/home/content/51/8374851/html/chiaseloichua/administrator/components/com_vvisit_counter/helpersPlease reinstall [Vinaora Visitors Counter] component53

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 43 = DUC TIN - LONG UOC MUON CUA CHUA PDF Print E-mail

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 37)

Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 07.11.2012.

NĂM ĐỨC TIN. LÒNG ƯỚC MUỐN THIÊN CHÚA.

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

cuộc hành trình suy tư mà chúng ta đang cùng nhau thực hiện Năm Đức Tin nầy, ngày hôm nay hướng dẫn chúng ta suy tư đến một khiá cạnh hấp dẫn của kinh nghiệm con người và Kitô giáo: con người mang trong mình một khát khao bí ẩn đối với Thiên Chúa .

Một cách rất có ý nghĩa, Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo mở đầu bằng chính lời tuyên bô như sau:

- " Lòng ao ước Thiên Chúa được khắc ghi vào tâm khảm của con người, bởi vì con người được Thiên Chúa dựng nên và dựng nên cho Thiên Chúa; Thiên Chúa không ngừng lôi kéo con người về với Người và chỉ có nơi Thiên Chúa, con người mới tìm ra được chân lý và hạnh phúc mà mình không ngừng tìm kiếm " ( n. 27).

Một lời tuyên bố như vậy, ngay cả ngày hôm nay trong nhiều bối cảnh văn hoá tỏ ra có thể chấp nhận được, gần như dĩ nhiên, trái lại có vẻ như là một thách thức trong nền văn hoá tây phương thế bị tục hoá.

Thật vậy, nhiều người đương thời với chúng ta có thể đặt vấn đề là họ không cảm nhận được gì lòng ao ước đó đối với Thiên Chúa.

Ở nhiều lãnh vực rộng lớn trong xã hội, Thiên Chúa không còn phải là Đấng mà thiên hạ mong đợi nữa, ao ước nữa, đúng hơn là một thực tại không còn ai chú ý đến nữa, trước thực thể đó, con người cũng không còn cần phải cố gắng để nói đến.

Trên thực tế, những gì chúng ta đã định nghĩa như là " lòng ao ước Thiên Chúa " không phải hoàn toàn biến mất đi và hiện diện ngay cả ngày nay bằng nhiều cách, trong tâm hồn con người.

Lòng ước muốn con người luôn luôn hướng về một số của cải cụ thể, thường khi không có gì là thiêng liêng.

Tuy nhiên con người phải đứng trước câu hỏi về vật gì thực sự là " của cải " tuyệt đỉnh, và như vậy phải lượng ước mình với thực thể mà chính mình không thể tạo nên được, nhưng được mời gọi hãy nhận biết.

Thực thể nào có thể làm thoả mãn được con người ?

1 - Trong Thông Điệp đầu tiên của tôi, Deus caritas est, tôi đã tìm cách phân tích thế nào tính năng động nầy thực hiện được trong kinh nghiệm tình yêu con người, kinh nghiệm mà trong thời đại chúng ta được cảm nhận dễ dàng như là lúc ngất trí, ra khỏi chính mình, như là nơi mà con người cảm thấy mình có một ao ước vượt quá khả năng của mình đang đi xuyên qua.

Qua tình yêu, người nam và người nữ cảm nhận được, người nầy nhờ người kia, sự cao cả và vẻ đẹp của đời sống và thực tế.

Nếu điều mà tôi có được kinh nghiệm không phải chỉ là một ảo tưởng, nếu thực sự tôi muốn điều tốt đẹp cho người khác như là phương thức điều tốt đẹp cho cả chính tôi, thì tôi phải sẵn sàng vượt qua khỏi chính tôi, để phục vụ người đó, đến độ khước từ cả chính bản thân mình.

Như vậy, lời giải đáp cho câu hỏi về ý nghĩa kinh nghiệm tình yêu đi ngang qua động tác thanh tẩy và làm bình phục lại ý muốn, được đòi buộc bởi chính lợi ích mà chúng ta muốn cho người khác.

Chúng ta cần phải thực hành, luyện tập, cả sửa đổi, để cho điều tốt đẹp đó là điều thực sự được ao ước.

2 - Cuộc ngất trí khởi đầu, như vậy, được thể hiện thành cuộc hành trình,

- " cuộc ra đi vĩnh viễn khỏi cái tôi đóng kín nơi mình, hướng về cuộc giải thoát chính mình trong thái độ hiến tặng mình, và chính như vậy hướng về việc tìm lại được chính mình, đúng hơn hướng về việc khám phá ra Thiên Chúa " ( Enc. Deus caritas est, 6).

Qua cuộc hành trình nầy, con người sẽ tìm hiểu sâu đậm hơn về tình yêu mà mình có được kinh nghiệm ban đầu. Và sẽ đi sâu hơn nữa vào mầu nhiệm mà tình yêu đó thể hiện lên: thật vậy ngay cả người mình yêu có thể thoả mãn được lòng ước muốn đang có trong tâm hồn con người. Đúng hơn, tình yêu đối với người khác càng chính đáng bao nhiêu, tình yêu đó càng mở ngỏ rộng rãi hơn cho câu hỏi về căn nguyên và cùng đích của tình yêu, về tính cách có thể để cho tình yêu đó được kéo dài vô tận.

Như vậy, kinh nghiệm con người về tình yêu mang nơi mình động năng vượt quá chính mình: Đó là kinh nghiệm của một gia tài, khiến cho con người vượt qua khỏi chính mình và làm cho mình đứng trước mầu nhiệm liên hệ đến cả cuộc sống mình.

Nhưng suy tư tương tợ cũng có thể liên quan đến những kinh nghiệm khác của con người, như tình bạn hữu, kinh nghiệm về vẻ đẹp, lòng qúy chuộng đối với kiến thức: mỗi kinh nghiệm mà con người có được đưa con người đến mầu nhiệm đang bao gồm chính con người, mỗi mối ao ước hiện diện nơi trái tim con người, trở thành tiếng dội của lòng ao ước căn bản, mà không bao giờ có thể được thoả mãn bởi lòng ao ước sâu thẩm đó, đang ẩn giấu một điều gì bí ẩn, mà con người với đức tin không thể trực tiếp đạt đến được.

Nói cho cùng, con người biết điều không thể làm cho mình thoả mãn được, nhưng không thê tưởng tượng hay định nghĩa được điều có thể làm cho mình kinh nghiệm được niềm hạnh phúc mà mình đang nhớ nhung trong lòng.

Không thể biết được Thiên Chúa chỉ bằng lòng ao ước của con người.

Từ nhãn quang đó, mầu nhiệm vẫn cón bí ẩn: con người là người đi tìm Đấng Tuyệt Đối, đi tìm bằng những bước đi nhỏ bé và không có gì chắc chắn.

Tuy nhiên bằng kinh nghiệm của lòng ao ước, của " trái tim áy náy ", như Thánh Augustino đã nói đến, kinh nghiệm đó khá có ý nghĩa. Kinh nghiệm đó chứng tỏ cho chúng ta thấy rằng con người, trong nội tâm sâu thẩm của mình, là một thực thể tôn giáo ( cfr Cattechismo della Chiesa Cattolica, 28), " một người hành khất van xin Chúa " .

Chúng ta có thể dùng chính ngôn từ của Pascal:

- " Con người vô tận vượt quá con người " ( Pensieri, de. Chevalier 438; ed. Brunschvicg 434).

Đôi mắt chúng ta nhận ra được các vật thể, khi nào chúng được chiếu rọi bởi ánh sáng. Từ đó lòng ước muốn hiểu biết được chính ánh sáng làm sáng chiếu các vật thể trên thế giới và bằng những vật thể đó làm sáng tỏ lên ý nghĩa của vẻ đẹp.

Bởi đó chúng ta phải cho rằng cả trong thời đại chúng ta, bên ngoài có vẻ như chiều kích thiêng liêng bị giảm thiểu đi, cũng có thể mở ra một lộ trình hướng về ý nghĩa tôn giáo đích thực của cuộc sống, chứng tỏ cho thấy rằng ơn ban đức tin không phải là điều xuẩn động, phi lý.

