houston, Texas, USA))

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU SAU-BAT NHAT PS PDF Print E-mail

Thứ Sáu Bát Nhật (Gioan 21:1-14)

"Khi ấy, lúc các môn đệ đang ở bờ biển Tibêria, Chúa Giêsu lại hiện đến". Theo thứ tự thời gian, như được các bài Phúc Âm trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh thuật lại, thì đây là lần hiện ra thứ 6 của Chúa Giêsu sau khi Người sống lại từ trong kẻ chết: lần 1 với các phụ nữ (Phúc Âm Thứ Hai); lần 2 với một mình Chị Mai Đệ Liên (Phúc Âm Thứ Ba); lần 3 với hai môn đệ về làng Emmau (Phúc Âm Thứ Tư); lần 4 với chung các môn đệ nhất là các tông đồ (Phúc Âm Thứ Năm); lần 5 với chung các môn đệ một lần nữa vào ngày thứ tám (Bài Phúc Âm Chúa Nhật Lễ Lòng Thương Xót Chúa kết thúc Tuần Bát Nhật Phục Sinh); lần 6 với 7 tông đồ ở bờ biển Tibêria (Phúc Âm Thứ Sáu).

Chính Thánh ký Gioan trong bài Phúc Âm hôm nay thuật lại lần hiện ra thứ 6 này của Chúa Kitô Phục Sinh, nhưng ngài xác định "đây là lần thứ ba, Chúa Giêsu đã hiện ra với môn đệ khi Người từ cõi chết sống lại".

Lần thứ hai Người "hiện ra với môn đệ" được Giáo Hội chọn đọc bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho Chúa Nhật thứ 1 Phục Sinh, kết Tuần Bát Nhật Phục Sinh, Lễ Trọng Kính Lòng Thương Xót Chúa. Còn lần thứ nhất Người "hiện ra với môn đệ" đã được Giáo Hội chọn đọc trong bài Phúc Âm của Thánh ký Gioan cho Lễ Phục Sinh Ban Ngày.
Trong lần hiện ra thứ 3 với chung các môn đệ chính yếu là các tông đồ này, cho dù chỉ có 7 vị, vẫn được kể là với chung các vị, một lần hiện ra ít là có hai điều khác lạ: trước hết là không phải xẩy ra ở trong Nhà Tiệc Ly kín mít nữa, mà là ở ngoài trời, ở trên bờ hồ Tibêria, và vì thế, sau nữa, Người cũng không còn chúc "bình an cho các con" như lần đầu nữa, bởi các vị đã tin rằng Người đã sống lại nên mới dám lò mò đi ra ngoài sinh hoạt đánh cá trở lại.

Thế nhưng hình như vào buổi chiều tối thôi, cũng có vẻ còn lén lút chứ chưa hoàn toàn công khai trước mặt dân chúng. Bởi thế, thâu đêm các vị cũng chẳng bắt được con nào, cho đến "lúc rạng đông", nghe lời của một vị đứng trong bờ bảo sao làm vậy thì nhóm 7 vị tông đồ, hầu như toàn là những tay lành nghề đánh cá, mới bắt được một mẻ cá lạ lùng, nhờ đó các vị (mà đầu tiên là "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu") đã nhận ra Đấng Phục Sinh: "Không ai trong đám ngồi ăn dám hỏi: 'Ông là ai?' Vì mọi người đã biết là Chúa".

Biến cố những tay lành nghề đánh cá như các tông đồ đã từng hành nghề trước khi theo Chúa Kitô mới 3 năm trước đó, như thành phần các môn đệ được Thánh ký Gioan liệt kê trong bài Phúc Âm hôm nay, bao gồm Phêrô, Giacôbê và Gioan, Toma và Nathanael (hay Botholomew) cùng "hai môn đệ nữa" không được kể đích danh, song có thể đoán được là môn đệ Anrê là em của Phêrô và Philiphê là bạn của Nathanael (xem Gioan 1:40-50), nhưng thâu đêm cả 7 vị vẫn chẳng bắt được gì, như đã từng xẩy ra hầu như 3 năm trước, khi 2 cặp anh em thuyền chài thân hữu là Phêrô - Anrê + Giacôbê - Gioan nhờ mẻ cá lạ lần thứ nhất ấy đã bỏ mọi sự mà theo Chúa (xem Luca 5:1-11).

