mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7723
mod_vvisit_counterHôm Qua7492
mod_vvisit_counterTuần Này31590
mod_vvisit_counterTuần Trước42709
mod_vvisit_counterTháng Này111443
mod_vvisit_counterTháng Trước214058
mod_vvisit_counterTất cả11785328

We have: 89 guests online
Your IP: 54.198.205.153
 , 
Today: Sep 21, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 81 = TOI LA MOT TOI NHAN PDF Print E-mail

 

 

From: Tinh Cao
To: tinh cao
Sent: Sunday, September 22, 2013 7:28 PM
Subject: DTC Phanxico - Toi la mot toi nhan...

1- Jorge Mario Bergoglio là ai?

Tôi hỏi thẳng Đức Giáo Hoàng Phanxicô rằng: "Jorge Mario Bergoglio là ai?" Ngài chăm chăm nhìn vào tôi một cách trầm lặng. Tôi hỏi ngài xem tôi có được hỏi ngài câu này hay chăng. Ngài gật đầu và trả lời rằng: "Tôi không biết phải diễn tả làm sao cho thích đáng nhất đây... Tôi là một tội nhân. Đó là một định nghĩa chính xác nhất. Nó không phải là một lời nói bóng gió, một thứ văn chương. Tôi là một tội nhân".

Đức Giáo Hoàng tiếp tục chia sẻ và tỏ ra tập trung vào vấn đề như thể ngài không ngờ về một câu hỏi như thế, như thể ngài bị bắt buộc phải chia sẻ thêm. "Đúng thế, có lẽ tôi có thể nói rằng tôi hơi khéo léo một chút, rằng tôi có thể thích ứng với các hoàn cảnh mà nói, thế nhưng tôi cũng thật sự là hơi ngây ngô thẳng thắn. Phải đấy, thế nhưng cái tóm gọn đúng nhất, cái xuất phát từ trong lòng và tôi cảm thấy đúng nhất là thế này: Tôi là một tội nhân được Chúa đoái thương". Và ngài lập lại rằng: "Tôi là một kẻ được Chúa đoái thương. Tôi luôn cảm thức được câu tâm niệm của mình, Miserando atque Eligendo (vì thương mà chọn) là những gì rất đúng với tôi".

Câu tâm niệm này được lấy từ các Bài Giảng của tác giả Bede the Venerable, vị viết trong phần dẫn giải của mình về câu truyện Phúc Âm liên quan đến việc Thánh Mathêu được Chúa Giêsu kêu gọi: "Chúa Giêsu đã trông thấy một người thu thuế, và vì Người nhìn anh ta bằng những cảm xúc yêu thương nên đã chọn anh ta, Người đã nói cùng anh ta rằng: 'Hãy theo Ta'". Đức Giáo Hoàng còn thêm: "Tôi nghĩ động danh từ Latinh miserando này không thể dịch sang cả tiếng Ý lẫn tiếng Tây Ban Nha. Tôi thích dịch nó bằng một động danh từ (gerund) khác vốn không có, đó là misericordiando ('mercy-ing' - việc thương xót)".

Đức Giáo Hoàng tiếp tục chia sẻ mà nói, khi nhẩy qua một đề tài khác: "Tôi không biết rõ về Rôma. Tôi biết một ít điều thôi. Những điều này bao gồm Đền Thờ Đức Bà Cả; tôi thường đến đó. Tôi biết Đền Thờ Đức Bà Cả, Đền Thờ Thánh Phêrô... thế nhưng khi tôi cần phải đến Rôma thì tôi bao giờ cũng ở (vùng lân cận) của Via della Scrofa. Từ đó, tôi thường viếng thăm Nhà Thờ Thánh Louis Pháp Quốc và tôi đến đó để chiêm ngưỡng bức họa liên quan đến 'Ơn Gọi của Thánh Mathêu' của Caravaggio.

"Ngón tay của Chúa Giêsu chỉ vào Thánh Mathêu. Tức là tôi. Tôi cảm thấy như ngài". Đến đây Đức Giáo Hoàng trở nên quyết liệt, như thể ngài cuối cùng đã thấy được hình ảnh ngài đã tìm kiếm: "Chính cử chỉ của Thánh Mathêu đã tác động tôi: Ngài giữ lấy tiền của ngài như muốn nói rằng 'Không, không phải là tôi! Không, tiền bạc này là của tôi'. Đấy, tôi đó, một tội nhân đã được Chúa hướng nhìn tới. Và đó là những gì tôi đã nói khi các vị hỏi tôi rằng tôi có chấp nhận được tuyển bầu làm giáo hoàng hay chăng". Bấy giờ vị giáo hoàng này đã thầm thỉ bằng tiếng latinh rằng: "Tôi là một tội nhân, nhưng tôi tin vào tình thương vô biên và nhẫn nại của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng tôi, và tôi chấp nhận bằng tinh thần thống hối".

2- Tại sao ngài lại trở thành một tu sĩ Dòng Tên?
Tôi tiếp tục: "Tâu Đức Thánh Cha, cái gì đã khiến ngài chọn gia nhập Dòng Chúa Giêsu? Cái gì đã đánh động ngài về Dòng Tên?" "Tôi đã muốn một cái gì hơn nữa. Thế nhưng tôi không biết đó là cái gì. Tôi đã nhập chủng viện của địa phận. Tôi thích anh em tu sĩ Dòng Đa Minh và tôi có bạn bè Đa Minh. Thế nhưng tôi đã chọn Dòng Chúa Giêsu là dòng tôi đã biết rõ vì chủng sinh được ủy thác cho các Cha Dòng Tên. Có 3 điều đặc biệt đánh động tôi về Dòng này, đó là tinh thần truyền giáo, cộng đồng và kỷ luật. Và đó mới là điều lạ, vì tôi là một con người thật thật là phi kỷ luật. Thế nhưng, kỷ luật của họ, cách thức họ điều hành giờ giấc của họ - những điều ấy đã đánh động tôi rất nhiều.

"Rồi còn một điều nữa thật sự là quan trọng đối với tôi, đó là cộng đồng. Tôi luôn luôn tìm kiếm một cộng đồng. Tôi không coi tôi như là vị linh mục một mình. Tôi cần một cộng đồng. Và cha có thể thấy điều này nơi sự kiện tôi ở Nhà Thánh Matta đây. Vào thời điểm mật nghị hồng y bầu giáo hoàng, tôi đã ở Phòng 207. (Phòng bè được phân chia bằng việc rút thăm). Phòng mà giờ đây chúng ta ở là một phòng khách. Tôi đã chọn sống ở đây, tại Phòng 201, vì khi tôi lấy căn giáo hoàng thất thì trong bản thân mình tôi đã nghe rõ một tiếng 'đừng'. Căn giáo hoàng thất ở Tông Dinh không sang trọng lộng lẫy gì. Nó cũ kỹ, được trang hoàng đẹp đẽ và rộng rãi, nhưng không sang trọng lộng lẫy. Thế nhưng, nó ở cuối giống như một cái phễu lộn ngược. Nó lớn và rộng rãi, thế nhưng lối vào lại thật là nhỏ. Người ta chỉ có thể đi vào từng ít một và buồn tẻ, và tôi không thể sống mà thiếu dân chúng. Tôi cần sống cuộc đời mình với những người khác".

