mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1256
mod_vvisit_counterHôm Qua4743
mod_vvisit_counterTuần Này17304
mod_vvisit_counterTuần Trước42988
mod_vvisit_counterTháng Này78232
mod_vvisit_counterTháng Trước269154
mod_vvisit_counterTất cả9857991

We have: 92 guests online
Your IP: 54.82.79.109
 , 
Today: Dec 14, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - LE CHUA KITO VUA PDF Print E-mail

GỢI Ý SUY NIỆM LỜI CHÚA

Chúa Giêsu Kitô, Vua vũ trụ. Năm A

Lời Chúa : Mt 25, 31-46

Năm 1925, Đức Giáo Hoàng Piô XI đã thiết lập lễ Chúa Kitô, Vua vũ trụ để giúp cho giáo dân ý thức hơn về quyền tuyệt đối của Chúa trên vạn vật, trong bối cảnh các nước Âu Châu lúc bấy giờ, càng ngày càng xa rời Chúa, loại Chúa ra khỏi đời sống của mình. Ngài muốn cho thấy rằng quyền Vương Đế của Chúa vẫn trường tồn, dù các nước phương Tây đã bãi bỏ chế độ quân chủ đển thiết lập chế độ dân chủ. Hiện nay chỉ còn một số ít các nước trên thế giới vẫn còn giữ chế độ quân chủ. Vì thế khi nói đến tước hiệu vua, người ta xem như lỗi thời. 

Đó chỉ là tình trạng của xã hội loài người. Quyền tuyệt đối của Chúa trên vạn vật vẫn không suy giảm. Thiên Chúa vẫn là Đấng tạo thành vũ trụ, vẫn điều khiển mọi sự trên trần gian. Loài người có tiến bộ về khoa học đến đâu, cũng chỉ là tạo vật. Mọi sự đều do Người tạo nên, vẫn tuân phục những định luật Người đã thiết lập, và quy hướng về Người. Dù con người có chối bỏ Thiên Chúa, họ vẫn sống trong vũ trụ của Ngài, vẫn sử dụng những gì Ngài ban cho họ. Chúng ta là những kẻ tin, chúng ta không thể chối bỏ Ngài, nhưng có thể, chúng ta cũng không còn ý thức rõ rệt về quyền tuyệt đối của Chúa trên chúng ta, chúng ta tưởng như mình có thể định đoạt số phận của chính mình mà không cảm thấy tình yêu của Chúa chính là nguồn sống và hạnh phúc của chúng ta. Nhìn nhận vương quyền của Chúa, tức là nhìn nhận Ngài là hạnh phúc duy nhất của chúng ta, và sống là sống trong tình yêu của Ngài.

Chúa Kitô là Vua vũ trụ. Ngài là Đấng tạo thành, là Chủ Tể mọi loài mọi vật. Thánh Gioan đã nói : " Ngài là Ngôi Lời hằng hữu,là Đấng tạo thành, nhờ Ngài, vạn vật được tạo thành, và không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành. Thánh Phaolô cũng nói : " Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình...vì trong Ngài muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình và vô hình...tất cả đều tồn tại trong Ngài". Như thế quyền tuyệt đối của Chúa Kitô được xác quyết một cách rõ ràng.

Nhưng Ngài là một vị vua lạ lùng hơn các vua trần gian. Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài không phải là một Thiên Chúa xa lạ, mà một Thiên Chúa gần gũi, thân cận. Ngài đã trở nên xác phàm như chúng ta, sống giữa chúng ta, như chúng ta để cứu vớt chúng ta khỏi sự chết đời đời. Ngài đã dùng cái chết và sự phục sinh của Ngài để trở nên nguồn sống của chúng ta. Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gởi cho tín hữu Côrintô đã nói : " Chúa Kitô đã trỗi dậy từ cõi chết...Khi Ngài tiêu diệt hết mọi quản thần mọi quyền thần và dũng thần, và trao vương quyền lại cho Thiên Chúa là Cha...Thật vậy, Đức Kitô phải nắm vương quyền cho đến khi Thiên Chúa đặt mọi thù địch dưới chân Ngài. Thù địch cuối cùng bị tiêu diệt là sự chết." Chỉ có Ngài mới có thể tiêu diệt sự chết vì Ngài là Thiên Chúa hằng sống. Ngài là vua sự sống. Ngài mang lại cho chúng ta sự sống và sự sống vĩnh cửu, vì chúng ta đã chết trong tội. Vương quyền của Ngài là vương quyền tuyệt đối. Các vua trần gian thi nhau nằm xuống, xuôi tay, nhưng Ngài vẫn sống. Chúng ta là thần dân của Ngài, được cứu chuộc nhờ máu Ngài, chúng ta trở nên đồng thừa tự với Ngài.

Đến ngày tận thế, vương quyền tuyệt đối của Ngài sẽ được tỏ ra trong cuộc phán xét cuối cùng. Ngài sẽ ngự đến trong vinh quang và xét xử mọi dân tộc và Ngài sẽ cho mọi người thấy, ngài là một vị vua lạ lùng. Ngài sẽ xét xử mọi người theo một lề luật duy nhất là tình yêu: " Xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăm. Ta khát, các ngươi đã cho uống..." Những người đã làm như thế sẽ được hưởng vinh quang. Và ngược lại những người khác, những người không biết yêu thương, sẽ chịu cực hình muôn kiếp. Tại sao? Vì Ta bảo thật các ngươi : Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một rong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy".

Ngài tự đồng hóa với những người bé mọn nhất. Đây cũng là một lời cảnh báo nghiêm trọng cho tất cả chúng ta. Chúng ta dễ khinh thường, xua đuổi những người bé mọn mà quên rằng đó là một Chúa Gie6su mà chúng ta xua đuổi hay khinh thường. Các thánh đã yêu mến Chúa trong những kẻ bé mọn đó. Gần chúng ta nhất, Mẹ thánh Terexa Calcutta đã hiến dâng đời mình chăm lo cho những người cùng khốn nhất trong xã hội. Mẹ đã nhìn họ là những Chùa Gie6su bị bỏ rơi và đã tận tình săn sóc. Chúng ta cần xét lại thái độ của chúng ta đối với những người khốn khổ đó. Đó là Vua Giêsu bị bỏ rơi, chúng ta có nhận ra Ngài trong những người khốn cùng đó không ? Nếu chúng ta nhận ra Ngài, chúng ta có khinh miệt rẻ rúng những người đó không ? Họ chính là chìa khóa Nước Trời cho chúng ta đấy ! Nếu tất cả những người tin Chúa đều nhận ra Chúa trong những người khốn cùng, thì trần gian nầy sẽ là một thiên đàng. Nhưng thực tế không được như vậy, tiếc thay ! Chúng ta được mời gọi hoán cải hằng ngày để biết yêu thương hơn. Hãy cố làm sao cho trần gian nầy thành thiên đàng, vì hôm nay, trần gian đã trở thành hỏa ngục.

SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH  ĐỘNG: Vua Giêsu của chúng ta là một vị vua lạ lùng hơn nữa, vì chính Ngài đã lấy thịt máu mình nuôi thần dân của mình. Điều mà không vị vua trần gian nào có thể làm được. Có những vị vua trần gian đem của cải mình giúp người nghèo, những không ai có thể ban thịt máu mình nuôi người khác. Nhưng Vua Giêsu đã làm điều lạ lùng đó. Hằng ngày, chúng ta được ăn lấy Ngài. Ngài sống trong anh em chúng ta. Mỗi người, khi ăn lấy Ngài đã trở nên hiện thân của Ngài. NHỜ THẦN KHÍ Chúa mở mắt ĐỂ BẠN VÀ TÔI nhìn thấy được thực tại huy hoàng nầy là mỗi người là một Giêsu cần yêu thương và phục vụ.

