mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6229
mod_vvisit_counterHôm Qua6723
mod_vvisit_counterTuần Này36308
mod_vvisit_counterTuần Trước54956
mod_vvisit_counterTháng Này184439
mod_vvisit_counterTháng Trước242206
mod_vvisit_counterTất cả11149032

We have: 64 guests online
Your IP: 54.166.141.12
 , 
Today: Jun 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 86 = CUNG VAI, AN UONG DO CUNG PDF Print E-mail

CÓ ĐƯỢC CÚNG VÁI, DÂNG ĐỒ ĂN ĐỒ UỐNG CHO NGƯỜI CHẾT KHÔNG?

HỎI: Nhân tháng cầu cho các linh hồn,(tháng 11) xin cha vui lòng giải đáp thắc mắc mắc sau đây :
1-Người Công giáo phải làm gì để giúp các linh hồn đã ly trần?
2-Có được phép mang đồ ăn, đồ uống như rượu bia và trái cây ra đặt ở mộ thân nhân chôn ngoài nghĩa trang, hay bày đồ ăn trên bàn thờ ông bà, cha mẹ nhân ngày giỗ, tết không?

TRẢ LỜI: Những người theo Đạo thờ ông bà (Tổ tiên) hay các tôn giáo khác thì tin là vong hồn những người chết có thể về với con cháu sau khi chết. Vì thế, con cháu thường mang theo đồ ăn, đồ uống ra đặt ngoài nghĩa trang nơi an nghỉ của người quá cố. Đặc biệt, đến ngày giỗ, Tết, con cháu thường làm một mâm cỗ với của ngon vật lạ để dâng lên bàn thờ người quá cố cùng với nhang đèn để cúng vái, trước khi hạ cỗ cho con cháu hưởng chung. Đây là tục lệ có từ lâu đời trong xã hội ViệtNam. Là người Công giáo, chúng ta tôn trọng, và không dám phê bình niềm tin của người khác.

Tuy nhiên, là tín hữu Chúa Kitô, thì ngược lại, chúng ta không tin có sự trở về của linh hồn người quá cố để ăn uống chung vui cách vô hình nào đó với con cháu, anh em còn sống. Giáo lý Công giáo dạy rõ như sau về số phân của một người sau khi chết :
"Mỗi người lãnh nhận trong linh hồn bất tử của mình phần trả công muôn đời cho mình. Ngay sau khi chết, trong một cuộc phán xét riêng, chiếu theo cuộc sống của mình hướng về Chúa Kitô, để hoặc sẽ trải qua một cuộc thanh luyện, hoặc lập tức bước vào hưởng diễm phúc trên trời, hoặc lập tức bị án phạt đời đời." (x. SGLGHCG, số 1022)

Như vậy, theo lời dạy trên của Giáo Hội , thì linh hồn của một người đã chết có thể được vào ngay Thiên Đàng để vui hưởng Thanh Nhan Chúa, hoặc phải xa lìa Chúa đời đời trong nơi gọi là hoả ngục (hell). Hay phải "tạm trú" một thời gian trong nơi gọi là "Luyện tội = Purgatory" để được thanh luyện cho sạch khỏi mọi vết nhơ của tội lỗi đã được tha qua bí tích hòa giải nhưng hậu quả còn để lại mà chưa đền bù cho đủ khi còn sống. Nên cần được tinh luyện cho sạch trước khi được vào hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.

Như thế rỏ ràng cho thấy là không có trường hợp nào linh hồn những người quá cố còn có thể về chung vui cách vô hình đời sống con người trên trần thế với con cháu được nữa.Lại càng vô lý hơn nữa , khi có người cho rằng các linh hồn có thể trở về xin Rửa tội vì đã không được lãnh nhận bí tích này khi còn sống. Điều này hoàn toàn trái với giáo lý của Giáo Hội trích dẫn trên đây.

Từ xưa đến nay và ở khắp mọi nơi, người ta đã nói nhiều về những hiện tượng "ma quái" quấy phá trong nhà sau khi có người chết, hoặc linh hồn người chết hiện về với thân nhân trong giấc mơ để van xin điều này, hoặc cảnh cáo con cháu việc khác v.v. Trước sự kiện này, Giáo Hội cho đến nay vẫn giữ thái độ im lặng, không đưa ra một giáo lý nào để giải thích ý nghĩa của những sự kiện khác thường đó, mà chỉ dạy giáo hữu phải cầu nguyện, làm việc lành, hoặc xin lễ cầu cho các linh hồn, cách riêng trong tháng 11 mà thôi. Đây là việc bác ái có giá trị cứu giúp các linh hồn đang ở nơi luyện tội để giúp họ mau chóng được tha hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc được chiêm ngưỡng Thánh Nhan Chúa cùng với các thánh nam nữ ở đây.

Nhưng chắc chắn là Giáo Hội không dạy hay khuyến cáo chúng ta phải mang đồ ăn, đồ uống ra nghĩa trang đặt nơi mộ phần của thân nhân đã qua đời, hay dâng mâm đồ ăn trên bàn thờ người quá cố trong những ngày giỗ tết.

Tuy nhiên, vì lòng thảo kính, thương nhớ, giáo dân ngày nay được phép đốt nhang, đèn, nến và trưng hoa trước bàn thờ tổ tiên hay nơi mộ phần của thân nhân để nói lên lòng yêu mến, tôn kính và thương nhớ đối với những người thân đã ly trần.

Nhưng tuyệt đối phải tin rằng:

1- Những linh hồn đã được hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng không cần sự trợ giúp nào của người còn sống trên trần thế. Họ đã gia nhập hàng ngũ các Thánh và đang hưởng hạnh phúc Nước Trời với Thiên Chúa, là hạnh phúc của các Thánh, các Thiên Thần. Ngược lại, các Thánh trên Thiên Đàng có thể cầu xin đắc lực với Chúa cho những người còn sống trên trần gian và những linh hồn trong luyện ngục.

2- Chỉ có các linh hồn trong luyện ngục mới cần sự trợ giúp của các thánh trên Thiên Đàng và của những người còn sống đang hiệp thông với Giáo Hội trên trần thế mà thôi. Các linh hồn đang còn ở luyện ngục không thể tự giúp gì cho họ được nữa vì thời giờ đã mãn cho họ làm việc lành hay phạm tội gì thêm nữa. Đó là lý do tại sao Giáo Hội dạy và khuyến khích các tín hữu cầu nguyện, làm việc lành và nhất là xin lễ cầu cho các linh hồn thánh (holy souls) còn đang được thanh luyện trong luyện ngục. Ngược lại, các linh hồn ở nơi này có thể cầu xin hữu hiệu cho các tín hữu còn sống trên trần thế, nơi mọi người còn thì giờ để làm thêm việc lành, phúc đức hay phạm tội thêm mất lòng Chúa.
Tóm lại, các Thánh trên Thiên Đàng, các linh hồn nơi luyện ngục và các tín hữu còn sống trên trần gian đều có thể hiệp thông cầu nguyên và giúp ích cho nhau như đã nói ở trên.Đây là tín điều các thánh thông công ( Communion of Saints) như Giáo Hội dạy.

