mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay4887
mod_vvisit_counterHôm Qua8045
mod_vvisit_counterTuần Này20640
mod_vvisit_counterTuần Trước52624
mod_vvisit_counterTháng Này123447
mod_vvisit_counterTháng Trước239272
mod_vvisit_counterTất cả11338136

We have: 101 guests online
Your IP: 54.224.17.157
 , 
Today: Jul 17, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # HAI CON RAN TRONG THANH KINH PDF Print E-mail

 

 

Hai con rắn trong Thánh Kinh - 18 ĐIỀU SUY NIỆM

Lm Giuse Nguyễn Hữu An2/3/2013

Nhâm Thìn qua, Quý Tỵ đang đến. Rồng Nhâm Thìn sắp bàn giao cho Rắn Quý Tỵ.

Nếu như tuổi rồng là cái gì đó bay bổng thanh cao thì con rồng lại không có thật. Còn con rắn nghe có vẻ nhỏ bé, thấp kém bò dưới đất nhưng lại có thật 100%.

Tỵ là năm thứ sáu trong chu kỳ tính âm lịch theo mười hai địa chi. Khi đặt tên cho 12 con giáp, người xưa đã xác định những đặc điểm sinh học của các loài vật, chú ý đến các thời điểm liên quan đến từng con vật cụ thể để ám chỉ ngày giờ cùng những chuyện liên quan khác. Với ý nghĩa như vậy, Tỵ thuộc về tháng 4 âm lịch. Căn cứ vào thực tế, người xưa cho rằng vào thời điểm này rắn bắt đầu lột xác, nó trở nên yếu ớt. Tháng 4 cũng là lúc vạn vật âm khí đã tàn, dương khí vươn mình. Do đó xét về dịch lý, Tỵ thuộc âm hỏa, đó cũng là ý nghĩa tượng hình của rắn trong dịch học phương Đông. Rắn là con vật tượng trưng cho dương khí, không chỉ mang trong mình ngọn lửa mạnh mẽ mà còn sinh ra khí dương.

Trong ngày, Tỵ là lúc 10giờ sáng, Tỵ là hướng nam – đông nam, Tỵ là mùa hè trong năm. Người sinh năm Tỵ có ý hướng thượng, dám đảm nhận những công việc quá sức mình và thường hoàn thành mỹ mãn. Dường như người tuổi Tỵ thường có vẻ trầm tĩnh, có khi gây cảm giác lạnh lùng cho người mới tiếp xúc, cái lạnh lùng bề ngoài mang bản chất có lửa bên trong, nó sẽ được bộc lộ một cách phong phú dồi dào. Các nhà phong thủy dự đoán Quý Tỵ là năm của lạc quan, cải cách và thịnh vượng.

Trong truyền thuyết Hy lạp,Thần Chữa Bệnh có tên là Asklepios được biểu tượng bằng con rắn. Hai ngành y học và dược học đều liên quan tới sự sống con người. Cả hai đều nhận con rắn là biểu hiệu. Con rắn cuốn trên chiếc gậy là biểu hiệu của ngành y. Con rắn cuốn trên chiếc ly có chân, đầu hướng vào miệng ly, là biểu hiệu của ngành dược. Cả hai ngành nhận con rắn làm biểu hiệu vì người xưa, cả đông lẫn tây phương đều coi con rắn là tượng trưng cho sức mạnh. Người ta còn lầm tưởng con rắn là loài bất tử, do hiện tượng lột xác của nó. Cả đông lẫn tây đều truyền nhau câu truyện cổ tích, về sự bất tử của con rắn.

"Thuở trời đất vừa được dựng nên, Tạo Hoá muốn cho loài người đuợc bất tử, bằng cách lột xác, còn loài rắn thì tới già phải chết. Tạo Hoá liền sai sứ giả là vị Thiên lôi xuống trần nói ý định đó cho loài người. Tạo Hóa truyền Thiên lôi, khi gặp con người thì nói mệnh lệnh này:"Người già,người lột. Rắn già chạy tuột vô săng".

Thiên lôi xuống trần, vừa đi vừa lẩm nhẩm mệnh lệnh của Trời, nhưng vì Thiên lôi lơ đãng, đọc đi đọc lại thế nào, mà khi xuống trần vừa gặp con người thiên lôi lại đọc: "Rắn già rắn lột. Người già chạy tuột vô săng".

Vì thế mà con rắn được lột xác, còn con người sinh ra, lớn lên, già, chết, rồi phải đi vào săng, đem chôn". (x.Đỗ đình Tiệm, Lương thực hằng ngày, tr 722).

Theo các điển tích ngày xưa, rắn có thể tu luyện thành tinh và lột da sống đời. Những "mãng xà tinh" này đều có viên ngọc trong đầu gọi là ngọc rắn, nếu người nào có viên ngọc này sẽ có thể nghe được tiếng nói của loài vật. Ngày xưa, có một anh học trò nghèo tên Công Dã Tràng vì cứu được một gia đình rắn nên được rắn chúa trả ơn bằng cách nhả cho môt viên ngọc. Một hôm, Dã Tràng ngậm viên ngọc rắn trong miệng đi vào rừng, chợt nghe bầy kiến xôn xao bảo nhau phải dời tổ lên cành cây cao vì trong vòng ba ngày sẽ có mưa lụt lớn. Nghe được tin này, Dã Tràng bèn tức tốc báo cho quan huyện sở tại để ra thông tri cho dân chúng chuẩn bị tránh nạn hồng thủy. Quả nhiên ba ngày sau trời đổ mưa tầm tã là vỡ đê gây lụt lớn. Nhưng dân cư trong vùng không bị thiệt hại vì đã đề phòng trước. Quan huyện tâu với triều đình vì Dã Tràng có ngọc rắn nghe được tiếng loài vật nên đã biết truớc có nạn lụt. Nhà vua rất thích, cho với Dã Tràng vào cung, ban cho một chức quan nhỏ để có thể cùng Dã Tràng du ngoạn đó đây, cùng nghe tiếng loài vật. Môt hôm, vua ngự thuyền rồng cùng Dã Tràng ra biển nghe tiếng cá. Chợt nhà vua nghe thấy một cặp cá vừa thong dong bơi lội, vừa thân mật trò chuyện với nhau. Thích quá, vua há miệng ra cười khiến viên ngọc rắn rơi xuống biển. Dã Tràng tiếc ngọc, nhảy xuống biển mò nên bị chết đuối. Tuy đã chết nhưng Dã Tràng vẫn muốn tìm viên ngọc nên biến thành con dã tràng là một loài cua nhỏ, hàng ngày bò lên bãi biển lấy cát mong lấp biển nhưng vẫn không bao giờ tìm lại được viên ngọc. Vì vậy, người đời thường ví những ai làm những việc không thể thực hiện được là "uổng công dã tràng". Trong dân gian cũng có câu:

"Dã Tràng xe cát biển Ðông;

Nhọc mình mà chẳng nên công cán gì".

Trong Thánh Kinh hình ảnh con rắn xuất hiện ngay từ những trang đầu (x. St 3) và được nhắc đến trên 40 lần.

Kinh Thánh trình bày về rắn cả hai ý nghĩa tốt xấu. Rắn được đồng hóa với chính Satan, thủ lãnh của ma quỉ cám dỗ nguyên tổ phạm tội (x. St 3, 1-15). Đôi khi rắn được dùng như là biểu tượng của sự khôn ngoan: " Hãy khôn ngoan như con rắn!" (Mt 10,16), hay rắn đồng cứu người.(x. Ds 21, 4-9).

Trong Cựu Ước có hai câu chuyện về rắn. Con rắn cám dỗ đưa tới sự chết tại địa đàng (St 3, 1-7) và con rắn đồng trong sa mạc cứu người nhìn lên nó (Ds 21, 6-9).

1. Rắn cám dỗ

Rắn là vật tinh ranh hơn mọi dã thú (3,1a). Rắn là loài có hình thù và cách di chuyển đặc biệt; nó khôn khéo và nguy hiểm làm người ta sợ và ghê tởm. Nhiều tôn giáo (cụ thể tại Canaan) coi rắn như thần và nó có vai trò trong việc ma thuật và biểu tượng sự sinh sản phong phú. Ở đây, rắn biểu tượng cho sự độc ác và khôn khéo, tìm cách phá hoại hạnh phúc con người bằng cách phá đổ mối thân thiện giữa con người với Thiên Chúa. Sách Khôn Ngoan ví rắn là quỷ dữ (Satan): "Chính vì quỷ dữ ganh tỵ, mà cái chết xâm nhập thế gian" (St 2,24); Khải Huyền gọi là Satan, ma quỷ (Kh 12,9); (1Ga 3,8).

Khi cám dỗ Evà, Rắn quỷ quyệt đưa ra một câu hỏi bâng quơ: "Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?" (3,1b). Quả là một câu hỏi khôn khéo và nguy hiểm vì có hai nghĩa:

- Không được ăn tất cả, chỉ một số nào đó thôi.

- Không được ăn cây nào cả.

Rõ ràng, lời này có ý xuyên tạc hoàn toàn ý Thiên Chúa, và như thế có tác dụng lôi kéo người nữ vào câu chuyện.

Người nữ phản kháng: Quả cây trong vườn chúng tôi được ăn. Nhưng về quả cây ở giữa vườn thì Thiên Chúa đã phán: các ngươi không được ăn, không được rờ đến kẻo phải chết (3,2). Việc đầu tiên là người nữ thấy cần phải đính chính để bênh vực Chúa, và nói quá đi (không được đụng tới) như thể xác định một lệnh truyền nghiêm nhặt để giữ mình.

Con rắn ngọt ngào dụ dỗ: Chẳng chết chóc gì đâu ! quả nhiên Thiên Chúa biết, ngày nào các ngươi ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như những Thiên Chúa biết cả tốt xấu. (3,4-5). Hết sức khôn khéo, rắn không xúi giục ăn trái cấm, nhưng tạo nên trong lòng con người sự nghi ngờ Lời Chúa. Nó quả quyết mình biết Chúa hơn người nữ và thuyết phục bà bớt tin tưởng để phán đoán rằng, biết đâu Thiên Chúa cấm vì sợ con người sẽ bằng mình. Các ngươi sẽ như Êlohim (giống Êlohim) là những kẻ biết thiện ác. Biết không nguyên bằng trí thức nhưng còn là kinh nghiệm; biết là làm chủ được sức mạnh thần bí. Rắn gợi cho con người nghĩ là họ có thể mở rộng cuộc sống vượt qua những giới hạn mà Chúa đã đặt, để họ có quyền định đoạt tốt xấu cho mình nghĩa là định mệnh cuộc đời mình, và như thế là đồng nghĩa với sự từ chối lệ thuộc Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, tức là kiêu ngạo muốn tách mình ra khỏi Thiên Chúa.

