mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1271
mod_vvisit_counterHôm Qua7179
mod_vvisit_counterTuần Này42019
mod_vvisit_counterTuần Trước45009
mod_vvisit_counterTháng Này121270
mod_vvisit_counterTháng Trước176027
mod_vvisit_counterTất cả10262583

We have: 68 guests online
Your IP: 54.242.94.204
 , 
Today: Feb 18, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO - THU BAY CN5TN-B PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia - Ước gì hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa, và đừng cứng lòng - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 8,1-10

"Họ ăn no nê".

Trong những ngày ấy, dân chúng theo Chúa Giêsu đông đảo, và họ không có gì ăn, Người gọi các môn đệ và bảo: "Ta thương đám đông, vì này đã ba ngày rồi, họ không rời bỏ Ta và không có gì ăn. Nếu Ta để họ đói mà về nhà, họ sẽ mệt lả giữa đường, vì có nhiều người từ xa mà đến".

Các môn đệ thưa: "Giữa nơi hoang địa nầy, lấy đâu đủ bánh cho họ ăn no".

Và người hỏi các ông: "Các con có bao nhiêu bánh?"

Các ông thưa: "Có bảy chiếc".

Người truyền dân chúng ngồi xuống đất, rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh, tạ ơn, bẻ ra và trao cho các môn đệ phân phát.

Các ông chia cho dân chúng.

Các môn đệ còn có mấy con cá nhỏ.

Người cũng đọc lời chúc tụng và truyền cho các ông phân phát.

Dân chúng ăn no nê và người ta thu lượm những miếng còn thừa lại được bảy thúng.

Số người ăn độ chừng bốn ngàn.

Rồi Người giải tán họ, kế đó Người cùng các môn đệ xuống thuyền đến miền Ðammanutha.

Ðó là Lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy nghiệm - SỐNG Lời Chúa

ĐỨC KITÔ - HÓA BÁNH RA NHIỀU

Theo bộ Phúc Âm Nhất Lãm thì Chúa Giêsu đã làm phép lạ bánh hóa ra nhiều 2 lần. Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại Chúa Giêsu hóa bánh ra nhiều lần thứ hai. Chính việc Người hóa bánh ra nhiều bởi lòng thương xót của Người với dân chúng cũng chứng thực Ngưòi thực sự là "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", hợp với chủ đề cho Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh mà hôm nay là Thứ Bảy trong Tuần Thứ V.

Đúng thế, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" này không phải chỉ tỏ mình ra qua việc Người "đầy ân sủng" ở chỗ chữa lành bệnh tật và khu trừ ma quỉ cho dân chúng, mà còn "đầy chân lý" ở chỗ giảng dạy chung dân chúng với tất cả quyền uy và thế giá của mình, cũng như ở chỗ soi lòng mở trí cho thành phần trí thức và quyền hành trong dân, như nhóm biệt phái và luật sĩ, kỳ lão và tư tế, mỗi khi họ theo dõi Người để đặt vấn đề với Người và để bắt bẻ Người.

Qua bài Phúc Âm hôm nay, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" ấy còn tỏ ra mình "đầy ân sủng" ở chỗ Người quan tâm đến cả nhu cầu ăn uống căn bản bất khả thiếu của dân chúng bằng việc hóa bánh ra nhiều nữa; trong khi đó, các môn đệ của Người hầu như chẳng ai để ý gì hết, hay có để ý đi nữa cũng không biết làm sao có thể đáp ứng nhu cầu của dân chúng, nếu quan tâm tại sao các vị không tự động đến thân thưa cùng Thày mình, như trường hợp Mẹ Maria trong tiệc cưới Cana: "Họ hết rượu rồi" (Gioan 2:3)?

Chúa Giêsu tự biết Người phải làm gì, nhưng Người muốn bao gồm cả phần của những ai theo Người nữa, thành phần đã được Người tuyển chọn để thay thế Người chăm sóc đoàn chiên của Người sau này. Trước hết bằng việc tỏ cho họ thấy mối quan tâm thương cảm dân chúng của Người: "Trong những ngày ấy, dân chúng theo Chúa Giêsu đông đảo, và họ không có gì ăn, Người gọi các môn đệ và bảo: 'Ta thương đám đông, vì này đã ba ngày rồi, họ không rời bỏ Ta và không có gì ăn. Nếu Ta để họ đói mà về nhà, họ sẽ mệt lả giữa đường, vì có nhiều người từ xa mà đến'".

Sau nữa, Người muốn chính các môn đệ của Người phải cộng tác với Người, bằng việc đóng góp một chút gì đó họ có, để chính Người biến một chút đóng góp của các vị ấy tăng lên gấp bội, đủ để đáp ứng nhu cầu của dân chúng bấy giờ: "Các môn đệ thưa: 'Giữa nơi hoang địa nầy, lấy đâu đủ bánh cho họ ăn no'. Và người hỏi các ông: 'Các con có bao nhiêu bánh?' Các ông thưa: 'Có bảy chiếc'.... Các môn đệ còn có mấy con cá nhỏ".Theo tự nhiên thì "bảy chiếc bánh" và "mấy con cá nhỏ" của các môn đệ chẳng thấm thía vào đâu với con "số người ăn độ chừng bốn ngàn". Thế nhưng, cho đến bấy giờ các vị vẫn chưa nghĩ được rằng Thày của các vị chỉ cần một chút ấy thôi vẫn có thể làm no thỏa số dân chúng ấy.

Sau hết, Người chẳng những muốn các môn đệ đóng góp vào việc Người làm, bằng tất cả những gì họ có, dù chỉ một chút xíu, dù chẳng là bao nhiêu, miễn là có thế thôi, mà còn làm thừa tác viên ban phát "ân sủng" của Người cho dân chúng nữa, vì sau này các vị chính là thừa tác viên ban phát mầu nhiệm thánh qua các bí tích, nhất là Bí Tích Thánh Thể. Đó là lý do Phúc Âm cho thấy, sau khi "Người truyền dân chúng ngồi xuống đất, rồi Người cầm lấy bảy chiếc bánh, tạ ơn, bẻ ra" thì chính Người không đích thân đi phân phát, mà "trao cho các môn đệ phân phát". Cả "mấy con cá nhỏ" cũng thế: "Người cũng đọc lời chúc tụng và truyền cho các ông phân phát". Kết quả tốt đẹp đó là: "Dân chúng ăn no nê và người ta thu lượm những miếng còn thừa lại được bảy thúng".

Chi tiết "người ta thu lượm những miếng còn thừa lại được bảy thúng" càng cho thấy "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý", Đấng ban ân sủng cho con người còn hơn cả mức độ họ cần, vì Người là "mục tử nhân lành đến cho chiên (chẳng những) được sự sống (mà còn là) một sự sống viên mãn" nữa (Gioan 10:10). Khi con người mới được Thiên Chúa tạo dựng nên, còn ở trong tình trạng công chính nguyên thủy, chưa biết đến tội lỗi là gì, bấy giờ họ mới có "sự sống" nhưng vẫn chưa phải là "sự sống viên mãn", cho tới khi "Lời đã hóa thành nhục thể và ở giữa chúng ta, chúng ta đã được thấy vinh hiển của Người, vinh hiển của Người Con duy nhất đến từ Cha, đầy ân sủng và chân lý" (Gioan 1:14).

