mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay636
mod_vvisit_counterHôm Qua7671
mod_vvisit_counterTuần Này24105
mod_vvisit_counterTuần Trước43672
mod_vvisit_counterTháng Này77825
mod_vvisit_counterTháng Trước155737
mod_vvisit_counterTất cả12274058

We have: 83 guests online
Your IP: 54.84.236.168
 , 
Today: Dec 13, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 99 = NGUON GOC LE HIEN LINH PDF Print E-mail

Chúa Hiển Linh - năm A - Lm Anmai CSsR
Jan 4 at 6:53 PM
Chúa Hiển Linh năm A

Is 60, 1-6; Ep 3, 2-3a5-6; Mt 2, 1-12

Lễ Hiển Linh có nguồn gốc là một ngày lễ cổ xưa của người Kitô giáo tương tự với lễ Giáng Sinh và lễ Phục Sinh.

Từ Đông phương, lễ Hiển Linh lan sang Châu Âu vào khoảng thế kỷ thứ 4 và được nói đến lần đầu tiên tại xứ Gaule vào năm 361. Đến cuối thế kỷ 21, hầu hết các Giáo hội đều cử hành ngày lễ trọng này.

Ban đầu, ở Tây phương, người ta có thói quen cử hành chung các biến cố hạ sinh của Giêsu vào ngày Giáng sinh, biến cố các đạo sĩ đến thờ lạy Chúa và cuộc tàn sát các Thánh Anh Hài. Nhưng khi Roma bắt đầu mừng lễ Hiển Linh thì hai biến cố cuối cùng này được tách rời ra khỏi ngày lễ 25 tháng Chạp để dành tôn kính các Đạo Sĩ là chủ đề chính cho ngày lễ trọng mới vào ngày 6 tháng Giêng. Lễ Hiển Linh trong phụng vụ Roma mang thông điệp chính là sự mạc khải của Đức Kitô cho mọi dân tộc được biểu tượng qua các Đạo Sĩ.

Với Giáo Hội Đông phương, lễ Hiển Linh đã trở thành đại lễ mừng thiên tính của Đức Kitô; mầu nhiệm Nhập Thể và sự thờ lạy của các Đạo Sĩ vì thế được cử hành vào ngày lễ Giáng Sinh. Sau đó lễ Hiển Linh ngày càng được hiểu như là lễ Đức Kitô Chịu Phép Rửa. Do đó mà ở Đông phương có tục lệ làm phép nước rửa tội, nước giếng rửa tội, các nguồn nước và sông suối vào dịp lễ Hiển Linh. Vào ngày này, nhiều đám đông kéo nhau đến bờ sông Giođan để dìm mình ba lần trong trong dòng sông theo như nghi thức rửa tội của Đông phương.

Hôm nay, ta nghe lại lời ngôn sứ Isaia từ 600 năm trước : 'Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước ... Lạc đà đàn đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Epha, dân Saba hết thảy kéo lại, tải đến vàng với trầm hương và chúng cao rao lời khen ngợi Giavê'.

Isaia đã đưa ra những lời tiên đoán đầy phấn khởi về Giêrusalem vào ngày Đấng Cứu Thế xuất hiện.

Ngày ấy, Giêrusalem sẽ trở thành trung tâm ánh sáng và mọi người từ bốn phương trời sẽ tiến về đó với muôn vàn lễ vật. Nghiệt ngã thay vào ngày mà Con Thiên Chúa giáng sinh làm người như lời ngôn sứ Isaia loan báo, ánh sáng đã chiếu trên Giêrusalem, thì lại chỉ có những người ở ngoài mới nhận ra ánh sáng ấy, còn dân trong thành thì vẫn tiếp tục sống trong u tối. Dẫu rằng Giêrusalem đã chỉ rõ nơi vua dân Do Thái mới sinh ra, nhưng lại chỉ có những người ở ngoài mới tới thờ lạy Ngài.

Trang Tin Mừng hôm nay thuật lại chuyện các đạo sĩ Đông Phương đã theo ánh sao tìm đến triều bái Hài Nhi Giêsu mới giáng sinh tại Bêlem như lời đã loan báo tự ngàn xưa.

Không phải bất ngờ cũng chẳng phải ngẫu nhiên chuyện Chúa Giêsu sinh ra. Chuyện này đã được loan báo từ thuở trước. Được chỉ dẫn, được dặn dò rất rõ ràng về Ngài nhưng rồi không gặp được Ngài.

Khuôn mặt Hêrôđê mà chúng ta vẫn thường nghe gắn liền với cái tên "bạo vương". Bạo vương Hêrôđê dù có binh hùng tướng mạnh trong tay muốn tìm Chúa Giêsu nhưng không gặp được Chúa. Ông không gặp Chúa Giêsu vì ông đã nghe tiên đoán về Ngài và sự xuất hiện của Ngài sẽ làm cho ông mất quyền lợi. Thế nên dù có tìm Chúa đi chăng nữa nhưng không phải để thờ lạy nhưng để giết chết. Ông tìm Chúa Giêsu không phải để tôn vinh Ngài nhưng để tôn vinh bản thân. Ông tìm Chúa Giêsu không phải để làm theo ý Ngài nhưng để bắt Ngài phải vâng theo ý ông. Vì thế Chúa Giêsu đã vượt thoát khỏi tầm tay của ông. Với tất cả những điều đó, vĩnh viễn Hêrôđê ông không gặp được Chúa Giêsu.

Vào thời Chúa Giêsu, bên cạnh khuôn mặt Hêrôđê bạo vương, chúng ta nhìn đến khuôn mặt của các kinh sư, biệt phái. Hơn ai hết, họ là những người hiểu biết Thánh Kinh. Họ đã đọc vanh vách lời ngôn sứ loan báo Đấng Cứu Thế sinh ra tại Bêlem khi ba nhà đạo sĩ đến hỏi thăm họ. Họ hiểu và biết rất nhiều về lý thuyết nhưng không thực hành, vì thế họ không gặp được Chúa. Ngồi một chỗ mà không chịu lên đường. Chỉ chú ý tới chữ nghĩa sách vở mà không chú ý tới cuộc sống con người. Chỉ tìm trong sách vở mà không tìm những dấu chỉ thời đại, dấu chỉ trong đời thường nhật của họ.

Chuyện hài hước mà chúng ta thấy ở đây đó là với những người xem ra gần gũi nhất, hiểu biết nhất, có phương tiện nhất đã không gặp được Chúa Giêsu. Ngược lại, những người có vẻ nghèo hèn, thiếu thốn phương tiện, xa xôi cách trở lại gặp được Chúa Giêsu. Họ là ai ? Họ là những mục đồng đơn sơ nghèo nàn và đặc biệt nhất là ba nhà đạo sĩ mà ta nhớ đến trong thánh lễ hôm nay.

