mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay1580
mod_vvisit_counterHôm Qua5492
mod_vvisit_counterTuần Này1580
mod_vvisit_counterTuần Trước47410
mod_vvisit_counterTháng Này152339
mod_vvisit_counterTháng Trước250618
mod_vvisit_counterTất cả14767207

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao
HOC HOI DE SONG DAO # 28 = NGUOI TIN HUU CHUA KITO... PDF Print E-mail

NGUỜI TÍN HỮU CHÚA KITÔ PHẢI CÓ NHỮNG NHÂN ĐỨC NÀO ?

Hỏi : xin cha giải thích các nhân đức mà người Công giáo phải có để sống đức tin trước mặt người khác.

Đáp : Nói đến những nhân đức ( Virtues) mà người Công Giáo phải có để sống xứng đáng với địa vị của mình là Kitô hữu trước mặt người đời, chúng ta nhớ ngay đến lời Thánh Phaolô đã nói với tín hữu Phi-Lip-Phê xưa như sau :

"Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quí, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến, và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh (nhân đức) đáng khen, thì anh em hãy để ý. Những gì anh em đã học hỏi, đã lãnh nhận, đã nghe , đã thấy nơi tôi, thì hãy đem ra thực hành, và Thiên Chúa là nguồn bình an sẽ ở với anh em." ( PL 4 : 8-9)

Qua lời khuyên trên đây của Thánh Phaolô, chúng ta thấy tầm quan trọng phải trang bị cho mình những đức tính và những nhân đức cần thiết để xứng đáng là người Kitô hữu sống trong Giáo Hội và ngoài xã hội

Thật vậy, sở dĩ phải nói đến các nhân đức -nói chung - là vì Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con người trí hiểu biết và ý muốn tự do.(Intelligence and free will) Nhờ trí hiểu con người biết phân biệt giữa cái xấu và cái tốt, giữa sự lành, sự thiên hảo và mọi điều gian ác, nhơ nhuốc và sự dữ đầy rẫy ở khắp nơi trên trần thế này. Biết phân biệt ranh giới giữa thiện và ác, giữa tốt và xấu sẽ đưa đến tự do chọn lựa để đứng về phía nào và chịu trách nhiệm về chọn lựa của mình trước Thiên Chúa là Đấng cực tốt, cực lành, nhưng rất gớm ghét mọi sự dữ, sự xấu , sự gian ác và ô uế, hư thân mất nết..

Do đó, sống xứng đáng là con người thôi cũng đòi hỏi đức hạnh để phân biệt mình với loài vật chỉ có bản năng sinh tồn. Là người tín hữu , càng cần có nhân đức hay đức hạnh để sống đẹp lòng Chúa hơn. Đức hạnh là nét đẹp của tâm hồn không phải tự nhiên mà có.Trái lại, đó là kết quả luyên tập của lý trí và ý chí nhằm tô điểm cho mình những vẻ đẹp tinh thần không những để phân biệt mình với loài vật mà cả với những người không chú tâm tập luyện cho mình những nhân đức cao đẹp giúp nâng cao phẩm giá con người là thụ tạo có lý trí và ý muốn tự do..

Trong lãnh vực thiêng liêng, nhân đức là những vẻ đẹp của tâm hồn đưa ta đến gần Thiên Chúa là Chân Thiên Mỹ tuyệt đối, với ước muốn tha thiết là được trở nên giống Người và " được thông phần bản tính Thiên Chúa, sau khi đã thoát khỏi cảnh hư đốn do dục vọng gây ra trong trần gian này." ( 2 Pr 1: 4) Nói khác đi, ta không thể sống đẹp lòng Chúa mà không cố gắng trở nên giống Chúa trong mọi sự, từ lời nói đến suy tư và cung cách hành động trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống con người trên trần thế này.

Giáo lý Giáo Hội phân chia ra hai loại nhân đức sau đây :

A- Nhân đức nhân bản hay đối nhân ( Human Virtues)

B- Nhân đức thần học hay đối Thần ( Theological Virtues).

A- Nhân đức nhân bản là những đức tính luân lý đã được tập thành do nhận thức được những gì là tốt đẹp, là xứng đáng với phẩm giá con người, khác xa thảo mộc và loài vật chỉ có bản năng mà không có lý trí và ý chí.Nhận thức rồi cố gắng tập luyện với quyết tâm của ý chí tự do để trở thành tập quán (habit) vững chắc chỉ đạo cho mọi hành vi con người qui hướng về những mục đích thiện hảo mà lý trí đã nhìn ra và thúc đẩy con người tiến tới.

Có 4 nhận đức gọi là nhân đức trụ ( Cardinal Virtues) vì vai trò quan trọng của nó trong việc hướng dẫn hành vi con người tiến đến mục đích tốt.

Bốn nhân đức trụ đó là khôn ngoan, công bằng, dũng cảm và tiết độ.

1- Nhân đức không ngoan ( Prudence) là nhân đức luân lý nhờ đó con người phân biệt điều thiện hảo và sự gian ác để từ đó, tự do chọn lựa điều thiện hảo trong thực hành để hành vi nhân linh của mình có giá trị luân lý, đạo đức.. Hành vi nhân linh ( Human act) thì khác xa với hành động của con người ( act of man) ở điểm căn bản là hành vi nhân linh mang tính luân lý,( morality) còn hành động của con người thì không. Thi dụ : đi, đứng, nói ,cười , nằm nghỉ , ăn, uống, hít thở không khí....là những hành động tự nhiên của con người, không mang tính luân lý. Trái lại,chửi bới, lăng mạ người khác, giơ tay chém giết người, chân bước đi tìm thú vui dâm ô, ngoại tình, hoặc đi đến các nơi cờ bạc và vui chơi thác loạn... là những hành vi nhân linh vì xuất phát từ ước muốn của tâm hồn, của lý trí và tự do chiều theo những đòi hỏi của các khuynh hướng ( tendencies) xấu trong bản năng nên mang tính luân lý. Về mặt đạo đức, con người chỉ chịu trách nhiệm trước Thiên Chúa về mọi hành vi nhân linh của mình mà thôi.

Nghĩa là, nếu con người sử dụng đức khôn ngoan khi hành động thì sẽ tránh được những tội lỗi , những nguy cơ đưa đến hành động xấu và gian ác, trái nghich với những đòi hỏi của luân lý , đạo đức

2- Đức công bằng ( Justice) là nhân đức luân lý xuất phát từ Thiên Chúa là Đấng chí công vô tư. Chính Người đã truyền cho dân Do Thái xưa mệnh lệnh này: " ngươi không được trộm cắp." )Xh 20: 15; Đnl 5: 19, Mt 19: 18)

Đức công bằng đòi buộc con người tôn trọng tài sản, sinh mạng và danh dự của người khác như của chính mình khi sống chung trong cộng đồng xã hội.Nó cũng đòi buộc trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa như Chúa Giêsu đã nói bọn Biệt phái xưa kia: " của Xê-da ( Caesar) trả về cho Cê-da, của Thiên Chúa , trả về Thiên Chúa." ( Mt 22: 21; Mc 12: 17); Lc 20: 25).

Mỗi người chúng ta nhận lãnh từ Thiên Chúa một linh hồn và những tài năng trí tuệ khác nhau.Do đó, chúng ta phải trả lời Thiên Chúa về những gì mình đã làm cho linh hồn cùng những tài năng Chúa đã ban ; ví như chủ nhà kia đã trao cho các đầy tớ mỗi người một số nén vàng khác nhau, và cuối cùng chủ sẽ đỏi các đầy tớ đó tính sổ về những gì họ đã làm với những nén vàng họ đã nhận lãnh. ( x Mt 25: 14-30)

Liên quan đến đức công bằng, Thánh Phaolô đã khuyên tín hữu Cô-lô-xê như sau :

" Người làm chủ hãy đối xử công bằng và đồng đều với các nô lệ, vì biết rằng cả anh em nữa cũng có một Chủ ở trên trời." ( Cl 4: 1)

Chúa là Đấng chí công vô tư, nên Người sẽ phán đoán chúng ta theo lòng nhân từ và công bằng của Người.Vì thế, đừng ai lầm tưởng rằng cứ bỏ nhiều tiền ra xin lễ, mua lễ đời đời và mua "hậu" của những nơi buôn thần bán thánh, là chắc chắn sẽ được vào Nước Trời sau khi chết. Trái lại, phải biết khôn ngoan sắm lấy cho mình kho tàng không hư mất ở trên Trời, nơi "trộm cắp không bén bảng, và mối một không đục phá" ( Lc 12 :33), bằng quyết tâm yêu Chúa và sống theo đường lối của Người ngay từ bây giờ thì đó mới là bảo đảm vững chắc cho phần rỗi mai sau để vui hưởng hạnh phúc Nước Trời. Không có cố gắng cá nhân công tác với ơn Chúa, mà chỉ dựa vào người khác cầu nguyện cho thì sẽ không ích gì, vì không ai có thể "ăn hộ "cho người khác được no nê về mặt thiêng liêng và tự nhiên được.

3-Đức dũng cảm ( Fortitude) là nhân đức luân lý giúp con người cương quyết thi hành điều

thiên hảo mà lý trí đã nhận biết và thúc dục ý chí theo đuổi cho đến cùng, dù gặp nhiều khó

Khăn cản trở.Nó cũng giúp con người chống lại mọi cảm dỗ của xác thịt, của ma qủi và

gương xấu của thế gian, nhất là giúp con người dám chết cho niềm tin của mình như các

Thánh Tử Đạo, cha ông ta. Đây chính là điều Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa:

" Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó.

Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian." ( Ga 16: 33)

Như thế., nếu không có đức dũng cảm và nhờ ơn Chúa nâng đỡ thì khó lòng đứng vững trước mọi nguy cơ cám đỗ hướng về sự dữ, sự xấu và tội lỗi.

4-Đức tiết độ ( Temperance ) là nhân đức luân lý giúp ta chế ngự những đòi hỏi, lôi cuốn của vui thú bất chánh hoặc tham mê những của cải và vui thú xác thịt trái nghịch với đức công bằng và với luân lý, đạo đức mà người tín hữu phải tránh cho được sống đẹp lòng Chúa. Không có đức tiết độ, người ta sẽ dễ chiều theo những đòi hỏi hay đam mê của dục vọng, và tội lỗi.

