mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay430
mod_vvisit_counterHôm Qua14515
mod_vvisit_counterTuần Này36598
mod_vvisit_counterTuần Trước45900
mod_vvisit_counterTháng Này214077
mod_vvisit_counterTháng Trước192249
mod_vvisit_counterTất cả8450628

We have: 119 guests online
Your IP: 54.161.96.152
 , 
Today: May 26, 2017

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 367 =CON NGUOI DUOC TU DO PDF Print E-mail

CON NGƯỜI CÓ THỰC SỰ ĐƯỢC TỰ DO VỀ MẶT THIÊNG LIÊNG KHÔNG ?

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

Hỏi :

Xin cha giải thích giúp : người ta có thực sự được tự do trong việc chọn lựa sống theo Chúa hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng mình ?

Trả lời :

Tôi đã hơn một lần nói rõ là con người có ý muốn tự do ( free will) để hoặc chọn sống theo đường lối của Thiên Chúa để được chúc phúc, và nhất là được cứu độ để vào Nước Trời, nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Giê su-Kitô., hay phải xa Chúa đời đời trong nơi gị là hỏa ngục.

Thật vậy, vấn đề tự do của con người được đặt ra vì có liên quan mật thiết đến sự thưởng phạt của Thiên Chúa dành riêng cho mỗi người trong ngày sau hết của một đời người hay trong ngày cánh chung của toàn thể nhân loại, tức ngày tận thế..

Nghĩa là , việc thưởng phạt của Thiên Chúa chỉ đặt riêng cho con người là tạo vật có lý trí và ý muốn tự do, khác biệt với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn mà thôi.

Vậy căn cứ vào đâu để quả quyết rằng con người có ý muốn tự do mà Thiên Chúa đã ban tặng và hoàn toàn tôn trọng cho con người xử dụng bao lâu còn sống trên trần thế này ?

Đúng thế,Thiên Chúa đã tạo dựng con người với hai đặc tính cá biết khác với mọi loài thụ tạo khác. Đó là có trí hiểu biết và ý muốn tự do ( Intelligence and free will) mà Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con người. Nhờ trí khôn hiểu biết, con người khám phá ra Thiên Chúa qua công trình sáng tạo vụ trụ hữu hình và đặc biết là tạo dựng con người là loài " linh ư vạn vật". Nhờ quà tặng ý muốn tự do, Thiên Chúa tôn trọng cho con người được tự do chọn lựa sống theo lý trí , theo đường ngay lẽ phải hay theo đường nẻo gian tà bất chính.Nói khác đi, khi đã nhận biết có Thiên Chúa thì con người có muốn sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo ý muốn của riêng mình trong suốt đời sống trên trần gian này.

Để trả lời cho câu hỏi trên , Kinh Thánh tân và cựu ước cho ta những bằng chứng cụ thể về tự do của con người như sau:.

Trước hết , Sách Sáng Thế, cho ta biết, khi Thiên Chúa muốn thử thách tự do vâng phục của Adam và Eva, nên Người đã phán bảo họ như sau :

" Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái cây của cây cho biết điều thiện điều ác Thì ngươi không được ăn ;vì ngày nào ngươi ăn, ngươi sẽ phải chết. " ( St 2:16-17).

Kết quả cho thấy là hai ông bà đã tự do chọn không vâng phục Thiên Chúa khi họ ăn trái cấm theo lời dụ dỗ của con Rắn.Phải nói họ tự do chọn lựa không vâng phục Thiên Chúa nên họ đã
chịu hậu quả trước tiên là " măt hai người mở ra và họ thấy mình trần truồng , họ mới kết lá và làm khố che thân." (St 3:7)

Nhận biết mình trần truồng là hậu quả nhãn tiền sau khi đã đánh mất " sự ngây thơ , công chính ban đầu (original innocence and justice)"..một tình trạng ơn phúc giúp cho Adam và Eva có thể đứng vững trước mọi cám dỗ của xác thịt và ma quỉ. Nhưng họ đã tự đánh mất ơn phúc đó khi sa ngã vì đã sử dụng " ý muốn tự do =( free will) chứ không vì bản chất yếu đuối do hậu quả của tội nguyên tổ như con người chúng ta ngày nay.

Chính vì Eva đã sử dụng ý muốn tự do khi nghe lời dụ dỗ của con rắn để ăn trái cấm và đưa lại cho Adam ăn khiến hai người bị đuổi khỏi vườn địa đàng và chịu hậu quả của sự bất phục tùng Thiên Chúa là phải chết về mặt thiêng liêng vì mất tinh thân với Chúa.

Ngược lại, khi Thiên Chúa thử thách lòng tin yêu của Abraham bằng cách đòi ông hy sinh con một của mình là I-xa-ác, ông đã xử dụng ý muốn tự do để quyết định tuân theo ý muốn của Thiên Chúa khi dẫn con lên núi và định giết nó làm lễ toàn thiêu dâng lên Thiên Chúa. Nhưng Chúa đã kịp thời sai Sứ thần can thiệp để cứu mang sống của I-xa-ác vì đã thấy lòng tin yêu của Abraham. Chính vì ông đã tự do chọn lựa vâng theo thánh ý Chúa, nên Chúa đã phán bảo ông như sau:

" Ta lấy danh Ta mà thề : bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi, sẽ làm cho dòng dõi ngươi đông nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển....chính bởi vì ngươi đã vâng lời Ta." (St 22: 15-18)

Như thể đủ cho thấy là ngay từ đầu Thiên Chúa đã cho con người có tự do thực sự để vâng nghe lời Người như Abraham hay bất tuân như Adam và Eva khiến cho toàn thể nhân loại phải chịu chung hậu quả của sự chọn lựa sai trái của hai người .