Nếu không có "sự sống" và là "sự sống viên mãn" thì, như các Bài Đọc I cho ngày Thứ Tư và Thứ Sáu Tuần II Thường Niên ghi nhận, dù là Thánh Vương Đavít, một con người đầy lòng tin tưởng vào Chúa (điển hình là trận đấu với viên tướng vô đối thủ Goliat người Philitinh) và bác ái với địch thù của mình (điển hình là Vua Saolê tìm sát hại chàng nhưng chàng vẫn tha chết cho 2 lần), cũng có lúc sa ngã nặng nề với tội ngoại tình kèm theo cả tội sát nhân, như Bài Đọc I Thứ Sáu Tuần III Thường Niên cho thấy, hay tệ hơn nữa là Salomon, một vị vua, như Bài Đọc I cho Thứ Tư và Thứ Năm tuần này cho thầy, khôn ngoan đệ nhất thiên hạ nhưng vẫn bị tà thần ngẫu tượng của dân ngoại làm mê hoặc đến cố chấp ruồng bỏ Thiên Chúa.

Thậm chí càng tệ hơn nữa, hơn ai hết và hơn bao giờ hết, là nhân vật Giêroboam trong Bài Đọc I hôm nay, một con người được Thiên Chúa nhưng không bất ngờ chọn làm vua 10 chi tộc Israel, như Bài Đọc I hôm qua cho thấy, mà vẫn chẳng những tỏ ra vô ơn bội nghĩa với Chúa lại còn âm mưu phản lại Ngài một cách trắng trợn, như thể ông ta là chúa tể chứ không phải là Đấng đã chọn ông, chỉ vì ông ta muốn "sự sống dồi dào" một cách chủ quan và vị kỷ, nhưng lại là những gì hủy diệt chính bản thân ông cùng với tất cả triều đại của ông. Ở chỗ, như Bài Đọc I hôm nay rõ ràng ghi thuật:

"Trong những ngày ấy, Giêroboam nói trong lòng rằng: 'Giờ đây vương quốc sẽ trở về với nhà Ðavít; nếu dân này lên Giêrusalem để tế lễ trong nhà Chúa, thì lòng dân này sẽ quy thuận với chủ mình là Roboam, vua xứ Giuđa; họ sẽ giết ta và trở về với Roboam'. Bấy giờ, ông triệu tập hội nghị và đúc hai con bò vàng, ông nói với dân chúng rằng: 'Các ngươi không cần phải lên Giêrusalem nữa. Hỡi Israel, đây những vị thần minh đã dẫn ngươi ra khỏi đất Ai-cập'. Ông đặt một con bò vàng ở Bêthel và một con ở Ðan. Việc đó là dịp tội cho dân Israel, vì dân chúng lên tận Ðan để thờ con bò vàng. Ông còn xây chùa miếu trên những nơi cao, đặt các người trong dân làm tư tế, họ không phải là con cháu Lêvi. Ông chọn ngày rằm tháng tám là ngày lễ trọng, giống như lễ trọng thường cử hành trong xứ Giuđa. Ông lên bàn thờ để tế những tượng bò mà ông đã đúc, ông làm như thế ở Bêthel; cũng tại Bêthel, ông đã thiết lập hàng tư tế trong các chùa miếu mà ông đã xây cất trên những nơi cao. Sau các sự việc đó, Giêroboam chẳng những không dứt bỏ đàng tội lỗi, mà trái lại ông còn tiếp tục đặt ở những nơi cao hàng tư tế chọn trong dân chúng. Do đó, nhà Giêroboam phạm tội, bị lật đổ và xoá khỏi mặt đất".

Tuy nhiên, như tình trạng đói khổ về phần xác của dân chúng trong Bài Phúc Âm hôm nay còn được Chúa Giêsu động lòng thương đáp ứng cho họ no thỏa thế nào thì tình trạng khốn nạn phần hồn của dân Chúa, thành phần liên tục vô ơn bội nghĩa với Chúa và phản bội bất trung với Chúa, như một Giêroboam tiêu biểu trong Bài Đọc I hôm nay, vẫn đáng được Chúa thương khi họ nhận ra lầm lỗi của mình mà van xin Ngài: "Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài", với tất cả ý thức được gói gọn trong Bài Đáp Ca hôm nay như sau:

1) Chúng tôi đã phạm tội cũng như tổ phụ chúng tôi, chúng tôi đã làm điều gian ác và ăn ở bất nhân. Tổ phụ chúng tôi, khi còn ở bên Ai-cập, đã không suy xét những việc lạ lùng của Chúa.

2) Dân chúng đã đúc con bò tại Horéb, và lễ bái thần tượng đã đúc bằng vàng. Họ đem vinh quang của mình đánh đổi lấy hình tượng con bò ăn cỏ.

3) Họ đã quên Thiên Chúa là Ðấng cứu độ mình, Ðấng đã làm những điều trọng đại bên Ai-cập, Ðấng đã làm những điều kỳ diệu trên lãnh thổ họ Cam, và những điều kinh ngạc nơi Biển Ðỏ.

Đaminh Maria Cao tấn Tĩnh, BVL

------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU SAU-CN5TN-B PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia - Lạy Chúa, xin dạy bảo tôi về lối bước của Chúa và xin hướng dẫn tôi trong chân lý của Ngài. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 7, 31-37

"Người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được".

Bài trích Phúc Âm theo Thánh Marcô.

Khi ấy, Chúa Giêsu từ địa hạt Tyrô, qua Siđon đến gần biển Galilêa giữa miền thập tỉnh.

Người ta đem đến cho Người một kẻ điếc và xin Người đặt tay trên kẻ ấy.

Người đem anh ta ra khỏi đám đông, đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh.

Ðoạn ngước mắt lên trời, Người thở dài và bảo: Ephata, nghĩa là "hãy mở ra", tức thì tai anh được sõi sàng.

Chúa Giêsu liền cấm họ: đừng nói điều đó với ai cả.

Nhưng Người càng cấm, thì họ càng loan truyền mạnh hơn.

Họ đầy lòng thán phục, mà rằng: "Người làm mọi sự tốt đẹp, Người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được".

Ðó là Lời Chúa.

HỌC HỎI-Suy nghiệm - SỐNG Lời Chúa

Phải, trong Bài Phúc Âm hôm nay, Thứ Sáu Tuần V Thường Niện Hậu Giáng Sinh, đề tài "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho thời điểm phụng niên này vẫn được tỏ hiện ở câu cuối cùng được Thánh ký Marco ghi nhận như sau: "Người càng cấm, thì họ càng loan truyền mạnh hơn. Họ đầy lòng thán phục, mà rằng: 'Người làm mọi sự tốt đẹp, Người làm cho kẻ điếc nghe được và người câm nói được'".