Đó là lý do vì sao Thánh Phaolô đã khuyên môn đệ Ti Tô như sau :

" Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục , mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này." ( Tt 2: 12)

B- Nhân đức đối thần hay thần học:

là những nhân đức hay động lực giúp ta hướng về Thiên Chúa là cùng đích của đời mình.Các nhân đức này minh chứng cụ thể niềm tin yêu và hy vọng của chúng ta đặt nơi Thiên Chúa là Đấng vô hình nhưng chắc chắn có thật và đã mặc khải Người cách trọn vẹn và cụ thể cho ta nơi Chúa Kitô, là Đấng cứu chuộc nhân loại, đã mang xác phàm để cho ai " Thấy Thầy, thì cũng thấy Chúa Cha" như Chúa đã trả lời cho môn đệ Phi-lip Phê một ngày kia.( Ga 14:9)

Có 3 nhân đức đối thần là Tin, Cậy và mến.

1- Đức Tin ( faith): nhân đức đối thần này trước hết là một quà tặng ( gift) của Thiên Chúa ban nhưng không cho ta nhưng cũng đòi hỏi sự đáp trả của mỗi cá nhân bằng cố gắng cộng tác với ơn Chúa để đức tin được lớn lên theo thời gian trong chiều kích thiêng liêng. Khi được rửa tội, thì hạt giống đức tin này được gieo vào tâm hồn ta. Nhưng khi lớn lên, nếu không có sự giúp đỡ của cha mẹ và người đỡ đầu bằng gương sáng và lời giảng dạy về Thiên Chúa trong gia đình, và sau đó ở môi trường đức tin là giáo xứ hay công đoàn thì hạt giống đức tin kia không thể tự nó lớn lên được và sẽ không sinh hoa trái gì cho người nhận lãnh. Ngược lại nếu được hướng dẫn từ bé, lớn lên với niềm tin có Chúa và siêng năng cầu nguyện và lãnh các bí tích hòa giải và nhất là Thánh Thể thì sẽ giúp cho đức tin lớn lên đến mức trưởng thành. Sau đó, với quyết tâm của cá nhân cộng tác với ơn thánh để bước đi theo Chúa mỗi giây phút trong cuộc sống thì chắc chắc đức tin sẽ càng lớn mạnh nhờ đời sống đạo đức, vì " đức tin không có việc lành là đức tin chết." như Thánh Gia-cô-bê Tông Đồ đã quả quyết. ( Gc 5:6)

2- Đức Cậy : ( hope) là nhân đức đối thần giúp ta trông cậy vững vàng vào Chúa và hy vọng được vui hưởng Thánh Nhan Người một ngày kia sau khi kết thúc hành trình đức tin trong trần thế này.Dĩ nhiên phải nhờ cậy vào ơn thánh nâng đỡ để ta không nản chí, thất vọng khi gặp gian nan khốn khó trong cuộc sống và trong niềm tin có Chúa. Nếu ta bền chí trông cậy thì chắc chắn Chúa sẽ ban ơn nâng đỡ như Người đã hứa mà tác giả Thư Do Thái đã nhắc lại như sau:

" Chúng ta hãy tiếp tục tuyên xưng niềm hy vọng của chúng ta cách vững vàng, ví Đấng đã hứa là Đấng trung tín." ( Dt 10 :23)

3- Đức mến ( love, charity) là nhân đức đối thần rất quan trọng vì nhờ đó ta thể hiện cách cụ thể lòng yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương anh em như chính bản thân mình. Thánh Phaolô đã coi đức mến ( đức ái) quan trọng hơn cả đức tin và đức cậy trong thư thứ nhất gửi tín hữu Coi-rin-tô như sau:

" Hiện nay đức tin , đức cậy, đức mến

Cả ba đều tồn tại

Nhưng cao trọng hơn cả là đức mến." ( 1 Cor 13: 13)

Đặc biệt hơn nữa là chính Chúa Giêsu đã gọi đức ái là một điều răn mới Chúa ban cho các Tông Đồ sống và thực hành để chứng minh họ là môn đệ của Chúa:

" Thầy ban cho anh em một điều răn mới

Là anh em hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương anh em

Ở điểm này , mọi người sẽ nhận biết: anh em là môn đệ của Thầy

Là anh em có lòng yêu thương nhau." ( Ga 14: 34-35)

Chính Chúa cũng vì yêu thương mà đã hy sinh mạng sống mình cho tất cả mọi người

Chúng ta được sống như Người đã nói với các môn đệ trước giờ tử nạn:

" Không ai có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh

Tính mạng vì bạn hữu của mình." ( Ga 15: 13)

Tóm lại, những nhân đức nói trên- nhân bản và đối thần- là những vẻ đẹp lỗng lẫy của mọi tâm hồn tín hữu Chúa Kitô sống trong Giáo hội và trong xã hội loài người để qua thực hành những nhân đức đó, người tín hữu sẽ là nhân chứng hùng hồn cho Chúa trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa và chưa ý thức được giá trị thiêng liêng của các nhân đức ấy.Ước mong mọi người tín hữu chúng ta cố gắng trang bị cho mình những nhân đức nói trên để cho người đời cứ dấu này " mà nhận biết chúng ta là môn đệ của Thầy" sống giữa họ. ( x. SGLGHCG số 1803- 1829)

Lm Phanxicô Xaviê Ngô tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 27 = THANH TRUYEN LA GI? PDF Print E-mail

THÁNH TRUYỀN LÀ GÌ ?

Hỏi : xin cha giải thích điều gọi là Thánh Truyền trong niềm tin của Giáo Hội.

Trả Lời : Theo giáo huấn của Giáo Hội thì Kinh Thánh ( Sacred Scripture) Thánh Truyền ( Sacred Tradition) hay còn gọi là Truyền Thống Tông Đồ ( Apostolic Tradition) và Mặc Khải ( Divine Revelation) là những nguồn suối đức tin cho ta biết có Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo dựng muôn loài muôn vật, có Chúa Con là Đấng Cứu Chuộc nhân loại đã đến trần gian rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và Chúa Thánh Thần là Thần Chân lý và là Đấng ban sự sống.

Đây là Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi mà chỉ những ai có niềm tin Thiên Chúa và vâng phục giáo lý của Giáo Hội mới có thể tin và chấp nhận được.

Theo Giáo Hội dạy thì Thánh Truyền là " mang lời của Thiên Chúa đã được Chúa Kitô và Chúa Thánh Thần ủy thác cho các Tông Đồ và truyền đạt lời Chúa cách nguyên vẹn cho những người kế vị các Tông Đồ để các vị này gìn giữ, trình bày và truyền bá lời đó cách trung thành khi giảng dạy." ( x. SGLGHCG số 81)

Từ định nghĩa trên, chúng ta hiểu rằng lời Chúa là chính Chúa Giêsu, Ngôi Lời nhập thể, mà các Tông Đồ đã được nghe trong suốt 3 năm theo Chúa đi rao giảng, dạy dỗ và chứng kiến Người làm nhiều phép lạ.Tuy nhiên, trong những năm cuối của thể kỷ thứ nhất, sau khi Chúa Kitô đã hoàn tất công trình Cứu Chuộc nhân loại qua khổ hình thập giá, chết, sống lại và lên Trời, Kinh Thánh Tân Ước chưa có, nên các Tông Đồ chỉ dạy truyền khẩu cho các tín hữu thời sơ khai đó những gì các ngài đã nghe được từ chính Chúa Giêsu là Nguồn Chân Lý đức tin và giáo lý tinh tuyền. Các ngài đã giảng dạy, gìn giữ kho tàng thiêng liêng đó nguyên vẹn để trao lại cho các vị kế tục sứ mạng Tông Đồ trong Giáo Hội như Thánh Phaolô đã nói với môn đệ ngài là Ti-mô-thê như sau về di sản thiêng liêng này :

" Anh Ti-mô-thê, hãy bảo toàn giáo lý đã được giao phó cho anh, tránh những chuyện nhảm nhí, trống rỗng, và những vấn đề trí thức giả hiệu. Có những kẻ , vì chủ trương cái trí thức đó, nên đã lạc mất đức tin. Chúc anh em được ân sủng." ( 1 Tm 6 : 20-21)

Ngoài ra, trong thứ thứ hai gửi cho Ti-mô-thê, Thánh Phaolô cũng nói thêm với môn đệ này như sau :

" Với đức tin và đức mến của một người được kết hợp với Đức Kitô Giêsu, anh hãy lấy làm mẫu mực những lời lành mạnh anh đã nghe tôi dạy. Giáo Lý tốt đẹp đã giao phó cho anh, anh hãy bảo toàn, nhờ có Thánh Thần ngự trong chúng ta. ( 2 Tm 1 : 12-14)

Như thế có nghĩa là- trước khi có Kinh Thánh Tân Ước làm tài liệu học hỏi và giảng dạy, các Thánh Tông Đồ chỉ dạy truyền khẩu những gì các ngài đã nghe từ chính Chúa Giêsu và truyền lại cho các vị kế nghiệp các ngài trong Giáo Hội để tiếp tục dạy dỗ không sai lầm những giáo thuyết mà Chúa Kitô đã giảng dạy cùng những việc Chúa đã làm như chữa lành cho biết bao bệnh nhân, trừ quỉ , làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều cho hàng ngàn người ăn no đủ, cũng như cho người chết sống lại. Các Tông Đồ đã ghi nhớ những việc Chúa làm và lời Người giảng dạy, nên sau này hai Tông Đồ Matthêu và Gioan đã cùng với Maccô và Luca ( môn đệ của Phaolô) đã viết thành 4 Phúc Âm cộng thêm những Thư mục vụ quan trọng ( Epistles) của các Thánh Phaolô, Phê rô, Gioan, Gia-cô-bê, Giuđa ghi lại những lời giảng dạy và những việc Chúa Giêsu đã làm để Giáo hội có thêm nguồn chân lý đức tin là Kinh Thánh Tân Ước để dạy cho dân Chúa, như chúng ta thấy ngày nay.

