mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm Nay2001
mod_vvisit_counterHôm Qua7127
mod_vvisit_counterTuần Này18014
mod_vvisit_counterTuần Trước64276
mod_vvisit_counterTháng Này168787
mod_vvisit_counterTháng Trước108912
mod_vvisit_counterTất cả14252443

 

Vì lỗi kỹ thuật nên số lượng người truy cập sẽ được đếm lại từ tháng 3 ngày 25 năm 2014 và bắt đầu từ con số 1.581.247 (số người truy cập cũ)



Hoc Hoi De Song Dao


HOC HOI DE SONG DAO # # 147 =TU TE-NGON SU-VUONG DE PDF Print E-mail

CHỨC VỰ TƯ TẾ, VƯƠNG ĐẾ VÀ NGÔN SỨ CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN LÀ GÌ ?
Qua Phép rửa, người tín hữu giáo dân được tham dự vào địa vị vương đế, chức vụ tư tế và ngôn sứ của Chúa Kitô.
Đây là một đặc ân cao quý và cũng là trách nhiệm của những ai đã gia nhập Giáo Hội của Chúa Kitô qua Phép Rửa.Các giáo phụ ( Church Fathers) xa xưa đã dạy rằng người tín hữu giáo dân là Đức Kitô thứ hai ( Alter Christus) nhờ Phép rửa cho phép họ được tham dự vào các chức vụ kia của Chúa Kitô.
Danh xưng Đức Kitô thứ hai sau này cũng được dùng để chỉ các tư tế phẩm trật ( ordained Ministers) như linh mục và giám mục, là những người thực sự thay mặt và nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi) khi cử hành các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải Xức dầu và Truyền Chức Thánh ( dành riêng cho giám mục) Các Bí tích Rửa tội và Hôn phối thì phó tế có thể làm , kể cả giáo dân trong trường hợp khẩn cấp, nguy tử. Hai người phối ngẫu có thể kết hôn thành sự với sự chứng kiến của hai nhân chứng trong trường hợp nguy tử, không tìm được linh mục hay phó tế chứng hôn.( x giáo luật số, 1116 &1)
Danh từ giáo dân( lay persons) được dùng để chỉ những người không có chức thánh ( giáo sĩ =clerics) hoặc tu sĩ có lời khấn Dòng ( religious life). Họ chính là thành phần dân Chúa đông đảo nhất trong Giáo Hội và tham dự vào chức vụ Ngôn sứ, Tư tế và Vương đế của Chúa Kitô theo cách thức riêng của họ.
Thánh Công Đồng Vaticanô II , trong Hiến Chế Tin Lý Lumen Gentium, đã phân biệt chức linh mục thông thường của giáo dân.( the common priesthood of the laity) khác với chức vụ linh mục biệt tác của hàng giáo sĩ thừa tác ( extraordinary ministerial Priesthood of the clerics) như sau:
Hàng giáo sĩ thừa tác thì hành chức năng tư tế khi cử hành các bí tích , cách riêng bí tích Thánh Thể và Hòa giải nhân danh Chúa Kitô ( Personna Christi). Nghĩa là chính Chúa Kitô cử hành các bí tích qua tay các thừa tác viên con người là Phó tế, linh mục và giám mục.Vì thế, bí tích luôn thành sự ( valid) khi thừa tác viên nhân danh Chúa và cử hành đúng nghi thức ( rites) mà Giáo hội đã qui định.
Thí dụ, rửa tội phải có nước và đọc công thức Chúa Ba Ngôi. Nếu thiếu một trong hai yếu tố này thì bí tích không thành sự, dù cho thừa tác viên là linh mục hay giám mục.Cũng vậy, khi cử hành bí tích Thánh Thể trong khuôn khổ Thánh Lễ Tạ Ơn, nếu thừa tác viên không dùng đúng chất thể là bánh không men và rượu nho đúng theo qui đinh của Giáo Hội, hoặc không đọc đúng kinh Nguyện Tạ Ơn và lời truyền phép ( consecration) theo chữ đỏ ( rubric) thì bí tích sẽ không thành sự . Ngược lại, nếu không có chức linh mục hữu hiệu hay thành sự, thì cho dù có đọc và làm đúng theo lễ qui vẫn không có bí tích được , và người cử hành sẽ bị vạ tuyệt thông tiền kết , vì không có chức linh mục mà dám cử hành Thánh Lễ hay giải tội cho ai.( x giáo luật số 1378 triệt 1 và 2).
Tiếp đến, hàng giáo sĩ thừa tác thi hành chức năng ngôn sứ của Chúa Kitô qua việc rao giảng Tin Mừng Cứu Độ và giáo lý của Giáo hội cho giáo dân ở khắp nơi để giúp họ biết sống đức tin ,đức cậy và đức mến cách đích thực để được cứu rỗi theo lòng mong muốn của Thiên Chúa, "Đấng cứu chuộc chúng ta, Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1 Tm 2 :4)
Mặt khác, hàng giáo sĩ và tu sĩ cũng được mong đợi sống phù hợp với lời mình rao giảng và dạy dỗ để làm chứng cho Chúa Kitô, "Đấng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người." ( Mt 20 28)
Đây là sứ mệnh mở mang Vương Quôc của Chúa Kitô, Vương Quốc của yêu thương, tha thứ, công bình và thánh thiện trong lòng người ở khắp mọi nơi trên thế giới
Trên đây là cách thức hàng giáo sĩ tham dự vào chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của Chúa Kitô, với tư cách là tư tế thừa tác ( ministerial sacerdoce)
Người giáo dân, nhờ bí tích Rửa tội, cũng tham dự vào các chức năng trên nhưng theo cách thức riêng của họ như sau:
Liên quan đến chức năng ngôn sứ, người giáo dân không rao giảng lời Chúa trong nhà thờ, nhà nguyện như các linh mục, giám mục, mà rao giảng bằng chính đời sống của mình trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa để giúp họ nhân biết và tin yêu Chúa nhờ gương sống đức tin của mình.
Nghĩa là, trong khi những người không có niềm tin, hay có mà không dám sống niềm tin ấy, nên họ ăn gian nói dối, cờ bạc , gian dâm, thay vợ đổi chồng, buôn bán gian lận, thù ghét người khác, phá thai , ly dị... thì người có niềm tin Chúa phải sống ngược lại với cách sống của những người vô đạo hay chối đạo kia để " họ thấy những việc tốt đẹp anh em làm , mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên Trời." ( Mt 5 :16), như Chúa Giê su đã dạy các môn đệ xưa.
Đây chính là trách nhiệm " phúc âm hóa môi trường sống" của người tin hữu giáo dân, góp phần hứu hiệu với hàng giáo phẩm và giáo sĩ trong sứ mệnh "phúc âm hóa thế giới" để mở mang Nước Chúa trên trần thế.Chính nhờ gương sống chứng nhân của mình mà người giáo dân sẽ thuyết phục được nhiều người khác nhận biết và tin yêu Chúa . Vì thề, Công Đồng Vaticanô II đã dạy rằng:
" ...Giáo dân được đặc biệt kêu mời làm cho Giáo Hội hiện diện và hoạt động trong những nơi và hoàn cảnh mà nếu không có họ, Giáo Hội sẽ không trở thành muối của thế gian." ( LG, số 33)
Nói khác đi, khi sống giữa những người khác tin ngưỡng hay vô tín ngưỡng, người tín hữu công giáo làm chứng cho Chúa Kitô và rao giảng Tin Mừng của Chúa bằng chính đời sống công bình, bác ái,vị tha, trong sạch để đối nghịch với lối sống vô luân, gian tham, xảo trá, gian manh, vô nhân đạo của người đời. Nghĩa là. Khi không hùa theo cách sống của họ và có can đảm sống theo đường lối của Chúa từ trong gia đình ra đến ngoài cộng đồng xã hội để không thay chồng đổi vợ, không ly dị, phá thai, không thù oán ai, không buôn bán gian lận, không lui tới những nơi tội lỗi như sòng bài và nhà điếm, thì người giáo dân đã chu toàn chức vụ ngôn sứ của mình là rao giảng Tin Mừng của Chúa Kitô cách hùng hồn bằng chính đời sống của mình cho những người sống vô luân vô đạo ở khắp nơi trên thế giới tục hóa ngày nay.
Và đây mới chính là cách thi hành chức vụ ngôn sứ của người giáo dân trong Giáo Hội để góp phần mở mang Nước Chúa bằng lời nói và việc làm của mình trước mặt người đời chưa nhận biết Chúa.
Nói khác đi, nếu người tín hữu Chúa Kitô- giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân- mà cũng ham mê tiền của, chạy theo những lôi cuốn về danh lợi với người đời thì sẽ trở thành phản chứng ( anti-witness) thay vì là nhân chứng ( witness) cho Chúa Kitô
" Đấng vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em được trở nên giầu có." ( 2 Cor 8: 9)
Mặt khác, khi người tín hữu Chúa Kitô - giáo sĩ ,tu sĩ và giáo dân- sống công bình bác ái, trong sạch và vị tha, yêu thương, tha thứ từ trong gia đình ra đến cộng đồng xã hội thì cũng mang Vương Quốc của Chúa là Vương Quốc yêu thương, công bình, an vui và thánh thiện đến với những ai đang sống trong hận thù, bất công, bóc lột người khác, vô luân vô đạo và dửng dưng trước sự nghèo đói của biết bao anh chị em đồng loại sống quanh mình.
Sau hết, người tín hữu giáo dân thi hành chức năng tư tế của mình bằng cách dâng đời sống cá nhân hay gia đình với mọi vui buồn , sướng, khổ, thành công hay thất bại để hiệp thông với sự đau khổ của Chúa Kitô một lần dâng lên Chúa Cha trên thập giá , để đền tội thay cho nhân loại, và còn tiếp tục dâng trên bàn thờ ở khắp nơi trong Giáo Hội ngày nay.
Tóm lại, người tín hữu giáo dân thi hành các chức năng tư tế, ngôn sứ và vương đế của mình theo cách thức đã trình bày trên đây, để thông hiệp cùng với hàng giáo sĩ thừa tác tế lễ, rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Chúa Kitô để mở mang Vương Quốc yêu thương, công bình và thánh thiện của Người đến với mọi tâm hồn con người ở khắp mọi nơi, để đánh tan bóng đen tội lỗi của văn hóa sự chết, của chủ nghĩa tục hóa ( vulgarism) tôn thờ tiền bạc và mọi thú vui vô luân vô đạo, đang ngày một bành trướng ở khắp nơi trên thế giới trống vắng niềm tin này.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 146 = THAC MAC BO DAO PDF Print E-mail

