/home/content/51/8374851/html/chiaseloichua/administrator/components/com_vvisit_counter/helpersPlease reinstall [Vinaora Visitors Counter] component53

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 38 = 10 CACH DE SONG NAM DUC TIN PDF Print E-mail

 

 10 CACH SONG NĂM ĐƯC TIN

 

Để làm nổi bật kỷ niệm 50 năm Công đồng Vatican II và 20 năm phát hành Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, Đức Bênêđictô XVI đã công bố Năm Đức Tin, bắt đầu vào ngày 11 tháng 10 và kết thúc vào ngày 24 tháng 11 năm 2013. Năm Đức Tin nhằm củng cố đức tin cho người Công giáo và qua gương mẫu của họ đưa thế giới đến với đức tin.

Đức Cha David Ricken của Giáo phận Green Bay, chủ tịch Uỷ ban Truyền giáo và Giáo lý trực thuộc Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ, đề nghị "10 cách để sống Năm Đức Tin". Các đề nghị này được lấy từ những hướng dẫn của Bộ Giáo lý Đức tin, vài đề nghị trong số này đã là những đòi hỏi dành cho người Công giáo; những điểm khác có thể được người công giáo thực hiện vào mọi lúc và đặc biệt trong Năm Đức Tin:

1. Tham dự Thánh Lễ. Năm Đức Tin có ý thăng tiến việc mỗi người gặp gỡ Chúa Giêsu. Điều này xảy ra hầu như ngay lập tức nơi Bí tích Thánh Thể. Tham dự Thánh Lễ thường xuyên làm đức tin tăng trưởng qua Kinh Thánh, Kinh Tin Kính, các lời nguyện, Thánh nhạc, bài giảng, việc rước lễ và thông phần với cộng đoàn đức tin.

2. Đi xưng tội. Giống như đi dự lễ, người Công giáo tìm thấy sức mạnh và đào sâu đức tin của mình qua việc tham dự Bí tích Sám Hối và Hoà Giải. Việc xưng tội thúc đẩy con người quay về với Thiên Chúa, diễn tả lòng đau xót vì đã sa ngã và mở đời sống mình cho quyền năng chữa lành của Thiên Chúa. Việc xưng tội tha thứ những tổn thương của quá khứ và ban sức mạnh cho tương lai.

3. Học hỏi đời sống của các thánh. Các thánh là những gương mẫu vượt thời gian về cách sống đời Kitô hữu, và các ngài giúp cho niềm hy vọng được tiếp diễn không ngừng. Các ngài không chỉ là những tội nhân đã liên tục cố gắng gần gũi với Thiên Chúa, mà còn là ví dụ điển hình những cách thức mà một người có thể phụng sự Thiên Chúa: qua việc giảng dạy, truyền giáo, bác ái, cầu nguyện và đơn sơ cố gắng làm đẹp lòng Thiên Chúa trong các hoạt động và quyết định bình thường của đời sống hằng ngày.

4. Đọc Kinh Thánh mỗi ngày. Kinh Thánh cung cấp con đường trực tiếp đến với Lời Thiên Chúa và kể về lịch sử ơn cứu độ con người. Người Công giáo có thể cầu nguyện bằng Kinh Thánh (bằng phương pháp lectio divina hoặc các phương pháp khác) để trở nên hòa hợp hơn với Lời Thiên Chúa. Nói cách khác, Kinh Thánh là một điều đòi buộc để trưởng thành trong Năm Đức Tin.

5. Đọc các văn kiện của Công đồng Vatican II. Công đồng Vatican II (1962-65) mở ra một cuộc canh tân vĩ đại cho Giáo Hội. Công đồng định hình cách cử hành Thánh Lễ, vai trò của giáo dân, cách Giáo Hội hiểu về chính mình, tương quan của mình với những Kitô hữu khác và những người không phải Kitô hữu. Để tiếp tục cuộc canh tân này, người công giáo phải hiểu những điều Công đồng dạy và cách thức làm cho đời tín hữu nên phong phú.

6. Học Giáo lý. Được xuất bản đúng 30 năm sau khi Công đồng khai mạc, Sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo bao trùm những điều phải tin, các giáo huấn luân lý, việc cầu nguyện và các bí tích của Hội Thánh Công Giáo trong một quyển duy nhất. Đó là nguồn giúp gia tăng sự hiểu biết đức tin. Một nguồn hữu ích khác là Sách Giáo lý Công giáo của Hoa Kỳ dành cho người trưởng thành (USCCA).

7. Tham gia các sinh hoạt của giáo xứ. Năm Đức Tin không thể chỉ có việc học hỏi và suy niệm. Sự hiểu biết vững chắc về Kinh Thánh, Công đồng và Giáo lý phải chuyển thành hành động. Giáo xứ là một nơi tuyệt vời để bắt đầu, và ơn riêng của mỗi người giúp xây dựng cộng đoàn. Mọi người được mời gọi tham gia các việc như tiếp tân, ca hát trong phụng vụ, đọc sách, giáo lý viên, và các vai trò khác trong đời sống giáo xứ.

8. Giúp những người khốn khó. Toà Thánh khích lệ người Công giáo đóng góp cho việc bác ái và tình nguyện giúp đỡ người nghèo trong Năm Đức Tin. Điều này có ý làm cho mỗi cá nhân gặp được Chúa Kitô nơi người nghèo, người sống bên lề xã hội và những người dễ bị tổn thương. Giúp đỡ người khác khiến cho người Công giáo diện đối diện với Chúa Kitô và tạo nên một gương mẫu cho những người khác trong thế gian này.

9. Mời một người bạn đến dự Thánh Lễ. Năm Đức Tin có tính toàn cầu, tập trung vào việc canh tân đức tin và việc truyền giáo của toàn thể Hội Thánh, tuy nhiên sự thay đổi thật sự xảy ra ở bình diện địa phương. Một lời mời cá nhân có thể làm thay đổi hoàn toàn một người nào đó đang xa rời đức tin hoặc cảm thấy xa lạ với Hội Thánh. Ai cũng quen biết những người như thế, do đó ai cũng có thể gởi đi một lời mời gọi yêu thương.

10. Làm cho các mối phúc thấu nhập vào đời sống hằng ngày. Các mối phúc (Matthêu 5,3-12) vạch nên một kế hoạch chi tiết phong phú cho việc sống đời Kitô hữu. Các mối phúc chứa đựng sự khôn ngoan giúp cho mọi người khiêm tốn hơn, kiên nhẫn hơn, công bằng hơn, trong sáng hơn, yêu thương hơn, tha thứ nhiều hơn và tự do hơn. Đó chính là mẫu đức tin sống động, cần có để lôi kéo người ta đến với Hội Thánh trong năm sắp tới.

Biên dịch: Lm. Phêrô Lê Tấn Bảo

 

GC chuyển

 
HOC HOI DE SONG DAO # 37= PDF Print E-mail

 

NĂM ĐỨC TIN: Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ CỦA SỰ ĐAU KHỔ

Đau khổ là một thực tế hiển nhiên trong đời sống của con người, dù có niềm tin hay không .

Đây là một thực trạng mà không ai có thể phủ nhận hay tránh được trong cuộc sống trên trần gian này. Nào đau khổ vì bệnh tật, vì nghèo đói, vì bất công xã hội, vì thiên tai, động đất, bão lụt. Nào đau khổ vì bị tù đầy, tra tấn, bị kỳ thị, khinh chê và cô lập (dân Untouchable bên Ấn Độ). Sau hết, đau khổ lớn lao nhất là chết chóc đau thương.

Vì đâu có đau khổ ?

Thực khó tìm được câu trả lời thỏa đáng theo suy nghĩ của con người cho câu hỏi này..

Tuy nhiên, có điều nghịch lý đáng nói ở đây là ở khắp nơi, và ở mọi thời đại, luôn có những kẻ gian ác, làm những sự dữ, sự tội, như giết người, trộm cắp, hiếp dâm, đặc biệt là cai trị độc ác và gây ra chiến tranh khiến hàng triệu người vô tội bị giết ... nhưng những kẻ đó vẫn sống phây phây với địa vị và tiền bạc dư thừa của chúng, trong khi biết bao người lành, lương thiện, đạo đức lại nghèo khó, bệnh tật nan y hay gặp tai nạn xe cộ, tầu bè. Cụ thể, năm 2008, một xe buýt chở giáo dân ở Houston, Texas đị dự Đại Hội Thánh Mẫu ở Carthage , Missouri đã gặp tai nạn khiến hàng chục người chết hoặc bị thương nặng ! trong khi những xe và phi cơ chở người đi đánh bạc ở Las Vegas, lake charles (Louisiana).. hoặc du hí ở các nơi tội lỗi như Cancun (Mexico) Thai lan, Kampuchia... thì chưa hề gặp tai nạn tương tự !! Lại nữa, những người nghiện rượu và thuốc lá thường dễ bị ung thư phổi, nhưng biết bao người không uống rượu và hút thuốc lá mà vẫn bị ung thư phổi , thi sao ? Lại nữa, phụ nữ sinh con thì dễ bị ung thư ngực, nhưng có nữ tu không hề sinh đẻ mà vẫn bị ung thư ngực !

Vậy không lẽ Chúa phạt những người bị tai nạn hay bệnh tật kia???

Chắc chắn là không. Nhưng phải giải thích thế nào cho hợp lý và tìm ra ý nghĩa của sự đau khổ với con mắt đức tin của người tín hữu Chúa Kitô trong năm Đức Tin này.