Những người này đã gặp được Hài Nhi Giêsu bởi vì họ đã cất bước lên đường tìm Hài Nhi. Dù không hay không biết không nghe lời ngôn sứ loan báo và thậm chí họ cũng chẳng biết lời hứa, không thuộc Thánh Kinh, nhưng khi thấy ngôi sao lạ, họ đã lên đường ngay tức khắc. Lên đường nói lên thái độ vâng theo ơn Chúa sáng soi cho họ. Vì dấn thân mạnh mẽ cho thái độ vâng theo ơn Chúa soi sáng nên họ lên đường. Thái độ lên đường nói lên lòng cương quyết đi tìm. Và khi lên đường như vậy, họ chấp nhận gian khổ để đạt được điều mơ ước.

Lòng khao khát của họ được đáp trả khi họ gặp được Hài Nhi Giêsu. Với lòng khao khát kiếm tìm chân lý nên đêm đêm họ không ngừng quan sát bầu trời tìm kiếm ánh sao. Nhìn cả bầu trời bao la họ thấy duy chỉ một ánh sao lạ xuất hiện và như vậy họ đã nhận biết. Khao khát chân lý nên khi Chúa vừa tỏ mình qua dấu hiệu ngôi sao, họ đã vội vã theo sát dấu ánh sao đi tìm. Khao khát gặp Chúa nên khi ánh sao vụt biến mất, họ đã không nản lòng, quyết tâm dò hỏi cho ra.

Và với tâm hồn đơn sơ chân thành nên họ đã gặp được Hài Nhi. Họ đi tìm Đấng Cứu Độ trần gian chứ không tìm bản thân. Đi tìm Đấng Cứu Độ trần gian để thỏa lòng khao khát chân lý chứ không để thỏa mãn tính tò mò, thỏa mãn những tham vọng đen tối của cá nhân mình. Họ đi tìm Chúa để thờ lạy Chúa chứ không vì lợi lộc cá nhân. Với tâm hồn đơn sơ như vậy, dù ý Chúa và dấu chỉ hết sức nhẹ nhàng qua một ánh sao nhưng họ đã nhận ra ý Chúa. Với tâm hồn hết sức đơn sơ như thế, dù Chúa có ẩn thân dưới hình dáng một em bé yếu ớt nghèo nàn, trong khung cảnh rất tồi tàn của chuồng bò hôi hám họ đã nhận ra Chúa đang ở đó.

Niềm tin, lòng đạo của ta là một hành trình dài của chuỗi ngày tìm kiếm và sống. Nhìn vào gương của các nhà đạo sĩ, ta sẽ nhận ra Chúa khi ta có tâm hồn đơn sơ thành thực, có lòng khao khát Chúa vì chính Chúa, và dám dấn thân thực hành những điều Chúa truyền dạy, đặc biệt là giới răn bác ái, phục vụ Chúa trong những anh em nghèo khổ.

Không dừng ở việc gặp Chúa, các nhà đạo sĩ đã lên đường để loan báo Đấng Cứu Độ trần gian. Họ chính là những ngôi sao sống động để chỉ cho người khác sự hiện diện của Ngôi Lời nhập thể. Và như vậy, là người kitô hữu, chúng ta cũng được mời gọi mặc lấy tâm hồn đơn sơ để gặp Chúa và khi gặp Chúa lại chiếu tỏa ánh sáng Giêsu trên cuộc đời ta như những ánh sao.

Ta được mời gọi toả sáng trong đời sống của mình. Qua lời mở đầu của Phúc Âm thánh Gioan, Chúa Giêsu chính là "ánh sáng thật đã đến thế gian và chiếu soi mọi người" (Ga 1, 9), Người là ánh sáng ban sự sống, "sự sống là ánh sáng cho nhân loại. Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối và bóng tối đã không diệt được ánh sáng" (Ga 1, 4-5). "Những ai tiếp nhận Người thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa, ban cho họ ân sủng và chân lý" (Ga 1, 9.17).

Là ngôi sao có nghĩa là phải có ánh sáng. Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi chính bản thân nó có ánh sáng. Phản chiếu ánh sáng nhận tự nơi Thiên Chúa thế nên Kitô hữu chỉ chiếu sáng khi chính cuộc sống của mình mang ánh sáng của Đức Kitô.

Kitô hữu phải tỏa ánh sáng của niềm tin. Tin yêu Chúa và tin yêu người. Tin yêu để xây dựng một cuộc sống chan hoà tình người. Tin yêu đẻ tha thứ hoà giải. Tin yêu để vượt qua mọi bóng tối thù hận, chia rẽ, bất hoà. Tin yêu là làn ánh sáng ấm áp làm cho thế giới trở nên gần gũi, con người trở nên thân thiện, cuộc đời trở thành đáng yêu đáng mến.

Kitô hữu phải tỏa ánh sáng của niềm cậy trông. Niềm cậy trông vào ơn cứu độ của Chúa giúp ta vừng bước trên đường lý tưởng. Niềm trông cậy vào một trời mới đất mới cho ta thêm sức mạnh góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Niềm trông cậy vào hạnh phúc thiên đàng giúp ta đánh gía đúng mức của cải vật chất đời này. Trông cậy là ánh sáng làm tươi đẹp con người và cuộc đời.

Kitô hữu phải tỏa lên ánh sáng của công bằng, bác ái, yêu thương. Niềm hy vọng, niềm tin yêu được chứng minh bằng đời sống công bình, bác ái, yêu thương. Tin Chúa được biểu lộ qua sự công bình trong đời sống. Yêu Chúa được thể hiện qua tình bác ái với tha nhân.

Tất cả những ánh sáng mà người Kitô hữu phải có góp lại thành ánh sáng đích thực của người con cái Chúa. Ánh sáng đó là ánh sáng mang tên Giêsu.

Những đam mê vật chất, danh vọng sẽ khiến con người rơi vào bóng tối tuyệt vọng, không lối thoát. Nghi ngờ con người sẽ khiến cuộc đời chìm vào bóng tối cô đơn. Thiếu công bằng bác ái sẽ phủ lên thế giới mới một bóng tối phi nhân, tàn nhẫn. Chỉ có ánh sáng Giêsu mới đủ sức phá tan những bóng tối ấy. Chỉ có ánh sáng Giêsu mới làm cho thế giới thành vui tươi hạnh phúc.

Với tất cả những điều đó, ta hãy toả sáng trong cuộc đời qua lời nói của chúng ta khi gắn bó với Chúa Giêsu là Ngôi Lời. Từng lời ăn tiếng nói của ta phải là những lời tốt đẹp mang lại niềm vui, hạnh phúc, hy vọng, ơn cứu độ cho con người thay vì lời nói xấu, nói dối, nói tục, lời tiêu cực làm cho người khác buồn phiền, chán nản, thất vọng.

Ta hãy toả sáng trong hành động. Những hành động xấu xa, gian ác, tiêu cực đều xúc phạm đến Thiên Chúa trong lòng con người cũng như trong vạn vật. Dù không có ai biết, ai thấy hay khen tặng, ta cũng vẫn hành động tích cực, vẫn chăm chỉ học hành, suy nghĩ tốt, làm việc tốt, làm tất cả những gì Chúa muốn vì Chúa đang nhìn ta và ban thưởng cho ta. Hành động như thế là chúng ta toả sáng.