Nếu con người không có tự do lựa chọn và chỉ biết làm theo mệnh lệnh như những người máy Robbots thì Thiên Chúa đã không nói trước cho Adam và Eva biết về hậu quả mà họ sẽ phải lãnh nhận nếu họ ăn trái cấm.

Vì cho họ có tự do lựa chọn nên Thiên Chúa đành để cho hai người phải chịu hậu quả của sự bất tuân là mất tình thân với Chúa và di hại đến toàn thể nhân loại cho đến ngày nay.

Mặt khác, cũng vì Thiên Chúa cho con người có tự do và tôn trọng cho con người sử dụng tự do đó mà Thiên Chúa đã ban những Giới Răn của Người cho dân Do Thái trước tiên và cho toàn thể nhân loại ngày nay-nói chung- được tự do tuân giữ để được chúc phúc hay tự do bất tuân để bị luận phạt như ông Môsê đã nói với dân Do Thái xưa kia như sau:

" Anh em hãy lo thực hành như ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em .Không đi trệch bên phải bên trái.Anh em hãy đi đúng con đường mà ĐỨC CHÚA,Thiên Chúa của anh em đã truyền cho anh em để anh em được sống, được hạnh phúc và được sống lâu trên mặt đất mà anh em đã được chiếm hữu." ( Đnl 5: 32-33)

Như thể cho thấy rõ là nếu con người sử dụng ý muốn tự do của mình để tuân giữ những giới răn của Thiên Chúa thì sẽ được chúc phúc ngay trong cuộc sống ở trần gian này trước khi được vui hưởng Thánh Nhan Chúa mai sau trên Nước Trời.

Cũng trong mục đich hướng dẫn con người biết khôn ngoan chọn lựa khi sống trên đời này mà tác giả sách Huấn Ca ( Sirach) đã được linh ứng (inspired) để đưa ra những lời khuyên nhủ như sau :

" Từ nguyên thủy, chính Chúa đã làm nên con người.

Và để nó tự quyết định lấy

" Nếu con muốn thì hãy giữ các điều răn
mà trung tín làm đẹp ý Người
Trước mặt con, Người đã đặt lửa và nước
Con muốn gì, hãy đưa tay ra mà lấy
Trước mặt con người là cửa sinh cửa tử
Ai thích gì sẽ được cái đó..." ( Hc 15: 14-17)

Lời khuyên trên cho ta thấy rõ là con người có tự do để làm điều lành và tránh điều dữ, điều trái với lương tâm , một cơ năng mà Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con ngươi để nhờ đó con người ở khắp nơi và thuộc mọi chủng tộc ngôn ngữ biết phân biện giữa sự thiện và sự dữ để chọn lựa trong cuộc sống trên trần gian này.

Đó cũng là lý do tại sao Chúa Giê su đã nói với các môn đệ xưa và cung nói với bạn và tôi hôm nay:

" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa ! lậy Chúa"! là được vào Nước Trời cả đâu.Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." Mt 7: 21)

Thi hành ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa là xử dụng ý muốn tự do tự do để chọn sống theo ý muốn của Cha trên trời , sồng theo đường lối của Người là đường dẫn đến sự sống muôn đời; thay ví sống theo thế gian, chiều theo những đòi hỏi bất chánh của xác thịt để làm những sự dữ như giết người, giết thai nhi ,hận thù, khủng bố, tôn thờ tiền của, buôn bán thân xác của phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn và tội lỗi như thực trạng sống của biết bao người trong thế giới tục hóa ngày nay.

Đó là lý do phải có Thiên Đàng để dành cho những người tự do sống theo đường lối của Chúa và phải có hỏa ngục để dành cho những kẻ khước từ Chúa để làm những sự dữ sự tội điều gian ác , tội lỗi dẫn đến sự chết của linh hồn vì phải xa lìa Chúa trong nơi gọi là " hỏa ngục". Thiên Chúa không muốn phạt ai trong nơi đáng sợ này vì ' Người muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1 Tm 2 :4) ).

Nhưng vì con người có tự do để chọn lựa sống theo thánh ý Chúa hay quay lưng lại với Người nên những ai đã và đang chối bỏ Thiên Chúa bằng chính đời sống của mình từ trong tư tưởng ra ngoài hành động thì chắc chắn đã tự chọn cho mình chỗ ở cuối cùng là hậu quả tất nhiên của ý muốn tự do ( free will). Nói khác đi,, nếu ai muốn dùng tự do của mình để theo đuổi một mục tiêu nào thì sẽ phải trả giá cho sự chọn lựa đó như Thánh Phaolô đã dạy sau:đây:

" Anh em không biết sao ? Khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai thì anh em là nô lệ của người mà anh em vâng phục : hoặc làm nô lệ tội lỗi thì sẽ phải chết, hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa thì sẽ được nên công chính." ( Rm 6: 16)

Tuy nhiên ,cũng cần nói thêm ở đây một lần nữa là mặc dù con người có tự do để quyết định làm điều lành tránh điều gian ác, điều tội lỗi, nhưng tự do ấy cũng bị hạn chế vì bản chất yếu đuối nơi con người do hậu quả của tội nguyên tổ. Nghĩa là, con người luôn bị dằng co giữa tiếng nói của lương tâm, của lý trí và những khuynh hướng hay thế lực nghiềng chiều về đường xấu , đường tội lỗi vẫn hoạt động song song và mạnh mễ bên cạnh lương tâm và lý trí. Đó chính là tình trạng "mâu thuẫn" mà con người luôn phải tranh đấu trong nội tâm để có thể sống theo sự dướng dẫn của lý trí và lương tâm để biết dùng tự do của mình cách chính đáng, hữu ích.

