mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay617
mod_vvisit_counterHôm Qua7734
mod_vvisit_counterTuần Này38793
mod_vvisit_counterTuần Trước43672
mod_vvisit_counterTháng Này92513
mod_vvisit_counterTháng Trước155737
mod_vvisit_counterTất cả12288746

We have: 89 guests, 1 members online
Your IP: 34.228.30.69
 , 
Today: Dec 15, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 173 = DAI BANG GIOAN PDF Print E-mail

Chân dung "đại bàng" Gioan

Có thể người ta sẽ cảm thấy "nổi da gà" hoặc "nhột" khi nghe hai chữ "đại bàng", vì nickname (biệt danh) này thường dùng để chỉ đám côn đồ, dân "anh chị", loại chúa đảng. Nhưng với Thánh Gioan, "đại bàng" không mang ý nghĩa "lạnh gáy" đó, vì "đại bàng" Gioan (khoảng năm 6–100) rất nhân hiền và dễ thương, và là thánh sử – tác giả sách Tin Mừng thứ tư, 3 thánh thư, và sách Khải Huyền. Đại bàng chỉ là biểu tượng hoặc biệt danh của ngài mà thôi.

Giáo hội kính nhớ Thánh sử Gioan ngay sau lễ Giáng sinh, nói lên sự nối kết giữa Chúa Giêsu và vị thánh trẻ này, vì thánh nhân đã được diễm phúc tựa đầu vào ngực Chúa để nghe những nhịp-yêu-thương-thổn-thức nơi Thánh Tâm Chúa (Ga 13:25). Chính Thánh Gioan cũng xác nhận mình là "người môn đệ được Chúa yêu" (Ga 20:1; Ga 20:8; Ga 21:7; Ga 21:20).

Tên Gioan theo tiếng Aram là Yoħanna, tiếng Hy Lạp là Ἰωάννης. Ngài là con trai của ông Dêbêđê (Zebedee) và bà Salômê (Salome), là em ruột của Thánh Giacôbê "lớn" (James the Great). Truyền thống Kitô giáo cho biết rằng Thánh Gioan sống thọ hơn các tông đồ khác – vì các tông đồ khác đều chịu tử đạo (trừ Giuđa Ítcariốt – chết vì tự treo cổ do mặc cảm là đã phản bội Chúa Giêsu).

Tin Mừng theo Thánh Gioan khác hẳn với các sách Tin Mừng nhất lãm (Mátthêu, Máccô, Luca) có thể được viết cả chục năm trước Tin Mừng theo Thánh Gioan. Các giám mục Tiểu Á cho rằng Thánh Gioan viết sách Phúc Âm để xử lý tà thuyết của Ebionites, người cho rằng Đức Kitô không hiện hữu trước Đức Maria. Có thể Thánh Gioan biết và đồng ý với các Phúc Âm theo Thánh Mátthêu, Máccô và Luca, nhưng các Phúc Âm này nói về Chúa Giêsu trong thời gian sau khi Thánh Gioan Tẩy Giả bị tù đày và bị giết chết. Tuy nhiên, khoảng năm 600, Sophronius thành Giêrusalem nói rằng hai thánh thư mang tên ngài đều được một số người coi là tác phẩm của Thánh Gioan "già" (John the Elder), còn sách Khải Huyền được Thánh Gioan "trẻ" viết tại Patmos, sau đó được Thánh tử đạo Giúttinô và Thánh Irênê chuyển ngữ, có thể coi là nỗ lực hài hòa truyền thống với các điểm dị biệt trong văn phong Hy Lạp.

Một số học giả hiện đại cho rằng có thể Thánh Gioan Tông đồ, Thánh sử Gioan và Thánh Gioan ở Patmos là ba người khác nhau. Có chứng cớ cho rằng Thánh Gioan ở Patmos đã viết sách Khải Huyền nhưng không viết Phúc Âm theo Thánh Gioan hoặc các thư của Thánh Gioan. Tác giả sách Khải Huyền tự nhận là "Gioan" vài lần, nhưng tác giả của Phúc Âm theo Thánh Gioan không hề xác nhận. Một số học giả Công giáo nói rằng "từ ngữ, văn phạm và văn phong cho thấy có thể sách này được quy cho cùng một tác giả của sách Tin Mừng thứ tư".

Thánh Gioan Tông đồ là con ông Dêbêđê và em trai Thánh Giacôbê (Giacôbê "lớn"). Dựa vào Kinh Thánh, truyền thống coi bà Salômê là mẹ của họ. Thánh Giacôbê và Thánh Gioan là anh em họ của Chúa Giêsu, bà Salômê là chị họ của Đức Maria, mẹ của Chúa Giêsu. Ông Dêbêđê và hai con trai đánh cá ở hồ Ghê-nê-sa-rét. Thánh Giacôbê và Thánh Gioan là môn đệ của Thánh Gioan Tẩy giả trước đó, cũng là anh em họ. Lúc đó Chúa Giêsu gọi Thánh Phêrô và Thánh Anrê, cùng với hai con trai ông Dêbêđê đi theo Ngài. Thánh Giacôbê và Thánh Gioan đi theo, do đó có "uy tín" trong Nhóm Mười Hai. Thánh Giacôbê và Thánh Gioan giữ vị trí nổi trội vì không chỉ là các môn đệ đầu tiên mà còn vì mối quan hệ của họ đối với Chúa Giêsu trong số các tông đồ. Chúa Giêsu gọi họ là "Boanerges" (con của sấm sét) [Mc 3:17] dù bản chất của họ hiền lành và trầm tĩnh, khi sự kiên nhẫn bị đẩy lên tới cực độ thì họ mới "nổi nóng", quát tháo như "sấm sét", đến nỗi lúc đó cả Gioan và Giacôbê đều muốn xin lửa từ trời xuống thiêu hủy một thành phố của người Samari, nhưng Chúa Giêsu đã la rầy hai ông (Lc 9:51-56). Thánh Gioan sống thọ hơn Thánh Giacôbê hơn nửa thế kỷ sau khi Thánh Giacôbê chịu tử đạo.

Thánh Phêrô, Thánh Giacôbê và Thánh Gioan là các nhân chứng khi Chúa Giêsu cứu sống con gái ông Giairô (Mc 5:37). Ba ông cũng chứng kiến cuộc biến hình của Chúa Giêsu (Mt 17:1) và cận cảnh hấp hối của Chúa Giêsu tại vườn Ghết-si-ma-ni hơn các tông đồ khác (Mt 26:37).

Chúa Giêsu sai hai ông Phêrô và Gioan vào thành phố để chuẩn bị Bữa Vượt Qua (Lc 22:8). Trong khi ăn, "người môn đệ được Chúa yêu" ngồi kế bên Chúa Giêsu và tựa đầu vào ngực Ngài. Truyền thống xác định môn đệ này là Thánh Gioan (Ga 13:23-25). Sau khi Chúa Giêsu bị bắt, ông Phêrô và "một môn đệ khác" đi theo Ngài vào dinh thầy Thượng tế (Ga 18:15).

