mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay791
mod_vvisit_counterHôm Qua6776
mod_vvisit_counterTuần Này791
mod_vvisit_counterTuần Trước54784
mod_vvisit_counterTháng Này139798
mod_vvisit_counterTháng Trước232383
mod_vvisit_counterTất cả11591884

We have: 129 guests online
Your IP: 54.92.174.226
 , 
Today: Aug 20, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 12 = ONG GIUĐA KHÔNG DUOC CUU ? PDF Print E-mail

PHẢI CHĂNG GIUĐA KHÔNG ĐƯỢC CỨU RỖI ?

Hỏi : Có ý kiến cho rằng :

1-Giuđa chắc chắn không được cứu rỗi

2- Đức Mẹ đã được Thiên Chúa cứu độ trước khi làm Mẹ Chúa Giêsu .?

Xin Cha cho biết 2 ý kiến trên có đúng không ?

Trả lời :

1-Về câu hỏi thứ nhất liên quan đến Giuđa, xin được trả lời như sau :

Nói về Giudda thì trước hết, đây là điển hình cho loại người quá đam mê tiền của đến quên tinh quên ân nghĩa hoặc phản bội. Đây cũng là gương xấu to lớn phải tránh cho mọi người có niềm tin nơi Chúa là Đấng đầy lòng thương xót , công bình và tha thứ. Người thương xót và hay tha thứ nhưng chúng ta phải tin tưởng và chậy đến xin Người thứ tha cho dù tội lỗi đến đâu. Chí có một tội không thể tha thứ được : đó là tội phạm đến Chúa Thánh Thần , tức là tội hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và không còn tin tưởng gì nơi lòng thương xót của Người nữa. Đó là điều Chúa Giêsu đã nói rõ trong Tin Mừng như sau:

" Tôi bảo thật cho anh em : mọi tội của con cái loan người, kể cả tội nói phạm thượng , và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời. " ( Mc 3: 28-29)

Như thế, nếu Giuđa quả thực hết tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa đến nỗi đi thắt cổ tự tử thì có thể Giuđa đã phạm tội mà Chúa Giêsu nói trên đây. Nhưng điều này chỉ có một mình Thiên Chúa biết và phán đoán Giuđa chiếu theo lòng khoan dung vô lượng và công minh tuyệt đối của Người.Nghĩa là chúng ta không thể căn cứ vào sự kiện bề ngoài để đưa ra một phán đoán nào, vì chúng ta hoàn toàn không biết được Giuđa có thực sự mất hết tin tưởng nơi lòng thương xót tha thứ của Chúa hay trong một phút trước khi chết anh ta đã kịp ăn năn hối lỗi và được tha thứ như người trộm lành?

Điều này chỉ một mình Chúa biết mà thôi.Do đó, Giáo Hội cũng không dám đưa ra một phán đoán chắc chắn nào về số phận đời đời của Giuđa.Nếu Giáo Hội mà không dám kết luận chắc chắn về phần rỗi của Giuđa thì chúng ta dựa vào đâu mà dám nghĩ rằng Giuđa đã sa hỏa ngục hay được cứu rỗi ?

Cũng vậy, đối với những người tự tử chết ngày nay, Giáo Hội vẫn cho phép cử hành lễ an táng cũng như cho chôn xác trong nghĩa trang công giáo, một điều không được phép làm trước Công Đồng Vaticanô II . Sở dĩ trước đây Giáo Hội cấm cử hành tang lễ cho người tự tử chết vì Giáo Hội lên án gương xấu này chứ không vì phán đoán rằng người tự tử đã sa hỏa ngục rồi nên không còn ích gì để cầu nguyện cho ai đã tự hủy hoại đời mình vì bất cứ lý do nào.

Như vậy, ta không nên phán đoán gì về trường hợp của Giuđa cũng như về những người đã tự tử chết, mặc dù đó là gương xấu và cũng là tội trọng phải tránh.Giuđa có tội rất lớn là đã tham tiền và cam tâm phản bội Chúa khi bán Người lấy 30 đồng bạc của bọn Thượng Tế Do Thái. Không ai có thể biện minh cho việc phản bội, tham tiền và thất vọng đi tự tử của Giudda.

Chính Chúa Giêsu cũng lên án việc phản bội của Giuđa như sau :

" Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người : thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn !" ( Mc 14: 21)

Lại nữa trong lời cầu cùng Chúa Cha trước đêm bị trao nộp , Chúa Giê su cũng than trách về Giuđa như sau :

"Khi còn ở với họ, con đã giữ gìn họ

Trong danh Cha mà Cha đã ban cho con

Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất

Trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời kinh Thánh." ( Ga 17: 12)

Đứa con " hư hỏng" vì đã phản bội chứ không có nghĩa là đã sa hỏa ngục. Nhưng việc Chúa phải chịu khổ hình và chết trên thập giá lại khác : không phải vì Giuđa phản bội, mà vì Chúa Giêsu muốn thi hành thánh ý Chúa Cha muốn Người hy sinh để đền tội cho cả loài người như Thánh Phaolô đã dạy:

" Đến như chính Con Một Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thẩy chúng ta." ( Rm 8:32)

Thánh Phêrô cũng quả quyết thêm như sau:

" Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi. Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa." ( 1 Pr 3 :18)

Cũng chính vì vâng ý Chúa Cha để chiu khổ hình thập giá và chết thay cho kẻ có tội là mọi người chúng ta, nên trước khi trút hơi thở cuối cùng, Chúa Giêsu đã phó linh hồn cho Chúa Cha với những lời thống thiết như sau :

" Lậy Cha con xin phó thác hồn con trong tay Cha.Nói xong Người tắt thở." ( Lc 23:46)

Lời cầu xin phó linh hồn trên đây của Chúa Giêsu đã được tiên báo trước trong Thánh Vinh 131:

Trước khi Chúa đến trần gian để thi hành thánh ý Chúa Cha:

" Trong tay Ngài con xin phó linh hồn con." ( Tv 131: 6)

Như thế, chứng tỏ Chúa Giêsu đã biết trước việc Người sẽ chết để đền tội cho nhân loại, đúng như Người đã nói với các môn đệ trong khi còn đi rao giảng Tin Mừng với họ:

" Này chúng ta lên Jerusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người. Họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại. " (Mc 10:33-34),

Do đó, không thể nói rằng nếu Giuđa không phản bội thì Chúa đã không chết.