Thánh Phaolô cũng đã trải qua kinh nghiệm "khó khăn nội tâm" đó nên ngài đã phải thú nhận như sau :

" Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm., nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi lại cứ làm. Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì không còn phải là chính tôi làm điều đó nhưng là tội vẫn còn trong tôi." (Rm.7 : 19-20)

Chính vì những khó khăn nội tại như vậy , kèm thêm sự cám dỗ mãnh liết của ma quỉ " kẻ thù của anh em như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" ( 1 Pr 5:8), như Thánh Phêrô đã dạy, nên cho được đứng vững để tự do bước đi theo Chúa Kitô là Đường, là sự Thật và là sự Sống( cf.Ga 14:6) chúng ta khẩn thiết phải cần ơn Chúa để có thể can đảm chọn lựa những gì hữu ích cho phần rỗi của mình , vì " không có Thầy, anh em chẳng làm gì được." ( Ga 15: 5). Nghĩa là với ơn Chúa giúp sức cộng thêm thiện chí đóng góp của cá nhân thì con người sẽ thắng vượt mọi trở ngại và biết sống cách đẹp lòng Chúa để được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn; vì Người là Cha nhân lành đầy lòng thương xót và luôn sẵn lòng ban ơn cần thiết cho những ai muốn sống theo đường lối của Người để đi vào cõi sống hạnh phúc muôn đời mai sau trên Nước Trời..

Nhưng cho được cứu rỗi nhờ công nghiệp vô giá của Chúa Kitô, chúng ta cần tỏ thiện chí muốn dùng tự do để cộng tác với ơn Chúa trong quyết tâm từ bỏ tội lỗi, xa tránh những lối sống của " văn hóa sự chết" đang lan tràn ở khắp nơi trên thế giới ngày nay. Nếu không có thiện chí và quyết tâm này thì Chúa không thể cứu ai được, vì Người phải tôn trọng tự do của con người : tự do đi đường sai trái gian tà hay tự do đi theo Chúa dẫn đến sự sống và hạnh phúc bất diệt trên cói vĩnh hằng.

Tóm lại, bằng chứng Kinh thánh nêu trên đủ cho ta biết con người có tự do thật sự để yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự, hay tự do khước từ Người , dủng dưng lời Chúa mời gọi vào tham dự Bàn Tiệc Nước Trời đã dọn sẵn cho những ai muốn hưởng niềm vui bất tận là chính Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Kitô.

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

--------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO# 366 =NIEM TIN VA CAY TRONG PDF Print E-mail

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ

GIÁO LÝ VỀ NIỀM TIN TƯỞNG CẬY TRÔNG

BUỔI TRIỀU KIẾN CHUNG THỨ TƯ 19-4-2017

Bài 19

"... một biến cố bất khả chối cãi, một biến cố không phải là thành quả suy niệm của một con người khôn ngoan nào đó, mà là một sự kiện, một sự kiện đơn thuần đã can thiệp vào đời sống của một số người. Kitô giáo được phát xuất từ đó. Nó không phải là một ý hệ; nó không phải là một trường phái triết lý, mà là một hành trình đức tin được bắt đầu từ một biến cố, một biến cố được các người môn đệ tiên khởi của Người chứng kiến thấy".

"Kitô giáo là ân ban, là những gì ngỡ ngàng bàng hoàng, và vì thế mới cần có một tấm lòng có khả năng về những gì bàng hoàng ngỡ ngàng. Một con tim khép kín, một con tim lý sự thì không thể cảm thấy bàng hoàng ngỡ ngàng, và không thể nào hiểu được bản chất thế nào là Kitô giáo".

Xin chào anh chị em thân mến!

Hôm nay chúng ta gặp gỡ nhau trong ánh sáng của Lễ Phục Sinh, một lễ chúng ta đã cử hành và tiếp tục cử hành bằng phụng vụ. Trong hành trình về niềm tin tưởng cậy trông Kitô giáo, hôm nay tôi muốn nói với anh chị em về Chúa Kitô Phục Sinh, niềm tin tưởng cậy trông của chúng ta, như Thánh Phaolô cho thấy về Người ở Bức Thư Thứ Nhất gửi Giáo Đoàn Corintô (xem Đoạn 15).

Vị Tông Đồ này muốn ổn định một vấn đề thật sự đã trở thành tâm điểm bàn luận ở cộng đồng Corintô này. Vấn đề Phục Sinh là vấn đề tranh cãi cuối cùng được đề cập đến trong bức thư này, thế nhưng, có lẽ, theo thự tự tính cách quan trọng của vấn đề thì nó lại là vấn đề quan trọng nhất, ở chỗ hết mọi sự đều lệ thuộc vào giả định này.

