mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1780
mod_vvisit_counterHôm Qua8467
mod_vvisit_counterTuần Này1780
mod_vvisit_counterTuần Trước55197
mod_vvisit_counterTháng Này120754
mod_vvisit_counterTháng Trước195176
mod_vvisit_counterTất cả12515698

We have: 94 guests online
Your IP: 54.234.114.202
 , 
Today: Jan 21, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 84 = TRANH TOI DE SONG PDF Print E-mail

NĂM ĐỨC TIN : THỰC TRẠNG TỘI LỖI CẦN LƯU Ý VÀ TRÁNH ĐỂ SỐNG ĐỨC TIN VỮNG VÀNG.
Năm Đức Tin đã khai mạc ngày 11 tháng 10 vừa qua tại Rôma nhắm mục đích kêu gọi mọi tín hữu trong Giáo hội nhìn lại đời sống đức tin của mình để canh tân và đào sâu thêm nữa hầu thêm yêu mến Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian làm Con Người, đã mặc khải Chúa Cha và Chúa Thánh Thần cho chúng ta và nhất là đã hy sinh chịu chết trên thập giá để đền tội cho nhân loại và cho chúng ta hy vọng được cứu rỗi để hưởng hạnh phúc vinh cửu với Chúa trên Nước Trời mai sau.
Nhưng muốn sống đức tin cách hữu hiệu và chân thật , không ai có thể coi nhẹ một trở ngại lớn lao, đó là tội lỗi, một nguy cơ không những đe dọa cách nặng nề đức tin có Chúa mà còn có thể làm mất hy vọng được cứu rỗi nữa.
Thật vậy, tội là một thực tế ( reality) không ai có thể chối cãi hay phủ nhận được trong đời sống cá nhân, gia đình , xã hội và trong cộng đồng thế giới; nhất là trong thời buổi hiện nay, khi các nhóm Hồi Giáo quá khích chủ trương bạo động , "thánh chiến=jihad" để đánh phá và giết hại những ai họ cho là thù nghịch của họ..Đây là một tội lớn mang mầu sắc tôn giáo vì người ta đã nhân danh tôn giáo để tiêu diệt người khác. Và chắc chắn điều này không phù hợp với mục đích của bất cứ vị sáng lập tôn giáo nào, vì không tôn giáo nào có thể chấp nhận hay khuyến khích tín đồ của mình giết hại người khác để độc tôn tín ngưỡng của mình.
Mặt khác, các chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa tương đối ( relativism) và chủ nghĩa tôn thờ khoái lạc ( hedonism) và tiền bạc vật chất cũng góp phần không nhỏ gây ra tội lỗi cho con người ở khắp mọi nơi.
Nhưng trước hết, cần biết vì đâu tội lỗi có mặt trong trần gian như một thách đố lớn lao cho những ai có niềm tin Thiên Chúa là Đấng đầy lòng yêu thương, nhưng rất công bình và thánh thiện.
Thánh Kinh đã cho ta biết nguồn gốc của tội như sau :
" Vì một người duy nhất ( Adam) mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội gây nên sự chết; như thế sự chết đã lan tràn tới hết mọi người bởi vì mọi người đã phạm tội." ( Rm 5 : 12)
Tội xâm nhập trần gian và lan tràn đến hết mọi người với nhiều hình thức và mức độ khác nhau.Tội là điều trực tiếp xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành,công minh, chính trực nên Người không thể dung tha cho bất cứ loại tội nào mà con người có thể phạm vì cố ý hay vì yếu đuối.Tùy theo mức lỗi phạm mà tội mang lại hậu quả nặng hay nhẹ cho người có tội.
Trước tiên, Thiên Chúa đã nói rõ cho Adam và Eva biết về hậu quả của tội như sau, nếu họ ăn trái cấm:
" .Ngày nào ngươi ăn, chắc chắn người sẽ phải chết." ( St 2: 17)
Cái chết mà Thiên Chúa nói trên đây là cái chết về mặt linh hồn, chứ không phải chết ngay về thể xác.Cho nên con Rắn đã nói với bà Eva như sau : "chẳng chết chóc gì đâu." ( Sđd 3: 4).
Rắn Satan nói thể để phỉnh gạt Eva vì biết là Thiên Chúa không phạt nhãn tiền bằng cái chết về thể lý cho ai từ xưa đến nay. Bằng cớ là có biết bao kẻ gian ác, độc tài tàn bạo, vô tâm vô đạo đã giết hại không biết bao nhiêu người chỉ vì muốn củng cố địa vị cá nhân hay bảo vệ các thể chế độc tài, độc đảng , độc tôn gây đau khổ và chết chóc cho biết bao triệu người dân lành từ Đông sang Tây chẳng may rơi vào ách thống trị độc ác của chúng..Nhưng chúng vẫn sống phây phây, làm giầu và hưởng thụ ,cha truyền con nối với chế độ tàn bạo không biết đến bao giờ mới xụp đổ.
Mặt khác, những kẻ có tâm địa độc dữ , với lòng tham vô đáy, và say mê những vui thú vô luân vô đạo cũng vẫn sống nhởn nhơ trong giầu sang nhờ gian manh, bất công và lường gạt, trong khi người lành lương thiện lại nghèo khó và đau khổ, vì xã hội bất công, dung dưỡng cho kẻ có nhiều tiền bạc và lắm mưu kế gian xảo lèo lái.
Như thế không phải vì Thiên Chúa bất lực, hay không nhìn thấy những tội ác của họ.Thiên Chúa biết nhưng vẫn làm ngơ cho chúng sống để hy vọng chúng hoán cải để được tha thứ, vì Người gớm ghét tội lỗi nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết sám hối, xin tha.. Ngược lại , nếu chúng cứ ngoan cố tiếp tục con đường gian ác thì Thiên Chúa sẽ đối xử với chúng như chủ ruộng kia đã làm ngơ cho cỏ lùng mọc xen lẵn với cây lúa tốt.. Và đợi đến mùa gặt, chủ sẽ bảo thợ gặt : " hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho ta." ( Mt 13:20)
Dụ ngôn trên cũng áp dụng thích đáng cho người tín hữu Chúa Kitô đang sống đức tin trên trần gian này, giữa bao kẻ gian ác đang phạm biết bao tội nghich cùng Thiên Chúa và gây đau khổ cho bao người khác.Kẻ gian ác cứ sống trong tội ác của chúng như có lùng mọc xen với cây lúa. Và chắc chắn đến mùa gặt, tức ngày Phán Xét, chúng sẽ bị quăng vào nơi "tối tăm , khóc lóc và nghiến răng".(Lc 13: 28)
Thật vậy, do hậu quả của tội nguyên tổ, bản chất thiện hảo ban đầu của con người đã bị thương tổn nặng nề đến nỗi dù đã được tái sinh qua Phép Rửa, và trở thành tạo vật mới, con người vẫn không lấy lại được bản chất thiện hảo ban đầu ( Original Innnocence) đã mất đi sau khi nguyên Tổ loài người đã phạm tội. Vì thế, con người ngày nay vẫn hoàn toàn yếu đuối và dễ nghiêng chiều về sự xấu, sự tội bao lâu còn sống trên trần gian và trong thân xác có ngày phải chết này.
Mặt khác, ma quỷ ví như " sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắc xé" ( 1Pr 5 : 8) luôn rình rập quanh ta để cám dỗ , lôi kéo ta vào đường tội lỗi dẫn đến hư mất đời đời. Cho nên " anh em phải đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế" ( Sđ d 5: 9) đúng theo lời khuyên dạy của Thánh Phêrô cách nay đã trên 2000 năm nhưng vẫn còn nguyên giá trị thực hành trong hoàn cảnh sống của con người ngày nay..
Ngoài ma quỷ là kẻ thù chính ra, thế gian hay môi trường sống của mỗi người chúng ta là kẻ thù thứ hai cộng tác đắc lực với ma quỷ để xúi dục ta phạm tội vì gương xấu đầy rẫy ở khắp nơi. Nào phim ảnh sách báo dâm ô,đồi trụy, bạo động, nào sòng bạc lớn nhỏ và nơi ăn chơi sa đọa công khai quảng cáo trên truyền thông để lôi cuốn con người thuộc mọi lớp tuổi tìm đến để thỏa mãn dục vọng và lòng ham mê tiền của, bắt chấp mọi hậu quả tai hại cho linh hồn, nếu ta tin con người có hồn và xác, có sự thưởng phạt sau khi chết.
Thánh Phaolô đã nói đến các giống tội do xác thịt yếu đuối gây ra và hậu quả của tội như sau:
" Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là : dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp , chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã thường bảo :
Những kẻ làm những điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa." ( Gl 5 :19-21).
Như thế, người ta phạm tội vì bản chất yếu đuối, vì ma quỷ tinh quái cám dỗ và vì gương xấu của người khác.
Chúa Giêsu đã nghiêm khắc cảnh cáo về các dịp tội và gương xấu như sau :
" Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã. Nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã. Thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn này phải vấp ngã." ( Lc 17: 1-2)
