mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay7399
mod_vvisit_counterHôm Qua10683
mod_vvisit_counterTuần Này33327
mod_vvisit_counterTuần Trước57668
mod_vvisit_counterTháng Này99214
mod_vvisit_counterTháng Trước249539
mod_vvisit_counterTất cả15179672

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # 158 = CẦN PHẢI SONG DAO PDF Print E-mail

PHẢI SỐNG SỐNG ĐẠO THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI ?
Tôi cần phải nói lại một lần nữa về vấn đề rất hệ trọng này vì những lý do sau đây:
-1- Có nhiều người nghĩ rằng Thiên Chúa rất nhân hậu nên không cần thiết phải quan tâm đến việc cứu rỗi vì Chúa Giêsu đã chết thay cho mọi người rồi nên đương nhiên mọi người sẽ được cứu rỗi !
-2- Mặt khác, cũng có rất nhiều người cho rằng với sức riêng của mình thì chẳng ai có thể làm được điều gì đáng cho mình được cứu rỗi. Đây là quan điểm của đa số anh em Tin Lành, là những người chủ trương chỉ cần tin vào Chúa Kitô là đủ được cứu rỗi chứ không cần đòi hỏi thêm gì nữa về phía con người.!
chúng ta phải nghĩ thế nào cho quân bình và hợp lý về vấn đề cứu rỗi của mỗi người chúng ta ?
Để trả lời cho câu hỏi này, trước hết chúng ta phải xác tín vào những điều sau đây:
1-Trước hết, phải xác tín rằng Thiên Chúa là tình yêu, là Cha nhân hậu ,Đấng tạo dựng mọi loài mọi vật vô hình và hứu hình, cách riêng tạo dựng con người và " muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4)
2-Con người đã phản nghịch Thiên Chúa từ đầu , nên đã mang tội lỗi và sự chết vào trần gian này.Nhưng Thiên Chúa là Cha nhân từ, " Người có giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời." ( TV 30 (29) : 6) ).Vì thế Người đã sai Con Một là Chúa Giêsu-Kitô đến trần gian làm Con Người để cứu chuộc cho nhân loại khỏi chết vì tội. Chúa Kitô đã cứu chuộc con người qua khổ hình thập giá : chết, sống lại và lên trời , ngự bên hữu Chúa Cha. Và sẽ trở lại để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Thật vậy, nếu Thiên Chúa không là tình yêu, thì không thể có con người sinh ra trên trần thế này được, vì Thiên Chúa tạo dựng con người chỉ vì tình yêu vô vị lợi cúa Ngài, chứ tuyệt đối Ngài không có lợi lộc gì - hay muốn tìm lợi lãi nào, mà phải tạo dựng con người trên trần gian này. Đây là điều chúng ta phải xác tín và không ngừng cảm tạ Chúa vì tình thương quá lạ lùng của Người khi tạo dựng và cứu chuộc nhân loại nhờ Chúa Cứu Thế Giêsu, Đấng cũng vì yêu thương con người mà đã vui lòng chịu mọi đau khổ, vác thập giá và chết trần trụi trên đó để "hiến mang sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20: 28)
Như thế, nếu không cậy trông vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô, thì không ai có thể được cứu rỗi sau khi kết thúc hành trình con người trên trần thế này với cái chết trong thân xác mà không ai có thể tránh được..
Tuy nhiên, dù công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho ta được cứu rỗi, nhưng Thiên Chúa vẫn đòi hỏi con người phải cộng tác vào ơn cứu độ này để xứng đáng được hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô.
Tại sao phải như vậy ? lý do là con người còn có ý muốn tự do ( free will) mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người xử dụng, để hoặc chọn lựa sống theo đường lối của Chúa hay khước từ Chúa để sống theo ý riêng của mình và theo thế gian không tin có Chúa và sự thưởng phạt đời đời.
Nói khác đi, Thiên Chúa không bắt buộc ai phải yêu mến Người và bước đi theo Chúa Kitô là " Con đường là Sự thật và là Sự Sống." ( Ga 14: 6). Người chỉ mời gọi và tùy con người tự do đáp trả mà thôi.
Chính vì con người có tự do chọn lựa giữa Thiên Chúa và thế gian, giữa sự thiện và sự dữ, giữa gian tà và lương thiện, nên Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ xưa và tất cả chúng ta ngày nay là :
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa ! Lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên cao mới được vào mà thôi." ( Mt 7: 21)
Nghĩa là nếu con người không thực tâm yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Chúa, mà chỉ hời hợt nói qua miệng lưỡi, chỉ mang danh Kitô hữu , nhưng đời sống lại mâu thuẫn với niềm tin đó thì dẫu có tuyên xưng trăm ngàn lần : Lậy Chúa !, Lậy Chúa !, Alleluia Alleluia ! thì cũng vô ích mà thôi. Chắc chắn như vậy.
Nhưng tại sao Cha trên trời lại muốn chúng ta thi hành ý muốn của Người, như Chúa Giêsu đòi hỏi ?
Câu trả lời chắc chắn trước hết là Cha trên trời không có lợi lộc gì khi muốn ta thi hành ý muốn của Người. Người mong muốn như vậy chỉ vì lợi ích đời này và nhất là đời sau khi ta chấm dứt hành trình con người trên trần thế này mà thôi.
Thật vậy, - trừ một số cha mẹ đã mất hết lương tri, đem bán con cái cho bọn bất lương hành nghề buôn người cho kỹ nghệ mãi dâm và ấu dâm rất khốn nạn, như thực trạng đã và đang xảy ra ở bên nhà, nơi luân lý và đạo đức đã xuống cấp thê thảm, nhưng còn lại tất cả cha mẹ khác đều không ai có thể lại làm ngơ cho con cái mình đi vào con đường hư hỏng như bỏ học, gia nhập băng đảng trộm cắp, hút sách, hay làm nghề ma cô đưa đón khách đi tìm thú vui dâm đãng khốn nạn.
Cha mẹ không muốn con mình đi vào con đường tội lỗi trên là vì thương con cái và muốn cho chúng nên người tốt hữu ích cho xã hội và cho bản thân chúng sau này, chứ tuyệt nhiên không vì lợi ích nào của riêng cha mẹ.
Cũng vậy, Thiên Chúa là Cha trọn tốt trọn lành, yêu thương con cái loài người hơn bất cứ cha mẹ nào trên trần gian này.Người ban lề luật hay điều răn cho ta tuân giữ vì lợi ích của chúng ta, ngay trong cuộc sống trên đời này, trước khi được chiêm ngưỡng Thánh Nhan Ngài mai sau trên Nước Trời. Thiên Chúa tuyệt đối không được lợi lộc gì khi ta tuân giữ những thánh chỉ và giới răn của Người. Vì nếu không có lề luật của Chúa, để con người tự do giết người, trộm cắp, gian dâm, thay vợ đổi chồng, cờ bạc , gian tham, bóc lột và bất công với người khác, thì xã hội loài người sẽ đi về đâu ? Có lề luật hay các giới răn của Chúa mà con người ở khắp mọi nơi còn đã và đang làm những sự dữ như giết người, giết thai nhi, bán con cái cho bọn ma cô, tú bà hành nghề mãi dâm và ấu dâm ( child prostitution) rất khốn nạn, như thực trạng ở rất nhiều nơi trong thế giới tục hóa, sa đọa ngày nay.
Như vậy, tuân giữ các giới răn của Chúa để sống công bằng, bác ái và trong sạch thì chỉ có lợi cho cá nhân, cho gia đình, cho xã hội và cộng đồng nhân loại chứ tuyệt đối không có lợi gì cho Chúa.
Riêng đối với người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, thì việc tuân giữ các giới răn của Chúa là cách cộng tác hữu hiệu vào ơn cứu chuộc của Chúa Kitô để xứng đáng được hưởng nhờ ơn này hầu cho được vào Nước Trời vui hưởng hạnh phúc bất diệt với Chúa trên cõi vĩnh hằng mai sau.
Chúa Kitô đã hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho con người, và công ơn cứu chuộc này đủ cho con người được cứu độ. Nhưng nếu con người không cộng tác với ơn cứu chuộc đó bằng quyết tâm từ bỏ tội lỗi do ma quỷ gây ra với sự tiếp tay đắc lực của thế gian, thì Chúa không thể cứu ai được. Nghĩa là công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô sẽ trở nên vô ích cho những ai ỷ lại vào công nghiệp này để không làm gì về phần mình - hay tệ hại hơn nữa- là cứ tiếp tục sống theo ý riêng mình và làm những sự dữ , những điều ghê tởm như giết người, phá thai, gian dâm , thay chồng đỗi vợ, gian manh, bất công, bóc lột người khác và dửng dưng trước sự đau khổ, nghèo đói của anh chị em đồng loại. Sở dĩ Chúa không thể cứu họ được vì họ đã sử dụng ý muốn tự do ( free will) để từ chối ơn cứu độ của Chúa và tự chọn con đường dẫn đến hư mất đời đời. Chính vì con người có tự do để chọn Chúa và ơn cứu độ của Người hay quay lưng lại với Chúa để sống đối nghịch với hạnh phúc Nước Trời, nên Chúa Giêsu, khi trả lời cho một người đến hỏi Chúa xem có phải rất ít người được cứu độ không , Chúa đã đáp như sau:
" Hãy chiến đấu để qua cửa hẹp mà vào , vì tôi nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được." ( Lc 13: 24)
Tại sao Chúa không nói : anh em đừng lo lắng gì về việc đó ( việc được cứu độ) và cứ tự do làm những gì anh em thích, khỏi cần phải chiến đấu , cố gắng thêm cho mệt ? Ngược lại, Chúa đòi hỏi phải chiến đấu để qua của hẹp mà vào, vì con người còn có tự do mà Thiên Chúa luôn tôn trọng cho con người sử dụng. Cho nên, qua của hẹp mà vào có nghĩa là khép mình vào khuôn khổ những đòi hỏi của Chúa về một đời sống công bằng, bác ái, lương thiện và trong sạch để được cứu độ. Nói khác đi, là cộng tác với ơn cứu độ bằng quyết tâm xa tránh tội lỗi và bước đi theo Chúa Kitô như Người đòi hỏi là :
" Ai muốn theo Thầy thì phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo..Ai muốn cứu mang sống mình thì sẽ mất , còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy. " ( Mt 16: 24-25)
Vác thập giá mình mà theo Chúa có nghĩa là thông phần đau khổ với Chúa để được tham dự vinh quang phục sinh với Người trong Nước Hằng Sống.
Tóm lại, Chúa nhân hậu và giầu tình thương, tha thứ. Cộng nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô là vô giá và đủ cho con người được cứu độ. Nhưng Chúa vẫn cần sự cộng tác hay thiện chí của mỗi người chúng ta muốn sống theo đường lối của Chúa và xa tránh mọi tội lỗi và sự dữ như đã nói ở trên. Nếu không có sự cộng tác hay thiện chí đó, thì Chúa không thể cứu ai được, vì con người còn có tự do để chọn Chúa hay chọn thế gian và ma quỷ để làm nô lệ cho tội lỗi và tự ý đi tìm sự hư mất đời đời. Những ai muốn sống như vậy thì Chúa sẽ tôn trọng tự do của họ và họ sẽ phải lãnh chiu hậu quả do việc họ chọn lựa để làm khi sống trên trần gian này..
Cứ nhìn vào thực trạng sống của con người ở khắp nơi ngày nay thì đủ cho ta biết ai đang muốn được cứu rỗi và ai đang từ chối ơn cứu độ của Chúa bằng chính đời sống của họ.
Vậy, là người có niềm tin Chúa, chúng ta nghĩ sao về tự do của mình trong ước muốn được cứu độ để được sống hạnh phúc vĩnh cửu với Chúa trên Nước Trời mai sau ?
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 157= GIA DAP THAC MAC PDF Print E-mail