Khi nói với thành phần Kitô hữu của mình, Thánh Phaolô bắt đầu từ một biến cố bất khả chối cãi, một biến cố không phải là thành quả suy niệm của một con người khôn ngoan nào đó, mà là một sự kiện, một sự kiện đơn thuần đã can thiệp vào đời sống của một số người. Kitô giáo được phát xuất từ đó. Nó không phải là một ý hệ; nó không phải là một trường phái triết lý, mà là một hành trình đức tin được bắt đầu từ một biến cố, một biến cố được các người môn đệ tiên khởi của Người chứng kiến thấy. Thánh Phaolô đã tóm gọn nó như thế này, đó là Chúa Giêsu đã chết vì tội lỗi của chúng ta, đã được chôn táng và vào ngày thứ ba Người đã sống lại và hiện ra với Phêrô cũng như với 12 Vị (xem 1 Corinto 15:3-5). Đó là một sự kiện: Người đã chết, đã được chôn táng, đã sống lại và đã hiện ra, tức là Chúa Giêsu đang sống! Đó là tâm điểm của sứ điệp Kitô giáo.

Khi loan báo biến cố này, một biến cố là tâm điểm của đức tin, Thánh Phaolô trên hết đã nhấn mạnh đến yếu tố cuối cùng của mầu nhiệm vượt qua, tức là đến Chúa Giêsu phục sinh. Thật vậy, nếu mọi sự được kết thúc ở nơi cái chết thì chúng ta thấy ở nơi Người một tấm gương hy hiến cao cả nhất, thế nhưng điều này không làm phát sinh ra đức tin của chúng ta. Người là một vị anh hùng. Không phải thế! Người đã chết nhưng lại phục sinh vì đức tin xuất phát từ biến cố Phục Sinh. Việc chấp nhận Chúa Kitô đã chết đi và Người đã chết trên thập tự giá, không phải là một tác động đức tin; nó là một sự kiện lịch sử. Trái lại, việc tin tưởng Người đã phục sinh mới là (tác động đức tin). Đức tin của chúng ta được xuất phát từ sáng Phục Sinh. Thánh Phaolô đã liệt kê những con người được Chúa Giêsu hiện ra (xem các câu 5-7). Ở đây chúng ta có một tổng hợp nho nhỏ về tất cả những trình thuật vượt qua cũng như về tất cả những người liên hệ tới Đấng Phục Sinh. Ở đầu bảng liệt kê là Cephas, tức Phêrô, và nhóm 12, sau đó tới "500 anh em" mà nhiều người trong họ có thể cống hiến chứng từ của mình, rồi Giacôbê được đề cập tới. Người cuối cùng trong bảng liệt kê này - vì bất xứng nhất trong tất cả mọi người - là chính bản thân thánh nhân. Thánh Phaolô nói về mình như là "một kẻ sinh non" (xem câu 8).

Thánh Phaolô sử dụng việc bày tỏ này là vì tiểu sử của ngài là một lịch sử thê thảm: ngài không phải là một chú giúp lễ, mà là một tên bắt bớ Giáo Hội, hãnh diện về những niềm xác tín của mình; ngài cảm thấy mình như là một con người đã được sinh ra, với một ý nghĩa rất thanh khiết về đời sống phải ra sao theo các phận vụ của nó. Tuy nhiên, nơi bức tranh toàn vẹn này - hết mọi sự đều toàn hảo nơi Phaolô, chàng đã biết hết mọi sự - nơi bức tranh toàn hảo về đời sống này, một ngày kia có điều đã xẩy ra hoàn toàn bất ngờ, đó là cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu Phục Sinh, trên đường đến Damasco. Ngài chẳng những là một con người bị ngã xuống đất ở đó, ngài còn là một con người bị chộp bắt bởi một biến cố đã làm đảo lộn ý nghĩa của cuộc đời. Thế rồi kẻ bách hại đã trở thành một vị Tông Đồ, tại sao? Vì tôi đã thấy Chúa Giêsu đang sống! Tôi đã từng thấy Chúa đang sống! Đó là nền tảng của đức tin nơi Thánh Phaolô, như nó là nền tảng đức tin của các vị Tông Đồ khác, của Giáo Hội và của đức tin chúng ta...........

Là Kitô hữu nghĩa là không bắt đầu từ sự chết mà từ tình yêu thương của Thiên Chúa đối với chúng ta, tình yêu thương đã đánh bại kẻ thù dữ dội nhất của chúng ta. Thiên Chúa là Đấng cao cả lớn lao hơn tất cả mọi sự, và chỉ cần người ta thắp nến lên thì đủ xua tan tăm tối nhất của đêm đen. Thánh Phaolô đã kêu lên, âm vang lời của các vị tiên tri, đó là "Ôi sự chết, chiến thắng của người ở đâu? Ôi sự chết, cái nọc chết chóc của người đâu rồi?" (câu 55). Trong những ngày này, chúng ta hãy ấp ủ trong lòng mình tiếng kêu ấy. Và nếu chúng ta được hỏi về lý do tại sao chúng ta tươi cười và về việc chúng ta nhẫn nại chia sẻ thì chúng ta có thể đáp lại rằng Chúa Giêsu vẫn ở nơi đây, Người tiếp tục sống giữa chúng tôi, Chúa Giêsu đang ở nơi đây, tại Quảng Trường này, với chúng tôi: Người đang sống và đã sống lại.

https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-risen-christ- our-hope/

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch

----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 365 = XUNG TOI VOI CHUA PDF Print E-mail


CÓ ĐƯỢC XƯNG TỘI VỚI CHÚA MÀ KHÔNG CẦN QUA TRUNG GIAN CỦA LINH MỤC ?

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Hỏi :

Xin cha giải thích rõ :

1- Các mục sư Tin Lành cũng dạy phải ăn năn tội rồi xin Chúa tha thứ.Như vậy Chúa có tha mà không cần phải xưng tội qua một linh mục như Giáo Hội dạy hay không ?

