mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2877
mod_vvisit_counterHôm Qua7493
mod_vvisit_counterTuần Này58147
mod_vvisit_counterTuần Trước60947
mod_vvisit_counterTháng Này144644
mod_vvisit_counterTháng Trước108912
mod_vvisit_counterTất cả14228300

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 127 = SU KHAC BIET PDF Print E-mail

NHỮNG KHÁC BIỆT CĂN BẢN GIỮA CÔNG GIÁO, CHÍNH THỐNG GIÁO VÀ TIN LÀNH

Hỏi: Trong bài trước cha đã nói đến các Đạo cùng tôn thờ Thiên Chúa nhưng khác nhau về nhiều mặt thần học, tín lý, giáo lý, bí tích, phụng vụ .v.v
Xin cha nói rõ hơn về những khác biệt này giữa Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành.

Trả lời: như đã giải thích trong bài trước, cả ba Nhánh Kitô Giáo trên đây, từ đầu, đều thuộc Đạo Thánh của Chúa Kitô gọi chung là KitôGiáo (Christianity). Nhưng theo dòng thời gian, đã có những biến cố gây ra tình trạng rạn nứt hay ly giáo (schisms) hoặc những cải cách (reformations) đáng tiếc xảy ra khiến KitôGiáo bị phân chia thành 3 Nhánh chính trên đây. Ngoài ra, còn một nhánh Kitô Giáo nữa là Anh Giáo ( Anglican Communion) do vua Henri VIII (1491-1547) của nước Anh chủ xướng năm 1534 để lập một Giáo Hội riêng cho Nước Anh, tách khỏi Rôma chỉ vì Tòa Thánh La Mã ( Đức Giáo Hoàng Clement VII) không chấp nhận cho nhà vua ly di để lấy vợ khác.
Cho đến nay, các nhóm ly khai trên vẫn chưa hiệp thông được với Giáo Hội Công Giáo vì còn nhiều trở ngại chưa vượt qua được.. Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng giới hạn trong câu hỏi được đặt ra, tôi chỉ xin nên sau đây những dị biệt căn bản giữa ba Nhánh Kitô Gíáo lớn trên đây mà thôi.

I-Chính Thống (orthodoxy) khác biệt với Công Gíáo La Mã ( Roman Catholicism) ra sao?

Trước hết, danh xưng Chính Thống "Orthodoxy", theo ngữ căn (etymology) Hy lạp " orthos doxa", có nghĩa là "ca ngợi đúng (right-praise), "tin tưởng đúng " ( right belief) . Danh xưng này được dùng trước tiên để chỉ lập trường của các giáo đoàn đã tham dự các Công Đồng đại kết (Ecumenical Councils) Nicêa I (325) Ephêsô (431) và nhất là Chalcedon (451) trong đó họ đã đồng thanh chấp thuận và đề cao những giáo lý được coi là chân chính( sound doctrines) , tinh tuyền của KitôGíáo để chống lại những gì bị coi là tà thuyết hay lạc giáo (heresy).Do đó,trong bối cảnh này, từ ngữ "orthodoxy" được dùng để đối nghịch với từ ngữ " heresy" có nghĩa là tà thuyết hay lạc giáo. Nhưng sau biến cố năm 1054 khi hai Giáo Hội Kitô Giáo Hy Lạp ở Constantinople( tượng trưng cho Đông Phương) và Giáo Hội Công Giáo LaMã ( Tây Phương) đã xung đột và ra vạ tuyệt thông cho nhau ( anthemas=excommunications) ngày 16 tháng 7 năm 1054 giữa Michael Cerularius, Thượng Phụ Constantinople và Đức cố Giáo hoàng Leo IX vì có những bất đồng lớn về tín lý, thần học và quyền bính, thì danh xưng "Chính Thống" ( orthodoxy) lại được dùng để chỉ Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople đã ly khai không còn hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã. Sau này, Giáo Hội "Chính Thống" Hy Lạp ở Constantinople đã lan ra các quốc gia trong vùng như Thổ nhĩ Kỳ, Nga, Albania, Estonia, Cyprus, Finland, Latvia, Lithuania, Rumania, Bulgaria, Serbia, Ukraine...Vì thế, ở mỗi quốc gia này cũng có Giáo Hội Chính Thống nhưng độc lập với nhau về mọi phương diện.Nghĩa là không có ai là người lãnh đạo chung của các Giáo Hội này, mặc dù họ có tên gọi chung là các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) tách khỏi khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã.(Tây Phương)
Tuy nhiên, hiện nay Thượng Phụ ( Patriarch) Giáo Hội Chính Thống Thổ Nhĩ Kỳ ở Istanbul được coi là Thượng Phụ Đại Kết ( Ecumenical Patriarch) của các Giáo Hội Chính thông Đông Phương.Cách nay 2 năm Đức Thánh Cha Bê-nê-đich tô 16 đã sang thăm Đức Thượng phụ Giáo Chủ Chính Thống Thổ để tỏ thiện chí muốn đối thoại, đưa đến hiệp thông giữa hai Giáo Hội anh em. Riêng Giáo Hội Chính Thống Nga, cho đến nay, vẫn chưa tỏ thiện chí muốn xích gần lại với Giáo Hội Công Giáo La Mã, vì họ cho rằng Công Giáo muốn "lôi kéo" tín đồ Chính Thống vào Công Giáo sau khi chế độ cộng sản ở Nga tan rã, tạo điều kiện thuận lợi cho Giáo Hội Chính Thông Nga hành Đạo.
Trước khi xẩy ra cuộc ly giáo năm 1054, hai Nhánh Kitô giáo lớn ở Đông và Tây phương( The Greek Church and the Holy See=Rome) nói trên vẫn hiệp thông trọn vẹn với nhau về mọi phương diện vì cả hai Giáo Hội anh em này đều là kết quả truyền giáo ban đầu của các Thánh Tông Đồ Phêrô và Anrê. Lịch sử truyền giáo cho biết là Thánh Phêrô đã rao giảng Tin mừng ở vùng đất nay là lãnh địa của Giáo Hội Công Giáo La Mã (Roma) trong em ngài, Thánh Anrê (Andrew) sang phía Đông để rao giảng trước hết ở Hy lạp và sau đó trong phần đất nay là Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey). Như thế, cả hai Giáo Hội KitôGiáo Đông Phương Constantinople và Tây Phương Rôma đều có nguồn gốc Tông đồ thuần túy ( Apostolic succession).
Sau đây là những điểm gây bất đồng khiến đi đến ly giáo (schism) Đông Tây

1- về tín lý, Giáo Hội Chính Thống Đông Phương- tiêu biểu ban đầu là Giáo Hội Hy Lạp ở Constantinople- bất đồng với Giáo Hội Công Giáo La Mã về từ ngữ " Filioque" ( và Con) thêm vào trong Kinh Tin Kính Nicêa tuyên xưng "Chúa Thánh Thần bởi Chúa Cha, và Chúa Con mà ra".
Giáo Hội Chính Thông Đông Phương cũng không công nhận các tín điều về Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai (Immaculate Conception) và Lên Trời cả hồn xác (Assumption) mặc dù họ vẫn tôn kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa (Theotokos). Sở dĩ thế, vì họ không công nhận vai trò lãnh đạo Giáo Hội của Đức Giáo Hoàng, nên đã bác bỏ mọi tín điều được các Đức Giáo Hoàng công bố với ơn bất khả ngộ (Infallibility) mà Công Đồng Vaticanô I (1870) đã nhìn nhận.
Chính vì họ không công nhận quyền và vai trò lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ của Đức Giáo Hoàng Rôma, nên đây là trở ngại lớn nhất cho sự hiệp nhất (unity) giữa hai Giáo Hội Chính Thống và Công Giáo cho đến nay, mặc dù hai bên đã tha vạ tuyệt thông cho nhau sau cuộc gặp gỡ lịch sử giữa Đức Thánh Cha Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Constantinople là Athenagoras I năm 1966.
Giáo Hội Chính Thống có đủ bảy bí tích hữu hiệu như Công Giáo. Tuy nhiên, với bí tích rửa tội thì họ dùng nghi thức dìm xuống nước (immersion) 3 lần để nhấn mạnh ý nghĩa tái sinh vào đời sống mới, trong khi Giáo Hội Công Giáo chỉ dùng nước đổ trên đầu hay trán của người được rửa tội để vừa chỉ sự tẩy sạch tội nguyên tổ và các tội cá nhân ( đối với người tân tòng) và tái sinh vào sự sống mới, mặc lấy Chúa Kitô.

