mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay6478
mod_vvisit_counterHôm Qua8188
mod_vvisit_counterTuần Này21613
mod_vvisit_counterTuần Trước43238
mod_vvisit_counterTháng Này68386
mod_vvisit_counterTháng Trước155737
mod_vvisit_counterTất cả12264619

We have: 76 guests online
Your IP: 52.91.185.49
 , 
Today: Dec 11, 2018

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 15 = TOI PHAM DIEU RAN THU NAM PDF Print E-mail

                          TỘI PHẠM ĐIỀU RĂN THỨ NĂM

Hỏi: xin cha giải thích những trường hợp lỗi phạm điều răn thứ năm.

Trả lời: Sự sống là quà tặng thiêng liêng vô cùng quí giá mà Thiên Chúa ban cho con người. Và chỉ một mình Ngài có quyền trên sự sống của con người mà thôi.

Chính vì vậy mà ngay từ đầu Thiên Chúa đã truyền cho dân Do Thái lệnh cấm này: "Ngươi không được giết người" (Xh 20:13)

Sau này, trong bài giảng "Trên Núi", Chúa Giêsu cũng đã nhắc lại lệnh cấm trên và còn ngăn cấm thêm cả việc giận dữ, oán ghét và trả thù nhau nữa: "Anh em đã nghe Luật dạy rằng: chớ giết người, ai giết người thì đáng bị đưa ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai giận anh em mình thì đáng bị đưa ra tòa. Ai mắng anh em mình là đồ ngốc thì đáng bị đưa ra trước Thượng Hội Đồng..."(Mt 5:21)

Sở dĩ Chúa cấm oán thù và giết người vì Thiên Chúa là "tình thương, chậm bất bình và hay tha thứ". Chúa Giêsu còn dạy các môn đệ phải "yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em." (cf. 5:44)

Như thế cho ta thấy giới luật yêu thương quan trọng thế nào đối với mọi tín hữu Chúa Kitô ngày nay phải sống giữa những nghịch cảnh của sự oán thù, nghen nghét, chém giết, sát hại nhau về mọi mặt tinh thần , tình cảm và thể lý ở khắp nơi trên thế giới.Có thể nói sự dữ đang thống trị thế giới và quá nhiều người ở mọi nơi, mọi nền văn hóa, ngôn ngữ.

Do đó, để thực thi và tôn trọng thích đáng giới luật yêu thương của Chúa, Giáo Hội ân cần nhắc cho con cái mình phải hết sức xa tránh những hành động, tư tưởng đối nghịch với giới luật này, tức là luật cấm làm hại và giết người như Thiên Chúa đã nghiêm khắc ngăn cấm trong giới răn thứ năm của Bản Thập Giới (Decalogue). Cụ thể như sau:

1- Về mặt thể lý,cấm cố sát và tự sát (murder and suicide)

Vì chỉ một mình Thiên Chúa nắm trọn quyền sinh tử của mọi loài thụ tạo, nên không ai được phép giết người khác, dù là một thai nhi còn trong lòng mẹ, hay một bệnh nhân đang thoi thóp trên giường bệnh và y khoa đang bó tay cứu chữa.Nói rõ hơn, không ai được phép trực tiếp hay gián tiếp làm điều gì khiến người khác phải thiệt mạng sống vì mình, cũng như không được phép hủy hoại cơ thể như chặt cắt một bộ phận nào của thân thể nhất là tự sát (tự tử) vì bất cứ lý do gì.

Như thế, để tôn trọng và bảo vệ sự sống là quà tặng linh thánh(sacred) Chúa ban, thì không những không được trực tiếp giết người hoặc tự sát mà còn phải tránh những hành vi gián tiếp giết người như cộng tác có hiệu quả cho ai phá thai hoặc giết người khác, hay dùng thuốc cho chết êm dịu (euthanasia) trong trường hợp y khoa đã bó tay. (SGLGHCG, số 2268-2270)Nói rõ hơn, dù cho bác sĩ đã vô phương cứu chữa thì phải để cho cái chết xảy ra cách tự nhiên ( natural death) chứ không được phép kết thúc sự sống cho nhanh bằng cách cho chich thuốc để "chết êm diu=Euthanasia"theo lời khuyên của bác sĩ, y tá không có niềm tin Công Giáo. Chỉ trong trường hợp tim đã tự nhiên ngưng đập, óc não đã hết hoạt động và bênh nhân chỉ còn thở vì nhờ có máy hô hấp (respirator)

thì được phép rút máy ra vì để lâu cũng vô ích và còn thêm tốn phí cho gia đình bệnh nhân.

Ngoài ra, cũng trong mục đích bảo vệ sự sống, phải tránh những hành vi hay phương thế có thể gây nguy hại cho sức khỏe nhất gây nguy hiểm cho mạng sống của mình và của người khác, như ăn uống quá độ, lạm dụng rượu ,thuốc lá và ma túy, lái xe quá tốc độ có thể gây tai nạn cho chính mình và cho người khác cách vô cớ.Nghĩa là, nếu liều lĩnh lái xe quá nhanh ,hoặc vượt đèn đỏ gây tai nạn hay tử thương cho ai thì đó là tội lỗi điều răn thứ năm cần phải tránh

2- Về mặt tinh thần, phải tôn trọng nhân phẩm và linh hồn của người khác:

Giới răn thứ năm không những cấm làm những điều có hại cho sự sống thể lý của mình và của người khác như đã nói ở trên mà còn ngăn cấm cả những gì làm thiệt hại cho tinh thần, cho đời sống thiêng liêng của mình và của tha nhân nữa.

Thật vậy, sự sống vẹn toàn của con người gồm hai phần hồn và xác. Do đó, Thiên Chúa buộc con người phải tôn trọng sự sống thể lý của mình và của người khác, cũng như tôn trọng danh dự, đời tư và linh hồn của người khác như chính của mình.

Cụ thể, không được nói hay làm điều gì có hại cho thanh danh, đời tư của người khác. Không ai có bổn phận phải tố cáo cho người khác biết những gì có liên quan đến sự xấu kín của người khác.. Thí dụ, biết người nào đó ngoại tình, có tính gian tham, thì người tín hữu Chúa Kitô không được phép tiết lộ cho người khác biết chuyên "bê bối" của người này khiến phương hại cho thanh danh của nạn nhân trong công luận. Nhưng ngược lại, nếu biết có người đã có vợ, nhưng đang dối gạt để lấy người khác, thì buộc phải tố cáo cho giáo quyền địa phương biết để ngăn cản việc sai trái về luân lý, giáo lý và giáo luật. Cũng vậy, khi biết có kể đang âm mưu giết ai, thì phải tố cáo cho nhà cầm quyền biết để ngăn chặn sự dữ khỏi xảy ra.

Trong mục đích tộn trọng thanh danh và đời sống tinh thần của người khác, giới răn thứ Năm cũng đòi buộc mọi tín hữu phải tránh gương xấu làm cớ cho người khác vấp ngã, phương hại cho phần rỗi của tha nhân.