3- Sau hết, các linh hồn đang xa cách Chúa đời đời trong nơi gọi là hoả ngục thì các Thánh trên trời , các linh hồn nơi luyện tội và các tín hữu trên trần thế, không ai có thể cứu giúp gì cho họ được nữa, vì không có sự hiệp thông nào (communion) giữa nơi này ( hỏa ngục ) với Thiên Đàng, luyện ngục và các tín hữu còn sống đang hiệp thông trong Giáo Hội lữ hành trên trần thế.. Cũng cần nói thêm là những ai đang ở hỏa ngục thì đó không phải là vị họ bị Chúa trừng phạt hay trả thù mà chính vì họ, khi còn sống, đã tự chọn nơi cư ngụ đáng sợ này khi tự do làm những điều gian ác, tội lỗi và không hề xám hối xin Chúa thứ tha vì họ cũng hoàn toàn khước từ Thiên Chúa và tình thương của Người, là " Đấng muốn cho mọi người được cửu rỗi và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)

Tóm lại, dù ở nơi nào, Thiên Đàng, Luyện ngục hay hoả ngục, linh hồn những người đã ly trần không thể trở về trần thế để "ăn uống" gì với thân nhân còn sống được nữa. Vì thế, người công giáo không nên đem bất cứ đồ ăn của uống gì ra đặt nơi mộ phần của những người đã chết ngoài nghĩa trang hay trưng bày trên bàn thờ trong những dịp giỗ tết để "mời các vong hồn" về chung vui, thưởng thức với con cháu còn sống. Làm như vậy là vô tình đi ngược lại với giáo lý của Giáo Hội về số phận của những người đã chết như đã nói ở trên.

Chúng ta chỉ có thể bày tỏ lòng mộ mến, gắn bó, thương xót những thân nhân đã ly trần bằng cách cầu nguyện, làm việc lành và xin dâng thánh lễ cầu cho họ để nói lên những tâm tình này mà thôi. Và chắc chắn đó cũng là những gì các linh hồn mong đợi nơi con cháu, thân nhân còn sống nhớ đến mình sau khi họ lìa khỏi thân xác qua sự chết, và còn đang được thanh luyện nơi luyện ngục.
Vậy chúng ta hãy tha thiết cầu xin cho các linh hồn trong tháng 11 này.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 85 = ON LINH UNG LA GI PDF Print E-mail

ƠN LINH ỨNG LÀ ƠN GÌ ?

Hỏi : xin cha giải đáp giúp hai câu hỏi sau đây:
1- Ơn linh ứng là ơn gì ?
2- Trong Kinh Thánh, tại sao có các bản LXX ( 70) và bản Vulgata ?