Người đàn bà đã nhìn: quả là cây ăn phải ngon. Mà nhìn thì đã sướng mắt. Nó đáng quý thực, cái cây ấy, để được tinh khôn (3,6). Rắn không nói gì thêm. Cần đi vào yên lặng để những lời cám dỗ trên được lắng sâu vào trí óc và cõi lòng. Nó tác động từ giác quan, đi vào trí khôn tạo lòng muốn. Người nữ ngắm nghía trái cây thấy ngon (giác quan - cảm giác), mát mắt (thẩm mỹ) và đáng thèm khát để được Khôn Ngoan, thông minh như Chúa, nên giống Chúa.

Và bà đã hái lấy quả mà ăn, và bà cũng trao cho chồng ở bên bà đưa cho chồng. (3,6). Người bị dụ dỗ trở hành kẻ dụ dỗ. Nàng chia cho chồng với ước mơ hão huyền là chồng được thông minh như Thiên Chúa.

Tại sao trong tình trạng sáng suốt và quân bình ban đầu, con người có thể bị sa ngã? Xét cho cùng, dầu sao họ cũng chỉ là thụ tạo bất toàn, với thân phận mỏng manh. Điều quan trọng đó là họ luôn có tự do để phán đoán và quyết định.

Và ông đã ăn (3,6). Lời Thánh Kinh thật vắn gọn diễn tả sự yếu đuối, nhu nhược của Ađam và ông đã sa ngã.

Mắt hai người mở ra (3,7). Đúng như lời rắn nói, bây giờ họ thấy một cái gì mới, nhưng cách khác hẳn họ tưởng: thay vì trở nên thần linh biết thiện ác, họ biết mình trần truồng. Tất nhiên, trước khi phạm tội, họ trần truồng nhưng coi đó là tự nhiên và không xấu hổ. Bây giờ sự vô tội đã mất, xấu hổ là dấu chỉ của ý thức tội lỗi họ có; tội đã gây nên trong thẳm sâu con người sự đổ vỡ: thế quân bình và hòa hợp giữa tinh thần và thể xác đã mất, con người không còn làm chủ được mình nữa, và vì thế cảm thấy xấu hổ trước mặt nhau.

Sau khi sa ngã, hai người lẫn trốn Thiên Chúa. Họ đi trốn chứng tỏ lương tâm hối hận vì đã không vâng lời. Tội phá vỡ sự hài hòa với chính mình. Để chạy tội, con người như đổ lỗi cho Chúa: người đàn bà mà Chúa đã đã đặt bên tôi, chính y thị đã hái nơi cây ấy cho tôi, nên tôi đã ăn ( 3,12). Người đàn ông đỗ lỗi cho Chúa: chung quy chỉ vì Chúa cho tôi người đàn bà ở với tôi. Người nữ đổ tội cho rắn: Con rắn dụ dỗ tôi nên tôi đã ăn (3,13). Cả hai câu nói trên tỏ lộ mối rạn nứt giữa người với nhau. Sự liên đới trong tội bị phủ nhận, người ta đổ trách nhiệm cho nhau. Sự đồng phạm không liên kết con người trước mặt Chúa, nhưng làm họ ra lẻ loi. Tội bắt đầu gây chia rẽ và phá vỡ mối tương quan hài hòa giữa người với nhau.

Tại sao Kinh Thánh chọn loài "rắn" làm hiện thân cho Satan? Còn "trái cấm" có ý nghĩa hiện sinh gì trong cuộc sống không?

a. Con rắn

Trước tiên, hình ảnh "rắn" rất quen thuộc trong Cựu Ước. Cái tên "Satan" (Quỉ Vương) có sẵn trong các tôn giáo cổ xưa, nhưng Do Thái là tôn giáo đầu tiên cho rắn đội lốt Satan đến cám dỗ con người ăn trái cây "biết lành biết dữ". Rắn cũng xuất hiện lần nữa khi Môisen và Aaron ném gậy xuống đất hòa thành rắn để Pharao cho dân Chúa đi tự do. Trong sa mạc, Môisen đúc rắn đồng treo lên cây cao, hễ ai bị rắn cắn nhìn vào đó sẽ được khỏi. Có thể hiểu "bị rắn cắn" theo nghĩa rộng như là một sự chùn chân, chán nản, không muốn tiếp tục cuộc hành trình qua sa mạc. Trong 40 năm lưu lạc trong sa mạc, dân Do Thái có lẽ đã tiếp xúc, đụng độ hoặc muốn đồng hóa với các bộ lạc thờ rắn sống trong vùng, và Môisen phải đúc rắn đồng riêng cho dân Do Thái để họ lên tinh thần mà tiếp tục cuộc hành trình về đất hứa. Ngày nay, các nhà khảo cổ đã tìm thấy được một số rắn đồng tại vùng mỏ đồng sa mạc Araba.

Ngoài Kinh Thánh ra cũng có nhiều chuyện thần thoại khác về rắn đã được lưu hành trước đó rất lâu. Chuyện thần thoại Gilgamesh ở xứ Sumeria, kể lại vua Utnaphistim và vợ ông ta đã tìm được một loài cây trường sinh, nhưng trước khi có dịp ăn quả trường sinh thì có một con rắn đã đánh cắp cây quý khỏi tay nhà vua, và từ đó không ai có thể sống đời đời nữa. Điển tích về rắn cướp lấy cơ hội trường sinh bất tử ảnh hưởng ít nhiều vào sự tích Satan hóa thân con rắn đến cám dỗ Evà, từ đó loài người mất đi cơ hội sống đời đời. Phải đợi đến thời Kitô giáo, "trái cấm" được thay thế bằng "Mình và Máu" của Chiên Thiên Chúa. Cũng như thế, Evà, người nữ đem trái cấm đến cho Ađam ăn, sẽ được thay thế bằng Đức Trinh Nữ Maria, người "chưa hề biết đến một người nam". Ngoài ra, cuộc chiến giữa rắn tiền sử và thần Marduk nói lên nhu cầu hy sinh đổ máu của "thần thánh" để loài người được sống. Khái niệm thần thánh trở thành của lễ hiến tế để đem lại sự sống cho nhân loại có lẽ không xa lạ cho lắm đối với hậu cảnh văn hóa và tôn giáo của Cựu Ước và Tân Ước. Tư tưởng "máu đào tử đạo là hạt giống đức tin" có lẽ cũng mang ảnh hưởng phần nào của khái niệm trên đây.

Với quan niệm của người Á Đông xem rồng như là vật linh thiêng, thì dân tộc Trung Đông cũng tôn thờ rắn vậy. Rắn đại diện cho sự khôn ngoan, nhanh nhẹn và cả sự nguy hiểm, trả thù độc địa nếu cần. Dân tộc xứ Syria xem rắn như một thần phù trợ. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại các đền thờ, các tạc hình "đầu rắn" vì họ tin thần rắn sẽ cắn chết những kẻ xâm lăng và bảo vệ dân chúng khỏi hiểm nguy bệnh tật. Khi thấy rắn lột da nhưng vẫn sống, người ta tin rắn có bí quyết trường sinh bất tử. Người Việt tin là rắn có trí nhớ và khả năng trả thù như trong chuyện Nguyễn Trãi giết cả một tổ rắn hổ mang và sau này bị rắn trở lại báo oán (tru di tam tộc).

Dân Cam Bốt tin rằng vương quốc Khmer do vua rắn sáng lập. Con đường dẫn đến ngôi đền chính tại Ankhor Wat của Cam Bốt được khảm bằng nhiều "naga" bảy đầu và cũng có nhiều hình rắn được tạc trên tường. Người Hy Lạp có rất nhiều thần thánh và huyền thoại liên quan tới rắn. Loại nữ trang cổ Hy Lạp thông dụng nhất mang hình rắn khoanh tròn. Thần Zeus được coi như vị thần tối cao, xuất hiện mỗi mùa xuân dưới dạng môt con rắn khoanh tròn cùng với nữ thần cai quản trái đất Rhea cũng mang hình rắn. Người Hy Lạp coi rắn là biểu tượng của đất và nước.

b. Trái cấm

Vì sự tinh ranh của rắn, Satan đội lốt rắn để đem "trái cấm" đến dụ dỗ con người. Nhưng "trái cấm" có ý nghĩa gì không? Cũng như các ngụ ngôn Đức Giêsu dùng để giảng dạy trong Tân Ước, ngôn ngữ huyền thoại của sách Sáng Thế không phải là loại ngôn ngữ cứng rắn của siêu hình học. Muốn hiểu ý nghĩa sâu sắc của nó chúng ta cần phải đặt mình vào trong bối cảnh và ngữ cảnh của câu chuyện.

Vì thế, ở đây chúng ta hãy giải thích "trái cấm" qua lăng kính hiện sinh. Nếu xét theo kinh nghiệm trưởng thành của mỗi người, chúng ta có thể diễn đạt ý nghĩa của "trái cấm" qua ba giai đoạn sau đây.

Trước tiên, "vườn địa đàng" đại diện cho tuổi còn bé thơ, sống trong vô tư và trần truồng, mọi miếng ăn thức uống đều lệ thuộc vào cha mẹ, chỉ biết chơi đùa với thú vật, mỗi buổi chiều tà cha mẹ dẫn đi chơi hay ngồi nghỉ dưới bóng mát của hàng cây.

Giai đoạn "Ađam và Evà bị cám dỗ" nói lên những khủng hoảng thường gặp phải trong tuổi dậy thì. Đây là cái tuổi thích mạo hiểm và tự do, hay chống đối lại bề trên nhưng không màng đến hậu quả xấu. Ở giai đoạn này, tính tình thì rất nông nổi và bồng bột, dễ bị quyến rũ và sa ngã về tính dục và tình cảm.

Cuối cùng, giai đoạn "sống ngoài vườn địa đàng" nói lên sự trưởng thành, đầy đủ nghị lực và trách nhiệm để tự lập. Đàn ông tự kiếm sống với mồ hôi nước mắt của chính mình, đàn bà mang nặng đẻ đau, nhưng cả hai sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả để tạo dựng mái ấm gia đình riêng cho họ. Vườn địa đàng có thiên thần "cầm gươm đứng gác cửa" ngăn chận không cho con người trốn chạy trách nhiệm hay trở về với tổ ấm của cha mẹ, nhưng phải đương đầu với thực tại đau khổ và biết giá trị của sự chọn lựa. Nói cách khác, "trái cấm" đánh dấu một khúc quanh quan trọng trong đời người. Khi lớn lên không tránh khỏi những sai lầm hay sa ngã, nhưng chỉ qua đó, con người mới làm chủ vận mệnh và chịu trách nhiệm cho sự chọn lựa của mình. Đó có thể là lý do tại sao "trái cấm" được gọi là trái của "cây biết lành biết dữ". (x. Nội san chia sẻ, số 52).