2- Khi nào được phép xưng tội tập thể ?

Trả lời :

Như tôi đã có đôi lần nói rõ là chỉ có trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mới có đầy đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mà Chúa Kitô đã thiết lập và ban cho Giáo Hội xử dụng để thánh hóa và ban ơn cứu độ của Chúa cho những ai muốn lãnh nhận để được cứu rỗi.

Liên quan đến Bí Tích hòa giải ( penance= reconciliation) Chúa Kitô đã ban quyền tha tội cho các Tông Đồ và cho Giáo Hội tiếp tục sứ mệnh Tông Đồ như sau :

" anh em tha cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." ( Ga 20: 23)

Như thế rõ ràng cho thấy là Chúa muốn cho con người phải chạy đến với những người trung gian thay mặt Chúa là các Tông Đồ xưa kia và các vị thừa kế các Tông Đồ ngày nay là các Giám Mục trong Giáo hội để nhận lãnh ơn tha thứ qua bí tích Hòa giải. Các giám mục lại ban quyền tha tội này cho các linh mục là những cộng sự viên thân cận trực thuộc cũng được chia sẻ Chức linh Mục đời đời của Chúa Kitô. ( Linh mục chia sẻ một phần, Giám Mục chia sẻ trọn vẹn Chức Linh Mục đó).

Nếu chỉ cần xưng tội trưc tiếp với Chúa mà không qua trung gian ai thì Chúa Giêsu đã không nói với các Tông Đồ những lời trên đây sau khi Người từ cõi chết sống lại và hiện ra với các ông, cũng như trước đó đã không phán bảo Phêrô những lời sau đây :

" Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời. Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên Trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo gỡ điều gì , trên trời cũng sẽ tháo gỡ như vậy." ( Mt 16: 19)

Với quyền to lớn trên đây, Giáo Hội- cụ thể là Đức Thánh Cha- có quyền ra hình phạt nặng nhất là vạ tuyệt thông ( ex-communication) và tháo gỡ vạ này.

Như vậy, muốn được ơn tha thứ của Chúa, thì buộc phải xưng tội cá nhân với một linh mục đã được chịu chức thành sự ( validly) và đang có năng quyền ( priestly Faculties) được tha tội nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi). Sở dĩ thế, vì nếu một linh mục đang bị Giám mục của mình rút năng quyền - hay gọi nôm na là bị treo chén ( suspension. x. giáo luật số 1333)- thì tạm thời không được phép cử hành bí tích này và các bí tích khác cho đến khi được trao lại năng quyền đầy đủ .( trừ trường hợp khẩn cấp nguy tử thì linh mục – dù đang bị "treo chén" vẫn được phép tha tội cho hối nhân đang lâm nguy mà không tìm được linh mục khác để xưng tội và lãnh phép lành sau hết. (x. giáo luật số 976).

Giáo lý và giáo luật của Giáo Hội cũng dạy phải xưng tội cá nhân với một linh mục như sau:

" Thú nhận tội lỗi của mình với vị linh mục là một điều chủ yếu của bí tích Giải tội.Khi xưng tội, các hối nhân phải kể ra tất cả các tội trọng mà mình biết đã phạm, sau khi xét mình cách nghiêm chỉnh, dù các tội này rất kín đáo và chỉ phạm đến hai giới răn sau cùng của bản thập giới; bởi vì các tội này làm cho linh hồn bị trọng thương hơn hết , và nguy hiểm hơn các tội ta phạm mà người khác biết rõ."( x, SGLGHCG số:1456; giáo luật số 960).

Như thế chắc chắn không thể nói như anh em Tin Lành là chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà không cần qua trung gian của ai. Dĩ nhiên Chúa tha tội khi ta thực tâm sám hối và xin Chúa thứ tha. Nhưng vẫn cần phải xưng tội với một linh mục thay mặt Chúa để tha tội, vì Chúa đã ban quyền ấy cho các Tông Đồ trước tiên và cho Giáo Hội ngày nay.

Nghĩa là khi Giáo Hội thi hành lời Chúa để cử hành các bí tích- cách riêng bí tích Hòa giải để tha tội cho con người nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi), thì chúng ta phải nghe và tuân theo ý muốn của Giáo Hội, cũng là ý muốn của Chúa, là xưng tội với một linh mục để nhận lãnh ơn tha thứ của Chúa qua trung gian của các thừa tác viên con người là Giám mục và linh mục. Đây là điều các anh em Tin Lành không đồng ý với chúng ta nên họ dạy các tín đồ của họ chỉ cẩn xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.

Dĩ nhiên khi ta xưng tội với một linh mục, thì cũng xưng tội với Chúa để xin Người tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Và đây là ý muốn của Chúa Giêsu khi Người trao quyền tha tội cho các Tông Đồ xưa và cho Giáo hội ngày nay. Và đó là tất cả ý nghĩa lời Chúa dạy sau đây:

" ai nghe anh em là nghe Thầy.
Ai khước từ anh em là khước từ Thầy
Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)

Kinh nghiệm thiêng liêng của mỗi người chúng ta cho ta biết rằng mỗi khi xưng tội – đặc biệt là tội trọng- cách thành thật và với tinh thần sám hối , thì ta cảm thấy nhẹ nhõm và an vui trong tâm hồn, một cảm giác mới lạ của an vui sung sướng, khác hẳn với tâm tình sẵn có trước khi xưng tội. Điều này chứng minh cụ thể là Chúa đã tha thứ cho ta qua trung gian của linh mục. Ngược lại, khi có tội trọng hay nhẹ mà chỉ xin Chúa tha thứ nhưng không đi xưng tội, thì không bao giờ cảm nghiệm được sự an vui nội tâm như khi xưng tội với một linh mục và nhận lãnh ơn tha thứ ( absolution).

