mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1855
mod_vvisit_counterHôm Qua5492
mod_vvisit_counterTuần Này1855
mod_vvisit_counterTuần Trước47410
mod_vvisit_counterTháng Này152614
mod_vvisit_counterTháng Trước250618
mod_vvisit_counterTất cả14767482

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 51 = BAI TRU DOT NAT VE GIAO LY PDF Print E-mail

 

Đức Thánh Cha kêu gọi bài trừ sự dốt nát về giáo lý

Sun, 02/12/2012 - 21:58

Tác giả:

G. Trần Đức Anh OP

Đức Thánh Cha kêu gọi bài trừ sự dốt nát về giáo lý

VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 kêu gọi mọi thành phần Giáo Hội tăng cường nỗ lực bài trừ nạn dốt nát về giáo lý.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng ngày 30-11-2012 dành cho 37 GM thuộc các giáo tỉnh miền nam và đông nam nước Pháp. Đây là đoàn thứ 3 và cũng là đoàn cuối cùng thuộc HĐGM Pháp về Roma hành hương viếng mộ hai thánh Tông Đồ và thăm Tòa Thánh trong thời gian qua.

ĐTC nói: "Một trong những vấn đề trầm trọng nhất của thời nay là sự dốt nát tôn giáo nơi nhiều người, kể cả các tín hữu Công Giáo" (Christifideles laici, Ch. 5)... Vì thế, Giáo Hội yêu cầu mọi tín hữu Kitô hãy nêu lý do tại sao mình hy vọng (1 Pr 3,15) với ý thức rằng một trong những chướng ngại kinh khủng nhất cản trở sứ vụ mục vụ của chúng ta là sự dốt nát về nội dung đức tin. Trong thực tế đây là một sự dốt nát về hai mặt: một là không biết về Đức Giêsu Kitô và hai là không biết về giáo huấn cao cả của Chúa, về giá trị phổ quát và trường tồn của các giáo huấn ấy trong việc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống và hạnh phúc. Ngoài ra, sự dốt nát này làm cho các thế hệ trẻ không có khả năng hiểu biết lịch sử và không cảm thấy mình là người thừa kế truyền thống đã hình thành đời sống, xã hội, nghệ thuật và nền văn hóa Âu Châu".

Trong bối cảnh trên đây, ĐTC đề cao các sáng kiến trong Năm Đức Tin giúp các tín hữu tái khám phá và canh tân chứng tá đức tin. Ngài cũng nói rằng "Công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng sẽ hiệu nghiệm nếu làm cho các cộng đoàn và giáo xứ dấn thân sâu rộng hơn".

Trong bài huấn dụ, ĐTC khích lệ các GM Pháp tăng cường việc mục vụ ơn gọi. Ngài nói: "Giáo Hội tại Âu Châu và Pháp không thể dửng dưng trước sự giảm sút ơn gọi và các cuộc truyền chức LM.. Điều cấp thiết là động viên mọi năng lực sẵn có để người trẻ có thể nghe tiếng Chúa. Chúa gọi ai và vào lúc Chúa muốn. Nhưng các gia đình Công Giáo và cộng đoàn nhiệt thành vẫn là những môi trường đặc biệt thuận lợi. Vì thế, các gia đình, cộng đoàn và người trẻ ở nơi trọng tâm các sáng kiến rao giảng Tin Mừng, mặc dù có một bối cảnh văn hóa và xã hội đang chị uảnh hưởng của trào lưu duy tương đối và duy lạc thú".

Sau cùng, ĐTC đề cao vai trò của ngành giáo dục Công Giáo, các Đại học và các trường Công Giáo như những nơi thích hợp để thực thi công cuộc tai truyền giảng Tin Mừng, góp phần làm cho xã hội con người được triển nở và mang lại câu trả lời tốt đẹp nhất cho các thách đố đủ loại đang được đề ra cho mọi người vào đầu Ngàn Năm thứ Ba này" (SD 30-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP

Nguồn : vievatican.net

 
HOC HOI DE SONG DAO # 50 = LANH ON TOAN XA PDF Print E-mail

CÓ PHẢI HỄ ĐƯỢC LÃNH ƠN TOÀN XÁ LÀ ĐƯỢC LÊN THIÊN ĐÀNG NGAY?