Có lẽ phải là một hữu ích lớn lao, cho mục đích đó,

- phát động một loại phương pháp sư phạm của lòng ước muốn,

- hay một cuộc hành trình cho những người chưa tin, cũng như cho cả những ai đã được ơn đức tin.

Một phương pháp sư phạm gồm cả hai phương diện. Trước tiên tìm hiểu hoặc học lại hương vị đích thực của những niềm vui cuộc sống. Không phải tất cả mọi sự thoả mãn đều tạo ra nơi chúng ta cùng một tác dụng:

- một vài thoả mãn để lại một dấu vét tích cực, có khả năng làm cho tâm hồn được yên ổn, làm cho chúng ta năng động hơn và rộng lượng hơn;

- những thoả mãn khác trái lại, sau ánh sáng lúc ban đầu, có vẻ làm cho thất vọng các sự mong đợi đã được đánh thức và để lại sau mình sự cay đắng, không thoả mãn hay cảm tưởng rổng không.

Giáo dục từ thời thơ ấu để biết thưởng thức các niềm vui đích thực, trong tất cả mọi bối cảnh sống - gia đình, tình bạn hữu, tình liên đới hỗ tương đối với những ai đau khổ, khước từ chính cái tôi của mình để phục vụ người khác, lòng yêu chuộng đối với sự hiểu biết, nghệ thuật, các vẻ đẹp, thiên nhiên - tất cả những điều đó có nghĩa là làm nảy sinh ra hương vị nội tâm và nảy sinh ra kháng thể hữu hiệu chống lại thái độ tầm thường hoá và phẳng lặng hoá hiện đang phổ biến ngày nay.

Cả người lớn cũng cần khám phá lại các niềm vui nầy, ao ước có được thực tế thực sự, tinh chế mình khỏi trạng thái tầm thường mà mình cảm thấy mình bị vướng mắc. Như vậy sẽ trở nên dễ dàng hơn để bỏ rơi hoặc khước từ tất cả những gì , mặc dầu bên ngoài có vẻ hấp dẫn, nhưng thực sự tỏ ra nhạt nhẽo, nguồn gốc của nghiện ngập và không tự do.

,Và điều đó làm trổi vượt lên lòng ao ước Thiên Chúa, mà chúng ta đang đề cập đến.

3 - Một phương diện khác cùng song bước với khiá cạnh trước, đó là không bao giờ hài lòng về những gì đã đạt được.

Chính các niềm vui đích thực là những gì có khả năng giải thoát trong nội tâm chúng ta niềm áy náy lành mạnh , làm cho chúng ta trở nên kỳ vọng hơn - ao ước một điều tốt đẹp cao cả hơn, sâu đậm hơn - và đồng thời nhận thức được luôn luôn rõ ràng hơn rằng không có gì hữu hạn có thể lấp đầy con tim chúng ta.

Như vậy chúng ta, không được trang bị, sẽ học biết được hướng đến điều tốt lành mà chúng ta không thể xây dựng được hay bằng sức mạnh của mình tạo nên được, học biết được không để mình bị thất vọng bởi mệt nhọc hay trở ngại đến từ tội lỗi của chúng ta-

Nhưng về vấn đề nầy, chúng ta đừng quên rằng sự năng động của lòng ao ước luôn luôn được mở rộng cho sự cứu độ.

Ngay cả khi lòng ao ước đó bị lái đi trên những con đường sai trái, khi đuổi theo các thiên đàng nhân tạo và dường như mất đi khả năng hội nhập vào sự tốt đẹp đích thực.

Ngay cả bên bờ vực thẳm của tội lỗi, không tắt đi nơi con người tia lửa trong nội tâm mình,

- cho phép con người nhận ra được sự tốt đẹp đích thực, thưởng thức được,

- và như vậy bắt đầu một cuộc hành trình đi lên , mà Thiên Chúa với ơn sủng của Người, không bao giờ làm thiếu đi sự giúp đỡ của Người.

Hơn nữa, tất cả chúng ta đều cần bước đi trên con đường thanh tẩy và chữa trị lòng ao ước.

Chúng ta là những khách hành hương hướng về quê hương thiên quốc, về sự tốt lành đích thực, vĩnh viễn, mà không gì có thể cướp đi được.

Như vậy, không phải là trấn áp lòng ao ước trong trái tim con người, mà là giải thoát nó, để cho nó có thể đạt đến cao độ đích thực của mình.

Khi trong ao ước cửa sổ hướng về Thiên Chúa được mở ra, điều đó đã là dấu chỉ sự hiện diện của đức tin trong tâm hồn, đức tin là một ân sủng của Chúa.

Vẫn Thánh Augustino xác nhận rằng:

- " Với sự chờ đợi, Thiên Chúa mở rộng lòng ao ước của chúng ta; với lòng ao ước, Thiên Chúa mở rông tâm hồn và bằng cách mở rộng tâm hồn, Chúa làm cho tâm hồn trở nên có khả năng " ( Commento alla Prima Lettera di Giovanni, 4,6:PL 35,2009).

Trong cuộc hành hương nầy, chúng ta cảm thấy mình là

- anh em của tất cả mọi người,

- bạn đồng hành cả đối với những ai không tin, của những ai đang tìm kiếm, của những ai với lòng thành thật đang để cho sức năng đọng của lòng ao ước sự thật và điều tốt lành hỏi mình.

Chúng ta hãy cầu nguyện trong Năm Đức Tin nầy, xin Chúa tỏ ra diện mạo của Người cho tất cả những ai đang tìm kiếm Người với lòng thành thật.

Cam ơn Anh Chị Em.

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Thông tấn www.vatican.va, 07.11.2012).

 
HOC HOI DE SONG DAO # 42 = SU THUONG PHAT DOI DOI PDF Print E-mail

SỰ THƯỞNG PHẠT ĐỜI ĐỜI

Hỏi: Nhân tháng cầu cách riêng cho các linh hồn (tháng 11), xin Cha giải thích hai câu hỏi sau :

1- tạo sao Thiên Chúa là tình thương và tha thứ lại có thể phạt con người trong nơi gọi là hoả ngục được? Và thực sự có nơi gọi là "hoả ngục" hay không ?

2- Luyện tội là nơi nào và dành cho ai ?

Trả lời:

1- Đúng, Thiên Chúa là tình yêu như Thánh Gioan đã quả quyết. (x.1Ga :4:8)

Chính vì yêu thương nên Thiên Chúa đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Giêsu-Kitô, Đấng cũng vì yêu thương con người mà đã tự hiến chiu khổ hình thập giá để "hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28) Thiên Chúa tuyệt đối không được lợi lộc gì và cũng không hề muốn tìm lợi lãi gì cho riêng mình mà phải làm việc này. Đây là điều chắc chắn chúng ta phải tin và cảm tạ Chúa về tình thương vô biên của Người là Cha nhân lành.

Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã ban cho con người sự khác biệt độc đáo so với mọi loài thụ tạo khác: đó là có trí hiểu biết và ý muốn tự do (intelligence and free will). Nghĩa là Ngài không tạo dựng loài người như những người máy "robots" chỉ biết thi hành theo mệnh lệnh của người điều khiển, mà là những tạo vật có lý trí và tự do để nhận biết và chọn lựa. Thiên Chúa hoàn toàn tôn trọng ý chí tự do này của con người. Do đó, con người phải chịu trách nhiệm trước Chúa về mọi chọn lựa của mình khi sống trên trần gian này.