Lm Trầm Phúc

Kính chuyển:

Hồng

---------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - NHAN QUA PDF Print E-mail

> NHÂN QUẢ
>
> "Chiên thì Người cho đứng bên phải, còn dê ở bên trái" (Mt 25,33).

KIM VU CHUYỂN
>
> "Nhân" là nguyên nhân, "Quả" là kết quả. Nhân là cái mầm. Quả là cái hạt do mầm ấy phát sinh. Trong nhân có quả và trong quả có nhân. Chính trong Nhân hiện tại có hàm chứa cái Quả tương lai. Nhân thế nào thì Quả thế ấy. Thưởng phạt ngày sau đều tùy thuộc vào những hành động tốt hoặc xấu của CAC BẠN thực hiện ngày hôm nay. Nói chung, ai trong chúng ta cũng muốn được hưởng hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau.

  CAC BẠN biết con đường lên thiên đàng là thiên đàng mà. Nếu chúng ta muốn được hưởng an lạc ngày sau, chúng ta phải sống vui tươi và an bình ngày nay. Biết rằng cuộc đời ai cũng có những sự chen lẫn giữa vui sướng và khổ sầu. Sự khổ đau trong cuộc sống không phải luôn luôn là sự tiêu cực. Vì sự đau khổ cần thiết như là những thử thách để giúp ta tinh luyện cho cuộc đời sáng thêm. Ví như lửa thử vàng, gian nan thử đức vậy.
>
> Kết thúc Năm Phụng Vụ, Giáo Hội mừng Đại Lễ Chúa Kitô Vua, Vua Các Vua, Chúa Các Chúa. Chúa Giêsu là trung gian giao hòa giữa trời với đất. Ngài đã nhập thể để rao truyền tin mừng cứu độ. Chính Ngài là trung tâm và là cốt lõi của tất cả mọi sự hiện hữu. Ngài mở lối dẫn chúng ta vào hưởng niềm vui hạnh phúc Nước Trời. Con đường Chúa đi là con đường yêu thương trong khổ giá. Muốn lãnh nhận ơn cứu độ, chúng ta phải dõi theo lối bước của Ngài. Hai giới răn nồng cốt tóm kết tất cả lề luật là yêu mến Thiên Chúa hết lòng, và yêu thương anh chị em như chính mình. Đức yêu thương được thể hiện qua sự giúp đỡ, chia sẻ, thăm viếng và sống tình bác ái với nhau. Con đường đức ái là con đường tuyệt hảo dẫn vào quê trời.
>
> Chúa Giêsu dẫn bước chúng ta vào cuộc sống thật ngày sau qua dụ ngôn phân định Chiên và Dê. Chiên và Dê chỉ là hình ảnh tượng trưng gởi theo một sứ điệp nói về sống bác ái vị tha. Chiên Dê, phải trái, bên này bên kia, hay thiên đàng hỏa ngục là ranh giới để phân biệt tốt xấu, lành dữ và thưởng phạt. Phúc thay những ai được xếp vào hàng bên phải: Hãy đến, hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy lãnh lấy phần gia nghiệp là Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ (Mt 25, 34). Không phải tự nhiên hùa theo đám đông mà được ơn cứu độ. Mỗi người phải phấn đấu từng ngày để nên trọn lành. Chúng ta có thể quan sát hình ảnh một thửa ruộng trong đó có lúa và cỏ dại. Khi chủ ruộng vun xới chăm sóc cả hai lúa và cỏ đều được hưởng phân bón và tưới gội đồng đều. Lúa và cỏ cùng chung hưởng nắng ban mai, sương sớm và mưa nguồn. Phát triển tốt nhưng kết quả thì khác nhau, lúa trổ sinh bông hạt, và được thu hoặch cho vào kho lẫm. Còn cỏ dại bị người ta chà đạp và thu gọn đem thiêu đốt.
>
> Theo giáo lý Nhà Phật, nhân là năng lực phát động, Quả là sự hình thành của năng lực phát động ấy. Nhân và quả là hai trạng thái tiếp nối nhau mà có. Nếu không có Nhân thì không có Quả và nếu không có Quả thì không có Nhân. Cũng chính trong cái Quả hiện tại, đã có hình bóng của Nhân quá khứ. Vì thế, mỗi vật đều có thể gọi là nhân hay quả: Đối với quá khứ, thì nó là quả, nhưng đối với tương lai thì nó là nhân. Nhân và quả tiếp nối nhau và đắp đổi nhau như những vòng trong sợi dây chuyền. Nhân quả đi đôi và ảnh hưởng tới nhau như gieo gió thì gặt bão. Việc lành hay việc dữ đều có quả báo, chỉ khác nhau đến sớm hay muộn mà thôi. Đôi khi chúng ta tự hỏi rằng tại sao những người làm ác mà họ vẫn sống phây phây lại giầu có sung sướng, trong khi những người hiền lành, đạo đức lại rơi vào cảnh túng quẫn và khổ đau. Câu trả lời là đời sống tạm này chưa kết thúc, chúng ta chưa thể kết luận thế nào là hạnh phúc thật.
>
> Một Nhân không thể sinh ra Quả, mà phải nhờ vào môi trường vạn vật chung quanh. Sự vật trong vũ trụ nầy đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên. Cho nên không có một Nhân nào có thể tự tác thành kết quả được, nếu không có sự giúp đỡ của nhiều Nhân khác. Sự liên đới trùng trùng điệp điệp giữa muôn loài làm thành bước tiến của thiên nhiên vạn vật. Không có thụ tạo nào đứng riêng biệt một mình trong vũ trụ. Nói rằng hạt lúa sanh ra cây lúa, là nói một cách giản dị cho dễ hiểu, chứ thật ra hạt lúa không thể sanh ra gì được cả, nếu để một mình nó giữa khoảng trống không, thiếu không khí, ánh sáng, đất nước và nhân công. Có biết bao nhiêu yêu tố để hình thành một chuỗi Nhân Quả. Trong bất cứ một loài thụ tạo nào cũng có mỗi liên hệ chằng chịt với thế giới hiện hữu chung quanh.
>