Sự thật phải tin là Chúa đến trần gian làm Con Người để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, trong Chương Trình Cứu Độ nhân loại của Chúa Cha, như ngôn sứ Isaia đã loan báo từ 8 thế kỷ trước khi Chúa Giêsu sinh xuống trần gian :

" Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn

Giơ má cho người ta giật râu

Tôi không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ." ( Is 50: 6)

Hoặc :

" Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội

Bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm

Người đã chịu sửa trị để cho chúng ta được bình an

Đã mang lấy thương tích cho chúng ta được chữa lành. " ( Is 53 :5)

Như vậy, đủ cho thấy rõ là Chúa Cha đã dự liệu những khổ hình mà Chúa Kitô sẽ phải chịu để cứu chuộc cho nhân loại khỏi bị án phạt vì tội. Người chính là " Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" như Gioan Tiền Hô đã tuyên xưng một ngày kia. Chúa Giêsu cũng đã xác nhận những điều đã được tiên báo về Người trong đêm bị nộp khi Chúa quở mắng Phêrô vì đã chém. đứt tai một đầy tớ của thượng tế:

" Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần. Nhưng như thế thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được ?"( Mt 26: 53-54)

Hay rõ hơn nữa , khi Chúa bảo Phêrô " Hãy xỏ gươm vào bao. Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ? " ( Ga 18: 11)

Chén đắng đây chính là việc Người bị trao nộp, bị đánh đập, nhạo báng, phỉ nhổ và cuối cùng bị đóng đanh và chết trên thập giá.Như vậy, tuyệt đối không có vấn đề giả sử Giuđa không phản bội thì Chúa đã không phải chết. Đây là chén đắng Chúa Cha đã định liệu cho Người uống để chuộc tội cho nhân loại trong chương trình cứu độ của Chúa Cha

Và Chúa Kitô đã vui lòng uống " chén đắng" đó khi Người không kêu cứu Chúa Cha sai đạo binh thiên thần đến giải thoát cho Người khỏi bị bắt và điệu đi hành hình.

Dầu vậy, Giuđa vẫn có lỗi lớn là đã bán Chúa lấy 30 đồng bạc của các thượng tế và kỳ mục Do Thái. Và vì không ngờ việc bán Thầy lại trùng hợp với việc Chúa Giêsu vâng ý Chúa Cha để vui lòng chiu tử nạn, nên y đã thất vọng đi tự tử, tức là phạm thêm một tội trọng nữa là tự hủy hoại mang sống mình. Nhưng như đã nói ở trên, ta không biết được Giuđa có còn kịp sám hối trước khi chết hay không, nên không thể kết luận được gì về phần rỗi của y. Việc này Chỉ có Chúa biết mà thôi.

2- Đức Mẹ được cứu chuộc trước khi Chúa Kitô ra đời ?

Có thể nói vắn gọn là điều này không đúng, vì bằng chứng Kinh Thánh sau đây :

a- " Chỉ có một Thiên Chúa

Chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người

Đó là một con người : Đức Kitô- Giêsu

Đấng đã tự hiến làm giá chuộc cho mọi người." ( 1 Tm 2 : 5-6)

b-

" Ngoài Người ( Đức Kitô) ra, không ai đem lại ơn cứu độ vì dưới gầm trời này

Không có một danh nào khác đã ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào

Danh đó mà được cứu độ." (Cvtđ 4: 12)

Đức Trinh Nữ Maria được diễm phúc không mắc tội tổ tông và mọi tội khác, được trọn đời đồng trinh dù đã sinh Chúa Giêsu với quyền năng của Chúa Thánh Thần, cũng như được về trời cả hồn xác.Nghĩa là Mẹ không phải trải qua cái chết trong thân xác như mọi con người sinh ra trong trần thế này. Hơn thế nữa, Mẹ còn được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos) vì là Mẹ thật của Chúa Giêsu, cũng là Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi Một Thiên Chúa ( The Holy Trinity).

Nhưng dù với địa vị cao trọng làm vậy, Mẹ cũng không cùng bản thể với Thiên Chúa hay cao hơn Chúa, Là Đấng được tôn thờ ở mức Latria trong khi Mẹ được tôn kính đặc biệt ở mức Hyperdulia, các Thánh Nam Nữ khác ở mức Dulia trong phụng vụ thánh của Giáo Hội. Đó là những điều chúng ta cần biết, tin và thực hành như Giáo Hội dạy.

Nhưng Giáo Hội chưa hề dạy rằng Mẹ Maria được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Thiên Chúa trước khi làm Mẹ Ngôi Hai. Thiên Chúa có Chương Trình cứu chuộc loài ngoài, và đã nhờ Chúa Kitô thi hành Chương Trình này và Chúa đã hoàn tất Công Trình đó qua khổ nạn thập giá, chết , sống lại và lên trời . Đó là nội dung Mầu Nhiệm Vượt qua ( Paschal Mystery) của Chúa Kitô mà Giáo Hội cử hành mỗi năm trong Tuần Thánh với cao điểm là Lễ Phục Sinh, tuyên xưng Chúa Kitô đã sống lại sau khi phải chiu khổ nạn và thực sự chết trên thập giá và được mai táng 3 ngày trong Mồ đá.

Như thế, trước khi Chúa Kitô hoàn tất Chương Trình cứu độ của Chúa Cha qua Mầu Nhiệm Vượt qua thì công nghiệp cứu chuộc đó chưa có để ban phát cho ai, -dù là riêng cho Mẹ Maria- vì Chúa Giêsu chưa "uống chén đắng" mà Chúa Cha muốn trao cho Người.

Chính vì ơn cứu độ chưa sẵn có, nên những người lành thánh chết từ bao đời trước khi Chúa Giêsu hoàn tất công nghiệp cứu chuộc của Người , thì đều phải ở nơi gọi là "Ngục tổ tông=Abode of the Dead" đợi chờ Chúa " đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm" ở đây. Vì thế, sau khi Chúa chết trên thập giá, Người đã xuống nơi này với tư cách là Đấng Cứu Thế để loan báo Tin mừng cứu độ cho họ và dẫn đưa họ vào Thiên Đàng ( x.1 Pr 3: 19; SGLGHCG số 632)

Do đó, không thể nói rằng Chúa Cha đã ban ơn cứu độ riêng cho Mẹ Maria, Người đầy ơn phúc., vì đã sinh Con Chúa Trời và cộng tác tích cực vào việc thi hành Chương Trình cứu chuộc nhân loại của Chúa Giêsu-Kitô.Nghĩa là mọi người - kể cả Đức trinh Nữ Maria- dù vẹn toàn vì không mắc tội tổ tông và mọi tội cá nhân- đều phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô để vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Chúa là hạnh phúc của các Thánh và các Thiên Thần. Lý do là chỉ có một mình Chúa Kitô là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người trong việc cứu độ như lời Kinh Thánh trích trên đây.Cho nên, khi Người chưa hoàn tất công cuộc cứu chuộc loài người qua Hy Tế Thập giá, thì ơn cứu độ đó chưa sẵn có để ban cho ai.Vì nếu ơn đó đã sẵn có, thì Chúa Kitô đã không cần phải đến trần gian để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người và trở thành Đấng Cứu Chuộc duy nhất cho nhân loại ( Human Savior).

Đó là tất cả những điều người tín hữu Chúa Kitô phải tin và thực hành để hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo là Mẹ, thay mặt Chúa là Cha để dạy dỗ con cái mình không sai lầm những gì thuộc phạm vị đức tin và luân lý.

Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 11 = MUNG CHUA PHUC SINH PDF Print E-mail

MỪNG CHÚA PHỤC SINH CÁCH NÀO CHO XỨNG HỢP ?