Trả lời :
1- Ơn linh ứng là gỉ ? - Khi học, đọc và nghiên cứu Kinh Thánh thì trước tiên phải nói đến Ơn linh ứng ( Inspiration) tức là ơn đặc biệt Chúa Thánh Thần ban để thúc dục và soi sáng cho các tác giả con người để họ viết ra các Sách trong toàn bộ Kinh Thánh ( Cựu và Tân Ước) trước hết bằng ngôn ngữ Do Thái và Hy lạp. Và từ các ngôn ngữ nguyên thủy này Kinh Thánh được dich ra tiếng Latinh trước và sau này ra các ngôn ngữ khác cho mọi người trong Giáo Hội đọc ngày nay.
Toàn bộ Sách thánh được gom lại thành một bộ Thánh Kinh = Holy Bible bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp Biblia có nghĩa nhiều Sách được gom lại thành một bộ sách có tên chung là Thánh Kinh.
Sở dí Sách được gọi là Sách Thánh vì có ơn linh ứng của Chúa Thánh Thần đã ban cho các tác giả loài người để hướng dẫn họ viết ra những gì Thiên Chúa muốn cho con người biết và thi hành để được chúc phúc, và nhất là được cứu độ nhờ c ông nghiệp cứu chuộc vô giá của của Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian làm Con Người và đã " hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn dân." ( Mt 20 : 28)
Giáo Hội tin các Sách trong toàn bộ Kinh Thánh Cựu và Tân Ước phải có Ơn linh ứng của Chúa Thánh Thần là tác giả chính của Kinh Thánh, đã soi sáng và hướng dẫn các tác giả con người viết ra Lời Chúa từ thời xa xưa trong Cựu Ước và cho đến ngày Sách cuối cùng của Tân Ước là Sách Khải Huyền ( Revelation) của Thánh Gioan ra đời vào cuối thế kỷ thứ nhất sau khi Chúa Kitô hoàn tất công cuộc cứu chuộc nhân loại và về trời..
Về bằng chứng có lời Thiên Chúa nói cho các tác giả con người, ta có trước hết, lời Thiên Chúa đã phán với ông Mô-sê trong thời Cựu Ước như sau :
" ĐỨC CHÚA phán với ông Mô-sê: " hãy ghi chép những lời này, vì
dựa trên chính những lời này mà Ta đã lập giao ước với ngươi và với
Israel." ( Xh 34: 27)
Có thể nói ông Mô-sê là người được ơn linh ứng đầu tiên để viết ra 5 cuộn gọi là Ngũ Kinh hay Pentateucos tức Năm cuốn Sách đầu tiên trong Cựu Ước là :
Sách Sáng Thế
Sách Xuất Hành
Sách Lêvi
Sách Dân Số
Sách Đệ Nhị Luật
Mặt khác, Sách ông Gióp, cũng cho ta biết về ơn linh ứng giúp cho con người hiểu biết lời Chúa như sau :
" Nhưng thực ra sinh khí trong con người
Tức hơi thở của Đấng toàn năng , mới làm cho hiểu biết." ( Gb 32:8)
Thánh Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến chế Tin lý về Mặc Khải của Thiên Chúa ( Dei Verbum) đã nói như sau về Ơn Linh Ứng :
"Những gì Thiên Chúa mạc khải và Thánh Kinh chứa đựng và bày tỏ, đều
được viết ra dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần. Thực vậy, Giáo Hội Mẹ
Thánh, nhờ đức tin tông truyền, xác nhận rằng toàn bộ Sách Cựu Ước cũng như Tân Ước với tất cả các thành phần, đều là Sách Thánh và được ghi vào bản chính lục Kinh Thánh bởi lẽ được viết ra dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần, nên tác giả của các sách ấy là chinh Thiên Chúa và chúng được lưu truyền cho Giáo Hội với tình trạng như vậy." ( Dei Verbum , no. 11)
Trước Công Đồng Vaticanô II, các đức cố Giáo Hoàng Leô-XIII, trong Thông điệp Providentissimus, ban hành ngày 18-11-1893, Đức cố Giáo Hoàng Benedictô XV với Thông diệp Spiritus Paraclitus ngày 15-9-1921, và Đức cố Giáo Hoàng Piô XII với Thông Điệp Divino Afflante ngày 30-9-1943, đều quả quyết là toàn bộ Thánh Kinh có ơn linh ứng của Chúa Thánh Thần nên được gọi và tôn kinh là Sách thánh vì thực sự chứa đựng lời Thiên Chúa nói với con người suốt từ thời Cựu Ước cho đến thời Tân Ước.
Cụ thể, Ngôn sứ Ê-de-ki-en đã nói như sau về lời Chúa muốn nói với dân của Người:
" Phần ngươi, hởi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Israel. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết: Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng : " hởi tên gian ác, chắc chắn người phải chết" mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó.Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó. Còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình." ( Ed 33: 7- 9)
Khi đến trần gian làm Con Người để cứu chuộc cho nhân loại, Chúa Giêsu cũng nói rõ là Người chỉ nói và dạy những gì đã nghe từ Chúa Cha, Đấng đã sai Người:
" Đạo lý Tôi dạy không phải là của Tôi
Nhưng là của Đấng đã sai Tôi." ( Ga 7: 16)
Thánh sử Gioan chắc chắn đã được ơn linh ứng khi thuật lại lời Chúa Giêsu trên đây để cho chúng ta tin rằng những gì ngài viết trong Tin Mừng thứ 4 là lời Thiên Chúa đã được linh ứng cho ngài viết, chứ không phải tự ý ngài viết ra những điều đó.
Nói rõ hơn, những lời giảng dạy của Chúa Giêsu trong suốt 3 năm Người đi rao giảng Tin Mừng cứu độ, dạy dỗ và làm nhiều phép lạ, đã được ghi chép rất nhiều trong 4 Tin mừng của Matthêu. Maccô, Luca và Gioan. công thêm với các thư mục vụ của các Thánh Phaolô, Phêrô, Gioan, Gia-cô-bê, Guida , và Sách Khải Huyền của Gioan hợp lại thành trọn bộ Kinh Thánh Tân Ước. Tuy nhiên, theo Thánh Gioan thì những gì ngài viết ra trong Tin Mừng thứ 4 không ghi chép lại hết mọi lời Chúa Giêsu đã nói và việc Chúa đã làm , bởi vì :
" Còn nhiều điều khác Đức Giêsu đã làm. Nếu viết lại từng điều một thì tôi
Thiết nghĩ : cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra." ( Ga 21: 26)
Dầu vậy, những gì đã được viết ra trong 4 Phúc Âm và các Thư Mục Vụ hay Thánh Thư ( Epistles) phải là những điều Chúa Thánh Thần linh ứng cho các tác giả trên viết ra bằng ngôn ngữ loài người , thông dụng thời đó là tiếng Hy Lạp và Do Thái cổ ( Aramaic, Phúc Âm Thánh Matthêu) .
Các Sách thánh mà Giáo Hội nhìn nhận có Ơn linh ứng gồm có 46 Sách Cựu Ước và 27 Sách Tân Ước. Thư qui này đã được Công Đồng Trentô ( 1545-1564 ) đóng lại nghĩa là từ đó đến nay không có Sách nào được nhận thêm vào tổng số các Sách thánh trên đây.
Nói về ơn Linh ứng, Thánh Phaolô đã có lời chứng như sau:
" Tất cả những gì viết trong Sách Thánh đều do Thiên Chúa linh ứng, và có ích cho việc giảng dạy, biện bác, sửa dạy, giáo dục để trở nên công chính. Nhờ vậy, người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành." ( 2 Tm 3: 16-17)
Thánh Phêrô cũng dạy như sau về Ơn Linh Ứng của Chúa Thánh Thần :
" Nhất là anh em phải biết điều này : không ai được tự tiện giải thích một
Lời ngôn sứ nào trong Sách Thánh. Quả vậy, lời ngôn sứ không bao giờ lai do ý muốn của người phàm, nhưng chính nhờ Thánh Thần thúc đẩy mà có những người đã nói theo lệnh của Thiên Chúa." ( 2 Pr 1: 20-21)
Tóm lại, chính Chúa Thánh Thần là tác giả chính của toàn bộ Thánh Kinh, nhưng Ngài đã dùng các tác giả con người để viết ra lời Chúa bằng ngôn ngữ nhân loại
để loan truyền lời Chúa cho mọi dân mọi nước được biết thánh ý của Thiên Chúa, tình thương và kế hoạch của Người trong việc sáng tạo và cứu độ loài người nhờ Chúa Kitô.
2- Bản LXX và Vulgata là gì ?
Như đã nói trên, Kinh Thánh là toàn bộ lời Chúa nói với con người được Chúa Thánh Thần linh ứng cho các tác giả con người viết thánh sách cho chúng ta đọc ngày nay. Trong thời Cựu Ước, vào thế kỷ thứ 3 trước Chúa Giánh sinh, có 70 nhà thông thái đã dịch các Sách thánh Cựu Ước viết bằng tiếng Do Thái ra tiếng Hy lạp để giúp các tín hữu Do Thái không nói được tiếng Do Thái có thể đọc Kinh Thánh dich ra tiếng Hy Lạp. Công việc dịch thuật lần đầu tiên này đã diễn ra tại Alexandria ( Ai Cập) dưới triều hoàng đế Ptolemy II Philadelphus ( 285-246 B.C) trước Chúa Giáng Sinh.
Bản dịch Kinh Thánh đầu tiên này có tên là Septuagint bắt nguồn từ ngữ căn Hy Lạp và có nghĩa là số 70, vì thế được mang số La mã LXX để chỉ Bản dịch Kinh Thánh Cựu Ước từ tiếng Do Thái sang tiếng Hy Lạp trong thời Cựu Ước.
Sau này , Thánh Jerome ( 340-420 A.D), một Kinh Thánh gia rất thông thái đã dịch tất cả các Sách Thánh Tân Ước viết bằng tiếng Hy Lạp và Aramaic= Do Thái cổ (Tin Mừng Thánh Matthêu) sang tiếng La Tinh là tiếng thông dụng của giới bình dân thời đó. Bản dịch này có tên là Vulgata=Vulgate có nghĩa là bản dịch phổ thông Kinh Thánh Tân Ước của Thánh Jerôme. Bản dịch này được chính thức sử dụng trong Giáo Hội từ thời đó cho đến nay.
Tóm lại, là tín hữu trong Giáo Hội, chúng ta chỉ đọc những Sách được Giáo Quyền công nhận là có ơn linh ứng mà thôi.Thư qui Kinh Thánh chỉ gồm có 46 Sách Cựu Ước và 27 Sách Tân Ước như đang được đọc, học và nghiên cứu để biết lời Chúa
muốn nói với con người ở khắp mọi nơi, trong mọi nền văn hóa và ngôn ngữ nhân loại. Kinh Thánh và Thánh Truyền ( Sacred Tradition) là các kho mạc khải Lời Chúa và giáo lý của Người cho ta biết và thi hành để được cứu độ, tức được vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa là Cha trên Nước Trời mai sau.
Chúng ta cùng cảm tạ Chúa về hồng ân này và siêng năng đọc Thánh Kinh để nghe và sống lời Chúa hầu được cứu độ, như lòng Người mong muốn.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 84 = TRANH TOI DE SONG PDF Print E-mail