Chỉ có Thánh Gioan là tông đồ còn ở gần Chúa Giêsu khi Ngài bị treo trên Thập giá tại đồi Can-vê cùng với những người mang hương liệu và một số phụ nữ khác. Khi ở trên Thập giá, Chúa Giêsu trao Đức Mẹ cho Thánh Gioan chăm sóc (Ga 19:25-27). Sau khi Chúa Giêsu lên trời và Chúa Thánh Thần hiện xuống vào ngày Lễ Ngũ Tuần, Thánh Gioan cùng với Thánh Phêrô giữ vị trí cao trong việc thành lập và hướng dẫn Giáo hội. Thánh Gioan cùng với Thánh Phêrô đã chữa lành người què ở Đền thờ Giêrusalem. Thánh Gioan cũng bị tù đày với Thánh Phêrô (Cv 4:3). Ngài cũng cùng Thánh Phêrô thăm viếng các tân tòng (Cv 8:14).

Trong Kinh Thánh không có thông tin nào khác liên quan thời gian hoạt động tại Giuđêa. Theo truyền thống, Thánh Gioan và các tông đồ khác vẫn hoạt động 12 năm ở nơi đầu tiên, cho tới khi bị Hoàng đế Hêrôđê Agrippa I bách hại ở các vùng thuộc quyền của Hoàng đế Rôma.

Khi Thánh Gioan vẫn ở Giuđêa và các vùng lân cận, các môn đệ khác trở lại Giêrusalem tham dự Công đồng (khoảng năm 51). Khi đối với kẻ thù ở Galát, Thánh Phaolô nhớ rằng chính Thánh Gioan, với Thánh Phêrô và Thánh Giacôbê Nhiệt thành, được coi là "những cột trụ của Giáo hội" và là những người rao truyền Phúc Âm không lệ thuộc luật Do Thái, đã "chết đối với Lề Luật để sống cho Thiên Chúa" (Gl 2:9) tại Giêrusalem.

Theo các văn bản khác của Tân ước, chỉ có từ ba thư của Thánh Gioan và sách Khải Huyền mới có những điều có thể biết về Thánh Gioan, nếu chúng ta cho rằng ngài là tác giả của các sách khác. Từ các thư và sách Khải Huyền, chúng ta có thể cho rằng Thánh Gioan thuộc về số các nhân chứng đối với cuộc đời và công việc của Chúa Giêsu (1 Ga 1:1-5; 1 Ga 4:14), đã sống lâu ở Tiểu Á, quen với thông thổ ở đó, và có vị thế là một trong những người hướng dẫn Giáo hội. Hơn nữa, sách Khải Huyền nói rằng tác giả là người ở đảo Patmos "vì Lời Chúa và làm chứng về Chúa Giêsu", khi ngài được kính trọng với các thị kiến có trong sách Khải Huyền do lệnh truyền của Thiên Chúa: "Ngươi hãy viết những gì đã thấy, những gì đang diễn ra và những gì sẽ xảy ra sau này" (Kh 1:19).

Mặc dù một số học giả đồng ý khi cho rằng Phúc Âm theo Thánh Gioan được viết vào khoảng giữa những năm 65–85 sau công nguyên, GS John A.T. Robinson đề nghị vào khoảng những năm 50–55 và cuối cùng là năm 65 vì trình thuật tương tự với Thánh Phaolô. Các học giả khác cho rằng Phúc Âm theo Thánh Gioan được biên soạn trong nhiều giai đoạn (có thể hai hoặc ba). Cũng có người cho rằng Phúc Âm này mãi tới cuối thế kỷ I mới được viết. Trưởng khoa Tân ước tại ĐH Wake Forest University School of Divinity, GS Gail R. O'Day, viết lời giới thiệu Phúc Âm trong Bản dịch Tiêu chuẩn Kinh Thánh mới (New Revised Standard Translation of the Bible) cho biết niên đại là năm 75–80. Các học giả khác cũng tin rằng có thể vào khoảng từ thập niên cuối thế kỷ I cho tới đầu thế kỷ II (khoảng năm 90–100).

Giáo hội Chính thống Đông phương và Giáo hội Công giáo Đông phương theo Nghi lễ Byzantine kỷ niệm "Sự an nghỉ của Thánh sử Gioan Tông đồ Thần học gia" vào ngày 26 tháng 9. Ngày 8 tháng 5, họ mừng "Lễ Thánh sử Gioan Tông đồ Thần học gia", vào ngày này các Kitô hữu thường đến mộ ngài cầu xin chữa bệnh.

Tới năm 1960, một lễ khác xuất hiện trong Công lịch Rôma là lễ "Thánh Gioan trước Cổng Latin" vào ngày 6 tháng 5, cử hành một truyền thống do Thánh Giêrônimô kể rằng Thánh Gioan được đưa tới Rôma dưới triều Hoàng đế Domitian, và bị ném vào chum nước sôi, nhưng ngài không hề hấn gì. Nhà thờ San Giovanni a Porta Latina (Thánh Gioan Cổng Latin) dành dâng kính ngài được xây dựng gần Cổng Latin của Rôma, nơi xảy ra sự kiện này.

Các Kitô hữu tôn kính ngài nhưng không tuyên thánh. Tới thế kỷ XIX, Phúc Âm theo Thánh Gioan được coi là của Thánh Gioan Tông đồ. Tuy nhiên, các học giả vẫn quan ngại. Phúc Âm này được coi là của môn đệ mà Chúa Giêsu yêu (ο μαθητης ον ηγαπα ο Ιησους) [Ga 20:2]. Thuật ngữ "môn đệ được Chúa yêu" (ον εφιλει ο Ιησους) được sử dụng 5 lần trong Phúc Âm theo Thánh Gioan để xác định tác quyền (Ga 21:14) mà người ta cho rằng Phúc Âm theo Thánh Gioan dựa trên chứng cớ thật của "Người Môn Đệ Được Chúa Yêu".

Lạy Thánh Gioan Tông đồ, xin nguyện giúp cầu thay!

TRẦM THIÊN THU (Tổng hợp và chuyển ngữ)

Kính chuyển:

Hồng

(St John 28-12) ChanDungThanhGioan

----------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 172 = MAU NHIEM NHAP THE PDF Print E-mail

Dec 16 at 9:52 PM

Mầu nhiệm Nhập thể và Đức Maria

Chị Êlisabét có thai được sáu tháng thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Chị". Nghe lời ấy, Maria rất bối rối và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: "Thưa Chị Maria, xin đừng sợ, vì Chị đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây Chị sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng Vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại Người sẽ vô cùng vô tận" (Lc 1:26-33).

Nhập thể là gì? Nhập thể là Con Thiên Chúa hóa thân làm người, mặc xác phàm, có nhân tính nhưng vẫn có thiên tính. Để dễ hiểu, chúng ta cứ nghĩ như thân xác và linh hồn chúng ta vậy.

Nhập thể là hóa thành xác phàm, hóa thành nhục thể, đó là hành động khiêm nhường nhất. Nghĩa là Ngôi Hai Thiên Chúa hằng hữu, toàn năng, vô tận và bất biến đã tự nguyện làm người và cũng có những yếu đuối thể lý của nhân loại. Ngài tự hạn chế trong thân xác nhân loại, cũng cảm thấy đau đớn và bệnh tật, và với linh hồn của nhân loại cũng làm cho Ngài cảm thấy đau khổ, cô đơn, ưu sầu.