Có lẽ vì hình ảnh tinh ranh quỷ quyệt của rắn trong Vườn Ðịa Ðàng nên hầu hết các sắc dân trên thế giới đều dùng rắn để ví von với những hình tượng mang ý nghĩa xấu.

Trong tiếng Pháp, "serpent" là con rắn, nhưng người Pháp cũng dùng chữ "serpent" để chỉ loại người hiểm độc. Thí dụ như "langue de serpent" là ăn nói độc địa; "serpent caché sous fleurs" tức "rắn ẩn dưới hoa" là sự nguy hiểm nằm dưới bề ngoài đẹp đẽ không ngờ; "réchauffer un serpent dans son sein" tức "ủ rắn trong ngực" là nuôi họa vào thân hay nuôi ong tay áo. Người Anh cũng có những câu nói không đẹp về rắn. Thí dụ như ""snake in the grass" đồng nghĩa với "serpent sous fleurs"; "speak with forked tongue" là miệng lưỡi ăn nói độc địa như lưỡi rắn; "lower than a snake's belly" để chỉ loại người đê tiện, hèn hạ, xảo trá, hèn hạ như không cón gì thấp hơn. Tục ngữ Việt Nam cũng có câu "cõng rắn cắn gà nhà" để chỉ phường Việt gian bán nước, can tâm làm đầy tớ cho ngoại bang, cúi đầu khom lưng cõng giặc về làm hại đồng bào.

2. Rắn đồng sa mạc

Dân Do thái thoát khỏi ách nô lệ Ai cập và đi vào đời tự do. Suốt bốn mươi năm ròng rã nơi hoang địa, họ gặp rất nhiều thử thách. Bấy giờ họ phàn nàn kêu trách Chúa và Môsê vì đã không cho họ bánh ăn và nước uống như hồi ở bên Ai cập. Họ đã quá chán ngán manna rồi. Và thế, Chúa đã trừng phạt họ bằng cách cho rắn độc bò ra cắn chết nhiều người. Tuy nhiên, khi họ biết ăn năn hối cải, Thiên Chúa đã ra lệnh cho Môsê đúc một con rắn đồng, treo nó lên một cây cột và hễ ai bị rắn độc cắn, chỉ cần nhìn lên rắn đồng sẽ được cứu sống. (x. Ds 21, 4-9). Con rắn đồng ở sẵn đó như một con tim yêu thương và tha thứ luôn mở rộng. Dù con người hết cứ lần này đến lần khác xúc phạm đến Chúa, nhưng chỉ cần họ sám hối và nhìn lên đó thì lại được tha.Thiên Chúa luôn cứu sống dân dù họ đã từng bất trung, oán trách, nổi loạn chống đối Người.

Chúa Giêsu kể chuyện con rắn đồng và so sánh: " Xưa Môsê treo con rắn đồng trong sa mạc thế nào, thì Con Người cũng sẽ bị treo lên như vậy, hầu cho mọi kẻ tin kính Ngài khỏi hư đi nhưng đuợc sống muôn đời" (Ga 3, 14-15). Nếu ngày xưa dân Do thái đã tin tưởng nhìn lên con rắn đồng để được chữa lành thì ngày nay, tất cả những ai tin tưởng nhìn lên Ðức Giêsu trên thập giá đều được ơn Cứu độ. Thập giá là tột cùng của đau đớn nhục nhã, nhưng cũng là minh chứng tuyệt vời của một tình yêu: Tình yêu của Cha đã trao ban Con Một, tình yêu của Con đã hiến dâng mạng sống. Tin vào một tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, nhân loại được đưa đến đời sống vĩnh cữu: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời"(Ga 3, 16).

3. Chúa Giêsu – suối nguồn bình an.

Trong sách Sáng Thế, con rắn là hình ảnh của sự quỷ quyệt và cám dỗ.

Đến sách Dân Số, con rắn trở nên biểu tượng cứu sống.

Hình ảnh con rắn đồng treo lên giữa sa mạc đã trở nên hình ảnh tiên báo Chúa Giêsu sẽ bị treo lên Thánh Giá. Nhờ đó, nhân loại được ơn cứu độ. Ngày xưa, nhờ nhìn lên con rắn đồng mà nhiều người đã ăn năn sám hối và được cứu thoát.Ngày nay,nhờ nhìn ngắm và tin vào Chúa Giêsu chịu đóng đinh mà nhân loại "không phải hư mất, nhưng được sống đời đời".

Hai hình ảnh, con rắn bị treo lên và hình ảnh Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh cho thấy rõ tính liên hệ không gián đoạn giữa Cựu Ước và Tân Ước trong Nhiệm Cục Cứu Độ của Thiên Chúa. Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước và Tân Ước làm cho Cựu Ước được ứng nghiệm, được thành toàn. Cả hai đều nhắm đến một mục đích duy nhất của Thiên Chúa, đó là muốn cho loài người được cứu độ. Chân lý này mang lại cho chúng ta niềm tin, hy vọng, niềm vui và ơn bình an của Chúa Kitô.

Hoa quả của bình an là: yêu thương, tha thứ, bao dung, quảng đại, khiêm tốn, nhẫn nại, nhịn nhục.Hoa quả của bình an chính là tình yêu của Chúa Kitô thúc bách chúng ta làm việc thiện, thúc bách chúng ta vì anh em mà phục vụ như Chúa Kitô đã phục vụ, như các thánh Tông Đồ đã phục vụ Giáo Hội. Hoa qủa bình an thể hiện bằng tiếng cười, niềm vui, hạnh phúc trong gia đình, an hoà thư thái trong tâm hồn.Hoa quả bình an cũng chính là sự thật. Ta cảm thấy bình an khi mình sống ngay thẳng, sống theo sự thật. Tâm hồn tràn ngập bình an là tâm hồn đạo đức. Đó là người hạnh phúc. Tâm hồn bình an khi hòa giải với Chúa, tin yêu Chúa. Tâm hồn bình an khi hòa giải với chính mình. Tâm hồn bình an khi hòa giải với mọi người sống chung quanh. Tâm hồn bình an khi không chất chứa tham vọng, không chất chứa oán hờn ganh ghét bất hòa. Tâm hồn bình an khi tâm hồn không bị xáo trộn bởi đam mê bất chính. Tâm hồn bình an khi là con người tự do đích thực và tôn trọng người khác. Đó là bình an Chúa Kitô để lại cho chúng ta.

Bình an là một hồng ân Chúa ban và cũng là một trách nhiệm. Năm mới, mỗi người phải là "khí cụ bình an của Chúa", góp phần tạo nên bình an cho mọi người và cho toàn xã hội.

Tết đang gần kề. Cầu chúc quý độc giả, một năm mới Quý Tỵ vui trong sức khoẻ, trẻ trong tâm hồn, khôn trong lý tưởng, trưởng thành trong... tất cả mọi lĩnh vực... khang an thịnh vượng và phát đạt thăng tiến.

18 ĐIỀU SUY NIỆM

1/ Kho tàng vô tận của ta là nụ cười

2/ Thông minh nhất của ta là tự chủ

3/ Công bình nhất ta có là thời gian

4/ Bạn thân nhất của ta là sức khoẻ

5/ An ủi nhất của ta là bố thí

6/ Sức mạnh nhất của ta là khoan dung

7/ Thông thái nhất của ta là tình thương

8/ Hy vọng nhất của ta là tự thay đổi

9/ Thành công nhất của ta là sự lễ độ

10/ Kẻ thù nhất của ta là tham vọng

11/ Cô độc nhất của ta là mặc cảm

12/ Dại dột nhất của ta là tuyệt vọng

13/ Đau khổ nhất của ta là tự ty

14/ Sai lầm nhất của ta là dối trá

15/ Ăn năn nhất của ta là bất hiếu

16/ Tật nguyền nhất của ta là ghen tỵ

17/ Yếu đuối nhất của ta là thịnh nộ

18/ Thất bại nhất của ta là tự kiêu.

---------

http://www.chshoangdieudhauchau.com/

http://chshddhstchauau.blogspot.be/

 

NHÓM CHSHD DHST CHÂU ÂU

---

 
HOC HOI DE SONG DAO # NGUOI TIN HUU GIAO DAN PDF Print E-mail

NGƯỜI TÍN HỮU GIÁO DÂN TRONG CHƯƠNG IV HIẾN CHẾ LUMEN GENTIUM.

NGUYỄN HỌC TẬP

" Dưới danh nghĩa người giáo dân ở đây được hiểu là tất cả những kitô hữu không có chức thánh hoặc bậc tu trì đưọc Giáo Hôi công nhận, nghĩa là những kitô hữu được hiệp nhập vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ Phép Rửa, đã trở thành Dân Thiên Chúa và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ; họ là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân kitô giáo trong Giáo Hội và giữa trần thế theo phận vụ riêng của mình " ( LG, 30).

Sau khi đã đề cập đến Cộng Đồng Dân Chúa, gồm có tât cả các tín hữu đã nhận được Phép Rửa, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, tất cả đều hội nhập và là thành phần Giáo Hội, Thân Thể Mầu Nhiệm Chúa Kitô, Công Đòng Vatican dành nguyên cả phần còn lại của chương IV Hiến Chế Lumen Gentium, nói về người tín hữu giáo dân.

Chương IV Hiến Chế Lumen Gentium.

a) Người tín hữu giáo dân là ai? ( LG, 31).

- các tín hữu được hội nhập vào Chúa Kitô qua Phép Rửa,

- thành phần cộng đồng Dân Chúa,

- được trở thành những chủ thể tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Chúa Kitô,

- hành xử, trong Giáo Hội, chính sứ mạng của cả cộng đồng dân Kitô giáo.

Và như vậy, nếu sứ mạng chính của hàng giáo phẩm là: Phận Vụ Thánh Vụ,

sứ mạng của các tu sĩ là Nhân Chứng Giữa Thế Gian Tinh Thần của Tám Mối Phước Thật,

thì sứ mạng của người tín hữu giáo dân là

- 1) tìm kiếm Nước Thiên Chúa,

* bằng cách hành xử trên các vật thể trần thế và xếp đặt chúng theo ý muốn của Thiên Chúa, nói cách khác, là tiếp tục công trình tạo dựng của Thiên Chúa, gìn giữ và làm cho công trình tạo dựng càng trở nên tốt đẹp hơn, đối với vật thể cũng như đối với xã hội con người ( Gen 2, 14).