CÓ ĐƯỢC PHÉP BỎ ĐẠO CÔNG GIÁO ĐỂ GIA NHẬP MỘT GIÁO PHÁI TIN LÀNH NÀO KHÔNG ?
Thực tế ngày nay là có rất nhiều người Công Giáo không còn hiệp thông với Giáo Hội vì không tham dự và thực hành đời sống bí tích như đi dự lễ các ngày Chúa Nhật và xưng tội rước lễ nữa.
Lại có những người đã bỏ Giáo Hội để gia nhập một giáo phái Tin Lành, vì cho rằng các mục sư Tin Lành giảng đạo hay hơn các linh mục và không ngăm đe những ai sống bê bối như thay chồng đổi vợ, phái thai, cờ bạc, buôn bán gian lận
v.v.Thêm vào đó cũng có nhều người cho rằng chỉ cần đọc Kinh Thánh là đủ, không cần đi tham dự Thánh Lễ và rước mình máu Chúa Kitô.
lại nữa,cũng không thiều gì những người không bao giờ đi xưng tội, nhưng cứ lên rước lễ , mặc dù đang ngoại tình hay chung sống không kết hôn với người khác.
Chúng ta phải nghĩ thế nào về những người đang sống trên đây ?
Trước hết, chúng ta phải tin rằng Thiên Chúa là tình yêu. Người chậm bất bình và hay tha thứ .Chúng ta cũng tin Chúa Kitô, Đấng "đã hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người," (Mt 20: 28)
Tuy nhiên , chúng ta không được quên, hay coi thường những lời dạy của Chúa Kitô về điều kiện cho ta được cứu rỗi để vào Nước Trời hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành.
Vì thế, nếu chỉ cần nghe lời Chúa mà không phải làm gì về phần mình, thì Chúa Kitô đã chẳng nói với dân chúng đến nghe Người rao giảng Tin Mừng xưa kía như sau:
" Thời kỳ đã mãn, và triều đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng" ( Mc 1: 15)
Tại sao phải sám hối ? phải sám hối để nhìn nhận mình là kẻ có tội để xin Chúa thứ tha. Phải tin vào Tin Mừng vì đó là ánh sáng chỉ đường cho ta đến với Thiên Chúa là Cha cực tốt cực lành, " Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhân biết chân lý." ( 1 Tm 2 : 4). Tin vào Tin Mừng cũng có nghĩa là sống theo những lời Chúa dạy các Tông Đồ và dân chúng xưa để được cứu rỗi.
Chúa Kitô đã thiết lập Giáo Hội của Người trên nền tảng các Tông Đồ để chuyên chở ơn cứu độ của Chúa đến với mọi người trong nhân loại mà Chúa đã hy sinh đổ máu mình ra và chết trên thập giá để cho nhiều người được cứu rỗi.
Cho nên, gia nhập Giáo Hội của Chúa qua phép rửa là việc tối cần thiết cho những ai muốn lãnh ơn cứu chuộc của Chúa Kitô qua Giáo Hội là " Thân Thể Nhiệm Mầu" của Người ở giữa trần gian.Cho mục đích cứu độ, Giáo Hội của Chúa được ví như Con Tầu của ông Nô-e trong ngày Đại Hồng Thủy , khi Thiên Chúa cho mưa rơi làm lụt cả địa cầu, và chỉ những người và sinh vật được đưa lên Tầu của ông Nô-e mới thoát chết mà thôi. ( St 6-7).
Công Đồng Vaticanô II, trong Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, đã dạy rằng :
" Giáo Hội ấy tồn tại trong Giáo Hội Công Giáo do Đấng kế vị Phêrô và các giám mục hiệp thông với ngài điều khiển.." ( LG số 8)
Nói rõ hơn, Giáo Hội Công Giáo là Giáo Hội thật của Chúa Kitô, có mặt và hoạt động trên trần thế như phương tiện hữu hiệu chuyên chở ơn cứu độ của Chúa Kitô đến với nhưng ai muốn hưởng nhờ ơn này qua Giáo Hội.
Do đó, " những ai biết rằng Giáo Hội Công Giáo, được Thiên Chúa thiết lập nhờ Chúa Giê suKitô, như phương tiện cứu rỗi cần thết mà vẫn không muốn gia nhập , hoặc không muốn kiên trì sống trong Giáo Hội này thì không thể được cứu rỗi." ( LG, số 14)
Như vậy, không thể lấy lý do linh mục không giảng hay bằng các mục sư Tin Lành
để rời bỏ Giáo Hội mà gia nhập một nhánh Tin Lành nào như một số người đã làm.
Nhưng thế nào là giảng hay ?
Giảng hay vì nói hùng hồn hấp dẫn người nghe, hay vì có nội dung sâu sắc mời gọi người nghe thêm lòng yêu mến Chúa và sống theo đường lối của Người ?
Nếu chỉ nói hấp dẫn mà không có nội dung thuyết phục thì không thể nói là giảng hay được, vì bài giảng của linh mục trong Thánh Lễ phải ưu tiên cắt nghĩa lời Chúa qua các bài đọc, cách riêng bài Phúc Âm, và đưa ra được những áp dụng thiết thực đánh động tâm hồn người nghe để giúp họ thêm yêu mến và sống lời Chúa hàng ngày thì mới đạt mục đích giảng lời Chúa. Ngược lại, chỉ nói cho hấp dẫn với những câu truyện vui tai mà không liên hệ gì đến nội dung lời Chúa thì không thể
nói là giảng hay được. Về điểm này, chúng ta phải công nhận các nhà giảng thuyết Tin Lành trên các băng tầng TV có tài giảng thuyêt rất hùng hồn , hấp dẫn người nghe. Nhưng đa số chỉ nói cách chung chung về lời Chúa mà không đưa ra được những áp dụng cụ thể giúp người nghe nhìn lại đời sống và niềm tin của mình xem có phù hợp với tình yêu của Chúa hay không.
Thiên Chúa là tình yêu. Đó là điều Giáo Hội và mọi giáo phái Tin Lành và Anh Giáo phải nhìn nhận và rao giảng.Nhưng ca tụng tình yêu của Chúa mà không biết sống cho phù hợp với tình yêu ấy thì không ích gì, căn cứ trên chính lời Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ xưa:
" Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lậy Chúa, Lậy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu; mà chỉ những ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi,." ( Mt 7: 21)
Nghĩa là nghe giảng hay, hấp dẫn về tình yêu của Chúa nhưng chỉ nghe cho vui tai mà không áp dụng thiết thực vào đời sống của mình thì cũng vô ích mà thôi.
Cụ thể, nếu nghe giảng hay hùng hồn về Chúa nhưng vẫn sống phản chứng như cờ bạc, ngoại tình, dâm đãng gian tham, thù nghét người khác và dửng dưng trước sự thiếu thốn đau khổ của người nghèo khó, thì nghe giảng hay có ích lợi gì ?
Ngược lại, không được nghe giảng hay, nhưng biết qui hướng đời mình vào lời Chúa để sống theo đường lối của Chúa, là xa lánh tội lỗi và mọi thói hư tật xấu của người đời thì đó mới là " thi hành ý muốn của Cha Thầy" để được vào Nước Trời như Chúa Giêsu đã dạy trên đây.
Như vậy , ai bỏ Đạo Công Giáo để đi theo một nhánh Tin Lành nào đó, chỉ vì muốn nghe giảng hay, hấp dẫn thì đó không phải là lý do để tự dối mình , rời bỏ Giáo Hội để đi theo giáo phái khác không có nguồn gốc Tông đồ, thiếu các bí tích ban sự sống như Thánh Thể và Hòa giải là những phương tiện cứu độ hữu hiệu mà Chúa Kitô đã ban cho Giáo Hội của Người là Giáo Hội Công Giáo.
Vậy ai đã đi vào con đường này thì cần phải nghĩ lại để kịp thời quay về với Giáo Hội để hưởng nhờ công nghiệp cứu chuộc vô giá của Chúa Kitô.
Mặt khác, là người tín hữu Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo, mọi người được mời gọi không những siêng năng nghe lời Chúa trong Kinh Thánh, trong phụng vụ và qua các bài giảng của linh mục trong các Thánh Lễ, mà cần thiết phải năng rước Mình Máu Chúa Kitô qua bí tích Thánh Thể và năng xưng tội để tâm hồn luôn được sống bình an trong ơn nghĩa Chúa, là bảo đảm cho sự cứu rỗi để vui hưởng hạnh phúc vĩnh cửu mai sau trên Nước Trời.Nói cách khác, đọc và nghe lời Chúa là cần thiết nhưng cũng cần thiết không kém là năng lãnh nhận các bí tích ban sự sống như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải và Xức dầu mà chỉ Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương có mà thôi. Anh em in Lành và Anh Giáo không có các bí tích quan trọng này nên tin đồ của họ đã thiếu hẳn nguồn ơn ích thiêng liêng đến từ các bí tích đó.
Không ai có thể phủ nhận những ơn thánh đặc biệt Chúa ban qua Bí Tích Thánh Thể và Hòa giải để giúp con người ngày càng trở nên giống Chúa Kitô, là " đường, là sự thật và là sự sống." ( Ga 14:6), những lợi ích thiêng liêng lớn lao mà các giáo phái ngoài Công Giáo không thể có được, dù họ có nói hay, giảng giỏi đến đây chăng nữa.
Ngay cả người Công giáo mà không siêng năng lãnh nhận Mình Thánh Chúa Kitô cũng như năng chậy đến với bí tích hòa giải thì chắc chắn không thể lớn lên trong đời sống thiêng liêng và trong thân tình với Chúa được , vì " ai đã có thì được cho thêm, và sẽ có dư thừa; còn ai không có thì ngay cái đang có cũng sẽ bị lấy mất." ( Mt 13: 12) .Nói rõ hơn, ai siêng năng cầu nguyện và lãnh các bí tích Thánh Thể và hòa giải, thì sẽ tiến lại gần Chúa hơn, và nhiên hậu trở nên thánh thiện hơn.
Ngược lại, ai thờ ơ, không cầu nguyện, ít lãnh rước Mình Máu Chúa Kitô, không bao giờ đi xưng tội, thì tâm hồn sẽ nguội lạnh, đức tin sẽ mong manh và lòng mến cũng sẽ tàn lụi theo thời gian, vì không được bổ sức thiêng liêng đến từ các bí tích quan trọng đó..
Lại nữa, giáo lý của Giáo Hội dạy ta phải sạch tội nhất là tội trọng thì mới xứng đấng lãnh nhận Mình Thánh Chúa trong Thánh Lễ.( x. giáo luật số 916. SGLGHCG số 1415) Do đó, nếu đang sống chung với ai như vợ chồng mà không kết hôn, hay đã li dị mà chưa được tháo gỡ hôn phối cũ theo giáo luật mà lại sống chung với người khác như vợ chồng, thì tạm thời không được lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải. Không phải cứ đi lễ là lên rước lễ mà không cần biết mình đang sống trong tình trạng nào, có tội hay đang bị trở ngại về hôn phối. Chúa mời gọi mọi người ăn uống Mình Máu thánh Người. Tuy nhiên, phải loại trừ những trở ngại cho việc kết hơp với Chúa qua bí tích Thánh Thể như đã nói trên.
Tóm lại, ai không kiên trì sống trong Giáo Hội và siêng năng lãnh nhận các bí tích ban sự sống thì sẽ không thể góp phần hữu hiệu của cá nhân vào công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô để được cứu rỗi như lòng Chúa mong muốn cho mọi người chúng ta.Chúa muốn cứu độ chúng ta, nhưng chúng ta cũng phải tỏ thiện chí muốn được cứu rỗi bằng quyết tâm sống theo đường lối của Người, xa lánh những nguy cơ đe dọa cho niềm tin có Chúa như thuyết vô thần, vô luân, tôn thờ tiền bạc và của cải vật chất, chuộng khái lạc ( hedonism) dâm ô sa đọa, là bộ mặt rất nhơ nhuốc của thế giới tục hóa ngày nay.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 145 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