Các anh em tin Lành không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, dù cho họ có ca tụng lòng thương xót của Chúa, có sám hối nội tâm và xin Chúa tha thứ mà không đi xưng tội như người Công giáo. Họ không đi xưng tội vì trước hết họ không công nhận vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc ban phát các ơn sủng của Chúa cho con người, cho nên họ chủ trương đi thẳng tới Chúa là vì vậy.

Vả lại, tất cả các nhánh Tin Lành và Anh Giáo ( Anglican Comm) đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nên không có chức linh mục và giám mục để cử hành hữu hiệu các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức dầu bệnh nhân và truyền Chức Thánh. Chính vì họ không có chức linh mục hữu hiệu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể và tha tội cho ai được. Đó là lý do tại sao họ giảng dạy chỉ cần xưng tội trực tiếp với Chúa vì họ cho rằng các thừa tác viên con người như linh mục và giám mục không có năng quyền tha tội cho ai như Giáo Hội Công Giáo tin và dạy..

Tóm lại, là người Công giáo, chúng ta phải nghe và thi hành những gì Giáo Hội là Mẹ dạy bảo thay mặt Chúa Kitô để bỏ ra ngoài tai những gì không phù hợp với giáo lý, tín lý, luân lý và phụng vụ của Giáo Hội.

2- Khi nào được xưng tội tập thể ( communal confessions) ?

Thông thường thì phải xưng tội cá nhân, nghĩa là xưng tội riêng với một linh mục sau khi đã xét mình nghiêm chỉnh và sám hối nội tâm.

Tuy nhiên, trong thực tế, có những hoàn cảnh mà linh mục không thể giải tội cá nhân cho nhiều người trong một thời lượng hạn chế. Thí dụ, khi có thiên tai, bão lụt, đắm tầu hay động đất gây nguy tử cho nhiều người ở một địa phương nào, khiến linh mục không thể có đủ giờ để nghe từng hối nhân muốn xưng tội trong những hoàn cảnh ấy.

Lại nữa, trong những dịp trọng đại như Lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh và Lễ Phục Sinh là những dịp có rất nhiều người muốn xưng tội. Nhưng chỉ có một mình cha xứ phải làm mục vụ cho một giáo xứ lớn hay nhiều xứ nhỏ họp lại,thì không thể nào giải tội cá nhân cho một số lớn hối nhân trong một thời gian ngắn được. Do đó, vì nhu cầu mục vụ và vì lợi ích thiêng liêng của giáo dân, linh mục được phép cử hành bí tích hòa giải tập thể. Nghĩa là cho gom giáo dân lại và giúp họ xét mình, thống hối ăn năn, rồi ban phép tha tội tập thể cho họ. Nhưng việc này phải được phép trước của giám mục giáo phận.

Vì thế, ở mỗi giáo phận, giám mục địa phận sẽ cho phép trường hợp nào có thể giải tội tập thể. Nghĩa là, linh mục không thể tự ý giải tội tập thể mà không có phép của giám mục giáo phận; trừ trường hợp nguy tử như đắm tầu, động đất, chiến tranh, khiến nhiều người- trong đó có người công giáo- có thể chết mà không kịp xưng tội cá nhân. Nên nếu linh mục có mặt, thì được phép giải tội tập thể cho các tin hữu công giáo trong cơn nguy tử đó. Nhưng dù được tha tội tập thể trong những trường hợp trên, nếu ai xét mình có tội trọng thì- sau khi qua cơn nguy biến- vẫn buộc phải xưng tội cá nhân sau đó với linh mục. ( giáo luật số 961-62).

Ước mong giải đáp trên đây thỏa mãn những câu hỏi đặt ra.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

-----------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 364 =CONG GIAO-CHINH THONG-TIN LANH PDF Print E-mail

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

HAPPY EASTER.

Hỏi:

Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.v

Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.

Trả lời:

Như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là Kitô Giáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra khiến Kitô Giáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Comm) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.

Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I- Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính ( sound doctrines) , tinh tuyền của Kitô Gíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo. Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo La Mã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo Hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã ly khai không còn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)

Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 5 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 ( đã về hưu năm 2012) đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống Nga vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo.

Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See - Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong khi em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội Kitô Giáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).

Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây:

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".

Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.

Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople khi đó là Athenagoras I năm 1966.

Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.

Chính vì Giáo Hội Chính Thống có đủ các bí tích hữu hiệu như Công Giáo, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu của Chính Thống nếu không tìm được nhà thờ Công Giáo hay linh mục Công giáo.

2- Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu thuộc mọi nền văn hóa, chủng tộc khác nhau, trong đó có tiếng Viêt Nam.

3- Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).

Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã.

Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiệp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).

Vì Chính Thống Giáo có đủ bảy bí tích hữu hiệu, nên giáo dân Công Giáo được phép tham dự Thánh Lễ và lãnh các bí tích hòa giải và sức dầu ở nhà thờ và các linh mục Chính Thống, nếu không tìm được nhà thờ và linh mục Công Giáo nơi mình cư ngụ.