* thực hiện các bổn phận và động tác trần thế thường nhật trong gia đình, ngoài xã hội.

2) cộng tác từ trong nội bộ trần thế để thánh hoá, băng những hoạt động của mình, dưới sự hướng dẫn của Phúc Âm;

3) làm cho Chúa Kitô tỏ hiện trước mọi người bằng nhân chứng của mình, nhứt là bằng lời nói và động tác sáng lạng của hy vọng và đức bác ái;

4) chăm lo đến các sự việc trần thế

* để cho chúng được thành tựu và phát triển theo mẫu gương Chúa Kitô,

* khiến cho chúng trở thành những thực thể ngợi khen Đấng Tạo Hoá và Đấng Cứu Độ.

b) Phẩm giá người tín hữu giáo dân trong Cộng Đông Dân Chúa ( LG, 32 ).

Giáo Hội được tổ chức và hướng dẫn một cách tuyệt vời:

- " Thật vậy, theo thể thức đó, trong một thân thể chúng ta có nhiều bộ phận, mà các bộ phận không có cùng một chức năng , cũng vậy tất cả cùng chung nhau hợp thành một thân thể trong Chúa Kitô, và một cách cá nhân, chúng ta là những thành phần người nầy thuộc về người kia ( Rom 12, 4-5 )

* phẩm giá như nhau của các thành phần, nhờ việc tái sinh trong Chúa Kitô,

* ân sủng được trở thành nghĩa tử của Chúa như nhau,

* có được ơn gọi trở nên thánh thiện như nhau.

Mặc dầu có những phận vụ khác nhau, giữa các tín hữu với nhau, chúng ta đều có phẩm giá ngang nhau và đều có bổn phận xây dựng Thân Thể Chúa Kitô như nhau.

Sự khác biệt được Chúa thiết lập giữa các giáo sĩ thừa tác viên và người tín hữu giáo dân tự mình cho thấy sự hiệp nhứt, giữa các chủ chăn và các tín hữu, được liên kết với nhau trong một cộng đòng tương giao

* theo gương Chúa Kitô, các vị mục tử phục vụ cho nhau và phục vụ các tín hữu.

* về phần mình, các tín hữu giáo dân cùng cộng tác với các mục tử và các bậc sư phụ. Chúng ta gọi các linh mục bằng " Cha, Patre, Père, Father ", bởi vì các Ngài tái sinh, tắm rửa, nuôi nấng và dạy dỗ chúng ta bằng các Lời Chúa và các Phép Bí Tích )

Như vậy tất cả đều là chứng nhân cho sự hợp nhứt tuyệt với của Thân Thể Chúa Kitô.

c ) Phận vụ tông đồ của người tín hữu giáo dân ( LG, 33).

Người tín hữu giáo dân

* quy tựu nhau trong Cộng Đồng Dân Chúa.

* kết nhợp nhau trong Thân Thể Duy Nhứt Chúa Kitô, dưới một vị lãnh đạo duy nhứt.

Được mời gọi góp phần, như là các phần thân thể sống động, bằng tất cả khả năng ,sức mạnh và hoàn cảnh đã lãnh nhận được từ Đấng Tạo Hoá và ơn sủng từ Đấng Cứu Thế, để PHÁT HUY TĂNG TRƯỞNG GIÁO HỘI VÀ PHẬN VỤ THÁNH HOÁ CỦA GIÁO HỘI.

Phận vụ tông đồ của người tín hữu giáo dân là tham dự vào sứ mạng cứu rổi của Giáo Hội.

Cho phận vụ nầy tất cả mọi người đều được Chúa Kitô tiền định qua Phép Rửa và Phép Thêm Sức. Từ các Phép Bí Tích, nhứt là Phép Thánh Thể, tất cả đều được thông hiệp và được nuôi dưỡng tình bác ái yêu thương đối với Thiên Chúa và đối với mọi người, Và đó là linh hồn của việc tông đồ.

Nhất là người tín hữu giáo dân được mời gọi hãy làm cho sự hiện diện và động năng của Giáo được thể hiện ở những nơi và trong những trường hợp, mà Giáo Hội không thể trở thành muối đất và ánh sáng, nếu không nhờ có người tín hữu giáo dân làm phương tiện.

Mỗi tín hữu giáo dân, vì những ân sủng mà mình nhận được, là nhân chứng và công cụ sống động chính của Giáo Hội " tùy theo tầm mức ân sủng được Chúa Kitô ban cho ".

Người tín hữu giáo dân có thể được kêu gọi

* cộng tác vào việc tông đồ của Hàng Giáo Phẩm,

* thực thi một vài chức vụ trong Giáo Hội.

Như vậy mọi tín hữu giáo dân đều được mời gọi hoạt động để cho đồ án cứu rỗi của Chúa mỗi ngày đều đến được với tất cả mọi người ở mọi thời đại và trên toàn địa cầu.

d) Người tín hữu giáo dân tham dự vào chức vụ tư tế chung ( LG, 34 ).

Chúa Giêsu Kitô, vị tư tế tối cao và vĩnh cửu, bằng cách muốn tiếp tục chứng nhân và sứ mạng của mình qua các tín hữu giáo dân, Người làm cho người tín hữu giáo dân được đầy sức sống qua Chúa Thánh Thần.

Thật vậy, tất cả các hoạt động của người tín hữu giáo dân, từ động tác cầu nguyện dến các sáng kiến tông đồ, cuộc sống đôi lứa và gia đình, việc làm hằng ngày, các động tác nâng đỡ tinh thần và thể xác đối với anh em, nếu họ biết thực hiện trong Chúa Thánh Thần, kể cả những khó khăn bất hạnh trong cuộc đời, nếu họ biết nhẫn nại chịu đựng, những điều không may mắn đó trở thành những phẩm vật thiêng liêng đẹp lòng Chúa, qua trung gian Chúa Giêsu Kitô ( cfr 1 Pt 2, 5 ).

e) Người tín hữu giáo dân tham dự vào phận vụ ngôn sứ ( LG, 35 )

Chúa Kitô, vị Đại Ngôn Sứ thiết định các tín hữu giáo dân thành những nhân chứng của Người, bằng cách ban cho họ ý nghĩa của đức tin và ân sủng lời nói, để cho mãnh lực của Phúc Âm được chiếu rạng lên trong đời sống hằng ngày trong gia đình và ngoài xã hội.

Người tín hữu giáo dân tỏ mình ra là con cái của lời Chúa hứa, khi họ, được vững mạnh trong đức tin và niềm hy vọng, làm cho thời gian hiện tại trở thành hữu ích và với lòng kiên nhẫn chờ đợi niềm vinh quang tương lai.

Niềm hy vọng đó không phải để bị che giấu sâu thẩm trong tậm hồn họ, nhưng phải được diễn tả ra , ngay cả trong các cấu trúc đời sống trần thế.

Người tín hữu giáo dân trở thành sứ giả hữu hiệu, nếu họ biết kết hợp lời tuyên xưng đức tin với hoàn cảnh sống đức tin hàng ngày của họ.

Đời sống hôn nhân và gia đình có giá trị trọng đại. Cả hai vị phu thê đều có ơn gọi của mình: là nhân chứng đức tin và tình yêu Chúa Kitô người nầy cho người kia và cho con cái.

Người tín hữu giáo dân, ngay cả những lúc phải bận tâm lo lắng cho các sự việc trần thế, họ cũng có thể và phải thực thi động tác qúy báu rao giảng đức tin cho thế gian.

*Một vài người trong họ, vì thiếu các vị thừa tác viên hay các vị bị cấm cãn, có thể thay thế một vài phận vụ thánh, tùy theo khả năng và hoàn cảnh có thể của mình.

* Những người khác, tận dụng mọi sức lực của mình cho động tác tông đồ.

Như vậy, tất cả mọi tín hữu giáo dân

* đều cộng tác để phát triển và mở rộng vương quốc Chúa Kitô giữa trần gian.

* chuyên cần siêng năng học hiểu sâu đậm hơn về chân lý đã được mạc khải.

* tha thiết xin Chúa ban thêm cho ân sủng hiểu biết.

f) Người tín hữu giáo dân tham dự vào phận vụ vương giả của Chúa Kitô ( LG, 36 ).

Chúa muốn trải rộng ra

* vương quốc chân lý và sự sống của Người,

* vương quốc thánh thiện và ân sủng,

* vương quốc chân lý, tình yêu và hoà bình

cả qua trung gian người tín hữu giáo dân.

Bởi đó người tín hữu giáo dân phải biết

* rõ bản chất sâu xa của tạo vật, giá trị của chúng và thứ bậc trật tự của chúng để ngợi khen Thiên Chúa.

* giúp đỡ nhau để có được một đời sống thánh thiện ngay cả bằng những động tác trần thế, để cho thế giới được thẩm thấu Thánh Thần Chúa Kitô và nhờ đó đạt được hữu hiệu cùng đích của mình trong chân lý, bác ái và hoà bình.

Người tín hữu giáo dân, với thẩm quyền chuyên môn nghề nghiệp của mình, phải biết góp phần để cho vật thể được Chúa dựng nên

* được làm cho phát triển tiến lên, trở thành lợi ích cho tất cả mọi người.

- bằng việc làm của con người,

- bằng kỷ thuật,

- bằng văn hoá dân sự,

* để cho các vật thể được đề cập, được phân chia một cách thích hợp,

* nhờ đó đem đến cho con người một mức tiến bộ đều khắp trong tự do nhân bản và Kitô giáo.

Như vậy, Chúa Kitô nhờ các thành phần của Giáo Hội, sẽ luôn luôn soi sáng rạng ngời hơn cho cả xã hội con người bằng ÁNH SÁNG CỨU ĐỘ CỦA NGƯỜI.

Người tín hữu giáo dân bằng cách phối hợp các sức mạnh với nhau, lành mạnh hóa các cơ chế và tình trạng trên thế giới, biến những thực thể đó

* trở thành thích hợp với các lề luật chân lý,

* tao điều kiện thuận tiện để hành xử các đức tính,

* thấm nhuần văn hoá và hoạt động con người bằng những giá trị luân lý.

Như vậy ngưới tín hữu giáo dân chuẩn bị ruộng đất cho hạt giống lời Chúa, và lời loan báo hoà bình hội nhập được vào thế giới.