Hỏi :
1- xin cha cho biết vì sao trong quá khứ Tòa Thánh lại ở Avignon, Nước Pháp?
2- Cuộc ly giáo Tây Phương xảy ra trong Giáo Hội vì nguyên do nào ?
Trả lời :
1- Trong lịch sử Giáo Hội, đây là thời kỳ duy nhất Tòa Thánh La Mã phải "di cư" sang Pháp, đóng tại thành phố Avignon trong một thời gian khá lâu dài là 68 năm, kể từ năm 1309 đến năm 1377 . Các sử gia đã gọi thời kỳ này là " cuộc lưu đầy Babilone của Ngôi vị Giáo Hoàng (The Babilonian captivity of the papacy) .
Nguyên nhân của " cuộc lưu đầy" này có thể được tóm tắt như sau :
Thời kỳ cuối thế kỷ cuối 12 và trong thế kỷ 13 , các phe phái chính trị và tôn giáo ở Ý và Pháp muốn tranh dành ảnh hưởng đối với Giáo Hội Công Giáo La Mã, nên đã là nguyên nhân chính khiến Ngai Tòa Phêrô bị di chuyển từ Rôma sang Avignon, Pháp, từ năm 1309 dưới triều Đức Giáo Hoàng Clement V ( người Pháp ) ( 1305- 1316).
Ngài được Hồng Y đoàn bầu lên năm 1309 với hy vọng làm dịu bớt căng thẳng giữa các phe người Pháp và Ý đang muốn dành ảnh hưởng đối với Giáo Hôi sau những năm sóng gió dưới triều Đức Giáo Hoàng Boniface VIII ( 1294- 1303).
Vì là người Pháp, nên Đức Clement V đã mang Tòa Thánh từ Rome về Avignon, một thành phố phía nam nước Pháp, năm 1309 để tránh phải đương đầu với gia đình Colonna, đầy quyền lực ở Ý , đang muốn nắm quyền cai trị về mọi phương diện chính trị, xã hội và tôn giáo ở Rôma thời đó. Ngài được Hồng Y đoàn bầu lên ngôi Giáo Hoàng năm 1309 như một nhượng bộ nhằm hòa giải giữa hai phe người Ý và Pháp đang có ảnh hưởng lớn trong Giáo Hội Công Giáo Tây phương lúc bấy giờ, nhưng đã không đạt được mục đích mong muốn .Vì thế, Đức Giáo Hoàng Clement V đã mang Tòa Thánh về Avignon để tránh áp lực của các thế lực người Ý đang muốn dành quyền chi phối Giáo Hội trong gian đoạn khó khăn đó.
Tuy nhiên, khi cư trú trên đất Pháp, thì 7 Giáo Hoàng kế tiếp nhau lên ngôi ở đây cũng không tránh được bị chi phối và ảnh hưởng cúa các nhà vua trị vì Nước Pháp trong suốt thời kỳ đó. Dầu vậy, truyền thống Tông Đồ ( Apostolic succession) vẫn được tôn trọng trong việc chọn Giáo Hoàng cũng như sứ vụ tông đồ vẫn được tiếp tục theo truyền thống trong việc cai quản Giáo Hội, mặc dù có bị thế quyền Pháp chi phối phần nào do việc Giáo Hội nằm trên lãnh thổ của Nước Pháp trong suốt 68 năm, với 7 Giáo Hoàng được bầu lên cách hợp pháp và có tên sau đây :
1- Clement V ( 1305-1316)
2- Joan XXII ( 1316-1334)
3- Benedict XII ( 1334-1342)
4- Clement VI ( 1342-1352
5- Innocent VI ( 1352-1362)
6- Urban V ( 1362-1370)
7- Gregory XI ( 1370- 1378)
Đức Gregory XI là Giáo Hoàng cuối cùng tại Avigon, đã quyết định mang Tòa Thánh trở lại Rôma năm 1377, do công khởi thủy của Đức Giáo Hoàng Urban V ( 1362- 13700) và đặc biệt thể theo lời khẩn khoản nài van của nữ tu bí nhiệm Dòng ĐaMinh ( Mystic Dominican Sister) mà sau này đã trở thành Thánh Nữ Catherine thành Sienna.
Nhưng dù Tòa Thánh được mang trở lại Rôma với Đức Giáo Hoàng Gregory XI , Giáo Hội vẫn chưa an vị được ở Rôma, mà còn xảy ra cuộc ly giáo Tây phương ( Western Schism) giữa những người cùng hiệp thông với Giáo Hội Công Giáo La Mã về phía Tây phương vì lý do sau đây:
2- Ly Giáo Tây Phương( Western Schism)
Từ ngữ ly giáo ( schism) xuất phát từ nguyên ngữ Hy lạp " schisma" có nghĩa là xé rách ra ( tear).Do đó, từ ngữ này được dùng để chỉ một tình trạng hay sự kiện rạn nứt trong sự hiệp nhất của Giáo Hội ( Unity in the Church) .Nhưng khác với tà giáo hay lạc giáo ( heresy) và bội giáo ( Apostacy) , ly giáo ( schism)không nhằm chối bỏ một chân lý nào của Kitô Giáo, hay đặt lại vấn đề về một tín lý nào,( dogma) mà chỉ là gương xấu đưa đến hậu quả làm mất sự hiệp thông ( communion) và hiệp nhất ( unity ) trong Giáo Hội do một vài phe nhóm chủ xướng mà thôi.
Cụ thể, quyết định mang Tòa Thánh trở lại Rôma của Đức Giáo Hoàng Gregory XI đã bị các Hồng Y và thế quyền Pháp chống đối, nên sau khi Đức Gregory XI qua đời ngày 27 tháng 3 năm 1378, Đức Urban VI được bầu lên kế vị ở Rôma , thì các Hồng Y người Pháp ở Avignon lại bầu một ngụy Giáo Hoàng (antipope) lên ngôi và lấy danh hiệu là Clement VII để tranh ngôi Giáo Hoàng với Đức Urban VI ở Rôma . Và đây là nguyên nhân gây ra cuộc ly giáo Tây Phương trong Giáo Hội, kéo dài từ năm 1378 cho đến năm 1417 với hai Giáo Hoàng tại chức , một ở Avignon và một ở Roma; và sau này có thêm một Giáo Hoàng nữa do Công Đồng Pisa bầu lên, như sẽ nói sau đây.
Cuộc ly giáo trên đã xẩy ra vì có hai phe tranh giành ngôi vị Giáo Hoàng trong thời gian sóng gió đó. Trước hết phe các nước nói tiếng Latinh và Pháp ủng hộ Giáo Hoàng Clement VII ở Avignon , đối đầu với phe người Đức và Anh ủng hộ Giáo Hoàng Urban VI ở Rome..
Giáo Hoàng Clement VII mất năm 1394 và người kế vị được bầu lên thay là Benedict XIII, tiếp tục cai trị ở Avignon. Ở bên kia, Giáo Hoàng Urban VI cũng mất năm 1397, và người kế vị được bầu lên là Gregory XII, người Roman. Như vậy trong thời kỳ này có hai giáo hoàng cùng tranh ngôi , một ở Pháp và một ở Rôma
Để giải quyết tình trạng này, các Hồng y và nghị phụ đã họp Công đồng tại Písa ngày 29-3-1409 và bầu Giáo Hoàng mới lấy danh hiệu là Alexander V, nhưng ngài chưa kịp về Roma nhậm chức thì đã mất ở Bologna ngày 3-5-1410, và người kế vị được bầu lên ngày 17-5-1411 đã lấy danh hiệu là Gioan XXIII. Nhưng tân Giáo Hoàng này tỏ ra là người không có đủ tài đức và khả năng lãnh đạo Giáo Hội, lại được bầu lên nhờ áp lực và tham vọng cá nhân, nên bị coi là nguy giáo hoàng ( antipope), và buộc phải thoái vị.
Như vậy, Giáo Hội một lúc có tới ba Giáo Hoàng cùng tranh giành Ngôi Tòa Phê rô: Đó là Gioan XXIII do Công Đồng Pisa bầu lên ngôi ngày 17-5-1411, trong lúc có hai Giáo Hoàng nữa đang tại chức là Benedict XIII ở Avignon và Gregory XII ở Rome như đã nói ở trên.
Vì thế, để giải quyết tình trạng bế tắc và gây tai tiếng trên đây , theo sáng kiến của Hoàng Đế Rôma là Sigismund of Luxembourg, Công Đồng Constance được triệu tập ngày 1-11-1417 như một cố gắng cuối cùng để giải quyết tình trạng ly giáo do việc ba Giáo Hoàng trên cùng tranh nhau quyền cai trị Giáo Hội. Kết quả, Công Đồng đã thuyết phục được Giáo Hoàng Gregory XII từ chức, hạ bệ ngụy giáo Hoàng Gioan XXIII, và truất phế vắng mặt Giáo Hoàng Benedict XIII ở Avignon.( ông này đã bỏ chậy trốn khi biết không còn hy vọng ở yên trên ngôi vị Giáo Hoàng được nữa)
Sau đó, ngày 11-11-1417 Công Đồng Constance đã bầu được Giáo Hoàng mới là Oddo Colonna , một nghị phụ tham dự Công Đồng, lên ngôi với danh hiệu Martin V để chấm dứt cuộc ly giáo Tây Phương kéo dài từ năm 1378 đến năm 1417.
Martin V là một thường dân ( layman) trí thức, đạo đức nhưng không có chức linh mục và giám mục. Nên sau khi được bầu lên, ngài đã được truyền chức linh mục và giám mục trước khi đăng quang Giáo Hoàng với danh hiệu Marin V.
Như thế , Công Đồng Constance đã đạt được thành quả lớn : đó là chấm dứt cuộc ly giáo Tây phương kéo dài từ năm 1378 đến 1417. Cuộc ly giáo này xảy ra chỉ vì các phe nhóm có thế lực ở Âu Châu, cụ thể là Pháp và Ý, đã tranh dành ảnh hưởng để dành địa vị Giáo Hoàng của Giáo Hội La Mã. Có thể nói tắt một điều : đây là hậu quả của thời kỳ thế quyền và thần quyền lẫn lộn tranh giành quyền cai trị Giáo Hội nên đã gây ra cuộc ly giáo đáng tiếc nói trên.
Có một chi tiết đáng chú ý trong giai đoạn ly giáo này là sự kiện Giáo Hoàng Gioan XXIII , lên ngôi năm 1410, bị coi là ngụy giáo hoàng ( antipope) vì không được bầu lên cách hợp pháp , lại thêm kém tài đức và nhân cách.Vì thế, sau này, khi Đức Hông Y Roncali được bầu Giáo Hoàng ngày 28 tháng 10 năm 1958, để kế vị Đức Thánh Cha Piô XII qua đời ngày 9-10-1958, ngài đã lấy lại danh hiệu Gioan XXIII để cai trị Giáo Hội cho đến ngày qua đời. ( 3-6-1963)
Trên đây là đại cương nguyên nhân và diễn tiến cuộc ly giáo Tây Phương, một vết thương trong thân thể của Giáo, mặc dù chỉ kéo dài trong 38 năm., trong khi một vết thương khác lớn hơn và kéo dài hơn nữa cho đến nay : đó là cuộc ly giáo Đông Phương ( Eastern Schism) xảy ra giữa Giáo Hội Công Giáo Rôma và Giáo Hội Chính Thống Constantinople ( Hy Lạp) bắt đầu từ năm 1054 cho đến nay. Và chưa biết đến bao giờ mới có thể chấm dứt vĩnh viễn để Giáo Hội của Chúa Kitô được hiệp thông và hiệp nhất trong cùng một sứ mệnh tuyên xưng đức tin Kitô Giáo và phúc âm hóa thế giới, để mang ơn cứu độ của Chúa Kitô đến với hết mọi người trên toàn thế giới, không phân biệt màu da, tiếng nói và văn hóa, cho đến ngày mãn thời gian.
Vấn đề này xin được nói trong một dịp khác.
Chúng ta tiếp tục cầu xin cho sự hợp nhất của Giáo Hội sớm được thực hiện qua cố lực đại kết ( ecumenism) mà cả hai Giáo Hội Công Giáo La Mã và Chính Thống Đông Phương đều đã có thiện chí theo đuổi trong mấy thập niên qua.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 157= GIA DAP THAC MAC PDF Print E-mail

