mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay505
mod_vvisit_counterHôm Qua8355
mod_vvisit_counterTuần Này56157
mod_vvisit_counterTuần Trước61384
mod_vvisit_counterTháng Này190149
mod_vvisit_counterTháng Trước278668
mod_vvisit_counterTất cả13293980

We have: 127 guests online
Your IP: 54.90.86.231
 , 
Today: Apr 21, 2019

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 70 = PHAM GIA CON NGUOI PDF Print E-mail

PHẨM GIÁ CON NGƯỜI TRONG HUẤN DỤ XÃ HỘI CỦA GIÁO HỘI ( 4 )

NGUYỄN HỌC TẬP

Con người và công quyền.

J - Quốc gia can thiệp để bảo vê phẩm giá con người ( RM 1941, 15: Pio XII, Radiomessaggio per il 50° anniversario della Rerum Novarum).

- " Bảo vệ lãnh vực các quyền bất khả xâm phạm của con người và tao điều kiện dễ dàng để con người chu toàn đươc các bổn phận của mình, đó là phân vu thiết yếu của mọi quyền lực công cộng.

Đó không phải là những gì hàm chứa nơi mình ý nghĩa tốt đep của công ích sao ? Điều quan trọng không phải công quyền đó là công quyền trải rộng trên mọi thành phần cộng đồng, mà vì đó công quyền có quyền giảm thiểu đi động tác cá nhân được đề cập ở trên, tức là trực tiếp quyết định bao giờ bắt đầu hay ( trừ trường hơp vì phải tuân hành hình phạt chính đáng ) kết thúc đời sống của mình, quyết định tùy theo tài năng của mình, các động tác thể xác, tinh thần , tôn giáo và luân lý như thế nào, ngược lại các bổn phận và quyền hạn của con người. Và nhằm mục đích đó, quyết định xoá bỏ đi hoặc giảm thiểu hiệu lục quyền tự nhiên của con người đối với của cải vật chất.

Luận giải quá đáng trương đô ý nghĩa đó, lợi ích chung có thể làm đảo lộn ý nghĩa của công ích và rơi vào sai lạc của viêc xác định mục đích của con người trong cuộc sống trần thế xã hội, cho rằng xã hội tự có cùng đích nơi chính mình, cho rằng con người không có đời sống nào khác mà mình mong đợi hơn là cuộc sống ở trần thế nầy ".

K - Cộng đồng xã hội, tự mình không có lý chứng và ý chí để tồn tại ( ĐGH Pio XI, DR, Divini Redemptoris, 19.03.1937, 29).

" Quyền và bổn phận tương trợ lẫn nhau giữa con người và xã hội.

Nhưng đồng thời Thiên Chúa sắp đặt con người vào lòng xã hội dân sự, do chính bản tính con người đòi buôc.

Trong chương trình của Đấng Tao Hoá, xã hội là một phương thế tự nhiên, mà con người có thể và phải dùng để đạt được cùng đích của mình, bởi vì xã hội con người phải phục vu con người , chớ không ngược lai.

Điều vừa kể không nên hiểu theo tư tưởng của tự do cá nhân chủ nghĩa, đặt xã hội phải tùy thuộc vào cách xử dung ích kỷ của cá nhân; nhưng chỉ theo ý nghĩa, nhờ vào việc hội nhập có trật tự như là phần cơ thể vào xã hội, khiến cho xã hội trở thành ai cũng có thể hội nhập được, nhờ vào viêc cộng tác với nhau, xã hội có thể thực hiện được cuộc sống hanh phúc trần thế.

Ngoài ra, với ý nghĩa xã hội tất cả các tài năng cá nhân và xã hội đều đươc phát triển, là những tài năng tiềm ẩn trong bản tính con người, vuợt hẵn lên trên lợi thú tức thời và phản ảnh lại trong xã hội sư hoàn hảo của Thiên Chúa, điều mà trong cá nhân riêng rẽ không thể thể hiên được.

Nhưng mục đích cuối cùng nầy, suy nghĩ cho cùng, được Chúa thiết định cho con người, để con người nhận ra được đó là phản ảnh sự toàn vẹn của Thiên Chúa, và nhờ đó con người ca tụng và thờ lạy Đấng Tạo Hoá.

Chỉ có con người, con người với nhân vị của mình, chớ không phải bất cứ một tổ chức xã hội con người nào, mới đươc ban cho lý trí và ý chí tự do luân lý ".

L - Phẩm giá người công dân, vâng phuc công quyền và vấn nạn lương tâm ( DGH Gioan XXIII, PT, Pacem in terris, 11.04.1963, 49-51).

" Bởi đó, quyền lưc nhân loại chỉ có giá tri bắt buộc luân lý, nếu quyền lực đó có liên hệ mât thiết với uy quyền Thiên Chúa và tham dư vào uy quyền đó " ( n. 49).

" Vẫn theo ý nghĩa hành xử đó, phẩm giá cá nhân của người công dân được bảo vệ, bởi lẽ sự vâng phục của họ đối với công quyền không phải là nô bộc tuân phục của con người đối với con người, nhưng trong ý nghĩa xác thưc đúng đắn của nó, đó là một tác động trọng kính Thiên Chúa Đấng Tạo Dựng và Khôn Ngoan Quan Phòng, Đấng đã tiên liệu các mối liên hệ trong cuôc chung sống đưọc sắp xếp theo trật tự, đã được Người thiết định. Và bằng cách ngợi khen Thiên Chúa, không phải là điều hạ thấp phẩm giá của chúng ta, nhưng là điều nâng cao chúng ta lên và làm cho chúng ta trở thành cao qúy, bởi lẽ " phục vụ Chúa là cai trị " ( ĐGH Leo XIII, Diuturnum illud, 20.06.1881, Acta Leonis XIII, 2. p. 274) ( n. 50 ).

" Như đã nói, quyền lưc do trât tự luân lý thiết định và phát xuất từ Thiên Chúa. Bởi vậy, nếu pháp luật hay các chỉ thị của công quyền đi ngược lại trật tự đó, và bởi đó trái ngược lại ý muốn của Thiên Chúa, các lề luật đó không có uy lực bắt buộc đối với lương tâm của con người, bởi lẽ " cần phải tuân phục vâng lời Thiên Chúa hơn là tùng phục con người " ( Act 5, 29).

Trong trường hơp vừa kể quyền lực công không còn phải là lề luật đúng nghĩa nữa và biến thành rối loạn.

" Bởi đó luật pháp con người có bản chất là pháp luật, nếu luât pháp đó thích hợp với lý trí và trong ý nghĩa đó luật pháp chính đáng dĩ nhiên thoát xuất từ lề òuật vĩnh cửu.

Nhưng nếu lề luật đi ra ngoài lý trí, đó là luât pháp bất chính. Và từ đó luật pháp không còn có bản chất là lề luật, mà là cưởng chế áp đặt " ( Summa theologia I-II, q. 93, ad.2 ) ( n. 51 ).

m - Tương quan giữa người dân và công quyền ( ĐGH Gioan XXIII, PT, Pacem in terris, 11.04.1963, n. 77).