Hỏi:

Nhân Năm Đức Tin, và tháng cầu cho các linh hồn ( tháng 11) xin cha giải thích giúp 2 câu hỏi sau đây:

1-Ân xá là gì và có hiệu quả ra sao ?

2- Một người khi sống thì bê bối, bỏ Đạo lâu năm, lấy 2, 3 vợ... nhưng khi gần chết kịp ăn năn, xưng tội và được lãnh ơn toàn xá trong giờ sau hết. Như vậy chắc chắn được lên Thiên Đàng rồi như một linh mục đã giảng?

Xin cha cho biết điều này có đúng hay không?

Đáp: Tôi không biết linh mục kia nói thế nào. Tuy nhiên căn cứ theo giáo lý của Giáo hội, thì xin được nói rõ lại như sau:

1- Trước hết, theo giáo lý và giáo luật, thì ân xá hay ơn xá giải (Indulgences) "là ơn sủng mà Giáo Hội lấy ra từ kho tàng ơn cứu chuộc của Chúa Kitô và công nghiệp của Đức Mẹ và các thánh để tha các hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) cho tín hữu còn sống hay cho các linh hồn còn đang ở nơi gọi là "Luyện tội" (x. SGLGHCG, số 1471; Giáo luật số 992- 994). Nói rõ hơn, trừ tội phạm đến Chúa Thánh Thần tức tội chối bỏ Thiên Chúa hoàn toàn thì không thể tha được (x. Mt 12:32; Mc 13:28-29) – còn các tội nặng nhẹ khác đều có thể được tha qua bí tích hòa giải, như Chúa Giêsu đã bảo đảm với các Tông Đồ xưa:

"Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha

Anh em cầm giữ ai, thí người ấy bị cầm giữ." (Ga 20:23)

Được tha tội qua bí tích hòa giải rồi nhưng hối nhân vẫn phải làm một việc gọi là việc "đền tội" (penance) do cha giải tội giao để tẩy xóa đi mọi hậu quả do tội để lại trong tâm hồn mình. Đây là hình phạt hữu hạn (temporal punishment) khác xa với hình phạt đời đời (eternal punishment) trong nơi gọi là hỏa ngục dành cho những ngượi chết "trong khi đang mắc tội trọng và không kịp sám hối để xin Chúa thứ tha". (x. SGLGHCG, số 1033-1035).

Nghĩa là, khi ta nhận biết mình có tội nặng hay nhẹ và muốn xin Chúa tha thứ qua bí tích hòa giải thì phải tin rằng Chúa sẵn lòng tha, nếu ta thật lòng sám hối và còn tin tưởng nơi lòng thương xót vô biên của Chúa.Sau đó, phải đi xưng tội với một linh mục đang có năng quyền tha tội. (Linh mục nào đang bị Giám mục tạm rút năng quyền – hay nôm na gọi là "bi treo chén"(Suspension) thì thông thường không được giải tội hay cử hành bất cứ bí tích nào trong thời gian còn bị tạm rút năng quyền ).Nếu ai thành tâm và thành thực xưng ra các tội đã phạm vì yếu đuốii con người và vì ma quỷ cắm dỗ, thì chắc chắn sẽ được Chúa thương tha thứ qua tác vụ của linh mục như Chúa Giêsu đã phán hứa trên đây.