Khi ý thức được như vậy chúng ta mới chăm chỉ học hành, làm việc, đào luyện tài năng, chơi đùa, giải trí cho đúng đắn thì chúng ta mới đạt được kết quả tốt đẹp để làm chứng cũng như làm cho ánh sáng Giêsu được lan tỏa.

Hôm nay, mỗi người chúng ta được mời gọi trở thành những ngôi sao thật sự toả sáng trong đêm tối cuộc đời để người khác nhận ra Chúa Cứu Thế bằng đời sống kết hợp mật thiết với Chúa và chân thành yêu thương nhau. Như thế là chúng ta mang lại niềm vui, hạnh phúc và ơn cứu độ cho gia đình cũng như cho xã hội hôm nay. Với ánh sáng nhỏ bé của ta và của nhiều người thành tâm thiện chí như ta góp lại sẽ tràn ngập ánh sáng và niềm vui mà Chúa muốn chúng ta thể hiện từ Mùa Giáng Sinh này.

Thế giới đang mong chờ ánh sao dẫn đường. Chúa đang mời gọi chúng ta trở thành một ngôi sao chiếu lên làn ánh sáng đạo đức. Chính qua ánh sáng Giêsu mà ta có trong đời của ta mọi người sẽ nhận biết và yêu mến Chúa.

Lm Anmai, CSsR

Chuyển từ muoichodoi.com

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 98 = CAU NGUYEN CHUA LANH PDF Print E-mail

CÓ ĐƯỢC CẦU NGUYỆN CHO KHỎI BỆNH MÀ KHÔNG CẦN UỐNG THUỐC ?
Hỏi : có người tin Chúa Thánh Linh nên đau ốm nặng mà không chịu đi nhà thương hay uống thuốc vì chỉ tin phép lạ của Chúa thôi. Như thế có đúng không ?
Trả lời :
Đây là câu hỏi cần được trả lời dưới ánh sáng của đức tin lành mạnh.
Đúng thế, trước hết phải nói lại rằng cầu nguyện là một nhu cầu tối thiết cho đời sống của người tín hữu nói riêng và cho Giáo Hội nói chung, vì chỉ có cầu nguyện mới đem ta lại gần Thiên Chúa, là Cha nhân từ đầy yêu thương và " muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1Tm 2: 4)
Trong cầu nguyện có phần cầu xin ( petition) để qua đây chúng ta xin Chúa ban cho những ơn cần thiết giúp cho sự thăng tiến siêu nhiên và cho những nhu cầu chính đáng của thân xác như có công ăn việc làm tốt để nuôi sống bản thân và gia đình, có sức khỏe tốt để sống và làm việc.
Chính vì sự cần thiết phải cầu nguyện và cầu xin mà Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa và hôm nay như sau:
" Thầy lá cây nho, anh em là cành
Ai ở lại trong Thầy
Và Thầy ở lại trong người ấy
Thì người ấy sinh nhiều hoa trái
Vì không có Thầy
Anh em chẳng làm gì được." ( Ga 15: 5)
" Không có Thầy anh em chẳng làm gì được" có nghiã là nếu không có ơn Chúa phù giúp thì ta chẳng làm được gì hứu ích cho phần rỗi của mình, cũng như có đủ sức để vượt qua mọi khó khăn, gian nan thử thách để sống vui sống khỏe trong trần thế này.
Do đó, cầu xin Chúa cho được bình an, có công ăn việc làm tốt, và có sức khỏe để sống và làm việc là điều chính đáng không có gì phải chê trách.
Nói đến việc chữa lành cho khỏi bệnh tật, chúng ta nhớ ngay đến việc Chúa Giêsu, khi đi rao giảng Tin Mừng cứu độ, cũng đã chữa lành cho biết bao người phong cùi, câm điếc, mù què và bị quỷ ám, cũng như làm phép lạ để hóa bánh và cá ra nhiều cho hàng ngàn người đói ăn no nê. Chúa chữa lành cho các bệnh nhân nan y để nói lên Người là Thiên Chúa và có thể làm những việc con người không thể làm được như chữa lành cho những người đui mù, câm điếc và phong cùi, là những bệnh nan y mà ngày nay y khoa tân tiến cũng phải bó tay, nói chi cách nay trên 2000 năm. Chúa chữa cho họ được lành cũng để nói lên lòng thương xót, cảm thông nỗi đau khổ của những người kem may mắn đó.
Tuy nhiên, mục đích của Chúa đến trần gian không phải chỉ để chữa lành cho thân xác con người mà chủ yếu là để chữa lành cho tâm hồn của cả nhân loại đang bị vi trùng tội lỗi đục phá và đe dọa cho sự sống của linh hồn. Và đây chính là lý do khiến Chúa Giêsu đã hạ mình từ trời cao xuống trần gian làm Con Người để " hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người ." ( Mt 20: 28)
Vì thế, Chúa đã không gọi và gom tất cả những ai bị bệnh tật trong thân xác đến để chữa lành hết cho họ mà chỉ chữa tượng trưng cho một số nào mà thôi, trong khi Người dành phần lớn thì giờ trong ba năm công khai rao giảng Tin Mừng Cứu độ để kêu gọi mọi người hãy " sàm hối và tin vào Tin Mừng" ( Mc 1 : 15) và hãy đi " qua cửa hẹp mà vào vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến giệt vong mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống , nhưng ít người tìm được lối ấy." ( Mt 7 : 13-14)
" Vào qua cửa hẹp và đi qua đường chật" có nghĩa là khép mình lại để yêu mến Chúa trên hết mọi sự và xa tránh tội lỗi vì chỉ có tội mới có thể làm cho con người phải chết đời đời vì xa cách Thiên Chúa là nguồn an vui , hạnh phúc vĩnh cửu.