" Như vậy, dưới hình thức quyền và bổn phận, các mối tương quan giữa người dân và các quyền lưc quốc gia được xác định. Và trong đó, các quyền lực quốc gia có bổn phận chính yếu phải nhận biết, kính trọng và thiết định môt cách hoà hợp, bảo vệ và thăng tiến các quyền và bổn phận của người dân".

 
HOC HOI DE SONG DAO # 69 = CHUC LANH CHO NGUOI THAN YEU PDF Print E-mail

CHÚC LÀNH CHO NGƯỜI THÂN YÊU

Phan Sinh Trần.

Đặc điểm của những người được diễm phúc gần Chúa là được ở trong sự dậy dỗ của Chúa, Chúa tỉa tót từng li , từng tí để không còn những khuyết điểm nhỏ , những điều thiếu sót từ lâu cũng được Chúa nhắc nhở , hơn thế nhiều Ngài làm cho lòng ta thay đổi nên giống đức xót thương và chạnh lòng của Chúa.

Trong ơn Chúa nhiều khi ,Lòng ta bứt rứt giống như các Thánh khi xưa:

- Gặp một người đau khổ , homeless long ta xốn xang và ngậm ngùi.

- Gặp một cây thánh giá bên đường gần highway , dấu hiệu cho biết đã có người chết vì tai nạn xe trong quá khứ , ta thương hại và cấu cho linh hồn người đã chết vì tai nạn

Hơn thế nữa , gặp người thất nghiệp ta cũng chạnh long, gặp người trong business vất vả như tôi mọi mà còn mât vốn vì làm ăn lỗ lã , không có khách ta chạnh long và câu nguyện cho.

Càng mạnh mẽ hơn là tình thương mến dành cho Anh Em , Bạn Bè và nhất là con cái, ta chỉ chờ có dịp là nhân danh Chúa để cầu phước và chúc lành cho con cái , người thuộc về mình. Điều này có quá mức không , có vượt quá quyền hạn của mình không và cách thực hành này có phải là từ sự dậy dỗ của Chúa không ? Vâng Nếu thực là Chúa đã dục dã long ta làm điều gì thì chắc chắn là điều đó phải là đã có ghi tỉ mỉ trong Kinh Thánh,

Bằng chứng làtrong thư Phero có khuyên nhủ :

9 Ðừng lấy ác báo ác, hay nguyền rủa đáp lại nguyền rủa. Trái lại, hãy chúc lành, vì anh em đã được kêu gọi, ấy là để được chúc lành làm cơ nghiệp.(Phero 3:8)

Thật là ngoạn mục , khi Kinh Thánh nói rằng chúng ta được thừa hưởng chúc lành và ơn phúc nhờ Chúa Giê Su và nhờ sự thừa kế đó ta có thể chúc lành cho con cái , người thân, anh em , họ hàng.

Ta có thể chúc lành cho Anh Em vì Chúa đã chúc lành cho ta và nếu ta nhân danh Chúa khi đang có ơn nghĩa với Chúa thì ta có thể mang chúc lành của Ngài đến cho người Anh Em.

Thánh Anthony thành Padua không dừng ở đó , Ngài còn chúc lành cho cả đàn chim khi mà Ngài cùng với chúng ca ngợi kỳ công của Chúa nữa.

SỰ HIỆU NGHIỆM CỦA LỜI CHÚC LÀNH

Chúng ta thắc mắc, liệu lời chúc lành này có ý nghĩa gì không ?

Có hiệu nghiệm không ?

Cũng đoạn Thư thứ nhất của thánh Phê rô này đã giải thích luôn:

- 11 Hãy lánh dữ, hãy làm lành.

Hãy tìm kiếm bình an, hãy đeo đuổi nó.

12 Bởi chưng mắt Chúa trên hạng người công chính,

vàtai Người nơi lời họ kêu xin...

(Phê rô 8:11-12a)

Tai của Chúa luôn lắng nghe các con cái yêu quí của Ngài , các "cục vàng của Ngài" ,." tai Người nơi lời họ kêu xin".

Trong chuyện đời các Thánh khi xưa ta thấy gì, ta nhận thấy đời sống của các Ngài thực là một đời sống cháy bỏng yêu mến: Thánh Martin de Porres , đem ông già ăn xin , gần như trần truồng với nhiều vết lở lói kinh tởm hôi thối vào trong gường ngủ của mình ở Tu Viện Đa Minh để chăm sóc, thấy Thánh Martin mang vác đụng chạm vào bệnh nhân, làm cho thầy dòng cùng tu viện phải kinh hãi, nhưng Ngài thì chẳng e dè, Ngài nói: " Lòng thương xót thì lớn hơn sự sạch sẽ !" Đúng rồi , khi tình thương xót , tình yêu lớn đến một mức nào đó thì nó sẽ vượt qua sự ngại ngần về bệnh nhân quá bẩn thỉu , hôi thối, vượt qua tính thích tiện nghi thoải mái của chúng ta. Tình yêu có thể vượt qua hết !Còn thánh Vincent de Paul thì nói: " Trong mỗi gường bệnh của nhà thương , với con mắt đức tin bạn sẽ thấy Chúa Giê Su (đang ở đó).

Bí quyết của các Ngài là sống trong sự thánh khiết của Chúa và làm máng phân phối vô vàn hồng ân và chúc lành cho mọi người. Lời chúc lành và kêu xin của các Thánh rất hiệu nghiệm , rất nhiều lần , Chúa đáp ứng nhãn tiền , ngay tức khắc, đúng như câu Kinh Thánh: "tai Người nơi lời họ kêu xin". Theo lời kể của cha Andrew Pradel thì Thánh Vinh Sơn Ferrer, trong suốt cuộc đời của Ngài đã cầu nguyện cho 28 người chết sống lại , trong đó có một em trai sau nay trở thành Hồng Y tại Seville. Bản thân thánh Vinh Sơn Ferrer cũng được Chúa chữa cho khỏi bệnh hiểm nghèo. Trong vòng 30 năm , Ngài giảng và xin ơn Chúa cho khoảng 200, 000 ngoại đạo trỏ lại Công Giáo.

LỜI CHÚC LÀNH MỖI NGÀY

Mỗi sang khi tiễn con của bạn vào lớp học , đừng quên nhân danh Chúa chúc lành cho một ngày mới , cho việc học của nó.

Khi con bạn bước vào phòng thi, nhớ xin Chúa chúc lành cho bài thi của nó, nếu nó xứng đáng với lời chúc thì Chúa sẽ "ban thêm cho", kết quả sẽ được hơn mức dự kiến, hơn cả lòng mình mong đợi.

Ngày con bạn có bồ, bắt đầu yêu đương , xin háy cầu nguyện và chúc lành cho tình yêu thánh khiết của đôi bạn trẻ. Một khi được Chúa chúc phúc và thánh hóa cho tình yêu của chúng, thì dù phim ảnh, môi trường, quyến rũ về Sex cũng không làm hại được con bạn

Ngày đám hỏi của con bạn , nhớ đừng quên Xin Chúa gia tăng và chúc lành cho tình yêu vô điều kiện giống như tình của Chúa với Giáo Hội cứ lớn lênmãi và trưởng thành , cho sự chuẩn bị một hôn nhân thánh , nhất là biết tập sự và thành thạo trong sự tương nhượng lẫn nhau trong Chúa và nhờ Chúa.