Đúng thế, "ân sủng và chân lý" nơi "Người Con duy nhất đến từ Cha" là Chúa Giêsu Kitô này được dịp tỏ hiện ra ở những nỗi khốn cùng và bất lực của con người đáng thương, nhưng qua nhân tính của Người, một nhân tính đã được ngôi hiệp (hypostatic ) với thân tính để trở thành dấu chỉ hiện diện thần linh của Thiên Chúa, thành phương tiện tỏ mình ra của Thần Tính Chúa Kitô và thành bí tích thông ban sự sống của Thánh Linh là Đấng ban sự sống.

Đó là lý do trong bài Phúc Âm hôm nay, Thánh ký Marco đã ghi nhận từng cử chỉ Chúa Giêsu thực hiện trong việc chữa lành cho một nam nạn nhân bị điếc, những cử chỉ được diễn tiến theo một tiến trình có vẻ phức tạp làm sao ấy, không đơn giản như trường hợp Người chẳng cần gặp mặt nạn nhân thì nạn nhân cũng được chữa lành hay được trừ quỉ, như trường hợp đứa con gái bị quỉ ám của người đàn bà dân ngoại xứ Sidon trong bài Phúc Âm hôm qua.

Trong trường hợp chữa lành cho một nạn nhân chỉ bị điếc này, một tật nguyền không trầm trọng bằng bại liệt hay bị quỉ ám, thế mà Chúa Giêsu đã phải làm 5 cử chỉ liền, theo đúng thứ tự thủ tục Người cố ý làm, như được thuật lại như sau: "Người đem anh ta ra khỏi đám đông (1), đặt ngón tay vào tai anh (2) và bôi nước miếng vào lưỡi anh (3). Ðoạn ngước mắt lên trời (4), Người thở dài và bảo: Ephata, nghĩa là 'hãy mở ra' (5), tức thì tai anh được sõi sàng".

Chi tiết đầu tiên cần lưu ý ở đây là nạn nhân bị điếc này có thể bị từ bẩm sinh, nên cũng chẳng nói được, vì không nghe được từ khi mới sinh. Phải chăng vì thế mà trong nghi thức chữa lành cho nam nạn nhân bị câm điếc này, Chúa Giêsu mới kèm thêm cả cử chỉ "bôi nước miếng vào lưỡi anh", và sau khi nạn nhân được Chúa Giêsu chữa lành, thì Thánh ký Marco đã sử dụng động từ hợp với nạn nhân bị tật câm hơn bị tật điếc: "tức thì tai anh được sõi sàng" theo bản dịch Việt ngữ chúng ta trích dẫn ở đây. Nghĩa là nạn nhân có thể mở miệng ra nói một cách "sõi sàng", chứ Việt ngữ đâu bao giờ nói "tai anh được sõi sàng", một giác quan liên quan đến thính giác được chữa lành đúng ra phải nói "tai anh nghe được rõ ràng".

Không biết bản dịch Việt ngữ này dịch theo nguồn nào, nhưng theo bản dịch Anh ngữ của The New American Bible được chuyển dịch từ nguyên ngữ Thánh Kinh và được phát hành từ năm 1970, theo chiều hướng canh tân phụng vụ sau Công Đồng Chung Vaticanô II (1962-1965), thì nguyên văn của câu "tức thì tai anh được sõi sàng" ở Việt ngữ bên Anh ngữ dài dòng hơn và rõ ràng hợp lý hơn như thế này: "At once, the man's ears were opened, he was freed from the impediment and began to speak plainly", nghĩa là: "tức thì tai của người này được mở ra, anh được thoát khỏi trở ngại và bắt đầu nói năng sõi sàng" (những chữ được cố ý gạch dưới cho thấy chúng giống như ở câu dịch quá vắn gọn trong bài Phúc Âm hôm nay).

Về thể lý và phương diện tự nhiên, tật nguyền câm điếc chỉ là một tật nguyền tương đối nhẹ, so với các tật nguyền khác như phong cùi, bại liệt, quỉ ám v.v., nhưng về mặt siêu nhiên thì lại là một tật nguyền rất ư là trầm trọng, liên quan chẳng những đến đức tin cứu độ (tai nghe) mà còn đến sứ vụ rao giảng (miệng nói) làm chứng cho đức tin nữa, như vị Tông Đồ Dân Ngoại Phaolô đã khẳng định: "'Hết mọi người kêu danh Chúa đều được cứu độ'. Vậy làm sao họ có thể kêu lên Đấng mà họ không tin tưởng được chứ? Mà họ làm sao có thể tin vào Đấng mà họ không hề nghe nói đến? Và làm sao họ có thể nghe nói đến mà lại không có ai rao giảng? Rồi làm sao con người rao giảng nếu không được sai đi?" (Roma 10:13-15).

Đó là lý do, tiến trình thực hiện việc chữa lành cho nam nạn nhân câm điếc này Chúa Giêsu đã bao gồm những cử chỉ thiết yếu bất khả thiếu và bất khả phân ly như sau:

1- "Người đem anh ta ra khỏi đám đông": vì đức tin là một cảm nghiệm thần linh cá biệt giữa bản thân của từng con người với Đấng muốn mạc khải tỏ mình ra cho họ, Đấng chỉ muốn mạc khải cho từng người những gì Ngài thấy thật là thích hợp với hoàn cảnh, thân phận và ơn gọi của những ai Ngài thấy cần và đến thời điểm của Ngài - "những gì các con nghe một cách âm thầm thì hãy rao giảng trên mái nhà" (Mathêu 10:27).

2-3. "Đặt ngón tay vào tai anh và bôi nước miếng vào lưỡi anh": "Ngón tay" (Luca 11:20) được Chúa Giêsu cố ý sử dụng để chữa lành trong trường hợp nạn nhân câm điếc này đây ám chỉ"Thánh Linh" (Mathêu 12:28), Đấng mà không có Ngài thì dù con người có tai đó cũng chẳng nghe thấy gì và chẳng hiểu gì lời Chúa (xem Mathêu 13:13-14), và có miệng lưỡi đó cũng chẳng thể làm chứng cho Phúc Âm, nhất là khi bị điệu ra trước quyến lực bách hại của trần gian (xem Mathêu 10:19-20).

4-5. "Ðoạn ngước mắt lên trời, Người thở dài và bảo: Ephata, nghĩa là 'hãy mở ra', tức thì tai anh được sõi sàng": Tác động Chúa Giêsu "ngước mắt lên trời" đây cho thấy Người hướng về Cha của Người (xem Mathêu 11:25-27) mà than lên cùng Cha của Người ("emitted a groan" theo bản dịch Anh ngữ, hơn là "thở dài" theo bản dịch Việt ngữ có vẻ chán nản làm sao ấy), để Người nhân danh Cha mà chữa lành cho nạn nhân câm điếc ấy bằng việc mạc khải về Cha cho nạn nhân qua chính bản thân của Người: "Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha... không biết Cha, trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho".