Cũng như lần đầu, mẻ cá lạ đã tái diễn một lần nữa, và chính mẻ cá lạ ấy là dấu hiệu khiến cho "người môn đệ được Chúa Giêsu yêu" là Gioan, vị môn đệ tiêu biểu cho đức mến, bén nhậy nhất trong việc nhận ra Chúa Kitô: "Người môn đệ Chúa Giêsu yêu, liền nói với Phêrô: 'Chính Chúa đó'. Simon Phêrô nghe nói là Chúa, liền khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào và kéo lưới đầy cá theo, vì không còn xa đất bao nhiêu, chỉ độ hai trăm thước tay".

Con số "lưới đầy cá lớn - 153 con " được kể đến ở đây nghĩa là gì? Tại sao phải có chi tiết nhỏ nhặt con số rõ ràng như thế? "Cá lớn" chứ không phải cá nhỏ, và nhiều cá chứ không phải ít cá. Nếu "cá" liên quan đến con người ta hay phần rỗi của con người, và bắt cá hay chài lưới người đây là mang ơn cứu độ của Chúa Kitô Vượt Qua đến cho phần rỗi của nhân loại, thì "cá lớn" đây tiêu biểu cho quyền năng phục sinh của Chúa Kitô (xem Mathêu 28:18), Đấng đã làm cho tử thi Lazarô chết đã xông mùi (tiêu biểu cho thứ "cá lớn" là thành phần đại tội nhân) hồi sinh (xem Gioan 11:39-44).

Con số "153" đây phải chăng tiêu biểu cho 1 Thiên Chúa chân thật duy nhất là Cha ở trên trời (theo ý nghĩa những lời Chúa Kitô Phục Sinh đã nói với các phụ nữ ở bài Phúc Âm Thứ Hai và với Chị Mai Đệ Liên ở bài Phúc Âm Thứ Ba), 5 Dấu Thánh của Chúa Kitô khổ nạn và tử giá (như Chúa Kitô Phục Sinh đã tỏ cho các tông đồ thấy khi hiện ra với các vị ở bài Phúc Âm hôm qua Thứ Năm hay trong Bài Phúc Âm Chúa Nhật II Phục Sinh sắp tới), và 3 Ngôi Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần (như Chúa Kitô Phục Sinh truyền cho các tông đồ rửa tội cho muôn dân trong Bài Phúc Âm Thăng Thiên Năm A)?

Như thế, có thể nói, con số "153" con cá trong mẻ cá lạ mà các tông đồ bắt được theo lời chỉ dẫn của Chúa Kitô Phục Sinh đây là tiêu biểu cho thành phần các linh hồn tin vào chứng từ của Giáo Hội qua các phần tử tông đồ của Giáo Hội, bắt đầu từ các vị tông đồ chứng nhân tiên khởi, thành phần chài lưới người hay đánh cá người, tức làm cho con người nhận biết và tin tưởng mà được sự sống đời đời, được hiệp thông thần linh với thiên Chúa, một con số 153 tượng trưng cho Ba Ngôi Thiên Chúa: Ngôi Cha ở nơi số 1 - một Thiên Chúa chân thật duy nhất, Ngôi Con ở nơi số 5 - năm dấu thánh của Chúa Kitô tử giá cứu chuộc, và Ngôi Thánh Thần ở nơi con số 3 - Ngôi Ba là chính mối hiệp thông thần linh Cha - Con, cũng là Đấng làm cho con người được hiệp thông thần linh "như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha" (Gioan 17:21).

Con số "153" huyền diệu này là tóm kết tiêu biểu cho câu định nghĩa của Chúa Kitô kết Bữa Tiệc Ly về "sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa chân thật duy nhất (được tiêu biểu nơi số 1) và Giêsu Kitô Cha sai (số 5 tiêu biểu cho Đấng Thiên Sai tử giá vì vâng lời cho đến chết trên thập giá và vì thể đã mang 5 dấu thánh)" (Gioan 17:3), một sự sống được thông ban cho những ai tin nhờ Thánh Thần Ngôi Ba (được tiêu biểu nơi số 3) "là Đấng ban sự sống".