Người tín hữu giáo dân mặc dầu khác nhau về các quyền và bổn phận của mỗi người,

* với tư cách là thành phần của Giáo Hội,

* với tư cách là thành phần của cộng đồng xã hội.

Nhưng họ hãy tìm cách thiết định các sự khác biệt đó hoà hợp với nhau, bằng cách nhắc nhớ mình rằng trong mỗi thực thể trần thế, họ phải được lương tâm Kitô giáo hướng dẫn, bởi vì không có một tác động nào của con người có thể tước bỏ đi được điều răn của Thiên Chúa.

g) Người tín hữu giáo dân và hàng giáo phẩm ( LG, 37).

Người tín hữu giáo dân có quyền được nhận các của cải thiêng liêng của Giáo Hội từ các vị chủ chăn , nhứt là các trợ lực của Lời Chúa và các Phép Bí Tích.

Tùy theo thẩm quyền chuyên môn và uy tín mà mình có được, người tín hữu giáo dân có quyền, hay đúng hơn một đôi khi có cả bổn phận, nói lên cho biết ý kiến của mình về những sự việc có liên quan đến lợi ích của Giáo Hội, luôn luôn với sự thật, sức mạnh và sự khôn ngoan, với lòng kính trọng và bác ái, đối với những ai đại diện cho Chúa Kitô, vì lòng tôn kính phận vụ thiên thánh của các đấng. ,

Người tín hữu giáo dân đón nhận những gì các vị chủ chăn thiết định, nhân danh chức vụ giáo huấn và uy quyền của mình trong Giáo Hội, và nhứt là khi các vị nhân danh Chúa mà dạy bảo.

Các vị chủ chăn

* phải nhận biết và phát huy phẩm giá và trách nhiệm của người tín hữu giáo dân trong Giáo Hội.

* hãy sẵn sàng đón nhận các lời khuyên khôn ngoan của các con chiên mình.

* với lòng tin tưởng hãy biết ủy thác cho họ các phận vụ phục vụ Giáo Hội.

* hãy biết để cho họ tự do và khoản trống để hành động.

* hãy biết khuyến khích, để người tín hữu giáo dân tác động thực hiện và có cả sáng kiến.

*hãy biết chú tâm đón nhận và với tình cha con trong Chúa Kitô, các sáng kiến, đòi hỏi và ước muốn được người tín hữu giáo dân đưa ra.

* hãy biết tôn trọng và nhận biết tự do chính đáng, mà mọi người đều có trong xã hội trần thế.

Trong mối liên hệ giữa người tín hữu giáo dân và các vị chủ chăn, chúng ta có thể chờ đợi được nhiều lợi ích cho Giáo Hội.

Như vậy,

* được xác nhận ý nghĩa trách nhiệm nơi người tín hữu giáo dân.

* với lòng hăng say và sức mạnh nơi động tác của các vị chủ chăn,

* được kinh nghiệm của giáo dân trợ lực thêm,

các vị chủ chăn có thể phán đoán một cách rõ ràng và thuận lợi hay không đối với những gì thiêng liêng, cũng như các sự việc thuộc lãnh vực trần thế.

Như vậy, cả Giáo Hội, được mạnh mẽ nơi tất cả các thành phần của mình, có thể thực hiện một cách có hiệu quả hơn sứ mạng cho đời sống của thế giới.

Mỗi người tín hữu giáo dân phải là một nhân chứng cho Chúa Giêsu Phục Sinh và là dấu chứng của Thiên Chúa hằng sống.

Tất cả cùng chung nhau, mỗi người trong phần của mình, đều phải nuôi dưỡng thế giới bằng các kết quả thiêng liêng và loan truyền tinh thần làm sống động của người nghèo khổ, hiền lành và hoà bình, mà Phúc Âm của Chúa gọi là " Những Người Được Chúc Phúc ":

LINH HÒN ở trong thân xác thế nào, đó cũng là điều mà NGƯỜI TÍN HỮU CHÚA KITÔ ở giũa trần thế.

.

 
HOC HOI DE SONG DAO # CAC BI TICH LÀ NHUNH PHUONG TIEN PDF Print E-mail

TẠI SAO CÁC BÍ TÍCH LÀ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN HỮU HIỆU CẦN THIẾT ĐỂ LÃNH ƠN CỨU CHUỘC CỦA CHÚA KITÔ .?

Chúa Cứu Thế Giêsu đã hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết ,sống lại và lên Trời cách nay đã trên 2000 năm.Nhưng công nghiệp cứu chuộc này vẫn được tiếp tục ban phát cho con người qua sứ mang của Giáo Hội, là Thân Thể Mầu nhiệm của Chúa trong trần gian này cho đến ngày cánh chung tức là ngày mãn thời gian.

Tuy nhiên, sau hơn 2000 năm Tin Mừng Cứu Độ được rao giảng , cho đến nay mới chỉ có 1/6 nhân loại được biết Chúa Kitô và gia nhập Giáo hội của Chúa qua Phép Rửa và Thêm sức.

Như thế còn đa số người chưa được nghe Tin Mừng của Chúa và tin yêu Người là Đấng đã đến trần gian làm Con Người để "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người"( Mt 20: 28).

Với những người chưa biết Chúa Kitô và nghe Phúc Âm của Người, Giáo Hội tiếp tục cầu nguyện và hăng hái thi hành sứ mạng Chúa đã trao phó trước khi Người về Trời: Đó là " anh em hay đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha , Chúa Con và Chúa Thánh Thần., dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em..(Mt 28: 19-20) .Đây là sứ mạng phúc âm hóa thể giới và giảng dạy chân lý mà Giáo hội đã và đang thi hành để mang Chúa Kitô và công nghiệp cứu chuộc của Người đến với những người chưa biết Chúa cũng như chưa được nghe Tin Mừng cứu độ của Người. Thật vô cùng cần thiết cho hết mọi người, mọi dân tộc trên khắp thế giới được nghe và sống Tin Mừng đó hầu được cứu rỗi vì Thiên Chúa"Đấng cứu độ chúng ta, Đấng ,muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" ( 1 Tm 2:4)

Sứ mạng phúc âm hóa thế giới không chỉ được rao phó riêng cho hàng Giáo Phẩm, giáo sĩ , tu sĩ mà còn là trách nhiệm chung của mọi người tín hữu đã nhận lãnh Phép Rửa và gia nhập Giáo Hội của Chúa. Nói rõ hơn, tất cả mọi thành viên trong Giáo Hội gồm giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân – tuy khác nhau về địa vị và trách nhiệm- nhưng đều có chung sứ mang loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho những ai chưa biết Chúa và nghe Phúc Âm của Người. Hàng giáo sĩ , tu sĩ thi hành sứ mạng này bằng việc rao giảng Phúc Âm của Chúa trong phạm vi thánh đường ( các linh mục Dòng nay đang phải coi sóc nhiều giáo xứ vì thiếu linh mục Triều hay giáo phận) và bằng đời sống chứng tá phản ảnh trung thực những giá trị của Phúc Âm trước mặt người đời. Người giáo dân, ngược lại, rao giảng Tin Mừng của Chúa bằng chính đời sống của mình trong khi làm việc hay sống chung với những người khác ở nhiều môi trường khác nhau.

Chính đời sống Kitô hữu phản ảnh trung thực những chân lý và giá trị của Phúc Âm như công bình , bác ái, yêu thương, thánh thiện, tôn trọng sự sống, đề cao sự thật, nhất là xa tránh mọi thói hư tật xấu của thế gian đang chìm sâu trong văn hóa của sự chết, sẽ có sức thuyết phục người khác nhận biết Chúa Kitô đang hiện diện nơi người chứng tá để mời gọi họ tin yêu Chúa như mình để cùng được hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa. Và để đạt mục đích đó, tất cả mọi thành viên của Giáo Hội đều được mong đợi phúc âm hóa bản thân và môi trường sống bằng chính đời sống chứng tá của mình để mời gọi người khác tin và yêu mến Chúa để được hưởng ơn cứu độ của Người

Chúa Kitô không những rao giảng, dạy dỗ chân lý, mà còn thiết lập các bí tích làm phương tiện cứu rỗi cần thiết cho những ai muốn lãnh ơn cứu chuộc của Chúa.

Thật vậy, trước hết, Chúa đã nói đến tầm quan trọng của bí tích Thánh Tẩy hay Rửa tội trong Tin Mừng Marcô và Gioan như sau :

" Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ ; còn ai không tin sẽ bị luận phạt ."( Mk 16: 16)

Hoặc :

" Không ai có thể được vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và

Thần Khí" ( Ga 3: 5)

Trước khi về Trời, Chúa đã ăn cần căn dặn các Tông Đồ như sau :

" Anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần..." ( Mt 28 : 19)

Như thể, đủ chứng minh rằng Bí Tích Rửa Tội là điều kiện tiên quyết để được cứu độ, vì tội nguyên tổ đã cắt đứt tình thân giữa Thiên Chúa và loài người. và đã "mang sự chết vào trần gian, vì một người đã phạm tội"như Thánh Phaolô đã dạy. ( Rm 5 :12).

Nhưng vì Thiên Chúa là Cha rất nhân từ và đầy lòng xót thương , cho nên dù :

" Người nổi giận, giận trong giây lát,

nhưng yêu thương, thương suốt cả đời.:( Tv 30 : 6)

Chính vì yêu thương và muốn tha thứ nên Thiên Chúa đã sai Con Một là Chúa Kitô xuống trần gian làm Con Người để " cứu cái gì đã hư mất." ( Mt 18:11)

Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu thực vô giá và đủ cho những ai muốn hưởng nhờ. Nhưng điều kiện trước tiên để được cứu rỗi là phải được tái sinh qua Phép Rửa như đã nói ở trên.

Vì tầm quan trọng của bí tích này nên, trước khi rửa tội cho ai ( người lớn) thì phải dạy cho họ biết mục đích và công dụng của bí tích này.Nghĩa là không thể đổ nước lên đầu là xong việc.Ngược lại, phải dạy cho người muốn lãnh bí tích này hiểu rõ vì sao cần được rửa tội để thay đổi con người cũ và trở thành tạo vật mới, " mặc lấy Chúa Kitô để bắt đầu một hành trình mới đưa đến ơn cứu độ.Nói rõ hơn, không phải rửa tội xong là đủ, không cần phải làm gì nữa.Trái lại, rửa tội mới là bước khởi đầu cần thiết cho một tiến trình đổi mới hay hoán cải ( conversion process) để đoạn tuyệt với con người cũ sinh ra trong tội và bắt đầu một đời sống mới theo Trần Khí hầu trở nên hoàn thiện như mục đích của Phép Rửa.