NĂM ĐỨC TIN : THỰC TRẠNG TỘI LỖI CẦN LƯU Ý VÀ TRÁNH ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN VỮNG VÀNG.
Năm Đức Tin đã khai mạc ngày 11 tháng 10 vừa qua tại Rôma nhắm mục đích kêu gọi mọi tín hữu trong Giáo hội nhìn lại đời sống đức tin của mình để canh tân và đào sâu thêm nữa hầu thêm yêu mến Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian làm Con Người, đã mặc khải Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cho chúng ta và nhất là đã hy sinh chịu chết trên thập giá để đền tội cho nhân loại và cho chúng ta hy vọng được cứu rỗi để hưởng hạnh phúc vinh cửu với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Nhưng muốn sống đức tin cách hữu hiệu và chân thật , không ai có thể coi nhẹ một trở ngại lớn lao, đó là tội lỗi, một nguy cơ không những đe dọa cách nặng nề đức tin có Chúa mà còn có thể làm mất hy vọng được cứu rỗi nữa.
Thật vậy, tội là một thực tế ( reality) không ai có thể chối cãi hay phủ nhận được trong đời sống cá nhân, gia đình , xã hội và trong cộng đồng thế giới; nhất là trong thời buổi hiện nay, khi các nhóm Hồi Giáo quá khích chủ trương bạo động , "thánh chiến=jihad" để đánh phá và giết hại những ai họ cho là thù nghịch của họ..Đây là một tội lớn mang mầu sắc tôn giáo vì người ta đã nhân danh tôn giáo để tiêu diệt người khác. Và chắc chắn điều này không phù hợp với mục đích của bất cứ vị sáng lập tôn giáo nào, vì không tôn giáo nào có thể chấp nhận hay khuyến khích tín đồ của mình giết hại người khác để độc tôn tín ngưỡng của mình.
Mặt khác, các chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa tương đối ( relativism) và chủ nghĩa tôn thờ khoái lạc ( hedonism) và tiền bạc vật chất cũng góp phần không nhỏ gây ra tội lỗi cho con người ở khắp mọi nơi.
Nhưng trước hết, cần biết vì đâu tội lỗi có mặt trong trần gian như một thách đố lớn lao cho những ai có niềm tin Thiên Chúa là Đấng đầy lòng yêu thương, nhưng rất công bình và thánh thiện.
Thánh Kinh đã cho ta biết nguồn gốc của tội như sau :
" Vì một người duy nhất ( Adam) mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội gây nên sự chết; như thế sự chết đã lan tràn tới hết mọi người bởi vì mọi người đã phạm tội." ( Rm 5 : 12)
Tội xâm nhập trần gian và lan tràn đến hết mọi người với nhiều hình thức và mức độ khác nhau.Tội là điều trực tiếp xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành,công minh, chính trực nên Người không thể dung tha cho bất cứ loại tội nào mà con người có thể phạm vì cố ý hay vì yếu đuối.Tùy theo mức lỗi phạm mà tội mang lại hậu quả nặng hay nhẹ cho người có tội.
Trước tiên, Thiên Chúa đã nói rõ cho Adam và Eva biết về hậu quả của tội như sau, nếu họ ăn trái cấm:
" .Ngày nào ngươi ăn, chắc chắn người sẽ phải chết." ( St 2: 17)
Cái chết mà Thiên Chúa nói trên đây là cái chết về mặt linh hồn, chứ không phải chết ngay về thể xác.Cho nên con Rắn đã nói với bà Eva như sau : "chẳng chết chóc gì đâu." ( Sđd 3: 4).
Rắn Satan nói thể để phỉnh gạt Eva vì biết là Thiên Chúa không phạt nhãn tiền bằng cái chết về thể lý cho ai từ xưa đến nay. Bằng cớ là có biết bao kẻ gian ác, độc tài tàn bạo, vô tâm vô đạo đã giết hại không biết bao nhiêu người chỉ vì muốn củng cố địa vị cá nhân hay bảo vệ các thể chế độc tài, độc đảng , độc tôn gây đau khổ và chết chóc cho biết bao triệu người dân lành từ Đông sang Tây chẳng may rơi vào ách thống trị độc ác của chúng..Nhưng chúng vẫn sống phây phây, làm giầu và hưởng thụ ,cha truyền con nối với chế độ tàn bạo không biết đến bao giờ mới xụp đổ.
Mặt khác, những kẻ có tâm địa độc dữ , với lòng tham vô đáy, và say mê những vui thú vô luân vô đạo cũng vẫn sống nhởn nhơ trong giầu sang nhờ gian manh, bất công và lường gạt, trong khi người lành lương thiện lại nghèo khó và đau khổ, vì xã hội bất công, dung dưỡng cho kẻ có nhiều tiền bạc và lắm mưu kế gian xảo lèo lái.
Như thế không phải vì Thiên Chúa bất lực, hay không nhìn thấy những tội ác của họ.Thiên Chúa biết nhưng vẫn làm ngơ cho chúng sống để hy vọng chúng hoán cải để được tha thứ, vì Người gớm ghét tội lỗi nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết sám hối, xin tha.. Ngược lại , nếu chúng cứ ngoan cố tiếp tục con đường gian ác thì Thiên Chúa sẽ đối xử với chúng như chủ ruộng kia đã làm ngơ cho cỏ lùng mọc xen lẵn với cây lúa tốt.. Và đợi đến mùa gặt, chủ sẽ bảo thợ gặt : " hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho ta." ( Mt 13:20)
Dụ ngôn trên cũng áp dụng thích đáng cho người tín hữu Chúa Kitô đang sống đức tin trên trần gian này, giữa bao kẻ gian ác đang phạm biết bao tội nghich cùng Thiên Chúa và gây đau khổ cho bao người khác.Kẻ gian ác cứ sống trong tội ác của chúng như có lùng mọc xen với cây lúa. Và chắc chắn đến mùa gặt, tức ngày Phán Xét, chúng sẽ bị quăng vào nơi "tối tăm , khóc lóc và nghiến răng".(Lc 13: 28)
Thật vậy, do hậu quả của tội nguyên tổ, bản chất thiện hảo ban đầu của con người đã bị thương tổn nặng nề đến nỗi dù đã được tái sinh qua Phép Rửa, và trở thành tạo vật mới, con người vẫn không lấy lại được bản chất thiện hảo ban đầu ( Original Innnocence) đã mất đi sau khi nguyên Tổ loài người đã phạm tội. Vì thế, con người ngày nay vẫn hoàn toàn yếu đuối và dễ nghiêng chiều về sự xấu, sự tội bao lâu còn sống trên trần gian và trong thân xác có ngày phải chết này.
Mặt khác, ma quỷ ví như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắc xé" ( 1Pr 5 : 8) luôn rình rập quanh ta để cám dỗ , lôi kéo ta vào đường tội lỗi dẫn đến hư mất đời đời. Cho nên " anh em phải đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế" ( Sđ d 5: 9) đúng theo lời khuyên dạy của Thánh Phêrô cách nay đã trên 2000 năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị thực hành trong hoàn cảnh sống của con người ngày nay..
Ngoài ma quỷ là kẻ thù chính ra, thế gian hay môi trường sống của mỗi người chúng ta là kẻ thù thứ hai cộng tác đắc lực với ma quỷ để xúi dục ta phạm tội vì gương xấu đầy rẫy ở khắp nơi. Nào phim ảnh sách báo dâm ô,đồi trụy, bạo động, nào sòng bạc lớn nhỏ và nơi ăn chơi sa đọa công khai quảng cáo trên truyền thông để lôi cuốn con người thuộc mọi lớp tuổi tìm đến để thỏa mãn dục vọng và lòng ham mê tiền của, bắt chấp mọi hậu quả tai hại cho linh hồn, nếu ta tin con người có hồn và xác, có sự thưởng phạt sau khi chết.
Thánh Phaolô đã nói đến các giống tội do xác thịt yếu đuối gây ra và hậu quả của tội như sau:
" Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là : dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp , chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã thường bảo :
Những kẻ làm những điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa." ( Gl 5 :19-21).
Như thế, người ta phạm tội vì bản chất yếu đuối, vì ma quỷ tinh quái cám dỗ và vì gương xấu của người khác.
Chúa Giêsu đã nghiêm khắc cảnh cáo về các dịp tội và gương xấu như sau :
" Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã. Nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn này phải vấp ngã." ( Lc 17: 1-2)
Như vậy, muốn tránh tội, ta phải ý thức đây đủ về những nguy cơ đưa đến phạm tội để từ đó quyết tâm xa tránh với ơn Chúa nâng đỡ để đứng vững , vì " không có Thầy anh em sẽ chẳng làm gì được." ( Ga 15: 5).Nghĩa là nếu không có ơn Chúa giúp sức thì ta không thể đứng vững trước mọi cám dỗ nặng nề của ma quỷ, gương xấu đầy rẫy của thế gian và những khuynh hướng xấu còn tồn tại trong ta.