Và cũng chính vì con người có lý trí và tự do nên mới có vấn đề thưởng phạt được đặt ra. cho riêng con người trước Thiên Chúa giầu tình thương nhưng cũng rất công minh khi phán xét con người

Nhưng truớc khi đi sâu vào sự thưởng phạt của Thiên Chúa, chúng ta cần biết xem Kinh Thánh và Giáo lý của Giáo Hội nói gì về nơi gọi là "hoả ngục = hell"

A- Kinh Thánh

Trước hết, Ngôn sứ Isaia đã dùng hình ảnh sau đây để nói về nơi trừng phạt đời đời của những ai chối bỏ Thiên Chúa và tình thương của Người để làm những sự dữ trái nghịch hoàn toàn với tình thương và bản chất cực tốt cực lành của Chúa:

"Khi ra về, mọi người sẽ thấy xác những kẻ phản loạn chống lại Ta vì giòi bọ rúc tiả, chúng sẽ không chết, lửa thiêu đốt chúng sẽ không tàn lụi. Chúng sẽ là đồ ghê tởm cho mọi người phàm". (Is 60:24)

Sau này, khi đến trong trần gian để rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần nói đến hoả ngục và hình phạt ở nơi này như sau:

"Nếu mắt ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết, lửa không hề tắt." ( Mc 9: 47- 48)

Nơi khác, Chúa còn nói rõ thêm: "Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục." (Mt 10:28)

Thánh Gioan Tông Đồ cũng quả quyết như sau về sự hư mất đời đời dành cho những ai không yêu mến người khác như Chúa dạy:

" Phàm ai ghét anh em mình, thì là kẻ sát nhân

Và anh em biết : không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó. (1 Ga 3 : 15)


B - Giáo Lý của Giáo Hội

Từ ngữ hoả ngục (hell) được dịch từ chữ "Sheol" của Do Thái, hay "Hades" của Hy lạp để chỉ nơi ở của những người không được nhìn thấy Thiên Chúa, là nguồn vui và hạnh phúc bất diệt.. Đây chính là nơi mà Chúa Giêsu đã nhiều lần nói đến trong khi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Nơi này "dành cho những ai, cho đến lúc chết, vẫn từ chối tin và trở lại. Đó là nơi cả hồn lẫn xác sẽ bị hư mất. Và danh từ "hoả ngục" được dùng để chỉ tình trạng ly khai chung cuộc khỏi mọi hiệp thông với Thiên Chúa và các thánh trên trời." (x.SGLGHCG, số 633, 1033).

Vì thế Giáo Hội, theo gương Chúa Giêsu, cũng tha thiết và nghiêm trọng "cảnh cáo các tín hữu về thực tế đáng buồn và thảm khốc của sự chết đời đời, còn được gọi là hoả ngục" (x. Sđd, số 1056-58)

Giáo lý của Giáo Hội cũng nói thêm là " Linh hồn của những người chết trong tình trạng mang tội trọng sẽ lập tức xuống hoả ngục, lửa vĩnh viễn." (x. Sđd số 1035)

Nói rõ hơn, những ai biết mình đang có tội trọng như giết người, ngoại tình, âm mưu giết vợ hay chồng của người khác để cướp vợ hay chồng của họ, trôm cướp, tống tiền, làm chứng gian để hại người khác...thì phải nhanh chóng chạy đến với bí tích hòa giải để xưng và đền bù thiệt hại gây ra cho người khác ( trộm cắp) để được tha tội và nối lại tình thương với Chúa, là Đấng gớm ghét mọi tội lỗi nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết sám hối xin tha.

Như vậy, qua những bằng chứng trên đây, chúng ta không có lý do gì để nghi ngờ hay phủ nhận sự tồn tại của một nơi đáng sợ hãi gọi là "hoả ngục", tức là nơi hoàn toàn đối nghịch với "Thiên đàng" (paradise), là chỗ "vinh phúc cho ta được thông phần vào bản tính Thiên Chúa và được sống đời đời" sau khi đã hoàn tất hành trình đức tin trong trần thế này theo lời dạy của Thánh Phêrô. (x. 2 Pet 1:4)

C-- Chúa có phạt ai xuống hoả ngục hay không?

Như đã nói ở trên, Thiên Chúa là tình yêu và giầu lòng tha thứ, là " Đấng cứu độ chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( x.1 Tm 2:4). Nghĩa là, Thiên Chúa không tiền định hay muốn cho ai phải hư mất đời đời, tức là phải phạt trong nơi gọi là hoả ngục. Lý do là vì " Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời". (Ga 3: 16)

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, Thiên Chúa tạo dựng con người với hai đặc tính độc đáo là có lý trí và ý chí tự do. Lý trí để nhận biết và ý muốn tự do để lựa chọn. Như vậy, nếu Chúa bắt buộc con người phải yêu mến Ngài thì tình yêu này sẽ không có giá trị vì như thế con người sẽ mất hết tự do lựa chọn và sống như mọi loài thụ tạo khác mà thôi. Chính vì Thiên Chúa ban cho và hoàn toàn tôn trọng cho con người sử dụng ý chí tự do ( free will) nên sự chọn lựa của cá nhân mới có giá trị thưởng phạt.

Nói khác đi, Thiên Chúa không ép buộc ai phải yêu mến và sống theo đường lối của Ngài. Ngược lại, Ngài chỉ mời gọi và tuỳ con người tự do đáp trả như tác giả Đệ Nhị Luật đã viết:

"Hôm nay tôi lấy trời đất làm chứng để cáo tội anh (em): tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn được sống hay phải chết, được chúc phúc hay bị nguyền rủa. Anh (em) hãy chọn để anh (em) và dòng dõi anh (em) được sống." (Đnl 30:19)

Do đó, nếu con người sử dụng ý muốn hay ý chí tự do (free will) mà khước từ Thiên Chúa để sống theo ý riêng của mình thì Thiên Chúa sẽ tôn trọng và người ta phải hoàn toàn chịu mọi hâu quả về sự chọn lựa của mình trong cuộc sống trên trần gian này cho đến chết.

Thực tế khắp nơi và ở mọi thời đại đã cho ta thấy rõ là : có biết bao triệu người đã và đang chọn nếp sống phóng túng, gian ác, lưu manh, trộm cướp, bóc lột, gian dâm, khủng bố, giết người, dâm ô, và tôn thờ tiền bạc, vật chất với mọi thú vui vô luân, vô đạo. v.v... Đây là những lối sống hoàn toàn đi ngược với mọi Thánh chỉ của Thiên Chúa và Tin Mừng Cứu Độ mà Chúa Giêsu đã rao giảng và trả giá bằng chính cái chết của Người trên thập giá năm xưa..

Nếu người ta cương quyết chọn con đường sai trái và từ chối hoán cải để được tha thứ và cứu độ thì họ đã tự ý chọn lựa cho mình nơi ở dành cho những kẻ đã khước từ Thiên Chúa là tình thương, an vui, công bình và thánh thiện. Nghĩa là, nếu cuộc sống trên đời này có dẫn đưa ai cuối cùng phải dừng chân ở nơi gọi là "hoả ngục" thì đó hoàn toàn là hậu quả tất nhiên của sư tự do cá nhân muốn chọn lựa, chứ không phải vì Chúa muốn trừng phạt ai, hay tiền định cho ai phải chịu hình phạt đáng sợ này. Như vậy, phải hiểu án phạt hoả ngục theo nghĩa con người có lý trí và tự do đã chọn lựa cho mình một nếp sống hoàn toàn trái ngược với cuộc sống dẫn đưa đến hạnh phúc thiên đàng như Chúa hứa ban cho những ai thành tâm ước muốn khi còn sống trên đời này.Cho nên, không có gì là tàn nhẫn hay trái ngược với tình thương vô biên của Thiên Chúa là Đấng "muốn cho mọi người được cứu độ" và sống đời đời.

Mặt khác, sở dĩ phải đặt vấn đề "thưởng phạt đời đời" là vì sự có mặt của tội lỗi và sự dữ trong trần gian này như một thực tế không ai có thể phủ nhận được

Đó là chiến tranh, vì quyền lợi kinh tế hay chính trị, đang giết hại hàng trăm ngàn người vô tội ở Iraq, Afghanistan, Libya, Syria...Đó là những kẻ đang khai thác kỹ nghệ mãi dâm, sản xuất phim ảnh đồi trụy, buôn bán ma túy, phụ nữ và trẻ em cho những kẻ tìm thú vui dâm ô vô cùng khốn nạn này ở khắp nơi trên thế giới. Đó là các tập đoàn tư bản xanh và đỏ đang gia sức bóc lột dân nghèo, lấy của công làm của tư, độc quyền cai trị, kinh doanh và thao túng thị trường để vơ vết của cải cách bất công, vô nhân đạo.