Cụ thể, không được tiếp tay với ai để khai thác kỹ nghệ cờ bạc nhất là kỹ nghệ mãi dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em cho thú vui vụ vô luân, vô Đạo .Cộng tác vào những việc vô luân vô đạo này thì trước hết tự gây nguy hại cho linh hồn của chính mình và cho phần rỗi của người đi tìm những thú vui cực kỳ vô luân vô đạo đó. Ngoài ra, buôn bán sách báo, phim ảnh bạo động và khiêu dâm cũng là điều phải tránh để không đầu độc giới trẻ và xô đẩy người lớn vào đường trụy lạc, phương hại cho phần rỗi của họ. Đây chính là gương xấu phải tránh như Chúa Giêsu đã khiêm khắc cảnh cáo sau đây:

" Không thể không có những cớ làm cho người ta vấp ngã; nhưng khốn cho kẻ làm cớ cho người ta vấp ngã ! thà buộc cối đá lớn vào cổ nó và xô xuống biển, còn lợi cho nó hơn là để nó làm cớ cho một trong những kẻ nhỏ này vấp ngã. Anh em hãy đề phòng." ( Lc 17: 1-3)

Thi hành lời dạy trên của Chúa , Giáo lý của Giáo Hội giải thích thêm như sau:

" Gương xấu là thái độ hoặc cử chỉ khuyến khích tha nhân làm điều ác.Người làm gương xấu đã trở thành kẻ cán dỗ người khác. Nó phá hoại nhân đức và sauwj ngay chính.Nó có thể lôi kéo người đồng loại vào chỗ chết về phần linh hồn. Gương xấu là lỗi nậng nếu hành vi hoặc thái độ của người đó cố ý lôi kéo tha nhân vào một lỗi nặng." ( SGLGHCG, số 2284)

Nói khác đi, không phải chỉ giết người mới là lỗi Điều Răn Thứ Năm, mà phải kể thêm những việc làm có hại cho sức khỏe của mình và của người như buôn bán ma túy, cẩn sa, ăn uống quá độ, lái xe ẩu như đã nói ở trên. Mặt khác giới răn thứ năm cũng đòi buộc phải xa tránh những lối sống và nguy cơ tội lỗi cho chính mình và cho người khác như tiếp tay phổ biến dịp tội bằng việc mở sòng bạc, mở nhà chứa gái mãi dâm, buôn bán trẻ em và phụ nữ cho dịch vụ mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution)vô luân vô đạo, , tất cả đều lỗi nghịch Điều Răn Thứ Năm mà là người tín hữu Chúa Kitô chúng ta phải hết sức xa tránh để mưu ích hồn xác cho mình và cho người khác.

Tóm lại, mọi giới luật của Chúa đều nhằm mục đích đem lại lợi ích và hạnh phúc cho con người ngay trong cuộc sống ở đời này trước khi được sống hanh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau. Thiên Chúa tuyết đối không có lợi lộc gì mà phải ngăn cấm con người làm điều này tránh điều kia. Chúa ngăn cấm vì lợi ích của con người mà thôi. Do đó, tuân giữ các giới răn của Chúa là tự tạo an vui hạnh phúc cho chính mình và cho người khác trong tâm tình cảm tạ Chúa đã thương ban những giới luật cần thiết cho ta tuân giữ để được chúc phúc và nhất là được cứu rỗi để sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Thiên Quốc.

LM .Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 14 = S KHAC BIỆT GIUA NHỮNG NGUOI MANG DANH KITO HUU PDF Print E-mail

SỰ KHÁC BIỆT GIƯA NHỮNG NGƯƠI CÙNG MANG DANH KITÔ HỮU

Trong một bài viết trước đây, tôi đã giải thích về những khác biệt giữa các Giáo Hội Kitô Giáo mà người ta vẫn quen gọi chung là Thiên Chúa Giáo như Do Thái Giáo, Công Giáo La Mã, Chính Thống Giáo Đông Phương, Tin Lành và Anh Giáo ( Anglican Communion) ...

Hôm nay tôi xin được nói thêm về sự khác biệt giữa những tin hữu cùng mang danh Kitô hữu ( Christians) nhưng không cùng chung một niềm tin, thờ phụng Thiên Chúa chung một phụng vụ thánh và hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo dưới quyền lãnh đạo của Đức Thánh Cha là Đại diện duy nhất của Chúa Kitô trên trần thế.

Như đã giải thích, giữa các Giáo Hôi Kitô Giáo có sự khác biệt thế nào thì giữa những người cùng tin Chúa Kitô ( Christians) cũng khác nhau như vậy.Nghĩa là không phải cứ xưng danh hay nhận mình là Kitô hữu thì đều mang chung nội dung của danh xưng này.

Cụ thể, chỉ có người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thông Giáo Đông Phương mới thực là những tín hữu chính danh của KitôGiáo ( Christianity) vì chỉ ở trong các Giáo Hội này mới có đầy đủ mọi phương tiện cứu rỗi là giáo lý vững chắc, Thánh Truyền Mặc khải và Kinh Thánh chính xác, cùng với các Bí Tích cứu độ mà Chúa Kitô đã ban cho Giáo Hội của Người để tiếp tục Sứ Vụ Cứu Độ của Chúa trong trần thế cho đến ngày cánh chung tức là mãn thời gian. Cũng nhấn mạnh thêm là Chỉ có một Giáo Hội duy nhất của Chúa Giêsu trên trần thế và Giáo Hội này "tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các Giám Mục hiệp thông với Ngài điều khiển. " (x. Lumen Gentium số 8). Sở dĩ có Nhánh Chính Thống Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) là vì có sự bất đồng về một vài vấn đề tín lý và quyền bính giũa Đông và Tây nên Nhánh Kitô Giáo Đông Phương ở Constantinople đã tách ra khỏi Giáo Hội Công Giáo Roma ( Tây phương) và trở thành Chính Thống từ năm 1054 cho đến nay.Nhưng vì Giáo Hội Đông Phương có nguồn gốc Tông Đồ ( Thánh An-Rê) nên có đầy đủ các bí tích hữu hiệu như Giáo Hội Công Giáo La Mã do công truyền giáo ban đầu của Thánh Phêrô, anh củaThánh An Rê, là Tông Đồ đã sang truyền giáo ở Đông Phương. Do đó, chỉ có trong Giáo hội Công Giáo và anh em Chính Thống Đông Phương mới có thể cử hành thành sự Hy tế thập giá của Chúa Kitô trên Bàn thờ ngày nay mỗi khi Thánh lễ Tạ ơn được cử hành ở khắp nơi trong Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô trên trần thế. Thánh lễ Ta Ơn ( Eucharist) là đỉnh cao là là nguồn sống thiêng liêng của Giáo Hội và của mọi tín hữu Chúa Kitô hiệp thông với Giáo Hội.Nguồn sống này là chính Chúa Kitô, là Người Con " cũng ban sự sống cho ai tùy ý" ( Ga 6: 21).Ngoài lời ban sự sống, Chúa Kitô còn ban thịt máu Người qua bí Tích Thánh Thể mà chỉ có Giáo Hội Công Giáo và Chính Thông Giáo Đông Phương có mà thôi. Các Giáo hôi mang danh Kitô khác không có Bí tích quan trọng này, vì họ không có chức linh mục hữu hiệu để có thể cử hành hữu hiệu Bí Tích Thánh Thể qua đó, Chúa Kitô tiếp tục ban thịt máu của Người làm của ăn, của uống nuôi sống linh hồn chúng ta, và cho ta hy vọng sống đời đời vì " ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì được sống muôn đời, và Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại vào ngày sau hết." (Ga 6 : 54) như Chúa đã hứa.

Các giáo phái mang danh Kitô giáo khác như các nhánh Tin Lành ( có hàng chục ngàn nhánh khác nhau ở Mỹ ), và Anh Giáo đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) cho nên không có Chức linh mục hữu hiệu ( valid Priesthood), như các linh mục Công Giáo và Chính Thông Giáo. Do đó, dù họ có nghi thức bẻ bánh và uống rượu thì đó chỉ là bánh và rượu mà thôi, chứ không phải là thịt và máu Chúa Kitô ban qua Bí Tích Thánh Thể được cử hành trong Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo. Ngoài bí tích quan trọng này, Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống còn có các bí tích chữa lành như Sức dầu bệnh nhân và Hòa Giải để giúp các hối nhân giao hòa lại với Chúa và với Giáo Hội sau khi đã lỡ sa phạm tội vì yếu đuối con người.

Chính việc năng lãnh nhận các bí tích Hòa giải và Thánh Thể mà đời sống thiêng liêng của người Kitô hữu được tăng trưởng và sung mãn để giúp họ lớn lên trong tình yêu của Chúa và bảo đảm phần rỗi mai sau.Ơn phù trợ của Chúa ban qua các bí tích này thật vô cùng cần thiết cho những ai muốn nên hoàn hảo như Chúa Kitô mong muốn cho mỗi người chúng ta : " anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên Trời là Đấng hoàn thiện."( Mt 5: 48).