Bởi tác động của Chúa Thánh Thần, Con Thiên Chúa xuống thế làm người ngay khi Đức Mẹ khiêm nhường nói lời "xin vâng" (Lc 1:38), vì Đức Mẹ tin tưởng rằng "đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" (Lc 1:37). Thiên tính của Đức Kitô có từ đời đời, chỉ có nhân tính của Ngài bắt đầu từ khi Ngài nhập thể.

Không bao giờ chúng ta có thể hiểu hết Mầu nhiệm Nhập thể, nhưng phải tin kính và tôn thờ.

"Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1:14). Đức Kitô là người như chúng ta về mọi phương diện, ngoại trừ tội lỗi. Ngài không thể phạm tội vì Ngài là Thiên Chúa toàn thiện. Nhưng về các phương diện khác thì Ngài cũng như chúng ta: Ngài có thân xác, có linh hồn, có ý muốn của một con người. Hầu như chúng ta không thể hiểu được điều này theo lý luận của con người. Thánh Gioan Chrysostom nói: "Tôi biết Con Thiên Chúa trở nên con người, nhưng tôi không biết như thế nào". Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ từ hư vô, Ngài cũng khả dĩ tạo nên Mầu nhiệm Nhập thể.

Con Thiên Chúa được thụ thai trong lòng Đức Trinh nữ Maria và trở nên Con Người nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi Thiên Chúa cùng hợp tác trong Mầu nhiệm Nhập thể, nhưng chỉ có Ngôi Hai làm người khi hóa thành nhục thể.

Nhập thể là công việc đặc biệt của Tam vị Nhất thể. Chúa Ba Ngôi hình thành linh hồn và cơ thể nhân loại nơi Ngôi Hai Thiên Chúa: Đức Giêsu Kitô, một Thiên-Chúa-Con-Người. Quyền năng Chúa Thánh Thần tạo nên Mầu nhiệm Nhập thể, vì Ngôi Ba Thiên Chúa là Tình Yêu của Chúa Cha và Chúa Con, Ngôi Ba Thiên Chúa đặc biệt diễn tả Tình yêu ấy. Mầu nhiệm Nhập thể là ví dụ tối cao và điển hình về Tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại.

Đúng là Chúa Con nên nhập thể, hơn là Chúa Cha hoặc Chúa Thánh Thần, vì Chúa Con xuất phát từ Chúa Cha và được Chúa Cha sai đến trần gian. Chúa Con là hoa trái của Ơn Cứu Độ và gởi Chúa Thánh Thần đến. Như vậy qua Chúa Con chúng ta trở thành dưỡng tử của Thiên Chúa.

Chúa Con được thụ thai và hóa thành nhục thể từ khi Sứ thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria, thế nên Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Trinh nữ Maria là một thôn nữ nhu mì và giản dị sinh sống tại Nadaret, thuộc miền Galilê. Một hôm, Sứ thần hiện ra với Đức Maria và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng Chị" (Lc 1:28).

Thôn nữ Maria quá đỗi kinh ngạc, nhưng Sứ thần đã trấn an: "Thưa Chị Maria, xin đừng sợ, vì Chị đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây Chị sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao" (Lc 1:30-32). Sự kiện trọng đại này được gọi là Truyền Tin, lễ kính vào ngày 25-3.

Đức Mẹ biết Sứ thần được Thiên Chúa sai đến, nên Đức Mẹ liền thưa: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Thiên Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1:38). Ngay lúc Đức Mẹ nói những lời đó, Đức Giêsu Kitô trở thành con người trong cung lòng Đức Mẹ, thế là sự nhập thể hoàn tất.

Mầu nhiệm Nhập thể được kính nhớ hàng ngày khi chúng ta đọc kinh Truyền Tin (Angelus) – chúng ta quen gọi là "sai Thiên thần" (Đức Chúa Trời sai Thánh Thiên thần truyền tin cho Đức Bà Maria... Chốc ấy Ngôi thứ Hai xuống thế làm người...). Lời cầu nguyện này được Giáo hội đọc mỗi buổi sáng, buổi trưa, buổi tối, và khi đó kéo chuông Truyền Tin.

Trong mùa Phục Sinh, kinh Nữ Vương Thiên Đàng (Regina Coeli – Lạy Nữ Vương Thiên Đàng hãy vui mừng, Alleluia...) được thay thế kinh Truyền Tin. Xin "mở ngoặc" nhỏ: Ai không thuộc kinh Truyền tin và kinh Nữ vương Thiên đàng thì có thể đọc thay bằng 5 kinh Kính Mừng.

Chúa Giêsu có cha mẹ là con người? Ngài có một hiền mẫu nhân loại là Đức Maria, nhưng không có một người cha nhân loại. Đức Thánh Giuse chỉ là Dưỡng phụ (1). Đức Maria là Mẹ thật của Đức Giêsu Kitô, nhưng Đức Maria không là Thiên Chúa. Nhân tính và thiên tính của Chúa Con không thể tách biệt. Cũng vậy, chúng ta vẫn gọi song thân là cha và mẹ dù cha mẹ không là người cho chúng ta thể xác, cũng chẳng cho chúng ta linh hồn.

Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu nhưng Đức Mẹ vẫn hoàn toàn đồng trinh. Việc sinh Chúa Giêsu là một mầu nhiệm không thể hiểu thấu. Chúng ta chỉ có thể dùng đức tin để chấp nhận đó là sự thật dựa vào Lời Chúa, vì Thiên Chúa là Đấng toàn năng.

Đức Thánh Giuse là hôn phu hợp pháp của Đức Maria, nhưng cả hai đều khấn giữ mình đồng trinh. Các ngài chung sống với nhau nhưng luôn coi nhau như anh em. Đức Thánh Giuse là "vệ sĩ" hoặc dưỡng phụ của Chúa Giêsu....

TRẦM THIÊN THU

Kính chuyển:

Hồng

----------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 171 = NAM CHUA GIANG SINH PDF Print E-mail

Dec 14 at 9:58 PM

Chúa Giêsu giáng sinh năm nào ?

JIMMY AKIN

Có thể người ta vẫn nghĩ là Chúa Giêsu giáng sinh năm 0 (năm Không, năm Zero) – khoảng giao niên giữa năm 1 trước công nguyên (TCN) và năm 1 sau công nguyên (SCN), nói chung là khoảng năm 6-7 TCN. Chứng cớ từ Kinh Thánh và các Giáo phụ cũng khác nhau.

Chắc chắn không phải là năm 0 (zero). Chứng cớ cho thấy Chúa Giêsu cũng không sinh năm 1. Đó là điều khá ngạc nhiên, vì chúng ta thường dùng những con số có số 0, nhưng số 0 không là khái niệm để tính năm.

Có thể nghĩ thế này: Cứ thử nghĩ mình có một đứa con và muốn dự định các sự kiện liên quan ngày sinh của đứa con đó. Năm thứ nhất trước khi đứa con sinh ra hẳn là năm 1 SCN, còn năm thứ nhất sau khi đứa con sinh ra hẳn là năm 1 (sinh nhật thứ nhất) là năm đầu tiên của đứa con. Nếu người con là Chúa, hẳn là năm thứ nhất của Chúa, nghĩa là SCN. Như vậy, không có năm 0 giữa năm 1 TCN và năm 1 SCN. Vậy Chúa Giêsu sinh năm nào?