Giải đáp thắc mắc :
1- Có Thánh lễ nào mà mục đích chỉ để kính riêng một mình Đức Mẹ hay Thánh Nam nữ nào không ?
2- Có thể lần chuỗi Mân Côi để kính Thánh Nam nữ nào được không ?
3- Có lễ nào chỉ dành riêng cầu cho một linh hồn hay cho một ý chỉ riêng nào không ?
Trả lời :
1- Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) là việc phụng vụ cao trọng nhất nhằm diễn lại cách bí tích trên bàn thờ ngày nay Bữa ăn sau hết của Chúa Giêsu-Kitô với 12 Tông Đồ và Hy Tế Chúa dâng lên Chúa Cha một lần trên thập giá năm xưa để đền tội thay cho nhân loại khỏi phải phạt và chết đời đời vì tội.
Phải nói là Lễ Tạ Ơn( Thanksgiving Mass) vì Chúa Kitô đã " dâng lời cảm tạ Chúa Cha, bẻ bánh và trao cho các môn đệ hiện diện ăn, rồi cũng cảm tạ và trao chén rượu nho đã biến thành máu Người cho các ông uống".
Vì thế, Thánh Lễ là hành động cảm tạ Chúa Cha cùng với Chúa Kitô và diễn lại Hy tế đền tội của Chúa, như Giáo Hội dạy trong Hiến Chế tín lý Lumen Gentium, là " mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó " Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chịu hiến tế ( 1 Cor 5: 7) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( LG số 3)
Như thế, mọi Thánh Lễ đều qui chiếu về mục đích thờ lậy, ngượi khen và cảm tạ Chúa Cha cùng với Chúa Kitô và trong Chúa Thánh Thần mà Giáo Hội dâng trên bàn thờ nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) để xin ơn tha tội cho chúng ta ngày nay cùng thể thức và mục đích mà Chúa Kitô đã một lần dâng trên thập giá để xin ơn tha tội cho toàn thể nhân loại.
Do đó, không có Thánh Lễ nào được dâng mà trọng tâm là để kính riêng một thánh nam nữ nào, kể cả Đức Mẹ và Thánh Cả Giuse, vì trọng tâm của mọi Thánh Lễ đều phải qui chiếu về một mục đích duy nhất là ngượi khen, thờ lậy và cảm tạ Thiên Chúa nhờ Chúa Giê-su-Kitô, Đấng đã dâng mình tế lễ Chúa Cha trên thập giá như đã nói ở trên .
Tuy nhiên , Phụng vụ của Giáo Hội có dành lễ kinh Đức Mẹ trong nhiều dip quanh năm, kính Thánh Cả Giuse hai lần ( 19 tháng 3 và 1 tháng 5, Kinh Thánh Gioan Tẩy Giả 2 lần ( 24 tháng 6 và 29 tháng 8)
Các Thánh Tông Đồ ( Phêrô. Phaolô, Philiphê, Joan, Giacô- bê...) mỗi vị một lần trong năm. Nhưng dù là lễ trọng ( Solemnity) hay lễ kính ( Feast Day) Đức Mẹ, hoặc các Thánh Nam Nữ, thì trọng tâm của Thánh Lễ vẫn là để ngượi khen, thờ lậy và cảm tạ Chúa Cha , nhờ Chúa Kitô, chứ không bao giờ là chỉ để tôn kính riêng Đức Mẹ hay bất cứ Thánh Nam Nữ nào.
Có khác chăng là trong mọi lễ kinh Đức Mẹ , Thánh Cả Giuse , các Thánh Tông Đồ , các Thánh Nam Nữ ( 1-11) các Thánh Tử Đạo, các Thánh Trinh nữ và Tu Sĩ...và lễ cầu cho một tín hữu đã qua đời, thì tất cả đều có lời nguyện riêng mở đầu và kết thúc Thánh Lễ , cũng như có Kinh Tiền Tụng ( Preface) riêng cho mỗi lễ kính mà thôi.
Thí dụ, trong Lễ Kinh Đức Mẹ và các Thánh, Giáo Hội cảm tạ Chúa về hồng ân và những sự lạ lùng Chúa đã làm nơi Đức Mẹ và các Thánh. Cụ thể, trong Kinh Tiền Tụng Lễ Kinh Đức Mẹ, Giáo Hội nguyện cầu như sau:
....Trong ngày lễ ( sinh nhật Đức Mẹ, Đức Mẹ Mân côi, Mẹ lên trời cả hồn xác...) của Đức Maria diễm phúc trọn đời đồng trinh, chúng con cùng ca ngượi, chúc tụng và tung hô Chúa. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Đức Maria đã thụ thai Con Một Chúa, và đã chiếu giãi vào thế gian ánh sáng vĩnh cửu là Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng con..
Hoặc : Chúng con tuyên xưng Chúa là Đấng kỳ diệu trong việc Chúa tôn phong các Thánh. Nhất là khi kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, chúng con hiệp với lời ca tụng, tạ ơn của Người ( Mẹ Maria) mà tôn vinh lòng nhân hậu của Chúa...
Như thế, lễ kính Đức Mẹ trong mọi dịp chỉ có mục đích cảm tạ Thiên Chúa đã ban nhiều hồng ân cho riêng mình Mẹ, như được sinh ra mà không mắc tội Tổ Tông và các tội khác, trọn đời đồng Trinh và lên trời cả hồn xác.Ngượi khen và cảm tạ Chúa và chúc mừng Mẹ được diễm phúc hơn mọi thần thánh trên trời và mọi tạo vật dưới thế.Đó là tâm tình chúng ta phải có mỗi khi mừng lễ kinh Đức Mẹ.
Chinh Đức Mẹ và các Thánh Nam Nữ và các Thiên Thần cũng hiệp thông với Chúa Kitô và Giáo Hội khi Thánh Lễ Tạ Ơn được cử hành trên bàn thờ ngày nay để cùng ngượi khen và cảm tạ Chúa Cha , vì Người đã ban tặng cho nhân loại món quà quí giá nhất là Con Một của Người là Chúa Giê-su Kitô, Đấng đã đến trần gian và "hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20 : 28)
Đức Mẹ - với địa vị cao sang là Mẹ Thiên Chúa, vì là Mẹ thật của Chúa Kitô, nên được tôn kính ở mức Hyperdulia trong phụng vụ thánh, nhưng không được tôn thờ ở mức Latria là mức chỉ dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi.Nghĩa là , trong mọi Thánh Lễ Tạ Ơn chỉ một mình Thiên Chúa được ngượi khen và tôn thờ, trong khi Đức Mẹ và các Thánh Nam nữ khác, kể cả Thánh Giuse là bạn thanh sạch của Mẹ và là dưỡng phụ của Chúa Kitô, thì được tôn kính ( venerate) ở mức Hyperdulia ( Đức Mẹ) và Dulia ( các Thánh) mà thôi.
Cụ thể, ngay cả những lễ được gọi là lễ kính riêng Đức Mẹ như Mẹ Thiên Chúa ( Moher of God 1-1), Mẹ Vô nhiễm thai ( Immaculate Conception 8-12) Mẹ lên trời cả hồn xác ( Assumption 15-8) ... thì trọng tâm vẫn là để thờ lậy và cảm tạ Thiên Chúa Cha nhờ Chúa Kitô . Chỉ có khác một điều khác là trong lễ kính Đức Mẹ thì có lời nguyện riêng mở đầu và kết thúc thánh lễ, có Kinh Tiền Tụng ( Preface, ) riêng, và được đặc biệt nhắc đến trong các Kinh Nguyện Thánh Thể ( Kinh Nguyện Tạ Ơn) như : "Chúng con kính nhớ trước hết là Đức Maria vinh hiển trọn đời đồng trinh, Mẹ của Chúa Giê su-Kitô ...( Kinh Nguyện Thánh Thể I) . Hay " Người ( Chúa Kitô) đã nhập thể bởi phép Chúa Thánh Thần và được Đức Trinh Nữ sinh ra...( Kinh Nguyện Thánh Thể II & IV)