Tiến trình đó đòi hỏi người đã được rửa tội phải quyết tâm yêu mến Chúa và xa tránh mọi tội lỗi vì phép rửa không tiêu diệt hết mọi mầm mống của tội cũng như không thay đổi hoàn toàn nhân tính để con người trở nên giống các Thiên Thần ngay trên trần thế này.

Ngược lại, vì hậu quả của tội nguyên tổ, con người vẫn hoàn toàn yếu đuối trong nhân tính, dễ nghiêng chiều về đường xấu và khó đứng vững trước mọi cảm dỗ của ma quỉ ví như " Sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." ( 1 Pr 5: 8) cùng với gương xấu và dịp tội đầy rẫy trong trần gian để lôi kéo con người vào con đương hư mất đời đời.

Do đó, nếu con người không cộng tác với ơn Chúa để cương quyết sống theo đường lối của Người và xa tránh tội lỗi thì ơn phép rửa , ơn tái sinh sẽ trở nên vô ích.Và Chúa cũng không thể cứu ai không có thiện chí bước đi theo Người và cương quyết xa tránh mọi quyến rũ của ma quí, thế gian và xác thịt là nhưng cản trở và hiểm nguy lớn lao cho con người muốn hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Cũng vì biết con người còn yếu đuối, khó đứng ững trước mọi thách đố và dịp tội, nên Chúa Kitô đã dự liệu sẵn những phương thế hữu hiệu là các bí tích để giúp con người chống đỡ và lấy lại tình thân với Chúa sau khi đã lỗi phạm tội nào vì yếu đuối của nhân tính và vì mưu chước thâm độc của ma quỉ cộng với gương xấu, dịp tội của thế gian hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ vật chất và nếp sống yêu chuộng mọi lạc thú vô luân vô đạo, như thực trạng con người ngày nay ở khắp mọi nơi. Người ta đang chối bỏ Thiên Chúa , khinh chê mọi giá tri tinh thần, luân lý và đạo đức là những căn bản để phân biệt con người có lương tri với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn.

Những bí tích mà Chúa ban cho Giáo Hội là những phương tiện cứu độ rất hữu hiệu và cần thiết cho những ai muốn được vào Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình đức tin một cách trung thực và can đảm trên trần thế này.

Thật vậy, với bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được rửa sạch một lần hậu quả của tội nguyên tổ và mọi tội cá nhân. Bí tích Thêm sức cho ta tri hiểu, sức mạnh và ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần để sống nhân chứng cho Chúa Kitô trong trần thế cũng như có sức để chống lại mọi nguy cơ cám dỗ của xác thịt, ma quỉ và thế gian. Bí Tích Thánh Thể không những cho ta của ăn thiêng liêng cần thiết trên đường tiến về quê trời với bao khó khăn và thách đố, mà quan trọng hơn nữa, bí tích Thánh thể còn làm sống lại cách bí nhiệm hy tế thập giá của Chúa Kitô xưa kia , vì " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ , nhờ đó "Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chiu hiến tế'' ( 1 Cor 5, 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( x.Lumen Gentium số 3).

Nghĩa là Thánh Lễ Tạ Ơn ngày nay diễn lại cách mầu nhiệm Hy Tế thập giá mà Chúa Kitô đã một lần dâng lên Chúa Cha trên núi Sọ năm xưa để đền tội thay cho nhân loại nhờ Chúa hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, như Giáo Hội tuyên xưng mỗi khi của hành Bí Tích Thánh Thể tức Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) để xin ơn cứu độ cho chúng ta ngày nay cùng thể thức mà ơn này được ban cho nhân loại lần đầu nhờ Hy tế Chúa Kitô hiến dâng một lần xưa kia trên thập giá.

Như thế, có thể nói Bí Tích Thánh Thể là Bí tích cứu độ mà Chúa Kitô đã thiết lập để tiếp tục ban ơn cứu chuộc của Người cho đến ngày mãn thời gian.Do đó, chúng ta được khuyến khích siêng năng tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Chúa Kitô là của ăn nuôi linh hồn ta và cho ta được sống đời đời vì " ai ăn thịt Ta và uống Máu ta thì được sống muôn đời và Ta sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết." như lời Chúa hứa ban( Ga 6 :54)

Tóm lại các bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể và Hòa giải là những bí tích tối cần cho ta được cứu rỗi và bảo đảm ơn cứu rỗi đó bao lâu còn lữ hành trên trần thế này. Các bí tích khác như sức dầu, Truyền Chức Thánh và Hôn phối là những bí tích giúp con người cộng tác với Chúa trong chương trình sáng tạo, ( bí tích hôn phối) tức là làm tăng số con cái Chúa trên trần gian này, cũng như chuẩn bị cho ta lìa đời trong ơn nghĩa Chúa ( bí tích sức dầu) .Sau hết, bí tích Truyền Chức Thánh dành cho một thiểu số người được ơn gọi đi rao giảng Lời Chúa và phục vụ cho những lợi ích thiêng liêng của dân Chúa ví như đàn chiên được trao phó cho các mục tử chăn nuôi và dẫn đưa về "Chuồng chiên mà Chúa Kitô là cửa vào duy nhất và cần thiết."( cf LG ,no.6)

Mặt khác, bí tích truyền chức thánh cũng được lập ra để phục vụ cách riêng cho bí tích Thánh Thể, là bí tích làm sống lại Hy Tế thập giá của Chúa Kitô xưa trên bàn thờ ngày nay mỗi khi Thánh lễ tạ ơn được cử hành như đã nói ở trên.Ngoài ra, Bí tích truyền chức thánh cũng được lập ra để phục vụ cho các bí tích thêm sức, hòa giải và sức dầu, vì các bí tích này đòi hỏi thừa tác viên phải có chức linh mục, là một trong ba chức thánh của Bí Tích Truyền Chức Thánh. Hai chức thánh kia là chức Phó Tế và Giám mục.

Chúng ta cảm tạ Chúa đã ban các bí tích như phương tiện hữu hiệu để giúp ta sống trong ơn nghĩa Chúa để nhiên hậu được cứu độ như lòng Chúa mong muốn cho mọi con cái loài người.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # NAM DUC TIN-BI TICH HOA GIAI PDF Print E-mail

NĂM ĐỨC TIN : TẦM QUAN TRỌNG CỦA BÍ TÍCH HÒA GIẢI

Bí tích hòa giải ( reconciliation) là một trong các bí tích ban ơn cứu độ rất quan trọng và cần thiết mà Chúa Kitô đã trao cho các Tông Đồ trước tiên và cho Giáo Hội ngày nay cử hành để ban ơn tha thứ của Chúa cho các hối nhân còn tin tưởng nơi lòng thương xót tha thứ của Chúa.

Thật vậy, sau khi từ cõi chết sống lại và hiện ra với các Tông Đồ, Chúa Kitô đã nói với các

ông như sau:

" Anh em tha cho ai, thì người ấy được tha

Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ" ( Ga 20: 23)

Trước khi thọ nạn thập giá, Chúa Giêsu cũng đã trao quyền tha tội cho Phêrô, sau khi môn đệ này tuyên xưng Chúa là " Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống." ( Mt 16: 16)

" Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời : dưới đất anh cầm buộc điều gì

Trên Trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất anh tháo cởi điều gì, trên Trời cũng

sẽ tháo cởi như vậy. " ( Sđd : 20 : 19)

Trên đây là nền tảng Kinh Thánh của bí tích hòa giải mà Chúa Kitô đã thiết lập và trao cho các Tông Đồ trước khi Người về Trời.

Sở dĩ Chúa ban bí tích này là vì Người biết rõ con người vẫn còn yếu đuối sau khi được tái sinh qua bí tích Rửa tội. Còn yếu đuối và dễ nghiêng chiều về sự xấu trong bản tính đã bị băng hoại vì Tội Nguyên Tổ ( original sin) cộng thêm với ý muốn tự do ( Free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dựng, cho nên nguy cơ phạm tội còn đó . Vì thế Chúa đã ban bí tích hòa giải để giúp con người nối lại tình thân với Chúa sau khi đã lỡ phạm tội cá nhân vì yếu đuối và nhất là vì ma qủi cám dỗ và gương xấu của thế gian. Bao lâu còn sống trong thân xác có ngày phải chết này, thì bấy lâu con người còn phải chiến đấu, hay bị giằng co giữa sự thiện và sự dữ, giữa sự tốt và sự xấu trái nghịch nhau như ánh sáng và bóng tối. Do đó, " anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế." ( 1 Pr 5 : 8-9).

Đó là lời khuyên dạy của Thánh Phêrô Tông Đồ.

I-Nhưng trước hết phải hiểu rõ thế nào là tội và có mấy loại tội

Con người ngày nay, phần nhiều đã mất hết ý thức về tội nên đã thi nhau làm những điều tự bản chất là sai trái, là vô luân như ăn gian, nói dối, trộm cắp, dâm đãng, ngoại tình, cờ bạc, giết người, phá thai, buôn bán ma túy, súng đạn giết người, sách báo phim ảnh dâm ô, nhất là buôn bán phụ nữ và trẻ em cho kỹ nghê mãi dâm, hoặc làm nô lệ tình dục cho người nước ngoài dưới chiêu bài "hôn nhân ngoại quốc" hay " lao động nước ngoài".Nhiều tín hữu cũng mất ý thức về tội nên đã coi thường hay không muốn đi xưng tội nữa dù đã làm những việc mà thực chất là có tội.

Những hình thức của tội lỗi nói trên đây đã ít nhiều xúc phạm đến Thiên Chúa là tình thương, là công bình và thánh thiện. Do đó, khi ta làm bất cứ điều gì xúc phạm đến tình thương, sự công bình và thiện hảo thì đã xúc phạm đến chính Thiên Chúa là hiện thân của Chân, Thiện Mỹ tuyệt đối.