Nhưng như đã nói ở trên, trước khi có Kinh Thánh Tân Ứớc được viết ra với ơn linh ứng ( inspired) của Chúa Thánh Thần, các Tông Đồ chỉ rao giảng và dạy truyền khẩu, nhưng chính xác các giáo lý mà Chúa Giêsu đã giảng dạy và truyền lại cho những người kế vị để dạy cho Giáo Hội trong buổi ban đầu đó. Những di sản thiêng liêng này được bảo tồn nguyên vẹn để truyền lại cho các thế hệ sau trong Giáo Hội tiếp tục sứ mạng Tông Đồ mà Chúa Kitô đã trao phó trước khi Chúa về trời ,là " anh em hãy đi khắp nơi , loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.." ( Mk 16: 15)

Thánh Tông Đồ Giuđa cũng nói thêm về Truyền Thống Tông Đồ như sau :

" anh em thân mến , tôi vẫn ước mong viết thư cho anh em về ơn cứu độ chung của chúng ta , thì nay lại bó buộc phải viết cho anh em, để khuyên nhủ anh em chiến đấu cho đức tin đã được truyền lại cho các thánh chỉ một lần là đủ. ( Gđa 3)

Nghĩa là chính các Thánh Tông Đồ đã một lần truyền lại giáo lý tinh tuyền, lành mạnh, đức tin vững chắc mà các ngài đã lãnh nhận từ Chúa Giêsu cho các vị kế nghiệp các ngài là các Giám mục trong Giáo Hội từ đầu cho đến ngày nay.Qua các Thư mục vụ có ơn linh ứng, chúng ta đọc được những lời các Thánh Tông Đồ khuyên nhủ các tín hữu ban đầu phải giữ gìn các truyền thống và giáo lý đã được các ngài dạy dỗ và truyền lại cách chính xác như Thánh Phaolô đã nói với các tín hữu Thê-xa-lô-ni-ca như sau :

" Vậy thưa anh em, anh em hãy đứng vững và nắm giữ các truyền thống chúng tôi đã dạy cho anh em bằng lời nói hay bằng thư từ." (2 Th 2: 15)

Không những các Tông Đồ truyền lai những giáo huấn của Chúa Kitô mà còn truyền lại cả những chỉ thị hay tiêu chuẩn để chọn người thay thế các ngài như Thánh Phaolô đã căn dặn môn đệ ngài là Titô như sau :

" Tôi đã để anh ở lại đảo Kêta chính là để anh hoàn thành công việc tổ chức và đặt những kỳ mục ( Giám mục) trong mỗi thành như tôi đã truyền cho anh....Thật vậy , Giám quản , với tư cách là quản lý của Thiên Chúa, phải là người không chê trách được, không ngạo mạn, không nóng tính, không nghiện rượu, không hiếu chiến và không tìm lợi lộc thấp hèn...." ( Tt 1: 2-7)

Những lời căn dặn trên đây của Thánh Phaolô cho thấy các Tông Đồ của Chúa Kitô đã rất thận trọng trong việc chọn người kế vị các ngài để cai trị, dạy dỗ và thánh hóa dân Chúa trong Giáo Hội.

Ước mong sao các vị kế nghiệp các Thánh Tông Đồ ngày nay tuân giữ những chỉ thị trên khi chọn người thay thế mình trong sứ mạng Tông Đồ để không chọn lầm những người không xứng đáng vào vai trò lãnh đạo trong các Giáo Hội địa phương.( Giáo phận).

Qua dòng thời gian Thánh Truyền vẫn sống động và tiến triển nhờ Chúa Thánh Thần hỗ trợ và gìn giữ để kho tàng linh thánh tiếp tục hướng dẫn Giáo Hội trong sứ mạng dạy dỗ, thánh hóa và cai trị dân Chúa thay mặt Chúa Kitô trên trần gian này.

Như thế, Thánh Truyền cũng là những lời giảng dạy đức tin vững chắc , giáo lý tinh tuyền cũng như chỉ thị về việc cắt đặt người cai quản, lên thay thế các ngài trong Giáo Hội từ khởi thủy cho đến ngày nay. Dựa vào Truyền Thống này ,Giáo Hội tiếp tục học hỏi cắt nghĩa và giảng dạy Lời Chúa được mặc khải qua Kinh Thánh và Thánh truyền để dạy đỗ không sai lầm những chân lý đức tin và nền tảng luân lý cho mọi tín hữu trong Giáo Hội Công Giáo, được Chúa Kitô thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ để chuyên chở ơn cứu Độ của Chúa đến hết mọi dân , mọi nước cho đến ngày mãn thời gian.

Sau hết, các Tông Đồ không những chỉ dạy dỗ các tín hữu thời sơ khai với giáo lý vững chắc và lành mạnh mà còn khuyên nhủ tín hứu phải chiến đấu để bảo vệ giáo lý đức tin đó, vì ngay trong buổi ban đầu đã có " những người đã len lỏi vào, những người từ lâu đã bị ghi trước vào danh sách những kẻ bị lên án. Những kẻ vô luân này đã biến ân sủng của Thiên Chúa chúng ta thành lý do biện minh cho lối sống dâm ô, họ chối bỏ Chúa chúng ta là Đức Giêsu-Kitô, vị Chúa Tể duy nhất." ( Gđa 4).

Giáo Hội dạy những giáo lý, tín lý , luân lý và lời Chúa với quyền Giáo Huấn ( Magisterium), một công cụ Chúa Thánh Thần dùng để giúp Giáo Hội dạy dỗ không sai lầm những chân lý đức tin và nền tảng luân lý được các Thánh Tông Đồ truyền lại cho các vị kế tục là các Giám mục trong Giáo Hội. Do đó ai nghe Giáo Hội là nghe các Thánh Tông Đồ và nghe các ngài là nghe chính Chúa Kitô đã gọi và sai họ đi rao giảng như Chúa đã nói rõ trong Tin Mừng Thánh Luca sau đây:

" Ai nghe anh em là nghe Thầy, và ai khước từ anh em là khước từ Thầy;

Mà khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)

Thánh Truyền có liên hệ mật thiết với Thánh Kinh vì cả hai đều xuất phát từ một Nguồn mạch là Thiên Chúa.Thánh Kinh là Lời Chúa đã được ghi chép lại bằng ngôn ngữ loài người dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần. Do đó, sách nào không được coi là có ơn linh ứng thì không được công nhận là Sách thánh. Như vậy chỉ có 45 Sách Cựu Ước và 27 Sách Tân Ước ( 4 Phúc Âm, Sách Tông Đồ công vụ và các thư Mục Vụ) được công nhân là có ơn Linh ứng mà thôi.Và đây là toàn bộ Kinh Thánh mà Giáo Hội Công Giáo đọc và giải thích Lời Chúa.

Thánh Kinh và Thánh truyền đều có chung một mục đích là loan truyền lời Chúa bằng văn tự hay truyền lại bằng lời nói những gì các Tông Đồ đã nghe từ Chúa Kitô trong suốt ba năm Người dạy dỗ họ và dân chúng, cũng như chứng kiến những việc Chúa làm để lưu truyền cho hậu thế.

Thánh Truyền, tức Truyền Thống Tông Đồ, khác với các truyền thống trong Giáo Hội như : truyền thống " thần học , kỷ luật, phụng vụ hoặc sùng đạo đã nảy sinh nơi các giáo hội địa phương qua dòng thời gian.Nhứng truyền thống này là những hình thức riêng biệt để đón nhận Truyền Thống ( Thánh Truyền) của Giáo Hội tại những địa phương khác nhau và ở những thời đại khác nhau.Dưới ánh sáng của Truyền Thống chung này, các truyền thống riêng biệt đã được duy trì , sửa đổi hoặc bị bãi bỏ dưới sự dẫn dắt của Huấn Quyền Giáo Hội." ( x SGLGHCG số 83)

Thí dụ cụ thể : trong nhiều giáo hội địa phương ở Viêt Nam và Phi luật Tân ( các giáo phận) có truyền thống tưởng niệm Tuần Thánh với những nghi thức đóng đanh Chúa,( ở Phi luật Tân và Mễ Tây Cơ, có nơi đã đóng đanh thật một người đóng vai Chúa ! Nhưng việc này đã bị Giáo quyền địa phương ngăn cấm gần đây) hạ xác Chúa và viếng xác Chúa trong ngày Thứ sáu Tuần Thánh. Đây là truyền thống địa phương chứ không phải là Thánh Truyền.

Thánh Truyền chỉ truyền lại sự kiện Chúa bị kết án, bị hành hạ và bị đóng đanh đề đền tội cho cả và loài người. Nhưng do lòng đạo đức, các thừa sai đã dạy cho các tín hữu ở nhiều địa phương làm sống lại các sự kiện trên với những nghi thức dân gian đặc biệt và trở thành truyền thống cử hành mỗi năm vào Mùa Chay và Tuần Thánh ở một số địa phương chứ không ở khắp nơi trong Giáo Hội.

Lại nữa và quan trọng hơn, Thánh Truyền tôn trọng nguyên tắc chỉ chọn người nam ( nam giới) vào các chức vu giám quản( giám mục) và phụ tá ( linh mục ) như Chúa Giêsu đã chọn các ngài.( Chúa không chọn phụ nữ nào làm Tông Đồ) Và cũng theo Thánh Truyền thì không có việc rửa chân cho phụ nữ, mà chỉ cho nam giới như Giáo Hội cử hành hàng năm tại Rôma trong ngày Thứ Năm Tuần Thánh.( Chúa Giêsu cũng không rửa chân cho phụ nữ nào kể cả cho Đức Maria là Mẹ của Người).

Vậy , đòi cho phụ nữ làm linh mục hay rửa chân cho nữ giới là sai Truyền Thống Tông Đồ.

Tóm lại, Thánh truyền là di sản thiêng liêng được các Tông Đồ lưu trữ và truyền lại cho các vị kế tục trong Giáo hội để dạy dỗ chính xác các giáo lý đức tin mà Chúa Giêsu đã giảng dạy và làm gương sáng cho mọi thế hệ học hỏi và noi theo.

Chúng ta chân quý Thánh Truyền hay Truyền Thống Tông Đồ vì nhờ đó chúng ta được thêm vững tin trong chân lý của Đạo Thánh mà Chúa Kitô đã mang xuống từ Trời cho chúng ta tin và thực hành để được cứu độ như lòng Chúa mong muốn. ( cf 1 Tm 2 : 4).

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 26 = MAC KHAI LA GI ? THIEN CHUA... PDF Print E-mail

MẠC KHẢI LÀ GÌ ? THIÊN CHÚA MĂC KHẢI NGÀI CÁCH NÀO CHO CON NGƯỜI ?

I- Mặc khải là gì ?( Revelatio, revelation)

Sách Giáo lý Công Giáo giải thích về mac khải như sau:

" Trong sự khôn ngoan và lòng nhân hậu của Ngài, Thiên Chúa đã vui lòng đích thân tỏ mình ra và cho biết mầu nhiệm của thánh ý Ngài , nhân đó và nhờ Đức Kitô, Ngôi Lời nhập thể , con người có thể đến gần Đức Chúa Cha , trong Chúa Thánh Thần và được trở nên thông phân bản tính thần linh của Ngài." ( SGLGHCG, số 51)

Như thể, hiển nhiên có nghĩa là nếu Thiên Chúa không tự tỏ mình ra ( tự mạc khải) bằng nhiều cách mà chúng ta sẽ tìm hiểu sau đây, thì chắc chắn con người không có cách nào biết được Thiên Chúa là AI cũng như không thể hiểu được thánh ý của Chúa cho con người từ muôn thủa cho đến ngày nay và còn cho mãi đến ngày cánh chung tức là ngày hết thời gian.

