buy dapoxetine online dapoxetine dapoxetine online cheap dapoxetine buy cheap dapoxetine dapoxetine priligy priligy tablets dapoxetine at cvs dapoxetine effectiveness dapoxetine reviews side effects for dapoxetine dapoxetine for sale dapoxetine 100 mg priligy in the united states viagra with dapoxetine reviews dapoxetine without a doctors prescription dapoxetine without prescription Hoc Hoi De Song Dao
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6831
mod_vvisit_counterHôm Qua8682
mod_vvisit_counterTuần Này6831
mod_vvisit_counterTuần Trước41429
mod_vvisit_counterTháng Này128113
mod_vvisit_counterTháng Trước214058
mod_vvisit_counterTất cả11801998

We have: 109 guests online
Your IP: 54.166.141.69
 , 
Today: Sep 23, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 58 = LICH PHUNG VU THANG 01-2013 PDF Print E-mail



LỊCH PHỤNG VỤ THÁNG 1/2013

(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)

Mở đầu Niên Lịch Phụng Vụ tháng 1/2013, chúng ta mừng Lễ Kính Đức Mẹ Là Mẹ Thiên Chúa ; tiếp theo là Chúa Nhật Lễ Hiển Linh, Chúa Nhật Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, rồi Chúa Nhật Quanh Năm 2 và 3, Năm C.

                                                                                      ducme14

LỄ ĐỨC MẸ LÀ MẸ THIÊN CHÚA (Ngày 1/1): Hôm nay cũng là Ngày Tết Dương Lịch, ngày đầu năm mới của năm 2013, Giáo Hội muốn dâng năm mới lên Mẹ Maria với tước hiệu Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và cầu nguyện cho Hòa Bình Thế Giới. Ngày hôm nay cũng là ngày trong Tuần Bát Nhật lễ Giáng Sinh, vì thế Bài Phúc Âm (Luca 2:16-21) ghi lại việc Đức Mẹ sinh Chúa Con nơi hang đá Belem và các mục đồng đến "và gặp thấy Đức Maria, Thánh Giuse, và Hài Nhi Giêsu nằm trong máng cỏ" y như lời các Thiên Thần đã báo mộng cho họ trong giấc ngủ, và "các mục đồng trở về, họ tung hô ca ngợi Chúa về mọi điều họ đã nghe và đã thấy đúng như họ đã được báo trước. "Mọi người trong Thành Belem đều ngạc nhiên về những điều các Mục Đồng kể lại cho họ. Còn Đức Maria "thì ghi nhớ tất cả những sự việc đó và suy niệm trong lòng." Bài Phúc Âm cũng ghi lại việc Hài Nhi Giêsu chịu phép Cắt Bì khi đựợc tám ngày (theo luật Do Thái thời đó) và được đặt tên là Giêsu như Thiên Thần đã nói khi truyền tin cho Đức Mẹ. Bài Đọc 1 (Dân Số 6:22-27) ghi lại lời Thiên Chúa phán bảo ông Môisen: "Hãy nói với Aaron và con cái ông cầu xin Chúa chúc lành cho con cái Israel....và Thiên Chúa sẽ chúc lành cho họ!" Bài đọc 2 (Galata 4:4-7): Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta là nhờ Chúa Giêsu đã sinh ra làm người để chịu chết và chuộc tội chúng ta, nên chúng ta được Thần Trí Chúa thanh tẩy và thưa với "Chúa là Abba, nghĩa là Lạy Cha." (Chúng ta nhớ lại Kinh "Lạy Cha" mà Chúa Giêsu đã dạy chúng ta). Như vậy chúng ta "không còn là tôi tớ, nhưng là con Chúa và được làm người thừa kế."

Ngày đầu năm mới, cũng là ngày cầu nguyện cho Hòa Bình Thế Giới. Chúng ta hãy đi dâng lễ sốt sắng. Xin Chúa, nhờ lời Mẹ Maria, Thánh Giuse và các Thánh chuyển cầu, ban hòa bình cho thế giới chúng ta, cho Quê Hương và Giáo Hội Việt Nam, cho mọi gia đình. Xin cho mỗi người chúng ta biết sống hòa hợp, yêu thương với mọi người, trong gia đình, nơi sở làm, trường học, trong khu xóm, trong cộng đoàn... "Đem yêu thương vào nơi oán thù. Đem thứ tha vào nơi lăng nhục. Đem an hòa vào nơi tranh chấp..." như chúng ta vẫn thường hát trong bài Thánh Ca "Kinh Hòa Bình" của Thánh Phanxicô khó nghèo.

CHÚA NHẬT LỄ HIỂN LINH (Ngày 6/1): Thánh lễ hôm nay ngày xưa quen được gọi Lễ Ba Vua do sự lầm tưởng các nhà Đạo Sĩ từ Đông Phương đến thờ lạy Chúa Hài Nhi là ba ông vua (vì 3 của lễ các nhà Đạo sĩ dâng Chúa Hài Nhi là Vàng, Nhũ Hương và Mộc Dược đều là những báu vật của các triều vua ngày xưa); nhưng nghiên cứu lịch sử Thánh Kinh thì đó không phải là các vua nhưng là các nhà Đạo Sĩ. Bây giờ chúng ta gọi là "Lễ Hiển Linh" (The Epiphany Of The Lord): (Thiên Chúa tỏ vinh hiển của Ngài cho các dân tộc) . Bởi vì, các Bài Đọc trong Thánh Lễ hôm nay nói đến việc Thiên Chúa Giáng Sinh không phải chỉ các Mục Đồng và dân Thành Belem được soi sáng để đến thờ lạy; nhưng các Nhà Đạo sĩ (tượng trưng cho các dân tộc ngoài Do Thái) cũng được soi sáng cho biết để đến thờ lạy Thiên Chúa xuống thế làm người, và ơn cứu độ Chúa thương ban không phải chỉ dành cho dân Do Thái mà cho toàn thể nhân loại: "Ai tin và chịu Phép Rửa Tội thì sẽ được hưởng ơn cứu độ!"

Bài Phúc Âm hôm (Mathêu 2: 1-12) ghi lại biến cố các nhà Đạo Sĩ từ Đông Phương tìm đến Giêrusalem (Thủ Đô nước Do Thái) và xin vào yết kiến vua Hêrôđê để hỏi cho biết "Vua dân Do Thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Vì chúng tôi đã thấy ngôi sao của Ngài hiện ra ở Đông Phương và chúng tôi tìm đến để triều bái Ngài." Sau khi hỏi ý kiến các "Đại Giáo trưởng và các Luật sĩ Do Thái, và biết nơi đó là Belem, nhà Vua đã chỉ cho các ông đường đi. Các ông đã đến được Belem và triều bái Chúa Hài Nhi và "dâng lên 3 của lễ là Vàng, Nhũ Hương, và Mộc Dược." Bài Phúc Âm cũng ghi lại sự việc Vua Hêrôđê ngầm nói với các nhà Đạo Sĩ: khi triều bái Hài Nhi xong, thì trở lại để cho Hêrôđê biết rõ chắc chắn chỗ Hài nhi ở. Mục đích của nhà vua không phải để đến chiêm bái Chúa Hài Nhi, nhưng để cho người tìm đến giết Hài Nhi, vì vua sợ khi lớn lên Hài Nhi sẽ chiếm ngôi vua của ông và dòng dõi ông. Bài Đọc 1 (Isaia 60:1-6) : Tiên Tri Isaia đã được Thiên Chúa soi sáng và loan báo trước về việc Thiên Chúa giáng sinh làm người để đem lại ơn cứu độ cho dân Do Thái và toàn thể nhân loại, qua những lời văn theo thể "khải huyền" một cách bóng bẩy. Trong Bài Đọc 2 (Thơ Êphêsô 3: 2-3,5-6), Thánh Phaolô nói đến việc Thiên Chúa giáng trần để cứu độ nhân loại đã được "Thần Trí Chúa mặc khải cho các Tiên Tri, rồi đến các Tông Đồ... Nhờ Tin Mừng, các dân ngoài Do Thái cũng được thừa tự, được đồng một thân thể, và cùng thông phần với lời hứa của Thiên Chúa, trong Chúa Giêsu Kitô."

Trong Thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho chúng ta luôn sống đạo tốt đẹp, trở nên những "ngôi sao sáng" để chiếu tỏa Đức Tin cho mọi người mà chúng ta gặp gỡ trong cuộc sống hằng ngày.