Năm 1 TCN? (Trước Công Nguyên)

Người tính năm Chúa Giêsu sinh ra là tu sĩ Dionysius Exiguus (gọi tắt là Dennis), sống vào thế kỷ VI. Ông nghĩ rằng Chúa Giêsu sinh năm 1 TCN. Thực sự là hơi phức tạp, nhưng chúng ta cứ coi là đơn giản. Ngày nay, đa số đều nghĩ rằng thời gian đó là quá trễ, còn chứng cớ cho thấy sớm hơn vài năm.

Năm 6-7 TCN?

Nếu ít hơn một thế kỷ, đa số cho rằng Chúa Giêsu sinh khoảng năm 6-7 TCN. Lý do: Chúa Giêsu sinh vào cuối triều vua Hêrôđê Cả, băng hà năm 4 TCN.

Hơn nữa, các nhà thông thái đã thấy ngôi sao lạ xuất hiện ở Đông phương từ hai năm trước khi họ đến Giêrusalem, nơi họ gặp vua Hêrôđê. Trở lại hai năm từ năm 4 TCN, chúng ta có năm 6 TCN. Trở lại một năm nữa nếu vua Hêrôđê không mất ngay sau khi họ tới Giêrusalem, chúng ta có năm 7 TCN. Như vậy là năm 6 hoặc 7 TCN. Như chúng ta biết, vấn đề là việc cho rằng vua Hê-rô-đê mất năm 4 TCN. Như vậy có hai cách hiểu "có vấn đề".

Năm 3-4 TCN?

Chứng cớ cho thấy vua Hêrôđê mất năm 1 TCN. Như vậy, trở lại hai năm thì chúng ta có năm 3 TCN. Trở lại một năm thì chúng ta có năm 4 TCN. Như vậy là năm 3-4 TCN. Vậy là có lý, nhưng lại vẫn có vấn đề.

Chứng cớ khác, bao gồm chứng cớ khác trong Kinh Thánh, cho thấy sớm hơn một chút. Cách hiểu "có vấn đề" là ngôi sao lạ lần đầu được thấy ở Đông phương vào thời điểm Chúa Giêsu giáng sinh và thấy hai năm trước khi các nhà thông thái tới Belem.

Vấn đề thứ nhất của cách hiểu "có vấn đề" (trong số các vấn nạn khác) là vì sự xuất hiện của ngôi sao có thể liên kết với điểm khác trong cuộc đời Chúa Giêsu, chẳng hạn như quan niệm của Ngài. Nếu có trường hợp này, người ta cần trừ bớt chín tháng để tìm ra thời điểm Chúa giáng sinh.

Đó cũng là vấn đề vì Thánh Matthêu không nói rằng ngôi sao xuất hiện từ hai năm trước. Điều ngài nói là vua Hêrôđê đã giết hết các trẻ nam từ 2 tuổi trở xuống ở vùng Belem, hợp với thời gian ông ta gặp các đạo sĩ. Nghĩa là có mức xấp xỉ ở đây. Vua Hêrôđê chắc chắn muốn Hài Nhi Giêsu bị giết chết, nhưng ông ta đã lầm to!

Nghĩa là Chúa Giêsu ít nhất gần 2 tuổi, nhưng cũng có thể còn ít tuổi hơn. Điều có thể xảy ra là vua Hêrôđê có thể đã nghe nói rằng ngôi sao xuất hiện một năm trước và ông ta quyết định giết chết các trẻ em nam từ hơn 1 tuổi cho chắc ăn. Sự thật là người xưa thường tính gọn cho trọn một năm, do đó "hai năm" có thể nghĩa là "một năm cộng với nửa năm thứ hai". Vì thế, có thể là hai năm trước hoặc ít hơn.

Năm 2-3 TCN?

Thời gian được xác định nếu chúng ta bắt đầu từ năm vua Hêrôđê chết là năm 1 TCN. Tính vào các yếu tố ở trên, trở lại một năm, chúng ta có năm 2 TCN. Nếu chúng ta trở lại một năm nữa để hợp với sự kiện vua Hêrôđê không chết ngay, chúng ta có năm 3 TCN. Như vậy, khoảng thời gian nào đó giữa các năm 2-3 TCN sẽ hợp lý, dựa vào những gì chúng ta đọc trong Phúc Âm theo Thánh Matthêu.

Chúng ta có chứng cớ khác? Có. Cả trong và ngoài Kinh Thánh. Mặc dù Thánh Luca đưa ra một số gợi ý hữu ích về thời gian Chúa Giêsu giáng sinh, chúng ta vẫn không biết đầy đủ. Ngày tháng đăng ký theo lệnh của Augustus còn gây tranh luận, chẳng hạn là quá phức tạp. Tuy nhiên, lại có những điều thú vị. Chẳng hạn, Thánh Luca nói rằng Thánh Gioan Tẩy Giả bắt đầu sứ vụ vào "năm thứ 15 của triều đại Tiberius Caesar" (Lc 3:1).

Tiberius trở thành hoàng đế sau khi Augustus băng hà vào tháng 8 năm 14 SCN. Tuy nhiên, các sử gia Rôma (Tacitus, Suetonius,...) có xu hướng bắt đầu tính triều đại của một hoàng đế từ ngày 1 tháng Một sau khi họ đăng quang.

Theo cách tính đó, năm thứ 15 của hoàng đế Tiberius Caesar phù hợp với những gì chúng ta gọi là năm 29 SCN. Hãy nhớ rằng, năm thứ 15 là thời gian giữa "khoảng trọn vẹn" của năm thứ 14 và năm thứ 15. Cũng vậy, năm đầu của một trẻ sơ sinh là thời gian giữa thời điểm sinh ra và sinh nhật lần thứ nhất. Sứ vụ của Chúa Giêsu bắt đầu vào lúc nào đó sau khi Thánh Gioan Tẩy Giả bắt đầu sứ vụ, nhưng không quá lâu. Có thể chỉ vài tuần hoặc vài tháng.

Nếu vậy, sứ vụ của Chúa Giêsu có thể cũng bắt đầu từ năm 29 SCN. Điều này quan trọng, vì Thánh Luca cho chúng ta một gợi ý khác: Ngài nói rằng Chúa Giêsu "khoảng 30 tuổi" khi Ngài bắt đầu sứ vụ (Lc 3:23). Như vậy, nếu là năm 29 SCN và trở lại 30 năm, như vậy là đúng? Có thể nghĩ đó là năm 1 TCN, nhưng hãy nhớ rằng không có năm 0, vậy là năm 2 TCN, hoặc là cuối năm 3 TCN. Nếu Thánh Luca tính triều đại hoàng đế Tiberius từ lúc ông ta trở thành hoàng đế chứ không là ngày 1 tháng Một. Như vậy, năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN là ước tính hợp lý.

Đó chỉ là ước tính, vì Chúa Giêsu có thể còn nhỏ hơn hoặc lớn hơn 30 tuổi. Về mục đích so sánh, lưu ý rằng khi Thánh Luca cho biết tuổi của con gái của ông Giai-rô, ngài nói nó "khoảng 12 tuổi" (Lc 8:42). Như vậy, Thánh Luca muốn nói chính xác hơn như vậy. Khi Thánh Luca nói rằng Chúa Giêsu "khoảng 30 tuổi", có thể ngài không hình dung ra khoảng 25 tới 35 tuổi, mà là "khoảng" nhỏ hơn như vậy.