Giáo lý Công Giáo cũng dạy rằng : " Tội lỗi chống lại tình thương của Thiên Chúa dành cho ta và khiến trái tim ta xa lìa tình yêu đó. Cũng như tội nguyên thủy, tội lỗi của ta là một sự bất phục tùng, một sự phản loạn chống lại Thiên Chúa..." ( x. SGLGHCG số 1850)

Thánh Phaolô đã liệt kê những tội con người có thể phạm như sau :

" Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là : dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, nghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo cho mà biết như tôi đã từng bảo : những kẻ làm những điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa." ( Gl 5:19-21 )

Thánh Gioan cũng quả quyết rằng " Mọi điều bất chính trên đều là tội." ( Ga 5 : 17)

II- Giáo Hội phân biệt tội thành hai loại : tội trọng và tội nhẹ

1-Tội trong ( mortal sin) là tội tự bản chất nó là sự dữ như giết người, hiếp dâm, ngoại tình., tiếp tay với quân khủng bố đặt bom giết hại người khác, nhất là chối bỏ hay lăng mạ Thiên Chúa, Đức Mẹ và các Thánh, công khai chối đạo ...

Ngoài bản chất là nghiêm trọng, tội trọng chỉ thành tội khi người ta đã biết rõ tính chất nghiêm trọng đó mà vẫn cố tình phạm với ý muốn tự do ( free will).Tội trọng phá hủy hoàn toàn đức ái và và cắt đứt mọi tình thân đối với Chúa vì đã chống lại Người cách quá nặng nề.

Do đó, nếu ai chết trong khi đang mắc tội trọng mà không kịp xin tha qua bí tích hòa giải thì sẽ chiu hình phạt hỏa ngục ( x. SGLGHCG số 1035)

2- Tội nhẹ ( Venial sin) : không cắt đứt tình thân với Chúa nhưng cũng xúc phạm đến Người

và làm tổn thương phần nào đức ái ( x SGLGHCG số 1855)

Đây là giáo lý của Giáo Hội mà mọi tính hữu phải tuân thủ cho được hiệp thông với Giáo Hội trong mục đích yêu mến, tôn thờ Thiên Chúa và thực hành các giới răn của Người hầu được hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa Kitô.

Cũng theo giáo lý của Giáo Hội thì mọi tội nặng hay nhẹ đều có thể được tha qua bí tích hòa giải nếu hối nhân còn tin tưởng nơi lòng thương xót tha thứ của Chúa và thật lòng ăn năn sám hối. Chỉ có một tội không thể tha được, đó là tội phạm đến Chúa Thánh Thần, tức chối bỏ Thiên Chúa hoàn toàn và không còn tin tưởng gì nơi lòng thương xót của Chúa nữa.

Liên quan đến bí tích hòa giải, không thể quan niệm rằng người tín hữu trưởng thành không cần giữ Đạo cách "cổ xưa" với việc tuân giữ luật lệ. Nếu việc tuân thủ mọi giới răn của Chúa và giáo lý của Giáo Hội là không "hợp thời" và cần thiết thì tạo sao Thiên Chúa lại ban 10 điều răn cho con người tuân giữ để được chúc phúc và tại sao Chúa Kitô đã nói với các môn đệ xưa điều này:

" Nếu anh em yêu mến Thầy

Anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy" ( Ga 14: 15)

Như thế, yêu mến Chúa đồng nghĩa với việc tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa. Và nếu không tuân giữ thì đã phạm tội chống lại Chúa là tình thương, công bình, bác ái và thánh thiện, vì mọi tội con người có thể phạm đều liên hệ ít nhiều đến các đặc tính trên đây của Thiên Chúa.Cụ thể : giết người hay âm mưu sát hại người khác là chống lại bản chất yêu thương, nhân từ của Chúa. Trộm cắp, gian tham, lừa đảo là phạm đến sự công bình của Chúa. Dâm ô – đặc biệt là tội ấu dâm rất khốn nạn ( child prostitution)- là xúc phạm nặng nề đến sự thánh thiện, trong sạch của Chúa . Do đó, muốn sống đẹp lòng Chúa và nhiên hậu được cứu độ thì mọi người có niềm tin yêu Chúa phải quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi vì chỉ có tội mới đẩy chúng ta ra khỏi tình thương của Chúa là Đấng yêu thương và " muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4) nhưng lại gớm ghét mọi tội lỗi vì nó hoàn toàn đi ngược lại với bản chất yêu thương, nhân từ , công bình và thánh thiện của Người.

III- Tại sao cần phải xưng tội và xưng cách nào ?

Như đã giải thích ở trên, tội là một thực thể và một thực tế ( entity and reality) trong trần gian và trong mỗi người chúng ta. Không ai có thể nói là mình không có tội nào như Thánh Gioan đã quả quyết : " nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội

Chúng ta tự lừa dối mình

Và sự thật không ở trong chúng ta." ( 1 Ga 1 : 8)

Nhận biết mình có tội thì lời mời gọi là hãy sám hối và xin Chúa tha thứ. Chúa ghét mọi tội nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết ăn năn xin tha thứ, như Chúa Giêsu đã đối xử với người phụ nữ bị bắt phạm tội ngoại tình và bị bọn Biệt phái dẫn đến xin Chúa cho ném đá. Chúa đã không ném đá và chỉ nói với chị kia rằng " ..Tôi không lên án chị đâu, thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa." ( Ga 8: 11).

Qua lời Chúa trên đây, chúng ta hiểu rõ lòng nhân từ và khoan dung của Chúa đối với kẻ có tội, nhưng cũng không muốn ai lợi dụng lòng nhân từ đó để cứ phạm tội, cứ lấy cớ Chúa yêu thương tha thứ để không quyết tâm cải thiện đời sống và xa tránh mọi tội lỗi. Đành rằng là con người, ai cũng yếu đuối trong bản tính, nhưng nếu ta quyết tâm và nương nhờ ơn Chúa phù giúp thì chúng ta mới có thể đứng vững được trước mọi cơn cám dỗ của ma quỷ, ví như "sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" ( 1 Pr 5: 8), của xác thịt yếu đuối dễ sa ngã và của gương xấu đầy rẫy ở mọi môi trường sống.

Nói rõ hơn, nếu ta không có thiện chí xa lánh tội và mọi cơ hội đưa đến phạm tội, để rồi cứ sa đi ngã lại, thì Chúa không thể cứu ai được mặc dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá, và đủ cho ta được cứu rỗi.Nhưng dù là đủ, Chúa vẫn còn mong đợi nơi thiện chí công tác của con người vào ơn cứu độ, vì con người còn có tự do để cộng tác hay khước từ ơn cứu độ và tình thương của Chúa để sống theo ý riêng mình..Đó là lý do vì sao Chúa Kitô đã cảnh cáo những ai không quyết tâm chừa tội và sống theo đường lối của Chúa mà cứ đi hàng hai, nửa nóng nửa lạnh như sau:

" Ta biết việc các ngươi làm.: ngươi chẳng nóng và cũng chẳng lạnh.Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi ! nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta" ( Kh 3 : 15-16)

IV-- Xưng tội là một tiến trình hoán cải đả trở nên hoàn hảo hơn:

Như đã nói ở trên, Chúa Kitô ban bí tích hòa giải vì Người biết trước con người sẽ còn phạm tội cá nhân nhiều lần nữa, sau khi được rửa sạch một lần hậu quả của tội nguyên tổ qua phép Rửa.

Phạm tội vì yếu đuối thì khác với cố tình không quyết tâm chừa tội để rồi lại tái phạm nhiều lần nữa. Cha giải tội có thể không ban phép tha tội nếu biết hối nhân cứ xưng mãi một tội vì không cố gắng chừa bỏ..

Trong Tin Mừng Thánh Lu ca, để trả lời cho một số người đến hỏi Chúa xem có phải những người Ga li-Lê bị Tổng trấn Phi-la-tô giết chết, lấy máu hòa lẫn với tế vật là vị họ tội lỗi hơn những người khác hay không, Chúa Giêsu đã trả lời họ như sau :

" ...Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy." ( Lc 13 : 3)

Như thế có nghĩa là chúng ta phải cố gắng chừa tội và sám hối về những việc sai trái đã làm.

Sám hối là nhìn nhận mình có tội, ăn năn chừa bỏ và mau kíp chạy đến với Chúa qua bí tích hòa giải để được tha thứ và giao hòa lại với Chúa và với Giáo Hội.

Khi đi xưng tội , mọi hối nhân cần lưu ý hai điều quan trọng sau đây:

1-Phải hoàn toàn tin tưởng có Chúa Kitô hiện diện trong các thừa tác viên con người là

Giám mục hay Linh mục.Chính Chúa nghe và tha tội cho ta qua tay các thừa tác viên.

2-Do đó , phải thành thật xưng các tội nặng nhẹ đã phạm vì yếu đuối con người, kể cả

những tội kín thuộc các giới răn thứ sáu và thứ chin. Nếu không thành thật xưng ra

Các tội mình đã phạm , nghĩa là có ý dấu không xưng một tội nào thì việc xưng tôi sẽ

không thành và không đáng được Chúa tha thứ qua trung gian của thừa tác viên.

( x SGLGHCG số 1505)

Xưng tội là dịp cho ta nhớ đến lòng thương xót tha thứ của Chúa sau khi nhận biết tội lỗi mình đã xúc phạm đến Chúa.Nhưng phải có quyết tâm từ bỏ tội với ơn Chúa nâng đỡ để không sa đi ngã lại. Đây là tiến trình trở nên hoàn hảo hơn như Chúa mong muốn cho mỗi người tín hữu chúng ta. Nói rõ hơn, không phải cứ theo thói quen lâu lâu đi xưng tội để cho an tâm rồi lại không quyết tâm từ bỏ tội lỗi nên lại tái phạm để rồi lại đi xưng tội. Sống đức tin kiểu này thì quả thật xứng đáng để nghe lời Chúa cảnh cáo trên đây.

Nói khác đi, phải quan niệm đúng đắn hơn về bí tích hòa giải. Đây phải là phương thế hữu hiệu để giúp con người không những lấy lại tình thân với Chúa mà còn giúp ta dần dần trở nên hoàn hảo về mặt thiêng liêng qua quyết tâm từ bỏ tội lỗi để trở nên thánh thiện như Chúa Kitô đã kêu gọi:

" anh em phải nên thánh ( nên hoàn hảo) như Cha anh em ở trên Trời là Đấng toàn thiện." ( Mt 5: 48)

Trở nên thánh thiện hay hoàn hảo là trở nên giống Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành, là suối nguồn an vui và hạnh phúc của các Thánh và các Thiên Thần. Do đó, phạm tội hay sống trong tội là tự ý xa lìa Chúa và không muốn được cứu độ để vui hưởng hạnh phúc Nước Trời.

Tóm lại, Bí tích hòa giải không chỉ đơn thuần tha các tội nặng nhẹ con người có thể phạm mà còn là phương thế hữu hiệu để giúp con người trở nên hoàn thiện, qua cố gắng xa tránh mọi tội lỗi để trở nên giống Chúa là Chân Thiện Mỹ tuyệt đối..