2-Về phụng vụ, Giáo Hội Chính Thống dùng bánh có men (leavened bread) và ngôn ngữ Hy lạp khi cử hành phung vụ trong khi Giáo Hội Công Giáo dùng bánh không men (unleavened bread) và tiếng Latinh trong phụng vụ thánh trước Công Đồng Vaticanô II, và nay là các ngôn ngữ của mọi tín hữu.

3-Sau hết, về mặt kỷ luật giáo sĩ: Giáo Hội Chính Thông cho phép các phó tế và linh muc được kết hôn trừ Giám mục, trong khi kỷ luật độc thân (celibacy) lại được áp dụng cho mọi cấp bậc trong hàng giáo sĩ và tu sĩ Công Giáo, trừ phó tế vĩnh viễn (pernanent deacons).
Đó là những khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Chính Thống Đông Phương và Giáo Hội Công Giáo La Mã.
Tuy nhiên, dù có những khác biệt và khó khăn trên đây, Giáo hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương đều rất gần nhau về nguồn gốc tông đồ và về nền tảng đức tin, giáo lý, bí tích và Kinh thánh. Vì thế, giáo lý của Giáo Hội Công Giáo đã dạy rằng: "Đối với các Giáo Hội Chính thống, sự hiêp thông này sâu xa đến nỗi "chỉ còn thiếu một chút là đạt được mức đầy đủ để có thể cho phép cử hành chung phép Thánh Thể của Chúa Kitô" (x.SGLGHCG, số 838).

II- Tin lành ( Protestantism) và những khác biệt với Công Giáo.

Như đã nói trong bài trước, Tin lành, nói chung, là Nhánh KitôGíao đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo do Martin Luther, một linh mục Dòng thánh Augustinô, chủ xướng vào năm 1517 tại Đức và lan sang Pháp với John Calvin và Thụy sỹ với Ulrich Zwingli và các nước Bắc Âu sau đó.

1-Ở góc độ thần học,
Những người chủ trương cải cách (reformations) trên đã hoàn toàn bác bỏ mọi nền tảng thần học về bí tích và cơ cấu tổ chức giáo quyền (Hierachy) của Giáo Hội Công Giáo. Họ chống lại vai trò trung gian của Giáo Hội trong việc hòa giải con người với Thiên Chúa qua bí tích tha tội hay hòa giải (reconciliation) vì họ không nhìn nhận bí tích truyền chức thánh (Holy Orders) qua đó Giám mục, Linh mục được truyền chức thánh và có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) cũng như thi hành mọi sứ vụ (ministry) thiêng liêng khác. (rửa tội, thêm sức, thánh thể, Xức dầu thánh, chứng hôn).
Điểm căn bản trong nền thần học của Tin Lành là con người đã bị tội tổ tông phá hủy mọi khả năng hành thiện rồi (làm việc lành), nên mọi nỗ lực cá nhân để được cứu rỗi đều vô ích và vô giá trị. Chỉ cần tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô dựa trên Kinh Thánh là được cứu rỗi mà thôi. (Sola fide, sola scriptura). Ngược lại, Giáo Hội Công Giáo tin rằng con người vẫn có trách nhiệm cộng tác với ơn Chúa để được cứu rỗi. Nói khác đi, muốn được cứu độ, con người phải cậy nhờ trước hết vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, nhưng cũng phải có thiện chí công tác với ơn thánh để sống và thực thi những cam kết khi được rửa tội. Nếu không, Chúa không thể cứu ai được như Chúa Giêsu đã nói rõ: "không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ có ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi." (Mt 7:21).
Nói khác đi, không phải rửa tội xong, rồi cứ hát Alleluia và kêu danh Chúa Kitô là được cứu độ. Điều quan trong hơn nữa là phải sống theo đường lối của Chúa, nghĩa là thực thi những cam kết khi được rửa tội: đó là mến Chúa, yêu người và xa lánh tội lỗi. Nếu không, rửa tội và kêu danh Chúa thôi sẽ ra vô ích.
Anh em tin lành không chia sẻ quan điển thần học này, nên họ chỉ chú trọng vào việc đọc và giảng kinh thánh nhưng không nhấn mạnh đến phần đóng góp của con người như Chúa Giêsu đòi hỏi trên đây. Ngoài phép rửa và kinh thánh, họ không tin và công nhận một bí tích nào khác.Điển hình, vì không công nhận phép Thánh Thể, nên họ không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện trong hình bánh và rượu, mặc dù một số Giáo phái Tin lành có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho khi họ tụ họp để nghe giảng kinh thánh. Sứ vụ quan trọng của họ chỉ là giảng kinh thánh vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi.

2- Nhưng Kinh Thánh được cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ, nên có rất nhiều mâu thuẫn hay trái ngược với cách hiểu và cắt nghĩa của Giáo hội Công Giáo.
Thí dụ, câu Phúc Âm trong Matthêu 22 : 8-9 trong đó Chúa Giêsu dạy các tông đồ " không được gọi ai dưới đất là cha là thầy vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời" mà thôi. Vì họ hiểu câu này hoàn toàn theo nghĩa đen (literal meaning) nên đã chỉ trích Giáo Hội Công giáo là 'lạc giáo=heretical" vì đã cho gọi Linh mục là " Cha" (Father, Père, Padre)!.
Thật ra, Giáo Hội cho phép gọi như vậy, vì căn cứ vào giáo lý của Thánh Phaolô, và dựa vào giáo lý này, Công Đồng Vaticanô II trong Hiến Chế Tín lý Lumen Gentium đã dạy rằng; " Linh mục phải chăm sóc giáo dân như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh ra họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn." (1 Cor 4: 15; LG. số 28).
Một điểm sai lầm nữa trong cách đọc và hiểu kinh thánh của Tin lành là câu Phúc Âm Thánh Marcô kể lại một ngày kia Chúa Giêsu đang giảng dạy cho một đám đông người thì Đức Mẹ cà các môn đệ của Chúa đến. Có người trong đám đông đã nói với Chúa rằng: "Thưa Thầy có mẹ và anh em, chị em của Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy." (Mc 3:32). Anh em tin lành đã căn cứ vào câu này để phủ nhận niềm tin Đức Mẹ trọn đời đồng trinh của Công Giáo và Chính thống, vì họ cho rằng Mẹ Maria đã sinh thêm con cái sau khi sinh Chúa Giêsu. Nghĩa là họ chỉ tin Đức Mẹ đồng trinh cho đến khi sinh Chúa Giêsu mà thôi. Thật ra cụm từ "anh chị em "trong ngữ cảnh (context) trên đây chỉ là anh chị em theo nghĩa thiêng liêng (spiritual brotherhood, sisterhood) và đây là cách hiểu và giải thích Kinh Thánh của Công Giáo và Chính Thống, khác với Tin lành.
Sau hết, về mặt quyền bình, các giáo phái Tin lành đều không công nhận Đức Giáo Hoàng là Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trong sứ mạng chăn dắt đoàn chiên của Người trên trần thế.