Trong Bài Đọc 1 hôm nay, sự kiện "tiên tri Ahia" gặp "Giêroboam từ Giêrusalem đi ra" ở "dọc đường" và "ở ngoài đồng", để rồi "chỉ có hai người", vì sự kiện này liên quan đến một biến cố lịch sử trọng đại của dân Do Thái không ai ngờ, thì bấy giờ "Ahia cầm lấy áo choàng mới ông đang mặc, xé ra làm mười hai phần và nói với Giêroboam rằng: 'Ông hãy cầm lấy mười phần cho ông, vì Chúa là Thiên Chúa Israel phán thế này: Ðây, Ta sẽ phân chia vương quốc từ tay Salomon, và Ta sẽ cho ngươi mười chi tộc. Vì Ðavít tôi tớ Ta, và vì thành Giêrusalem mà Ta đã lựa chọn trong mọi chi tộc Israel, Ta sẽ dành cho Salomon một chi tộc'. Như thế, Israel lìa bỏ nhà Ðavít cho đến ngày nay".

Sở dĩ xẩy ra "sự cố" bất ngờ và tai hại này trong lịch sử của Dân Do Thái là vì hậu quả của triều đại Vua Salomon, như đã được chính Chúa là Đấng đã ban cho vị vua này giầu sang phú quí và khôn ngoan hơn ai hết trên trần gian này nhưng chính vua lại trở thành cuồng dại đến độ Chúa đã phải cảnh báo vua 2 lần trước khi Ngài dứt khoát quyết định thực hiện những gì Ngài phán cùng vua như được ghi lại trong Bài Đọc I hôm qua như thế này: "Bởi ngươi đã ăn ở như thế, và đã không tuân giữ giao ước và lề luật mà Ta đã truyền cho ngươi, Ta sẽ phân chia vương quốc của ngươi, và trao cho tôi tớ ngươi".

Đó là lý do Bài Đáp Ca hôm nay đã âm vang tiếng của Thiên Chúa khuyên dạy con người nói chung, "hãy nghe Ta răn bảo", nhất là những ai cứng lòng như Vua Salomon, có tai mà như điếc, đến độ trở thành câm, không dám lên tiếng ngăn cấm tà thần ngẫu tượng của cả ngàn thê thiếp vua chấp nhận theo xác thịt, một con người câm điếc, có thể nói tiêu biểu nhất cho dân Chúa, một dân tộc bị câm điếc trầm trọng, cần phải được chữa lành như nam nạn nhân câm điếc trong Bài Phúc Âm hôm nay, một dân tộc dù sao vẫn được Ngài yêu thương và liên lỉ nhắc nhở và kêu gọi họ qua các vị tiên tri, hay qua chính Thánh Vịnh ở Bài Đáp Ca hôm nay:

1) Ở nơi ngươi đừng có một chúa tể nào khác cả, ngươi cũng đừng thờ tự một chúa tể ngoại lai: vì Ta là Chúa, là Thiên Chúa của ngươi, Ta đã đưa ngươi ra ngoài Ai-cập.

2) Nhưng dân tộc của Ta chẳng có nghe lời Ta, Israel đã không vâng lời Ta răn bảo. Bởi thế nên Ta để mặc cho chúng cứng lòng để chúng sinh hoạt tuỳ theo sở thích.

3) Phải chi dân tộc của Ta biết nghe lời Ta, Israel biết theo đường lối của Ta mà ăn ở: thì lập tức Ta sẽ triệt hạ kẻ thù của chúng, và để đập tan quân địch của chúng, Ta sẽ trở tay!

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

---------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU NMA -CN5TN-B PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia - Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 7, 24-30

"Những con chó ở dưới gầm bàn cũng ăn những mụn bánh rơi của con cái"

Khi ấy, Chúa Giêsu đến địa hạt Tyrô và Siđon. Vào một nhà kia, Người không muốn ai biết mình, nhưng người không thể ẩn náu được. Vì ngay lúc đó, một bà kia có đứa con gái bị thần ô uế ám, bà nghe nói về Người liền đến phục lạy Người.

Bà đó là người dân ngoại, dòng giống Syrôphênixi và bà xin Người trừ quỷ ra khỏi con bà.

Người nói: "Hãy để con cái ăn no trước đã, vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó".

Nhưng bà trả lời và thưa Người rằng: "Thưa Thầy, đúng thế, nhưng các chó con cũng được ăn những mụn rơi dưới bàn ăn của con cái".

Người liền nói với bà: "Vì lời bà nói đó, bà hãy về; quỷ đã ra khỏi con gái bà rồi".

Khi bà về đến nhà, thì thấy cô gái nhỏ nằm trên giường và quỷ đã xuất rồi.

Ðó là Lời Chúa.

 Mark 7, 24-30

HỌC HỎI-Suy nghiệm -SỐNG Lời Chúa

ĐỨC KITÔ ĐÀNH CHỊU THUA

Bài Phúc Âm cho Thứ Năm Tuần V Thường Niên hậu Giáng Sinh hôm nay liên quan đến một đàn bà "dân ngoại", thuộc "dòng giống Syrôphênixi", ở "địa hạt Tyrô và Siđon" ngoài lãnh thổ dân Do Thái. Sở dĩ Chúa Giêsu đến vùng đất của dân ngoại này, không còn trong lãnh thổ dân Do Thái ấy, là vì "Người không muốn ai biết mình", khi Người "vào một nhà kia" ở đó.

Người có ngờ đâu rằng, nói theo kiểu trần gian, danh tiếng của ngài, như bài Phúc Âm cho Thứ Năm Tuần 2 Thường Niên đã lan khắp đất nước Do Thái, vượt cả ra ngoài biên cương bờ cõi của đất nước này nữa: "Chúa Giêsu cùng các môn đệ lui về bờ biển, đám đông từ Galilêa theo Người, và từ Giuđêa, Giêrusalem, Iđumê, bên kia sông Giođan, miền Tyrô và Siđon, nhiều kẻ đến cùng Người, khi nghe biết tất cả những việc Người đã làm".

Bởi thế, Người đã lọt vào tầm mắt theo dõi thật chuyên nghiệp trinh thám và lỗ tai nghe ngóng vô cùng thính thị của một người đàn bà dân ngoại chưa bao giờ gặp Người, như Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại: "Người không muốn ai biết mình, nhưng người không thể ẩn náu được. Vì ngay lúc đó, một bà kia có đứa con gái bị thần ô uế ám, bà nghe nói về Người liền đến phục lạy Người... xin Người trừ quỷ ra khỏi con bà".

Thật là oái oăm và nghiệt ngã thay, nhân vật lịch sử Giêsu Nazarét nào đó mà "bà nghe nói về Người", liên quan đến các phép lạ Người làm, đến quyền năng khu trừ ma quỉ của Người, đến giáo huấn khôn ngoan đầy thần lực của Người, nhất là đến tấm lòng khoan dung thương cảm dân chúng nói chung và những con người đang gặp gian nan khốn khó nói riêng, như trường hợp của bà, bấy giờ, sau khi bà tỏ thái độ "phục lạy Người" hết sức kính cẩn Người và tin tưởng vào Người, thì Người lại tỏ một thái độ quá ư là dị thường, một thái độ mà xét theo bình thường thật sự là hết sức khinh miệt kẻ khác (coi họ như chó má vậy), và là một thái độ kỳ thị chủng tộc (dân ngoại với dân Do Thái), như chính tai của bà đã nghe thấy "Người nói: 'Hãy để con cái ăn no trước đã, vì không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó'".