Chính trong chiều kích thiêng liêng nói trên mà mọi tín hữu được mời gọi cách riêng trong Năm Đức Tin này là hãy siêng năng đến với bí tích hòa giải trong tâm tình ca tụng và cảm tạ tình thương , tha thứ vô biên của Chúa và cũng để nói lên quyết tâm cải thiện đời sống thiêng liêng bằng cố gắng chửa bỏ dần dần mọi tội lỗi như một thiện chí muốn trở nên hoàn hảo hầu xứng đáng được " thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian này" như Thánh Phêrô đã mời gọi ( 2 Pr 1 : 4).

Ước mong mọi quí tín hữu suy nghĩ và thực hành mục đích của bí tích hòa giải trong Năm Đức Tin này.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # CAU NGUYEN LA GI ? PDF Print E-mail

CẦU NGUYỆN LÀ GI VÀ PHẢI CẦU NGUYỆN THẾ NÀO CHO ĐẸP LÒNG CHÚA ?

Hỏi: xin cha giải thích cầu nguyện là gì ? trong Phúc Âm Chúa Giêsu nói " ai muốn theo Ta, phải bỏ mình và vác thập giá theo Ta.."

Như vậy cầu xin Chúa cho khòi bệnh tật và mọi gian nan khốn khó ở đời thì có trái với lời dạy trên của Chúa và có tội hay không ?

Trả lời ;

Trước hết , xin giải thích cầu nguyện là gì.

Cầu nguyện là nâng tâm hồn lên với Chúa để tâm sự hay nói chuyện với Chúa trong thân tình Cha con khi vui cũng như lúc buồn, khi gặp gian nan khốn khó hay lúc được những điều vui thỏa vừa ý.

Thánh nữ Tê-rê-xa Hài Đồng Giê su cũng nói :" đối với tôi, cầu nguyện là một sự hướng lòng lên, một cái nhìn đơn sơ hướng lên trời. Đó là tiếng kêu của lòng tri ân và của tình yêu trong cơn thử thách cũng như trong lúc hưởng niềm vui." ( St Therese of Licieux, Autobiography C. 25p)

Như thế cầu nguyện là tâm tình thân mật với Chúa trong niềm tin có Chúa là Cha nhân từ luôn lắng nghe mọi lời cầu nguyện, cầu xin của con cái loài người và hằng ban muôn ơn lành cho chúng ta, những người có đức tin và ngay cả cho những người chưa có đức tin, chưa biết Chúa và yêu mến Người, căn cứ vào chính lời Chúa Giêsu đã nói với các mộn đệ xưa như sau:

"Còn Thầy, Thầy bảo anh em : hãy yêu kẻ thù và và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính." ( Mt 5 :44- 45)

Vậy chúng ta phải cầu nguyện cách nào cho đẹp lòng Chúa ?

Căn cứ vào kinh Lậy Cha mà Chúa Giêsu dạy các Tông Đồ xưa, chúng ta có thể rút ra được những chỉ dẫn sau đây:

Trước hết, Chúa nói cho chúng ta biết:

1- chúng ta có một CHA ở trên trời

2- Vì thế, chúng ta phải nguyện xin trước hết cho danh CHA cả sáng, cho Vương Quốc của Cha được lan rộng và nhất là cho thánh Ý Cha được thực hiện dưới đât cũng như trên trời.

3- Sau cùng ,chúng ta xin CHA ban cho những nhu cầu cần thiết như cơm ăn áo mặc. để sống ,hạnh phúc ở đời này.

.Như vậy, cầu xin cho được an vui, mạnh khỏe, có công ăn việc làm và khỏi bệnh tật là điều đẹp lòng Chúa, vì là con người, chúng ta phải cần những nhu cầu ấy bao lâu còn sống trên trần thế này.

Trong tinh thần cầu nguyện trên đây , chúng ta đọc thấy nhan nhản trong Kinh Thánh những lời cầu nguyện có nội dung ca ngợi, cảm ta và cầu xin Chúa thương cứu giúp như sau:.

a- Cầu xin Ca ngợi( prayer of praises):

Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Chúa

Câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi

Linh hồn tôi hãnh diện vì Chúa

Xin các bạn nghèo hãy nghe tôi nói mà vui lên

Hãy cùng tôi ngượi khen ĐỨC CHÚA

Ta đồng thanh tán tụng danh Người.." ( Tv 34 :2-4)

b-Cầu nguyện tạ ơn ( Prayer of Thanksgivíng)

Chúc tụng Chúa vì Người nghe tiếng tôi khẩn nguyện

Chúa là sức mạnh, là khiên mộc chở che tôi

Lòng tôi đặt tin tưởng nơi Người

Tôi đã được Người thương trợ giúp

Nên lòng tôi vui mừng hoan hỉ, cất cao tiếng hát tạ ơn Người" ( Tv 28:6-7)

b- Cầu nguyện xin ơn ( prayer of petitions)

Lậy Chúa, xin đoái thương, này con đang kiệt sức

Chữa lành cho con ,vì gân cốt rã rời

Tòan thân con rã rời quá đỗi

Mà lậy Chúa, Chúa còn trì hoãn đến bao giờ ?

Lậy Chúa, xin trở lại mà giải thóat con

Cứu độ con, vì Ngài nhân hậu" ( Tv 6:2-5)

Trong khi đi rao giảng Tin Mừng cứu độ, Chúa Giêsu cũng đã chữa lành cho biết bao người bệnh tật như đui, mù, què, câm điếc, , phong cùi, ..cũng như làm phép lạ biến bánh ra nhiều để cho hàng ngàn người đói ăn no nê. Điều này cho thấy,Chúa đã quan tâm đến nhu cầu thể lý của con người, ngoài nhu cầu thiêng liêng là cần được cứu rỗi.. Vầ để thỏa mãn những nhu cầu đó, Chúa Giếsu đã dạy câc Tông Đồ phải cầu xin với Chúa Cha nhân danh Người như sau:

" Thật, Thầy bảo thật anh em

Anh em mà xin Chúa Cha điều gì , thì Người sẽ ban cho anh em

Vỉ danh Thầy´ (Ga 16:23)

Phải cầu xin Chúa CHA vỉ Người là nguồn ban phát mọi ơn lành và, phúc lộc tối cần cho con người sống vui và hạnh phúc ở đời này và nhất là được cứu rỗi để sống đời đời trên Thiên Quốc. mai sau.

Như thế , cầu nguyện là một nhu cầu tối cần thiết cho những ai có niềm tin vào Thiên Chúa là Đấng giầu tình thương và vô cùng nhân hậu. Phải cầu xin Người vì chúng ta thiều thốn mọi sự, và nhất là không có đủ sức để đứng vững trước mọi thù địch đe dọa niềm tin có Thiên Chúa và hy vọng được sống hạnh phúc với Người, ngay từ đời này trước khi được thực sự chiêm ngưỡng Thánh Nhan Người trên Nước trời mai sau.Cầu nguyện ví được như hơi thở của thân xác. Không có hơi thở thì không thân xác nào có thể sống được. Đó là lý do vì sao Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa " Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được." ( Ga 15:5) Không có Thầy .nghĩa là không có ơn Chúa phù giúp thì ta không thể đứng vững và thăng tiến trong đời sống tin, cậy , mến, cũng như được an vui ,,mạnh khỏe khỏe và may lành trong trần thế. này.

Nhưng khi Chúa nói :" Ai muốn theo Thầy ,phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" ( Mt 16:24), chúng ta phải hiểu thế nào ?

Trước hết, nói đến thập giá là nói đến sự đau khổ mà bản chất con người không ai muốn chấp nhận. Nhưng đau khổ thập giá lại là phuơng tiện cứu độ hữu hiệu nhất mà Chúa Giêsu đã vui lòng chấp nhận để đền tội thay cho cả nhân loại trong chương trình cứu chuộc loài người của Thiên Chúa. Vì thế, muốn dự phần vinh quang phục sinh với Chúa Kitô, tức là được sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Thiên Quốc thì chúng ta cũng phải chia sẻ phần nào sự đau khổ của Người.

Tuy nhiên, nói chia sẻ đau khổ với Chúa, hay vác thập giá theo Người không có nghĩa là phải xin Chúa trao cho thập giá để vác, nhiều khốn khó để chịu. mà chủ yếu là phải vui lòng chấp nhận những thánh giá mà Chúa muốn gửi đến hay tha phép cho xảy ra trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.. Nói rõ hơn, khi gặp phải những gian nan khốn khó mà mình không mong muốn, nhưng không tránh được như bệnh tật, nghèo khó, thất nghiệp, bất công , .v.v thi phải coi đó như những khổ giá mà Chúa muốn chia sẻ để cho ta được dự phần đau khổ với Chúa hầu được thông phần vinh quang với Người. Nhưng cầu xin Chúa giúp cho có sức chịu đựng và vượt qua những khó khăn ,đau khổ này lại là điều phải lẽ và đẹp lòng Chúa vì Người nhân nhậu và vui thích đuợc ban ơn cho ta..Nói khác đi. Chúa không cấm chúng ta cầu xin Chúa cho mình hay cho người thân được khòi bênh tật, được có công ăn việc làm tốt, ,đươc thành đạt trong học hành,v.v Mặt khác, Chúa cũng không mong muốn chúng ta "anh hùng" xin Người gửi những đau khổ tinh thần và thể xác cho ta chịu để lập công.

Chính Chúa Giê su cũng không tự nguyện vác thập giá xưa kia. . Khi đối diện với đau khổ này trong đêm Người bị nộp vì Giuđa phẩn bội, Chúa Giêsu đã thống thiết cầu xin cùng Chúa Cha như sau: " Lậy Cha, nếu Cha muốn, xin cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo Ý Cha" (Lc 22:42)

Lời cầu nguyện trên đây của Chúa Giêsu chính là khuôn vàng thước ngọc cho chúng ta bắt chước mỗi khi chúng ta muốn xin Chúa bất cứ ơn gì cho mình và cho người khác.Và cách cầu nguyên này chắc chắn đẹp lòng Chúa nhất vì chúng ta không xin theo ý riêng mình mà xin theo ý CHA trên trời như Chúa Giêsu đã xin..

Tóm lại, cầu xin Chúa ban cho những nhu cầu cần thiết như cơm ăn, áo mặc, sức khóe và bình an là điều tự nhiên không có gì sai trái, hay thiếu đạo đức.Điều quan trọng là phải xin cho được vâng theo Thánh Ý Chúa trong mọi sự mà thôi.

LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

"

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 123 of 137