3- về bí tích:
Tất cả các nhóm Tin Lành đều không có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải, Sức Dầu bệnh nhân và Truyền Chức Thánh vì họ không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) do đó, không có chức linh mục và giám mục hữu hiệu để cử hành các bí tích trên.
Đa số các nhóm này chỉ có phép rửa( Baptism) mà thôi. Nhưng nếu nhóm nào không rửa tội với nước và công thức Chúa Ba Ngôi (The Trinitarian Formula) thì không thành sự ( invalidly) . Do đó, khi gia nhập Giáo Hội Công Giáo, tín hữu Tin Lành nào không được rửa tội với nước và công thức trên thì phải được rửa tội lại như người tân tòng.(catechumen). Nếu họ được rửa tội thành sự thì chỉ phải tuyên xưng đức tin khi gia nhập Công Giáo mà thôi.

Đó là những khác biệt căn bản giữa Công Giáo và Tin Lành nói chung. Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn hướng về các anh em ly khai này và mong ước đạt được sự hiệp nhất với họ qua nỗ lực đại kết (ecumenism) mà Giáo hội đã theo đuổi và cầu nguyện trong nhiều năm qua.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho mục đích hiệp nhất này giữa những người có chung niềm tin vào Chúa Kitô nhưng đang không hiệp thông (communion) với Giáo Hội Công Giáo, là Giáo Hội duy nhất Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng các Tông đồ.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 126 = THE NAO LA KHON NGOAN ? PDF Print E-mail