Sở dĩ chúng ta không thể biết được Thiên Chúa vì Ngài quả thật siêu vượt ra khỏi mọi khả năng hiểu biết của trí tuệ con người.

Thật vậy , Thiên Chúa là Đấng "ẩn mình" như ngôn sứ I-saia đã nói :

" Lậy Thiên Chúa của nhà It-rael, Lậy Đấng cứu độ

Ngài quả thật là Thiên Chúa ẩn mình ( hidden)" (Is 45: 15)

Thánh Phaolô cũng được soi sáng để nhận biết Thiên Chúa là Đấng "ngự nơi ánh sáng không ai đến được", vì :

" Chỉ mình Người là Đấng trường sinh bất tử

Ngự trong ánh sáng siêu phàm

Đấng không một người nào đã thấy hay có thể thấy." ( 1 Tm 6: 16)

Không thể biết và không thể thấy đối với mọi khả năng trí khôn và giác quan của con người, cho nên, nếu Thiên Chúa không tự tỏ mình ra thì không bao giờ con người có thể biết được gì về Ngài .Đó là sự thật không ai có thể phủ nhận.

II- Vậy Thiên Chúa đã tự mạc khải hay tỏ mình ra cho con người biết phần nào về Ngài qua những phương cách nào ?

1- Trước hết , Thiên Chúa tỏ mình cho con người qua công trình Người sáng tạo trong vũ trụ thiên nhiên hùng vĩ mà con người có thể quan sát thấy:

" Tôi quả rõ, CHÚA thật là cao cả

Chúa chúng ta trỗi vược trên hết chư thần

Muốn làm gì là Chúa làm nên

Chốn trời cao cùng nơi đất thấp

Lòng biển cả và đáy vực sâu

Từ cùng tận địa cầu xa tắp

Chúa đẩy lên từng đám mây trời

Làm cho chớp giật mưa rơi

Mở kho thả gió khắp nơi tung hoành." ( Tv 135(134) : 5-7)

Hoặc :

" Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa

Không trung loan báo việc tay Người làm

Ngày qua mách bảo cho ngày tới

Đêm này kể lại với đêm kia

Chẳng một lời một lẽ, chẳng nghe thấy âm thanh

Mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu

Và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển." ( Tv 19 (18) : 2-5)

2--Qua các giấc mơ hay chiêm bao khi con người ngủ:

a- Cụ thể là trường hợp vua A-vi-ma-lec( Abimelech) đã sai người đến bắt bà Xa-ra ( Sarah), vợ ông Ap-raham. Nhưng ban đêm, khi vua A-vi-ma-lec ngủ, Thiên Chúa đã cảnh cáo ông trong giấc mơ là " Này ngươi sắp phải chết vì người đàn bà mà ngươi đã bắt, bởi người ấy có chồng."( St 20: 3). Vì lời cảnh cáo này của Chúa, vua A-vimalec đã trả bà Xa-ra về cho ông Ap-raham và được tha chết.

b-Đặc biệt là Giuse con ông Gia-cóp bị bán sang Ai Cập. Nhưng đã trở thành người cứu sống cho cả gia đình dòng họ sau này nhờ địa vị của ông trong triều đình vua Pharaon. Giuse có ơn giải mộng, nên một ngày kia vua Pharaon cho vời Giuse đến để giải mộng cho nhà Vua.Giuse đã nói với vua như sau : " Không phải tôi mà là Thiên Chúa sẽ cho câu trả lời đem lại bình an cho Pharaon."( St 41: 15-16)

c-Đặc biệt hơn nữa là Thánh Giuse, bạn thanh sạch của Đức Trinh Mữ Maria, đã được Thiên Chúa báo mộng trước hết là không được bỏ trốn khi biết Maria có thai, sau là phải đem Hài Nhi Giêsu và Mẹ Người trốn sang Ai Cập; và sau cùng là đem thánh gia thất về sống ở Nazaret.Tất cả những việc trên đều được báo mộng trước cho Thánh Giuse và Ngài đã hoàn toàn thi hành những gì đã được báo cho biết trong giấc mơ.Như thể đủ cho thấy Thiên Chúa cũng dùng giấc mơ để mạc khải cho con người biết về Chương Trình và Thánh Ý của Người.

3-Qua các Sứ ngôn ( Prophets) trong thời Cựu Ước và các Tông Đồ của Chúa Giêsu trong thời Tân Ước:

Đây là những người được Thiên Chúa đích thân kêu gọi để trao cho sứ mệnh loan truyền lại lời Chúa và thánh ý của Ngài cho con người ( cho dân Do Thái trước tiên, và cho các dân khác trên toàn thế giới sau này), như Ngôn sứ Amos đã nói rõ như sau:

" Vì Đức Chúa là Chúa thượng không làm điều gì

Mà không bày tỏ kế hoạch của Người cho các ngôn sứ của Người được biết." ( Am 3:7)

Ông Mô-sê cũng nói thêm về ơn gọi và vai trò của các ngôn sứ như sau :

" Từ giữa anh em , trong số các anh em của anh em, ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, sẽ cho xuất hiện một ngôn sứ như tôi để giúp anh em. Anh em hãy nghe vị ấy." ( Đnl 18:15)

Lại nữa, qua miệng ngôn sứ E-de-kien( Êzekiel) Thiên Chúa đã nói với dân Israel như sau :

" Hỡi con người , hãy đi đến với nhà Israel và nói với chúng những lời của Ta...( Ez 2: 4)

Mặt khác, cũng có khi chính Chúa Cha mạc khải trực tiếp cho con người như Chúa Giêsu đã nói cho Phêrô biết rằng: " này anh Si-môn, con ông Giona, anh thật là người có phúc , vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh biết điều ấy ( biết Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống như Phêrô tuyên xưng (Mt 16: 16)) nhưng là Cha của Thầy Đấng ngự trên trời." ( Mt 16:17)

Vì thể, sau khi Adam và Eva phạm tôi và bị đưổi ra khỏi địa đàng, cho đến khi có đông đảo con người trên mặt đất cùng với các sinh vật khác. Nhưng con người đã dần dần sa đọa và làm những sự dữ trái với ý muốn tốt lành của Thiên Chúa, nên Người đã nổi giận và quyết định tiêu diệt hết mọi người và sinh vật trên mặt đất, trừ ông Noe là người sống đẹp lòng Chúa.Cho nên, Chúa đã truyền cho ông:" làm cho mình một chiếc tàu bằng gỗ bách" đủ sức chứa mọi loài sinh vật, mỗi loài một đôi cùng với gia đình con cái ông lên tầu, vì Thiên Chúa " sắp cho Hồng Thủy, nghĩa là nước lụt, xuống trên đất để tiêu diệt mọi xác phàm có sinh khí dưới gầm trời; mọi loài trên mặt đắt sẽ tắt thở." Thiên Chúa đã giáng tai họa nước lụt,vi Người " thấy rằng sự gian ác của con người quả là nhiều và suốt ngày lòng nó chỉ toan tính những ý định xấu"(St 6: 5) , nên Thiên Chúa đã tiêu diệt hết mọi loài, mọi vật , trừ những sinh vật và người trong gia đinh ông Nô-E đã lên tầu trước khi mưa tuôn đổ xuống địa cầu để cuốn đi mọi sinh vật bên ngoài con tầu này vào lòng đại dương.( St 6: 6- 22; 7: 1-5)

Sau đại hồng thủy, Thiên Chúa lại tỏ mình cho ông Abraham, cũng là người sống đẹp lòng Chúa, đã dám hy sinh con mình là Isaac theo lời Chúa thử thách ông và ông đã toan giết con làm lễ vật dâng lên Thiên Chúa.Nhưng Chúa đã kịp thời can thiệp để cứu Isaac vì đã thấy lòng tin yêu đích thực của ông. Vì thế, Thiên Chúa đã phán bảo Abraham qua miệng Sứ Thần của Chúa như sau:

" Đây là sấm ngôn của ĐỨC CHÚA, Ta lấy chính danh Ta mà thề: bởi vì ngươi đã làm điều đó, đã không tiếc con của ngươi, con một của ngươi, nên Ta sẽ thi ân giáng phúc cho ngươi , sẽ làm cho dòng dõi ngươi nên đông, nên nhiều như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển.."( St 22 : 16-17)

Nhưng đặc biết hơn hết trong thời các Tổ Phụ, sau Đại Hồng Thủy, là Thiên Chúa đã tỏ mình cho ông Mô-Sê qua hình ảnh Bụi gai bốc cháy và từ giữa bụi cây Thiên Chúa đã nói với ông những lời sau đây:

" Ta là Thiên Chúa của cha ngươi, Thiên Chúa của Ap-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-Ác,Thiên Chúa của Gia-cóp.." (Xh 3: 2-6)

Thiên Chúa đã gọi Mô-sê ( Moses) để truyền cho ông sứ mạng dẫn đưa dân Do Thái đang làm nô lệ và thống khổ trên đất Ai Cập trở về quê hương. Đưa họ bằng an trở về , vì Thiên Chúa muốn chọn Israel làm dân riêng của Ngài, như ông Mô-sê đã truyền lại cho dân thánh chỉ sau đây của Thiên Chúa:

" Vậy giờ đây, nếu các ngươi thực sự nghe tiếng Ta và giữ Giao Ước của Ta, thì giữa hết mọi dân, các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta.Vì toàn cõi đất là của Ta.Ta sẽ coi các ngươi là một vương quốc tư tế, một dân thánh." ( Xh 19: 5-6)

Ngoài các ngôn sứ như Abraham và Môsê ra, Thiên Chúa còn gọi thêm nhiều ngôn sứ khác trong thời Cựu Ước như Joshua, Samuel, Isaiah, Jeremiah, Ezekiel, Daniel...để qua họ, Chúa nói với Dân Israel những điều Người muốn họ nghe và thi hành để được chúc phúc hoặc đe dọa trừng phạt nếu họ bất tuân thánh ý của Chúa và làm những điều sai trái, những sự dữ đáng phải phạt. Chúa đã truyền cho các Ngôn sứ không những phải nói lời của Người cho Dân mà còn phải ghi lại những thánh chỉ của Người cho hậu thế như ngôn sứ Isaia cho biết rõ như sau::

"Bấy giờ trước mặt chúng

Ngươi hãy viết điều ấy trên một tấm bảng và ghi vào hồ sơ

Để lưu lại mai sau làm bằng chứng đến muôn đời." ( Is 30:8)

Liên quan đến tệ trạng "hôn nhân đồng tính ( same sex marriage) đang được đòi hỏi và đã được cho phép ở một vài tiểu bang Mỹ và nhiều nơi khác trên thế giới, Thiên Chúa đã phán từ ngàn xưa với ngôn sứ Giê-rê-mia như sau :

Đức Chúa phán thế này :

" chúng tôi đã nghe tiếng kinh hãi

Báo hiệu khiếp đảm chứ không phải bình an

Cứ hỏi mà xem : có đàn ông nào đẻ con không ? ( Gr 30 : 5-6)

Vậy tạo sao lại cho hai đàn ông hoặc hai đàn bà kết hôn như người ta đang làm hiện nay ở Mỹ, Anh, Canada...? Thật là điều kinh tởm cho con người ngày nay sống trái với luật thiên nhiên , trái với trật tự mà Thiên Chúa đã qui định từ đầu khi tạo dựng con người có nam có nữ và truyền cho ho : " hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đát và thống trị mặt đất.( St 1: 28)

Như vậy, cho hai đàn ông hay hai đàn bà lấy nhau thì làm sao sinh sản, hỡi những kẻ mê muội đang nhắm mắt chiều theo đòi hỏi của những người bệnh hoạn tâm sinh lý kia ???Họ bệnh hoạn thì mặc kệ cho họ sống, không cần phải hợp thức hóa cho họ vì làm như thế là đảo lộn trật tự và mục đích của hôn nhân trong xã hội loài người.