Cứ nhìn quanh ta thì đủ biết tội lỗi đang thống trị con người và thế giới như thế nào.
Tại sao người ta đang làm những sự dữ như giết người, cướp của, ăn gian nói dối, cờ bạc, dâm ô phóng đãng, hiềm thù ,nghen ghét, bỏ vạ cáo gian, thay chồng đổi vợ, chiến tranh, khủng bố ?
Câu trả lời đúng nhất là vì người ta không có niềm tin nào, hay có mà không có can đảm sống niềm tin ấy cách sống động và cụ thể để đẩy lui bống tối của sự dữ, sự tội đang lan tràn ở khắp nơi.
Trước thực trạng trên đây, là người có đức tin vào Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, mọi tín hữu chúng ta đều được mong đợi sống đức tin của mình cách cụ thể là phải xa tránh mọi sự xấu, sự tội , vì chỉ có tội lỗi mới làm ngăn cách con người với Thiên Chúa là tình thương nhưng gớm ghét mọi thứ tội lỗi.Nói khác đi, sống đức tin Kitô Giáo đòi hỏi chúng ta phải ý thức sâu xa về nguy cơ của tội lỗi đến từ ma quỷ, từ thế gian và từ bản chất yêu đuối của chính mình.
Trong thời đại văn minh vật chất và điện toán hiện nay, rất nhiều người đã mất hết ý thức về tội. Chủ nghĩa tương đối( relativism) đã góp phần không nhỏ vào việc lừa dối rất nhiều người tin là không có giá trị nào tuyết đối về luân lý, đạo đức cả.. Vì thế người ta đã mặc sức làm những sự dữ , thí dụ, làm luật để bảo vệ cho súc vật như chó, mèo, chim, rùa ngoài biển. Nhưng lại hợp thức hóa việc phá thai khiến hàng năm ở Mỹ có trên một triệu thai nhi bị giết ngay trong lòng mẹ mà luật pháp quốc gia chính thức cho phép khiến không ai gặp khó khăn nào với luật pháp khi trực tiếp hay gián tiếp ra tay giết hại một hài nhi tức một nhân mạng.! Ngoài ra, người ta cũng đang tìm cách định nghĩa lại hôn nhân, vốn là một định chế bắt nguồn từ Thiên Chúa khi Người tạo dựng con người có nam có nữ và truyền cho họ sứ mệnh " Hãy sinh sôi nẩy nở cho thật nhiều, cho đầy mặt đất và thông trị mặt đất." " ( St 1 :28)
Vậy mà bây giờ người ta đang hợp thức hóa những cặp hôn nhân đồng tính ( same sex marriage).,để công khai nhìn nhận việc sống chung của những cặp nam nữ bệnh hoạn tâm sinh lý này.Chúng ta cảm thông hoàn cảnh của họ nhưng không thể tán thành việc cho họ kết hôn để đạp đổ truyền thồng hôn nhân giữa một người nam và một người nữ như Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu.
Mặt khác trên bình diện quốc tế, cộng đồng thế giới vẫn làm ngơ cho các chế độ tàn ác của Assad ở Syria, của Bắc Hàn, của Cuba... và nhiều nơi khác nữa đã giết hại hàng triệu người dân vô tội, vì dám chống lại chế độ cai trị tàn ác của kẻ cầm quyền... Đây là một tội ác chống lại con người của các kẻ độc tài độc đảng mà các nước có thể lực lớn trên thế giới phải chịu trách nhiệm vì đã không dám hành động thích đáng để bảo vệ cho quyền sống của con người .
Trước thực trạng tội lỗi của cá nhân , xã hội và cộng đồng quốc tế, người tín hữu Chúa Kitô thuộc mọi thành phần trong Giáo Hội hơn bao giờ hết phải sống niềm tin của mình cách cụ thể và thuyết phục để làm nhân chứng cho Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian để "hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người."(Mt 20: 28)
Nói rõ hơn, nếu người tín hữu mà cũng ăn gian nói dối, cũng lường gạt, bóc lột người khác để trục lợi, cũng lui tới những sòng bạc lớn nhỏ, cũng đi du hí ở những nơi tội lỗi, cũng nhẩy nhót cuồng loạn mất nết, cũng cấu kết hay làm tay sai cho những thế lực, hay chế độ phi nhân bóc lột đàn áp người dân vô tội, thì chắc chắn đã chà đạp lên hay chối bỏ niềm tin của mình và cùng lớn tiếng hô to với những kẻ vô thần , vô luân vô đạo là KHÔNG CÓ THIÊN CHÚA, KHÔNG CÓ SỰ SÔNG ĐỜI SAU để mặc sức ngụp lặn ở hiện tại trong vũng bùn nhơ của tội lỗi vì đam mê của cải, chuộng hư danh và tôn thờ mọi thú vui vô luân vô đạo, là bộ mặt rõ nét nhất của "văn hóa sự chết" đang lộng hành ở khắp nơi trên thế giới ngày nay.
Quan trọng hơn nữa, nếu người tín hữu không quyết tâm từ bỏ mọi giống tội và nương nhờ ơn Chúa phù giúp để đứng vững trong đức tin thì không ai có thể đạt được mức hoàn hảo để được cứu rỗi. Sở dĩ thế là vì con người còn có tự do để chọn lựa giữa sự tốt và sự xấu, giữa ánh sáng và bóng đêm bao lâu còn sống trên trần gian này. Và Thiên Chúa luôn tôn trọng sự tự do đó của con người.Nghĩa là nếu con người chọn con đường gian tà vì mê đắm sắc dục, để lui tới những nơi ăn chơi sa đọa, thay chồng đổi vợ, hoặc vì đam mê tiền của để trộm cướp, bóc lột người khác thì Thiên Chúa sẽ không ngăn cản và con người sẽ phải hoàn toàn chiu trách nhiệm về chọn lựa của mình. Đó là lý do thưởng phạt của Thiên Chúa dành cho những kẻ chối bỏ Người bằng tư tưởng và hành động, hay yêu mến và quyết tâm thi hành ý muốn của Người để được vào Nước Trời như Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ xưa như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa ! lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 : 21)
Thi hành ý muốn của Cha trên trời có nghĩa là phải cương quyết từ bỏ mọi tội lỗi, mọi sự dữ và " hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào, vì Tôi nói cho anh em biết : có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được." ( Lc 13: 24)
Cửa hẹp mà Chúa Giêsu nói trên đây, chính là cửa công chính để tránh đi vào con đường của kẻ gian ác, giết người , cướp của, bóc lột, dâm đãng và bất công với người khác. Cửa hẹp cũng là cửa bác ái để mở lòng cảm thương anh chị em nghèo khó, bệnh tật, cô thân cô thế,.Sau nữa, cửa hẹp cũng là cửa trong sạch để không đi vào con đường dẫn đến những nơi xú uế vì cờ bạc vui chơi dâm ô khốn nạn. Người tín hữu Chúa Kitô mà đi vào những con đường nói trên thì chắc chắn sẽ không gặp được Chúa là cội nguồn của mọi giầu sang ,phú quý và hoan lạc.; mà ngược lại , chắc chắn sẽ rơi xuống hố diệt vong vì phải vĩnh viễn xa lìa Thiên Chúa là cùng đích của niềm tin và hy vọng của người có đức tin chân chính.
Tóm lại , Năm Đức Tin mời goi và nhắc nhở mọi tín hữu sống đức tin cách chân thật và sống động để minh chứng mình thực sự tin Chúa Kitô, Đấng đã cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá để cho chúng ta hy vọng được gặp Thiên Chúa là Cha và được sống hạnh phúc đời đời với Người trên Thiên Quốc, sau khi chấm dứt hành trình con người trên trần thế này.
Nói khác đi, chúng ta phải thể hiện đức tin của mình cách cụ thể trước mặt người đời để làm nhân chứng cho Chúa Kitô với mục đích mời gọi thêm nhiều người nữa nhận biết và tin Chúa để cùng được cứu độ, vì Thiên Chúa , " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. ( 1Tm 2:4)
Nhưng- cần nhấn mạnh thêm một lần nữa- muốn sống đức tin cách hữu hiệu, vững vàng đẹp lòng Chúa và có sức thuyết phục người khác thì ta phải ý thức đầy đủ nguy cơ của tội lỗi để quyết tâm xa tránh không làm những gì phương hại hay mâu thuẫn với đức tin có Chúa là Đấng thánh thiện, nhân từ, công bình, yêu thương và tha thứ. ( tha thứ cho kẻ có tội biết ăn năn xin tha chứ không được lợi dụng tha thứ để cứ tiếp tục phạm tội nữa !)
Tóm lại, sống đức tin không những để biết thờ lậy, ngợi khen,yêu mến và cảm tạ Chúa ngày một hơn, mà quan trọng không kém là đoạn tuyệt với tội lỗi, vì " ai phạm tội là người của ma quỷ" như Thánh Gioan Tông Đồ đã dạy. ( 1 Ga 3: 8).
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 83 = TÔI TIN GIAO HOI DUY NHAT PDF Print E-mail