Một lần nữa Giáo Hội lại long trọng mừng kỷ niệm Chúa sống lại sau khi Người đã thực sự chết trên thập giá và được an nghỉ 3 ngày trong Mồ đá

Sự Phục Sinh của Chúa Kitô là một biến cố quan trọng nhất trong đời sống đức tin của Giáo Hội và của mọi tín hữu chúng ta nói chung , vì nếu Chúa chết mà không sống lại như lời Người đã nói với các môn đệ, thì " lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và đức tin của anh em cũng trống rỗng" như Thánh Phaolô đã khẳng định ( 1 Cor 15:14) .Nghĩa là nếu Chúa không sống lại, thì niềm tin của chúng ta sẽ ra vô ích cùng với những lời giảng dạy của các Tông Đồ xưa kía và của Giáo Hội ngày nay.

Đó là tất cả ý nghĩa của cụm từ "trống rỗng" mà Thánh Phaolô đã dùng trên đây.

Nhưng Chúa Kitô đã sống lại thật : ngôi Mộ trống và lời chứng của các phụ nữ đến viếng Mộ Chúa sáng ngày thứ nhất trong tuần đã chứng minh hùng hồn sự kiện Chúa đã sống lại như lời hai người đàn ông đứng trong mồ đá ( Thiên Thần ) y phục sáng chói đã nói với mấy phụ nữ đến viếng Mộ Chúa :như sau : " Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết ? Người không còn ở đây nữa, những đã chỗi dậy rồi..." ( Lc 24: 5-6)

Chúng ta không được may mắn và diễm phúc đến viếng Mộ Chúa như các phụ nữ kia, nhưng qua đức tin chúng ta không thắc mắc gì về sự kiện Chúa Giêsu đã sống lại, sau 3 ngày chết nằm trong Mồ đá. Điều quan trọng đối với chúng ta ngày nay không phải là đi tìm thêm bằng cớ về sự Phục Sinh của Chúa Kitô như những người chưa tin nên muốn tìm, mà quan trọng là đi loan báo cho người khác biết về sự kiện lịch sử độc nhất vô nhị này.

Thật vậy, khi hiện ra trước tiên với mấy phụ nữ đạo hạnh kia, Chúa Giêsu đã nói với họ : "Chị em đừng sợ ! về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ thấy Thầy ở đó." ( Mt 28: 10) Các phụ nữ kia đã vui mừng đi tìm các môn đệ của Chúa để báo tin cho họ biết là Người đã sống lại như lời Người đã nói trong khi còn đi rao giảng với họ.Tin mừng Chúa sống lại cần được loan báo thêm cho nhiều người khác trong thời đại chúng ta ngày nay biết để họ được thức tỉnh khỏi mê lầm về một hạnh phúc giả tạo , một cánh chung luận hảo huyền mà những kẻ không tin có Thiên Chúa, không biết có sự kiện Chúa Kitô đã đến trong trần gian, đã chết và sống lại để những ai tin vào Người, sống theo Người, sẽ không phải chết đời đời mà có hy vọng được sống vĩnh cửu với Chúa trên Thiên Quốc, là nơi không còn bất công bóc lột, kỳ thị, gian manh, xảo trá, độc ác, hận thù chia rẽ và nhơ uế...là những thực tế và thực thể đang phơi bày trong mọi xã hội con người ở khắp nơi ngày nay. Bao lâu còn những thực tế này thì bấy lâu con người còn xa cách ơn phục sinh của Chúa Kitô và xa lạ với Nước Thiên Chúa là Vương Quốc của an bình, yêu thương, an hòa và vui sướng bất diệt.

Do đó, là người tín hữu Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta phải mừng Chúa đã sống lại trước hết bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa là đường ngay chính duy nhất dẫn đến sự sống và hạnh phúc thật , trái nghịch hoàn toàn với đường lối của con người , của thế gian chỉ đưa đến sự chết không những về thể lý mà còn về mặt thiêng liêng, tức là chết trong tâm hồn vì nọc độc của tội lỗi , hậu quả đương nhiên của văn hóa sư chết, của chủ nghĩa vô thần và tục hóa, tôn thờ vật chất và mọi lạc thú vô luân vô đạo đang lan tràn ở khắp mơi trên thế giới ngày nay. Chính vì tội lỗi của con người mà Chúa Kitô đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình để " cho muôn người được cứu rỗi." ( Mt 20 : 28).

Cho nên, không thể đón mừng Chúa Phục Sinh cách nào thích đáng và đẹp lòng Chúa hơn là ý thức sâu xa thêm nữa về nguyên nhân đã khiến Chúa Kitô , người lành vô tội, mà phải bị hành hình và chết như kẻ tội lỗi để cứu chuộc cho muôn người được sống. Phải ý thức sâu sắc về nguyên nhân này để từ đó thêm quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi và sự dữ để không đóng đanh Chúa thêm lần nào nữa trong tâm hồn mình chúng ta. Hơn nữa, có như thế, thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô mới không trở nên vô ích cho những ai chỉ mừng Chúa Phục Sinh lấy lệ , theo thói quen chung là đi xưng tội trong Mùa chay và rước lễ Phục Sinh. Sau đó trở về, lại tiếp tục nếp sống cũ nghiêng về vật chất của chủ nghĩa tục hóa ( secularism) và của "văn hóa sự chết", đối nghich hoàn toàn với Phúc Âm sự Sống mà Chúa Kitô đã rao giảng và trả giá bằng chính mạng sống của Người trên thập giá năm xưa. Phải nói là vô ích vì nếu không có quyết tâm cải thiện đời sống theo Tin Mừng Cứu Độ để sống " cho Đấng đã chết và sống lại vì mình." ( 2 Cor 5:15) như Thánh Phaolô đã dạy thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ không ích gì cho những ai thiếu quyết tâm đó.

Như vậy, mừng Chúa sống lại cách hữu ích và đẹp lòng Chúa đòi hỏi mọi người tín hữu chúng ta không những phải cám ơn Chúa thêm một lần nữa, vì Người " đã chết thay cho mọi người" chúng ta , đồng thời phải thêm quyết tâm xa tránh nếp sống vô luân vô đạo cùng mọi tội lỗi vì chỉ có tội mới khiến cho Chúa Kitô phải chịu sỉ nhục, hành hình và chết trên thập giá. Chỉ có tội mới làm ngăn cách chúng ta với Thiên Chúa của tình thương, công bình và thánh thiện. Hơn thế nữa, chỉ có tội mới làm cho công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô trở nên vô ích cho những ai lợi dụng tình thương tha thứ của Chúa để đi hàng hai, không nóng mà cũng chẳng lạnh.

Cụ thể, nếu chỉ là tín hữu có tên( nominal) mà không thực hành niềm tìn bằng đời sống công bình , bác ái, xa tránh tội lỗi và mọi gương xấu của thế gian thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ không ích gì cho họ. Và ai đang sống như vậy, thì hãy nghe lời cảnh cáo nghiêm khắc sau đây của Chúa:

" Ta biết các việc ngươi làm : ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng.Phải chi ngươi lạnh hẳn nay nóng hẳn đi ! Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." (Kh 3: 15-16)

Chúa là tình thương, giầu lòng tha thứ và rất khoan dung.. Đó là sự thật chúng ta phải tin.và loan truyền cho người khác biết.Nhưng dù yêu thương con người đến đâu, Chúa vẫn chê ghét mọi tội lỗi mọi sự dữ, độc ác. như oán thù, giết người, trộm cắp, gian dối, lường đảo, dâm đãng... mà quá nhiều người đã và đang làm ở khắp mọi nơi. Tội lỗi và những sự dữ này trái nghịch hoàn toàn bản chất thiên hảo của Chúa, nên ai sống và làm những sự dữ đó thì chắc chắn không thể sống trong tình thương với Chúa và với tha nhân. Ánh sáng và bống tối khác nhau thế nào thì sự dữ và tội lỗi còn cách biệt Thiên Chúa hơn thế nữa.