Trên đây là một vài thí dụ minh chứng sự kiên Chúa đã tỏ mình hay tự mạc khải mình cho dân Do Thái trong thời Cựu Ước. Các Ngôn sứ lớn nhỏ là những phát ngôn viên của Thiên Chúa trong sứ mệnh truyền lại cho dân những gì Thiên Chúa muốn họ biết và thi hành để được chúc phúc và tránh phải phạt.Các ngôn sứ cũng cầu khẩn Chúa thay cho dân để xin Nguời tha thứ mọi lầm lỗi của họ như ông Mô-sê đã làm khi dân Do Thái còn sống lưu đầy trong sa mạc, sau khi từ Ai Cập trở về :

"Vậy xin Ngài tha thứ lỗi lầm cho dân này theo lượng cả ân nghĩa của Ngài, như Ngài đã từng chịu đựng dân này từ Ai Cập cho đến đây." ( Ds 14: 19)

Nhờ lời van xin tha thiết của ông Mô-sê thay cho dân mà Thiên Chúa đã nguôi cơn thịnh nộ định giáng xuống trên dân ngỗ nghịch đó khi Ngài phán với ông :

"Ta tha thứ như lời ngươi xin." ( Ds 14: 20)

Một thí dụ nữa về việc các ngôn sứ cầu xin Thiên Chúa thay cho dân. Đó là trường hợp con cái Israel nói với ông Samuel: " xin ông chớ ngưng cầu kêu lên Đức Chúa, Thiên Chúa chúng tôi để xin Người cứu chúng tôi khỏi tay người Philitinh." ( 1 Sm 7: 8)

Ông Samuel đã dâng lễ toàn thiêu và cầu xin thay cho dân theo lời van xin của họ, và họ đã đánh bại quân Philitinh. ( cf. Sm 7: 9-11)

4- Qua Chúa Giêsu-Kitô:

Sau hết, ngoài những phương thế trên đây, đến thời sau cùng, Thiên Chúa đã tỏ mình cách đẩy đủ nhất cho nhân loại qua chính Con Một Người là Đức Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa , Đấng đã sinh xuống trần gian làm Con Người để thi hành Chương Trình Cứu Độ loài người đáng bị phạt vì tội lỗi như ta đọc thấy trong Thư Do Thái sau đây:

" Thủa xưa , nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ. Nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ và đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa." ( Dt 1 : 1-3)1

Là hình ảnh hay hiện thân trung thực nhất của Chúa Cha, nên Chúa Giêsu đã trả lời môn đệ Philiphê như sau :

" Ai thấy Thầy thì thấy Chúa Cha

Sao anh lại nói : xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha.?" ( Ga 14: 9)

Hoặc rõ hơn nữa:

" Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy

Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha của Thầy

Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người." ( Ga 14:7)

Là hiện thân của Chúa Cha, Chúa Giêsu đã mạc khải trọn vẹn những gì Chúa Cha muốn nói với con người qua những lời giảng dạy trong suốt 3 năm Người đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Nghĩa là : trong và qua Chúa Giêsu-Kitô, Thiên Chúa Cha đã mặc khải trọn vẹn thánh ý của Người cho nhân loại, và không còn nguồn mạc khải nào lớn và đầy đủ hơn nữa cho ai ngoài Chúa Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể. Do đó, ai nghe Chúa Kitô là nghe Chúa Cha, ai biết và đón nhận Chúa Con thì cũng biết và đón nhận Chúa Cha như Chúa Giêsu đã nói thêm với các môn đệ xưa như sau :

" Ai nghe anh em là nghe Thầy, ai khước từ anh em là khước từ Thầy;

Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy." ( Lc 10: 16)

Như thế, các Tông Đồ lớn nhỏ của Chúa Kitô cũng được ơn mạc khải của Thiên Chúa để dạy dỗ trung thực , không sai lầm những gì các ngài đã nghe từ Chúa Giêsu-Kitô và lưu truyền lại cho các người kế vị là các Giám mục trong Giáo Hội của Chúa cho đến ngày nay và mãi về sau.Do đó, nghe Giáo Hội là nghe các Thánh Tông Đồ và nghe các ngài là nghe chính Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, hiện thân của Chúa Cha.

Tóm lại, Thiên Chúa đã tự mạc khải hay tỏ mình ra cho con người từ thời Cựu Ước qua các sứ ngôn đến Tân Ước, đặc biệt là qua chính Chúa Kitô, để con người biết Thiên Chúa là Đấng đầy yêu thương, " Người có giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời." ( Tv 30(29) : 6).

Nói khác đi, chúng ta biết được Thiên Chúa là Cha nhân từ, quá yêu thương và hay tha thứ là nhờ ơn mạc khải mà Thiên Chúa đã tỏ mình trọn vẹn qua Chúa Giêsu-Kitô, Đấng Cứu Thế, đã đến trần gian làm Con Người để thi hành Chương Trình Cứu độ nhân loại của Chúa Cha.Do đó, ai tin và thực hành những lời giảng dạy của Chúa Kitô thì cũng tin va thực hành thánh ý của Chúa Cha để được sống hạnh phúc muôn đời với Chúa trên Nước Trời như Chúa Giêsu đã nói rõ với các môn đệ Người như sau:

" không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa,! lậy Chúa ! là được vào nước trời cả đâu; mà chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)

Chúng ta hết lòng cảm tạ Chúa đã cho chúng ta biết Người là Cha cực tốt cực lành,

Và cầu xin cho những người chưa biết Chúa được nhận biết Ngài là Đấng duy nhất đã vì yêu thương mà tạo dựng con người cùng mọi loài mọi vật, và quan trọng hơn hết, là " Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 8) để hưởng hạnh phúc Thiên Đàng sau khi chấm dứt hành trình đức tin trên dương thế này.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

"

 
HOC HOI DE SONG DAO # 25 PDF Print E-mail

PHẢI HIỂU THẾ NÀO VỂ SỰ THƯỞNG PHẠT CỦA THIÊN CHÚA ?

Hỏi : Chúa là tình thương sao lại có thể đánh phạt con người ?

Trả lời : Đúng, Chúa là tình thương như Thánh Gioan đã quả quyết. ( cf 1 Ga 4:8).Yêu thương là bản tính của Thiên Chúa và không một định nghĩa nào chí lý hơn định nghĩa Thiên Chúa là Tinh thương. Chính vì tình thương vô vị lợi này mà Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người và mong muốn cho hết thảy mọi người " được cứu độ và nhận biết chân lý" ( 1 Tm 2: 4) để sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau.

Thiên Chúa tuyệt đối không có lợi gì mà phải tạo dựng con người và mong muốn cho con người sống tốt lành để được hạnh phúc .Ngài tạo dựng và mong muốn như vậy chỉ vì lợi ich của chính con người và vì muốn chia sẻ đời sống và hạnh phúc vĩnh cửu của Ngài cho con cái loài người mà thôi.Chúng ta phải tin chắc như vậy để không bao giờ lầm tưởng rằng Thiên Chúa được lợi lộc gì mà phải tạo dựng cũng như mong muốn cho con người sống theo đường lối của Người.

Nhưng vì Thiên Chúa chỉ ban riêng cho con người hai quà tăng quí giá là lý trí và ý muốn tự do ( Free will) nên vấn đề thưởng phạt chỉ đặt ra cho con người mà thôi.Nghĩa là Thiên Chúa không phán đoán một tạo vật nào khác mà chỉ phán đoán riêng con người , vì con người có trí hiểu để nhận biết sự lành, sự dữ, sự xấu, và nhất là có tự do để chọn lựa giữa sự lành, sự thiện hảo hay sự dữ, điều gian ác khi sống trên trần thế này. Thiên Chúa hoàn toàn tôn trọng tự do của con người. Nghĩa là Ngài không áp đặt và bắt buộc con người phải sống theo ý Ngài . Vì thế, mới có vấn đề thưởng phạt con người về những việc mình làm khi sống trên đời này ..Và đó cũng là lý do tại sao Chúa Kitô đã đến trong trần gian để đền tội cho nhân loại qua khổ hình thập giá, vì Thiên Chúa còn yêu thương con người, mặc dù con người đã phạm tội , tự tách mình ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Tuy nhiên , đôi khi Thiên Chúa đã bất đắc dĩ phải sửa phạt con cái loài người như ta thấy trong suốt lịch sử sáng tạo và cứu độ.

Thật vậy, nếu con người không được tự do chọn lựa khi hành động thì Thiên Chúa đã không nói với dân Do Thái xưa kia qua miệng ông Mô-sê như sau :

" Hãy xem, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn : hoặc được chúc phúc hoặc bị nguyền rủa. Anh em sẽ được chúc phúc nếu vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa của anh em, mà tôi truyền cho anh em hôm nay.Anh em sẽ bị nguyền rủa nếu không vâng nghe những mệnh lệnh của ĐỨC CHÚA,Thiên Chúa của anh em..." ( Đnl 12: 26-28)

Mệnh lệnh của Thiên Chúa truyền cho dân Do Thái trước tiên phải tuân giữ là Mười Điều Răn mà ông Mô- sê đã lãnh nhận từ Thiên Chúa trên núi Si Nại đem xuống cho dân thi hành, sau khi họ được giải phóng khỏi ách nô lệ trên đất Ai Cập và được ông Mô-Sê dẫn về quê hương an toàn . Nhưng họ chưa được vào ngay Đất Hứa, "tràn đầy sữa và mật ong" mà còn phải tạm trú trong hoang địa suốt 40 năm để được thử thách về lòng tin và lòng yêu mến, trung thành của họ đối với Thiên Chúa đã thương giải phóng họ qua tay ông Mô-sê.