Cũng cần nói rõ thêm là linh mục hay Giám mục thì cũng chỉ là thừa tác viên mà Chúa Kitô dùng để ban ơn thánh của Người cho chúng ta trong Giáo Hội. Do đó, đừng ai đặt vấn đề linh mục có xứng đáng hay không khi cử hành các bí tích. Mọi linh mục đang có năng quyền ( Priestly Faculties) nhận lãnh từ Giám mục trực thuộc thì đều có thể cử hành thành sự ( validly) các bí tích, đặc biệt là bí tích hòa giải, vì linh mục nghe và giải tội cho ai thì đều phải làm nhân danh Chúa Kitô ( in Persona Christi) chứ không nhân danh chính mình. Như thế, , chính Chúa Kitô nghe và tha tội cho mọi hối nhân thành thật xưng tội qua trung gian của một linh mục, dù linh mục đó là người bất xứng đến đâu dưới mặt của người đời. Phải nhấn mạnh thêm về sự thành thật khi xưng tội, vì nếu hối nhân dấu tội không muốn xưng hết với linh mục thì việc xưng tội sẽ không thành, mà còn phạm thêm tội cố ý nói dối Chúa nữa. Chính vì người ta cứ nghĩ lầm là xưng tội với cá nhân linh mục, chứ không phài thú nhận tội lỗi với chính Chúa Kitô, nên nhiều người không dám xưng hết các tội đã phạm - cách riêng các tội phạm điều răn thứ sáu và chin- với linh mục vì mắc cở hay sợ bị tiết lộ ra ngoài. Lo ngại như vậy là không đúng vì mọi linh mục đều bị buộc phải giữ kín mọi điều nghe được từ hối nhân trong Tòa giải tội . Đây là "ấn tòa giải tội=seal of confessions) buộc mọi linh mục phải triệt để tuân giữ. Ai vi phạm sẽ bị vạ tuyệt thông tiền kết. ( x Giáo luật sớ 1388, triệt 1) Vạ này chỉ có Tòa Thánh giải mà thôi.

Ân xá – toàn phần hay bán phần – chỉ có mục đích tha từng phần hay toàn phần các hình phạt hữu hạn ( temporal punishment) sau khi các tội nặng nhẹ đã được tha qua bí tích hòa giải, để tẩy xóa đi những hậu quả do tội còn để lại trong tâm hồn hối nhân như đã nói ở trên. Nghĩa là ân xá không có hiệu năng tha các tội lớn nhỏ cho ai mà chỉ tha hay tẩy xóa hình phạt hữu hạn của các tội đã được tha qua bí tích hòa giải mà thôi.Do đó, ai đang có tội trọng thì không thể lãnh ân xá hữu hiệu được mà phải đi xưng tội trước rồi mới lãnh ân xá sau để xin tha hình phạt hữu hạn, theo giáo lý Giáo Hội dạy.

Vể thẩm quyền ban phát ân xá, thì giáo luật chỉ qui định một mình Đức Thánh Cha có quyền ban ân xá hay cho phép Bản quyền địa phương nào ban ân xá vì lý do chính đáng được Tòa Thánh chấp thuận. Thí dụ mừng kỷ niệm thành lập Giáo phận hay Nhà Dòng. (x Giáo luật số 995, triệt 1 & 2)

2- Liên quan đến câu hỏi thứ hai, xin được trả lời như sau:

Giáo lý của Giáo Hội chỉ nói đến hiệu quả của bí tích hòa giải là cho chúng ta được giao hòa hay hiệp thông lại với Thiên Chúa trong thân tình Cha-con từng bị gián đọan vì tội, nhất là tội trọng, cũng như chỉ nói đến hiệu quả của ân xá là tha hình phạt hữu hạn sau khi tội được tha qua bí tích hòa giải.

Nhưng Giáo Hội không hề đưa ra tiêu chuẩn cụ thể nào về số phận đời đời của một ai sau khi chết. Nghĩa là Giáo Hội chưa hề dạy nếu ai sống thế nào, hoặc làm điều gì, ngay cả tự tử thì chắc chắn sẽ xuống hỏa ngục hoặc sẽ lên thẳng Thiên Đàng sau khi chết... Giáo lý chỉ nói đến những trường hợp gia trọng để lưu ý giáo dân phải tránh mà thôi. Thí dụ Giáo Lý của Giáo Hội dạy rằng: " những ai đang có tội trọng thì không được rước Mình Thánh Chúa và không được cử hành Thánh lễ ( nếu là linh mục) ( x Giáo luật số 916, SGLGHCG số 1415) hoặc "nếu ai đang mắc tội trọng mà chết không kịp sám hối để được hòa giải với Chúa thì sẽ phải hình phạt hỏa ngục". (x. SGLGHCG, số1033-1035)

Nhưng ai đã rơi vào tình trạng tuyệt vọng nói trên để đáng phải xuống hỏa ngục, thì chỉ một mình Chúa biết và phán đoán mà thôi. Giáo Hội không biết được nên vẫn dạy phải cầu nguyện cho mọi kẻ chết, kể cả cho những người đã tự tử, hay tự sát sau khi giết một hay nhiều người khác, mặc dù Giáo Hội nghiêm khắc lên án hành vi sát nhân hay tự tử này.