Như vậy, muốn tránh tội, ta phải ý thức đây đủ về những nguy cơ đưa đến phạm tội để từ đó quyết tâm xa tránh với ơn Chúa nâng đỡ để đứng vững , vì " không có Thầy anh em sẽ chẳng làm gì được." ( Ga 15: 5).Nghĩa là nếu không có ơn Chúa giúp sức thì ta không thể đứng vững trước mọi cám dỗ nặng nề của ma quỷ, gương xấu đầy rẫy của thế gian và những khuynh hướng xấu còn tồn tại trong ta.
Cứ nhìn quanh ta thì đủ biết tội lỗi đang thống trị con người và thế giới như thế nào.
Tại sao người ta đang làm những sự dữ như giết người, cướp của, ăn gian nói dối, cờ bạc, dâm ô phóng đãng, hiềm thù ,nghen ghét, bỏ vạ cáo gian, thay chồng đổi vợ, chiến tranh, khủng bố ?
Câu trả lời đúng nhất là vì người ta không có niềm tin nào, hay có mà không có can đảm sống niềm tin ấy cách sống động và cụ thể để đẩy lui bống tối của sự dữ, sự tội đang lan tràn ở khắp nơi.
Trước thực trạng trên đây, là người có đức tin vào Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, mọi tín hữu chúng ta đều được mong đợi sống đức tin của mình cách cụ thể là phải xa tránh mọi sự xấu, sự tội , vì chỉ có tội lỗi mới làm ngăn cách con người với Thiên Chúa là tình thương nhưng gớm ghét mọi thứ tội lỗi.Nói khác đi, sống đức tin Kitô Giáo đòi hỏi chúng ta phải ý thức sâu xa về nguy cơ của tội lỗi đến từ ma quỷ, từ thế gian và từ bản chất yêu đuối của chính mình.
Trong thời đại văn minh vật chất và điện toán hiện nay, rất nhiều người đã mất hết ý thức về tội. Chủ nghĩa tương đối( relativism) đã góp phần không nhỏ vào việc lừa dối rất nhiều người tin là không có giá trị nào tuyết đối về luân lý, đạo đức cả.. Vì thế người ta đã mặc sức làm những sự dữ , thí dụ, làm luật để bảo vệ cho súc vật như chó, mèo, chim, rùa ngoài biển. Nhưng lại hợp thức hóa việc phá thai khiến hàng năm ở Mỹ có trên một triệu thai nhi bị giết ngay trong lòng mẹ mà luật pháp quốc gia chính thức cho phép khiến không ai gặp khó khăn nào với luật pháp khi trực tiếp hay gián tiếp ra tay giết hại một hài nhi tức một nhân mạng.! Ngoài ra, người ta cũng đang tìm cách định nghĩa lại hôn nhân, vốn là một định chế bắt nguồn từ Thiên Chúa khi Người tạo dựng con người có nam có nữ và truyền cho họ sứ mệnh " Hãy sinh sôi nẩy nở cho thật nhiều, cho đầy mặt đất và thông trị mặt đất." " ( St 1 :28)
Vậy mà bây giờ người ta đang hợp thức hóa những cặp hôn nhân đồng tính ( same sex marriage).,để công khai nhìn nhận việc sống chung của những cặp nam nữ bệnh hoạn tâm sinh lý này.Chúng ta cảm thông hoàn cảnh của họ nhưng không thể tán thành việc cho họ kết hôn để đạp đổ truyền thồng hôn nhân giữa một người nam và một người nữ như Thiên Chúa đã thiết lập từ đầu.
Mặt khác trên bình diện quốc tế, cộng đồng thế giới vẫn làm ngơ cho các chế độ tàn ác của Assad ở Syria, của Bắc Hàn, của Cuba... và nhiều nơi khác nữa đã giết hại hàng triệu người dân vô tội, vì dám chống lại chế độ cai trị tàn ác của kẻ cầm quyền... Đây là một tội ác chống lại con người của các kẻ độc tài độc đảng mà các nước có thể lực lớn trên thế giới phải chịu trách nhiệm vì đã không dám hành động thích đáng để bảo vệ cho quyền sống của con người .
Trước thực trạng tội lỗi của cá nhân , xã hội và cộng đồng quốc tế, người tín hữu Chúa Kitô thuộc mọi thành phần trong Giáo Hội hơn bao giờ hết phải sống niềm tin của mình cách cụ thể và thuyết phục để làm nhân chứng cho Chúa Kitô, Đấng đã đến trần gian để "hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người."(Mt 20: 28)
Nói rõ hơn, nếu người tín hữu mà cũng ăn gian nói dối, cũng lường gạt, bóc lột người khác để trục lợi, cũng lui tới những sòng bạc lớn nhỏ, cũng đi du hí ở những nơi tội lỗi, cũng nhẩy nhót cuồng loạn mất nết, cũng cấu kết hay làm tay sai cho những thế lực, hay chế độ phi nhân bóc lột đàn áp người dân vô tội, thì chắc chắn đã chà đạp lên hay chối bỏ niềm tin của mình và cùng lớn tiếng hô to với những kẻ vô thần , vô luân vô đạo là KHÔNG CÓ THIÊN CHÚA, KHÔNG CÓ SỰ SÔNG ĐỜI SAU để mặc sức ngụp lặn ở hiện tại trong vũng bùn nhơ của tội lỗi vì đam mê của cải, chuộng hư danh và tôn thờ mọi thú vui vô luân vô đạo, là bộ mặt rõ nét nhất của "văn hóa sự chết" đang lộng hành ở khắp nơi trên thế giới ngày nay.
Quan trọng hơn nữa, nếu người tín hữu không quyết tâm từ bỏ mọi giống tội và nương nhờ ơn Chúa phù giúp để đứng vững trong đức tin thì không ai có thể đạt được mức hoàn hảo để được cứu rỗi. Sở dĩ thế là vì con người còn có tự do để chọn lựa giữa sự tốt và sự xấu, giữa ánh sáng và bóng đêm bao lâu còn sống trên trần gian này. Và Thiên Chúa luôn tôn trọng sự tự do đó của con người.Nghĩa là nếu con người chọn con đường gian tà vì mê đắm sắc dục, để lui tới những nơi ăn chơi sa đọa, thay chồng đổi vợ, hoặc vì đam mê tiền của để trộm cướp, bóc lột người khác thì Thiên Chúa sẽ không ngăn cản và con người sẽ phải hoàn toàn chiu trách nhiệm về chọn lựa của mình. Đó là lý do thưởng phạt của Thiên Chúa dành cho những kẻ chối bỏ Người bằng tư tưởng và hành động, hay yêu mến và quyết tâm thi hành ý muốn của Người để được vào Nước Trời như Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ xưa như sau:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa ! lậy Chúa ! là được vào Nước Trời cả đâu, Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 : 21)
Thi hành ý muốn của Cha trên trời có nghĩa là phải cương quyết từ bỏ mọi tội lỗi, mọi sự dữ và " hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào, vì Tôi nói cho anh em biết : có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được." ( Lc 13: 24)
Cửa hẹp mà Chúa Giêsu nói trên đây, chính là cửa công chính để tránh đi vào con đường của kẻ gian ác, giết người , cướp của, bóc lột, dâm đãng và bất công với người khác. Cửa hẹp cũng là cửa bác ái để mở lòng cảm thương anh chị em nghèo khó, bệnh tật, cô thân cô thế,.Sau nữa, cửa hẹp cũng là cửa trong sạch để không đi vào con đường dẫn đến những nơi xú uế vì cờ bạc vui chơi dâm ô khốn nạn. Người tín hữu Chúa Kitô mà đi vào những con đường nói trên thì chắc chắn sẽ không gặp được Chúa là cội nguồn của mọi giầu sang ,phú quý và hoan lạc.; mà ngược lại , chắc chắn sẽ rơi xuống hố diệt vong vì phải vĩnh viễn xa lìa Thiên Chúa là cùng đích của niềm tin và hy vọng của người có đức tin chân chính.
Tóm lại , Năm Đức Tin mời goi và nhắc nhở mọi tín hữu sống đức tin cách chân thật và sống động để minh chứng mình thực sự tin Chúa Kitô, Đấng đã cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá để cho chúng ta hy vọng được gặp Thiên Chúa là Cha và được sống hạnh phúc đời đời với Người trên Thiên Quốc, sau khi chấm dứt hành trình con người trên trần thế này.
Nói khác đi, chúng ta phải thể hiện đức tin của mình cách cụ thể trước mặt người đời để làm nhân chứng cho Chúa Kitô với mục đích mời gọi thêm nhiều người nữa nhận biết và tin Chúa để cùng được cứu độ, vì Thiên Chúa , " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. ( 1Tm 2:4)
Nhưng- cần nhấn mạnh thêm một lần nữa- muốn sống đức tin cách hữu hiệu, vững vàng đẹp lòng Chúa và có sức thuyết phục người khác thì ta phải ý thức đầy đủ nguy cơ của tội lỗi để quyết tâm xa tránh không làm những gì phương hại hay mâu thuẫn với đức tin có Chúa là Đấng thánh thiện, nhân từ, công bình, yêu thương và tha thứ. ( tha thứ cho kẻ có tội biết ăn năn xin tha chứ không được lợi dụng tha thứ để cứ tiếp tục phạm tội nữa !)
Tóm lại, sống đức tin không những để biết thờ lậy, ngợi khen,yêu mến và cảm tạ Chúa ngày một hơn, mà quan trọng không kém là đoạn tuyệt với tội lỗi, vì " ai phạm tội là người của ma quỷ" như Thánh Gioan Tông Đồ đã dạy. ( 1 Ga 3: 8).
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 83 = TÔI TIN GIAO HOI DUY NHAT PDF Print E-mail