Nhưng trong thời gian họ sống nơi hoang địa thiếu thốn mọi sự, từ đồ ăn cho đến nước uống, họ đã kêu trách Chúa và trách cả ông Mô-sê đã dẫn đưa họ đến nơi thiếu thốn này. Dầu vậy, vì lòng xót thương, Thiên Chúa vẫn nuôi sống họ với thần lương là bánh " man-na" rơi từ trời xuống mỗi ngày cho họ ăn và truyền cho ông Mô-sê lấy gậy đập vào tảng đá để có nước chảy ra cho dân uống. ( x.Xh 16 &17).

Vậy mà họ vẫn không biết ơn và còn tiếp tục than phiền kêu trách ông Mô – sê và trách Chúa.

Tệ hại hơn nữa, họ đã dùng tự do để đi trệch con đường Chúa muốn họ đi, việc tốt Chúa muốn họ làm, sự dữ Chúa muốn họ xa tránh, khi họ xin ông A-ha-ron đúc cho họ con bê bằng vàng để họ thờ lậy thay vì thờ lậy một mình Thiên Chúa mà thôi. ( x.Xh 32: 1-6) Do đó, ngay từ khi họ còn ở trong sa mạc, chưa được vào Đất Hứa, Thiên Chúa đã nổi giận với dân tại Ca-đê và thề rằng :

" không một người nào thuộc thế hệ gian ác này sẽ được thấy miền đất tốt tươi Ta đã thề sẽ ban cho cha ông các ngươi, ngoại trừ Ca-lếp con của Giơ-phun-ne : nó sẽ được thấy đất ấy và đất nó đã giẫm lên. Ta sẽ ban cho nó và các con nó, vì nó đã một lòng theo ĐỨC CHÚA.." ( Đnl 1: 35-36)

Thiên Chúa không những nổi giận với dân mà cả với ông Mô-sê là người lãnh đạo dân, nên cũng nói với ông là " Cả ngươi nữa, ngươi cũng sẽ không được vào đó."( Sđd : 1: 37)

Như thế, đủ cho thấy là nếu con người dùng tự do của mình để quay lưng lại với Thiên Chúa, làm những sự dữ như giết người, trộm cướp , gian ác, bất công, dâm ô, thở ngẫu tượng ( Idolatry) và của cải vật chất, thay vì tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất là Đấng đã tạo dựng muôn loài muôn vật –trong đó đặc biệt có con người được tạo dựng " theo hình ảnh Thiên Chúa" ( St 1 : 27) thì Thiên Chúa sẽ không dung tha cho những sự dữ con người làm với tự do chọn lựa khi sống trên trần gian này.

Lịch sử Cứu Độ đã cho thấy nhiều lần Thiên Chúa nổi cơn thịnh nộ và đánh phạt dân chỉ vì họ cố tình sống xa lìa đường lối của Người, làm những điều gian ác mà không hề biết sám hối, ăn năn để xin tha thứ.

Chúa là Đấng nhân từ " Người nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương thương suốt cả đời." ( Tv 30 (29) : 6).

Tuy nhiên, dù yêu thương con người đến đâu thì Thiên Chúa cũng không thể chấp nhận, hay làm ngơ trước những sự dữ , sự gian ác và ô uế mà con người đã và đang làm ở khắp nơi trên thế giới từ xưa đến nay.

Trước hết với những người mà Thiên Chúa đã tạo dựng trong thời Cựu Ước, Ngài đã đánh phạt họ vì những tội lớn lao họ đã phạm , sự dữ họ đã làm mà không biết ăn năn sám hối để xin tha thứ, nên trước hết Thiên Chúa đã hủy diệt toàn bộ loài người trên mặt đất với hình phạt " Đại Hồng Thủy" trừ gia đình ông Nô-E và những sinh vật ông đem lên tầu trước khi mưa tuôn đổ xuống, cuốn đi mọi loài mọi vật bên ngoài con tầu của ông vào lòng đại dương. ( x St 6 & 7)

Tiếp theo là hình phạt Thiên Chúa giáng xuống hai thành Xô-đôm và Gô-mô-ra, vì ông Ap-ra-ham đã không tìm được một người lành nào trong các thành đó để xin Thiên Chúa nguôn cơn thinh nộ tha trừng phạt dân tội lỗi sống trong hai thành này..Cho nên, cuối cùngThiên Chúa đã cho lửa và diêm sinh từ trời xuống thiêu rụi tất cà người và mọi sinh vật sống trong hai thành đó, trừ gia đình ông Lót, cháu ông Ap-ra ham, đã ra khỏi thành . Riêng vợ ông Lot đã biến thành cột muối vì đã " ngoái cổ lại đằng sau" ( cf St. 19).

Thiên Chúa giáng tai họa Hồng thủy và lửa thiêu đốt hai thành Xô-đôm và Gô-mô-ra vì tội lỗi lớn lao của con người sống trên trần gian và riêng trong các thành đó.

Nhưng nếu con người làm sự dữ, sự tội mà biết ăn năn thống hối , xin Chúa tha thứ, thì Người lại thứ tha như trường hợp dân thành Ni-ni-vê đã bị Thiên Chúa toan hủy diệt vì tội lỗi của họ. ,Nhưng vì họ đã nghe lời Chúa cảnh cáo họ qua ngôn sứ Giô-na, nên Chúa đã tha không trừng phạt.

Thật vậy, ngôn sứ Giô-na đã rao giảng sự thống hối cho họ , nên Vua thành Ni-ni vê đã ra lệnh cho mọi người từ các quan lớn nhỏ trong Triều cho đến thường dân kể cả trẻ con phải " ăn chay và mắc áo vải thô" và hết sức kêu cầu Thiên Chúa thứ tha tội lỗi của họ. Thấy lòng ăn năn sám hối của dân, Thiên Chúa đã " hối tiếc về tai họa Người đã tuyên bố sẽ giáng xuống trên họ. Người đã không giáng xuống nữa." ( Giona 3: 10)

Như thế đủ cho thấy là Thiên Chúa nhân từ và đầy lòng thương xót . Nhưng nếu con người ngoan cố, cứ bỏ ngoài tai tiếng nói của lương tâm phản ảnh tiếng nói của Thiên Chúa trong tâm hồn của mỗi người để ngày một lún sâu vào con đường tội lỗi, gian ác , ô uế, thì chắc chắn Chũa sẽ không thể dung tha được. Và hình phạt là hậu quả tất nhiên của tội lỗi như Thiên Chúa đã phán bảo con rắn sau khi nó đã quyến rũ bà Eva ăn trái cấm :

" Mi đã làm điều đó,

Nên mi đáng bị nguyền rủa nhất

Trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú

Mi phải bò bằng bụng , phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi." ( St 3: 14)

Chúa Giêsu cũng đã nói rõ là nếu kẻ làm sự dữ không sám hối thì sẽ chết như những người Gali-lê bị Tổng Trấn Phi-la-tô giết chết lấy máu hòa lẫn với máu tế vật xưa kia :

" Các ông tưởng mấy người Galilê tội lỗi hơn hết mọi người Galilê khác bởi lẽ họ bị đau khổ như vậy sao ? Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu; nhưng nếu các ông không sám hối thì các ông cũng sẽ chết như vậy. " Lc 13 : 2-3)

Đặc biệt , Chúa Giê su cũng lên án dân thành Giêrusalem về tội đã giết các ngôn sứ như sau :

" Giêrusalem, Giê ru salem !

Ngươi đã giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi

Đã bao lần Ta muốn tập họp con cái ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh mà các ngươi không chịu.

Thì này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ mặc cho các ngươi. Ta nói cho các ngươi hay : các ngươi sẽ

Không còn thấy Ta nữa cho đến thời các ngươi nói : Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa."

( Lc 13: 34-35)

Là Thiên Chúa cực tốt cực lành, nhưng Người không thể dung tha được những sự dữ và ô uế như giết người, và dâm ô. Sự dữ lớn lao nhất là sự thâm độc, gian ác để có thể giết người không gớm tay như ta thấy xẩy ra hàng ngày ở khắp nơi trên thế giới hiện nay.

Riêng ở Việt Nam, những kẻ tham tiền và phản bội, tay sai của quan Thầy ngoại bang, đã sát hại cách vô cùng dã man anh em T.T NĐD mà sử sách đã ghi chép và phơi bày ra ánh sáng từ mấy thập niên qua. Đặc biệt thâm độc và tàn ác hơn nữa là bọn vô thần, vô đạo đã sát hại hàng bao triệu người từ bắc chí nam trong suốt 60 năm qua. Đây là những bằng chứng hùng hồn tố cáo sự gian ác , độc dữ của con người Viêt Nam với chính đồng bào ruột thịt của mình, chỉ vì ngu xuẩn vâng lệnh quan thầy đế quốc đã bỏ tiền ra thuê mướn, hay vì chủ nghĩa phi nhân, vô luân, vô đạo mà họ đang cố bám lấy để cai trị bằng bạo lực tàn nhẫn nhưng lại ngụy trang dưới lớp vỏ " cánh chung luận" hảo huyền về một thiên đường hạ giới; nhưng thực chất chỉ là địa ngục trần gian với muôn vàn tội ác, bất công, gian manh, phi nhân phi nghĩa. Phải nói đó là sự dữ lớn lao nhất vì nó đi ngược hoàn toàn với bản chất yêu thương, thiện hảo của Thiên Chúa là Đấng chê ghét mọi tội lỗi, mọi sự dữ , thâm độc gian ác, của con người.

Mặt khác, sự ô uế vì thú vui dâm dục, khiến phụ nữ và trẻ em trở thành những nạn nhân rất đáng thương của những kẻ đã đánh mất hết lương tri, đi tìm thú vui cực kỳ tội lỗi và khốn nạn này.Tội dâm ô không những súc phạm nặng nề bản chất thánh thiện của Thiên Chúa mà còn hạ giá con người xuống hàng thú vật , vô lương tri, vô luân, vô đạo khi hành hạ thân xác của các trẻ em bị bán làm trò vui "ấu dâm" vô cùng khốn nạn này.