Do đó, chúng ta cần ơn Chúa để thực thi những gì Người đã rao giảng hầu được cứu độ như lòng Chúa mong muốn. Như thế, cầu nguyện là nhu cầu tốt cần thiết cho mọi người tín hữu muốn thêm lòng yêu mến Chúa và có đủ sức để sống đức tin , đức cậy và đức mến cách nồng nàn bao lâu còn sống trên trần gian này. Và như đã nói ở trên, cầu xin là một phần quan trọng của cầu nguyện. Nhưng khi cầu xin Chúa ban cho bất cứ ơn gì thì chúng ta phải noi gương Chúa Kitô, khi Người cầu xin cùng Chúa Cha trước giờ bị trao nộp và tử nạn như sau:
" Lậy Cha, nếu Cha muốn, xin cho Con khỏi uống chén này.Tuy vậy, đừng làm
Theo ý con, mà xin theo ý Cha." ( Lc 22: 42; Mt 26 : 39; Mc 14: 36)
Không những phải cầu xin theo ý Chúa Cha, mà còn phải tránh hai thái cực sau đây khi cầu xin:
1- Trông cậy Chúa cách thái quá hay mù quáng. Thí dụ như không thận trọng lái xe mà cứ tin có Chúa che chở để lơ là khiến xẩy ra tai nạn. Xin Chúa gìn giữ che chở khi đi đường là điều tốt , nhưng về phần mình vẫn phải cố gắng lái xe cho cẩn thận, tuân giữ luật lưu thông để tránh tai nạn cho mình và cho người khác. Cũng vậy, không thể trông cậy có Chúa che chở để không đóng cửa nhà hay khóa xe cẩn thận khiến kẻ gian có thể đột nhập ăn trộm và giết hại chủ nhà. Đặc biệt, khi đau ốm thì phải tìm thầy thuốc, và uống thuốc vì chính qua các phương tiện con người này, mà Chúa ban ơn cho bệnh nhân cầu xin cho được lành khỏe. Như thế, ai đau yếu mà chỉ cầu xin cho được khỏe mà không dùng những phương tiện cần thiết sẵn có như thuốc men theo y khoa thì đó là trông cậy Chúa cách mù quáng chứ không phải là sống đức tin, đức cây cách trưởng thành và vững chắc..
Đây chính là tội mà tên quỷ đã càm dỗ Chúa Giêsu khi Người ăn chay trong rừng vắng.
Quỷ đã đưa Chúa lên một nơi cao và nói với Chúa : " Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy đứng đây mà gieo mình xuống đi, vì có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá." Bấy giờ Chúa Giêsu đáp lại : Đã có lời chép rằng : ngươi chớ thử thách Đức Chúa, là Thiên Chúa của ngươi." ( Mt 4 : 5-7; Lc 4 : 12)
Như vậy, rõ ràng cho thấy là không được cầu xin và cậy trông Chúa mà không làm gì về phần mình để công tác với ơn Chúa. Nghĩa là không thể khoán trắng cho Chúa làm hết mọi sự cho mình, mặc dù Chúa có thể làm hết, nhưng Chúa vẫn muốn ta phải tỏ thiện chí và làm hết sức mình trong niềm cậy trông ơn Chúa phù giúp thì đó mới là trông cậy Chúa cách đẹp lòng Người để đáng được nhậm lời ta cầu xin.. Nói rộng thêm nữa , công nghiệp của Chúa Kitô là quá đủ cho con người được cứu rỗi, nhưng nếu ai ỷ lại vào đây để cứ phạm tội, cứ sống theo thể gian và xác thịt thì chắc chắn Chúa không thể cứu người ấy được, như Chúa đã nói rõ với các môn đệ Người xưa kia như sau :
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)
Sau nữa, cũng cần nói thêm là ta không được trông cậy để cầu xin những ơn không cần thiết, không chính đáng và thiếu bác ái như : xin cho có sức mạnh để hạ đo ván đối thủ trên võ đài, xin cho mình được buôn bán phát đạt, mặc dù hàng hóa của mình có nhiều món làm giả mạo , hay thực phẩm mình bán có pha chế chất độc hai cho sức khỏe của thực khách, hoặc xin cho được trúng số, trúng " cá độ" để có nhiều tiền của danh vọng ở đời. Đây là những nhu cầu bất chính của lòng tham vô đáy, thiếu bác ái và lương tâm ngay chính. Cần nói lại là đấu võ ( boxing) là một trò chơi nguy hiểm mà Giáo Hội lên án vì có phương hại cho sự sống của mình và của người khác. Chúa sẽ không bao giờ ban những ơn không có ích cho phần hồn và phần xác của ai, cho dù người ta có xin và trông cậy đến đâu thì cũng vô ích mà thôi.
2- Thiếu trông cậy khi cầu xin:
Ngược lại, nếu ta cầu xin Chúa điều gì mà không thực sự có lòng trông cậy thì cũng không đẹp lòng Chúa vì thiếu lòng trông cậy có nghĩa là thiếu tin tưởng vào lòng nhân hậu và cảm thông của Chúa cho những nhu cầu chính đáng về phần rỗi của linh hồn và cho một đời sống xứng hợp với nhân phẩm như có của ăn, áo mặc, nhà ở, sức khỏe và bình an để sống và làm việc.
Tóm lại, cầu nguyện và cầu xin là nhu cầu tối cần cho mọi người tín hữu chúng ta, vì ta rất cần ơn Chúa để sống đức tin và sống xứng đáng thân phận con người trong trần thế này. Nhưng khi cầu xin bất cứ ơn gì, - mà phải là ơn thực sự cần thiết cho hồn xác của mình hay cho người khác - ta phải tránh hai thái cực nói trên. Nghĩa là không được cầu xin và trông cậy cách mù quáng như ốm đau mà không cần y khoa chữa trị dù sẵn có tiền bạc, mà chỉ cầu xin Chúa " làm phép lạ" cho khỏi bệnh. Hoặc chỉ trông cậy Chúa che chở mà không chú ý lái xe khiến gây tai nạn cho mình và cho người khác.. Hay không chịu khó học hành mà chỉ cầu xin cho được điểm cao và thi đậu. Chúa không bao giờ " làm phép lạ" cho những ai trông cậy cách mù quáng như vậy.
Ước mong giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 97 = SUY NIEM GIANG SINH PDF Print E-mail