 

"Tôi tin Giáo Hội duy nhất"

Anh Chị Em thân mến,

Trong "Kinh Tin Kính" chúng ta đọc rằng "Tôi tin Giáo Hội duy nhất", tức là tuyên xưng rằng Giáo Hội là một và Giáo Hội tự mình là duy nhất. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào Giáo Hội Công Giáo trên thế giới lại thấy Giáo Hội có gần 3 ngàn giáo phận rải khắp các Châu Lục: với quá nhiều ngôn ngữ, quá nhiều văn hóa! Tuy nhiên, hàng ngàn cộng đồng Công Giáo làm nên sự hiệp nhất. Làm sao lại như thế được chứ?

Chúng ta thấy được câu trả lời tổng hợp ở Cuốn Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo trong đó Giáo Hội Công Giáo lan tràn khắp thế giới "chỉ có một đức tin, chỉ có một sự sống về bí tích, chỉ có một thừa kế tông truyền, chỉ có một niềm hy vọng, có cùng một đức ái" (khoản 161). Sự hiệp nhất trong đức tin, đức cậy, đức mến, sự hiệp nhất về các Bí Tích, về Thừa Tác Vụ: chúng là những trụ cột nâng đỡ và cùng nhau làm thành một lâu đài vĩ đại duy nhất Giáo Hội. Bất cứ đi đâu, ngay cả khi đến một giáo xứ nhỏ bé nhất, ở một hang cùng ngõ hẻm biệt lập nhất trên trái đất này cũng thấy Giáo Hội duy nhất ở đó; như đang ở nhà mình, như đang ở trong gia đình của mình, đang ở giữa anh chị em chúng ta. Và đó là đại tặng ân của Thiên Chúa! Giáo Hội là một cho tất cả mọi người. Không có vấn đề một Giáo Hội cho dân Âu Châu, một Giáo Hội cho dân Phi Châu, một Giáo Hội cho dân Mỹ Châu, một Giáo Hội cho dân Á Châu, một Giáo Hội cho những ai sống ở Đại Dương Châu, nhưng chỉ là một Giáo Hội duy nhất ở khắp nơi. Như xẩy ra trong gia đình: một gia đình có thể xa cách, sống rải rác khắp thế giới, thế nhưng những mối giây liên hệ sâu xa vẫn nối kết tất cả mọi phần tử của gia đình lại với nhau cách mạnh mẽ bất chấp khoảng cách ra sao. Tôi đang nghĩ đến cái kinh nghiệm về Ngày Giới Trẻ Thế Giới ở Rio de Janerio: trong đám đông vô vàn vô số giới trẻ ấy trên bờ vịnh Copacabana, rất ư là nhiều những thứ ngôn ngữ được nghe thấy, rất nhiều những nét mặt khác nhau được nhận thấy giữa họ với nhau, những thứ văn hóa khác nhau được gặp gỡ, thế mà vẫn chỉ có một mối hiệp nhất sâu xa, chỉ có một Giáo Hội duy nhất được hình thành, chỉ cảm thấy có một sự hiệp nhất. Tất cả chúng ta hãy tự hỏi mình rằng: tôi có cảm thấy mối hiệp nhất này hay chăng? Tôi có sống mối hiệp nhất này hay chăng? Hay tôi không cần vì tôi gắn liền với nhóm nhỏ của tôi hay với bản thân tôi? Tôi có phải là một trong những người 'riêng tư hóa' Giáo Hội cho riêng nhóm của tôi, cho quốc gia của tôi, cho bạn bè của tôi hay chăng? Khi tôi nghe thấy có rất nhiều Kitô hữu trên thế giới đang khổ đau, tôi có tỏ ra dửng dưng lạnh lùng hay như thể một người nào đó trong gia đình tôi đang khổ đau hay chăng? Tôi có cầu nguyện cho nhau hay chăng? Cần phải có cái nhìn vượt ra ngoài cái hạn hẹp của mình, để cảm thấy mình là Giáo Hội, là một gia đình duy nhất của Thiên Chúa!

2- Chúng ta hãy tiến thêm chút nữa và tự vấn rằng: có những vết thương đối với mối hiệp nhất này hay chăng? Chúng ta có thể làm tổn thương đến mối hiệp nhất này hay chăng? Tiếc thay, chúng ta thấy rằng trong giòng lịch sử, cả hiện nay nữa, chúng ta đã không luôn sống hiệp nhất. Đôi khi những hiểu lầm, những xung khắc, những căng thẳng, những chia rẽ đã gây ra thương tích ấy, thế rồi Giáo Hội không đương đầu như chúng ta mong ước, Giáo Hội không bày tỏ đức ái. Những gì Thiên Chúa muốn. Chúng ta là thành phần tạo nên những rách nát! Và nếu chúng ta nhìn vào những chia rẽ vẫn còn tồn tại nơi thành phần Kitô hữu, Công Giáo hữu, Chính Thống hữu, Tin Lành hữu... chúng ta cảm thấy cái công khó để mang lại mối hiệp nhất này là những gì hoàn toàn hiện tỏ. Thiên Chúa ban cho chúng ta sự hiệp nhất, thế nhưng chúng ta thường thấy khó mà thực hiện sự hiệp nhất này. Chúng ta cần phải tìm kiếm, xây dựng mối hiệp thông, và tự giáo huấn mình để sống hiệp thông, để thắng vượt những hiểu lầm và chia rẽ, bắt đầu từ gia đình, từ các thực thể Giáo Hội, bằng việc đối thoại đại đồng. Thế giới của chúng ta đang cần đến mối hiệp nhất, đến việc hòa giải, đến sự hiệp thông và Giáo Hội là Ngôi Nhà của mối hiệp thông. Thánh Phaolô đã viết cho Kitô hữu ở Êphêsô rằng: "Bởi thế, tôi, một tù nhân của Chúa, nài xin anh chị em hãy sống một cuộc đời xứng với ơn gọi mà anh chị em đã lãnh nhận, bằng tất cả tâm tình khiêm tốn và hiền lành, bằng lòng nhẫn nại, chịu đựng lẫn nhau trong yêu thương, thiết tha bảo tồn mối hiệp nhất của Thần Linh bằng mối liên kết an bình" (4:1-3). Sự khiêm nhượng, dịu dàng, cao thượng, yêu thương là những gì duy trì hiệp nhất! Rồi ngài tiếp: Chỉ có một thân thể, thân thể Chúa Kitô mà chúng ta lãnh nhận nơi Thánh Thể; chỉ có một Thần Linh, Vị Thánh Linh làm sinh động và liên lỉ tái tạo Giáo Hội; chỉ có một niềm hy vọng, một sự sống đời đời; chỉ có một đức tin, một Phép Rửa, một Thiên Chúa là Chúa của tất cả chúng ta (xem các câu 4-6). Sự phong phú của những gì hiệp nhất chúng ta! Hôm nay, mỗi một người cần phải tự hỏi mình rằng: tôi có hay chăng làm cho mối hiệp nhất gia tăng trong gia đình, trong giáo xứ, trong cộng đồng, hay tôi là một cớ gây chia rẽ, gây khó khăn? Tôi có khiêm nhượng để nhẫn nại hy sinh chữa lành các thương tích gây ra cho sự hiệp thông hay chăng?