Hoặc: " Nguyện xin Chúa Thánh Thần làm cho chúng con trở nên của lễ muôn đời dâng lên Chúa, để chúng con được thừa hưởng gia nghiệp cùng với các người Chúa đã chọn, nhất là với Đức Trinh Nữ Maria , Mẹ Thiên Chúa...( Kinh Nguyện Thánh Thể III)
Tóm lại, không có Lễ nào chỉ dành riêng để kính Đức Mẹ, hay Thánh Nam nữ nào mà lại không có lời chúc tụng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa của Giáo Hội hiệp thông cũng với Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha khi cử hành ThánhLễ Tạ Ơn . Do đó, khi nói xin lễ tạ ơn Đức Mẹ, hay Thánh Giuse hoặc Thánh Nam Nữ nào, thì phải được hiểu là Lễ tạ ơn Chúa đã thương ban ơn qua lời chuyển cầu của Đức Mẹ và các Thánh, vì chỉ có một mình Thiên Chúa ban phát mọi phúc lành cho chúng ta, nhờ công nghiệp Chúa Kitô và nhờ lời nguyện giúp cầu thay rất đắc lực của Đức Me, Thánh Cả Giuse, và các Thánh Nam nữ khác đang vui hưởng Thánh Nhan Chúa trên Thiên Đàng.
Đức Mẹ và các Thánh không ban ơn mà chỉ xin ơn Chúa cho chúng ta mà thôi.Dĩ nhiên chúng ta cũng phải cám ơn Mẹ và các Thánh đã cầu bầu thay cho chúng ta trước Tòa Chúa. Điều muốn nhấn mạnh trong bài viết này là chúng ta không được quên phải cảm tạ Chúa trước hết vì Người đã ban cho ta những ơn lành hồn xác, và cám ơn Đức Mẹ hay Thánh Nam Nữ nào đã nguyện giúp cầu thay cho chúng ta.
Xin nhớ kỹ điều này để trong thực hành khi vào nhà thờ cầu xin điều gì, thì không nên chạy thẳng đển nơi có thánh tượng Đức Mẹ hoặc Thánh Nam nữ nào để cầu xin như thể Đức Mẹ và các Thánh có thể ban phát mọi ơn lành cho chúng ta. Trái lại, phải đến thờ lậy Chúa Kitô đang hiện diện trong nhà tạm ( Tabernacle), trước khi chạy đến với Đức Mẹ , Thánh Giuse hay Thánh Nam Nữ nào khác. Phải thờ lậy Chúa Kitô, cũng là thờ lậy Ba Ngôi Thiên Chúa, vì ở đâu có Chúa Kitô thì ở đấy có Chúa Cha và Chúa Thánh Thần .
Đó là cách cầu nguyện đẹp lòng Chúa , Đức Mẹ và các Thánh mà chúng ta phải hiểu rõ và thực hành cho phù hợp với đức tin và phụng vụ.
2- Về câu hỏi thứ 2, xin nói rõ là Kinh Kinh Mừng là lời Sứ Thần Grabriel chào kinh Đức Trinh Nữ Maria và loan báo cho Trinh Nữ biết là Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh con bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần. Đó là nội dung phần đầu của Kinh Kính Mừng. Phần hai của Kinh là lời cầu xin Đức Maria của Giáo Hội cho con cái mình được những ơn phúc của Chúa nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria.
Như vậy, Kinh Kính Mừng chỉ dành riêng để kinh Đức Mẹ mà thôi.Do đó, không thể đọc kinh Kinh Mừng, hay lần chuỗi mân côi để kính bất cứ Thánh Nam Nữ nào, vì mục đích của Kinh không được soan ra để kinh Thánh Nam nữ nào mà chỉ để dành riêng kinh Đức Mẹ mà thôi.Thánh nào có kinh được soạn riêng thì đọc. Còn nếu không, thì tư ý cầu xin với Thánh đó là đủ, chứ không thích hợp để đọc kinh Lậy Cha,Kinh Kinh mừng và Sáng Danh khi cầu nguyện với Thanh Nam Nữ nào.Mà nếu có đọc thì phải đọc trong tâm tình kính Đức Mẹ, thờ lậy Chúa là Cha và vinh danh Chúa cùng các Thánh và các Thiên Thần để nhờ Thánh Nam nữ nào nguyện giúp cầu thay cho mình được những điều mong muốn.
Lại nữa, khi đọc Kinh Kinh Mừng ta phải đọc trong tâm tình mừng kinh vinh phúc của Mẹ được chọn làm Mẹ Ngôi Hai, và xin Mẹ nguyện giúp cầu thay cho ta được Chúa đoái thương ban cho những ơn ta đang cần đến trong cuộc sống trên trần thế này, chờ ngày về vui hưởng hạnh phúc cùng Mẹ trên Thiên Đàng.
3- Về câu hỏi thứ 3, xin trả lời là mục đích của Thánh Lễ là để ngượi khen, cảm tạ và thờ lậy Chúa như đã nói ở trên, nên không hề có lễ nào chỉ để cầu riêng cho một hay nhiều người còn sống hay đã qua đời. Nói xin lễ cầu bình an cho người còn sống hay cho người đã ly trần chỉ có nghĩa là chủ tế phải nhớ đến ý lễ mình dâng để được hưởng bổng lễ ( mass stipend) theo qui định của giáo luật. Nhưng ngay trong lễ có người xin để cầu cho một linh hồn đã ly trần, thì vẫn có lời nguyện cầu chung cho Đức Thánh cha, cho giám mục giáo phận và cho các tín hữu đã ly trần như ta đọc thấy trong mọi Kinh Nguyện Thánh thể đều có lời cầu chung như sau : " Xin Chúa cũng nhớ đến anh chị em chúng con đang an nghỉ trong niềm hy vọng sống lại, và mọi người, đặc biệt là các bậc tổ tiên, ông bà cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã ly trần trong tình thương của Chúa.Xin cho hết thảy được vào hưởng ánh sáng tôn Nhan Chúa..( KNTT 1, 2, 3, 4)
Nếu có người xin lễ cầu cho một hay hai linh hồn, thì có thêm lời nguyện riêng như sau : " Xin nhớ đến tôi tá Chúa là....mà ( hôm nay) Chúa đã gọi ra khỏi đời này về với Chúa. Xin ban cho kẻ đã chết như Con Chúa, thì cũng được sống lại như Người."
Nhưng dù có lời nguyện riêng cho thân nhân ai xin lễ, thì vẫn có lời cầu xin chung cho các tin hữu còn sống cũng như đã ly trần như đã nói ở trên.
Như vậy, không có lễ nào chỉ dành để cầu riêng cho một hay nhiều linh hồn đã qua đời. Xin nhớ kỹ điều này để đừng ai thắc mắc tại sao lễ mình xin cầu cho người thân đã ly trần mà vẫn thấy cha chủ tế cầu cho các người khác nữa. Phải cầu cho các người còn sống cũng như đã qua đời vì phụng vụ thánh qui đinh như vậy, và không ai có quyền thay đổi theo ý mình.
Chính vì thế mà cũng cần nói lại một lần nữa là không có linh hồn nào được coi là " mồ côi" ở trong chốn luyện hình, khiến phải xin cầu nguyện cho họ, vì trong các Thánh Lễ, Giáo Hội đều cầu xin cho " các tính hữu đã ly trần" mặc dù có hay không có ai xin lễ cầu riêng cho họ.
Tóm lại, là tín hữu trong Giáo Hội, chúng ta cẩn biết rõ ý nghĩa và mục đích của phụng vụ thánh, tức toàn bộ việc thờ phượng, ngượi khen và cảm tạ Thiên Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, cũng nhờ ơn thông hiệp và cầu bầu của Đức Mẹ và các Thánh mà Giáo Hội dâng lên Thiên Chúa nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi).
Lm P. X Ngô Tôn Huấn