SUY NIỆM GIÁNG SINH NĂM 2013.


Mùa Vọng chấm dứt với Chúa Nhật hôm nay để bước vào cao điểm là Lễ mừng Chúa Giáng Sinh trong vài ngày nữa.
Trong 4 tuần lễ qua, cùng với Giáo Hội, chúng ta đã âm thầm chuẩn bị tâm hồn để đón mừng kỷ niệm Chúa Giáng Sinh lần thứ 2013. Mừng kỷ niệm này là cơ hội thuận tiện nhất cho chúng ta suy niệm để nhớ lại tình thương bao la của Thiên Chúa, là Cha nhân từ đã tạo dựng con người chỉ vì yêu thương và mong muốn cho tất cả mọi người chúng ta được cứu độ nhờ Chúa Cứu Thế Giêsu , Đấng đã đến trong trần gian cách nay 2013 năm trong thân phận " một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ"( Lc 2: 12) giữa đêm đông giá lạnh để cuối cùng hy sinh chết thê thảm trên thập giá để hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa Cha , " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)
Thật vậy, Chúa Giáng Sinh, là niềm vui và hy vọng lớn lao cho toàn thể nhân loại nói chung -và cách riêng – cho tất cả mọi tín hữu chúng ta vì:
" Thiên Chúa yêu thương thế gian
Đến nỗi đã ban Con Một
Để ai tin vào Con của Người
Thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời," ( Ga 3 : 16)
Như thế, đây cũng là dịp thích hợp nhất để chúng ta cảm tạ Chúa Cha về món quà cứu độ vô cùng quí giá mà Người đã ban cho nhân loại là Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, đã giáng sinh trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần để trở nên Con Người hầu cho chúng ta hy vọng được cứu độ " và được thông phần bản tính Thiên Chúa , sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian." Như Thánh Phê rô đã dạy ( 2Pr: 1 : 4)
Tin Mừng thánh Matthêu Chúa nhật thứ 4 Mùa Vọng hôm này kể lại hoàn cảnh Chúa Giêsu giáng sinh trong cung lòng Đức trinh nữ Maria , đúng như ngôn sứ Isaia đã tiên báo từ 8 thế kỷ trước là Thiên Chúa sẽ cho chúng ta một dấu lạ: đó là môt trinh nữ sẽ chịu thai , sinh một con trai và đặt tên là Emmanuel có nghĩa là " Thiên Chúa ở cùng chúng ta". Đây cũng là điều Sứ thần Chúa đã nói với thánh Giuse trong giấc mơ và truyền cho ngài phải nhận Maria làm vợ đang mang thai nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Sứ thần cũng truyền cho Giuse phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu vì Người sẽ cứu dân Người khỏi chết vì tội. Giuse tỉnh dậy và đã thực hiên đúng như điều Sứ thần đã truyền cho ngài để không bỏ ra đi như đã dự định mà ở lại để đón nhận Maria làm bạn thanh sạch và chuẩn bị cho ngày sinh của Chúa Hài Nhi.
Đó là tất cả trình thuật về việc Ngôi hai Thiên Chúa xuống trần gian làm Con Người để cứu chuộc cho muôn dân khỏi chết vì tội. Như thế, mừng Chúa Giáng Sinh là dịp thích hợp cho Chúng ta phải hết lòng cảm tạ Chúa Giêsu , Đấng cũng vì yêu thương nhân loại mà đã hạ mình xuống trần gian để đẫn đưa chúng ta vào Nước Hằng Sống nơi không còn hận thù, chia rẽ, chém giết, nhơ uế, bất công xã hội, đau khổ, bệnh tật và chết chóc nữa.
Mặt khác, cũng nhân dịp này , một lần nữa, chúng ta phải cảm tạ Mẹ Maria vì Mẹ đã xin vâng với Thiên Chúa để trở nên Mẹ thật của Chúa Giêsu và cộng tác với Con của Mẹ trong chương trình cứu chuộc nhân lọai của Thiên Chúa. Chúng ta phải cám ơn Mẹ thật nhiều, vì nếu Mẹ không xin vâng Thiên Chúa qua Sứ thần Gabriel thì Chúa Giêsu không thể giáng sinh trong cung lòng của Mẹ để trở nên Con người và cứu chuộc cho chúng ta khỏi chết đời đời .Như thế, Mẹ thật là đại ân nhân của nhân loại vì vai trò đồng công cứu chuộc với con của Mẹ là Chúa Giêsu-Kitô," Đấng đã hy sinh chịu chết cho muôn người được cứu độ".( Mt 20: 28)
Lại nữa, chúng ta cũng không quên cảm tạ Thánh Giuse là người âm thầm nhưng đã cộng tác mật thiết với Mẹ Maria trong việc dưỡng nuôi, săn sóc, che chở cho Chúa Hài Nhi từ khi Người sinh ra trong hang lừa máng cỏ, mang Chúa chậy trốn sang Ai Cập giữa đêm khuya, vì bao chúa Hêrôđê tìm giết Chúa HÀI Nhi . Và sau nay mang thánh gia về Nazaret nơi đây Thánh Giuse đã làm nghề thợ mộc để nuôi Mẹ Maria cùng Chúa Giê su.
Đó là tất cả tâm tình mà mọi người tín hữu chúng ta phải có mỗi khi mừng ký niệm Chúa Giáng Sinh. Nghĩa là Chúng ta không mừng Chúa Giáng Sinh theo cách người đời ở khắp nơi nhân dịp này, là dịp cho người ta ngày một thêm lợi dụng để buôn bán kiếm lợi, ăn uống và vui chơi bất xứng như nhẩy nhót cuồng loạn, tội lỗi trong đêm Giáng Sinh ở khắp nơi trên thế giới. Đây là bộ mặt của những người đã và đang tục hóa ( vulgarize) lễ Giáng Sinh để biến lễ hội này thành dịp vui chơi thiếu lành mạnh, một gương xấu mà người tín hữu chúng ta phải hết sức tránh xa để xứng đáng mừng Chúa Giáng Sinh với tâm tình cảm tạ Thiên Chúa Cha, Chúa Con , Mẹ Maria và Thánh Giuse vì niềm vui được cứu độ nhờ Chúa Cứu Thế Giê su đã giáng sinh để cứu chuộc và dẫn đưa chúng ta vào sự sống , và hạnh phúc vinh cửu trên Nước Trời mai sau.
Hơn thế nữa, chúng ta hãy lắng tâm hồn và hướng lòng trí về Hang đá Belem nơi Chúa Hài Đồng đã giáng sinh cách nay 2013 trong thân hình một hài nhi yếu đuối nằm trong máng cỏ , nhưng lại có sức mạnh đánh tan mọi thế lực của sự dữ và tội lỗi do ma quỷ cầm đầu và cám dỗ để lôi kéo con người ra khỏi Thiên Chúa là nguồn an vui hạnh phúc bất diệt.
Chúa sinh ra trong đêm đông giá lạnh để đem ánh sáng từ trời chiếu soi và đánh tan bóng đen của tội lỗi và sự chết, cũng như để sưởi ấm cho tâm hồn những ai đang giá lạnh vì thiếu lửa tình yêu , thiếu hơi ấm của bình an, của công bình bác ái, nhịn nhục và tha thứ để đánh tan mọi hận thù ghen ghét, ích kỷ , chia rẽ , và chém giết nhau như thực trạng của thế giới tục hóa ngày nay .
Sau hết, khi chọn sinh ra trong hoàn cảnh cực kỳ khó nghèo , phải nhờ hơi thở của bò lừa sưởi ấm cho trong đêm mùa đông giá lạnh, Chúa Giêsu muốn dạy cho tất cả mọi người chúng ta phải biết khinh chê mọi giầu sang phú quý, tiền bạc và hư danh ở đời này để đi tìm sự sang giầu phú quý vĩnh cửu trên Nước Trời, là nơi " trộm cắp không thể bén bảng để lấy đi và mối mọt cũng không thể đục phá" (Mt 6: 2; Lc 12 : 33).
Lai nữa, Chúa chịu mọi thiếu thốn về tiện nghi vật chất khi sinh ra trong hang bò lừa để cho chúng ta được sung túc, dư thừa về mặt siêu nhiên, là những của quí mà tiền bạc danh vọng ở trần gian này không thể mua được.
Tóm lại, mừng Chúa Giáng Sinh cách xưng đáng, đẹp lòng Chúa phải chỉ lo trang trí nhà cửa bề ngoài, mua sắm để làm giầu cho giới thương mại, mà cần thiết phải sửa sang tâm hồn sao cho xứng đáng trở nên những máng cỏ xinh đẹp và ấm áp cho Chúa nằm nghỉ trong đêm mừng Người giáng trần.
Trong khi những người không có niềm tin Chúa và chỉ biết lợi dụng lễ Giáng Sinh để buôn bán kiếm tiền và vui chơi sa đọa, và trong bối cảnh thế giới ngày một thêm bất an vì đe doa khủng bố và chiến tranh còn đang âm ỷ ở vài nơi nơi trên thế giới, giết hại bao thường dân và trẻ em vô tội, thì người tín hữu chúng ta cần thiết phải cầu xin cho ơn bình an, tình thương và ánh sáng của Chúa Hài Đồng đến với những ai còn đang sống trong hận thù, và bóng đen của tội lỗi, vì ham mê tiền của và mọi thú vui vô luân vô đạo, dửng dưng với người nghèo khó...Ước chi mọi người được sống trong an hòa, yêu thương, tha thứ và bác ái , là những món quà quí giá mà Chúa Hài Nhi đã mang xuống từ trời cho những ai đón mừng sinh nhật của Người với khát vọng được sống trong bình an, thánh thiện, công bằng và nhân hậu với mọi người, không phân biệt màu da, tiếng nói, và chủng tộc. Amen.
Xin kinh chúc quí tín hữu độc giả một Lễ Giáng Sinh thánh hiện, và một Năm Mới nhiều an vui mạnh khỏe hồn xác.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 96 = LE TANG- LE CUOI PDF Print E-mail