3- Sau hết, điểm cuối cùng trong cái sâu sắc hơn nữa, đó là vấn đề ai là động cơ cho mối hiệp nhất này của Giáo Hội? Chính là Thánh Linh. Mối hiệp nhất không phải chính yếu là hoa trái của việc chúng ta ưng thuận, của việc nỗ lực để tiến đến chỗ đồng ý, mà là xuất phát từ Đấng làm cho mối hiệp nhất trong đa dạng này trở thành hòa hợp. Bởi vậy, cầu nguyện là những gì quan trọng, là linh hồn của việc dấn thân như những con người nam nữ của mối hiệp thông, của sự hiệp nhất.

Chúng ta hãy cầu nguyện cùng Chúa: xin hãy giúp cho chúng con có thể trở nên hiệp nhất hơn, đừng bao giờ trở thành dụng cụ gây chia rẽ; xin hãy làm cho chúng con biết dấn thân - như một kinh nguyện của Thánh Phanxicô - mang yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi xúc phạm, đem hiệp nhất đến nơi bất hòa.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo Zenit
http://www.zenit.org/en/articles/on-the-unity-of-the-church

 
OC HOI DE SONG DAO # 83 = DANG LE CHUA NHAT- NGHI THUC PDF Print E-mail

NGHI THỨC TRAO TÁC VỤ PHÓ TẾ VÀ LINH MỤC LÀ GÌ ?