Mặt khác, chỉ có ơn thánh Chúa ban cho chúng ta qua hai bí tích quan trọng nói trên mới có thể giúp ta hữu hiệu chống lại những khuynh hướng xấu còn tồn tại nơi mỗi người chúng ta, và nhất là chống lại mọi cám dỗ của ma quỉ ví như " sư tử đói đang gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé" tức là cướp lấy linh hồn ta như Thánh Phêrô đã cảnh giác trên đây. ( 1 Pr 5 :8).

Người Kitô Hữu ( Christians) ở các Giáo hội ngoài Công Giáo không thể có kho tàng thiêng liêng quí giá là các Bí tích này. Họ chỉ có Kinh Thánh. nhưng Kinh Thánh lại được dịch và cắt nghĩa theo cách hiểu riêng của họ hay phản lại Kinh Thánh tinh tuyền của Giáo Hội như nhóm " Chứng nhân Jehovah ( Jehovah Witnesses) đã làm.

Đặc biệt, họ không có bí tích hòa giải , một bí tích quan trọng mà Chúa Kitô đã ban cho các Tông Đồ trước tiên và Cho Giáo Hội ngày nay, sau khi Chúa từ cõi chết sống lại và hiện ra với các ông và nói:

" anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha

Anh em cầm giữ ai thì người ấy bị cầm giữ." ( Ga 20: 23)

Các anh em Kitô hữu ngoài Công Giáo cũng đọc những lời Chúa trên đây, nhưng họ không cắt nghĩa và áp dụng như Giáo Hội Công Giáo và Chính Thông Giáo.Trái lại, họ cho rằng chỉ có Chúa tha tội nên họ có xưng tội thì xưng trực tiếp với Chúa chứ không qua trung gian một người nào.Nhưng họ quên rằng Chúa Giêsu đã trao quyền tha tội cho các Tông Đồ như lời Chúa trên đây. Và các Tông Đồ dã trao lại cho những người kế vị các ngài là các Giám Mục trong Giáo Hội. Các Giám mục lại chia sẻ quyền này cho các phụ tá thân cận là các linh mục trực thuộc để thi hánh sứ vụ Tông đồ trong Giáo Hội ngày nay.Ơn ích của bí tích Hòa giải thật lớn lao, vì nhờ có bí tích này mà con người được giao hòa lại với Thiên Chúa, được cảm nhận rõ rệt ơn tha thứ của Chúa qua thừa tác viên con người là Giám mục hay linh mục.Những ai có thói quen năng xưng tội, nhất là khi mình lỡ phạm tội gì trọng mà đi xưng tội cách ngay thật thì đều cảm nhận ơn tha thứ và bình an trở lại trong tâm hồn, một niềm vui nội tâm mà không một tâm lý gia hay tâm lý trị liệu ( Psychotherapist) nào có thể mang lại cho ai muốn điều trị tâm bệnh. Các anh chị em ngoài Công Giáo không tin Giáo Hội có quyền tha tội nhân danh Chúa Kitô ( In persona Christi) nên họ không thể cảm nhận được niềm vui và an bình nội tâm, dù cho họ có trực tiếp xưng tội với Chúa như họ chủ trương. Nghĩa là họ thiếu hẳn ơn ích thiêng liêng, niềm vui và an bình nội tâm mà Chúa ban cho các hối nhân qua tác vụ của linh mục cử hành bí tích hòa giải.

Đành rằng mọi tội phạm đến Chúa thì chỉ có Chúa tha tội mà thôi. Nhưng Chúa Kitô đã ban quyền tha tội đó cho Giáo Hội, hay cụ thể, là cho các thừa tác viên có chức Linh Mục ( chia sẻ chức Linh Mục đời đời của Chúa Kitô) là Giám mục và linh mục, nên ta phải chậy đến với các thừa tác viên này để xin Chúa tha mọi tội đã phạm vì yếu đuối con người. Mọi linh mục, dù ai bất xứng đến đâu dưới con mắt người đời, đều có có thể tha tội hữu hiệu ( thành sự =validly) nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi). Nghĩa là chính Chúa Kitô nghe và tha tội cho ta qua tay một linh mục. Chúng ta cần nhớ kỹ điều này để an tâm đi xưng tội với bất cứ linh mục nào đang có năng quyền ( faculty) giải tội như đã nói ở trên. Cũng xin giải thích thêm là, nếu vì lý do nào mà Giám mục tạm rút năng quyền của một linh mục trực thuộc, hay còn gọi nôm na là " treo chén"( suspension) thì linh mục đó tạm thời hay vinh viễn không được phép cử hành các bí tích Rửa tội, Thánh Thể, hòa giải, xức dầu, chứng hôn..

Ngoài ra, rất cần nói lại ở đây một lần nữa là Chúa Kitô không ban bí tích Hòa giải cho ta lợi dụng để cứ phạm tội, rồi lại đi xưng tội. Chúa biết ta còn yếu đuối nên Người ban bí tích này để giúp ta cố gắng sửa mình và lấy lại tình thương của Chúa sau khi đã lỡ phạm tội vì yếu đuối con người, và nhất là bị ma quỷ và thế gian cám dỗ, khiến khó đứng vững. Nhưng nếu ai không cố gắng sửa mình và nương nhờ ơn Chúa giúp sức để xa tránh tội lỗi, khiến cứ sa đi ngã lại để di xưng tội mà không quyết tâm chừa bỏ tội lỗi, thì hãy nghe lời Chúa nghiêm khắc cảnh cáo sau đây:

" Ta biết các việc ngươi làm : ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng.Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi ! Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." ( Kh 3: 15-16)

Chúa rất nhân từ và đầy lòng thương xót, thứ tha. Nhưng ta không được lợi dụng tình thương quảng đại của Chúa để đi hàng hai, nửa nóng nửa lạnh.Nếu ta quyết tâm đi theo Chúa thì Người sẽ ban ơn nâng đỡ để giúp ta nên thánh, một ơn gọi không dành riêng cho ai trong Giáo Hội mà cho hết mọi tín hữu đã nhận Phép Rửa và Thêm sức để gia nhập Giáo Hội và trở nên chi thể của Thân Thể nhiệm mầu Chúa Kitô là Giáo Hội.

Tóm lại, khi xưng mình với người khác , nhất là với người ngoại quốc, người Công Giáo phải nói rõ mình là Tin hữu Công Giáo ( Catholic Christian) để không lẫn lộn với các tín hữn Kitô khác như hàng trăm ngàn các nhánh Tin Lành ở Mỹ hiện nay. Họ cũng tự xưng là Christians nhưng khác nhau và khác xa chúng ta về mọi phương diện, từ phương cách phụng thờ Chúa đến phương thức nhận lãnh ơn cứu độ của Chúa, vì họ không có những bí tích cứu độ cần thiết như Thêm Sức, Sức dầu, Hòa Giải và Thánh Thể. Đa số họ chỉ có phép Rửa Rửa ( Baptism) mà thôi.Nhưng Nhóm nào không rửa tội với nước và Công thức Chúa Ba Ngôi thì việc rửa tội không hữu hiệu hay thành sự ( invalid). Do đó, khi một tín hữu ngoài Giáo Hội muốn gia nhập Giáo Hội Công Giáo, thì phải hỏi rõ xem họ đã được rửa tội thế nào trong giáo phái khác để biết xem việc rửa tội đó có thành sự hay không, vì Giáo hội công nhận phép Rửa của các giáo phái khác nếu họ cũng rửa bằng nước và công thức Chúa Ba Ngôi.