CHÚA NHẬT LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA (Ngày 13/1): Chúng ta nhớ lại, khi ông bà nguyên tổ Adam và Eva phạm tội, đã bị Thiên Chúa lên án phạt ông bà và cả dòng dỏi loài người (gọi là Tội Nguyên Tổ hay Tội Tổ Tông Truyền). Nhưng đồng thời Thiên Chúa cũng hứa sẽ sai "Đấng Thiên Sai" giáng trần để chuộc tội cho ông bà và nhân loại (Xin xem sách Sáng Thế, đoạn 3). Các Tiên Tri trong Cựu Ước đã loan báo về "Đấng Thiên Sai" cho dân chúng. Khi "thời gian viên mãn" Đấng Kitô là Con Một Đức Chúa Cha đã được sai đến và đã được thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần trong lòng Đức Maria trọn đời đồng trinh và đã sinh ra trong hang đá Belem và được đặt tên là Giêsu (như Thiên Thần đã nói trước) (Xin xem lại các Bài Phúc Âm trong các Thánh lễ Giáng Sinh).

Thánh Gioan Baotixita đã được Thiên Chúa chọn như vị Tiên Tri cuối cùng trong Cựu Ước, để dọn đường cho Đấng Thiên sai đến (vì thế Ngài cũng được gọi là "Thánh Gioan Tiền Hô"). Trong khi rao giảng cho dân chúng biết ăn năn sám hối để dọn lòng cho Đấng Cứu thế, Thánh Gioan đã làm phép Rửa Thống Hối (đây chỉ là phép Rửa Thống Hối chứ không phải là Bí Tích Rửa Tội Chúa Giêsu sẽ ban sau này) cho dân chúng tại dòng sông Giodan (vì thế Thánh Gioan cũng được gọi là "Thánh Gioan Tẩy Giả" "Gioan Baotixiata").

Trong Thánh Lễ "Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa" hôm nay, chúng ta kính nhớ việc Chúa Giêsu đến dòng sông Giodan để chịu phép Rửa Thống Hối của Thánh Gioan Tẩy Giả.

Bài Phúc Âm (Luca 3: 15-16,21-22) ghi lại việc dân chúng đến chịu phép Rửa Thống Hối của Thánh Gioan và thắc mắc hỏi Thánh Gioan có phải là Đấng Kitô không. Thánh Gioan đã thẳng thắn trả lời: "Phần tôi, tôi rửa anh em trong nước; nhưng Đấng cao trọng hơn tôi đang đến, và tôi không xứng đáng cởi dây giầy cho Người, chính Người sẽ rửa anh em trong Chúa Thánh Thần và trong lửa (Thánh Gioan báo trước về Bí Tích Rửa Tội Chúa Giêsu sẽ ban sau này). Bài Phúc Âm hôm nay cũng ghi lại "sau khi Chúa Giêsu chịu phép Rửa xong và khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra và Chúa Thánh Thần, lấy hình chim bồ câu, ngự xuống trên Người, và có tiếng từ trời phán ra: Con là Con yêu dấu của Cha, con đẹp lòng Cha mọi đàng." Trong Bài Đọc 1 (Isaia 42:1-4,6-7), Tiên Tri Isaia đã loan báo trước một cách "khải huyền" về Đấng Kitô sẽ được Thiên Chúa Cha sai đến trần gian khi thời gian viên mãn. "Ngài sẽ là ánh sáng của muôn dân, người sẽ mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong tối tăm!" Bài Đọc 2 (Công Vụ Tông Đồ 10: 34-38) ghi lại bài giảng của Thánh Phêrô nói về việc "Chúa Giêsu Kitô Thánh Nagiaret được Chúa Thánh Thần xức dầu tấn phong cho Người," đã ra đi rao giảng "toàn cõi Giuđêa, khởi từ Galilêa," rồi đã chịu chết để cứu chuộc nhân loài, và đã sống lại và lên trời vinh hiển để mở đường về trời cho chúng ta.

CHÚA NHẬT 2 MÙA QUANH NĂM (Ngày 20/1): Chúa Giêsu sinh ra tại thành Belem (gần thủ Đô Giêrusalem) và lớn lên tại làng Nagiarét cho đến khi "trạc 30 tuổi" (Luca 3:23), Ngài mới ra đi rao giảng, và bắt đầu bằng việc đến dòng sông Giordan để chịu Phép Rửa của Thánh Gioan Baotixita (Xin xem "Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa" ); sau đó Ngài và các môn đệ cùng với Mẹ Maria và anh em họ hàng đến dự tiệc cưới tại Cana xứ Galilêa, và ở đó Chúa Giêsu đã làm phép lạ cho "sáu vò nước hóa thành rượu ngon" do lời bầu cử của Đức Mẹ (Xin xem Bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay: Gioan 2:1-11). Đây là phép lạ đầu tiên Chúa Giêsu đã làm để mở đầu cuộc sống công khai ra đi rao giảng của Chúa để " tỏ vinh quang của Chúa và các môn đệ đã tin Chúa." Trong Bài Đọc 1 hôm nay (Isaia 62:1-5), Tiên tri Isaia đã tiên báo về ngày Chúa cứu thế giáng trần để cứu chuộc nhân loại: "Đấng Công Chính sẽ xuất hiện như ánh sáng... Đấng Cứu Độ Sion đến như ngọn đuốc sáng ngời..." để tỏ vinh quang Thiên Chúa cho mọi dân tộc trên mặt đất, đem hạnh phúc cho mọi người, cho các bậc vợ chồng, cho các gia đình. Trong Bài Đọc 2 (1 Côrintô 12:4-11), Thánh Phaolô nói cho chúng ta biết: "Tuy có nhiều ơn huệ khác nhau Thiên Chúa ban cho chúng ta tùy theo ơn gọi của mỗi người để phục vụ Giáo Hội Chúa (như Linh Muc, Tu Sĩ nam nữ hay Giáo Dân); nhưng chỉ có một Chúa Thánh Thần duy nhất. Vậy dù chức vụ khác nhau, địa vị khác nhau, chúng ta hãy đoàn kết nên một để phục vụ Chúa và Giáo Hội, xa tránh mọi mầm móng chia rẽ trong Cộng Đoàn, trong Gia Đình Giáo Hội.

CHÚA NHẬT 3 MÙA QUANH NĂM (Ngày 27/1): Các Bài Đọc trong Thánh Lễ Chúa Nhật hôm nay, tiếp nối các tư tưởng tuần trước để nói về Đấng Cứu Thế đến để rao giảng ơn cứu độ, Ngài chính là Chúa Giêsu Kitô. Bài Phúc Âm (Luca 1:1-4;4:14-21) ghi lại việc Chúa Giêsu đi rao giảng khắp miền Giuđêa và được mọi người ưa thích lắng nghe và chúc tụng Chúa. Chúa Giêsu cũng về cả quê hương Nagiaret và vào Hội Đường rao giảng và đọc ngay đoạn sách của Tiên Tri Isaia đã loan báo về ngày Chúa đến và bây giờ được thực hiện nơi chính Chúa Giêsu: " Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó..." Bài Đọc 1 (Nêhêmia 8:2-4,5-6,8-10) ghi lại việc Tư tế Esdra đọc sách Luật cho dân chúng và mọi người đều nghe hiểu và cảm động khóc lóc, và phủ phục trước ngai Thiên Chúa để thờ lạy, và Tư Tế Esdra và các thầy Lêvi khuyên bảo mọi người hãy vui mừng lên vì đây là ngày của Thiên Chúa, ngày Chúa ban ơn cứu độ cho dân Ngài. Đoạn sách này ám chỉ về ngày Chúa Cứu Thế đến để rao giảng Tin mừng cứu rỗi cho Dân Chúa. Trong Bài Đọc 2 (1 Côrintô 12:12-30), Thánh Phaolo sánh ví Giáo Hội Chúa như một Thân Thể Mầu Nhiệm mà từ các Thánh Tông đồ đến mỗi thành phần trong Giáo Hội (trong đó có mỗi người chúng ta), đều gắn bó nên một thân thể để xây dựng Hội Thánh Chúa nhờ sức hoạt động của cùng một Chúa Thánh Thần. Hơn nữa, chúng ta cùng chịu một Phép Rửa; cho nên tất cả là một trong Chúa, "dù là người Do Thái hay Hy Lạp, tự do hay nô lệ."

Vậy theo lời thánh Phaolô dạy, chúng ta hãy sống đoàn kết nên một trong Chúa Giêsu là đầu và chúng ta là các chi thể, để kết hợp thành một Thân Thể Mầu Nhiệm, dù bề ngoài chúng ta khác biệt về màu da, chủng tộc, tiếng nói, vv...