Hỏi : xin cha giải thích 2 thắc mắc sau đây :
1- Đi chơi xa có buộc xem lễ ngày Chúa nhật không ?Xem Lễ trên Truyền
Hình có thay được lễ ngày Chúa nhật hay không. ?
2- Nghi Thức trao tác vụ Phó Tế và Linh mục là nghi thức nào ?
Trả lời :
1- Luật xem lễ ngày Chúa Nhật và các ngày Lễ buộc quanh năm là luật tòng nhân ( personalis) nghĩa là đi bất cứ nơi nào trong Giáo hội thì vẫn buộc phải thi hành.
Trái lại, luật tòng thổ (Territorialis) chỉ buộc phải thi hành ở nơi có luật mà thôi. Thí dụ, tham dự Thánh Lễ Ngày Chúa Nhật, Rước Mình Thánh Chúa trong Mùa Phục Sinh, xưng tội ít là một lần mỗi năm, v.v là luật tòng nhân
được áp dụng ở khắp nơi trong Giáo Hội. Do đó, đi du lịch xa nhà, xa giáo xứ của mình thì vẫn buộc phải tham dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật và các ngày Lễ buộc như Lễ Giáng Sinh, lễ Đức Mẹ hồn xác lên Trời ( 15-8), Lễ các Thánh Nam Nữ ( 1-11), Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai ( 9-12) v.v
Nhưng nếu đi chơi xa mà nơi đó không có nhà thờ Công Giáo khiến không thể chu toàn luật buộc thì có thể được miễn thi hành vì lý do bất khả kháng, nhưng phải làm việc lành bù lại như lần chuỗi Mân Côi .v.v
Luật tòng thổ chỉ áp dụng nơi nào có luật. Thí dụ ở Mỹ không có luật buộc phải ăn chay kiêng thịt ngày thứ sáu quanh năm hay trong Mùa chay mà chỉ buộc ăn chay kiêng thịt ngày Thứ tư lễ tro và Thứ sáu Tuần Thánh mà thôi ( trong mùa chay chỉ có lời khuyên kiêng thịt chứ không có luật buộc).. Do đó nếu giáo dân ở Mỹ đi đến nơi nào có luật buộc ăn chay kiêng thịt các ngày thứ sáu trong mùa chay thì phải thi hành luật ở nơi đó.( luật tòng thổ)
Cũng vậy, ở Việt Nam, Hội Đồng Giám Mục cho phép cử hành Lễ trong các ngày Tết của dân tộc ( Tết Nguyên Đán) với phụng vụ dành riêng cho 3 ngày Tết. Nhưng ở ngoại quốc nói chung, và ở Mỹ nói riêng, thì các linh mục coi xứ Việt Nam không được tự tiện áp dụng Phụng vụ ngày Tết bên Viet Nam, mà phải theo Phụng vụ chung của địa phận nơi mình cư trú. Muốn làm lễ Tết theo phụng vụ VN thì phải xin phép Giám mục địa phương, chứ không được tự tiện làm; vì theo luật, các giáo hữu Việt Nam ở ngoại quốc thì nay thuộc quyền chăm sóc mục vụ của giáo quyền nơi mình sinh sống chứ không còn thuộc quyền coi sóc của Giám mục nào bên Việt nam nữa..
Vì thế, .khi một Giám mục bên nhà có sang thăm " con chiên cũ"ở Mỹ hay ở bất cứ quốc gia nào ngoài Viêt Nam, thì chỉ thăm với tính cách thân hữu xã giao, chứ không thăm với tư cách " mục vụ" vì giáo dân cũ nay đang thuộc quyền mục vụ của Giám mục địa phương nơi họ đang sinh sống. Cần nói rõ điều này vì có nhiều người ở Mỹ vẫn nói Giám mục này hay Giám mục kia đến thăm mục vụ con chiên cũ của mình đang ở Mỹ.
Nói vậy là sai luật tòng thổ và trách nhiệm mục vụ của Giáo Hội.
Lại nữa, cũng cần nói thêm để mọi giáo dân đang sống ở Mỹ được biết rằng Tổ chức Liên Đoàn Công Giáo VN ở Mỹ chỉ là một tổ chức tư nhân với mục đích thân hữu giữa các linh mục và giáo dân VN sống ở Mỹ , chứ không phải là một hệ thống giáo quyền nào đối với các linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam. Các linh mục, tu sĩ và giáo dân Việt Nam ở Mỹ nay thuộc quyền coi sóc và điều khiển của giáo quyền địa phương –tức là các Giáo phận- nơi mình đang sinh sống và làm việc.
Về vấn đề xem lễ trên Truyền hình, thì mục đích của việc này là để giúp cho các bệnh nhân không thể đi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ trong ngày Chúa Nhật. Nhưng phải nói rõ ngay là nếu đang đau ốm ở nhà hay ở nhà thương, thì bệnh nhân không còn bị buộc phải đi lễ bất cứ ngày nào nữa.Xem lễ trên truyền hình chỉ cốt giúp cho các bệnh nhân được thông công cầu nguyện , tôn thờ và cảm tạ Chúa cùng với Giáo Hội trong ngày Chúa Nhật mà thôi, chứ không có mục đích thay thế việc đi đến nhà thờ để hiệp dâng Thánh lễ cùng với những người khỏe mạnh.
Tóm lại, bệnh nhân – và cả người săn sóc bệnh nhân- không buộc phải đi đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ bất cứ ngày nào. Người khỏe mạnh không được phép xem lễ trên Truyền hình để thay cho việc phải đến nhà thờ tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật. Lễ trên Truyền hình chỉ giúp cho bệnh nhân, và người già yếu thông công cầu nguyện chứ không nhằm thay thế Lễ ngày Chúa nhật cho nhũng người khỏe mạnh.
2- Nghi thức trao tác vụ Phó Tế và Linh mục là gì ?
Trước đây tôi đã có lần giải thích là trong các Nghi thức ( Rites) được Giáo Hội công bố cho thi hành ( x The Rites, Volume Two ) thì tuyệt dối không có Nghi thức nào gọi là Nghi Thức Trao tác vụ Phó tế, hay Linh mục cả Ngược lại , chỉ có Nghi thức về Lề Truyền Chức Phó tế , Lịnh mục hay Giám mục mà thôi.
Cũng theo Sách Nghi Thức nói trên thì chỉ có 2 Tác Vụ đọc Sách ( Lector) và Giúp Lễ ( Acolyte) mới được trao trong nghi thức gọi là:
1- Institution of readers (được phép đọc Sách Thánh trong Thánh Lễ)
2- Institution of Acolytes( được phép giúp bàn thánh như cho rước Lễ và
Sau đó lau chùi chén thánh ( purification of Chalice or Communion sets)
Đây là hai tác vụ ( Ministry) được trao cho các đại chủng sinh vào cuối năm Thần học I ( Tác vụ đọc sách) và cuối năm Thần học II ( tác vụ giúp lễ).
Ngày nay giáo dân cũng được trao cho tác vụ đọc sách thánh và phụ cho Rước Lễ với tư cách là Thừa tác viên bất thường cho Rước Lễ ( Extraordinary Ministers of Holy Communion)
Các đại chủng sinh và ứng viên Phó tế vĩnh viễn phải lãnh 2 tác vụ trên trước khi được lãnh chức thánh Phó Tế và chức Linh mục ( dành cho phó tế chuyển tiếp= Transitional deacons).
Như thế chỉ có nghi thức trao tác vụ đọc sách và giúp lễ mà thôi.Đây là tác vụ chứ không phải là chức thánh ( Holy Order) nên không cần phải tháo gỡ ( dispensation) khi chủng sinh không muốn , hay không được gọi tiến lên lãnh chức thánh Phó tế trước khi được chịu chức Linh mục..
Đành rằng mọi công việc thánh vụ của Phó tế , của Linh mục hay Giám mục được gọi là tác vụ Phó tế ( diaconal ministries) tác vụ linh mục ( priestly ministries) và tác vụ của Giám mục ( Episcorpal ministries) .Nhưng muốn thi hành các tác vụ này thì buộc phải có chức thánh cấp Phó Tế, cấp Linh mục và cấp Giám mục. Các Chức thánh này phải được một Giám mục truyền cho trong Thánh Lễ gọi là :
- Lễ Truyền chức Phó tế ( Mass of Ordination of a deacon (s)
- Lễ truyền chức Linh mục( Mass of Ordination of a priest ( s)
- Lễ truyên chức Giám mục ( Mass of ordination or consecration of a bishop)
Phó tế và Linh mục phải chịu chức rồi thì Giám mục mình trực thuộc mới bổ nhiệm ( hay còn gọi nôm na là bài sai) về một giáo xứ với năng quyền ( Faculties) được làm như cử hành Thánh Lễ và các bí tích trừ bí tích truyền chức thánh, nếu là linh mục.. Riêng phó tế thì cũng được bổ nhiệm về một giáo xứ dưới quyền
điều khiển trực tiếp của cha xứ ( pastor ). Nếu không có sự bổ nhiệm trên của Giám mục thì không linh mục hay phó tế nào được thi hành tác vụ của mình, mặc dù có chức Phó tế hay Linh mục.Giám mục có thể tạm hay vĩnh viễn thu hồi những năng quyền đã trao cho linh mục hay phó tế, vì lý do bất đắc dĩ nào đó.Và khi đã bị thâu hồi năng quyền, thì linh mục và phó tế đều không được phép thi hành tác vụ của mình cách công khai nữa. Nghĩa là không được phép công khai làm mục vụ ở đâu nữa cho đến khi được giám mục tái bổ nhiệm để thi hành những năng quyền được ban cho.
Như thế, Tuyệt đối không có Nghi thức nào gọi là Nghi thức trao tác vụ Phó Tế hay Linh mục trong Giáo Hội Công Giáo từ xưa đế nay.
Trước Công Đồng Vaticanô II, Giáo Hội còn duy trì và trao các chức thánh nhỏ ( Minor Orders) như Mở của nhà thờ ( Porter) trừ quỉ ( Exocism) Đọc sách ( Lector) và giúp lế ( Acolyte). Các chức thánh nhỏ này cũng được trao chung trong Thánh Lễ gọi là Lễ Truyền chức thánh , trong đó, một số chủng sinh được trao các chức nhỏ, một số lãnh chức Phó tế, và một hay vài phó tế được lãnh chức Linh mục.
Sau Công Đồng Vaticanô II, thì 4 chức nhỏ trên được bãi bỏ để chỉ còn lại 3 chức thánh là chức Phó tế, chức Linh mục và chức Giám mục mà thôi.( x giáo luật số 1009 & 1)
Vì không còn là Chức thánh nên 2 tác vụ đọc sách và giúp lễ có thể do linh mục , trao cho trong khi các Chức Phó tế, Linh mục và Giám mục phải do một Giám mục truyền trong Thánh lễ gọi là Lễ Truyền Chức. thánh ( Mass of Ordination)
Nghĩa là cả 3 chức thánh trên đây phải được truyền cho trong Thánh lễ gọi là Lễ truyền chức Phó tế, linh mục hay Giám mục, theo đúng qui định trong Sách Nghi thức ( Rites) được Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI ký ban hành cho áp dụng trong toàn Giáo Hội từ ngày 15 tháng 8 năm 1972 cho đến nay.
Như vậy ai "phăng ra "cái gọi là Lễ hay Nghi thức trao tác vụ phó tế hay Linh mục là không hiểu gì về sự khác biệt giữa tác vụ (ministerium) và Chức thánh ( Ordo) cũng như đã tự ý sửa đổi Sách Nghi Thức nói trên, một điều không ai –dù là Giám mục, Hồng Y – được phép làm nếu còn muốn hiệp thông với Giáo Hội trong mọi lãnh vực, giáo lý, tín lý, luân lý, phụng vụ, kỷ luật bí tích và giáo luật.
Nói rõ hơn,, mọi thành viện trong Giáo Hội đều có bổn phận phải áp dụng và thi hành nghiêm túc những gì đã được quy định trong Sách Giáo Lý, Giáo luật, luật Phụng vụ và Nghi Thức Phụng vụ của Giáo hội để không ai được phép "phăng" ( Fantaisie) ra luật hay nghi thức nào của riêng mình khiến gây hoang mang cho giáo dân.
Tóm lại, chỉ có Lễ truyền Chức Phó tế, Linh mục hay Giám mục, mà thôi( x. Giáo luật số 1010) chứ không có Nghi thức trao tác vụ Phó tế, Linh mục hay Giám mục như ai đã tự ý nói sai.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 82 = THAP DAI THANH CONG PDF Print E-mail

 

Sent: Monday, September 23, 2013 6:17 PM
Subject: I. Thập Ðại Thành Công: - 8. Ánh sáng định hướng cuộc đời chúng ta là gì? - Niềm Vui Sống Ðạo - Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.