3- Một tu sĩ Dòng Tên làm Giám Mục Rôma có nghĩa là gì?

Tôi hỏi Đức Giáo Hoàng Phanxicô về sự kiện ngài là tu sĩ Dòng tên đầu tiên được chọn bầu làm giám mục Rôma rằng: "Đức Giáo Hoàng hiểu như thế nào về vai trò phục vụ giáo hội hoàn vũ mà ngài đã được kêu gọi để thực hiện theo chiều hướng của linh đạo I Nhã (Ignatio)? Việc một tu sĩ Dòng Tên được chọn làm giáo hoàng có nghĩa là gì? Yếu tố nào trong linh đạo I Nhã có thể giúp ngài sống thừa tác vụ của ngài?"

Ngài trả lời rằng: "Nhận thức. Nhận thức là một trong những điều đã tác động nội tâm của Thánh I Nhã. Đối với thánh nhân thì nó là một khí giới của một cuộc gắng gỏi để nhận biết Chúa và theo Người chặt chẽ hơn. Tôi luôn bị đánh động bởi một câu nói diễn tả cái nhãn quan của Thánh I Nhã, đó là câu: non coerceri a maximo, sed contineri a minimo divinum est ("không bị hạn chế bởi những gì vĩ đại nhất mà vẫn được chất chứa trong những gì bé mọn nhất - đó là thần linh"). Tôi đã nghĩ rất nhiều về câu này liên quan đến vấn đề các vai trò khác nhau trong việc quản trị giáo hội, về việc trở thành bề trên của một ai khác: vấn đề quan trọng ở đây là đừng bị hạn chế bởi một khoảng rộng lớn mà vẫn cần phải có thể ở trong những khoảng hạn hẹp. Nhân đức về những gì lớn nhỏ này là nhân đức cao thượng đại lượng. Nhờ cao thượng đại lượng chúng ta mới luôn có thể nhìn về chân trời từ vị trí chúng ta đang ở. Nghĩa là có thể thực hiện những điều ti tiểu hằng ngày bằng một con tim to lớn hướng về Thiên Chúa và về người khác. Nghĩa là có thể cảm nhận được những gì nhỏ bé bên trong những chân trời rộng lớn, những chân trời của vương quốc Thiên Chúa.

Đức Giáo Hoàng nói tiếp: "Câu tâm niệm này cống hiến cho chúng ta những yếu tố để có thể cho rằng mình nắm bắt được nhận thức, để nghe những gì về Thiên Chúa theo 'quan điểm' của Thiên Chúa. Theo Thánh I Nhã, những đại nguyên tắc cần phải được thể hiện nơi các hoàn cảnh về nơi chốn, thời gian và nhân sự. Theo cách thức riêng của mình, Đức Gioan XXIII đã thích ứng thái độ này với việc quản trị giáo hội, khi ngài lập lại câu tâm niệm 'Hãy nhìn xem tất cả mọi sự; hãy hướng con mắt mù lòa về phần đông; hãy điều chỉnh cái chút xíu'. Đức Gioan XXIII đã thấy tất cả mọi sự, thấy cái chiều kích tối đa, thế nhưng ngài chỉ muốn điều chỉnh một chút ít, chiều kích tối thiểu. Ông có thể có những đại dự phóng và thực hiên chúng bằng một chút những cái nhỏ mọn nhất. Hay ông có thể dùng phương tiện yếu kém tác hiệu hơn là những phương tiện hùng hậu, như Thánh Phaolô cũng đã nói ở trong Thư Thứ Nhất của ngài gửi Giáo Đoàn Corintô.

"Cái nhận thức này cần đến thời gian. Chẳng hạn, nhiều người nghĩ rằng các thứ thay đổi và canh tân cải cách có thể xẩy ra trong vòng một thời gian ngắn. Tôi tin rằng chúng ta luôn luôn cần thời gian để đặt nền móng cho các đổi thay thực sự hiệu nghiệm. Và đó là thời gian của việc nhận thức. Trái lại, đôi khi việc nhận thức thôi thúc chúng ta thực hiện chính xác những gì ông nghĩ ngay từ đầu ông cần phải làm gì sau đó. Và đó là những gì đã xẩy ra cho tôi trong những tháng vừa qua. Việc nhận thức bao giờ cũng cần phải thực hiện trước nhan Chúa, khi nhìn vào các dấu chỉ, khi lắng nghe những gì xẩy ra, cảm thấy dân chúng, nhất là người nghèo. Những chọn lựa của tôi, bao gồm những chọn lựa liên quan tới các khía cạnh sống hằng ngày, như việc sử dụng một cái xe bình dân, đều liên hệ tới một thứ nhận thức thiêng liêng có thể đáp ứng một nhu cầu nào đó xuất phát từ việc nhìn vào các sự vật, vào dân chúng cũng như từ việc thấy được các dấu chỉ thời đại. Việc nhận thức trong Chúa là những gì hướng dẫn tôi về đường lối tôi quản trị.

"Thế nhưng, tôi bao giờ cũng thận trọng về các quyết định vội vàng thực hiện. Tôi bao giờ cũng thận trọng về quyết định đầu tiên của mình, tức là về điều đầu tiên đến trong đầu của tôi nếu tôi cần phải đi đến quyết định. Đây thường là một điều sai lầm. Tôi cần phải chờ đợi và thẩm định, nhìn sâu xa vào bản thân mình, trong một thời gian cần thiết. Sự khôn ngoan của việc nhận thức là những gì bù đắp lại cho cái mập mờ cần thiết trong đời sống, và giúp cho chúng ta tìm thấy phương tiện thích đáng nhất, cái mà không phải bao giờ cũng trùng hợp với những gì có vẻ vĩ đại và hùng tráng".

(còn tiếp)

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tạp chí America của Dòng Tên

 
HOC HOI DE SONG DAO # 80 = TÔNG THU "CUA DUC TIN PDF Print E-mail

 