CÓ ĐƯỢC BIẾN LỄ TANG THÀNH LỄ CƯỚI HAY LỄ PHONG THÁNH KHÔNG ?
Tôi phải viết bài này vì đã được chứng kiến một vài việc xét thấy không phù hợp với giáo lý và niềm tin của Giáo Hội về việc cử hành lễ tang ( funeral mass) cho ai đã ly trần . Tôi cần nói để giáo dân khỏi hoang mang khi có thể còn phải chứng kiến một việc tương tự không phù hợp với văn hóa Việt Nam và quan trọng hơn là giáo lý của Giáo Hội về việc cầu nguyện cho những người đã chết.
Thật vậy, như tôi đã có đôi lần viết rằng lễ tang ( Funeral mass) cho bất cứ ai ly trần- dù là giáo dân, hay linh mục, Giám mục và cả Đức Giáo Hoàng nữa, thì cũng không bao giờ là lễ cưới hay lễ phong thánh ( canonization) cho ai, dù cho biết rằng người quá cố là người đã sống một đời sống đạo đức thánh thiện đáng được hưởng phúc Thiên đàng theo nhãn quan con người. Phải nói như vậy, vì không ai có thể biết được Chúa phán xét ra sao cho một người đã ly trần, kể cả cho những người đã tự tử chết, hoặc chết mà không kịp được sức dầu và lãnh phép lành Tòa Thánh.
Vì Giáo Hội không biết được số phận đời đời của họ, nên chỉ dạy các tín hữu phải cầu nguyện cho những linh hồn đã ly trần mà thôi, dù người đó đã sống tốt lành hay bê bối ra sao, trước con mắt của người đời..Nghĩa là, ta không thể phán đoán ai đã được lên Thiên đàng rồi nên khỏi cần cầu nguyện cho họ nữa, hoặc ai đã sa hỏa ngục rồi nên cũng không cần cầu nguyện nữa.
Nhưng thực tế đã cho thấy là có một số linh mục đã biến lễ tang thành lễ phong thánh hay lễ cưới. Biến lễ tang thành lễ phong thánh, khi giảng rằng người này đã sống quá tốt lành nên chắc chắc đã được vào thiên đàng hưởng Thánh nhan Chúa rồi ! Nếu biết chắc như vậy, thì dâng lễ cầu nguyện cho họ làm gì nữa ?.Thật là điều không cần thiết , vì có giáo lý nào dạy dâng lễ cầu cho một ông thánh hay bà thánh nào trên Thiên Đàng đâu ??? hay chỉ có lễ kinh ( feast or memorial) một hay nhiều vị thánh mà Giáo Hội đã tuyên phong lên hàng hiển thánh mà thôi.
Thử hỏi : có ai sống thánh thiện hơn các Đức Giáo Hoàng ? Nhưng khi một vị qua đời thì Giáo Hội để tang trong 9 ngày và dâng lễ cầu hồn cho, chứ chưa hề tức khắc phong thánh cho ai bao giờ.
Có phong thánh cho ai thì cũng phải chờ một thời gian dài ngắn và đòi hỏi một số điều kiện như có 3 phép lạ được kiểm chứng nhờ cầu xin vị đã ly trần mà Chúa ban cho ai cầu xin, cũng như có đủ bằng chứng về đời sống thánh thiện của vị đó. Như vậy, dứt khoát không ai được tự ý phong thánh cho người đã ly trần trong một tang lễ, khi giảng rằng người quá cố - mà xác còn đang nằm trong nhà thờ đây- đã vào thiên Đàng rồi, vì khi còn sống đã làm biết bao việc từ thiện, giúp xây nhà thờ, nhà Dòng .v.v. Giảng như vậy chỉ có tác dụng đề cao người chết để làm vui lòng cho thân nhân còn sống mà thôi, nhưng đã đi vượt khỏi quyền phong thánh của Giáo Hội.
Lại nữa, trong một tang lễ mà tôi tham dự đồng tế, tôi rất đỗi ngạc nhiên khi nghe linh mục chủ tế là con của người đã ly trần, đã biến lễ tang của cha mình thành lễ cưới khi giảng rằng : hôm nay là ngày vui mừng vì cha tôi được vào dự bàn tiệc với rượu ngon và thịt béo, theo lời ngôn sứ I-saia nói về Tiệc cánh chung như sau:
" Ngày ấy trên núi này, Đức Chúa các đạo binh sẽ đãi muôn dân một bữa tiệc
Tiệc thịt béo, tiệc rượu ngon
Thịt béo ngậy, rượu ngon tinh chế
Trên núi này Người sẽ xé bỏ chiếc khăn tang che phủ mọi dân
-.............................................................................
Ngày ấy, người ta sẽ nói: Đây là Thiên Chúa chúng ta
Chúng ta trông đợi Người và đã được Người thương cứu độ
Chính Người là ĐỨC CHÚA chúng ta từng đợi trông
Nào ta cùng hoan hỷ vui mừng bởi được Người cứu độ ." ( Is 25: 6- 9)
Lời ngôn sứ trên đây chỉ có ý nói về ngày sau hết khi Thiên Chúa mở tiệc khoản đãi những ai được cứu độ để vào dự bàn tiệc Nước Trời đã dọn sẵn cho họ.. Nhưng có biết bao người đã từ chối không tham dự viện lý do này , lý do khác để khước từ lời mời như ta đọc thấy trong dụ ngôn " Tiệc cưới" của Tin Mừng Thánh Matthêu( Mt 22: 1-14; Lc 14: 15- 24)
Nghĩa là không phải tất cả mọi người, sau khi chết , đều đương nhiên được vào dự Tiệc "với rượu và thịt ngon" như ngôn sứ I-saia nói trên. Đó chỉ là điều mong muốn của Thiên Chúa " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biêt chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)
Chúa mong muốn như vậy vì Chúa là tình thương và khoan dung tha thứ. Nhưng con người vẫn có tự do để đáp lời mời gọi của Chúa vào dự tiệc cưới đã dọn sẵn hay khước từ lời mời đó vì còn quá quyến luyến những lợi lại và vui thú tội lỗi chóng qua ở đời này. Vì thế, bàn tiệc Nước Trời không đương nhiên dọn sẵn cho hết mọi người sau khi chết trong thân xác, mà chỉ dọn sẵn cho những ai có thiện chí muốn vào tham dự qua quyết tâm từ bỏ những quyến rũ của thế gian và cám dỗ của ma quỉ khi sống trên trần thế này.
Nghĩa là nếu người ta không quyết tâm tìm và yêu mến Chúa, trên hết mọi sự để xa tránh tội lỗi và sống theo đường lối của Chúa, thì họ đã từ chối lời mời của Chúa vào dự "bàn tiệc Nước Trời như những khách được mời đã viện đủ lý do để không đến dự tiệc cưới của con vua trong dụ ngôn tiệc cưới mà Chúa Giêsu đã kể trong Tin Mừng Thánh Matthêu 22 và tương tự trong Luca chương 14.