Các giáo phụ

Có sự tập trung bất ngờ trong các nguồn của Kitô giáo thời sơ khai về năm sinh Chúa Giêsu. Đây là bảng liệt kê của Jack Finegan trong cuốn Handbook of Biblical Chronology (Sổ tay Biên niên sử Kinh Thánh, trang 291) với niên đại được đề nghị từ các nguồn khác:

Alogoi

Năm 4 TCN hoặc năm 9 SCN

Cassiodorus Senator

Năm 3 TCN

Thánh Irênê thành Lyon

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Thánh Clement thành Alexandria

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Tertullian thành Carthage

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Julius Africanus

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Thánh Hippolytus thành Rôma

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Hippolytus thành Thebes

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Origen thành Alexandria

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Eusebius thành Caesarea

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Epiphanius thành Salamis

Năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN

Orosius

Năm 2 TCN

Dionysius Exiguus

Năm 1 TCN

Thời gian năm 354

Năm 1 SCN

Theo đó, rất có thể Chúa Giêsu giáng sinh vào năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN. Thánh Irênê thành Lyon, Clement thành Alexandria, Tertullian, Julius Africanus, và Hippolytus thành Rôma đều viết vào cuối những năm 100 hoặc đầu những năm 200. Cẩn thận đọc Phúc Âm theo Thánh Matthêu, Thánh Luca, và các Giáo phụ, chúng ta có thể xác định rằng Chúa Giêsu giáng sinh vào năm 3 TCN hoặc năm 2 TCN.

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

KÍnh chuyển:

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 170 = CHI NGHE LOI CHUA PDF Print E-mail