> Về phương diện tinh thần, những tư tưởng và hành vi trong quá khứ, tạo cho ta những tính tình tốt hay xấu trong hiện tại. Tư tưởng và hành động quá khứ là Nhân, tính tình và nếp sống trong hiện tại là Quả. Tính tình và nếp sống hiện tại là Nhân, để tiếp tục tạo ra hành động trong tương lai là Quả. Nhân Quả tiếp nối không ngừng qua những hành vi chúng ta thực hiện hằng ngày. Chúng ta có thể thay đổi và sửa sai những lầm lỡ trong qúa khứ để tạo thành Nhân tốt. Không bao giờ trễ, nếu chúng ta biết bắt đầu lại. Mỗi ngày chúng ta có thể tạo nhân tốt, hậu quả sẽ tốt. Sống trong xã hội, con người phải tương trợ và có ảnh hưởng lẫn nhau. Tục ngữ nói: Gần mực thì đen, gần đèn thị rạng. Một người làm phúc, muôn người đều được hưởng nhờ. Một cây trổ hoa, cả vườn cây thơm hương.
>
> Sống bác ái vị tha là một bổn phận cao quý của con người. Chúng ta thường gặp thấy các Tăng Ni Phật Giáo đi khất thực. Các Tỳ-kheo đi một mình hay từng nhóm, không đứng trước cửa chợ mà đi theo thứ tự, từ nhà này sang nhà khác, không phân biệt, mắt nhìn xuống và yên lặng đứng đợi trước mỗi cửa nhà để xem thức ăn có được đặt vào bình bát không. Khất thực là xin vật thực của người đời để nuôi thân mà cũng còn có bổn phận nhắc nhở chúng sinh làm việc phúc đức. Trong Đạo Công Giáo, Kinh Bổn có dạy thương người có mười bốn mối, thương xác bảy mối: Cho kẻ đói ăn. Cho kẻ khát uống. Cho kẻ rách rưới ăn mặc. Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc. Cho khách đỗ nhà. Chuộc kẻ làm tôi. Chôn xác kẻ chết. Thương linh hồn bảy mối: Lấy lời lành mà khuyên người. Mở dạy kẻ mê muội. Yên ủi kẻ âu lo. Răn bảo kẻ có tội. Tha kẻ dể ta. Nhịn kẻ mất lòng ta. Cầu cho kẻ sống và kẻ chết. Đây là những mối phúc quan trọng giúp đỡ tha nhân về vật chất và tinh thần. Thật ngạc nhiên khi chúng ta nghe Chúa Giêsu dùng dụ ngôn nói về ngày phán xét. Ngài phán xét về thực hành đức yêu thương hơn là về những sa ngã phạm tội khác. Được thưởng hay bị phạt đều tùy thuộc vào việc thực hành mười bốn mối này.
>
> Con người không thể nên tốt một mình, nhưng phải tương trợ lẫn nhau mà sống. Người ta thường nói: Thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Ba yếu tố kết thành sự thành công. Chúng ta cần có tha nhân để cùng chia sẻ nâng đỡ, cần có cuộc sống xã hội để cộng tác xây dựng và cần có người đồng hành để chung vai sát cánh gánh vác công việc. Ngày phán xét sau cùng, thẩm phán sự sống sẽ hỏi chúng ta về sự liên đới Nhân Quả giữa người với người. Với những người tạo Nhân tốt qua việc bác ái, sẽ được nghe những lời an ủi: Vì xưa Ta đói, các ngươi cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước (Mt 25, 35).
>
> Bất cứ vị thánh nào cũng có trái tim yêu thương rộng mở. Các Ngài biết chia sẻ và dâng hiến. Hiến dâng cuộc đời cho Chúa và phục vụ tha nhân. Không có sự liên đới với tha nhân, chúng ta khó có thể nên trọn lành. Tha nhân tốt hoặc xấu vẫn có thể sẽ giúp chúng ta nên tốt lành. Chúng ta có thể tìm tựa nương đức ái nơi những người khốn cùng, nghèo đói, cô đơn, bệnh hoạn, tù đầy và thất vọng. Họ chính là hình ảnh của Đấng đã dám thí mạng vì yêu. Giúp đỡ những kẻ bé mọn và cùng khốn nhất là chúng ta đang làm cho chính Chúa, Chúa Giêsu đã phán: "Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta" (Mt 25, 36).
>
> Thật đáng phải run rẩy và sợ hãi khi chúng ta phải đối diện với sự phán xét sau cùng. Thiên Chúa nhân từ nhưng công bằng vô cùng. Giờ phán xét sẽ không có một ai khác chống lưng cho chúng ta. Chúng ta cũng không còn điểm tựa nào khác để biện hộ. Sự thật phơi bầy trước tôn nhan chói lòa của Tạo Hóa. Chúng ta gieo Nhân nào thì sẽ được gặt Quả đó. Trong cuộc lữ hành trần thế, biết bao lần chúng ta ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi đau khổ, đói khát và cùng quẫn của anh chị em, giờ đây chúng ta phải đối diện: Rồi Người cũng sẽ nói với những kẻ bên trái rằng: "Hỡi phường bị chúc dữ, hãy lui khỏi mặt Ta mà vào lửa muôn đời đã đốt sẵn cho ma quỷ và kẻ theo chúng" (Mt 25,41).
>
> SUY TƯ VÀ QUYẾT TÂM HÀNH ĐỘNG: Ngày phán xét, Chúa sẽ không chất vấn chúng ta về bao nhiêu việc vĩ đại đã thực hiện. Chúa Giêsu nhắc nhở các môn đệ: "Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời" (Lc 10,20). Thiên Chúa không đếm bao nhiêu giờ BẠN đã đọc kinh, cầu nguyện, lần hạt, tụ họp sinh hoạt... Chúa sẽ nhìn xem trái tim của TÔI đã mở rộng yêu thương đến mức nào. CAC BẠN đã chia sẻ gì cho những kẻ bé mọn nhất của Chúa. Thiên Chúa tạo dựng qua ý muốn của Chúa, nhưng để cứu chuộc BẠN VÀ TÔI. . Hạnh phúc thay những ai được Chúa cho đứng về phía bên phải: "Còn các người lành thì được vào cõi sống ngàn thu" (Mt 25,46).
>
> TÔI CẦU NGUYỆN VỚI LỜI CHÚA VÀ SỐNG CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, đã rất nhiều lần chúng con đã thưa rằng: Lạy Chúa có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói khát, khách lạ hay mình trần, yếu đau hay ở tù, mà chúng con chẳng giúp đỡ Chúa đâu? (Mt 25,44). Chúa trả lời: Ta bảo các ngươi: những gì các ngươi đã làm cho một trong các anh em bé mọn nhất của Ta đây là các ngươi đã làm cho chính Ta (Mt 25,40). NHỜ THÁNH THẦN khơi dậy lòng yêu thương bác ái nơi tâm hồn, để chúng con biết cùng chia sẻ CHO THA NHÂN. Amen.
>
> Lm. Giuse Trần Việt Hùng
>----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO -DUC TIN PHAI CO HANH DONG PDF Print E-mail