Trong tháng đầu năm mới 2013 này, cũng là Năm Đức Tin, chúng ta hãy cầu xin Chúa, nhờ lời Mẹ Maria và các Thánh chuyển cầu, ban cho chúng ta luôn sống Đức Tin mạnh mẽ và đoàn kết thương yêu nhau để cũng cố và phát triễn Đức Tin cho chúng ta, cho con cháu chúng ta, và rao giảng Đức Tin cho mọi người mà chúng ta gặp gỡ trong sinh hoạt hằng ngày.

Xin Chúa chúc lành và ban bình an cho chúng ta, gia đình chúng ta, cho Dân Tộc Việt Nam chúng ta, cho toàn thể thế giới, nhất là những nơi đang có chiến tranh, hận thù, giết hại lẫn nhau.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 57= DUC MARIA DUC TIN VANG LOI PDF Print E-mail

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 43 )

 

ĐỨC TRINH NỮ MARIA: TƯỢNG THÁNH CỦA ĐỨC TIN VÂNG LỜI.

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

trong cuộc hành trình Mùa Vọng, Đức Trinh Nữ Maria chiếm một địa vị đặc biệt, như là người, với một phương thức duy nhất, đã đón chờ các lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện, bằng cách đón nhận trong đức tin và trong thân xác của mình chính Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, trong trạng thái hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa.

Hôm nay tôi muốn được cùng Anh Chị Em suy niệm về đức tin của Mẹ Maria, khỏi đầu từ mầu nhiệm cả thể biến cố Truyền Tin.

- " Chaire kecharitomene, ho Kyrios meta soto " ( Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng bà " ( Lc 1, 28).

Đó là những lời - được tác giả Phúc Âm Luca ghi lại - mà bằng những lời đó tổng lãnh thiên thần Gabriel thốt lên với Mẹ Maria.

Nhìn thoáng qua đầu tiên, từ ngữ " chaire , vui mừng lên " có vẽ như một lời chào hỏi thông thường, thường dùng trong thế giới Hy Lạp.

Nhưng lời vừa kể, nếu chúng ta đọc lên trong bối cảnh truyền thống Thánh Kinh, có một ý nghĩa sâu đậm hơn.

Chính từ ngữ nầy hiện diện đến bốn lần trong văn bản Cựu Ước Hy Lạp và luôn luôn được hiểu như là lời loan báo tin vui Đấng Cứu Thế đến:

- " Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Sion, hò vang dậy đi nào, nhà Israel ! Hỡi thiếu nữ Giêrusalem hãy nức lòng phấn khởi " ( Soph 3, 14).

- " Hỡi đất đai, đừng sợ, hãy hoan hỷ vui mừng, vì Thiên Chúa đã làm những việc lớn lao " ( Gl 2, 21).

- " Nào thiếu nữ Sion, hãy vui mừng hoan hỷ ! Hơi thiếu nữ Giêrusalem hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với ngươi: Người là Đấng Chính Trực, Đấng Toàn Thắng, khiêm tốn ngồi trên lưng lừa, một con lừa con vẫn còn theo mẹ " ( Zc 9, 9 .

- " Hãy vui lên, hãy nhảy mừng, hỡi thiếu nữ Edom, đang cư ngụ trong miền đất Uz: chén lôi đình rồi cũng đến lượt ngươi phải uống, say ngất ngư, ngươi cũng sẽ tự lột trần " ( Lam 4, 21).

Như vậy lời chào hỏi của thiên sứ đối với Mẹ Maria là một lời mời gọi hãy vui mừng, một niềm vui mừng sâu đậm, loan báo nỗi ưu sầu hiện hữu trên thế giới về giới hạn của cuộc sống, của đau khổ, của cái chết, của lòng đôc ác, của âm u sự ác có vẻ như làm đen tối ánh sáng của Thiên Chúa đã kết thúc.

Đó là lời chào hỏi đánh dấu thời điểm khởi đầu của Phúc Âm, Tin Mừng.

1 - Nhưng tại sao Đức Maria được mời gọi hãy vui mừng như vậy ?

Câu giải đáp chúng ta gặp được trong phần thứ hai của lời chào:

- " Thiên Chúa ở cùng bà ".

Cũng vậy, ở đây để hiểu được rõ ràng ý nghĩa của lời diễn tả, chúng ta phải quay về Cựu Ước. Trong sách Sophonia, chúng ta gặp được cách phát biểu nầy ":

- " Hãy vui mừng lên, hỡi thiếu nữ Sion... Vì Vua Israel là Thiên Chúa đang ở giữa nàng... Đức Chúa, Thiên Chúa của nàng ở giữa nàng là Đấng Cứu Độ toàn năng " ( Soph 3, 14-17).

Trong những lời vừa kể có hai lời hứa được hứa cho Israel, cho thiếu nữ Sion:

- Thiên Chúa đến như là Đấng Cứu Độ

- và sẽ cư ngụ giữa dân Người, trong dạ người thiếu nữ Sion.

Trong cuộc đối thoại giữa Đức Maria và thiên sứ, chính lời hứa đó được thực hiện: Đức Maria được đồng hoá với dân đã thành hôn với Thiên Chúa, Mẹ thật là Thiếu Nữ Sion đích thực; nơi Mẹ sự mong đợi lần đến quyết định của Chúa được hiện thực, nơi Mẹ Thiên Chúa hằng sống cư ngụ.

Trong lời chào hỏi của thiên sứ, Me Maria được gọi là " Đấng Đầy Ân Phúc ".

Trong ngôn ngữ Hy Lạp, " ân phúc ", charis, cũng phát xuất từ nguyên ngữ " vui mừng " ( chaire).

Trong cách diễn tả nầy cũng xác định rõ ràng hơn nữa nguồn mạch sự vui mừng của Mẹ Maria: niềm vui mừng thoát xuất từ ân phúc, tức là có nguyên cội từ việc thông hiệp với Chúa, từ mối liên hệ sống động với Người, được là nơi cư ngụ của Chúa Thánh Thần, được động tác của Chúa hoàn toàn uốn nắn.

Mẹ Maria là tạo vật một cách độc nhất đã mở cửa cho Đấng Tạo Hoá của mình, đặt mình vào tay Người, không giới hạn.

Mẹ hoàn toàn sống vì và sống trong mối liên hệ với Chúa; trong thái độ lắng nghe, đặc tâm đón nhận các dấu chỉ của Chúa trong cuộc hành trình của dân Người.

Mẹ Maria hôi nhập vào mọt dòng lịch sử đức tin và hy vọng vào các lời Chúa hứa, cấu tạo nên đời sống của mình.

Và Mẹ tự do đặt mình vâng phục đối với lời đã nhận được, đối với thánh ý trong đức vâng lời của đức tin.

Tác giả Phúc Âm Luca thuật lại biến cố Mẹ Maria bằng đặc tính song song tế nhị đối với biến cố Abraham.

Như vị Đại Tổ Phụ là cha của những ai tin, đã đáp ứng lại lời kêu gọi của Chúa

- ra khỏi miền đất trong đó ngài đang sống, ra khỏi những bảo đảm an ninh của mình,

- để khởi đầu một cuộc hành trình hướng về một vùng đất xa lạ và chỉ có trong tay lời Chúa hứa. Cũng vậy Đức Maria hoàn toàn tin tưởng vào lời đưọc sứ giả Chúa báo cho và như vậy Mẹ là mẫu gương và là Mẹ của mọi tín hữu.

2 - Tôi muốn được nhấn mạnh đến một phương diện quan trọng khác: đó là thái độ mở rộng tâm hồn mình ra cho Chúa và động tác của Người trong đức tin, kể cả yếu tố còn tăm tối.

Mối liên hệ giữa con người và Thiên Chúa không xoá bỏ đi được khoảng cách giữa Đấng Tạo Hóa và tạo vật, không loại trừ đi những gì mà Thánh Tông Đồ Phaolồ xác nhận trước sự khôn ngoan sâu thẩm của Thiên Chúa:

- " Sự giàu có, khôn ngoan và thông suốt của Thiên Chúa sâu thẩm dường nào ! Quyết định của Người, ai dò cho thấu ! Đường lối của Người, ai theo dõi được " ( Rom 11, 33).