Nghĩa là, bao lâu còn sống trên trần gian này và trong bản chất yếu đuối do hậu quả của tội Nguyên tổ, con người sẽ luôn luôn bị giằng co giữa sự dữ và sự thiện, giữa cái tốt và cái xấu đối chọi nhau như ánh sáng và bóng tối.

Nếu nhờ đức tin và lý trí, chúng ta nhận biết và tin có Thiên Chúa là Cha nhân lành, là Đấng tạo dựng mọi loài mọi vật, là Chân Thiên Mỹ tuyết đối, thì lời mời gọi sẽ là: hoặc chọn Chúa để yêu mến và sống theo đường lối của Người hay chối bỏ Chúa để buông mình sống theo những đòi hỏi, quyến rũ của trần gian về danh vọng, tiền tài, vui thú vô luân vô đạo và bịt tai nhắm mắt không nghe tiếng lương tâm và không còn nhìn rõ lằn ranh giữa sự thiện và sự dữ, sự tội đầy rẫy trong trấn thế này.

Do đó, nếu ai phải bị hư mất đời đời trong nơi gọi là "hỏa ngục" thì đó chính là hậu quả chọn lựa của người ấy khi sống trên trần thế này, chứ không phải vì Thiên Chúa đã tiền định hay muốn phạt ai xuống hỏa ngục. Trong tinh thần đó, ân thưởng mà Thiên Chúa hứa ban được ví như bàn tiệc với những thực phẩm tối hảo, trường sinh bất tử mà Người đã dọn sẵn và mời mọi khách đến thưởng thức.

Nếu ai từ khước tham dự Bàn tiệc Nước Trời, thì dĩ nhiên họ không được hưởng những thực phẩm tối cần cho sự sống đời đời, khiến phải chết đói, chết khát là hậu quả tất yếu họ phải gánh chịu vì đã tự do chọn lựa như thế.

2-Luyện Tội ( Purgatory) là gì ?

Theo giáo lý của Giáo Hội thì Luyên Tội hay Luyện ngục là nơi dành cho " những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn thì, tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết hầu đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng." ( x . SGLGHCG, số 1030)

Nói rõ hơn, một người sau khi chết sẽ tức khắc bị phán xét riêng để nếu đã thánh thiện đủ thì được vào ngay nơi gọi là "Thiên đàng" để sống hạnh phúc muôn đời với Thiên Chúa. Ngược lại, nếu đã phạm mọi tội nghịch cùng Thiên Chúa và hoàn toàn từ khước Người cho đến hơi thở cuối cùng thì sẽ vào nơi gọi là "hỏa ngục" như đã giải thích ở trên.Nhưng điều này chỉ có Chúa biết mà thôi và không ai trong Giáo Hội có thể biết được. Vì thế, Giáo Hội vẫn dạy phải cầu cho mọi người đã qua đời kể cả những người đã tự tử chết, vì không biết số phận đời đời của họ ra sao, sau khi chết.

Giữa Thiên Đàng và hỏa ngục, còn nơi thứ ba gọi là Luyện ngục hay Luyện tội là nơi dành cho những linh hồn đã lìa đời trong on nghĩa của Chúa, nhưng chưa thánh thiện đủ để vào ngay Thiên Đàng mà cần được thanh luyện thêm ở nơi này một thời gian trước khi được vào chốn an nghỉ muôn đời với Chúa trên Thiên Đàng.

Cũng theo giáo lý của Giáo Hội, thì các Thánh ở trên trời, các linh hồn thánh trong Luyện Tội và các tín hữu còn sống đều hiệp thông với nhau trong lời cầu nguyện, ca ngượi và cảm tạ dâng lên Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng " chậm giận và giầu tình thương ." ( Tv 103: 8).

Đây là tín điều các Thánh thông công mà Giáo Hội dạy con cái mình tin và sống trong cuộc lữ hành tiến về Quê Trời. Nghĩa là các Thánh trên Thiên Đàng có thể cầu bầu đắc lực cho các linh hồn trong Luyện ngục và cho các giáo hữu còn sống trên trần gian. Các linh hồn trong Luyện ngục cũng có thể cầu xin hữu hiệu cho các tín hữu còn sống, nhưng không thể tự giúp mình được vì thời giờ làm việc lành phúc đức đã hết.Vì thế, các linh hồn mong đợi các tín hữu còn sống làm việc lành để cầu cho các linh hồn sớm được đón nhận vào Thiên đàng. Vì thế, chúng ta được khuyên khích cầu nguyện cách riêng cho các linh hồn trong tháng 11 là tháng dành để cầu xin cho các linh hồn đang còn được thanh luyện trong nơi Luyện tội. Giáo Hội ban ân xá ( Indulgences) để tha các hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) cho người còn sống và cho các linh hồn trong Luyện tôi. Hình phạt hữu hạn hay việc đền tội là việc xin tẩy xóa những hậu quả của các tội nặng nhẹ đã được tha qua bí tích hòa giải. Tội được tha nhưng hậu quả của tội còn để lại trong tâm hồn hối nhân. Do đó, mọi hối nhân, sau khi xưng tội cách thành thật, đều phải làm việc gọi là "đền tội" do cha giải tội ấn định.

Nhằm mục đích tha hay tẩy xóa các hình phạt hữu hạn, Giáo Hội ban một đặc ân gọi là ân xá ( Indulgence) lấy trong kho tàng ơn cứu chuộc của Chúa Kitô và công nghiệp của Đức Mẹ và các Thánh để ban cho các tính hữu còn sống hay các linh hồn trong Luyện tội. Ân xá được ban trong những dịp đặc biệt như trong tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11) trong Năm Thánh ( Year of Jubilee) Năm Đức Tin ( năm nay cho đến 24 tháng 11 năm 2013). Ân xá có thể là từng phần ( partial indulgence) hay toàn phần tức ân toàn xá ( full indulgences) để tha các hình phạt hữu hạn nói trên. Do đó, mọi tín hữu đang hiệp thông với Giáo Hội có thể lãnh ân xá để xin tha hình phạt hữu hạn cho mình hay nhường lại cho các linh hồn nơi Luyện Tội, nhưng không thể nhường cho các tín hữu còn sống.

Muốn hưởng ân toàn xá thì các tín hữu phải thi hành một số việc lành ấn định như xưng tội, rước Mình Thánh Chúa, viếng nhà thờ và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha.Về việc viếng nhà thờ thì trong tháng 11 có thể viếng bất cứ nhà thờ nào cũng được. Riêng cho Năm thánh hay Năm Đức Tin thì phải viếng nhà thờ nào được Giáo quyền địa phương ( Đức giám mục) chỉ định để được ân xá. Vậy chúng ta hay sốt sắng làm những việc lành thường lệ để lãnh ân xá cầu cho các linh hồn trong tháng 11 này, và trong suốt Năm Đức Tin đang mở ra trong toàn Giáo Hội.

Tóm lại, có Thiên Đàng là nơi dành cho những ai yếu mến và tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự và xa lánh mọi tội lỗi bao lâu còn sống trên trần gian này. Cũng có hỏa ngục là nơi dành cho những người đã tự do chọn chỗ này cho mình khi tự ý khước từ Thiên Chúa để sống theo ma quỉ, xác thịt và trần gian cho đến hơi thở cuối cùng.Ở giữa hai nơi trên là chốn thanh luyện các linh hồn chưa được tẩy sạch mọi hậu quả của tội lỗi trước khi được gia nhập hàng ngũ các Thánh và các Thiên Thần trên Thiên Đàng.

Ước mong giải đáp này thỏa mãn các câu hỏi được đặt ra.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 41 =DTC CHUC MUNG DUC TAN THUONG PHU CHINH THONG GIAO PDF Print E-mail

 

Đức Thánh Cha chúc mừng Đức Tân Thượng Phụ Chính Thống Copte

LM. Trần Đức Anh OP11/5/2012

VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 nồng nhiệt chúc mừng Đức tân Thượng Phụ Anba Tawadros, Giáo Chủ Chính Thống Copte Ai Cập.