THẾ NÀO LÀ KHÔN NGOAN CỦA THIÊN CHÚA VÀ KHÔN NGOAN CỦA CON NGƯỜI ?
Khôn ngoan là một quà tặng quí giá của Chúa Thánh Thần ban cho những ai thành tâm muốn lãnh nhận bí tích Thêm sức, là bí tích trưởng thành Kitô Giáo ( Christian maturity) để nhờ đó người tín hữu biết sống đức tin và làm nhân chúng cho Chúa Kitô trong trần cách hữu hiệu. Nói rõ hơn, nếu không có ơn khôn ngoan soi sáng của Chúa Thánh Thần thì Giáo Hội không thể đứng vững, tăng trưởng, và hoàn hảo hơn như ngày nay được.
Vì thế, thật cần thiết cho mọi người tìn hứu chúng ta phải xin Chúa Thánh Linh ban cho ơn quí giá này.
Xưa kia Vua Sa-lô-môn, con vua Đavit, chỉ xin Chúa cho được thần trí khôn ngoan và ca tụng ơn quí trọng này như sau:
" Vậy tôi nguyện xin, và Thiên Chúa đã ban cho tôi sự hiểu biết
Tôi kêu cầu và thần khí Đức Khôn Ngoan đã đến với tôi
Đức Khôn Ngoan tôi đã quí trọng
còn hơn cả vương trượng, ngai vàng
đối với tôi, trân châu bảo ngọc
chẳng sánh được với Đức Khôn ngoan
Và vàng trên cả thế giới, so với Đức Khôn Ngoan
Cũng chỉ là cát bụi.
Và bạc, so với Đức Khôn Ngoan
Cũng chỉ là cát bụi. ( Kn 7: 7-9)
Nhà vua không xin Thiên Chúa cho ông được giầu sang, vinh hiển mà chỉ xin cho được ơn hiểu biết và khôn ngoan để cai trị một dân đông đúc "không đếm nổi" 'Và Thiên Chúa đã nhậm lời khẩn cầu của Vua Salômôn và phán bảo ông như sau:
" Ta ban cho ngươi một tâm hồn khôn ngoan minh mẫn, đến nỗi,
Trước ngươi chẳng một ai sánh bằng , và sau ngươi, cũng chẳng có
Ai bì kịp." ( 1 V 3: 12)
Với ơn khôn ngoan hiếm có trên đây, vua Sa lô môn đã trỗi vượt hơn " tất cả mọi người Phương Đông và hơn tất cả sự khôn ngoan của Ai Cập." ( Sđd 5: 10) khiến người khắp nơi kéo đến để được nghe những lời khôn ngoan của Vua.
Đức khôn ngoan đó chính là phương thế mà Thiên Chúa dùng để điều khiển vũ trụ và sự sống của con người trên trần thế này. Nghĩa là mọi trật tự trên trời dưới đất, mọi sự sinh tồn của vạn vật, từ loài người cho đến hoa lá cỏ cây và mọi loài động vật khác, đều được quan phòng trong sự khôn ngoan tuyệt đối của Thiên Chúa là Vua vũ trụ. là Đấng Tạo Hóa toàn năng, thượng trí.
Cho nên, là tạo vật có lý trí và ý muốn tự do ( free will), con người – cách riêng người tín hữu Chúa Kitô- được mong đợi sống sao cho phù hợp với sự khôn ngoan của Thiên Chúa để được hạnh phúc ngay trong cuộc sống trên trần gian này , và nhất là được sống hạnh phúc vinh cửu trên Nước Trời mai sau.
Nhưng muốn được khôn ngoan theo Chúa thì phải từ bỏ khôn ngoan của loài người.
Thí dụ cụ thể là trong Tin Mừng Thánh Matthêu, Chúa Giê su nói cho các môn đệ biết là Người sẽ phải chịu nhiều đau khổ, bị phản bội, bị bắt bớ và bị giết chết trên thập giá trước khi được sống lại vinh quang. Nghe thế, Phêrô, môn đệ đã tuyên xứng Chúa là Đấng Kitô trước đó, bèn kéo Chúa ra ngoài và thưa với Người rằng : " Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp những chuyện ấy."
Chúa đã trả lời Phê rô như sau: " Xa tan, lui ra đằng sau Thầy. Anh cản lối Thầy ,vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa mà là của loài người." ( Mt 16: 22-23; Mc 8: 31-33)
Phêrô can ngăn Chúa vì đã hành động đúng theo khôn ngoan của loài người. Với khôn ngoan này, không ai muốn chịu sự gì khốn khó như bệnh tật, nghèo đói, bị khinh chê, lăng mạ hay hành hung. Ai cũng muốn được giầu có, danh vọng và khỏe mạnh, trẻ mãi không già. Chính vì thế mà con người ở khắp mọi nơi và mọi thời đại, đã và đang mải mê đi tìm tiền của, danh vọng và mọi thú vui theo đòi hỏi của bản năng, dù là trái với luân lý đạo đức. Nghĩa là phải khôn ngoan để thu được càng nhiều thắng lợi về tiền bạc, của cải , danh vọng và vui thú càng tốt.
Cụ thể ở Mỹ, thời ông Bill Clinton còn ở làm tổng thống, để gây quĩ cho ông, ông đã dùng cả tiểu sảo là đặt giá 5000 đôla ( năm ngàn) cho ai muốn vào ngủ một đêm ở Nhà Trắng ( White House= Dinh Thổng Thống), và 10000 ( mười ngàn) đô cho ai vừa ngủ và ăn sáng với Tổng Thống ! vậy mà có biết bao người đã hưởng ứng để mua cái vui và danh hảo huyền này ! Chưa hết, khi công nương Diana của Nước Anh ( bị tai nạn xe hơi chết ở Paris năm 1997) đến viếng Nữu Ước, có người đã bỏ ra cả 100,000 ( trăm ngàn) đô la để chỉ xin được ngồi gần công nương trong bữa tiệc thành phố mừng cô dịp này !.( theo tiết lộ của báo chí Mỹ) .
Nhưng có ai chịu bỏ ra số tiền tương tự để tổ chức một bữa ăn cho người nghèo, người vô gia cư ( homeless) ở các đô thị đâu !
Đó là danh vọng và lợi lãi mà biết bao người sống với khôn ngoan của con người đang đi tìm ở khắp nơi trên thế giới xưa và nay.
Và với não trạng này, thì sự kiện Chúa Giêsu sinh ra trong hang lừa máng cỏ giữa mùa đông giá lạnh và chết trần trụi trên thập gia là điều ô nhục , là điên rồ và thất bại theo khôn ngoan của loài người. Nhưng theo Thánh Phaolô dạy thì " cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người." ( 1 Cr 1 : 25)
Chính vì Chúa " diên rồ và dại dột" xét theo khôn ngoan của con người, mà nhân loại được tha tội và cứu chuộc để có hy vọng được sống hạnh phúc vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau.
Lại nữa , cũng chính vì không khôn ngoan như con người, nên Chúa Giêsu " Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được trở nên giầu có." Thiên Quốc trên như Thánh Phaolô đã dạy. ( 2 Cr 8:9)
Chưa hết, Mẹ Tê –rê- Xa ( nay là Chân Phước= Blessed) thành Calcutta cũng đã chiu " ngu dại" theo khôn ngoan của con người để ôm lấy những người nghèo đói nằm vất vưởng ngoài đường phố để mang về săn sóc , thuốc men và cho ăn uống trong Tu viện bác ái của Mẹ. Nhưng việc "dại khờ" của Mẹ đã chính phục được sự khâm phục và yêu mến của biết bao người trên khắp thế giới, và nhiều người ngoại đã được ơn nhận biết Chúa qua gương sống chứng nhân bác ái của Mẹ và các nữ tu của Mẹ
Trái nghich với khôn ngoan của Thiên Chúa thể hiện nới Chúa Kitô, Đức Mẹ . các Thánh, đặc biệt, nơi các anh hùng Tử Đạo, và Mẹ Tê rê Xa...khôn ngoan của con người ở khắp nơi là ham mê đi tìm tiền của, danh vọng và mọi cách để được sống lâu và trẻ mãi không già. Nên- cách riêng phụ nữ- đã và đang thi nhau đi sửa sắc đẹp cho thân hình thêm " hấp dẫn và quyến rũ" để làm giầu cho các viện thẩm mỹ ở trong và ngoài nước , mặc dù có thể chuốc lấy tai họa cho mình. vì có biết bao người đã chết và mang bệnh ung thư vì hậu quả sửa sắc đẹp ! Ngoài ra, người ta cũng nô nức đi tìm các loại dược thảo giúp chống lão hóa, chống suy thoái, làm sáng da , mọc tóc v.v , chứ có ai mở tiệm hay đi tìm nơi sửa chữa tâm hồn cho ngay thẳng, cho thơm tho trong sạch và xinh tươi đáng cho Chúa ưa nhìn và yêu mến đâu ?
Với những người sống theo khôn ngoan của thế gian để đi tìm tiền của, danh vọng và "sửa sắc đẹp" cho thân xác có ngày phải chết đi này, xin hãy mở tai nghe lời khuyên dạy của Thánh Phao lô sau đây:
",,,,Nếu trong anh em có ai tự cho mình là khôn ngoan theo thói đời, thì hãy trở nên như điên rồ để được khôn ngoan thật. Vì sự khôn ngoan của đời này là sự điên rồ trước mặt Thiên Chúa, như có lời chép rằng : Chúa bắt được kẻ khôn ngoan bằng chính mưu gian của chúng. Lại có lời chép răng : tư tưởng kẻ khôn ngoan, Chúa đều biết rõ : thật chỉ như cơn gió thoảng ngoài." ( 1 Cr 3: 18-20).
Như vậy , nếu muốn sống theo khôn ngoan của Thiên Chúa, thì " đừng lo tìm cho có gì để ăn có gì để uống và đừng băn khoăn. Vì tất cả những thứ đó, dân ngoại trên thế gian vẫn tìm kiếm; nhưng Cha của anh em thừa biết anh em cần những thứ đó, Vậy hãy lo tìm Nước của Người , còn các thứ kia Người sẽ thêm cho." ( Lc 12: 29-31)..
Và cũng trong mục đích phải tìm kiếm sự sang giầu bền vững mãi mãi theo khôn ngoan của Thiên Chúa, Chúa Giêsu cũng dạy các môn đệ xưa và tất cả chúng ta ngày nay là : " hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được."( Lc 13: 24). Nghĩa là đừng khôn ngoan theo người đời để đi tìm những của cải, danh vọng và vui thú chóng qua ở đời này mà "hãy săm lấy những túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén bảng, mối mọt cũng không đục phá.". ( Lc 12: 33)
Sắm những báu vật ở trên trời, và quan tâm đúng mức đến phần rỗi của mình là sự khôn ngoan mà người tín hữu chúng ta phải kiếm tìm trên hết mọi sự ,vì " nếu người nào được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống ( mất linh hồn) thì nào có có lợ gì ? hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình ?" ( Mt 16: 26; Mc 8: 36; Lc 9 : 25)
Thử hỏi : có ai được cả thế giới này làm lợi lãi đâu, mà cho dù có chiếm được mọi sự trên trần gian này mà mất linh hồn thì được ích gì ? ai có thể sống mãi trên đời này để hưởng mọi lợi lãi thu được đâu ? Đó là sự ngu ngốc của một phú hộ kia , ngây thơ sống với khôn ngoan của người đời nên đã cho xây nhà lớn để tích trữ của cải lương thực để " cứ ăn chơi cho đã" . Nhưng Chúa bảo ông ta : Đồ ngốc ! nội đêm nay , người ta sẽ đòi lại mạng ngươi thì những gì ngươi sắm sẵn đó, sẽ về tay ai ? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình mà không lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa thì số phận cũng như thế đó." ( Lc 12: 20-21)
Đó là sự khôn ngoan mà Thiên Chúa muốn cho chúng ta tìm kiếm để sống niềm tin có Chúa, có hạnh phúc đời đời đã dọn sẵn cho những ai yêu mến Chúa trên hết mọi sự trong trần thế này .Nói thế không có nghĩa là chúng ta không được phép tìm tiền bạc để chi dùng cho những nhu cầu chính đáng của thân xác như cơm ăn, áo mặc, nhà ở và phương tiện di chuyển, bảo hiểm sức khỏe cho mình và cho gia đình thân thuộc.Ngược lại, chúng ta phải cố gắng làm việc cách lương thiện để có phương tiện thỏa mãn những nhu cầu chính đáng nói trên.
Nhưng trên hết, phải sống và chân quí cái khôn ngoan mà tác giả sách Châm Ngôn đã viết như sau:
" Hạnh phúc thay, người được trí khôn ngoan
Cũng như người được tài phán đoán
Vì được khôn ngoan thì hơn được bạc
Được hưởng lợi ích của khôn ngoan thì hơn được vàng
Khôn ngoan quý hơn cả trân châu
Không bảo vật nào của con so sánh nổi." ( Châm ngôn 3: 13-15)
Tóm lại, là người tín hữu Chúa Kitô sống trong một thế giới ngày một thêm tục hóa, phi nhân và vô luân hiện nay, chúng ta được mong đợi chê ghét cái khôn ngoan của người đời, để sống cái khôn ngoan của Thiên Chúa để không những mưu ích cho phần rỗi của mình mà cũng để lôi kéo những người đang chạy theo khôn ngoan của con người say mê tiền của, danh vọng và vui thú vô luân vô đạo trong khi dửng dưng với người nghèo khó, người đau khổ là nạn nhân của các chế độ tàn ác, bóc lột và bất công ở khắp nơi trên thế giới điên loạn hiện nay.
Lm Phanxi cô xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 125 = DAN SO CONG GIAO PDF Print E-mail