- PHẦN III NGÀY ĐÁNG GHI NHỚ - Cha Trầm Phúc

ĐỌC TÔNG THƯ TỰ SẮC "CỬA ĐỨC TIN"
(Porta Fidei)
PHẦN III
NGÀY ĐÁNG GHI NHỚ

Ngày 11.10.2012, Khai mạc Năm Đức Tin.
Kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng Vatican II,
Kỷ niệm 20 năm ngày ra đời của Sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo.
Công đồng Vatican II và sách giáo lý của Hội thánh Công giáo:
· Là hai biến cố quan trọng của Giáo hội thế kỷ XX.
· Là kho tàng quý báu của Giáo hội cho thế hệ sau này. Chúng ta có dịp học hỏi sâu rộng hơn về hai kho báu này trong Năm Đức Tin.
· Trong năm 2012 còn một biến cố quan trọng khác đánh dấu một bước đường mới của Giáo hội là Thượng Hội đồng Giám mục nghiên cứu về đề tài: tái truyền giảng Tin Mừng để thông truyền đức tin Kitô.
Đức Thánh Cha xem đây như "một dịp thích hợp để toàn thể cộng đoàn Giáo hội tiến vào một thời điểm để:
· Đặc biệt suy tư
· Và tái khám phá đức tin (số 4)
Con cái của Giáo hội phải xem những biến cố này như một nhịp sống của gia đình mình, liên hệ đến đời sống và hạnh phúc của chính mình. Theo dõi và đồng nhịp học hỏi những gì có thể. Đây không phải là những gì của cấp trên mà là những biến cố gắn liền với cuộc sống của mình.
Năm Đức Tin 1967
Đức Thánh Cha nhắc lại Năm Đức Tin 1967 - kỷ niệm 1900 năm thánh Phêrô và Phaolô tử đạo do Đức Phaolô VI đề xướng, để chứng tỏ rằng Ngài tiếp nối công trình của Đấng tiền nhiệm.
Năm Đức Tin 1967 đã là một giai đoạn quan trọng sau Công đồng. Năm nay, 45 năm sau, công trình ấy được tiếp nối bằng một Năm Đức Tin nữa, để thấy rằng sự sống của Giáo hội vẫn là một, là một sự tăng trưởng được tiếp nối qua thời gian, không đứt đoạn.
Năm Đức Tin 1967
· Nhằm giúp toàn thể Giáo hội có một sự tuyên xưng đức tin một cách đích thực và chân thành "như hai thánh Phêrô và Phaolô đã tuyên xưng bằng cái chết của các ngài".
· Nhằm củng cố và tái ý thức chính xác về đức tin để làm cho đức tin được tái sinh động, và thanh tẩy để tuyên xưng đức tin" (số 4) trước thế giới.
Đức Phaolô VI "đã kết thúc Năm Đức Tin với Bản Tuyên Xưng Đức Tin của Dân Chúa để làm chứng rằng các nội dung thiết yếu (của đức tin) là gia sản của mọi tín hữu đang cần được
· Củng cố
· Hiểu biết
· Và đào sâu một cách ngày càng mới mẻ để làm chứng trong thế giới hôm nay. (số 4)
Tất cả hướng về việc làm chứng và tuyên xưng. Đây chính là một đòi buộc gắt gao đối với mọi tín hữu. Đức tin là một hồng ân, một gia sản cần được bảo vệ, củng cố và loan truyền. Hồng ân này không dành riêng cho một số người mà cho mọi người vì "ý muốn của Chúa Cha là cứu vớt hết mọi người". Lãnh nhận hồng ân đức tin là lãnh nhận một trách nhiệm lớn: "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" tức là không rao truyền đức tin.
Đức tin không là của riêng ai, mà của mọi người. Chúa đã thương ban cho chúng ta hồng ân tuyệt diệu đó, chúng ta không thể dành riêng cho mình, phải trao cho anh em chúng ta, những người chưa được hạnh phúc biết Chúa.
Dụ ngôn những nén bạc ông chủ trao cho các đầy tớ cho chúng ta hiểu rằng, nén bạc phải được sử dụng đúng mức, phải sinh lợi, không được đem chôn để giữ nó nguyên vẹn. Bao lâu chung quanh ta còn những người chưa biết Chúa, nghĩa vụ của chúng ta vẫn còn.
Tin vào Chúa một mình là một điều vô nghĩa. Muối phải tan đi để thấm vào thực phẩm. Ánh sáng phải được đặt trên giá đèn. Chúng ta, những kẻ tin có bổn phận "đào sâu" vào kho tàng đức tin. Kho tàng đức tin chính là Giêsu Kitô, niềm hy vọng và vinh quang của mọi kẻ tin. "Chúa Giêsu Kitô là trung tâm của vũ trụ, của lịch sử, của văn hóa, của vận mệnh nhân loại, của ơn cứu độ." (Phaolô VI)
"Chúa Giêsu Kitô ở chóp đỉnh của mọi ước vọng nhân loại, là điểm cuối cùng của niềm hy vọng và lời cầu nguyện của chúng ta." (Phaolô VI). Không ai có thể thay thế Ngài được chỉ có Ngài thôi. Đào sâu vào Ngài, vào Lời hằng sống của Ngài. Đó chính là nhiệm vụ cao đẹp nhất và là hạnh phúc của những kẻ tin. Gắn bó thực sự với Ngài, chúng ta mới có thể "tuyên xưng" Ngài một cách đúng đắn. Việc tuyên xưng của chúng ta mới chân thật. Đào sâu vào Chúa Kitô là công việc được thi hành trong Giáo hội, nhờ Giáo hội.
NĂM ĐỨC TIN 2012
Đức Thánh Cha Bênêdictô dẫn đưa chúng ta bước tới một bước mới trong Năm Đức Tin này là trao phó cho hai kho tàng cần phải khai thác: đó là "những văn kiện Công đồng Vatican II và sách Giáo lý của Hội thánh Công giáo.
Những văn kiện Công đồng Vatican II, theo Đức Thánh Cha là một gia sản quý báu của Giáo hội, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Giáo hội và của mọi tín hữu. Gia sản ấy là món quà tuyệt hảo của Chúa Thánh Thần ban cho Giáo hội trong thế kỷ XX, nhưng là một món quà có tính cách bền vững qua thời gian, hướng dẫn Giáo hội hôm nay và mai sau. Gia sản này như Đức Thánh Cha nói: "không bị mất giá trị cũng như vẻ tươi sáng" (số 5), vì nó là sản phẩm của Chúa Thánh Thần: "Thánh Thần và chúng tôi quyết định..." (Cv 15, 28)
Đức Thánh Cha cũng nêu rõ; "Nếu chúng ta đọc và đón nhận Công đồng, với sự giải thích đứng đắn, thì Công đồng ngày càng có thể và trở thành sức mạnh lớn để thực hiện sự canh tân Giáo hội ngày càng cần thiết." (số 5)
Lm Trầm Phúc

Kính chuyển
Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 79 = TU SI VA PHO TE PDF Print E-mail

 

NHỮNG GÌ CÁC TU SI VÀ PHÓ TẾ ĐƯỢC HAY KHÔNG ĐƯỢC PHÉP LÀM TRONG CÁC GIÁO XỨ.

Hỏi: xin cha giải đáp những thắc mắc sau đây :

1-Tại sao Phó tế không được rửa tội cho người lớn và sức dầu cho bệnh nhân ?

2  Các Tu sĩ có được phép giảng, chứng hôn, rửa tội và sức dầu bệnh nhân không ?

Trả lời :

  Trước hết, cần nói qua về hàng Giáo sĩ và Tu sĩ trong Giáo Hội như sau:

1-Hàng Tu sĩ nam nữ ( Religious, consecrated men and women) là những người có lời khấn khó nghèo ( poverty) khiết tịnh ( chastity) và vâng phục ( obedience) trong một Tu Hội hay Nhà Dòng được thành lập hợp pháp ( theo giáo luật) để hoạt động trong Giáo Hội,

Giáo sĩ ( clerics) là những người có chức thánh như Phó tế, Linh mục và Giám mục. Giáo sĩ khác với Tu sĩ ở một điểm là giáo sĩ không phải khấn khó nghèo, chỉ khấn vâng phục và khiết tịnh hay độc thân ( celibacy) mà thôi.