Mặt khác, Giáo Hội cũng chưa hề phong thánh cho ai ngay sau khi người đó chết. Cụ thể, ai sống thánh thiện, đạo đức hơn các Đức Giáo Hoàng. Trước khi chết các ngài cũng được xức dầu và lãnh ơn toàn xá trong giờ sau hết, (trừ Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô I chết bất ngờ trong nhà nguyện riêng sau 33 ngày lên ngôi). Nhưng Giáo Hội vẫn cử hành lễ an táng để cầu nguyện cho, chứ chưa hề tức khắc tuyên bố vị nào đã lên Thiên Đàng rồi, nên khỏi cầu nguyện nữa. Ai được phong thánh (canonization) thì cũng phải chờ một thời gian và hội đủ một số tiêu chuẩn theo luật định.Nghĩa là cho đến nay, Giáo Hội chưa hề phong thánh cho ai ngay sau khi người đó chết, mặc dù nhiều người biết đời sống thánh thiện của người đó.

Tóm lại, chúng ta phải tin và trông cậy lòng thương xót tha thứ vô biên của Thiên Chúa, cũng như tin giá trị và hiệu quả của bí tích hòa giải và ơn toàn xá. Nhưng không thể căn cứ vào đây để phán đoán ngay ai được lên Thiên Đàng hay phải sa hỏa ngục để khỏi cầu nguyện cho những người đó nữa. Có chăng chỉ nên tin rằng những ai đã thực tâm yêu mến và sống theo đường lối của Chúa thì chắc chắn Chúa sẽ không bỏ qua mà không tiếp nhận vào Nước Người nơi dành cho các Thánh và các Thiên Thần.Nhưng ai đã được lên Thiên Đàng và ai phải xuống hỏa ngục thì chỉ có một mình Chúa biết mà thôi.

Vậy chúng ta không nên vội đưa ra những phán đoán về số phận đời đời của ai cho dù người đó sống chết ra sao, mà chỉ nên cầu nguyện cho họ mà thôi.

Ước mong những giải đáp trên đây thỏa mãn các câu hỏi đặt ra.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 47 = DTC NO LUC DAI KET KITO PDF Print E-mail

 

Đức Thánh Cha kêu gọi gia tăng nỗ lực đại kết Kitô

LM. Trần Đức Anh OP11/15/2012

VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 kêu gọi gia tăng nỗ lực đại kết Kitô để đẩy mạnh công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 15-11-2012, dành cho 60 tham dự viên khóa họp toàn thể của Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô, trong đó có 35 HY, GM, tiến hành từ ngày 12 đến 16-11-2012, về đề tài "Tầm quan trọng của đại kết đối với việc tái truyền giảng Tin Mừng".

ĐTC khẳng định rằng "mục đích của phong trào đại kết là sự hiệp nhất hữu hình giữa các tín hữu Kitô bị phân rẽ. Sự hiệp nhất này không phải là một công trình mà chúng ta có thể tự thực hiện được. Chúng ta phải dấn thân hết sức, nhưng đồng thời cũng phải nhìn nhận rằng, xét cho cùng, sự hiệp nhất ấy là hồng ân của Thiên Chúa, nó chỉ có thể đến từ Chúa Cha, nhờ Chúa Con, vì Giáo Hội là Giáo Hội của Ngài."

ĐTC cũng nhắc nhở rằng "sự tìm kiếm hiệp nhất cũng là điều quan trọng đối với việc tái truyền giảng Tin Mừng. Sự kiện cùng nhau tiến về mục tiêu ấy là một thực tại tích cực, nhưng với điều kiện là các Giáo Hội và các Cộng đồng Giáo Hội Kitô không được dừng lại dọc đường, chấp nhập những khác biệt mâu thuẫn nhau như một cái gì bình thường, hoặc như một điều tốt đẹp nhất mà người ta có thể đạt được. Trái lại, chính trong sự hiệp nhất trọn vẹn trong đức tin, các bí tích và thừa tác vụ, mà sức mạnh hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa trong thế giới trở nên hiển nhiên một cách cụ thể. Qua sự hiệp nhất hữu hình của các môn đệ Chúa Giêsu, sự hiệp nhất không thể giải thích được về phương diện con người, người ta thấy rõ hoạt động của Thiên Chúa vượt lên trên xu hướng phân hóa của thế giới".