 
HOC HOI DE SONG DAO # 156= TOI SIMONIA (SIMONY) PDF Print E-mail

TỘI SIMONIA (SIMONY) LÀ TỘI GÌ?

Sách Tông Đồ Công Vụ kể chuyện một người phù thủy tên là Simon từng làm nhiều trò ảo thuật để mê hoặc dân chúng về "quyền năng vĩ đại" của mình. Anh này cũng đến nghe các Tông Đồ giảng và được chịu phép rửa tội. Thấy các Tông Đồ đặt tay ban ơn Chúa Thánh Thần cho các tín hữu, anh rất thích thú nên đã ngỏ ý biếu tiền cho các Tông Đồ để xin đặc quyền ban ơn ấy, nhưng đã bị Thánh Phêrô quở trách nặng nề như sau: "tiền bạc của anh sẽ tiêu tan luôn với anh, vì anh tưởng có thể lấy tiền mà mua ân huệ của Thiên Chúa sao?" ( cf.Acts 8: 9-24). Nghe thế, anh phù thủy kia sợ hãi và van xin Phêrô và Gioan xin Chúa cho anh khỏi bị án phạt đó.

Từ câu chuyện này, Giáo Hội đã dùng tên anh phù thủy Simon này để chỉ một loại tội gọi là "Tội mại thánh = simonia = simony) mà Giáo Luật đã minh nhiên ngăn cấm qua những điều khoản sau đây:
c.149, triệt 3: "Sự chỉ định chức vụ nhờ việc mại thánh đương nhiên vô giá tri."

c.848: "Khi ban các Bí Tích, thừa tác viên không được đòi thêm cái gì khác ngoài số tiền thù lao mà nhà chức trách có thẩm quyền đã ấn định; và phải cẩn thận đừng để những người nghèo không được lãnh nhận Bí Tích vì lý do túng thiếu."

c.947: "Trong vấn đề bổng lễ, phải xa tránh hoàn toàn mọi hình thức buôn bán hay thương mại."

Sách Giáo Lý Công Giáo (SGLCG) cũng đề cập đến tội này và ngăn cấm như sau :

c.2121: "Tội buôn thần bán thánh (simony) là mua hoặc bán các thực tại thiêng liêng. Pháp sư Simon muốn mua quyền lực linh thiêng ông ta thấy tác động nơi các Tông đồ, nhưng Phêrô đã trả lời ông: "tiền bạc của ngươi hãy hủy hoại đi với ngươi, vì ngươi đã tưởng lấy tiền bạc mà mua được hồng ân của Thiên Chúa" (Cv 8, 20). Thánh Phêrô đã hành động đúng như lời Chúa Giêsu dạy: "các ngươi đã nhận được nhưng không thì cũng hãy ban tặng nhưng không" (Mt 10,8).

Không thể chiếm lấy các lợi ích thiêng liêng làm của riêng mình và tùy ý sử dụng như kiểu một người sở hữu chủ hoặc một ông chủ, bởi vì các ơn ích thiêng liêng này bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa. Chúng ta chỉ có thể nhận được từ nơi Thiên Chúa, cách nhưng không.

c.2122: "Ngoài những khoản dâng cúng do thẩm quyền ấn định, thừa tác viên không được đòi hỏi gì cho việc ban các bí tích, và phải lo liệu để những người nghèo túng không mất ơn nhận lãnh các bí tích vì cảnh nghèo khó của họ. Thẩm quyền ấn định 'các khoản dâng cúng' này dựa trên nguyên tắc dân Kitô giáo phải cấp dưỡng cho các thừa tác viên của Giáo Hội "người thợ đáng được của nuôi thân" (Mt 10,10).

Dựạ trên những điều Giáo Hội dạy và ngăn cấm trên đây liên quan đến "tội mại thánh" chúng ta cần hiểu rõ những áp dụng cụ thể để tránh gương xấu về loại tội này trong thực hành.

I- Lý Do Giáo Hội cho phép Giáo sĩ nhận bổng lễ (missarum = mass stipends)

Trước hết, chúng ta cần hiểu rằng mặc dù việc phục vụ của giáo sĩ là bổn phận thiêng liêng chính yếu của Sứ vụ và Ơn gọi, nhưng về mặt tự nhiên giáo sĩ cũng là người như mọi người, nên phải có những nhu cầu thiết yếu và chính đáng về ăn, ở, thuốc men, quần áo, phương tiên di chuyển (đặc biệt là nhu cầu xe cộ cho các giáo sĩ làm mục vụ ở Âu Mỹ, Úc và Canada). Và để thỏa mãn những nhu cầu tối cần này, thì giáo sĩ phải được chăm sóc xứng đáng để an tâm chu toàn trách nhiệm thiêng liêng của mình. Vì thế, ở khắp nơi trong Giáo Hội – trừ Việtnam cho đến nay – giáo sĩ (Giám mục, linh mục) được trả lương tối thiểu (ngân quỹ của Địa phận hay giáo xứ) để giúp chi phí cho những nhu cầu thiết yếu về ăn, ở, thuốc men và phương tiện di chuyển.