Cũng vì sự khác biệt giữa các Giáo Hội cùng tôn thờ Thiên Chúa và nhận Chúa Kitô là Đấng Cứu Chuộc ( Savior), nên các tín hữu của các Giáo hội đó cũng không có chung một phương thức thờ phượng và thực hành đức tin. Vì thế, người Công Giáo không thể tự do kết hôn với bất cứ tín hữu của Giáo phái nào ngoài Công Giáo mà không có phép chuẩn của Giáo quyền địa phương, cụ thể là Văn Phòng Chưởng Ấn ( Chancery) của Tòa Giám mục. Muốn kết hôn với người khác tôn giáo,( mixed marriage) thì phía Công giáo phải nhờ linh mục hay phó tế giúp chuẩn bị hôn phối, xin phép chuẩn ( dispensation for disparity of workship) cho người ngoài Công Giáo để giúp phía Công giáo được tiếp tục lãnh nhận các bí tích như các tín hữu khác trong Giáo hội. Lại nữa, theo giáo luật, thì phía không Công giáo phải cam kết cho con cái được rửa tội và sống đức tin theo cha hoặc mẹ là người công giáo.Nếu phía không Công giáo từ chối cam kết này thì không thể kết hôn với người Công giáo được.

Đó là tất cả những điều người Công giáo cần biết mỗi khi xưng mình cho người khác biết về tư cách tín hữu của mình trong Giáo Hội, cũng như trong việc giao tế với các anh chị em Kitôhữu khác ngoài Giáo Hội Công Giáo. Ai tin Chúa Kitô thì đều được gọi là Kitô hữu ( Christians) nhưng Kitô hữu của Giáo Hội Công Giáo hay Chính Thống thì không phải là Kitô hữu của các nhánh Tin Lành và Anh Giáo như đã phân tích trên đây.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 13 = CONG NGHIEP CUU CHUOC CUA CHUA... PDF Print E-mail

CÔNG NGHIỆP CỨU CHUỘC CỦA CHÚA KITÔ ĐÃ ĐỦ CHO TA ĐƯỢC CỨU RỖI CHƯA ?

Chúa Giê-su Kitô đã đến trần gian cách nay trên 2000 năm làm Con Người để thi hành Chương Trình Cứu Chuộc nhân loại của Chúa Cha, " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)

Chúa Kitô đã vâng phục Chúa Cha và đã hoàn tất Chương Trình Cứu Chuộc đó qua khổ hình thập giá, chết và sống lại để cho chúng ta có hy vọng được cứu rỗi và sống với Người vĩnh cửu trên Nước Trời mai sau.Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Giêsu thực vô giá vì không có sự hy sinh nào, lễ vật nào cao quí đẹp lòng Chúa Cha và có giá trị cứu rỗi hơn hy tế cực trọng mà Chúa Kitô đã một lần dâng trên thập giá năm xưa và còn tiếp tục dâng qua tác vụ của Giáo Hội, vì " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên Bàn Thờ , nhờ đó Chúa Kitô, Chiên vượt qua của chúng ta chiu hiến tế, ( 1 Cor 5: 7 ) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." (x.Lumen Gentium số 3)

Nghĩa là, xưa kia một lần Chúa Kitô đã đổ máu thực sự trên thập giá để làm hy tế dâng lên Chúa Cha để xin ơn tha tội cho nhân loại thế nào thì nay trên Bàn Thờ ở khắp mọi nơi trong Giáo Hội, mỗi khi Thánh lễ Tạ Ơn ( Euchrist) được cử hành, thì Chúa Kitô lại hiện diện cách bí tích nơi các thừa tác viên con người ( Giám mục hay Linh mục) để diễn lại- hay làm sống lại cách bí tích- hy tế thập giá của Người cùng với mục đích và ích lợi thiêng liêng cho chúng ta ngày nay như xưa Chúa tự hiến tế trên thập giá để đền tội thay cho nhân loại đáng phải phạt vì tội lỗi.

Công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô thực đã quá đủ cho chúng ta được tha thứ tội lỗi và giao hòa lại với Thiên Chúa như Thánh Phêrô đã dạy:

" Chính Chúa Kitô đã chịu chết lần vì tội lỗi. Đấng công chính đã chết cho kẻ bất lương, hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa. Thân xác người đã bị giết chết; nhưng nhờ Thần Khí, Người đã được phục sinh." ( 1 Pr 3 :18)

Như thế , nếu không có công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô, thì tuyệt đối con người không có hy vọng nào được cứu rỗi để sống hạnh phúc đời đời với Chúa, sau khi phải chết trong thân xác của mỗi người một ngày nào đó.

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào công nghiệp cứu chuộc này để không làm gì nữa về phía con người, thì ơn cứu chuộc ấy cũng không tự động sinh ích gì cho ai .

Sở dĩ thế, vì Công nghiệp cứu độ của Chúa Kitô- kể cả Phép Rửa- đều không tức khắc biến đổi con người thành hoàn hảo ngay và không còn biết gì là tội lỗi nữa.

Trái lại, dù Chúa đã chết cho tội lỗi con người và dù đã lãnh nhận Phép Rửa để được tái sinh trong sự sống mới, con người vẫn còn đầy rẫy thói hư tật xấu, vẫn còn khuynh hướng nghiêng chiều về sự xấu, sự tội để cho ta phải chiến đấu để lập công.Thêm vào đó là ma quỉ, " thù địch của anh em như sư tử gầm thét rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự, vì biết rằng toàn thể anh em trên trần gian đều trải qua cùng một loại thống khổ như thế " ( 1 Pr 5 : 8-9).

Ngoài nguy cơ đến từ ma quỷ mà Thánh Phêrô cảnh giác trên đây, còn nguy cơ khác không kém hiểm nguy là thế gian nơi đầy rẫy gương xấu và dịp tội với tà thuyết vô thần chối bỏ Thiên Chúa, chủ nghĩa chuộng khoái lạc ( Hedonism) và tục hóa ( secularism, vulgarism) cổ võ tôn thờ tiền bạc , của cải vật chất và mọi vui thú vô luân vô đạo của "văn hóa sự chết" như bộ mặt của thế giới ở khắp nơi ngày nay.

Mặt khác, nơi bản thân mỗi người chúng ta, không ai có thể phủ nhận những thực tại sau đây còn tồn tại trong chúng ta như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa :

" Cái gì từ trong con người phát ra , cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong , từ lòng người phát xuất những ý định xấu : tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng.Tất cả những điều xấu đó đều từ bên trong xuất phát và làm cho con người ra ô uế".( Mc 7 :21-23)

Chính vì thực trạng trên đây còn đồn trú nơi mỗi người chúng ta cho nên đã làm phát sinh những sự dữ như giết người, giết thai nhi, hiếp dâm, trộm cướp, bất công , bóc lột hà khắc, nghèo đói, chiến tranh, bạo động, thủ tiêu, trả thù, kỳ thị...đang diễn ra ở khắp nơi trên thế giới. Đặc biệt ở các quốc gia độc tài cai trị, tự do dân chủ giả hiệu, cánh chung luận mơ hồ, xảo trá, thì thực trạng tha hóa, xuống cấp thê thảm về luân lý, đạo đức cũng như suy thoái về kinh tế phải là hậu quả tất nhiên, vì tập đoàn thống trị chỉ cai trị để vơ vết mọi của cải vật chất và gửi tiền ăn cướp được ra nước ngoài để phòng thân , trong khi nhắm mắt bịt tai trước mọi bất công xã hội và nghèo đói của đa số người dân đen, nạn nhân của chế độ cai trị hà khắc, bạo tàn.

Trước thực trạng trên đây, là người có niềm tin Thiên Chúa cực tốt cực lành, người tín hữu chúng ta phải sống cách nào để cho ơn cứu độ của Chúa Kitô không trở nên vô ích cho chính mình ?

Thât vậy,.như đã nói ở trên, Chúa Kitô chết trên thập giá và Phép Rửa đều không tức khắc thay đổi chúng ta thành những con người mới vẹn toàn và không bao giờ phạm tội nữa.