Nhưng chính ai - như Mẹ Maria - hoàn toàn rộng mở mình ra cho Chúa, có thể đạt đến việc chấp nhận ý muốn của Chúa,

- mặc cho ý muốn đó có bí nhiệm,

- mặc cho thường khi ý muốn đó không hợp với ý của mình và một lưỡi guơm đâm thâu qua tâm hồn mình, như ông Simeon sẽ tiên đoán cho Đức Maria, lúc Chúa Giêsu được trình diện trong Đền Thờ:

- " Thiên Chúa đã đặt cháu bé nầy làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đừng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chinh bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà " ( Lc 2, 34-35).

Cuộc hành trình đức tin của Abraham gồm có

- lúc vui mừng, vì được ban cho cậu con Isaac,

- nhưng cũng có lúc tối tăm, khi phải trèo lên núi Moria để thực hiện một động tác nghịch thường: Thiên Chúa đòi ông phải hy sinh đứa con mà Người mới ban cho ông.

Trên núi, thiên sứ ra lệnh cho ông:

- " Đứng có giơ tay hại đứa trẻ, đừng làm gì nó. Bây giờ Ta biết ngươi là kẻ kính sợ Thiên Chúa: đối với Ta, con của ngươi, con một của ngươi, ngươi cũng chẳng tiếc ! " ( Gen 22, 12).

Lòng tin tưởng vào Thiên Chúa trung thành với lới hứa của Abraham không giảm thiểu đi, ngay cả lúc lời Người trở thành bí ẩn và khó hiểu, dường như không thể chấp nhận được.

Cũng vậy đối với Mẹ Maria,

- đức tin của Mẹ sống niềm vui Truyền Tin,

- nhưng cũng trải qua lúc tăm tối cuộc cuọc chịu đóng đinh của Con, để đến được ánh sáng Phục Sinh.

Cuộc hành trình đức tin của mỗi người chúng ta cũng không khác gì:

- chúng ta gặp được những thời điểm ánh sáng,

- nhưng chúng ta cũng gặp những đoạn đường trong đó dường như Chúa vắng mặt, sự thinh lặng của Người đè nặng trên trái tim của chúng ta và ý muốn của người không hợp với ý muốn của chúng ta, với những gì mà chúng ta muốn.

Nhưng chúng ta

- càng mở rộng chúng ta hơn ra bao nhiêu với Chúa, chúng ta đón lấy ơn đức tin, hoàn toàn lòng trông cậy của chúng ta vào Người - nhu Abraham và như Mẹ Maria -

- thì Người càng làm cho chúng ta có khả năng, với sự hiện diện của Người, sống mỗi trạng thái của đời sống trong an bình và chắc chắn về lòng trung thành và tình yêu thương của Người.

Nhưng điều đó có nghĩa là phải ra khỏi chính con người của mình và khỏi các đồ án dự tính của mình, để cho Lời Chúa trở thành ngọn đèn hướng dẫn tư tưởng và hành động của chúng ta.

3 - Tôi cũng muốn được dừng lại thêm trên một phương diện nổi lên trong các đoạn tường thuật lại về thời niên thiếu của Chúa Giêsu, được Thánh Luca thuật lại.

Mẹ Maria và Thánh Giuse đem con đi Giêrusalem, đến Đền Thờ, để trình diện Cậu và tiến dâng Cậu cho Chúa, theo Lề Luật Moisen dạy bảo:

- " Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Moisen, bà Maria và ông Giuse đem Con lên Giêrusalem, để tiến dâng cho Chúa, như đã chép trong Luật Chúa rằng: " Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là thánh, dành cho Chúa, và cũng để dâng của lễ theo luật Chúa truyền , là một đôi chim gáy hay một cặp bò câu non " ( Lc 2, 22-24).

Động tác đó của Thánh Gia Thất còn có một ý nghĩa sâu đậm hơn nữa, nếu chúng ta biết đọc dưới ánh sáng khoa Phúc Âm học về Chúa Giêsu lúc lên mười hai tuổi, mà sau ba ngày tìm kiếm, được gặp lại trong Đền Thờ đang tranh luận với các kinh sư.

Trước các lời đầy lo âu của Mẹ Maria và Thánh Giuse:

_ " Con ơi, sao con lại xử với cha mẹ như vậy ? Con thấy không, cha con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm con ! " ( Lc 2, 48),

Chúa Giêsu ( mười hai tuổi ) đáp lại bằng một câu trả lời bí nhiệm:

- " Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao,? " ( Lc 2, 49).

Nghĩa là trong gia sản của Chúa Cha, trong nhà Chúa Cha, Chúa Giêsu có bổn phận là một đứa con.

Mẹ Maria phải canh tân sâu xa lại đức tin khi Mẹ thưa " xin vâng " trong lúc Truyền Tin. Mẹ phải chấp nhận Chúa Cha có quyền ưu tiên thực sự và chính đáng trên Chúa Giêsu, phải biết để cho đứa Con mà Mẹ đã sinh ra đó , để cho Người tiếp tục sứ mạng của Người.

Và tiếng trả lời " xin vâng " của Mẹ Maria theo ý muốn của Thiên Chúa, trong đức vâng lời của đức tin, được lập lại trong cuốt cuộc đời của Mẹ, cho đến thời điểm khó khăn nhứt, đó là thời điểm Thánh Giá.

4 - Trước những điều vừa kể, chúng ta có thể đặt câu hỏi làm sao Mẹ Maria có thể sống cuộc hành trình nầy bên cạnh Chúa Con với một đức tin sắt đá như vậy, cả trong những lúc tăm tối, mà không mất đi lòng tin cậy vào động tác của Thiên Chúa ?

Có một thái độ nền tảng mà Mẹ Maria hành xử trước những gì xảy ra trong cuộc đời của Mẹ.

Trong lúc Truyền Tin, Mẹ cảm thấy bối rối khi nghe các lời của thiên sứ - đó là mối lo sợ mà con người gặp phải, khi được sự hiện diện của Thiên Chúa chạm đến - nhưng không phải là thái độ của ai sợ hãi trước những gì Thiên Chúa có thể đòi hỏi.

Mẹ Maria suy nghĩ, tự hỏi về ý nghĩa của lời chào hỏi đó :

- " Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì " ( Lc 1, 29).

Từ ngữ Hy Lạp được dùng trong Phúc Âm để định nghĩa thái độ " suy nghĩ , dielogizeto " làm chúng ta liên tưởng đến nguồn gốc nguyên ngữ của lời " đối thoại, dialogue ". Điều đó có nghĩa là

- Mẹ Maria đi vào cuộc đối thoại thân tình với Lời Chúa đã được truyền tin cho Mẹ,

- Mẹ không nhìn phiến diện lời loan báo đó,

- nhưng là dừng lại, để cho lời đó thâm nhập vào lý trí và tâm tư mình, để hiểu được Chúa muốn điều gì nơi Mẹ, ý nghĩa của lời loan báo.

Một tư tưởng thoáng qua khác liên quan đến thái độ nội tâm của Mẹ Maria trước hành động của Chúa , chúng ta gặp được - vẫn trong Phúc Âm Thánh Luca - lúc Chúa Giêsu được sinh ra, sau cuộc thờ lạy của các mục đồng.

Phúc Âm xác nhận rằng:

- " Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng " ( Lc 2, 19).

Từ ngữ Hy Lạp ám chỉ về điều vừa kể là " symballon ", chúng ta có thể nói là Mẹ Maria " đặt các sự kiện ấy chung với nhau " trong tâm khảm mình, những điều đã xảy đến cho mình:

- đặt mỗi yếu tố, mỗi lời nói, mỗi sự kiện vào bên trong tất cả

- và so sánh các sự kiện đó, ghi nhớ gìn giữ, bằng cách nhận biết rằng đều do ý muốn của Thiên Chúa mà đến.

Mẹ Maria không dừng lại ở sự hiểu biết tiên khởi phiến diện những gì xảy ra trong đời Mẹ,

- nhưng biết nhìn vào chiều sâu các biến cố kêu gọi mình,

- diễn giải chúng ra,

- chuẩn định chúng

- và chỉ nhận biết mình hiểu biết được, nếu có đức tin bảo chứng cho.

Chính đức tính khiêm nhường sâu xa đức tin vâng lời của Mẹ Maria, làm cho Mẹ góp nhận vào mình cả những gì mình không hiểu đối với hành động của Chúa, để cho Chúa mở lý trí và trái tim cho mình:

- " Phúc cho người đã tin vào việc thực hiện của lời Chúa " ( Lc 1, 45).

Đó là lời người bà con Elisabeth đã thốt lên.

Chính vì nhờ đức tin, mà tất cả các thế hệ đều gọi Mẹ là người có phúc.