TAI SAO ĐỨC TIN PHẢI CÓ HÀNH ĐỘNG CỤ THỂ TƯƠNG XỨNG ĐI KÈM THÌ MỚI ĐƯỢC CỨU RỖI ?
Hỏi :
xin cha giải thích thế nào là có đức tin và việc làm để được cứu rỗi.
Trả lời :
Chúa Kitô đã đến trần gian cách nay trên 2000 năm để thi hành Chương Trình cứu chuộc nhân loại của Chúa Cha, " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2: 4)
Chúa Kitô đã hy sinh hiến mạng sống của mình, chết trên thập giá năm xưa để " làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28) vì thế, chỉ một mình Chúa mới mang ơn cứu độ đến cho toàn thể nhân loại từ đầu cho đến nay và còn mãi cho đến ngày mãn thời gian , vì " dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ." ( Cv 4: 12).
Phải nhờ vào danh đó để được cứu độ, vì danh thánh Giêsu có nghĩa là "Chúa cứu dân Người" và cũng đồng thời có nghĩa là nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa mà con người được cứu độ để sống hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa là Cha trên Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình con người trên trần gian này. Đó chính là Sứ mệnh của Chúa Giêsu , Người " sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi" như lời Sứ Thần đã nói với Thánh Giuse trong giấc mơ, để truyền cho Thánh Giuse không được bỏ trốn bạn mình là Đức Trinh Nữ Maria đang mang thai bởi phép Chúa Thánh Thần.( Mt 1: 20-21)
Nói rõ hơn: nếu Chúa Kitô không xuống trần gian làm Con Người và hy sinh chết thay cho cả nhân loại đáng phải phạt vì tội lỗi, thì tuyệt đối không ai có thể làm được gì để được cứu độ và toàn thể nhân loại vẫn còn đắm chìm trong hố diệt vong, vì phải vĩnh viễn xa lìa Thiên Chúa là cội nguồn của sự sống và hạnh phúc bất diệt.Nhưng nay con người có hy vọng được sống hạnh phúc với Thiên Chúa, vì Chúa Kitô đã chết để đền tội thay cho cả nhân loại và nối lại tình thân giữa Thiên Chúa và loài người.
Như thế, công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô thật vô cùng quí giá và hữu ích cho phần rỗi của mọi người trong nhân loại. Cho nên, người có niềm tin phải không ngừng cảm tạ Chúa Cha đã cứu độ chúng ta trong Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi khốn khó, và chết nhục nhã trên thập giá để đền tội thay cho con người và cho chúng ta hy vọng được cứu độ. .
Nhưng công nghiệp đó không tự động áp dụng cho hết mọi người cách vô điều kiện, không cần ai phải làm gì nữa mà vẫn được hưởng nhờ công nghiệp này.
Sở dĩ thế, vì con người còn có tự do để chọn lựa giữa Thiên Chúa và thế gian, giữa thiên Đàng và hỏa ngục, giữa sự sống và sự chết, giữa ánh sáng và bóng tối đen, nên vấn đề cứu rỗi còn lệ thuộc vào sự chọn lựa này của mỗi người chúng ta.
Nghĩa là, nếu muốn được ơn cứu độ nói trên của Chúa Kitô, thì tin vào Chúa là điều kiện rất quan trọng và cần thiết vì nó nói lên lòng biết ơn và trông cậy được cứu độ nhờ công cứu chuộc của Chúa.Nhưng tin không có nghĩa là chỉ nói suông ngoài môi miệng mà không làm gì nữa để nói lên niềm tin ấy cách cụ thể.
Thánh Gia-cô-bê Tông đồ đã dạy như sau về việc đức tin phải có việc làm đi kèm thì mới có giá trị:
" ...Bạn có biết rằng đức tin không có hành động là vô dụng không ?
Ông Abraham, Tổ phụ chúng ta, đã chẳng được nên công chính nhờ hành động khi ông hiến dâng con mình là I-xa-Ac trên bàn thờ đó sao? Bạn thấy đó, đức tin hợp tác với hành động của ông, và nhờ hành động mà đức tin nên hoàn hảo." ( Gc 2: 20-22)
Nói khác đi, ông Abraham tin và yêu mến Thiên Chúa và Thiên Chúa biết rõ lòng tin của ông. Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn thử thách ông bằng cách đòi ông hy sinh con một của ông là I-xa-ác. Ông đã chứng tỏ lòng tin và mến yêu Chúa của ông cách cụ thể là sẵn lòng hiến tế con mình trên bàn thờ. Và nếu Chúa không sai Sứ Thần can thiệp kịp thời thì I-xa-ac đã bị cha mình sát tế rồi.
Đây là hành động cụ thể nhất, sống động nhất để minh chứng lòng tin và lòng mến Thiên Chúa của Abraham để làm gương cho hết mọi người có niềm tin trong nhân loại từ xưa đến nay và còn mãi về sau.
Chính vì muốn nhấn mạnh đến sự cần thiết phải chứng minh lòng tin bằng hành động cụ thể mà Chúa Giê su đã nói với các môn đệ Người xưa kia như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa ! lậy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu, mà chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)
Nghĩa là không phải cứ nói tin Chúa, và kêu thánh Danh Giêsu thôi là được cứu đô. Trái lại, đức tin phải đi kèm với hành động cụ thể là thi hành ý muốn của Cha trên Trời để làm những gì đức tin đòi hỏi về mến Chúa , yêu người, thương giúp người nghèo khó và xa tránh mọi tội lỗi để góp phần vào ơn cứu độ của Chúa Kitô, hầu được sống hạnh phúc với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Chúng ta đang sống trong một thế giới tục hóa của "văn hóa sự chết"và chứng kiến biết bao sự dữ đang diễn ra ở khắp trên thế giới - nơi mà con người không có niềm tin , hay có mà không sống niềm tin ấy- nên đã và đang làm những sự dữ như oán thù, chia rẽ, khủng bố, giết hại nhau, giết thai nhi, đặc biết là giết trẻ nữ ở Trung cộng và Ấn Độ, gian tham ,trộm cướp, bắt cóc, chặt đầu con tin ( hostages) hiếp dâm, ngoại tình thay chồng đổi vợ, bách hại người khác nhân danh tôn giáo của mình như bọn cuồng tín Hồi giáo( ISIS) đang làm ở Trung Đông, cùng với bọn buôn bán phụ nữ và trẻ nữ cho bọn ma cô, tú bà mở nhà điếm để cung cấp thú vui dâm ô và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn và tội lỗi kia cho bọn vô luân đi tìm thú vui này.
Thử hỏi : những kẻ đang làm những sự dữ trên đây thì làm sao chúng có thể được cứu độ nếu chúng không kíp an năn sám hối để xin Chúa thứ tha? Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô chắc chắn không ích gì cho họ , dù họ có tuyên xưng Chúa Kitô ngoài môi miệng cả trăm ngàn lần thì cũng vô ích mà thôi, vì việc làm thực tế của chúng đã hoàn toàn phỉ nhổ vào niềm tin của chúng.
Như thế đủ cho thấy là tin yêu Chúa thì phải chứng minh bằng hành động cụ thể tương xứng, chứ không thể nói suông ngoài môi miệng được. Chúa Kitô đã chứng tỏ tình yêu của Người đối với toàn thể nhân loại bằng hành động cụ thể là hy sinh chết thay cho cả loài người tội lỗi, đúng như lời Chúa đã nói với các môn đệ xưa:
" Không có tình thương nào cao cả
Hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng
Vì bạn hữu của mình." ( Ga 15: 13)
Như vậy, tin Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành, là tình thương vô vị lợi, là công bình bác ái và nhân đạo, thì không thể sống với hận thù, gian ác, bất công, bóc lột người khác và dửng dưng trước sự nghèo đói của bao người xấu số trong xã hội, nhất là đam mê những thú vui vô luân vô đạo, như thực trạng của biết bao con người ở khắp nơi trên thế giới đang chìm đắm trong "văn hóa của sự chết" hiện nay.
Chúa Kitô chết một lần trên thập giá năm xưa để cứu cho nhân loại khỏi phải chết đời đời. Nhưng công nghiệp cực trọng này không bao giờ là bình phong lá chắn cho những ai muốn lợi dụng để cứ sống trong tội , cứ làm sự dữ mà không biết ăn năn từ bỏ để được cứu độ như lòng Chúa mong muốn, vì Người không muốn cho ai phải hư mất đời đời vì tội.
Chúa cứu chuộc nhưng con người phải cộng tác vào ơn cứu chuộc này bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và xa tránh mọi tôi lỗi, vì chỉ có tội mới đẩy con người ra khỏi tình thương của Chúa và làm hư công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô
Bằng cớ phải xa tránh tội là sau khi tha tội, không ném đá một phụ nữ ngoại tình, bị bọn biệt phải bắt dẫn đến xin Chúa xét xử, Chúa Giêsu đã nói với phụ nữ kia như sau:
" Tôi không kết án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa."
( Ga 8: 11)
Như thế, Chúa đâu có nói là chị cứ về đi, và nếu còn phạm tội nữa thì trở lại đây tôi tha cho ? Ngược lại, Chúa nói rõ với chị khi đó và tất cả mọi người chúng ta ngày nay là "Đừng phạm tội nữa" Nghĩa là đừng lợi dụng lòng thương xót tha thứ của Chúa để cứ tiếp tục phạm tội mà không có quyêt tâm từ bỏ và xa tránh tội lỗi .
Bằng cớ nữa là có một người bị bị đau ốm đã 38 năm, được Chúa Giêsu chữa lành cho trong ngày Sa-bát. Nhưng sau đó lại gặp anh này trong Đền thờ, Chúa đã nói với anh ta như sau:
" Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tộ nữa kẻo lại phải khốn hơn trước." ( Ga 5: 14).
Như vậy, tội vẫn là nguyên nhân làm khổ con người , làm mất hy vọng cứu rỗi vì nghịch cùng Thiên Chúa là Đấng yêu thương, nhân từ nhưng gớm ghét mọi tội vì tội xúc phạm nặng nề đến bản chất yêu thương và thánh thiện của Chúa.
Tội cũng làm hư công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, vì Chúa không chết để dung dưỡng cho kẻ có tội cứ sống mãi trong tội, mà chết một lần để tha thứ mọi tội con người đã phạm để giúp con người sống xứng đáng với tình thương và công nghiệp cứu chuộc của Chúa. Nhưng con người phải cộng tác với ơn cứu chuộc này để quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi thì mới được hưởng ơn cứu chuộc của Chúa. Không có sự cộng tác này, thì Chúa không thể cứu ai được, dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa là vô giá và đủ cho con người được cứu độ.
Tóm lại, tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô là cần thiết và quan trọng, nhưng quan trong hơn nữa là phải thể hiện niềm tin ấy bằng hành động cụ thể mà đức tin đòi buộc. Nghĩa là không thể miệng nói tôi tin có Thiên Chúa, tin Chúa Kitô là Đấng cứu thế, mà tay lại nhúng vào những sự dữ như thề gian ( perjury ) giết người, chặt đầu con tin, đặt bom để giết hại kẻ thù địch khiến cho bao người dân vô tội phải chết oan, đốt phá nhà cửa và nơi thờ phượng của người khác. Cũng không thể nói tin có Chúa là Đấng công minh , nhân từ và thánh thiện, mà chân lại bước đi dến những nơi tội lỗi như sòng bạc, nhà tắm hơi, sàn nhẩy và các nơi cung cấp thú vui vô luân vô đạo đầy rẩy ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay..
Kinh nghiệm thực tế cho thấy là nếu lời nói mà không đi đôi với việc làm thi sẽ không bao giờ thuyết phục được ai tin lời mình. Cũng vậy, trong lãnh vực thiêng liêng, nếu không quyết tâm xa tránh tội lỗi , để sống theo đường lối của Chúa, thì tình thương của Chúa Cha và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ trở nên vô ích hoàn toàn cho những ai miệng nói tin yêu Chúa, mà thực tế lòng vẫn hướng chiều về sự xấu, sự tội, hay chạy theo những gì nghịch với niềm tin yêu ấy. Amen.
Ước mong những giải đáp này thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô XaviêNgô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAP - BE MARIA DANG MINH PDF Print E-mail