Sau cùng, ĐTC cầu mong Năm Đức Tin sẽ góp phần làm cho hành trình đại kết Kitô được tiến bộ. Một đàng sự hiệp nhất là thành quả của đức tin, nưhgn đàng khác nó cũng là một phương thế và hầu như là điều kiện tiên quyết để loan báo đức tin một cách đáng tin cậy hơn cho những người chưa biết Chúa Cứu Thế"

Khóa họp của Hội đồng hiệp nhất được đặt dưới quyền chủ tọa của ĐHY chủ tịch Kurt Koch, người Thụy Sĩ. Ngoài các HY và GM thành viên còn có 25 vị cố vấn chuyên gia.

Đề tài khóa họp này được coi như tiếp nối Thượng HĐGM thế giới kỳ thứ 13 trong tháng 10 vừa qua về việc tái truyền giảng Tin Mừng để thông truyền đức tin. Việc làm chứng cho Tin Mừng trong thế giới ngày nay là nghĩa vụ của tất cả các Giáo Hội và Cộng đoàn Kitô thuộc mọi hệ phái trên thế giới và đòi phải có một sự cộng tác chặt chẽ hơn giữa tất cả mọi môn đệ Chúa Kitô, để cùng nhau đương đầu với những thách đố mà tình trạng văn hóa và đã hội ngày nay đang đề ra cho đức tin.

Trong 5 ngày họp, Hội đồng cũng thảo luận về một tài liệu chỉ năm về Đại kết, và việc kỷ niệm 500 năm cuộc cải cách của Martin Luther sự kiến vào năm 2017 tới đây. (SD 15-11-2012)

 
HOC HOI DE SONG DAO # 49 = THUOC VE CHUA PDF Print E-mail

 

THUỘC VỀ CHÚA

ĐGM Bùi Tuần

1.

Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã tha thiết cầu nguyện cho các môn đệ của Người.

Người nhắc đi nhắc lại tư tưởng này: "Con không cầu nguyện cho thế gian, nhưng cho những kẻ Cha đã ban cho con. Bởi vì họ thuộc về Cha... Họ không thuộc về thế gian" (Ga 17,9-14).

Trong lời cầu trên đây, Chúa Giêsu phân ra hai loại người: Loại người thuộc về Chúa và loại người thuộc về thế gian. Cái nhìn của Chúa thực dứt khoát.

2.

Chỉ có Chúa mới dứt khoát được như vậy. Chứ trên thực tế, tôi thấy đâu có rõ ràng, nhất là khi mỗi người chúng ta lại thuộc về nhiều thứ.

Thực vậy, trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay, ai cũng có nhiều "thuộc về" này nọ, như: Thuộc về một giáo phận, một giáo xứ, một khu xóm, một gia đình, một uỷ ban, một hội đoàn, một nhóm, một cơ quan, một bề trên, có khi cũng còn thuộc về một người mình yêu thương sùng mộ.

Tất cả mọi "thuộc về" đó có thực sự thuộc về Chúa không? Chắc là khó mà biết được.

3.

Phúc Âm soi sáng cho tôi. Chúa Giêsu phán: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỷ, nhân danh Chúa mà làm nhiều phép lạ đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi. Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác" (Mt 7,21-23).

Như vậy, nếu có ngày, tôi và một số người của Hội Thánh thưa với Chúa rằng: Con đã nhân danh Chúa mà tổ chức nhiều thánh lễ một cách linh đình rầm rộ. Con đã nhân danh Chúa mà xây cất nhiều cơ sở của Hội Thánh với công sức và tốn phí lớn lao. Con đã nhân danh Chúa mà hăng hái, dồn hết sức mình vào công việc làm kinh tế và tranh đấu cho lợi ích của Hội Thánh. Và nhân danh Chúa mà làm bao nhiêu việc khác nữa. Biết đâu Chúa sẽ tuyên bố: Ta không hề biết các ngươi là ai! Nghĩa là Chúa sẽ không nhận chúng tôi là những người thuộc về Chúa. Chắc gì điều đó sẽ không xảy ra.