Ngày đám cưới của con bạn, xin nhớ chúc lành cho gia đình thánh gia của chúng.

Về phần mình , từ ngày tôi được Cha Đinh Thanh Sơn , Montreal Canada dậy cách chúc lành cho con cái , thì sau khi áp dụng , con tôi đã có tiến bộ nhiều trong mọi mặt , tinh thần và cả vật chất nữa . Cám ơn Chúa.

Hơn thế nữa , nếu Chúa cho long bạn nhiều xót thương thì cứ tiếp tục cầu nguyện và chúc lành cho bất kỳ ai mà ta gặp trên đương đời .Chúc lành cho kẻ thù của chúng ta nữa.

Tình yêu Thiên Chúa đang thúc bách bạn mà !!!giống như thánh Phao lô đã nói

... Vì lòng mến của Ðức Kitô thúc bách chúng tôi (2Corinto 5:14)

tôi lấy lòng yêu dấu của Đức Chúa Jêsus Christ mà trìu mến anh em. (Philip1:8)


Tân Trần chuyển

 
HOC HOI DE SONG DAO # 68 = RUOC LE BANG TAY PDF Print E-mail

NÓI THÊM VỀ VẤN ĐỀ RƯỚC MÌNH THÁNH CHÚA BẰNG TAY

Hỏi: xin cha cho biết rước lễ bằng tay có bất kính đối với Chúa Kitô hay không?

Trả lời: Thật ra tất cả chỉ vì thói quen mà sinh ra những khó khăn và bất đồng mà thôi.

Thật vậy, trước hết là vấn đề thay thế tiếng La-tinh bằng mọi ngôn ngữ thế giới trong phụng vụ. Vì tiếng La-tinh đã được dùng quá lâu, nên khi thánh lễ được làm bằng các ngôn ngữ khác sau Công Đồng Vaticanô II (1962-65) thì nhiều người đã không bằng lòng.

Mặt khác, những cải cách của Công Đồng này cũng không được đồng tâm đón nhận trong toàn Giáo Hội. Cụ thể, một Tổng Giám Mục Pháp (Lefevre) đã bất tuân để tiếp tục làm lễ bằng tiếng La-tinh và tự tách mình ra khỏi Giáo Hội cho đến ngày ngài mất năm 1991. Nhóm linh mục đi theo ngài vẫn tiếp tục theo Nghi Thức Tridentine cũ và bác bỏ mọi cải cách của Công Đồng Vaticanô II.

Nhưng cần phải nói rõ là từ đầu Giáo Hội La Mã dùng tiếng La-tinh trong phụng vụ và mọi sinh hoạt khác là vì lý do muốn bảo đảm sự hiệp nhất (unity) trong Giáo Hội chứ không vì lý do tín lý, thần học nào khác. Cũng không phải vì tiếng La-tinh là tiếng Chúa Giê su đã nói xưa kia, nên phải duy trì. Chúa là người Do Thái, nên Ngài đã dùng ngôn ngữ này để giảng dạy các môn đệ và dân chúng thời đó. Cho nên không phải vì tôn trọng Chúa mà phải dùng tiếng La-tinh. Nhưng, vì ngôn ngữ này đã được dùng quá lâu trong Giáo Hội nên người ta trở nên quen đến nỗi khó bỏ được mà thôi.

Chính vì còn có những người thích tiếng La-tinh và Nghi Thức cũ, nên trong năm qua (ngày 7-7-2007) Đức Thánh Cha Bênêđíchtô XVI ( nay đã về hưu) đã ra Tông Thư Summorum Pontificum cho phép sử dụng rộng rãi hơn Nghi Thức bất thường Lễ Tridentine bằng tiếng Latinh, song song với Nghi Thức mới thông thường ban hành năm 1970 cho phép cử hành thánh lễ và các bí tích bằng ngôn ngữ địa phương như hiên nay. Đây chính là một cố gắng hòa giải những bất đồng còn âm ỷ trong Giáo Hội từ sau Công Đồng Vatican II của Đức cựu Giáo Hoàng. Tóm lại cũng vì tiếng La-tinh và những cải cách của Công Đồng Vaticanô II mà nhóm theo Tổng Giám Mục Lefevre đã ly khai khỏi Giáo Hội La-mã cho đến nay.

Về phần giáo dân ở khắp nơi thì cũng còn nhiều người không hài lòng với những thay đồi về phụng vụ. Cụ thể là vấn đề rước lễ bằng tay.

VIỆC NÀY CÓ PHƯƠNG HẠI ĐẾN ĐỨC TIN CÔNG GIÁO HAY KHÔNG?

Trong bài trước, tôi đã nói rõ là Tòa Thánh đã cho phép rước lễ bằng tay kể từ sau Công Đồng Vaticanô II. Nhưng cũng vì có dư luận không tán thành, nhất là vì có nguy cơ lạm dụng nên để tránh nguy cơ tục hóa (profanation) và phạm thánh (sacrilege) mà Đức Hồng Y Francis Arinze, khi đó đương là Tổng Trưởng Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí Tích, đã ra Huấn Thị Redemptoris Sacramentum để giải thích thêm về Tông Thư Ecclesia de Eucharistia của Đức cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, với nhũng chỉ thi cụ thể như sau:

1- Tín hữu được phép lựa chọn rước lễ bằng tay hay trên lưỡi, quì xuống hay đứng lên khi rước Mình Máu Thánh Chúa Kitô trong Thánh lễ. (no. 91-92)

2- Thánh Bộ cũng khuyến khích việc cho tín hữu rước cả Mình và Máu Thánh Chúa, mặc dù Chúa Kitô hiện diện hoàn toàn trong cả hai hình thức trên. Nghĩa là dù chỉ rước Mình Thánh thôi thì cũng rước trọn vẹn Chúa Kitô rồi (x. SGLGHCG. số 1377). Tuy nhiên, Hội Đồng Giám Mục các quốc gia được dành quyền tùy nghi áp dụng việc này ở địa phương. ( no. 100-101)

3- Cũng liên quan đến việc rước Máu Thánh, Thánh Bộ cũng cho phép hình thức chấm Mình Thánh vào chén Máu Thánh (Intinction) nhưng người rước lễ không được phép tự tay chấm mà phải nhận lãnh trên lưỡi từ tay thừa tác viên.

Nghĩa là không được phép lãnh nhận trên tay, mà phải trên lưỡi nếu rước lễ với hình thức chấm này. (no.104)

Sở dĩ có sự cho phép hình thức chấm (intinction) Mình vào Máu Thánh nói trên, là vì có mối quan ngại về nguy cơ lây bệnh truyền nhiểm khi nhiều người cùng uống chung một chén. Ngoài ra, còn bất tiện nữa là thừa tác viên phải uống hết Máu Thánh còn dư sau Lễ. Cũng nên biết rằng trong bí tích Thánh Thể, thì chỉ có bản thể (substance) của bánh và rượu trở thành Bản Thể của Chúa Kitô mà thôi, còn chất thể (material, matter ) của bánh và rượu không thay đổi, cho nên uống nhiều rượu nho vẫn có thể say như thường!