I. Thập Ðại Thành Công:
8. Ánh sáng định hướng
cuộc đời chúng ta là gì?
Ánh sáng định hướng đời tôi là Hy vọng. Lời kinh phụng vụ hát: Kính chào Thánh giá là Hy vọng "độc nhất của chúng tôi" (o crux ave spes unica). Thánh giá đem lại Hy vọng vì Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào đó để cứu rỗi nhân loại, người lại Phục sinh để đưa nhân loại vào thiên đàng.
Giữa thế gian đầy tội ác, bất công, đói khổ hôm nay, Chúa Giêsu bảo chúng ta làm gì?
Và Chúa Giêsu dạy chúng ta phải tránh:
Thánh Phaolô hằng khuyên nhủ giáo dân đừng sống như những người không hy vọng (ÐHV. 951).
Ngài cũng phân tích cho chúng ta thấy những hạng người công giáo khác nhau, và chọn cho mình hướng đi đúng:
Có hạng "công giáo đợi chờ", khoanh tay mong đợi niềm hy vọng đến.
Có hạng người "công giáo thụ động", "trốn tránh, vô trách nhiệm".
Họ chỉ biết "nhìn lên" đi kêu cứu, mà không biết "nhìn tới" để tiến, "nhìn quanh" để chia sẽ, gánh vác.
Niềm hy vọng đang ở giữa họ, mà họ không hay! (ÐHV. 966)
Làm một cuộc cách mạng: Ðừng đem đời người công giáo xa lìa môi trường, để quây quần quanh cái việc thiêng liêng. Ðẩy người công giáo mang niềm hy vọng của mình xâm nhập môi trường (ÐHV. 966).
- Không thể quan niệm được một Kitô hữu không mê say đem hy vọng ngập tràn thế giới (ÐHV. 972).
Ánh sáng ấy sẽ chiếu soi giúp ta vượt những thử thách,
- Con hy vọng luôn luôn, đừng chán nản vì những sự khó khăn nôi bộ, ngay trong việc tông đồ.
Như Thánh Phaolô: "Kẻ thì rao giảng Ðức Kitô vì lòng mến, bởi biết rằng tôi đã được chỉ định lo bênh đỡ Tin mừng. Kẻ thì lại giảng truyền Ðức Kitô vì ganh tị, ý định không tinh truyền, tưởng làm vậy sẽ gây thêm khổ cực cho cảnh lao tù của tôì. Cần chi! Dù sao đi nữa, bởi ý lành hay ý xấu, miễn là Ðức Kitô được rao truyền thì tôi vui mừng và tôi cứ vui mừng luôn!" (ÐHV. 976).
Và đời ta sẽ là một đời hy vọng
- Chấm nầy nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài.
Phút nầy nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.
Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp,
Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.
Ðường hy vọng do mỗi chấm hy vọng
Ðời hy vọng do mỗi phút hy vọng (ÐHV. 978)
Hướng đến năm 2000, Ðức Thánh cha Gioan Phaolô II gửi cho giới trẻ thế giới sứ điệp: Tuổi trẻ là chứng nhân của hy vọng.
Tôi xin tóm lược nội dung của cuộc sống chứng nhân, niềm hy vọng đó qua sơ đồ tóm lược sau đây, dựa vào mấy chữ đầu của tiếng La tinh SPES (= hy vọng); và tôi chuyển dịch qua tiếng Việt bằng bốn công tác dấn thân bắt đầu bằng chữ P.
Khi chọn danh từ Hy vọng, tôi đã nghĩ đến 4 P nầy, vì nó là chương trình hành động, cho chúng ta hôm nay; thực hiện đúng, nó sẽ thành hy vọng.
Muốn rõ thêm chi tiết tư tưởng và hành động đúng một chiến sĩ, mời các bạn nghiên cứu thật kỹ hiến chế Mục vụ của Công đồng Vatican II, có tên là Vui-mừng và Hy-vọng, mà tôi đã chọn làm khẩu hiệu và chương trình lúc tôi được chọn làm giám mục (1967).
Sau đây tôi giải thích 4 P ấy:
* Phục vụ
Công đồng Vatican II đã cho chúng ta thấy Hội thánh hôm nay phải là "một Hội thánh phục vụ" - Khiêm tốn và làm ích cho trần gian như "Men trong bột" như "Muối dưới biển" như "Ánh sáng", rất thinh lặng, người ta cũng chẳng để ý đến nhưng không thể thiếu cho sự sống được.
Chúa Giêsu nói: "Tôi không đến để được người ta hầu hạ, nhưng để phục vụ". Và Ngài nói tiếp để giải thích sự phục vụ của Ngài: "Cha hiến mạng sống vì người khác".
"Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau" (Gioan 13, 14).
Hy vọng hoàn thành nhân cách, hy vọng trở thành người Kitô hữu theo gương Chúa Kitô, hy vọng để kiến tạo một nước Việt Nam hoà bình, hạnh phúc, một giáo hội qui tụ những người con Thiên Chúa... sẽ không dựa trên ước mơ đề cao, tự phụ về mình, đoàn thể mình; không sử dụng cường lực, bắt ép; không đòi hỏi mình được tôn vinh và đặc quyền náo đó cho mình; cho cộng đồng mình...; nhưng "rửa chân cho nhau", làm kẻ phục vụ tôn trọng, yêu thương: đó là con đường hy vọng, hằng ngày canh tân cuộc sống cá nhân, tạo bầu khí lành thánh cho xã hội và giáo hội.
* Phát triển
Ðức Giêsu bảo: "Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy lo cho họ ăn" (Mt 14, 16).
Chúa Giêsu Kitô, con Thiên Chúa mang thân xác làm người, thức tỉnh chúng ta biết giá trị cao cả của thân xác con người chúng ta. Làm sao có thể thực hiện tình yêu thương người bên cạnh, khi có kẻ thừa thải cơm áo, tiền của dư đầy, nắm hết tiện nghi của cải và quyền lực, bên cạnh đa số người anh em lâm cảnh đói rách, bị đối xử bất công, bị tước bỏ quyền sống, quyền được tự do...
"Hãy cho họ ăn", của ăn thân xác và tinh thần, bằng nổ lực đóng góp vào cuộc sống kinh tế, phát triển khoa học để phục vụ con người, đào sâu các giá trị văn hoá; bằng việc dấn thân tranh đấu cho công lý, hoà bình để nước Thiên Chúa là tình huynh đệ nhân loại mỗi ngày một thể hiện rõ nét hơn trên trần thế.
Hội thánh phục vụ bằng cách phát triển toàn diện con người. Trong những năm 60 thế giới bắt đầu nói rất nhiều đến "Phát triển", Ðức Thánh cha Phaolô VI đã công bố Thông điệp "Phát triển các dân tộc" - trong đó Ngài công bố thành lập Ủy ban Giáo hoàng sau nầy trở thành Hội đồng Toà thánh Công lý và Hoà bình. Hội thánh nhằm lo cho con người sống xứng đáng địa vị làm con Chúa.
Phát triển đây không có nghĩa kinh tế mà thôi - nhưng là phát triển con người toàn diện, thể lý, trí thức, tâm linh...
Một điều quan trọng ở đây là đánh tan lối suy nghĩ sai lạc: Hội thánh chỉ lo phần linh hồn thôi, không lo phần xác. Lối suy nghĩ đó đi xa sự thật lịch sử: trở lại ngàn năm nay, đâu đó Hội thánh tổ chức trường học, viện cô nhi, dưỡng lão, trại bài phung, bệnh viện từ vườn trẻ đến đại học.v.v...
- "Phát triển là danh hiệu mới của hoà bình" (Ðức Phaolô VI).
Mặc dù giúp đỡ anh em sung sướng bao nhiêu đi nữa, nếu con để họ thành" bộ máy tự động", con chưa làm cho họ phát triển thực sự (ÐHV. 586).
- Chấp nhận những người chỉ biết nằm, biết ngồi, chỉ muốn lẻo đẽo đi theo, muốn được giúp, được cứu, được cho, để con được làm ảnh tượng, được luôn luôn cần thiết, thực dễ vô cùng! Nhưng con hãy luyện những con người trách nhiệm, những con người muốn đứng, những con người đáng làm người (ÐHV. 592).
Thực là khó! Nhưng con phải quyết tâm giúp cho người khác:
Nói tóm lại, Hy vọng là sức mạnh thúc đẩy chúng ta làm chứng về nổ lực dấn thân phát triển con người toàn diện.
* Phúc âm
"Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ" (Mt 28, 18).
- Hội thánh phục vụ bằng cách Phúc âm hoá chính mình để rồi Phúc âm hoá xã hội. Không phải để lôi kéo người ta vào đạo, nhưng để giá trị của Phúc âm soi rọi cho chúng ta sống tốt đẹp hơn.
Văn hào B. Pascal đã nói : "Khi tôi hiểu biết Thiên Chúa thì tôi cũng đã hiểu biết chính mình tôi". Vì sao? Vì ý Thiên Chúa dựng nên tôi làm con Ngài, cao sang tốt đẹp hơn muôn phần, và những con người khác quanh tôi cũng cao cả như vậy.
Phúc âm là Lời đem đến ơn phúc, lời từ Thiên Chúa là Chúa Giêsu Kitô. Lời đó, vâng theo ý Chúa Cha, để làm một việc là yêu thương con người, và yêu thương đến độ hy sinh mạng sống mình.
Kitô hữu chúng ta không có con đường nào để chọn, nguồn sinh lực nào để múc lấy, mẫu mực nào để bắt chước, mục tiêu nào để đạt được ngoài Ðức Giêsu Kitô, được trao lại cho chúng ta qua các nội dung của Phúc âm.
Ðức Giêsu Kitô là lời làm thân xác, ở giữa chúng ta, không phải là lời nói suông nhưng là một con người, một cuộc sống.
Ra đi rao truyền Phúc âm là nghĩa vụ thiết yếu của Kitô hữu và Giáo hội, trước hết là toả lan ánh sáng yêu thương, tinh thần hy sinh, phục vụ người anh em, kể cả kẻ thù mình, như Chúa Kitô đã thực hiện.
- Con chỉ có một Nội qui: Phúc âm. Ðó là hiến pháp trên tất cả mọi hiến pháp. Là Hiến pháp Chúa Giêsu đã để lại cho các tông đồ; không khó khăn, phức tạp, gò bó như các hiến pháp. Ngược lại linh động, nhân hậu, làm phấn khởi linh hồn con.
Một vị thánh ngoài Phúc âm là "thánh giả" (ÐHV. 986).
- Quả tim con phải rộng đủ để chức đựng và rung nhịp với tất cả chương trình Phúc âm hoá của Hội thánh (ÐHV. 331).
Khi chiếu sáng Phúc âm chung quanh ta là ta làm tông đồ.
- "Tông đồ bằng hy sinh và thinh lặng" như hạt lúa chôn vùi, nát thối để sinh muôn ngàn hạt khác nuôi nhân loại.
"Tông đồ bằng chứng tích". Lời quả quyết suông không đáng người ta tin tưởng mấy, dù ngọt ngào trau chuốt đến đâu.
Tang vật đáng tin hơn.
Hình ảnh chụp được, tiếng nói ghi âm được, càng dễ đánh động người ta hơn.
Nhưng chính con người sống động bằng xương thịt, nếu cả cuộc sinh hoạt, nếu cả một lớp người, một lớp gia đình cùng sống một lý tưởng, thì chứng tích ấy có một sức mạnh thuyết phục lớn lao biết chừng nào! (ÐHV. 332).
- Bí quyết công cuộc tông đồ trong thời đại ta:
Tông đồ giáo dân! (ÐHV. 335).
Thật thế, tại ngay Rôma nầy, trong ba năm qua, từng ngàn giáo dân tình nguyện làm "thừa sai đô thị", thăm viếng, mang tặng Phúc âm đến từng gia đình trong giáo phận.
- Ðường lối của tông đồ thời đại ta:
* Ở giữa trần gian
* Không do trần gian
* Nhưng cho trần gian
* Với phương tiện của trần gian (ÐHV. 340)
(Còn tiếp)
Kính chuyển
Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 81 = TOI LA MOT TOI NHAN PDF Print E-mail