Nhưng ai là người có thiện chí muốn sống theo đường lối của Chúa để cuối cùng được vào dự "Tiệc Nước Trời" thì chỉ có Chúa biết và phán đoán đúng mà thôi. Chúng ta hoàn toàn không biết được nên chỉ biết cầu nguyện cho những người đã ly trần như Giáo Hội dạy mà thôi.
Lại nữa, trong mọi nền văn hóa nhân loại, cái chết là điều đau khổ nhất cho thân nhân còn sống, nên thương khóc người thân đã ra đi là điều tự nhiên phù hợp với nhân tính và đức tin. Chính Chúa Giêsu, khi mang thân phận con người, cũng đã cảm thông sự đau khổ này, nên khi nghe tin người bạn của Chúa là Laza rô chết, Chúa đã đến trước mồ của anh và đã " thổn thức trong lòng" khi thấy Maria, chị của Lazarô khóc và những người do thái đi với cô cũng khóc.
Nhưng Chúa không nói với họ là " hãy vui mừng lên vì La za rô đã vào dự bàn tiệc "Nước Trời với rượu và thịt ngon" rồi. Ngược laị Chúa đã khóc hay thổn thức trong lòng và nói với Mac-ta rằng: " Thầy là sự sống lại và là sự sống . Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống." ( Ga 11: 25)
Sau đó Chúa đã truyền cho La za rô chỗi dậy, ra khỏi mồ, dù đã nằm chết được bốn ngày để an ủi chị em Maria và cũng để chứng mình lời Người vừa nói là "Ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được sống.
Như thế khóc thương người đã ly trần là điều tự nhiên, phù hợp với nhân tính, và văn hóa của mọi dân tộc,( người da đen và Mễ Tây Cơ còn khóc to hơn người Viêt mỗi khi có thân nhân chết). Và Giáo Hội cũng không dạy phải biến lễ tang thành đám cưới, để thân nhân đừng khóc thương và để tang ai nữa.
Ngược lại Giáo Hội chỉ qui định nghi thức tang lễ ( Order of Christian Funerals ( Ordo Exsequiarum) cử hành từ trong nhà quàn, đến nhà thờ và tiễn đưa ra ngoài nghĩa trang. Cũng như dạy phải cầu nguyện cho người đã ly trần bất kể người đó đã sống ra sao trước khi chết. Như vậy, mượn lời ngôn sứ I-saia nói về bữa tiệc cánh chung khi những người đã được cứu độ vào dự bàn tiệc Nước Trời, để biến lễ tang thành lễ cưới là điều sai lầm xét về cả hai mặt văn hóa và giáo lý của Giáo Hội.
Vẫn biết ai cũng có quyền hy vọng cho thân nhân mình được phần rỗi để vào dự bàn tiệc Nước Trời đã dọn sẵn, nhưng làm sao chúng ta biết ngay được chắc chắn ai đã được vào để mừng vui với họ và không cần cầu nguyện và khóc thương nữa ? Và khóc thương thì có sao đâu, vì niềm tin và Giáo Lý của Giáo Hội đâu có ngăn cấm việc này ?
Giáo Hội chỉ dạy các tin hữu tin có sự sống lại của những ai đã ly trần, và đây là niềm an ủi cho chúng ta mỗi khi phải tiễn biệt ai trong trần thế này qua cái chết.
Chính vì không biết được phần rỗi của ai, nên Giáo Hội chỉ dạy phải cầu xin cho người đã ly trần mà thôi. Cụ thể, khi nghe tin một hồng y hay giám mục nào chết, Đức Thánh Cha luôn gửi lời phân ưu chia buồn ( condolences) tới thân nhân hay giáo phận của vị đã qua đời. Chưa hề có Giáo Hoàng nào đã gửi lời chúc mừng đến thân nhân của ai qua đời , vì cho rằng người quá cố đã vào "Bàn Tiệc Nước Trời" rồi nên phải mừng vui., thay vì khóc thương và để tang !
Như v ậy, biến lễ tang thành đám cưới hay lễ phong thánh là sai hoàn toàn mục đích của việc cầu xin cho người đã chết như giáo lý và giáo luật của Giáo Hội qui định. ( x.giáo luật số 1177, )
Tuy nhiên, trước cái chết của ai, Giáo lý Giáo Hội dạy rằng: " Trong sự chết, Thiên Chúa gọi con người đến với Ngài. Bởi vậy người Ki tô hữu có thể có một ước mơ như Thánh Phaolô đã nói : " ... ước ao của tôi là ra đi để được ở vói Chúa Kitô, điều này tốt hơn bội phần " ( Pl 1: 23). Và người Kitô hữu cũng có thể biến sự chết của mình thành một hành vi vâng phục với Chúa Cha, theo gương Chúa Kitô. ( Lc 23: 46.) ." ( x SGLGHCG số 1011).
Nói rõ hơn, trước sự chết, thái độ và tâm tình thích hợp của người tín hữu là hy vọng hay trông cậy Chúa sẽ cho người thân mà mình đang khóc thương bây giờ, được sống lại để vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc Thiên Đàng , như Chúa Kitô đã hứa cho những ai tin Người thì " dù đã chết cũng sẽ được sống lại."
Tóm lại, lễ cưới, lễ tang, lễ phong thánh đều có ý nghĩa và mục đích riêng khác nhau theo giáo lý và phụng vụ của Giáo Hội . nên không thể lẫn lộn làm theo ý riêng của mình được. Vả lại, làm như vậy là không am hiểu mục đích và ý nghĩa của phụng vụ thánh dành cho mỗi cử hành khác nhau.
Chúng ta đều được khuyến khích cậy trông và mong ước cho người thân đã ly trần của mình được vào hưởng Thánh Nhan Chúa. Và cầu nguyện cho họ chính là để nói lên ước muốn đó. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn không biết Chúa phán xét ra sao cho người thân của mình đã ly trần, nên chỉ biết trông cậy vào lòng khoan dung thương xót của Chúa mà thôi; chứ không nên đi quá giới hạn đó để tỏ ra vui mừng như thể đã thấy được người thân của mình đang dự " Bàn Tiệc Nước Trời" khiến không cần phải khóc thương hay để tang nữa.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 95 = THANH PHANXICO PDF Print E-mail