Trên đây là tóm lược những gì Tòa Thánh – qua Thánh Bộ Phụng Tự – đã cho phép. Nghĩa là chính Đức Thánh Cha đã đồng ý cho thi hành trong toàn Giáo Hội, vì mọi quyết định của các Cơ quan đầu não trong Giáo triều Roma, nhất là của hai Thánh Bộ quan trọng là Phụng Tự (Divine Worship) và Giáo lý đức tin (Doctrine of Faith) thì bắt buộc phải có sự chấp thận (approve) của Đức Thánh Cha trước khi đem thi hành. Như thế, nếu muốn vâng phục Tòa Thánh, thì không ai được phép chống đối những gì đang được cho phép thi hành. Chúng ta có thể góp ý xây dựng và đề nghị những sửa đổi. Nhưng quyền quyết định tối hậu vẫn thuộc về Đức Thánh Cha, vị Đại Diện duy nhất của Chúa Kitô trên trần gian.

Rước lể trên lưỡi hay trên tay tự nó không có gì là phạm thánh hay bất kính đối với Chúa Kitô. Căn bản thần học ở đây là Chúa Kitô tự hiến mình làm của ăn của uống để nuôi linh hồn người ta cũng như Ngài đã tự hiến chịu chết trên thập giá để cứu chuộc nhân loại.

Vậy nhận lãnh Chúa trên tay hay trên lưỡi không có gì khác biệt về bản chất. Giáo lý của Giáo Hội chỉ đòi hỏi phải sạch tội trọng, có ý ngay lành (good intention) và giữ chay (fasting) một giờ trước khi rước lễ mà thôi. Chỉ có tội lỗi mới làm cho con người bất xứng chứ không phải hình thức bề ngoài. Đó là điều Chúa Giêsu đã khiển trách nhóm biệt phái xưa kia khi họ bắt lỗi các môn đệ của Chúa không rửa tay trước khi ăn. "... Anh em không biết rằng bất cứ cái gì vào miệng thì xuống bụng rồi bị thải ra ngoài sao? Còn những cái gì từ miệng xuất ra là phát xuất từ lòng; chính những cái ấy mới làm cho con người ra ô uế...còn ăn mà không rửa tay thì không làm cho con người ra ô uế." ( Mt 15: 17-20). Nói khác đi, nếu rước lễ mà thiếu lòng tin, lòng mến Chúa và nhất là đang có tội trọng thì đó mới là bất xứng, bất kính đối với Chúa Kitô, chứ nhận lãnh Mình Máu Chúa trên tay hay trên lưỡi không có gì khác biệt phải quan tâm.

Thực ra, không có giáo lý, tín lý nào đòi hỏi phải rước Chúa trên lưỡi thì mới tỏ ra kính trọng Chúa cách đúng mức, và rước trên tay là bất kính. Chỉ có điều đáng quan ngại là sợ nguy cơ phạm thánh khi cho rước lễ trên tay mà thôi.

Nghĩa là, lo sợ có kẻ cầm Mình Thánh Chúa đem về nhà để làm việc phạm thánh nào đó (profanation, sacrilege).

Chính vì thế mà Thánh Bộ Phụng Tự đã đặc biệt lưu ý việc này, để nếu cần, thì phải ngưng cho rước lễ trên tay (no. 92). Và để tránh nguy cơ này, mọi người muốn rước lễ trên tay, thì buộc phải bỏ ngay Mình Thánh Chúa vào miệng trước mặt thừa tác viên cho rước lễ.

Ngoài ra, để tỏ lòng cung kính bề ngoài trước khi rước Chúa, thì nếu đứng khi lên rước lễ thì trước khi tiến lên lãnh nhận Mình Thánh, người rước lễ được khuyên nên cúi đầu bái lậy trước khi lãnh nhận Mình Máu Chúa trên lưỡi hay trên tay, (không nên bái quì vì sẽ đụng chân vào người đứng phía sau).

Nói chung, từ xưa đến nay, đã có biết bao ý kiến chống đối Giáo Hội về luật độc thân của hàng giáo sĩ, đòi cho phụ nữ làm linh mục, không đồng ý về những cải cách của Công Đồng Vaticanô II trong đó có việc cho rước lễ trên tay. Trong số những người không đồng ý này, có cả Giám mục, linh mục và giáo dân. Cụ thể, Tổng Giám mục Malingo bên Phi Châu đã lấy vợ và còn truyền chức giám mục bất hợp pháp cho 3 linh mục Mỹ đã hồi tục và đã bị vạ tuyệt thông tiền kết sau vụ này.

Nhưng việc chống đối và những gương xấu này không thể làm mất niềm tin và sự tuân phục của tín hữu đối với sứ mạng, chức năng và uy quyền của Giáo Hội trong việc giảng dạy, thánh hóa và cai trị.

Tóm lại, bao lâu Toà Thánh chưa thay đổi gì về bất cứ luật lệ nào đang được áp dụng thi hành trong các lãnh vực luân lý, tín lý, phụng vụ, bí tích, giáo luật... thì mọi thành phần dân Chúa trong Giáo Hội – giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân – đều có bổn phận phải vâng phục và thi hành nghiêm chỉnh những luật lệ đó. Những người bất đồng (dù là Giám mục hay linh mục) và những ai chống đối ở trong và ngoài Giáo Hội không phải là lý do cho tín hữu phải giao động về tinh thần vâng phục Giáo Hội là Mẹ đang thay mặt Chúa là CHA để dạy dỗ, dẫn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô trên trần thế.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 67 = TRACH NHIEM NGUOI TIN HUU PDF Print E-mail

LÀ NGƯỜI TÍN HỮU, CHÚNG TA CÓ TRÁCH NHIỆM GÌ VỀ PHẦN RỖI CỦA NGƯỜI KHÁC ?

Hỏi: là tín hữu Chúa Kitô, chúng ta có trách nhiệm về phần rỗi của người khác hay không?

Trả lời: Chúa dựng lên con người để sống chung với người khác, trước hết là ở trong một gia đình và sau đó trong một xã hội lớn hay nhỏ. Nghĩa là không ai sống lẻ loi một mình trong một ốc đảo (oasis) không có ai ở chung quanh mình. Vì thế người ta đã định nghĩa con người là một sinh vật có xã hội tính.(man is a sociable being )

Là người Việt Nam, trước kia từng chịu ảnh hưởng nặng nề của Nho giáo với tam cương ngũ thường, là những nguyên tắc đạo đức căn bản để xây dựng con người từ trong gia đình ra ngoài xã hội; với những bổn phận và trách nhiệm đòi buộc mọi người phải sống và thi hành để xứng đáng là tín đồ của Nho Đạo. Liên quan đến sự liên đới giữa người với người, không ai được khuyến khich " sống chết mặc bay" để chỉ biết ích kỷ nghĩ đến mình, lo cho mình và dửng dưng đối với người khác. .