Thật vậy, đau khổ là một thực trạng không thể tránh được trong trần gian này như Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa :'

" Trong thế gian

Anh em sẽ phải gian nan khốn khó

Nhưng hãy can đảm lên

Thầy đã thắng thế gian. (Ga 16: 33)

Nhưng trước khi Chúa đến trần gian để chia sẻ thân phận con người với nhân loại, sự đau khổ , sự dữ đã đầy rẫy trong trần gian như Kinh Thánh Cựu Ước đã ghi lại. Cụ thể ông Gióp (Job) là người " vẹn toàn, ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và tránh xa điều ác."( G 1: 1). Vậy mà ông đã gặp hoạn nạn, đau khổ lớn lao bất ngờ, không thể tưởng tượng được : nào con cái (bảy con trai ba con gái) bỗng chốc lăn ra chết hết trong một trận cuồng phong từ sa mạc thổi đến. Nào đàn gia xúc của ông gồm bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái và một số đông tôi tớ cũng bỗng chốc bị giết và cướp mất khỏi tay ông ! Nhưng trước tai ương khủng khiếp này , ông Gióp chỉ biết quỳ xuống than thở với Chúa như sau :

" Thân trần truồng

Sinh ra từ lòng mẹ

Tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng

ĐỨC CHÚA đã ban cho

ĐỨC CHÚA lại lấy đi

Xin chức tụng danh ĐỨC CHÚA ! (G1 : 21)

Chính vì lòng trung kiên yêu mến, kính sợ Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, như khi được mọi điều sung sướng và nhất là khi phải đau khổ vì tai ương bất ngờ, ông Gióp đã được Thiên Chúa khen lao và ban lại cho ông gấp đôi những gì ông đã mất: ông lại sinh được bảy con trai và ba con gái xinh đẹp nhất trong xứ sở và sống thọ thêm một trăm bốn mươi năm nữa . (cf.G 42: 12-17)

Như thế , sự đau khổ, tai ương là phương tiện hữu hiệu Thiên Chúa đã dùng để thử thách các tôi tớ trung kiên của Người như các ông Mô- sê, Ap-bra-ham Gióp và Tô-bia.

Ngươc lai, đôi khi Thiên Chúa cũng dùng tai ương, đau khổ để trừng phạt con người vì tội lỗi và ngoan cố không muốn ăn năn sám hối để được tha thứ. Đó là hinh phạt Đại hồng thủy trong thời Cựu Ước, đã cuốn đi vào lòng đai dương tất cả mọi người, mọi sinh vật trên mặt đất, trừ gia đình ông Nô-e và các sinh vật được ông đem vào tàu trước khi mưa tuôn đổ xuống địa cầu. ( St 6: & 7)

Lại nữa, Thiên Chúa đã dùng lửa và mưa sinh diêm từ trời xuống để hủy diệt thành Xô-đôm , vì ông Ap-bra-ham không tìm được người ngay lành nào trong thành tội lỗi đó, để xin Chúa tha chết cho thành ấy. ( Sđd : 19)

Nhưng khi dân thành Ni-ni-vê nghe theo lời kêu gọi của ngôn sứ Giô-na ăn chay , cầu nguyện và xám hối thì Thiên Chúa đã tha không đánh phạt họ như Người đã ngăm đe. (. Gn 3: 1-10)

Như vậy , trong thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã dùng đau khổ , gian nan khốn khó để thử thách các tôi tớ trung thành và cũng để đánh phạt những kẻ làm những sự dữ , tội lỗi mà không chiu xám hối và từ bỏ con đường gian ác.

Dân Do Thái, cho đến thời Chúa Giêsu xuống trần và đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, vẫn quen nghĩ rằng sự khó, sự đau khổ và tai ương xảy ra cho ai thì tại tội lỗi của người đó hay của cha mẹ nạn nhân. Cho nên khi thấy một người mù từ bé, các môn đệ của Chúa Giêsu đã hỏi Người như sau :

" Thưa Thầy, ai đã phạm tội khiến người này sinh ra đã bị mù, anh ta hay cha mẹ anh ta?( Ga 9 : 2). Chúa Giêsu đã trả lời họ như sau : "không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng chuyện đó xảy ra là để các việc của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh." ( Sđd 9; 3)

Việc của Thiên Chúa được tỏ hiện là Chúa Giêsu đã chữa cho anh mù được xem thấy để minh chứng Người là quả thực là Đấng Thiên Sai ( Mê-si-a ) đã đến trong trần gian để " cho người mù được thấy. kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết trỗi dậy, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng.." ( Lc 7 : 22 ) .

Nhưng cũng trong Tin Mừng Thánh Gioan, Chúa Giêsu cũng nói với một người đã đau ốm lâu năm và Chúa đã chữa lành cho anh ta. Nhưng khi gặp lại anh này trong Đền Thờ sau đó, Chúa đã nói với anh điều đáng chú ý như sau :

" Này, anh đã được khỏi bệnh. Đừng phạm tội nữa, kẻo lại phải khốn hơn trước." ( Ga 5: 14)

Như thế có nghĩa là tội lỗi cũng có thể là nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người như Chúa đã nói trên đây. Kinh nghiệm thực tế ngày nay cũng chứng minh điều này. Kẻ trộm cắp cứ quen sống bất lương như vậy, sẽ có ngày gặp tai họa khi vào nhà ai để ăn trộm và có thể bị chủ nhà bắn chết. (ở Mỹ rất nhiều người dân có súng trong nhà để tự vệ). Người ngoai tình cũng có thể bị tình địch giết chết vì đã gian díu với vợ hay chồng của người khác. Lái xe ẩu, vượt đèn đỏ có thể gây ra án mạng cho người khác và cho chính người lái xe ẩu. Đúng là tội đâu vạ đấy như người Việt Nam chúng ta thường nói.

Tuy nhiên, là người tín hữu, chúng ta được dạy dỗ để tin rằng sự đau khổ về thể lý hay tâm hồn cũng là phương tiện mà Thiên Chúa dùng để cho chúng ta được thông phần sự thương khó đau khổ với Chúa Kitô, Đấng đã vui lòng chịu mọi sự khốn khó cho đến chết đau thương trên thập giá để cho chúng ta được cứu độ và có hy vọng được hưởng hạnh phúc Nước Trời với Chúa sau hành trình đức tin trên trần thế này.

Thật vậy, Chúa Giê-su Kitô là Đấng Thiên Sai (Messaih) đã đến trần gian làm Con Người, đã chiu khốn khó ngay từ khi sinh ra trong cảnh cực kỳ khó nghèo nơi hang lừa máng cỏ, bị đe dọa giết chết bởi Hêrôđê khiến Đức Mẹ và Thánh Giuse phải mang chậy trốn sang Ai Cập lúc đêm khuya.. Lớn lên, Người đi rao giảng Tin Mừng trong điều kiện rất khó nghèo, lang thang đó đây như kẻ vô gia cư đúng như Chúa đã nói với các môn đệ :" con chồn có hang, chim trời có tổ , nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu." ( Mt 8 : 20)

Là Đấng Thiên Sai, Chúa Kitô sẽ "phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục , các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại." ( Sđd 16: 21)

Phêrô, môn đệ được Chúa khen ngợi vì đã tuyên xưng đúng Người là " Đấng Kitô, con Thiên Chúa hằng sống.". Nhưng khi nghe Chúa nói đến những đau khổ mà Người sắp phải chịu trước khi chết, sống lại và lên trời vinh hiển, Phêrô đã tìm cách can ngăn Chúa như sau : " Xin Thiên Chúa thương đừng để cho Thầy gặp chuyên đó.".( Sđd 16: 22)

Để trả lời cho Phêrô và cũng để dạy cho chúng ta biết giá trị của đau khổ, Chúa đã quở trách ông như sau: "Xa tan , hãy lui lại đàng sau Thầy ! anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người." .( Sđd 16: 23)

Phêrô can ngăn Chúa vì đã hành động đúng với suy tư của mọi người trần thế là không ai muốn chiu sự gì khốn khó, đau khổ. Ai cũng muốn được luôn khỏe mạnh, sung sướng , an nhàn, có nhiều tiền của và danh vọng ở đời. Không ai muốn bệnh tật, nghèo đói và bị khinh chê, tù đầy hay bắt bớ . Ước vọng được khỏe mạnh cũng rất chính đáng và đẹp lòng Chúa, như tác giả Sách Huấn Ca đã viết:

" Người đã chết thì hết xưng tụng vì nó không còn nữa

Chỉ người đang sống và khỏe mạnh mới ca ngợi Đức Chúa." ( Hc 17 : 28)

Vì thế, người đau ốm cầu xin Chúa cho được lành bệnh tật của thân xác:

"Lậy Chúa, xin đoái thương, này con đang kiệt sức

Chữa lành cho vì gân cốt rã rời

Toàn thân con rã rời quá đỗi

Mà lậy Chúa, Chúa còn trì hoãn đến bao giờ ? ". ( Tv 6 : 3-4)

Cầu xin cho được khỏe mạnh và bình an trong cuộc sống là điều tốt phải xin Chúa và không có gì đáng chê trách. Nhưng bệnh tật và rủi ro thì không ai tránh được trong cuộc sống ở đời này. Người đạo đức, lương thiện và kẻ bất lương gian ác đều không ít thì nhiều phải đau khổ như bệnh tật, tai nạn bất ngờ, tang chế trong gia đình vì người thân mất đi.... Tuy nhiên, cứ xem gương Chúa Giêsu , Đức Mẹ và các Thánh thì người có đức tin phải hiểu rằng đau khổ có giá trị cứu rỗi và là phương thế hiệu nghiệm mà Thiên Chúa dùng để thánh hóa và cải hóa con người, cũng như để thử thách lòng tin yêu của các tôi tớ trung kiên như trường hợp các ngôn sứ Mô-Sê, Abraham, Gióp và Tôbia đã nói ở trên.