Dân số Công giáo tăng đáng kể tại Trung Đông
Người lao động nhập cư đông giúp tăng dân số Công giáo
Tags: Công giáo, Hồi giáo, Trung Đông

March 14, 2014

John L. Allen Jr. Cho Boston Globe

Dân số Công giáo tăng đáng kể tại Trung Đông thumbnail
Vua Hamad bin Lsa Al Khalifah của Bahrain đồng ý hiến đất xây nhà thờ Công giáo lấy tên là nhà thờ "Đức Bà Ảrập" (Ảnh: Boston Globe

Từ câu "không phải là điều bạn có thể nghĩ tới", đây là một sự thật về đạo Công giáo vào đầu thế kỷ 21 hoàn toàn đi ngược lại với những gì người ta thường nói: nó đang phát triển rất nhanh giữa lòng thế giới Hồi giáo.

Nhiều người Mỹ từng nghe kể hay đọc các bản tin nói về việc Kitô hữu di cư khỏi Trung Đông, và về mặt dân số Kitô hữu Ảrập bản địa điều đó hoàn toàn đúng. Kitô hữu hiện nay chỉ chiếm 5% dân số trong vùng này, giảm 15% so với cách đây một thế kỷ. Tại những nơi như Iraq, các cộng đồng Kitô hữu đang trên bờ biến mất.

Thế nhưng, bán đảo Ảrập ngày nay không thể ngờ là mình đang chứng kiến một trong những con số người Công giáo tăng mạnh nhất so với các nơi khác trên thế giới. Có được tốc độ tăng trưởng này không phải do người Ảrập trở lại đạo mà là do người nước ngoài đến đây làm lao động chân tay và ôsin, và vùng này ngày càng cần họ.

Người Ấn Độ, Hàn Quốc, Pakistan, Philippines, Sri Lanka và những người mang quốc tịch khác đang trở thành người lao động nghèo mới trong một số xã hội giàu có nhất thế giới này.

Kết quả là số người Công giáo trên bán đảo này nằm ở khoảng 2,5 triệu người. Kuwait và Qatar có khoảng 350.000-400.000 người Công giáo sinh sống, Bahrain có khoảng 140.000 người và riêng Ảrập Saudi có 1,5 triệu người.

Mặc dù gặp ba điều bất lợi là nghèo khổ, thiếu quyền công dân, và thuộc tôn giáo thiểu số vốn thường bị coi thường, những người nhập cư này đang cố gắng cắm rễ cho đức tin của mình, và đã có một số thành quả bất ngờ.

Gần đây, Vua Hamad bin Isa Al Khalifah của Bahrain đồng ý hiến đất để xây nhà thờ Công giáo, lấy tên là nhà thờ "Đức Bà Ảrập", dùng làm nhà thờ chính tòa của giáo phận Bắc Ảrập. Do không có nhà thờ, cho đến nay người lao động nhập cư muốn đi lễ thường đến các đại sứ quán phương Tây, đặc biệt là đại sứ quán Ý, hay tập trung tại nhà riêng hay ở sân công ty dầu nước ngoài.

Đức Giám mục người Ý Camillo Ballin, thành viên 69 tuổi của dòng thừa sai Comboni, dẫn dắt cộng đồng Công giáo đang phát triển nhanh này. Ngài sang Mỹ vào đầu tháng 3 để quyên tiền xây nhà thờ chính tòa, được ngài ước tính mất khoảng 30 triệu Mỹ kim. Ngài nói chuyện với tờ Globe trong chuyến đi này. Đức cha Ballin gọi quyết định này ở Bahrain là "một dấu hiệu đối thoại tốt đẹp, các nước khác cần noi theo".

Mặc dù Đức cha Ballin gặp phải tình huống khó khăn khi nói về tình hình của giáo dân mình, ngài không hề giấu việc ngài sống trong một nơi khó khăn nhất trên thế giới đối với Kitô hữu.

"Cải đạo hay áp đặt Hồi giáo không phải là chính sách của chính phủ ở những nước này. Nhưng những áp lực đó thường nằm nơi cá nhân và các phong trào Hồi giáo cực đoan", ngài phát biểu.

Đức cha Ballin kể đôi khi người lao động Kitô hữu được hứa trả lương cao hơn hay cho hưởng các bổng lộc khác nếu họ cải đạo, và họ thường bị ép làm việc theo lịch gần như không thể tham dự lễ Chúa nhật được.

Dựa trên các thực tại đó, ngài thừa nhận xây nhà thờ là một vấn đề khó khăn. Vì tính nhạy cảm của người Hồi giáo, nhà thờ chính tòa mới này sẽ không đặt thánh giá trên đỉnh hay có bất kỳ biểu tượng Kitô giáo nào bên ngoài, ngài cho biết.

"Trong thế giới Ảrập nói chung, đây là thời điểm hết sức cuồng tín. Chúng tôi không muốn khiêu khích những kẻ cuồng tín bằng cách tự biến mình thành mục tiêu", Đức cha Ballin nói.

Đức cha Ballin nói dù sao thì biểu hiện bên ngoài cũng chỉ là thứ yếu.

"Là Kitô hữu, đeo thánh giá là quan trọng, nhưng không cần thiết. Điều quan trọng là làm chứng bằng đời sống của chúng ta, là Kitô hữu chúng ta là con của một Cha yêu thương hết mọi người", ngài nói.

Đức cha Ballin còn thừa nhận trong khi một số nước vùng vịnh có thể dễ dãi, Ảrập Saudi vẫn còn cấm xây nhà thờ phục vụ cộng đồng Công giáo thiểu số ở đó.

"Người Hồi giáo dạy rằng cả nước này là đền thờ Hồi giáo lớn, và họ nói anh không thể xây nhà thờ bên trong đền thời Hồi giáo", ngài nói.

Đức cha Ballin không muốn bàn luận nhiều về câu nói đó, ngài chỉ nói "vào ngày chúng tôi có thể xây nhà thờ ở Ảrập Saudi sẽ là một ngày vẻ vang không chỉ đối với người Ảrập Saudi mà còn đối với cả thế giới".

Bất kỳ người nào mong muốn tránh xung đột giữa các nền văn minh cần cầu nguyện xin cho sự gia tăng dân số Kitô hữu nơi đây tạo ra cầu nối với Hồi giáo và không để xảy ra bạo lực nữa.