Không ngờ, người đàn bà dân ngoại này, thành phần vốn bị dân Do Thái khinh miệt ấy, trước con mắt thế gian, tưởng rằng bà ta chắc chắn bị gục ngay tại chỗ bởi cái độc chiêu tàn bạo ấy, một độc chiêu đánh trúng ngay vào nhân phẩm cao quí và danh dự chủng tộc của bà, bà ta vẫn không hề hấn chi, trái lại, cũng không ngờ, bà ta lại có một nội công hết sức thâm hậu, đến độ chẳng những đã chịu đòn quá giỏi "Nhưng bà trả lời và thưa Người rằng: 'Thưa Thầy, đúng thế...'", mà còn phản đòn một cách tuyệt diệu nữa: "Nhưng các chó con cũng được ăn những mụn rơi dưới bàn ăn của con cái".

Đáng lẽ câu Chúa Giêsu khen tặng viên đại đội trưởng Roma là nhân vật đã đến xin Người chữa lành cho đứa đầy tớ nam người Do Thái đang yếu bệnh liệt giường ở nhà ông: "Tôi bảo thật cho các người biết Tôi chưa hế thấy ai trong Isarael có một đức tin mạnh như vậy" (Mathêu 8:10), cũng phải được Người nói về nữ cao thủ dân ngoại thuộc "dòng giống Syrôphênixi"này. Cả viên đại đội trưởng người Roma, lẫn người đàn bà xứ Sidon trong bài Phúc Âm hôm nay, đều được như ý nguyện nhờ lòng tin của họ, và phải nói là chính lòng tin của họ đã chữa lành và trừ quỉ, bởi Chúa Giêsu không hề đến nhà của họ, không trực tiếp gặp nạn nhân của họ, mà nạn nhân được họ thương vẫn được lành mạnh hay được trừ quỉ: "'Vì lời bà nói đó, bà hãy về; quỷ đã ra khỏi con gái bà rồi'. Khi bà về đến nhà, thì thấy cô gái nhỏ nằm trên giường và quỷ đã xuất rồi".

Dân ngoại cho dù bị dân Do Thái cho là thành phần ô uế xấu xa, so với họ là thành phần được Thiên Chúa tuyển chọn và tỏ mình ra cùng ban lề luật Thánh cho, tự dân ngoại, vẫn không xấu, nếu áp dụng nguyên tắc sạch dơ của Chúa Giêsu trong Bài Phúc Âm hôm qua: từ ngoài vào không làm cho con người ra dơ bẩn mà là những cái từ trong chính con người mà ra. Chẳng hạn người đàn bà dân ngoại trong Bài Phúc Âm hôm nay có xấu đâu, trái lại, còn mạnh tin hơn chính dân Do Thái nữa. Bởi thế, nếu dân Do Thái không chấp nhận những tà thần ngẫu tượng của họ, những tà thần ngẫu tượng so với Vị Thiên Chúa chân thật duy nhất của dân Do Thái, thì các tà thần ngẫu tượng đó cũng chẳng làm gì được họ, cũng chẳng làm cho họ ra ô uế xấu xa đến độ bị Chúa ghê tởm ruồng bỏ như một Vua Salomon đầy vinh quang và khôn ngoan trần thế nhưng hoàn toàn bị mê hoặc mù quáng trong tâm hồn, như được Bài Đọc I hôm nay thuật lại:

"Khi vua Salomon đã về già, các bà vợ của ông mê hoặc lòng ông, kéo ông theo các thần dân ngoại, lòng ông không còn trọn vẹn với Chúa là Thiên Chúa của ông, như lòng Ðavít thân phụ ông. Salomon tôn thờ nữ thần Astarthê của dân Siđon, và thần Môlốc của dân Ammon. Và Salomon đã làm điều không đẹp lòng Chúa và không trọn niềm theo Chúa, như Ðavít thân phụ ông. Bấy giờ Salomon xây am trên núi đối diện với Giêrusalem cho Khanios, thần của dân Moab, và cho Môlốc, thần của dân Ammon. Ông cũng làm như thế cho tất cả các bà vợ ngoại bang của ông, để các bà dâng hương và tế lễ cho các thần của các bà. Vậy Chúa thịnh nộ với Salomon, vì tâm hồn ông đã bỏ Chúa là Thiên Chúa Israel, Ðấng đã hiện ra với ông hai lần, và cấm ông không được chạy theo các thần khác, nhưng Salomon không tuân giữ điều Chúa truyền dạy ông. Do đó, Chúa phán cùng Salomon rằng: 'Bởi ngươi đã ăn ở như thế, và đã không tuân giữ giao ước và lề luật mà Ta đã truyền cho ngươi, Ta sẽ phân chia vương quốc của ngươi, và trao cho tôi tớ ngươi'".

Bài Đáp Ca hôm nay cũng nhận định rằng nếu dân Do Thái nói chung và con người nói riêng không để cho cái xấu từ bên ngoài vào, theo phương cách khôn ngoan khổ chế được chia sẻ hôm qua, thì chẳng có tà thần ngẫu tượng nào có thể làm chủ mình, như trường hợp của Vua Salomon trong Bài Đọc I hôm nay:

2) Họ đã hoà mình với người chư dân, và học theo công việc chúng làm. Họ sùng bái tà thần của chúng, những tà thần đã hoá thành lưới dò hại họ.

3) Họ đã giết những người con trai và con gái, để làm lễ cúng tế quỷ thần. Chúa đã bừng cơn thịnh nộ với dân tộc, và tởm ghét phần gia nghiệp của Ngài.

Đó là lý do câu đầu tiên của Bài Đáp Ca hôm nay mới cho biết ai là người có phúc và nguyện xin rằng:

1) Phúc cho ai tuân giữ những lời huấn lệnh, và luôn luôn thực thi điều công chính. Lạy Chúa, xin nhớ chúng con khi gia ân huệ cho dân Ngài; xin mang ơn cứu độ đến thăm viếng chúng con.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

-------------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO = THU TU-07-2-2018 PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia - Chúa phán: "Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết.- Alleluia.

Phúc Âm: Mc 7,14-23

"Những gì từ con ngùi ta xuất ra, đó là cái làm cho người ta ra ô uế"

Khi ấy, Chúa Giêsu lại gọi dân chúng mà bảo rằng: "Hết thảy hãy nghe và hiểu rõ lời Ta. Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế. Chỉ có những gì từ con người ta xuất ra, chính những cái đó mới làm cho họ ra ô uế. Ai có tai để nghe thì hãy nghe".