4.

Tôi tưởng tôi thuộc về Chúa. Nhưng nếu Chúa lại coi tôi là thuộc về thế gian, thì đó là điều rất đáng sợ.

Tôi nên sợ và phải sợ. Bởi vì sự thuộc về Chúa là điều không đơn giản, không dễ dàng. Chính vì thế mà Chúa Giêsu đã cầu nguyện tha thiết cho những ai thuộc về Chúa, để họ khỏi sai lầm mù quáng trong nhận thức, trong chọn lựa, trong việc làm, đưa họ tới chỗ trở thành người thuộc về thế gian trong lúc không ngờ.

Kinh nghiệm cho tôi thấy rằng: Khao khát thuộc về Chúa một cách trọn vẹn đã là một điều không dễ. Phương chi phấn đấu vượt qua mọi trở ngại để thuộc trọn về Chúa một cách gắn bó, một cách trung tín, càng là điều không dễ chút nào.

Các trở ngại quan trọng đã được tu đức Phúc Âm nêu lên gồm: Xác thịt nặng nề, thế gian quyến rủ, ác thần lừa dối. Ba cản trở trên đây là rất mạnh. Đối phó với chúng bằng những lý luận là rất sai lầm. Khẳng định mình thắng được chúng bằng ý chí là đã bắt đầu thua chúng. Tự hào mình biết chắc chắn mình luôn luôn thuộc về Chúa là đã ở trong bẫy của Satan rồi.

Khó khăn rất nhiều và rất phức tạp trong việc được thuộc về Chúa. Chính vì thế, mà Chúa Giêsu đã cầu nguyện để chúng ta cũng hãy cầu nguyện.

5.

Chúa nhấn mạnh đến sự thuộc về Chúa. Sự Chúa nhấn mạnh đó khiến tôi phải suynghĩ nhiều.

Thế nào là thuộc về Chúa? Chúa Giêsu làm gương bằng sự chính Người thuộc về những kẻ thuộc về Người.

Chúa Giêsu đã gắn bó với họ, đã hy sinh mạng sống cho họ, đã tìm cách ở lại với họ khi phải xa họ. Nhưng đó mới chỉ là tình yêu một chiều. Chúa coi là không đủ. Chúa đòi chiều đền đáp. Chúa muốn những kẻ thuộc về Chúa cũng hãy gắn bó với Chúa, hy sinh vì Chúa, ở lại trong Chúa. "Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy" (Ga 15,9). Ở lại nói đây phải là một gắn bó mật thiết. "Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái" (Ga 15,5).

6.

Như thế, những người thuộc về Chúa phải là những trái tim bừng cháy lửa yêu thương. Họ cũng yêu thương nhau như vậy, theo lời Chúa dạy: "Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13,34).

Cộng đoàn các tín hữu đầu tiên của Hội Thánh gồm những người thuộc về Chúa một cách chan hoà như thế đó. Họ cảm nhận đời sống thuộc về Chúa như thế là một đời sống luôn luôn hiệp thông, không ngừng cầu nguyện với Chúa và chia sẻ của cải cho nhau (x. Cv 2,42-47).

7.

Hồi đó là như thế. Còn nay thì sao?

Nay thì rất khác. Tôi xin nói về thời nay của Hội Thánh tại Việt Nam hôm nay.

Hiện nay, nhiều tín hữu, thay vì chỉ lo thuộc về Chúa, thì thường lại lo thuộc về các đối tượng mang danh Chúa. Những đối tượng đó thường là các tổ chức và các chức vụ. Như một cộng đoàn, một nhóm, một cơ sở từ thiện, một phong trào đạo đức, một địa vị, một công trình. Trên thực tế, nhiều tổ chức và chức vụ trở thành cơ hội để tìm kiếm lợi riêng cho mình hơn là lợi cho Chúa.