Vì đau khổ có giá trị xin tha tội, nên ông Mô-sê đã xin hiến mạng sống mình làm của lễ để xin Thiên Chúa tha tội cho dân Do Thái xưa:

" Ông Mô-sê trở lại với ĐỨC CHÚA và thưa : "than ôi dân này đã phạm một tội lớn. Họ đã làm cho mình một tượng thần bằng vàng. Nhưng giờ đây ước gì Ngài miễn chấp tội họ. Bằng không, thì xin Ngài xóa tên con khỏi cuốn Sách Ngài đã viết." ( Xh 32 : 31-32)

Chính vì giá trị cứu chuộc của đau khổ mà Chúa Kitô, Đấng Thiên Sai, Người Tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa, đã vui lòng "uống chén đắng" là vác thập giá, chịu mọi cực hình cho đến khi chết đau thương trên thập giá để đền tội cho nhân loại và cho chúng ta hy vọng được sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau. Phải nói là có hy vọng thôi chứ không phải là bảo đảm chắc chắn ngay từ bây giờ, không phải vì sự đau khổ của Chúa Kitô chưa đủ cho con người được cứu rỗi, mà vì con người còn có tự do để cộng tác với ơn Chúa để được cứu chuộc hay bị loại vì đã tự ý khước từ ơn cứu rỗi đó để sống buông thả theo tính hư nết xấu của xác thịt và chậy theo những quyến rũ của thế gian đang tràn ngập với "văn hóa của sự chết" mà những kẻ không có niềm tin đang ngụp lặn trong đó.

Nếu con người không có thiện chí muốn cộng tác với ơn Chúa để sông theo đường lối của Chúa, thì Chúa không thể cứu ai được , mặc dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con người được cứu rỗi.

Tóm lại, không ai có thể tránh được đau khổ trong cuộc sống trên trần gian này. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, với người có niềm tin nơi Chúa thì đau khổ là phương thế tốt nhất cho ta được trở nên giống Chúa Kitô , Người đã đi vào vinh quang phục sinh qua khổ hình thập giá để dẫn đưa chúng ta vào hưởng hạnh phúc Nước Trời, nếu chúng ta cũng vui lòng vác thập giá theo Người. Nghĩa là chúng ta phải vui lòng chấp nhận những sự khó, sự đau khổ mà chúng ta không kiêu căng đi tìm kiếm nhưng không hậm hực kêu trách Chúa khi gặp phải trong cuộc sống trên trần gian này. Đó là cách chấp nhận đau khổ đẹp lòng Chúa, đúng theo lời dạy của chính Chúa Kitô, là " ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo." (Mt 16: 24).

Vác thập giá theo Chúa có nghĩa là vui lòng chịu mọi sự khó Chúa gửi đến trong cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Vậy chúng ta hãy can đảm và bằng lòng chịu những sự khó, sự đau khổ mà chúng ta không ai muốn kiếm tìm nhưng không tránh được, vì Chúa đã tha phép cho xảy ra để cho ta được thông phần sự thương khó của Chúa Kitô để đền tội mình và tội của người khác, cũng như để cầu xin cho nhiều người chưa biết Chúa được nhân biết và tin yêu Chúa để cùng hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.

Đó là điều quan trọng chúng ta cần suy tư và sống trong Năm Đức Tin này.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 36= BAI GIAO LY 8A 35 -DUC TIN LÀ GI? PDF Print E-mail

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 35)

Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 24.10.2012.

NĂM ĐỨC TIN. ĐỨC TIN LÀ GÌ ?

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

thứ tư vừa qua, với cuộc khởi đầu Năm Đức Tin , tôi đã khởi sự bằng một chuổi mới các bài giáo lý về đức tin.

Hôm nay tôi muốn được cùng Anh Chị Em suy nghĩ về một vấn đề then chốt: đức tin là gì ?

Đức tìn còn có ý nghĩa trong một thế giới mà khoa học và kỷ thuật đã mở ra các chân trời mà cho đến ít lâu trước đây không ai có thể nghĩ đến được?

Ngày nay tin là gì?

Thật vậy, trong thời đại chúng ta cần có một nền đào tạo mới về đức tin,

- dĩ nhiên để hiểu được các chân lý và các biến cố của sự cứu rổi,

- nhưng nhứt là đức tin được nảy sinh ra bởi cuộc gặp gỡ đích thực với Chúa trong Chúa Giêsu Kitô, bởi tình yêu thương đối với Người, bởi phó thác tin cậy vào Người, như vậy lôi cuốn liên hệ đến cả cuộc sống.

1 - Ngày nay, cùng với bao nhiêu dấu chỉ tốt đẹp, cũng đang lớn lên chung quanh chúng ta một loại sa mạc thiêng liêng.

Đôi khi người ta có cảm tưởng rằng, từ những biến cố mà chúng ta biết được tin mỗi ngày, thế giới không đang đi về hướng xây dựng một cộng đồng huynh đệ và hoà bình; chính nhũng tư tưởng về tiến bộ và đời sống sung mãn cũng tỏ ra cho thấy các bóng tối của chúng.

Mặc cho sự cao cả huy hoàng về các khám phá của khoa học và các thành công của kỷ thuật, ngày nay con người dường như không có vẽ gì thực sự trở nên tự do hơn, nhân đạo hơn; vẫn còn bao nhiêu hình thức lợi dụng, các động tác gian mưu, bạo lực, đàn áp, bất công...

Kế đến một loại văn hoá đã đào tạo con người hướng về chân trời

- các vật thể vật chất,

- những gì có thể làm được,

- chỉ tin vào những gì có thể thấy được và chạm đến được bằng chính đôi tay của mình.

Nhưng đàng khác cũng tăng trưởng lên số người cảm thấy minh mất định hướng và, trong việc tìm kiếm vượt qua phía bên kia nhãn quang chỉ giới hạn vào chiều ngang của thực thể, sẵn lòng tin vào tất cả những gì trái ngược lại.

Trong bối cảnh vừa kể thoát hiện ra một vài câu hỏi nền tảng, thiết thực hơn nhiều đối với những gì xuất hiện ra lúc ban đầu: sống có ý nghĩa gì?

Có một tương lai cho con người, cho chúng ta và các thế hệ tương lai không?

Tự do của chúng ta phải được hướng về các sự lựa chọn nào để có được một cuộc kết thúc tốt đẹp và hạnh phúc cho đời sống?

Cái gì đang chờ đợi chúng ta bên kia ngưỡng cửa của cái chết?

Từ những câu hỏi không thể xoá bỏ đi được đó cho thấy thế nào là thế giới

- của thiết lập đồ án,

- của tính toán chính xác

- và của thí nghiêm,

nói ngắn gọn thế giới của khoa học, mặc dầu quan trọng cho đời sống con người, một mình thôi không đủ.

Chúng ta cần có

- không chỉ bánh vật chất,

- chúng ta còn cần có cả tình yêu thương,

- ý nghĩa và hy vọng,

- cần có một nền tảng chắc chắn, một đất đai cứng chắc để giúp chúng ta có được cuộc sống với ý nghĩa chính đáng ngay cả trong cơn khủng hoảng, trong các lúc tăm tối, trong các khó khăn và các vấn đề hằng ngày.

Đức tin ban tặng cho chúng ta điều đó: là một phó thác tin tưởng vào một " Cha ! ", tức là Thiên Chúa, Đấng ban tặng cho tôi một niềm vững chắc khác biệt, nhưng không có gì ít cứng chắc hơn sự vững chắc mà tôi có được từ thế giới chiết tính chính xác hay khoa học.

Đức tin

- không phải chỉ đơn sơ là một sự đồng thuận trí thức của con người đối với các chân lý cá biệt về Thiên Chúa,

- mà là một động tác, qua đó tôi tư do phó thác vào một Thiên Chúa, là Cha yêu thuơng tôi; là động tác gia nhập liên kết với " Cha ", Đấng ban tặng cho tôi hy vọng và tin tưởng.

Dĩ nhiên động tác gia nhập liên kết đó không phải thiếu nội dung: với động tác gia nhập kết hợp đó chúng ta ý thức rằng

- chính Thiên Chúa đã tỏ hiện Người cho chúng ta nơi Chúa Kitô,

- đã làm cho chúng ta thấy được diện mạo Người và đã làm cho Người thực sự trở nên gần gũi với mỗi người chúng ta.

2 - Nói đúng hơn, Thiên Chúa đã mạc khải tình yêu của Người đối với con người, đối với mỗi người chúng ta, là tình yêu không thể đo lường được: trên thập giá, Chúa Giêsu Nazareth, Con Thiên Chúa nhập thể làm người, tỏ cho chúng ta thấy một cách sáng tỏ hơn đến độ nào tình yêu thương đó được thể hiện, đến độ hy sinh chính mình, đến hy sinh trọn vẹn tất cả.