Nguồn: Boston Globe

 
HOC HOI DE SONG DAO # 124 = XET MINH THEO IO DIEU RAN PDF Print E-mail

Xét mình theo 10 điều răn- Trầm Thiên Thu
Hong Nguyen chuyển
Mar 9-14
Làm việc gì cũng phải chuẩn bị, việc càng quan trọng càng phải chuẩn bị kỹ lưỡng, huống chi lúc chúng ta sắp sửa ra trước "vành móng ngựa" để tự thú tội lỗi trước mặt Chúa và cầu xin Ngài thương tha thứ. Xét mình là tự kiểm điểm linh hồn xem mình đã có những động thái sai trái nào, rồi khiêm nhường nhìn nhận, quyết tâm ăn năn và cố gắng chấn chỉnh.
Có những động thái chúng ta cảm thấy "bình thường", tưởng rằng vô hại, thế nhưng lại là những ngẫu tượng nguy hại cho đời sống tâm linh đấy. Hãy ghi nhớ: Đừng bao giờ "dễ dãi" với chính mình!
Lãnh nhận Bí tích Hòa giải là đón nhận ơn thứ tha từ lòng thương xót của Thiên Chúa. Đây là 6 bước cần làm:

1. Xét xem mình đã phạm tội gì kể từ lần xưng tội trước.

2. Thành tâm ăn năn tội.

3. Thú tội với linh mục.

4. Chắc chắn đã xưng các tội trọng và số lần đã phạm.

5. Sau khi xưng tội, hãy làm việc đền tội.

6. Hằng ngày cầu xin thêm sức mạnh để tránh các dịp tội, nhất là những tội mà bạn vừa xưng thú.
KINH ĂN NĂN TỘI

Lạy Chúa, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Chúa đã dựng nên con, và cho Con Chúa ra đời, chịu nạn chịu chết vì con, mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì con đau buồng lo lắng, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự, con dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa, thì con sẽ lánh xa dịp tội, cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen.
ĐIỀU RĂN 1: "Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai-cập, khỏi cảnh nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta" (Xh 20:2-3).

+ Tôi có nghi ngờ hoặc không tin Thiên Chúa hiện hữu?

+ Tôi có không tin những gì Thiên Chúa mặc khải cho chúng ta?

+ Tôi có tin bói toán, chỉ tay (palmistry), tử vi, chiêm bao, mê tín, dị đoan, bùa ngải, xem quẻ, đầu thai, nhập hồn, cầu cơ (Ouija boards)?

+ Tôi có không dám tỏ ra mình là người Công giáo?

+ Tôi có chối bỏ đức tin Công giáo?

+ Tôi có dành thời gian cầu nguyện với Chúa hằng ngày?

+ Tôi có yêu mến Chúa hết lòng?

+ Tôi có thất vọng hoặc mạo nhận về lòng thương xót của Chúa?

+ Tôi có thờ ngẫu tượng như thầy cúng, mê tiền bạo, nghiện ma túy, ham rượu chè, mê danh vọng, khoái lạc thú, mê ti-vi, nghiện máy vi tính, ham vật chất,...?
ĐIỀU RĂN 2: "Ngươi không được dùng danh Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, một cách bất xứng, vì Đức Chúa không dung tha kẻ dùng danh Người một cách bất xứng" (Xh 20:7).

+ Tôi có phỉ báng hoặc xúc phạm Thiên Chúa?

+ Tôi có kêu tên Chúa vô cớ?

+ Tôi có nguyền rủa người khác, nuốt lời hứa, hoặc lỗi lời khấn?

+ Tôi có trách giận Thiên Chúa?
ĐIỀU RĂN 3: "Ngươi hãy nhớ ngày Sa-bát, mà coi đó là ngày thánh" (Xh 20:8).

+ Tôi có bỏ lễ Chúa Nhật hoặc lễ buộc vì lười biếng?

+ Tôi có đi lễ đúng giờ, hoặc bỏ về sớm?

+ Tôi có làm việc vào ngày Chúa Nhật khi không thực sự cần thiết?

+ Tôi có dành ngày Chúa Nhật để thờ phượng Chúa, để nghỉ ngơi và dành thời gian cho gia đình?

+ Tôi có tin và cung kính Chúa Giêsu hiện diện thật trong Bí tích Thánh Thể?
ĐIỀU RĂN 4: "Ngươi hãy thờ cha kính mẹ" (Xh 20:12).

+ Tôi có cãi lời hoặc không tôn trọng cha mẹ hoặc bề trên?

+ Tôi có bỏ nhiệm vụ đối với cha mẹ, vợ chồng, con cái, hàng xóm, cộng đồng?

+ Tôi có xao nhãng việc giáo dục và nuôi dưỡng con cái?

+ Tôi có tìm hiểu và tuân phục các giáo huấn của Giáo hội?

+ Tôi có làm nói điều không hay hoặc làm gương xấu, nhất là đối với trẻ em?

+ Tôi có làm cho người khác mất đức tin?

+ Tôi có gây căng thẳng, làm xáo trộn gia đình?

+ Tôi có quan tâm nâng đỡ người già, người bệnh, người yếu đuối?

+ Tôi có làm việc đúng mức để nhận lương bổng xứng công?

+ Tôi có trả lương phù hợp cho người được thuê làm việc?
ĐIỀU RĂN 5: "Ngươi không được giết người" (Xh 20:13).

+ Tôi có giết người hoặc làm hại ai về thể lý?

+ Tôi có phá thai hoặc bảo người khác bỏ thai? (Ai làm vậy là tự động bị vạ tuyệt thông, Giáo luật 1398. Vạ tuyệt thông này được tha qua Bí tích Hòa Giải).

+ Tôi có dùng biện pháp ngừa thai nhân tạo?

+ Tôi có ý muốn tự tử?

+ Tôi có góp phần vào việc "an tử" (làm chết êm dịu – mercy killing, euthanasia)?

+ Tôi có tức giận, thiếu kiên nhẫn, ghen tỵ, không tử tế, kiêu ngạo, trả thù, ghen tương, lười biếng, thù hận?

+ Tôi có làm gương xấu bằng cách lạm dụng ma túy, nghiện rượu, cãi nhau, ẩu đả,...?
ĐIỀU RĂN 6 & 9: "Ngươi không được ngoại tình" (Xh 20:14) và "Ngươi không được ham muốn vợ người ta" (Xh 20:17).

Chúa Giêsu cảnh báo: "Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5:28). Thánh Phaolô xác định: "Những kẻ dâm đãng, thờ ngẫu tượng, ngoại tình, truỵ lạc, kê gian, những kẻ trộm cướp, tham lam, say sưa rượu chè, quen chửi bới, sẽ không được Nước Thiên Chúa làm cơ nghiệp" (1 Cr 6:9-10).

+ Tôi có ý nghĩ hoặc ham muốn nhục dục?

+ Tôi có nói những lời dâm đãng, kể chuyện tục tĩu, thích nghe/đọc chuyện "bẩn" hoặc xem hình ảnh "đen"?

+ Tôi có lỗi đức trong sạch bằng cách thủ dâm (tự sướng)?

+ Tôi có lỗi đức trong sạch với người khác – sống thử, ngoại tình (với người đã kết hôn), gian dâm hoặc thông dâm (với người chưa kết hôn)?

+ Tôi có dùng biện pháp tránh thai nhân tạo?

+ Tôi có tránh những dịp lỗi đức trong sạch?

+ Tôi có cố gắng kiểm soát tư tưởng của tôi?

+ Tôi có "dính líu" hoạt động tình dục đồng giới?

+ Tôi có tôn trọng người khác phái, có coi người khác như đồ vật?

+ Tôi có làm cho người khác mất khả năng sinh sản?
ĐIỀU RĂN 7 & 10: "Ngươi không được trộm cắp" (Xh 20:15) và "Ngươi không được ham muốn bất cứ vật gì của người ta" (Xh 20:17).