Tóm lại, vì yêu thương loài người mà Chúa Kitô đã chấp nhận đau khổ và chết để cứu chuộc chúng ta.

Người đã sống lại và không bao giờ chết nữa.Sự phục sinh của Chúa cũng cho chúng ta hy vọng được sống lại như Chúa sau khi phải chết trong thân xác yếu hèn này, nếu chúng ta cũng sống và chết như Chúa.

Vậy, để đáp lại tình yêu quá cao vời của Chúa, liệu chúng ta có quyết tâm yêu mến Người bằng cách xa tránh tội lỗi như Chúa chê ghét mọi sự dữ và tội lỗi hay không ?

Xin Chúa Kitô Phục Sinh giúp chúng ta sống xứng đáng với tình thương và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Người. Alleluia !

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 10= DUC KITO CO THUC SU CHET? PDF Print E-mail

CHÚA GIÊSU CÓ THỰC SỰ CHẾT NHƯ GIÁO HỘI DẠY HAY KHÔNG ?

Hỏi : nhân Tuần Thánh ( Holy Week) tưởng niệm sự chết và phục sinh của Chúa Kitô , xin cha giải thích ba câu hỏi sau đây :

1- Chúa Giê su có thực sự chết như Giáo Hội vẫn dạy hay không, vì có một Giám mục kia đả nói : " Chúa Giêsu đâu có chết. Đó chỉ là cách nói cho có vẻ bi thảm mà thôi" !

2- -Những người sinh ra và chết trước khi Chúa Giếsu ra đời và hòan tất công cuộc cứu chuộc - thì tất cả ở đâu và khi nào mới được vào Thiên Đàng ?

3- Những người không được biết Chúa Kitô và Phúc Âm của Chúa thì có được cứu rỗi hay không?

Trả lời:

1- Về câu hỏi thứ nhất, tôi không tin có một Giám mục hay Linh mục Công giáo nào lại dám nói như vậy Có chăng chỉ có những vị ở bên ngoài Giáo Hội Công Giáo hay Chính Thống Giáo mà thôi ( Eastern Orthodox Churches). Được biết, các gíáo phái ngoài Công Giáo như Anh giáo ( Anglican) Methodist, Lutheran, Epíscopal, Baptíst..v.v.. .đều có chức giám mục ( có cả nữ giám mục nữa !) nhưng họ không thuộc truyền thống Tông Đồ ( Apostolic succession) như các Giám mục trong Giáo Hội Công Giáo La Mã và Chính Thống Giáo Đông Phương (Eastern Orthodox Churches) cho nên họ cũng không hiệp thông, vâng phục Giám Mục Rôma, tức Đức Giáo Hòang là Thủ lãnh Giám mục Đòan ( Head of College of Bíshops) và là Chủ Chăn tối cao của Giáo Hội Công Giáo hòan vũ.( Supreme Pastor of The Universal Catholic Church)

Vì thế , có thể có những "giám mục " ngoài Công Giáo đã dạy dỗ sai lầm hay mâu thuẫn với các Giám mục Công Giáo, hiệp thông với Đức Thánh Cha trong sứ vụ rao giảng Phúc Âm , bảo vệ chân lý, và đức tin Công Giáo tinh tuyền.

Trong niềm tin của Giáo Hội, dựa trên Kinh Thánh, Thánh Truyền ( Tradition) và Mặc khải ( revelation) thì Chúa Giêsu là" Thiên Chúa thật, đồng bản tính với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần"( Kinh Tin Kinh Nicene). Nhưng Ngài củng lá CON NGƯỜI thật, được Đức Trinh nữ Maria sinh ra nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần. Như thế, Chúa Giêsu có hai bản tính không hề tách biệt nhau : đó lá Thiên Tính và nhân tính.( divine and human nature) Ngài chính là " Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.( Jn 1:14.)

Nhưng tại sao Chúa Giêsu phải chịu chết trên thập giá năm xưa, một sự kiên kich sử mà không ai có thể chối cãi được ?

Chúa có thực chết hay " giả vờ" chết để bi thảm hóa sự viêc như có ai đã nói ?

Để trả lời câu hỏi này, trước hết, chúng ta cần nhớ lại rằng sự chết là hậu quả đương nhiên của tội lỗi mà con người đã mắc phạm như Thiên Chúa đã nói với Adam và Eva xưa: " ..ngáy nào ngươi ăn, (trái cấm) chắc chắn ngươi sẽ phải chết." ( St 2:17)

Thánh Phaolô cũng giải thích thêm như sau về nguyên nhân gây ra sự chết cho con người : "Vì một người duy nhất mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi gây nên sự chết ; như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người , bởi vì mọi người đã phạm tội"(Rm 5:12)

Như thế ,mọi người phải chết vì đó là hậu quả của tội lỗi. Không ai có thể tránh được hậu quả này trừ Chúa Giêsu và Mẹ Maria, tuy mang thân xác con người nhưng không hề vướng mắc tội tổ tông và mọi tội cá nhân khác. Nhưng Chúa Giêsu đã chết trong thân xác con người của Chúa không phải vì hậu quả của tội lỗi như mọi người trong chúng ta, vì Chúa hòan toàn vô tội Người vô tội, nhưng đã tự hiến chịu chết thay cho kẻ tội lỗi như Thánh Phaolô đả nói rõ như sau Thiên Chúa đã sai chính Con mình đến mang thân xác giống như thân xác tội lỗi của chúng ta để đền tội chúng ta. Thiên Chúa đã lên án tội trong thân xác Con mình.." (Rm 8:3)

Đó là tất cả lý do vì sao Chúa Giêsu đã vui lòng vác thập giá , chịu mọi cực hình để cuối cùng i " đã phải nếm sự chết là để cho mọi người được cứu độ nhờ ơn Thiên Chúa"( Dt 2:9). Chính Chúa Giêsu cũng đã xác nhận điều này trong Sách Khải Huyền ( Revelation) như sau : " Ta là Đấng Hằng Sống. Ta đã chết và nay Ta sống muôn đời muôn thuở, và Ta giữ chìa khóa của Tử thần và Âm phủ " Kh1: 18)

Như thế, rõ rệt là Chúa Giêsu đã thực sự chết trong thân xác nhân loại của Ngài qua bằng chứng Kinh thánh nêu trên và giáo lý sau đây của Giáo Hội:

" Cái chết của Chúa Giêsu đã là một cái chết thực sự chấm dứt sự sống con người trần thế của Ngài. Nhưng vì sự hiệp nhất của thân xác Ngài với ngôi vị của Chúa Con, nên thân xác đó đả không trở thành một tử thi như những cái xác khác " vì thần lực của Chúa đã tránh cho thân xác Chúa Kitô khỏi bị thối nát" (Th. Toma, S.th 3,51,3). ( x.SGLGHCG số 627)