Lợi riêng cho nhóm đã đành, nhưng cũng còn kiếm lợi ích cá nhân. Trong hướng đó, việc mến Chúa yêu người dễ bị coi nhẹ, nhường chỗ cho việc mến yêu những thứ khác. Do đó đã nảy sinh ra những tranh chấp gây chia rẽ, nghi kỵ và phân hoá. Gây gương xấu nhiều nhất hiện nay là mang danh nghĩa Chúa và công ích để thu gom tiền bạc của cải và uy tín cho riêng cá nhân mình, bất chấp luật công bằng và bác ái.

Thiệt hại nghiêm trọng gây ra cho đạo Chúa không phải thuộc về lãnh vực vật chất, mà là lãnh vực tinh thần. Nhiều người bị các gương xấu đó trong Đạo chi phối, đã giảm bớt lòng tin tưởng vào Đạo và các người theo Đạo.

8.

Tới đây, vấn đề đặt ra cho tôi là tôi phải làm hết sức mình để thuộc về Chúa một cách trọn vẹn và đích thực. Thêm vào đó, tôi phải làm hết sức mình để mến Chúa yêu người như Chúa Giêsu đã dạy và đã nêu gương. Làm hết sức mình nói đây sẽ đặt nặng việc khiêm nhường cầu nguyện và khiêm nhường tỉnh thức, như Chúa đã dạy.

Lạy Chúa, con biết mình con rất yếu đuối. Xin Chúa thương giúp con được luôn trở về với Chúa.

--

 
HOC HOI DE SONG DAO # 48 = KHIA CANH DAI KET CD VATICAN 2 PDF Print E-mail

 

Đức Thượng Phụ Barthôlômêô đánh giá cao khía cạnh đại kết của Công Đồng Chung Vatican II

Đồng Nhân10/17/2012

VATICAN - Trong thánh lễ trọng thể Khai Mạc Năm Đức Tin, Đức Thượng Phụ Barthôlômêô Đệ Nhất, là Thượng Phụ Đại Kết Tòa Constantinople của Chính Thống Giáo, đã công nhận vai trò quan trọng của Công Đồng Chung Vatican II trong tiến trình dẫn đến sự hiệp nhất Kitô giáo.

Ngài nói: "Chúng tôi đánh giá cao những cố gắng giải phóng dần dần những hạn chế của triết học kinh viện cứng nhắc để hướng tới sự cởi mở trong cuộc gặp gỡ đại kết, là điều đã dẫn đến việc hủy bỏ vạ tuyệt thông năm 1054, và việc trao đổi những lời chúc mừng cho nhau, cũng như việc trao trả các thánh tích, bắt đầu những cuộc đối thoại quan trọng, và đến thăm các Tòa Thánh của đôi bên."

Đức Thượng phụ Đại kết, người đại diện cho 300 triệu tín hữu Chính Thống Giáo, đã nhắc lại tầm quan trọng của việc tiếp tục nỗ lực để hướng tới sự hiệp nhất sâu xa hơn như con đường đã được vạch ra bởi Công Đồng Chung Vatican II. Ngài tin rằng Năm Đức Tin và dịp kỷ niệm 50 năm Công Đồng Chung Vatican II là một cơ hội tốt để đôi bên gần gũi nhau hơn.

Ngài nhấn mạnh rằng: "Cánh cửa đã được mở bởi Công Đồng Chung Vatican II cần phải tiếp tục được mở rộng cho nhận thức, cho việc hội nhập vào các hoạt động mục vụ, và việc giải thích Công Đồng Chung Vatican II sâu xa hơn về mặt Giáo Hội ".

Đức Thượng phụ Đại kết cám ơn Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô thứ 16 /đã công bố Năm Đức Tin, và cho rằng sáng kiến này rất kịp thời.

Ngài nói: "Thật là phù hợp để đánh dấu dịp kỷ niệm 50 năm Công Đồng Chung Vatican II với việc Khai Mạc Năm Đức Tin vì chính đức tin đưa ra một dấu chỉ cụ thể cho cuộc hành trình chúng ta đã đi bên nhau trên con đường hòa giải và hiệp nhất hữu hình."

See Also

10/17/2012

ĐTC nói: Kitô giáo là một cây, có thể nói là mãi mãi ở trong "bình minh" luôn luôn trẻ trung

 
<< Start < Prev 151 152 153 154 155 156 157 158 159 160 Next > End >>

Page 151 of 161