 

"Tôi tin Giáo Hội duy nhất"

Anh Chị Em thân mến,

Trong "Kinh Tin Kính" chúng ta đọc rằng "Tôi tin Giáo Hội duy nhất", tức là tuyên xưng rằng Giáo Hội là một và Giáo Hội tự mình là duy nhất. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào Giáo Hội Công Giáo trên thế giới lại thấy Giáo Hội có gần 3 ngàn giáo phận rải khắp các Châu Lục: với quá nhiều ngôn ngữ, quá nhiều văn hóa! Tuy nhiên, hàng ngàn cộng đồng Công Giáo làm nên sự hiệp nhất. Làm sao lại như thế được chứ?

Chúng ta thấy được câu trả lời tổng hợp ở Cuốn Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo trong đó Giáo Hội Công Giáo lan tràn khắp thế giới "chỉ có một đức tin, chỉ có một sự sống về bí tích, chỉ có một thừa kế tông truyền, chỉ có một niềm hy vọng, có cùng một đức ái" (khoản 161). Sự hiệp nhất trong đức tin, đức cậy, đức mến, sự hiệp nhất về các Bí Tích, về Thừa Tác Vụ: chúng là những trụ cột nâng đỡ và cùng nhau làm thành một lâu đài vĩ đại duy nhất Giáo Hội. Bất cứ đi đâu, ngay cả khi đến một giáo xứ nhỏ bé nhất, ở một hang cùng ngõ hẻm biệt lập nhất trên trái đất này cũng thấy Giáo Hội duy nhất ở đó; như đang ở nhà mình, như đang ở trong gia đình của mình, đang ở giữa anh chị em chúng ta. Và đó là đại tặng ân của Thiên Chúa! Giáo Hội là một cho tất cả mọi người. Không có vấn đề một Giáo Hội cho dân Âu Châu, một Giáo Hội cho dân Phi Châu, một Giáo Hội cho dân Mỹ Châu, một Giáo Hội cho dân Á Châu, một Giáo Hội cho những ai sống ở Đại Dương Châu, nhưng chỉ là một Giáo Hội duy nhất ở khắp nơi. Như xẩy ra trong gia đình: một gia đình có thể xa cách, sống rải rác khắp thế giới, thế nhưng những mối giây liên hệ sâu xa vẫn nối kết tất cả mọi phần tử của gia đình lại với nhau cách mạnh mẽ bất chấp khoảng cách ra sao. Tôi đang nghĩ đến cái kinh nghiệm về Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Rio de Janerio: trong đám đông vô vàn vô số giới trẻ ấy trên bờ vịnh Copacabana, rất ư là nhiều những thứ ngôn ngữ được nghe thấy, rất nhiều những nét mặt khác nhau được nhận thấy giữa họ với nhau, những thứ văn hóa khác nhau được gặp gỡ, thế mà vẫn chỉ có một mối hiệp nhất sâu xa, chỉ có một Giáo Hội duy nhất được hình thành, chỉ cảm thấy có một sự hiệp nhất. Tất cả chúng ta hãy tự hỏi mình rằng: tôi có cảm thấy mối hiệp nhất này hay chăng? Tôi có sống mối hiệp nhất này hay chăng? Hay tôi không cần vì tôi gắn liền với nhóm nhỏ của tôi hay với bản thân tôi? Tôi có phải là một trong những người 'riêng tư hóa' Giáo Hội cho riêng nhóm của tôi, cho quốc gia của tôi, cho bạn bè của tôi hay chăng? Khi tôi nghe thấy có rất nhiều Kitô hữu trên thế giới đang khổ đau, tôi có tỏ ra dửng dưng lạnh lùng hay như thể một người nào đó trong gia đình tôi đang khổ đau hay chăng? Tôi có cầu nguyện cho nhau hay chăng? Cần phải có cái nhìn vượt ra ngoài cái hạn hẹp của mình, để cảm thấy mình là Giáo Hội, là một gia đình duy nhất của Thiên Chúa!

2- Chúng ta hãy tiến thêm chút nữa và tự vấn rằng: có những vết thương đối với mối hiệp nhất này hay chăng? Chúng ta có thể làm tổn thương đến mối hiệp nhất này hay chăng? Tiếc thay, chúng ta thấy rằng trong giòng lịch sử, cả hiện nay nữa, chúng ta đã không luôn sống hiệp nhất. Đôi khi những hiểu lầm, những xung khắc, những căng thẳng, những chia rẽ đã gây ra thương tích ấy, thế rồi Giáo Hội không đương đầu như chúng ta mong ước, Giáo Hội không bày tỏ đức ái. Những gì Thiên Chúa muốn. Chúng ta là thành phần tạo nên những rách nát! Và nếu chúng ta nhìn vào những chia rẽ vẫn còn tồn tại nơi thành phần Kitô hữu, Công Giáo hữu, Chính Thống hữu, Tin Lành hữu... chúng ta cảm thấy cái công khó để mang lại mối hiệp nhất này là những gì hoàn toàn hiện tỏ. Thiên Chúa ban cho chúng ta sự hiệp nhất, thế nhưng chúng ta thường thấy khó mà thực hiện sự hiệp nhất này. Chúng ta cần phải tìm kiếm, xây dựng mối hiệp thông, và tự giáo huấn mình để sống hiệp thông, để thắng vượt những hiểu lầm và chia rẽ, bắt đầu từ gia đình, từ các thực thể Giáo Hội, bằng việc đối thoại đại đồng. Thế giới của chúng ta đang cần đến mối hiệp nhất, đến việc hòa giải, đến sự hiệp thông và Giáo Hội là Ngôi Nhà của mối hiệp thông. Thánh Phaolô đã viết cho Kitô hữu ở Êphêsô rằng: "Bởi thế, tôi, một tù nhân của Chúa, nài xin anh chị em hãy sống một cuộc đời xứng với ơn gọi mà anh chị em đã lãnh nhận, bằng tất cả tâm tình khiêm tốn và hiền lành, bằng lòng nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau trong yêu thương, thiết tha bảo tồn mối hiệp nhất của Thần Linh bằng mối liên kết an bình" (4:1-3). Sự khiêm nhượng, dịu dàng, cao thượng, yêu thương là những gì duy trì hiệp nhất! Rồi ngài tiếp: Chỉ có một thân thể, thân thể Chúa Kitô mà chúng ta lãnh nhận nơi Thánh Thể; chỉ có một Thần Linh, Vị Thánh Linh làm sinh động và liên lỉ tái tạo Giáo Hội; chỉ có một niềm hy vọng, một sự sống đời đời; chỉ có một đức tin, một Phép Rửa, một Thiên Chúa là Chúa của tất cả chúng ta (xem các câu 4-6). Sự phong phú của những gì hiệp nhất chúng ta! Hôm nay, mỗi một người cần phải tự hỏi mình rằng: tôi có hay chăng làm cho mối hiệp nhất gia tăng trong gia đình, trong giáo xứ, trong cộng đồng, hay tôi là một cớ gây chia rẽ, gây khó khăn? Tôi có khiêm nhượng để nhẫn nại hy sinh chữa lành các thương tích gây ra cho sự hiệp thông hay chăng?