Các bạn thân mến, Lễ Sinh Nhật trọng thể của Chúa, mà một ít lâu nữa chúng ta sẽ cử hành mừng, mời gọi chúng ta hãy sống lòng khiêm nhường và vâng phục nầy của đức tin.

Vinh quang Thiên Chúa

- không tỏ hiện trong chiến thắng khải hoàn và trong quyền lực của một vì vua,

- không chiếu toả ra trong một thị trấn thời danh, trong một dinh thự nguy nga,

- mà có nơi cư ngụ trong dạ một trinh nữ, mạc khải mình ra trong sự khó nghèo của một con trẻ.

Quyền lực toàn năng của Thiên Chúa, cả trong đời sống chúng ta cũng vậy, hành động với sức mạnh, thường là sức mạnh yên lặng, của chân lý và tình yêu.

Như vậy, đức tin nói với chúng ta, quyền năng bất tự vệ của Cậu Trẻ (Giêsu ) sau cùng thắng tiếng ồn ào của quyền lực thế giới.

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Thông tấn www.vatican.va, 19.12.2012).

 
HOC HOI DE SONG ĐAO = NAM DUC TIN- NHUNG GIA DOAN MAC KHAI PDF Print E-mail

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 42)

Thính phòng Phaolồ VI, buổi yết kiến ngày thứ tư, 12.12.2012.

NĂM ĐỨC TIN. NHỮNG GIAI ĐOẠN MẠC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA.

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI.

Anh Chị Em thân mến,

trong bài giáo lý vừa qua, tôi đã nói về sự mạc khải của Thiên Chúa, như là thông báo mà Người thông ban về chính Mình và về đồ án lòng tốt lành và tình yêu thương của Người.

Việc Mạc Khải đó được thực hiện trong thời gian và trong dòng lịch sử của con người: dòng lịch sử trở thành nơi,

- " trong đó chúng ta có thể xác nhận được động tác của Chúa có lợi ích cho nhân loại.

Thiên Chúa đến với chúng ta nơi mà chúng ta quen thuộc nhứt, và dễ dàng kiểm nhận, bởi đó là thành phần cấu trúc nên cuộc sống hằng ngày của chúng ta, mà không có những yếu tố đó, chúng ta không thể hiểu được " ( ĐTC Gioan Phaolồ II, Fides et ratio, 12).

1 - Thánh tác giả Phúc Âm Marco - như chúng ta đã nghe - ghi lại, bằng những từ ngữ rõ ràng và đúc kết ngắn gọn, những khoảng thời gian khởi đầu cuộc rao giảng của Chúa Giêsu:

- " Thời kỳ đã mãn và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần " ( Mc 1, 15).

Điều làm sáng tỏ lên và nói lên ý nghĩa lịch sử của thế giới và của con người bắt đầu chói rạng lên trong hang đá Bethlem; đó là Mầu Nhiệm chúng ta sẽ chiêm niệm trong thời gian ngắn sắp tới nhân dịp Giáng Sinh: đó là sự cứu độ được thực hiện nơi Chúa Giêsu.

Nơi Chúa Giêsu Nazareth, Thiên Chúa tỏ hiện ra diện mạo của Người và kêu gọi con người hãy quyết định nhận biết Người và đi theo Người.

Việc Thiên Chúa mạc khải chính mình trong lịch sử để đi vào mối tương quan đối thoại yêu thương với con người, đem đến một ý nghĩa mới cho toàn vẹn cuộc hành trình của con người.

Dòng lịch sử không phải chỉ là những gì tiếp nối nhau qua các thể kỷ, năm, tháng, ngày, mà là thời gian của một sự hiện diện làm cho dòng lịch sử có ý nghĩa đầy đủ và mở ra cho lịch sử một niềm hy vọng vững chắc.

Chúng ta có thể đọc được ở đâu các giai đoạn của công cuộc Mạc Khải nầy?

Thánh Kinh là nơi đặc biệt nhứt để khám phá ra các biến cố của cuộc hành trình nầy.

Và một lần nữa, tôi muốn được mời gọi tất cả, trong Năm Đức Tin nầy,

- hãy thường xuyên hơn cầm trong tay mình quyển Thánh Kinh để đọc, suy niệm

- và đặc tâm chú ý hơn đến các Bài Đọc trong Thánh Lễ ngày Chúa Nhật.

Tất cả những gì vừa kể là thức ăn qúy báu nuôi sống đức tin chúng ta.

a) Đọc Cựu Ước, chúng ta có thể thấy được, các cuộc can thiệp của Thiên Chúa vào lịch sử của dân tộc được chọn và được Thiên Chúa giao ước với, không phải là những biến cố qua đi và rơi vào quên lãng, mà là trở thành " ký ức ", chung nhau cấu tạo thành " lịch sử cứu rổi " , vẫn còn được giữ sống động trong tâm thức của dân Israel, qua các việc cử hành mừng các biến cố giải thoát.

Như vậy, trong Sách Xuất Hành, Thiên Chúa chỉ định cho Moisen hãy trọng thể cử hành mừng đại biến cố giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, Lễ Vượt Qua của Israel, với những lời sau đây:

- " Các ngươi phải lấy ngày đó làm ngày tưởng niệm, ngày đại lễ mừng Thiên Chúa. Qua mọi thế hệ, các ngươi phải mừng ngày lễ nầy: đó là luật quy định cho đến muôn đời " ( Ex 12, 14).

Đối với cả dân tộc Israel, nhớ lại những gì Chúa đã làm cho, trở thành một loại mệnh lệnh vĩnh viễn, để cho thời gian qua đi được đánh dấu bằng ký ức sống động các biến cố quá khứ, thể hiện ngày qua ngày, lịch sử được lập lại và vẫn hiện diện.

Trong Sách Đệ Nhị Luật ông Moisen nói với dân chúng:

- " Anh em hãy để ý và cẩn thận giữ mình đừng quên những điều mắt anh em thấy , và suốt đời, đừng để cho những điều ấy ra khỏi lòng anh em; trái lại, anh em hãy dạy cho con cháu anh em biết " ( Dt 4, 9).

Và như vậy ông cũng nói với chúng ta:

- " Hãy cẩn thận đừng để quên đi những gì Chúa đã làm với anh em ".

Đức tin được nuôi dưỡng bằng việc khám phá ra và ký ức về Thiên Chúa luôn luôn trung tín,

- Đấng hướng dẫn dòng lịch sử

- và là Đấng thiết lập nên nền tảng chắc chắn và bền vững trên đó đặt để nền tảng của chính đời sống.

Cũng vậy, Bài Ca Ngợi Khen Magnificat, mà Đức Trinh Nữ Maria dâng lên Chúa, là một mẫu gương rất cao cả cho dòng lịch sử cứu độ nầy, của ký ức làm cho thể hiện và hiện hữu trong thực tại tác động của Thiên Chúa. Mẹ Maria

- ca tụng lên động tác nhân lành của Thiên Chúa trong cuộc hành trình thiết thực của dân mình,

- ngợi khen lòng trung thành với giao ước đã thoả thuận với Abraham và dòng giống hậu duệ ngài; và tất cả những điều đó là ký ức sống động về sự hiện diện của Chúa không bao giờ vắng bóng ( cfr Lc 1, 46-55).

b) Đối với Israel, Xuất Hành là biến cố chính yếu, trong đó Thiên Chúa mạc khải động tác quyền năng của Người.

Thiên Chúa giải thoát Israel khỏi ách nô lệ Ai Cập, để cho dân Israel có thẻ trở về Đất Hứa và thờ phượng Người như là Thiên Chúa duy nhứt và đích thực.

Israel không bắt đầu khởi hành để trở thành một dân tộc như những dân tộc khác - để cho mình cũng có quyền độc lập - mà là để phục vụ Thiên Chúa trong tế tự và trong đời sống, để tạo nên cho Thiên Chúa một địa danh, nơi đó con người vâng phục Người, nơi mà Thiên Chúa hiện diện và được thờ lạy trên mặt đất; và dĩ nhiên không những Isarel chỉ cho mình, mà còn để nhân chứng Người giữa các dân tộc khác.

Việc cử hành mừng biến cố nầy là một động tác làm cho Người hiện diện và thể hiện trong thực tại, để động tác của Thiên Chúa không vắng thiếu đi. Thiên Chúa trung thành với đồ án giải thoát của Người và vẫn tiếp tục hành xử, để cho con người có thể biết ra được và phục vụ Thiên Chúa của mình, để cho con người đáp ứng lại động tác của Người bằng đức tin và tình yêu thương.