Với mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa Kitô,

- Thiên Chúa xuống đến tận cùng trong nhân tính chúng ta,

- để đem nhân tính đó về lại với Người,

- để đưa nhân tính đó lên đến cao độ của Người.

Đức tin là tin vào tình yêu thương nầy của Thiên Chúa, không bị mất đi trước thái độ man rợ của con người, trước điều ác và cái chết, mà là tình yêu có khả năng biến đổi mọi hình thức nô lệ , bằng cách ban cho khả năng được cứu rổi.

Như vậy tin là gặp gỡ với " Cha " , " Chúa ", Đấng nâng đỡ tôi và ban cho tôi lời hứa một tình yêu thương bất khả tiêu diệt, không những hướng về vô tận, mà còn ban cho tôi vô tận đó; tin là phó thác tôi cho Chúa với thái độ của một đứa bé, biết rõ rằng tất cả các khó khăn của mình, tất cả các vấn đề của mình đều nằm ở nơi vững chắc trong " má à ! ".

Và điều có thể được cứu rổi nầy, nhờ đức tin, là một quà tặng được Chúa ban cho tất cả mọi người.

Tôi nghĩ rằng chúng ta sẽ phải suy niệm thường xuyên hơn - trong đời sống hằng ngày của chúng ta, được đánh dấu bằng những vấn đề và những tình trạng nhiều khi thật thảm đạm - về sự kiện tin một cách Kitô giáo có nghĩa là sự giao phó nầy của tôi với lòng tin cậy vào ý nghĩa sâu xa nâng đỡ tôi và thế giới,

- ý nghĩa đó là chúng ta không thể tự mình cho chúng ta được,

- mà chỉ có thể lãnh nhận như là quà tặng đươc ban cho, và đó là nền tảng mà trên đó chúng ta có thể sống không phải sợ sệt.

Lòng vững chắc giải thoát và trấn an nầy của đức tin, chúng ta phải có khả năng loan báo bằng lời nói và cho thấy bằng đời sống Kitô hũu của chúng ta.

Nhưng chung quanh chúng ta, hằng ngày chúng ta thấy còn có nhiều người dững dưng hay khước từ đón nhận lời loan báo nầy.

Vào cuối Phúc Âm Thánh Marco hôm nay, chúng ta có những lời cứng rắn của Chúa Phục Sinh cho biết:

- " Ai tin và chịu phép rửa sẽ đươc cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án " ( Mc 16, 16), sẽ bị mất chính mình.

Tôi muốn được mời gọi Anh Chị Em hãy suy tư điều vừa kể.

Lòng tin và động tác của Chúa Thánh Thần phải thúc đẩy chúng ta luôn luôn đi và rao giảng Phúc Âm, can đảm nhân chứng đức tin; nhưng bên kia điều đáp ứng tích cực lại ơn ban có được đức tin, cũng có thể có nguy hiểm của việc khước từ Phúc Âm, việc không đón nhận cuộc gặp gỡ sống với Chúa Kitô.

Thánh Augustino đã đặt lên vấn đề nầy trong một bài bình luận của ngài về dụ ngôn người gieo giống:

- " Chúng ta nói - ngài nói - chúng ta gieo hạt giống, chúng ta rải hạt giống. Có những người khinh bỉ, có những kẻ trách cứ, có những kẻ nhạo cười. Nếu chúng ta sợ sệt đối với họ, chúng ta không có gì khác để gieo và đến ngày gặt, chúng ta sẽ không có gì để thu góp. Bởi đó ước gì có hạt giống trên đất tốt " ( Discorso sulla disciplina cristiana, 13, 14: PL 40, 677-678).

Như vậy, thái độ từ chối không thể làm cho chúng ta nãn chí.

Với tư cách là người tín hữu Chúa Kitô, chúng ta là nhân chứng cho khoản đất màu mỡ nầy: đức tin của chúng ta, mặc dầu trong tầm các giới hạn của chúng ta, cho thấy rằng có khoản đất tốt, nơi mà hạt giống Lời Chúa sinh dồi dào hoa trái công chính, hoà bình và tình yêu thương, nhân loại mới, sự cứu độ.

Và cả lịch sử Giáo Hội, với tất cả những vấn đề, cho thấy có đất tốt, có hạt giống tốt và đem lại hoa trái.

3 - Nhưng chúng ta tự hỏi từ đâu con người múc lấy được độ cởi mở con tim và lý trí để tin vào Chúa, Đấng đã làm cho mình có thể được thấy nơi Chúa Giêsu Kitô chết và sống lại, để chúng ta đón nhận được ơn cứu rổi, như vậy Người và Phúc Âm của Người trở thành định hướng và ánh sáng cho cuộc sống?

Câu trả lời: chúng ta có thể tin vào Chúa, bởi vì Người đến gần chúng ta và đụng chạm đến chúng ta, bởi vì Chúa Thánh Thần, ơn ban của Chúa Phục Sinh, làm cho chúng ta có khả năng đón nhận Thiên Chúa hằng sống.

Như vậy, đức tin trước tiên là một ơn ban siêu nhiên, một quà tặng của Chúa.

Công Đồng Vatican II xác nhận:

- " Để có thể sử dụng được đức tin nầy, cần có ơn Chúa tiên liệu và trợ lực, và cần có các sự giúp đỡ của Chúa Thánh Thần, Đấng lay chuyển con tim và làm cho con tim quy hướng về Chúa, mở rộng đôi mắt của lý trí " và ban cho tất cả sự dịu dàng trong đồng thuận và tin vào chân lý " ( Hiến Chế Tín Lý Dei Verbum, 5).

Ở gốc rễ cuộc hành trình đức tin của chúng ta, có Phép Rửa,

- phép Bí Tích ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần,

- làm cho chúng ta trở thành con cái Chúa trong Chúa Kitô,

- và tỏ dấu cho bước hội nhập của chúng ta vào cộng đồng đức tin, vào Giáo Hội: không ai tự mình có thể tin, mà không có ơn Chúa Thánh Thần báo trước và không ai tin một mình, nhưng cùng với anh em.

Từ Phép Rửa trở đi, mỗi tín hữu được kêu gọi hãy sống và hành động chính lời tuyên xưng đức tin nầy, cùng với anh em mình.

Đức tin là ơn Chúa ban cho, nhưng cũng là một động tác tự do sâu thẩm của con người.

Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo nói lên điều đó một cách rõ ràng:

- " Không có thể tin, nếu không có ơn Chúa và các trợ lực kế tiếp của Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên không đúng cho rằng tin là một động tác tự động của con người. Tin không có gì nghịch lại tự do cũng như trí óc con người " ( n. 154).

Đúng hơn, tin có liên hệ và nâng cao trí tuệ con người. Trong một cuộc thử thách đời sống tin như là một chuyến xuất hành, tức là một động tác thoát xuất ra khỏi mình , ra khỏi những gì mình cho là vững chắc, ra khỏi các lược đồ trí óc của chính mình, để phó thác cho động tác của Chúa , Đấng chỉ đường của Người cho chúng ta để đạt được tự do đích thực, căn tính nhân loại của chúng ta, nỗi tươi vui đích thực của con tim, nền hoà bình với tất cả.

Tin là ủy thác minh với tất cả tự do và với niềm vui tươi vào đồ án quan phòng của Chúa trên lịch sử, như tổ phụ Abraham, như đã hành xử Mẹ Maria ở Nazareth.

Như vậy đức tin là một sự đồng thuận mà qua đó trí tuệ và con tim của chúng ta nói tiếng " xin vâng " lên Chúa, bằng cách tuyên xưng Chúa Giêsu là Chúa.

Và tiếng " xin vâng " đó thay đổi đời sống, mở đường cho đời sống hướng về một ý nghĩa hoàn hảo, làm cho đời sống trở nên mới, đầy vui tươi và hy vọng đáng được tin cậy.

Các bạn thân mến, thời đại chúng ta đòi buộc người tín hữu Chúa Kitô

- hãy để cho Chúa Kitô nắm lấy mình,

- hãy lớn lên trong đức tin nhờ vào việc quen thuộc với Thánh Kinh và các Phép Bí Tích.

Người tín hữu Chúa Kitô hãy là những người như một cuốn sách mở ra, kể lại kinh nghiệm đời sống mới trong Chúa Thánh Thần, sự hiện diện của Chúa là Đấng nâng đở chúng ta trong cuộc hành trình và mở ra chơ chúng ta đời sống sẽ không bao giờ hết.

Cám ơn các bạn.

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Thông tấn www.vatican.va, 24.10.2012).

 
HOC HOI DE SONG DAO # 35 = LICH PHUNG VU THÁNG 11 PDF Print E-mail

Lịch Phụng Vụ Tháng 11/2012 1

Hide Details

FROM:

phuong Tran

Message flagged

Saturday, October 20, 2012 8:19 PM

LỊCH PHỤNG VỤ THÁNG 11/2012

(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)

Trong tháng này chúng ta sẽ mừng lễ các Chúa Nhật Thường Niên (năm B) 31, 32, 33, và 34 (Lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ), và Lễ Các Thánh, Lễ Các Linh Hồn, Lễ Đức Mẹ Dâng Mình, Lễ Tạ Ơn, và Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Lễ Các Thánh Nam Nữ (Ngày 1/11): Tháng 11 là tháng cuối cùng trong năm Phụng Vụ; vì thế Giáo Hội dành để nhớ đến các Thánh Nam Nữ đã được thưởng công trên Nước Chúa. Trong suốt năm Phụng Vụ chúng ta mừng những ngày lễ kính các vị Thánh khác nhau, như lễ kính Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu (Ngày 1/10), lễ kính Thánh Phanxicô Assisi (Ngày 4/10), vv... Giáo Hội chỉ suy tôn một số Vị đặc biệt và có ngày kính riêng trong suốt năm Phụng Vụ. Nhưng hôm nay Giáo Hội kính chung tất cả các Vị Thánh; vì những Vị đã được lên Thiên Đàng đều là Thánh, "đông đảo không thể đếm được, thuộc mọi nước, mọi dân và mọi tiếng nói ..." (Xin xem Bài Đọc 1).