Đức Thánh Cha Phanxicô cử hành Ngày Thế Giới Người Nghèo I - Chúa Nhật 19/11/2017

Bé Maria Dâng Mình trong Đền Thờ

(Trích Thần Đô Huyền Nhiệm, bản dịch của Phạm Duy Lễ, CRM)

Thánh Gioakim và thánh nữ Anna từ Nagiarét đưa Mẹ lên Đền Thờ Giêrusalem với mấy người thân thuộc đơn sơ. Khi tới Đền Thờ, ông bà cầm tay Con dẫn vào bên trong. Cả ba cùng sốt sắng cầu nguyện, rồi ông bà dâng hiến Mẹ cho Thiên Chúa. Mẹ cũng tự hiến dâng trọn vẹn trót mình dứt khoát cho Người.

Sau khi cầu nguyện, thánh Gioakim và Anna dẫn Mẹ ra giới thiệu với một vị tư tế. Vị này chúc lành cho Mẹ. Rồi tất cả cùng đưa Mẹ tới khu nhà dành riêng cho việc giáo dục những thiếu nữ theo một kỷ luật đạo hạnh. Muốn tới khu nhà ấy, phải đi qua một cầu thang 15 bậc. Vị có nhiệm vụ hướng dẫn Mẹ là một tư tế phẩm trật thấp nhất. Ông đặt Mẹ lên bậc đầu cầu thang. Rồi quay về phía song thân, Mẹ quì gối xin phép lành, hôn kính tay cha mẹ và xin cha mẹ dâng hiến mình cho Thiên Chúa. Thánh Gioakim và Anna vừa bùi ngùi rơi lệ, vừa âu yếm chúc lành cho Con. Sau đó, một mình Mẹ quả quyết bước lên thang, không quay nhìn lại, không rơi một giọt lệ, không chút phàn nàn vì phải lìa cha mẹ.

Thượng tế Simeon, đón nhận Mẹ và trao cho những cô giáo đạo đức việc đào tạo Đức Maria. Trong các cô giáo này, có bà tiên tri Anna, bà này đã được Chúa ban ơn soi sáng riêng, chỉ định làm giáo chức đảm nhiệm coi sóc Đức Nữ. Sau khi tiếp xúc với bà giáo Anna, Mẹ đi gặp mọi thiếu nữ trong viện, chào hỏi niềm nở đoan trang. Khi ôû moät mình trong phoøng nhoû, Me saáp mình xuoáng, thôø laïy caûm taï Chuùa vaø khaán cuøng Chuùa seõ giöõ khieát trinh, thanh baàn, tuaân phuïc vaø vónh vieãn ôû trrong Ñeàn Thôø.

Mẹ đi tìm bà Anna, nộp cho bà tất cả những gì song thân đã cho, để bà định đoạt tùy ý bà. Được Chúa soi sáng, bà Anna nhận lấy tất cả các đồ Mẹ nộp, chỉ để cho Mẹ y phục Mẹ mặc, cho nên Mẹ hoàn toàn nghèo khó. Trong khi các thiếu nữ khác trong viện vẫn còn giữ trọn của cải mình và sử dụng tùy ý. Sau đó, hội ý với Thượng tế Simêon, bà Anna vạch ra một luật sống cho Mẹ, đã vạch một chương trình sống cho Mẹ như sau:

"Con hãy đem hết lòng nhiệt thành tham dự các giờ tán tụng Thiên Chúa. Hãy cầu nguyện cho Đền Thờ của Ngài, cho dân riêng Ngài và cho Đấng Cứu Chuộc mau đến. Buổi tối, con sẽ đi ngủ lúc tám giờ. Tảng sáng con sẽ thức dậy cầu nguyện cho tới chín giờ. Từ giờ đó tới chiều, con sẽ làm các việc thủ công và học tập Thánh Kinh. Trong bữa ăn con hãy dùng lương thực cách điều độ nghiêm cẩn. Trong mọi sự con hãy ở khiêm nhu, dễ yêu và hết sức tuân phục bà giáo, bà sẽ dạy con mọi việc phải làm".

Mẹ nêu lên một đức khiêm nhượng cao cả khi xin cô giáo cho phép được phục vụ các bạn đồng song, được dùng vào những việc rất thấp hèn như quét nhà, rửa chén đĩa. Mẹ hết sức tiết độ trong bữa ăn, và sẵn sàng chịu mất ngủ, một giấc ngủ vốn đã rất ngắn. Không hề cho phép mình dùng một vật dụng nào thừa thãi, Mẹ tự cắn xén cả một đôi dụng cụ cần thiết. Meï duøng thôøi giôø raát thaän troïng, giôø naøo vieäc aáy khít khao nhau. Thời giờ Mẹ dùng nhiều nhất là thời giờ đọc Thánh Kinh, nhất là những trang liên quan tớiơn Nhập Thể Cứu Chuộc. Mẹ am tường ý nghĩa việc Nhập Thể, nhờ có tri thức Chúa ban dư tràn. Mẹ hiểu biết tất cả các nghi lễ cử hành trong Đền Thờ mà Mẹ tham dự, nhưng bề ngoài Mẹ vẫn đi học hỏi y như khoâng biết gì. Nhi nữ Maria cần phải được đau khổ làm cho nên hoàn thiện và phú quí.