Nếu suy đoán này không sai thì có nghĩa là những ai lãnh nhận Phép Rửa (thường vào Lễ Vọng Phục Sinh) là thành phần được "ban cho quyền làm con Thiên Chúa" (Gioan 1:12), một Thiên Chúa chân thật duy nhất đã tỏ tất cả mình ra qua Lời Nhập Thể của Ngài là Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã tỏ Cha là Đấng đã sai Người ra trên Thánh Giá với 5 Dấu Thánh, để nhờ đó chẳng những cứu chuộc con người khỏi tội lỗi và sự chết còn thông ban cho con người, qua cuộc phục sinh của Người, sự sống thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần.

Lần đầu tiên khi Chúa Kitô hứa biến 2 cặp anh em môn đệ đầu tiên là Phêrô - Anrê và Giacôbê - Gioan thành những tay bắt "cá người" xẩy ra vào buổi sáng và trên bờ biển thế nào thì lần cuối cùng này cũng vào: "Lúc rạng đông, Chúa Giêsu hiện đến trên bờ biển", thế nhưng lại vào thời điểm sau khi Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng hiện đến với các vị để dọn sẵn món ăn cho các vị ở trên bờ: "Khi các ông lên bờ, thấy có sẵn lửa than, trên để cá và bánh... Chúa Giêsu bảo rằng: 'Các anh hãy lại ăn'.... Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế".

Mẻ cá lạ lần thứ hai này đã xẩy ra sau khi Chúa Kitô Phục Sinh hỏi các môn đệ: "Các anh có gì ăn không?" và được các vị trả lời là "thưa không", chứ không phải "các con có bắt được gì không" và các vị "thưa không". Tại sao vào chính lúc các môn đệ không có gì ăn Chúa Giêsu lại chỉ chỗ cho các vị bắt được mẻ cá lạ lùng như thế, nếu không phải "cá" là món ăn chính của các vị, và các vị cần phải đói khát "cá" là con người ta thì các vị mới "trở thành những tay bắt cá người" (Luca 5:10) và mới có thể bắt được nhiều "cá" người như mẻ cá lạ trong bài Phúc Âm hôm nay.

Và tại sao Chúa Giêsu bảo các môn đệ '"các anh hãy mang cá mới bắt được lại đây" , rồi sau khi các môn đệ làm theo như thế thì Chúa Giêsu mới mời các vị ăn và còn tận tay mang đến tận nơi cho các vị nữa: "Chúa Giêsu bảo rằng: 'Các anh hãy lại ăn'... Chúa Giêsu lại gần, lấy bánh trao cho các môn đệ; Người cũng cho cá như thế", nếu không phải là sau khi các vị đã tận lực hoàn thành sứ vụ bắt "cá người" được úy thác cho các vị, các vị được chính Người khoản đãi chính món "cá" do Người đích thân nướng cho các vị thưởng thức. Chính Người đã khẳng định về thành phần đầy tớ khôn ngoan tỉnh thức và trung thành của Người rằng: "phúc cho đầy tớ ấy... chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ" (Luca 12:37).

"Bánh" và "Cá" ở đây là hai thứ đã được chính Chúa Kitô sử dụng trong hai lần Người hóa bánh ra nhiều để đám đông nuôi dân chúng (lần đầu 5 ngàn lần sau 4 ngàn) theo nghe Người giảng dạy (xem Mathêu 14:17-21 với chiếc bánh và 2 con cá & 15:34-38 với 7 chiếc bánh và ít cá). Nếu "cá" biểu hiệu cho con người hay phần rỗi của con người, thì "bánh" biểu hiệu cho Chúa Kitô, cho Thánh Thể, cho sự sống thần linh Thiên Chúa muốn thông ban cho nhân loại qua Con Ngài là Chúa Kitô, Lời Nhập Thể Vượt Qua.