2 - Như vậy Thiên Chúa mạc khải chính Người

- không những bằng động tác tiên khởi của việc sáng tạo,

- mà còn bằng cách đi vào dòng lịch sử của chúng ta, vào dòng lịch sử của một dân tộc nhỏ bé không có gì đông đảo và sức mạnh hơn các dân tộc khác.

Và việc Mạc Khải đó của Chúa vẫn tiêp tục đi tới trong lịch sử, đến thượng đỉnh nơi Chúa Giêsu Kitô: Thiên Chúa, Ngôi Lời ( Logos),

- Ngôi Lời sáng tạo là khởi thủy của thế giới,

- trở thành nhập thể nơi Chúa Giêsu và tỏ cho thấy dung nhan đích thực của Thiên Chúa.

Nơi Chúa Giêsu, mọi lời hứa đều được thực hiện, nơi Người đạt đến thượng đỉnh dòng lịch sử của Thiên Chúa đối với con người.

Khi chúng ta đọc đoạn tường thuật lại hai môn đệ trên đường Emmaus, được Thánh Luca kể lại, chúng ta thấy được diễn tả ra rõ rệt rằng con người của Chúa Giêsu

- chiếu sáng lên cho chúng ta hiểu được Cựu Ước,

- cả dòng lịch sử cứu rổi

- và cho thấy đồ án cao cả hiệp nhứt của cả hai bản văn Thánh Kinh, cho thấy con đường hiệp nhứt của Thánh Kinh.

Thật vậy, Chúa Giêsu giải thích cho hai người lữ hành mất định hướng và thất vọng rằng Người là Đấng chu toàn mọi lời hứa:

- " Rồi Người bắt đầu từ ông Moisen và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh " ( Lc 24, 27).

Thánh Tác Giả Phúc Âm Luca ghi lại lời cử chỉ hô to lên của hai môn đệ, sau khi nhận ra rằng người bạn đồng hành đó là Chúa:

- " Dọc đưòng khi Người nói chuyện và giảì thích Thánh Kinh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao? " ( Lc 24, 32).

Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo tóm kết các giai đoạn việc Mạc Khải của Chúa bằng cách chỉ cho biết một cách đúc kết ngắn gọn diễn biến ( cfr nn. 54-64): Thiên Chúa đã mời gọi con người,

- ngay từ những lúc khởi đầu vào một cuộc sống thông hiệp với Người

- và ngay cả khi con người, do lòng bất vâng lời của mình, đã đánh mất đi tình bạn hữu với Thiên Chúa,

- Người cũng không bỏ rơi con người cho quyền lực của sự chết, những vẫn nhiều lần ban cho con người mối giao ước của Người ( cfr Messale Romano. Preghiera Eucaristica IV).

Sách Giáo Lý duyệt qua trở lại cuộc hành trình của Thiên Chúa với con người

- từ giao uớc với Noe sau cơn lục đại hồng thủy,

- cho đến biến cố kêu gọi Abraham ra khỏi miền đất của ngài, để làm cho ngài trở nên người cha của dòng giống đông đảo các dân tộc.

Sau khi thành lập Israel như là dân của nguời, qua biến cố Xuất Hành , giao ước Sinai và ban tặng, qua ông Moisen, Lề Luật để nhạn biết Người và phục vụ Người như là Thiên Chúa duy nhứt và đích thực.

Với các ngôn sứ, Thiên Chúa hướng dẫn dân Người trong hy vọng được cứu độ. Chúng ta biết được qua tiên tri Isaia - " cuộc Xuất Hành II " - cuộc trở về từ Babylonia đến quê hương của chính mình, cuộc tái thiết lại dân tộc; tuy nhiên, đồng thời nhiều người bị lạc hướng tản mác đi và như vậy khởi đầu đặc tính phổ quát của đức tin.

Sau cùng, dân chúng không còn chỉ chờ đợi một vị vua, David, một người con của David, mà là " Một Con Người " , sự cứu độ của mọi dân tộc.

Những cuộc gặp gỡ giữa các nền văn hoá được thực hiện, trước tiên với Babylonia và Syria, và cả đến đông đảo dân chúng Hy Lạp.

Như vậy chúng ta thấy được cuộc hành trình của Thiên Chúa được mở rộng ra, luôn luôn được mở rộng thêm nữa hướng về Mầu Nhiệm Chúa Kitô, Vua vũ trụ.

Sau cùng nơi Chúa Kitô dưọc thực hiện việc Mạc Khải trọn vẹn, đồ án yêu thương tốt lành của Thiên Chúa. Chính Người trở thành một người trong chúng ta.

3 - Tôi đã dừng lại trên việc tưởng nhớ đến động tác của Thiên Chúa trong lịch sử con người, để cho thấy các giai đoạn của đồ án cả thể tình yêu nầy, được minh chứng trong Cựu và Tân Ước: một đồ án cứu độ duy nhứt nhằm cho cả nhân loại, tuần tự được mạc khải và thực hiện bởi quyền nang Thiên Chúa, nơi mà Thiên Chúa phản ứng lại các đáp ứng của con người và có những sáng kiến mới cho giao ước, khi con người thất lạc, mất định hướng.

Đó là điều căn bản trong cuộc hành trình đức tin.

Chúng ta đang ở trong thời gian phụng vụ Mùa Vọng chuẩn bị cho chúng ta vào Lễ Giáng Sinh.

Như tất cả chúng ta đều biết, từ ngữ " Avvento " ( Adventus ), Mùa Vọng có nghĩa là " sự đến ", " sự hiện diện" và trong thời cỗ, có nghĩa là cuộc đến của vị vua, của vị hoàng đế, đến một địa danh xác định nào đó.

Đối với chúng ta, người tín hữu Chúa Kitô, từ ngữ nói lên một thực tại tuyệt diệu và đầy lôi cuốn: Thiên Chúa đã bước qua cửa Trời của Người và cúi mình xuống trên con người, đã thiết đinh giao ước với con người bằng cách đi vào dòng lịch sử của một dân tộc.

Người là vị vua đã đi xuống vùng địa danh nghèo khổ nầy là thế giới của chúng ta và đã ban cho chúng ta một tặng phẩm chuyến viếng thăm của Người, bằng cách nhận lấy xác thịt của chúng ta, trở thành con người như chúng ta.

Mùa Vọng mời gọi chúng ta hãy bước đi trở lại cuộc hành trình sự hiện diện nầy và luôn luôn nhắc nhở lại chúng ta rằng Thiên Chúa

- không lánh khỏi thế gian, không khiếm diện, không bỏ mặc chúng ta,

- mà đến gặp chúng ta dưới nhiều phương thức khác nhau, chúng ta phải học hiểu để chuẩn định được.

Và cả chúng ta nữa, vói đức tin của mình, niềm hy vọng và lòng bác ái của mình,

- chúng ta được kêu gọi mỗi ngày hãy nhận thức ra và nhân chứng sự hiện diện nầy giữa thế gian thường khi phiến diện và lơ đễnh

- và hãy làm chiếu rực lên trong đời sống chúng ta ánh sáng đã chiếu rạng hang đá Bethlem.

Cám ơn Anh Chị Em.

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Thông tấn www.vatican.va, 12.12.2012).

 
HOC HOI DE SONG ĐAO #56 = SONG DUC TIN VOI DTC BIEN DUC PDF Print E-mail

 

Song Duc Tin voi DTC Bien Duc XVI - bai 9

 

Bài 9: "Đức tin được nuôi dưỡng bằng việc khám phá và tưởng nhớ Vị Thiên Chúa luôn trung thành, Đấng hướng dẫn lịch sử và là bảo đảm cùng là nền tảng vững chắc để xây dựng đời sống của con người".

Cảm nhận của người dịch:

Bài giáo lý thứ 9 được Đức Thánh Cha hướng dẫn hôm qua Thứ Tư 12/12/2012 cho Năm Đức Tin này tiếp theo chiều hướng của bài thứ 8 liên quan đến Mạc Khải của Thiên Chúa về dự án cứu độ của Ngài đối với loài người.

Tuy nhiên, bài giáo lý thứ 9 đi sâu hơn vào dự án cứu độ và đường lối mạc khải của Thiên Chúa, ở chỗ Thiên Chúa mạc khải dự án cứu độ của mình nơi lịch sử loài người nói chung và Lịch Sử Cứu Độ của Dân Do Thái nói riêng:

"Việc Thiên Chúa mạc khải bản thân mình ra trong lịch sử để thiết lập vào một mối liên hệ trao đổi yêu thương với con người là những gì cống hiến một ý nghĩa mới cho toàn thể cuộc hành trình của con người. Lịch sử không chỉ là một chuỗi liên tục các thế kỷ, năm tháng và ngày giờ, mà là thời điểm của một sự hiện diện mang lại cho nó tràn đầy ý nghĩa và hướng nó về một niềm hy vọng vững chắc".