Sự thật trái lại là chúng ta vẫn yếu đuối trong nhân tính, với những khuynh hướng xấu còn để lại cho ta phải chiến đấu cho đến giây phút cuối cùng của đời mình. Ma quỷ , đich thù của chúng ta , triệt để khai thác bản chất yếu đuối trên với sự tiếp tay của thế gian để cố đẩy chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa, và làm mất hy vọng được cứu độ nhờ công nghiệp của Chúa Kitô.

Mặt khác, sở dĩ con người ở khắp mọi nơi đã và đang làm những sự dữ, sự xấu như giết người, cướp của, dâm loạn, xảo trá, căm thù ... là vì con người vẫn còn có tự do mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho xử dụng và phải chiu trách nhiệm trước Thiên Chúa giầu tình thương nhưng rất công bình khi phán xét con người.

Nếu con người không có tự do, thi vấn đề thưởng phạt sẽ không được đặt ra, vì Thiên Chúa không phán xét loài vật sống thuần với bản năng mà chỉ phán đoán con người có lý trí và ý muốn tự do ( intelligence and free will) mà thội. Có tự do nên người ta có thể chọn sống theo đường lối của Chúa để được cứu độ hay khước từ Chúa để sống theo thế gian, theo văn hóa của sự chết chổi bỏ Thiên Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Đó là thực trạng của con người ở khắp nơi nói chung và của rất nhiều tín hữu ngày nay nói riêng. Đó là những người chỉ có tên là Kitô hữu hay Công giáo, nhưng thực chất lại sống phản lại danh xưng đó.

Phản lại vì đã chọn lựa sống theo đường lối gian tà của thế gian, chạy theo những quyến rũ của tiền bạc, danh lợi phù phiếm, làm tay sai cho tập đoàn cai trị để hưởng tư lợi, đánh mất lương tâm vì không dám bênh vực cho chân lý, cho luân lý đạo đức, cho công bằng bác ái và cho phúc lợi của mọi công dân.

Chính vì con người còn có tự do để chọn lựa yêu mến Chúa hay yêu mến thế gian và buông mình chiều theo những quyến rũ của xác thịt, ma quỷ và trần thế , nên xưa kía Thiên Chúa đã nói với dân Do Thái qua miệng ông Môisê như sau;

" Hãy xem, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn : hoặc được chúc phúc hoặc bị nguyền rủa. Anh em sẽ được chúc phúc nếu vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em mà tôi truyền cho anh em hôm nay.Anh em sẽ bị nguyền rủa nếu không vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, nếu anh em bỏ con đường hôm nay tôi truyền cho anh em phải đi, mà theo những thần khác anh em không biết." ( Đnl 12 : 26-28)

Nhưng vì dân Do Thái đã tự do chọn bất tuân mệnh lệnh của Chúa để sống theo ý riêng của họ nên Thiên Chúa đã nổi giận trách mắng họ như sau :

" Bốn mươi năm trường, dòng giống này làm Ta chán ngán

Ta đã nói : đây là dân tâm hồn lầm lạc

Chúng nào biết đến đường lối của Ta

Nên Ta mới thịnh nộ thề rằng

Chúng sẽ không được vào chốn yên nghỉ của Ta". ( Tv 95 (94) : 10-11)

Tuy Chúa nổi giận với họ, nhưng khi họ biết sám hối ăn năn, Chúa lại tha thứ, vì " Người có giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương thương suốt cả đời."( Tv 30 (29) :6)

Sau này khi đến trần gian để rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã nói với các môn đệ Người như sau :

" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa , Lậy Chúa là được vào nước Trời cả đâu, ! nhưng chỉ những ai thi hành muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7 :21)

Thi hành "ý muốn của Cha Thầy"có nghĩa là tự ý chọn sống theo đường lối của Chúa Cha là đường ngay chính dẫn đến sự sống đời đời.Chúa Giêsu chính là con Đường đó như Người đã nói với các môn đệ : Chính Thầy là con đường , là sự thật và là sự sống." ( Ga 14: 6)

Do đó, bước đi theo Chúa Giêsu và quay lưng lại với thế gian, là bảo đảm chắc chắn cho phần rỗi của mọi người chúng ta.Chúa đã hy sinh chịu chết trên Thánh giá để cứu chuộc cho mọi người và cho chúng ta hy vọng chắc chắn về ơn cứu độ như lời Chúa trong thư Do Thái sau đây:

"Chúng ta có niềm hy vọng đó cũng tựa như cái neo chắc chắn và bền vững của tâm hồn chìm sâu vào bên trong bức màn Cung Thánh. Đó là nơi Đức Kitô đã vào như người tiên phong mở đường cho chúng ta, sau khi trở thành vị Thượng Tế đời đời theo phẩm trật Men-ki-xê-đê". ( Dt 6:19-20)

Nhưng cho được chắc chắn bước vào " Cung Thánh" với Chúa Kitô, nghĩa là được cứu độ để vào Nước Trời thì trước hết chúng ta phải cậy nhờ công ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, vì nếu không có công nhiệp này thì không ai có thể được cứu rỗi.

Nhưng , như đã nói ở trên, cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô không thôi chưa đủ mà còn phải cộng tác với ơn cứu độ bằng quyết tâm bước đi theo Chúa là đường là sự thật và là sự sống.Phải quyêt tâm từ bỏ tội lỗi và mọi gian tà thì mới có thể đi theo Chúa và được cứu độ. Đây là một cuộc chiến rất cam go cho những ai muốn chọn Chúa và khước từ thế gian và ma quỷ, là những thế lực luôn tìm cách ngăn cản con người đến với Thiên Chúa và hạnh phúc Nước Trời. Chúa Giê su đã căn dặn các Tông Đồ " hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào vì tôi nói cho anh em biết : có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được." ( Lc 13: 24).

Công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô có thể tạm ví như một dòng suối nước chảy liên lỉ và vô tận.Nhưng ai khát nước, thì phải cúi xuống múc lấy nước mà uống , vì nước kia không có chức năng phải nhẩy lên từ dòng suối để chẩy vào miệng kẻ khát đang nằm bên bờ suối nước.

Nếu không có suối nước thì con người phải chết khát vì không tìm được nước ở đâu mà uống.Nhưng nằm bên dòng nước cuồn cuộn chảy kia mà không cúi xuống múc lấy nước để uống thì vẫn chết khát như thường, vì nước không khi nào nhẩy lên bờ để chảy vào miệng ai..

Như vậy, " cúi xuống để múc nước từ dòng suối" là nỗ lực của mỗi cá nhân cộng tác với ơn Chúa để được cứu độ. Không có nỗ lực này thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ vô ích cho những ai ỷ có công nghiệp này rồi cứ sống buông thả theo những đòi hỏi bất chính của xác thịt, cám dỗ của ma quỷ và gương xấu của thế gian, thay vì phải chiến đấu với ơn Chúa nâng đỡ để chống lại mọi khuynh hướng xấu , mọi cám dỗ của ma quỷ và mời mọc quyến rũ của thế gian với đầy rẫy gương xấu và dịp tội. Không thể miệng nói Lậy Chúa, lậy Chúa mà tay lại chém. giết người, chân lại bước đi vào nhưng nơi tội lỗi như sòng bài, nhà điếm, nơi ăn chơi thác loạn...

Tóm lại, công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá (invaluable) và quá đủ cho con người được cứu độ.Tuy nhiên Chúa vẫn đòi hỏi con người phải có thiện chí muốn nhận ơn cứu độ của Người bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa, yêu mến Người trên hết mọi sự và xa lánh mọi tội lỗi vì chỉ có tội mới ngăn cách ta với Thiên Chúa của tình thương, khoan dung và tha thứ.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 12 = ONG GIUĐA KHÔNG DUOC CUU ? PDF Print E-mail

PHẢI CHĂNG GIUĐA KHÔNG ĐƯỢC CỨU RỖI ?