Lúc Người lìa dân chúng mà về nhà, các môn đệ hỏi Người về ý nghĩa dụ ngôn ấy.

Người liền bảo các ông: "Các con cũng mê muội như thế ư? Các con không hiểu rằng tất cả những gì từ bên ngoài vào trong con người không thể làm cho người ta ra ô uế được, vì những cái đó không vào trong tâm trí, nhưng vào bụng rồi xuất ra".

Như vậy Người tuyên bố mọi của ăn đều sạch.

Người lại phán: "Những gì ở trong người ta mà ra, đó là cái làm cho người ta ô uế. Vì từ bên trong, từ tâm trí người ta xuất phát những tư tưởng xấu, ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, lăng loàn, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng.

Tất cả những sự xấu đó đều ở trong mà ra, và làm cho ngươì ta ô uế".

Ðó là Lời Chúa.

HỌC HỎI- Suy nghiệm -SỐNG Lời Chúa

Bài Phúc Âm cho Thứ Tư tuần 5 Thường Niên Hậu Giáng Sinh hôm nay liên quan đến bản thân của con người ta và những gì làm cho con người ra nhơ bẩn. Theo Lời Chúa Giêsu phán dạy cho các tông đồ ở bài Phúc Âm hôm nay thì "Những gì ở trong người ta mà ra, đó là cái làm cho người ta ô uế. Vì từ bên trong, từ tâm trí người ta xuất phát những tư tưởng xấu, ngoại tình, dâm ô, giết người, trộm cắp, tham lam, độc ác, xảo trá, lăng loàn, ganh tị, vu khống, kiêu căng, ngông cuồng. Tất cả những sự xấu đó đều ở trong mà ra, và làm cho ngươì ta ô uế".

Nếu những gì xuất phát từ nội tâm của con người mới làm cho họ ra ô uế xấu xa thì ngược lại những gì từ ngoài vào không thể nào làm cho họ ra ô uế, như chính Chúa Kitô đã khẳng định trong cùng bài Phúc Âm hôm nay: "Không có gì từ bên ngoài vào trong con người mà có thể làm cho họ ra ô uế". Vì, như Người dẫn giải thêm cho các môn đệ khi ở riêng với các vị: "tất cả những gì từ bên ngoài vào trong con người không thể làm cho người ta ra ô uế được, vì những cái đó không vào trong tâm trí, nhưng vào bụng rồi xuất ra". Căn cứ vào đó, Thánh ký Marcô đã thêm chi tiết kết luận như sau: "Như vậy Người tuyên bố mọi của ăn đều sạch".

Tuy nhiên, thực tế cho thấy, những cái ở ngoài vào trong con người không phải chỉ có đồ ăn thức uống, là những gì qua cửa miệng của con người, mà còn bao gồm cả những thứ khác nữa, như hình ảnh qua mắt của con người, hay lời nói qua tai của con người, hoặc xúc giác kích thích qua làn da của con người, 3 giác quan có thể thu thập những cái xấu xa hay gương mù gương xấu từ bên ngoài xã hội vào trong tâm trí bên trong: chẳng hạn những hình ảnh xấu, những lời nói xấu hay những sờ mó xấu. Thế nhưng, vấn đề ở đây là nếu con người chấp nhận những cái xấu từ bên ngoài bất khả tránh trên thế gian này ấy thì chúng mới có tác dụng xấu đến nội tâm của họ.

Vấn đề tiếp theo vấn đề trên là con người khó đề phòng và ngăn cản nổi những hình ảnh xấu, những lời nói xấu và những đụng chạm xấu bất ngờ xẩy ra cho mình, dù mình không muốn, để rồi sau đó những chất liệu xấu từ ngoài đó một khi đã lọt qua mắt, qua tai và qua xúc giác của họ, họ bị chúng ám ảnh, bị chúng quấy nhiễu, trở thành như những chước cám dỗ khiến họ khó lòng mà chống trả, thậm chí chúng đã làm cho nội tâm của họ ra xấu bằng những ý nghĩ xấu kèm theo ước muốn xấu, chẳng hạn như ngoại tình trong lòng (xem Mathêu 5:28).

Bởi thế, vấn đề khổ chế mới được đặt ra để giải quyết hai vấn đề then chốt trên đây. Nếu chúng ta biết chúng ta không thoát khỏi, dụ chẳng có ý tìm kiếm, hoàn toàn bất ngờ, bị ảnh hưởng và chi phối bởi những thứ xấu xa từ bên ngoài vào, qua thị giác của chúng ta, hay quá thính giác của chúng ta, hoặc qua xúc giác của chúng ta, đến độ làm cho chúng ta bối rối, bất an, thậm chí sa ngã phạm tội... thì buộc chúng ta phải thực hành phương cách bất khả thiếu vô cùng cần thiết đó là khổ chế giác quan. Một khi đã khổ chế giác quan rồi mà vẫn thỉnh thoảng còn bị cái xấu bên ngoài lọt vào bên trong chúng ta vào một lúc nào đó thì nó cũng khó lòng chi phối chúng ta dễ dàng và mạnh mẽ như trước, bởi chúng ta đã cố ý tránh né nó rồi.

Chỉ có những tâm hồn Kitô hữu nào thực sự nhận biết mình vô cùng yếu đuối mới chịu khó và cẩn thận thực hành việc khổ chế khó khăn này có vẻ cổ hủ này. Nhờ đó họ có thể giữ tâm hồn trong trắng và mới dễ dàng sống cuộc đời "vô tội", hay cùng lắm chỉ "vô tình" tác hành xấu xa một chút nào đó hay vào một lúc nào đó thôi. Nếu nhờ khổ chế, không tò mò nhìn những gì không thực sự cần thiết, không đọc hay xem những cái chẳng giúp ích mấy cho đời sống thiêng liêng, không nghe những gì khiến bản thân bị phân tâm, không đụng chạm hay để mình bị đụng chạm gây xúc cảm không tốt, cho dù bất lịch sự v.v. mà Kitô hữu có được một đời sống nội tâm và bình an thì phải công nhận họ là một con người khôn ngoan.

Sự khôn ngoan của Vua Salomon trong Bài Đọc I hôm nay được nữ hoàng Saba hết lời khen tặng: "Thật đúng như lời tôi nghe đồn trong xứ tôi về các công trình và sự khôn ngoan của ngài. Và lúc đó tôi không tin những điều người ta kể cho tôi, cho tới khi tôi đến đây, chính mắt tôi đã trông thấy, và tôi quả quyết rằng những điều đồn đại tôi nghe chưa bằng một phân nửa. Sự khôn ngoan và các công trình của ngài còn vĩ đại hơn tiếng đồn tôi đã nghe. Phúc cho thần dân của ngài, và phúc cho các cận vệ của ngài, luôn luôn được ở trước mặt ngài và nghe lời khôn ngoan của ngài. Chúc tụng Thiên Chúa của ngài là Ðấng yêu thương ngài, và đặt ngài lên ngôi báu Israel. Vì Chúa yêu quý Israel muôn đời, nên đã đặt ngài làm vua, để ngài cai trị công minh chính trực".