Đức Thượng Phụ Tawadros, nguyên là GM phụ tá giáo phận Beheria, đã đắc cử hôm 4-11-2012, kế nhiệm Đức Thượng Phụ Shenuda III, 88 tuổi, qua đời hồi tháng 3 năm nay, sau 40 năm cai quản Giáo Hội này.

Trong điện văn công bố hôm 5-11-2012 tại Vatican, ĐTC bày tỏ với Đức tân Thượng Phụ, toàn thể hàng giáo sĩ và tín hữu, những lời cầu chúc tốt đẹp nhất và tình liên đới trong kinh nguyện, xin Chúa tuôn đổ phúc lành trên sứ vụ Đức Thượng Phụ sắp lãnh nhận.

ĐTC cũng khẳng định rằng: "Trong thời kỳ có nhiều thách đố hiện nay, điều quan trọng đối với mọi Kitô hữu là làm chứng về tình thương và tình hiệp thông liên kết họ với nhau, nhớ đến lời nguyện của Chúa trong bữa Tiệc Ly: Ước gì chúng được nên một, để thế gian tin (Xc Ga 17,21). Tôi cũng cảm tạ Đấng Tối Cao vì những tiến bộ đã đạt được dưới thời vị tiền nhiệm đáng kính mến của Đức Thượng Phụ, trong quan hệ giữa Giáo Hội Chính Thống Copte và Giáo Hội Công Giáo".

Sau cùng, ĐTC "hy vọng và cầu nguyện để tình thân hữu và đối thoại giữa chúng ta, được Thánh Linh hướng dẫn, sẽ mang lại những thành quả, trong tình liên đới chặt chẽ hơn và sự hòa giải lâu bền".

Lễ nhậm chức của Đức Thượng Phụ Tawadros sẽ được cử hành vào ngày 18-11 tới đây với sự tham dự của Tổng thống Mohammed Mustri cùng với nhiều vị quốc trưởng Âu Châu, các vị đại sứ và nhiều quan chức chính quyền.

Đức tân Thượng Phụ Tawadros năm nay 60 tuổi, nguyên là một dược sĩ trước khi đi tu. Các cơ quan truyền thông Ai Cập đề cao kiến thức thần học cũng như các hoạt động mục vụ của ngài với giới trẻ. Ngài được chọn làm vị Thượng Phụ thứ 118 của Chính Thống Copte theo một thể thức phức tạp, qua nhiều giai đoạn. Và chúa nhật 4-11 vừa qua, một em bé đã bốc thăm chọn 1 trong 3 ứng viên chung kết. Các tín hữu Chính Thống Copte xác tín rằng Chúa dùng một bàn tay trẻ em thơ ngây để chọn người cai quản Giáo Hội. Hôm đó cũng trùng vào sinh nhật thứ 60 của Đức Tân Thượng Phụ.

Chính phủ Ai Cập và đảng Anh em Hồi giáo đã chúc mừng Đức tân Thượng Phụ Tawadros. Trong cuộc phỏng vấn dành cho Đài Vatican, Đức Cha Barnaba El Soryany, GM giáo phận thánh Giorgio của Chính Thống Copte ở Roma nhận định rằng Đức Thượng Phụ Tawadros là một người rất tích cực đối với toàn dân Copte, đặc biệt là ở Ai cập. Việc ngài được chọn thực là một món quà đối với tất cả mọi người. Đức Tawadros cũng là người rất bình tĩnh và được nhiều người yêu mến. "Cùng ngài chúng tôi sẽ tiến bước, và Giáo Hội sẽ tiến bước trong cuộc đối thoại: ngài hy vọng nhiều nơi cuộc đối thoại."

HĐGM Đức đã gửi điện chúc mừng Đức Thượng Phụ Tawadros. Đức TGM Chủ tịch Robert Zollitsch cầu chúc Đức tân Thượng Phụ được Chúa chúc lành trong trách vụ lớn lao và trách nhiệm nặng nề. Đồng thời ngài kêu gọi chính quyền Ai Cập tôn trọng tự do tôn giáo của mọi người dân cũng như cổ võ đối thoại giữa các tôn giáo. Đức TGM Zollitsch ca ngợi sự dấn thân của Giáo Hội Chính Thống Copte trong cuộc đối thoại đại kết đồng thời khẳng định rằng "Tôi rất vui mừng vì có những tiếp xúc tốt đẹp giữa Giáo Hội Chính Thống Copte với Giáo Hội Công Giáo Copte Ai Cập dưới quyền điều khiển của ĐHY Thượng Phụ Antonios Naguib".

Giáo Hội Chính Thống Copte là cộng đoàn Kitô đông nhất tại Ai Cập và bắt nguồn từ thánh Marco Thánh Sử. Số tín hữu của Giáo Hội này được ước lượng từ 5 đến 12 triệu trong tổng số 80 triệu dân Ai Cập. Ngoài ra có khoảng nửa triệu tín hữu Copte sinh sống tại nước ngoài. (KNA 5-11-2012)

 
HOC HOI DE SONG DAO # 40 = NAM DUC TIN =CHU DE 12 THANG PDF Print E-mail

 

Năm Đức Tin: Logo và chủ đề 12 tháng (Corel 7 )

WGPSG -- Các chủ đề hằng tháng trong Năm Đức Tin sẽ được trình bày như một phác thảo nhằm mục đích giúp các vị phụ trách cộng đoàn nối kết việc giảng Lời Chúa với việc đào sâu những chân lý đức tin, việc tuyên xưng với cử hành, sống và thông truyền đức tin. Bản phác thảo gồm những gợi ý vắn được sắp xếp theo bốn phần chính: thách đố và cơ hội, học hỏi và chứng từ, cầu nguyện và cử hành, sống và loan báo Tin Mừng.

Chủ đề 12 tháng:

Tháng 12-2012

CHỦ ĐỀ: ĐỨC GIÊSU KITÔ LÀ THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI

PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

Tháng 01-2013

CHỦ ĐỀ: ĐỨC TIN LÀ MỘT HỒNG ÂN – BÍ TÍCH RỬA TỘI

Tháng 02-2013

CHỦ ĐỀ: TIN LÀ THƯA "VÂNG" VỚI LỜI CHÚA – BÍ TÍCH GIẢI TỘI

Tháng 3-2013

CHỦ ĐỀ: TIN LÀ THEO CHÚA KITÔ TRONG MẦU NHIỆM KHỔ NẠN CỦA NGÀI

ĐƯỜNG THÁNH GIÁ

Tháng 4-2013

CHỦ ĐỀ: MẦU NHIỆM PHỤC SINH CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ

BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Tháng 5-2013

CHỦ ĐỀ: CHÚA THÀNH THẦN LÀ NGUỒN TƯƠI TRẺ - BÍ TÍCH THÊM SỨC

Tháng 6-2013

CHỦ ĐỀ: TIN LÀ SỐNG VỚI CHÚA

VÀ HIỆP NHẤT VỚI NHAU TRONG CHÚA BA NGÔI

Tháng 7-2013

CHỦ ĐỀ: GIÁO HỘI, CỘNG ĐOÀN THỜ PHỤNG

BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH

Tháng 8-2013

CHỦ ĐỀ: GIÁO HỘI, CỘNG ĐOÀN TÌNH YÊU – BÍ TÍCH HÔN PHỐI

Tháng 9-2013

CHỦ ĐỀ: GIÁO HỘI, CỘNG ĐOÀN LOAN BÁO TIN MỪNG

Tháng 10-2013

CHỦ ĐỀ: SỐNG ĐỨC TIN THEO GƯƠNG MẸ MARIA

Tháng 11-2013

CHỦ ĐỀ: SỐNG ĐỨC TIN THEO GƯƠNG CÁC THÁNH TỬ VÌ ĐẠO VIỆT NAM

 
HOC HOI DE SONG DAO # 39 = THÂP DAI BINH - DHY THUAN PDF Print E-mail

 

THẬP ĐẠI BỊNH

Posted on October 28, 2012

by phun5264

THẬP ĐẠI BỊNH

(Ghi lại bài nói chuyện của Đức Tổng Giám mục Phanxicô

Xaviê Nguyễn Văn Thuận với giới trẻ Việt Nam tại Strasbourg, Pháp, chiều

ngày 12.9.1998)

Giới thiệu

Muốn thành công trước hết phải chữa trị tận gốc mười (10) chứng bịnh làm băng hoại xã hội ngày nay.