Xin cha giải đáp thắc mắc sau:
1- Thuyết tương đối ( relativism) là gì và nguy hại ra sao ?
2- Người ly dị có được phép xưng tội và rước Lễ hay không ?
3- Tại sao các giáo phải Tin Lành và cả Chính Thống Giáo đều cho linh mục
( mục sư Tin Lành) kết hôn mà Giáo Hội Công Giáo lại cấm ?
Trả lời :
1- Thuyết tương đối ( relativism) là một triết thuyêt ( philosophy) chủ yếu phủ nhận mọi tiêu chuẩn hay chân lý tuyệt đối về luân lý, vì cho rằng mọi luật lệ cá nhân hay phổ quát về luân lý chỉ là do con người áp đặt nên không có cơ sở vững chắc để bắt buộc ai phải tuân giữ.
Thuyết này chia ra ba loại chính sau đây:
a-Tương đồi về tâm lý( psychological relativism) : cho rằng mọi ý thức về luân lý của một người là kết quả đào luyện của người đó trong môi trường gia đình.
Nghĩa là nếu cá nhân chịu ảnh hưởng tốt trong gia đình thì có quan niệm tốt về luân lý và ngược lại.
b- Tương đối về xã hội ( social relativism) :cho rằng mọi ý thức về luân lý là kết quả của việc giáo dục trong môi trường xã hội. Nghĩa là hoàn cảnh xã hội và việc giáo dục cấu tạo nên ý thức luân lý của một người chịu ảnh hưởng đó
c- Tương đối về mặt kinh tế: ( Economic relativism) đây là quan điểm của Carl Max, một trong những lý thuyết gia của chủ nghĩa cộng sản ( communism) và xã hội chủ nghĩa ( sociolism) chủ trương rằng ý thức luân lý của con người chỉ là kết quả chi phối bởi tình trạng kinh tế của người chịu ảnh hưởng đó.
Dĩ nhiên , Giáo Hội , dựa trên niềm tin và lý lẽ hay lý trí ( faith and reason) đã hoàn toàn bác bó thuyết tương đối nói trên vì nó đi ngược lại với giáo lý và niềm tin có Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối trọn tốt trọn lành . Ngài dựng nên con người có lý trí , có ý muốn tự do ( free will) và lương tâm để biết việc thiện phải làm và điều gian ác, xấu sa phải tránh. Vì thế , Thiên Chúa chỉ phán đoán riêng con người về những gì con người làm với lý trí , ý muốn tự do và lương tâm . Mặt khác, Giáo Hội cũng tin và dạy không sai lầm rằng phải có chân lý phổ quát về luân lý ( universal truth of morality) buộc mọi người ở khắp mọi nơi và mọi thời đại phải tuân theo để con người khác biệt với mọi loài cầm thú chỉ sống với bản năng và không có ý thức gì về lành dữ. Luật luân lý phổ quát này ngăn cấm những hành động nhân linh( human act) như giết người ( trừ trường hợp tự vệ chính đáng) , hiếp dâm, thù nghịch, gian ác, gian dâm, mãi dâm, ấu dâm ( child prostitution) gian tham, bất công, bóc lột, kỳ thị về mầu da, hành hạ súc vật...là những sự dữ tự bản chất ( intrinsic evils) nên không thể biện minh được vì bất cứ lý do và hoàn cảnh nào. Nghĩa là không thể lấy lý do giáo dục gia đình hay môi trường xã hội hoặc hoàn cảnh kinh tế để biện minh cho việc giết người, hiếp dâm, bóc lột người khác, thù ghét ai vì mầu da , tiếng nói và nhất là phá thai hay giết thai nhi được. Không có hoàn cảnh nào cho phép làm những sự dữ nói trên theo luân lý Kitôgiáo. Chắc chắn như vậy.
Thánh Phaolô cũng đã liệt kê nhữ ng sự xấu , xét về mặt luân lý, là sai trái như sau:
" Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng rõ: đó là dâm bôn, ô uế, phóng đãng , thờ quấy , phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy. Tôi bảo trước cho mà biết, như tôi đã từng bảo : những kẻ làm những điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa.." ( Gl 5: 19-21)
Tóm lại thuyết tương đối là một nguy hại cho niềm tin có luân lý phổ quát buộc con người phải xa tránh những sự dữ tự bản chất như nói ở trên để làm những sự thiện, mưu ích cho phần rỗi của mình và cho người khác.
2-Những người li dị có được xưng tội rước lễ hay không ?
Để trả lời âu hỏi này, ta cần phân biệt hai trường hợp sau đây :
a- Nếu đã li dị ngoài tòa án dân sự mà chưa được tháo gỡ hôn phối ( tiêu hôn =annulment) của toà án hôn phối của Giáo phận ( Diocesan Tribunal) mà lại sống chung với người khác như vợ, chồng thì tạm thời không được lãnh nhận các bí tích Thánh Thể và Hòa giải. Nghĩa là không được xưng tội và rước lễ bao lâu tình trạng hôn phối chưa được giải quyết thỏa đáng theo giáo luật,chứ không theo luật của xã hội.Giáo Hội không công nhận việc li dị ở ngoài tòa án dân sự, mà chỉ cứu xét xem việc kết hôn của ai đó đã thành bí tích ngay từ đầu chưa để quyết định cho tiêu hôn hay không.
b- Nhưng nếu sau khi li dị mà không sống chung với ai như vợ, chồng thì không có ngăn trở gì để đi xưng tội và rước Mình Thánh Chúa.
Vậy nếu biết ai rơi vào các trường hợp trên thì xin khuyên bảo họ cho thích hợp.
3-Tại sao Giáo Hội Công Giáo không cho giáo sĩ và tu sĩ kết hôn ?
Các giáo phái Tin Lành, Anh giáo và cả Chính Thống Đông Phương đều không có luật độc thân ( celibacy) thì đó là quyền của họ.Riêng Chính Thống chỉ chọn giám mục trong số linh mục độc thân và cho phép các giáo sĩ , trước khi lãnh chức linh mục, được tự do chọn kết hôn hay không. Nếu đã không chọn kết hôn ở cấp phó tế, thì sẽ không được kết hôn sau khi làm linh mục. Vì thế, trong hàng linh mục Chính Thống có hai thành phần kết hôn và không kết hôn.Chỉ có giám mục buộc phải độc thân mà thôi.
Riêng Giáo Hội Công Giáo, thì luật độc thân mới chỉ có từ thế kỷ thứ 11 trở lại đây thôi. Trước đó, trong ba thế kỷ đầu sau ngày Chúa Giêsu về Trời, tuy không có luật rõ rệt , nhưng đa số các giáo sĩ ( giám mục và linh mục) đều tự nguyện sống khiết tịnh ( continence). Mãi sau năm 305, Công Đồng Elvira và Công Đồng Rôma năm 386 và hai Công Đồng nữa họp ở Carthage, đã đưa đến khuyến cáo giám mục và linh mục phải sống khiết tịnh. Nhưng mãi sau thế kỷ 11, dưới thời cố Giáo Hoàng Gregory VII ( 1073- 85) luật độc thân ( celibacy) mới chính thức được áp dụng cho đến nay.
Nhưng phải nói rõ là luật độc thân áp dụng cho hàng giáo sĩ, tu sĩ Công giáo không phải là luật của Chúa mà là của Giáo Hôi đặt ra vì lợi ích cho sứ vụ ( ministry) phục vụ của Giáo Hội hầu mang lợi ích thiêng liêng cho dân Chúa được trao phó cho mình , cụ thể là cho các giám mục và linh mục coi sóc, dẫn dắt và thánh hóa với các Bí tích. Giáo Hội , khi ban luật độc thân này, chắc đã đọc lời Chúa Giêsu trả lời cho các môn đệ trong Matthêu 19: 11-12 như sau:
"không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu, mới hiểu. Quả vậy, có những người là hoạn nhân vì từ lòng mẹ sinh ra đã như thế. Có những người là hoạn nhân vì bị người ta hoạn. Và có những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu."
Thánh Phaolô cũng khuyến khích ý nghĩa và giá trị sống độc thân như sau:
" Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì. Đàn ông không có vợ thì lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp lòng Người. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời : họ tìm cách làm đẹp lòng vợ. Như thế họ bị chia đôi. ( 1 Cor 7: 32- 34).
Tóm lại, kỷ luật độc thân cho hàng giáo sĩ và tu sĩ Công giáo được áp dụng vì lợi ích cho sứ vụ rao giảng, dạy dỗ và làm chứng cho Tin Mừng của hàng giáo sĩ, tu sĩ. Đây là sự khôn ngoan của Giáo Hội và cũng thể hiện ước muốn hy sinh tự nguyện sống khiết tịnh vì Nước Trời của hàng giáo sĩ, tu sĩ, căn cứ trên chính lời của Chúa Kitô nói trên đậy.
Chúng ta cầu xin và hy vọng Giáo Hội sẽ không bỏ luật độc thân để chiều theo đòi hỏi của thời đại tục hóa ngày nay.Nếu chiều theo, thì còn phải cho cả phụ nữ có chồng làm linh mục nữa, và như vậy Giáo Hội sẽ tự mâu thuẫn với chính mình và làm mất niềm tin của con cái muốn trung thành với những truyền thống tốt đẹp được lưu truyền lại từ các Thánh Tông Đồ.
Giáo Hội không phải là một cơ chế chính trị, mà phải thay đổi theo trào lưu của thời đai. Ngược lại, Giáo Hội là một định chế thiêng liêng ( sacred Institution) được Chúa Kitô thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ, với sứ mệnh cao cả là tiếp tục Sứ Mệnh cứu chuộc của Chúa Kitô cho đến ngày mãn thời gian. Và để trung thành với Sứ Mệnh đó, Giáo Hội phải có can đảm đi ngược dòng thác lũ của những chủ thuyết vô thần, vô luân, tôn thờ vật chất, chủ nghĩa tương đối và tục hóa ( vulgarism) đang bành trướng ở khắp nơi để lôi kéo con người vào thảm họa chối bỏ Thiên Chúa là Nguồn mạch phát sinh mọi sự tốt lành, thiện hảo, hạnh phúc và bình an. Chúa nói : " Ai có tai nghe thì nghe."( Mt 13: 43; Mc 7: 16; Lc 14: 35)
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
HOC HOI DE SONG DAO # 144 = HANH DONG THONG HOI PDF Print E-mail