Bài Đọc 1 (Khải Huyền 7:2-4, 9-14) nói đến một số đông vô kể các vị Thánh Nam Nữ đã được thưởng công trên Nước Trời... Trong đó có những vị "đã từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy áo trắng trong Máu Con Chiên." Trong Bài Đọc 2 (1Gioan 3:1-3), Thánh Gioan Tông Đồ nhắc nhở chúng ta là các tín hữu, chúng ta đã được thưa với Chúa là Cha và chúng ta được là con Chúa (chúng ta nhớ đến kinh Lạy Cha); vậy chúng ta hãy cố gắng thánh hoá bản thân để sống thánh thiện xứng đáng con cái Chúa là Đấng Thánh. Bài Phúc Âm (Matthêu 5:1-12): Đây là bản "Phúc Thật Tám Mối", Chúa Giêsu đã nói đến và những ai chấp nhận và thực hành đầy đủ thì "phần thưởng của họ sẽ được trọng đại trên Nước Trời." Đó là những người đã sống tinh thần khó nghèo, đã sống hiền lành yêu thương mọi người, đã sống đời sống khổ đau, đã luôn ước muốn điều công chính, đã có lòng thương người, đã sống đời sống trong sạch, đã sống hòa thuận với mọi người, đã bị bách hại vì lẽ công chính, đã chịu ghen ghét và hành hạ vì danh Chúa.

LỄ CÁC LINH HỒN (Ngày 2/11): Hôm nay chúng ta đặc biệt nhớ đến các vị đã qua đời nhưng chưa được thưởng công trên Nước Trời, vì chưa đền tội đủ, còn cần phải được thanh luyện trong Luyện Ngục. Chúng ta nhớ đến Mầu Nhiệm Giáo Hội cùng thông công: Giáo Hội trần gian là Giáo Hội chiến đấu (vì chúng ta còn đang phải chiến đấu với các cám dỗ và cố gắng thực hành đức mến Chúa, yêu người); Giáo Hội trên Trời là Giáo Hội chiến thắng (vì các Vị Thánh đã chiến thắng tội lỗi và được thưởng công trên Nước Trời); Giáo Hội nơi luyện tội là Giáo Hội đau khổ (vì những vị ở đó còn phải chịu đau khổ để thanh luyện và đền tội).

Tháng 11 là tháng cuối cùng trong năm Phụng Vụ (Sau đó chúng ta bước sang đầu năm Phụng Vụ mới với Chúa Nhật thứ 1 Mùa Vọng), nên Giáo Hội dùng để cầu nguyện đặc biệt cho các linh hồn nơi luyện tội, và được gọi là Tháng Các Linh Hồn. Thực ra chúng ta vẫn nhớ đến ông bà cha mẹ chúng ta (chứ không phải: "Theo Đạo là bỏ ông bà!") và cầu nguyện cho các ngài hằng ngày; nhưng trong tháng này chúng ta nhớ đến các ngài cách đặc biệt hơn.

Bài Đọc 1 (Sách Khôn Ngoan 3:1-9) nói đến linh hồn những người sống công chính ở đời này mà nay đã qua đời: "Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa và đau khổ sự chết không làm gì được các Ngài..." Cái chết của các Ngài chỉ là một cuộc tạm biệt chúng ta ở đời này để đi vào cuộc sống vĩnh cửu, cuộc sống đời đời trên Nước Chúa. Bài Đọc 2 (Thơ Rôma 5:5-11): Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta là "ngay khi chúng ta còn là những tội nhân, Chúa Kitô đã chết cho chúng ta" để đền tội cho chúng ta và thanh tẩy chúng ta, để chúng ta có thể được tha thứ mọi tội lỗi và khi chết sẽ được hưởng vinh quang trên Nước Chúa; miễn là chúng ta phải cố gắng hàng ngày để chừa bỏ tội lỗi và thánh hoá bản thân. Bài Phúc Âm (Gioan11:17-27): Nhân dịp Chúa Giêsu cho "ông La-gia-rô đã chết và chôn trong mồ bốn ngày" được sống lại. Chúa Giêsu đã nói cho chúng ta "Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dù có chết vẫn sẽ được sống. Ai sống và tin Ta sẽ không chết đời đời."

(Xin đọc thêm bài " Tháng 11: Tháng Các Linh Hồn" đã được gửi đến quý vị trước đây).

CHÚA NHẬT 31 THƯỜNG NIÊN (Ngày 4/11): Lề luật của Chúa ban cho con người không phải để bó buộc con người, không phải để làm mất tự do của con người; nhưng ngược lại làm cho con người được tự do để sống trong tình yêu của Chúa. Lề luật của Chúa cũng bảo đảm trật tự của xã hội; giống như lề luật của giao thông ở ngoài đường phố có vẻ làm mất tự do của chúng ta; nhưng thực sự lại làm cho giao thông được an toàn, không gây tai nạn cho người lái xe hay người đi đường.

Vì thế ngay từ thời Cựu Ước Thiên Chúa đã ban luật lệ cho loài người phải "ghi vào lòng" và "tuân giữ" để sống xứng đáng như con người mà Chúa đã dựng nên theo hình ảnh Chúa, và để tôn thờ Chúa là "Thiên Chúa duy nhất," để "yêu mến Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết sức." (Xin xem Bài Đọc 1: Đệ Nhị Luật 6:2-6). Trong Bài Phúc Âm (Matcô 12: 28-34), Chúa Giêsu nói rõ hơn về lề luật MẾN CHÚA và YÊU NGƯỜI: " Hãy yêu mến Chúa hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức..." và "yêu mến tha nhân như chính mình." Hai giới răn đó chỉ là một và đó là giới răn quan trọng hơn mọi giới răn. Khi chúng ta chu toàn bổn phận thờ phượng và yêu mến Chúa và yêu mến người khác như chính chúng ta là chúng ta đã chu toàn mọi giới răn khác. Vì thế kết thúc bản kinh "Mười điều răn Đức Chúa Trời" chúng ta đọc: " Mười điều răn ấy tóm về hai điều này mà chớ: Trước là kính mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau là yêu thương người khác như chính mình vậy. Amen." Trong Bài Đọc 2 (Thơ Do-Thái 7:23-28), Thánh Phao-lô nói về chức vụ Thượng Tế của Chúa Giêsu là vĩnh viễn; còn các tư tế trong Cựu Ước chỉ là chức vụ chóng qua với cái chết của mỗi tư tế. Còn những ai có chức Linh Mục thời Tân Ước là được tham dự vào chức Thượng Tế vĩnh viễn của Chúa Giêsu ; nhưng dù các vị "đã được Chúa gọi và chọn và nâng lên bậc cao cả," các vị vẫn mang thân phận là con người , vẫn bị cám dỗ và yếu đuối; nên các vị phải dâng lễ đền tội cho chính mình, sau đó là đền tội cho dân chúng.

CHÚA NHẬT 32 THƯỜNG NIÊN (Ngày 11/11): Ai có lòng đạo đức thật thì luôn sống khiêm tốn, tự hạ mình và làm mọi việc chỉ vì lòng mến Chúa yêu người; chứ không có ý để khoe khoang, hay để được người ta khen mình là người đạo đức. Đó là "đạo giả hình" "đạo đức giả" như những "luật sĩ" mà Chúa Giêsu nói đến trong bài Phúc Âm hôm nay (Matcô 12:38-44) "Họ đi lại trong bộ áo thụng, thích được người ta chào khi ở ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc," như vậy là thích "ăn trên ngồi trước." Trong phần hai của bài Phúc Âm, Chúa Giêsu cũng khen ngợi bà goá nghèo chỉ bỏ vào thùng công đức một số tiền rất nhỏ bằng 1/4 xu, vì bà chỉ có như vậy nên "có bao nhiêu bà bỏ bấy nhiêu, với cả tấm lòng thành" "của ít lòng nhiều!"; trong khi những người giàu có bỏ nhiều, nhưng chỉ bỏ phần dư thừa, có khi còn có ý để khoe khoang.

Chúa Giêsu có ý dậy chúng ta những bài học cụ thể để chúng ta noi theo và sửa đổi đời sống đạo của chúng ta theo đúng thánh ý Chúa: sống đạo thật lòng chỉ vì lòng mến Chúa yêu người.