Cuộc sống cộng đồng và Giáo hội, không những ở Việt Nam mà ngay cả ở hải ngoại, hiện đang có những bất ổn. Không hoặc chưa phát huy được nét tích cực của mình. Do đâu ?

Có rất nhiều căn nguyên. Những căn nguyên này là những chứng bịnh vừa nguy hiểm vừa truyền nhiễm đang hoành hành trong xã hội, và có cơ nguy làm cho cuộc sống xã hội băng rã. Tôi qui chúng lại thành mười bệnh lớn: Thập đại bịnh.

1. Bệnh quá khứ cục bộ

Bệnh này thể hiện qua tâm trạng chỉ nhớ và khen cái quá khứ của mình mà thôi và đóng khung lại trong đó. Ngày tôi bị đưa đi tù ra Bắc, thỉnh thoảng gặp giáo dân và ai cũng hớn hở tâm sự: "Thưa cha, chúng con thấy sung sướng nhất là thời còn Đức khâm sứ . Chúng con đi rước kiệu đầy đường phố, quanh cả bờ hồ Hoàn Kiếm, và thấy Đức khâm sứ quỳ trên chiếc xe, tay cầm Mình Thánh Chúa, mặt ngài sáng láng đỏ hồng như mặt trời. Không biết bao giờ chúng con mới trở lại được như thời kỳ có Đức khâm sứ!". Ta không quên quá

khứ, vì đó là bài học kinh nghiệm, nhưng ta không dừng lại đó, ta nhìn tương lai để xây dựng còn đẹp hơn xưa.

Bà con chỉ sống trong quá khứ, mong trở về quá khứ. Mà thời gian thì bao giờ quay trở lại !

Tôi đi nhiều nơi, gặp nhiều anh chị em tới một tuổi nào đó. Chén thù chén tạc bên nhau than thở: "Biết bao giờ bọn mình trở lại được thời Cộng hoà. Mọi thứ rẻ mạt. Lương tháng mấy nghìn. Một tạ gạo giá chỉ mấy trăm bạc. Sướng thiệt !".

Ta đang ở năm 1998, làm sao mà lùi lại 1960 được !

Do vậy mà chúng ta đâm ra thiển cận. Thay vì nhìn tới thì lại nhìn lui. Giống như người lái xe, không nhìn đằng trước mà cứ chăm chăm vào kính chiếu hậu để ngắm xe sau. Vậy làm sao mà tiến được.

Mà dù thế nào thì mình vẫn phải sống. Quá khứ không bao giờ trở lại. Và thời gian thì cứ tiến mãi.

Nhìn lại gương Chúa Giêsu. Từ trời cao xuống thế, Ngài cứ nhắm tới, một mạch đi tới và cứ nói: "Thầy sẽ lên thành Giêrusalem chịu nạn". Ngài dư biết cuộc tử nạn sẽ rất đau đớn, nhưng vẫn đi tới, chấp nhận. Bởi qua cái đau khổ đó con người được cứu độ.

Cũng vậy, nếu chúng ta muốn cho Đất nước và Giáo hội mình tiến, thì phải nhìn về tương lai. Không quên quá khứ, vì đó là bài học cho tương lai. Nhưng đừng có viễn mơ lui lại quá khứ.

Mỗi người, mỗi thời đại đều có cái hay, cái đẹp. Phải làm sao biết khai triển cái hay cái đẹp đó cho hiện tại đang sống, chứ đứng đó mà than thở tiếc nuối thì ích gì ! Nhìn quá khứ để tạ ơn Chúa, để sám hối. Nhìn hiện tại để hăng say phục vụ với trách nhiệm – Nhìn tương lai với hy vọng.

2. Bệnh tiêu cực bi quan

Những người mang bệnh này cứ chỉ trích kinh niên. Khi nào cũng có chuyện để chỉ trích. Một người làm cả đám phá. Một chính đảng lên thì các đảng khác xúm nhau phá. Phải đạp nó xuống thì mình mới lên được chứ !

Bệnh chỉ trích phát sinh từ lòng ích kỷ hoặc kiêu căng. Một biểu hiện song hành của bệnh này là người chỉ trích thường hay thiếu tự tin.

Người tiêu cực cái gì cũng chỉ trích. Nhưng khi được yêu cầu đưa đề nghị thì "để xem đã", hoặc có ai đưa ra đề nghị gì thì lại lắc đầu "không làm nổi đâu" !

Người tiêu cực thì bất cứ một cơ hội nào cũng là một tai họa cho mình (for the pessimists every opportunity is a calamity). Trái lại, người lạc quan thì bất cứ tai họa nào cũng là một cơ hội cho mình (for the optimists every calamity is an opportunity).

Người ta kể câu chuyện: Một công ty lớn gởi hai đại diện sang một nước Phi châu để nghiên cứu thị trường tiêu thụ giày dép. Trở về điều trần, một vị lắc đầu: Thưa quý vị, không có cách gì tiêu thụ được; người dân ở đó chỉ đi chân đất, có ai đi giày dép đâu ! Trong khi đó vị kia lại hớn hở: Thưa quý vị, chuyến này chúng ta thắng lớn; cả một lục địa mênh mông chưa có ai có giày dép để đi cả !

Người tích cực thì lạc quan. Kẻ tiêu cực bi quan. Tùy theo cách nhìn mà vấn đề nẩy sinh. Người Pháp nói: Đừng trách rằng tối; tối là vì mình không chịu thắp đèn lên thôi ! Đức Gioan Phaolô II kêu gọi: "Đừng sợ", vì ta tin vào Thiên Chúa quyền năng và yêu thương, ta tin con người có thiện chí, ta tin vào mình có Chúa giúp.

3. Bệnh phô trương chiến thắng

Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính. Bệnh này tiếng pháp gọi là triomphalisme; người Mỹ cũng có từ ngữ show up.

Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng: Đại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế ... Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Đại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về ! Hãy cai chứng bệnh phô trương, vì cái chiều

sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?

Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, Cộng đoàn hiêp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự.

4. Bệnh cá nhân chủ nghĩa

Các nhà phân tích cho hay người Âu châu bị bệnh này nặng hơn. Nhưng mình cũng không kém. Thời đại này đâu đâu cũng nghe người ta hô hào đoàn kết (Solidarité). Mà xem ra càng hô hào đoàn kết chừng nào, thì bệnh cá nhân lại nặng chừng nấy !

Biểu hiện của bệnh này: Mình là nhất, là trung tâm của vũ trụ. Mình chiếm độc quyền, ngay cả độc quyền thờ Chúa, độc quyền yêu Nước. Không muốn ai chia sẻ với mình, vì sợ người ta hơn. Người ta không tiếp tay với mình thì trách. Nhưng khi tiếp tay thì lại chỉ muốn họ đứng sau lưng mình mà thôi.

Cá nhân chủ nghĩa phát sinh từ lòng ích kỷ. Kính Chúa, yêu người thực chất là vì mình, vì lợi cho mình chứ chẳng phải vì Chúa vì người gì cả.

Người ta kể chuyện vui: Một số Hồng y và Giám mục ngồi ăn cơm chung với Đức Thánh Cha. Có mấy vị hỏi ngài: Thưa ĐTC, nghe nói có bí mật Fatima, ĐTC có thể nói cho chúng con nghe được không. ĐTC bảo: Bí mật mà, nói sao được. Nghe thế các ngài càng tha thiết: ĐTC đừng sợ, chúng con cam đoan sẽ dấu rất kỹ, không hở miệng. Sau năm lần bảy lượt nghe năn nỉ, ĐTC mỉm cười trả lời: Đức Mẹ Fatima bảo rằng đóng cửa Đức Mẹ Lộ-Đức lại !