Ngược lại ngày nay, với văn hóa và văn minh Âu Mỹ , cá nhân chủ nghĩa ( individualism) lại được đặc biết đề cao và thực hành ở khắp nơi.Người Việt chúng ta đang sống ở các nước Âu Mỹ cũng không khỏi chiu ảnh hưởng của các trào lưu tục hóa ( vulgarism) cá nhân chủ nghĩa, tôn thờ vật chất, tiên bạc và hư danh trần thế. Do đó, những giá trị tinh thần như nhẫn nhục, chịu đựng, tha thứ, hy sinh, chung thủy, nhân nghĩa, vị tha, danh thơm tiếng tốt của văn hóa Khổng Mạnh đã bị coi nhẹ, hay xem thường khiến cho rất nhiều người không còn e sợ tai tiếng để dễ chấp nhận những việc mà xưa kia không ai, hay rất ít người dám làm, như ly dị, ngoại tình, con cái không vâng phục cha mẹ, người lớn dửng dưng trước sự đau khổ hay tha hóa ( (moral deviation) của người khác.

Người Mỹ thường hay nói : " Let me alone. None of your business = Để mặc tôi. Không phải là việc của anh ( chi, ông, bà..). Đây là tiêu biểu cho chủ nghĩa cá nhân, không muốn ai chỉ huy, hay can thiệp vào đời tư của mình và mình cũng không muốn bận tâm gì đến người khác.

Trước thực trạng trên đây, là người tín hữu Chúa Kitô, chúng ta không thể sống như những người vô tín ngưỡng hay theo cá nhân chủ nghĩa và tục hóa để chỉ biết sống cho mình và không muốn để ý đến người khác. Ngược lại, đức bác ái Công Giáo dạy ta không những phải biết thông cảm, quan tâm đến và nhât là yêu thương tha nhân như chính mình, dựa trên lời Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ trước khi Người bị trao nộp và thọ nạn thập giá :

" Thầy ban cho anh em một điều răn mới

Là anh em hãy thương yêu nhau

Như Thầy đã thương yêu anh em..." ( Ga 13 : 34)

Yêu thương anh chị em như Chúa yêu thương chúng ta có nghĩa là mình muốn điều gì tốt và hữu ích cho mình thì mình cũng phải mong muốn và làm điều ấy cho người khác, không phân biệt giầu nghèo, địa vị xã hội, mầu da tiếng nói, vì tất cả đều là con cái Thiên Chúa, là anh chị em với nhau và đều được Chúa Kitô hiến mạng sống mình để cứu chuộc cho.

Cụ thể, trong phạm vi gia đình, cha mẹ có trách nhiệm nuôi nấng và dạy dỗ con cái không những về thể lý, về học vấn, và đặc biệt về mặt thiêng liêng. Trong lãnh vực này cha mẹ có trách nhiệm rất lớn vì phần rỗi của con cái tùy thuộc rất nhiều vào tinh thần trách nhiệm của Cha mẹ.

Thật vậy, sau khi sinh con ra, cha mẹ phải sớm lo liệu cho con mình được lãnh nhận bí tích rửa tội để cho con được tái sinh sớm trong sự sống mới hầu có hy vọng được vào Nước Trời, như Chúa Giêsu đã nói với ông già NI-Cô-Đê-MÔ xưa:

"Thật tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí." (Ga 3 :5).

Sinh ra bởi nước và Thần Khí có nghĩa là được tái sinh qua Phép Rửa để trở nên tạo vật mới, được gọi Chúa là CHA và có hy vọng được vào Nước Trời mai sau. Có hy vọng thôi chứ chưa hẳn là chắc chắn 100% vì còn tùy thuộc vào thiện chí cúa trẻ em khi lớn lên thành người có đủ lý trí vá ý chí tự do (Free will) để quyết định hướng đi cho đời mình về mọi phương diện, nhất là về mặt thiêng liêng.

Ngày nay, do ảnh hưởng của các chủ thuyết vô thần, duy vật chất vô luân, và cá nhân chủ nghĩa đang lan tràn mạnh mẽ ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ và Tây Âu, trong nhiều gia đình Công giáo đã xảy ra những bất đồng giữa con cái và cha mẹ về niềm tin có Thiên Chúa. Có nhiều con cái không muốn nghe cha mẹ dạy bảo phải siêng năng tham dự Thánh Lễ ngày Chúa Nhật và học hỏi lời Chúa để biết sống Đạo cho có chiều sâu. Có gia đình con cái còn chất vấn cha mẹ tại sao lại đem chúng đi rửa tội khi còn bé mà không để chờ cho chúng lớn khôn để tự quyết định việc này. Tệ hại hơn nữa là có những con cái tự ý gia nhập các giáo phái không hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo, hoặc sống như kẻ vô thần, mặc dù đã được rửa tội khi còn bé. Lại nữa, nhiều con cái tự ý kết hôn với người không Công giáo hoặc cứ sống chung vói bạn trai hoặc gái mà không kết hôn gì cả.

Trước những thực trạng đáng buồn này, dĩ nhiên không cha mẹ nào đồng ý, nhưng cũng không thể ngăn cấm được tự do của con cái. Dầu vậy cha mẹ vẫn có trách nhiệm phải nói cho con cái biết sự sai trái của chúng. Nếu chúng không nghe thì mình hết trách nhiệm trước mặt Chúa. Ngược lại, nếu không nói hay khuyên bảo con cái điều hay lẽ phải để chúng khỏi lún sâu vào hố sai lầm, tội lỗi thì cha mẹ sẽ có lỗi về sự hư mất của con cái mình, căn cứ vào lời Chúa phán qua miệng ngôn sứ Ê-dê-kiên sau đây:

"Phần ngươi, hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm người canh gác cho nhà Israel

Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết. Nếu Ta phán với kẻ gian

ác rằng: Hỡi tên gian ác, chắc chắn người phải chết, mà ngươi không chịu nói để cảnh cáo nó từ

bỏ con đường xấu xa, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền

nợ máu nó. Ngược lại, nếu ngươi đã cảnh báo kẻ gian ác phải từ bỏ con đường của nó mà trở

lại, nhưng nó không trở lại, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng

sống mình." ( Ê-dê-kien 33: 7-9)

Lời Chúa trên đây không những áp dụng cho cha mẹ, con cái và vợ chồng trong gia đình mà còn áp dụng cho mọi tín hữu sống chung trong một Cộng Đoàn, một giáo xứ hay một đoàn thể Công Giáo Tiến Hành, hay nơi làm việc chung với người khác. Nghĩa là nếu biết ai làm điều sai trái về luân lý, đạo đức và kỷ luật (Giáo Luật) của Giáo Hội, như khai gian để lấy vợ hay chồng khác ( nói dối chưa hề kết hôn) mà mình biết rõ thì phải khuyên bảo hay tố cáo cho giáo quyền nơi đương sự đang muốn kết hôn sai trái với người khác. Hoặc có người đã ly dị nhưng chưa được tháo gỡ hôn phôi cũ theo giáo luật mà lại sống chung với người khác như vợ chồng, rồi vẫn đi lễ và rước Minh Thánh Chúa, thì người biết việc này phải trình cho Cha Xứ hay Quản nhiệm Cộng Đoàn biết để ngăn cản và giúp họ hợp thức hóa hôn phối trước khi tiếp tục xưng tội và rước Mình Thánh Chúa.