3- Sau hết, điểm cuối cùng trong cái sâu sắc hơn nữa, đó là vấn đề ai là động cơ cho mối hiệp nhất này của Giáo Hội? Chính là Thánh Linh. Mối hiệp nhất không phải chính yếu là hoa trái của việc chúng ta ưng thuận, của việc nỗ lực để tiến đến chỗ đồng ý, mà là xuất phát từ Đấng làm cho mối hiệp nhất trong đa dạng này trở thành hòa hợp. Bởi vậy, cầu nguyện là những gì quan trọng, là linh hồn của việc dấn thân như những con người nam nữ của mối hiệp thông, của sự hiệp nhất.

Chúng ta hãy cầu nguyện cùng Chúa: xin hãy giúp cho chúng con có thể trở nên hiệp nhất hơn, đừng bao giờ trở thành dụng cụ gây chia rẽ; xin hãy làm cho chúng con biết dấn thân - như một kinh nguyện của Thánh Phanxicô - mang yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi xúc phạm, đem hiệp nhất đến nơi bất hòa.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo Zenit
http://www.zenit.org/en/articles/on-the-unity-of-the-church

 
OC HOI DE SONG DAO # 83 = DANG LE CHUA NHAT- NGHI THUC PDF Print E-mail

NGHI THỨC TRAO TÁC VỤ PHÓ TẾ VÀ LINH MỤC LÀ GÌ ?