II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh Kitô Gíáo đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó. Hiện nay có hàng chục ngàn giáo phái này ở Mỹ, hoạt động với nhiều danh xưng khác nhau, nhưng cùng ít nhiều có liên hệ đến nguồn gốc thệ phản ( protestantism) nói trên. Một đặc điểm của các giáo phải Tin Lành là họ không có hệ thống giáo quyền ( Hierachy) chung như Giáo Hội Công Giáo có hàng giáo phẩm tối cao từ trung ương Roma cho đến các giáo hội địa phương ở mỗi quốc gia. Các nhánh Tin Lành hầu như độc lập với nhau về quyền bính, tài chính và phương thức hành đạo.

1- Ở góc độ thần học:

Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).

Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị. Do đó, chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura).

Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ: "không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).

Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.

Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng Kinh Thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và kinh thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác. Điển hình, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng kinh thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo hội Công Giáo.

Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi Ai dưới đất là Cha, là Thầy .". anh em Tin Lành hiểu lời Chúa trong ngữ cảnh (context) câu trên hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là 'lạc giáo-heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.

Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).

Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ và các môn đệ của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.

Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.

3- về bí tích:

Tất cả các nhóm Tin Lành đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession)- và quan trọng hơn nữa, người sáng lập của họ là người thường chứ không phải là chính Chúa Giêsu-Kitô, Đấng đã lập Giáo Hội của mình trên Đá Tảng Phêrô.( Mt 16: 18-19). Cho nên các nhánh Tin Lành đều không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.

Đa số các nhóm Tin Lành này chỉ có phép rửa ( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) như nhóm Bahai Hullah, thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người dự tòng.(catechumens). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.

Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (comm) và hiệp nhất ( unity) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Tông đồ Phêrô, do Đức Thánh Cha, cũng là Giám Mục Roma coi sóc và lãnh đạo với sự cộng tác và vâng phục trọn vẹn của Giám Mục Đoàn. (College of Bishops).

Ước mong những giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi đặt ra.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

----------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 363 = CHUA KITO CO PHUC SINH? PDF Print E-mail

CHÚA KITÔ CÓ THỰC SỰ SỐNG LẠI...?

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Thưa Có: 1 – Ở Các Lần Hiện Ra

Theo tín lý và phụng vụ thì Phục Sinh là mầu nhiệm quan trọng nhất của Kitô giáo. Bởi vì, nếu Chúa Kitô không sống lại thì tất cả mọi sự chẳng còn gì là thần linh, chẳng còn gì là mạc khải từ trời, chẳng còn gì là thánh kinh, chẳng còn gì là đức tin cứu độ nữa (xem 1Corinto 15:13-14). Bấy giờ, nhân vật lịch sử mang tên Giêsu Nazarét chỉ thuần là một phàm nhân, chẳng khác gì và chẳng hơn gì các vị giáo tổ khác, mà còn là một tay ma đầu nhất thế giới, bởi dám quả quyết rằng mình sống lại nhưng bất khả, nhưng không bao giờ xẩy ra, và vì thế đã thực sự không thể nào cứu được mình, không thể nào xuống khỏi thập tự giá bị chính quyền đế quốc Rôma đóng đanh vào đó.

Thế nhưng, mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô sẽ chẳng còn ý nghĩa hay giá trị gì nữa, nếu thiếu mất Biến Cố Hiện Ra của Người sau khi Người từ trong kẻ chết sống lại, một biến cố, theo tính chất khẩn thiết bất khả thiếu, cũng quan trọng không kém như thậm chí ở một khía cạnh nào đó còn mầu nhiệm phục sinh là mầu nhiệm bất khả phân ly với biến cố hiện ra của Người. Bởi nếu Người không hiện ra sau khi sống lại thì kể như, đối với riêng các tông đồ và chung dân Do Thái, lịch sử nhân loại vẫn không có một vị Thiên Chúa đã hóa thân làm người và đã cứu chuộc nhân loại bằng Cuộc Vượt Qua của Ngài nơi Con Ngài là Chúa Giêsu Kitô.

Chúa Giêsu Kitô bởi thế không thể nào không hiện ra sau khi Người sống lại, mục đích duy nhất và chính yếu đó là để làm sao chứng thực được rằng Người quả thực chẳng những là Đấng Thiên Sai, Đấng đã được sai đến để cứu Dân Người nói riêng và nhân loại nói chung khỏi tội lỗi và sự chết, mà Người còn là Thiên Chúa thật, Đấng hằng sống, không ai có thể tiêu diệt Người, trái lại, Người đã chiến thắng sự dữ nơi con người và của con người là thành phần đã cùng nhau (cả Dân Do Thái lẫn Dân Ngoại đại diện cho toàn thể nhân loại) tàn ác sát hại Người.

Trong Tuần Bát Nhật Phúc Sinh, Giáo Hội chọn đọc các bài Phúc Âm liên quan tới những lần hiện ra của Chúa Kitô Phục Sinh:

Thứ Hai, Phúc Âm Thánh Mathêu 28:8-15 thuật lại lần Chúa Giêsu hiện ra với các phụ nữ đến thăm mộ của Người từ tảng sáng trong khi các bà chạy đi báo tin cho các tông đồ về những gì các bà nghe thấy thiên thần nói với các bà về Đấng các bà tìm đã sống lại;

Thứ Ba, Phúc Âm Thánh Gioan 20:11-18 thuật lại lần Chúa Giêsu hiện ra với Chị Mai Đệ Liên trong khi chị đang tìm xác của Người ở ngoài mồ, tức là ngay sau bài Phúc Âm Chúa Nhật (Jn 20:1-9) thuật lại việc chị ra mồ, thấy xác Thày không còn thì chạy về báo tin cho tông đồ Phêrô và Gioan hay, rồi sau đó tiếp tục ở lại mồ khi hai vị tông đồ này đã ra mồ và trở về;