Lại nữa, nếu giáo dân biết có linh mục nào giảng dạy sai, như một linh mục kia, ( theo lời kể của hai nhân chứng ) đến dâng lễ ở tư gia và đã mời mọi người hiện diện lên rước Mình Thánh Chúa, không phân biệt họ có là người Công Giáo và đang sống trong ơn phúc hay không ! vì linh mục này nói : Chúa đã chết để tha thứ hết rồi, khỏi cần phải xưng tội nữa dù có tội trọng.! Chưa hết, linh mục này còn chứng hôn cho một cặp vợ chồng kía ngay trong nhà thương theo lời yêu cầu của người mẹ đang đau nặng và muốn cho con gái được kết hôn trước khi nhắm mắt.Linh mục này đã chứng hôn mà không cần biết tình trạng hôn phối của đôi vợ chồng kia cũng như không cần biết đôi hôn phối đó có thuộc thẩm quyền mục vụ của mình hay không.Sau nữa, linh mục này cũng không biết rằng mọi bí tích, - trừ bí tích sức dầu bênh nhân và hòa giải- , đều không được phép cử hành ở tư gia hay trong nhà thương.Do đó, việc sai trái này phải được trình cho Bề Trên Địa Phận- cụ thể là Giám mục địa phương biết để ngăn cản và sửa sai linh mục đó.

Ngoài ra, nếu biết người Công giáo nào làm nghề hay những dịch vụ sai trái về đức công bằng như khai gian để giúp người khác lấy tiền của bảo hiểm (tai nạn xe cộ) . Làm hôn thú giả để lấy tiền của người muốn sang Mỹ theo diện vợ chồng, nhất là tham gia vào việc buôn bán phụ nữ cho các tổ chức mãi dâm trá hình dưới chiêu bài môi giới "hôn nhân nước ngoài". Hoặc tệ hại hơn nữa là mở sòng bài bạc, cá độ, mãi dâm, buôn bán cần sa, ma túy... thì vì lương tâm và phần rỗi của họ, đòi buộc những ai biết rõ những việc làm trên đây của những người đó, thì phải nói cho họ biết những sai trái về luân lý để mong họ từ bỏ những con đường dẫn đưa đến hư mất đời đời. Nếu họ không nghe lời mình khuyên bảo, thì mình hết trách nhiệm căn cứ theo lời Chúa dạy trên đây.

Thiên Chúa cực tốt cực lành đầy yêu thương và tha thứ nhưng lại chê ghét mọi tội lỗi và mong muốn cho con người xa lánh tội lỗi để được ơn cứu rỗi nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Do đó, muốn sống đẹp lòng Chúa thì phải quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi và nguy cơ đưa đến phạm tội cho chính mình và cho người khác. Và để tránh nguy cơ tội lỗi cho người khác, chúng ta có trách nhiệm "sửa lỗi anh em" vì lợi ích thiêng liêng của họ như Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa :

"Nếu người anh em của anh trót phạm lỗi, thì anh hãy đi sửa lỗi nó, một mình anh với nó mà thôi.

Nếu nó chịu nghe thì anh đã được món lợi là người anh em mình. Còn nếu nó không chịu nghe, thì hãy đem

theo một hay hai người nữa, để mọi công việc được giải quyết căn cứ vào lời hai hoặc ba chứng nhân.

Nếu nó không nghe họ, thì hãy đi thưa Hội Thánh. Nếu Hội Thánh mà nó cũng chẳng nghe thì hãy kể nó như

một người ngoại hay một người thu thuế." (Mt 18: 15-17)

Tóm lại, Chúa đòi buộc chúng ta không những phải yêu thương người khác mà còn phải quan tâm đến phần rỗi của anh chị em cùng chia sẻ niềm tin với mình – kể cả những người không có niềm tin mà chúng ta phải cầu xin cho họ được có đức tin như chúng ta để cùng có hy vọng được cứu rỗi và vui hưởng hạnh phúc đời sau.

Câu Chúa hỏi Cain "Aben, em ngươi đâu rồi?" (St 4:9) cũng sẽ là câu hỏi Chúa đăt ra cho mỗi người chúng ta trong ngày Phán Xét.Cụ thể, Chúa sẽ hỏi cha mẹ : "con cái của ngươi đâu? Hoặc hỏi vợ chồng: " Người phối ngẫu của ngươi đâu? " Tại sao lai di dị, bỏ nhau để đi lấy người khác, dù đã có con cái và sống chung với nhau nhiều năm?"

Tóm lại, chúng ta- vì đức bác ái- có trách nhiệm liên đới với người khác đặc biệt về mặt thiêng liêng.Trách nhiệm tinh thần này phải được thể hiện trước hết trong gia đình giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng với nhau và giữa anh chị em trong gia tộc. Thứ đến là những người thân quen trong cộng đoàn, giáo xứ hay nơi làm việc.

Sau hết, chúng ta còn có bổn phận phải cầu xin cách riêng cho những người chưa nhận biết Chúa được mau biết và yêu mến Người như chúng ta, vì Thiên Chúa "Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" ( 1 Tm 2: 4)

Ước nong những điều giải thích trên đây thỏa mãn câu hỏi đặt ra và giúp ích ít nhiều cho quý độc giả khắp nơi.

Lm. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 66 = CAC VI GH DAY GIAO LY PDF Print E-mail

 

Kính gửi Quí Cha, Quí Phó Tế, Quí Sơ, Quí Chức và Quí Vị thân yêu bài viết dưới đây để cùng nhau lắng nghe và đáp ứng chiều hướng giảng dạy giáo lý của các vị Giáo Hoàng đại diện Chúa Kitô trên trần gian hằng tuần dẫn đắt chúng ta qua các buổi triều kiến chung (general audience).

Giáo Lý hằng tuần này của Các Đức Thánh Cha được bắt đầu từ bao giờ? Và nội dung của các bài giáo lý này từ đó đến nay ra sao và bao gồm những gì? Nếu cuộc sống của Kitô hữu Công giáo chúng ta là một cuộc hành trình đức tin, thì vấn đề học hỏi giáo lý hằng tuần do chính ĐTC hướng dẫn thì không còn gì bằng phải không ạ!?!

Các Vị Giáo Hoàng - Giảng Dạy Giáo Lý

(viết cho Năm Đức Tin liên quan đến việc học hỏi Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo;

bài viết đã được Nguyệt San Dân Chúa Mỹ Châu phổ biến vào 4/2013)


Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhất

Căn cứ vào diễn tiến của các Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần này thì biến cố này dường như bắt đầu có từ đời Đức Thánh Cha Piô XII (1939-1958), và bắt đầu liên tục từ thời Đức Thánh Cha Phaolô VI (1963-1978). Tuy nhiên, nếu nói về cái được gọi là đề tài hay chủ đề cho Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần thì phải nói là bắt đầu có từ Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhất, vị giáo hoàng chỉ lãnh đạo Giáo Hội hoàn vũ có đúng 33 ngày trong năm 1978 (26/8-28/9).