Câu chuyện khôi hài này muốn nói lên cái cá nhân chủ nghĩa của con người ngày nay. Đức Mẹ Fatima sợ Đức Mẹ Lộ Đức nổi tiếng hơn và do đó khách hành hương đến viếng đông hơn nên đề nghị dẹp Lộ-Đức.

Chẳng đâu xa xôi. Quanh ta cũng không thiếu thí dụ. Hai nhà thờ cạnh nhau, chuông bên này kêu thì bên kia phải làm sao để kêu hơn. Câu chuyện nầy có thật. Một giáo xứ xin Đức cha cho một quả chuông. Về đánh lên thì bà con giáo xứ bên cạnh sốt ruột khó chịu, liền cùng nhau kéo xin phép đổi một quả chuông lớn hơn. Khệ nệ mang về, đánh lên thì ai nấy thất vọng. Tưởng chuông lớn hơn thì tiếng phải hay hơn. Ai dè âm thanh của chuông thường đã được định chuẩn sẵn; theo nốt nhạc, cái chuông mới trùng một nốt nhạc với chuông cũ!

Trong Giáo hội có một điểm quan trọng, đó là tính đa diện (Pluralité). Giáo hội không đòi hỏi phải đồng bộ, nhưng trân trọng nét cá biệt của mỗi giáo hội địa phương. Khác nhau hầu bổ túc cho nhau, chứ không phải để rồi tôi đi đường tôi anh đi đường anh.

5. Bệnh lười biếng tránh né

Triệu chứng của bệnh này là sợ tốn sức tốn của, sợ liên lụy, a dua: ai mạnh thì hùa theo. Khi nói thì rất hăng, nhưng vào việc thì viện đủ lý do để che đậy cái hèn nhát và lười biếng của mình. Giữa đại hội thì phát biểu thật hùng hồn, lúc phân việc thì lẩn đâu mất.

Trong đội tù của tôi trước đây có một ông cũng từ miền Nam ra. Mỗi lần họp anh ta phát biểu ào ạt. Đụng chuyện gì cũng dơ tay phát biểu. Nói huyên thuyên mà thường lạc đề. Đến lúc chia việc thì im re. Riết anh em trong tổ ngán. Nên mỗi lần anh ta dơ tay phát biểu là anh em đồng loạt hô: Im mà nghe, đài Mát-cơ-va phát !

Chuyện kể hai nhà thông thái nọ muốn tìm hiểu xem thành phố Rôma có mấy người làm việc. Họ bắt đầu bằng một chuỗi phân tách loại trừ. Trước tiên trừ đi con số trẻ em chưa đến tuổi làm việc, đến số người bệnh tật, số người ở tù, rồi số dân biểu nghị sĩ quanh năm suốt tháng chỉ cãi nhau và dơ tay bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ, số người làm nghề phê bình đá bóng... Cứ thế mà trừ, kỳ cùng chỉ còn lại hai người làm việc, đó là hai nhà thông thái. Nhưng rồi một ông lên tiếng ngay: tôi từ nãy giờ tính toán quá mệt rồi, nên chi tôi bầu anh làm việc tiếp để tôi nghỉ !

Để xây dựng cộng đoàn có trăm công ngàn việc. Việc gì cũng đáng làm. Chẳng cần phải ngồi ghế lãnh đạo mới là làm việc. Việc nào cũng có thể nên thánh, miễn là làm cho tới nơi tới chốn.

Khi ở Dublin một tháng để học hỏi về Đạo binh Đức Mẹ tôi may mắn được gặp người sáng lập, ông Frank Duff. Tôi háo hức, tưởng sẽ diện kiến một nhân vật quốc tế tiếng tăm; người mà các Hồng y, Giám mục khắp nơi đều phải ngồi nghe. Nhưng không ngờ, ông chỉ là một cụ già đưa thư. Hàng ngày khiêm tốn đạp chiếc xe cọc cạch ra bưu điện mang thư về cơ quan, bỏ vào hộp thư của gần một ngàn chi nhánh Đạo binh ở Dublin. Ngưởi ta nói công việc của ông bây giờ chỉ có thế; có tuổi rồi không còn giữ vai trò quan trọng nào nữa; nhưng khi ai cần ý kiến thì ông sẵn sàng đóng góp và hướng dẫn giải quyết.

Đấy, công việc đưa thư hèn mọn có làm giảm tư cách con người đâu!

6. Bệnh chuẩn mực trần tục

Lấy tinh thần, não trạng trần tục làm chuẩn mực cho cuộc sống mình. Làm việc Chúa, nhưng không theo tinh thần Phúc Âm mà lại dùng tiêu chuẩn hoàn toàn trần tục để chuẩn định. Người công giáo kiểu đó thường hay trở thành công giáo tùy thời: Thịnh thì công giáo, suy thì chối. Công giáo vụ lợi: Có mùi vật chất thì tới, không thì miễn. Công giáo danh dự: Chỉ siêng năng xuất hiện khi có lễ lạc được mời lên ghế danh dự, không thì biệt tăm chẳng bao giờ thấy.

Nhiều khi chẳng phải là bản chất, chẳng tội lỗi gì, nhưng là vì mình đua đòi. Chính đua đòi này làm cho cuộc đời khổ sở. Sang đây thấy người ta có xe đẹp, nhà rộng; mình đua đòi muốn hơn người nên phải nô lệ cho công việc, cả nhà làm việc quá mức.

Và chuẩn mực trần thế thường được căn cứ theo báo chí, truyền thanh truyền hình. Báo bảo cái gì hay là hay, cái gì số đông theo là tốt...mặc dù những cái đó không hợp với lương tâm.

Năm ngoái tôi ghé Na Uy tới thăm một bà giáo sư giữ một ghế thứ trưởng trong nội các. Na Uy đa số theo Tin lành và Giáo hội này, như tại các nước Tin lành khác, phải tùy thuộc thế quyền. Bà phàn nàn: nguy quá cha ơi, Giáo hội chúng tôi đang sa lầy trong vòng kềm toả dư luận. Chính phủ ra lệnh cho Giáo hội; Quốc hội ra lệnh (bằng đạo luật) cho chính phủ; mà

đạo luật thì lại hình thành do áp lực dư luận truyền thông; vừa rồi chính phủ mới cách chức hai mục sư vì họ chống lại việc phá thai!

Một số cơ quan truyền thông chửi bới Đức Giáo hoàng, kết ngài vào tội thiếu thực tế, thiếu tiến bộ. Nhưng khi Đức Giáo hoàng đến với giới trẻ thì hàng triệu anh chị em trẻ lại tuôn đến với ngài. Tất cả chỉ vì ngài là người dám nói lên sự thật, bất chấp dư luận. Tuổi trẻ hôm nay đang bị chao đảo trong một thế giới khủng hoảng niềm tin và giá trị. Nên chi họ cần

người tín cẩn dám nói thẳng cho họ đâu là điều đúng, đâu là sai. Cái khó và nguy hiểm của ngày hôm nay là người ta phạm tội, nhưng lại bắt cả nhà nước và Giáo hội coi đó là nhân đức. Chẳng hạn như chuyện đồng tính luyến ái. Dư luận đang bắt mọi giới phải xem đó là chuyện hợp luân thường đạo lý. Giáo hội thương cảm, nhưng Giáo hội cần nói sự thật. Đức Thánh cha nói: "không cần ai bỏ phiếu cho sự thật" vì sự thật vẫn là sự thật.

7. Bệnh đợi chờ phép lạ

Cứ chờ cứ đợi người khác, mà bản thân mình chả chịu làm gì. Mình có làm thì Chúa mới giúp được chứ. Chúa sinh ra mình không cần hỏi ý mình, nhưng để cứu mình Ngài phải cần đến sự cộng tác của ta.

Có bà suốt ngày cầu với Chúa: Con bao nhiêu ngày tháng hy sinh cho cộng đoàn. Nấu cơm, nấu chè, hết việc này đến chuyện nọ. Đâu cũng có mặt. Giúp ngày không đủ tranh thủ giúp đêm giúp thêm giờ nghỉ ! Con chỉ xin Chúa có một điều, vậy mà Chúa không chịu đoái nghe. – Chứ con xin điều gì ? – Dạ xin Chúa cho con trúng vé số, chỉ cần trúng một lần độc đắc thôi ! – Ừ mà Chúa cũng đang đợi bà đây ! – Dạ Chúa đợi gì con đây ? – Thì Ta đang đợi bà mua vé số !