Chính vì thân xác của Chúa không bị hư nát qua sự chết như mọi xác con người nên ngày thứ nhất trong tuần khi các phụ nữ đến viếng Mộ Chúa, " họ thấy tảng đá đã lăn ra khỏi mố. Nhưng khi bước vào, họ không thấy thi hài của Chúa đâu cả" ( Mt 24:3)

. Họ không thấy xác Chúa vì Ngài đã sống lại trong một thân xác sáng láng tốt lành khác thường đến nỗi Maria Mac -đa -la không nhận ra Chúa khi Người hiện ra, đứng bên cạnh bà, đang khóc vì tưởng ai đã lấy trộm xác Chúa.( Ga: 20:11-14)

Tóm lại,, với Thiên tinh và địa vị là Thiên Chúa Ngôi Hai thì Chúa Giêsu không thể chết được. Nhưng với bản tinh nhân lọai và quả thực mang thân xác con người , thi Chúa đã thực sự chết thay cho nhân loại tội lỗi trên thập giá năm xưa như KINH THÁNH TÂN ƯớC Đẫ GHI CHÉP..Kinh Thánh còn cho biết thêm là sau khi linh hồn Ngài lìa khỏỉ xác, Chúa Giê su đã xuống nơi gọi là " Ngục Tổ Tông" hay Âm phủ để "rao giảng cho các vong linh bị giam cầm" ở đó ( 1 Pr 3: 19)

2-

.Các vong linh mà Chúa Giêsu đã đến để loan báo Tin Mừng Cứu Độ cho họ ở ngục Tổ Tông chính là các linh hồn của những người lành thánh đã chết trước khi Chúa Cứu Thế Giêsu xuống trần gian để thi hành Công Trình Cứu Chuộc nhân loại của Thiên Chúa.. Họ chưa được vào Thiên Đàng ngay vì Chúa Kitô chưa hòan tất công cuộc cứu chuộc của Ngài. Vì thế, sau khi Chúa đã hòan tất công trình ấy qua Hy Tế thập giá, Ngài đã xuống nơi họ đang bị giam cầm để loan báo Tin Mừng cứu độ cho họ và dẫn đưa họ vào Thiên Quốc hưởng vinh phúc đời đời với Thiên Chúa.

Về điểm này , Giáo lý của Giáo Hội cũng dạy rõ như sau:

" Tân Ước đã nhiều lần khẳng định rằng Chúa Giêsu " đã phục sinh từ cõi những người chết"( Cv 3,45; Rm 6,11; 1Cr 15,20). Điều này giả thiết rằng, trước khi sống lại, Ngài đã ở trong cõi những người chết (She'ol=Hades=Abode of the dead). Đó là ý nghĩa đầu tiên trong những lời giảng dạy của các Tông Đồ về việc Chúa Giêsu đã xuống âm phủ , (tức nơi cư ngụ của những người lành đã chết từ bao đời trước đó.).Chúa Giêsu đã chết như mọi người, và linh hồn của Ngài đã liên kết với họ tại cõi người chết này.Nhưng Ngài xuống đó với tư cách là Chúa Cứu Thế đến công bố Tin Mừng cho những vong linh đang bị giam cần ở đây.''. ( x.SGLGHCG, số 632; 1Pr 3: 18- 19) .

3--Về câu hỏi thứ ba, xin được trả lời như sau :

Trước hết , cẳn cứ và lời Chúa trong những câu Kinh Thánh sau đây :

a- "Chỉ có một Thiên Chúa

Chỉ có một Đấng trung gian

Giữa Thiên Chúa và lòai người

Đó là một con người, Đức Kitô Giê su

Đấng đã tự hiến làm giá chuộc mọi người ( 1Tm 2:5-6)

b- " Ngòai Người ( Chúa Giêsu) ra, không ai đem lại ơn cứu độ; vì dưới gầm trời này,

không có một danh nào khác đã được ban cho nhân lọai, để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ." ( Cv 4: 12)

Như thế có nghìa là tất cả những ai đã được cứu rỗi và muốn được cứu rỗi thì đều phải nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô-Giêsu, vì chỉ môt mình Ngài là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người trong việc mang lại ơn cứu độ này mà thôi..Nói rõ hơn, những ai đã sinh ra và chết đi trước khi Chúa Cứu Thế Giêsu sinh ra và hòan tất công cuộc cứu chuộc nhân lọai của Ngài qua Hy Tế thập giá, thì đều phải nhờ công ơn cứu chuộc vô giá này để được vào hưởng Thánh Nhan Thiên Chúa trên Thiên Đàng. Điều này cũng áp dụng cho tất cả những ai sinh ra và chết đi sau Chúa Giêsu và cho đến ngày mãn thời gian, tức là cho đến tận thế. Tất cả đều phải nhờ Danh Chúa Kitô và công nghiệp cứu chuộc của Ngài để đựoc cứu độ.

Đó là chân lý đã được mạc khải cho chúng ta qua những câu kinh thánh trích trên đây.

Cũng liên quan đến câu hỏi thứ 3, về trường hợp những người không được biết Chúa Kitô, không được chịu phép rửa và không biết gì về Phúc Âm của Chúa thì sao ?

Nếu họ không biết Chúa, vì không có ai rao giảng cho họ biết, thì đó không phải là lỗi của họ. Nhưng nếu họ đã "ăn ngay ở lành" sống theo sự hướng dẫn của lương tâm để làm điều lương thiện và tránh sự dữ, sự gian ác, thì họ vẫn có thể được hưởng ơn cứu độ của Chúa.Kitô. Cụ thể, đó trường hợp cha ông chúng ta sinh ra và chết đi trước khi Đạo thánh Chúa được rao giảng ở Việt Nam vào đầu thế kỷ 16, thì dĩ nhiên các ngài không được biết Chúa và nghe Phúc Âm của Người.. Nhưng đó không phải vì lỗi của họ vì không có ai rao giảng cho họ biết.. Tuy nhiên, nếu họ đã cố gắng sống theo tiếng nói của lương tâm, và trong thâm sâu,vẫn ước mong tìm Chân lý tức là tìm gặp Chúa thì họ cũng có thể được cứu rỗi nhờ công nghiệp Chúa Kitô như Giáo Hội dạy. ( x SGLGHCG, số 847, Lumen Gentium số 16), .vì " Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta, muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" ( 1 Tm 2 :4)

Ngược lại, những người đã được rửa tội, đã gia nhập Giáo Hội, đã biết Chúa Kitô và Phúc Âm của Chúa, nhưng lại không quyết tâm sống theo đường lối của Chúa và xa lánh mọi tội lỗi cùng mọi sự dữ, và gian ác thì sẽ không được cứu độ vì " không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa ! Lậy Chúa ! là được vào Nước trời cả đâu ! Nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)

Thi hành ý muốn của Cha trên Trời có nghĩa quyết tâm bước đi theo Chúa Kitô là Đường là Sự Thật và là sự Sống ( Ga 14: 6)) để hoàn toàn quay lưng lại với mọi quyến rũ của ma quỉ tinh quái, của thế gian với đầy rẫy gương xấu, và của xác thịt ươn hèn, luôn hướng chiều về sự xấu, sự tội trong bản thân mỗi người chúng ta cho đến hơi thở cuối cùng trên trần thế.Do đó, muốn được cứu độ thì phải hết sức cộng tác với ơn Chúa để yêu mến Người trên hết mọi sự và xa tránh mọi tội lỗi thì mới có hy vọng được cứu rỗi. Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai coi nhẹ việc quyết tâm sống cho Chúa và chừa bỏ mọi tội lỗi, vì chỉ có tội mới làm cho ta xa cách Thiên Chúa mà thôi.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

.