Hành động thống hối?
May 25 at 9:35 PM
Hành động thống hối?

§ Lm Stêphanô Huỳnh Trụ

1. Trong Nghi thức đầu lễ của Sách lễ Rôma, có phần chuẩn bị tâm hồn. Bản dịch Nghi thức thánh lễ xuất bản năm 2005 của Uỷ Ban Phụng Tự trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam dịch là "Hành động thống hối", nguyên bản tiếng Latin là "Actus pænitentialis", trước nay vẫn không thay đổi, nhưng các bản dịch tiếng Anh trước đây dịch là "Penitential Rite" (1975), nay đổi lại là "Penitential Act"[1] (2002); còn trong tiếng Việt, trước đây dịch là "Nghi thức thống hối", nay dịch là "Hành động thống hối". Cách dịch của tiếng Việt có chính xác không? Thuật từ thống hối đã được bàn đến trong bài "Thống hối"[2], nên trong bài này, chúng tôi chỉ bàn về từ actus dịch là hành động chính xác chưa?

2. Phần đầu lễ.

Nghi thức thánh lễ hiện nay gồm 4 phần: Nghi thức đầu lễ, Phụng vụ Lời Chúa, Phụng vụ Thánh Thể và Nghi thức kết lễ. Phần Nghi thức đầu lễ gồm: (1) Ca Nhập lễ, (2) Lời chào (bái chào Bàn thờ, Thánh giá, chào cộng đoàn), (3) Phần thống hối, (4) Kinh Thương Xót, (5) Kinh Vinh Danh, (6) Lời nguyện Nhập lễ.

Trong phần thống hối (Actus pænitentialis), Sách lễ Rôma đưa ra 3 công thức thống hối khác nhau như những kiểu mẫu chứ không mang tính cách bắt buộc (Kinh Cáo Mình, Xướng đáp, Kinh Thương Xót và có thể thay bằng nghi thức thánh hoá và rảy nước thánh). Chủ tế có thể lựa chọn một trong những công thức này hoặc có thể tự soạn theo những quy luật nhất định.[3]

Phần thống hối này khác với Nghi thức thống hối (Penitential Rite) trong cử hành sám hối chung trước khi lãnh nhận bí tích Giải Tội. Vì trong cử hành bí tích Giải Tội, việc xưng tội với linh mục là một yếu tố thiết yếu của bí tích này (x. GLHTCG, số 1424 và 1456), còn ở đây, chúng ta không chú trọng vào việc xét mình hay liệt kê các tội đã phạm như khi đi xưng tội, mà chú trọng đến lòng thương xót và sứ mạng giao hoà của Chúa Kitô[4].

Trọng tâm của phần thống hối trong thánh lễ không phải là thú nhận tội lỗi, nhưng là nhìn nhận ơn tha thứ và lòng Thiên Chúa từ bi thương xót, nhận rằng chúng ta cần đến ân sủng của Thiên Chúa qua người con của Ngài là Đức Kitô Giêsu trong hy lễ Tạ Ơn được cử hành. Theo A.G Martimort và J. Gelineau: "Nghi thức thống hối đầu lễ không nhất thiết có bản chất sám hối, nhưng là kinh thờ lạy, ngợi khen, giống như một hơi thở mà cuộc đời dao động của ta rất cần đến khi bắt đầu cử hành thánh lễ"[5]. Có thể nói từ khoá của phần này là xưng thú (Latin: confessio; Anh, Pháp: confession) vì các tín hữu nhìn nhận tình trạng tội lỗi và bất xứng của mình trước Thiên Chúa, nhất là qua cụm từ "tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm..." như được đọc trong Kinh Cáo Mình (Confiteor). Ngay từ thời kỳ đầu của Giáo Hội, xưng thú (confess) còn có nghĩa là tuyên xưng niềm tin cách công khai và rõ ràng. Các tín hữu khi nhìn nhận tội lỗi của mình thì đồng thời cũng có nghĩa là tuyên xưng đức tin của mình vào tình thương của Chúa và nói lên lời cảm tạ tri ân vì ơn tha thứ của Ngài chứ không phải quy về những lầm lỗi và thiếu sót của mình.