Các Tu sĩ thuộc quyền của Bề Trên Tu Hội hay Nhà Dòng liên hệ. Nhưng khi làm việc trong một giáo hội địa phương hay địa phận ( Diocese) thì lại trực thuộc quyền và cho phép của giám mục giáo phận. Nghĩa là nếu giám mục không cho phép thì không Tu Hội hay Nhà Dòng nào được phép hoạt động trong một giáo hội địa phương. ( địa phận).

Các giáo sĩ ( phó tế, linh mục ) trực thuộc một Giám mục địa phương . Giám mục ( cũng là giáo sĩ hay tu sĩ) trực thuộc và chịu trách nhiệm trước Đức Thánh Cha, tức Giám mục Rôma, và là Thủ Lãnh Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, Đấng duy nhất thay mặt Chúa Kitô trong sứ mệnh và trách nhiệm cai quản Giáo Hội , nối nghiệp Thánh Phêrô

Các giáo sĩ là những người được tuyển chọn và huấn luyện để lãnh các chức thánh như Phó Tế, Linh mục và Giám mục để giảng dạy, thánh hóa và coi sóc dân Chúa được trao phó cho các ngài chăm lo về mặt thiêng liêng.

Đứng đầu một Giáo Phận hay Địa Phận ( Diocese) là một Giám mục do Đức Thánh Cha bổ nhiệm để trong coi một giáo hội địa phương hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ và vâng phục Đức Thánh Cha cũng là Thủ lãnh của Giám mục Đoàn ( College of Bishops).

Giám mục địa phận được gọi là Giám mục chính tòa ( Ordinary=Diocesan Bishop). Giám mục chính tòa có thể có một, hai hay 3 Giám mục phụ tá

( Auxiliary Bishops), phụ giúp để điều hành một Giáo phận hay Tổng Giáo phận ( Archdiocese). Giáo mục phụ tá không có quyền kế vị khi Giám mục chính tòa về hưu hay qua đời ( giáo luật số 403, triệt 1).Chỉ có Giám mục Phó ( Coadjutor) được quyền kế vị mà thôi. ( x giáo luật số 403, triệt 3 )

Giám mục chính tòa được sự cộng tác và vâng phục của các linh mục và Phó tế trong Địa phận. Chí có linh mục và Giám mục thuộc hàng Tư Tế ( Sacerdos), phó tế chỉ là giáo sĩ được thụ phong để phụ giúp linh mục và giám mục trong những nhiệm vụ được giáo phó.

Cụ thể, phó tế có năng quyền được công bố Phúc Âm khi giúp lễ cho linh mục hay Giám mục.Phó tế cũng được phép chia sẻ lời Chúa với sự cho phép của linh mục trực thuộc. Phó tế được chứng hôn, cử hành nghi thức an táng khi không có linh mục chủ sự Thánh lễ an táng.. Phó tế cũng được làm phép nước thánh và làm phép các ảnh tượng với công thức trong Nghi thức làm phép của Giáo Hội. Sở dĩ thế, vì nước thánh ( holy water) và các Ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ và các Thánh không phải là các Bí tích mà chỉ là Á bí tích thôi ( Sacramentals) nên Phó tế được phép làm. Thêm nữa, Phó tế được rửa tội cho trẻ em, không cho người lớn (adults) vì người lớn là tân tòng ( catechumens) nên phải học đạo trong chương trình gọi la RCIA ( Rites of Christian Initiation for Adults) để chịu 3 Bí Tích Rửa tội, Thêm sức và Thánh Thể một lượt. Do đó, Phó tế không rửa tội cho người lớn vì không được phép Thêm sức cho họ sau khi rửa tôi. Chỉ có giám mục là thừa tác viên chính của bí tích Thêm sức và có thể ủy nhiệm ( delegate ) cho các linh mục trực thuộc cử hành bí tích này.Lai nữa , phó tế không được xức dầu bệnh nhân vì chỉ có linh mục hay giám mục là thừa tác viên của bí tích này mà thôi. Cũng cần nói thêm là chỉ có linh mục và giám mục thuộc hàng tư tế ( sacerdos) nên mới có năng quyền cử hành các bí tích thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, và Sức dầu bệnh nhân. (x. giáo luật số 1007). Phó tế không thuộc hàng tư tế nên không có năng quyền để cử hành các bí tích Thánh Thể, Hòa giái, và Sức dầu bệnh nhân.

Đó là trong trường hợp bình thường.Ngược lại, trong trường hợp nguy tử khi không có linh mục, thì phó tế hay bất cứ giáo dân nào- kể cả người chưa rửa tội- cũng được phép rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi theo ý Giáo Hội. ( x SGLGHCG số 1256 ; giáo luật số 861,triệt 2, số 868 triệt 2 )

2-    Về câu hỏi thứ hai, xin được giải thích như sau:

Tu Sĩ nam có thể trở thành giáo sĩ khi được lãnh nhận các chức thánh như

Phó tế, Linh mục hay Giám mục.( Đức đương kim Giáo Hoàng Phanxicô là tu sĩ Dòng tên=Jesuit)

Thí dụ , các cha ĐaMinh, Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng Tên ( Jesuits)Dòng

Ngôi Lời, Dòng Đồng Công v.v.

Các ngài vừa là Tu sĩ vì có lời khấn Dòng vừa là giáo sĩ vì có chức thánh linh mục hay Giám mục.Các linh mục giáo phận- hay còn gọi là các linh mục Triều- chỉ là giáo sĩ mà thôi, không phải là Tu sĩ đích danh,vì không có lời khấn Dòng như đã nói ở trên.

Do đó, nếu là linh mục, thì tu sĩ có thể cử hành tất cả các bí tích trừ bí tích truyền chức thánh ( Holy Orders) dành riêng cho Giám mục. Ngược lại, nếu tu sĩ chỉ có lời khấn Dòng mà không có chức thánh thì không được cử hành bất cứ bí tích nào ( trừ Rửa tội trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử) không được giảng Phúc Âm, chứng hôn và cử hành nghi thức an táng, không được làm phép nước thánh và các Ảnh tượng.

Cần nói rõ điều nay, vì có linh mục chánh xứ kia đã cho một nữ tu giảng trong Thánh Lễ và rửa tội cho trẻ em. Đây là điều không được phép làm.

Sở dĩ thế, vì lời khấn –dù là khấn trọng, khấn vĩnh viễn- thì cũng không phải là chức thánh như chức phó tế, linh mục hoặc giám mục, nên không có chức năng ( competence) để cử hành một bí tích nào, trừ bí tích rửa tội trong trường hợp nguy tử và không có linh mục hay phó tế có mặt.

Lời khấn của các tu sĩ có thể được tháo gỡ ( dispense) bởi giám mục địa phương nếu Tu Hôi hay Dòng thuộc địa phận. Nếu không thuộc Giáo phận thì Bề Trên Tổng Quyền của Dòng hay Tu Hôi sẽ tháo lời khấn theo đơn xin với lý do chính đáng. Các linh mục, ngược lại, muốn vô hiệu hóa chức thánh để hồi tục ( defrocking) thì phải có phép của Đức Thánh Cha.

Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn các câu hỏi được đặt ra.

Lm . Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 78 = THIEN CHUA CO CAN... PDF Print E-mail

THIÊN CHÚA CÓ CẦN CON NGƯỜI LÀM VIỆC LÀNH ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI HAY KHÔNG ?

Hỏi : Tại sao các anh em Tin Lành nói chỉ cần tin Chúa Kitô là được cứu rỗi trong khi Giáo Hội Công Giáo dạy phải làm thêm việc lành nữa ?

Trả lời : Liên quan đến vấn đề cứu rỗi ( salvation) thì giữa Giáo Hội Công Giáo và anh em Tin Lành nói chung ( Protestants) đã có sự khác biệt lớn lao, hầu như không thể vượt qua được để có thể đi đến chỗ cùng chia sẻ một niềm tin về ơn cứu độ của Chúa Kitô..

Trước hết, chúng ta cần biết qua về Nhóm Kitô giáo gọi chung là Tin Lành ( Protestantism) do những người chủ xướng như Martin Luther ở Đức, năm 1517; John Calvin ở Pháp, Ulrich Zwingli ở Thụy sĩ , và King Henry VIII và Wolsey ở Anh năm 1527. Họ đã tự tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo để tiến hành cài gọi là " Cải cách tôn giáo " Protestant Reformation' trong thế kỷ 16 ở Âu Châu và sau này lan tràn sang Mỹ và Á Châu. Riêng ở Mỹ, các nhóm Tin Lành chính gồm có Baptists, Methodists, Lutherans, Presbyterians, Protestant Episcopal, United Church of Christ, Episcopalians, Quakers , Disciples of Christ of the Later-day Saints, Jehovah's Witnesses...

Quan điểm thần học của họ dựa trên 2 tiêu chuẩn hay nguyên tắc căn bản chính sau đây :

1-Vai trò tối cao của Thánh Kinh ( Supremacy of the Scriptures) như là nguồn duy nhất ( Sola Scriptura )

cho Niềm tin và chân lý Kitô Giáo.

2-Sự công chính hóa ( Justification) hay ơn cứu độ chỉ nhờ vào đức tin mà thôi.

Tất cả 2 nguyên tắc trên đều không hoàn toàn phù hợp với niềm tin và giáo lý của Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo ( Orthodox Churches) vì lý do như sau:

Thứ nhất, Giáo Hội Công Giáo tin Thánh Kinh, Mạc Khải ( Revelation), và Thánh Truyền ( Sacred Tradition) là 3 nguồn chân lý của đức tin trong khi anh em Tin Lành chỉ tin có Thánh Kinh, không công nhận Mạc Khải và Thánh Truyền, kể cả Quyền Giáo Huấn ( Magisterium) của Giáo Hội và vai trò lãnh đạo của Đức Thánh Cha. Họ tin Kinh Thánh nhưng lại hiểu theo cách cắt nghĩa riêng của họ, khác với cách hiểu và cắt nghĩa của Công Giáo.

Cụ thể, liên quan đến đoạn Thánh Kinh Tân Ước trong Tin Mừng Thánh Matthêu sau đây :

" Người ( Chúa Giêsu) còn đang nói với đám đông, thì có mẹ và anh em của Người đứng bên ngoài

tìm cách nói chuyện với Người. Có kẻ thưa Người rằng : " Thưa Thầy, có Mẹ và anh em Thầy đứng ngoài

kia, tìm cách nói chuyện với Thầy." ( Mt 12 : 46-47

Anh em Tin Lành đã cắt nghĩa cụm từ " anh em " ở trên theo nghĩa anh em huyết tộc, để từ đó nói rằng Đức Mẹ, sau khi sinh Chúa Giêsu, còn sinh thêm một số con nữa,.và từ ngữ " anh em" trong câu trên được họ giải thích là con ruột của Đức Mẹ, em của Chúa Giêsu, cho nên Đức Mẹ không còn đồng trinh trọn đời như Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống tin.

Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo cắt nghĩa từ ngữ " anh em " nói trên theo nghĩa thiêng liêng, chứ không theo nghĩa đen ( literal meaning) của từ ngữ, nên tin vững chắc rằng Đức Maria chỉ sinh có một Người Con duy nhất là Chúa Giêsu nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, vì thế Mẹ vẫn trọn đời đồng trinh như Giáo Hội dạy không sai lầm cho đến nay.

2- Liên quan đến vấn đề công chính hóa và ơn cứu rỗi, anh em Tin Lành cho rằng con người đã mất hết khả năng hành thiện sau khi Adam sa ngã, nên không thể làm được gì có giá trị công chính nữa.Do đó, chỉ còn tin Chúa Kitô là được cứu rỗi mà thôi. Mọi có gắng của cá nhân không thể làm cho con người trở nên công chính ( justified) mà phải nhờ vào ơn thánh và tin Chúa Kitô mới được cứu rỗi mà thôi.

Quan điểm trên của anh em Tin Lành chỉ đúng một phần . Đó là cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, là công nghiệp vô giá, vì nếu không có công nhiệp Chúa đã chịu đau khổ, đã bị đóng đanh và chết trên thập giá để đền tội thay cho nhân loại, thì không ai có thể được cứu rỗi , vì " Ngoài Người ra, không ai đem lại ơn cứu độ, vì dưới gầm trời này , không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ." ( Cv 4 :12 )

Nghĩa là nếu Chúa Kitô không xuống thế làm Con Người và " hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người "( Mt 20: 28) thì không ai có thể làm gì để tự cứu mình và cứu người khác được. Đây là điều chúng ta phải tin chắc chắn như vậy.

Tuy nhiên, dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa cứu thế Giêsu và ơn của Thiên Chúa là đủ cho ta được cứu rỗi. Nhưng Thiên Chúa vẫn đòi con người phải cộng tác vào ơn cứu độ đó bằng nỗi lực tin yêu Chúa và xa tránh mọi tội lỗi, vì nếu không thì ơn cứu chuộc vô giá kia của Chúa Kitô vẫn sẽ trở nên vô ích như thường..

Thật vậy, bản chất con người, tuy bị băng hoại vì tội Nguyên Tổ ( Origional Sin) , và trở nên rất yếu đuối trước mọi cám dỗ của ma quỷ và dịp tội của thế gian. Nhưng con người vẫn còn ý muốn tự do ( Free will) mà Thiên Chúa tôn trọng cho con người sử dụng để hoặc tự do chọn sống theo đường lối của Chúa hay theo thế gian tội lỗi để quay lưng lại với Thiên Chúa là Cha nhân từ, " Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)

Kinh nghiệm bản thân của mỗi người chúng ta đủ chứng minh điều này : đó là chúng ta không bị bó buộc phải yêu mến Chúa và làm việc lành phúc đức. Chúng ta vẫn cảm thấy mình được tự do sống cho Chúa hay theo thế gian vô thần, vô luân, vô đạo.