Hỏi : Có ý kiến cho rằng :

1-Giuđa chắc chắn không được cứu rỗi

2- Đức Mẹ đã được Thiên Chúa cứu độ trước khi làm Mẹ Chúa Giêsu .?

Xin Cha cho biết 2 ý kiến trên có đúng không ?

Trả lời :

1-Về câu hỏi thứ nhất liên quan đến Giuđa, xin được trả lời như sau :

Nói về Giudda thì trước hết, đây là điển hình cho loại người quá đam mê tiền của đến quên tinh quên ân nghĩa hoặc phản bội. Đây cũng là gương xấu to lớn phải tránh cho mọi người có niềm tin nơi Chúa là Đấng đầy lòng thương xót , công bình và tha thứ. Người thương xót và hay tha thứ nhưng chúng ta phải tin tưởng và chậy đến xin Người thứ tha cho dù tội lỗi đến đâu. Chí có một tội không thể tha thứ được : đó là tội phạm đến Chúa Thánh Thần , tức là tội hoàn toàn chối bỏ Thiên Chúa và không còn tin tưởng gì nơi lòng thương xót của Người nữa. Đó là điều Chúa Giêsu đã nói rõ trong Tin Mừng như sau:

" Tôi bảo thật cho anh em : mọi tội của con cái loan người, kể cả tội nói phạm thượng , và nói phạm thượng nhiều đến mấy đi nữa thì cũng còn được tha. Nhưng ai nói phạm đến Thánh Thần thì chẳng đời nào được tha, mà còn mắc tội muôn đời. " ( Mc 3: 28-29)

Như thế, nếu Giuđa quả thực hết tin tưởng nơi lòng thương xót của Chúa đến nỗi đi thắt cổ tự tử thì có thể Giuđa đã phạm tội mà Chúa Giêsu nói trên đây. Nhưng điều này chỉ có một mình Thiên Chúa biết và phán đoán Giuđa chiếu theo lòng khoan dung vô lượng và công minh tuyệt đối của Người.Nghĩa là chúng ta không thể căn cứ vào sự kiện bề ngoài để đưa ra một phán đoán nào, vì chúng ta hoàn toàn không biết được Giuđa có thực sự mất hết tin tưởng nơi lòng thương xót tha thứ của Chúa hay trong một phút trước khi chết anh ta đã kịp ăn năn hối lỗi và được tha thứ như người trộm lành?

Điều này chỉ một mình Chúa biết mà thôi.Do đó, Giáo Hội cũng không dám đưa ra một phán đoán chắc chắn nào về số phận đời đời của Giuđa.Nếu Giáo Hội mà không dám kết luận chắc chắn về phần rỗi của Giuđa thì chúng ta dựa vào đâu mà dám nghĩ rằng Giuđa đã sa hỏa ngục hay được cứu rỗi ?

Cũng vậy, đối với những người tự tử chết ngày nay, Giáo Hội vẫn cho phép cử hành lễ an táng cũng như cho chôn xác trong nghĩa trang công giáo, một điều không được phép làm trước Công Đồng Vaticanô II . Sở dĩ trước đây Giáo Hội cấm cử hành tang lễ cho người tự tử chết vì Giáo Hội lên án gương xấu này chứ không vì phán đoán rằng người tự tử đã sa hỏa ngục rồi nên không còn ích gì để cầu nguyện cho ai đã tự hủy hoại đời mình vì bất cứ lý do nào.

Như vậy, ta không nên phán đoán gì về trường hợp của Giuđa cũng như về những người đã tự tử chết, mặc dù đó là gương xấu và cũng là tội trọng phải tránh.Giuđa có tội rất lớn là đã tham tiền và cam tâm phản bội Chúa khi bán Người lấy 30 đồng bạc của bọn Thượng Tế Do Thái. Không ai có thể biện minh cho việc phản bội, tham tiền và thất vọng đi tự tử của Giudda.

Chính Chúa Giêsu cũng lên án việc phản bội của Giuđa như sau :

" Đã hẳn, Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người. Nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người : thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn !" ( Mc 14: 21)

Lại nữa trong lời cầu cùng Chúa Cha trước đêm bị trao nộp , Chúa Giê su cũng than trách về Giuđa như sau :

"Khi còn ở với họ, con đã giữ gìn họ

Trong danh Cha mà Cha đã ban cho con

Con đã canh giữ và không một ai trong họ phải hư mất

Trừ đứa con hư hỏng để ứng nghiệm lời kinh Thánh." ( Ga 17: 12)

Đứa con " hư hỏng" vì đã phản bội chứ không có nghĩa là đã sa hỏa ngục. Nhưng việc Chúa phải chịu khổ hình và chết trên thập giá lại khác : không phải vì Giuđa phản bội, mà vì Chúa Giêsu muốn thi hành thánh ý Chúa Cha muốn Người hy sinh để đền tội cho cả loài người như Thánh Phaolô đã dạy:

" Đến như chính Con Một Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đã trao nộp vì hết thẩy chúng ta." ( Rm 8:32)

Thánh Phêrô cũng quả quyết thêm như sau:

" Chính Đức Kitô đã chịu chết một lần vì tội lỗi. Đấng Công Chính đã chết cho kẻ bất lương hầu dẫn đưa chúng ta đến cùng Thiên Chúa." ( 1 Pr 3 :18)

Cũng chính vì vâng ý Chúa Cha để chiu khổ hình thập giá và chết thay cho kẻ có tội là mọi người chúng ta, nên trước khi trút hơi thở cuối cùng, Chúa Giêsu đã phó linh hồn cho Chúa Cha với những lời thống thiết như sau :

" Lậy Cha con xin phó thác hồn con trong tay Cha.Nói xong Người tắt thở." ( Lc 23:46)

Lời cầu xin phó linh hồn trên đây của Chúa Giêsu đã được tiên báo trước trong Thánh Vinh 131:

Trước khi Chúa đến trần gian để thi hành thánh ý Chúa Cha:

" Trong tay Ngài con xin phó linh hồn con." ( Tv 131: 6)

Như thế, chứng tỏ Chúa Giêsu đã biết trước việc Người sẽ chết để đền tội cho nhân loại, đúng như Người đã nói với các môn đệ trong khi còn đi rao giảng Tin Mừng với họ:

" Này chúng ta lên Jerusalem và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người. Họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại. " (Mc 10:33-34),

Do đó, không thể nói rằng nếu Giuđa không phản bội thì Chúa đã không chết.

Sự thật phải tin là Chúa đến trần gian làm Con Người để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người, trong Chương Trình Cứu Độ nhân loại của Chúa Cha, như ngôn sứ Isaia đã loan báo từ 8 thế kỷ trước khi Chúa Giêsu sinh xuống trần gian :

" Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn

Giơ má cho người ta giật râu

Tôi không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ." ( Is 50: 6)

Hoặc :

" Chính Người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội

Bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm

Người đã chịu sửa trị để cho chúng ta được bình an

Đã mang lấy thương tích cho chúng ta được chữa lành. " ( Is 53 :5)

Như vậy, đủ cho thấy rõ là Chúa Cha đã dự liệu những khổ hình mà Chúa Kitô sẽ phải chịu để cứu chuộc cho nhân loại khỏi bị án phạt vì tội. Người chính là " Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" như Gioan Tiền Hô đã tuyên xưng một ngày kia. Chúa Giêsu cũng đã xác nhận những điều đã được tiên báo về Người trong đêm bị nộp khi Chúa quở mắng Phêrô vì đã chém. đứt tai một đầy tớ của thượng tế:

" Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần. Nhưng như thế thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được ?"( Mt 26: 53-54)

Hay rõ hơn nữa , khi Chúa bảo Phêrô " Hãy xỏ gươm vào bao. Chén đắng Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống ? " ( Ga 18: 11)

Chén đắng đây chính là việc Người bị trao nộp, bị đánh đập, nhạo báng, phỉ nhổ và cuối cùng bị đóng đanh và chết trên thập giá.Như vậy, tuyệt đối không có vấn đề giả sử Giuđa không phản bội thì Chúa đã không phải chết. Đây là chén đắng Chúa Cha đã định liệu cho Người uống để chuộc tội cho nhân loại trong chương trình cứu độ của Chúa Cha

Và Chúa Kitô đã vui lòng uống " chén đắng" đó khi Người không kêu cứu Chúa Cha sai đạo binh thiên thần đến giải thoát cho Người khỏi bị bắt và điệu đi hành hình.