Như thể thử hỏi: một Thiên Chúa đầy lòng yêu thương và thánh thiện, có thể nào chấp nhận thực trạng tội ác , nhơ uế rất ghê tởm nói trên được không ?

Chắc chắn là KHÔNG

Thánh Phaolô đã cảnh cáo như sau về mọi nguy cơ của tội lỗi đưa đến hư mất đời đời:

" Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ, đó là dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, chè chén và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo cho mà biêt , như tôi đã từng bảo: những kẻ làm những điều ấy sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa." ( Gl 5: 19-21)

Nơi khác, Thánh Phaolô cũng nói đến hậu quả của tội lỗi như sau:

" Anh em không biết sao ? khi đem thân làm nô lệ để vâng phục ai, thì anh em là nô lệ của người anh em vâng phục.: hoặc làm nô lệ tội lỗi thì sẽ chết; hoặc làm nô lệ phục vụ Thiên Chúa thì sẽ được nên công chính." ( Rm 6 :16)

Được nên công chính ( justified) có nghĩa là được cứu độ để vào Nước Trời nơi dành riêng cho những ai thực tâm yêu mến Chúa và quyết tâm sống theo đường lối của Người để xa tránh mọi sự dữ, sự tội trong suốt cuộc sống trên trần thế này. Thiên Chúa đầy yêu thương và rộng lòng tha thứ, nhưng con người phải tỏ thiện chí muốn sống ngay lành, muốn thi hành ý muốn của Cha trên Trời là xa tránh mọi tội lỗi và sự dữ , sự ô uế, bất công vô nhân đạo mà những kẻ không có niềm tin vào Thiên Chúa đang làm ở khắp mọi nơi trên thế giới ngày nay.

Đó là tất cả ý nghĩa lời Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa như sau :

" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, mà chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)

Như thế, đừng lấy cớ Chúa nhân từ , hay thương xót và tha thứ để cứ sống buông thả theo tính hư nết xấu của xác thịt con người và chiều theo những quyến rũ của thế gian, của xã hội vô luân vô đạo, đầy rẫy tội ác, bất công và bóc lột, là bộ mặt thật của "văn hóa sự chết" đang phơi bầy ở khắp nơi trên thế giới ngày nay.

Đáng buồn thay, nhiều người hiểu biết và có trách nhiệm dạy dỗ và bảo vệ chân lý, luân thường đạo đức lại không có can đảm chống lại những bất công , tha hóa của xã hội để cầu an cho mình hay trục lợi cá nhân, khi tự bịt mắt và giả câm giả điếc trước mọi sự dữ , sự gian ác và tha hóa của xã hội.

Thiên Chúa là Cha rất nhân từ, yêu thương con cái loài người đến mức đã hy sinh chính Con Một Người là Chúa Giêsu-Kitô cho nhân loại được cứu chuộc và có hy vọng được sống hạnh phúc đời đời với Chúa trên Nước Trời mai sau. Phải nói là có hy vọng thôi chứ chưa chắc chắn từ bây giờ là sẽ được cứu rỗi để hưởng phúc Thiên Đàng, vì lẽ con người còn có tự do để chọn lựa sống theo Chúa và cho Chúa, hay khước từ Chúa để sống theo bản năng tội lỗi và thỏa hiệp với thế gian, tay sai đắc lực của ma quỉ để làm những sự dữ , sự lội trái nghich với sự thiên hảo và thánh thiên của Thiên Chúa.

Bao lâu còn sống trên trần gian và trong thân xác có ngày phải chết này, con người còn phải chiến đấu giữa sự thiện và sự dữ, giữa sự trong sạch và ô uế, giữa lương thiện và gian ác quỷ quyệt.

Do đó, sự thưởng phạt của Thiên Chúa cho con người phải được hiểu là hậu quả tất nhiên của tự do chọn lựa mà Thiên chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng khi sống trên đời này. Nó cũng nói lên sự công bằng của Thiên Chúa dành cho những ai quyết tâm sống theo đường lối của Người, đối nghich với những kẻ lợi dụng lòng thương xót của Chúa để làm tay sai cho ma quỷ là cha của mọi gian dối và độc ác luôn chống lai Thiên Chúa là Cha của sự thật , sự thiện , sự công chính và yêu thương.

Tóm lại, phải có sự thưởng phạt vì con người có tự do để làm điều thiện hay gian ác. Thiên Chúa yêu thương nhưng không thể dung thứ cho sự dữ , sự ô uế mà con người đã và đang làm ở khắp nơi trên thế gian nay. Vì thế, phải có sự thưởng phạt của Thiên Chúa và điều này không hề mâu thuẫn với tình thương tha thứ của Người, vì nếu kẻ có tội không chịu nhìn nhận tội lỗi của mình và ăn năn sám hối , xin Chúa thứ tha thì làm sao Chúa có thể tha thứ được ?

Đó là sự thật chúng ta cần nắm vững bao lâu còn sống trên trần thế , đương đầu với với bao dịp tội và nhất là với bao cám dỗ của ma quỷ ví như " sư tử gầm thét rao quanh tìm mồi cắc xé." ( 1 Pr 5: 8) để lôi kéo chúng tar a khỏi tình thương của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa: " Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xẩy đến và đứng vững trước mặt Con Người." Lc 21: 36)

Vậy chúng ta, những người có niềm tin nơi Chúa, phải làm gì để chứng tỏ quyết tâm yêu Chúa và xa lánh mọi sự dữ , tội ác và ô uế ? Đó là câu hỏi mà mỗi người chúng ta hãy tự trả lời.

LM Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 24 = THANH LE DAC BIET TRONG PHUNG VU ? PDF Print E-mail

CÓ THÁNH LỄ NÀO GỌI LÀ " LỄ ĐẶC BIỆT" TRONG PHỤNG VỤ CỦA GIÁO HỘI KHÔNG ?

Hỏi : ở một nhà Dòng kia có xây một Vườn gọi là "Vườn Cầu Nguyện".Ai muốn dựng bảng ( bia) xin cầu nguyện có thể lựa chọn nhiều cỡ bảng khác nhau với giá tiền dâng cúng và hứa hẹn ân huệ thiềng liêng khác nhau. Thí dụ , bảng loại thường thì được hưởng một " Lễ thường" còn bảng đặc biệt thì được hưởng một lễ " đặc biệt".Dĩ nhiên phải dâng cúng số tiền "đặc biệt"

Xin cha cho biết trong Giáo Hội có loại "Lễ Đặc Biệt" này không?

Trả lời :Trước khi trả lời câu hỏi trên, tôi xin được nhắc lại điều tôi đã viết trong một bài trước đây về tội " mại thánh= Simonia" và việc ghi công đức của những ân nhân giúp xây Nhà Dòng, Nhà Thờ, Tu Viện, Trường học, Nhà nuôi trể mồ côi hay khuyết tật ....

Dĩ nhiên các việc từ thiện nói trên, khách quan mà nói, thì đều đáng khen ngượi, vì giá trị bác ái đáng khuyến khích và đề cao của nó.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ điều này là : làm việc bác ái thực sự vì lòng mến Chúa ,yêu người và yêu mến Giáo Hội thì khác xa với việc mua danh tiếng hư hão qua những việc xem ra "có vẻ bác ái" nhưng thực chất chỉ là khoa trương về việc làm của mình cho nhiều người biết. Liên quan đến điều này, chúng ta hãy đọc lại Chúa Giêsu đã căn dặn các Tông Đồ xưa như sau :

" Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy.Bằng không , anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời ban thưởng....khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc bố thí của anh em được kín đáo.Và Cha của anh em Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh em." ( Mt 6: 1, 3-4)

Như thế, người tín hữu Chúa Kitô cũng không nên đặt nặng việc xin được ghi tên trên những bảng ghi công đức đã ủng hộ tiền bạc hay công sức giúp cho một cơ sở tôn giáo hay từ thiện nào như Nhà Thờ , Nhà Dòng,Nhà Hưu Dưỡng , Nhà nuôi trẻ mồi côi, v.v...Những bảng ghi công đức đó chỉ có giá trị trần thế trước mặt người đời mà thôi, chứ không bảo đảm ơn ích thiêng liêng trước mặt Chúa là Đấng đã nhìn thấu suốt tâm trí con người và sẽ trả công xứng đáng cho những việc bác ái thực sự của những người đã có lòng hảo tâm dù không được công khai biết đến.

Nói đến việc trả công của Chúa, chúng ta nên biết rằng Chúa ban ơn thánh của Người hay trả công cho ai thì hoàn toàn không lệ thuộc vào số tiền to hay nhỏ của người đó bỏ ra dâng cúng, xin lễ hay xin cầu nguyện. Nghĩa là đừng ai lầm tưởng rằng bỏ nhiều tiền ra để xin lễ hay ghi bảng xin cầu nguyện là chắc sẽ được nhiều ơn ích thiêng liêng hơn người không chi đồng nào khi xin cầu nguyện. Chúa ban ơn vì lòng quảng đại vô biên của Người dành cho những người thực tâm yêu mến Chúa, yêu mến tha nhân, và sống theo đường lối của Người. Ngược lại, những ai thờ ơ, không tha thiết gì đến thực hành đức tin là yêu mến Chúa, yêu người và sống lành thánh như Chúa đòi hỏi, thì cho dù có bỏ ra hàng triệu đồng để xin lề đời đời, và "mua hậu" để "bảo hiểm" cho đời sau của các nơi "buôn thần bán thánh" , thì cũng uổng tiền vô ích mà thôi, vì ơn Chúa và nhất là phần rỗi đời đời không bao giờ có thể mua được bằng tiền bạc, hay bất cứ phương tiện vật chất nào có trên đời này. Chắc chắn như vậy.

Nói khác đi, nếu một người đã thực tâm yêu mến Chúa và sống ngay thẳng, công bình và bác ái suốt cả đời mình thì đây mới là bảo đảm cho phần rỗi để được vui hưởng hạnh phúc với Chúa trên Nước Trời mai sau.Ngược lại, nếu ai không có quyết tâm sống cho Chúa ngay từ bây giờ, mà chỉ giữ Đạo cho có tên, nhưng thực tế vẫn buông mình chạy theo những quyến rũ của "văn hóa sự chết" để ăn gian, dối trá, lừa đảo, gian ác, dâm ô, thay vợ đổi chồng, cờ bạc, vui chơi sa đọa... thì dù có mua hàng trăm ngàn cái bảng ghi công đức ( bỏ nhiều tiền ra mua) hoặc xin cả ngàn lễ đời đời hay bỏ ra cả bạc triệu để " mua hậu" của những nơi "buôn thần bán thánh" thì cũng chẳng có giá trị gì trước mặt Chúa là Đấng hoàn toàn không phán xét và thưởng phạt con người theo tiêu chuẩn tiền bạc và danh tiếng hư hão trên trần thế này. Vì thế, một lần nữa, đừng ai lầm tưởng rằng cứ bỏ ra nhiều tiền xin lễ, xin cầu nguyện thì sẽ được nhiều ơn ích thiêng liêng hơn người không có tiền xin lễ , xin cầu nguyện. Cần thiết là chính mình cầu nguyện cho mình và sống đức tin, đức cậy và đức mến cách sâu đậm, thì đó mới chính là những gia tài tự sắm lấy cho mình và ký thác trước vào Ngân Hàng trên trời, "nơi trộm cắp không bén bảng, mối mọt cũng không đục phá" như Chúa Giêsu đã phán dạy. ( Lc 12: 33). .