Phần thống hối kết thúc bằng công thức xá giải: "Xin Thiên Chúa toàn năng thương xót, tha tội và dẫn đưa chúng ta đến sự sống muôn đời". Khác với Quy Chế Tổng Quát Sách Lễ Rôma ấn bản năm 1975, ấn bản 2002 nói rõ: "Lời xá giải này không có hiệu quả của bí tích thống hối"[6]. Theo Eliot L. Kapitan, đây chính là lý do mà tại sao (trong bản dịch tiếng Anh) tiêu đề "Penitential Rite" (Nghi thức[7] Thống hối) Sách lễ Rôma 1975 lại đổi thành "Penitential Act" (Phần Thống hối) trong Sách lễ hiện nay[8].

3. Actus, hành động, kinh

3.1 Nghĩa của chữ actus.

Actus trong tiếng Latin có thể là động từ hay danh từ, trong trường hợp này đương nhiên là danh từ, nghĩa là (1) Hành động, hành vi, tác động, việc làm (act) (2) Thúc đẩy, tiến hành, xúc tiến (progress). (3) Biểu diễn (một vở kịch), cử hành (một nghi thức), hay phát biểu (một ý kiến) (performance). (4) Màn của vở kịch, phần của nghi lễ (series/sequence). (5) Kinh, lời cầu nguyện có tính khuôn mẫu, lâu dài không thay đổi. (6) (Luật) Chứng thư, án từ, pháp án, pháp lệnh. (7) (Triết) Hiển thể, hiện thể (dùng đối lập với tiềm thể potencia).

Như vậy, actus (pænitentialis) có thể dịch là cử hành / phần / kinh (thống hối)?

3.2 Nghĩa của hành động.

Hành: có bảy chữ Hán: 行, 衡, 珩, 蘅, 桁, 莖, 茎, trong thuật từ hành động là chữ行. Nghĩa là (dt.) (1) Đường sá: Hành hữu tử nhân (trên đường có người chết). (2) Lối chữ hành, lối chữ hơi đá thảo gọi là hành. (3) Bài kể truyện bằng thơ cổ phong: Trường ca hành (bài hát dài). (4) Họ Hành. (5) Một trong 214 bộ chữ: Bộ hành. (6) Tạm bợ: Hành thự (dinh quan đóng tạm). (7) Một trong ngũ hành: Kim, mộc, thuỷ, hoả, thổ vi ngũ hành (vàng, gỗ, nước, lửa, đất là ngũ hành). (8) Quay quanh một thiên cầu: Hành tinh. (đt.) (9) Bước đi: Trực hành (đi thẳng). (10) Đi: Tống hành (đưa đi) (11) Di động: Vận hành (vận chuyển). (12) Lưu thông: Lưu hành. (13) Làm, nghề: Hành y (làm nghề y). (14) Ban bố: Phát hành. (15) Có thể: Hành bất hành (có thể được không). (16) Lúc này được ưa: Thịnh hành. (17) Đem ra làm: Thực hành; Hành động. (18) Cai trị: Hành chính. (19) Giết: Hành thích. (20) Thực thi án: Hành hình (thi hành án tử). (21) Ăn xin: Hành khất. (tt.) (22) Tài giỏi: Nễ chân hành (anh giỏi quá). (Pht.) (23) Tương lai: Hành tương tụ mộc (sắp chết). Nghĩa Nôm: (1) Từ đệm: Học hành; Họp hành. (2) Làm khổ: Mẹ chồng hành hạ nàng dâu.

Động: Có những chữ Hán: 洞, 動 (动), 働, 峒, 峝, ở đây là chữ動 (动). Nghĩa là (dt.) (1) Di chuyển: Tịnh cực tư động (yên quá muốn di chuyển). (đt.) (2) Bất cứ vật gì, tự sức mình, hay tự sức khác mà chuyển sang chỗ khác: Vi phong xuý động thụ diệp (gió nhẹ rung lá cây). (3) Sử dụng: Động bút (dùng viết). (4) Bắt tay vào việc: Động công (bắt đầu khởi công). (5) Gây cảm xúc mạnh: Động nộ (nổi giận). (6) Ăn (tiếng bình dân): Bất động huân tinh (không ăn mặn). (pht.) (7) Nhiều lần (cổ văn). Nghĩa Nôm: (1) Di dịch: Động đậy. (2) Cảm xúc mạnh: Động lòng bốn phương. (3) Đòi tình: Động cỡn; Động đực. (4) Bệnh giựt chân tay: Động kinh.

Trong tiếng Việt [9], "hành động" có nghĩa là: (1) (đt.) "Làm, ra tay" hoặc: "Làm việc gì để đạt được mục đích, ý nguyện: Ra tay hành động, hành động cho phải lẽ" (2) (dt.) "Việc làm" hoặc "việc làm có mục đích: Có hành động quả cảm, một hành động cao cả"; và "cử hành" có nghĩa là: (đt.) "Làm cách trịnh trọng, có quy củ" hay "Tiến hành một cách trọng thể, nghiêm trang: Cử hành tang lễ, buổi lễ được cử hành trọng thể". Nói "hành động thống hối" thì có thể hiểu là "việc làm thống hối", nhưng trong phụng vụ, chúng ta không bao giờ nói đến "việc làm" hay "hành động" (làm việc cách đơn giản, thô thiển) mà chỉ có các việc "cử hành" (làm việc cách trọng thể, nghiêm trang, trịnh trọng, có quy củ). Do đó, nếu hiểu actus ở đây theo nghĩa là hành động hay việc làm, thì phải dịch là "cử hành" mới thích hợp.

3.3 Nghĩa của kinh.

Kinh: Có 7 chữ Hán: 驚, (惊), 荊, (荆), 經, (经), 坕, 京, (亰), 痙, (痉), 仱. Ở đây là chữ經 kinh, nghĩa là (dt.) (1) Ðường dọc, sợi thẳng. (2) Về đường sá thì phía Nam Bắc gọi là kinh 經, phía Đông Tây gọi là vĩ 緯. (3) Về khoảng trời không và quả đất thì lấy con đường nam bắc cực chính giao với xích đạo là kinh: kinh tuyến (經線 theo hướng nam bắc, vĩ tuyến 緯線 theo hướng đông tây). (4) Kinh mạch của đông y, sách thuốc chia 12 kinh phân phối với các tạng phủ. (5) Đạo thường của con người, đạo đức pháp luật đã định không thể đổi được: Thiên kinh địa nghĩa 天經地義 (cái đạo thường như trời đất không thể di dịch được). (6) Sách có giá trị đặc biệt mà người ta phải tuân theo: Ngũ Kinh. (7) Lời dạy đời, sửa thân của thánh hiền hay bậc giáo chủ. (8) Lời cầu nguyện: Kinh Lạy Cha. (9) Đàn bà mỗi tháng máu tràn ra một kỳ: Kinh nguyệt. (10) Bài văn về việc chuyên môn: Trà kinh, mã kinh. (11) Số đếm cổ xưa, mười tỷ là một kinh. (12) Họ Kinh. (đt.) (13) Quản lý: Kinh thế tế dân. (14) Hoạch định việc làm: Kinh thương. (15) Trải qua: Kinh lịch. (16) Chia vạch địa giới. (17) Tự thắt cổ chết: Tự kinh. (tt.) (18) Luôn luôn: Kinh thường. (19) Lâu dài không thay đổi: Bất kinh chi luận (Lý luận để lại lâu dài). Thường kinh: Cách đối xử luôn phải theo: "Tưởng rằng trong đạo thường kinh" (Truyện Hoa Tiên).