Cử chỉ Chúa Kitô Phục Sinh đích thân sửa soạn và mang đến tiếp cho các tông đồ ở đây có nghĩa là chính Người (biểu hiệu nơi "bánh") đã hy mình làm giá chuộc cho nhiều người được rỗi (biểu hiệu nơi "cá"), như Người đã khẳng định trong Phúc Âm Thánh Mathêu (20:28), giờ đây, Người trao tất cả ("bánh" là bản thân Người hay sự sống thần linh của Người đã phục sinh, lẫn "cá" là phần rỗi các linh hồn) cho các tông đồ là thành phần thừa tác viên chính thức của Người để các vị có thẩm quyền và năng quyền thực sự thay Người (nhân danh Người) mà ban phát cho thế gian với tư cách là "những tay chài lưới người" (Luca 5:10) cho đến khi Người lại đến để phán xét kẻ sống và kẻ chết.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU TU TUAN BNPHUC SINH PDF Print E-mail

Thứ Tư Trong Tuần Bát Nhật Lễ Phục Sinh

Alleluia: Tv 117, 24
Alleluia, alleluia! - Ðây là ngày Chúa đã thực hiện, chúng ta hãy mừng rỡ hân hoan về ngày đó. - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 24, 13-35
"Hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra. Ðang khi họ nói truyện và trao đổi ý kiến với nhau, thì chính Chúa Giêsu tiến lại cùng đi với họ, nhưng mắt họ bị che phủ nên không nhận ra Người. Người hỏi: "Các ông có truyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy?" Một người tên là Clêophas trả lời: "Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những sự việc vừa xảy ra trong thành mấy ngày nay". Chúa hỏi: "Việc gì thế?" Các ông thưa: "Sự việc liên can đến ông Giêsu quê thành Nadarét. Người là một vị tiên tri có quyền lực trong hành động và ngôn ngữ, trước mặt Thiên Chúa và toàn thể dân chúng. Thế mà các trưởng tế và thủ lãnh của chúng ta đã bắt nộp Người để xử tử và đóng đinh Người vào thập giá. Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel. Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp".
Bấy giờ Người bảo họ: "Ôi kẻ khờ dại, chậm tin các điều tiên tri đã nói! Chớ thì Ðấng Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang sao?" Ðoạn Người bắt đầu từ Môsê đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh Thánh chỉ về Người. Khi gần đến làng hai ông định tới, Người giả vờ muốn đi xa hơn nữa. Nhưng hai môn đệ nài ép Người rằng: "Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã về chiều, và ngày sắp tàn". Người liền vào với các ông.
Ðang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất. Họ bảo nhau: "Phải chăng lòng chúng ta đã chẳng sốt sắng lên trong ta khi Người đi đường đàm đạo và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta đó ư?" Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. Các vị đó bảo hai ông: "Thật Chúa đã sống lại, và đã hiện ra với Simon". Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào.
Ðó là lời Chúa.

Cảm Nghiệm SỐNG Lời Chúa

"Cùng ngày thứ nhất trong tuần, có hai môn đệ đi đến một làng tên là Emmaus, cách Giêrusalem độ sáu mươi dặm. Dọc đường, các ông nói với nhau về những việc vừa xảy ra". Và tâm tình chia sẻ có vẻ tiêu cực và bi quan của hai vị đã được vị khách lạ trấn an bằng những lý lẽ Thánh Kinh, khiến các ông cảm thấy an lòng và ấm lòng, cho đến khi, qua cử chỉ quen thuộc của Người, họ mới nhận ra vị khách lạ vừa biến khuất khỏi mắt họ đó chính là Chúa Kitô.

"Ðang khi cùng các ông ngồi bàn, Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Mắt họ sáng ra và nhận ra Người. Ðoạn Người biến mất".

Theo thứ tự thời gian thì đây là lần hiện ra thứ ba của Chúa Kitô sau khi Người sống lại từ trong cõi chết. Cả 3 lần, kể cả lần ngày mai là thứ 4, đều xẩy ra vào cùng một ngày, ngày thứ nhất trong tuần. Hình như ba lần đầu, hiện ra có vẻ lẻ tẻ với thành phần môn đệ, cả nữ lẫn nam, không phải là chính các tông đồ, Chúa Kitô như muốn dọn đường hay dọn lòng cho các tông đồ để các vị khỏi quá bỡ ngỡ bàng hoàng khi gặp lại Người ở một dạng thức khác, và nhờ đó dễ tin vào người hơn.