Bài Đọc 1 (1Sách Các Vua 17:10 -16) ghi lại câu chuyện tiên tri Êlia và bà goá nghèo thành Serepta: nhờ lòng hảo tâm của bà đối với người của Chúa là tiên tri Êlia mà Thiên Chúa đã làm phép lạ cho "hũ bột sắp hết của bà sẽ không cạn và bình dầu sẽ không vơi đi..." cho đến ngày hết nạn đói. Câu chuyện này dạy chúng ta bài học: Nếu chúng ta quảng đại giúp đỡ người khác chỉ vì lòng mến Chúa, thì Chúa lại quảng đại trả lại cho chúng ta nhiều hơn, vì "Chúa không bao giờ thua lòng quảng đại của chúng ta." Hơn nữa Chúa hằng ban cho chúng ta muôn ơn lành phần hồn phần xác, thì chúng ta cũng phải quảng đại với Chúa qua sự rộng rãi giúp đỡ người khác. Bài Đọc 2 (Thơ Do-Thái 9:24-28): Thánh Phao-lô tiếp tục nói đến chức Linh Mục thượng phẩm đời đời của Chúa Giêsu. Ngài chỉ cần dâng của lễ cao quý một lần đã đủ đền muôn vàn tội lỗi của chúng ta. Ngài đã hiến thân chịu nạn chịu chết để cứu chuộc nhân loại một lần; rồi Ngài đã sống lại và "lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha," và Ngài sẽ "xuất hiện lần thứ hai, không phải để chuộc tội (nhân loại nữa) nhưng để cứu độ những ai trông đợi Ngài."

CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN (Ngày 18/11): Chúng ta đang tiến dần đến những ngày cuối cùng của Niên Lịch Phụng Vụ. Vào những ngày này, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta về những ngày cuối cùng của thế giới. Ngày Chung Thẩm hay cũng gọi là Ngày Phán Xét Chung. Sách giáo lý căn cứ vào lời Chúa trong Kinh Thánh dậy chúng ta là: khi chết, thân xác chúng ta sẽ trở về cát bụi, còn linh hồn được phán xét riêng, và được thưởng công trên Nước Trời hay phải thanh tẩy nơi luyện tội là tùy theo đời sống của mỗi người chúng ta. Nhưng đến ngày tận thế, chúng ta sẽ được sống lại cả hồn lẫn xác và chịu phán xét chung:" Có người sẽ được hưởng phúc trường sinh, có kẻ sẽ phải tủi nhục muôn đời" (Xin xem Bài Đọc 1: Daniel 12: 1-3) tùy theo công nghiệp của mỗi người. "Người lành hay kẻ dữ" đều được thưởng phạt công minh. Mọi cuộc sống sẽ được tỏ hiện cho mọi người thấy, không có gì có thể che dấu được. Trong Bài Phúc Âm (Matcô 13:24-32), Chúa Giêsu cũng nói về ngày Tận Thế như Bài Đọc 1; nhưng Chúa Giêsu nói rõ hơn và đầy đủ hơn: "Ngày đó mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng sẽ mất sáng..." Nhưng ngày đó bao giờ sẽ đến thì Chúa Giêsu nói "không ai biết được, dù các Thiên Thần trên trời, dù Con Người cũng chẳng biết được, chỉ mình Chúa Cha biết mà thôi." Vậy chúng ta đừng nghe những lời đồn nhảm về ngày Tận Thế sẽ đến vào ngày nọ ngày kia; nhưng hay luôn luôn sống sẵn sàng, với lòng mến Chúa yêu người, xa tránh mọi dịp tội, làm lành tránh dữ, luôn sống thanh thiện đẹp lòng Chúa, hoà hợp với mọi người và chu toàn mọi bổn phận hàng ngày, và hãy luôn cầu nguyện xin Chúa gìn giữ chúng ta trong ơn nghĩa Chúa luôn. Trong Bài Đọc 2 (Thơ Do-Thái 10:11-14, 18), Thánh Phao-lô tiếp tục nói về chức vụ Linh Mục đời đời của Chúa Giêsu. Ngài đã hiến thân chỉ một lần qua việc chịu chết trên Thánh Giá để cứu chuộc nhân loại và Ngài đang ngự trong vinh quang trên Nước Hằng Sống. Ngày tận thế Ngài sẽ đến trần gian lần thứ hai "để phán xét người lành, kẻ dữ" và thưởng phạt tùy theo mỗi người.

LỄ ĐỨC MẸ DÂNG MÌNH TRONG ĐỀN THỜ (Ngày 21/1): Thánh lễ hôm nay kỷ niệm việc cha mẹ của Đức Maria (Thánh Gioan Kim và bà Thánh Anna) dâng Đức Maria vào đền thờ. Thánh lễ hôm nay nhắc nhở chúng ta là các tín hữu của Chúa, chúng ta đã được thánh hoá và hoàn toàn thuộc về Chúa qua Bí Tích Rửa Tội, chúng ta hãy luôn cảm tạ Chúa và sống ơn gọi của mỗi người chúng ta, như một giáo dân hay linh mục hay tu sĩ nam nữ.

Các bài đọc: Bài Đọc 1 (Giacaria 2:14-17), bài Phúc Âm (Luca 12: 46-50).

LỄ TẠ ƠN (Thứ Năm 22/11): Hôm nay hợp cùng Giáo Hội Hoa Kỳ, chúng ta dâng lễ Tạ Ơn Chúa vì muôn ơn lành Thiên Chúa đã ban cho đất nước Hoa Kỳ từ mấy thế kỷ nay, và hiện giờ đất nước Hoa Kỳ trở nên "Miền Đất Hứa" cho bao nhiêu người, một quốc gia Tự Do và Dân Chủ thực sự.

Bài Đọc 1 (Đức Huấn ca 50:22-24) nhắc nhở dân chúng Do-Thái hãy " cầu nguyện cùng Thiên Chúa...Vì Ngài đã làm những việc vĩ đại trên toàn cõi địa cầu... Đã luôn đối xử với chúng ta theo lòng nhân hậu của Ngài...". Bài Đọc 2 (Côrinthô 1:3-9): Thánh Phao-lô nói là Ngài luôn cảm tạ Chúa cho chúng ta vì muôn ơn lành phần hồn, phần xác Chúa đã ban cho chúng ta, nhất là đã cho chúng ta sinh ra đời và đưa vào Giáo Hội của Chúa. Thánh Phao-lô cũng nhắc nhở chúng ta hãy luôn biết tạ ơn Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Bài Phúc Âm (Luca 17:11-19) ghi lại việc Chúa Giêsu đã chữa lành mười người phong cùi "mà chỉ có một người sau khi đi trình diện với các Tư Tế đã trở lại, sấp mình dưới chân Chúa Giêsu và tạ ơn Chúa." Người đó lại không phải là người Israel mà là người xứ Samaria. Điều này nhắc nhở chúng ta hãy luôn nhớ đến bao ơn lành Chúa đã thương ban cho chúng ta, gia đình chúng ta, thế giới chúng ta, và hãy luôn cảm tạ Chúa và sống xứng đáng con cái Chúa.

LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM (Ngày 24/11): Hôm nay chúng ta hợp cùng Giáo hội toàn cầu và Giáo Hội Việt Nam dâng lễ trọng thể kính các Vị Thánh đã chết vì Đức Tin tại quê hương Việt Nam chúng ta. Ngoài các Vị người Việt Nam, còn có những nhà truyền Giáo thuộc Giáo Hội Tây Ban Nha và Giáo Hội Pháp. Có 117 Vị đã được Giáo Hội suy tôn và kính nhớ chung vào ngày hôm nay và vào ngày mỗi Vị bị tử đạo. Tuy nhiên, còn nhiều Vị khác cũng đã chết vì Niềm Tin vào Chúa; các Vị thuộc nhiều lớp tuổi khác nhau, địa vị khác nhau, nam có, nữ có; có cả các quan chức triều đình. Các Ngài là cha ông của chúng ta, đã được Chúa ban cho Đức Tin thật mạnh mẽ kiên cường để sẵn sàng từ bỏ mọi sự và chịu mọi cực hình cho đến chết vì Đạo Thánh Chúa. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa cho các Ngài và xin các Ngài bầu cử cho chúng ta là con cháu luôn được ơn Chúa, sống Đức Tin mạnh mẽ và truyền lại Đức Tin cho con cháu chúng ta và rao giảng Chúa cho mọi người trong cuộc sống hàng ngày, ngay tại gia đình, khu xóm, sở làm...

Các Bài Đọc: Bài Đọc 1 (Sách Khôn Ngoan 3:1-9); Bài Phúc Âm (Matthêu 10:17-22).

(Xin đọc thêm bài "Cây Đa Tử Đạo" đã được gửi đến quý vị trước đây).

CHÚA NHẬT 34 (Ngày 25/11) LỄ CHÚA KITÔ VUA VŨ TRỤ: Giáo Hôi dâng ngày Chúa Nhật cuối cùng trong năm Phụng Vụ để kính lễ Chúa Kitô là Vua Vũ Trụ. Chúa Giêsu là vua không phải là để bắt người ta phải hầu hạ, phục vụ, không phải để thống trị mọi người như các vua chúa trần gian; nhưng Chúa Giêsu đã đến trần gian để phục vụ mọi người và đã chịu đau khổ và chịu chết để cứu chuộc nhân loại chúng ta. Vì thế chúng ta suy tôn Ngài như vị vua của vũ trụ ; vì sau khi lên trời vinh hiển Ngài vẫn không lìa bỏ chúng ta, nhưng vẫn điều hành mọi loài trên trời dưới đất và hướng dẫn chúng ta trong cuộc lữ hành trần gian đi về quê hương Nước Trời. Trong Bài Phúc Âm (Gioan 18: 33-37), Chúa Giêsu trả lời Phi-la-tô: " Nước tôi không thuộc về thế gian này... Tôi đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân Lý. Ai thuộc về Chân Lý thì nghe tiếng tôi." Bài Đọc 2 (Khải Huyền 1: 5-8) cũng xác nhận: " Chúa Giêsu Kitô là Đấng yêu thương chúng ta. Ngài đã dùng Máu Châu Báu của Ngài để rửa sạch chúng ta khỏi mọi tội lỗi và đã làm cho chúng ta trở nên vương quốc và tư tế của Thiên Chúa ..." Bài Đọc 1 (Daniel 7: 13-14) nói đến vương quốc của Chúa Kitô thuộc mọi dân tộc, chi họ và tiếng nói... Quyền năng của Ngài là quyền năng vĩnh cửu, không khi nào bị cất mất; vương quốc Ngài không khi nào bị phá hủy."