Khoản tiền lương tối thiểu này nhiều ít khác nhau từ địa phận này sang địa phận khác, và từ quốc gia này đến quốc gia kia. (Riêng ở Đức, chánh phủ trả lương cho các giáo sĩ của mọi Giáo Hội như trả lương cho công chức). Ngoài tiền lương tối thiểu trên, Giáo Hội còn cho phép giáo sĩ được nhận thêm bổng lễ (missarum) cử hành theo ý của giáo dân xin. (Ở Mỹ, các linh mục phải khai và đóng thuế lợi tức cuối năm về tiền lương và những bổng lễ, tiền dâng cúng nhận được, nếu có, trong các dịp rửa tội, chứng hôn và cử hành nghi thức an táng).

Giáo Hội chăm lo và cho phép nhận bổng lễ dựa vào lời Chúa dạy sau đây:

- "....Hãy ở lại nhà ấy và người ta cho ăn uống thức gì thì anh em dùng thức đó vì thợ đáng được trả công" (Lk 10,7).

- "Đi đường, đừng mang bao bì, đừng mặc hai áo, đừng đi giầy hay cầm gậy, vì thợ thì đáng được nuôi ăn" ( Mt 10,10).

- "Anh em không biết rằng người lo cho các thánh vụ thì được hưởng lộc Đền Thờ, và kẻ phục vụ bàn thờ thì cũng được chia phần của bàn thờ sao? Cũng vậy Chúa truyền cho những ai rao giảng Tin Mừng phải sống nhờ Tin Mừng" (1Cr 9: 13-14).

- "Những kỳ mục thi hành chức vụ chủ tọa cách tốt đẹp, thì đáng được đãi ngộ gấp đôi, nhất là những người vất vả phục vụ lời Chúa và giảng dạy. Quả vậy, Kinh Thánh có nói: Đừng bịt mõm con bò đang đạp luá, và làm thợ thì đáng được trả công" ( 1 Tim 5 : 17-18).

Trên đây là tất cả nền tảng Kinh Thánh cho việc chăm lo cho đời sống vật chất của giáo sĩ trong đó có sự cho phép nhận tiền dâng cúng trong các dịch vụ thánh được trao ban trong Giáo Hội, cụ thể như sau:

1- Bổng Lể (Missarum = mass stipends): các linh mục dâng Thánh lễ cầu nguyện theo ý chỉ (Intentio Missae = mass intentions) của người xin thì được hưởng một bổng lễ theo mức qui định của Tòa Giám Mục sở tại. Ở Mỹ, nói chung, thì mức bỗng lễ này là 5 dollars (có nơi qui định 10 đôla) cho đến nay.chắc chắn không có nơi nào Giáo Quyền cho phép nhận 20, 30 dollars cho một ý lễ. Qui định này áp dụng chung cho mọi giáo xứ, cộng đoàn tín hữu trong Địa phận, chứ không chỉ riêng cho linh mục Mỹ ở các giáo xứ Mỹ. Các linh mục ViệtNam làm việc trong các giáo xứ hay cộng đoàn ViệtNam cũng phải theo chung qui định này, nghĩa là không ai được phép tự ý miễn trừ cho mình để có thể lấy bổng lễ gấp đôi, gấp ba tùy tiện.

Tóm lại, linh mục không được phép tự ý đòi hỏi người xin lễ trả cao hơn mức qui định trên của giáo quyền địa phuơng, vì như vậy là trái với khoản Giáo luật số 848. Xin nhấn mạnh: linh mục không đượcc phép đòi bỗng lễ cao hơn mức Giáo quyền địa phương qui định và cho phép; thí dụ đòi 20, 50 hay 100dollars để dâng một Thánh Lễ hoặc chê ít tiền để từ chối dâng Lễ giáo dân xin.

Tuy nhiên, nếu vì hảo tâm người xin Lễ tự ý dâng cúng số tiền cao hơn mức qui định thì linh mục được phép nhận mà không có lỗi gì. Người xin Lễ cần hiểu rõ điều này để đừng tự ý đưa nhiều tiền xin một Thánh Lễ rồi lại nghĩ tại linh mục muốn đòi như vậy. Thực ra không phải tất cả các linh mục đều đòi hỏi như thế trừ người nào có ý vi phạm giáo luật vì tham tiền cách trái phép mà thôi.

Mỗi Thánh Lễ, linh mục chỉ được hưởng một bổng lễ mà thôi, và nếu có nhiều người xin Lễ thì linh mục không được phép gom tất cả ý lễ lại để hưởng trọn mọi bổng lễ trong một Thánh lễ. Nếu vì nhu cầu mục vụ phải gom chung trong một thánh lễ ngày Chúa nhật thì sau đó linh mục phải làm bù lại cho đủ các ý lễ với bổng lễ riêng như Giáo Luật số 948 qui định: "Phải áp dụng từng Thánh lễ cho mỗi ý chỉ vì đó mà bổng lễ đã được dâng và nhận, cho dù bổng lễ đã nhận là bé nhỏ".

Mặt khác, tuy Giáo luật cho phép linh mục nhận bổng lễ cho mỗi Thánh Lễ, nhưng nếu giáo dân nghèo túng không có khả năng dâng cúng thì linh mục cũng được khuyên nhủ phải dâng lễ cầu theo ý người xin dù không có bổng lễ. (cf.can.945, triệt 2), nghĩa là không bó buộc phải có bổng lễ mới dâng Thánh Lễ, vì Thánh Lễ là vô giá (invaluable) không thể mua được bằng tiền bạc hay của cải vật chất nào.

2- Ban Bí tích, chủ sự lễ cưới, đám tang, làm phép nhà, xe cộ, tầu bè, nơi buôn bán v.v.

Không có khoản Giáo luật nào cho phép thừa tác viên có chức thánh (Giám mục, linh mục, phó tế) đòi tiền dâng cúng để ban một bí tích như Rửa tội, Xưng tội, Thêm sức, Xức dầu bệnh nhân, truyền Chức Thánh, hay chứng hôn hoặc cử hành nghi thức an táng. Việc dâng cúng, nếu có, là hoàn toàn do người lãnh nhận bí tích hay dịch vụ thánh tự nguyện (volunteer) dâng cho chứ không bị buộc phải làm như vậy.Linh mục có bổn phận phải nói rõ điều này cho giáo dân hiểu để những người không có tiền nhiễu bỏ ra xin lễ khỏi phải mạc cảm hay bất mãn vì nghèo túng nên bị thua thiệt.

Nếu thừa tác viên đòi tiền cho bất cứ dịch vụ thánh nào thì đã hành động ngược với điều Giáo Hội cho phép và biến thừa tác vụ (ministry) của mình thành hoạt động thương mại trần tục, và hiển nhiên mắc tội "mại thánh = simonia".

Ngay cả khi được yêu cầu làm những dịch vụ thánh khác như làm phép nhà, cơ sở buôn bán, xe, tầu v.v. Giáo sĩ cũng không được phép đòi trả công nơi người xin và chỉ được phép nhận tiền hay tặng vật dâng cúng, nếu có, hoàn toàn do lòng hảo tâm của người thụ hưởng tự ý dành cho mà thôi. Đây là điểm độc đáo khác biệt giữa Giáo Hội Công Giáo và nhiều giáo phái ngoài Công Giáo. Thí dụ, các linh mục Công Giáo không được phép đòi các đôi tân hôn hay tang chủ phải trả thù lao cho việc chứng hôn hay cử hành nghi thức an táng ở nhà quàn hay nghĩa trang, trong khi các dịch vụ này đòi hỏi phải được trả thù lao ở các giáo phái khác. Có thừa tác viên (ministers) của giáo phái kia đã đòi phải trả 200 đollars cho mỗi nghi thức an táng họ cử hành (tiết lộ của nhân viên nhà quàn Mỹ ở Houston).

Riêng về việc thu lệ phí của các giáo xứ trong việc chuẩn bị và cử hành các bí tích rửa tội, thêm sức và hôn phối, cần phân biệt mục đích như sau:

Thông thường, nhiều giáo xứ ở Mỹ có thu lệ phí (10, 15, hay 20 đôla) của mỗi gia đình có con em rửa tội. Lệ phí này giúp trả phí tổn mua nến và áo trắng để phát cho các trẻ được rửa tội. Nhưng nếu vì nghèo túng, ai không thể đóng được lệ phí này thì giáo xứ cũng không được phép từ chối cho lãnh bí tích, vì bí tích không bao giờ được ban vì tiền bạc cả. Mặt khác, việc dạy giáo lý cho cha mẹ có con em xin rửa tội là trách nhiệm mục vụ của cha xứ hay linh mục đặc trách. Không hề có luật nào cho phép đòi tiền trong dịch vụ này. Nếu người thụ hưởng tự ý dâng cúng tiền đãi ngộ thì linh mục được phép nhận. Nhưng nếu đòi phải trả tiền mới cho học và cho lãnh bí tích thì đây lại là hành vi mại thánh và rõ ràng muốn gắn tiền bạc vào điều kiện để lãnh nhận bí tích.

Việc dạy giáo lý và chứng hôn cũng thế. Nếu làm vì tiền thì chắc chắn là sai trái. Tuy nhiên, cần phân biệt tiền đòi ở đây khác với lệ phí giáo xứ thu để tập dượt (rehearsal) cho đôi tân hôn và cho sử dụng nhà thờ để cử hành bí tích hôn phối hoặc lệ phí phải trả cho ca đoàn hát lễ cưới.