Trong Kinh cầu Đức Chúa Thánh Thần, Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng, Kinh Ăn Năn Tội vv... Từ "kinh" được hiểu theo nghĩa là lời cầu nguyện có tính khuôn mẫu, lâu dài không thay đổi.

Actus có thể dịch là kinh, như Kinh Tin (Actus Fidei, Act of Faith), Kinh Cậy (Actus Spei, Act of Hope), Kinh Mến (Actus Caritatis, Act of Charity), Kinh Ăn Năn Tội (Actus Contritionis, Act of Contrition), Kinh Dọn Mình (Actus reparationis, Act of Reparation)... Trong tài liệu "Chú thích bản dịch Nghi thức thánh lễ 1992" của Ủy Ban Phụng Tự, khi nói về phần thống hối (trang 14), Ủy Ban đã dùng tiêu đề "Các mẫu kinh sám hối" (vì nội dung của phần này gồm 3 mẫu công thức thống hối (số nhiều). Chúng tôi nghĩ rằng tiêu đề Actus paenitentialis (số ít) không thể dịch là Các mẫu kinh... (số nhiều) được, hơn nữa, mẫu thống hối thứ hai (Xướng đáp) có thể thay đổi, không cố định như một bản kinh.

Góp ý về cách dịch Actus paenitentialis là "Hành động thống hối", Cha Marie Bảo Tịnh Trần Văn Bảo (O.Cist.) viết: "Đọc một lời kinh, đấm ngực ba cái mà đã gọi là 'hành động' thì con thấy quá lố. 'Actus' của bản Latinh dùng không chỉ có nghĩa là 'hành động'. Bản tiếng Pháp dùng 'Préparation pénitentielle' rất hay và đúng nghĩa: chuẩn bị đi vào cử hành. Con nghĩ nếu không biết dịch từ 'actus' là gì, chúng ta chỉ cần để 'phần thống hối', hoặc 'lời kinh thống hối' có vẻ rất nhẹ nhõm và ai cũng hiểu. Còn 'hành động'? Con nghĩ phải bỏ của lễ đấy đi về tìm người anh chị em có vấn đề với mình rồi chào hỏi, bắt tay, quỳ gối van xin tha lỗi hoặc vác thập giá đến Giêrusalem làm việc đền tội thì mới gọi là 'hành động' được. Đọc những từ 'hành động thống hối', con cảm thấy gai gai người thế nào ấy!"[10].....