Cụ thể, ngày Chúa Nhật, có biết bao người Công Giáo đã tự ý không đi tham dự Thánh Lễ, để ở nhà coi football, hay đi đánh bạc và du hí ở những nơi tội lỗi. Lại nữa, có biết bao người tự do bỏ vợ , bỏ chồng dù đã có con cái và sống chung với nhau nhiều năm. Có vợ chồng còn thuê người khác giết vợ hay chồng của mình để đi xây tổ ấm mới ! Và còn biết bao người khác đã và đang làm những sự dữ như giết người, gian manh, lường đảo, dâm ô, bài bạc , trộm cướp, bóc lột ...

Nếu sống như vậy, thì họ nghe theo tiếng gọi của Chúa, tiếng lương tâm của họ hay theo thói đời hư đốn đồi trụy ?

Chính vì con người còn có tự do để làm sự lành sự thiên hay sự gian ác, tội lỗi, nên đức tin phải được chứng minh cụ thể bằng hành động như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã dạy như sau:

" Thưa anh em, ai bảo mình có đức tin mà không hành động theo đức tin thì nào có ích lợi gì ? Đức tin có thể cứu người đó được chăng ? ( Gc 2 : 14)

Cụ thể, nếu tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô mà lại không thi hành những lời Người dạy bảo về mến Chúa , yêu tha nhân,

yêu mến sự thiện hảo, công bình và bác ái, thì đức tin đó là " đức tin chết" theo lời dạy của Thánh Gia-cô-bê ( Gc': 12: 17).

Kinh Thánh cho biết ông Abraham đã thể hiện đức tin và lòng mến yêu Thiên Chúa của ông bằng hành động dám hy sinh con mình là Isaac, như Thiên Chúa đòi hỏi để thử thách ông. Và ông đã chứng minh đức tin và đức mến phi thường của mình khi đang định sát tế con một của ông, nên " Thiên Chúa kể ông là người công chính và ông được gọi là bạn của Thiên Chúa." ( Gc 2 : 23)

Như thế đủ cho thấy là đức tin cần được thể hiện cụ thể bằng hành động theo gương ông Abraham và các Thánh Tử Đạo là những người đã dám đỏ máu mình ra để tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô.Nhưng không phải chỉ đổ máu ra mới minh chứng được đức tin. Ngược lại, bằng đời sống bình thường trong gia đình và ngoài xã hội, người có đức tin vẫn có thể biểu lộ đức bằng hành động cụ thể , như làm việc bác ái, nhẫn nhục, chiu đưng và tha thứ cho người khác để minh chứng niềm tin sống động của mình vào Thiên Chúa, là Cha nhân từ, đầy yêu thương và tha thứ. Trái lại, nếu miệng tuyên xưng đức tin có Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, tin Chúa Kitô là Đấng cứu chuộc nhân loại, nhưng chân lại bước vào những con đường tội lỗi như cờ bạc, gian manh, lừa đảo, dâm ô ,trộm cắp, giết người ...thì dẫu có tuyên xưng đức tin hàng trăm ngàn lần ngoài môi miệng cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa những lời sau đây :

" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa, lậy Chúa là được vào nước trời cả đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 : 21)

Làm theo ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa là thực thi những Điều Răn của Chúa về yêu thương, công bình, bác ái và thánh thiện.Nghĩa là thể hiện đức tin bằng hành động cụ thể sao cho phù hợp với niềm tin có Chúa là Cha ngự trên trời, là Đấng công minh thưởng phạt con người về những việc mình làm trên trần thế này.

Mặt khác, nếu chỉ cần có đức tin là đủ cho được cứu rỗi như anh em Tin Lành rao giảng, thì tại sao Chúa Giêsu, qua dụ ngôn về Ngày Phán Xét chung, lại nói với những người đứng bên phải Người như sau :

: " Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc :hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ...Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn, Ta khát các người đã cho uống... "( Mt 25 34-35).

Còn những kẻ đứng bên trái Người, Chúa cũng phán bảo họ rằng : " Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác quỷ và các sứ thần của nó, vì xưa Ta đói , các ngươi đã không cho ta ăn; Ta khát các người đã không cho uống,.. Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã chẳng thăm nom..." ( cc. 41-42)

Khi phán những lời trên với hai loại người đứng bên phải và bên trái, Chúa Giêsu đã tự đồng hóa mình với những người nghèo đói, bệnh tật và tù đày đang có mặt ở khắp nơi trên trần gian này.Nếu chúng ta thực thi đức tin bằng đức ái nồng nàn để ra tay cứu giúp những anh chị em kém may mắn đó, thì chúng ta đã thi hành bác ái với chính Chúa Giêsu đang hiện diện nơi những người xấu số đó. Ngược lại, nếu chúng ta làm ngơ, hay dửng dưng trước những đau khổ và nghèo đói của anh chị em đồng loại, thì chúng ta đã nhắm mặt bịt tai để không nhìn, không nghe tiếng Chúa đang kêu xin chúng ta nơi những người đau khổ, thiếu thốn tù đầy, và bệnh tật ở quanh mình.

Tóm lại , dụ ngôn Ngày Phán Xét chung đã hùng hồn nói lên sự cần thiết phải thể hiện đức tin bằng hành động bác ái tương xứng để đáng được lãnh nhận ợn cứu chuộc của Chúa Kitô, Đấng cũng vì yêu thương con người cách cụ thể mà đã " hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20 : 28)

Như vậy, chỉ tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô như anh em Tin Lành chủ trương là chưa đủ, mặc dù là cần thiết. Cần thiết vì nếu không có công nghiệp cực trọng của Chúa Kitô, thì không ai có thể tự sức mình làm được gì để đáng được cứu rỗi.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, nếu chỉ tin Chúa Kitô và nhờ ơn cứu chuộc của Người mà không làm gì hết về phần mình; hay tệ hại hơn nữa, là cứ sống thù nghịch với thập giá của Chúa Kitô bằng đời sống phản chứng, phạm những tội khiến Chúa đã bị đóng đanh để đền thay cho, thì chắc chắn công cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu sẽ trở nên vô ích cho những ai cứ sống đức tin cách mâu thuẫn như vậy.

Tóm lại, ta không thể lợi dụng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô và không làm gì về phần mình để cộng tác với ơn cứu độ của Chúa. Đó là lý do tại sao Giáo Hôi Công Giáo dạy con cái mình phải tin Chúa Kitô và minh chứng niềm tin ấy bằng quyết tâm cải thiện đời sống dựa trên Tin Mừng Cứu Độ và cụ thể hóa niềm tin bằng hành động bác ái theo tinh thần dụ ngôn Ngày Phán Xét chung nói trên.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

"

 
HOC HOI DE SONG DAO # 77= TU TE - NGON SU- VUONG GIA PDF Print E-mail

 

Trầm Thiên Thu

Ba thiên chức

Khi lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy (Phép Rửa), mỗi Kitô hữu đều được Thiên Chúa trao ban ba thiên chức: Vương giả (Vương đế), Tư tế và Tiên tri (Ngôn sứ) – nói theo cách nói ngày nay thì là "thiên chức ba trong một".