Dầu vậy, Giuđa vẫn có lỗi lớn là đã bán Chúa lấy 30 đồng bạc của các thượng tế và kỳ mục Do Thái. Và vì không ngờ việc bán Thầy lại trùng hợp với việc Chúa Giêsu vâng ý Chúa Cha để vui lòng chiu tử nạn, nên y đã thất vọng đi tự tử, tức là phạm thêm một tội trọng nữa là tự hủy hoại mang sống mình. Nhưng như đã nói ở trên, ta không biết được Giuđa có còn kịp sám hối trước khi chết hay không, nên không thể kết luận được gì về phần rỗi của y. Việc này Chỉ có Chúa biết mà thôi.

2- Đức Mẹ được cứu chuộc trước khi Chúa Kitô ra đời ?

Có thể nói vắn gọn là điều này không đúng, vì bằng chứng Kinh Thánh sau đây :

a- " Chỉ có một Thiên Chúa

Chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người

Đó là một con người : Đức Kitô- Giêsu

Đấng đã tự hiến làm giá chuộc cho mọi người." ( 1 Tm 2 : 5-6)

b-

" Ngoài Người ( Đức Kitô) ra, không ai đem lại ơn cứu độ vì dưới gầm trời này

Không có một danh nào khác đã ban cho nhân loại, để chúng ta phải nhờ vào

Danh đó mà được cứu độ." (Cvtđ 4: 12)

Đức Trinh Nữ Maria được diễm phúc không mắc tội tổ tông và mọi tội khác, được trọn đời đồng trinh dù đã sinh Chúa Giêsu với quyền năng của Chúa Thánh Thần, cũng như được về trời cả hồn xác.Nghĩa là Mẹ không phải trải qua cái chết trong thân xác như mọi con người sinh ra trong trần thế này. Hơn thế nữa, Mẹ còn được tuyên xưng là Mẹ Thiên Chúa ( Theotokos) vì là Mẹ thật của Chúa Giêsu, cũng là Thiên Chúa, đồng bản thể với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần trong Mầu Nhiệm Ba Ngôi Một Thiên Chúa ( The Holy Trinity).

Nhưng dù với địa vị cao trọng làm vậy, Mẹ cũng không cùng bản thể với Thiên Chúa hay cao hơn Chúa, Là Đấng được tôn thờ ở mức Latria trong khi Mẹ được tôn kính đặc biệt ở mức Hyperdulia, các Thánh Nam Nữ khác ở mức Dulia trong phụng vụ thánh của Giáo Hội. Đó là những điều chúng ta cần biết, tin và thực hành như Giáo Hội dạy.

Nhưng Giáo Hội chưa hề dạy rằng Mẹ Maria được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Thiên Chúa trước khi làm Mẹ Ngôi Hai. Thiên Chúa có Chương Trình cứu chuộc loài ngoài, và đã nhờ Chúa Kitô thi hành Chương Trình này và Chúa đã hoàn tất Công Trình đó qua khổ nạn thập giá, chết , sống lại và lên trời . Đó là nội dung Mầu Nhiệm Vượt qua ( Paschal Mystery) của Chúa Kitô mà Giáo Hội cử hành mỗi năm trong Tuần Thánh với cao điểm là Lễ Phục Sinh, tuyên xưng Chúa Kitô đã sống lại sau khi phải chiu khổ nạn và thực sự chết trên thập giá và được mai táng 3 ngày trong Mồ đá.

Như thế, trước khi Chúa Kitô hoàn tất Chương Trình cứu độ của Chúa Cha qua Mầu Nhiệm Vượt qua thì công nghiệp cứu chuộc đó chưa có để ban phát cho ai, -dù là riêng cho Mẹ Maria- vì Chúa Giêsu chưa "uống chén đắng" mà Chúa Cha muốn trao cho Người.

Chính vì ơn cứu độ chưa sẵn có, nên những người lành thánh chết từ bao đời trước khi Chúa Giêsu hoàn tất công nghiệp cứu chuộc của Người , thì đều phải ở nơi gọi là "Ngục tổ tông=Abode of the Dead" đợi chờ Chúa " đến rao giảng cho các vong linh bị giam cầm" ở đây. Vì thế, sau khi Chúa chết trên thập giá, Người đã xuống nơi này với tư cách là Đấng Cứu Thế để loan báo Tin mừng cứu độ cho họ và dẫn đưa họ vào Thiên Đàng ( x.1 Pr 3: 19; SGLGHCG số 632)

Do đó, không thể nói rằng Chúa Cha đã ban ơn cứu độ riêng cho Mẹ Maria, Người đầy ơn phúc., vì đã sinh Con Chúa Trời và cộng tác tích cực vào việc thi hành Chương Trình cứu chuộc nhân loại của Chúa Giêsu-Kitô.Nghĩa là mọi người - kể cả Đức trinh Nữ Maria- dù vẹn toàn vì không mắc tội tổ tông và mọi tội cá nhân- đều phải nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô để vào Nước Trời hưởng Thánh Nhan Chúa là hạnh phúc của các Thánh và các Thiên Thần. Lý do là chỉ có một mình Chúa Kitô là Đấng trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người trong việc cứu độ như lời Kinh Thánh trích trên đây.Cho nên, khi Người chưa hoàn tất công cuộc cứu chuộc loài người qua Hy Tế Thập giá, thì ơn cứu độ đó chưa sẵn có để ban cho ai.Vì nếu ơn đó đã sẵn có, thì Chúa Kitô đã không cần phải đến trần gian để hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người và trở thành Đấng Cứu Chuộc duy nhất cho nhân loại ( Human Savior).

Đó là tất cả những điều người tín hữu Chúa Kitô phải tin và thực hành để hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo là Mẹ, thay mặt Chúa là Cha để dạy dỗ con cái mình không sai lầm những gì thuộc phạm vị đức tin và luân lý.

Ước mong những lời giải thích trên thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 11 = MUNG CHUA PHUC SINH PDF Print E-mail

MỪNG CHÚA PHỤC SINH CÁCH NÀO CHO XỨNG HỢP ?

Một lần nữa Giáo Hội lại long trọng mừng kỷ niệm Chúa sống lại sau khi Người đã thực sự chết trên thập giá và được an nghỉ 3 ngày trong Mồ đá

Sự Phục Sinh của Chúa Kitô là một biến cố quan trọng nhất trong đời sống đức tin của Giáo Hội và của mọi tín hữu chúng ta nói chung , vì nếu Chúa chết mà không sống lại như lời Người đã nói với các môn đệ, thì " lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và đức tin của anh em cũng trống rỗng" như Thánh Phaolô đã khẳng định ( 1 Cor 15:14) .Nghĩa là nếu Chúa không sống lại, thì niềm tin của chúng ta sẽ ra vô ích cùng với những lời giảng dạy của các Tông Đồ xưa kía và của Giáo Hội ngày nay.

Đó là tất cả ý nghĩa của cụm từ "trống rỗng" mà Thánh Phaolô đã dùng trên đây.