"

 
HOC HOI DE SONG DAO - BAI # 9= KINH THANH CA GIUSE PDF Print E-mail

KÍNH MỪNG THÁNH CẢ GIUSE ,QUAN THẦY GIÁO HỘI

Hôm nay Giáo Hội hân hoan mừng kính Thánh Cả Giuse, Cha nuôi Chúa Cứu Thế, bạn thanh sạch của Đức Trinh Nữ Maria và là Quan Thầy của Giáo Hội hoàn vũ và của riêng rất nhiều người trong chúng ta...

Trước hết,Chúng ta cảm tạ Chúa đã ban cho Giáo Hội nói chung và cho tất cả tín hữu chúng ta nói riêng một Đấng Thánh là mẫu gương sáng ngời cho chúng ta về đức tin mạnh mẽ , lòng khiêm nhu hiếm có và tinh thần nghèo khó đích thực của Phúc Âm

Kinh Thánh cho chúng ta biết rất ít về Thánh Cả Giuse, trừ một chi tiết rất nhỏ trong Tin Mừng Matthêu nói về Ngài " là người công chính" ( Mt 1:19).Là người công chính nên Thánh Cả Giuse đã không muốn xét đoán gì về Mẹ Maria, bạn người, khi biết Mẹ đang mang thai trước khi hai ông bà về chung sống. Chính vì không hiểu lý do tại sao Maria lai mang thai, nên Giuse " mới định tâm bỏ bà cách kín đáo". Nhưng khi được Sứ Thần Chúa báo tin trong giấc ngủ, Giuse đã bỏ ngay ý đình âm thầm ra đi và đã mau mắn thi hành lời Sứ Thần truyền cho ngài là " ..đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt ten cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ" ( Mt 1:20-21)

Thánh Giuse đã nêu gương công chính khi Ngài không xét đoán Maria dù không hiểu được lý do mang thai của bạn mình.Gương công chính này của Thánh Cả Giuse đáng cho mọi người chúng ta nói chung và cho những ai là chồng trong mọi gia đình nhân lọai ngày nay noi theo để bảo vệ hạnh phúc gia đình

Thật vậy, có biết bao gia đình đã tan vỡ chỉ vì vợ chồng nghi ngờ nhau không có lý do xác đáng. Nếu mọi người chồng biết noi gương Thánh Cả Giuse không xét đoán vợ mình khi không có bằng cớ hay lý do vững chắc, thì đã cứu cho nhiều cặp vợ chồng khỏi ly thân, ly dị hay gây án mang chỉ vì quá nghen tương không kiềm chế được.

Mặt khác, gương đức tin của Thánh Cả cũng dạy ta bài học tín thác hoàn toàn nơi sự quan phòng khôn ngoan của Thiên Chúa. Thánh Giuse, dù chỉ được báo mộng về Thánh Ý của Thiên Chúa nhưng ngài đã tuyệt đối thi hành không chút do dự. Như thế chứng tỏ Thánh Cả đã có một đức tin mạnh mẽ giúp ngài thực thi Ý Chúa trong những hoàn cảnh khó khăn đầy thử thách.

Chưa hết, Thánh Cả còn là mẫu gương sáng chói về đức khiêm nhường và khó nghèo nữa. Đức khiêm nhu của ngài thể hiên cách cụ thể qua thái độ im lặng hoàn toàn trong suốt cuộc đời tại thế.Thánh Kinh không hề ghi lại lời nói nào của Thánh cả Giuse.

Tục ngữ Việt Nam có câu : " đa ngôn đa quái". Nghĩa là nói nhiều thì sinh nhiều chuyện không hay. Do đó, Thánh cả Giuse đã dạy chúng ta bài học im lặng để trước hết biết lắng nghe lời Chúa và sau nữa tránh làm mất lòng người khác vì tật đa ngôn.

Trong giắc mơ, Thánh Cả đã biết Chúa Giêsu là ai. Vậy mà Ngài không hề đi khoe khoang với người nào về vinh dự lớn lao được là Cha nuôi Chúa Cứu Thế, từ khi Chúa giáng sinh trong hang lừa máng cỏ và sau này trong thánh gia thất, nơi Người âm thầm làm nghề thợ mộc để nuội Chúa Hài Nhi cùng với Mẹ Maria trong xóm nghèo Nazaret thủa xưa..Thánh Giuse đã nêu gương khó nghèo đích thực của Phúc Âm khi chuyên cần làm nghề thợ mộc , một nghề không giúp ai trở nên giầu có được từ xưa đến nay. Người quả thực sống khó nghèo, nhưng khi được ẵm Chúa Hài nhi Giêsu trên tay, người đã thực sự ôm lấy không những mọi kho tàng giầu sang phú quí của Nước Trời mà còn ôm lấy chính nguồn ơn cứu độ và hy vọng được sống đời đời bên Chúa trên Nước Trời, là nơi Chúa Giêsu " vốn giầu sang phú quý, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có." ( 1 Cor 8:9) Như thế, Thánh Giuse quả thực đã giầu sang phú quý hơn mọi người trần gian khi được ẵm Chúa Hài nhi trên tay và được sống bên Chúa cho đến ngày Thánh Cả lìa đời, một chi tiết không được nói đến trong các Tin Mừng..

Vinh phúc được sống bên Chúa Giêsu cũng là Thiên Chúa thật, đã làm cho Thánh Cả Giuse trỗi vượt về ơn phúc hơn tất cả mọi thánh nam nữ khác , trừ Mẹ Maria, vi sự kiện hiển nhiên là:

" Các thánh khác, khi linh hồn ra khỏi xác đoạn, mới được về cùng Đức Chúa Trời, nhưng mà ông Thánh Giuse khi còn ở thế gian đã được ở cùng Đức Chúa Giêsu là Chúa trời thật, thì phúc Người rất trọng là dường nào." ( Kinh kính Thánh Giuse của Địa Phận Hà nội)

Lời kinh trên đây đả đủ nói lên vinh phúc của Thánh cả Giuse ngay khi Ngài còn sống trên trần gian này, và chắc chắn nay đang cùng Mẹ Maria và các Thánh Nam nữ khác vui hưởng Thánh nhan Chúa trên Thiên Đàng và đang cầu thay nguyện giúp đắc lực cho chúng ta trước Tòa Chúa.

Ngoài những nhân đức và vinh phúc nói trên, còn điều quan trọng hơn hết là Thánh cả Giuse đã âm thầm đóng một vai trò khiêm tốn nhưng quan trọng trong Chương trình cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa nhờ Chúa Giê su-Kitô, Đấng mà Thánh Cả được vinh phúc là "người Cha" dưỡng nuôi trước mặt người đời cùng với bạn thanh sạch là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ thật của Chúa.Nói rõ hơn, nều không có Thánh Giuse đóng vai trò là "Chồng" của Mẹ Maria, thì làm cách nào cho Mẹ được an toàn với lề luật của xã hội Do Thái thời đó, khi Mẹ sinh con mà không có ai là chồng. Chính vì lý do quan trọng này mà Thiên Chúa đã sai Sứ Thần đến báo cho Giuse trong giắc mơ là không được bỏ đi và phải nhận lấy Maria làm vợ và đặt tên Giêsu cho con trai mà Maria sẽ sinh ra.