II- Tội Mại thánh = Simonia = Simony

Việc nhận bổng lễ theo ý và trong khuôn khổ cho phép của Giáo Hội hoàn toàn khác với chủ ý đòi bổng lể để cử hành Thánh lễ hay ban các Bí tích và làm các dịch vụ thánh khác. Do đó, trước hết trong nội bộ Giáo Hội, nếu ai để tiền bạc chi phối trong việc tiến cử người vào các chức vụ lãnh đạo Gíáo phận, Dòng tu, trong việc tuyển chọn và truyền chức thánh, trong việc nhận và cho khấn Dòng… thì chắc chắn đã phạm tội simonia, làm gương xấu cho người khác, và làm ô nhục cho Giáo Hội. Những ai đã và đang còn âm thầm làm việc bất chính này thì hãy chuẩn bị để trả lời trước Chúa công thẳng về tội "buôn thần bán thánh" của mình. Trong thực hành, người xin và người làm các dịch vụ thánh như xin Lễ, ban Bí tích, làm phép người hay đồ vật, cầu nguyện cho ai với mục đích lấy tiền thì đó là tội mại thánh đáng bị lên án trong Giáo Hội.

Phải nói ngay ở đây là tiền bạc hay tặng phẩm vật chất chỉ có giá trị giúp đỡ cho giáo sĩ có chức thánh thi hành nhiệm vụ thánh trong tinh thần "người phục vụ Bàn Thánh thì được hưởng lộc bàn thờ" (1 Cr 9:13) như Thánh Phao lô dạy mà thôi, chứ hoàn toàn không hề có giá trị cứu rỗi hay lợi ích thiêng liêng nào cho ai, nhất là cho các linh hồn nơi luyện tội. Việc cầu nguyện hay xin Lễ cầu cho các linh hồn là việc bác ái thiêng liêng cao quí rất đáng khuyến khích trong Giáo Hội, nhưng đừng ai hiểu lầm rằng hễ bỏ ra nhiều tiền, xin nhiều lễ thì linh hồn mau được cứu rỗi. Tiền bạc chắn chắn không thể mua ơn Cứu độ và Nước Thiên Đàng, vì nếu có như vậy, thì người ta khỏi cần sống Đạo cho hẳn hoi, cứ việc ăn chơi thỏa thích rồi tiết kiệm nhiều tiền để khi chết nhờ người khác xin Lễ cho là xong.

Ngược lại, chúng ta phải hiểu rằng Ơn Cứu Độ được ban trước hết do lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa và cậy nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô cộng thêm phần đóng góp của cá nhân vào Ơn Cứu Độ này khi còn sống trên đời. Nhưng nếu không có lòng thương xót và công nghiệp của Chúa Cứu Thế Giêsu thì không ai được cứu rỗi, cho dù người ta có bao nhiêu tiền của và xin bao nhiêu Thánh lễ, nhờ muôn ngàn người cầu nguyện cho.

Ngược lại, nếu chỉ dựa vào công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô thôi và không cộng tác chút nào vào công nghiệp này bằng nỗ lực cải thiện đời sống theo tinh thần Phúc Âm và thực hành những giới răn căn bản thì Chúa không thể cứu ai được, nói chi đến việc nhờ người khác xin Lễ cầu nguyện thay cho mình. Đây là căn bản tín lý và thần học về việc cứu rỗi (salvation).

Nhân đây, tôi phải nói đến một việc rất sai trái đã và đang được làm ở một vài nơi liên quan đến việc xin Lễ cầu cho các linh hồn. Đó là việc một vài nhà Dòng, Tu Hội địa phương đã đưa sáng kiến xin "Lễ đời đời" cho các linh hồn và nhận tiền hội viên vào "Hội đời đời" hay mua "hậu" cho những người còn sống. Tôi quả quyết việc làm này hoàn toàn sai thần học và tín lý Công giáo và mang tính mại thánh rất trầm trọng.

Thật vậy, trước hết, làm sao ta biết một linh hồn bị phạt đời đời mà còn cầu nguyện cho họ? Theo giáo lý của Giáo Hội thì một người chết khi đang mắc tội trọng (mortal sin) không kịp ăn năn thống hối và được tha thứ qua Bí Tích Hòa Giải thì phải chịu án phạt đời đời trong nơi gọi là hỏa ngục (hell) (cf GLCG, số. 1033-35). Mặt khác theo tín điều các Thánh thông công, thì chỉ có sự hiệp thông ( communion) giữa các tín hữu còn sống trong Giáo Hội lữ hành trên trần thế, với các linh hồn thánh trong nơi luyện tội và các Thánh trên Thiên đàng.(cf. SGLCG, n. 962). Tuyệt đối không có sự hiệp thông nào với những người bị án phạt đời đời (eternity) trong hỏa ngục.

Vậy xin và làm Lễ đời đời để cầu nguyện cho ai? Các linh hồn thánh (holy souls) chỉ ở trong Luyện tội (Purgatory) có thời hạn chứ không ở đó vĩnh viễn đời đời, nên không có lý do gì để "cầu đời đời cho các linh hồn nơi chốn thanh luyện cuối cùng này".

Sau hết, làm sao người nhận tiền Lễ đời đời có thể sống mãi trên trần gian này để thi hành lời hứa cầu nguyện đời đời cho các linh hồn ấy? Như vậy, ý niệm cầu nguyện đời đời là hoàn toàn không có căn bản thần học và nền tảng tín lý nào.

Việc gia nhập "Hội Ðời Ðời" hay "Mua Hậu" cho người còn sống cũng là chuyện dối trá, không có căn bản giáo lý, tín lý nào. Giáo Hội chỉ khuyến khích việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện tội mà thôi, chứ không dạy mua "bảo hiểm đời sau" cho bất cứ ai còn sống cũng như cầu cho những người trong hỏa ngục vì "họ đã bị xa lìa khỏi Thiên Chúa đời đời" rồi (cf. SGLCG, n.1035).

Đối với những người còn sống trên trần thế, thì chỉ có giới răn của Chúa và giáo lý của Giáo Hội dạy phải biết sống sao cho phù hợp với những đòi hỏi của Tin Mừng Cứu Độ là mến Chúa, yêu người và cộng tác với Ơn thánh để được cứu rỗi, chứ không hề có giáo lý, tín lý, giáo luật nào đòi hỏi hay khuyên nên "khoán trắng" việc rỗi linh hồn của mình cho người khác cầu nguyện thay cho qua cái gọi là "Hội Đời Đời" hay "Mua Hậu" do ai chủ xướng với mục đích buôn thần bán thánh. Tôi quả quyết việc làm này là hoàn toàn sai trái và có tính chất mại thánh nghiêm trọng để lưu ý những ai vì không biết nên đã tham gia vào việc dối trá này, nhất là nhắc cho những ai chủ xướng hãy chấm dứt ngay dịch vụ mại thánh nghiêm trọng này, vì nó hoàn toàn đi ngược lại với đức tin và giáo lý Công Giáo tinh tuyền.

Cũng trong phạm trù "mại thánh", không có giáo lý, giáo luật nào cho phép giáo sĩ từ chối ban Bí tích cho ai vì lý do không ghi tên nhập giáo xứ và đóng góp tiền hỗ trợ giáo xứ. Càng không có giáo lý, giáo luật nào cho phép từ chối cử hành nghi thức an táng nếu người chết hay tang gia không phải là giáo dân có ghi tên nhập giáo xứ và đã sử dụng phong bì dâng cúng tiền (collections envelope) cho nhà thờ. Đây là điểm khác biệt căn bản giữa Giáo Hội Công giáo và nhiều giáo phái Tin lành. Cụ thể, giáo phái Baptist khai trừ những thành viên nào đã ghi tên gia nhập mà không đóng tiền dâng cúng đều đặn. Dĩ nhiên, họ sẽ không còn trách nhiệm gì đối với các thành viên đã bị khai trừ ra khỏi Cộng đoàn của họ.

Ngược lại, Cha xứ Công giáo không có quyền đe dọa ai không vào giáo xứ, không dùng phong bì dâng cúng tiền, thì không được lãnh nhận bí tích và không được hưởng nghi thức an táng khi chết. Việc ghi tên nhập giáo xứ (registration for membership) chỉ có mục đích mục vụ (pastoral care) mà thôi chứ không phải là điều kiện để lãnh bí tích hay được cử hành nghi thức an táng theo giáo luật. Xin nhớ kỹ điều này.

Cũng xin nói rõ thêm là việc xin Lễ cầu nguyện cho các linh hồn được khuyến khích trước hết để nói lên sự hiệp thông giữa các linh hồn nơi luyện tội (Purgatory) và các tín hữu còn sống trong Giáo Hội lữ hành, cũng như với các thánh nam nữ trên Trời, như Tín điều các thánh thông công dạy. Ngoài ra, xin lễ cầu cho kẻ chết cũng nói lên lòng bác ái thiêng liêng giữa người còn sống và kẻ đã qua đời và chắc chắn việc bác ái này có ích lợi cho các linh hồn nơi luyện tội.