 

 

From: Tinh Cao
To: tinh cao
Sent: Sunday, September 22, 2013 7:28 PM
Subject: DTC Phanxico - Toi la mot toi nhan...

1- Jorge Mario Bergoglio là ai?

Tôi hỏi thẳng Đức Giáo Hoàng Phanxicô rằng: "Jorge Mario Bergoglio là ai?" Ngài chăm chăm nhìn vào tôi một cách trầm lặng. Tôi hỏi ngài xem tôi có được hỏi ngài câu này hay chăng. Ngài gật đầu và trả lời rằng: "Tôi không biết phải diễn tả làm sao cho thích đáng nhất đây... Tôi là một tội nhân. Đó là một định nghĩa chính xác nhất. Nó không phải là một lời nói bóng gió, một thứ văn chương. Tôi là một tội nhân".

Đức Giáo Hoàng tiếp tục chia sẻ và tỏ ra tập trung vào vấn đề như thể ngài không ngờ về một câu hỏi như thế, như thể ngài bị bắt buộc phải chia sẻ thêm. "Đúng thế, có lẽ tôi có thể nói rằng tôi hơi khéo léo một chút, rằng tôi có thể thích ứng với các hoàn cảnh mà nói, thế nhưng tôi cũng thật sự là hơi ngây ngô thẳng thắn. Phải đấy, thế nhưng cái tóm gọn đúng nhất, cái xuất phát từ trong lòng và tôi cảm thấy đúng nhất là thế này: Tôi là một tội nhân được Chúa đoái thương". Và ngài lập lại rằng: "Tôi là một kẻ được Chúa đoái thương. Tôi luôn cảm thức được câu tâm niệm của mình, Miserando atque Eligendo (vì thương mà chọn) là những gì rất đúng với tôi".

Câu tâm niệm này được lấy từ các Bài Giảng của tác giả Bede the Venerable, vị viết trong phần dẫn giải của mình về câu truyện Phúc Âm liên quan đến việc Thánh Mathêu được Chúa Giêsu kêu gọi: "Chúa Giêsu đã trông thấy một người thu thuế, và vì Người nhìn anh ta bằng những cảm xúc yêu thương nên đã chọn anh ta, Người đã nói cùng anh ta rằng: 'Hãy theo Ta'". Đức Giáo Hoàng còn thêm: "Tôi nghĩ động danh từ Latinh miserando này không thể dịch sang cả tiếng Ý lẫn tiếng Tây Ban Nha. Tôi thích dịch nó bằng một động danh từ (gerund) khác vốn không có, đó là misericordiando ('mercy-ing' - việc thương xót)".

Đức Giáo Hoàng tiếp tục chia sẻ mà nói, khi nhẩy qua một đề tài khác: "Tôi không biết rõ về Rôma. Tôi biết một ít điều thôi. Những điều này bao gồm Đền Thờ Đức Bà Cả; tôi thường đến đó. Tôi biết Đền Thờ Đức Bà Cả, Đền Thờ Thánh Phêrô... thế nhưng khi tôi cần phải đến Rôma thì tôi bao giờ cũng ở (vùng lân cận) của Via della Scrofa. Từ đó, tôi thường viếng thăm Nhà Thờ Thánh Louis Pháp Quốc và tôi đến đó để chiêm ngưỡng bức họa liên quan đến 'Ơn Gọi của Thánh Mathêu' của Caravaggio.

"Ngón tay của Chúa Giêsu chỉ vào Thánh Mathêu. Tức là tôi. Tôi cảm thấy như ngài". Đến đây Đức Giáo Hoàng trở nên quyết liệt, như thể ngài cuối cùng đã thấy được hình ảnh ngài đã tìm kiếm: "Chính cử chỉ của Thánh Mathêu đã tác động tôi: Ngài giữ lấy tiền của ngài như muốn nói rằng 'Không, không phải là tôi! Không, tiền bạc này là của tôi'. Đấy, tôi đó, một tội nhân đã được Chúa hướng nhìn tới. Và đó là những gì tôi đã nói khi các vị hỏi tôi rằng tôi có chấp nhận được tuyển bầu làm giáo hoàng hay chăng". Bấy giờ vị giáo hoàng này đã thầm thỉ bằng tiếng latinh rằng: "Tôi là một tội nhân, nhưng tôi tin vào tình thương vô biên và nhẫn nại của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng tôi, và tôi chấp nhận bằng tinh thần thống hối".