Vậy bước vào Tháng 11, tháng cuối cùng trong năm Phụng Vụ, chúng ta hãy nhớ thân phận mỗi người chúng ta sẽ phải qua cái chết, rồi phán xét riêng và phán xét chung. Nghĩ như thế không phải để chúng ta "bi quan yếm thể" mà chỉ để chúng ta đối diện với sự thực, và luôn sống một cuộc sống có ý nghĩa, luôn sống đẹp lòng Chúa, vui vẻ chu toàn bổn phận hàng ngày, thực hành lòng mến Chúa, yêu người, thì ngày Phán Xét sẽ đưa chúng ta đến cuộc sống trong nước vĩnh cửu của Chúa để chung hưởng vinh quang cùng với Đức Mẹ và các Thánh, cùng với các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cùng với tổ tiên, ông bà, cha mẹ chúng ta đã đi trước chúng ta.

Chúng ta đã bắt đầu vào NĂM ĐỨC TIN từ ngày 11/10/2012 và sẽ tiếp tục cho đến ngày 24/11/2013. Chúng ta hãy dành nhiều thời giờ để đọc Kinh Thánh, đi dự các khóa Hội Thảo, và cầu nguyện nhiều, xin "Chúa thêm Đức Tin" cho chúng ta, cho giới trẻ, con cháu chúng ta, được thông hiểu về Đức Tin, giữ vững Đức Tin giữa một thế giới đầy xáo trộn ngày nay.

Xin cùng hiệp lời cầu nguyện, xin Chúa chúc lành cho chúng ta, giúp chúng ta biết thực hành Đức Tin trong đời sống hàng ngày, đem Đức Tin đến cho những người chung quanh chúng ta, trong gia đình, khu xóm, sở làm. Xin Chúa gìn giữ chúng ta trong ơn nghĩa Chúa luôn.

-------------------------------------

 
HOC HOI DE SONG DAO # 34 = BAI GIAO LY NAM DUC TIN PDF Print E-mail

BÀI GIÁO LÝ NGÀY THỨ TƯ ( 8A 34)

Công trường Thánh Phêrô, buổi yết kiến ngày thứ tư, 17.10.2012.

NĂM ĐỨC TIN. PHẦN GIỚI THIỆU.

ĐỨC THÁNH CHA BENEDICTUS XVI

Anh Chị Em thân mến,

hôm nay tôi xin được giới thiệu một chu kỳ mới về các bài giáo lý, sẽ được khai triển suốt Năm Đức Tin vừa mới bắt đầu và gián đoạn - trong thời gian nầy - chu kỳ dành cho học đường dạy cầu nguyện.

Với Tông Thư Porta Fidei tôi đã dành năm nay là Năm Đặc Biệt , chính vì để Giáo Hội nhiệt tình canh tân đức tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ duy nhứt của thế giới, để Giáo Hội hồi sinh lại niềm vui cuộc hành trình đã được chỉ dẫn cho chúng ta, và nhân chứng một cách thiết thực sức mạnh chuyển đổi của đức tin.

1 - Lễ kỷ niệm năm mươi năm ngày khai mạc Công Đồng Vatican II là cơ hội quan trọng

- để trở về với Chúa, để đào sâu và sống đức tin của mình với lòng can đảm hơn,

- để tăng cường trạng thái mình là thành phần thuộc về Giáo Hội, " Vị Thầy của nhân loại ", mà bằng

* công bố Lời Chúa,

*cử hành các Bí Tích

* và các công tác bác ái,

Giáo Hội dẫn dắt chúng ta gặp được và biết được Chúa Kitô, Thiên Chúa thật và là người thật.

Đây không phải là một cuộc gặp gỡ bằng tư tưởng hay với với một đồ án của cuộc sống, nhưng là gặp gỡ với một Ngôi Thiên Chúa sống, Đấng thay đổi sâu đậm chính chúng ta, bằng cách mạc khải căn tính đích thực con cái Thiên Chúa của chúng ta.

Gặp gỡ với Chúa Kitô , chúng ta đổi mới các quan hệ con ngưòi của chúng ta, bằng cách định hướng, ngày qua ngày, càng liên đới hỗ tương hơn và huynh đệ hơn, trong tính cách hợp lý của tình yêu thương.

Có đức tin vào Chúa

- không phải là một cách gì đó mà chỉ ảnh hưởng đến lý trí của chúng ta,

- nhưng là một sự thay đổi có liên quan đến cuộc sống, đến tất cả con ngưòi chúng ta: tình cảm, con tim, trí khôn ngoan, ý chí, cơ thể, cảm xúc, các mối quan hệ.

Thực sự, đức tin, chúng ta thay đổi tất cả trong chúng ta và cho chúng ta, và tiết độ rõ ràng số phận tương lai của chúng ta, sự thật về ơn gọi của chúng ta trong lịch sử, ý nghĩa của cuộc sống, niềm thú vị là người hành hương hướng về Cha trên trời.

Nhưng chúng ta tự hỏi, thực sự đức tin là sức mạnh chuyển đổi trong cuộc sống chúng ta, trong cuộc sống của tôi ?

Hay đức tin chỉ là một trong các yếu tố trong cuộc sống, chớ không phải là yếu tố quyêt định có liên quan đến toàn thể cuộc sống?

Với các bài giáo lý của Năm Đức Tin nầy, chúng ta muốn được thực hiện một cuộc hành trình để tăng cường hay tìm gặp lại được niềm vui của đức tin, bằng cách hiểu biết rằng

- đức tin không phải là một cái gì đó xa lạ, cách biệt với đời sống thực tế,

- nhưng mà chính là linh hồn của cuộc sống,

Đức tin vào một Thiên Chúa là tình yêu, và Người đã làm cho mình gần gũi với con người bằng cách nhập thể mình và bằng cách hiến tặng chính mình trên thập giá

- để giải thoát chúng và mở lại cửa Trời cho chúng ta,

- chỉ cho biết một cách sáng tỏ rằng sự trọn hảo của con người chỉ được thể hiện trong tình yêu.

Ngày nay, điều đó cần phải được lập lại một cách rõ ràng, trong khi các cuộc thay đổi văn hoá đang xảy ra thường cho thấy bao nhiều hình thức man rợ, đang xảy ra dưới dấu hiệu của " các cuộc chinh phục của nền văn minh " .

Đức tin khẳng định rằng

- không có nhân loại đích thực trong đó con người không được thúc đẩy bằng động tác, trong thời gian và trong các cách thức, trong đó con người được thúc đẩy bởi tình yêu thoát xuất từ Thiên Chúa,

- được thể hiện như một món quà, hiện thực trong mối quan hệ đầy yêu thương, cảm thông, chú tâm và phục vụ vị tha đối với người khác.

Ở đâu có thống trị, chiếm hữu, biến người khác thành vật dịch vụ cho ích kỷ của chính mình, ở đâu có lòng kiêu ngạo của bản ngã đóng kín vào chính mình, con người trở thành cạn kiệt, suy thoái, biến dạng.

Đức tin Kitô giáo, hoạt động trong bác ái và mạnh mẽ trong hy vọng, không hạn hẹp, mà nhân loại hoá cuộc sống, hay đúng hơn làm cho cuộc sống hoàn hảo nhân bản hóa.

Đức tin là đón nhận sứ điệp chuyển đổi nầy trong cuộc sống chúng ta, đón nhận mạc khải của Thiên Chúa, Đấng

- làm cho chúng ta biết Người là ai,

- Người tác động như thế nào,

- Người có những đồ án nào dành cho chúng ta.

Dĩ nhiên, mầu nhiệm Thiên Chúa vẫn luôn luôn vượt lên trên khái niệm của chúng ta và lý trí của chúng ta, các nghi lễ và lời cầu nguyẹn của chúng ta.

Tuy nhiên, bằng mạc khải, Thiên Chúa thông ban chính Người cho chúng ta, hàn huyên với chúng ta, làm cho chúng ta có thể biết được Người.

Và chúng ta được làm cho có khả năng lắng nghe được Lời Người và lãnh nhận được chân lý của Người.

Đó là điều kỳ diệu của đức tin: Thiên Chúa, trong tình yêu của Người, dựng nên nơi chúng ta - qua động tác của Chúa Thánh Thần - các điều kiện thích ứng, để chúng ta có thể biết được Lời của Người.