Nhưng tuyệt đối không có vấn đề phải xin lể với bổng lễ to, phải được rao tên trước Cộng đoàn hay phải kéo nhiều chuông, bật nhiều đèn thì sẽ được hưởng ơn ích thiêng liêng nhiều hơn là một thánh lễ làm âm thầm, không bỗng lễ, không rao, không chuông, đèn nến. Nói khác đi, xin một Thánh lễ với bổng lễ 5 dollars hay 50,000 dollars để cầu cho ai, hay cho việc gì thì chỉ có giá trị về mặt trợ giúp vật chất cho Thừa tác viên cử hành chứ không có giá trị thiêng liêng nào cho người thụ hưởng lợi ích của Thánh lễ đó. Ơn thánh Chúa ban cho người thụ hưởng nhờ lời cầu nguyện của Giáo Hội là nhưng không (gratuitous) nghĩa là không lệ thuộc vào bổng lễ ít nhiều của người xin.

Như vậy, đừng ai bao giờ nghĩ rằng xin lể hay xin cầu nguyện với bổng lễ to thì có hiệu lực thiêng liêng nhiều hơn bổng lễ nhỏ hay không có bổng lễ. Nếu xin với ý này thì đó là "muốn dùng tiền của để mua ơn thánh", để mua Nước Trời và như vậy là mắc tội "mại thánh" về phía người xin. Ngược lại, về phía người làm (thừa tác viên) nếu gián tiếp hay trực tiếp gây cho giáo dân ngộ nhận rằng xin lễ xin cầu nguyện với bổng lễ to sẽ được nhiều ơn ích thiêng liêng hơn bổng lễ nhỏ thì cũng phạm tội mại thánh cách chắc chắn. Việc có rao tên, có kéo chuông, và đốt nhiều đèn nến không có giá trị thiêng liêng nào trước mặt Chúa mà chỉ có tác dụng phô trương trước mặt người đời mà thôi.

Cũng xin nói rõ là theo Lễ Qui phụng vụ của Giáo Hội, thì có ba bậc cử hành sau đây:
1- Lễ Trọng (solemnity): dành cho những dịp đặc biệt như Lễ Chúa Giáng Sinh, Lễ Phục Sinh, Lễ Chúa Ba Ngôi,…Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, Đức Mẹ Hồn Xác lên Trời, Lễ Thánh Giuse 19/3, Lể Kính hai Thánh Phêrô-Phaolô, Thánh Gioan Tẩy Giả (24/6),…Lễ Trọng có 3 bài đọc, có Kinh Tiền Tụng (Preface) riêng và phải đọc kinh Sáng Danh (Gloria), Kinh Tin Kinh (Creed).
2- Lễ Kính (Feast): dành để kính các Thánh quanh năm và một số dịp đặc biệt như kỷ niệm cung hiến Thánh Đường v. v.…Lễ kính chỉ có bài đọc một và bài Phúc âm, đọc Kinh Sáng danh, nhưng không đọc kinh Tin kính.
3- Lễ nhớ (memorial): trong mọi dịp ngoài hai trường hợp nói trên. Lể nhớ không phải đọc kinh Sáng Danh và kinh Tin Kính, và chỉ có 2 bài đọc.

Sự phân chia này chỉ nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng hay đặc biệt của mỗi dịp cử hành chứ không nói lên giá trị khác biệt về phụng tự (cult, worship) vì mọi Thánh Lễ đều là Hy Tế của chính Chúa Giêsu và là hành động tạ ơn, ngợi khen Thiên Chúa Cha mà Giáo Hội nhờ Chúa Giêsu dâng lên Ngài qua việc cử hành Thánh Lể. Do đó, mọi Thánh Lễ đều có giá trị tuyệt đối và không thể đo lường được bằng tiền bạc.

Ngoài ba trường hợp đặc biệt nêu trên, mọi lễ cầu nguyện theo ý người xin đều có chung một bậc là lễ nhớ, chứ không hề có bậc nhất, bậc nhì, bậc ba với giá tiền khác nhau như đã có sự lạm dụng ở nhiều nơi từ xưa đến nay. Việc tự ý phân chia bậc trong lễ cầu cho các linh hồn, kèm thêm nhửng thủ tục như rao tên người xin lể, kéo chuông trước sau Lễ, đốt thêm đèn nến trong nhà thờ chỉ là hình thức bề ngoài không có giá trị thiêng liêng nào. Tệ hại hơn nữa là nếu tạo ra những hình thức này để lấy thêm tiền và gây nhộ nhận về giá trị thiêng liêng thì đó chắc chắn là việc làm có nội dung mại thánh cần phải tránh.

Tóm lại, Thừa tác viên không bao giờ được phép cử hành thánh lễ hay ban một bí tích nào để lấy tiền cả. Giáo dân cũng không được dùng tiền của để mua ơn thánh. Do đó phải lên án và xa tránh mọi việc "buôn thần bán thánh" tức tội simonia trong việc cử hành các Bí Tích và mọi dịch vụ thánh khác trong Giáo Hội.

Việc dâng cúng tiền bạc hay tặng vật của giáo dân cho các giáo sĩ thi hành quyền thánh (sacra potestas) phải là hành động tự nguyện (voluntary) do lòng biết ơn và hảo tâm chứ không phải là việc bắt buộc, một sự đổi chác có tính thương mại. Ai làm với mục đích này thì rõ rệt đã mắc tội mại thánh (simonia).

Là Dân Chúa trong Giáo Hội, và với thiện chí xây dựng cho Giáo Hội ngày thêm tinh tuyền, thánh thiện, để phúc âm hóa hữu hiệu người khác, chúng ta cần lưu ý điều này để tránh gương xấu có hại cho uy tín của Giáo Hội, của hàng giáo sĩ thừa tác đang xả thân phục vụ cho giáo dân ở trong nước cũng như hải ngoại. Chắc chắn đây chỉ là gương xấu rất hạn chế chứ không phổ biến trong Giáo Hội vì đại đa số giáo sĩ ở khắp mọi nơi đều ý thức rõ gương xấu này và không hề dung túng hay lạm dụng trong khi thi hành sứ vụ thánh của mình.

LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn (Houston, Texas)

 
HOC HOI DE SONG DAO # !55 = THIEN THAN TRONG KINH THANH PDF Print E-mail

Thiên thần trong Kinh Thánh - VIỄN ĐÔNG (Chuyển ngữ từ beliefnet.com)
Aug 10 at 9:52 PM

Thiên thần trong Kinh Thánh

Các thiên thần được nhắc tới hơn 300 lần trong Kinh Thánh, nhiều vị được biết đến ít nhưng vẫn có thể được nhắc tên. Đây là các Thiên thần chúng ta cần biết:

GÁPRIEN – "Sứ Giả Đầu Tiên của Chúa"

Thiên thần Gáprien được nhắc tới cả trong Cựu ước và Tân ước, ngài phục vụ Thiên Chúa với cương vị Sứ giả được Thiên Chúa đi gặp một số người để giải thích giấc mơ và thăm viếng. Ngài đã truyền Tin Vui cho Đức Mẹ.

MICAE – "Chiến Sĩ Thánh"

Thiên thần Micae được nhắc tới bảy lần trong sách Daniel, Thiên thần Micae dẫn đạo binh của Thiên Chúa chống lại Satan và chiến thắng Satan.

RAPHAEN – "Người Chữa Lành"

Thiên thần Raphaen chữa lành bệnh tật. Ngài gắn liền với Tin Mừng theo Thánh sử Gioan và việc khuấy động nước để chữa bệnh tại hồ Bếtsaiđa.

URIEN – "Ngọn Lửa của Chúa"

Thiên thần Urien là người bảo vệ. Ngài thường được mô tả với một tay cầm ngọn lửa và một tay cầm kiếm.

LUXIPHE – "Người Sa Ngã"

Thiên thần Luxiphe đã nổi loạn chống lại Thiên Chúa. Trước khi sa ngã, Luxiphe được Thiên Chúa coi trọng nhưng sách Khải Huyền cho biết rằng Luxiphe và các thiên thần khác đã chống lại Thiên Chúa, rồi bị đuổi ra khỏi Thiên Đàng.

BARAKIEN – "Phúc Lành của Chúa"

Thiên thần Barakien là một trong bốn thiên thần tối cao, được mô tả trong Kinh Thánh là Hoàng tử Thiên thần có hàng ngàn thiên thần khác hầu hạ.

SELAPHIEN – "Người Trung Gian của Chúa"

Cầu nguyện là thuộc tính của Thiên thần Selaphien. Ngài thường được mô tả với đôi mắt nhìn xuống trong tư thế khiêm cung cầu nguyện.

GIÊGUĐIEN – "Người Vinh Danh Chúa"

Thiên thần Giêguđien là người khuyên giải và bảo vệ. Ngài cũng được biết đến là người mang Lòng Thương Xót của Thiên Chúa và là thiên thần của công việc. Triều thiên ngài cầm biểu thị phần thưởng vì đã hoàn tất công việc tâm linh.

VIỄN ĐÔNG (Chuyển ngữ từ beliefnet.com)

Kính chuyển:

Hồng

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 121 of 162