1. Thiên chức Vương giả

Chúng ta vẫn nghe nói về thiên chức này, nhưng có thể có những người vẫn mơ hồ, chưa thực sự hiểu. Đại để có thể chúng ta hiểu rằng thiên chức Vương giả là có quyền cai trị, chỉ dành rêng cho giáo sĩ, những người có nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên. Giáo dân chỉ là "tép riu", có mơ cũng chẳng được thiên chức cao quý này.

Giáo hoàng tiên khởi Phêrô đã công bố: "Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền. Xưa anh em chưa phải là một dân, nay anh em đã là Dân của Thiên Chúa; xưa anh em chưa được hưởng lòng thương xót, nay anh em đã được xót thương" (1 Pr 2:9-10).

Rõ ràng là mỗi chúng ta là Hoàng tử hoặc Công chúa của Chúa Giêsu, Chúa tể càn khôn, Vua trời đất. Có thật vậy hay chỉ là mạo nhận hoặc ảo tưởng? Không, cứ an tâm. Chính Thánh Gioan, người-môn-đệ-được-Chúa-yêu, đã xác nhận: "Thiên Chúa yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa" (1 Ga 3:1). Chúng ta đúng là con của Ngọc Hoàng, thực sự thuộc dòng dõi quý tộc hoặc Hoàng gia.

Khi sống kết hiệp mật thiết với Chúa trong Tình Phụ Tử, người ta có thể càng ngày càng cảm nhận sâu sắc hơn về thiên chức này, như Thánh Phaolô tâm sự: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Tôi sống kiếp phàm nhân trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi" (Gl 2:20).

Chúa Giêsu nói: "Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình (Ga 14:10). Như vậy, thiên chức Vương giả được thể hiện rõ nét khi chúng ta sống bằng tâm tình yêu mến như Chúa Giêsu, Người Con Yêu Dấu của Chúa Cha. Chúng ta phải để cho Ngài hành động, làm chủ và điều khiển cuộc đời mình. Đó chính là Thiên chức Vương giả đúng thánh hiệu nơi mỗi chúng ta.

2. Thiên chức Tư tế

Khi nói tới chức Tư tế, người ta thường nghĩ tới Thiên chức Linh mục, chứ không dám nghĩ mình là Tư tế. Cầu nguyện, đọc kinh, dự Thánh lễ, đó là bổn phận làm việc đạo đức của mỗi Kitô hữu, không thể không làm. Có "ngon" hơn thì làm công tác từ thiện, làm việc tông đồ, cố gắng hy sinh đôi chút,... Còn Tư tế là trách nhiệm của giám mục, linh mục và phó tế.

Nhưng không phải vậy. Khi hiện ra với thị nhân Catalina Rivas (Bolivia), Đức Mẹ nói: "Hãy chú ý. Có thiên thần bản mệnh của mỗi người cùng hiện diện. Đây là lúc các thiên thần bản mệnh chuyển các lễ vật và lời cầu của con lên trước bàn thờ Thiên Chúa". Khi một số thiên thần cầm cái gì đó như chén vàng, bên trong có gì đó rất sáng chói như ánh sáng trắng vàng. Đức Mẹ nói thêm: "Hãy chú ý! Đó là các thiên thần bản mệnh dâng Thánh Lễ này với những ý nguyện; những người đó biết tầm quan trọng của việc cử hành này, họ đã kính dâng Thiên Chúa điều gì đó... Hãy dâng lễ vật của con vào lúc này... Hãy dâng mọi lo âu, đau khổ, mơ ước, niềm vui, nỗi buồn,... và lời cầu của con. Hãy nhớ rằng Thánh Lễ có giá trị vĩnh cửu. Do đó, con hãy đại lượng khi dâng lễ và cầu xin".

Trước bàn thờ bắt đầu có những bóng như bóng người, màu xám, và họ giơ tay lên. Đức Mẹ nói: "Đó là các linh hồn nơi luyện hình chờ đợi lời cầu nguyện của con để được mát mẻ. Đừng ngừng cầu nguyện cho họ. Họ có thể cầu nguyện cho con nhưng họ không thể cầu nguyện cho chính họ...".

Khi linh mục dâng Mình Máu Thánh, Đức Mẹ căn dặn: "Đừng cúi đầu, mà hãy ngước lên nhìn ngắm Chúa Ngôi Hai. Hãy lặp lại lời cầu tại Fatima: Lạy Chúa, con tin kính, tôn thờ, tín thác và yêu mến Chúa. Hãy nói với Ngài rằng con rất yêu mến Ngài và tôn kính Vua các vua".

Rõ ràng mỗi Kitô hữu đều là Tư tế. Do đó, việc cầu nguyện, đọc kinh, dâng lễ và hy sinh, việc tông đồ, từ thiện,... không chỉ là bổn phận và trách nhiệm, mà còn là cách biểu lộ tình yêu mến của của chúng ta dành cho Thiên Chúa, Cha chúng ta. Ngay cả những việc riêng như ăn uống, ngủ nghỉ, tắm rửa, vệ sinh, học tập, giải trí,... thậm chí là "chuyện vợ chồng", cũng kết hiệp với Chúa và dâng cho Chúa: "Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha" (Ep 5:20).

Quả thật, hằng ngày chúng ta vẫn thực hiện Thiên chức Tư tế khi dâng chính mình qua những công việc bình thường để làm lễ vật dâng Chúa. Đó là của lễ yêu mến của mỗi chúng ta cùng liên kết với Lễ Tế Thánh là chính Đức Giêsu Kitô.

Chúa Giêsu có phong cách Tư tế thế này: "Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài" (Dt 10:6-7). Quả thật, "vâng lời trọng hơn của lễ" (1 Sm 15:22 và Tv 50:8-9).

Vì "nhiễm" các động thái của Chúa Giêsu, Thánh Phaolô đã chia sẻ: "Anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người" (Rm 12:1). Hành động liên lỉ chứ không chỉ một lúc nào đó, hành động thực sự chứ không nói suông, và hoàn toàn hành động vì Danh Đức Kitô chứ không vì bất kỳ thứ gì hoặc bất kỳ ai.

3. Thiên chức Tiên tri

Tiên tri là biết trước, là Ngôn sứ, chứ không tiên đoán hoặc dự trù. Thiên chức Tiên tri là dấn thân, là ra đi, là ra khơi, là thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng theo lệnh Chúa Giêsu truyền: "Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16:15). Thiên chức này phải được thực hiện mọi nơi và mọi lúc: "Hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện" (2 Tm 4:2). Khi thực hiện thiên chức Tiên tri cũng là lúc thực hiện mệnh lệnh khác của Chúa Giêsu: "Hãy hoàn thiện như Cha trên trời" (Mt 5:48). Biết gì thì phải trao hết cho người khác theo khả năng hiểu biết của mình, cứu độ người khác là cứu độ là cứu độ chính mình. Muốn vào Nước Trời một mình là ích kỷ!