Thứ Tư, Phúc Âm Thánh Luca 24:13-35 thuật lại lần Chúa Giêsu hiện ra với 2 môn đệ đang đi về làng Emmau vào buổi chiều, để rồi sau khi nhận ra Người, hai vị chạy về báo tin cho các tông đồ;

Thứ Năm, Phúc Âm Thánh Luca 24:35-48 thuật lại lần Chúa Giêsu hiện ra với 11 tông đồ vào buổi tối ngày thứ nhất trong tuần, (ngay sau đoạn Người hiện ra với 2 môn đệ đi Emmau), đoạn trình thuật này cũng được Phúc Âm Thánh Gioan nhắc đến (x. Jn 20:19-23), nhưng ở hai khía cạnh khác nhau liên quan đến sứ vụ làm chứng của các tông đồ (theo Phúc Âm Thánh Luca) và thừa tác vụ thánh hóa (theo Phúc Âm Thánh Gioan);

Thứ Sáu, Phúc Âm Thánh Gioan 21:1-14 thuật lại lần Chúa Giêsu hiện ra với 7 tông đồ vào tảng sáng ở bờ hồ Tibêria để tỏ mình ra cho các vị qua mẻ cá lạ các vị bắt được vị nghe theo lời Người chỉ dẫn sau cả đêm thất bại, và "đó là lần thứ ba" được Phúc Âm Thánh Gioan thuật lại;

Thứ Bảy, Phúc Âm Thánh Marcô 16:9-15 thuật lại thứ tự 3 lần Chúa Giêsu hiện ra vào ngày thứ nhất trong tuần: trước hết với Chị Mai Đệ Liên, sau đó với 2 môn đệ trên đường về làng Emmau, và sau hết với 11 tông đồ.

Về các lần hiện ra của Chúa Kitô sau khi Người sống lại từ trong kẻ chết, có thể căn cứ vào Phúc Âm Thánh Marcô, như Cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô trong Tuần Thánh được căn cứ chính yếu vào bố cục của đoạn trình thuật về biến cố này theo Phúc Âm Thánh Gioan.

Thật vậy, Thánh Ký Marcô (16:9-14), như bài Phúc Âm cho Thứ Bảy trong tuần Bát Nhật Phục Sinh cho thấy, đã thuật lại thứ tự 3 lần Chúa Giêsu hiện ra vào ngày thứ nhất trong tuần: trước hết với Chị Mai Đệ Liên, sau đó với 2 môn đệ trên đường về làng Emmau, và sau hết với 11 tông đồ.

Thánh Ký Gioan còn thuật lại thêm 2 lần sau đó nữa, một lần với 11 tông đồ vào 8 ngày sau (x Jn 20:26-29), và một lần với 7 tông đồ ở bờ hồ Tibêria (x Jn 21:1-14).

Cuối cùng, Thánh Ký Mathêu thuật lại lần hiện ra sau hết ở Galilêa vào lúc Người thăng thiên về trời cùng Cha (x Mt 28:16-20).

Như thế, các Phúc Âm thuật lại 6 lần Chúa Giêsu hiện ra sau khi Người phục sinh, 3 trong 4 lần có đầy đủ 11 vị tông đồ: lần nhất vào buổi tối ngày thứ nhất trong tuần (x Lk 24:36; Jn 20:19), lần thứ hai vào buổi tối 8 ngày sau đó (x Jn 20:26), và lần thứ ba ở Galilêa khi Người thăng thiên về trời cùng Cha (x Mt 28:16-17).

Tuy nhiên, theo thứ tự 3 lần hiện ra của Chúa Giêsu trong ngày thứ nhất trong tuần được Thánh Ký Marcô thuật lại thì không thấy lần Chúa Giêsu hiện ra với các phụ nữ trên đường các bà chạy về báo tin cho các tông đồ, như Thánh Mathêu thuật lại trong bài Phúc Âm cho ngày Thứ Hai trong Tuần Bát Nhật Phục Sinh.

Về trường hợp của các người phụ nữ ra thăm mồ Chúa ngay từ tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần này, Phúc Âm Nhất Lãm cho biết những chi tiết khác nhau nhưng ăn khớp với nhau như sau:

1- tảng đá lớn lấp cửa mộ của Chúa đã được một vị thiên thần, xuất hiện qua một trận động đất, lăn ra khỏi cửa mồ (x Mt 28:2);

2- các bà được thiên thần báo tin Đấng các bà tìm kiếm đã sống lại rồi và các bà cần phải về báo tin cho các tông đồ (x Mt 28:5-7; Mk 16:6-7; Lk 24:4-7 - riêng Thánh Luca ở đây không thuật lại lời thiên thần bảo các bà về báo tin cho các tông đồ);

3- các bà đang chạy về báo tin cho các tông đồ thì Chúa Giêsu hiện ra với các bà (x Mt 28:8-10), trong khi đó Thánh Marcô thuật lại là các bà sợ quá nên không nói với ai (x Mk 16:8), nhưng Thánh Ký Luca lại cho biết rằng các bà đã về báo cho các tông đồ biết song các vị không tin, tuy nhiên tông đồ Phêrô chạy ra mồ xem sao và tỏ ra bỡ ngỡ (x Lk 24:11-12).

--------------------------------

 
<< Start < Prev 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Next > End >>

Page 2 of 82