Tuy nhiên, sự khôn ngoan của vua dầu sao cũng vẫn ở lãnh vực tự nhiên hơn siêu nhiên. Bởi thế mà sau này, cho dù có khôn ngoan trước mặt trần gian đến như thế, có thể nói vô tiền khoáng hậu như vậy, vua vẫn không khôn ngoan trước nhan Thiên Chúa, vẫn không tỏ ra khôn ngoan về đời sống đức tin và thiêng liêng, đến độ, như Bài Đọc I ngày mai cho thấy, vua đã trắng trợn ruồng bỏ chính Đấng đã ban cho vua sự khôn ngoan mà theo các thứ tà thần ngẫu tượng của thành phần thê thiết của vua. Đó là lý do, Bài Đáp Ca hôm nay mới nhấn mạnh đến khía cạnh đạo lý nơi tất cả những gì xuất phát từ "miệng người hiền thuyết đức khôn ngoan":

1) Bạn hãy phó thác đường lối mình cho Chúa, hãy trông cậy vào Người và để chính Người hành động. Người sẽ làm cho chính nghĩa bạn sáng như bình minh, và quyền lợi bạn tỏ như giờ ngọ.

2) Miệng người hiền thuyết đức khôn ngoan, và lưỡi người nói điều đoan chánh. Luật Thiên Chúa ở trong lòng người, và bước chân người không xiêu té.

3) Người hiền được Chúa ban ơn cứu độ, trong cơn khốn khó, Người là chỗ họ dung thân. Chúa bang trợ và giải thoát họ, Người giải thoát và cứu họ khỏi lũ ác nhân, vì họ đã nương tựa vào Người.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 
HOC HOI DE SONG DAO - THU BA-CN5TN-B PDF Print E-mail

Alleluia, alleluia! - Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy. - Alleluia.

Phúc Âm: Mc 7, 1-13

"Các ngươi gác bỏ một bên các giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục phàm nhân".

Khi ấy, những người biệt phái và mấy luật sĩ từ Giêrusalem tụ tập lại bên Chúa Giêsu, và họ thấy vài môn đệ Người dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch, nghĩa là không rửa trước. Vì theo đúng tập tục của tiền nhân, những người biệt phái và mọi người Do-thái không dùng bữa mà không rửa tay trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước. Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa, như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng. Vậy những người biệt phái và luật sĩ hỏi Người: "Sao môn đệ ông không giữ tập tục của tiền nhân mà lại dùng bữa với những bàn tay không tinh sạch?" Người đáp: "Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi, như lời chép rằng: "Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người". Vì các ngươi bỏ qua các giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục loài người: rửa bình, rửa chén và làm nhiều điều như vậy". Và Người bảo: "Các ngươi đã khéo bỏ giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục của các ngươi. Thật vậy, Môsê đã nói: "Hãy thảo kính cha mẹ", và "ai rủa cha mẹ, sẽ phải xử tử". Còn các ngươi thì lại bảo: "Nếu ai nói với cha mẹ mình rằng: Những của tôi có thể giúp cha mẹ được là Corban rồi (nghĩa là của dâng cho Chúa)", và các ngươi không để cho kẻ ấy giúp gì cho cha mẹ nữa. Như thế các ngươi huỷ bỏ lời Chúa bằng những tập tục truyền lại cho nhau. Và các ngươi còn làm nhiều điều khác giống như thế".

Ðó là lời Chúa.

HỌC HỎI- Suy nghiệm- SỐNG Lời Chúa

Đức Kitô Dạy Luật

Hôm nay, Thứ Ba Tuần V Thường Niên, Bài Phúc Âm vẫn tiếp tục chủ đề "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" cho chung Mùa Thường Niên hậu Giáng Sinh kéo dài tới Thứ Tư Lễ Tro mở đầu Mùa Chay hằng năm.

Nếu trong Bài Phúc Âm hôm qua, "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" tỏ mình ra, đúng hơn, thông mình ra, hay thông ban ân sủng của mình ra qua việc chữa lành bệnh nạn tật nguyền, thậm chí bằng cả gấu áo của Người cho những ai tin tưởng chạm đến gấu áo ấy, thì trong Bài Phúc Âm hôm nay, Người tỏ mình ra "là chân lý" (Gioan 14:6), Người thông ban chân lý của Người và từ Người ra cho những ai mù quáng, hay nói cách khác, Người mang chân lý đến cho những ai về tâm linh cần chữa lành cái vô thức hay mù quáng của họ, như những người bị bệnh nạn tật nguyền về phần xác cần được Người chữa lành về thể lý vậy.

Thật thế, thành phần mù quáng về tâm linh cần được "Người Con duy nhất đến từ Cha... đầy ân sủng và chân lý" chữa lành cho đó là "những người biệt phái và mấy luật sĩ từ Giêrusalem", tức là thành phần giữ luật, thông luật và dạy luật thuộc loại thế giá, thế lực, thuộc loại chính qui, chính gốc, bởi họ có dính dáng tới giáo đô "Giêrusalem", như thể các vị giáo sĩ ở các nước Công giáo trên khắp thế giới ngoài Âu Châu và Tây phương, như ở Á Châu hay Phi Châu hoặc Mỹ Châu Latinh có bằng cấp ở Giáo đô Roma vậy.

Thành phần biệt phái và luật sĩ thuộc loại chính hiệu "made in Jerusalem" này đã bị khuyết tật hay bị mắc tật nguyền bẩm sinh di truyền mù quáng này ở chỗ nào, nếu không phải ở chỗ đúng như lời Chúa Giêsu nhận định và khiển trách họ trong bài Phúc Âm hôm nay:

"Hỡi bọn giả hình, Isaia thật đã nói tiên tri rất chí lý về các ngươi, như lời chép rằng: Dân này kính Ta ngoài môi miệng, nhưng lòng chúng ở xa Ta. Nó sùng kính Ta cách giả dối, bởi vì nó dạy những giáo lý và những luật lệ loài người".

Phải, cái tật nguyền mù quáng của họ là ở chỗ "giả hình", bôi bác ngoài "môi miệng" chứ không thật "lòng", sống một cuộc đời "giả dối", ở chỗ "dạy những giáo lý và những luật lệ loài người", như những gì được Thánh ký Marco liệt kê trong Bài Phúc Âm hôm nay: "không dùng bữa mà không rửa tay trước, và ở nơi công cộng về, họ không dùng bữa mà không tắm rửa trước. Họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa, như rửa chén, rửa bình, rửa các đồ đồng".

Đáng lẽ, nếu thực sự xứng danh là thành phần thông luật thì họ phải nắm bắt được tất cả sự thật của luật và về luật, liên quan đến mục đích của luật và tinh thần của luật, từ đó họ mới có thể dạy luật cho dân chúng hiểu mà theo, để cả họ lẫn dân đều giữ luật đúng với những gì Thiên Chúa là Đấng ban luật qua Moisen mong muốn.