Nhưng Chúa Kitô đã sống lại thật : ngôi Mộ trống và lời chứng của các phụ nữ đến viếng Mộ Chúa sáng ngày thứ nhất trong tuần đã chứng minh hùng hồn sự kiện Chúa đã sống lại như lời hai người đàn ông đứng trong mồ đá ( Thiên Thần ) y phục sáng chói đã nói với mấy phụ nữ đến viếng Mộ Chúa :như sau : " Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết ? Người không còn ở đây nữa, những đã chỗi dậy rồi..." ( Lc 24: 5-6)

Chúng ta không được may mắn và diễm phúc đến viếng Mộ Chúa như các phụ nữ kia, nhưng qua đức tin chúng ta không thắc mắc gì về sự kiện Chúa Giêsu đã sống lại, sau 3 ngày chết nằm trong Mồ đá. Điều quan trọng đối với chúng ta ngày nay không phải là đi tìm thêm bằng cớ về sự Phục Sinh của Chúa Kitô như những người chưa tin nên muốn tìm, mà quan trọng là đi loan báo cho người khác biết về sự kiện lịch sử độc nhất vô nhị này.

Thật vậy, khi hiện ra trước tiên với mấy phụ nữ đạo hạnh kia, Chúa Giêsu đã nói với họ : "Chị em đừng sợ ! về báo cho anh em của Thầy để họ đến Ga-li-lê. Họ sẽ thấy Thầy ở đó." ( Mt 28: 10) Các phụ nữ kia đã vui mừng đi tìm các môn đệ của Chúa để báo tin cho họ biết là Người đã sống lại như lời Người đã nói trong khi còn đi rao giảng với họ.Tin mừng Chúa sống lại cần được loan báo thêm cho nhiều người khác trong thời đại chúng ta ngày nay biết để họ được thức tỉnh khỏi mê lầm về một hạnh phúc giả tạo , một cánh chung luận hảo huyền mà những kẻ không tin có Thiên Chúa, không biết có sự kiện Chúa Kitô đã đến trong trần gian, đã chết và sống lại để những ai tin vào Người, sống theo Người, sẽ không phải chết đời đời mà có hy vọng được sống vĩnh cửu với Chúa trên Thiên Quốc, là nơi không còn bất công bóc lột, kỳ thị, gian manh, xảo trá, độc ác, hận thù chia rẽ và nhơ uế...là những thực tế và thực thể đang phơi bày trong mọi xã hội con người ở khắp nơi ngày nay. Bao lâu còn những thực tế này thì bấy lâu con người còn xa cách ơn phục sinh của Chúa Kitô và xa lạ với Nước Thiên Chúa là Vương Quốc của an bình, yêu thương, an hòa và vui sướng bất diệt.

Do đó, là người tín hữu Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta phải mừng Chúa đã sống lại trước hết bằng quyết tâm sống theo đường lối của Chúa là đường ngay chính duy nhất dẫn đến sự sống và hạnh phúc thật , trái nghịch hoàn toàn với đường lối của con người , của thế gian chỉ đưa đến sự chết không những về thể lý mà còn về mặt thiêng liêng, tức là chết trong tâm hồn vì nọc độc của tội lỗi , hậu quả đương nhiên của văn hóa sư chết, của chủ nghĩa vô thần và tục hóa, tôn thờ vật chất và mọi lạc thú vô luân vô đạo đang lan tràn ở khắp mơi trên thế giới ngày nay. Chính vì tội lỗi của con người mà Chúa Kitô đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình để " cho muôn người được cứu rỗi." ( Mt 20 : 28).

Cho nên, không thể đón mừng Chúa Phục Sinh cách nào thích đáng và đẹp lòng Chúa hơn là ý thức sâu xa thêm nữa về nguyên nhân đã khiến Chúa Kitô , người lành vô tội, mà phải bị hành hình và chết như kẻ tội lỗi để cứu chuộc cho muôn người được sống. Phải ý thức sâu sắc về nguyên nhân này để từ đó thêm quyết tâm xa tránh mọi tội lỗi và sự dữ để không đóng đanh Chúa thêm lần nào nữa trong tâm hồn mình chúng ta. Hơn nữa, có như thế, thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô mới không trở nên vô ích cho những ai chỉ mừng Chúa Phục Sinh lấy lệ , theo thói quen chung là đi xưng tội trong Mùa chay và rước lễ Phục Sinh. Sau đó trở về, lại tiếp tục nếp sống cũ nghiêng về vật chất của chủ nghĩa tục hóa ( secularism) và của "văn hóa sự chết", đối nghich hoàn toàn với Phúc Âm sự Sống mà Chúa Kitô đã rao giảng và trả giá bằng chính mạng sống của Người trên thập giá năm xưa. Phải nói là vô ích vì nếu không có quyết tâm cải thiện đời sống theo Tin Mừng Cứu Độ để sống " cho Đấng đã chết và sống lại vì mình." ( 2 Cor 5:15) như Thánh Phaolô đã dạy thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ không ích gì cho những ai thiếu quyết tâm đó.

Như vậy, mừng Chúa sống lại cách hữu ích và đẹp lòng Chúa đòi hỏi mọi người tín hữu chúng ta không những phải cám ơn Chúa thêm một lần nữa, vì Người " đã chết thay cho mọi người" chúng ta , đồng thời phải thêm quyết tâm xa tránh nếp sống vô luân vô đạo cùng mọi tội lỗi vì chỉ có tội mới khiến cho Chúa Kitô phải chịu sỉ nhục, hành hình và chết trên thập giá. Chỉ có tội mới làm ngăn cách chúng ta với Thiên Chúa của tình thương, công bình và thánh thiện. Hơn thế nữa, chỉ có tội mới làm cho công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô trở nên vô ích cho những ai lợi dụng tình thương tha thứ của Chúa để đi hàng hai, không nóng mà cũng chẳng lạnh.

Cụ thể, nếu chỉ là tín hữu có tên( nominal) mà không thực hành niềm tìn bằng đời sống công bình , bác ái, xa tránh tội lỗi và mọi gương xấu của thế gian thì công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ không ích gì cho họ. Và ai đang sống như vậy, thì hãy nghe lời cảnh cáo nghiêm khắc sau đây của Chúa:

" Ta biết các việc ngươi làm : ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng.Phải chi ngươi lạnh hẳn nay nóng hẳn đi ! Nhưng vì ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta." (Kh 3: 15-16)

Chúa là tình thương, giầu lòng tha thứ và rất khoan dung.. Đó là sự thật chúng ta phải tin.và loan truyền cho người khác biết.Nhưng dù yêu thương con người đến đâu, Chúa vẫn chê ghét mọi tội lỗi mọi sự dữ, độc ác. như oán thù, giết người, trộm cắp, gian dối, lường đảo, dâm đãng... mà quá nhiều người đã và đang làm ở khắp mọi nơi. Tội lỗi và những sự dữ này trái nghịch hoàn toàn bản chất thiên hảo của Chúa, nên ai sống và làm những sự dữ đó thì chắc chắn không thể sống trong tình thương với Chúa và với tha nhân. Ánh sáng và bống tối khác nhau thế nào thì sự dữ và tội lỗi còn cách biệt Thiên Chúa hơn thế nữa.

Tóm lại, vì yêu thương loài người mà Chúa Kitô đã chấp nhận đau khổ và chết để cứu chuộc chúng ta.

Người đã sống lại và không bao giờ chết nữa.Sự phục sinh của Chúa cũng cho chúng ta hy vọng được sống lại như Chúa sau khi phải chết trong thân xác yếu hèn này, nếu chúng ta cũng sống và chết như Chúa.

Vậy, để đáp lại tình yêu quá cao vời của Chúa, liệu chúng ta có quyết tâm yêu mến Người bằng cách xa tránh tội lỗi như Chúa chê ghét mọi sự dữ và tội lỗi hay không ?

Xin Chúa Kitô Phục Sinh giúp chúng ta sống xứng đáng với tình thương và công nghiệp cứu chuộc vô giá của Người. Alleluia !

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
<< Start < Prev 141 142 143 144 145 146 147 148 149 150 Next > End >>

Page 149 of 151