Riêng trong lần hiện ra thứ ba với hai môn đệ đang đi về làng Emmau ở bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu muốn trấn an các vị là thành phần môn đệ nam, thành phần mà, theo phái tính, vốn nghiêng về lý trí hơn tình cảm và trực giác như nữ giới, như hai trường hợp xẩy ra cho phái nữ ở hai bài Phúc Âm hôm qua và hôm kia, nên Người cần phải lấy chính Thánh Kinh để nói chuyện với thành phần môn đệ phái nam này.

Tuy nhiên, họ vẫn không nhận ra người khách lạ mặt có vẻ chẳng biết gì về biến cố cả thể xẩy ra làm náo động cả Giêrusalem lên như thế, mà lại là một người khách lạ thông thuộc và nắm vững Thánh Kinh đến độ lấy chính Thánh kinh để chứng thực cho các vị về sự kiện sống lại không thể nào không xẩy ra của Đấng các vị trông đợi như một Đấng Thiên Sai: "Phần chúng tôi, chúng tôi vẫn hy vọng Người sẽ cứu Israel".

Đúng thế, chính vì niềm hy vọng không hoàn toàn xác thực này mà các vị nói riêng và của chung thành phần môn đệ của Chúa Kitô nói chung đã cảm thấy quá ư là "buồn bã", đến độ chán chường thất vọng hình như hai người môn đệ này đã có ý định bỏ cuộc mà trở về quê quán Emmau của mình.

Thật ra, chính vì niềm hy vọng của họ có tính cách chủ quan cố hữu thiên về chính trị mà họ đã không thể nào không tuyệt vọng khi thấy Đấng mà họ đầy lòng tin tưởng và trông mong, nhất là khi Người vinh quang khải hoàn tiến vào Thành Thánh Giêrusalem, lại chính là Đấng không thể xuống khỏi thập tự giá, đã bị giết chết và được mai táng trong mồ như bất cứ một phàm nhân nào, và đến ngày thứ ba rồi mà vẫn chưa thấy chẳng thấy bóng dáng Người đâu:

"Các việc ấy đã xảy ra nay đã đến ngày thứ ba rồi. Nhưng mấy phụ nữ trong nhóm chúng tôi, quả thật đã làm chúng tôi lo sợ. Họ đến mồ từ tảng sáng. Và không thấy xác Người, họ trở về nói đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng: Người đang sống. Vài người trong chúng tôi cũng ra thăm mồ và thấy mọi sự đều đúng như lời các phụ nữ đã nói; còn Người thì họ không gặp".

Để củng cố niềm tin cho hai môn đệ hình như nản chí nhất này, đến độ họ đã dám ra khỏi căn phòng khóa kín là nơi thành phần môn đệ của Đấng đã bị dã man tàn ác giết chết đang cùng nhau trú ngụ một cách sợ sệt, họ như không còn biết sợ hãi thành phần sát hại Đấng mà họ theo đuổi nữa, vì nếu họ có bị nhóm này chặn lại thì họ chỉ cần trả lời rằng "chúng tôi không còn thuộc về nhóm của kẻ chết nữa", thế là xong, chắc chắn họ sẽ không bị làm khó dễ hay bách hại.

Thế nhưng, họ đâu có ngờ rằng, chính lúc họ tuyệt vọng và bỏ về như thế họ lại gặp được ngay Đấng họ tưởng rằng họ không bao giờ còn được gặp lại trên trần gian này nữa. Và giây phút họ nhận ra Người là lúc họ thấy được cử chỉ thân quen của Người vẫn làm trước mắt các môn đệ, đó là: "Người cầm bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông". Rõ ràng là lần hiện ra thứ ba này, mục đích của Chúa Kitô là để củng cố đức tin cho 2 môn đệ ấy: "Mắt họ sáng ra và nhận ra Người".