Đằng này, chính vì họ coi trọng loài người hơn Thiên Chúa, hay nói ngược lại, coi Thiên Chúa không bằng loài người, coi giá trị nhân bản cao hơn giá trị thần linh, như chính Chúa Giêsu nhận định "các ngươi bỏ qua các giới răn Thiên Chúa, để nắm giữ tập tục loài người: rửa bình, rửa chén và làm nhiều điều như vậy", mà họ đã giảng dạy một cách sai lầm, điển hình là họ đã dạy sai lạc điều răn thảo kính cha mẹ trong 10 Điều Răn Chúa dạy, như Chúa Giêsu đã vạch ra cho họ thấy trong Bài Phúc Âm hôm nay:

"Thật vậy, Môsê đã nói: 'Hãy thảo kính cha mẹ', và 'ai rủa cha mẹ, sẽ phải xử tử'. Còn các ngươi thì lại bảo: 'Nếu ai nói với cha mẹ mình rằng: Những của tôi có thể giúp cha mẹ được là Corban rồi (nghĩa là của dâng cho Chúa)', và các ngươi không để cho kẻ ấy giúp gì cho cha mẹ nữa. Như thế các ngươi hủy bỏ lời Chúa bằng những tập tục truyền lại cho nhau. Và các ngươi còn làm nhiều điều khác giống như thế".

Sở dĩ thành phần chính hiệu Giêrusalem biệt phái và luật sĩ thông luật trong bài Phúc Âm hôm nay bị Chúa Giêsu vạch trần bộ mặt giả hình và lối sống giả dối của họ ra như vậy là vì họ đã dẫn giải sai ý nghĩa của lề luật liên quan đến ý của Đấng ban lề luật cho con người, và những dẫn giải của họ hoàn toàn theo khuynh hướng tự nhiên muốn sống hưởng thụ và dễ chịu hơn là hy sinh và chịu khó, kể cả đối với những bậc sinh thành dưỡng dục họ.

Hiện tượng và tình trạng thiên lệch đầy chủ quan và vị kỷ này của "những người biệt phái và luật sĩ từ Giêrusalem" này cũng không có gì là khó hiểu, bởi vì một khi họ coi nhẹ Thiên Chúa, coi luật của Ngài không bằng tục lệ loài người, thì cha mẹ loài người của họ cũng đâu có giá trị gì đối với họ mấy nữa.

Và như thế, ở một nghĩa nào đó, họ đã lấy họ làm cùng đích, khi họ coi luật lệ của Thiên Chúa chỉ là phương tiện để họ hưởng thụ, ở chỗ, một đàng bề ngoài họ có vẻ tuân thủ kỹ lưỡng lề luật đấy, nhưng về tinh thần họ lại tuân thủ lề luật một cách chủ quan, nghĩa là, việc họ giữ luật là đường lối tinh ranh để họ có thể nhờ đó thỏa mãn ý riêng của họ một cách chính đáng, và như thế và nhờ thế họ mới có thể làm chủ lề luật, thay thế vị trí của chính Đấng lập luật và ban luật cho họ.

Vua Solomon trong Bài Đọc 1 cho Năm Chẵn hôm nay đã cảm nhận rất chí lý trong lời vua nguyện cầu dâng lên Thiên Chúa: "Lạy Chúa là Thiên Chúa Israel, trên trời dưới đất, không có thần nào giống như Chúa. Chúa giữ lời giao ước và lòng từ bi đối với các tôi tớ đang thành tâm đi trước mặt Chúa. Nhưng ai dám nghĩ rằng: quả thật Thiên Chúa ngự ở trần gian? Vì nếu trời và các tầng trời còn không thể chứa được Chúa, huống chi ngôi nhà con xây cất đây!"

Đúng vậy, trước hết, chính vì "trên trời dưới đất, không có thần nào giống như Chúa", nên loài người nói chung, nhất là dân Chúa là thành phần được Ngài tỏ mình ra cho dọc suốt giòng lịch sử cứu độ của họ, bao gồm cả việc Ngài ban lề luật của Ngài cho họ, chẳng những không được theo một tà thần nào khác, mà còn không được tạo nên các thứ ngẫu tượng của mình thay thế Ngài, hay nói ngược lại, không được nhân tạo hóa Thiên Chúa là Đấng đã tỏ mình ra theo ý nghĩ chủ quan nông cạn của họ, điển hình là khuynh hướng dẫn giải lề luật của Ngài hoàn toàn thuần nhân bản như trong Bài Phúc Âm hôm nay.

Sau nữa, "nếu trời và các tầng trời còn không thể chứa được Chúa, huống chi ngôi nhà con xây cất đây!", theo nghĩa bóng, còn có nghĩa là loài người hữu hình và hữu hạn không thể nào thấu suốt được Thiên Chúa, nên không thể giam nhốt Ngài trong lòng trí chủ quan và vốn thiên lệch của mình, trái lại, Ngài sẽ thật sự ở với họ và ngự trong họ một khi họ thành tâm tìm kiếm và phụng thờ Ngài "trong tinh thần và chân lý" (Gioan 4:24), vì như Vua Solomon cảm nhận rất đúng trong Bài Đọc 1 hôm nay, Ngài là Vị "Chúa giữ lời giao ước và lòng từ bi đối với các tôi tớ đang thành tâm đi trước mặt Chúa".

Bài Đáp Ca hôm nay cũng theo chiều hướng chung của phụng vụ Lời Chúa hôm nay nói chung và Bài Đọc 1 nói riêng, ở chỗ, linh hồn chỉ sống hạnh phúc khi sống trong "nhà Chúa" (câu 2) hay ở "hành làng nhà Chúa" (câu 3) hoặc ở "ngưỡng cửa nhà Chúa" (câu 3) mà thôi, chứ không phải là nhà của mình là ý riêng của mình, hay ở hành lang nhà mình là khuynh hướng chủ quan của mình, hoặc ở ngưỡng cửa nhà mình là những việc làm giả hình của mình.

1) Linh hồn tôi khát khao và mòn mỏi, mong vào hành lang nhà Ðức Thiên Chúa. Tâm thần và thể xác tôi hoan hỉ tìm đến cùng Thiên Chúa trường sinh.

2) Ðến như chim sẻ còn kiếm được nhà, và chim nhạn tìm ra tổ ấm, để làm nơi ấp ủ con mình, cạnh bàn thờ Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa thiên binh, Ôi Ðại Vương và Thiên Chúa của con.

3) Ôi Thiên Chúa, phúc đức ai ngụ nơi nhà Chúa: họ sẽ khen ngợi Chúa tới muôn đời. Thuẫn đỡ cho chúng con, xin hãy nhìn xem, lạy Thiên Chúa, xin hãy đoái nhìn mặt Ðức Kitô của Người.

4) Thực, một ngày sống trong hành lang nhà Chúa, đáng quý hơn ngàn ngày ở nơi đâu khác. Con ưa đứng nơi ngưỡng cửa nhà Chúa con, hơn là cư ngụ trong lều bọn ác nhân.

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

---------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 112