"Đọc Cựu Ước chúng ta thấy Thiên Chúa đã can thiệp vào lịch sử của dân được Ngài tuyển chọn cho chính mình ra sao, thành phần Ngài thiết lập giao ước, những can thiệp không phải chỉ là những sự kiện qua đi và rơi vào quên lãng mà trở thành 'ký ức', những can thiệp cùng nhau tạo nên 'lịch sử cứu độ', sống động trong ý thức của dân Yến Duyên (Israel) qua việc cử hành các biến cố cứu độ ấy".

Nếu về phía mình Thiên Chúa tỏ mình ra cùng với dự án cứu độ của Ngài nơi chung lịch sử loài người và riêng Lịch Sử Cứu Độ của Dân Do Thái thì về phía nhân loại cần phải nhận biết và đáp ứng tác động mạc khải cứu độ của Ngài, bằng việc đọc Thánh Kinh cũng như bằng việc tưởng nhớ những tác động thần linh của Ngài, (đúng như câu được chọn làm nhan đề cho bài giáo lý thứ 9 này),

"Trong Năm Đức Tin này, hãy năng cầm cuốn Thánh Kinh lên để đọc và suy niệm cũng như chú trọng hơn nữa tới các Bài Đọc trong Thánh Lễ Chúa Nhật; tất cả những điều ấy tạo nên một thứ lương thực quí báu cho đức tin của chúng ta".

"Đức tin được nuôi dưỡng bằng việc khám phá và tưởng nhớ Vị Thiên Chúa luôn trung thành, Đấng hướng dẫn lịch sử và là bảo đảm cùng là nền tảng vững chắc để xây dựng đời sống của con người ta".

Đặc biệt trong Mùa Vọng là thời điểm mang ý nghĩa Thiên Chúa "đến" với con người, "hiện diện" giữa con người, một biến cố cần được Kitô hữu thực sự cảm nghiệm và minh chứng bằng đức tin, đức cậy và đức mến của mình.

"Đối với Kitô hữu chúng ta chữ Advent nói đến một thực tại tuyệt vời và siêu việt đó là Chính Thiên Chúa đã băng qua các Tầng Trời của Ngài và cúi mình xuống trên con người; Ngài đã thiết lập một thứ liên minh với con người khi tiến vào giòng lịch sử của một dân tộc; Ngài là vị vua đã đến cái tỉnh nghèo hèn là Trần Gian này, và đã trở thành một tặng vật cho chúng ta bằng việc mặc lấy xác thịt của chúng ta, làm người như chúng ta. Mùa Vọng mời gọi chúng ta hãy theo đường lối hiện diện này và nhắc nhở chúng ta mãi mãi rằng Thiên Chúa đã không rút lui khỏi thế giới này, Ngài không vắng mặt, Ngài không bỏ mặc chúng ta, nhưng đến với chúng ta bằng những cách thức khác nhau chúng ta cần phải biết nhận thức. Và cả chúng ta nữa, với đức tin của mình, đức cậy của mình và đức mến của mình, cũng được kêu gọi hằng ngày để nhìn thấy và làm chứng cho sự hiện diện này, trong một thế giới thường nông nổi và phân tâm, để chiếu tỏa trong đời sống của mình thứ ánh sáng chiếu soi hang Bêlem".

Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

Các bài đọc thêm trong tuần:

Suy Tư và Học Hỏi Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo: Thánh Kinh

Ý Thức Đức Tin: Môi Trường Đức Tin: Thế Gian

 
HOC HOI DE SONG DAO # 55= MUA VONG- MUA CUA LONG THUONG XOT PDF Print E-mail

MÙA VỌNG – MÙA CỦA LÒNG XÓT THƯƠNG

Lm. Giuse Trần Đình Long

Dòng Thánh Thể

Mùa Vọng là mùa chờ đợi. Nhưng chúng ta chờ đợi cái gì ?

Mùa Vọng năm nay dường như đến hơi sớm. Cơn gió lạnh se sắt kéo về thành phố mấy ngày nay chưa phải là báo hiệu của "trời lập đông chưa em.." hay chuẩn bị cho "Một Mùa Sao Sáng, đêm Noel Chúa sinh ra đời..." Đó là tín hiệu không vui cuối năm. Nhiều nơi đang chìm trong biển nước. Nhà cửa ruộng vườn tài sản chắt chiu cả đời người trong chốc lát bị lũ cuốn trôi sạch. Hàng trăm ngàn con người đang sống trong cảnh "màn trời chiếu nước". Họ đang mòn mỏi ngóng chờ những bàn tay đưa ra cứu vớt phận đời "bèo dạt mây trôi" của họ.

Có phải đợi đến mùa vọng, người ta mới mong chờ không? Có phải đến mùa vọng, ta mới cứu giúp không? Thật ra, cả đời người phải là một mùa vọng, vì lúc nào ta cũng khao khát Lòng Thương Xót của Chúa và chờ mong lòng xót thương của con người, nhất là khi gặp thiên tai, hoạn nạn...

Mùa Vọng Năm Đức Tin rồi cũng qua đi. Tôi có được tâm tình chờ đợi ấy không ? Mắt tôi có mỏi mòn, lòng tôi có rộn lên niềm khát vọng như những nạn nhân lũ lụt mong cứu trợ, khi tôi hát lại lời ngôn sứ Isaia :

"Trời cao hãy đổ sương xuống, và ngàn mây hãy mưa Đấng chuộc tôi" (Is 45,8)

Nếu mắt tôi vẫn thờ ơ trước những cảnh thương tâm. Nếu lòng tôi vẫn lạnh lùng trước những đau khổ của tha nhân. Nếu tôi không biết xót thương những người đang cần được thương xót. Nếu tôi chỉ chờ một người mà tôi không biết như bài hát "Không cần biết em là ai. Không cần biết em từ đâu..." Nếu tôi chỉ đợi một người tôi không thương, không nhớ. Nếu vậy thì thật là vô vị và nhạt nhẽo cho tâm hồn tôi. Lúc đó tôi vẫn phải mượn những bản thánh ca giáng sinh, những hoạt cảnh, những đèn sao, hang đá, máng cỏ để tìm thấy ở đó một hương vị Noel như những năm nào. Để rồi mùa vọng qua đi, lòng vẫn lạnh lùng vô cảm, rồi chìm hẳn vào những lo âu mới, những rộn ràng mới của ba ngày Tết Nguyên Đán sắp tới đây.

Mùa Vọng là mùa Hội Thánh muốn chuẩn bị tâm hồn con cái mình chờ đợi để đón nhận một con người, chứ không phải đón nhận quà cáp tiệc tùng của cải danh vọng chức tước địa vị. Con người ấy thực sự đã đến rồi, đã có mặt trong lịch sử loài người, đã "cắm lều ở giữa loài người" (Ga 1,14). Nhưng Đấng ấy có khi vẫn còn phải đứng chờ ở ngoài cửa nhà tôi, chưa được tôi mời vào nhà, đón vào lòng tôi. Đấng ấy là : Đức Giêsu, Đấng Giầu Lòng Thương Xót.

Có người sẽ nghĩ : Ồ tưởng ai, con người Giêsu ấy thì tôi đã nghe quá quen rồi. Tôi quen quá đến độ không có nhiều cảm hứng khi nhắc đến tên Ngài bằng khi nghe nhắc đến tên một chiếc xe hơi đời mới, một cái điện thoại di động 4G, hay một giấy phép xuất cảnh, giấy báo lãnh tiền, giấy phép làm nhà thờ và cho chịu chức linh mục... Đó là một sự chua chát, mà sự chua chát có thật. Sang thiên niên kỷ mới này, người ta nói chung, không còn tha thiết với con người Giêsu nữa sao ? Thế mà văn hào Đôxtôepxki, tác giả "Anh em nhà Karamazôp" bị trù dập vì niềm tin đã khẳng khái nói "Tôi không thể không nói về Giêsu Kitô, vì tất cả các vĩ nhân trong lịch sử rồi cũng qua đi, nhưng Giêsu Kitô thì còn mãi mãi..."