Đúng thế, trong thời gian 33 ngày làm giáo hoàng này, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhất, theo quan phòng thần linh, đã đóng vai trò như là một vị giáo hoàng chuyển tiếp, hay một vị giáo hoàng gợi ý cho vị giáo hoàng kế vị mình với một giáo triều dài tới 26 năm rưỡi (16/10/1978-2/4/2005), dài thứ ba trong lịch sử Giáo Hội. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhất đã trở thành như vị giáo hoàng gợi ý cho vị kế thừa mình như thế nào, nếu không phải ở ít là hai điều hiển nhiên sau đây: điều thứ nhất là Danh Hiệu Giáo Hoàng, đó là lý do vị kế thừa ngài đã nhận danh hiệu giáo hoàng là Gioan Phaolô Đệ Nhị, và điều thứ hai là chủ đề cho các Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần.

Nếu theo dõi những gì Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong suốt 26 năm rưỡi nói với con cái mình trong các Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần, chúng ta phải công nhận rằng chủ đề được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I là vị tiền nhiệm của ngài gợi ra cho ngài đó là chủ đề về giáo lý. Đúng vậy, trong 33 ngày đóng vai trò Chủ Chăn Tối Cao của Giáo Hội hoàn vũ, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I đã gặp gỡ con cái của mình 4 lần liên tục trong 4 Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần nguyên trọn trong Tháng 9/1978, vào những ngày Thứ Tư mùng 6, 13, 20 và 27. Ngay trong Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư đầu tiên ngày 6/9/1978, vị giáo hoàng 33 ngày này đã nói ngay đến chủ ý của ngài giành cho các Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần của mình như sau:

· "Mới một tháng trước đây, Đức Phaolô VI đã qua đời ở Castelgandolfo. Trong 15 năm ngài đã thực hiện những việc phục vụ cả thể cho Giáo Hội. Những hiệu quả một phần nào hiện vẫn còn được thấy, thế nhưng, tôi nghĩ rằng những hiệu quả ấy sẽ đặc biệt được thấy trong tương lai. Mỗi Thứ Tư ngài đã đến đây để nói với dân chúng. Ở Thượng Nghị Giám Mục năm 1977, có một vài vị giám mục đã nói rằng: 'những bài nói cho Thứ Tư của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI là một thứ giáo lý thực sự được thích ứng cho thế giới tân tiến này'. Tôi sẽ cố gắng noi theo gương của ngài, hy vọng rằng, cả tôi nữa, một cách nào đó có thể giúp cho dân chúng trở nên tốt hơn" (http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_i/audiences/documents/hf_jp-i_aud_06091978_en.html

)

Thế rồi, trong Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần lần thứ hai, ngày 13/9/1978, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I đã bắt đầu ngay chủ đề về giáo lý theo gương vị tiền nhiệm của mình là Đức Thánh Cha Phaolô VI. Thật ra, so với các bài có tính cách thực sự là dạy giáo lý và có một nội dung đúng là giáo lý của cả Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, thì những gì Đức Thánh Cha Phaolô VI nói đa số chỉ có tính cách giáo lý chung chung mà thôi và không liên tục với nhau như nhị vị kế nhiệm của ngài.

Quả vậy, trừ Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư đầu tiên của mình, ba Buổi Triều Kiến Chung kế tiếp, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I đã nói về 3 thần đức, thứ tự là đức tin vào ngày Thứ Tư 13/9, đức cậy Thứ Tư 20/9, và đức mến Thứ Tư 27/9/1978.

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

Để theo gương vị tiền nhiệm Gioan Phaolô I của mình trong việc bắt đầu liên tục dạy giáo lý cho con cái mình vào các ngày Thứ Tư hằng tuần trong Buổi Triều Kiến Chung, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã minh nhiên nói lên chủ ý của mình ngay trong Buổi Triều Kiến Chung đầu tiên Thứ Tư 25/10/1978 như sau:

· "Khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô I nói với các tham dự viên ở Buổi Triều Kiến Chung ngày Thứ Tư 27/9, không ai có thể ngờ được rằng đó là lần cuối cùng. Cái chết của ngài – sau 33 ngày làm giáo hoàng – đã gây ngạc nhiên toàn thế giới và làm cho thế giới cảm thấy đầy cảm giác mất mát sâu xa...

"Hôm nay Gioan Phaolô II này lần đầu tiên đích thân gặp gỡ anh chị em. Bốn tuần lễ sau Buổi Triều Kiến Chung ấy, ngài muốn ngỏ lời chào anh chị em và nói cùng anh chị em. Ngài muốn tiếp tục thực hiện những đề tài đã được Đức Gioan Phaolô khởi sự. Chúng ta nhờ rằng ngài đã nói về 3 thần đức là đức tin, đức cậy và đức mến. Ngài đã kết thúc bằng đức mến...

"Hôm nay chúng ta cần phải nói về một nhân đức khác, vì căn cứ vào các ghi chú của vị cố Giáo Hoàng này tôi biết rằng ngài có ý nói chẳng những về 3 thần đức là đức tin, đức cậy và đức mến, mà còn về 4 nhân đức được gọi là các nhân đức trụ nữa. Đức Gioan Phaolô I đã muốn nói về '7 cây đèn' của đời sống Kitô giáo, như Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã gọi như thế. Vậy, hôm nay tôi muốn tiếp tục dự án này, một dự án đã được vị cố Giáo Hoàng sửa soạn, và nói vắn gọn về nhân đức khôn ngoan..."

Đúng thế, để củng cố đức tin cho con cái của mình, nhất là vào trước Thời Điểm Hồng Ân Năm Thánh 2000 này, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã khai triển loạt bài giáo lý chủ đề rất sâu xa bao rộng. Ngài đã đi từ lãnh vực nhân loại học siêu nhiên, sang lãnh vực thần học đức tin, đến lãnh vực vũ trụ học siêu việt.

Về lãnh vực nhân loại học siêu nhiên, Đức Thánh Cha đã dùng 5 năm trời (1979-1984) để khai triển đề tài "tình yêu con người theo ý định của Thiên Chúa". Đề tài này có thể được chia ra làm ba phần, phần nhất được bắt đầu bằng một loạt 23 bài giáo lý về sự hiệp nhất nguyên thủy giữa người nam và người nữ theo sách Khởi Nguyên, vào các ngày thứ tư hằng tuần trong khoảng thời gian từ ngày 5-9-1979 đến ngày 2-4-1980. Sau đó chuyển sang phần hai với 41 bài giáo lý về phúc cho ai có lòng trong sạch theo bài giảng trên núi và thư thánh Phaolô, thời khoảng từ ngày 16-4-1980 đến ngày 6-5-1981.

Trước khi sang phần ba, loạt bài giáo lý bị gián đoạn vì sức khỏe của Đức Thánh Cha sau khi ngài bị ám sát hụt từ ngày 13-5-1981, và đã được xen kẽ bằng 3 bài chia sẻ của ngài, thời khoảng từ ngày 14-10-1981 đến 28-10-1981, liên quan đến việc ngài bị ám sát và lòng thứ tha. Cuối cùng phần ba đã được bắt đầu với 50 bài về thần học hôn nhân và độc thân theo ý nghĩa phục sinh của thân xác, thời khoảng từ ngày 11-11-1981 đến ngày 4-7-1984. Loạt bài giáo lý về đề tài "tình yêu con người theo ý định của Thiên Chúa" cuối cùng được kết thúc bằng 12 bài, thời khoảng từ ngày 11-7 đến 21-11-1984, về việc ôn lại Thông Điệp "Sự Sống Con Người" của Đức Thánh Phaolô VI.