Nỗi phiền sầu đầu tiên Mẹ phải chịu là không được thị kiến thấy Thiên Chúa và cả các thiên thần. Bất thình lình Mẹ phải rơi vào một đêm tối tăm. Con thử thách này không lâu, nhưng Mẹ đã chịu đựng nó trong dằn vặt thiêng liêng hơn tất cả các thánh. Với thử thách đó, Chúa Quan Phòng đã chuẩn bị cho Mẹ mạnh mẽ để chiến thắng một trận khác do rắn già hỏa ngục bày ra.

Thật vậy, Satan với cặp mắt hờn giận, vẫn dõi theo cuộc tiến bộ thánh thiện của Mẹ. Nó đã triệu tập một đại hội những tên quỉ hung dữ nhất trong hỏa ngục, tiết lộ mối lo sợ của nó là: Có lẽ Đức Maria là Người Nữ mà Thiên Chúa đã tỏ cho nó thấy ngày trước, và đe rằng Người sẽ đạp nát đầu nó. Nó thú nhận rằng Người làm cho nó rất kinh hoảng: nó căm giận, nó muốn giết Người đi cho rồi. Nhiều phương pháp xảo trá được các quỉ dữ mang ra thảo luận trong đại hội. Sau cuộc âm mưu nham hiểm ấy, chúng kéo nhau lên tấn công Đô Thành Thiên Chúa là Đức Nữ Maria. Vẫn theo thói thường của chúng, Luxiphe chỉ huy các cuộc tấn công này. Vá nó là tên tấn công trước hết, rồi sau đó, cả bọn chúng mới đồng loạt xung phong.

Lúc Mẹ Maria còn đang chìm ngập trong đau khổ vì vắng mặt Thiên Chúa, bỗng Mẹ cảm thấy bị những cám dỗ rất lạ xông đánh, muốn lôi kéo Mẹ rất xa khỏi những tư tưởng thánh đức cao cả tuyệt vời khôn tả của Mẹ. Không thể hiểu được tâm hồn rất trong trắng của Mẹ phải khổ sở vì chước quái ấy đến đâu. Rắn già thấy Mẹ sầu não khóc lóc, nó vội kết luận rằng chước quỉ quyệt của nó đã tiến bộ. Nhưng tất cả đều uổng công: Người ta càng đập vào một viên đá cứng rắn, viên đá càng nẩy lửa. Mẹ Maria là một viên đá kiên cố với những nhân đức tuyệt vời, nên những đợt tấn công của quỉ dữ càng mạnh, càng làm bắn thêm ra những khối lửa tình yêu mến Chúa nóng hổi. Vừa bị chói mắt, vừa bẽ mặt, vừa náo động, vừa căm giận, Satan thất vọng không thể thắng được một Nữ Nhi non nớt. Giữa những cám dỗ rất nhiều rất mạnh ấy, Mẹ Maria không hề mất bình tĩnh và thản nhiên. Linh hồn Mẹ vẫn cố định trên những tầng trời cao thẳm, rút ra từ những kinh nguyện liên lỉ một sức kháng cự vô địch.

Nhưng Satan không sao nhẫn nhục được với cuộc thất bại vừa chịu. Nó lại bắt đầu môn giảo quyệt của nó qua trung gian những thiếu nữ đồng tu với Mẹ để mưu hại Mẹ. Nó nhóm lên trong lòng các cô một ngọn lửa ganh ghét căm hờn, đến nỗi các cô nhỏ đó đồng ý nhau hành hạ Đức Nữ Maria. Các cô xúm nhau buông lời nặng nhẹ chê bai, nói xấu Đức Maria đủ thứ. Cứ hễ gặp Maria đâu là các cô xỉa xói, chua cay. Các cô hùa nhau xử với Mẹ rất tàn nhẫn, buộc tội cho Mẹ là kẻ gây xáo trộn, kẻ giả hình, kẻ đưa điều, báo cáo ton hót với bề trên. Trước những sỉ vả bêu riếu đó, Mẹ vẫn khiêm nhượng tự nhận là kẻ hèn hạ nhất.

Các cô nói thẳng vào mặt Mẹ là trước mặt các cô, Mẹ chỉ là một con quỉ con thôi. Trước những sỉ vả beêu riếu đó, Mẹ vẫn khiêm nhượng trả lời: "Các chị đối xử với em như vậy là phải lắm. Em đúng là một kẻ hèn hạ nhất. Xin các chị tha cho em, và chỉ bảo cho em để từ nay, em làm vui lòng các chị hơn. Các chị đừng thôi thân ái với em. Em rất muốn thân ái với các chị, em vẫn tôn trọng, vẫn yêu thương các chị lắm. Các chị cứ ra lệnh cho em như tôi tớ các chị, em xin vâng lời các chị tất cả".

Những lời lành đó không uốn mềm được cõi lòng chai cứng của những cô nhỏ đáng thương kia. Bị rắn già hỏa ngục xúi bẩy, tiêm nọc độc căm phẫn của nó vào, các cô dám mưu giết chết Mẹ cho rảnh. Nhưng Thiên Chúa không cho phép các cô thi hành những ý định đen tối dại dột đó.

Nhưng chưa hết đâu. Nhiều ngày sau, những cô nhỏ cuồng tín đáng thương ấy, say niềm phẫn nộ, kéo Đức Nữ Nhi Maria vào một phòng kín đáo xa Đền Thờ nhất. Ở đó, nghĩ mình được hoàn toàn tự do, các cô tha hồ rủa sả, nhục mạ Mẹ cho thỏa mối hờn thâm gan tím ruột, mong làm sao Mẹ hết nhẫn nại hiền từ, tỏ một vẻ tức giận nào ra cho hả. Nhưng không thể Mẹ Maria lại làm nô lệ cho một khuyết điểm nào dầu một phút một giây, Mẹ cứ nhẫn nhục vô địch, vì lúc đó là lúc cần nhẫn nhục nhất. Nổi tam bành vì không đạt được mục đích quá nham hiểm ấy, các cô vừa xô vào vừa đánh đập vừa la lối om xòm.

Tiếng ồn ào mắng nhiếc vang tới tận Đền Thờ. Các cô giáo và tư tế bèn chạy đến ngay, hỏi xem duyên cớ. Thế là các cô đồng thanh lớn tiếng tố cáo Maria, đổ mọi tội lỗi lên đầu Mẹ: Nào là con nhỏ Maria Nagiarét rất khó nết, tính nó kỳ quặc không ai chịu nổi. Nào là không thể chung sống với nó được, cứ hễ vắng mặt thầy cô là nó chửi bới chúng con. Nào là nó không lúc nào để chúng con yên tâm học hành, chỉ phá phách chọc nhạo mọi người. Nào là nó kiêu căng hợm hĩnh, phách lối làm tàng: Có trách bảo nó, nó lại lên mặt bà cụ non, sấp mình xuống đất, giả bộ khiêm nhượng xin lỗi, nhưng rồi chứng nào tật ấy. Nào là con quỉ con Maria còn đưa điều, ăn không nói có, làm rộn chúng con không còn ai tin ai nữa. Thôi thì đủ thứ tội mà các cô có thể tưởng tượng ra. Lời các cô quả quyết làm cho các tư tế bị lừa.

Các ông dẫn Mẹ vào một căn phòng gần đó, quở trách và đe đuổi Mẹ ra khỏi Đền Thờ, nếu không chịu sửa mình. C3m động sa nước mắt, Mẹ trả lời: "Kính thưa các thày, con xin cám ơn các thày đã sửa mắng con. Con yếu đuối quá, xin các thày tha cho con. Xin các thày chỉ bảo cho con biết cách từ nay làm đẹp lòng Chúa và chị em con hơn".