Dù gì đi nữa, Hội Thánh cũng vẫn cứ mời gọi chúng ta khát vọng con người ấy, chờ đợi con người ấy. Vì nếu con người Giêsu thực sự chưa đến tận trong lòng dạ chúng ta, tận trong tim óc chúng ta thì hàng năm Giêsu vẫn còn nằm bất động trong hang đá máng cỏ huy hoàng ánh điện. Lúc đó tiền của, chức tước, địa vị vẫn còn là những khát vọng vô cùng lớn lao chất chứa trĩu nặng trong lòng con người, kéo chúng ta xuống, xuống nữa, cho đến lúc nhận chìm cả hồn xác chúng ta trong cái tối tăm đời đời của nó.

Vì thế trong mùa vọng, Lời Chúa qua miệng ngôn sứ Isaia lại được đọc lên như tiếng kêu mời tha thiết của Thiên Chúa, Đấng giầu lòng thương xót :

"Mọi xác phàm sẽ được Thiên Chúa đến cứu thoát. Tiếng của người hô trong sa mạc. Hãy dọn đường cho Chúa. Hãy bạt lối Người đi. Mọi thác gềnh sẽ được lấp đầy. Mọi núi đồi sẽ hạ thấp. Nơi cong queo nên thẳng tắp. Chỗ gồ ghề thành đường đi phẳng lì..."(Is 40,3)

Đây là niềm vui cho toàn nhân loại. Chúa chúng ta đang đến, và bàn tay Người sẽ làm những điều lạ lùng.

Nhưng thường thì những lời vui mừng này lại được hiểu một cách hết sức chủ quan. Hôm nay gần lễ Giáng Sinh rồi, tôi phải dọn mình tôi cho sạch để mừng một ngày lễ lớn. Những gì ngăn cách giữa tôi và anh em như lũng sâu, như vực thẳm, tôi phải lấp đầy bằng bác ái, bằng tình thương. Những kiêu ngạo, ý riêng mình, tự ái ngất cao như núi, tôi phải hạ xuống, khiêm cung, vâng phục. Những gì lươn lẹo như đường cong queo, tôi phải chỉnh đốn lại cho ngay thẳng...

Khách quan mà nói, làm được như vậy là việc tốt. Tốt cho tôi và đỡ khổ cho cộng đoàn.

Nhưng nếu chỉ có thế thì có lẽ tôi chẳng cần Đức Giêsu đến làm gì. Các sách học làm người, các tôn giáo khác cũng dạy tôi ăn ngay ở lành, làm việc lành phúc đức...

Hơn như thế, phải xác tín rằng : Hôm nay, nếu tôi có làm nên việc đạo đức tốt lành nào chính là nhờ Đức Giêsu Kitô, Ngài đã đến rồi, đã chết và đã Phục Sinh. Và hôm nay, Thần Khí Đức Kitô đang tràn ngập trên tôi, và trên thế gian tội lỗi, nhờ đó mà tôi có được sức hồi sinh.

Những ngày của ngôn sứ Isaia cũng như ngày của Gioan con Zacharia, khi hai vị tiên tri ấy nói lớn lên lời vui mừng này, thì tất cả nhân loại còn ngồi trong tối tăm của bóng chết (Lc 1,79) quyền lực của tội lỗi còn ngự trị trên mọi con người. Không ai có khả năng ngóc đầu lên được, mà vinh quang Thiên Chúa thì lại không thể chung đụng được với hàng phàm nhân tội lỗi. Tội trước mặt Thiên Chúa là phải loại trừ, nhưng lòng thương xót của Thiên Chúa lại không thể tiêu diệt những kẻ tội lỗi, nên Ngài bắt Con của Ngài phải thành tội nhân, phải gánh hết mọi tội lỗi của nhân loại. Thiên Chúa yêu chúng ta đến nỗi Ngài bắt Con Ngài phải chết treo thập giá thay thế cho chúng ta tất cả.

Sigrid Undset, một nữ văn sĩ Na Uy đã viết trong cuốn "Bụi Cây Cháy Rực" những dòng tuyệt diệu như sau :

"Thiên Chúa có thể bắt con người đi theo con đường Ngài đã vạch ra, vâng phục Ngài như những vì sao. Nhưng Thiên Chúa đã làm người, và để quyền năng vô biên tuyệt đối của Người ngoài ngưỡng cửa của thế giới nhân loại. Quyền năng vô biên tuyệt đối vẫn hằng điều khiển vũ trụ này đi ra, và Ngài đi vào giữa đám đông các tâm hồn nhân loại, để ăn xin : xin người ta cho phép Người cho, cho phép Người chia sẻ nguồn phong phú huyền diệu trong chính hữu thể Người. Trong đêm nay Thiên Chúa đã bỏ Thiên Chúa, nhưng Người đã không bỏ loài người"

Các lý do chờ đợi của Mùa Vọng là thế. Chúng ta chờ, chúng ta vọng, một con người đang đến để chết thay cho chúng ta. Nên lời loan báo của Gioan phải là một tin vui cho tất cả nhân loại hôm nay : Đức Giêsu đến dọn mọi nẻo đường để Thiên Chúa đến gặp được nhân loại tội lỗi bằng chính mạng sống của Ngài.

Đức Giêsu, con người Thiên Chúa đã lấp bằng hố sâu ngăn cách giữa nhân loại và Thiên Chúa. Ngài kéo tôi từ lũng sâu tối tăm tội lỗi lên bằng với Ngài, đồng hình đồng dạng với Ngài. Và nơi lòng dạ cong queo tà vạy của tôi, nơi chứa đầy những tham sân si... con đường gồ ghề lởm chởm ấy chỉ có Đức Giêsu mới uốn nắn sửa chữa cho ngay thẳng được bằng máu của Ngài.

Tôi muốn mình trở nên thánh thiện, thì tôi phải chờ, phải đợi, phải mong, và đón nhận con người Giêsu vào lòng tôi, vào đời tôi. Lúc ấy chính Đức Giêsu Phục Sinh và Thần Khí của Ngài sẽ canh tân đổi mới con người cũ kỹ của tôi, làm cho tôi có lòng xót thương anh em như Ngài đã xót thương tôi.

Tiên tri Baruk đã kêu mời chúng ta chờ đợi Đức Giêsu thế này :

"Giêrusalem hỡi, hãy cởi bỏ chiếc áo choàng tang tóc và khốn cùng của ngươi. Hãy mặc lấy sự huy hoàng của vinh quang Thiên Chúa mãi mãi. Bởi vì Thiên Chúa đã quyết định phải hạ xuống mọi núi cao, và mọi đồi non cổ xưa, và lấp đầy các thung lũng để làm bằng mặt đất, ngõ hầu Israel bước đi vững chắc trong vinh quang Thiên Chúa" (Bar 5,1-3).

Hôm nay những ai đã được diễm phúc làm con cái ơn cứu độ, và vẫn còn giữ lòng trung tín với Đức Giêsu Kitô, thì những người ấy vì theo Đức Kitô sẽ luôn luôn gặp những ngày tận thế, ngày cánh chung trong đời mình, và trong tâm hồn mình : đó là những ưu phiền đến cay đắng, những cô đơn đến kinh hoàng trước thế gian và tội lỗi. Có lúc tưởng chừng như Thiên Chúa bỏ rơi mình để mặc cho cả thế gian đè sập trên đời mình. Chính lúc tối tăm ấy, Đức Giêsu sẽ hiện đến trong đời họ, trong lòng họ, để an ủi, nâng đỡ, bổ sức, quàng họ trên vai và đồng hành với họ từng ngày cho đến cuối đời. Và ngày quang lâm, các tầng trời rung chuyển, Đức Kitô lại đến, để Ngài thế nào thì thân xác kẻ gắn bó với Ngài trong đau khổ cũng sẽ thấy như vậy.

Những ai không gặp được Đức Kitô trong những đau khổ đời mình hôm nay, mà chỉ đặt khó khăn cơ cực đời mình vào tiền của, và quyền lực thế gian, vào đam mê xác thịt thì ngày Đức Kitô đến trong quyền năng và vinh quang, làm sao họ có thể rướn mình, ngẩng đầu lên mừng rỡ đón Ngài, Đấng vô cùng yêu thương họ ? Vì từ lâu họ đã không còn là con cái của ơn cứu độ, vì họ đã chọn sự an nghỉ trong tối tăm của thế gian và của Satan rồi.

"Lạy Chúa Giêsu, Đấng giầu lòng xót thương, xin hãy đến!

Xin Ngài hãy đến trong thung lũng tối tăm của tâm hồn con để con cảm nghiệm được Mùa Vọng là Mùa của Lòng Xót Thương. Amen"

 
<< Start < Prev 131 132 133 134 135 136 137 138 139 140 Next > End >>

Page 136 of 148