+ Tôi có ăn trộm, ăn cướp, lừa dối, đồng lõa hoặc tiêu thụ đồ ăn cắp? Tôi có trả lại đồ ăn cắp, đồ nhặt được?

+ Tôi có hoàn tất hợp đồng, có nhận hối lộ, thanh toán chi phiếu, cờ bạc, gian lận?

+ Tôi có lãng phí thời gian?

+ Tôi có ghen tỵ hoặc ham muốn đồ của người khác?

+ Tôi có làm việc lương thiện để sinh sống?
ĐIỀU RĂN ĐIỀU RĂN 8: "Ngươi không được làm chứng gian hại người" (Xh 20:16).

+ Tôi có ăn gian, nói dối?

+ Tôi có ăn chặn hoặc lừa đảo người khác?

+ Tôi có thề gian hoặc khai man?

+ Tôi có nói hành, nói xấu người khác?

+ Tôi có làm lộ bí mật điều phải giữ bí mật? Với linh mục: Tôi có lỗi ấn tòa giải tội?
CÁC TỘI KHÁC

+ Tôi có giữ luật chay ngày Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh?

+ Tôi có kiêng thịt các ngày Thứ Sáu trong Mùa Chay?

+ Tôi có rước lễ trong Mùa Phục Sinh?

+ Tôi có rước lễ khi mắc tội trọng, hoặc không giữ chay (60 phút) trước khi rước lễ?

Thánh Phaolô nói: "Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. Thật vậy, ai ăn và uống mà không phân biệt được Thân Thể Chúa, là ăn và uống án phạt mình" (1 Cr 11:27-29). Vì thế, nếu chúng ta rước lễ khi đang mắc tội trọng, thì chúng ta phạm tội trọng – tội phạm thánh (sacrilege).

Hãy thành tâm sám hối và thân thưa: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi" (Lc 18:13). Chính Chúa đã mời gọi: "Hãy đến đây, ta cùng nhau tranh luận! Tội các ngươi, dầu có đỏ như son, cũng ra trắng như tuyết; có thẫm tựa vải điều, cũng hoá trắng như bông" (Is 1:18).

Thánh Gioan nói: "Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta, và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính" (1 Ga 1:9).

Ơn tha thứ vô cùng, lòng thương xót của Chúa bao la: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23:34). Vì thế, chúng ta đừng ngần ngại, hãy thành tâm sám hối và không ngừng cầu xin: "Xin tha tội cho chúng con, vì chính chúng con cũng tha cho mọi người mắc lỗi với chúng con, và xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ" (Lc 11:4).

Mùa Chay này, tôi đã "chay" (kiêng cữ hoặc từ bỏ cái gì đó) được gì chưa? Và tôi đã "tịnh" (không nói bậy, nói nhảm, nói nhiều, nghĩ quấy, nghĩ xấu,...) được gì chưa?
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ ScBorromeo.org)

Mùa Chay – 2014

 
HOC HOI DE SONG DAO # 123 = SO 7 THEO TU NHIEN PDF Print E-mail


Mar 7 at 5:12 PM

Hồng chuyển

Số 7 kỳ diệu

SỐ 7 THEO TỰ NHIÊN

Số 7 là số tự nhiên đứng ngay sau số 6 và ngay trước số 8. Số 7 là con số may mắn của người Nhật. Bình phương của 7 là 49. Căn bậc hai của 7 là 2,645751311. Số 7 là số nguyên tố đặc biệt, nghĩa là nó chỉ chia hết cho 1 và chính nó. Nó cũng là số nguyên tố Mersenne (*).Theo toán học cơ bản, số 7 là một số lẻ mà nếu lấy 999.999 chia 7 sẽ được 142.187 (chữ số tận cùng lại là 7).

Thể thao cũng "dính líu" số 7. Trong môn bóng ném, mỗi đội hình gồm 7 người, họ cùng thi ném và chuyền bóng về phía khung thành của đối phương để ghi bàn. Từ năm 1917 đến nay, bóng ném có luật phạt đền 7m, tương tự như phạt đền trong bóng đá (túc cầu).

Giáo sư tâm lý học George Miller (Hoa Kỳ) nghiên cứu về não người thấy rằng trí nhớ con người trưởng thành gồm khoảng 7 thành tố – nghĩa là một người trưởng thành chỉ có thể nhớ được khoảng 7 con số hoặc 7 chữ cái sau khi xem qua một loạt số hoặc chữ cái ngẫu nhiên trong một khoảng thời gian ngắn. Do đó, ông gọi "trí nhớ ngắn hạn" của con người là "số 7 bí ẩn". Số 7 xuất hiện trong nhiều lĩnh vực của đời sống, ngay cả nghi lễ của Lão giáo cũng dùng 7 thanh gươm (thất kiếm) để trừ tà ma.

Về thuật phong thủy, số 7 được coi là có sức mạnh kỳ diệu. Nếu có 7 đồ vật được bài trí trong nhà thì sẽ tạo sức mạnh kỳ bí khiến ma quỷ không thể xâm nhập hoặc gây "xúi quẩy" cho chủ nhà. Việt ngữ có từ "nội thất" để chỉ đồ vật trong nhà. Phải chăng chữ "thất" (bảy, khác với chữ "thất" có nghĩa là "mất") đó hàm ý 7 đồ vật trong nhà?

Về nghệ thuật, người ta sáng tạo ra 7 loại hình nghệ thuật nền tảng: Điêu khắc, Hội họa, Âm nhạc, Múa, Văn chương, Sân khấu, Điện ảnh – do đó, điện ảnh được gọi là "nghệ thuật thứ bảy".

Âm nhạc có 7 nốt nhạc: Đô, rê, Mi, Pha, Son, La, Si. Văn học có những tác phẩm đặc sắc "liên quan" số 7: Những (7) cuộc phiêu lưu của thuyền trưởng Sinbad, cổ tích nàng Bạch Tuyết và 7 chú lùn,...

Trong vật lý, triết gia Aristole (384 – 322 trước công nguyên, Hy Lạp) và giới nghệ thuật thời Phục hưng đều đồng ý có 7 màu cơ bản cho việc phối màu. Bác học Isaac Newton (thế kỷ 17), cha đẻ thuyết trọng lực và vật lý quang học, xác định cầu vồng có 7 màu cơ bản: Đỏ, Cam, Vàng, Xanh lá, Xanh dương, Chàm, và Tím.

Theo "quy ước" chung, người ta đồng ý xác nhận có 7 kỳ quan thế giới cổ xưa gồm: Khu lăng mộ Giza, Vườn treo Babilon, Tượng thần Zeus ở Olympia, Đền Artemis, Lăng mộ Mausolus, Tượng thần Mặt Trời ở Rhodes, Ngọn hải đăng Alexandria; 7 kỳ quan thế giới mới được công bố vào thứ Bảy, ngày 7-7-2007 gồm: Bán đảo Yucatan (Mexico), Tượng Chúa Kitô (Brazil), Vạn lý Trường thành (Trung Hoa), Pháo đài Machu Picchu (Peru), Thành cổ Petra (Gio-đan), Đấu trường La Mã (Ý), Đền Taj Mahal (Ấn Độ); 7 đại dương, 7 ngày trong tuần, thậm chí là địa danh "Bảy Núi" (Thất Sơn, An Giang) và phim "Bảy Tội Ác" (1995, đạo diễn David Fincher).