Các tư tế còn quở trách Mẹ ít điều nữa, rồi cho Mẹ đi. Mẹ đến gặp các bạn, sấp mình xuống dưới chân họ, khóc lóc xin họ tha thứ. Họ cũng tiếp nhận họ một cách hiền hòa hơn, ngờ là Mẹ khóc vì phải phạt, vì bị thày cô trách mắng. Tưởng mình đã gây được ảnh hưởng nơi các tư tế, các cô tiếp tục cố gắng nghĩ mưu mô hủy diệt tâm tình ưu ái thày cô từng có đốùi với Đức Nữ Maria. Do mưu quỉ lừa dối, các cô ngụy tạo nhiều chứng cớ gian manh để làm các tư tế và các cô giáo quở phạt Mẹ nhiều lần hơn nữa.

Nhưng điều làm Mẹ phiền não tê tái là cứ tiếp tục vắng mặt Chúa mãi. Các tư tế và cô giáo đã được Chúa giác ngộ, không còn tin lời vu khống của các nhi nữ, nên các cô nhỏ ấy dần dần bỏ cuộc, không bắt nạt Mẹ nữa. Nhưng một điều rất lạ lùng là Chúa kéo dài sự vắng mặt của Ngài đối với Mẹ trong mười năm trời. Mẹ phải chịu sự vắng mặt Chúa và thiên thần này tám ngày trước khi Thánh Gioakim giã thế, tức hồi Mẹ lên ba tuổi rưỡi, cho đến lúc Mẹ được mười hai tuổi, tức là tới khi thân mẫu của Mẹ qua đời. Tính ra là mười năm.

CAO TẤN TĨNH CHUYỂN

-----------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU HAI-CN33TN-A PDF Print E-mail

HỌC HỎI-Suy Nghiệm VÀ SỐNG Lời Chúa

THỨ HAI TUẦN 33TN-A

Một con người đui mù mà vẫn thấy được ánh sáng chiếu soi

Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Hai Tuần XXXIII Thường Niên, cũng là bài Phúc Âm theo Thánh Marco (10:46-52) được Giáo Hội chọn đọc cho Chúa Nhật XXX Thường Niên Năm B, về phép lạ chữa lành của Chúa Giêsu "cho một người mù ngồi ăn xin bên vệ đường".

Tuy nội dung của 2 bài Phúc Âm này được cả hai Thánh Ký Marco và Luca thuật lại giống nhau, nhưng về chi tiết hơi khác nhau một chút. Chẳng hạn ở những chi tiết rõ ràng sau đây:

Trước hết, về nơi xẩy ra phép lạ Chúa, trong khi Thánh ký Marco thuật lại rằng "Chúa Giêsu ra khỏi thành Giêricô", thì Thánh ký Luca trong bài Phúc Âm hôm nay lại viết rằng "Chúa đến gần thành Giêricô".

Sau nữa, về bản thân của nạn nhân mù lòa ngồi ăn xin bên vệ đường ở thành Giêricô này, trong khi Thánh ký Marco (một vị thánh ký viết Phúc Âm ngắn nhất trong bộ 3 Phúc Âm Nhất Lãm, nhưng lại khá chi tiết về các biến cố xẩy ra) cho biết rõ lý lịch của nạn nhân là "con ông Timê tên là Bartimê", thì Thánh ký Luca lại chẳng nói gì hết.

Còn nữa, về thái độ của người mù ngồi ăn xin bên vệ đường này, trong khi Thánh ký Marco cho biết rõ chi tiết về phản ứng của nạn nhân khi nghe thấy mình được Chúa Giêsu gọi đến là "anh ta liệng áo choàng, đứng dậy, đến cùng Chúa Giêsu", thì Thánh ký Luca lại chỉ vắn tắt viết: "anh đến gần bên Người".

Sau hết, về lời truyền chữa lành của Chúa Giêsu phán cùng nạn nhân, trong khi Thánh ký Marco ghi lại rằng: "Ðược, đức tin của anh đã chữa anh", thì Thánh ký Luca ở đây lại chi tiết hơn Thánh ký Marco một chút như thế này: "Hãy nhìn xem, lòng tin của ngươi đã cứu chữa ngươi".

Ngoài ra, cả hai vị Thánh ký đều giống nhau ở thái độ của nạn nhân là khi nghe biết có Chúa Giêsu ở đấy thì van xin, và càng bị trấn át thì càng la to hơn, cho đến khi được Người gọi đến, và cũng giống nhau ở câu đối đáp giữa Chúa Giêsu và nạn nhân trước khi phép lạ xẩy ra, đó là Chúa Giêsu hỏi nạn nhân muốn Người làm gì cho nạn nhân và nạn nhân đã xin Người phục quang cho mình.

Ở đây, để thêm vào các suy niệm và suy diễn đã được chia sẻ cho Phụng Vụ Lời Chúa - Tuần XXX Thường Niên Chu Kỳ B, có hai chi tiết khiến chúng ta suy nghĩ không ít:

Chi tiết thứ nhất liên quan đến đấng chữa lành, đó là "Chúa Giêsu dừng lại, truyền dẫn anh đến cùng Người", và chi tiết thứ hai liên quan đến nạn nhân được chữa lành: "anh thấy được và anh đi theo Người, và ca tụng Thiên Chúa".

Thật vậy, đây là quả là một vũ điệu thần linh tuyệt vời. Ở chỗ, tác động thần linh từ Đấng Chữa Lành đã được phản hồi hết sức tương xứng bằng một đáp ứng thần linh từ nạn nhân được chữa lành.

Nạn nhân trước khi được chữa lành không hề dám tự động quẳng áo choàng đứng lên tiến đến gần Chúa Giêsu khi thoạt tiên vừa nghe thấy Người đến gần chỗ nạn nhân đang ngồi ăn xin, mà chờ đợi cho tới khi được Người gọi tới. Thái độ cứ ngồi yên một chỗ đợi chờ không phải là thái độ không nhiệt tình, mà là một thái độ tin tưởng hơn hết, ở chỗ, một đàng thì kêu la van xin cho bằng được, trong khi lại ngồi yên tại chỗ như thể nạn nhân cảm thấy mình hoàn toàn bất xứng không đáng đến gần Chúa Giêsu, cũng như bất lực không thể nào làm gì được nếu không có Người.

Đúng thế, tác động thần linh bao giờ cũng đến trước đáp ứng thần linh của thụ tạo, như yếu tố thiết yếu và điều kiện bất khả thiếu để thụ tạo nhờ đó và do đó mới có thể bị động, mới có thể cảm động và mới có thể di động theo tác động thần linh. Bởi thế, chỉ khi nghe thấy Chúa Giêsu truyền gọi, nạn nhân mù lòa ngồi ăn xin bên vệ đường ở thành Giêricô này mới đến được và được đến với Người.

Thực tế sống đạo cũng cho thấy thực tại này, ở chỗ, những ước muốn tốt lành của chúng ta cũng cần phải được Thiên Chúa tác động trước, hơn là tự chúng ta có được, vì chúng ta theo bản tính tự nhiên đã bị hư đi theo nguyên tội, luôn hướng hạ hơn là hướng thượng. Một khi chấp nhận ước muốn tốt lành bởi tác động thần linh khởi động ấy, chúng ta mới bày tỏ lòng khát vọng của chúng ta bằng lời cầu nguyện, nhờ đó Thiên Chúa được dịp ban cho chúng ta chính những gì Ngài đã muốn ban nên đã soi động chúng ta ước muốn trước khi van xin.