Như vậy, chúng ta phải cảm tạ Chúa về sự quan phòng đầy khôn ngoan của Người khi xui khiến cho có cuộc hôn nhân thánh thiên giữa Giuse và Maria để hợp thức hóa trước mặt người đời về việc Mẹ Maria mang thai và sinh con bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, một sự kiện không thể chứng minh cho người đời hiểu được. Trong mục đích đó, chúng ta cũng hết lòng cám ơn Thánh Giuse về vai trò quan trọng của Ngài cùng với Mẹ Maria đã cộng tác trong chương trình cứu chuộc nhân loại của Thiên Chúa nhờ Chúa Kitô, " Đấng đã tự hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.".

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO- BAI# 8 = SƯ CAN THIET CUA BI TICH PDF Print E-mail

TẠI SAO CÁC BÍ TÍCH LÀ NHỮNG PHƯƠNG TIỆN HỮU HIỆU CẦN THIẾT ĐỂ LÃNH ƠN CỨU CHUỘC CỦA CHÚA KITÔ .?

Chúa Cứu Thế Giêsu đã hoàn tất công trình cứu chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết ,sống lại và lên Trời cách nay đã trên 2000 năm.Nhưng công nghiệp cứu chuộc này vẫn được tiếp tục ban phát cho con người qua sứ mang của Giáo Hội, là Thân Thể Mầu nhiệm của Chúa trong trần gian này cho đến ngày cánh chung tức là ngày mãn thời gian.

Tuy nhiên, sau hơn 2000 năm Tin Mừng Cứu Độ được rao giảng , cho đến nay mới chỉ có 1/6 nhân loại được biết Chúa Kitô và gia nhập Giáo hội của Chúa qua Phép Rửa và Thêm sức.

Như thế còn đa số người chưa được nghe Tin Mừng của Chúa và tin yêu Người là Đấng đã đến trần gian làm Con Người để "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người"( Mt 20: 28).

Với những người chưa biết Chúa Kitô và nghe Phúc Âm của Người, Giáo Hội tiếp tục cầu nguyện và hăng hái thi hành sứ mạng Chúa đã trao phó trước khi Người về Trời: Đó là " anh em hay đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha , Chúa Con và Chúa Thánh Thần., dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em..(Mt 28: 19-20) .Đây là sứ mạng phúc âm hóa thể giới và giảng dạy chân lý mà Giáo hội đã và đang thi hành để mang Chúa Kitô và công nghiệp cứu chuộc của Người đến với những người chưa biết Chúa cũng như chưa được nghe Tin Mừng cứu độ của Người. Thật vô cùng cần thiết cho hết mọi người, mọi dân tộc trên khắp thế giới được nghe và sống Tin Mừng đó hầu được cứu rỗi vì Thiên Chúa"Đấng cứu độ chúng ta: Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" ( 1 Tm 2:4)

Sứ mạng phúc âm hóa thế giới không chỉ được rao phó riêng cho hàng Giáo Phẩm, giáo sĩ , tu sĩ mà còn là trách nhiệm chung của mọi người tín hữu đã nhận lãnh Phép Rửa và gia nhập Giáo Hội của Chúa. Nói rõ hơn, tất cả mọi thành viên trong Giáo Hội gồm giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân – tuy khác nhau về địa vị và trách nhiệm- nhưng đều có chung sứ mang loan báo Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô cho những ai chưa biết Chúa và nghe Phúc Âm của Người. Hàng giáo sĩ , tu sĩ thi hành sứ mạng này bằng việc rao giảng Phúc Âm của Chúa trong phạm vi thánh đường ( các linh mục Dòng nay đang phải coi sóc nhiều giáo xứ vì thiếu linh mục Triều hay giáo phận) và bằng đời sống chứng tá phản ảnh trung thực những giá trị của Phúc Âm trước mặt người đời. Người giáo dân, ngược lại, rao giảng Tin Mừng của Chúa bằng chính đời sống của mình trong khi làm việc hay sống chung với những người khác ở nhiều môi trường khác nhau.

Chính đời sống Kitô hữu phản ảnh trung thực những chân lý và giá trị của Phúc Âm như công bình , bác ái, yêu thương, thánh thiện, tôn trọng sự sống, đề cao sự thật, nhất là xa tránh mọi thói hư tật xấu của thế gian đang chìm sâu trong văn hóa của sự chết, sẽ có sức thuyết phục người khác nhận biết Chúa Kitô đang hiện diện nơi người chứng tá để mời gọi họ tin yêu Chúa như mình để cùng được hưởng nhờ ơn cứu độ của Chúa. Và để đạt mục đích đó, tất cả mọi thành viên của Giáo Hội đều được mong đợi phúc âm hóa bản thân và môi trường sống bằng chính đời sống chứng tá của mình để mời gọi người khác tin và yêu mến Chúa để được hưởng ơn cứu độ của Người

Chúa Kitô không những rao giảng, dạy dỗ chân lý, mà còn thiết lập các bí tích làm phương tiện cứu rỗi cần thiết cho những ai muốn lãnh ơn cứu chuộc của Chúa.

Thật vậy, trước hết, Chúa đã nói đến tầm quan trọng của bí tích Thánh Tẩy hay Rửa tội trong Tin Mừng Marcô và Gioan như sau :

" Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ ; còn ai không tin sẽ bị luận phạt ."( Mk 16: 16)

Hoặc :

" Không ai có thể được vào Nước Thiên Chúa nếu không sinh ra bởi nước và

Thần Khí" ( Ga 3: 5)

Trước khi về Trời, Chúa đã ăn cần căn dặn các Tông Đồ như sau :

" Anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ, rửa tội cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần..." ( Mt 28 : 19)

Như thể, đủ chứng minh rằng Bí Tích Rửa Tội là điều kiện tiên quyết để được cứu độ, vì tội nguyên tổ đã cắt đứt tình thân giữa Thiên Chúa và loài người. và đã "mang sự chết vào trần gian, vì một người đã phạm tội"như Thánh Phaolô đã dạy. ( Rm 5 :12).

Nhưng vì Thiên Chúa là Cha rất nhân từ và đầy lòng xót thương , cho nên dù :

" Người nổi giận, giận trong giây lát,

nhưng yêu thương, thương suốt cả đời.:( Tv 30 : 6)

Chính vì yêu thương và muốn tha thứ nên Thiên Chúa đã sai Con Một là Chúa Kitô xuống trần gian làm Con Người để " cứu cái gì đã hư mất." ( Mt 18:11)

Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Cứu Thế Giêsu thực vô giá và đủ cho những ai muốn hưởng nhờ. Nhưng điều kiện trước tiên để được cứu rỗi là phải được tái sinh qua Phép Rửa như đã nói ở trên.