Kính chuyển

Hồng

 
HOC HOI DE SONG DAO # 143 = GIAI DAP THAC MAC PDF Print E-mail

SỰ KHÁC BIỆT GIỮA VIỆC NGHE LỜI CHÚA VÀ LÃNH NHẬN CÁC BÍ TÍCH THÁNH THỂ, HÒA GIẢI VÀ SỨC DẦU.
Tôi đã có đôi lần giải thích sự khác biệt về mặt bí tích giữa Công Giáo, Chính Thông Giáo và Tin lành. Nay xin được nói rõ hơn về những khác biệt này.
Trước hết, phải nói ngay là chỉ có các Giáo Hội Công Giáo và Chính Thông Giáo Đông Phương ( Eastern Orthodox Churches) mới có nguồn gốc Tông Đồ ( Apostolic succession) nên mới có đủ bảy Bí Tích hữu hiệu mang các lợi ích thiêng liêng lớn lao cho các tín hữu trực thuộc.
Ngoài hai Giáo Hội trên ra, các giáo phải Tin Lành nói chung, và Anh giáo ( Anglican Communion) nói riêng đều không có nguồn gốc Tông Đồ ( vì họ đã ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo sau những cuộc cải cách tôn giáo ( Reformations) vào thể kỷ 16) nên họ đều không có các bí tích hữu hiệu – trừ bí tích Rửa tội .
Sứ vụ quan trọng đối với họ là giảng Kinh Thánh, vì họ chỉ tin có Kinh Thánh ( Sola Scriptura) mà thôi. Nhưng cách hiểu và cắt nghĩa Kinh Thánh của họ có nhiều điểm khác với cách hiểu và cắt nghĩa Kinh Thánh của Công Giáo.
Thí dụ, họ cũng đọc lời Chúa trong Gioan 20: 23 trong đó Chía Giê su đã
truyền cho các Tông Đồ mệnh lệnh như sau:
"Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha
Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ" ( Ga 20: 23)
Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo coi đây là nền tảng của bí tích Hòa giải
Và các thừa tác viên có chức thánh của Giáo Hội như linh mục và giám mục có quyền tha tội cho mọi hối nhân nhân danh Chúa Kitô ( in persona Christi).
Ngược lại, anh em Tin lành không công nhận vai trò trung gian của các thừa tác viên ( Ordained Ministers) con người nên họ chủ trương chỉ xưng tội trực tiếp với Chúa mà thôi.
Lại nữa, lời Chúa trong các Tin Mừng của Matthêu, Mac-cô và Lu ca
nói về Bữa Ăn sau hết của Chúa Giê su với 12 Tông Đồ, trong đó Chúa Giesu đã lập Bi Tích Thánh Thể và Chức Linh mục thừa tác ( ministerial priesthood ) để các Tông Đồ và những người kế vị tiếp tục diễn lại Bữa tiệc ly và dâng Hy tế đền tội của Chúa cách bí tích trên bàn thờ ngày nay, cùng thể thức và mục đích của Hy Tế thập giá mà Chúa đã một lần dâng lên Chúa Cha xưa trên thập giá. Đây là niềm tin và thực hành của Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống Giáo.
Nhưng anh em Tin Lành không chia sẻ niềm tin này, và không tin Chúa Giêsu thực sự hiện diện ( real presence) trong hình bánh và rượu. Vì thế khi hội họp để giảng Kinh Thánh, có một số nhóm Tin Lành cũng có nghi thức bẻ bánh và uống rượu nho, nhưng vì họ không có chức linh mục hữu hiệu và nhất là vì không tin có sự biến đổi bản thể ( transubstantiation) của bánh và rượu, nên họ không thể có bí tích Thánh Thể ( Eucharist) được, dù thừa tác viên của họ có đọc lại lời Chúa khi bẻ bánh và uống rượu.Anh em Anh Giáo cũng vậy. Họ không có chức linh mục hữu hiệu ( valid priesthood) nên bánh họ bẻ và rượu họ uống chỉ thuần túy là bánh và rượu mà thôi, chứ không phải là Mình Máu Chúa Kitô hiện diện thực sự trong hình bánh và rượu nho như Giáo Hội Công Gáo và Chính Thông Giáo tin mỗi khi cử hành Thánh Lễ Tạ Ơn.
Như thế Chức Linh mục thừa tác ( Ministerial Priesthood ) là vô cùng quan trọng, vì không có Chức thánh này thì không thể có các bí tích quan trọng như Thêm sức, Thánh Thể, Hòa giải và Sức dầu bệnh nhân.Các giáo phái Tin Lành và Anh giáo không có các bí tích trên vì họ không có chức linh mục thừa tác hữu hiệu, do không có nguồn gốc Tông Đồ như Công Giáo và Chính Thống.Vì thế, khi họ trở lại với Giáo Hội Công Giáo. Thừa tác viên hay linh mục ( Anh Giáo) của họ đều phải được huấn luyện lại để chịu chức linh mục của Giáo Hội, nếu họ muốn.
Các Bí Tích là những phương tiện hữu hiệu thông ban ơn cứu độ của Chúa Kitô qua Giáo Hội, là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô được thiết lậptrên nền tảng Tông Đồ để tiếp tục Sứ mệnh cứu chuộc của Chúa Giê su-Kitô cho đến ngày mãn thời gian. Do đó, muốn được nhận lãnh ơn cứu chuộc vô giá đó, nhất thiết chúng ta phải gia nhập Giáo Hội qua Phép Rửa, lớn lên trong đức tin nhờ bí tích Thêm sức, được bổ sức thiêng liêng cho hành trình tiến về quê trời nhờ bí tich Thánh Thể và được làm hòa với Chúa qua bí tích Hòa giải,
Nghe lời Chúa trong Kinh Thánh rất quan trọng và cần thiết , vì " người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn sống nhờ mọi lời miệng ĐỨC CHÚA phán ra" ( Đnl: 7 : 3; Mt 4 :4; Lc 4: 4)
Do đó, có siêng năng đọc và nghe lời Chúa trong Kinh Thánh, chúng ta mới được
soi sáng và biết được ý muốn của Chúa cho mỗi người chúng ta để từ đó biết sống theo đường lối của Chúa, và nhiên hậu được cứu rỗi, vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ chúng ta " Đấng muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý." ( 1Tm 2:4)