Sự xuất hiện của số 7 trong nhiều lĩnh vực đời sống như vậy không biết là sự ngẫu nhiên? Cũng có thể số 7 có một sức "quyến rũ kỳ lạ" mang tính huyền bí nào đó mà phàm nhân chúng ta không thể biết được.

SỐ 7 THEO TÔN GIÁO

Theo truyền thống Công giáo, các Giáo phụ liệt kê "BẢY mối tội đầu". Năm 604 (sau công nguyên), ĐGH Grêgôriô I chính thức xếp thành 7 loại, tương ứng với tên của bảy con quỷ đầu sỏ trong Hỏa ngục, đối nghịch với BẢY Tổng lãnh Thiên thần trên Thiên đàng. Năm 1589, tu sĩ Peter Binsfield (Dòng tên) liệt kê cụ thể như sau:

1. Lucifer – tội kiêu ngạo.

2. Mammon – tội hà tiện.

3. Asmodeus – tội dâm dục.

4. Satan – tội hờn giận, thù hằn.

5. Beelzebub – tội mê ăn uống.

6. Leviathan – tội ghen ghét, đố kỵ.

7. Belphegor – tội lười biếng thờ phượng Chúa.

Để đối lại "BẢY mối tội đầu", chúng ta có BẢY nhân đức – gọi là "cải tội BẢY mối":

1. Khiêm nhường chớ kiêu ngạo.

2. Rộng rãi chớ hà tiện.

3. Giữ mình sạch sẽ chớ mê dâm dục.

4. Hay nhịn chớ hờn giận.

5. Kiêng bớt chớ mê ăn uống.

6. Yêu người chớ ghen ghét.

7. Siêng năng việc Đức Chúa Trời chớ làm biếng.

Về nhân đức yêu thương (đức ái), chúng ta có "thương xác BẢY mối" và "thương linh hồn BẢY mối". Toàn là số 7, những con số 7 kỳ lạ thật!

Cựu ước nhắc đến số 7.

Khi Thiên Chúa nhắc nhở về việc dâng của lễ: "Phải dâng tinh bột lúa miến nhào với dầu làm lễ phẩm: khi dâng mỗi con bò thì dâng mười ba lít rưỡi, khi dâng con cừu đực thì dâng chín lít; mỗi lần dâng một con chiên trong số BẢY con, thì dâng bốn lít rưỡi" (Ds 28:20-21).

Hai lần nói thế này: "Anh em sẽ dâng như thế mỗi ngày trong suốt BẢY ngày: đó là lương thực, là hoả tế, là lễ vật nghi ngút hương thơm, làm thoả lòng Đức Chúa, kèm theo lễ toàn thiêu thường tiến và lễ tưới rượu. Ngày thứ bảy, anh em sẽ phải tập hợp để thờ phượng Đức Chúa, anh em không được làm một việc nặng nhọc nào" (Ds 28:24-25; Ds 28:28-29).

Và hai lần nói thế này: "Phải dâng tinh bột lúa miến nhào dầu làm lễ phẩm: khi dâng con bò, thì dâng mười ba lít rưỡi; khi dâng con cừu đực thì dâng chín lít, và khi dâng mỗi con chiên trong số BẢY con, thì dâng bốn lít rưỡi" (Ds 29:3-4; Ds 29:9-10).

Tân ước cũng nói đến số 7.

Trong Mt 22:23-33, người Xa-đốc không tin có sự sống lại nên họ "gài bẫy" Chúa Giêsu về việc MỘT phụ nữ lần lượt lấy cả BẢY anh em trai mà vẫn không có con nối dõi tông đường. Nhưng Chúa Giêsu bảo: "Các ông lầm, vì không biết Kinh Thánh, cũng chẳng biết quyền năng Thiên Chúa. Quả thế, trong ngày sống lại, người ta chẳng lấy vợ lấy chồng, nhưng sẽ giống như các thiên thần trên trời. Còn về vấn đề kẻ chết sống lại, thì các ông không đọc lời Thiên Chúa đã phán cùng các ông sao? Người phán: Ta là Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác và Thiên Chúa của Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống". Ai cũng kinh ngạc khi nghe Chúa Giêsu dạy như vậy.

Sách Khải Huyền nói tới "BẢY thiên thần mang BẢY chén" (Kh 17:1a), rồi một vị đến bảo Thánh Gioan: "Lại đây, tôi sẽ chỉ cho ông thấy Con Điếm khét tiếng, đang ngồi bên những làn nước mênh mông, bị xét xử như thế nào. Vua chúa trần gian đã làm chuyện gian dâm với nó, và những người sống trên mặt đất đã say vì thứ rượu là sự gian dâm của nó" (Kh 17:1b-2).

Nói về Con Thú và Con Điếm: "Bấy giờ thiên thần bảo: 'Sao lại ngạc nhiên? Tôi sẽ nói cho ông hay ý nghĩa huyền bí của người đàn bà và của Con Thú nó đang cỡi, là Con Thú BẢY đầu mười sừng. Con Thú ông vừa thấy, nó đã có nhưng không còn nữa. Nó sắp từ Vực Thẳm đi lên và đang tới chỗ diệt vong. Các người sống trên mặt đất, mà từ thuở tạo thiên lập địa không được ghi tên trong Sổ Trường Sinh, sẽ ngạc nhiên khi thấy Con Thú, vì nó đã có, nó không còn nữa, nhưng sẽ trở lại. Đây là lúc cần phải có trí thông minh cùng với sự khôn ngoan. BẢY đầu là BẢY quả núi trên đó người đàn bà ngồi. Năm vua đã đổ, một vua hiện còn, một vua khác chưa đến, và khi vua này đến thì phải ở lại ít thời gian thôi. Còn Con Thú đã có và không còn nữa, nó là vua thứ tám, nó cũng thuộc số BẢY vua và đang tới chỗ diệt vong" (Kh 17:7-11).

Thánh Gioan kể lại thị kiến: "Bấy giờ, trong số BẢY thiên thần mang BẢY chén đầy BẢY tai ương cuối cùng, một vị đến bảo tôi: "Lại đây, tôi sẽ chỉ cho ông thấy Tân Nương, Hiền Thê của Con Chiên" (Kh 21:9).

Cuối cùng là BẢY lời nói của Chúa Giêsu trước khi Ngài rời cõi trần gian:

1. Cầu xin Chúa Cha tha cho kẻ thù: "Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23:34).

2. Chấp nhận lời xin của tên trộm lành: "Hôm nay anh sẽ được ở với Tôi trên Thiên Đàng" (Lc 23:43).

3. Trao gửi Thánh Gioan cho Đức Mẹ: "Thưa Mẹ, đây là con của Mẹ" (Ga 19:26).

4. Trao gửi Đức Mẹ cho Thánh Gioan: "Đây là Mẹ của anh" (Ga 19:27).

5. Than thở với Chúa Cha: "Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của Con, sao Ngài bỏ rơi Con!" (Mt 27:46).

6. Phó thác linh hồn cho Chúa Cha: "Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn Con trong tay Cha" (Lc 23:46).

7. Sau khi được nếm chút giấm chua: "Thế là mọi sự đã hoàn tất" (Ga 19:30).

Tục ngữ Việt Nam cũng có câu nói đến sự gian nan: "Ba chìm, BẢY nổi, chín lênh đênh". Số 7 kỳ lạ thật đấy!

TRẦM THIÊN THU

Ngày 7-3-2014, kỷ niệm lần thứ 740 ngày về Nhà Cha của Thánh Thomas Aquinas Tiến sĩ (1225-1274).

__________________________

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 125 of 160