2- Tại sao ngài lại trở thành một tu sĩ Dòng Tên?
Tôi tiếp tục: "Tâu Đức Thánh Cha, cái gì đã khiến ngài chọn gia nhập Dòng Chúa Giêsu? Cái gì đã đánh động ngài về Dòng Tên?" "Tôi đã muốn một cái gì hơn nữa. Thế nhưng tôi không biết đó là cái gì. Tôi đã nhập chủng viện của địa phận. Tôi thích anh em tu sĩ Dòng Đa Minh và tôi có bạn bè Đa Minh. Thế nhưng tôi đã chọn Dòng Chúa Giêsu là dòng tôi đã biết rõ vì chủng sinh được ủy thác cho các Cha Dòng Tên. Có 3 điều đặc biệt đánh động tôi về Dòng này, đó là tinh thần truyền giáo, cộng đồng và kỷ luật. Và đó mới là điều lạ, vì tôi là một con người thật thật là phi kỷ luật. Thế nhưng, kỷ luật của họ, cách thức họ điều hành giờ giấc của họ - những điều ấy đã đánh động tôi rất nhiều.

"Rồi còn một điều nữa thật sự là quan trọng đối với tôi, đó là cộng đồng. Tôi luôn luôn tìm kiếm một cộng đồng. Tôi không coi tôi như là vị linh mục một mình. Tôi cần một cộng đồng. Và cha có thể thấy điều này nơi sự kiện tôi ở Nhà Thánh Matta đây. Vào thời điểm mật nghị hồng y bầu giáo hoàng, tôi đã ở Phòng 207. (Phòng bè được phân chia bằng việc rút thăm). Phòng mà giờ đây chúng ta ở là một phòng khách. Tôi đã chọn sống ở đây, tại Phòng 201, vì khi tôi lấy căn giáo hoàng thất thì trong bản thân mình tôi đã nghe rõ một tiếng 'đừng'. Căn giáo hoàng thất ở Tông Dinh không sang trọng lộng lẫy gì. Nó cũ kỹ, được trang hoàng đẹp đẽ và rộng rãi, nhưng không sang trọng lộng lẫy. Thế nhưng, nó ở cuối giống như một cái phễu lộn ngược. Nó lớn và rộng rãi, thế nhưng lối vào lại thật là nhỏ. Người ta chỉ có thể đi vào từng ít một và buồn tẻ, và tôi không thể sống mà thiếu dân chúng. Tôi cần sống cuộc đời mình với những người khác".

3- Một tu sĩ Dòng Tên làm Giám Mục Rôma có nghĩa là gì?

Tôi hỏi Đức Giáo Hoàng Phanxicô về sự kiện ngài là tu sĩ Dòng tên đầu tiên được chọn bầu làm giám mục Rôma rằng: "Đức Giáo Hoàng hiểu như thế nào về vai trò phục vụ giáo hội hoàn vũ mà ngài đã được kêu gọi để thực hiện theo chiều hướng của linh đạo I Nhã (Ignatio)? Việc một tu sĩ Dòng Tên được chọn làm giáo hoàng có nghĩa là gì? Yếu tố nào trong linh đạo I Nhã có thể giúp ngài sống thừa tác vụ của ngài?"

Ngài trả lời rằng: "Nhận thức. Nhận thức là một trong những điều đã tác động nội tâm của Thánh I Nhã. Đối với thánh nhân thì nó là một khí giới của một cuộc gắng gỏi để nhận biết Chúa và theo Người chặt chẽ hơn. Tôi luôn bị đánh động bởi một câu nói diễn tả cái nhãn quan của Thánh I Nhã, đó là câu: non coerceri a maximo, sed contineri a minimo divinum est ("không bị hạn chế bởi những gì vĩ đại nhất mà vẫn được chất chứa trong những gì bé mọn nhất - đó là thần linh"). Tôi đã nghĩ rất nhiều về câu này liên quan đến vấn đề các vai trò khác nhau trong việc quản trị giáo hội, về việc trở thành bề trên của một ai khác: vấn đề quan trọng ở đây là đừng bị hạn chế bởi một khoảng rộng lớn mà vẫn cần phải có thể ở trong những khoảng hạn hẹp. Nhân đức về những gì lớn nhỏ này là nhân đức cao thượng đại lượng. Nhờ cao thượng đại lượng chúng ta mới luôn có thể nhìn về chân trời từ vị trí chúng ta đang ở. Nghĩa là có thể thực hiện những điều ti tiểu hằng ngày bằng một con tim to lớn hướng về Thiên Chúa và về người khác. Nghĩa là có thể cảm nhận được những gì nhỏ bé bên trong những chân trời rộng lớn, những chân trời của vương quốc Thiên Chúa.

Đức Giáo Hoàng nói tiếp: "Câu tâm niệm này cống hiến cho chúng ta những yếu tố để có thể cho rằng mình nắm bắt được nhận thức, để nghe những gì về Thiên Chúa theo 'quan điểm' của Thiên Chúa. Theo Thánh I Nhã, những đại nguyên tắc cần phải được thể hiện nơi các hoàn cảnh về nơi chốn, thời gian và nhân sự. Theo cách thức riêng của mình, Đức Gioan XXIII đã thích ứng thái độ này với việc quản trị giáo hội, khi ngài lập lại câu tâm niệm 'Hãy nhìn xem tất cả mọi sự; hãy hướng con mắt mù lòa về phần đông; hãy điều chỉnh cái chút xíu'. Đức Gioan XXIII đã thấy tất cả mọi sự, thấy cái chiều kích tối đa, thế nhưng ngài chỉ muốn điều chỉnh một chút ít, chiều kích tối thiểu. Ông có thể có những đại dự phóng và thực hiên chúng bằng một chút những cái nhỏ mọn nhất. Hay ông có thể dùng phương tiện yếu kém tác hiệu hơn là những phương tiện hùng hậu, như Thánh Phaolô cũng đã nói ở trong Thư Thứ Nhất của ngài gửi Giáo Đoàn Corintô.

"Cái nhận thức này cần đến thời gian. Chẳng hạn, nhiều người nghĩ rằng các thứ thay đổi và canh tân cải cách có thể xẩy ra trong vòng một thời gian ngắn. Tôi tin rằng chúng ta luôn luôn cần thời gian để đặt nền móng cho các đổi thay thực sự hiệu nghiệm. Và đó là thời gian của việc nhận thức. Trái lại, đôi khi việc nhận thức thôi thúc chúng ta thực hiện chính xác những gì ông nghĩ ngay từ đầu ông cần phải làm gì sau đó. Và đó là những gì đã xẩy ra cho tôi trong những tháng vừa qua. Việc nhận thức bao giờ cũng cần phải thực hiện trước nhan Chúa, khi nhìn vào các dấu chỉ, khi lắng nghe những gì xẩy ra, cảm thấy dân chúng, nhất là người nghèo. Những chọn lựa của tôi, bao gồm những chọn lựa liên quan tới các khía cạnh sống hằng ngày, như việc sử dụng một cái xe bình dân, đều liên hệ tới một thứ nhận thức thiêng liêng có thể đáp ứng một nhu cầu nào đó xuất phát từ việc nhìn vào các sự vật, vào dân chúng cũng như từ việc thấy được các dấu chỉ thời đại. Việc nhận thức trong Chúa là những gì hướng dẫn tôi về đường lối tôi quản trị.

"Thế nhưng, tôi bao giờ cũng thận trọng về các quyết định vội vàng thực hiện. Tôi bao giờ cũng thận trọng về quyết định đầu tiên của mình, tức là về điều đầu tiên đến trong đầu của tôi nếu tôi cần phải đi đến quyết định. Đây thường là một điều sai lầm. Tôi cần phải chờ đợi và thẩm định, nhìn sâu xa vào bản thân mình, trong một thời gian cần thiết. Sự khôn ngoan của việc nhận thức là những gì bù đắp lại cho cái mập mờ cần thiết trong đời sống, và giúp cho chúng ta tìm thấy phương tiện thích đáng nhất, cái mà không phải bao giờ cũng trùng hợp với những gì có vẻ vĩ đại và hùng tráng".

(còn tiếp)

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch theo tạp chí America của Dòng Tên

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 128 of 153