Nhưng nghe lời Chúa không thôi thì không đủ, mặc dù là rất cần thiết. Nghe lời Chúa như anh em Tin Lành rao giảng mà không lãnh nhận các ơn ích lớn lao
Chúa Kitô ban dồi dào qua các bí tích Thêm Sức, Thánh Thể và Hòa giải , thì thật là một thiếu sót rất đáng tiếc.
Thật vậy, Thánh Lễ Tạ Ơn ( Eucharist) là " nguồn mạch và đỉnh cao của tất cả đời sống Kitô giáo." ( Lumen Gentium, số 11) vì mỗi khi cử hành Mầu nhiệm này, Giáo Hội diễn lại bữa Tiệc Ly sau hết của Chúa Kitô và Hy Tế đền tội của Người một lần dâng lên Chúa Cha trên thập giá để xin ơn tha thứ cho toàn thể nhân loại đáng phải phạt vì tội lỗi. Vì thế, mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó " Chúa Kitô, chiên vượt qua của chúng ta chiu hiến tế (1 Cor 10:17) thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện." ( LG ,số 3)
Nghĩa là , Thánh Lễ ngày nay, về một phương diện, cũng là Hy Tế thập giá Chúa Kitô lại dâng lên Chúa Cha cách bí tích để xin ơn tha thứ cho chúng ta cùng thể thức và mục đích của Hy Tế lần đầu Người dâng trên thập giá năm xưa.Do đó, tham dự Thánh Lễ cách xứng hợp và trọn vẹn ( sốt sắng, sạch tội trọng và rước Mình Thánh Chúa) là được lãnh nhận ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, bảo đảm cho phần rỗi mai sau, khi đã chấm dứt hành trình đức tin trên trần gian này.
Mặt khác , được ăn thịt và uống máu Chúa Kitô qua bí tích Thánh Thể cử hành trong khuôn khổ Thánh Lễ Tạ ơn, là bảo đảm nữa cho sự sống đời đời của mỗi người chúng ta như Chúa Giêsu đã hứa:
" Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta
Thì được sống muôn đời
Và Ta sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết." ( Ga 6 :54)
Chắc chắn Chúa không hứa suông, mà Người sẽ giữ lời hứa cho những ai yêu mến Người cách cụ thể là ăn thịt và uống máu Người, tức là rước Mình Thánh Chúa cách xứng đáng ( sạch tội trọng) khi tham dự Thánh lễ Tạ Ơn.
Mặt khác, là con người ai cũng yếu đuối trong bản tính do hậu quả của Tội Nguyên Tổ ( original sin), lại thêm cám dỗ mạnh mẽ của ma quỉ và gương xấu, dịp tội đầy rẫy trong môi trường sống, nên cũng không ai tránh được khuyết điểm, lầm lỗi và tội lỗi nặng nhẹ.Vì thế Chúa Kitô đã ban bí tích hòa giải để giúp con người làm hòa lại với Thiên Chúa, và lấy lại tình thương của Người, sau khi lỡ sa phạm tội.
Kinh nghiệm cá nhân cho chúng ta biết rằng mỗi khi thật lòng sám hối và đi xưng tội cách ngay lành ( không dấu tội nào) với một linh mục, và được ơn tha tội ( absolution) thì chúng ta cảm thấy sung sướng và an vui trong tâm hồn, một thứ an vui mà không một tâm lý gia hay bác sĩ tâm thần nào có thể mang lại cho bệnh nhân đến xin trị liệu.
Nếu chỉ sám hối và không đi xưng tội, như anh em Tin Lành rao giảng, thì không bao giờ chúng ta có thể cảm nghiệm được niềm an vui nội tâm như sau khi xưng tội cách xứng hợp ( không dấu tội nào, đặc biệt là tội trọng) và được ơn tha thứ. Chúa Kitô thực sự hiện diện trong bí tích Hòa giải để chính Người ban cho chúng ta ơn bình an, vui thỏa nội tâm đó qua tay một linh mục , dù bất xứng đến đâu theo con mắt người đời.
Các anh em ngoài Công Giáo không thể có được cảm nghiệm thiêng liêng này, nếu họ chỉ đọc và nghe lời Chúa trong Kinh Thánh mà không biết đến các bí tích tối quan trọng là Thánh Thể và Hòa giải, là các phương tiện hữu hiệu thông ban ơn cứu độ của Chúa Kitô cho những ai thành tâm và tin tưởng tìm đến.Và chỉ trong Giáo hội Công Giáo và Chính Thống Đông Phương mới có các nguồn suối tuôn đổ ơn sủng này của Chúa cho con người mà thôi.
Lại nữa, với bí tích sức dầu bệnh nhân, người tín hữu , khi đau ốm, sẽ nhận được ơn an ủi để vui lòng chịu khó , chống lại những lo buồn thối chí. Bí tích này cũng đôi khi chữa lành cả bệnh tật thể xác nữa. Kinh nghiệm mục vụ cho tôi biết điều này vì có nhiều bệnh nhân lâm vào tình trạng hôn mê ( coma), nhưng sau khi được sức dầu, đã tỉnh lại và qua được cơn bệnh nguy kịch, khiến thân nhân thêm lòng trông cậy Chúa và tin tưởng hiệu năng của bí tích sức dầu.
Các giáo phái Tin Lành và Anh giáo kể cả Do Thái giáo ( Judaism) đều không có các bí tích trên, nên tín đồ của họ không thể lãnh nhận được những lợi ích thiêng liêng đến từ các bí tích quan trọng đó.
Tóm lại, nghe và đọc lời Chúa trong Kinh Thánh không thôi, thì không đủ cho ta lãnh nhận các ơn ích ơn lao qua các bí tích Thánh Thể và hòa giải và sức dầu bệnh nhân, như kinh nghiệm thực tế của mỗi người tín hữu chúng ta đã cảm nghiệm được , phù hợp với lời dạy không sai lầm của Giáo Hội về tầm quan trọng và lợi ích thiêng liêng của các bí tích trên.
Chúng ta vô cùng cám ơn Chúa đã ban các phương tiện thánh hóa và chữa lành đó để giúp chúng ta được thăng tiến trong đời sống thiêng liêng nhờ năng rước Minh Thánh Chúa, năng xưng tội và được sức dầu thánh mỗi khi đau yếu.
Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

 
<< Start < Prev 121 122 123 124 125 126 127 128 129 130 Next > End >>

Page 121 of 160