Hỏi : xin cha giải thích 2 thắc mắc sau đây :
1- Đi chơi xa có buộc xem lễ ngày Chúa nhật không ?Xem Lễ trên Truyền
Hình có thay được lễ ngày Chúa nhật hay không. ?
2- Nghi Thức trao tác vụ Phó Tế và Linh mục là nghi thức nào ?
Trả lời :
1- Luật xem lễ ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ buộc quanh năm là luật tòng nhân ( personalis) nghĩa là đi bất cứ nơi nào trong Giáo hội thì vẫn buộc phải thi hành.
Trái lại, luật tòng thổ (Territorialis) chỉ buộc phải thi hành ở nơi có luật mà thôi. Thí dụ, tham dự Thánh Lễ Ngày Chúa Nhật, Rước Mình Thánh Chúa trong Mùa Phục Sinh, xưng tội ít là một lần mỗi năm, v.v là luật tòng nhân
được áp dụng ở khắp nơi trong Giáo Hội. Do đó, đi du lịch xa nhà, xa giáo xứ của mình thì vẫn buộc phải tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật và các ngày Lễ buộc như Lễ Giáng Sinh, lễ Đức Mẹ hồn xác lên Trời ( 15-8), Lễ các Thánh Nam Nữ ( 1-11), Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai ( 9-12) v.v
Nhưng nếu đi chơi xa mà nơi đó không có nhà thờ Công Giáo khiến không thể chu toàn luật buộc thì có thể được miễn thi hành vì lý do bất khả kháng, nhưng phải làm việc lành bù lại như lần chuỗi Mân Côi .v.v
Luật tòng thổ chỉ áp dụng nơi nào có luật. Thí dụ ở Mỹ không có luật buộc phải ăn chay kiêng thịt ngày thứ sáu quanh năm hay trong Mùa chay mà chỉ buộc ăn chay kiêng thịt ngày Thứ tư lễ tro và Thứ sáu Tuần Thánh mà thôi ( trong mùa chay chỉ có lời khuyên kiêng thịt chứ không có luật buộc).. Do đó nếu giáo dân ở Mỹ đi đến nơi nào có luật buộc ăn chay kiêng thịt các ngày thứ sáu trong mùa chay thì phải thi hành luật ở nơi đó.( luật tòng thổ)
Cũng vậy, ở Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục cho phép cử hành Lễ trong các ngày Tết của dân tộc ( Tết Nguyên Đán) với phụng vụ dành riêng cho 3 ngày Tết. Nhưng ở ngoại quốc nói chung, và ở Mỹ nói riêng, thì các linh mục coi xứ Việt Nam không được tự tiện áp dụng Phụng vụ ngày Tết bên Viet Nam, mà phải theo Phụng vụ chung của địa phận nơi mình cư trú. Muốn làm lễ Tết theo phụng vụ VN thì phải xin phép Giám mục địa phương, chứ không được tự tiện làm; vì theo luật, các giáo hữu Việt Nam ở ngoại quốc thì nay thuộc quyền chăm sóc mục vụ của giáo quyền nơi mình sinh sống chứ không còn thuộc quyền coi sóc của Giám mục nào bên Việt nam nữa..
Vì thế, .khi một Giám mục bên nhà có sang thăm " con chiên cũ"ở Mỹ hay ở bất cứ quốc gia nào ngoài Viêt Nam, thì chỉ thăm với tính cách thân hữu xã giao, chứ không thăm với tư cách " mục vụ" vì giáo dân cũ nay đang thuộc quyền mục vụ của Giám mục địa phương nơi họ đang sinh sống. Cần nói rõ điều này vì có nhiều người ở Mỹ vẫn nói Giám mục này hay Giám mục kia đến thăm mục vụ con chiên cũ của mình đang ở Mỹ.
Nói vậy là sai luật tòng thổ và trách nhiệm mục vụ của Giáo Hội.
Lại nữa, cũng cần nói thêm để mọi giáo dân đang sống ở Mỹ được biết rằng Tổ chức Liên Đoàn Công Giáo VN ở Mỹ chỉ là một tổ chức tư nhân với mục đích thân hữu giữa các linh mục và giáo dân VN sống ở Mỹ , chứ không phải là một hệ thống giáo quyền nào đối với các linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam. Các linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam ở Mỹ nay thuộc quyền coi sóc và điều khiển của giáo quyền địa phương –tức là các Giáo phận- nơi mình đang sinh sống và làm việc.
Về vấn đề xem lễ trên Truyền hình, thì mục đích của việc này là để giúp cho các bệnh nhân không thể đi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ trong ngày Chúa Nhật. Nhưng phải nói rõ ngay là nếu đang đau ốm ở nhà hay ở nhà thương, thì bệnh nhân không còn bị buộc phải đi lễ bất cứ ngày nào nữa.Xem lễ trên truyền hình chỉ cốt giúp cho các bệnh nhân được thông công cầu nguyện , tôn thờ và cảm tạ Chúa cùng với Giáo Hội trong ngày Chúa Nhật mà thôi, chứ không có mục đích thay thế việc đi đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh lễ cùng với những người khỏe mạnh.
Tóm lại, bệnh nhân – và cả người săn sóc bệnh nhân- không buộc phải đi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ bất cứ ngày nào. Người khỏe mạnh không được phép xem lễ trên Truyền hình để thay cho việc phải đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật. Lễ trên Truyền hình chỉ giúp cho bệnh nhân, và người già yếu thông công cầu nguyện chứ không nhằm thay thế Lễ ngày Chúa nhật cho nhũng người khỏe mạnh.
2- Nghi thức trao tác vụ Phó Tế và Linh mục là gì ?
Trước đây tôi đã có lần giải thích là trong các Nghi thức ( Rites) được Giáo Hội công bố cho thi hành ( x The Rites, Volume Two ) thì tuyệt dối không có Nghi thức nào gọi là Nghi Thức Trao tác vụ Phó tế, hay Linh mục cả Ngược lại , chỉ có Nghi thức về Lề Truyền Chức Phó tế , Lịnh mục hay Giám mục mà thôi.
Cũng theo Sách Nghi Thức nói trên thì chỉ có 2 Tác Vụ đọc Sách ( Lector) và Giúp Lễ ( Acolyte) mới được trao trong nghi thức gọi là:
1- Institution of readers (được phép đọc Sách Thánh trong Thánh Lễ)
2- Institution of Acolytes( được phép giúp bàn thánh như cho rước Lễ và
Sau đó lau chùi chén thánh ( purification of Chalice or Communion sets)
Đây là hai tác vụ ( Ministry) được trao cho các đại chủng sinh vào cuối năm Thần học I ( Tác vụ đọc sách) và cuối năm Thần học II ( tác vụ giúp lễ).
Ngày nay giáo dân cũng được trao cho tác vụ đọc sách thánh và phụ cho Rước Lễ với tư cách là Thừa tác viên bất thường cho Rước Lễ ( Extraordinary Ministers of Holy Communion)
Các đại chủng sinh và ứng viên Phó tế vĩnh viễn phải lãnh 2 tác vụ trên trước khi được lãnh chức thánh Phó Tế và chức Linh mục ( dành cho phó tế chuyển tiếp= Transitional deacons).
Như thế chỉ có nghi thức trao tác vụ đọc sách và giúp lễ mà thôi.Đây là tác vụ chứ không phải là chức thánh ( Holy Order) nên không cần phải tháo gỡ ( dispensation) khi chủng sinh không muốn , hay không được gọi tiến lên lãnh chức thánh Phó tế trước khi được chịu chức Linh mục..
Đành rằng mọi công việc thánh vụ của Phó tế , của Linh mục hay Giám mục được gọi là tác vụ Phó tế ( diaconal ministries) tác vụ linh mục ( priestly ministries) và tác vụ của Giám mục ( Episcorpal ministries) .Nhưng muốn thi hành các tác vụ này thì buộc phải có chức thánh cấp Phó Tế, cấp Linh mục và cấp Giám mục. Các Chức thánh này phải được một Giám mục truyền cho trong Thánh Lễ gọi là :
- Lễ Truyền chức Phó tế ( Mass of Ordination of a deacon (s)
- Lễ truyền chức Linh mục( Mass of Ordination of a priest ( s)
- Lễ truyên chức Giám mục ( Mass of ordination or consecration of a bishop)
Phó tế và Linh mục phải chịu chức rồi thì Giám mục mình trực thuộc mới bổ nhiệm ( hay còn gọi nôm na là bài sai) về một giáo xứ với năng quyền ( Faculties) được làm như cử hành Thánh Lễ và các bí tích trừ bí tích truyền chức thánh, nếu là linh mục.. Riêng phó tế thì cũng được bổ nhiệm về một giáo xứ dưới quyền
điều khiển trực tiếp của cha xứ ( pastor ). Nếu không có sự bổ nhiệm trên của Giám mục thì không linh mục hay phó tế nào được thi hành tác vụ của mình, mặc dù có chức Phó tế hay Linh mục.Giám mục có thể tạm hay vĩnh viễn thu hồi những năng quyền đã trao cho linh mục hay phó tế, vì lý do bất đắc dĩ nào đó.Và khi đã bị thâu hồi năng quyền, thì linh mục và phó tế đều không được phép thi hành tác vụ của mình cách công khai nữa. Nghĩa là không được phép công khai làm mục vụ ở đâu nữa cho đến khi được giám mục tái bổ nhiệm để thi hành những năng quyền được ban cho.
Như thế, Tuyệt đối không có Nghi thức nào gọi là Nghi thức trao tác vụ Phó Tế hay Linh mục trong Giáo Hội Công Giáo từ xưa đế nay.
Trước Công Đồng Vaticanô II, Giáo Hội còn duy trì và trao các chức thánh nhỏ ( Minor Orders) như Mở của nhà thờ ( Porter) trừ quỉ ( Exocism) Đọc sách ( Lector) và giúp lế ( Acolyte). Các chức thánh nhỏ này cũng được trao chung trong Thánh Lễ gọi là Lễ Truyền chức thánh , trong đó, một số chủng sinh được trao các chức nhỏ, một số lãnh chức Phó tế, và một hay vài phó tế được lãnh chức Linh mục.
Sau Công Đồng Vaticanô II, thì 4 chức nhỏ trên được bãi bỏ để chỉ còn lại 3 chức thánh là chức Phó tế, chức Linh mục và chức Giám mục mà thôi.( x giáo luật số 1009 & 1)
Vì không còn là Chức thánh nên 2 tác vụ đọc sách và giúp lễ có thể do linh mục , trao cho trong khi các Chức Phó tế, Linh mục và Giám mục phải do một Giám mục truyền trong Thánh lễ gọi là Lễ Truyền Chức. thánh ( Mass of Ordination)
Nghĩa là cả 3 chức thánh trên đây phải được truyền cho trong Thánh lễ gọi là Lễ truyền chức Phó tế, linh mục hay Giám mục, theo đúng qui định trong Sách Nghi thức ( Rites) được Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI ký ban hành cho áp dụng trong toàn Giáo Hội từ ngày 15 tháng 8 năm 1972 cho đến nay.
Như vậy ai "phăng ra "cái gọi là Lễ hay Nghi thức trao tác vụ phó tế hay Linh mục là không hiểu gì về sự khác biệt giữa tác vụ (ministerium) và Chức thánh ( Ordo) cũng như đã tự ý sửa đổi Sách Nghi Thức nói trên, một điều không ai –dù là Giám mục, Hồng Y – được phép làm nếu còn muốn hiệp thông với Giáo Hội trong mọi lãnh vực, giáo lý, tín lý, luân lý, phụng vụ, kỷ luật bí tích và giáo luật.
Nói rõ hơn,, mọi thành viện trong Giáo Hội đều có bổn phận phải áp dụng và thi hành nghiêm túc những gì đã được quy định trong Sách Giáo Lý, Giáo luật, luật Phụng vụ và Nghi Thức Phụng vụ của Giáo hội để không ai được phép "phăng" ( Fantaisie) ra luật hay nghi thức nào của riêng mình khiến gây hoang mang cho giáo dân.
Tóm lại, chỉ có Lễ truyền Chức Phó tế, Linh mục hay Giám mục, mà thôi( x. Giáo luật số 1010) chứ không có Nghi thức trao tác vụ Phó tế, Linh mục hay Giám mục như ai đã tự ý nói sai.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 101 102 103 104 105 106 107 108 109 110 Next > End >>

Page 107 of 133