Để rồi, cho dù Người không sai phái các vị phải trở về loan báo tin vui cho các tông đồ, như hai lần hiện ra trước với thành phần nữ giới, nhưng một khi đã gặp được Người thì tác dụng thần linh bất khả chống cưỡng của cuộc gặp gỡ thần linh bao giờ cũng thúc đẩy con người phải loan truyền tất cả sự thật liên quan đến những gì họ đã thấy và đã nghe: "Ngay lúc ấy họ chỗi dậy trở về Giêrusalem, và gặp mười một tông đồ và các bạn khác đang tụ họp. ...Hai ông cũng thuật lại các việc đã xảy ra dọc đường và hai ông đã nhận ra Người lúc bẻ bánh như thế nào".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Virus-free. www.avast.com

----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - DUC KITO CUU DO CHUNG TA PDF Print E-mail

ĐỨC KITÔ CỨU ĐỘ CHÚNG TA BẰNG CÁI CHẾT
VÀ SỰ SỐNG LẠI CỦA NGƯỜI

(Trích Bản Toát Yếu sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo)


1.H. Tại sao cái chết của Chúa Giêsu lại nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa?
T. Để tất cả chúng ta,là những kẻ đáng chết vì tội lỗi,được giao hòa với Ngài,Thiên Chúa đã đưa ra một kế hoạch tràn đầy tình yêu là sai Con mình đến phó mình chịu chết vì những kẻ tội lỗi.Cái chết của Đức Kitô đã được loan báo trong Cựu Ước,đặc biệt như hy tế của Người Tôi Tớ chịu đau khổ,và đã xảy ra "theo như lời Thánh Kinh".


2.H. Đức Kitô đã dâng hiến mình cho Chúa Cha thế nào?
T. Đức Kitô đã tự do dâng hiến mình cho Chúa Cha để chu toàn ý định cứu độ.Người đã trao ban sự sống "làm giá chuộc cho nhiều người"(Mc 10,45).Nhờ đó,Người giao hòa toàn thể nhân loại với Thiên Chúa.Sự đau khổ và cái chết của Người cho thấy nhân tính của Người là dụng cụ tự do và hoàn hảo để Thiên Chúa,Đấng muốn cứu độ mọi người,thể hiện tình yêu của Ngài.


3.H. Hiệu quả hy tế của Đức Kitô trên thập giá là gì?
T. Chúa Giêsu tự nguyện hiến dâng mạng sống mình làm hy lễ đền tội,nghĩa là Người sửa lại tội lỗi chúng ta bằng sự vâng phục trọn vẹn của Người vì tình yêu cho đến chết.Tình "yêu thương đến cùng"(Ga 13,1) của Con Thiên Chúa đã giao hòa toàn thể nhân loại với Chúa Cha.Như vậy,hy lễ Vượt Qua của Đức Kitô cứu chuộc mọi người cách độc nhất vô nhị,hoàn hảo và tối hậu,và mở lối cho họ vào sự hiệp thông với Thiên Chúa.


4.H. Cuộc Phục Sinh của Chúa Giêsu có vị trí nào trong đức tin của chúng ta?
T. Cuộc Phục sinh là chân lý cao cả nhất của đức tin chúng ta vào Đức Kitô.Với thập giá,cuộc Phục sinh là phần thiết yếu của mầu nhiệm Vượt qua.


5.H. Sự Phục sinh là công trình của Ba Ngôi Cực Thánh theo cách nào?
T. Sự Phục sinh là một hành động siêu việt của Thiên Chúa.Cả Ba Ngôi cùng hoạt động chung theo tính cách riêng biệt của mỗi Ngôi:Chúa Cha bày tỏ quyền năng của mình; Chúa Con "lấy lại" sự sống mà Người đã tự do dâng hiến (Ga 10,17) bằng cách kết hợp linh hồn và thân xác mình,mà Chúa Thánh Thần làm cho sống động và tôn vinh.


6.H. Đâu là ý nghĩa và ảnh hưởng của cuộc Phục sinh đối với ơn cứu độ?
T. Phục sinh là chóp đỉnh của mầu nhiệm Nhập Thể,xác nhận thần tính của Đức Kitô cũng như tất cả những gì Người đã làm và đã giảng dạy.Cuộc Phục sinh thực hiện tất cả các lời hứa của Thiên Chúa vì lợi ích của chúng ta.Hơn nữa,Đấng Phục Sinh,Đấng chiến thắng tội lỗi và cái chết,là nguyên lý cho việc công chính hóa và sự phục sinh của chúng ta. Ngay từ bây giờ,Phục sinh mang lại cho chúng ta ơn được làm nghĩa tử Thiên Chúa,khiến chúng ta được thực sự tham dự vào sự sống của Con Người duy nhất,Đấng sẽ làm cho thân xác chúng ta được sống.

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 123