Tư tế Men-ki-xê-đê được coi là người bảo trợ của Tổ phụ Áp-ra-ham, vị tiền nhiệm của Vua Đa-vít, và giống hình ảnh của Đức Giêsu Kitô. Ông Men-ki-xê-đê vừa là vua vừa là tư tế của Sa-lem (Tv 76 đồng hóa với Giêrusalem). Ông Men-ki-xê-đê thiết đãi Tổ phụ Áp-ra-ham một bữa ăn gồm bánh và rượu như một nghi thức giao ước (x. St 31:44-46; Gs 9:12-15), rồi ông chúc lành cho Tổ phụ Áp-ra-ham, sau đó Tổ phụ Áp-ra-ham dâng cống vật cho ông. Các việc đó được thực hiện trước mặt Thiên Chúa tối cao, Thiên Chúa duy nhất của Tổ phụ Áp-ra-ham.

Ông Men-ki-xê-đê được gọi là "tư tế muôn đời" (Tv 110), có vẻ quá đáng, nhưng thích hợp để chỉ Đấng Được Xức Dầu cuối cùng là Đức Kitô, Đấng Cứu Thế. Chính Ngài liên kết chức tư tế và vương quyền nơi mình. Các tiên tri cũng loan báo điều tương tự (Gr 33:14-22; Dcr 3:6), và dòng tộc Macabê ủy thác vương quyền cho thượng tế (1 Mcb 10:20-65; 1 Mcb 14:41-47). Có mối liên kết chặt chẽ giữa chức tư tế và vương quyền nơi Đức Giêsu Kitô.

Riêng Thiên chức Tư tế, có ba cấp độ:

a. Thứ nhất, Chúa Giêsu là Tư tế Thượng phẩm.

b. Thứ nhì, linh mục là những người được thánh hiến, những người lãnh nhận Thiên chức Tư tế Thừa tác, nghĩa là được gọi huấn luyện để chăn dắt dân tư tế và dâng Hy lễ Thánh Thể cho Thiên Chúa Cha, như chính Chúa Kitô dâng lên. Trong Thánh Lễ Truyền Dầu long trọng nhắc đến chức Tư Tế duy nhất của Đức Giêsu Kitô, nói lên ơn gọi tư tế của Giáo hội – nhất là của các giám mục và các linh mục hiệp nhất với giám mục. Chúa Kitô không chỉ thông ban chức tư tế vương giả cho toàn dân đã được cứu rỗi, Ngài còn ưu tuyển một số người và cho họ tham dự vào tác vụ cứu rỗi của Ngài qua việc "đặt tay".

b. Thứ ba, Công Ðồng Vaticanô II đề cập mối liên hệ chung: "Tất cả những ai đã được Rửa Tội được thánh hiến để kết thành nơi cư ngụ thiêng liêng và một chức tư tế thánh, để dâng lên, qua tất cả những công việc của người kitô, những lễ vật thiêng liêng" (Lumen Gentium, số 10). Mỗi Kitô hữu đều là tư tế, nhưng là Thiên chức Tư tế Cộng đồng, thúc giục các tín hữu (những ai đã lãnh nhận Bí tích Thánh tẩy) dâng hiến cho Thiên Chúa qua việc tham dự vào Bí tích Thánh Thể và các Bí tích khác, sống chứng nhân giữa lòng đời bằng cách sống thánh thiện, cầu nguyện, tham dự phụng vụ, đọc kinh, từ bỏ chính mình, và thể hiện đức bác ái qua từng lời nói, cử chỉ, động thái, ánh mắt, câu chữ, bài viết, bài thơ, bài hát,...

Giáo lý Công giáo (số 871) cho biết: "Các tín hữu Chúa Kitô là những người thâm nhập vào thân thể Chúa Kitô nhờ phép rửa tội và làm thành dân Thiên Chúa, vì lẽ đó họ tham dự theo cách của mình vào chức năng Tư tế, Ngôn sứ (Tiên tri) và Vương giả của Chúa Kitô và được kêu gọi để thực thi, mỗi người theo bậc riêng của mình, sứ mạng mà Thiên Chúa đã ủy thác cho Giáo hội phải chu toàn trên thế giới". Trong Tông huấn "Người Tín Hữu Giáo Dân", Chân phước GH Gioan Phaolô II đã xác định và nhấn mạnh đến sứ mệnh loan báo Tin Mừng của mọi Kitô hữu, đồng thời gọi giáo dân là "những viên đá sống động xây dựng nước Chúa" trong các lãnh vực chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, khoa học, nghệ thuật,...

Mỗi Kitô hữu đều phải sống tốt cả ba chức năng Tư tế, Tiên tri và Vương giả như Chúa Giêsu truyền: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất, vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Dậy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em và đây, Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28:18).

Đây là lĩnh vực thần học, như Công đồng Vatican II đã đề cập trong Hiến chế Tín lý về Giáo hội (số 10). Đại ý: Thiên chức Tư tế (linh mục là tư tế thừa tác, Kitô hữu là tư tế cộng đồng) là để hiến dâng của lễ cứu độ loài người; Tiên tri (hoặc Ngôn sứ) là để loan báo Tin Mừng Nước Trời; Thiên chức Vương giả (hoặc Vương đế) là để phục vụ dân riêng của Thiên Chúa.

Với mỗi Kitô hữu (dù là giáo hoàng, giám mục, linh mục, phó tế, tu sĩ, giáo dân, thành viên Đạo Binh Đức Mẹ, Lòng Chúa Thương Xót, Phạt Tạ Thánh Tâm, Con Đức Mẹ, Dòng Ba Đa-minh, Cursillo, Thiếu Nhi Thánh Thể, Hội đồng Giáo xứ,...), Thánh Phêrô nhắn nhủ: "Hãy để Thiên Chúa dùng anh em em như những viên đá sống động mà xây lên ngôi đền thờ thiêng liêng, và hãy để Thiên Chúa dắt anh em làm hàng tư tế thánh, dâng những lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Người, nhờ Đức Giêsu Kitô" (1 Pr 2:5).

Thật vậy, Công đồng Vaticanô II đã nói rõ nguồn gốc chức tư tế của bắt nguồn từ Bí tích Thánh tẩy và việc xức dầu: "Thật vậy, những người đã lãnh nhận phép rửa, nhờ sự tái sinh và xức dầu của Thánh Thần được thánh hiến để trở thành chổ ở thiêng liêng và nhận chức tư tế thánh, hầu qua mọi hoạt động của con người Kitô hữu, dâng hy tế thiêng liêng vào rao truyền những kỳ công của Thiên Chúa..." (Hiến chế về Giáo hội, số 10).

Theo đó, các Kitô hữu nói chung, đều thi hành sứ vụ tư tế qua các hình thức: "Dâng Thánh lễ, lãnh nhận các bí tích, cầu nguyện, đời sống chứng nhân thánh thiện". Công đồng Vatican II dạy rõ về Thánh lễ: "Khi tham dự Thánh lễ, nguồn mạch tột đỉnh của tất cả đời sống Kitô giáo, họ dâng lên Thiên Chúa lễ vật thần linh và họ tự dâng chính mình cùng với lễ vật ấy" (Hiến chế về Giáo hội, số 11).

Lạy Chúa, xin cho mọi người nên MỘT trong Thiên Chúa Ba Ngôi (Ga 17:21)

Trầm Thiên Thu

Kính chuyển.

Hồng

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 123 of 148