Chính Thiên Chúa trong thánh ý Người tỏ hiện mình, để có được liên lạc với chúng ta, làm cho mình hiện diện trong lịch sử chúng ta, làm cho chúng ta có khả năng lắng nghe được Người và đón nhận được Người. Thánh Phaolồ diễn tả ra điều đó với niềm vui và lòng biết ơn như sau:

- " Về phần chúng tôi, chúng tôi không ngừng tạ ơn Chúa, vì khi chúng tôi nói cho anh em Lời Thiên Chúa, anh em đã đón nhận, không phải như lời người phàm, nhưng như Lời Thiên Chúa, đúng theo bản tính của lời ấy. Lời đó tác động nơi anh em là những tín hữu " ( 1 Ts 2, 13).

2 - Thiên Chúa đã tỏ mình ra bằng lời nói và bằng động tác trong suốt một dòng lịch sử lâu dài của tình bạn bè đối với con người, đến thượng đỉnh trong cuộc Nhập Thể của Con Thiên Chúa và trong Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Người.

Thiên Chúa đã

- không chỉ tỏ mình ra trong lịch sử của một dân tộc, không những chỉ nói qua các Tiên Tri,

- mà còn đã vượt qua các từng Trời của Người để hội nhập như là một con người vào đất đai của con người, để chúng ta có thể gặp được Người và lắng nghe được Người.

Và từ Giêrusalem Phúc Âm cứu rổi được loan báo lan rộng đến tận cùng trái đất.

Giáo Hội được sinh ra từ cạnh sườn Chúa Kitô, đã trở thành chủ thể mang niềm hy vọng vững chắc mới : Chúa Giêsu Nazareth, chịu đóng đinh và phục sinh, là Đấng Cứu Độ thế giới, Đấng đang ngự bên phải Chúa Cha và là Vị Thẩm Phán kẻ sống và kẻ chết. Đây là kerigma, lời loan báo tâm điểm và đột phá của đức tin.

Nhưng ngay từ lúc đầu, có vấn đề được đặt ra về " lề luật của đức tin ", hay đúng hơn là lòng trung thành của các tín hữu đối với chân lý Phúc Âm, trong đó vẫn vững chắc đối với chân lý cứu độ của Chúa và chân lý về con người cần phải được gìn giữ và loan báo. Thánh Phaolồ viết:

- " Nhờ Tin Mừng đó, anh em được cứu thoát, nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo, bằng không thì anh em có tin cũng vô ích " ( 1 Cor 15, 2).

Nhưng ở đâu chúng ta tìm ra được công thức thiết yếu của đức tin?

Ở đâu chúng ta tìm thấy được các chân lý mà chúng ta được trung thực truyền đạt đến và là ánh sáng cho cuộc sống hằng ngày của chúng ta?

Câu trả lời rất đơn giản: trong Kinh Tin Kính, trong Tuyên Xưng Đức Tin hay trong Biểu Tượng của đức tin.

Chúng ta liên kết lại với biến cố ban đầu Con Người và Lịch Sử Chúa Kitô Nazareth , làm cho thể hiện thiết thực điều mà Vị Tông Đồ dân ngoại đã nói với các Kitô hữu thành Corinto:

- " Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận , đó là Chúa Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Thánh Kinh, rồi Người đã được mai táng và ngày thú ba đã trỗi dậy" ( 1 Cor 15, 3).

Ngày hôm nay cũng vậy, chúng ta cần Kinh Tin Kính phải được biết rõ hơn, hiểu rõ hơn và cầu nguyện nhiều hơn.

Điều quan trọng nhứt là Kinh Tin Kính, có thể nói như vậy, " được nhìn nhận ".

Biết, trên thực tế, có thể chỉ là một động tác trí thức, trong khi " nhìn nhận " ( hay nhận biết ) có nghĩa là

- cần phải khám phá ra mối liên hệ sâu đậm giữa các chân lý mà chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính và trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta,

- để cho các chân lý đó thực sự và có hiệu quả - như lúc nào các chân lý đó vẫn là -, ánh sáng cho các bước đi trong cuộc sống chúng ta, nước tưới lên những cuộc nóng thiêu đốt trên bước đường của chúng ta, sự sống vượt thắng những sa mạc trong cuộc sống hiện đại.

Kinh Tin Kính phải được tháp ghép vào đời sống luân lý của người tín hữu Chúa Kitô,bởi lẽ trong đó người tín hữu gặp được nền tảng và lý chứng của cuộc sống luân lý đó.

3 - Không phải ngẩu nhiên mà Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolồ II đã muốn cho Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo, chuẩn định vững chắc lời huấn dạy đức tin và nguồn mạch vững chắc để dạy giáo lý, lại đưọc đặt nền tảng trên Kinh Tin Kính.

Đó chính là điều xác nhận và bảo vệ cốt lõi của chân lý đức tin , làm cho chân lý đó trở thành ngôn từ dễ hiểu hơn cho con người trong thời đại chúng ta.

Giáo Hội có nhiệm vụ truyền bá đức tin , truyền bá Tin Mừng, để cho chân lý Kitô giáo là ánh sáng trong các văn hoá mới, và các Kitô hữu có khả năng là làm cho niềm hy vọng mà mình mang nơi mình có lý chứng ( 1 Pt 3, 14).

Ngày nay, chúng ta đang sống trong một xã hội thay đổi sâu xa, ngay cả so với những năm gần đây, và đang tiếp tục chuyển động.

Các tiến trình thế tục hoá và tâm lý phồ biên chủ thuyết hư vô, trong đó mọi việc điều được tương đối hóa, có một tác động quan trọng với tâm lý chung. Bởi đó cuộc sống thường được sống một cách nhẹ dạ, không có lý tưởng rõ ràng và hy vọng vững chắc, mối liên hệ lỏng lẻo, tạm thời trong các mối liên hệ xã hội và gia đình.

Nhứt là các thế hệ trẻ không được giáo dục để tìm kiếm chân lý và ý nghĩa sâu sắc của cuộc sống, vượt lên trên sự ổn định tình cảm, tin tưởng.

Trái lại, thái độ đó dẫn đến không có điểm cố định, nghi ngờ và sống theo ước muốn phá vở đi các mối liên hệ nhân loại, trong khi đó thì đời sống được sống trong các kinh nghiệm chóng qua, và vô trách nhiệm.

Nếư cá nhân chủ nghĩa và tương đối chủ nghĩa dường như đang chiếm đoạt tâm hồn của nhiều người đương thời, không ai có thể nói rằng các tín hữu được hoàn toàn miễn nhiễm khởi các nguy cơ nầy. Đó là những vấn đề chúng ta đang đương đầu trong vệc truyền bá đức tin.

Các cuộc điều tra được đưa ra trên tất cả các lục địa, để cử hành phiên nhóm họp Thượng Hội Đồng Giám Mục về Tân Phúc Âm Hoá đã làm nổi bậc một vài điều:

- một đức tin sống một cách thụ động và riêng tư,

- việc khưóc từ đức tin được giáo dục,

- việc gãy đổ giữa cuộc sống và đức tin.

Người tín hữu Chúa Kitô, thường khi, không biết cả nhân cội đức tin công giáo của chính mình, Kinh Tin Kính, như vậy anh em đó để chỗ trống cho hỗn tạp chủ nghĩa và tương đối tôn giáo chủ nghĩa, không có hiểu biết rõ ràng về những chân lý phải tin và về sự độc đáo cứu độ của Kitô giáo.

Như vậy chúng ta không còn xa cách bao nhiêu khỏi mối nguy hiểm cho việc thành lập một tôn giáo " tự biến chế lấy " ( fai da te, do - it-yourseft ).

Trong khi đó, trái lại, chúng ta nên trở về với Chúa, với Chúa của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta phải khám phá ra lại sứ điệp của Phúc Âm, đưa sứ điệp đó vào trong tâm trí của chúng ta và trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.

Trong những bài giáo lý Năm Đức Tin nầy, tôi muốn được đem đến một trợ lực để thực hiện cuộc hành trình nầy, để lấy lại và tìm hiểu sâu đậm hơn các chân lý trung tâm điểm của đức tin về Chúa, về con người, về Giáo Hội, về tất cả các thực tại và vũ trụ, bằng cách suy niệm và suy nghĩ về những xác quyết của Kinh Tin Kính.

Và tôi ao ước các nội dung hoặc các chân lý nầy của đức tin ( fides quae) trở nên sáng tỏ, sẽ được trực tiếp nối kết với cách sống của chúng ta; các điều đó đòi buộc một cuộc sám hối của đời sống, làm phát sinh ra một phương thức mới tin vào Thiên Chúa ( fides qua).

Biết được Chúa, gặp được Người, hiểu biết sâu đâm khám phá ra các tính năng của khuôn diện Người có liên hệ với đời sống chúng ta, bởi vì Người đi vào các động năng sâu thẩm của con người.

Ước gì đi ngang qua cuộc hành trình mà chúng ta sẽ thực hiện trong năm nay sẽ làm cho tất cả chúng ta được lớn lên trong đức tin và trong tình yêu Chúa Kitô, bởi vì chúng ta có thể học được cách sống, trong các việc lựa chọn và hoạt động hằng ngày, của đời sống tốt lành và tươi đẹp của Phúc Âm,

Cám ơn Anh Chị Em.

Phỏng dịch từ nguyên bản Ý Ngữ: Nguyễn Học Tập.

( Thông tấn www.vatican.va, 17.10.2012).

 
<< Start < Prev 151 152 153 154 155 156 157 158 159 Next > End >>

Page 152 of 159