CHỈ NGHE LỜI CHÚA KHÔNG THÔI CÓ ĐỦ ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI KHÔNG ?
Hỏi : các mục sư Tin Lành chỉ nhấn mạnh cần đọc Kinh Thánh và tin Chúa Kitô là đủ cho con người được cứu độ. Xin cha cho biết ý kiến về vấn đề này .
Trả lời:
Tôi đã nhiều lần nó rõ là các nhánh Tin Lành đều chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) và chủ trương rằng con người được cứu độ vì tin Chúa Kitô chứ không phải nhờ việc lành nào có thể làm được. Sở dĩ thế, vì họ cho rằng con người – do hậu quả của tội Nguyên Tổ ( Original Sin) - đã mất hết khả năng hành thiện , tức làm việc lành rồi, nên chỉ còn tin vào Chúa Kitô và đọc lời Chúa trong Kinh Thánh là đủ để được cứu độ.
Quan niệm thần học trên chỉ đúng một phần, đó là tin Chúa Kitô là Đấng Cứu độ nhân loại (human Savior) và tin lời Chúa trong Kinh Thánh, nhưng sai và thiếu ở những phạm trù sau đây:
Trước hết, con người - tuy vẫn còn rất yếu đuối trong bản tính vì hậu quả của tội nguyên Tổ, nhưng vẫn không hoàn toàn bất lực trong cố gắng vươn lên nhờ ơn Chúa nâng đỡ để đạt đích trọn lành hay được cứu rỗi. Nghĩa là con người vẫn còn ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa đã ban tặng và tôn trọng cho con người sử dụng, để hoặc cộng tác với ơn cứu độ của Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô để được cứu độ như lòng Chúa mong muốn, vì : "Thiên Chúa Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)
Nhưng con người vẫn còn có tự do để khước từ Chúa và ơn cứu độ của Người để sống theo ý riêng mình và làm những sự dữ như, vì ham mê của cải, vật chất, danh vọng trần thế, nên đã cướp đoạt tài sản của người khác, gian manh, lừa dối, oán thù, chia rẽ, bóc lột, giết người, giết thai nhi và dâm ô thác loạn như thực trạng sống của con người ở khắp nơi trên thế giới vô luân vô đạo ngày nay.
Vì thế, tin Chúa Kitô và đọc Kinh Thánh chỉ có giá trị trong phạm trù cộng tác với ơn cứu độ của Chúa, và trong ánh sáng của Lời Chúa, để xa tránh mọi sự dữ và tội lỗi để được cứu độ . Ngược lại, nếu chỉ tin và nghe lới Chúa mà không hành động gì để áp dụng cụ thể niềm tin và lời Chúa vào đời sống của mình thì cũng không ích gì, như Thánh Gia-cô-bê Tông đồ đã dạy sau đây:
" Thưa anh em, ai bảo rằng mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì ? ...đức tin không có hành động là đức tin chết." ( Gc 2: 14,17)
Có hành động như Thánh Gia-cô-bê nói trên đây có nghĩa là phải có thiện chí cộng tác với ơn Chúa để thực tâm yêu mến Chúa và làm những việc thiện hảo như bác ái đối với người nghèo khó, công bình trong việc đối sử với mọi người để không bóc lột ai, không làm giầu trên mồ hôi nước mắt của người khác, không trộm cắp, gian dâm và giết hại ai về thể lý cũng như tính thần, không gia nhập các băng đảng của xã hội đen để tống tiền và sát hại người khác theo lệnh của kẻ bao che dung dưỡng, không lui tới những nơi tội lỗi như sòng bạc, nhà điếm,...vì nếu đi vào những con đường tội lỗi trên đây, thì dù miệng có ca ngượi danh thánh Chúa , và hát Alleluia, Alleluia cả trằm ngàn lần, thì cũng vô ích mà thôi.
Đó là lý do tại sao Chúa Giê su đã nói với các môn đệ những lời sau đây:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa ! Lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ ai thì hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên Trời, mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)
Thi hành ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa là phải thực thi hai Điều răn quan trọng nhất là mến Chúa và yêu người thể hiện qua quyết tâm khước từ mọi cám dỗ của ma quỉ, chống lại mọi khuynh hướng xấu của bản năng và quyến rũ tội lỗi của thế gian để bước đi theo Chúa Kitô là " Con Đường , là sự Thật và là sự Sống." (Ga 14:6)
Nói khác đi, nếu chỉ tin và đọc lời Chúa không thôi, thì sẽ thiếu hẳn việc rất quan trọng là sống lời Chuá, sống đức tin vào Chúa qua nỗ lực cải thiện đời sống theo Tin Mừng Cứu Độ mà Chúa Kitô đã rao giảng và trả giá bằng chính mạng sống của mình trên thập giá năm xưa.
Bằng thuyết phục cụ thể là lời Chúa Giêsu nói trên đây, và còn ở nhiều hoàn cảnh khác như ta đọc thấy sau đây:
Một ngày kia, Chúa Giê su đã chữa lành cho một người bị đau ốm đã hơn ba mươi năm , đang nằm bên hồ nước tại Bét-da-tha để chờ được xuống tắm mình cho khỏi bệnh.Chúa đã chữa cho anh. Nhưng sau đó Chúa lại gặp anh này trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, và Người đã nói với anh như sau:
" Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước." ( Ga 5: 14)
Như vậy, rõ ràng cho thấy nếu chỉ tin Chúa, nghe lời Chúa mà không có hành động đi kèm là xa tránh tội lỗi thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa vẫn vô ích cho ai chỉ nói mà không cộng tác với ơn cứu độ của Người để được cứu rỗi. Phải cộng tác vì con người vẫn có tự do để sống theo đường lối của Chúa hay theo ý riêng của mình, theo thế gian và đầu hàng ma quỉ để làm những sự dữ như giết người , buôn bán phụ nữ và trẻ em để cung cấp cho bọn người không tin có Chúa- hay tin mà không sống đức tin ấy- nên đã và đang đi tìm những thú vui rất khốn nạn và tội lỗi là thú dâm ô và ấu dâm, khiến gây thương tật thể xác và tinh thần cho biết bao trẻ thơ bị bán vào đường dây nô lệ tình dục đang ngày một bành trướng ở trong và ngoài Viêt Nam hiện nay..
Lại nữa, nhân nghe chuyện có mấy người Ga-li-lê bị Tổng trấn Phi-la tô giết lấy máu hòa với máu tế vật , Chúa Giê su đã nói với những người biệt phái như sau:
" Các ông tưởng mấy người Ga-li –lê đó tội lỗi hơn hết mọi người Ga-li-lê khác bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao ? Tôi nói cho các ông biết: không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy..." ( Lc 13: 1-3)
Sở dĩ Chúa nói như trên là vì bọn Biệt phái và luật sĩ Do Thái thường tự cho mình là những người hoàn hảo trong việc giữ luật Chúa và đọc lời Chúa trong Kinh Thánh Cựu Ước , nhưng họ không sống lời Chúa. Họ chỉ nói mà không làm. Vì thế Thánh Gioan Tẩy Giả cũng đã nghiêm khắc cảnh cáo họ như sau :
" Các anh hãy sinh hoa quả xứng đáng với lòng sám hối, Và đừng tưởng có thể nghĩ bụng rằng : chúng ta đã có Tổ phụ Áp-ra-ham ....Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh hoa sinh quả tốt đều bị chăt đi và quăng vào lửa." ( Mt 3: 8-10)
Như thế đủ cho thấy là đức tin phải đi đôi với việc làm phù hợp . Lời Chúa phải đổi mới phong cách sống của mình giữa bao người chưa biết Chúa " để giữa một thế hệ gian tà , sa đọa, ...anh em phải chiếu sáng như những vì sao trên vòm trời." ( PL 2: 15) như Thánh Phaolô đã dạy.
Mặt khác,Chúa Giê su cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết phải lãnh nhận các bí tích, cách riêng Bí Tích Thánh Thể, để được cứu rỗi và sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Thiên Đàng mai sau:
" Ai ăn thịt và uống máu Ta
Thì được sống muôn đời
Và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết." ( Ga 6 : 54)
Như vậy, tin và nghe lời Chúa không thôi thì chưa đủ, mà cần thiết không kém là phải " ăn thịt và uống máu Chúa" ban qua bí tích Thánh Thể, được cử hành trong khuôn khổ của Thánh Lễ Tạ Ơn mà Giáo Hội dâng trên bàn thờ hàng ngày ở khắp mọi nơi để diễn lại cách bí tích Bữa ăn sau hết của Chúa Giêsu với Nhóm Mười Hai Tông Đồ, và Hy Tế thập giá Chúa dâng mọi khốn khó đau khổ của Người một lần lên Chúa Cha để xin ơn tha tội cho toàn thể nhân loại đáng phải phạt vì tội.
Đọc lời Chúa không thôi thì mới chỉ đáp ứng được một phần quan trọng cho đời sống thiêng liêng, vì " người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miếng ĐỨC CHÚA phán ra." ( Đnl 8: 3; Lc 4: 4)
Nhưng muốn đầy đủ hơn thì, ngoài việc nghe lời Chúa qua Kinh Thánh, còn phải tham dự Thánh Lễ Tạ Ơn để được ăn và uống Mình, Máu Chúa Kitô thực sụ hiện diện trong hình bánh và rượu nho, một điều mà anh em Tin Lành không tin và cũng không thể có được, vì mục sư của họ không có chức linh mục hữu hiệu nên không thể cử hành hữu hiệu Bí Tích Thánh Thể được như các linh mục Công Giáo và Chính Thống Giáo Đông phương.
Một số nhánh Tin Lành cũng có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho, nhưng đó chỉ là bánh và rượu chứ không thể là Mình Máu Chúa Kitô được, vì mục sư của họ không có chức linh mục hữu hiệu ( valid priesthood).
Tóm lại, tin Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc duy nhất cho nhân loại là điều cần thiết, nhưng quan trọng hơn là phải chứng minh niềm tin ấy qua đời sống của mình trước mặt người đời để họ " thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời." ( Mt 5 : 16)
Đó là tất cả ý nghĩa đức tin phải có việc lành đi đôi. Nếu không thì đức tin sẽ không có giá trị cứu rỗi.Nghe lời Chúa cũng vậy. Nếu chỉ đọc hay nghe mà không sống lời Chúa , nghĩa là để cho lời Chúa biến đồi đời sống của mình thì cũng như đọc sách báo rồi lại quên mau chóng sau đó điều mình đã đọc .
Anh em Tin Lành thiếu phần rất quan trọng là bỏ quên đời sống bí tích – đặc biệt là không biết đến hai bí tích Thánh Thể và Hòa giải là suối nguồn thông ban ơn cứu độ của Chúa cho con người. Họ bỏ quên vì không hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo, nên không có chức linh mục hữu hiệu để cử hành hai bí tích rất quan trọng trên đây.
Người tín hữu Công Giáo chúng ta thật có diễm phúc vì được hiệp thông với Giáo Hội là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô trong trần gian, nên đời sống thiêng liêng không những được nuôi dưỡng bằng lời Chúa mà – quan trọng hơn nữa- là được bổ sức bằng chính Mình và Máu Chúa Kitô ban qua Bí Tích Thánh Thể, là đỉnh cao và là suối nguồn của đời sống Giáo Hội và của mọi tín hữu. Vì thế, những ai không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội thì không được thông ban suối nguồn ơn cứu độ này.
Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn câu hỏi đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 169= CHUA THANH THAN PDF Print E-mail