Về lãnh vực thần học đức tin, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã diễn giải toàn bộ giáo lý theo Kinh Tin Kính, trong đó có phần về Thiên Chúa Ba Ngôi, về Giáo Hội và Đức Maria. Riêng phần về Thiên Chúa Ba Ngôi là đối tượng cho 3 năm cuối cùng của riêng thế kỷ 20 và của chung thiên niên thứ hai, Đức Thánh Cha đã hướng dẫn về Chúa Cha với 58 bài, vào các ngày thứ tư hằng tuần trong thời khoảng từ ngày 20-3-1985 đến ngày 20-8-1986, Chúa Con với 99 bài, thời khoảng từ ngày 27-8-1986 tới ngày 19-4-1989, và Chúa Thánh Thần với 80 bài, thời khoảng từ ngày 26-4-1989 đến ngày 3-7-1991. Tuy nhiên, trước khi đi thẳng vào chủ đề Chúa Ba Ngôi, Đức Thánh Cha đã dẫn nhập bộ Giáo Lý Kinh Tin Kính này bằng 8 bài, từ ngày 5-12-1984 đến 13-3-1985, về những chân lý đức tin và luân lý Kitô giáo trong toàn bộ giáo lý.

Về lãnh vực vũ trụ học siêu việt, theo Đức Thánh Cha, vấn đề thật ra đã nằm ngay ở phần kết của kinh Tin Kính, liên quan đến việc phục sinh của thân xác cũng như đến sự sống đời đời. Căn cứ vào đó, cũng có thể nói phần về nhân loại học siêu nhiên đã được nằm ngay ở đầu kinh Tin Kính, liên quan đến việc Thiên Chúa tạo dựng, trong đó có con người, một con người cần phải được tân tạo trong Giáo Hội mà mô phạm tuyệt hảo là Mẹ Maria. Bởi thế, sau loạt bài Giáo Lý về Thiên Chúa Ba Ngôi, Đức Thánh Cha đã bắt đầu bằng loạt bài Giáo Lý về Giáo Hội và về Mẹ Maria.

Về Giáo Hội, có 137 bài giáo lý vào các ngày thứ tư hằng tuần kéo dài trong thời khoảng từ ngày 10-7-1991 đến ngày 30-8-1995, và về Mẹ Maria, có 70 bài giáo lý kéo dài trong thời khoảng từ ngày 6-9-1995 tới ngày 12-11-1997. Vừa chấm dứt loạt bài về Mẹ Maria, Đức Thánh Cha đã khéo rẽ ngang sang loạt bài Giáo Lý Hướng Về Năm Thánh 2000, bắt đầu từ thứ tư 19-11-1997.

Loạt bài Giáo Lý Mừng Năm Thánh 2000 (9/11/1997-15/12/1999 đã được hai nguyệt san Dân Chúa Mỹ Châu và Hiệp Nhất của Cộng Đồng CG/VN Giáo Phận Orange phổ biến từ tháng 1-1998) có ba phần: phần về Chúa Giêsu Kitô (từ bài 1 đến 15), về Chúa Thánh Thần (17-43), và về Chúa Cha (44-79), phần nào cũng được kết bằng một bài giáo lý về Mẹ Maria (bài 15, 43, 79). Như thế, Giáo Lý Mừng Năm Thánh 2000 chính là Giáo Lý cùng Mẹ Maria hướng về Thiên Chúa Ba Ngôi, một Đích Điểm đã được Tông Thư Ngàn Năm Thứ Ba Đang Đến của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phác họa (x đoạn 39) cho Giáo Hội nhắm tới, qua một tiến trình ba năm sửa soạn gần: 1997 kính Chúa Giêsu Kitô, 1998 kính Chúa Thánh Thần và 1999 kính Chúa Cha, để Long Trọng Mừng Năm Thánh 2000, Năm Hồng Ân Thiên Chúa (x. Is 61:2; Lk 4:19).

Cho dù các đề tài về giáo lý của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã dồi dào hầu như bao gồm hết mọi lãnh vực cần thiết của Kitô giáo như thế, ngài vẫn tiếp tục chủ đề giáo lý của mình cho tới khi băng hà mà vẫn chưa xong. Căn cứ vào Tông Thư "Mở Màn Cho Một Tân Thiên Kỷ" được ban hành Lễ Hiển Linh 6/1/2001, chiều hướng được ngài đề ra cho cả Giáo Hội sau Đại Năm Thánh 2000 để nhờ đó Giáo Hội tiến vào Ngàn Năm Thứ Ba Kitô Giáo, đó là chiều hướng "duc in altum" hay "thả lưới ở chỗ nước sâu" (Lk 5:4), tức là ngài muốn Giáo Hội của ngàn năm thứ ba Kitô giáo phải dấn thân truyền giáo cho muôn dân nhưng bằng một tinh thần nội tâm sâu xa.

Đó là lý do, theo chiều hướng "nước sâu thả lưới" này, ngài đã mở hai Năm Thánh thiên về nội tâm và có tính cách nội tâm, đó là Năm Mân Côi (2002-2003) và Năm Thánh Thể (2004-2005), cả hai đều bắt đầu vào Tháng Mười là Tháng có Ngày Khánh Nhật Truyền Giáo hằng năm của Giáo Hội. Và đó cũng là lý do, theo cùng chiều hướng "nước sâu thả lưới" này mà ngài bắt đầu loạt bài giáo lý của mình trong các Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư hằng tuần về việc Cầu Nguyện Bằng Thánh Vịnh, nhưng mới 131 bài, khoảng được 4/5, trong tổng số 166 bài, thì ngài qua đời và được vị kế nhiệm ngài là Đức Thánh Cha Biển Đức XVI tiếp tục 35 bài nữa mới xong. Trong Buổi Triều Kiến Chung đầu tiên của mình ngày Thứ Tư 4/5/2005, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nói lên ý định của mình như sau:

· "Như ngài đã làm khi mở màn cho giáo triều của ngài, lúc ngài muốn tiếp tục những bài chia sẻ được khởi xướng bởi vị Tiền Nhiệm của ngài về các nhân đức Kitô giáo (x "Insegnamenti di Giovanni Paolo II", I [1978], tr. 60-63), tôi cũng có ý thực hiện vào các buổi triều kiến hằng tuần tới đây việc dẫn giải đã được Đức Gioan Phaolô II dọn cho phần thứ hai của các Bài Thánh Vịnh và Ca Vịnh thuộc Giờ Kinh Phụng Vụ Chiều Tối. Từ Thứ Tư tuần tới, tôi sẽ bắt đầu vào chính bài giáo lý của ngài đã bị gián đoạn sau buổi triều kiến chung 26/1/2005".


Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 
<< Start < Prev 131 132 133 134 135 136 137 138 139 140 Next > End >>

Page 135 of 158