Như thế, nơi nào nhận xin khấn, xin cầu nguyện hay linh mục nào nhận dâng Thánh lễ cho ai thì không được gây cho người xin khấn, xin lễ hiểu lầm là bỏ ra nhiều tiền thì được nhiều ơn thánh hơn là bỏ ít tiền hoặc không có tiền để xin cầu nguyện, xin lễ..Nếu gây cho người khác hiểu lầm như vậy để lấy nhiều tiền của người ta là phạm tội "mại thánh" tức muốn bán những ơn ích thiêng liêng để lấy tiền cho mình.

Liên quan đến câu hỏi đặt ra về việc xin gắn bảng ở Vườn Cầu nguyện nào đó, với giá tiền khác nhau và ơn ích thiêng liêng khác nhau thì rõ ràng đây là một hình thức "buôn thần bán thánh" ( mại thánh= Simonia) mà Giáo lý và Luật của Giáo Hội nghiêm cấm như sau:

" Tội buôn thần bán thánh là mua hoặc bán các thực tại thiêng liêng.....Không thể chiếm lấy các lợi ích thiêng liêng làm của riêng mình và tùy ý sử dụng như kiểu một người sở hữu chủ hoặc một ông chủ , bởi vì các ơn ích thiêng liêng này bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể nhận được từ nơi Thiên Chúa, cách nhưng không." ( x. SGLGHCG, số 2121)

Nói rõ hơn, không ai được phép coi những ơn ích thiêng liêng như tài sản của riêng mình để tự do buôn bán kiếm tiền, lừa dối người khác như hứa dâng lễ thường với giá bao nhiêu và "lễ đặc biệt" với giá bao nhiêu.Điều này vi phạm giáo luật sau đây:

" Trong vấn đề bổng lễ,( hay xin cầu nguyên) phải xa tránh hoàn toàn mọi hình thức buôn bán hay thương mại" ( can. No. 947

Mại thánh vì ơn Chúa ban qua lời cầu nguyện của cá nhân hay tập thể , nhất là qua Thánh lễ là nhưng không ( gratuitous) nghĩa là không thể bỏ tiền ra mua được.Tiền xin lễ, xin khấn theo Giáo Quyền qui định ở mỗi địa phương , chỉ để giúp cho người cầu nguyện thay cho mình, theo tinh thần, " ..người phục vụ Bàn thờ thì được chia phần của Bàn thờ.." như Thánh Phaolô đã dạy. ( 1 Cor 9: 13)

Như vậy , đặt thể lệ gắn bảng xin cầu nguyện với giá tiền khác nhau kèm với lợi ích thiêng liêng hứa hẹn khác nhau chắc chắn là một hình thức " mãi thánh" mà Giáo Hội nghiêm cấm.

Bảng to, bảng nhỏ, tiền ít tiền nhiều không dính dáng gì đến ơn Chúa ban qua lời cầu nguyện của cá nhân hay Công đoàn cho ai.

Lại nữa, liên quan đến Thánh lễ, không hề có lễ nào gọi là "lễ đặc biệt" trong Phụng vụ thánh của Giáo Hội từ xưa đến nay.

Thật vậy, mọi thánh lễ đều diễn lại hay làm sống lại cách bí tích Hy Tế Thập giá mà Chúa Kitô một lần đã dâng lên Chúa Cha trên tập giá năm xưa để xin ơn tha tội cho nhân loại đáng phải phạt vì tội lỗi

Hy tế đó cùng với Bữa tiệc ly mà Chúa Kitô ăn lần cuối cùng với 12 Môn Đệ đang được Giáo Hội tiếp tục cử hành trên bàn thờ ngày nay cho đến ngãy mãn thời gian.

Nhưng vì mục đích muốn cho giáo dân chú ý đặc biệt đến sự kiện và ý nghĩa trong một số dịp cử hành phụng vụ thánh, mà Giáo Hội phân chia Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) ra làm ba bậc lễ như sau :

1- Lề Nhớ ( Memorial)

2- Lễ Kính ( Feast)

3- Lễ Trọng ( Solemnity)

Lễ Trọng là lễ được cử hành để ghi nhớ những Mầu nhiệm đức tin hay Cứu độ quan trọng như Lễ Chúa Giáng Sinh, Lễ Phục Sinh, Lễ Thăng Thiên, Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, Lễ Chúa Ba Ngôi, Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu. Hay các Lễ kinh riêng Đức Mẹ, là Mẹ Thiên Chúa ( 1-1), Lề Truyền Tin Đức Mẹ ( 26-3) Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai ( 8-12), Đức Mẹ hồn xác lên Trời ( 15-8) Lễ Thánh Cả Giuse ( 19-3) , Thánh Goan Tiền Hô ( 24-6), Hai Thánh Tông Đồ Phêrô-Phaolô. ( 29-6) Lễ các Thánh Nam Nữ ( 1-11)

Các lễ Trọng trên đây – trừ các lễ kính Thánh Cả Giuse, Thánh Gioan Tiền Hô, Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu- Lễ kính hai Thánh Phêrô- Phaolô, Lễ Truyền Tin- còn lại đều là các Lễ buộc ( Day of Obligation) giáo dân phải tham dự như Lễ ngày Chúa Nhật.

Về mặt phụng vụ, Lễ Trọng phải đọc kinh Sáng danh, Kinh Tin kính, với 3 bài đọc ( 2 Sách thánh và Phúc Âm). Lễ trọng có lời nguyện mở đầu và kết lễ với Kinh Thiền Tụng ( Preface ) riêng.

Lễ kính ( Feast) nhằm kính các Thánh Tông Đồ và một số thánh nam nữ khác như Lễ kính thánh Phaolô trở lại ( 25-1) Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, Lễ Đức Mẹ dâng Con vào Đền Thờ, Lế kính Thánh Lauren-sô, phó tế ,tử đạo ( 10-8), Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ ( 8-9)Lễ Tôn vinh Thánh Giá ( 14-9) ...

Lễ Kính chỉ đọc kinh Sáng Danh, không đọc kinh Tin Kính và có bai bài đọc ( Thánh Thư và Phúc Âm). Không có Kinh Tiền Tụng riêng, trừ lễ kính các Thánh Tông Đồ có kinh Tiền Tụng chung về các Thánh Tông Đồ, và các lễ kinh Đức Mẹ cũng có Kinh Tiền Tụng chung về Đức Mẹ.

Còn lại là tất cả là Lễ Nhớ ( Memorial) chỉ có lời nguyện mở đầu và kết lễ với hai bài đọc ( Thánh Thư và Phúc Âm).Không có Kinh Tiền Tụng riêng.

Nhưng dù là Lễ Nhớ, lễ Kính hay lễ Trọng thì tất cả đều là cử hành Hy Tế thập giá của Chúa Kitô cách mầu nhiệm hay bí tích qua tác vụ của Giáo Hội ( của hàng Tư Tế thừa tác =Ministerial Sacerdoce là Linh mục và Giám Mục) trên bàn thờ ở khắp nơi trong Giáo Hội ngày nay. Nghĩa là, không hề có sự phân biệt nào về lợi ích thiêng liêng giữa ba bậc lễ nói trên và nhất là không có "giá tiền" nào có thể mua được các ơn ích thiêng liêng cho ai nhờ cử hành các Lễ trên.Vả lại, giáo dân không thể xin " lễ Trọng" để cầu cho người sống hoặc các linh hồn đã ly trần.Và không linh mục nào được phép tự ý dâng lễ Trọng hay lễ kính để cầu riêng cho ai và lấy nhiều tiền của người xin.

Vậy "lễ đặc biết" mà người ta hứa là loại lễ nào?

Chắc chắn không có Lễ Mísa, hay Tạ Ơn nào gọi là " Lễ đặc biệt" trong Phụng vụ Thánh của Giáo Hội từ xưa đến nay.Cũng cần nói thêm một chi tiết quan trọng nữa là Thánh Lễ, dù do một linh mục tầm thường dưới mắt người đời cử hành hay do một Giám Mục và ngay cả do Đức Thánh Cha dâng, thì cũng không hề có sự khác biệt nào về giá trị thiêng liêng và mục đích của Thánh lễ, vì các Thừa tác viên con người ( linh mục, Giám mục, Hồng Y, Giáo Hoàng) chỉ dâng Thánh lễ nhân danh Chúa Kitô mà thôi ( In persona Christi) chứ không hề nhân danh chính mình bao giờ.Nghĩa là chính Chúa Kitô dâng lại Hy Tế của Người qua tay các Thừa tác viên con người, và " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó Chúa Kitô " Chiên vượt qua" của chúng ta chịu hiến tế ( 1 Cor 5,7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." (x. Lumen Gentium, số 3).

Nghĩa là Thánh Lễ bậc nào- lễ kinh, lễ nhớ hay lễ trọng- thì cũng chỉ là cử hành Hy tế thập giá của Chúa Kitô cách mầu nhiệm qua tay các thừa tác viên con người để tạ ơn Thiên Chúa, xin ơn cứu độ và mọi ơn lành hồn xác cho người còn sống hay đã qua đời cùng thể thức mà Hy Tế này được chính Chúa Kitô dâng trên thập giá năm xưa.

Như vậy, ai bày ra "lễ đặc biệt" để lấy tiền đặc biệt là mắc tội "mại thánh=Simonia" cần phải sửa sai và chấm dứt để không vi phạm kỷ luật bí tích của Giáo Hội và mê hoặc giáo dân về ơn ích thiêng liêng của Thánh Lễ.

Ước mong những giải thích trên thỏa mãn câu hỏi được đặt ra.

LM Phanxicoo Xaviee Ngô Tôn Huấn.

 
<< Start < Prev 151 152 153 154 155 156 157 158 159 160 Next > End >>

Page 156 of 161