CHÚA THÁNH THẦN LÀ AI ?
Để giải đáp, ông Benny nói : Cái gì làm cho ai đó thành một con người ? Có phải là một thể xác không ? Tôi không nghĩ ...thế. Tôi chắc các bạn đã từng dự đám tang và đã thấy một thi thể nằm trong quan tài. Có phải bạn đang nhìn một con người đó không ? Thưa không ! Bạn đang nhìn một xác chết đấy. Cái làm thành một con người không phải là cái xác. Đành rằng : con người là những gì biểu lộ ra nhờ thân xác : cảm xúc, ý muốn, trí tuệ, tâm tình, hành động... Đấy chỉ là một số đặc tính làm nên cá tính của bạn.
Thánh Thần là một ngôi vị, cũng giống như bạn vậy. Ngài có thể cảm thấy, nghe thấy và đáp trả. Ngài có thể bị tổn thương. Thánh Phaolô bảo : "Đừng làm buồn lòng Thánh Thần Thiên Chúa !". Ngài có khả năng yêu thương và khả năng ghét bỏ. Ngài nói và có ý muốn riêng của Ngài.
- Nhưng thực sự, xét tới cùng, Ngài là ai vậy ? Đáp : Thánh Thần là Thần Khí của Chúa Cha và là Thần Khí của Chúa Con. Ngài là quyền năng của Thiên Chúa.
Công việc Ngài là gì ? Thưa : Việc của Thần Khí là thực hiện mệnh lệnh của Chúa Cha và hoàn thành sứ vụ của Chúa Con.
Để hiểu được vai trò của Thánh Thần, chúng ta cần hiểu công việc của Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Cha là Đấng ban lệnh. Người luôn là Đấng phán : "Hãy có !". Đến lượt Chúa Con, hoàn thành mệnh lệnh ấy. Khi Chúa Cha phán : "Hãy có ánh sáng !". Chúa Con đến và thi hành điều đó. Còn Chúa Thánh Thần đem lại ánh sáng !
Cho tôi mạn phép dùng một ví dụ : Nếu tôi xin bạn : "Hãy bật đèn sáng lên !", thì ba động tác sẽ xảy ra. Trước hết, tôi là người ra lệnh. Kế đó, bạn là người đi đến cầu dao hay công tắc và bấm nhẹ. Vậy, bạn là người thi hành mệnh lệnh. Nhưng cuối cùng, ai đem ánh sáng đến ? Chẳng phải tôi, cũng chẳng phải bạn ; nhưng chính là điện năng phát ra ánh sáng.
Thánh Thần là quyền năng của Chúa Cha và Chúa Con. Ngài là Đấng hoàn thành sứ vụ của Chúa Con ; song vì Ngài là một ngôi vị, Ngài có những tâm tình, cách thức được diễn tả theo lối riêng độc đáo của Ngài.
Có lần tôi tự hỏi : "Benny, có phải mày đã quên vai trò quan trọng của Chúa Kitô không ?". Không, không bao giờ. Làm sao tôi có thể quên được Đấng đã yêu mến tôi và đã phó nộp mình chịu chết vì tôi ? Tôi không quên được Cha hoặc Con. Nhưng tôi không thể đến với Cha hoặc Con nếu không nhờ Thánh Thần (Ep 2.18).
CÒN PHẦN CÁC BẠN ,CÓ NHẬN RA TIẾNG NÓI CỦA THÁNH THẦN KHÔNG?
Khi Chúa Giêsu còn sống ở trần gian, và hễ các môn đệ có vấn đề gì thì họ hỏi ai ? Thưa : họ đến cùng Chúa Con và Ngài dạy dỗ họ. Nhưng khi Chúa Kitô về cùng Cha, Ngài không để họ mồ côi, Ngài phán : "Thánh Thần sẽ đến trợ giúp các con, Ngài sẽ dạy dỗ các con và nhắc lại cho các con những điều Thày đã nói với các con. Ngài sẽ lấy của Thày mà nói cho các con".
Sau lễ Ngũ Tuần (lễ 50), Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống, các môn đệ được kết hiệp với Thánh Thần đến nỗi Ngài đã trở nên thành phần của mọi hoạt động trong đời họ. Họ liên kết với nhau thật sự, cùng nhau hoạt động cho Chúa Con. Khi Phêrô thấy thị kiến trên sân gác ở Yô-phê, thì Thánh Thần phán cùng ông : "Kìa, có 3 người ngoại đến tìm ngươi. Hãy xuống mà đi với họ, đừng ngần ngại gì, vì chính Ta đã sai họ đến !" (Cv 10.19-20). Phêrô đã nhận ra tiếng nói của Thánh Thần. Do đó, việc đến cùng dân ngoại để rao giảng Tin Mừng cho họ đã được bắt đầu.
Chuyện viên quan thái giám trong bài Kinh Thánh trên đầu cũng vậy. Thánh Thần cũng nói cùng Philíp. Ông đã nhận ra tiếng nói của Chúa Thánh Thần. Đó không phải là Chúa Cha phán bảo, cũng không phải là Chúa Con. Đó là tiếng nói của Thánh Thần.
BẠN CÓ NGHE THẤY TIẾNG CHÚA THÁNH THẦN DẠY BẢO TRONG THÂM TÂM KHÔNG ?
Tôi tin rằng tội lớn nhất, chống lại Thánh Thần, xúc phạm đến Ngài, chủ yếu là phủ nhận quyền năng và sự hiện hữu của Ngài, khắp trong Kinh Thánh, bạn tìm thấy câu : "Chớ xúc phạm đến Thánh Thần".
Chúa Cha phán cùng dân Israen trong sa mạc : "Các ngươi đã xúc phạm đến Thánh Khí của Ta" (Ysaia, 63.10). Người không phán : "Các ngươi đã xúc phạm đến Ta !". Chúa Con nhìn các Biệt phái và phán : "Bất cứ ai nói một điều chống lại Con Người (tức Chúa Giêsu), điều đó sẽ tha được. Nhưng kẻ phạm thượng lộng ngôn đến Thánh Thần, thì sẽ không tha được" (Lc 12.10).
Chúa Thánh Thần rất dịu dàng, dễ mến. Ngài rất nhạy cảm, rất lịch sự : Ngài không bước vào đời bạn cho đến lúc bạn mời Ngài vào. Ngài không nói gì cho tới khi bạn nói với Ngài. Bạn ạ, bạn không tài nào biết được quyền uy và sự hiện hữu của Ngài, cho tới khi bạn đến với Ngài và thưa : "Hỡi Thánh Thần tuyệt diệu, xin hãy nói cho con về Chúa Giêsu !"
Bạn có biết không ? Từ khi đó, cách cầu nguyện của tôi được hoàn toàn thay đổi. Trước kia, cũng như bạn, tôi đọc kinh chiếu lệ, lòng chán ngán, chẳng biết mình đọc gì, chỉ nghĩ là làm một việc bổn phận luật dạy, Hội Thánh bắt buộc, để khỏi phạm tội.... Nhưng nay thì khác rồi ! Trước khi tôi cầu nguyện, tôi chờ đợi Chúa Thánh Thần. Tôi nói rằng : "Lạy Chúa Thánh Thần rất quí mến ! Ngài có thể đến ngay đây và giúp con cầu nguyện chăng ?"
Thánh Kinh có viết : "Thánh Thần đỡ đần cảnh yến hèn của ta. Vì cầu xin thế nào cho phải, ta nào có biết. Song chính Thánh Thần chuyển cầu cho ta bằng những tiếng rên khôn tả" (Rm 8.26).
Thường ta không biết nói gì khi cầu nguyện. Ngài đến giúp ta. Và tôi biết thêm một điều nữa : Thánh Thần là Thày dạy Kinh Thánh rất tuyệt. Đã từ lâu, tôi hết sức chật vật mà chẳng hiểu gì (giống như quan thái giám lúc nãy, đọc Kinh Thánh mà chẳng hiểu gì). Từ ngày tôi cầu nguyện : "Ôi Thánh Thần kỳ diệu ! Xin Ngài vui lòng chỉ bảo cho con điều Ngài muốn nói đây là gì ?". Và Ngài đã bày tỏ rõ ràng cho tôi về Lời Chúa.
Và đây là bài học cuối cùng và cũng là quan trọng nhất : một người, khi đã nhận thức được sự hiện diện của Thánh Thần, thì kẻ ấy luôn ca tụng và tôn vinh Chúa Giêsu. Khi bạn thực sự được biết Chúa Thánh Thần, bạn sẽ ngợi khen Chúa Giêsu Kitô, vì chính Thánh Thần ở trong bạn sẽ tôn vinh Chúa Con. Đó là điều hầu như tự nhiên. Chúa Giêsu chỉ được tôn vinh nơi một cuộc sống tràn đầy Thần Khí.
Mỗi một hành vi của cuộc sống bạn phản chiếu lại những gì đang chất chứa trong đời bạn. Nếu cuộc sống chứa đầy báo chí, tin tức, bạn sẽ nói về tin tức. Nếu bạn ưa xem kịch, bạn sẽ nói về kịch. Nhưng nếu chứa đầy Thần Khí và được thấm nhuần bởi sự hiện diện của Ngài, bạn sẽ tìm kiếm Chúa Giêsu và không tôn vinh ai khác ngoài Chúa Giêsu.
Chúa Kitô phán : "Khi Đấng Bầu Chữa đến, Đấng Ta sẽ gửi đến từ nơi Cha, Thần Khí sự thật, từ Cha xuất ra, Ngài sẽ làm chứng về Ta" (Ga 15.26). Vì vậy, nếu tôi muốn biết về Chúa Giêsu, tôi phải chạy đến Chúa Thánh Thần, Chúa Giêsu nói như vậy. Ngài biết Ngài đang nói về sự gì.
Trong thời Cựu Ước, Môsê có thể đến với Thiên Chúa Cha ; thời Tân Ước, các môn đồ có thể đàm đạo với Chúa Con. Nhưng còn bạn và tôi thời nay, khi ta cần điều gì, hỏi chúng ta sẽ quay đi đâu ? Thưa: chạy đến Thánh Thần ! Ngài là một Đấng, và ngay bây giờ, Ngài đang chờ bạn mời đón Ngài vào trong cuộc đời bạn.
Đã đến giờ bạn bắt đầu !
Bạn hỏi : "Tôi sẽ bắt đầu như thế nào ?". Đơn giản thôi. Bạn có thể bắt đầu nói : "Lạy Thánh Thần, xin hãy giúp con cầu nguyện !". Đó thật là điều Ngài muốn bạn làm. Và khi bạn bắt đầu, bạn sẽ có một người cùng cầu nguyện với bạn và sẽ dẫn bạn thẳng đến Ngai Thiên Chúa !
Thánh Thần là Đấng đáng yêu mến như thế đấy ! Ngài trở nên bạn thân nhất của bạn, và Ngài đang chờ đưa bạn đến gần Đức Giêsu hơn. Đức Giêsu đã phán : "Thánh Thần sẽ dẫn dắt chúng con vào tất cả sự thật, và Ngài sẽ tôn vinh Thày, vì Ngài sẽ lấy của Thày mà thông ban cho các con" (Ga 16.13t).
Thánh Thần đang chờ đợi bạn ! Ngài muốn khởi sự một mối giao hảo mới với bạn, đích thân bạn với Ngài.