Trong một vụ lụt xe cứu thương rảo khắp phố phường kêu gọi người dân rời nhà di chuyển lên nơi cao để tránh nước lũ. Ông bố của một gia đình bảo với con cháu: Tụi bây đứa nào đi thì đi, còn tao không đi; tin tưởng phó thác vào Chúa thì sao Ngài bỏ rơi được. Nước lũ tới, dâng cao. Ghe cấp cứu lại kêu gào tản cư gấp. Ông già kê bàn kê ghế leo lên rồi giục: Mẹ con

bây đi thì đi nhanh lên, tao không. Nước tiếp tục dâng cao, ông già leo lên mái nhà ngồi. Máy bay trực thăng lượn qua lượn lại, thả dây kêu gọi ông di tản. Ông nhất quyết không đi, bởi tin rằng có Chúa che chở. Và nước ngập cuốn ông đi luôn. Ông gặp thánh Phêrô. Thánh Phêrô hỏi sao lại dạt vào đây. Ông già bực bội trách cứ, tại sao con đặt hết tin tưởng vào Chúa mà Ngài không cứu sống, lại để con chết trôi chết nổi thế này và ông yêu cầu thánh Phêrô mở cửa đưa ông vào Thiên đàng cấp tốc. Thánh Phêrô ngạc nhiên đáp lại: Chúa có cứu ông chứ! Ông có nghe đài báo tin không ? – Có. Ông nghe xe cứu thương kêu gọi không ? – Có. Ông có thấy ghe máy, trực thăng đến cứu không ? – Có. Tại sao ông bảo Chúa bỏ ông ?

8. Bệnh tùy hứng vô định

Người không có lý tưởng rõ ràng. Đời vô định hướng. Ai xúi thì nhắm mắt làm theo, bất kể hay dở, khôn dại. Xong rồi phủi tay. Chẳng có dự án và chẳng có một người nào làm lý tưởng cho đời mình. Đây là loại người tùy hứng.

Người ta hay nói đời là một giấc mơ. Nhưng đời có thật là một giấc mơ không ? Mơ là chuyện mộng, không bắt buộc phải hiện thực. Nhưng đời trái lại là cuộc sống thực tế của mỗi người, bắt mình phải hoàn thành.

Thánh Kinh nói đến giấc mơ của Thánh Giuse. Ông mơ thiên thần báo phải đem Hài nhi và mẹ người trốn sang Ai Cập. Cái đặc biệt ở đây là Giuse đã thực hiện giấc mơ đó và nhờ vậy Chúa Giêsu thoát chết.

Người trẻ cần có lý tưởng và phải thực hiện cho bằng được. Nhưng phải định hướng cho trúng. Truyện kể có người khi còn trẻ quyết tâm sẽ thay đổi cả thế giới. Khi đứng tuổi thấy mình chả thay đổi được ai, bèn chuyển mục tiêu gần hơn: sẽ thay đổi gia đình mình. Đến khi về già quay lại thấy mình cũng chả thay đổi được gia đình, mới nhận chân ra rằng muốn thay đổi gia đình hay thế giới trước hết phải thay đổi chính con người của mình đã !

9. Bệnh sống vô trách nhiệm

Triệu chứng: thờ ơ trước những khó khăn của Hội thánh và Quê hương, trước những đau khổ của người khác. Chả thấy mình có trách nhiệm gì cả. Hoá ra những người mắc bệnh này chẳng hiểu gì về phép Rửa, chẳng còn nhớ gì sứ mạng được trao qua phép Rửa đó. Qua phép Rửa, được làm con Chúa, đó là Hồng ân, và phép Thêm sức làm cho ta nên chiến sĩ của Chúa đó là trách nhiệm, mỗi người chúng ta được trao ban cả Nước Trời trong lòng mình, đồng thời cũng được giao phó sứ mạng phải loan báo cho mọi người về Nước Trời mình đang mang. Vì không ý thức và quan tâm nên họ giữ đạo hời hợt, sống đạo một cách vô trách nhiệm.

Ngày xưa cha Hậu (cố Olivier) ở Sàigòn thường nói với bổn đạo: Anh chị em phải biết, mình quả thật sung sướng vì được Chúa cho cả Nước Trời trong lòng. Anh chị em cũng giống như một người mang trong mình vé số độc đắc đã trúng mà chưa lãnh. Và bổn phận của anh chị em là chia sẻ ân huệ và niềm vui đó cho người khác.

Mỗi người trong xã hội đều có trách nhiệm riêng. Chứ không phải giáo dân thì cứ đổ cho cha xứ, linh mục thì đổ cho giám mục, giám mục lại chỉ tay về Giáo hoàng. Như thế Giáo hoàng lại đổ cho Chúa à ! Thái độ phủi tay không giải quyết được gì. Mà mỗi người, tùy vị trí và hoàn cảnh riêng, trước hết phải xắn tay nắm lấy mà giải quyết nhiệm vụ của mình.

10. Bệnh bè phái chia rẽ

Đây là căn bệnh trầm kha nhất. Vô cùng nguy hiểm vì nó thường là căn nguyên của các bệnh khác.

Một cơ thể mà các tế bào chống nhau thì làm sao sống được. Nội bộ một cộng đoàn mà chưa hợp tác với nhau được thì đừng nên bàn chuyện đấu tranh, giải phóng. Ai ở thôn quê đều biết hoàn cảnh cấy lúa. Một mảnh ruộng cần cả chục người cấy suốt ngày. Lưng đội trời nóng cháy da, tay xé lúa nhấn xuống bùn, bẩn và mệt. Nhưng cũng miếng ruộng đó chỉ cần một người thôi là chỉ trong vòng vài ba tiếng đồng hồ là nhổ sạch. Xây khó, phá rất dễ.

Một cách hay nhất để tránh và chữa bệnh này là lắng nghe người khác, sẵn sàng chấp nhận cái khác của người. Câu chuyện tổng thống Lincoln nước Mỹ là một bài học. Trong cuộc chiến Nam Bắc, ngày nọ trước ba quân ông xuống lệnh hành quân. Một anh sĩ quan phản đối và cho rằng Lincoln điên khi hạ lệnh đó. Có người vào báo cáo. Lincoln cả giận. Nhưng thay vì tức khắc cho thi hành kỷ luật đối với thuộc viên, ông cho mời người đó vào. Và sau khi nghe trình bày phải trái, Lincoln đổi ý, trao trách nhiệm lớn cho vị sĩ quan đó. Ông

biết lắng nghe nên đã tránh được đổ vỡ lớn cho binh sĩ và quốc gia.

Trong một giáo phận, một cộng đoàn, một hiệp hội, việc làm tổn thương, mất giờ để giải quyết nhất của Giám mục, của những người có trách nhiệm, là chứng bệnh triền miên bè phái, chia rẽ – mà những người mắc bịnh thường vẫn tưởng mình đạo đức. Có nhiều người "phạm tội vì Chúa": lấy lý do "vì Chúa" mà loại trừ kẻ khác, không thuộc phe ta. Người Pháp đã nếm kinh nghiệm cay đắng tai hại của bịnh nầy nên có câu châm ngôn: "Đừng vì kính mến Chúa mà chống kẻ khác". Chúa Giêsu biết trước điều nầy nên Ngài tha thiết cầu xin trước giờ tử nạn: "Lạy Cha, xin cho chúng nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để thế gian tin Cha đã sai con" (Gioan. 17, 21). Nếu ta không hiệp nhất thì thế gian không tin. Lời ông Gandhi đáng cho ta suy nghĩ: "Tôi yêu Chúa Kitô, nhưng tôi không yêu người Kitô hữu vì họ không giống Chúa Kitô".

Tác giả: HY. Nguyễn Văn Thuận

 

__,_._,___

 
<< Start < Prev 151 152 153 154 155 156 157 158 159 Next > End >>

Page 151 of 159