Cuộc hội ngộ thần linh trong bài Phúc Âm hôm nay đã xẩy ra một cách hết sức ngoạn mục. Ở chỗ, nạn nhân kháo khát được chữa lành, trong khi Thiên Chúa vô cùng nhân hậu đã sẵn muốn chữa lành cho nạn nhân rồi, và chỉ chờ đến giờ của mình là ra tay lập tức, tức là cho đến khi nghe thấy nạn nhân kêu xin mình thì đáp ứng ngay, như thể Đấng Chữa Lành thụ động còn nạn nhân chủ động, như xẩy ra trong trường hợp được bài Phúc Âm hôm nay thuật lại.

Nạn nhân mù ngồi ăn xin hằng ngày ở thành Giêricô tên Bartimê này, chắc đã lâu lắm rồi, với một thân phận nghèo khổ và tương lai mịt mù như bóng tối hằng che phủ đôi mắt của nạn nhân, có ngờ đâu lại bất ngờ được gặp và gặp được Đấng chữa lành cho mình, và như thế, quả thực cuộc đời của nạn nhân đã được Thiên Chúa sử dụng để tỏ mình Ngài ra, giống hệt như trường hợp của người mù từ lúc mới sinh trong Phúc Âm Thánh ký Gioan (9:3).

Phải chăng cảm nhận được như vậy, nạn nhân diễm phúc này đã không còn thiết gì thế gian này nữa, vì nạn nhân được sáng mắt không phải chỉ thấy được ánh sáng tự nhiên mà nhất là thấy được chính "ánh sáng thế gian" (Gioan 8:12), một thứ ánh sáng thần linh ban sự sống đã chữa lành cho nạn nhân, và vì thế nạn nhân đã "đi theo Người, và ca tụng Thiên Chúa"?

Bản thân của nạn nhân đã trở thành một cuộc thần hiển cho Thiên Chúa tỏ mình ra, chẳng những cho chính nạn nhân, mà còn cho cả cộng đồng gần xa của nạn nhân nữa. Mục đích của Thiên Chúa ban ơn cho bất cứ một ai không phải chỉ cho riêng người đó mà còn qua người đó cho các người khác nữa. Bao giờ cũng thế. Đó là nguyên tắc và đường lối tỏ mình ra của Ngài. Bởi thế, bài Phúc Âm hôm nay đã kết luận như sau: "Thấy vậy toàn dân liền ca ngợi Thiên Chúa".

Trong khi người mù ăn xin bên vệ đường trong Bài Phúc Âm hôm nay, có thể qua chính bóng đêm bịt bùng con mắt của mình nhận ra Đấng Chữa Lành cho mình, thì có những con người sáng mắt mà lại hoàn toàn mù quáng về tâm linh, như thành phần được thuật lại trong Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay.

Phải, Bài Đọc 1 cho năm lẻ hôm nay được Giáo Hội chọn đọc cho Phụng Vụ Lời Chúa trong suốt cả Tuần XXXIII Thường Niên áp cuối tuần lễ cuối cùng của Mùa Thường Niên 34 tuần lễ hằng năm, đó là Sách Maccabê, một trong những cuốn thuộc loại sách sử trong bộ Thánh Kinh Cựu Ước 45 cuốn.

Vì Sách Maccabê 2 cuốn này thuật lại giai đoạn lịch sử của dân Do Thái sau thời lưu đầy Babylon đã tiến sang giai đoạn bị đô hộ ngay trong đất nước của mình, nhất là bị bách hại lần đầu tiên trong lịch sử, một cuộc bách hại như để thử thách đức tin của dân tộc này trước quyền lực sự dữ tấn công lề luật thánh của họ, một cuộc thử thành đã làm cho nhiều tín hữu Do Thái giáo bỏ đạo, trong khi đó vẫn còn có những tín hữu can trường bất khuất trung kiên với lề luật và chiến đấu chống lại quyền lực đàn áp đạo giáo của họ, nổi nhất là gia đình anh em Maccabê.

Trước hết, quyền lực sự dữ đô hộ dân tộc và đất nước Do Thái nhỏ bé bấy giờ được Sách Maccabê quyển 1 trong Bài Đọc 1 hôm nay cho biết thế này:

"Vua Antiôcô ra chiếu chỉ khắp nước truyền cho mọi dân hợp thành một dân và mỗi dân phải bỏ tục lệ riêng mình; tất cả các dân ngoại đều tuân lệnh nhà vua. Nhiều người Israel cũng sẵn sàng theo việc phượng tự của nhà vua, họ liền hiến tế cho ngẫu tượng và phế bỏ ngày sabbat".

Thành phần tín hữu Do Thái giáo bất trung đã tỏ thái độ chạy theo kẻ thù như được Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy như sau:

"Thời đó từ Israel cũng xuất hiện một số người bất lương mê hoặc được nhiều người, chúng nói rằng: 'Này, ta hãy giao ước với các dân ở chung quanh chúng ta, vì từ ngày chúng ta đoạn giao với các dân ấy, chúng ta đã gặp nhiều tai hoạ'. Họ cho lời nói ấy là đúng. Một số trong dân chúng hối hả đi yết kiến nhà vua và được nhà vua cho phép tuân giữ các luật lệ của dân ngoại. Họ liền xây cất một thao trường ở Giêrusalem theo tập quán của dân ngoại; họ tìm cách hủy bỏ vết tích của phép cắt bì, chối bỏ Giao Ước thánh để rồi giao ước với kẻ ngoại. Họ tự bán mình để làm sự dữ".

Thành phần tín hữu Do Thái giáo can trường bất khuất trung kiên với lề luật với bất cứ giá nào, kể cả mạng sống cao quí nhất của họ, như đoạn kết của Bài Đọc 1 hôm nay cho thấy:

"Ngày rằm tháng Kislêu, năm một trăm bốn mươi lăm, vua Antiôcô đặt một ngẫu tượng ghê tởm ngay trên bàn thờ dâng của lễ toàn thiêu. Người ta cũng lập nhiều bàn thờ khác trong các thành lân cận của Giuđa: người ta đốt hương cúng tế trước cửa nhà và ở các công trường. Hễ gặp thấy sách luật nào, họ xé nát và đem đốt đi. Nếu người ta bắt gặp sách giao ước trong nhà người nào hoặc bắt gặp kẻ nào giữ Luật Chúa, thì kẻ ấy sẽ bị xử tử theo đúng chiếu chỉ của nhà vua. Nhưng cũng có nhiều người Israel tỏ ra kiên quyết, và nhất định không ăn của gì dơ nhớp; họ thà chết chẳng thà làm cho mình ra ô uế bởi của ăn dơ và phạm đến Giao Ước thánh, và quả thực họ đã chết. Dân Israel phải chịu một cơn thịnh nộ khủng khiếp".

Tâm tình của thành phần tín hữu trung kiên trong Bài Đọc 1 hôm nay, đối với cả những người đồng hương đồng đạo bội giáo của họ cũng như với quyền lực sự dữ đang tấn công đạo giáo của họ, được phản ảnh rất trung thực trong Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Con nổi cơn uất hận vì những người tội lỗi, bọn chúng bỏ rơi luật pháp của Ngài.

2) Thừng chão bọn ác nhân đã trói buộc con, nhưng con chẳng lãng quên luật pháp của Ngài.

3) Xin Chúa cứu con khỏi người ta áp bức, để con tuân giữ các huấn lệnh của Ngài.

4) Những kẻ bách hại con cách độc ác đang tiến lại gần, bọn chúng sống xa pháp luật của Chúa.

5) Ơn cứu độ của Chúa xa bọn ác nhân, vì chúng chẳng lo giữ những thánh chỉ của Ngài.

6) Nhìn thấy những kẻ phản bội mà con chán nản, vì chúng không tuân giữ lời sấm của Ngài.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 101