Vì tầm quan trọng của bí tích này nên, trước khi rửa tội cho ai ( người lớn) thì phải dạy cho họ biết mục đích và công dụng của bí tích này.Nghĩa là không thể đổ nước lên đầu là xong việc.Ngược lại, phải dạy cho người muốn lãnh bí tích này hiểu rõ vì sao cần được rửa tội để thay đổi con người cũ và trở thành tạo vật mới, " mặc lấy Chúa Kitô để bắt đầu một hành trình mới đưa đến ơn cứu độ.Nói rõ hơn, không phải rửa tội xong là đủ, không cần phải làm gì nữa.Trái lại, rửa tội mới là bước khởi đầu cần thiết cho một tiến trình đổi mới hay hoán cải ( conversion process) để đoạn tuyệt với con người cũ sinh ra trong tội và bắt đầu một đời sống mới theo Trần Khí hầu trở nên hoàn thiện như mục đích của Phép Rửa.

Tiến trình đó đòi hỏi người đã được rửa tội phải quyết tâm yêu mến Chúa và xa tránh mọi tội lỗi vì phép rửa không tiêu diệt hết mọi mầm mống của tội cũng như không thay đổi hoàn toàn nhân tính để con người trở nên giống các Thiên Thần ngay trên trần thế này.

Ngược lại, vì hậu quả của tội nguyên tổ, con người vẫn hoàn toàn yếu đuối trong nhân tính, dễ nghiêng chiều về đường xấu và khó đứng vững trước mọi cảm dỗ của ma quỉ ví như " Sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé." ( 1 Pr 5: 8) cùng với gương xấu và dịp tội đầy rẫy trong trần gian để lôi kéo con người vào con đương hư mất đời đời.

Do đó, nếu con người không cộng tác với ơn Chúa để cương quyết sống theo đường lối của Người và xa tránh tội lỗi thì ơn phép rửa , ơn tái sinh sẽ trở nên vô ích.Và Chúa cũng không thể cứu ai không có thiện chí bước đi theo Người và cương quyết xa tránh mọi quyến rũ của ma quí, thế gian và xác thịt là nhưng cản trở và hiểm nguy lớn lao cho con người muốn hưởng công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Cũng vì biết con người còn yếu đuối, khó đứng ững trước mọi thách đố và dịp tội, nên Chúa Kitô đã dự liệu sẵn những phương thế hữu hiệu là các bí tích để giúp con người chống đỡ và lấy lại tình thân với Chúa sau khi đã lỗi phạm tội nào vì yếu đuối của nhân tính và vì mưu chước thâm độc của ma quỉ cộng với gương xấu, dịp tội của thế gian hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa để tôn thờ vật chất và nếp sống yêu chuộng mọi lạc thú vô luân vô đạo, như thực trạng con người ngày nay ở khắp mọi nơi. Người ta đang chối bỏ Thiên Chúa , khinh chê mọi giá tri tinh thần, luân lý và đạo đức là những căn bản để phân biệt con người có lương tri với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn.

Những bí tích mà Chúa ban cho Giáo Hội là những phương tiện cứu độ rất hữu hiệu và cần thiết cho những ai muốn được vào Nước Trời, sau khi chấm dứt hành trình đức tin một cách trung thực và can đảm trên trần thế này.

Thật vậy, với bí tích Thánh Tẩy, chúng ta được rửa sạch một lần hậu quả của tội nguyên tổ và mọi tội cá nhân. Bí tích Thêm sức cho ta tri hiểu, sức mạnh và ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần để sống nhân chứng cho Chúa Kitô trong trần thế cũng như có sức để chống lại mọi nguy cơ cám dỗ của xác thịt, ma quỉ và thế gian. Bí Tích Thánh Thể không những cho ta của ăn thiêng liêng cần thiết trên đường tiến về quê trời với bao khó khăn và thách đố, mà quan trọng hơn nữa, bí tích Thánh thể còn làm sống lại cách bí nhiệm hy tế thập giá của Chúa Kitô xưa kia , vì " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ , nhờ đó "Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chiu hiến tế'' ( 1 Cor 5, 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( x.Lumen Gentium số 3).

Nghĩa là Thánh Lễ Tạ Ơn ngày nay diễn lại cách mầu nhiệm Hy Tế thập giá mà Chúa Kitô đã một lần dâng lên Chúa Cha trên núi Sọ năm xưa để đền tội thay cho nhân loại nhờ Chúa hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, như Giáo Hội tuyên xưng mỗi khi của hành Bí Tích Thánh Thể tức Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) để xin ơn cứu độ cho chúng ta ngày nay cùng thể thức mà ơn này được ban cho nhân loại lần đầu nhờ Hy tế Chúa Kitô hiến dâng một lần xưa kia trên thập giá.

Như thế, có thể nói Bí Tích Thánh Thể là Bí tích cứu độ mà Chúa Kitô đã thiết lập để tiếp tục ban ơn cứu chuộc của Người cho đến ngày mãn thời gian.Do đó, chúng ta được khuyến khích siêng năng tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Chúa Kitô là của ăn nuôi linh hồn ta và cho ta được sống đời đời vì " ai ăn thịt Ta và uống Máu ta thì được sống muôn đời và Ta sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết." như lời Chúa hứa ban( Ga 6 :54)

Tóm lại các bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức, Thánh Thể và Hòa giải là những bí tích tối cần cho ta được cứu rỗi và bảo đảm ơn cứu rỗi đó bao lâu còn lữ hành trên trần thế này. Các bí tích khác như sức dầu, Truyền Chức Thánh và Hôn phối là những bí tích giúp con người cộng tác với Chúa trong chương trình sáng tạo, ( bí tích hôn phối) tức là làm tăng số con cái Chúa trên trần gian này, cũng như chuẩn bị cho ta lìa đời trong ơn nghĩa Chúa ( bí tích sức dầu) .Sau hết, bí tích Truyền Chức Thánh dành cho một thiểu số người được ơn gọi đi rao giảng Lời Chúa và phục vụ cho những lợi ích thiêng liêng của dân Chúa ví như đàn chiên được trao phó cho các mục tử chăn nuôi và dẫn đưa về "Chuồng chiên mà Chúa Kitô là cửa vào duy nhất và cần thiết."( cf LG ,no.6)

Mặt khác, bí tích truyền chức thánh cũng được lập ra để phục vụ cách riêng cho bí tích Thánh Thể, là bí tích làm sống lại Hy Tế thập giá của Chúa Kitô xưa trên bàn thờ ngày nay mỗi khi Thánh lễ tạ ơn được cử hành như đã nói ở trên.Ngoài ra, Bí tích truyền chức thánh cũng được lập ra để phục vụ cho các bí tích thêm sức, hòa giải và sức dầu, vì các bí tích này đòi hỏi thừa tác viên phải có chức linh mục, là một trong ba chức thánh của Bí Tích Truyền Chức Thánh. Hai chức thánh kia là chức Phó Tế và Giám mục.

Chúng ta cảm tạ Chúa đã ban các bí tích như phương tiện hữu hiệu để giúp ta sống trong ơn nghĩa Chúa để nhiên hậu được cứu độ như lòng Chúa mong muốn cho mọi con cái loài người.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
<< Start < Prev 141 142 143 144 Next > End >>

Page 142 of 144