Thời thánh Phanxicô Xaviê truyền giáo và thời chúng ta
Lm. JB. Nguyễn Hùng Oánh12/3/2013
THỜI THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ TRUYỀN GIÁO VÀ THỜI CHÚNG TA ?

Ngài đã viết thơ về Cha Bề Trên : "Từ khi đến đây (Ấn Độ) con chẳng ngưng lúc nào: con rao giảng khắp làng mạc, làm phép rửa cho nhiều trẻ em chưa được lãnh Bí tích này. Con đã làm phép rửa cho một số rất đông các trẻ em chưa biết phân biệt bên phải với bên trái. Khi con đến các làng ấy, trẻ em không để cho con đọc kinh Nhật Tụng, ăn uống, ngủ nghỉ, nếu con chưa dạy cho chúng một kinh. Vì thế, con bắt đầu hiểu tại sao Nước Trời là của những người giống như chúng."

Như vậy, việc Thánh Phanxicô truyền giáo ở đó không khó khăn gì.

Còn ngày nay, không thể có tình trạng dễ dàng như vậy. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã nói trong Tông huấn Evangelii Nuntiandi : "Người thời nay sẵn sàng nghe những nhân chứng hơn là những thầy dạy. Nếu họ nghe lời thầy dạy thì bởi vì chính lời thầy dạy cũng là nhân chứng."

Như vậy, "Người thời nay tin vào kinh nghiệm hơn là lý thuyết, tin vào đời sống và các sự kiện hơn là lý thuyết. Hình thức đầu tiên của việc truyền giao là chứng tá đời sống Kitô hữu: hình thức này không thể thay thế. Đức Kitô, Đấng mà chúng ta đang tiếp tục sứ mạng của Người, là " Vị Chứng nhân tuyệt hảo" (xem Kh 1,5; 3,14) và là khuôn mẫu cho chứng tá Kitô giáo. Hình thức đầu tiên của chứng tá là chính đời sống của nhà truyền giáo, của gia đình Kitô hữu và của cộng đồng Giáo Hội .... Chứng tá Tin Mừng mà thế giới đã cảm nhận, nhất là chứng tá về thái độ lưu tâm đến con người và về lòng bác ái đối với những người nghèo, những người nhỏ bé và những người đang đau khổ. Tính cách vô vị lợi trong thái độ và trong những hành động này tương phản sâu xa với thái độ ích kỷ hiện nay nơi con người, gợi lên những thắc mắc rõ ràng về Thiên Chúa và về Tin Mừng. Cũng vậy, việc dấn thân phục vụ hòa bình, công lý, nhân quyền thăng tiến con người là một chứng tá Tin Mừng" (Tông huấn Redemptoris Missio của Đức Gioan Phaolô II, số 42).

Làm sao "đem Tin Mừng thấm nhập vào trong chính sự phát triển của các nền văn hóa, nhập thể trong các nền văn hóa, khắc phục những yếu tố văn hóa nào không phù hợp với đức tin và với đời sống Kitô hữu, đồng thời nâng cao các giá trị của các nền văn hóa ấy xứng với tầm vóc của Mầu nhiệm Cứu Độ phát xuất từ Đức Kitô" (Huấn thị Towards a pastoral approach to culture, số 5 của Hội Đồng Giáo Hoàng về văn hóa).
Vậy, truyền giáo là nâng cao văn hóa của dân tộc mình tới chứ không phải vất bỏ, hạ thấp giá trị văn hóa nơi đó.
Chính Thánh Phanxicô Xaviê đã làm như vậy.

Công việc truyền giáo tại Việt Nam cũng như các nơi đang tiến triển đáng ca ngợi: các dòng đến với người nghèo, mở những nơi tiếp đón người nhỡ bước, sống với người nghèo khổ, bệnh tật, neo đơn và cả những người bị nhiễm HIV/AIDS thật đáng quý trọng. Sau đây là một bài ca tụng các linh mục đã dấn thân vào việc truyền giáo với tên gọi là "Ông Ngoại" :

ÔNG NGOẠI

Lễ Thánh Phanxicô năm nay
Nhắc lại truyền giáo đổi thay rất nhiều.
Ông Ngoại chia sẻ nhiều điều
Sáng thì làm Lễ, còn chiều dạy thêm.
Ông còn gợi ý giúp thêm
Con cháu sắp xếp học thêm nhiều giờ.
Ông Ngoại hy vọng mong chờ
Con cháu truyền giáo không quên lúc nào;
Tin yêu vào Chúa vững bền,
Gắn bó với Chúa thêm niềm cậy trông.

Ông cho con cháu hết lòng,
Tinh thần, vật chất, tấm lòng của Ông.
Ông Ngoại chia sẻ thành công,
Đến với người nghèo với lòng khiêm nhu.

Ông luôn vui vẻ nhân từ,
Nhiều người nghèo khó đến từ phương xa;
Biết Ông chia sẻ, thật thà
Xin Ông tiền nước, tiền nhà, làm ăn.

Ông mang tấm lòng băn khoăn
Người nào mà đến còn khúc mắc lòng,
Nhất là tội lỗi trong lòng
Giải hòa với Chúa, thật lòng ăn năn.
Nhiều ngày quên cả bữa ăn
Hy sinh , dạy dỗ đoàn chiên của mình.

Ông thương con cháu hết mình
Thiếu nhi, huynh trưởng hết tình bảo ban.
Tình thương chia sẻ muôn vàn,
Ai gặp một lần khó mà quên Cha:
Một người chất phác, thật thà
Cho đi tất cả, xây nhà mai sau.

Chúc Ông Ngoại khỏe, sống lâu,
Dạy cho con cháu trau dồi Thánh Kinh,
Biết yêu thương hết mọi người,
Giơ tay giúp đỡ, không quản ngại chi.

Ông Ngoại là vị ân nhân,
Giúp đỡ Hội dòng những ngày đầu tiên.
Tinh thần lẫn cả bạc tiền,
Không chờ đáp trả, ưu tiên rất nhiều.

Không sao kể hết mọi điều!
Nguyện xin Thiên Chúa ban nhiều bình an.
Cầu cho dân ngoại thoát nghèo,
Vui khỏe, thánh thiện, đầy tràn ơn trên.

Nữ tu Maria Raphaen Trương Thị Mai Hương
(Chép tư tưởng Bài Giảng của Linh mục Nguyễn Hùng Oánh)

 

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 123 of 152