Tích truyện
Hằng ngày, bưu điện trên thiên đàng nhận được không biết cơ man nào là thứ, từ mọi thứ tiếng trên hoàn cầu... Các thiên thần xếp loại ra thì thấy người nhận được nhiều thư nhất là Đức Mẹ, thứ nhì là thánh An-Tôn, thứ ba là thánh Giuse. Các thư của hai thánh này, các thiên thần đều bóc ra xem cả. Chỉ trừ thư gửi Đức Mẹ thì không dám. Nhưng một ngày kia, không cầm được tính tò mò, các vị cũng mở thư của Đức Mẹ. Nhưng các thiên thần thất vọng, tưởng người thế gian viết những tâm tình gì tha thiết yêu thương, hóa ra đại khái cũng chỉ toàn xin ơn. Nhàm chán quá, các vị phải thốt lên :
- Dường như Thiên Chúa tạo dựng con người chỉ có một cái miệng và một cái bụng..., họ không có linh hồn, cũng chẳng có quả tim thương yêu... Tất cả các lời cầu xin họ viết lên đều qui về hai bộ phận nói trên.
Các thiên thần mới rủ nhau rình xem thái độ Đức Mẹ khi đọc muôn vạn lá thư ấy. Tình cờ, một hôm các thiên thần thấy mặt Đức Mẹ tươi vui hẳn lên, các vị mới tới gần hỏi :
- Tại sao mọi hôm mặt Mẹ rầu rầu, hôm nay lại tươi vui thế ?
Đức Mẹ mới trao cho các thiên thần một lá thư, trong đó viết như sau :
- Mẹ ơi, con chỉ xin Mẹ một điều : Mẹ là bạn Chúa Thánh Thần, xin Mẹ cầu Ngài đến thăm linh hồn con !
See More
WHO IS THE HOLY SPIRIT?
To answer, Mr. Benny says: what makes someone into a human? There must be a body does? I don't think so. I'm sure you have each funeral and saw a body lying in a coffin. Are you looking for a man that doesn't? Dear no! You are looking at a dead man. What makes a man is not dead. I suppose that is what displays thanks to the body: emotion, desire, intellect, mind, action ... the Guy is just some of the characteristics that make up your personality.

The Holy Spirit is a throne, just as you do. He could feel, hear and respond. You can get hurt. Saint Paul said: "Let's not upset the spirit God!". You have the ability to love and hate. He says and intends his own.

-But really, look to the end, he is who? Answer: the Holy Spirit is the spirit of the father and the spirit of the son. He is the power of God.

What is His job? Ladies: the work of the spirit is to implement the orders of the father and the son's mission accomplishment.

To understand the role of the Holy Spirit, we need to understand the work of the father and the son. God the father is the giver of orders. Who is Lord Justices: "take that!". In turn the son, completing his orders. When the father said: "be there light!". The son come and enforce it. Also the Holy Spirit brings to light!

Let me take an example saying: If I ask you: "Let's turn the lights light up!", the three movements will occur. First of all, I was the person who ordered. Next, you are going to the breaker or switch, and press lightly. So, you are the enforcement of the order. But in the end, who brought to light? Not me, not you; but the light of electricity.

The Holy Spirit is the power of the father and the son he is the Messiah fulfilled the Lord's Ministry Her; but because he is a throne, He has the mentality, the way described in his own unique way.

There were times I wondered: "Benny, are you forgot an important role of Christ doesn't?". No, never. How can I forget him who loved me and gave his submission died because of me? I cannot forget the father or Son. But I couldn't come up with his or Her if not for the spirit (Ep 2.18).

ALSO PART OF YOU RECOGNIZE THE VOICE OF THE HOLY SPIRIT DOES NOT?

When Jesus was alive in the world, and even the disciples what they ask who? Ladies: they come together with the son and he taught them. But when Christ about life, he does not leave them orphaned, He said: "the Holy Spirit will come to help you, he will teach you and to reiterate to you the Superb told the children. He will take of that tell you ".

After Pentecost (24-50) Germany, the Holy Spirit is currently down, his disciples were committed with the spirit that he has become part of every activity in life they. They linked together, truly work for the son. When Peter saw the comments course hang up in the Café, the Spirit Yô justices along says: "Behold, three foreign men to find you. Take down that goes with them, do not hesitate, because I was wrong they come! " (10.19 Cv-20). Peter got out the voice of the spirit. Therefore, the coming together of the Gentiles to preach the Gospel to them has been started.

What bureaucrat eunuch in the Bible on the head too. The spirit also speaks Philíp. He had recognized the voice of the Holy Spirit. That is not the father judge said, nor is the son ... that's the voice of the Holy Spirit.

 
<< Start < Prev 101 102 103 104 105 106 107 108 109 110 Next > End >>

Page 107 of 152